*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.379/27.11.08
=>So/No.378/20.11.08
=>So/No.377/13.11.08
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/ TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/ DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>So/No.376/06.11.08
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


===============================================================
VietTUDAN ----------------------------------------------------------NHAN QUYEN/DAN CHU
===============================================================x



                                      XIN BAM VAO DAY DE DOC
                                           So Dac Biet vtd0341
                        CONG GIAO VN DAU TRANH CHO CONG LY
            VA VIEC CAN THIEP CUA VATICAN VAO NOI BO CONG GIAO VN
                                      


============== CHÚ THÍCH ĐẦU: LƯU TRỮ NHỮNG BÀI ================

Trong Phần Phổ Biến Mỗi Ngày hoặc trong mỗi số VietTUDAN hàng Tuần, có những Bài muốn giữ lại lâu hơn nữa trong DIỄN ĐÀN này, chúng tôi sẽ chuyển sang Phần Lưu Trữ Tổng Quát hoặc sang các Phần có những Chủ Đề dưới đây:
   
                      *   VietTUDAN -- chu de Ton Giao/ subject Religion :
                                                CONG SAN & TON GIAO   
                                                CSVN & TON GIAO                         
                                                NHUNG VU DAN AP  
                                                PHAP LENH TON GIAO                                              
                                                NGOM GIAO GIAN        
                      *   VietTUDAN -- chu de Kinh Te/ subject Economy                
                                                THAT BAI KINH TE CHI HUY   
                                                TUONG QUAN KT/CHINH TRI        
                                                DOC TAI & THAM NHUNG         
                                                KT. TU DO THI TRUONG     
                                                WTO & NGOAI THUONG   
                                                TU HUU & DAN CHU             
                                                CACH MANG VO SAN MOI     
                      *   VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics   
                                                SUP DO THE GIOI CS              
                                                KET AN CS TAN NHAN    
                                                HO CHI MINH & CSVN     
                                                HO SO TOI AC CSVN        
                                                CA NHAN & CHINH TRI           
                                                THE CHE TU DO/DAN CHU    
                                                DAN CHU PHAP TRI       
                      *   VietTUDAN -- luu tru/ archives    

                (Xin xem cuối trang để biết bài giữ lại được chuyển vào Phần nào)
 
===============================================================




===================QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN======================

“Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình” (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982). (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)

                                   ==========================



XẤU HỔ KHI XEM BÁO ĐÀI VIỆT NAM

10 lý do khiến tôi xấu hổ khi xem báo đài Việt Nam
Blog Bút Thép

Lúc đầu đặt Blast cho vui, bắt chước theo một câu nói của Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt bị báo chí VN cắt xén rồi nhào nặn đến méo mó . Anh Đinh Tấn Lực khen hay và thách tôi đưa ra 10 lý do khiến tôi phải xấu hổ khi xem báo đài Việt Nam. Ý kiến của anh thật hay, thử xem xét một cách nghiêm túc xem nào:

1. Lý do thứ nhất : Xuyên tạc trơ trẽn- thường xuyên bóp méo sự thật một cách có hệ thống.

2. Lý do thứ hai : Dùng thế mạnh của phương tiện truyền thông "đánh hội đồng" các cá nhân hay tổ chức làm phật ý giới cầm quyền, hàng trăm báo đài cùng hùa vào một sự kiện.

3. Lý do thứ ba : Không khách quan- chỉ đưa tin một chiều. Cá nhân hay tổ chức bị chỉ trích không có cơ hội tự thanh minh hay bào chữa.

4. Lý do thứ tư: Đánh lừa lòng tin người dân bằng những điều hão huyền.

5. Lý do thứ năm: Tuyên truyền những thông tin mị dân của giới cầm quyền.

6. Lý do thứ sáu: nhàm chán bởi trăm tờ báo điều đưa tin gần giống nhau, thiếu tính cách cá biệt.

7. Lý do thứ bảy: Tung hỏa mù bằng những thông tin vớ vẫn để che dấu sự thật của những thông tin nhạy cảm.

8. Lý do thứ tám: Mãnh đất màu mỡ của những kẻ bồi bút, thiếu hiếm những cây bút trung thực.

9. Lý do thứ chín: Ru ngủ thanh thiếu niên bởi những trò chơi vô ích.

10. Lý do thứ mười: Tin "xe cán chó" tràn lan khắp các báo đài. 

 






NGHỊ QUYẾT 1636
CỦA QUỐC HỘI LIÊN ÂU

Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu thông qua Nghị Quyết 1636
đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ

 
Ngày 3-10-2008 vừa qua, Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết 1636. Nghị Quyết nầy long trọng đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ .

Vào dịp nầy, Tiến sĩ Callamard, Chủ Tịch Tổ Chức Điều 19 (Article 19 Organization), một tổ chức Nhân Quyền độc lập hoạt động khắp thế giới nhằm bảo vệ và cổ võ quyền tự do phát biểu cũng đã tuyên bố: "Vào lúc có những thách thức lớn lao cho ngành truyền thông khắp thế giới, luôn cả tại Âu châu, Nghị Quyết 1636 đã ra đời đúng lúc và được hoan nghênh đặc biệt. Những cuộc tấn công nhắm vào tự do truyền thông và tự do phát biểu gần suốt 10 năm qua đã  đảo ngược trào lưu tích cực của 10 năm trước đó, đồng thời đã ngăn trở việc phổ biến thông tin tự do đến dân chúng, tạo nên hiểm họa nghiêm trọng cho các chế độ dân chủ mới cũng như cũ".

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam hân hoan chào mừng sự ra đời của Nghị Quyết 1636. Việc thông qua Nghị Quyết nầy đã nói lên mối quan tâm sâu xa của các quốc gia hội viên thuộc Liên Hiệp Âu Châu về các quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin đang bị chà đạp nặng nề tại nhiều quốc gia đang bị quân phiệt và cộng sản độc tài thống trị.

Nhân dịp nầy, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đặc biệt kêu gọi nhà cầm quyền Hà Nội phải chấm dứt ngay mọi vi phạm Nhân Quyền, trong đó có các quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, theo đúng tinh thần của Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị của Liên Hiệp Quốc mà Hà Nội đã phê chuẩn và cam kết tôn trọng kể từ năm 1982.

Theo Tiến Sĩ Callamard, quyền tự do phát biểu và thông tin của giới truyền thông là một đòi hỏi thiết yếu của dân chủ. "Sự tham gia của quần chúng trong tiến trình quyết định đòi hỏi quần chúng phải được thông tin đầy đủ và có cơ hội tự do trao đổi và thảo luận những ý kiến khác nhau."

Nghị Quyết 1636 hoan nghênh những nhận định có tính cách so sánh về các tình trạng truyền thông tại các quốc gia, và mời gọi quốc hội các nước phân tích tình hình truyền thông của nước họ để tìm ra những thiếu sót trong luật lệ và cách thực hành về truyền thông, và có biện pháp thích ứng để chấn chỉnh. Nghị Quyết 1636 đã đưa ra 27 nguyên tắc căn bản để đánh giá tình hình tự do báo chí tại mỗi quốc gia.

Đặc biệt Nghị Quyết 1636 đã đưa ra những nguyên tắc về luật lệ thích hợp và tương ứng liên quan đến việc bêu xấu. "các viên chức chính quyền không được đặc miễn đối với sự phê bình và nói xấu khác hơn người dân bình thường, chẳng hạn như bằng hình luật với mức án cao hơn… Các nhà  báo sẽ không phải bị tù hay các cơ sở truyền thông sẽ không bị đóng cửa vì lời bình luận chỉ trích" (Nguyên tắc căn bản 2); cái gọi là luật lệ chống phát biểu hận thù: "Hình luật chống lại sự xúi dục hận thù hay để bảo vệ trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia phải tôn trọng quyền tự do phát biểu. Các hình phạt phải đúng với nhu cầu cần thiết và tương xứng" (Nguyên tắc căn bản 3); sỡ hữu chủ truyền thông: "sỡ hữu chủ truyền thông và giới có ảnh hưởng kinh tề đến truyền thông phải minh bạch. Luật lệ phải chống lại nạn độc quyến truyền thông và các loại thị trường áp đảo trong ngành truyền thông. Ngoài ra, phải có hành động tích cực nhằm khích lệ sự đa nguyên truyền thông." (Nguyên tắc căn bản 18).

Nghị Quyết 1636 cũng kêu gọi nhà cầm quyền phải tôn trọng sự kín đáo về các nguồn thông tin của nhà báo (Nguyên tắc căn bản 8); bảo vệ các nhà báo, kể cả bằng cảnh sát và tòa án: "Các nhà báo bị hăm dọa phải được cảnh sát bảo vệ khi họ yêu cầu. Các công tố viên và tòa án phải xử lý thích đáng và đúng mức khi các nhà báo bị hăm dọa hay bị tấn công." (Nguyên tắc căn bản 14).

Ngoài ra, Nghị Quyết cũng nêu lên nhiều nguyên tắc nhằm bảo đãm sự độc lập của các cơ sở truyền thông, đáng kể nhất gồm có: (1) chống lại sự can thiệp chính trị: "các nhân viên chính phủ còn tại chức không được hoạt động trong ngành truyền thông chuyên nghiệp" (Nguyên tắc căn bản 23); (2) độc lập đối với các sở hữu chủ truyền thông (Nguyên tắc căn bản 13); (3) được sử dụng một cách công bằng và bính đẵng các kênh, tần số, hay dây cáp phân phối tin tức (Nguyên tắc căn bản 16); (4) được sử dụng một cách công bằng và bình đẳng các phương tiện truyên thông khi có bầu cử (Nguyên tắc căn bản 5); (5) sử dụng không hạn chế sách báo thông tin ngoại quốc hay điện tử, kể cả Internet (Nguyên tắc căn bản 17); (6) độc lập của các nhà phát thanh công cọng không bị sự can thiệp chính trị (Nguyên tắc căn bản 20); và (7) truyền thông tư nhân không bị đặt dưới sự điều hành của các công ty nhà nước hay do nhà nước khống chế và kiềm soát; (8) các tổ chức truyền thong tư nhân phải được hưởng quyền tự điều hành: "phải có một hệ thống tự điều hành trong ngành truyền thông bao gồm quyền các nhà báo trả lời và sửa chữa hoặc tự nguyện xin lỗi. Ngành truyền thông phải thành lập những cơ quan tự điều hành như hội đồng khiếu nại hay người phụ trách tiếp nhận và điều tra khiếu nại. Quyết định của các cơ quan này phải được thi hành, và những biện pháp này phải được tòa án công nhận là hợp pháp. (Nguyên tắc căn bản 25); và "các nhà báo phải tự thiết lập và áp dụng những chuẩn mực chuyên môn về tư cách hành xử, phải cho khán giả hay độc giả biết những quyền lợi chính trị va tài chánh của họ cũng như sự hợp tác của họ với nhà nước, chẳng hạn như các nhà báo đi theo quân đội" (Nguyên tắc căn bản 26).









HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI AI VÀ CÁI GÌ ?

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html



Cách đây chừng hai năm, nhiều chính khách xu thời đã nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp. Nhìn thấy tính cách xu thời mong nhẩy bàn độc, nhiều Vị đã lên tiếng nói rõ rằng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là lá đơn van xin làm bồi cho CSVN vì chính CSVN không nêu ra vấn đề ấy và vì tâm địa cố hữu của CSVN là ngoan cố bấu víu chặt lấy quyền độc tài độc đảng. Chúng tôi cũng đã viết nhiều về vấn đề này.

Trong tuần vừa rồi, tôi đọc bài của Oâng NGUYỄN TƯỜNG LONG mang đầu đề HÒA GIẢI LÀ MỘT NHU CẦU CÓ THẬT. Tôi cũng có đọc những ý kiến của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH về Hòa Giải Hòa Hợp.

Đối với vấn đề này, lập trường của chúng tôi được bầy tỏ qua hai câu hỏi:
1) Ai hòa hợp hòa giải với ai ?
2) Hòa hợp hòa giải về cái gì ?

Nếu không trả lời chính xác cho hai câu hỏi ấy, thì vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tung ra để che đậy những mưu mô khác.

AI HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI ?

Khi nói hòa hợp hòa giải là nói đến hai lực lượng tranh đấu, dành dựt một cái gì mà dai dẳng không phân thắng bại để tổn thương nguy hại đến cả hai lực lượng. Vì vậy hai bên ngồi lại thảo luận với nhau để chia chác điều mà mình đang dằng co. Nếu chia phần cho đều, thì hai lực lượng tạm yên đánh nhau.

Nếu hiểu Hòa Giải Hòa Hợp là giữa Quốc gia và Cộng sản thì không trúng bởi lẽ người Quốc gia không dành dựt cái điều mà CSVN đang nắm giữ. Trở lại về nguyên thủy cuộc đấu tranh Quốc-Cộng, người Quốc gia đứng ở vị trí bảo vệ Tự do, Nhân quyền, còn người Cộng sản dùng võ lực đến chiếm quyền để đặt để Độc tài độc đảng, không cho Tự do và chà đạp Nhân quyền. Vì vậy người Quốc gia không đi dành dựt chiếm hữu, lấy cho mình cái quyền Độc tài, tiêu diệt Tự do, chà đạp Nhân quyền như Cộng sản. Một bên là tự vệ, một bên là xâm lăng ăn cướp. Vì vậy nói người Quốc gia đi Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN là không trúng

Trúng hơn là nên nói hòa hợp hòa giải giữa những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng và những người làm Chính trị phe chủ trương độc đảng về cái quyền lực cai trị. Nếu những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng muốn hòa hợp hòa giải với CSVN, thì cứ việc làm, nhưng đây là việc đấu tranh dành quyền lực giữa tầng lớp làm chính trị. Liệu CSVN có chia quyền hành cho những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng hay không, hay là CSVN xử dụng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để vẽ râu ria cho chế độ cố hữu của họ, xử dụng những người làm Chính trị phe đa đảng như bung xung lừa bịp Dân và Quốc tế.

Nếu hai phe Chính trị mà chỉ dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để chia ghế, chia quyền hành, thì Dân vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại cả hai phe thống trị.

HÒA HỢP HÒA GIẢI VỀ CÁI GÌ ?

Đối với người Dân, vấn đề tha thiết căn bản của họ là có TỰ DO, có việc tôn trọng NHÂN QUYỀN thực sự và những người cầm quyền đừng ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của họ. Trừ những người làm Chính trị cho quyền hành, hầu hết đồng bào Tỵ nạn Hải ngoại đứng về phía Dân chúng Việt Nam quốc nội đấu tranh cho TỰ DO, NHÂN QUYỀN và QUYỀN SINH SỐNG NUÔI THÂN XÁC. Ơû Hải ngoại, người Quốc gia Tỵ nạn đã có TỰ DO, có NHÂN QUYỀN và CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC. Họ đứng sau lưng Dân chúng Việt Nam để hỗ trợ cuộc đấu tranh của người Dân đòi CSVN cho TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN và đừng CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân chúng quốc nội.

Vậy thì việc Hòa Giải Hòa Hợp là giữa CSVN và DÂN CHÚNG VIỆT NAM tại Quốc nội, chứ không phải giữa CSVN và khối người Quốc gia tỵ nạn tại Hải ngoại. CSVN muốn Hòa Giải Hòa Hợp thì hãy làm công việc đó đối với Dân chúng Việt Nam tại Quốc nội. CSVN hãy trả lại TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN, đừng nắm Kinh tế ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân và phải hòan trả lại Dân những gì mà CSVN đã ăn cướp trong bao chục năm trường. Điều cuối cùng này rất quan trọng. Thực vậy, đừng dùng chiêu bài Hòa giải Hòa hợp để chuyển tài sản ăn cướp ra nước ngoài, rồi cho con cháu ra đây bảo lãnh mình ra sống vương giả trên của cải ăn cướp được.

Hãy Hoà Giải Hòa Hợp giữa CSVN và Dân chúng Quốc nội, chứ đừng đểu cán kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp với một số thành phần Chính trị ở việc chia ghế. CÁI GÌ (đối tượng) cho việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa CSVN và DÂN CHÚNG QUỐC NỘI là: (i) cho TỰ DO, (ii) tôn trọng NHÂN QUYỀN, (iii) đừng nắm độc quyền Kinh tế mà ĂN CƯỚP NHÀ ĐẤT VÀ CƠM ÁO của Dân, (iv) phải hoàn trả lại cho DÂN và ĐẤT NƯỚC những gì đã ăn cướp trước đây.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 




BỊT MIỆNG BÁO CHÍ
 
Trần Khải

 
Đó là một thói quen khó dời đổi của nhà nứơc CSVN: bịt miệng báo chí mỗi khi thấy bất lợi. Hành vi đưa tay thô bạo bịt miệng dĩ nhiên là không đẹp gì trong thời buổi truyền thông bùng nổ khắp thế giới, nhưng đó là phản ứng có thể tin là gần như phản xạ của các quan chức thông tin tại VN hiện nay.

Mới đầu tháng này, đàì RFA loan tin rằng Thứ Trưởng Bộ Thông Tin và Truyền Thông CSVN Đỗ Quý Doãn đã ký quyết định thu hồi thẻ nhà báo của 7 cán bộ và phóng viên. Thông Tấn Xã Việt Nam loan tin này hôm thứ Sáu 1-8-2008 và cho biết lý do của sự việc này là vì các đương sự có vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động và thông tin trên báo chí. Bản tin liệt kê, theo RFA, "Những cán bộ và phóng viên bị thu hồi thẻ nhà báo gồm các ông Nguyễn Quốc Phong, phó tổng biên tập báo Thanh Niên, Bùi Văn Thanh, phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Huỳnh Kim Sánh, tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên, Dương Đức Đà Trang, trưởng văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội và ông Trần Đình Dũng tự Việt Dũng, phóng viên báo Khoa Học và Đời Sống.

"Hai trường hợp khác bị khởi tố về tội tham ô tài sản và thiếu trách nghiệm, gây hậu quả nghiêm trọng là hai bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, phó tổng biên tập báo Người Cao Tuổi và bà Hoàng Tuyết Oanh, cán bộ báo Người Cao Tuổi." (hết trích)

Bản tin cũng ghi lời Luật sư Trần Lâm, rằng "đây là một chủ trương kiểm soát báo chí vì đã có 2 nhà báo ngồi tù vì loạt phóng sự liên hệ tới vụ án tham những PMU 18 tại Bộ Giao Thông - Công Chánh..."

Nghĩa là, khui tộị tham nhũng, sẽ bị tịch thu thẻ nhà báo?

Điều này nghĩa là, các báo quốc nội cần tránh các đề tài tế nhị như tham nhũng, vì là "vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động và thông tin trên báo chí."

Tuy nhiên, báo Nhật Bản The Yomiuri Shimbun số ngày 8-8-2008 loan tin rằng cơ quan PMU của thành phố Sài Gòn đã "đòi huê hồng 15% từ công ty Pacific Consultants International (PCI) trên 2 dự án để sẽ cho công ty này thầu độc quyền hồi 8 năm trứơc, theo lời một giám đốc PCI."

Lúc đó, PCI mới nài nỉ, thương thuyết để xin giảm còn 10% thôi. Ông Giám Đốc PCI Haruo Sakashita, 62 tuổi, thương thuyết với PMU và được cho xuống 10%...

Và như thế là hơn 800 ngàn đô la đã nộp cho quan chức CSVN. Đàì BBC kể rằng cán bộ cầm tiền cống nộp của PCI là ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Phó Giám đốc Sở Giao thông Công chính của thành phố Sài Gòn, kiêm Giám đốc Ban Quản lý PMU Đông - Tây.

Trong khi báo chí Nhật Bản sôi nổi khai thác như thế, báo chí quốc nội VN vẫn im lặng. Và phải tới vài tuần sau khi báo Nhật lần đầu khui ra, vào ngày  17-8-2008, thông tấn nhà nứơc TTXVN mới đưa ra bản tin kiểu làm dịu dư luận nhẹ nhàng hơn. Bản tin nhan đề "Việt Nam sẵn sàng phối hợp với phía Nhật Bản để làm rõ vụ việc" có những đoạn trích như sau:

"...Gần đây báo chí Nhật Bản và nước ngoài đưa khá nhiều tin về việc công ty Tư vấn quốc tế Thái Bình Dương (PCI) của Nhật Bản bị nghi vấn hối lộ quan chức Việt Nam để trúng thầu dự án Đại lộ Đông-Tây, Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng vốn ODA của Nhật Bản. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã trả lời phỏng vấn báo chí về vấn đề này.

Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn khẳng định, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn đánh giá cao và chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Nhật Bản cũng như Chính phủ và nhân dân nhiều nước khác đã dành viện trợ ODA cho Việt Nam trong nhiều năm qua...

...Về việc một số báo chí Nhật Bản nói quan chức PCI có hành vi hối lộ để được trúng thầu trong dự án hành lang Đông-Tây, Thành phố Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn cho biết, khi phía Nhật Bản nêu vấn đề này, Bộ Ngoại giao và các cơ quan hữu quan của Việt Nam rất coi trọng và đã xem xét một cách nghiêm túc. Ông nhấn mạnh rằng, phía Việt Nam đã nói rõ với phía Nhật Bản rằng tuy giữa hai nước chưa ký Hiệp định song phương về hỗ trợ tư pháp nhưng Việt Nam sẵn sàng phối hợp với phía Nhật Bản để làm rõ vụ việc này theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam và các thoả thuận hữu quan giữa hai nước. Phía Nhật Bản có thể lập hồ sơ uỷ thác tư pháp với nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Luật Tương trợ tư pháp của Việt Nam năm 2007 để các cơ quan chức năng Việt Nam có cơ sở pháp lý triển khai phối hợp tác với các cơ quan tương ứng của phía Nhật Bản. Việt Nam cũng đã đề nghị phía Nhật Bản trong khi vụ việc đang được điều tra, chưa có kết luận cuối cùng thì các cơ quan truyền thông đại chúng của hai nước đều không nên đưa tin, bài về việc này; nếu có đưa tin thì phải khách quan, theo đúng quy định pháp luật của mỗi nước...." (hết trích)

Ông Thứ Trưởng CSVN nói thẳng rằng Hà Nội không muốn báo chí Nhật đưa tin về chuyện naỳ, dù rằng đã ra tòa, các giám đốc PCI  đã nhận tội, kể rõ các đợt cống nộp ra sao.

Nghiã là bịt miệng. Không khác gì hết. Không thu thẻ nhà báo, vì là chuyện đăng trên báo Nhật Bản, nhưng Hà Nội không muốn thấy chuyện naỳ trên mặt báo, dù là báo Việt hay báo Nhật Bản.

Thực ra, Nhật đâu có cần hỗ trợ tư pháp gì, vì Nhật không có ý phiền hà gì quan lớn Huỳnh Ngọc Sỹ, mà chỉ muốn công ty Nhật PCI đừng vi phạm luật cấm hối lộ -- và đây là luật của Nhật Bản áp dụng với công dân Nhật.

Người ta thắc mắc rằng ông Huỳnh Ngọc Sỹ gốc bự cỡ naò mà được bảo vệ kỹ như thế.

Và vì sao ông Thứ Trưởng CSVN phải thò tay xuyên đại dương để tìm cách bịt miệng cả báo Nhật Bản?  

Tuy nhiên, báo Nhật Bản hãy dè chừng. Nếu Thứ Trưởng  Bộ Ngoại giao CSVN Hồ Xuân Sơn  nói mà không ép-phê gì, thì có thể Thứ Trưởng Bộ Thông Tin và Truyền Thông CSVN Đỗ Quý Doãn lại sẽ xuất chiêu. Lần này không tịch thu thẻ nhà báo, mà có thể sẽ yêu cầu chính phủ Nhật đóng cửa các báo như tờ The Yomiuri Shimbun? Để chờ xem ông Sơn bàn kế gì với ông Doãn.



TỰ DO VÀ BÁO CHÍ

Tự Do & Báo Chí (Vụ 2 nhà báo bị bắt)
Huy Đức

Tôi không thể hình dung, nếu vụ án tiếp tục, Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến sẽ bị buộc tội dựa trên lý lẽ nào. Cho dù, cũng nên chuẩn bị tinh thần để đón nhận những điều không vui vẻ. Bộ Luật Hình Sự đang chứa đựng rất nhiều "thòng lọng" và qua chứng kiến hàng trăm phiên tòa, tôi hiểu, chứng cứ đôi khi đóng một vai trò nhỏ nhoi so với "ý chí" của những người "làm án".

Không có gì phải ngạc nhiên khi loạt bài đòi thả tự do cho hai nhà báo bị chặn lại. Cũng không nên bất ngờ trước việc báo Tuổi Trẻ bị "thổi còi" khi cho dịch tư liệu về một số vụ án báo chí ở Mỹ và Châu Âu. Những tư liệu có thể ảnh hưởng đến nhận thức về quyền tự do ngôn luận (xem Bài 1 và lời Cáo lỗi). Người Mỹ đã đòi tự do trước cả khi đòi được độc lập cho mình. Năm 1735, khi nước Mỹ đang là thuộc địa, Zenger bị buộc tội phỉ báng Thống đốc New York vì xuất bản những thông tin được coi là "sai trái". Nhưng luật sư của Zenger, ông Hamilton đã yêu cầu bồi thẩm đoàn bỏ qua những "tiểu tiết" đó, vì "đây không phải là một vụ kiện mang tính cá nhân". ông nhấn mạnh: "Đây là vụ kiện của sự tự do". Quyền tự do chỉ trích chính phủ của người dân quan trọng đến nỗi không thể vì một vài sai sót mà toà có thể đưa ra những phán quyết ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn luận.

Nguyên tắc này được người Mỹ và các nước dân chủ thiết lập và áp dụng với nhiều quan điểm giống nhau, trong trường hợp báo chí chỉ trích các viên chức của chính quyền và, về sau, áp dụng với cả những người của công chúng. Các nhà lãnh đạo của các nước dân chủ không phải là không khó chịu với những lời chỉ trích. Nhưng, họ ý thức được rằng, nếu như quyền lực nhà nước không được chế ước, nhất là bởi quyền tự do chỉ trích của người dân, thì quyền lực sẽ nhanh chóng làm cho nhà nước dễ dàng tha hoá.

Quyền "tự do ngôn luận" mà Hồ Chí Minh đưa vào Hiến Pháp Việt Nam không thể không được hiểu theo nguyên tắc ấy. Những bài báo của Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Việt Chiến, dù sai, cũng không thể khép vào hình sự. Tuy nhiên, dựa trên những thông tin mà Osin có cho tới bây giờ, cũng cần phải phân tích để có thể hiểu thêm về bản chất của những gì diễn ra với báo chí.

Trừ một số sự kiện chính có họp báo như bắt giam, khởi tố bị can, phần lớn các thông tin về vụ PMU thường được công an "rỉ tai" cho nhà báo. Những nhà báo có thâm niên viết nội chính như Nguyễn Việt Chiến thì nguồn tin có thể đến thẳng từ Tướng Ngọ, Tướng Quắc. Những nhà báo khác thường phải lấy tin ở các quán cà phê, do một số người từ cơ quan điều tra "tiết lộ". Để tránh bị nhà báo ghi âm, các "nguồn tin" dạng này thường cho các phóng viên đọc thông tin ghi trong một cuốn sổ, được dàn dựng sao cho tạo được cảm giác tin cậy như là sổ tay công tác. Phóng viên nào đưa tin đúng như công an muốn, hôm sau sẽ được ưu tiên. Phóng viên nào tỏ ra khách quan, có thể sẽ không bao giờ nhận được nhiều thông tin hấp dẫn.

Từ những cuộc tiếp xúc như vậy, mà hàng loạt các "phóng sự điều tra" về vụ PMU 18 ra đời: Nguyễn Việt Tiến rửa ghế bằng cách đãi các thuộc cấp thứ bia đã tắm qua người đẹp; Nguyễn Viết Tiến sàm sỡ với một cô gái ở quán phở lại còn tát phó công an Quận nên bị giam tới nửa đêm ; Nguyễn Viết Tiến được hiến bồ từ đàn em Bùi Tiến Dũng… Không phải là những chứng cứ tham nhũng, chính những thông tin mô tả nhân cách, đã tạo áp lực dữ dội để đưa ông Tiến vào tù. Hôm qua (18-5), một vị giáo sư khả kính nói với tôi : "Chỉ riêng việc bao một cô bồ nhí từ khi cô ấy 16 cho tới năm cô ấy 23 đã đủ để bỏ tù ông Tiến". Không chỉ có vị giáo sư ấy nghĩ về ông Tiến như vậy, qua những gì được đăng trên báo, dân chúng cũng đã nghĩ về ông như là một ông trùm chỉ biết ăn chơi. Các bloggers khi comment phản đối Osin cũng dùng những thông tin về ông Tiến đã từng đăng báo. Nhiều bloggers tuyên bố rằng họ không thể nào tin Nguyễn Việt Tiến vô tội. Tôi chưa bao giờ gặp ông Tiến. Có thể tôi cũng không tin ông Tiến liêm khiết hoàn toàn. Nhưng, có lẽ chúng ta cũng phải chấp nhận, những câu chuyện mô tả ông Tiến như một người xấu xa, giờ đây, không có một bằng chứng nào để chứng minh đó là sự thật.

Ngày 9-11-2006, Tòa án quận Đống Đa đã buộc một tờ báo mạng phải xin lỗi nhà hàng Phố Núi vì đã đưa tin sai sự thật có liên quan đến vụ PMU và tờ báo này đã phải "hỗ trợ" nhà hàng 120 triệu. Không rõ Nguyễn Việt Tiến rồi có kiện các báo hay không, nhưng, rõ ràng, kiện đòi bồi thường dân sự mới là "chế tài" thích hợp cho những bài báo được viết sai mà không phải do các phóng viên bịa đặt.

Nếu, thay vì khởi tố bắt giam các nhà báo, các cơ quan tố tụng tạo niềm tin cho những người như ông Tiến khởi kiện dân sự thì dân chúng sẽ được chuẩn bị tâm lý dần dần. Thông qua các trình tự tố tụng dân sự, dân chúng cũng sẽ hiểu bản chất của vụ PMU và đánh giá lại độ tin cậy của những thông tin mà họ đã bị "mặc định" khi công an phối hợp với truyền thông trong những ngày "làm án". Uy tín của truyền thông chắc chắn sẽ bị tổn thất nhưng bài học mà giới báo chí qua đó thu lượm được cũng sẽ vô cùng quý giá. Những người chủ mưu trong việc cung cấp các thông tin sai lệch cho báo giới cũng qua đó mà lộ ra.

Tôi không phải là người làm án để định tội những kẻ cung cấp thông tin sai lệch cho nhà báo. Nhưng đừng coi những hành vi như vậy là thân thiện với báo giới. Tôi là phóng viên nội chính nhiều năm, biết rõ những con người vô tội, chỉ vì báo chí bắt tay với công an, đã trở thành nạn nhân không thoát khỏi tù tội và những điều nhục mạ. Một khi công an đi cùng báo chí, hai thế lực mạnh nhất hợp sức, thì sẽ đe doạ an ninh của người dân. Chưa có một quốc gia nào mà cơ quan có quyền bắt người, đồng thời lại nắm trong tay rất nhiều tờ báo. Làm sao mà tòa án có thể độc lập để xem xét một người có tội hay không khi người đó vừa mới bị công an còng là lập tức báo chí, gọi họ là tội phạm.

Trong blog của một người có tên trong friend list có post lại một entry rất hay của vợ nhà báo Nguyễn Văn Hải. Báo chí và các bloggers đều đứng về phía nhà báo này kể từ khi anh bị bắt. Hải xứng đáng được như vậy và tôi có comment: "Như thế là hạnh phúc". Phải ở trong địa vị của những người vợ có chồng bị bắt mới thấy, trong hoàn cảnh ấy, nếu dư luận công minh, đứng bên cạnh động viên, thì sợ hãi sẽ vơi đi biết mấy. Phải ở trong hoàn cảnh ấy thì mới thấy, những người vợ khác cũng khát khao được động viên như vợ của các phóng viên. Nên nhớ, một khi đã bị "còng" thì Nguyễn Văn Hải hay Nguyễn Việt Tiến cũng đều bị công an coi là "tội phạm". Đã tra tay vào còng, thì bộ trưởng hay nhà báo cũng đều trở thành kẻ yếu. Đừng ảo tưởng về vai trò chống tham nhũng của báo chí khi sử dụng những tư liệu từ công an đưa ra. Nhiều đồng nghiệp cho đến này vẫn còn giữ rất nhiều tư liệu về nhiều nạn nhân của sự kết hợp giữa công an và báo chí.

Cách mà chính quyền lựa chọn để bắt đầu vụ án, tuy đã đưa hai nh=C









KHI NHÀ BÁO PHẢI CÂM MIỆNG

Hòa Vân

Trong bài viết Có những khi dư luận phải ngậm đắng nuốt cay… của mục Phát ngôn và hành động ấn tượng trong tuần 9-16.5.2008, báo điện tử Tuần Việt Nam, nhà báo Bùi Dũng nhận xét :

« Nếu ngày thứ Tư (14/5) và trước đó, trên các mặt báo còn sôi lên sự việc hai nhà báo là Nguyễn Văn Hải (báo Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (báo Thanh Niên) cùng với Thượng tá Đinh Văn Huynh, Trưởng phòng 9, C14, điều tra viên cao cấp vụ PMU18 bị bắt tạm giam,  Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cục CSĐT tội phạm về TTXH (C14), Bộ Công an, Trưởng ban chuyên án PMU18 bị khởi tố thì sang ngày hôm sau (15/5),... Hết ».

Thế nhưng, nếu hôm nay bạn muốn tìm lại đoạn viết trên bằng cách bấm vào đường dẫn về địa chỉ mạng của nó thì… cái câu cuối « thì sang ngày hôm sau (15/5),... Hết » đã được thay bằng ba dấu chấm và một đoạn khác, nêu lên nhiều câu hỏi không phải không xác đáng về vụ bắt giam các nhà báo, nhưng cái thông tin « Hết » như được phù phép biến đi…

Lạ ! Muốn biết thêm thông tin, đành phải lướt mạng, tìm đến các blog. Và đây, trên blog của Ngoc N, một nhà báo báo Pháp luật Việt Nam (bài Chuyện bên lề bài báo "vượt luật") :

« Chiều ngày 14/5/2008, BBT báo Pháp Luật Việt Nam cũng như tất cả các BBT những tờ báo đều nhận được chỉ thị qua điện thoại của sếp cao nhất Ban tuyên giáo TƯ về việc cấm tiếp tục đăng thông tin về vụ 2 nhà báo bị tạm giam và tướng Quắc bị khởi tố… ».

Té ra, « Hết », vì có người đã ra lệnh, không ai còn được nói gì nữa. Chấm dứt cuộc chơi. Ngay cả nói rằng cuộc chơi đã chấm dứt cũng không được, nên Tuần Việt Nam mới phải sửa bài viết.

Dễ hiểu là nhất loạt báo chí… xếp hàng, im.

Ngay cả báo Tuổi Trẻ, một người trong cuộc, cũng không được phép đưa thêm tin về nhân viên của mình đang còn bị tạm giam, và phải tìm cách lách bằng những bài báo viết về tai nạn nghề nghiệp của… các nhà báo nước ngoài. Nhưng thế cũng không được ! Loạt bài Khi nhà báo rơi vào vòng lao lý vừa ra được hai kỳ (Cái giá của thông tin…, ngày 16.5 và Miller thà ngồi tù, không lộ nguồn tin, ngày 17), thì một cú điện thoại đã gọi đến tòa soạn, và « Kỳ 3 : William Farr ôm bí mật xuống đáy mồ », đúng như cái tựa tiền định của nó, đã lập tức bị chôn xuống đáy mồ, dù đã được quảng cáo trước ! Dĩ nhiên, người ta sẽ không biết Tuổi Trẻ có định đăng gì hay không cho bài kỳ 4, vào đúng ngày sinh nhật cố chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vụ PMU18 đã từng được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng coi là vụ tham nhũng lớn nhất cần sớm được giải quyết (không tham nhũng thì ông tổng Bùi Tiến Dũng lấy đâu ra cả triệu đô la để chơi cá độ ?). Thế mà, hơn hai năm sau, vụ án vẫn chưa được mang ra xử, trong khi nhân vật nổi cộm nhất, cấp trên trực tiếp của tổng Dũng, nguyên thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến vừa được trả tự do, được Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuyên bố vô tội đối với hai trong ba tội danh mà ông ta bị truy tố, và miễn trách nhiệm hình sự với tội danh thứ ba (« thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng »)… Và tướng Quắc bị khởi tố về tội « lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ », thượng tá Huynh và hai nhà báo bị khởi tố và bắt tạm giam về cùng tội danh. Dễ hiểu là nhiều người cho rằng đằng sau vụ này là một cuộc đấu đá tranh giành quyền lực ở cấp cao, mà những người bị bắt chỉ là ruồi muỗi.

Nhưng nếu việc bắt hai nhà báo (báo chính thống, của chế độ1) có thể được coi như một vụ trả thù (hèn hạ) của một phe trong cuộc đấu đá đó2, việc bắt toàn bộ báo chí im miệng, không được đề cập tới sự việc, mới là điều đáng nói tới. Nói như người Pháp, cái sự im lặng đinh tai ấy của báo chí là bằng chứng hùng hồn nhất của sự khinh miệt nhân dân, khinh miệt trí thức của kẻ cầm quyền. Xin cho tôi không bình luận về những lời tố cáo tính « hèn hạ » của trí thức VN, mà nhà báo là một bộ phận đáng kể, nhất là trong việc phản ánh những tệ nạn xã hội cũng như những bức xúc của người dân. Vì đơn giản là trong thời gian qua họ đã từng can đảm viết lên nhiều điều rất trái tai người cầm quyền. Nhưng đối với nhiều vấn đề thì họ không có chỗ để viết. Có những nhà báo phải mượn blog để nói lên uất ức của mình, vì có đưa bài thì cũng không được đăng. « Lệnh » từ rất cao, tuyệt đối, bất chấp dư luận đang đòi hỏi làm rõ sự việc, với những minh chứng cụ thể, thuyết phục cho quyết định bắt người của Viện kiểm sát (dù là những minh chứng đó vẫn có thể bị tòa án bác bỏ sau đó). Bắt là bắt, không cần trưng ra lý do. Và anh không được cãi.

Nghe nói người ta đang bàn bạc về cái đề án gọi là « Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế ». Những người đã đưa ra cái lệnh « Im ! » đầy khinh miệt kia cũng là những người chủ trì cuộc thảo luận. Kết quả (ngắn hạn thôi, dài hạn lại là chuyện khác) tưởng chẳng cần nói…

Hòa Vân


1 Đối với những người không nằm trong hệ thống, sự đối xử hèn hạ này còn thêm tính dã man nữa. Xem vụ "nhà báo tự do" Hoàng Hải, tức blogger Điếu Cày bị bắt (ngày 20.4.2008 tại Đà Lạt), và nhiều blogger khác cùng chính kiến với anh bị công an sách nhiễu suốt những ngày cuối tháng 4 – nhân vụ "rước đuốc thế vận hội Bắc Kinh" đi qua TPHCM - trên website của "Câu lạc bộ nhà báo tự do" : http://clbnbtd.com/index.php.

2 Câu này không hàm nghĩa coi các nhà báo này là thuộc « một bên » trong cuộc đấu đá. Cũng không hàm nghĩa phủ nhận tính tích cực mà nhiều người đề cao của hai nhà báo trong những bài viết liên quan. Chỉ nói lên cái khả năng là những người ra lệnh bắt họ coi họ là thuộc phe kia. Việc đánh giá hai nhà báo cụ thể trong vụ này không thuộc chủ đề của bài viết, còn đánh giá chung thì… tùy. Mặc dầu cái thói bôi xấu những người bị khởi tố, dù họ chưa bị/được đem ra xử, là rất cần bị phê phán, tôi tin rằng không phải nhà báo VN nào cũng là « nhà báo công an » chuyên nghề bôi bẩn những người khác ý…


 



KHÔNG CÓ DÂN CHỦ TỰ DO ĐÍCH THỰC
THEO AI CŨNG CHỈ LÀ ĐẦY TỚ
 
LÝ ĐẠI NGUYÊN


Phóng viên Thanh Trúc của Đài Á Châu Tự Do, ngày 31-07-08, trong cuộc phỏng vấn với mội sĩ quan trẻ của quân đội trong nước, nhân việc thay đổi một số tướng lãnh thuộc Quân Khu thủ đô Hànội, đã đặt ra câu hỏi: "Tầng lớp sĩ quan trẻ trong Quân Đội Nhân Dân bây giờ có suy nghĩ như thế nào về vấn đề Trungquốc hiện nay? Họ có sợ Trungquốc không? Thì được trả lời: "Một số sĩ quan trẻ rất bức xúc về tất cả vấn đề Trungquốc, nào là hiệp định biên giới, rồi nào là Hoàng Sa, nào là Trường Sa. Toàn bộ hệ thống lãnh đạo của quân đội, đảng, nhà nước đều là hèn nhát cả, hèn nhát tới vô cùng luôn". "Hèn đến  mức mà mình cảm tưởng không thể sống được nữa, nếu mình cứ tiếp tục như thế này. Chả biết mình chiến đấu vì ai. Người lính dù mặc bộ quần áo nào, mục đích đầu tiên là bảo vệ nhân dân và bảo vệ tổ quốc, và bảo vệ lãnh thổ, sau đó thì bảo vệ cái gì đó thì mình không biết, nhưng hai cái trước phải đặt lên hàng đầu. Cái thứ hai nữa là trong quá trình xây dựng chiến lược, phát triển các mối quan hệ quân sự thì mối quan hệ đầu tiên, lớn nhất, là hợp tác quân sự với Mỹ. Mặc dù đảng không thích Mỹ một chút nào luôn, có thể nói ghét là khác, nhưng dứt khoát phải dựa  vào Mỹ".
 
Về quan hệ quốc phòng Việt-Mỹ, phóng viên Thanh Trúc đặt câu hỏi với viên sĩ quan trẻ kia rằng: "Những sĩ quan và chiến sĩ Quân Đội Nhân Dân Việt Nam có sự kỳ vọng gì vào thế hệ sĩ quan trẻ, hay có e ngại gì trong mối quan hệ với Hoakỳ không? Thì được thẳng thắn trả lời: "Theo tôi thì cái tôi mong mỏi nhất là Mỹ mở rộng chương trình đào tạo quân sự cho Việtnam, theo cái chương trình mà Bộ Quốc Phòng Mỹ dành cho các nước, thì sẽ đào tạo những thế hệ sĩ quan trẻ để từ đó họ có - vì thế hệ trẻ bao giờ họ cũng có -  tư tưởng khác với những thế hệ già cỗi như hiện nay và hèn nhát như hiện nay. Thế hệ trẻ bao giờ cũng có tư tưởng cởi mở hơn, và có thể nói, họ sẽ là những người hàn gắn lại mối đau chiến tranh mà cả dân tộc phải chịu đựng, chứ không phải bên nào, hoặc bên nào cả, cuộc chiến tranh qua đi đã lâu rồi đừng để nó đau đớn nữa". "Tất nhiên cá nhân tôi vẫn rất ghét Mỹ, vì thật ra Mỹ đã bán cả Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa rồi, bán đi những người gần gũi nhất của Mỹ. Về phần tôi, tôi vẫn có sự cảnh giác đối với Mỹ, thật sự đối với Trungquốc và ngay cả đối với Mỹ". "Nhưng mà dứt khoát, chắc chắn rằng trong khu vực Đông Nam Á này, và khu vực Châu Á Thái Bình Dương, cả cái vùng này, người Mỹ không thể tìm được người bạn nào tốt hơn là người Việtnam cả. Tôi khẳng định như vậy".
 
Trên đây là ý kiến của một sĩ quan trẻ trong quân đội Việtcộng- chưa nói tới đúng, sai - Tuy không thể cho đây là tiếng nói chung của quân đội Việtcộng, nhưng vẫn nhận ra được là Người Sĩ Quan Trẻ này và nhiều người cùng trang lứa, họ không còn tuân giữ giáo điều "Trung với Đảng" nữa. Họ đã thấy được toàn bộ hệ thống lãnh đạo của quân đội, đảng, nhà nước đều là hèn nhát, hèn nhát vô cùng. Khi những người lính đã thấy rõ bản chất lãnh đạo của mình là hèn, không có can đảm và khả năng bảo vệ được dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ lãnh thổ, trước sự lấn chiếm của Trungquốc, như trước kia, Quân Lưc Việt Nam Cộng Hòa năm 1974 đã chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Trungcộng, mà nhiều chiến sĩ VNCH đã chết trong trận chiến đó. Theo viên sĩ quan trẻ này thì: "54 người lính có thể nói là những anh hùng của đất nước đã hy sinh ở đó, chính là những người lính Việtnam Cộnghòa". Một người sĩ quan được đào tạo trong lò cộngsản sắt máu, hận thù, mà thấy đảng, nhà nước, quân đội mình hèn, bất xứng trong vai trò lãnh đạo, không bằng được kẻ địch xưa của họ là Việtnam Cộnghòa, anh đã công khai vinh danh người lính cộng hòa là anh hùng của đất nước, thì chế độ mà anh phục vụ đã hết thuốc chữa rồi. Chắc đây không chỉ là trường hợp đơn lẻ, mà phải là phản ảnh tâm tình, suy tư của rất nhiều đồng đội của anh. Giới lãnh đạo Việtcộng cũng biết rõ điều đó, nên họ đã không còn dám trói quân đội của mình trong quan hệ thầy trò với Trungcộng nữa, mà trao cho Hoakỳ, kẻ thù xưa và là nhà hợp tác nay, để đào tạo quân đội của họ đủ điều kiện và khả năng tham dự vào Chương Trình Sáng Kiến Hoạt Động Hòa Bình Toàn Cầu – Global Peace Operations Initiative –  qua đó tham gia vào các khóa huấn luyện và sinh hoạt khác của hoạt động gìn giữ hòa bình chung.
 
Khi Việtnam đã chính thức được tham gia hợp tác với Hoakỳ  trong chương trình trên, thì chỉ còn một bước ngắn nữa là Mỹ- Việt sẽ tiến tới ký một Hiệp Ước An Ninh Toàn Diện, để cho lời cam kết của chính phủ Hoakỳ ủng hộ chủ quyền quốc gia, an ninh, và toàn vẹn lãnh thổ Việtnam thành hiện thực. Lúc đó thì chiến hạm Hoakỳ có đủ danh nghĩa và tính hợp pháp ra vào lãnh hải Việtnam, nhằm bảo vệ cho những công ty khai thác dầu lửa của mình, và các công ty quốc tế, như Anh, Nhật, Ấn và ASEAN đang liên doanh với Việtnam tại Biển Đông. Việtnam và các công ty khai thác dầu khí ở đây, không còn sợ bị hạm đội của Trungcộng đe dọa nữa. Mặc cho Trungcộng có thành công trong việc xây dựng hạm đội tầu ngầm nguyên tử ở đảo Hải Nam hay không cũng vậy. Vì Trungcộng chỉ có khả năng và can đảm bắt nạt từng nước nhỏ, chứ chưa dám đụng tới Một Cuộc Thế Chiến. Nhất là kinh tế Trungcộng đang lệ thuộc vào thị trường và vốn đầu tư quốc tế. Họ không ngu dại gì mà đập vỡ hũ gạo của mình. Viễn ảnh cho thấy, hung hăng, hục hặc cách mấy thì cuối cùng Trungcộng cũng đành phải xuống nước, xin sống chung hòa bình, để được chia phần hợp tác khai thác dầu khí ở Biển Đông, như đang làm thế với Nhật ở vùng Điếu Ngư Đài, nơi tranh chấp Nhật – Trung.
 
Về thế quốc tế thì việc hợp tác chiến lược và kinh tế giữa Mỹ-Việt chỉ có đi tới, không thể đi lui. Nhưng về mặt chính trị thì Việtcộng vẫn còn ngoan cố, chưa chịu mở rộng Tự Do Hóa Xã Hội, vẫn xiết cổ truyền thông, quản thúc báo chí. Vẫn tăng cường sự lãnh đạo của đảng với báo chí. Vẩn không chấp nhận Tư Nhân Hóa lãnh vực truyền thông và Tự Do Ngôn Luận. Đây vốn là linh hồn của mọi lãnh vực Tự Do Xã Hội, kể cả Tự Do Tôn Giáo, Tự Do Lập Đảng, Tư Do Nghiệp Đoàn…Nghĩa là Cộngđảng vẫn muốn nắm độc quyền toàn trị cả về các mặt Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, Quân Đội và Công An để thống trị tòan dân. Vẫn coi dân là đối tượng để khủng bố, bóc lột qua các Tổng Công Ty Quốc Doanh, với hệ thống Hành Chánh Tham Nhũng và Công An Trị. Khi một chế độ độc tài tham nhũng đã không Tôn Trọng Dân của mình, thì không thể dựa được vào dân, tất phải dựa vào các thế lực ngọai bang để tồn tại. Thế nên Việtcộng theo Tầu thì ngoan ngoãn làm đầy tới cho Tầu, ngày nay có theo Mỹ thì cũng sẵn sàng làm đầy tớ cho Mỹ. Dù do quyền lợi phát triển kinh tế của Tư Bản Mỹ, Hoakỳ luôn luôn đòi hỏi Việtcộng phài Tôn Trọng Nhân Quyền và Dân Chủ Hóa chế độ. Nhưng trong nhất thời thì với một tên đầy tớ dễ sai, so với một người bạn mới còn nhiều nghi nan, thì hệ thống "bàn giấy" Mỹ rất dễ bị sa ngã. Cuộc đấu tranh Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền của toàn dân Việt trong, ngoài nước của chúng ta vẫn chưa hết khó khăn.
 
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Little Sàigòn ngày 12-08-2008.





ĐOÀN LUẬT SƯ VÀ LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ      

Đỗ Thái Nhiên

  
Căn cứ vào hiến pháp 1992 của CSVN nhà cầm quyền Hà Nội vẫn thường xuyên đề cao nguyên tắc mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng trước luật pháp. Tuy nhiên, muốn thực sự có được quyền bình đẳng này, trong rất nhiều trường hơp, người dân cần đến sự hổ trợ giới luật sư. Vì vậy, để có thể đánh giá chân xác mức độ "bình đẳng trước luật pháp" của xã hội Việt Nam ngày nay, chúng ta không thể không tìm hiểu qui chế hành nghề luật sư dưới chế độ Hà Nội. 

Ngày 29/06/06, nhà cầm quyền CSVN đã ban hành đạo luật số 65/QH11. Luật này được gọi là Luật Luật Sư. Bây giờ chúng ta hãy ghi nhận ba điều luật chủ yếu của luật 65/QH11:

            _ Điều 10 xác định luật sư phải là "công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc, tuân thủ hiến pháp và pháp luật". Đừng quên rằng đối với CSVN tổ quốc có nghĩa là tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp được CSVN nhắc tới bao giờ cũng hàm ý quyền toàn trị dành cho CS nói ở điều 4 hiến pháp. Tóm lại, điều 10 luật 65/QH11 buộc người luật sư phải nằm dưới quyền lãnh đạo của đảng, trung thành với đảng CS.

            _ Điều 3 quy định: Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp CS có nhiệm vụ thiết lập chương trình khung trong việc đào tạo hành nghề luật sư. Sau đó điều 17 viết thêm: Bộ Trưởng Tư Pháp là giới chức có thẩm quyền cấp phát chứng chỉ hành nghề luật sư. Như vậy, điều 10 và 17 cho thấy muốn hành nghề luật sư, ứng viên phải sống dưới trướng của Bộ Tư Pháp CS. Bộ cho sống thì được sống. Bộ bảo chết thì phải chết.

            _ Mặc dầu điếu 10 và 17 đã giao nạp sinh mệnh nghề nghiệp của người luật sư cho Bộ Tư Pháp, điều 6 luật 65/QH11 còn nhấn mạnh thêm: "Quản lý hành nghề luật sư được thực hiện theo nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư". (Hết lời dẫn).
   
Kiểu hành văn của điều 6 tuy có phần bí hiểm nhưng vẫn đủ để cho người dân hiểu rằng: nghề luật sư dưới chế độ CS do nhà nước quản lý trực tiếp và chặt chẽ.Câu hỏi được đặt ra là: bằng vào những kỹ thuật kềm kẹp của bộ Tư Pháp liệu chừng CSVN có khả năng biến người luật sư dưới chế độ CS vĩnh viễn trở thành những người chỉ biết nói bằng lưỡi gỗ hay không? Câu hỏi vừa nêu làm cho chúng ta nghĩ tới hai chữ NHÂN DÂN trong tiếng Việt. Nhân là con người toàn thiện toàn mỹ. Nhân là lương tâm của mỗi người. Dân là con người sống với thực tiễn xã hội. Dân khi vui, khi buồn; khi thành thật, khi gian dối; khi hiền đức khi độc ác…Điều cần nhấn mạnh là dân thường xuyên nghe tiếng NHÂN, thường xuyên cố gắng sống hướng thượng, thường xuyên được NHÂN tức là được lương tâm nhắc chừng thế nào là hướng thượng trong mỗi hoàn cảnh sống. Nhân và Dân đã có những gắn bó keo sơn trên ngôn ngữ cũng như trên thực tại đời sống. Riêng trong giới luật sư, càng chìm nổi trong nghề nghiệp, người luật sư càng hiểu biết một cách thấm thía thế nào là công lý, thế nào là lương tâm nghề nghiệp. Chính lương tâm kia, chính chữ nhân trong mỗi luật sư đã hối thúc người luật sư dưới chế độ CSVN phải can đảm chứng tỏ cho công luận biết rằng thần công lý không bao giờ bỏ rơi người dân cùng khổ. Tại Việt Nam, trong hơn một thập niên qua, người đệ tử lẩy lừng của thẩn Công Lý chính là nữ luật sư Lê Thị Công Nhân, bên cạnh vị nữ luật sư nhỏ người mà to gan này còn có các luật sư khác oanh liệt không kém. Đó là quý vị: LS Nguyễn Văn Đài, LS Trần Quốc Hiển, LS Nguyễn Bắc Truyễn, LS Bùi Kim Thành, LS Lê Quốc Quân, LS Trần Thị Thùy Trang…những vị luật sư này đã hoặc đang bị CSVN giam cầm trong các nhà tù, các nhà thương điên chỉ vì tội đòi hỏi dân chủ nhân quyền cho người dân. Tin từ  Việt Nam cho biết: thứ sáu, ngày 8/8/2008, tòa án Nhân Dân Tối Cao của CSVN tại Saigon đã nhóm họp để xét xử phúc thẩm ông Phạm Bá Hải, người lãnh đạo tổ chức Bạch Đằng Giang, một tổ chức đấu tranh đòi hỏi dân chủ nhân quyền cho Việt Nam. Ông Phạm Bá Hải được luật sư Lê Trần Luật biện hộ. Mở đầu bài tranh biện của mình, luật sư Lê Trần Luật dõng dạc phát biểu:
 
"Thưa Hội Đồng Xét Xử,

Tôi, LS Lê Trần Luật, người được tòa án nhân dân tối cao chấp thuận bào chữa cho Nhà Hoạt Động vì Dân Chủ Phạm Bá Hải. Sở dĩ tôi không gọi Phạm Bá Hải là bị cáo mà lại gọi là "nhà họat  động dân chủ" vì tôi tin rằng những hành động của anh vừa bị cấp sơ thẩm buộc tội là những hành động không phạm tội, nếu không muốn nói là sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đẹp cho tiến trình phát triển dân chủ ở Việt Nam" (Hết lời dẫn)

Điều đáng ghi nhận là khi luật sư Lê Trần Luật tuyên xưng thân chủ của mình là "Nhà hoạt động vì dân chủ" thì cả hội đồng xét xử lẩn viện kiểm sát nhân dân đều ngồi bất động, không nói một lời phản đối. Sự thể này chứng tỏ mạnh mẽ rằng tòa án CSVN đã bị khuất phục bởi phong cách biện hộ hào hùng của LS Lê Trần Luật. Danh sách các luật sư đã hoặc đang ở tù dưới chế độ CS đi kèm với câu chuyện LS Lê Trần Luật trước tòa án CS cho thấy: về phương diện cá nhân, số lượng luật sư dũng cảm hành động theo lòng nhân, theo lương tâm chức nghiệp ngày càng đông đảo. Vậy thì, về phương diện tập thể, đoàn luật sư đã làm gì để biểu đồng tình với các luật sư dũng cảm kia? Câu trả lời xin được giải bày như sau: Tháng 12/2007 Trung Quốc cưởng đoạt Hoàng Sa và Trường Sa của VN bằng cách mang hai quần đảo kia sáp nhập vào đơn vị hành chánh Tam Sa của Trung Quốc. Từ đó quần chúng VN nổi lên biểu tình chống Trung Quốc và cũng từ đó CSVN ngày càng đàn áp những cuộc biểu tình này một cách tàn tệ. Thế rồi, thật là bất ngờ, ngày 05/01/2008,  LS thủ lãnh Nguyễn Đăng Trừng cùng các luật sư phụ tá gồm có: LS Nguyễn Văn Trung, LS Nguyễn Văn Hòa, LS Lê Công Định đã tổ chức một hội nghị qui tụ hai ngàn luật sư thuộc đoàn luật sư Saigon. Hội nghi này quyết liệt phản đối Trung Quốc xâm lược. Phản ứng vừa nêu của Đoàn Luật Sư Saigon đã làm cho chúng ta nghĩ đến thuật ngữ "xã hội dân sự". Xã hội dân sự là xã hội được hình thành theo nhu cầu sống hợp quần và tâm lý yêu chuộng công ích của con người. Xã hội dân sự nằm ngoài sự tổ chức và điều động của guồng máy cầm quyền. Mối quan hệ giữa nhà cầm quyền và người dân bao giờ cũng có khuynh hướng thoái hóa thành quan hệ thống trị và bị trị.  Xã hội dân sự là đối lực tự nhiên của nhà cầm quyền các loại, nó có tác dụng vô hiêụ hóa các khuynh hướng thoái hóa kia. Đoàn luật sư Saigon do bộ tư pháp của CSVN nắm quyền sinh sát.     Sự việc 2000 luật sư  Saigon đồng loạt đứng lên chống Trung Quố ngày 05/01/2008 là chỉ dấu cho thấy đoàn luật sư Saigon đang nổ lực từ giả nhà nước CSVN để chạy về phía xã hội dân sự

Nói chung, lương tâm làm người hối thúc cá nhân người  luật sư hành nghề dưới chế độ CSVN chỉ nghe theo tiếng nói của lương tâm, từ chối tuân hành mọi mệnh lệnh của bộ tư pháp Hà Nội. Mặt khác, kiến thức và kinh nghiệm của nghề luật sư đã chỉ ra rằng: đoàn luật sư phải là một tổ chức thực sự độc lập, phải là một xã hội dân sự thì người luật sư mới có thể phục vụ thân chủ một cách thích nghi. Trào lưu luật sư bênh vực người dân chống lại nhà cầm quyền, cộng với trào lưu đoàn luật sư tìm đường thoát khỏi vòng tay khống chế của bộ tư pháp CS đã buộc CSVN phải đi tìm giải pháp mới. Giải pháp mới chính là ngày 16 tháng 01/2008 thủ tướng CSVN ký quyết định thành lập Hội Đồng Lâm Thời Luật Sư Toàn Quốc. Đồng thời ông Lê Thúc Anh, cựu phó chánh án tòa án tối cao, được bổ nhiệm làm chủ tịch hội đồng lâm thời. Phụ tá ông Lê Thúc Anh là  hai ông:

1)Ông Trần Đại Hưng, cựu phó ban nội chính, ban chấp hành trung ương.

2)Ông Nguyễn Văn Thảo, cựu vụ trưởng vụ bổ trợ, bộ tư pháp.

Cả ba ông chủ tịch và hai phó chủ tịch đều chưa hề hành nghề luật sư. Dưới sự điều hành của ba ông lãnh đạo kia là 12 ủy viên, trong đó có luật sư Phạm Hồng Hải, chủ nhiệm đoàn luật sư Hà Nội và luật sư Nguyễn Đăng Trừng, chủ nhiệm đoàn luật sư Saigon. Như vậy hội đồng luật sư toàn quốc chính là Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam.

Ngày 18/06/2008  LS Nguyễn Đăng Trừng , chủ nhiệm đoàn Luật Sư Saigon công bố quyết định rút tên ra khỏi Hội Đồng Lâm Thời LS Toàn Quốc. Lý do rút tên: Đoàn Luật Sư Saigon không đồng ý với sự việc đưa một người không phải là luật sư lên làm chủ tịch hội đồng lâm thời luật sư. Quyết định này hiện đang là đề tài tranh cãi giữa ban chỉ đạo đại hội đại biểu luật sư toàn quốc và đoàn luật sư Saigon

Câu chuyện chế độ Hà Nội tìm cách mang đoàn luật sư Saigon nối kết với đoàn luật sư Hà Nội để tạo thành liên đoàn luật sư Việt Nam đã hàm chứa các ẩn ý sau đây:

Thứ nhất: luật hiện hành của CSVN xác định: luật sư cũng như đoàn luật sư, tất cả đều nằm gọn trong tay của bộ tư pháp CSVN. Tuy nhiên theo nhận định của ông Hà Hùng Cường, bộ trưởng bộ Tư Pháp CSVN, mỗi đoàn luật sư có khuynh hướng trở thành một sứ quân. Sứ quân ở đây là sứ quân chống độc tài Hà Nội, chống bành trướng Bắc Kinh. Làm thế nào Hà Nội có thể vừa dẹp được loạn luật sư sứ quân vừa tránh được tai tiếng phá hoại tính chất độc lập của nghề luật sư? CSVN đã trả lời câu hỏi vừa nêu bằng cách thành lập liên đoàn luật sư Việt Nam. Liên đoàn này có nhiệm vụ thay thế bộ tư pháp trong công tác dẹp loạn luật sư sứ quân. Nói rõ hơn, CSVN dẹp loạn luật sư sứ quân thông qua xảo thuật dùng luật sư đánh luật sư.

Thứ hai: kiến thức nghề nghiệp cộng với kinh nghiệm nghề nghiệp đã khắc sâu vào tâm trí mỗi người luật sư hai yếu tố tinh thần quan trọng. Đó là lòng tự trọng nghề nghiệp và tình đồng nghiệp. Hai yếu tố tinh thần kia đã làm cho hiện tượng luật sư đánh luật sư rất khó lòng xảy ra. Nhất là đánh luật sư để bảo vệ chế độ độc tài tham ô. Vì vậy muốn tạo ra trận đồ luật sư đánh luật sư CSVN đã bổ nhiệm ba người , một chủ tịch và hai phó chủ tịch, vào ban lãnh đạo tối cao liên đoàn luật sư Việt Nam. Ba người này là Lê Thúc Anh, chủ tịch; Trần Đại Hưng và Nguyễn Văn Thảo phó chủ tịch. Cả ba không phải là luật sư thực sự, cả ba chưa hề hành nghề luật sư, không có kiến thức và tâm lý luật sư. Như vậy, cả ba sẳn sàng khoác áo luật sư để đánh luật sư theo lệnh của Hà Nội.

Theo dõi những lời qua tiếng lại giữa Đoàn Luật Sư Saigon và Hội Đồng Lâm Thời Luật Sư Toàn Quốc công luận mới hiểu được lý do thầm kín dẫn tới sự việc Đoàn Luật Sư  Saigon ly khai với Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam. Ly khai trong trường hợp này chính là nổ lực biến Đoàn Luật Sư Saigon thành một đơn vị mẫu mực của xã hội dân sự. Mặt khác không riêng gì Đoàn Luật Sư Saigon mà còn rất nhiều tổ chức xã hội khác: báo chí, tôn giáo, văn nghệ, thể dục thể thao , hướng đạo, võ thuật v.v…tất cả đều mong muốn được thành hình và phát triển theo đúng phẩm chất của xã hội dân sự. Xã hội dân sự là xã hội do người dân tự quản. Xã hội dân sự vừa là môi trường của tự do dân chủ, vừa là công cụ có năng lực tước bỏ một cách nhẹ nhàng nhưng rất hữu hiệu mọi dự mưu bành trướng của các phe phái độc tài áp bức./.
                                                
Đỗ Thái Nhiên




VẤN ĐỀ HÒA HỢP VÀ HÒA GIẢI

Bài 4/4
by: • Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất



IV.  Cần Phải Xác Định Vấn Đề 
 
1.   Xác Định Chữ Dùng

     Trước hết xin nói qua về cách dùng chữ thường thấy của người VN mình.
     Người quốc gia kể cả những nhà hoạt động chính trị và người Mỹ nữa, thường rất hời hợt trong việc xử dụng chữ nghĩa, dù là trong trường hợp tự chứng minh chính mình (self identify). Đây là chuyện rất quan trọng. Chúng ta thường chê VGCS ít học, nhưng thực ra chúng rất tinh tường trong vấn đề dùng chữ. Để ý xem. Xưa nay VGCS luôn luôn gọi chính quyền miền Nam là “Nhà Cầm Quyền Saigon”, chứ không bao giờ nói “Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa”. Chúng gọi “Quân Đội Saigon” thay vì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và ngay như người Mỹ để giản tiện trong cách trao đổi, họ cũng thường nói “The Government Troups” chứ rất ít khi nói đầy đủ danh xưng của nó là “The Republic of VN Armed Forces”. Và còn rất nhiều như thế nữa ….. Cũng vậy, các chánh khách, nhất là các nhà báo của ta xưa nay thường sử dụng tưới xượi bất kể chữ nghĩa gì. Sự buông thả lời ăn tiếng nói này là tính hời hợt cố hữu của người quốc gia và là sự cố tình của VGCS muốn xóa đi cái căn cước nhân dạng (identity) của Việt Nam Cộng Hòa và của từng người dân của đất nước này.
     Bây giờ cũng không khác xưa là mấy, chỉ có người tỵ nạn tại hải ngoại mới đặt ra vấn đề và gọi nó là HHHG. VGCS và báo chí trong nước của chúng không bao giờ nói đến mấy chữ đó. Bao hàm trong ý nghĩa gần như thế, chính thức bọn lãnh đạo Hànội chỉ kêu gọi xóa bỏ hận thù, khép lại quá khứ, hướng về tương lai v.v. Những chữ HHHG là do cộng sản miền Bắc đẻ ra cho nhóm người tự gọi là Thành Phần Thứ 3 tại miền Nam xài trong thời chiến tranh. Bẵng đi một thời gian. Mấy lúc gần đây lại thấy nó xuất hiện tại hải ngoại. Có một lần hồi mấy năm về trước, Võ Văn Kiệt sau khi đã không còn làm thủ tướng nữa mới hô hào nhà nước của y cũng nên đặt ra vấn đề hòa hợp với những người thuộc chế độ cũ để họ có cơ hội góp phần vào công việc xây dựng và phát triển đất nước. Kiệt chỉ nói hòa hợp chứ không nói hòa giải, nói người của chế độ cũ chứ không nói quân nhân công chức VNCH. Rõ ràng là VGCS vẫn còn đội cái mũ “ngụy quyền” trên đầu chính phủ VHCH đã đi vào lịch sử và vẫn tròng một chữ “ngụy” vào cổ của tất cả mọi người dân miền Nam. Như thế thì làm sao mà HHHG? Người miền Nam có thua trận nhưng không thể mất danh dự. VGCS đã không chủ trương và cũng không đặt ra vấn đề hòa giải với người Việt miền Nam, nhất là với đồng bào tỵ nạn tại hải ngoại. Thay vào đó, bộ máy tuyên truyền của đảng VGCS chỉ mập mờ đánh trống thổi kèn rùm beng một số xảo ngữ ru ngủ như xoá bỏ hận thù, quên đi quá khứ, hướng về tương lai, xóa ngăn cách v.v., rồi được bọn truyền thông lưu manh, mấy cái ống loa nối dài của CS tại hải ngoại phụ họa như những con vẹt.  Điều đó cho thấy CS không hề có một chút thực tâm nào trong việc hoà giải, mà chỉ là trò bịp nhắm mục đích chiêu dụ người tỵ nạn đầu hàng mà thôi. Tự đặt ra chuyện HHHG với CS một cách đơn phương, những người chủ trương đã tự lừa dối mình và lừa dối người khác một cách trơ trẽn và lố bịch. VGCS xem ra cũng chẳng mặn mà gì, nhưng trong bụng chắc chúng cười khinh bỉ.

2.  Xác Định Liên Hệ  

     Nói HHHG là nói cho suông miệng. Thật ra nó bao gồm hai tiến trình trước sau riêng biệt. Cả hai liên hệ nhân quả với nhau. Phải hoà giải trước đã rồi mới hoà hợp được. Không thể nào có hoà hợp được trong khi sự chia rẽ và bất hoà chưa bị tiêu trừ. Hoà giải là giải quyết sự bất hoà giữa hai hay nhiều đối tượng của bất hoà. Còn hoà hợp đơn giản chỉ là sự chung sống nhịp nhàng và hài hòa giũa con người với nhau. Nếu nói rằng có hoà hợp là đã có hoà giải rồi, và ngược lại, có hoà giải là tất có hoà hợp thì thật là hồ đồ và thiển cận. Đành rằng hoà giải dễ đưa đến sự hoà hợp, nhưng rất nhiều trường hợp có hoà hợp mà không hề có hoà giải, đặc biệt là trong lãnh vực chính tri.  Chính phủ Liên Hiệp năm 1946 là một điển hình hoà hợp nhưng không hoà giải. Câu thường nói “tiểu nhân đồng nhi bất hòa” chỉ vào trường hợp này. Như trên vừa nói, chữ hòa giải có nghĩa là bỏ đi những chia rẽ, xung đột. Vậy nếu VGCS chịu ngồi xuống nói chuyện hòa giải với người quốc gia thì đó có nghĩa là chúng đã chịu bỏ đi những hiềm khích ngày trước, và chịu chấp nhận đa nguyên đa đảng. Hiện nay chưa có chỉ dấu nào cho thấy VGCS chịu nghiêm chỉnh chấp nhận làm chuyên đó.
     Lịch sử Dân Tộc từ thời lập quốc đến nay, chưa bao giờ xẩy ra sự bất hoà trầm trọng nào giữa các thành phần dân chúng, bất kể là bất hòa về chính kiến, tôn giáo hay chủng tộc. Thời phong kiến, khi đất nước gặp phải một ông vua hôn quân và triều đình thối nát thì dân chúng bất bình nổi lên làm loạn. Ngày nay, tình trạng bất bình xẩy ra giữa nhà cầm quyền và dân chúng, hoặc giữa các đảng phái với nhau. Tuyệt nhiên không có sự bất hòa giữa người dân với người dân. Duy nhất một trường hợp hãn hữu có thể trở thành sự thật là có nhiều người lo ngại hiện nay đang âm ỉ một tình trạng xung đột giữa các thành phần dân chúng tại miền Nam. Vấn đề này là do chính sách di dân vô tổ chức của đảng VGCS gây ra. Sau ngày 30-4-75, để đề phòng sự nổi dậy của người miền Nam, CS ào ạt đưa cán bộ, đồng thời thả lỏng cho dân chúng miền Bắc di cư vào Nam không có một kế hoạch nào cả. Lớp di cư 75 (tiếng miền Nam) này, cán bộ cũng như dân, như một đàn chó đói, vừa thiếu ăn, lại giỏi lăn lộn xông xáo nên chỉ trong một thời gian ngắn đã chiếm gần hết những nguồn lợi kinh tế của miền  Nam. Sự thực này đã đưa đến sự bất mãn không tránh khỏi trong dân chúng tại miền Nam, và là đầu giây mối nhợ gây nên làn sóng dân oan hiện nay. VC chiếm miền Nam thực tế không phải là một cuộc giải phóng, mà là một cuộc xâm lăng hoàn toàn đúng nghĩa. Cán bộ CS vào miền Nam là những ông quan thực dân tân thời. Cái gì thích thì chiếm đoạt, kể cả đàn bà con gái, mà cái thích của bọn người này thì vô cùng tận. Đây là chính sách rất thâm độc của bọn đầu lãnh ngoài Hànội. Sự thể cho thấy đảng CS chính là nguyên nhân gây ra mối bất hoà giữa các tầng lớp dân chúng VN. Sự cai trị độc tài, độc đoán của đảng CS dựa trên một mớ lý thuyết phi dân tộc là nguồn gốc gây ra mọi tranh chấp, mọi thảm họa của đất nước, đưa quốc gia đến tình trạng lạc hậu, thoái hoá, bất công và mất tự do như hiện nay. Như thế đặt cho đúng vấn đề HHHG là phải nói hoà giải giữa nhân dân VN và đảng CSVN với khoảng gần 3 triệu đảng viên, chứ tuyệt nhiên không phải giữa người dân với nhau. Thật là sai lầm nếu nói hoà giải dân tộc theo ý nghĩa là hoà giải giữa các thành phần dân chúng bị CS cai trị. Những thành phần dân tộc này giữa họ với nhau không hề làm gì có chuyện bất hoà để phải kêu gọi họ hoà giải. Do đó, đặt ra vấn đề Hòa Giải Dân Tộc là không hợp lý. Chữ Dân Tộc đi theo sau nhóm từ HHHG là không cần thiết.
     Đành rằng cần phải có sự hoà giải giữa các thành phần dân tộc thì công việc xây dựng và phát triển đất nước mới thành công được. Vấn đề HHHG thực sự cần thiết, nhưng ai là người có trách nhiệm phải đặt ra vấn đề HHHG?  Hiện nay CS là một đảng cầm quyền và độc bá quyền lực nên việc HHHG phải do đảng CS đặt ra mới đúng. Vả lại như trên đã nói, đảng CS là nguyên nhân gây ra những mối bất hoà trong dân chúng, nên đảng CS mới thật sự là người có bổn phận xin hòa giải và xin lỗi với toàn dân. Người dân bị trị xin hoà giải với chánh quyền đang cai trị mình là một điều thậm phi lý. Họ có làm gì sai quấy hay xúc phạm đến nhà cầm quyền đâu mà phải cầu hòa và xin tha thứ. Nếu đảng CS muốn hoà giải thực sự thì điều kiện cần thiết là họ phải thành tâm. Không thể vừa nói quên đi quá khứ vừa ban hành Nghị Quyết 36. Đó la lưu manh bịp bợm. VGCS cũng không được giải tư Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và giao cho vài ba tư nhân muốn làm gì thì làm. Làm như thế cũng chỉ là bịp bợm. Nghĩa Trang này vừa là tài sản quốc gia, vừa là di tích lịch sử. Nó phải được tôn trọng. Nếu VGCS thực tâm muốn hòa giải với những người đã cầm súng chống lại mình, thì chúng phải giữ nguyên trạng Nghĩa Trang này, và bảo quản cho tử tế, hoặc giao lại cho các đoàn thể, tổ chức cựu quân nhân QLVNCH để tỏ ra thiện chí. VGCS vừa hô hào xoá bỏ thù hận, vừa đốc xúi chánh phủ Mã Lai và Indonesia phá bỏ đài kỷ niệm vượt biên. Đây rõ ràng là gây thêm thù hận. Đảng CS phải ý thức rõ điều đó. Khẳng định là nếu không có thành tâm hòa giải, cho dù có đạt được một hình thức hòa hợp nào đó, kết quả cũng chỉ là đám bọt xà phòng trong không khí.
3.   Xác Định Chính Mình
     Mấy chữ HHHG xuất hiện tại miền Nam với nhóm người tự xưng là thành phần thứ 3 khi cuộc chiến tới giai đoàn quyết liệt. Cũng vì nghe mấy chữ này êm tai quá nên Chính Quyền Hoa Kỳ, để rút lui mà không bị mất thể diện, đã thúc đấy Chính Phủ VNCH chấp nhận một chính phủ 3 thành phần gồ