| NGƯƠI PHẢI YÊU MẾN THIÊN CHÚA, NGƯƠI PHẢI YÊU NGƯỜI THÂN CẬN NHƯ CHÍNH MÌNH
SUY NIỆM PHÚC ÂM ( III A 51); ( 26.10.2008); ( Mt 22, 34-40) CHÚA NHẬT XXX PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM A
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN HỌC TẬP
Đơạn Phúc Âm Thánh Matthêu hôm nay ( Mt 22, 34-40), được đặt vào phần cuối những cuộc tranh luận của Chúa Giêsu ở Giêrusalem, từ lâu được những đối thủ của Chúa Giêsu đưa ra để tìm cách bắt bẻ và làm hại Người. Chúa Giêsu vừa làm cho nhóm Sadducei, một nhóm thông thái luật đối nghịch với nhóm Pharisêu, phải câm miệng trước đó về việc kẻ chết sống lại ( Mt 22, 23-33), thì lại bị nhóm người Pharisêu tấn công trong đoạn Phúc Âm hôm nay. Đoạn Phúc Âm có lối cấu trúc đơn thuần, - được khởi đầu bằng câu hỏi của các nhà thông thái luật nhóm Pharisêu ( Mt 22, 34-36), - kế đến là đoạn những giải đáp của Chúa Giêsu ( Mt 22, 37-39), - và cuối cùng là câu kết luận, như là hậu quả có thể rút ra được từ những câu giải đáp của Chúa Giêsu ( Mt 22, 40).
Bối cảnh khởi đầu được Thánh Matthêu diển tả cho thấy nhóm thông thái Luật Pharisêu rất hài lòng về cuộc tranh luận trước đó, trong đó Chúa Giêsu đã làm cho nhóm Sadducei, đối thủ của họ phải câm miệng ( Mt 22, 23-33). Lợi dụng thời cơ, họ liền nhập cuộc. Bởi lẽ nếu lần nầy họ thắng được Chúa Giêsu, họ cũng sẽ là bậc trưởng thượng hơn cả các đối thủ Sadducei của họ:
- " Khi nghe tin Chúa Giêsu đã làm cho nhóm Sadducei phải câm miệng, thì những người Pharisêu hội họp lại với nhau" ( Mt 22, 34).
Câu Phúc Âm vừa kể làm nổi bậc động từ " hội họp lại với nhau" ( Hy Lạp, synágo), cho thấy cuộc tranh luận sắp được đoạn Phúc Âm kể lại là cuộc tranh luận " có toan tính", có chủ đích tranh chấp, chạm trán thẳng thừng, chớ không phải là những câu hỏi ngẩu nhiên, do cuộc gặp gỡ tình cờ nào đó. Sau cuộc " hội họp lại với nhau ", họ chọn người đại diện, một thầy thông thái Luật đến để bắt đầu tranh cải. Thật vậy, trong khi cùng một biến cố, đoạn Phúc Âm được Thánh Marco thuật lại người đối thoại với Chúa Giêsu đặt câu hỏi với thái độ thân thiện và đồng thuận với Người:
- " Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?" ( Mc 12, 28)... - " Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhứt, ngoài Người ra không có Đấng nào khác..." ( Mc 12, 32),
thì đoạn Phúc Âm được Thánh Matthêu thuật lại, cho biết người đặt câu hỏi đối với Chúa Giêsu là một thầy thông thái Luật, đặt câu hỏi để gây tranh luận và bắt bí, không dễ trả lời:
- " Thưa Thầy, trong sách Luật Moisen, điều răn nào là điều răn trọng nhứt?" ( Mt 22, 38).
Tước hiệu " Thầy ", được thốt ra từ miệng nhà thông thái Luật, trong Phúc Âm Thánh Matthêu, gần như luôn luôn được thốt ra từ môi miệng của các đối thủ của Chúa Giêsu, cho chúng thấy bầu không khí đối nghịch căn thẳng:
- " Bấy giờ có mấy kinh sư và mấy người Phariseu nói với Chúa Giêsu rằng: " Thưa Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ" ( Mt 12, 38). - " Khi thầy trò tời Capharnaum, thì những người thu thuế cho đền thờ hỏi ông Phêrô: " Thầy các ông không nộp thuế sao?" ( Mt 17, 24). - " Bấy giờ có một người đến thưa Chúa Giêsu rằng: Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì để được hưởng sự sống đời đời" ( Mt 19, 16)...( cfr. Mt 8, 19; 9, 11; 22, 16. 24).
Thầy Pharisêu thông thái luật hỏi Chúa Giêsu một giải đáp cho một vấn đề đã gây ra rất nhiều tranh cải giữa các kinh sư, đó là vấn đề về " điều răn nào cao trọng hơn cả " ( Do Thái, kelal gadol) . Vấn đề được đặt liên quan đến vai cấp thứ bậc của các giới răn. Một vài người trong họ hoàn toàn khước từ đặt ra vấn đề điều răn nào là điều răn quan trọng hơn cả, bởi vì làm như vậy là giao Lề Luật cho con người quyết định và hành xử tùy hỷ, có kẻ còn cho rằng dân chúng mới là điều quan trọng số một. Khuynh hướng khác cho rằng điều quan trọng nhứt là kính yêu Thiên Chúa và yêu thương người thân cận. Tuy vậy, khuynh hướng thứ ba, được phần đông theo, cho rằng điều răn quan trọng nhứt, thu tóm tất cả những gì Lề Luật răn dạy là tuân giữ ngày sabat.
1 - Điều răn cao trọng nhứt. Trước những khuynh hướng như vừa kể, nhân câu hỏi của thầy Pharisêu thông thái luật, Chúa Giêsu trả lời điều răn cao trọng thứ nhứt, cao trọng hơn cả: - " Chúa Giêsu đáp: " Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi" ( Mt 22, 37). Câu trả lời của Chúa Giêsu là câu nói nhắc lại cách hành xử của người đạo đức, thánh thiện ( Do Thái, Shema), được nói đến trong sách Đệ Nhị Luật: - " Hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em" ( Dt 6, 5). Trong câu trả lời của Chúa Giêsu, nhắc lại sách Đệ Nhị Luật, nói đến ba phương diện của con người: - " tâm hồn" ( lòng), có nghĩa là tất cả những gì nội tâm, tình cảm của con người, - " trí khôn" ( thay gì theo cách nói cổ: " hết sức lực"), tức là phần lý trí, nội tại của con người, - " linh hồn" ( Hy Lạp, psyché), tức là sức mạnh sống động nội tâm, mà nhớ đó " tất cả con người của mình đều phải quy hướng về Chúa". Bởi vì tinh yêu không phải chỉ gồm có tình cảm, mà gồm cả trái tim, linh hồn và trí khôn ngoan, tình cảm, ước vọng và suy tư. Mọi nghị lực, không chừa một phân ly nào, đều được hướng về Chúa. Cả ba yếu tố đó nhập lại nói lên tình yêu hoàn toàn, bất phân chia và nguyên vẹn của người tín hữu đối với Chúa. Con người phải yêu thương Chúa như vậy, bởi lẽ tình yêu của Chúa đối với con người là tình yêu không giới hạn và vô điều kiện, chúng ta có thể gặp được trong suốt Cựu Ước cũng như Tân Ước. Chúa Giêsu nói lên mối tương quan thân tình và sâu đậm của mình đối với Chúa Cha: - " Cha Ta đã giao cho Ta mọi sự. Và không ai biết rõ người Con , trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho" ( Mt 11, 27), Chúa Giêsu cũng muốn kêu gọi các tín hữu Người sống cùng một mối liên hệ như vậy đối với Chúa Cha.
2 - Yêu thương người thân cận như chính mình. Sau phần giải đáp về điều răn quan trọng nhứt: kính yêu Chúa là Thiên Chúa duy nhứt với tất cả khả năng con người của mình, Chúa Giêsu liền thêm ngay một ý thức khác liên hệ mật thiết với điều răn cao trọng vừa kể. Tình yêu hoàn hảo của con người, có thể sẽ không là hoàn hảo, nếu chỉ quy hướng về Thiên Chúa. Tầm vóc quan trọng đó, được diển tả trong sách Levi: - " Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình. Ta là Thiên Chúa" ( Lv 19, 18). Hiểu lời Chúa dạy như vậy, tất cả tình cảm, trí óc, sức lực không phải chỉ nhằm được quy hướng về một mình Chúa là đủ. Con người trong Thánh Kinh không bao giờ chỉ là con người đơn độc đứng trước mặt Chúa, mà là là con người được Chúa dựng nên để sống giữa anh em mình, bởi vì bản tính của con người là được sinh ra để sống trong xã hội. Và sống trong xã hội, đối đải với người khác như thế nào, chừng mức đó đã được Chúa dạy bảo cho " như chính mình", con người thương yêu mình với tình yêu tràn đầy, không cắt xén, giảm bớt, tiếc kiệm; con người cũng hãy dùng tiêu chuẩn đó đối với anh em mình. Hiểu như vậy, cách diển tả " như chính mình", là dung lượng tình thương mà mình phải đối xử với anh em, có nghĩa là chính mình hiểu biết hơn ai hết những nhu cầu của chính mình, từ đói khát, đau yếu, mệt nhọc, bị đàn áp, đả thương, xúc phạm danh dự, bị đối xử bất công, bị vi phạm tự do căn bản mà bản năng của mình đòi hỏi. Hảy lấy nhận thức những nhu cầu đó của mình mà đối với anh em, lo lắng cho anh em. Thêm vào điều kiện thứ hai, " yêu thương người thân cận như chính mình", vào điều răn cao cả kính yêu Chúa là Thiên Chúa duy nhứt, Chúa Giêsu có ý trải rộng ra tầm vóc của tình thương đối với " người thân cận " thành tầm vóc phổ quát, đối với mọi người đồng loại. Bởi đó thay vì trả lời cho thầy thông thái luật trong dụ ngôn người Samaritano nhân lành ( Lc 10, 29-37), - " Nhưng ai là người thân cận của tôi ?" ( Lc 10, 29), sau khi thuật lại dụ ngôn vừa kể, Chúa Giêsu đặt câu hỏi ngược lại: - " Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp ?" ( Lc 10, 36). Câu hỏi lại của Chúa Giêsu cho thấy " người thân cận" hay anh em của tôi là bất cứ ai, những người đang có vấn đề, có nhu cầu cần được giúp đở để giải quyết và điều quan trọng là " tôi, là người có biết tỏ ra thân cận " với anh em đang cần nhờ được giúp đở hay không. Hiều ý nghĩa của điều răn liên hệ với điều răn cao cả kính yêu Thiên Chúa, không phải chỉ được hiểu " người thân cận", là người thân thuộc, phe nhóm với mình, mà còn có tầm vóc phổ quát ra cho cả cộng đồng nhân loại, bởi lẽ - mọi người đều được Thiên Chúa " dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa" ( Gen 1, 27) - và tất cả, không trừ ai, đều có thể gọi Thiên Chúa là Cha, " Lạy Cha chúng con ở trên trời..." ( Mt 6, 9). Và bởi đó, tất cả chúng ta đều là anh em với nhau. Như vậy, câu trả lời của Chúa Giêsu đặt điều răn " thương yêu người thân cận như chính mình" gắn liền với đdiều răn cao cả " kính yêu Thiên Chúa" với tất cả con người của mình, ngoài ra ý nghĩa loại bỏ quan niệm phe nhóm hạn hẹp, còn có ý phá bỏ đi hai quan niệm hẹp hòi và cũng có thể đạo đức giả tạo và ảo tưởng, - chỉ biết " yêu mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi" bằng quy tựu vào đọc kinh, cầu nguyện, thắp hương, đốt nến, suy niệm trong đền thờ, - đàng khác Chúa Giêsu cũng có ý đánh đổ quan niệm " thương yêu người thân cận như chính mình" chỉ là thái độ quan niệm tình cảm thương yêu " tội nghiệp", có thổn thức trong lòng, nhưng rồi " thấy vậy, lách sang rồi bỏ đi luôn", như thầy tư tế và thầy thông thái luật trong dụ ngôn người Samaritano nhân lành, mà là thương yêu bằng hành động, và bằng tất cả những gì mình có thể làm được cho người anh em: - " Nhưng một người Samaritano kia đi đường, tới ngang chỗ ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lầy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy lên lừng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: " Nhờ bác săn sóc cho người nầy, có tốn thêm bao nhiêu, khi tở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác" ( Lc 10, 33-35).
Thương yêu và thương yêu bằng động tác, thương yêu với tất cả con người của mình, làm bất cứ điều gì mình có thể làm được cho người anh em, như gương người Samaritano nhân lành vừa kể, được Chúa Giêsu gắn liền và so sánh với giới răn " yêu thương Thiên Chúa" với tất cả khả năng của mình, trong phần kết của đoạn Phúc Âm: - " Còn điều răn thứ hai cũng giống như điều răn ấy là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" ( Mt 22, 39).
3 - Chúng ta đã được yêu thương trước. Tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với anh em, đặt theo thứ tự đúng đắn như Chúa Giêsu đã dạy bảo cho trong cuộc tranh luận hôm nay với thầy Pharisêu thông thái luật, có giá trị như là lời giải thích những gì được viết lên trên một trong hai Bia Đá của Mười Điều Răn. Để nói lên mối tương quan hiệp nhứt của hai điều răn " Yêu Thương Thiên Chúa và yêu thương người thân cận như chính mình", đoạn Phúc Âm Thánh Matthêu kết luận: - " Tất cả Luật Moisen và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy " ( Mt 22, 40). Bài giảng về tình yêu trong đoạn Phúc Âm hôm nay có thể còn bị hiểu một cách sai trái, nếu chúng ta không nhớ lại rằng trước khi biết phải yêu Chúa và yêu thương anh em cách nào, chúng ta đã được yêu thương trước. Thánh Phaolồ nhắc cho chúng ta một cách long trọng: - " ...Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta" ( Rom 5, 5). Tình yêu của Thiên Chúa mãnh liệt đến độ không ai có thể từ chối, lánh né, tránh thoát đôi mắt thương yêu của Người đối với chúng ta được. Và đó là những gì Thánh Phaolồ cũng trong Thư của ngài gởi cho các tín hữu Roma bằng những lời nói đầy kích động:
- " Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Ki Tô? Phải chăng là gian truân, khốn khỗ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ. gươm giáo ( ...) Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Đúng vậy, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương qủy lực, hiện tai hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẩm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có cách gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Chúa Giêsu, Chúa chúng ta" ( Rom 8, 35-39).
Chúa yêu thương chúng ta một cách mãnh liệt, cũng vậy, chúng ta phải yêu thương Chúa và anh em chúng ta như vậy, nhứt là những ai đang gánh chịu bất hạnh, đàn áp, gánh chịu bất công, bị những kẻ khác coi mình như súc vật, đang cần chúng ta tác động, trợ lực: - " Còn điều răn thứ hai, cũng giống như điều răn ấy là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" ( Mt 22, 39). Chúng ta có đang yêu thương anh em như Chúa dạy không? Hỏi để lương tâm mọi người chúng ta trả lời trước mặt Chúa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN HỌC TẬP
|