| NHỮNG YẾN BẠC ĐƯỢC GIAO
SUY NIỆM PHÚC ÂM ( III A 55); ( 16.11.2008); ( Mt 25, 14-30) CHÚA NHẬT XXXIII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM A
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN HỌC TẬP
Trong Bài Giảng Về Ngày Cánh Chung, một trong năm chủ đề cấu trúc của Phúc Âm Thánh Matthêu, dụ ngôn Những Yến Bạc hôm nay ( Mt 25, 14-30) tiếp nối và được coi là hậu quả của thái độ bất cẩn, không tiên liệu của năm trinh nữ khờ dại trong dụ ngôn Mười Trinh Nữ Đươc Mời Dự Tiệc Cưới ( Mt 25, 1-13), chúng ta đã có dịp suy niệm tuần qua. Đoạn Phúc Âm hôm nay về những nén bạc ( Mt 15, 14-30), gốm có hai phần chính: - phần đầu là phần diển tả bối cảnh của dụ ngôn ( Mt 25, 14-19), - phần thứ hai, những điều Chúa Giêsu muốn giảng dạy, nhân bối cảnh dụ ngôn ( Mt 25, 20-30).
Khởi đầu người đọc Phúc Âm được cho biết các nhân vật liên hệ, một ông chủ và ba người đầy tớ, trong bối cảnh được diển ra nhân thời điểm. Đó là việc ông chủ giao tiền bạc của mình cho ba người đầy tớ, trước khi ông có dịp phải đi xa: - " Đúng vậy, cũng như có một người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ" ( Mt 25, 14). Kế đến, được cho biết thái độ khác nhau của các người đầy tớ, đối với vốn liếng được ông chủ giao cho: - " Lập tức, người đã lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán và gây lời được năm yến khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai yến, gây lời được hai yến khác. Còn người đã lãnh một yến, thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ " ( Mt 25, 16-18). Và rồi lúc ông chủ trở về, sau thời gian lâu vắng mặt và cuộc tính toán lại sổ sách: - " Sau một thời gian lâu dài, ông chủ đến tính sổ với các đầy tớ và thanh toán sổ sách với họ" ( Mt 25, 19).
Sau bối cảnh về những gì xảy ra giữa ông chủ và các đầy tớ vừa được tường thuật, dụ ngôn tiếp sang phần thứ hai là phần đối thoại giữa ông chủ và các đầy tớ, trong đó người đọc Phúc Âm biết được tác động của mỗi đầy tớ và ý kiến phán đoán liên hệ của ông chủ. Hai người đầy tớ đầu có cách hành xử tương tợ nhau và được đối đải giống nhau. Cuộc đối thoại với cả hai chiếm 4 câu văn ( Mt 25, 20-23). - " Người lãnh năm yến tiến lại gần, đưa thêm năm yến khác và nói: " Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm yến, tôi đã gây lời được năm yến khác đây. Ông chủ nói với anh: " Khá lắm! hỡi đầy tớ giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui ủa chủ anh!" ( Mt 25, 20-21). - " Người đã lãnh hai yến cũng tiến lại gần và nói: Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai yến, tôi đã gây lời được hai yến khác đây".Ông chủ nói với người ấy: " Khá lắm! hỡi đầy tớ giỏi và trung thành, Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh" ( Mt 25, 22-23). Trong khi đó thì cuộc đối thoại với người đầy tớ thứ ba chiếm một đoạn văn dài gần gấp đôi ( Mt 25, 24-30), chứng tỏ rằng Thánh Matthêu tường thuật lại, đặt nặng sự chú ý vào trường hợp đang bàn.
1 - Trách nhiệm đối với những gì được giao cho. Bối cảnh của dụ ngôn được khởi đầu bằng biến cố " một người " sắp khởi hành bắt đầu một chuyến đi và sau đó người đọc cũng được biết là một chuyến đi xa và lâu dài: - " Đúng vậy, cũng như có một người kia sắp đì xa..." ( Mt 25, 14a). Trong tạm thời căn tính, chức vụ của người đó vẫn được giữ thinh lặng, chúng ta không biết rõ là ai. Căn tính và chức vụ của người đó, chúng ta biết được ở câu 19, đó là một " ông chủ ": - " Sau một thời gian lâu dài, ông chủ đến tính sổ với các đầy tớ và thanh thoán sổ sách" ( Mt 25, 19). Ông chủ vừa kể có của cải, gia tài, có ý định ủy thác cho các đầy tớ chăm lo cho, khai thác đầu tư thay cho, trong lúc mình vắng mặt. Điều vừa kể, chúng ta nên lưu ý, bởi lẽ thay vì ủy thác cho các đầy tớ mà ông tín nhiệm, ông cũng có thể bỏ vào ngân hàng đầu tư để có lợi, như ông đã nói cho người đầy tớ thứ ba biết: - " Ông chủ đáp: " Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác ! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ !" ( Mt 25, 26). Bởi lẽ nếu ông làm như vậy, bỏ vào ngân hành để kiếm lời, thay vì giao cho các đầy tớ mà ông tin tưởng là trung tín, ông có thể yên tâm ra đi và được bảo đảm khỏi mọi biến cố bất ngờ. Nhưng không vậy, bởi lẽ ông là người thích mạo hiểm và tin tưởng hơn, bởi đó ông thích đầu tư vào con người của các đầy tớ mà ông tin tưởng hơn. Ông đã giao tất cả vốn liếng mình có cho các đầy tớ của mình, để chính họ quản trị và sinh lợi cho ông.
a) Việc phân chia vốn liếng không đồng đều nhau: - Người thứ nhứt được giao cho năm yến. - Người thứ hai, hai yến. - Và người thứ ba một yến. Điều đó có thể làm cho không ít người trong chúng ta ngạc nhiên và lung lạc định hướng: việc phân chia không đồng đều vừa kể. Nhưng thái độ của ông chủ được Thánh Matthêu giải thích, bằng cách quan sát tánh tình của ông chủ đó: ông phân chia " tùy theo khả năng của mỗi người " : - " Ông cho người nầy năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tùy khả năng riêng mỗi người" ( Mt 25, 15). Điều vừa kể cho thấy ông biết rõ các đầy tớ của mình và tôn trọng khả năng ( Hy Lạp, dýnamis = sức mạnh, mãnh lực) của mỗi người. Điều đó cho thấy phân phát đồng đều cho mọi người như nhau, hay sang bằng mạc rệp " vô sản bần cố nông" như nhau, là ý thức hệ, quan niệm không tưởng và không tôn trọng nguyên tắc căn bản theo bản tính của con người. Bởi lẽ chúng ta được sinh ra không đồng nhất rập khuôn như nhau về thể xác, cũng như trí tuệ. Áp dụng " bình đẳng toán học ": phân chia cùng một vật như nhau cho tất cả mọi người như nhau, là quan niệm " bình đẳng" không tưởng, bởi lẽ không phải mọi người đều cao thấp, mập ốm, đẹp xấu, sáng trí hay tối dạ như nhau. Hiều như vậy, không phải mọi người đều có thể nhận chịu được gánh nặng bằng nhau, cũng như không phải mọi người đều có tài trí và sức mạnh như nhau để có thể đảm nhận công tác bằng nhau. Điều đó không lạ gì, lắm khi chúng ta gặp được nhiều người ngã qụy trước gánh nặng của phận vụ mà mình phải gánh vác, làm cho họ phải mất tinh thần, nãng lòng, mất định hướng và có thể bỏ cuộc. Đàng khác việc phân chia nhiệm vụ tùy hỷ theo ý kiến cá nhân, theo nhóm, có thiện cảm hay không cũng là một cách hành xử bất công. Phân chia trách nhiệm, chức vụ khác biệt nhau có thể chấp nhận được, nếu chúng ta biết rõ con người mà chúng ta ủy thác công việc cho. Giao cho mỗi người phận vụ dựa trên căn bản mà chúng ta biết được người đó thực sự có khả năng để thực hiện. Hiểu như vậy, chúng ta thấy ông chủ đặt con người làm trung tâm điểm quan trọng của cách đối xử của mình, chớ không phải " tiền là trên hết ". Con người được đặt vào điều kiện thuận lợi để có thể chu toàn được bổn phận, và đó cũng là mục đích làm cho con người triển nở, thăng tiến chính mình, làm cho mình lớn khôn hơn, thành đạt hơn và chính chắn hơn, diển đạt được chính mình hơn trước người khác.
b) Ý nghĩa cử chỉ của ông chủ. Ý nghĩa đó được chính ông chủ xác nhận qua cử chỉ của ông, cho thấy ông hành động vì tình thương yêu các đầy tớ hơn là vì lợi lộc, nhìn nhận nơi mỗi người là một chủ thể, phải được đánh giá trước tiên như là con người, chớ không phải do số lợi tức kiếm thêm được. Ý nghĩa vừa kể có thể bị đôi chối, cho rằng người nhận được chỉ có một yến bạc, tội nghiệp cho anh ta, bởi lẽ vốn ít ỏi quá, đâu có làm được gì. Tình cảnh được giao cho ít quá, dĩ nhiên là làm cho anh ta bị thua thiệt, đối với hai người đầy tớ kia, người được gấp đôi, người được cả gấp năm. Theo những nhà khảo cổ học, hệ thống tiền bạc ở Babylone, Ai Cập cũng như các quốc gia Trung Đông lúc đó, tiền bạc được tính theo giá trị sức nặng của của kim loại quý ( vàng hay bạc) để trao đổi nhau và một yến bạc lúc đó có trọng lượng khoảng 30 kg ( có người cho là giữa 20 - 40 kg bạc). Hiểu như vậy, người đầy tớ nhận được một yến bạc ( 30 kg vàng hay bạc) trong tay, không phải là một anh chàng bị bỏ xó. Một yến bạc đó có giá trị khoảng 6.000 nén bạc và mỗi nén bạc là lương công nhật thông thường của một người làm công ( số lương mà ông chủ vườn nho trả cho mỗi công nhân một ngày ( Mt 20,2). Như vậy phần gia sản mà ông chủ giao cho anh ta một yến bạc, tương đương với số lương công nhân 20 năm làm việc. Không phải là con số nhỏ nhoi gì. Thấy như vậy, chúng ta hiểu được ông chủ muốn cho các đầy tớ tham dự vào gia sản của ông, từ người ít có khả năng nhứt cũng như người được thiên phú có tài năng nhiều hơn. Dĩ nhiên giao cho đầy tớ phần gia sản lớn lao như vậy, ông chủ muốn lưu ý các đầy tớ là tương lai có những liều lĩnh, không chắc chắn cần phải chú ý và lướt thắng. Dù vậy, giao gia tài cho họ, là một cử chỉ tỏ ra ông tin tưởng vào họ. Về phần các đầy tớ, đây là cơ hội để tạo thành đạt và cũng có thể chuyển đổi hoàn cảnh sống của mình. Và cùng với cơ hội hiếm có đó, chính họ cũng hãy tỏ ra là mình được ông chủ đối xử trọng vọng và tin tưởng, đối xử thân tình như người trong nhà và đáp lại tính thịnh tình đó. Cũng trong chiều hướng đó, hoạt động của các đầy tớ cũng phải tương xứng đáp lại, không phải quan trong chỉ ở việc thu thập được lợi lộc nhiều hay ít, mà còn còn ở tâm tình thân tính người nhà đối với ông chủ. Họ không được, cũng không nên làm cho ông chủ thất vọng, không chỉ có nghĩa là tiền bạc mất mác, mà còn là thái độ không đáp ứng lại cử chỉ thân tình người nhà của ông chủ.
Và cử chỉ thân tình người nhà phải có đó, được thể hiện lập tức qua động tác của người được giao cho năm yến bạc: - " Lập tức, người đã lãnh năm yến, lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác" ( Mt 25, 16). Đoạn Phúc Âm không đề cập đến anh ta làm ăn và buôn bán cách nào mà số tiền được tăng lên gắp đôi. Bởi lẽ đi vào chi tiếc như vậy, có lẽ làm cho ai đọc Phúc Âm xao lãng đi mục đích mà Phúc Âm muốn đề cập tới. Đó là anh ta " lập tức" để hết tâm trí và ý chí, khôn ngoan và năng lực để làm lợi cho ông chủ, đáp ứng lại lòng thịnh tình mà ông đã dành cho anh. Và như vậy chinh anh đã đứng ra tham dự vào việc tạo dụng thêm gia tài cho ông chủ. Người đầy tớ thứ hai cũng vậy, cũng hành xử như khuôn đúc theo gương của người đầy tớ thứ nhứt và anh ta cũng tạo được gấp đôi phần gia sản đã được giao cho. - " Cũng vậy, người lãnh được hai yến, gây lời thêm được hai yến khác" ( Mt 25, 17). Người đầy tớ thứ ba có hành động khác hẵn, lòng tin cẩn và cử chỉ thân tình của ông chủ đối với anh bị khựng lại. Anh ta không làm cho tăng gấp đôi phần gia sản được ủy thác, chỉ vì anh ta không muốn thử đứng ra hành động. Chỉ có vậy ! Anh ta có thái độ có vẻ hợp lý, đó là cất giấu và gìn giữ yến bạc. Nhưng trên thực tế đó cũng là thái độ hành động tối thiểu, nếu không muốn nói là bất cần và bởi đó anh ta chôn giấu để được yên thân: - " Còn người lãnh được một yến thì đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ" ( Mt 25, 18). Thái độ vừa kể của anh ta, đem so sánh với cách hành xử của hai người đầy tớ kia, là thái độ lý luận không có lý chứng. anh ta chỉ tỏ ra mình là thành phần không sinh lợi lộc gì cho ông chủ, án binh bất động, trái ngược với cách hành xử tích cực và năng động của hai người kia. Đó là hai thái độ hành động và không hành động hay " án binh bất động"; " điềm nhiên toạ thị ".
2 - Cuộc đối thoại giữa ông chủ và hai người đầy tớ sinh lợi. Câu văn chuyển tiếp: - " Sau một thời gian lâu dài, ông chủ đến tính sổ với các đầy tớ và thanh toán sổ sách với họ" ( Mt 25, 19), chuyển tiếp đoạn tường thuật của dụ ngôn đến phần đối thoại. " Thời gian lâu dài " là khoảng thời gian hữu ích để các đầy tớ có thể hành động và thu tóm được kết quả việc làm của họ và cũng là thời gian để chứng tỏ lòng trung thành bất lay chuyển đối với tâm tình coi mình như người nhà của ông chủ đối với mình. Sự vắng mặt và " thời gian lâu dài " có thể làm cho phai nhạt tấm thịnh tình người nhà tương giao, nghi ngờ ông chủ không biết có trở về nữa hay không và từ đó cũng có thể tạo nên ý đồ bất chính, chiếm đoạt tài sản được tín nhiệm ủy thác cho, làm cho mình nghĩ rằng mình không còn thuộc hạ với ông chủ nữa chăng. Tất cả những tư tưởng vừa kể, được diển tả trong cách nói " sau thời gian lâu dài ", Thánh Matthêu có ý nhắc lại ý nghĩa dụ ngôn Người Đầy Tớ Trung Tín ( Mt 24, 45-51), được đề cập đến trước đó. Thời gian trôi qua trong Phúc Âm hôm nay ghi lai hai thái độ chính đáng phải có của người đầy tớ trung tín. Đó là thái độ không tiêu hao, chiếm đoạt bất chính của cải được ủy thác và bền bỉ chuyên cần làm việc, xứng đáng với lòng tin tưởng của người đã đối xử với mình như người thân tín trong nhà. Cuộc đối thoại giữa ông chủ và hai người đầy tớ đầu tiên nói lên những gì họ đã làm và nhứt là động tác khiến họ chú tâm, gắng sức thực hiện cho ông chủ. a) Người đầy tớ đầu tiên, được giao cho năm yến bạc, đến trình diện với chủ, mang theo năm yến khác: - " Thưa ông, ông đã giao cho tôi năm yến, tôi đã gây lời được năm yến khác đây" ( Mt 25, 20). Cách xưng hô " thưa ông ", ngoài ra là cách dùng để đối thoại thông thường, cũng có thể là cách nói kính trọng, ngưởng mộ, cho thấy anh đã hành xử thế nào đối với ông, đối với những gì ông ủy thác cho, bởi đó năm yến bạc được giao đã trở thành mười yến hiện thời. Anh đã hành động với tất cả khả năng vì lòng mến chuộng, ngưỡng mộ ông chủ. Trong câu nói của anh, có hai động từ đáng lưu ý " ông đã giao cho tôi " và " tôi đã gây lời thêm...". Động từ thứ nhứt nói lên lòng tin cẩn của ông chủ và động từ thứ hai cho thấy hành động đáp lại tâm tình ông chủ đã dành cho mình. Lòng tin tưởng của ông chủ đã giao cho anh một số tài sản khổng lồ và thái độ đáp ứng của anh là biết chứng tỏ cho ông chủ thấy con người của anh, đức tính biết ơn, trung thành và khả năng đầu tư sinh lợi những gì được giao phó. Bởi lẽ lòng tin tưởng và liều lỉnh của ông chủ cũng có thể " gởi trứng cho ác", người đầy tớ hoặc bất lương, hoặc bất tài có thể làm cho ông sạt nghiệp. Không phải là ai không biết chuyện như vậy có thể xảy ra, nhưng mục đích của dụ ngôn là nhằm làm nổi bật lòng trung tín của người đầy tớ.
b) Trường hợp người đầy tớ thứ hai cũng vậy, anh cũng hành động dùng lời lẽ như người đầy tớ trước đối với ông chủ. Điều khác nhau chỉ là số lượng tiền bạc được giao và số lời thu thập được. Hiểu như vậy, chúng ta thấy được cả hai đều chuyên cần làm việc và ngưỡng mộ ông chủ cũng như tâm tình, lòng tin tưởng của ông đối với mình.
Bởi đó đối với cả hai, mặc cho số vốn ủy thác và tiền lời thu thập được có khác nhau, ông chủ cũng hài lòng đối với cả hai và thăng thưởng. Trước hết là những lời khen ngợi cả hai như nhau: - " Khá lắm, hởi đầy tớ tài giỏi và trung thành !" ( Mt 25, 21. 23), rồi kế đến cũng là phần thăng thưởng vật chất cho cả hai: - " Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh" ( Mt 25, 21b.23b). Và sau cùng là phần thăng thưởng tinh thần, cũng cho cả hai như nhau: - " Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh" ( Mt 25, 21b.23b). Việc ông chủ thốt lên cho cả hai đầy tớ, kẻ sinh lợi được nhiều hơn, kẻ sinh lợi được ít hơn, bằng những ngôn từ đồng nhất như nhau, cho thấy ông không có cách đối xử nào khác biệt giữa người nầy và người nọ, tùy theo lợi nhuận thu thập được. Điều vừa kể cũng cho thấy cách ủy thác cho tài sản khác nhau lúc đầu, không có ảnh hưởng gì đến phần thưởng mà mỗi người sẽ nhận được sau đó. Cả hai đều chuyên cần làm việc tối đa với khả năng mình có, bởi đó cả hai đều được ông chủ đối đãi như nhau. Mặc cho kết quả có khác nhau, nhưng cả hai đều được coi là đáng tưởng thưởng như nhau, do việc gắng sức chuyên cần tối đa vì tình cảm người nhà đối với ông chủ. Điều vừa kể cũng cho thấy ông chủ có lý khi ông đối đãi bất đồng lúc ban đầu, bởi lẽ công bình không có nghĩa chỉ là " công bình toán học", đần độn của chủ thuyết " vô sản chuyên chế và tất cả đều phải trở thành vô sản bần cố nông" mới là công bằng, mà là công bằng dựa trên sự hiểu biết và kính trọng phẩm giá con người và khả năng mỗi người được Chúa ban cho, xử dụng để đem lại lợi ích cho chính mình và cho cộng đồng anh em mình. Mỗi người phải được đối xử như là một chủ thể duy nhứt, có một không hai, chớ không phải là một con con số vô hồn trong cộng đồng " tất cả đều là vô sản, bần cố nông mạc rệp ngang nhau".
c) Ông chủ cho rằng cả hai người đầy tớ đang được đề cập " được giao cho ít, mà anh trung thành...". Thật ra năm yến bạc và hai yến bạc không phải là mộc con số vô nghĩa, " ít ", như lời ông chủ cho biết. Là giá của lương công nhân tương đương với 100 năm và 40 năm làm việc lao lực, chớ không phải là con số vô giá trị. Nếu ông cho những gì ông giao cho hai đầy tớ là " ít " và hứa với họ sẽ giao cho " nhiều " hơn, chắc chắn cuộc sống của hai anh đầy tớ vừa kể sẽ không kém gì cuộc sốngthịnh vượng, sa hoa của các hoàng đế Pharaon Ai Cập trước đó: - " Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh" ( Mt 25, 21b.25b). Điều vừa kể cho thấy lòng trung thành được thăng thưởng vượt quá những gì con người có thể tưởng tượng trong Nuớc Trời, được dụ ngôn đề cập đến. Còn nữa, tuyệt đỉnh của việc thăng thưởng, đó là không phải chỉ gồm ở việc được hưởng thụ vật chất, mà là được tham dự vào chính sự vui mừng, niềm hạnh phúc, vào cuộc sống của ông chủ, sống chia xẻ cuộc sống với ông chủ, sống niềm hạnh phúc của ông chủ đang sống: - " Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh" ( Mt 25, 21b.23b). Điều vừa kể cho thấy phần thưởng của người tín hữu Chúa Ki Tô là được sống thông phần vào chính đời sống của Thiên Chúa.
3 - Cuộc đối thoại với người đầy tớ thứ ba. Cuộc đối thoại với hai người đầy tớ trước tiên được Thánh Matthêu thuật lại như là phần phản chiếu lại, làm cho nổi bậc những gì dụ ngôn muốn nói lên ở phần đối thoại với người đầy tớ thứ ba, bởi đó được viết ra để xác định ý nghĩa dài gần gấp đôi. Cách suy nghĩ của người đầy tớ thứ ba cũng là cách suy nghĩ thông thường đối với không ít người trong cả thời đại chúng ta. Bởi đó Thánh Matthêu, tác giả Phúc Âm chú tâm nhiều hơn để diển tả và phê bình phải trái. Trước hết người đầy tớ đang bàn nói rõ tâm trạng của anh ta đối với ông chủ. Anh khởi đầu ngay bằng thái độ tấn công ông chủ, cho thấy một hình ảnh méo mó về ông chủ trong cách suy nghĩ của anh: - " Thưa ông, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi" ( Mt 25, 24). Hiểu như vậy, việc giao cho yến bạc được coi là thái độ ích kỷ, bốc lột, muốn làm giàu trên xương máu của người khác, dùng người đầy tớ để làm tôi mọi. Quan niệm của anh là quan niệm thuần kinh tế, thương mại của việc giao cho yến bạc và bởi đó, lợi lộc là lợi lộc hoàn toàn dành cho ông chủ. Anh không nhận ra việc ông chủ đối với anh là cơ hội để anh chứng tỏ cho ông ấy thấy khả năng của anh và bản lảnh con người của anh, có thể đáp ứng lại lòng tin cậy được ông chủ giao cho. Trong ý nghĩa văn mạch như vậy, sau cách dùng lời lẽ lịch sự để xưng hô với tiếng " thưa ông" , trong câu nói của anh ta chúng ta thấy Thánh Matthêư bỏ mất đoạn văn " ông đã giao cho tôi ", như trong câu nói của hai người đầy tớ đầu tiên, để nói lên lòng tin tưởng của ông chủ đối với các đầy tớ: - " Thưa ông, tôi đã biết ông là người hà khắc...". Và rồi cùng chung với tâm địa của anh đối với ông chủ, anh đầy tớ cũng cho chúng ta biết những gì ẩn chứa trong nội tâm. Đó là mối sợ sệt, lo âu, trạng thái chung của sống bằng tinh thần kẻ nô lệ đối với người chủ bất nhân: - " Vì thế tôi đâm sợ, mới đem giấu yến bạc của ông dưới đất" ( Mt 25, 25). Ai trong chúng ta cũng biết sự sợ hải làm tê liệt hết mọi tâm tình, sáng kiến của trí khôn, giảm đến mức tối thiểu các mối liên hệ và nhìn đâu cũng là thực tại đen tối. Bởi đó anh nghĩ tốt nhứt là đem chôn giấu yến bạc, và chờ đến lúc giao trả là đủ: - " Của ông đây, ông hãy cầm lấy" ( Mt 25, 25b). Hai người đầy tớ trước thưa lại với ông chủ " ông đã giao cho tôi ", cho thấy " tôi " là chủ thể , là một ngôi vị được ông chủ quan tâm chú ý. Thái độ đó không được thể hiện nơi người đầy tớ thứ ba, qua câu nói của anh ta, được trích dẩn ở trên, " thưa ông, tôi biết ông là người hà khắc...".
Thái độ bất kính và đanh đá của người đầy tớ được đáp lại bằng câu trả lời không kém cứng rắn của ông chủ: - " Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác..." ( Mt 25, 26). Đó là hai tỉnh từ tiêu cực, ngược hẳn với hai tỉnh từ được dùng đối với hai người biết tin tưởng và nổ lực làm việc trước đó: - " ...hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành..." ( Mt 25, 21.23). Trước câu trách móc vừa kể của ông chủ, " hỡi đầy tớ tồi tệ...", anh ta không có phản ứng nào. Điều đó chứng tỏ tâm địa đã chai đá ccủa anh đối với ông chủ. Kế đó ông chủ dùng lối lý luận " gậy ông đập lưng ông" ( argumentum ad hominem), dùng chính câu nói của người đầy tớ bất trung để đánh ngược lại anh ta và chứng tỏ cho anh ta thấy, thái độ " án binh bất động" đối với bổn phận mà đáng lý anh ta phải thi hành, không có gì khác hơn là thái độ lười biếng: - " Anh biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ" ( Mt 25, 27). Điều đó cho thấy rằng anh ta lỗi phạm gấp đôi, bởi vì anh ta biết như vậy, nhưng vẫn không hành động. Cũng trong câu nói trên của ông chủ, " đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng" cho thấy không phải ông chủ không biết cách làm sao để số bạc sinh lời, cho bằng giao cho người đầy tớ là chính vì ông muốn kích thích sự cộng tác khôn ngoan tích cực, xứng đáng là một con người của anh ta, mặc dầu giao yến bạc cho anh ta, ông cũng biết rằng đó là thái độ liều lĩnh, bởi lẽ người đầy tớ có thể làm ăn, đầu tư thất bát, lỗ lã.
Và rồi sau khi phản bác, vạch mặt nạ là lời kết án. Lời kết án của ông chủ cũng cho thấy, mặc dầu kết án trong hiện tại, nhưng cũng có dấu ám chỉ liên quan đến tính cách vĩnh viễn của cuộc sống, theo phương diện vật chất, cũng như tinh thần: - " Các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó, mà đưa cho người có mười yến. Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi" ( Mt 25, 28-29). " Lấy yến bạc khỏi tay nó" là một trừng phạt, làm cho người đó không còn có thể có đuợc vốn liếng để làm sinh lợi thêm. Thời gian chờ đợi đã qua, và đây là lúc xét đoán kết quả. Hậu quả của án phạt vừa kể cũng tương tợ như hậu quả đối với năm cô trinh nữ khờ dại đi dự tiệc cưới, chúng ta có dịp suy niệm trước đây ( Mt 25, 1-3). Quá thời gian hạn định, ai đến sau bị loại ra bên ngoài: " Rồi người ta đóng cửa lại...Tôi bảo thật, tôi không biết các cô là ai" ( Mt 25, 10.12).
Kế đến việc thu lại yến bạc của kẻ có một yến mà không biết lợi dụng và trao thêm cho người có mười yến, thoạt nhìn qua là một cử chỉ lạ thường. Một yến bạc được giao thêm cho kẻ có mười yến, đã được thăng thưởng " sẽ được giao thêm cho nhiều" và được " hưởng niềm vui của chủ anh" đâu có thêm được gì bao nhiêu cho người đã có. Thật ra văn mạch của đoạn Phúc Âm có ý ám chỉ là chỉ có hai trường hợp hoặc có, hoặc không có. Chỉ có vậy. Và ai có , thì có được nhiều. Và như chúng ta biết số nhiều được nói lên trong dụ ngôn là số mười. Và hiểu được như vậy, chúng ta có thể kết luận là trong đời sống đời đời, không thể có tình trạng có nửa chừng. Hoặc là có tối đa, tham dự vào " niềm vui của chủ anh", tham dự vào chính đời sống mà Thiên Chúa đang sống hay là không có gì hết. Và như vậy, án phạt nặng nề đối với kẻ lỗi phạm, là án phạt tinh thần, không còn được " tham dự vào sự vui mừng của chủ anh", niềm vui mà hai người đầy tớ đầu được thông hiệp, cùng hưởng với chủ và niềm vui mà người đầy tớ thứ ba bị cất đi, bị liệng ra bên ngoài, không còn thân tình gì nữa: - " Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng" ( Mt 25, 30).
Qua những gì cố ý tìm hiểu để suy niệm, mục đích chính của dụ ngôn là để làm cho chúng ta hiểu được bản tính thực sự của mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Đó là mối tương quan đối nghịch, với - " thái độ nô bộc, sợ sệt, tìm cách ẩn trú và an toàn ngược lại với tình yêu Thiên Chúa, bằng cách tuân giữ như nô lệ các giới răn của Người" ( J. Dupont). Thời gian chủ " vắng mặt lâu dài " và đợi chũ về có nghĩa là khoản thời gian trong cuộc sống phải chấp nhận những liều lỉnh, nguy hiểm để đầu tư những yến bạc Chúa cho. Chúa không muốn chúng ta trả lại những yến bạc ( hay khuynh hướng, tài năng, tâm tình, trí tuệ cũng như sức mạnh thể xác) mà Người đã giao cho mỗi người chúng ta, cho bằng đứng ra hành động vì được thúc đẩy bởi tâm tình thân tín như người nhà, để phục vụ Chúa và phục vụ anh em, đã là một cách tham dự vào địa vị vương giả của Người. Như vậy, ai đứng ra hành động, theo tình yêu Thiên Chúa thúc đẩy và đảm nhận cả những mối liều lỉnh, nguy hiểm thất bại, là người đã được kêu gọi và thấy được những viễn ảnh mới đang mở ra trước mặt mình. Còn những ai " nằm khoanh vỏ ốc", nằm án binh bất động hay phủi tay, " thấy vậy, lách sang rồi bỏ đi luôn" ( Lc 10, 33) là lối sống làm cho yến bạc Chúa cho nằm tê liệt, khô cằn, chẳng đem lại ích lợi gì cho ai, cho kẻ nhận được, cũng như cho anh em bất hạnh của mình đang chờ đợi được giúp đở. Bản án cuối cùng của những người hành xử như vừa kể không chỉ là " hãy quăng nó ra bên ngoài ", bởi lẽ anh ta đã đứng ra bên ngoài mối tương giao thân tình và tin cậy đối với ông chủ, mà còn là bản án " là đầy tớ vô dụng " ( Mt 25, 30). Một con người như vậy, không còn có cách sống nào khác hơn là - " ở đó nó sẽ phải khóc lóc nghiến răng" ( Mt 25, 30). Hãy dùng các yến bạc Chúa giao cho trong cuộc sống bằng hành động, không quan trọng năm yến, hai yến hay một yến, để tỏ ra tình thương yêu Chúa và thương yêu anh em.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN HỌC TẬP
|