|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN -----------------------------------------------------------LUC LUONG TON GIAO =============================================================== |
HAI GƯƠNG MẶT MỤC TỬ TRẦN DUY NHIÊN
Hôm nay, tôi không nhai đi nhai lại chuyện nhà đất. Tôi chỉ muốn nhìn vào chủ chăn và sứ mệnh các ngài. Tôi nhớ lại bài giảng của cha Vũ Khởi Phụng tại Dòng Chúa Cứu Thế Saigon, đêm 28-8-2008, trong thánh lễ hiệp thông cầu nguyện cho Tòa Khâm Sứ và Linh Địa Thái Hà. Ngài nói: “Mảnh đất là một biểu tượng, mảnh đất là một cái cớ, mảnh đất là một cơ hội, để đi tìm một cái gì khác”
Có lẽ câu nói đó đã làm cho ngài trở thành một người đáng nghi ngờ, vì đây không còn là vấn đề tranh chấp về một thửa đất, mà là một vấn đề lớn hơn, một vấn đề ‘chính trị’. Thực ra, ngài đã nói thay cho những người thấp cổ bé miệng, những người dân oan nhưng không còn tiếng nói. Và cũng có lẽ vì thế mà đúng một tháng sau, đêm 28-09-2008, những người hung hăng đã đến ‘cướp’ linh địa và thét lên ‘Giết Vũ Khởi Phụng - Giết Ngô Quang Kiệt!’.
Những biến cố này khiến tôi nhìn lại gương mặt của hai tổng giám mục tiêu biểu cho cùng một cách làm chứng. Dù hai vị khác nhau trên mọi phương diện - sống trong hai môi trường khác nhau, đối diện với các tình huống khác nhau, cách trả giá cũng khác nhau - thì hai vị đều có một mẫu số chung, ấy là làm chứng rằng: Thời đại này, Giáo Hội tiếp tục bị bách hại, không phải vì niềm tin của mình, mà vì Giáo hội bênh vực người nghèo khổ, người bị áp bức, chống lại những kẻ áp bức. Hai gương mặt ấy là TGM Ngô Quang Kiệt và TGM Oscar Romero.
Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt.
Ngày 29-06-1999, cha Giuse Ngô Quang Kiệt được phong giám mục để phục vụ tại một giáo phận nghèo và hẻo lánh của tuyến đầu đất nước : Lạng sơn. Nơi đây, đồng bào là những người dân quê hiền lành mộc mạc, đời sống rất khó khăn vì hậu quả của chiến tranh. Nước Việt Nam vốn đã chịu nhiều cảnh nghèo: dân nghèo, địa phương nghèo thì Giáo Hội ở đó cũng nghèo theo.
Cùng hồi tưởng lại lời chia sẻ của ngài trong lời mở đầu của bài hội thảo tại Đại Hội Giáo Lý do Tổng Giáo Phận Los Angeles tổ chức và tân Tổng Giám Mục Hà Nội là diễn giả: ‘Tháng 10 năm 2000, tôi được hân hạnh tham dự đoàn hành hương Năm Thánh của một số Giám mục Việt nam. Trong dịp vào chầu Đức Thánh Cha, Đức Tổng Giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, bây giờ là Hồng Y đã giới thiệu tôi là một giám mục 3 không: không có toà giám mục, không có nhà thờ chính toà, không có linh mục tu sĩ. Và Đức Thánh Cha đã gọi tôi là ‘homeless bishop.’... ‘Chỉ có một mình, nên tôi miệt mài rong ruổi. Hết xứ nọ sang xứ kia. Hết làng này sang làng khác. Ở trên xe nhiều hơn ở trong phòng. Ở trên đường nhiều hơn ở trong nhà. Trời đất là quê hương. Núi rừng là giáo phận. Đường là nhà. Xe là phòng. Cứ đi không ngừng…’
Vâng, vị Tông Đồ mục tử ấy, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, quê quán ở chính nơi được gọi về phục vụ như là vị mục tử ngày nào ‘không nhà’ ở Lạng Sơn. Ngài sinh ngày 4 tháng 9 năm 1952 tại Mỹ Sơn, Lạng Sơn. Được đào tạo tại Tiểu Chủng viện Têrêsa, thuộc giáo phận Long Xuyên rồi theo học tại Đại Chủng Viện Tôma, trong cùng giáo phận. Hoàn cảnh đất nước đổi thay, nhiều khó khăn cho các ơn gọi và tâm hồn ước ao tận hiến; nhưng với riêng ngài, tuân phục ơn Chúa dẫn đưa và lòng kiên trì theo đuổi, mùa hè năm 1991 ngài được chọn bước lên bàn thánh cử hành sứ vụ linh mục. Sau thời gian phục vụ tại Nhà Thờ Chính Toà Long Xuyên, ngài được theo học tại Institut Catholique de Paris, Pháp.
Khi về nước, cũng tiếp tục phục vụ tại giáo phận nhà cho đến khi trở thành Giám mục coi sóc giáo phận quê quán mình. Tại đó, ngài đã chia sẻ với những giáo dân nghèo và lam lũ trong thân phận hẩm hiu với họ. Một giám mục phục vụ dân nghèo thì làm gì có mũ gậy quyền bính, nhưng là một ông từ quét dọn nhà thờ nghèo xơ xác, vừa làm ca trưởng và cũng vừa là giáo lý viên, và là linh mục cử hành các bí tích, mục vụ cho những người dân bản làng. Ấy thế mà ngài vẫn dành thì giờ để viết những loạt bài chia sẻ Tin Mừng hàng tuần, và cùng với một số linh mục anh em biên soạn sách vở, dịch thuật để giúp cho dân Chúa thêm lương thực cho đời sống đức tin.
Chạnh Lòng Thương - khẩu hiệu của Đức cha Giuse khi được gọi làm Giám Mục đã được ngài sống hết mình qua những thể hiện của những hy sinh chính bản thân mình. Bất kể thì giờ, mưa nắng, trong những năm tháng qua, ngài đã cùng với dân làng ở Lạng Sơn tìm kiếm lại khuôn mặt Đấng đã Chết và Sống Lại cho họ bấy lâu đã nhạt nhoà. Mà ở đó, theo ngài ‘…Biết bao tâm hồn thiện chí đang khao khát chờ đợi ta. Biết bao niềm tin câm lặng đang chờ dịp tỏ lộ. Biết bao nỗi mất mát đau thương chờ được thông cảm. Biết bao cảnh lầm than cơ cực chờ được nâng đỡ. Những tiếng mời gọi tha thiết nhưng rất âm thầm. Phải mở lòng ra mới nghe thấy. Phải mở trái tim ra mới hiểu được. Hôm nay tiếng Chúa vẫn vang lên qua những lời giáo huấn của Hội thánh. Tiếng Chúa vẫn mãnh liệt trong tâm hồn mỗi vị mục tử. Tiếng Chúa bàng bạc, âm thầm nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm tha thiết ‘Hãy ra khơi ...’ (Hội Thảo 20/2/2005, ĐHGL Los Angeles).
Tháng 5 năm 2003, bận rộn hơn vì nhiệm vụ mới, rong ruổi hơn khi ngài được gọi về phục vụ trong nhiệm vụ Giám Quản Tông Toà Hà Nội vì Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng đến tuổi về hưu. Rày đây - Lạng Sơn, mai đó - Hà Nội, bận rộn như con thoi chạy đi chạy về vì việc nhà Chúa và bổn phận. Hai năm sau, ngày Thứ Bảy 19-03-2005, đúng vào ngày lễ Quan Thầy Giuse, ngài được chính thức tấn phong Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nội.
Dĩ nhiên, chức vụ tổng giám mục là do Đức Giáo Hoàng cắt đặt, nhưng chính quyền Hà Nội đã chấp nhận, nếu không nói là ‘chọn’ ngài; bởi vì trong hiện tình đất nước Việt Nam, không một giám mục nào có thể được cai quản giáo phận, nếu chính quyền sở tại không đồng ý. Có lẽ chính quyền Hà Nội cũng hy vọng ngài sẽ hợp tác để phục vụ ‘quyền lợi của nhân dân’ theo cách nghĩ và cách làm của những vị có chức có quyền tại đó. Một trong những lý do khiến họ an tâm, ấy là vì homeless bishop này chẳng màng gì đến toà nhà, đến đất đai, đến quyền lợi thế gian cả. Thế mà chỉ hai năm sau, ngài trở thành cây gai đâm vào cái ung của bộ máy chính quyền Hà-nội, và có nguy cơ làm vỡ tung một mụt nhọt từng làm cho người dân Hà Nội nói riêng, và nhân dân Việt Nam nói chung, nhức nhối trong một thời gian dài. Vâng! vị tổng giám mục ấy vẫn cứ đi không ngừng…
Con người ‘chạnh lòng thương’ ấy - một người khiêm nhường không bao giờ to tiếng với ai, một tổng giám mục mà mỗi lần nhấc điện thoại thì chỉ nói đơn sơ vỏn vẹn: ‘Kiệt đây!’ - người ấy đã khẳng khái trình bày lớn tiếng trước UBND thành phố Hà Nội một số câu mà mọi người hiểu như sau: Tôn giáo là quyền của chúng tôi! Chúng tôi không cần xin ai cả! Chúng tôi không tranh chấp đất đai với chính quyền, chúng tôi chỉ muốn lấy lại những gì thuộc về mình, mà bọn ‘ăn cướp’ đang tính bán đi để lấy tiền bỏ túi.
Dĩ nhiên, đó là một cú bất ngờ nhất đối với chính quyền Hà Nội! Và đó cũng là những lời đem về cho ngài bản án tử hình. Dĩ nhiên, vào thời buổi này, giết ngài bằng một viên đạn thì không thể làm được, vì tình hình đã đổi thay. Nhưng họ giết ngài bằng những phương tiện ‘hợp pháp’ như bôi nhọ trên truyền thông, đặt lộ liễu khắp nơi những máy móc để ‘quản chế’ ngài, viết trên văn bản gửi Hội Đồng Giám Mục yêu cầu‘ thuyên chuyển ra khỏi Giáo Phận Hà Nội’, v.v…
Thời thế đã đổi thay! Hẳn những người ‘có quyền bán đất’ nuối tiếc thời 25-30 năm về trước, thời mà ai cản trở quyền lợi cá nhân mình thì chỉ cần chụp cho cái mũ ‘cấu kết với bọn phản động’, rồi bắn bỏ mà chẳng ai có thể làm gì mình! Thời mà chính quyền ở El Salvador đã giết tổng giám mục Oscar Romero.
Tổng Giám Mục Oscar Romero.
Ngày 23-02-1977, Đức cha Oscar Arnulfo Romero được tấn phong tổng giám mục San Salvador. Những người trong chính quyền hoan nghênh quyết định này của Tòa thánh, nhưng các linh mục dấn thân lại e ngại vì ngài có tiếng là bảo thủ, và sợ rằng ngài sẽ ngăn chặn mọi sự dấn thân của họ để phục vụ cho quyền lợi của người nghèo. Thế nhưng, ngạc nhiên thay, không đầy một tháng sau, ngày 12 tháng 3, khi bạn của ngài là linh mục Rutilo Grande, một người đấu tranh cho người nghèo bị ám sát, ngài đã lên tiếng đòi buộc chính quyền của Arturo Armando Molina phải làm rõ vụ việc này, dù sau đó không ai đáp ứng lời kêu gọi của ngài.
Với tư cách là tổng giám mục, ngài hiểu rằng Giáo Hội là một cái gì đó cao hơn các phẩm trật, cả Rôma, các nhà thần học hay các giáo sĩ – nghĩa là một cái gì vượt lên trên mọi cơ chế. Cho đến một ngày kia, ngài cảm nghiệm rằng chính người dân là Giáo Hội. Ngài nói: “Thiên Chúa cần đến người dân để cứu lấy thế gian… Thế giới của người nghèo dạy chúng ta rằng giờ giải thoát đến chỉ khi nào người nghèo không còn ngửa tay ăn xin chính quyền và giáo hội, nhưng họ trở thành người làm và người chủ động trong cuộc chiến để giải thoát chính mình.”
Đức Cha Romero thấy mình bất lực vì không thể ngăn cản được bạo lực. Trong vòng một năm sau khi ngài được tấn phong, khoảng chừng 200 giáo lý viên và nông dân sống trên giáo phận ngài đã bị giết. Sau này, hơn 7,500 người Salvador sẽ bị giết, một triệu người rời bỏ quê hương để trốn thoát, và một triệu người khác luôn di cư để tránh các cuộc đụng độ - trên một đất nước có 5,5 triệu dân. Điều duy nhất mà cha Romero có thể đem đến cho dân chúng là những bài giảng hùng hồn của ngài, được phát thanh khắp nơi trên đất nước. Ngài trấn an họ, bảo rằng những điều ghê tởm kia sẽ phải chấm dứt, nhưng Giáo Hội của người nghèo, của chính họ, sẽ tiếp tục sống mãi.
“Nếu một ngày nào họ tiêu diệt đài phát thanh của chúng ta… nếu họ không cho chúng ta lên tiếng, nếu họ giết hết mọi linh mục và giám mục, và anh chị em sẽ bơ vơ không còn có linh mục, thì mỗi anh chị em phải trở thành máy vi âm (microphone) của Thiên Chúa, mỗi một anh chị em phải trở thành ngôn sứ.”
Năm 1980, giữa trận cuồng phong của bạo lực, đức cha Romero viết thư cho tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter, yêu cầu ông đừng gửi viện trợ cho quân đội, bởi vì, theo lời ngài, ‘viện trợ ấy được dùng để đàn áp người dân nước tôi.’ Trong vòng 12 năm liên tục, Hoa kỳ vẫn tiếp tục gửi viện trợ cho San Salvador. Lá thư này bị chìm trong quên lãng. Hai tháng sau ngài bị ám sát.
Ngày 23-3-1980, đức cha Romero bước vào vùng lửa đạn. Ngài lớn tiếng gửi lời kêu gọi đến binh sĩ xuất thân từ thành phần nông dân, trong khi đó các tướng lãnh sợ hãi và căm ghét uy tín của ngài. Cuối bài giảng, được truyền thanh trên khắp nước, lời ngài vang lên: “Hỡi anh em, anh em xuất thân cùng tầng lớp với họ, anh em giết những nông dân bạn hữu mình… Không có một quân nhân nào buộc phải tuân hành một mệnh lệnh đi ngược lại với thánh ý của Thiên Chúa…”
Tiếng hoan hô vang lên như sấm nổ: ngài đã kêu gọi quân đội nổi dậy. Thế rồi ngài gào lên: “Nhân danh Thiên Chúa, nhân danh những người dân đau khổ, tôi yêu cầu anh em, tôi van nài anh em, tôi ra lệnh cho anh em nhân danh Thiên Chúa: hãy ngừng chiến dịch đàn áp này”.
Lời kêu gọi này đồng nghĩa với lời kêu gọi của Chúa Kitô: hãy chọn lựa người nghèo và bị áp bức. Và lời kêu gọi ấy cũng là lời nói đem đến bản án tử hình: ngày hôm sau, 24-3-1980, ngài bị ám sát ngay trên tòa giảng.
Trước ngày định mệnh đó không lâu, ngài đã nói với một ký giả: “Anh có thể nói với dân chúng rằng nếu họ (chính quyền) có giết được tôi, thì tôi tha thứ và chúc phúc cho những người giết tôi. May thay, họ sẽ ý thức rằng họ mất thì giờ vô ích. Một giám mục chết đi, nhưng Dân của Chúa, nghĩa là người dân đen, sẽ không bao giờ chết cả.”
Hai mươi tám năm rồi, kể từ ngày viên đạn kia kết thúc cuộc đời trần thế của ngài đúng như ngài dự kiến, thì ngài vẫn còn sống trong lòng dân tộc của ngài. Lời xác tín của ngài đã trở thành hiện thực:
“Thế giới mà Giáo Hội phải phục vụ là thế giới của người nghèo. Giáo hội bị bách hại, ấy là hệ quả của việc bênh vực người nghèo. Mạng sống tôi đã bị đe dọa nhiều lần. Tôi cần phải tuyên xưng, với tư cách là Kitô hữu, rằng tôi không tin mình chết mà lại không phục sinh. Nếu họ giết tôi, tôi sẽ sống lại trong dân tộc Salvadore”
Trần Duy Nhiên, Saigon
ĐỨC TGM KIỆT NÓI ĐÚNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 28.09.2008
Trong bài đáp lời UBND Hà Nội, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói:
"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam... "
Ngài nói tiếp những lời để diễn tả những lý do tại sao Ngài có thể nói như vậy. Nhưng Báo Chí , Đài Thát Thanh và Đài Truyền Hình CSVN đã chỉ trích vỏn vẹn những lời trên đây mà không trích những lời Ngài nói tiếp theo. Đây là việc thông tin với chủ ý hèn hạ mạ ly Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT. Đám Báo Đài bồi bút, bồi mõm CSVN đả ấu trĩ kết án Đức TGM KIỆT là phản Quốc.
Nhiều người đã trích đoạn tiếp theo câu nói trên để cho công luận biết rằng đám bồi bút bồi mõm CSVN có đầu óc không ngay thẳng (Malhonnete) trong việc chỉ trích dẫn ra vỏn vẹn những lời nói trên của Đức TGM KIỆT. Không những chúng không còn lương tâm mà còn muốn độc giả, thính khán giả cũng trở thành thù địch với Đức TGM KIỆT.
Riêng tôi, tôi không cần phải trích những lời nói tiếp theo lời nói trên mà vẫn thấy rằng Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói hoàn toàn ĐÚNG về chế độ CSVN độc tài và tham nhũng. Tôi chỉ cần đọc vỏn vẹn những lời nói trên đây, không cần đọc những câu tiếp cắt nghĩa của Ngài, cũng thấy Đức TGM KIỆT nói rất ĐÚNG.
HAI CÂU NÓI, HAI KẾT LUẬN KHÁC HẲN NHAU
Hãy phân biệt hai câu nói sau đây:
Câu nói thứ nhất: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam"
Câu nói thứ hai: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi mang cái Quốc tịch Việt Nam"
Câu nói thứ hai này giống nghĩa với câu: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi thấy mình là Người Việt Nam“
Nếu Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói ra những lời theo Câu nói thứ hai này, thì tôi kết luận liền rằng Ngài là người phản Quốc, mất gốc, cho dù suốt đời Ngài viết hàng trăm ngàn trang để cắt nghĩa câu nói vừa thoát ra.
Thực vậy, về phương diện ý nghĩa Câu nói thứ hai này, tôi đã thẳng thắn công kích ngay cả một số bạn bè Việt Nam. Có những người bạn cùng học bên này, khi vào Bar ban đêm gặp gái, thường tuyên bố mình là người Nhật... Tôi đã thẳng thắn la lên rằng không được chối bỏ Quốc tịch, cái gốc của mình như vậy. Sinh ra, mang Quốc tịch Việt Nam, gốc Người Việt Nam, dù xứ mình nghèo khổ, mình cũng phải luôn luôn hãnh diện mình là Người Việt Nam, Quốc tịch Việt Nam.
Tôi rời Việt Nam năm 1965 và sống tại Thụy sĩ đã trên 40 năm, nhưng tôi nhất định không vào bất cứ một Quốc tịch nước khác. Một lần nói chuyện với một người cao cấp của Sứ Quan VN bên cạnh Liên Hiệp Quốc. Oâng hỏi tôi đã vào Quốc tịch Thụy sĩ chưa sau những chục năm ở đây. Tôi trả lời là tôi không vào Quốc tịch Thụy sĩ hay bất cứ một Quốc tịch nào khác. Oâng nói: “Nếu Oâng vào Quốc tịch nước khác thì nhà nước XHCN Việt Nam vẩn KỂ Oâng là NGƯỜI Việt Nam“. Câu nói ấy đã làm tôi xùng vô cùng và tôi đã chửi thẳng vào mặt ông ta: “Điều quan trọng là tôi KỂ tôi là NGƯỜI Việt Nam, chứ không phải chế độ CSVN kể tôi là người Việt Nam.“. Thực vậy, dù chế độ CSVN không kể tôi là người Việt Nam, thì tôi vẫn là người Việt Nam.
Vì vậy, nếu Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói rằng Ngài nhục nhã là NGƯỜI Việt Nam hay nhục nhã mang QUỐC TỊCH Việt Nam, thì tôi không cần phải nghe những cắt nghĩa tiếp theo nữa, mà kết luận ngay rằng Ngài là người phản Quốc, mất gốc.
Nhưng Đức TGM đã suy nghĩ chín chắn và hoàn toàn sáng suốt khi nói Câu thứ nhất: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam"
Báo Đài CSVN đã trích câu này ra để tuyên truyền kết luận mạ lỵ Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT theo ý nghĩa Câu thứ hai mà Ngài không bao giờ nói. Câu thứ hai là: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi mang cái Quốc tịch Việt Nam" hoặc: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi thấy mình là Người Việt Nam“
Như vậy Báo Đài CSVN đã chủ trương làm hai điều vô lương tâm: (1) Chỉ trích dẫn vỏn vẹn Câu thứ nhất mà không trích những lời nói tiếp để cắt nghĩa tại sao nói như vậy; (2) Tuyên truyền và kết luận mạ lỵ Đức TGM KIỆT theo ý nghĩa Câu nói thứ hai mà Ngài đã sáng suốt không bao giờ nói.
CSVN KHÔNG PHẢI LÀ NƯỚC VN VÀ DÂN TỘC VN
Có một cựu sinh viên tại Thụy sĩ, muốn làm ăn với CSVN, nên ăn cắp lá thư của tôi để gửi về Bộ Nội Vụ CSVN để mách lẻo. Một người thuộc Bô Nôi Vụ đã lấy được thư đó và gửi ngược lại Thụy sĩ cho tôi. Tôi đã viết thẳng cho Bộ Nội Vụ rằng muốn có thông tin về tôi, thì hỏi thẳng tôi để tôi trả lời trực tiếp cho đúng sự thực, chứ đừng hỏi qua những kẻ muốn mách lẻo để lấy điểm, bịa đặt không trúng sự thực.
Đồng thời tôi cũng phân biệt cho CSVN biết rằng CSVN không phải là NƯỚC Việt Nam và không phải là DÂN TỘC Việt Nam. Tôi lấy tỉ dụ sau đây:
NƯỚC Việt Nam và DÂN TỘC Việt Nam ví như dòng sông triền miên chảy từ đời này sang đời kia và còn mãi mãi. Chính trị trên đất NƯỚC Việt Nam và đối với DÂN TỘC Việt Nam chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước sông. Những gợn sóng lăn tăn khi ẩn khi hiện. Chủ nghĩa Cộng sản là thể chế Chính trị lúc này nhô lên, nhưng rồi lặn xuống như gợn sóng. Vì vậy không thể coi gợn sóng lăn tăn, Chính trị CSVN, là dòng nước sông triền miên chảy của DÂN TỘC Việt Nam và của NƯỚC Việt Nam.
Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT không bao giờ nói Ngài nhục nhã vì Quốc tịch Việt Nam, vì Nước Việt Nam, nghĩa là vì dòng nước sông DÂN TỘC và NƯỚC Việt Nam chảy triền miên. Nhưng Ngài cảm thấy nhục nhã cho Chính trị CSVN, một gợn sóng lăn tăn mà tự coi mình là dòng nước sông để bắt NƯỚC Việt Nam chịu cảnh kém phát triển, bắt DÂN TỘC Việt Nam sống trong độc tài theo lệnh của đảng CSVN.
Chính vì coi đảng CSVN, coi Chính trị XHCN là NƯỚC VN, là DÂN TỘC VN, nên Báo Đài CSVN kết án Đức TGM KIỆT là phản Quốc, phản Dân tộc, trong khi ấy Ngài chỉ cảm thấy nhục nhã vì gợn sóng thể chế Chính trị CSVN.
Thực vậy, nếu chỉ có vỏn vẹn Câu nói thứ nhất: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam" mà không cần nói tiếp, thì Báo Đài CSVN cũng không thể nào kết luận được Đức TGM KIỆT là phản Quốc được.
Chính trị quy định quyền hạn xử dụng, được phép đi lại hàm chứa trong HỘ CHIẾU. Cũng vậy, những nước khác, tùy sự giao hảo, chấp nhận thể chế Chính trị hiện hành của một nước, mà cho phép người cầm HỘ CHIẾU nhập cảnh hay không và cư ngụ được bao lâu. Người cầm cái HỘ CHIẾU không khổ tâm vì mình là NGƯỜI Việt Nam, nhưng nhục nhã là phải ràng buộc cực khổ đối với những quy định kềm kẹp từ thể chế Chính trị CSVN cấp phát Hộ Chiếu ấy, rồi chịu những ràng buộc Chính trị, Ngoại giao từ những nước mà mình xin nhập cảnh. Nếu có nước không chấp nhận cho người mang Hộ Chiếu CSVN hiện hành vào nước mình, không phải là vì lý do người ấy gốc là Dân Tộc Việt Nam, mà là vì người ấy mang Hộ Chiếu của một thể chế Chính trị mà nước đó không chấp nhận.
Tôi xin trưng dẫn ra những tỉ dụ cụ thể. Trước đây, Giám mục NGUYỄN SƠN LÂM là Giám mục dưới chế độ CSVN và là Giám mục đầu tiên sang được Hoa kỳ. Tôi quen biết Giám mục NGUYỄN SƠN LÂM vì là người cùng làng ở Miền Bắc. Giám mục mang HỘ CHIẾU CSVN và chỉ sang được Vatican, Pháp và Thụy sĩ. Khi Giám mục LÂM sang Geneva và tôi có gặp. Giám mục tỏ ý muốn qua Hoa ky,ø nhưng theo HỘ CHIẾU mà Giám mục đang cầm, thì Giám mục không được phép của Bộ Nội Vụ cho đi Mỹ. Giám mục biết tôi quen Oâng Tổng Lãnh sự NGUYỄN NGỌC LƯƠNG nên ngỏ ý xem tôi có lo liệu được cho Giám mục có phép từ Geneva đi Mỹ không. Oâng NGUYỄN NGỌC LƯƠNG đã ghi thêm vào HỘ CHIẾU là cho phép Giám mục đi Hoa kỳ. Giám mục LÂM, do đó là Giám mục VN đầu tiên đi Mỹ.
Tỉ dụ này cho thấy việc mang HỘ CHIẾU là sự ràng buộc vào một thể chế Chính trị.
Vì vậy, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT khi nói rằng Ngài nhục nhã khi cầm cái HỘ CHIẾU là nói rằng Ngài nhục nhã cho cái thể chế Chính trị đã cấp HỘ CHIẾU cho Ngài với tất cả ràng buộc độc tài. Là Công dân một nước, Ngài có quyền bầy tỏ quan điểm đối với một thể chế Chính trị được coi như một gợn sóng lăn tăn trên dòng nước sông chảy triền miên của DÂN TỘC, của NƯỚC Việt Nam. Ngài không phản lại DÂN TỘC và NƯỚC Việt Nam. Nhưng Ngài có quyền ưng theo hay phủ nhận thể chế Chính trị đang có ở NƯỚC VN và đang cai trị DÂN TỘC VN.
Chính tôi, cho dù CSVN cấp phát cho tôi HỘ CHIẾU, nhưng tôi xé bỏ nó và dục thùng rác, tôi thách những tên Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng nói tôi là phản quốc, mất gốc, phản lại DÂN TỘC mà tôi đang cố thủ giữ lấy Quốc tịch Việt Nam. Ngược lại, tôi thẳng thắn nói rằng những tên Hồ Chính Minh, Phạm Văn Đồng và cả bọn CSVN hiện nay là phản Quốc, phản bội lại Tổ Tiên vì chúng đã ký bán Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung quốc. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
QUAN HỆ VIỆT NAM/VATICAN CHƯA THỂ MỞ RA
Bùi Văn Phú
Đầu năm 2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Vatican và có cuộc tiếp kiến cùng Giáo hoàng Bênêdictô XVI. Đây là lần đầu tiên một lãnh đạo cao cấp Việt Nam đến thủ đô của 800 triệu tín đồ ở khắp nơi trên thế giới và gặp người đứng đầu Giáo hội Công giáo. Sự việc mang tính lịch sử vì ít khi có những buổi tiếp kiến giữa Giáo hoàng và lãnh đạo cộng sản. Đây cũng là tín hiệu hai bên muốn có những quan hệ tốt hơn.
1. Những dấu chỉ trái ngược nhau
Sau chuyến đi Vatican của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong năm 2007 tại Việt Nam đã có những lễ phong chức cho cả trăm linh mục ở các giáo phận trên toàn quốc, trong đó có chủng sinh tu chui - tức là đi tu không có phép của nhà nước. Tháng Mười năm vừa qua có ngày đại hội giới trẻ công giáo miền Bắc tổ chức ở Hải Phòng với hơn chục nghìn thanh niên nam nữ tham dự, tuy sinh hoạt này ít được truyền thông trong nước nhắc đến. Trước những sự kiện trên, dư luận giáo hội trong ngoài nước đã có những hi vọng về quan hệ giữa Vatican và Việt Nam sẽ được mở ra trong một tương lai không xa.
Tuy nhiên bên trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam cũng còn khuynh hướng không muốn tiến tới quan hệ tốt hơn với Vatican và đã tìm cách ngăn cản buổi gặp gỡ giữa Thủ tướng Dũng và Giáo hoàng Bênêdictô XVI vào giờ chót.
Đến cuối năm 2007 hi vọng bang giao giữa Việt Nam và Vatican đã lùi lại nhiều bước khi Giáo hội Công giáo Việt Nam lên tiếng đòi lại đất Toà Khâm sứ cũ, với việc hàng nghìn giáo dân tụ họp cầu nguyện nhiều ngày cho đến khi có hứa hẹn giải quyết từ chính quyền. Nhưng qua năm 2008 đất Toà Khâm sứ vẫn chưa được trả lại cho giáo hội và việc cầu nguyện giữ đất lan ra đến Giáo xứ Thái Hà. Cảnh sát cơ động đã dùng hơi cay để giải tán đám đông, bắt giam một số giáo dân. Tháng trước nhà nước đã cấp tốc biến những nơi tranh chấp thành vườn hoa và Toà Khâm sứ cũ được dùng làm thư viện.
Toà Khâm sứ được coi như sứ quán của Vatican, vì thế trong tiến trình bang giao việc trao trả lại tài sản của hai quốc gia, như giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã thực hiện trong năm 1995, là điều thường có trong giai đoạn tiền bang giao.
Trong hai thập niên qua giữa Vatican và Việt Nam đã có nhiều thảo luận song phương hầu tìm đến một sự thân thiện hơn. Lãnh đạo Giáo hội Công giáo Việt Nam đã được phép đi Rôma dự đại hội đồng giám mục thế giới, trong khi nhà nước Trung Quốc chưa bao giờ cho các giám mục đi họp. Giám mục Việt Nam cũng thường xuyên được ra nước ngoài, đến những nơi có đông người Việt sinh sống, đặc biệt là Hoa Kỳ, để sinh hoạt mục vụ và cũng là cách để Hà Nội chứng tỏ với thế giới ở Việt Nam có tự do tôn giáo.
Sinh hoạt tôn giáo tại Việt Nam ngày nay sinh động hơn so với những thập niên trước. Chuà chiền, thánh thất và nhà thờ luôn có đông tín đồ dự lễ, cúng viếng, cầu xin. Tuy nhiên những khó khăn trong việc tổ chức giáo hội, đặc biệt là Giáo hội Công giáo thì vẫn còn, từ việc giới hạn số chủng sinh đến việc phong chức cho các linh mục, giám mục vẫn có sự can thiệp của nhà nước. Một giám mục trong lần ghé vùng Vịnh San Francisco có nói rằng nhà nước chỉ cho mỗi huyện được phép đề cử một số chủng sinh nhất định vào nhà dòng tu tập. Nhà nước cũng không cho giáo hội đóng góp vào công tác giáo dục, cải thiện xã hội.
2. Việt Nam muốn phát triển quan hệ với thế giới: trường hợp Vatican và những nước cộng sản
Chính sách ngoại giao của Việt Nam là làm bạn với tất cả các nước trên quan điểm bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, độc lập của nhau và đã phát triển quan hệ với nhiều nước trong hai thập niên qua, kể cả những kẻ thù cũ là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Khó khăn nhất giữa Việt Nam và Toà Thánh là vấn đề Vatican muốn được độc lập trong việc phong chức và bổ nhiệm giám mục trông coi giáo phận và các giám mục được quyền chọn phong chức linh mục cho chủng sinh mà không phải xin phép hay có sự can thiệp của nhà nước vì đó là truyền thống sinh hoạt của Giáo hội Công giáo.
Vatican được xem như thánh điạ của người công giáo về mặt tâm linh, nhưng cũng là một quốc gia theo công pháp quốc tế. Tuy là một quốc gia nhỏ bé về mọi phương diện - diện tích vỏn vẹn 13 mẫu và dân số khoảng một nghìn, đa số là tu sĩ - nhưng Vatican có nhiều ảnh hưởng tinh thần đối với 800 triệu tín đồ ở khắp mọi châu lục. Vatican có Toà Khâm sứ, cơ sở ngoại giao tương đương với đại sứ quán, tại nhiều quốc gia để chăm sóc và bảo vệ quyền lợi đời sống tinh thần cho tín đồ ở nước sở tại. Qua Vatican, nhiều quỹ giáo dục và từ thiện do đóng góp của những quốc gia phát triển được dùng để giúp những nước nghèo theo tinh thần bác ái.
Vì là một tôn giáo có quan điểm thần học nghịch với chủ trương vô thần trong chủ nghĩa cộng sản, nên giữa Giáo hội Công giáo và các chính quyền cộng sản thường có nhiều xung đột. Trong quá khứ Vatican ít có quan hệ ngoại giao với những quốc gia cộng sản. Hiện nay Vatican không có bang giao với Trung Quốc, Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam là những nước cộng sản còn lại.
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp dù không chính thức có quan hệ với một quốc gia, Giáo hoàng đã có những chuyến tông du như chuyến đi Hoa Kỳ và Mexico của cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô II vào năm 1979 và đặc biệt là chuyến đi Cuba của Ngài cách đây một thập niên. Hoa Kỳ chính thức có quan hệ ngoại giao với Vatican vào năm 1984. Trước đó các tổng thống Mỹ chỉ gửi sứ thần là người đại diện riêng của tổng thống đến Vatican. Mexico dù có đông người công giáo, nhưng bang giao với Vatican mới được chính thức nối lại năm 1992 sau nhiều thập niên gián đoạn. Cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô II nổi tiếng là người tìm đến con chiên ở mọi châu lục nên sau chuyến đi Cuba Ngài cũng đã ngỏ ý muốn đến Việt Nam vào năm 1998, nhân dịp kỉ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra ở La Vang. Hội đồng Giám mục Việt Nam có gửi thư mời Ngài đến dâng thánh lễ để tôn kính Mẹ Maria cùng với hàng giáo phẩm Việt Nam, nhưng phiá nhà nước cho biết vì chưa có quan hệ giữa hai quốc gia nên về phương diện ngoại giao chưa thể đón Ngài.
Việt Nam và Vatican đã gián đoạn bang giao trong nhiều thập niên. Sau năm 1954 chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã yêu cầu Khâm sứ Toà Thánh rời khỏi miền Bắc. Năm 1975, sau khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ, đất nước thống nhất thì đại diện ngoại giao Toà Thánh ở miền Nam cũng bị trục xuất. Từ đó Việt Nam và Vatican không còn quan hệ ngoại giao.
Việt Nam là quốc gia có người công giáo đông thứ nhì ở Đông Á, sau Philippin. Trong số 85 triệu dân, khoảng 8 triệu người Việt theo đạo công giáo.
Chính sách của Hà Nội đối với các tôn giáo là hạn chế và tìm cách kiểm soát chặt chẽ. Sinh hoạt của các giáo hội bị buộc đặt dưới trướng của Mặt trận Tổ quốc là một cơ quan chỉ đạo các sinh hoạt văn hoá, xã hội cho cả nước.
3. Phản ứng của người Việt hải ngoại.
Trước sự việc giáo hội bị đàn áp, công lí bị chà đạp trong vụ đòi đất Toà Khâm sứ và tại Giáo xứ Thái Hà, người Việt hải ngoại đã hướng lòng hiệp thông với giáo hội quê nhà qua các thánh lễ, qua những buổi thắp nến cầu nguyện.
Thành phố San Jose là trung tâm của cộng đồng người Việt miền Bắc California với nhiều sinh hoạt chính trị, văn hoá, tôn giáo. Yểm trợ cho tranh đấu vì nhân quyền, San Jose đã tuyên dương những chức sắc lên tiếng đòi tự do tôn giáo như các Hoà thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, như Linh mục Nguyễn Văn Lý, cụ Lê Quang Liêm.
Sáng Chủ nhật ngày 28.9 tại Giáo xứ Việt Nam St. Patrick có thánh lễ cầu nguyện cho giáo hội quê nhà.
Cũng cần nhắc lại, trong tháng Bảy vừa qua Hồng y Phạm Minh Mẫn có chương trình thăm viếng mục vụ tại đây, nhưng sau khi Ngài lên tiếng không muốn thấy cờ vàng ba sọc đỏ được tung bay tại Đại hội Giới trẻ ở Úc nên đã có ý kiến phản đối, vì thế Hồng y Mẫn đã huỷ bỏ chương trình dâng lễ ở San Jose. Trong những chuyến công tác mục vụ, các giám mục lãnh đạo Giáo hội Công giáo Việt Nam thường đến San Jose sinh hoạt với giáo dân Việt.
Thánh lễ lúc 8 giờ 45 sáng do linh mục Vinh Sơn Nguyễn Đình Truyền chủ tế. Ngài còn trẻ, mới làm linh mục được đôi ba năm, hiện là phụ tá cho cha chính xứ Gioan T. Nguyễn Minh Hiền. Bắt đầu thánh lễ ngài nói: “Hôm nay chúng ta đặc biệt cầu nguyện cho Giáo hội Mẹ đang bị bách hại dưới nhiều hình thức. Đặc biệt là cho Tổng Giáo phận Hà Nội”.
Nếu phải nhắc đến nét thuần tuý Việt Nam từ quê hương được mang trọn vẹn qua Hoa Kỳ thì phải kể đến chương trình phụng vụ thánh lễ của người công giáo vì từ câu kinh đến những bản thánh ca đều giống với quê nhà. Những chỗ sửa đổi mới nhất trong Kinh Tin kính cũng đã được chiếu lên cho giáo dân đọc theo, như kinh sách đang được dùng ở Việt Nam. Trong thánh lễ có bài thánh ca mang điệu quan họ Bắc Ninh, với tiếng đàn tranh trầm bổng giúp người dự lễ dễ hướng lòng lên cầu nguyện: “Dâng dâng tháng ngày / Thế gian luôn biến đổi / Hoa xuân, mưa hạ, gió thu / Một năm buồn vui mấy muà…” Khung cảnh, giáo dân, lời kinh, ca vịnh đều mang nét Việt không khác gì sinh hoạt trong một nhà thờ ở Hà Nội, Nha Trang hay Sài Gòn.
Trong bài giảng, Linh mục Truyền mở đầu bằng câu chuyện mà có lẽ nhiều người đã được nghe từ một chương trình ca nhạc giải trí sản xuất ở Hoa Kỳ. Đó là chuyện bốn thương gia người Việt, Mỹ, Nhật và Hoa ăn nhậu chung vui, một hồi sau say xỉn các đại gia lớn tiếng khen nhau. Tay buôn người Việt nói với con buôn Hoa Kỳ là ông rất phục người Mỹ vì người Mỹ nói là làm. Thương gia Mỹ thì khâm phục ông bạn Nhật vì người Nhật làm xong mới nói. Còn thương gia Nhật phục ông Tàu Trung Quốc là không nói mà làm. Đến lượt ông Tàu thì ông ta khen đại gia Việt Cộng là nói một đàng và làm một nẻo. Giáo dân vỗ tay tán đồng.
Câu chuyện dẫn vào bài giảng của Linh mục Truyền để ngài nói đến sự việc nhà cầm quyền Hà Nội đã hứa trả đất Toà Khâm sứ cho giáo hội nhưng sau đó lại biến nơi này thành vườn hoa và thư viện, mang đi những tượng ảnh và ra tay đàn áp giáo dân đến cầu nguyện. Như ý xin của linh mục chủ tế khi nhập lễ, gần một nghìn giáo dân đã dâng những lời cầu nguyện cho giáo hội quê nhà vượt qua được những khó khăn trước mặt.
Không chỉ người công giáo Việt hướng về Giáo hội Mẹ, mấy tuần qua trong nhiều thánh lễ tiếng Anh người Mỹ cũng cất lên những lời cầu nguyện cho người Việt đang bị đàn áp vì tôn giáo.
Cùng với các cộng đoàn công giáo, cộng đồng người Việt nhiều nơi cũng đã bày tỏ lòng hiệp thông với các tu sĩ và giáo dân đang đòi công lí, công bằng xã hội trên quê hương Việt Nam.
Ngày 30.9 cả trăm người biểu tình trước Tổng Lãnh sự quán Việt Nam ở San Francisco.
Chiều thứ Bảy 4.10 cộng đồng người Việt ở San Jose đã có đêm thắp nến với sự tham dự của hai nghìn người cùng đại diện các tôn giáo và chính quyền.
Sức mạnh của niềm tin và sự hiệp thông trong tinh thần tôn giáo là điều làm lãnh đạo Hà Nội và các chính quyền cộng sản lo sợ. Dưới chế độ cộng sản không có sinh hoạt tôn giáo độc lập bởi vì nhà nước sợ tín lí và các hoạt động tôn giáo, mà lãnh đạo cộng sản coi đó như thuốc phiện, sẽ làm lu mờ chủ thuyết cộng sản.
Sau khi nhà nước chiếm Toà Khâm sứ và đất Giáo xứ Thái Hà, Thượng tướng Công an Nguyễn Văn Hưởng lên tiếng đổ tội cho Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt có những hành động làm tổn hại đến quan hệ giữa giáo hội và nhà nước và làm cản trở bang giao giữa Vatican và Việt Nam. Tướng Hưởng quên rằng ở Việt Nam đã một thời có chính sách không kết nạp người công giáo vào ngành công an và nếu đã là công an thì không được kết hôn với người theo đạo công giáo.
Như thế chủ trương không muốn bang giao hay những người đang làm cản trở tiến trình bang giao giữa Việt Nam và Vatican là công an chứ không phải một giám mục đứng đầu tổng giáo phận của thủ đô một nước. Bùi Văn Phú
| | | |
TÂM SỰ CỦA MỘT LINH MỤC TRONG NƯỚC VỀ LÁ CỜ VÀNG
Lm. TRẦN VĂN KIỆM
CHÚ THÍCH (Nguyễn Phúc Liên): Năm 1959, Linh mục TRẦN VĂN KIỆM là Giáo sư dậy Toán cho tôi năm Đệ Nhị tại Tiểu Chủng Viện Phát Diệm, đồng thời với các Linh mục TRẦN PHÚC VỴ, Linh mục TRẦN PHÚC LONG, những Giáo sư dậy Anh ngữ của tôi. Linh mục TRẦN VĂN KIỆM, một Giáo sư cũ, bầy tỏ thẳng thắn Lập trường không thay đổi của Ngài về Lá Cờ Vàng, làm tôi rất cảm động. Vì lập trường không thay đổi của Ngài về Lá Cờ Vàng mà có người (ngợm giáo gian quốc doanh) đòi vả má Ngài, một Linh mục chân chính đã 88 tuổi. Tôi nhớ lại cách đây một số năm, khi tôi viết về ngợm giáo gian quốc doanh, có ngợm đã muốn cầu nguyện cho tôi xuống Hỏa ngục. Tôi đã trả lời rằng tôi cũng muốn xin Chúa cho tôi xuống Hỏa ngục để tôi có dịp tìm gặp Hồ Chính Minh ở đó mà giảng đạo cho hắn. Linh mục TRẦN CÔNG NGHỊ, hồi ấy học năm Đệ Lục, tuy không học Toán với Linh mục TRẦN VĂN KIỆM, nhưng không thể quên hình ảnh vị Giáo sư Toán học này, nhất là Lập trường không thay đổi của Ngài đối với Lá Cờ Vàng.
«Bất đắc dĩ tôi phải xưng mình là cựu giáo sư trường Đại học Khoa học năm 1955-56. Với tư cách ấy tôi xin trình bày với quý vị một luận cứ có tên triết học là syllogisme. 1/ Các nước độc tài, nhất là do Cộng sản nắm quyền bao giờ cũng không cho media nói tự do mà phải nói theo ý muốn của nhà cầm quyền 2/ nước Việt Nam ngày nay do Cộng sản cầm quyền mà vietnamconggiao nằm trong nước Việt nam . 3// Cho nên vietnamconggiao do cộng sản dựt dây. Bây giờ tôi xin nói chuyện Toán học. 1/ conggiaovietnam là mẹ đẻ ra VietCatholic. 2/ conggiaovietnam do Cộng sản chỉ huy như đã minh chứng ở trên. 3/ cho nên Vietcatholic biết đâu cũng do Cộng sản chỉ huy? a=b; b=c cho nên a=c . Đó là toán học lớp mở lòng khi dạy Đại học Khoa học tôi không được phép đưa phương trình ấy lên bảng đen kẻo ông viện trưởng Trình bắt gặp thì chết tôi. Bây giờ tôi xin mách với đồng bào câu chuyện sau: Hồi Hà nội đang sôi sục vì vụ dân Công giáo đòi đất toà Khâm sứ, tôi có viết mấy dòng: Xin đất là phải, nhưng xin quyền để Đức Giáo Hoàng được tự do bổ nhiệm các giám mục, các giám mục được tự do bổ nhiệm các linh mục, linh mục được tự do huấn luyện lớp linh mục tương lai mới là đúng tự do tôn giáo. Rồi tôi viết thêm cước chú phải bỏ cái cuốn Thánh Kinh Hồ Chí Minh đi, vì nó không đúng với nguyên bản Hi lạp.VietCatholic đăng đoạn đầu rồi tự ý đục bỏ câu cước chú... Khi đưa tin nhà in Amity TH ở Namkinh xuất bản từng triệu Thánh Kinh đã được Cộng sản sửa. VietCatholic không có một dòng cảnh giác rằng Thứ Kinh Thánh đó là Kinh Thánh dỏm. Sao vậy??? Với tư cách là linh mục Công giáo, tôi thố lộ cho đồng bào biết Cônggiáovietnam. net là tổ chức Cộng sản, thì có gí là sai quấy? Tôi nói ĐHY Mẫn hoạt động có hại cho giáo hội thì đồng thời đã chứng minh Ngài có một ban état major gôm nhiều linh mục Cộng sản, nhất là từ bao nhiêu năm nay đã phân phát một bản Thánh Kinh sai lạc: 1/ chối bỏ quyền Đức Thánh Cha trên các Giám mục vì đã có ý dịch sai chương 21 của Gioan. 2/ đã hô hào các linh mục phải lấy vợ (1 Thessalonic 4:4) đã bôi nhọ Đức Mẹ ở chương 1 Luca vì nói Đức Mẹ thành hôn với ông Giuse khi thụ thai Chúa. Tất cả là những bằng chứng không chối cải được. Thế thì tại sao còn có người buộc cho tôi tội vô phép với các đấng Bề trên. Tôi không nói ra sự thực thì tôi không dám ra trước toà phán xét. Tôi năm nay đã 87 sắp sang 88. Ra đường hơi già, về nhà hơi trẻ. Bởi vì có nhiều người muốn biết thêm về cá nhân của tôi. Tôi xin cho biết thêm. Tôi quả nhiên là một linh mục Công giáo đã về hưu. Quả nhiên tôi là tác giả các cuốn Giúp đọc Nôm và Hán Việt. Quả nhiên tôi là tác giả cuốn Từ Điển Văn học Việt Nam. Tôi không nói điều gì sai quấy trên net cả, sao có người đòi vả má tôi? Từ đầu đến cuối vì yêu mên sự thực, vì muốn bảo vệ sự trong sáng của Thánh Kinh, tôi đã phấn đấu từ mấy chục năm nay mà vạch trần mưu gian của Cộng sản muốn tôn cuốn "Kinh Thánh" của họ lên các bàn thờ Thiên Chúa giáo hệ thống Roma. Tôi kính trọng và tuyên xưng tôi là linh mục Công giáo vâng lời Đức Giáo Hoàng. Khi nói về HY Phạm Minh Mẫn tôi vẫn gọi Ngài là Đức, nhưng tôi không thể tự bịt miệng mà không nói ra tôi hoàn toàn không đồng ý khi Ngài tiếp tục phổ biến cuốn Thánh Kinh dởm của Tổng Giáo Phận thành phố Hồ Chí Minh. Nếu từ nay linh mục Công giáo lấy vợ khi chưa có phép Toà Thánh thì họ làm sao có thể xưng mình là Roman Catholic được? Làm sao giáo dân dám đem cả gia đình tới gặp các linh mục mà không sợ gặp phải thứ giả mà mất cả vợ cả con? Trong cuốn Kinh Thánh Hồ Chí Minh mép vàng bìa da có một dòng ở trang mang tên sách: tổng giáo phận Hồ Chí Minh chịu hoàn toàn trách nhiệm về cuốn Kinh thánh này. Trời ơi ! nói như thế khi biết mình tiếp tục lừa dối, thì không chừng sẽ lôi kéo cơn giận Thiên Chúa đổ lên đầu mình. Tóm lại, tôi lên tiếng phản kháng chỉ vì muốn bảo vệ Giáo Hội Roma, mà không cầu được danh lợi, tiền của gì hết. Chỉ có thể mang hoạ vào thân mà thôi. Nhưng "Lạy Chúa, này con đây! Ngày chịu chức linh mục con đã nằm dài trước bàn thờ để dâng cả hồn cả xác con lên cho Chúa. Về già ngày ngày con vẫn dâng mình lại như thế. Xin Chúa thương nhận, mà nhận cả các tội lỗi lớn nhỏ của con, và đặc biệt là cái com-pút-ơ mắc dịch của con, Nó là võ khí con dùng để bảo vệ Thánh Kinh. Thánh Kinh vào thời điểm này lại được lá cờ vàng của dân Việt Nam tản mác khắp thế giới yểm trợ khiến cho mặt trận Công giáo còn mở rộng thêm sang các tôn giáo bạn (không kể nhóm quốc doanh đâu nhé!)". Nhân tiện con xin cảm tạ Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, vì có Ngài lên tiếng thì bóng cờ vàng mới tung bay ngạo nghễ hơn bao giờ hết kể từ ngày 30 tháng tư năm 1975 cho đến bây giờ. và rồi đây nó sẽ phất phới từ Ài Nam quan xuống Cà Mâu vòng sang mấy hải đảo bị Bắc phương chiếm đoạt. Linh mục Anthony Trần Văn Kiệm.
DẬY THẾ NÀO TINH THẦN MỤC VỤ CHO GIÁO DÂN
BÁO CÁO MỤC VỤ VÀ KIẾN NGHỊ
TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI Giáo xứ Thái Hà-DCCT 180/2 Nguyễn Lương Bằng, P.Quang Trung, Đống Đa, Hà Nội
Hà Nội, ngày 25.07.2008
Kính gửi: Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Đồng kính gửi: Cha Bề trên Giám Tỉnh DCCT Việt Nam
Kính thưa Đức Tổng Giám Mục và Cha Bề Trên Giám Tỉnh
Trong các thư trước, chúng con đã trình bày nội dung vụ việc đất đai của Giáo xứ Thái Hà. Tuy nhiên chúng con biết điều Đức Cha và Cha Giám Tỉnh quan tâm còn lớn hơn vụ đất đai nhiều, đã nhiều lần Đức Cha và Cha Giám Tỉnh bầy tỏ sự băn khoăn về tâm tư nguyện vọng và nhu cầu vật chất, tinh thần và tâm linh của cộng đồng dân Chúa nơi chúng con phụ trách và đúng là vụ đất đai chỉ là một phần trong những tâm tư nguyện vọng và nhu cầu đó. Vì thế chúng con xin báo cáo thêm về những điều mà chúng con nghĩ là liên quan đến đường lối mục vụ của Giáo Hội, cũng là những vấn đề đang cần tìm giải pháp.
Đúng như nhiều người đã dự đoán : Vụ đất đai ở Thái Hà biểu lộ những bức xúc và sự thiếu lòng tin vào công lý xã hội của giáo dân chúng ta, bà con tin rằng hiện nay những thế lực tiền bạc đang khống chế xã hội, chứ không phải là công lý. Do đó, có sự bức xúc cho rằng những thế lực tài phiệt thì tự do tung hòanh, trong khi đại chúng nghèo khổ thì gặp rất nhiều khó khăn khi muốn bênh vực quyền lợi chính đáng của mình, thậm chí cả khi muốn điều tốt, muốn thành tâm phục vụ xã hội, thì người dân thường vẫn gặp muôn vàn trở ngại.
Vì tâm trạng trên đây phổ biến, nên bà con giáo dân ở Thái Hà nói riêng và Hà Nội nói chung coi vụ việc ở Thái Hà như một trường hợp minh hoạ. Vì hồ nghi các thế lực tiền bạc, nên bà con đã hết sức cảnh giác việc Công ty May Chiến Thắng có thể bán đất, và bà con đã không lầm vì ít nhất bà con đã đạt được một mục đích, ấy là miếng đất không bị bán một cách bất hợp pháp. Điều này chính quyền cũng đã công nhận nếu không có sự cảnh giác của nhân dân, không ai có thể nói giờ này khu đất ấy đã chia lô vào tay ai, và bao nhiêu tiền bạc đã trao qua đổi lại.
Tuy nhiên, bà con bức xúc vì mặc dù chính mình đã phát hiện và ngăn chặn tiêu cực, nhưng lại vẫn bị coi như những người vi phạm trật tự an ninh xã hội. Hơn nữa, mảnh đất ấy ngày xưa do tiền của mồ hôi nước mắt của giáo dân đóng góp để xây dựng nhà thờ và làm các công trình phúc lợi xã hội cho người nghèo không phân biệt tôn giáo, cũng không tốn một đồng nào của công quỹ, nay bà con đã có công đứng ra giữ đất, nhưng nay lại có nguy cơ bị gạt ra bên lề, đứng nhìn mảnh đất hương hoả của mình bị thu hồi để làm những dự án mà bà con thiếu tin tưởng vào sự ích lợi chung.
Ngôi đền Thánh Giêrađô ở Giáo xứ chúng con cũng là một trường hợp tương tự, trong nhiều năm bà con đã mang tâm trạng hờn tủi vì ngôi đền cũ đổ nát, bệ rạc, biến thành hang ổ của nạn ma tuý. Bà con đã quyết định đứng lên dọn dẹp, trong một thời gian rất ngắn, ngôi đền được sửa sang lại sáng sủa khang trang, các thiếu nhi, các sinh viên, các anh chị em di dân lấy đó làm nơi tụ họp, học tập, văn nghệ, đó cũng là nơi các bạn trẻ đón tiếp và hướng dẫn các học sinh từ các tỉnh xa về Hà Nội để dự thi vào các trường đại học, nỗ lực đạt kết quả như thế rồi cuối cùng cũng bị phê bình là xâm phạm trật tự, an ninh.
Chúng con xin lấy hai trường hợp xảy ra trước mắt để minh hoạ tâm trạng của bà con, nhưng hàng ngày bà con còn tiếp nhận và chia sẻ với nhau bao nhiêu thông tin khác, những tin tức từ Ngoại thành Hà Nội, từ Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thanh Hóa, Thái Bình, v.v ở đâu cũng thấy dân nghèo kêu ca vì mất đất mà chỉ được đền bù một giá rẻ mạt hết sức khả nghi, có những lần mấy chục chị nông dân nghèo bên Vĩnh Phúc đạp xe về Hà Nội khấn Đức Mẹ cho khỏi mất ruộng, mà cũng bị chính quyền và công an theo sát về tới nhà thờ Thái Hà. Trong Giáo Hội, thì bà con buồn phiền vì thấy mảnh đất đã gầy dựng cho những trẻ em khuyết tật của các nữ tu Dòng Phaolô Mỹ Tho ở Vĩnh Long bị lấy mất làm khách sạn, vì thấy mảnh đất của các nữ tu Dòng Phaolô Sài Gòn ở Bảo Lộc có nguy cơ bị lấy làm sân golf, v.v.
Trong bầu khí như thế, dễ hiểu vì sao lòng bà con bất an và bất mãn và tình trạng này đặt ra một vấn đề mục vụ cho Giáo hội, tâm trạng và bức xúc như thế, nếu không có cách giải toả, thì không có ích cho Đạo, cũng không có ích cho đời, không có ích cho Giáo Hội mà cũng không có ích cho xã hội. Trái lại, nếu Giáo Hội có thể hướng dẫn bà con, cho bà con một hướng để xây dựng, một cách hoạt động nào có ý nghĩa, được bà con tin tưởng, thì cả đạo lẫn đời sẽ đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.
Về phần đời, thì ai cũng hiểu là không nên để cho những tâm trạng mất lòng tin và bất mãn gặm nhấm cơ thể xã hội. Đặc biệt, trong một xã hội đi theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nếu người nghèo có cảm giác mình bị gạt ra bên lề, chỉ có những thế lực tiền bạc là ngự trị, thì cần phải đặt vấn đề rằng có một cái gì đó trục trặc trong sự vận hành của xã hội đó.
Dù sao chăng nữa, ở đây chúng con không dám lạm bàn về những khuyết tật trong cấu trúc xã hội hiện nay. Chúng con chỉ đứng trong vị trí của người đang lo việc tôn giáo để đề đạt lên Đức Cha và Cha Giám Tỉnh một vài ý kiến.
Từ Công đồng Vatican II đến nay, Giáo Hội qua giáo huấn của các đức giáo hòang, của Tòa Thánh, của Công đồng đã nhiều lần nhắc nhở rằng phục vụ công bình xã hội và phục vụ quyền con người là một phần cấp thiết, không thể tách rời với nhiệm vụ loan báo Tin mừng của Chúa. Về các vấn đề liên quan đến công bình xã hội, thì từ Đức Giáo Hoàng Leo XIII đến Đức Giáo Hoàng đương kim Bênêđíchtô XVI đã có rất nhiều thông điệp, văn kiện đề cập đến. Tuy mỗi thông điệp mỗi văn kiện, có những hòan cảnh, những vấn đề khác nhau, nhưng chúng con thấy một sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các giáo huấn ấy đó là xã hội và nền kinh tế phải phục vụ con người chứ con người nhất thiết không thể bị bóc lột để làm nô lệ, cho các quyền lợi tài phiệt.
Cũng từ đó, Giáo Hội vẫn muốn là Giáo Hội của người nghèo và người bị bỏ rơi. Kinh nghiệm lịch sử cũng chứng minh rằng ở nơi nào và khi nào mà cộng đồng dân Chúa để mất các định hướng vì người nghèo đó, thì sinh lực của Giáo Hội sẽ bị tổn hại.
Vậy nay hòan cảnh xã hội đã tạo trong lòng người dân những tâm trạng như chúng con đã trình trên đây, thì chúng ta phải làm gì và làm thế nào? Không phải chúng con không biết đến những cố gắng và sáng kiến rất tốt lành đã nẩy ra trong lòng dân Chúa. Những hoạt động thực hiện bác ái, giáo dục phát triển với nhiều khuôn mặt điển hình được mọi người công nhận là những bằng chứng đẹp về sức sống của Giáo hội. Chúng con cũng thấy đây đó những nhà thần học, những nhà tư tưởng Công giáo nêu lên những vấn đề nhân sinh bức xúc. Điều chúng con trăn trở là khi những hiện tượng tiêu cực và phi nhân đạt tới mức độ bao trùm xã hội, thì có lẽ Giáo Hội chúng ta cũng cần phát triển sự phục vụ của mình lên một tầm cao hơn những cố gắng xuất sắc nhưng đơn lẻ, để đi tới một định hướng cộng đồng rõ rệt hơn trong lĩnh vực nhân bản Ki-tô giáo và công bình xã hội.
Vì thế chúng con mạo muội bày tỏ một vài nguyện vọng ở mức độ nhỏ của một Dòng tu, chúng con xin trình bày những nguyện vọng này lên Cha Giám Tỉnh. Ở mức độ rộng lớn hơn, chúng con cũng xin được đạt những nguyện vọng ấy lên Đức Tổng Giám Mục.
Chúng con nghĩ đã đến lúc các nhà thần học, các người làm việc mục vụ, và các chuyên viên nói chung trong Giáo Hội nên được huy động để cùng nhau tìm hiểu và làm sáng tỏ những vấn đề khó khăn đang tác động tiêu cực lên cuộc sống chung. Ví dụ: Tại sao mặc dù có nhiều nguyên tắc, nhiều định hướng tốt đẹp trong xã hội chúng ta người nghèo vẫn bị thua thiệt, bị đè bẹp ? Cái mắc míu gì làm hỏng, có khi làm lộn ngược những cố gắng phát triển và thăng tiến con người? Phải chăng đó chỉ là những rủi ro trong quá trình thì hành, thực hiện, chỉ là những khuyết điểm hoặc tội lỗi của cá nhân, hay là có cái gì đó tự nền tảng của tổ chức xã hội phản lại lợi ích chân chính của con người ? Đâu là nguyên nhân của cơn khủng hoảng luân lý đạo đức xã hội đang gây ra bao hậu quả đau lòng ? Cụ thể hơn nữa: Làm thế nào để tháo gỡ dần những nhân tố tiêu cực đang làm hại con người và xã hội ? Làm thế nào để dân nghèo đừng bị tước đoạt những quyền lợi cơ bản nhất ? Làm thế nào để người nghèo, để những nạn nhân của bất công cảm thấy Giáo Hội thật là gia đình tình nghĩa của mình ? Và làm thế nào biến những giải pháp dự kiến thành ra những mô hình mục vụ mà các cộng đoàn tín hữu có thể tra tay thực hiện? v.v.
Chúng con hiểu rằng trừ khi Giáo Hội huy động lực lượng tâm trí của toàn thể cộng đồng, thì chẳng có cá nhân tín hữu hay giáo sĩ nào có thể giải quyết hết những vấn đề khó khăn như thế, nhưng đàng khác nếu không đối diện với những vấn đề ấy, thì chúng con cũng khó mà tuân hành được các giáo huấn của Giáo Hội.
Chúng con nhận thấy Công đồng Vatican II dạy rằng Giáo Hội và xã hội có thể tương trợ lẫn nhau, các chuyên viên trong các lãnh vực trần thế có thể cung cấp cho Giáo Hội rất nhiều thông tin cần thiết và bổ ích, về phần mình Giáo Hội có thể đưa ra những gợi ý rất phong phú để các chuyên viên này phục vụ con người tốt hơn. Chúng con tin rằng có rất nhiều chuyên viên, các nhà kinh tế, xã hội học, khoa học, văn học, chính trị, các phương tiện truyền thông, v.v… không phân biệt tôn giáo, có đạo hay không có đạo, sẵn sàng đóng góp công sức nếu chúng ta mở ra được một môi trường nghiên cứu và phục vụ con người vô vị lợi. Về phần mình, đức tin của Giáo Hội cũng có thể là một nguồn cảm hứng rất hấp dẫn cho họ trong lãnh vực chuyên môn.
Tóm lại, chúng con cầu mong có một uỷ ban và một chương trình hành động cho công lý và hòa bình, như ở Toà Thánh, ở nhiều giáo phận và Dòng tu trên thế giới đã có.
Có lẽ chúng con còn chưa thấy hết mọi chiều kích của vấn đề, nhưng chúng con vẫn xin trình lên các Đấng Bề Trên coi như đây là những suy nghĩ và nguyện vọng của những người làm việc mục vụ từ cơ sở đại chúng.
Nguyện xin Chúa Cứu Thế qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Thánh Tổ phụ Anphongsô ban cho Đức Tổng Giám Mục và Cha Bề Trên Giám Tỉnh được dồi dào ơn thánh để phục vụ mọi người và hướng dẫn chúng con./.
Đại diện các linh mục, tu sĩ và giáo dân Giáo xứ Thái Hà
Linh mục Bề trên - Chính xứ
Matthêu Vũ Khởi Phụng DCCT http://chuacuuthe.com/kysu/9604th103.html
| | | |
| | | TT THÍCH QUẢNG BA ĐẢO CHÁNH
TT Thích Quảng Ba "đảo chánh", Hà Nội vở mặt không kip trở tay ! Date: Sun, 18 May 2008 10:23:45 +0000 http://www.vnfa. com/anews/ 0805_087. html Từ du học sinh Lê Minh Phiếu đến TT. Thích Quảng Ba Trần Việt Nữ
".... Việc TT Quảng Ba thẳng thừng tuyên bố ...tẩy chay Lễ hội Vesak LHQ đã làm Hà Nội bị...cụt hứng ... Hà Nội đã mất cơ hội... dở trò ...lưu manh, chẳng những không lừa được ...cóc chết ba năm, mà còn mất luôn cơ hội lừa bịp cả một Uỷ Ban Tổ Chức Lễ Hội Vesak Quốc Tế nữa, thế giới thêm một lần nữa nhìn rõ hơn bộ mặt xảo quyệt của tập đoàn bạo quyền bán nước Việt cộng...."
Bức thư ngỏ gửi cho Thủ Tướng Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng của TT Thích Quảng Ba, nhằm tố cáo âm mưu chính trị hóa Lễ hội Vesak Quốc Tế, được bàn tay lông lá của nhà cầm...quần Hà Nội đạo diễn, được tung lên mạng hai ngày trước khi Đại Lễ Vesak Liên Hiêp Quốc tại Hà Nội khai mạc vào ngày 13 tháng 05, 2008, tương tự như bức thư của Lê Minh Phiếu gửi cho ông Chủ Tịch Uỷ Ban Thế Vận Quốc Tế, hai việc làm cùng một mục đích.
Nội dung bức thư của TT Quảng Ba thật ra cũng không có gì mới mẻ khác hơn sự đánh giá của GHPGVNTN tại Hoa Kỳ, cũng như sự nhận định của các hội đoàn đấu tranh dân chủ, đối với những gì cộng sản đã toan tính khi vận động xin được tổ chức Lễ hội Vesak Liên Hiệp Quốc năm 2008, ví dụ như chính trị hóa lễ hội, buôn thần bán Phật, đánh bóng chế độ và qua mặt quốc tế trong vấn đề tự do tôn giáo và nhân quyền. (nội dung bức thư ở phần dưới). Tuy nhiên, việc bức thư của TT Quảng Ba được công bố rộng rãi trên mạng lưới toàn cầu, trên các trang nhà Phật Giáo Việt cũng như Anh Ngữ - Australian Monk Protest Letter to Vietnamese Prime Minister on UN Vesak 2008, Hanoi- hoặc của các cơ sở tôn giáo cũng như các trang nhà đấu tranh dân chủ, đã làm nhà cầm quyền Hà Nội ...điên đầu không ít. Hà Nội có thể không đếm xỉa cũng như không e ngại bất cứ lời tố cáo nào về việc chính trị hóa lễ hội Vesak Quốc Tế, ngay cả của GHPGVNTN cũng như của các tổ chức nhân quyền quốc tế bởi vì Hà Nội vốn lì lợm, trơ tráo đã quen. Nhưng lần này, TT Quảng Ba đã ...bất ngờ ..xuất một chiêu đúng lúc có thể gọi là ..khá đẹp mắt, đẹp mắt hơn chiêu của Lê Minh Phiếu, một chiêu vừa công vừa thủ, còn Lê Minh Phiếu vì trẻ người non dạ, còn ngây thơ trong trắng, chưa hiểu được tính chất dối trá xảo quyệt của cộng sản nên chỉ công mà không ...thủ, đã làm cho Hà Nội..té ngửa, điên đầu, nguyên nhân của một loạt những chuyện ..hậu Vesak ví dụ như ..khai mạc trễ một ngày mà không nói lý do, và blog Ba Sàm đã ...la lên rằng "Cũng xin bá cáo các sếp là "các thế lực thù địch" đang tuyên truyền là đại lễ nầy mời 5.000 mà có được tròm trèm ... 1.000 thôi, phải lùi ngày khai mạc 1 ngày mà không nêu lý do ...Ta cần có bài phản bác trên báo đài trong nước".
Mặc dù tiếng nói của GHPGVNTN dưới sự chỉ đạo của hai Ngài Quảng Độ và Huyền Quang, qua Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, đối với thế giới cũng đã được xem như là có giá trị tầm vóc quốc tế nhờ uy đức của hai Ngài, nhưng đối với việc tổ chức Lễ Hội Vesak Liên Hiệp Quốc lần đầu tiên tại một quốc gia cộng sản, cơ hội này đối với Hà Nội cũng giống Olympic đối với Bắc Kinh, một cơ hội tốt để tha hồ đánh bóng, tha hồ giở trò lừa bịp, tha hồ qua mắt thiên hạ, th_ec những lời tố cáo của GHPGVNTN không làm Hà Nội cay cú bằng lời tố cáo của TT Quảng Ba, thứ nữa là không có sức thuyết phục bằng lời tố cáo của TT Quảng Ba, (Việc làm này của TT Quảng Ba có đủ để...đoái công chuộc tội đối với GHPGVNTN hay không, xin để Giáo hội...trả lời), bởi vì, đối với Lễ Hội Vesak Liên Hiệp Quốc trong tầm mức quốc tế, TT Quảng Ba vốn là một thành viên trong Ủy Ban Tổ Chức trong mấy năm liền, điều này có nghiã là Lễ Hội được tổ chức tại bất cứ quốc gia nào, TT Quảng Ba có trách nhiệm phải tham dự các cuộc họp trù bị để bàn luận với các thành viên khác của uỷ ban quốc tế cùng các tổ chức Phật Giáo sở tại về những phương hướng, hình thức v.v..sẽ diễn ra của Lễ Hội tại quốc gia đó, và vì thế, bàn tay lông lá của Hà Nội đạo diễn cho Lễ Hội Vesak 2008, nhào nắn, xoay trở ra sao, TT Quảng Ba là người nắm vững hơn ai hết, hơn cả GNPGVNTN.
Điều này chính là yếu tố làm cho Hà Nội...cay cú, bởi vì, một khi TT Quảng Ba lên tiếng thì toàn bộ Ủy Ban Tổ Chức Vesak Quốc Tế đều thông suốt cả, rõ ràng như 2 với 2 là 4, Hà Nội không thể nào...cãi chày cãi cối, tiếp tục rêu rao tuyên truyền láo khoét được nữa. Âm mưu đặt các thành viên của ủy ban quốc tế cũng như TT Quảng Ba trước những sự đã rồi, đã được bàn tay lông lá phù phép điều động, cài đặt, sắp xếp sẵn đã bị TT Quảng Ba vạch trần, ôi thôi, quả là xấu hổ!
Thêm một yếu tố khác làm cho lời tố giác của TT Quảng Ba trở thành ...nặng ký đối với Hà Nội là sự...phản tỉnh đúng lúc của TT Quảng Ba. Việc TT Quảng Ba thẳng thừng tuyên bố ...tẩy chay Lễ hội Vesak LHQ đã làm Hà Nội bị...cụt hứng, mặt dù Hà Nội cũng chưa chắc đã tin dùng TT Quảng Ba một khi TT Quảng Ba về nước tham gia lễ hội, nhưng Hà Nội cũng như Bắc Kinh, vốn hay chơi trò ...giờ thứ ...25, có cái màn đưa con rối ..ngây thơ vào tình thế trở tay không kịp ở phút cuối, như trường hợp người đi rước đuốc không được cầm đuốc Lê Minh Phiếu, thì lần này Hà Nội đã mất cơ hội... dở trò ...lưu manh, chẳng những không lừa được ...cóc chết ba năm, mà còn mất luôn cơ hội lừa bịp cả một Uỷ Ban Tổ Chức Lễ Hội Vesak Quốc Tế nữa, thế giới thêm một lần nữa nhìn rõ hơn bộ mặt xảo quyệt của tập đoàn bạo quyền bán nước Việt cộng.
Ha ha, cái màn này thiệt giống cái màn khai mạc rước đuốc Olympic bên Hy Lạp, khi ông chủ tịch uỷ ban Thế vận Bắc Kinh đang ba hoa chích chòe trên bục nào là đuốc Olympic thể hiện một tinh thần hài hòa, nào là một thế giới một ước mơ, và còn thêm bonus "Một Trung cộng" nữa, thì ở đâu lù lù xuất hiện một..khắc tinh có thể gọi là ...cực kỳ phản động đối với nhà nước Hoa lục, một lá cờ đen với hình 5 chiếc còng số 8 thay cho 5 vòng tròn Olympic, tương ra ngay sau lưng của ngài chủ tịch, lọt vào ống kính thế giới trong tích tắc, như một gáo nước lạnh tạt vào bộ mặt đang bôi son trét phấn giả dối kia, thế là, phấn son rơi lả tả, bộ mặt trơ tráo xuất hiện nguyên hình. Chuyện mà không ai ngờ tới bỗng xảy ra. Một sự kiện quan trọng tầm vóc quốc tế mà cơ hội là ngàn năm một thủa đối với nhà nước Trung cộng, một chiến dịch quảng cáo rầm rầm rộ rộ được phát khởi trên toàn cầu mục đích khoe mẻ ta đây siêu cường, cái gì của ta cũng ...number one, vậy mà ngay từ phút đầu tiên đã thấy có màu ảm đạm, điềm báo hiệu không hay ho gì cho vận mạng của Hoa lục. Chuyện đánh bóng của nhà nước Trung cộng thì như thế, còn chuyện đánh bóng của nhà nước Việt cộng, một đàn em dễ dạy của Tàu cộng thì sao? Phải nói ngay rằng cũng ...không khấm khá hơn bao nhiêu, cũng một thứ đầu voi đuôi chuột mà thôi. Các phái đoàn Phật giáo quốc tế sau khi nhận được bức thư tố cáo tập đoàn Hà Nội của TT Quảng Ba, muốn hủy bỏ chuyến bay thì chỉ cần 5 phút thôi, vé máy bay có trả lại được không thì không thành vấn đề, vì phí tổn thì do Hà Nội đài thọ mà, và quả nhiên, có nhiều phái đoàn từ tu sĩ cũng như Phật tử đã hủy bỏ chuyến đi.
Lễ hội Vesak 2008 cũng là cơ hội ngàn năm một thủa của Hà Nội, một cơ hội đánh bóng đáng giá, nhà nước ta đinh ninh rằng với uy quyền tột đỉnh của chế độ, với bàn tay lông lá nhám nhúa có hơi hướm bạo lực bên trong, mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy, âm mưu của họ sẽ thành công trót lọt, thế giới bị họ qua mặt cái ...vù, và rồi họ sẽ tiếp tục huênh hoang, bố láo bố lếu, nói dối trắng trợn như trước giờ họ vẫn làm, nhưng, cuộc đời hay có cái chữ nhưng bất ngờ này, bức thư của TT Quảng Ba được công bố cũng giống như một gáo nước lạnh tạt vào má anh hề diễu dở, phấn đỏ bột xanh lòe loẹt trên mặt bị rả tan, đám con nít đang vỗ tay cười hỉ hả.
Cuối cùng, để kết thúc bài phiếm luận lan man này, xin trích dẫn một đoạn văn trong bản tường trình được đăng tải trên trang nhà Thư Viện Hoa Sen, tôi cực lực phản đối, tôi, Trần Việt Nữ, một Phật tử ở Hoa Kỳ, tôi không bầu, không cử đại diện nào cho tôi để về Việt Nam tham dự Lễ Hội Vesak như lời tường trình ...lếu láo dưới đây :
"Tiếp theo bài diễn văn khai mạc Của chủ tịch Nguyễn Minh Triết là thông điệp của các nhà lãnh đạo phật giáo trên thế giới. Trong đó, thông điệp gửi đến Phật tử Việt Nam trong nước cũng như hải ngoại Hoà thượng Thích Giác Nhiên Pháp chủ Giáo hội Tăng già Khất sĩ Thế giới, thay mặt phái đoàn Phật giáo hải ngoại tại Hoa Kỳ về tham dự đại lễ, Hoà thượng nói...v.v..." http://www.thuvienh oasen.org/ dailephatdanLHQ2 008-01-03. htm#khaimac
Một lần nữa, tôi xin được lập lại rõ ràng rằng HT Thích Giác Nhiên không phải là đại diện của chúng tôi, những Phật tử ở Hoa Kỳ luôn luôn tôn trọng giáo pháp Đức Phật Thích Ca, luôn luôn khâm tuân giáo chỉ số 9 cũng như bất cứ giáo chỉ, mệnh lệnh nào từ GHPGVNTN dưới sự chỉ đạo của hai Ngài Quảng Độ, Huyền Quang qua Văn Phòng II Viện Hóa Đạo Hoa Kỳ, qua Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, không làm việc ác cũng không tiếp tay cho tội ác. Tội ác chính là "Tập đoàn bạo quyền Việt ngụy bán nước hại dân, trên dâng nước cho Tàu cộng, dưới ăn cướp của dân lành, đập phá tự viện chùa miếu, bắt bớ giam giữ tăng sĩ, đàn áp, trù dập những tiếng nói y&ecir |
|
|
|