*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.379/27.11.08
=>So/No.378/20.11.08
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>So/No.377/13.11.08
=>So/No.376/06.11.08
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 



 =========================           =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


===============================================================
VietTUDAN ---------------------------------------------------------- LUC LUONG TON GIAO
===============================================================


============== CHÚ THÍCH ĐẦU: LƯU TRỮ NHỮNG BÀI ================

Trong Phần Phổ Biến Mỗi Ngày hoặc trong mỗi số VietTUDAN hàng Tuần, có những Bài muốn giữ lại lâu hơn nữa trong DIỄN ĐÀN này, chúng tôi sẽ chuyển sang Phần Lưu Trữ Tổng Quát hoặc sang các Phần có những Chủ Đề dưới đây:
   
                      *   VietTUDAN -- chu de Ton Giao/ subject Religion :
                                                CONG SAN & TON GIAO   
                                                CSVN & TON GIAO                         
                                                NHUNG VU DAN AP  
                                                PHAP LENH TON GIAO                                              
                                                NGOM GIAO GIAN        
                      *   VietTUDAN -- chu de Kinh Te/ subject Economy                
                                                THAT BAI KINH TE CHI HUY   
                                                TUONG QUAN KT/CHINH TRI        
                                                DOC TAI & THAM NHUNG         
                                                KT. TU DO THI TRUONG     
                                                WTO & NGOAI THUONG   
                                                TU HUU & DAN CHU             
                                                CACH MANG VO SAN MOI     
                      *   VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics   
                                                SUP DO THE GIOI CS              
                                                KET AN CS TAN NHAN    
                                                HO CHI MINH & CSVN     
                                                HO SO TOI AC CSVN        
                                                CA NHAN & CHINH TRI           
                                                THE CHE TU DO/DAN CHU    
                                                DAN CHU PHAP TRI       
                      *   VietTUDAN -- luu tru/ archives    

                (Xin xem cuối trang để biết bài giữ lại được chuyển vào Phần nào)
 
===============================================================




HAI GƯƠNG MẶT MỤC TỬ 
 
TRẦN DUY NHIÊN



Hôm nay, tôi không nhai đi nhai lại chuyện nhà đất. Tôi chỉ muốn nhìn vào chủ chăn và sứ mệnh các ngài. Tôi nhớ lại bài giảng của cha Vũ Khởi Phụng tại Dòng Chúa Cứu Thế Saigon, đêm 28-8-2008, trong thánh lễ hiệp thông cầu nguyện cho Tòa Khâm Sứ và Linh Địa Thái Hà. Ngài nói: “Mảnh đất là một biểu tượng, mảnh đất là một cái cớ, mảnh đất là một cơ hội, để đi tìm một cái gì khác”

Có lẽ câu nói đó đã làm cho ngài trở thành một người đáng nghi ngờ, vì đây không còn là vấn đề tranh chấp về một thửa đất, mà là một vấn đề lớn hơn, một vấn đề ‘chính trị’. Thực ra, ngài đã nói thay cho những người thấp cổ bé miệng, những người dân oan nhưng không còn tiếng nói. Và cũng có lẽ vì thế mà đúng một tháng sau, đêm 28-09-2008, những người hung hăng đã đến ‘cướp’ linh địa và thét lên ‘Giết Vũ Khởi Phụng - Giết Ngô Quang Kiệt!’.

Những biến cố này khiến tôi nhìn lại gương mặt của hai tổng giám mục tiêu biểu cho cùng một cách làm chứng. Dù hai vị khác nhau trên mọi phương diện - sống trong hai môi trường khác nhau, đối diện với các tình huống khác nhau, cách trả giá cũng khác nhau - thì hai vị đều có một mẫu số chung, ấy là làm chứng rằng: Thời đại này, Giáo Hội tiếp tục bị bách hại, không phải vì niềm tin của mình, mà vì Giáo hội bênh vực người nghèo khổ, người bị áp bức, chống lại những kẻ áp bức. Hai gương mặt ấy là TGM Ngô Quang Kiệt và TGM Oscar Romero.

Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. 

 Ngày 29-06-1999, cha Giuse Ngô Quang Kiệt được phong giám mục để phục vụ tại một giáo phận nghèo và hẻo lánh của tuyến đầu đất nước : Lạng sơn. Nơi đây,  đồng bào là những người dân quê hiền lành mộc mạc, đời sống rất khó khăn vì hậu quả của chiến tranh. Nước Việt Nam vốn đã chịu nhiều cảnh nghèo: dân nghèo, địa phương nghèo thì Giáo Hội ở đó cũng nghèo theo. 

Cùng hồi tưởng lại lời chia sẻ của ngài trong lời mở đầu của bài hội thảo tại Đại Hội Giáo Lý do Tổng Giáo Phận Los Angeles tổ chức và tân Tổng Giám Mục Hà Nội là diễn giả: ‘Tháng 10 năm 2000, tôi được hân hạnh tham dự đoàn hành hương Năm Thánh của một số Giám mục Việt nam. Trong dịp vào chầu Đức Thánh Cha, Đức Tổng Giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, bây giờ là Hồng Y đã giới thiệu tôi là một giám mục 3 không: không có toà giám mục, không có nhà thờ chính toà, không có linh mục tu sĩ. Và Đức Thánh Cha đã gọi tôi là ‘homeless bishop.’...  ‘Chỉ có một mình, nên tôi miệt mài rong ruổi. Hết xứ nọ sang xứ kia. Hết làng này sang làng khác. Ở trên xe nhiều hơn ở trong phòng. Ở trên đường nhiều hơn ở trong nhà. Trời đất là quê hương. Núi rừng là giáo phận. Đường là nhà. Xe là phòng. Cứ đi không ngừng…’

Vâng, vị Tông Đồ mục tử ấy, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, quê quán ở chính nơi được gọi về phục vụ như là vị mục tử ngày nào ‘không nhà’ ở Lạng Sơn. Ngài sinh ngày 4 tháng 9 năm 1952 tại Mỹ Sơn, Lạng Sơn. Được đào tạo tại Tiểu Chủng viện Têrêsa, thuộc giáo phận Long Xuyên rồi theo học tại Đại Chủng Viện Tôma, trong cùng giáo phận. Hoàn cảnh đất nước đổi thay, nhiều khó khăn cho các ơn gọi và tâm hồn ước ao tận hiến; nhưng với riêng ngài, tuân phục ơn Chúa dẫn đưa và lòng kiên trì theo đuổi, mùa hè năm 1991 ngài được chọn bước lên bàn thánh cử hành sứ vụ linh mục. Sau thời gian phục vụ tại Nhà Thờ Chính Toà Long Xuyên, ngài được theo học tại Institut Catholique de Paris, Pháp. 

Khi về nước, cũng tiếp tục phục vụ tại giáo phận nhà cho đến khi trở thành Giám mục coi sóc giáo phận quê quán mình. Tại đó, ngài đã chia sẻ với những giáo dân nghèo và lam lũ trong thân phận hẩm hiu với họ. Một giám mục phục vụ dân nghèo thì làm gì có mũ gậy quyền bính, nhưng là một ông từ quét dọn nhà thờ nghèo xơ xác, vừa làm ca trưởng và cũng vừa là giáo lý viên, và là linh mục cử hành các bí tích, mục vụ cho những người dân bản làng. Ấy thế mà ngài vẫn dành thì giờ để viết những loạt bài chia sẻ Tin Mừng hàng tuần, và cùng với một số linh mục anh em biên soạn sách vở, dịch thuật để giúp cho dân Chúa thêm lương thực cho đời sống đức tin. 

 Chạnh Lòng Thương - khẩu hiệu của Đức cha Giuse khi được gọi làm Giám Mục đã được ngài sống hết mình qua những thể hiện của những hy sinh chính bản thân mình. Bất kể thì giờ, mưa nắng, trong những năm tháng qua, ngài đã cùng với dân làng ở Lạng Sơn tìm kiếm lại khuôn mặt Đấng đã Chết và Sống Lại cho họ bấy lâu đã nhạt nhoà. Mà ở đó, theo ngài ‘…Biết bao tâm hồn thiện chí đang khao khát chờ đợi ta. Biết bao niềm tin câm lặng đang chờ dịp tỏ lộ. Biết bao nỗi mất mát đau thương chờ được thông cảm. Biết bao cảnh lầm than cơ cực chờ được nâng đỡ. Những tiếng mời gọi tha thiết nhưng rất âm thầm. Phải mở lòng ra mới nghe thấy. Phải mở trái tim ra mới hiểu được. Hôm nay tiếng Chúa vẫn vang lên qua những lời giáo huấn của Hội thánh. Tiếng Chúa vẫn mãnh liệt trong tâm hồn mỗi vị mục tử. Tiếng Chúa bàng bạc, âm thầm nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm tha thiết ‘Hãy ra khơi ...’ (Hội Thảo 20/2/2005, ĐHGL Los Angeles).

Tháng 5 năm 2003, bận rộn hơn vì nhiệm vụ mới, rong ruổi hơn khi ngài được gọi về phục vụ trong nhiệm vụ Giám Quản Tông Toà Hà Nội vì Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng đến tuổi về hưu. Rày đây - Lạng Sơn, mai đó - Hà Nội, bận rộn như con thoi chạy đi chạy về vì việc nhà Chúa và bổn phận. Hai năm sau, ngày Thứ Bảy 19-03-2005, đúng vào ngày lễ Quan Thầy Giuse, ngài được chính thức tấn phong Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nội. 

Dĩ nhiên, chức vụ tổng giám mục là do Đức Giáo Hoàng cắt đặt, nhưng chính quyền Hà Nội đã chấp nhận, nếu không nói là ‘chọn’ ngài; bởi vì trong hiện tình đất nước Việt Nam, không một giám mục nào có thể được cai quản giáo phận, nếu chính quyền sở tại không đồng ý. Có lẽ chính quyền Hà Nội cũng hy vọng ngài sẽ hợp tác để phục vụ ‘quyền lợi của nhân dân’ theo cách nghĩ và cách làm của những vị có chức có quyền tại đó. Một trong những lý do khiến họ an tâm, ấy là vì homeless bishop này chẳng màng gì đến toà nhà, đến đất đai, đến quyền lợi thế gian cả. Thế mà chỉ hai năm sau, ngài trở thành cây gai đâm vào cái ung của bộ máy chính quyền Hà-nội, và có nguy cơ làm vỡ tung một mụt nhọt từng làm cho người dân Hà Nội nói riêng, và nhân dân Việt Nam nói chung, nhức nhối trong một thời gian dài. Vâng! vị tổng giám mục ấy vẫn cứ đi không ngừng…

Con người ‘chạnh lòng thương’ ấy - một người khiêm nhường không bao giờ to tiếng với ai, một tổng giám mục mà mỗi lần nhấc điện thoại thì chỉ nói đơn sơ vỏn vẹn: ‘Kiệt đây!’ - người ấy đã khẳng khái trình bày lớn tiếng trước UBND thành phố Hà Nội một số câu mà mọi người hiểu như sau: Tôn giáo là quyền của chúng tôi! Chúng tôi không cần xin ai cả! Chúng tôi không tranh chấp đất đai với chính quyền, chúng tôi chỉ muốn lấy lại những gì thuộc về mình, mà bọn ‘ăn cướp’ đang tính bán đi để lấy tiền bỏ túi. 

Dĩ nhiên, đó là một cú bất ngờ nhất đối với chính quyền Hà Nội! Và đó cũng là những lời đem về cho ngài bản án tử hình. Dĩ nhiên, vào thời buổi này, giết ngài bằng một viên đạn thì không thể làm được, vì tình hình đã đổi thay.  Nhưng họ giết ngài bằng những phương tiện ‘hợp pháp’ như bôi nhọ trên truyền thông, đặt lộ liễu khắp nơi những máy móc để  ‘quản chế’ ngài, viết trên văn bản gửi Hội Đồng Giám Mục yêu cầu‘ thuyên chuyển  ra khỏi Giáo Phận Hà Nội’, v.v… 

Thời thế đã đổi thay! Hẳn những người ‘có quyền bán đất’ nuối tiếc thời 25-30 năm về trước, thời mà ai cản trở quyền lợi cá nhân mình thì chỉ cần chụp cho cái mũ ‘cấu kết với bọn phản động’, rồi bắn bỏ mà chẳng ai có thể làm gì mình! Thời mà chính quyền ở El Salvador đã giết tổng giám mục Oscar Romero.  


Tổng Giám Mục Oscar Romero.

Ngày 23-02-1977, Đức cha Oscar Arnulfo Romero được tấn phong tổng giám mục San Salvador. Những người trong chính quyền hoan nghênh quyết định này của Tòa thánh, nhưng các linh mục dấn thân lại e ngại vì ngài có tiếng là bảo thủ, và sợ rằng ngài sẽ ngăn chặn mọi sự dấn thân của họ để phục vụ cho quyền lợi của người nghèo. Thế nhưng, ngạc nhiên thay, không đầy một tháng sau, ngày 12 tháng 3, khi bạn của ngài là linh mục Rutilo Grande, một người đấu tranh cho người nghèo bị ám sát, ngài đã lên tiếng đòi buộc chính quyền của Arturo Armando Molina phải làm rõ vụ việc này, dù sau đó không ai đáp ứng lời kêu gọi của ngài.

Với tư cách là tổng giám mục, ngài hiểu rằng Giáo Hội là một cái gì đó cao hơn các phẩm trật, cả Rôma, các nhà thần học hay các giáo sĩ – nghĩa là một cái gì vượt lên trên mọi cơ chế. Cho đến một ngày kia, ngài cảm nghiệm rằng chính người dân là Giáo Hội. Ngài nói: “Thiên Chúa cần đến người dân để cứu lấy thế gian… Thế giới của người nghèo dạy chúng ta rằng giờ giải thoát đến chỉ khi nào người nghèo không còn ngửa tay ăn xin chính quyền và giáo hội, nhưng họ trở thành người làm và người chủ động trong cuộc chiến để giải thoát chính mình.”

Đức Cha Romero thấy mình bất lực vì không thể ngăn cản được bạo lực. Trong vòng một năm sau khi ngài được tấn phong, khoảng chừng 200 giáo lý viên và nông dân sống trên giáo phận ngài đã bị giết. Sau này, hơn 7,500 người Salvador sẽ bị giết, một triệu người rời bỏ quê hương để trốn thoát, và một triệu người khác luôn di cư để tránh các cuộc đụng độ - trên một đất nước có 5,5 triệu dân. Điều duy nhất mà cha Romero có thể đem đến cho dân chúng là những bài giảng hùng hồn của ngài, được phát thanh khắp nơi trên đất nước. Ngài trấn an họ, bảo rằng những điều ghê tởm kia sẽ phải chấm dứt, nhưng Giáo Hội của người nghèo, của chính họ, sẽ tiếp tục sống mãi. 

“Nếu một ngày nào họ tiêu diệt đài phát thanh của chúng ta… nếu họ không cho chúng ta lên tiếng, nếu họ giết hết mọi linh mục và giám mục, và anh chị em sẽ bơ vơ không còn có linh mục, thì mỗi anh chị em phải trở thành máy vi âm (microphone) của Thiên Chúa, mỗi một anh chị em phải trở thành ngôn sứ.”

Năm 1980, giữa trận cuồng phong của bạo lực, đức cha Romero viết thư cho tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter, yêu cầu ông đừng gửi viện trợ cho quân đội, bởi vì, theo lời ngài, ‘viện trợ ấy được dùng để đàn áp người dân nước tôi.’ Trong vòng 12 năm liên tục, Hoa kỳ vẫn tiếp tục gửi viện trợ cho San Salvador. Lá thư này bị chìm trong quên lãng. Hai tháng sau ngài bị ám sát.

Ngày 23-3-1980, đức cha Romero bước vào vùng lửa đạn. Ngài lớn tiếng gửi lời kêu gọi đến binh sĩ xuất thân từ thành phần nông dân, trong khi đó các tướng lãnh sợ hãi và căm ghét uy tín của ngài. Cuối bài giảng, được truyền thanh trên khắp nước, lời ngài vang lên: “Hỡi anh em, anh em xuất thân cùng tầng lớp với họ, anh em giết những nông dân bạn hữu mình… Không có một quân nhân nào buộc phải tuân hành một mệnh lệnh đi ngược lại với thánh ý của Thiên Chúa…”

Tiếng hoan hô vang lên như sấm nổ: ngài đã kêu gọi quân đội nổi dậy. Thế rồi ngài gào lên: “Nhân danh Thiên Chúa, nhân danh những người dân đau khổ, tôi yêu cầu anh em, tôi van nài anh em, tôi ra lệnh cho anh em nhân danh Thiên Chúa: hãy ngừng chiến dịch đàn áp này”.

Lời kêu gọi này đồng nghĩa với lời kêu gọi của Chúa Kitô: hãy chọn lựa người nghèo và bị áp bức. Và lời kêu gọi ấy cũng là lời nói đem đến bản án tử hình: ngày hôm sau, 24-3-1980, ngài bị ám sát ngay trên tòa giảng.

Trước ngày định mệnh đó không lâu, ngài đã nói với một ký giả: “Anh có thể nói với dân chúng rằng nếu họ (chính quyền) có giết được tôi, thì tôi tha thứ và chúc phúc cho những người giết tôi. May thay, họ sẽ ý thức rằng họ mất thì giờ vô ích. Một giám mục chết đi, nhưng Dân của Chúa, nghĩa là người dân đen, sẽ không bao giờ chết cả.”

Hai mươi tám năm rồi, kể từ ngày viên đạn kia kết thúc cuộc đời trần thế của ngài đúng như ngài dự kiến, thì ngài vẫn còn sống trong lòng dân tộc của ngài.  Lời xác tín của ngài đã trở thành hiện thực:

“Thế giới mà Giáo Hội phải phục vụ là thế giới của người nghèo. Giáo hội bị bách hại, ấy là hệ quả của việc bênh vực người nghèo. Mạng sống tôi đã bị đe dọa nhiều lần. Tôi cần phải tuyên xưng, với tư cách là Kitô hữu, rằng tôi không tin mình chết mà lại không phục sinh. Nếu họ giết tôi, tôi sẽ sống lại trong dân tộc Salvadore”

Trần Duy Nhiên, Saigon










ĐỨC TGM KIỆT NÓI ĐÚNG

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
28.09.2008


Trong bài đáp lời UBND Hà Nội, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói:

"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam... "

Ngài nói tiếp những lời để diễn tả những lý do tại sao Ngài có thể nói như vậy. Nhưng Báo Chí , Đài Thát Thanh và Đài Truyền Hình CSVN đã chỉ trích vỏn vẹn những lời trên đây mà không trích  những lời Ngài nói tiếp theo. Đây là việc thông tin với chủ ý hèn hạ mạ ly Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT. Đám Báo Đài bồi bút, bồi mõm CSVN đả ấu trĩ kết án Đức TGM KIỆT  là phản Quốc.

Nhiều người đã trích đoạn tiếp theo câu nói trên để cho công luận biết rằng đám bồi bút bồi mõm CSVN có đầu óc không ngay thẳng (Malhonnete) trong việc chỉ trích dẫn ra vỏn vẹn những lời nói trên của Đức TGM KIỆT. Không những chúng không còn lương tâm mà còn muốn độc giả, thính khán giả cũng trở thành thù địch với Đức TGM KIỆT.

Riêng tôi, tôi không cần phải trích những lời nói tiếp theo lời nói trên mà vẫn thấy rằng Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói hoàn toàn ĐÚNG về chế độ CSVN độc tài và tham nhũng. Tôi chỉ cần đọc vỏn vẹn những lời nói trên đây, không cần đọc những câu tiếp cắt nghĩa của Ngài, cũng thấy Đức TGM KIỆT nói rất ĐÚNG.

HAI CÂU NÓI,
HAI KẾT LUẬN KHÁC HẲN NHAU

Hãy phân biệt hai câu nói sau đây:

Câu nói thứ nhất:
"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam"

Câu nói thứ hai:
"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi mang cái Quốc tịch Việt Nam"

Câu nói thứ hai này giống nghĩa với câu: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi thấy mình là Người Việt Nam“

Nếu Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói ra những lời theo Câu nói thứ hai này, thì tôi kết luận liền rằng Ngài là người phản Quốc, mất gốc, cho dù suốt đời Ngài viết hàng trăm ngàn trang để cắt nghĩa câu nói vừa thoát ra.

Thực vậy, về phương diện ý nghĩa Câu nói thứ hai này, tôi đã thẳng thắn công kích ngay cả một số bạn bè Việt Nam. Có những người bạn cùng học bên này, khi vào Bar ban đêm gặp gái, thường tuyên bố mình là người Nhật... Tôi đã thẳng thắn la lên rằng không được chối bỏ Quốc tịch, cái gốc của mình như vậy. Sinh ra, mang Quốc tịch Việt Nam, gốc Người Việt Nam, dù xứ mình nghèo khổ, mình cũng phải luôn luôn hãnh diện mình là Người Việt Nam, Quốc tịch Việt Nam.

Tôi rời Việt Nam năm 1965 và sống tại Thụy sĩ đã trên 40 năm, nhưng tôi nhất định không vào bất cứ một Quốc tịch nước khác. Một lần nói chuyện với một người cao cấp của Sứ Quan VN bên cạnh Liên Hiệp Quốc. Oâng hỏi tôi đã vào Quốc tịch Thụy sĩ chưa sau những chục năm ở đây. Tôi trả lời là tôi không vào Quốc tịch Thụy sĩ hay bất cứ một Quốc tịch nào khác. Oâng nói: “Nếu Oâng vào Quốc tịch nước khác thì nhà nước XHCN Việt Nam vẩn KỂ Oâng là NGƯỜI Việt Nam“. Câu nói ấy đã làm tôi xùng vô cùng và tôi đã chửi thẳng vào mặt ông ta: “Điều quan trọng là tôi KỂ tôi là NGƯỜI Việt Nam, chứ không phải chế độ CSVN kể tôi là người Việt Nam.“. Thực vậy, dù chế độ CSVN không kể tôi là người Việt Nam, thì tôi vẫn là người Việt Nam.

Vì vậy, nếu Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói rằng Ngài nhục nhã là NGƯỜI Việt Nam hay nhục nhã mang QUỐC TỊCH Việt Nam, thì tôi không cần phải nghe những cắt nghĩa tiếp theo nữa, mà kết luận ngay rằng Ngài là người phản Quốc, mất gốc.

Nhưng Đức TGM đã suy nghĩ chín chắn và hoàn toàn sáng suốt khi nói Câu thứ nhất: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam"

Báo Đài CSVN đã trích câu này ra để tuyên truyền kết luận mạ lỵ Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT theo ý nghĩa Câu thứ hai mà Ngài không bao giờ nói. Câu thứ hai là:
"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi mang cái Quốc tịch Việt Nam"
hoặc:
"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi thấy mình là Người Việt Nam“

Như vậy Báo Đài CSVN đã chủ trương làm hai điều vô lương tâm: (1) Chỉ trích dẫn vỏn vẹn Câu thứ nhất mà không trích những lời nói tiếp để cắt nghĩa tại sao nói như vậy; (2) Tuyên truyền và kết luận mạ lỵ Đức TGM KIỆT theo ý nghĩa Câu nói thứ hai mà Ngài đã sáng suốt không bao giờ nói.

CSVN KHÔNG PHẢI LÀ
NƯỚC VN VÀ DÂN TỘC VN

Có một cựu sinh viên tại Thụy sĩ, muốn làm ăn với CSVN, nên ăn cắp lá thư của tôi để gửi về Bộ Nội Vụ CSVN để mách lẻo. Một người thuộc Bô Nôi Vụ đã lấy được thư đó và gửi ngược lại Thụy sĩ cho tôi. Tôi đã viết thẳng cho Bộ Nội Vụ rằng muốn có thông tin về tôi, thì hỏi thẳng tôi để tôi trả lời trực tiếp cho đúng sự thực, chứ đừng hỏi  qua những kẻ muốn mách lẻo để lấy điểm, bịa đặt không trúng sự thực.

Đồng thời tôi cũng phân biệt cho CSVN biết rằng CSVN không phải là NƯỚC Việt Nam và không phải là DÂN TỘC Việt Nam. Tôi lấy tỉ dụ sau đây:

NƯỚC Việt Nam và DÂN TỘC Việt Nam ví như dòng sông triền miên chảy từ đời này sang đời kia và còn mãi mãi. Chính trị trên đất NƯỚC Việt Nam và đối với DÂN TỘC Việt Nam chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước sông. Những gợn sóng lăn tăn khi ẩn khi hiện. Chủ nghĩa Cộng sản là thể chế Chính trị lúc này nhô lên, nhưng rồi lặn xuống như gợn sóng. Vì vậy không thể coi gợn sóng lăn tăn, Chính trị CSVN, là dòng nước sông triền miên chảy của DÂN TỘC Việt Nam và của NƯỚC Việt Nam.

Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT không bao giờ nói Ngài nhục nhã vì Quốc tịch Việt Nam, vì Nước Việt Nam, nghĩa là vì dòng nước sông DÂN TỘC và NƯỚC Việt Nam chảy triền miên. Nhưng Ngài cảm thấy nhục nhã cho Chính trị CSVN, một gợn sóng lăn tăn mà tự coi mình là dòng nước sông để bắt NƯỚC Việt Nam chịu cảnh kém phát triển, bắt DÂN TỘC Việt Nam sống trong độc tài theo lệnh của đảng CSVN.

Chính vì coi đảng CSVN, coi Chính trị XHCN là NƯỚC VN, là DÂN TỘC VN, nên Báo Đài CSVN kết án Đức TGM KIỆT là phản Quốc, phản Dân tộc, trong khi ấy Ngài chỉ cảm thấy nhục nhã vì gợn sóng thể chế Chính trị CSVN.

Thực vậy, nếu chỉ có vỏn vẹn Câu nói thứ nhất: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam" mà không cần nói tiếp, thì Báo Đài CSVN cũng không thể nào kết luận được Đức TGM KIỆT là phản Quốc được.

Chính trị quy định quyền hạn xử dụng, được phép đi lại hàm chứa trong HỘ CHIẾU. Cũng vậy, những nước khác, tùy sự giao hảo, chấp nhận thể chế Chính trị hiện hành của một nước, mà cho phép người cầm HỘ CHIẾU nhập cảnh hay không và cư ngụ được bao lâu. Người cầm cái HỘ CHIẾU không khổ tâm vì mình là NGƯỜI Việt Nam, nhưng nhục nhã là phải ràng buộc cực khổ đối với những quy định kềm kẹp từ thể chế Chính trị CSVN cấp phát Hộ Chiếu ấy, rồi chịu những ràng buộc Chính trị, Ngoại giao từ những nước mà mình xin nhập cảnh. Nếu có nước không chấp nhận cho người mang Hộ Chiếu CSVN hiện hành vào nước mình, không phải là vì lý do người ấy gốc là Dân Tộc Việt Nam, mà là vì người ấy mang Hộ Chiếu của một thể chế Chính trị mà nước đó không chấp nhận.

Tôi xin trưng dẫn ra những tỉ dụ cụ thể. Trước đây, Giám mục NGUYỄN SƠN LÂM là Giám mục dưới chế độ CSVN và là Giám mục đầu tiên sang được Hoa kỳ. Tôi quen biết Giám mục NGUYỄN SƠN LÂM vì là người cùng làng ở Miền Bắc. Giám mục mang HỘ CHIẾU CSVN và chỉ sang được Vatican, Pháp và Thụy sĩ. Khi Giám mục LÂM sang Geneva và tôi có gặp. Giám mục tỏ ý muốn qua Hoa ky,ø nhưng theo HỘ CHIẾU mà Giám mục đang cầm, thì Giám mục không được phép của Bộ Nội Vụ cho đi Mỹ. Giám mục biết tôi quen Oâng Tổng Lãnh sự NGUYỄN NGỌC LƯƠNG nên ngỏ ý xem tôi có lo liệu được cho Giám mục có phép từ Geneva đi Mỹ không. Oâng NGUYỄN NGỌC LƯƠNG đã ghi thêm vào HỘ CHIẾU là cho phép Giám mục đi Hoa kỳ. Giám mục LÂM, do đó là Giám mục VN đầu tiên đi Mỹ.

Tỉ dụ này cho thấy việc mang HỘ CHIẾU là sự ràng buộc vào một thể chế Chính trị.

Vì vậy, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT khi nói rằng Ngài nhục nhã khi cầm cái HỘ CHIẾU là nói rằng Ngài nhục nhã cho cái thể chế Chính trị đã cấp HỘ CHIẾU cho Ngài với tất cả ràng buộc độc tài. Là Công dân một nước, Ngài có quyền bầy tỏ quan điểm đối với một thể chế Chính trị được coi như một gợn sóng lăn tăn trên dòng nước sông chảy triền miên của DÂN TỘC, của NƯỚC Việt Nam. Ngài không phản lại DÂN TỘC và NƯỚC Việt Nam. Nhưng Ngài có quyền ưng theo hay phủ nhận thể chế Chính trị đang có ở NƯỚC VN và đang cai trị DÂN TỘC VN.

Chính tôi, cho dù CSVN cấp phát cho tôi HỘ CHIẾU, nhưng tôi xé bỏ nó và dục thùng rác, tôi thách những tên Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng nói tôi là phản quốc, mất gốc, phản lại DÂN TỘC mà tôi đang cố thủ giữ lấy Quốc tịch Việt Nam. Ngược lại, tôi thẳng thắn nói rằng những tên Hồ Chính Minh, Phạm Văn Đồng và cả bọn CSVN hiện nay là phản Quốc, phản bội lại Tổ Tiên vì chúng đã ký bán Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung quốc.
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



TIẾP TỤC YÊU CẦU ĐƯA CSVN
VÀO DANH SÁCH CPC


Ủy Ban Hoa Kỳ Đặc Trách Tự Do Tôn Giáo Tiếp Tục Yêu Cầu Đưa CSVN Vào Danh Sách CPC
 
(Hoa Thịnh Đốn - VNN) Hôm 25-8, Ủy Ban Hoa Kỳ đặc trách vấn đề tự do tôn giáo quốc tế một lần nữa đã lên tiếng yêu cầu Hoa Kỳ ghi tên Việt Nam trở lại danh sách đen của các nước vi phạm quyền tự do tôn giáo. Trong một phúc trình đề cập về "Trọng Điểm Chính Sách về Việt Nam" vừa công bố hôm 25-8, đã ghi nhận những sự kiện Ủy Ban tìm hiểu được trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 2007, đã nêu rõ những hành động quấy nhiễu, bắt giữ và tù đầy của nhà cầm quyền CSVN nhắm vào cá nhân và lãnh tụ các giáo hội tôn giáo VN trong nước.

Theo bản thông cáo báo chí của Ủy Ban, trước những vi phạm nghiêm trọng và rộng lớn vào quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam, Ủy Ban kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đặt Việt Nam trở lại vào danh sách các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt (CPC) theo các điều khoản đề ra trong đạo luật về tự do tôn giáo quốc tế được thông qua năm 1998.

Theo Chủ tịch Ủy ban, bà Felice Gaer, chính phủ Hoa Kỳ vẫn cần tạo áp lực buộc các nhà lãnh đạo CSVN thực hiện những cải thiện cấp thời nhằm chấm dứt những vụ vi phạm quyền tự do tôn giáo, nới lỏng những hạn chế và trả tự do cho những người bị giam giữ.

Ủy Ban nhận thấy các điều kiện về tự do tôn giáo tại Việt Nam vẫn trong tình trạng xấu tốt lẫn lộn, trong có tình trạng cải thiện dành cho vài cộng đồng tôn giáo này nhưng lại không được thực hiện cho một số cộng đồng tôn giáo khác, có tiến bộ tại vài tỉnh này, nhưng không có gì thay đổi ở vài tỉnh kia, luật lệ được cải tổ trên tầm mức quốc gia nhưng lại không được thực thi toàn diện hoặc bị làm ngơ ở địa phương, và vẫn còn quá nhiều những vụ vi phạm và hạn chế đối với quyền tự do tôn giáo, ảnh hưởng phần lớn tới các cộng đồng tôn giáo khác biệt tại Việt Nam.

Theo bản thông cáo báo chí, tuy có một vài thay đổi quan trọng đã được thực hiện,  tuy nhiên trước nhịp độ cải cách thiếu đồng đều và trước tình trạng nhà cầm quyền CSVN vẫn tiếp tục bắt giữ tín đồ các tôn giáo, ủy ban một lần nữa lại khuyến cáo chính phủ Hoa Kỳ coi Việt Nam như một quốc gia đáng quan tâm đặc biệt. Ủy Ban đã nêu danh nhiều tù nhân đang còn bị giam giữ, cũng như xác định rõ những chủ trương có tính cách hạn chế và lạm dụng quyền hành của chính phủ CSVN.

Trong chuyến viếng thăm Việt Nam năm 2007, Ủy ban đã gặp hai nhân vật tích cực tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo là Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tại một nhà tù ở Hà Nội. Tháng 3 năm 2007, hai nhân vật vừa kể nằm trong số những người đầu tiên bị bắt giữ và bị kết những án tù dài hạn trong chiến dịch thanh trừng rộng lớn của chính phủ nhắm vào những người tranh đấu cho dân chủ, tự do ngôn luận và nhân quyền tại Việt Nam.

Trường hợp của ông Nguyễn Văn Đài và bà Lê Thị Công Nhân nằm trong số nhiều vụ khác được nêu rõ tên tuổi trong tập phúc trình về chính sách của Việt Nam.

Ngoài ra, Ủy Ban Hoa Kỳ đặc trách tự do tôn giáo quốc tế cũng đề cập đến những hoạt động của các tổ chức tôn giáo của người dân tộc thiểu số, như các tổ chức Tin Lành của người Thượng, người Hmong, thường bị nhà yền CSVN hạn chế khắt khe. Nhiều người bị những hình phạt hành chánh dài hạn thuộc Giáo Hội Thiên Chúa Giáo và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, trong có Hòa Thượng Thích Quảng Độ và Linh Mục Phan Văn Lợi, cùng nhiều tù nhân lương tri khác của các cộng đồng tôn giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Phật Giáo Khmer vẫn còn bị quản chế vì tội tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo.

Chủ Tịch Ủy Ban cho biết, việc cải thiện điều kiện cho một số người hay một số tổ chức chỉ nhấn mạnh thêm đến tình trạng không thể tha thứ được đối với những vụ áp bức vẫn liên tục tiếp diễn đối với một số khác, và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ không nên giảm nhẹ việc liệt kê Việt Nam vào thành phần các nước vi phạm nghiêm trọng cho tới khi nào chính phủ Việt Nam chứng tỏ có sự cam kết trên khắp nước và không phân biệt đối xử về việc tôn trọng tự do tôn giáo và nhân quyền đối với mọi người. 




WYD2008: NHỮNG CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ

Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008:
Những Chặng Đàng Thánh Giá

Thanh Hà
Sydney - Úc Châu



Dưới ánh nắng rực rỡ mùa Đông của ngày thứ Sáu cuối tuần, các bạn trẻ hành hương đến từ nhiều quốc gia trên thế giới giương cao những mầu cờ tung bay phất phới tiến về 8 địa điểm chính trong thành phố Sydney: St Mary’s Cathedral, Domain, Sydney Opera House, Barangaroo, Darling Harbour, Farm Cove, Circular Quay, Cresent Precint. Đây là một trong những nghi lễ chính của Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008, giúp các bạn suy ngẫm về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu được hoạt cảnh lại thật cảm động qua 13 chặng Đàng Thánh Giá.

Sydney như trẩy hội, khắp các đại lộ chính trong thành phố hình ảnh những lá cờ vàng ba sọc đỏ được các bạn trẻ Việt Nam và đồng hương giương cao, màu Cờ Vàng nổi bật trên nền trời xanh biếc hòa lẫn với các màu cờ đến từ Âu Châu như Ý, Tây Ban Nha và các đảo chung quanh Úc như New Zealand, Tonga, Fiji. Đẹp vô cùng.

Số lượng người tham dự lên đến 500,000 người nên không thể dễ dàng di chuyển đến từng chặng Đàng Thánh Giá, vì thế tại mỗi địa điểm có các màn ảnh đại vĩ tuyến thâu trực tiếp các hoạt cảnh cuộc tử nạn của Chúa Giêsu giúp khách hành hương tham dự một cách sốt sắng.

Đúng 3:00PM từ Nhà Thờ Chánh Toà Saint Mary, Đức Thánh Cha Benedicto XVI đọc lời nguyện khởi đầu chặng Đàng Thứ Nhất: Bữa Tiệc Ly. Sau đó, Đức Thánh Cha tham dự những chặng Đàng Thánh Giá kế tiếp qua màn ảnh truyền hình tại hầm mộ Nhà Thờ Chánh Toà.

Chàng thanh niên đẹp trai Alfio Stuto 27 tuổi cư ngụ tại Sydney trong vai Chúa Giêsu cùng với khoảng 100 diễn viên từ khắp nơi trên thế giới đã tham dự diễn xuất trong suốt 13 chặng Đàng Thánh Giá. Bản thân Alfio Stuto đã rất hồi hộp chờ đợi vì đây là lần đầu tiên trong cuộc đời anh, do ơn Chúa giúp, anh đã diễn lại thật xuất sắc khi Chúa bị các quân dữ tra tấn, vác Thánh Giá, đóng đinh và chết trên Thập Tự Giá.

Cao điểm là hai chặng Đàng Thánh Giá Thứ Mười Hai và Thứ Mười Ba khi: Chúa Giêsu bị đóng đinh trên Thập Giá và Tháo xác Chúa Giêsu khỏi Thập Giá tại Barangaroo.

Các bạn trẻ thật xúc động suy ngẫm 13 chặng Đàng Thánh Giá và đều cảm nhận được Tình Yêu Thương Bao La của Thiên Chúa dành cho chúng ta mỗi ngày trong cuộc sống.

Sau nghi lễ Chặng Đàng Thánh Giá chấm dứt vào lúc 6:00PM, chúng tôi rời địa điểm Domain đi về hướng Barangaroo tham dự tiết mục Thánh Nhạc ở ngoài trời khai mạc từ 7:00PM với chủ đề “Receive the Power” tạm dịch là “Lãnh Nhận Ơn Thánh Linh”. Trên đoạn đường dài hơn 4kms có dịp gặp gỡ rất nhiều các bạn trẻ từ các nước. Chúng tôi chào hỏi nhau vui vẻ với số vốn liếng ngoại ngữ ít nhiều của mỗi người. Các bạn đến từ Đức, Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam, v.v... nhanh nhẹn chạy đến làm quen qua tiếng chào “Hello bạn Việt Nam” khi các bạn nhìn thấy những lá Cờ Vàng tung bay ngạo nghễ. Cảm động hơn nữa khi gặp các đồng hương, các bạn trẻ Việt Nam từ các tiểu bang khác, nhìn thấy màu Cờ Vàng linh hồn của Dân Tộc, đã mừng rỡ ôm chầm lấy và xin chụp chung những tấm hình lưu niệm.

Chương trình Thánh Nhạc khai mạc thật tuyệt diệu qua sự điều hợp chia sẻ Lời Chúa từ nhiều vị diễn giả như Đức Giám Mục Joe Grech, ông John Pridmore, bạn trẻ Sam Clear, Matt Maher & Band, v.v... Bản nhạc “Receive the Power” viết bởi Guy Sebastian và Gary Pinto được chọn cho Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008 và được phiên dịch qua 4 ngôn ngữ: Anh, Ý, Tây Ban Nha và Pháp. Chúng tôi ca hát nhảy nhót, thời gian trôi qua quá nhanh.

Buổi ca nhạc chấm dứt vào lúc 10:00 PM, thành phố dường như bắt đầu bước vào giấc ngủ. Mọi người ra về ai cũng hân hoan, thể hiện trên khuôn mặt ánh mắt của từng người. Các bạn trẻ Việt Nam tại Úc Châu và khắp nơi trên thế giới luôn:
“...Ngước cao nhìn Cờ Vàng cho rõ.
Tổ Quốc tôi còn đó.
Đang ngạo nghễ tung bay....”
Thơ Hoàng Phong Linh

Chúc các bạn ngủ ngon và xin hẹn gặp lại
Thanh Hà
Sydney - Úc Châu








THƯ CẢM TẠ CỦA CỘNG ĐỒNG ÚC CHÂU

THƯ CẢM TẠ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO LIÊN BANG ÚC CHÂU VÀ CỘNG ĐỒNG NSW VỀ ĐẠI HỘI GIỚI TRẺ THẾ GIỚI NĂM 2008 TẠI SYDNEY
 

Cuộc diễn hành để vinh danh Cờ Vàng do Cộng Đồng Người Việt Tự Do tổ chức vào ngày Chủ nhật 20 tháng 7 năm 2008 nhân Thánh Lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới năm 2008 tại Sydney đã thành công rực rỡ và tốt đẹp với hơn 4000 đồng hương tham dự, cộng với hơn 3000 thanh niên Công Giáo Việt Nam tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới đã có mặt sẵn bên trong địa điểm hành lễ.

Sự hiện diện khắp nơi của Cờ Vàng trong ngày Thánh Lễ Bế Mạc, kết quả của sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả giữa CĐNVTD và CĐ Công Giáo VN/NSW, đã gây được sự chú ý đặc biệt đối vối công chúng Úc và khách hành hương trên toàn thế giới. Hình ảnh Lá Cờ Vàng đã được các cơ quan truyền thông Úc cũng như quốc tế phổ biến rộng rãi.

Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu và Tiểu bang NSW xin chân thành cảm tạ quý vị đại diện các hội đoàn đoàn thể, quý vị đại diện truyền thông và toàn thể quý đồng hương đã tích cực hưởng ứng, giúp phổ biến và tham dự buổi  Biểu Dương Cờ Vàng khiến cho lá cờ thiêng liêng của người Việt  chúng ta,  biểu tượng cho khát vọng tự do, dân chủ và nhân bản của dân tộc VN, đã hãnh diện tung bay khắp nơi từ lúc khai mạc cho đến  ngày Thánh Lễ Bế Mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008.

Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu và Tiểu bang NSW đặc biệt cảm ơn Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Sydney và ban tổ chức WYD4VN, trong suốt mấy năm qua đã âm thầm làm việc, chuẩn bị thật chu đáo để Lá Cờ Vàng được vinh danh một cách trang trọng trong các chương trình và thánh lễ chính của Đại Hội. Hình ảnh Lá Cờ Vàng tung bay cùng với 169 lá cờ các Quốc Gia bạn trong Thánh Lễ Khai Mạc, và Đức Giáo Hoàng làm phép Lá Cờ Vàng và choàng lên vai của Ngài do một bạn trẻ trong Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Sydney trao tặng đã là những hình ảnh lịch sử tuyệt vời.

Đây là một biến cố đáng ghi nhớ của người Việt yêu chuộng tự do trong cũng như ngoài nước chống lại chủ nghĩa Cộng sản và bạo quyền CSVN.  

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ và ghi nhận vô số những điện thư và thông điệp khích lệ và cổ vũ tinh thần mà các cộng đồng, tổ chức, truyền thông và đồng bào VN trên toàn thế giới đã gởi đến cho Cộng Đồng Người Việt Tự Do và Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Úc châu trong những ngày qua.   

Sau cùng, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu và Tiểu bang NSW xin tỏ lòng ngưỡng mộ và cảm ơn đến tất cả các bạn trẻ Việt-Nam từ mọi nơi trên thế giới đã đến Sydney tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008. Hình ảnh các bạn vinh danh Lá Cờ Vàng đã làm cho người Việt khắp nơi vui mừng và hãnh diện. Các bạn là niềm tự hào của dân tộc Việt-Nam, xứng đáng là dòng dõi Con Rồng Cháu Tiên tiêu biểu cho tất cả giới trẻ Việt Nam tại hải ngoại cũng như quốc nội.

Úc Châu, ngày 22 tháng 7 năm 2008
TM/CĐ/NVTD/ LBUC     
NguyễnThếPhong    
Chủ tịch                                                                                                            
TM/CĐ/NVTD/ NSW                                                             
Ls. Võ Trí Dũng
Chủ tịch                                                                                   




THÔNG ĐIỆP CỜ VÀNG

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất



     Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo Thế Giới WYD2008 đã bế mạc. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã trở về Roma. Các giám mục, linh mục đã rời về nhiệm sở. Các bạn trẻ và những người tham dự cũng đã giã biệt bạn bè để về với gia đình. Thành phố cảng Sydney của nước Úc với 2 công trình nổi bật là cây cầu Harbor và hí viện Opera House bắt đầu lại cuộc sống bình thường của nó. Mọi người từ phương xa tới đã rời Sydney với một dấu ấn khó quên về ngày Giới Trẻ WYD2008. Riêng người Việt Nam, bất kể từ trong nước ra hay từ thập phương tới, có thể nói tất cả khi trở về đều mang theo hình ảnh lá Cờ Vàng 3 sọc đỏ thân thương. Không biết ở đâu mà nhiều cờ đến thế. Cả một rừng cờ, toàn cờ là cờ. Không chỗ nào không có bóng dáng lá Cờ Vàng 3 sọc đỏ. Sự thể trái hẳn với những kỳ Đại Hội WYD trước, cũng có các bạn trẻ VN tham dự, nhưng chỉ với một vài lá cờ tương đối nhỏ tượng trưng. Hiển nhiên là nếu không có lá thư khiêu khích của HY Phạm Minh Mẫn thì đã không có hiện tưọng “rừng cờ” tại WYD Sydney. Kinh nghiệm cho thấy tinh thần chống cộng của cộng đồng tỵ nạn VN trên toàn thế giới rất cao và rất kiên cường. Cái cộng đồng này mỗi khi bị chọc tức thì nó phản ứng rất mãnh liệt không ai cản nổi. Đặc biệt lần này sự phản ứng bùng lên từ giới trẻ là những ngưòi có thể nói đa số không có kinh nghiệm bản thân về CS. “Biến cố Cờ Vàng” tại Đại Hội Giới Trẻ CG tại Sydney như vậy rõ ràng là một Thông Điệp trả lời cho HY Phạm Minh Mẫn, đặc biệt là trên hai điểm qui kết tàn nhẫn và ác độc nhất trong lá thư của ông: Cờ Vàng là một thói đời mang tính đối kháng và nó là nguyên nhân làm tắc nghẽn sự hiệp thông của tuổi trẻ VN trên thế giới.

Sự thật tại Sydney đã trả lời như thế nào?

Thứ nhất, lá Cờ Vàng không phải là một thói đời mang tính  đối kháng.

1/   Lá Cờ Vàng 3 sọc đỏ tại WYD2008 chắc chắn đã bị ban tổ chức (BTC) đại hội cấm không cho xuất hiện và nó đã bị cả nửa triệu tham dự viên tẩy chay nếu nó là biểu tượng của một lối sống, hoặc một thói đời mang nặng thù hận và đối kháng như HY Phạm Minh Mẫn tố cáo. Suốt thời gian đại hội, người ta không hề thấy BTC hoặc bất cứ ai lên tiếng phê bình hoặc dị nghi về tính chất của lá Cờ Vàng. Do đó lời tố cáo của HY Mẫn là sai sự thực và có ác ý. Mục đích và đặc tính của đại hội là thương yêu chứ không phải thù hận, là hiệp thông chứ không phải đối kháng. Lá Cờ Vàng đã đáp ứng những yêu cầu cho mục đích của đại hội nên nó đã hiên ngang và được tự do xuất hiện trong suốt thời gian đại hội không bị ai cấm cản. Giả sử một thí dụ phản chứng như sau: có một đoàn thanh thiếu niên người Đức thuộc thành phần thanh niên đầu trọc (skinhead) mang lá cờ chữ Vạn của Đức Quốc Xã tói Sydney tham dự Đại Hội WYD thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Tôi tin chắc nửa triệu tham dự viên của đại hội sẽ nhất định có phản ứng. Họ dứt khoát sẽ không đứng chung với lá cờ của Hitler đã một thời thực sự mang tính đối kháng với mọi dân tộc trên thế giới. Và tôi cũng dám khẳng định BTC Đại Hội và ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng không không chấp nhận sự hiện diện của lá cờ này vì nó đã gây chết chóc cho hàng triệu sinh linh, làm điêu đứng hầu như cả thế giới, mặc dù lá cờ này đã có một giai đoạn là lá cờ tổ quốc của nước Đức của Ngài. Đấy mới là lá cờ mang tính đối kháng thực sự.

2/   Việc Đức Thánh Cha ưu ái làm phép lá Cờ Vàng và tự tay choàng nó lên cổ Ngài rõ ràng là một sự phủ định lời tố cáo của HY Phạm Minh Mẫn: lá Cờ Vàng là một thói đời mang tính đối kháng. Nếu lá Cờ Vàng biểu tượng cho một cái gì đó xấu xa mang tính phá hoại như HY Mẫn tố cáo thì chắc chắn Đức Thánh Cha đã không bầy tỏ cảm tình ưu ái đó đối với nó. HY Mẫn hay có ai đó nghĩ rằng Giáo Hoàng không biết? Xin thưa, Đức Thánh Cha là một bậc trí thức uyên thâm, hơn nữa Ngài là con dân của nước Đức, một đất nước cũng bị chia cắt vì CS như VN. Ngài không thể không biết, trái lại Ngài biết rõ hơn ai hết ý nghĩa mà lá Cờ Vàng biểu tượng. Có ai đó cứ thử đem lá cờ của chế độ CS Đông Đức cũ cho Giáo Hoàng xem Ngài có ưu ái nó như lá Cờ Vàng không? Tôi tin là không bao giờ.

Thứ hai, lá Cờ Vàng không hề làm tắc nghẽn sự hiệp thông của tuổi trẻ VN.

1/   Vì có lá thư của HY Phạm Minh Mẫn nên việc báo chí theo dõi các biến cố liên quan đến lá Cờ Vàng, đặc biệt là báo chí tiếng Việt, trở thành điểm nóng của Đại Hội WYD2008. Tuyệt nhiên không có một lá cờ máu nào xuất hiện trong đại hội, mặc dầu người ta thấy bọn CSVN đã có những nỗ lực đáng kể để trương lá cờ đỏ của chúng lên trong đại hội. Trái lại tại khắp nơi trong suốt đại hội, người ta chỉ thấy lá Cờ Vàng. Thế nhưng tuyệt nhiên đã không có xẩy ra sự phân cách nào giữa các bạn trẻ trong nước và ngoài nước. Tất cả các em gặp nhau như anh chị em một nhà, rất thân tình và rất hòa ái. Tất cả các bạn trẻ trong nước tham dự đại hội đều được đồng hương tỵ nạn đón tiếp tận tình và chu đáo. Tại đại hội này như thế và tại các đại hội trước cũng như thế cả. Hoàn toàn không có chuyện gọi là tắc nghẽn hiệp thông vì lá Cờ Vàng như HY Mẫn cáo buộc. Nếu có chuyện gì xẩy ra làm tắc nghẽn sự hiệp thông giữa trong nước và hải ngoại, việc đó chắc chắn không qua mắt nổi giới báo chí, nhất là báo không phải là tiếng Việt. Như thế lời cáo buộc của HY Mẫn rõ ràng là một lời gian dối. Một người quyền cao chức trong và có uy tín như HY Mẫn không thể ăn nói hàm hồ, hẳn là phải có mưu đồ gì?

2/   Hơn thế nữa có mấy vị linh mục từ trong nước ra còn choàng lá Cờ Vàng trên mình để chụp hình. Các vị này tỏ vẻ hân hoan và vui sướng nhìn thấy lá Cờ Vàng như gặp lại người thân. Các vị không sợ bị làm khó dễ khi trở về như một vài người lên tiếng lo ngại. Điều đó một mặt chứng tỏ tính “chính danh và chính thống” của lá Cờ Vàng đối với mọi người có tên là Việt Nam, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, một mặt cho thấy người dân trong nước đã vượt qua được sự sợ hãi đối với chế độ CS tàn bạo.

     Ở đây tưởng cũng nên khen bọn VGCS một phát. Nói vậy xin đừng có ai vội đội nón cối cho tôi kẻo tội lắm. Tin tức cho biết có tới khoảng 60 tên công an tôn giáo trà trộn trong đoàn người trong nước sang Úc tham dự Đại Hội WYD. Bọn này phối hợp với tòa lãnh sự CS cố gắng để trương cho được ít nữa vài lá cờ máu trong đại hội nhưng đã thất bại. Chúng thất bái không phải vì chúng không làm nổi, mà vì chúng biết dừng lại ở chỗ cần phải dừng. Khen là khen ở chỗ đó. Nếu chúng giương lá cờ máu lên thì cứ cầm chắc rằng sẽ có chuyện gì xẩy ra. Chuyện xẩy ra sẽ bị cảnh sát Úc can thiệp và báo chí sẽ làm rùm beng lên. Người giương lá cờ máu nếu là một em trong đoàn thanh thiếu niên CG hẳn em sẽ khai ra do kẻ nào xúi bẩy. Còn nếu người giương cờ máu là một tên công an chính hiệu con nai vàng ngơ ngác thì liệu hắn có giám chối “lậy ông con KHÔNG ở bụi này” không. Cuối cùng thì đàng nào cái đuôi kẻ phá thối cũng sẽ phải lòi ra. Bọn VGCS biết dừng tay là đúng. Chịu thua thiệt một chút còn hơn là bị mang tiếng xấu phá hoại.

     “Biến cố Cờ Vàng” còn mang ý là một thông điệp gởi cho Hội Đồng Giám Mục VN (HĐGMVN) và luôn cả bọn đầu lãnh Hànội nữa.

*    Với HĐGMVN, qua đường lối xưa nay của HĐGM và nhất là qua hành động của HY Phạm Minh Mẫn lần này, GHVN chứng tỏ đang đứng về phe kẻ thù của của Dân Tộc và của chính mình. GH đang đứng bên lề dòng sinh mệnh của Dân Tộc chứ không phải đồng hành cùng Dân Tộc như chủ trương mà HĐGM vẫn rêu rao. GH đã trở thành một thứ “chó câm” trước các bất công xã hội và sự vô luân của cường quyền. Đường lối đối thoại với CS của HĐGM đã tỏ ra phá sản. GH dựa vào cường quyền chỉ có thể mở mang đôi chút về cơ sở vật chất, hưởng một chút tự do hơn trước trong một số mặt sinh hoạt, nhưng đã phải hy sinh mục tiêu tối hậu của Phúc Âm là rao giảng công bình xã hội và đem thương yêu đích thực đến cho người cùng khổ. Đối thoại nói trắng ra là một thương lượng đổi chác quyền lợi. GH hy sinh những quyền lợi tinh thần là rao giảng Phúc Âm để đổi lấy một vài nhượng bộ của con cái Satan, về căn bản là một thiệt thòi trông thấy. Những quyền lợi đó không thể đem ra mà đổi chác được. Rõ ràng đường lối đã sai từ căn bản. Cuối cùng cái mà đường lối đối thoại mang lại là GH bị mất tin tưởng và còn bị khinh khi.

*    Với bọn đầu lãnh Hànội, “biến cố Cờ Vàng” tại Sydney có tác dụng đập tan luận điệu xuyên tạc của VGCS và bọn tay sai của chúng về ý chí chống cộng của người dân VN trong cũng như ngoài nước. VGCS và bọn đầy tớ, điển hình nhất là tên Nguyễn Cao Kỳ, vẫn thường huyênh hoang rằng thành phần chống đối CS chỉ là thiểu số ồn ào và là lớp người già hoài niệm dĩ vãng xa xưa. Bọn đầu lãnh Hànội có giỏi cứ thử ra ngoài này tụ tập được lấy dăm chục tên tay sai phất cở đỏ ủng hộ chúng xem có nổi không? Đa số thầm lặng không có nghĩa là họ ủng hộ CS. Hàng triệu người về VN không có nghĩa là họ theo CS. Bọn đầu lãnh Hànội nên hiểu rõ điều đó. Không phải chỉ có những người già mới nằm ôm dĩ vãng mà chống cộng. Tuổi trẻ VN có mặt tại Sydney đã đập nát tan tành luận điệu bịp bợm này của VGCS.

      Đến đây coi như có thể tạm kết thúc bài viết này được rồi. Tôi không tự đưa ra phần kết cho bài viết của tôi mà xin mượn tâm tình của một em từ VN tên Mai Ly đã tham dự Đại Hội WYD để làm kết luận. Những tâm tình này thật đơn sơ và chân thành hy vọng sẽ củng cố và là bảo chứng cho những điều tôi đã trình bầy trên. Tôi xin được em Mai Ly thuận cho. Tôi xin phép em trước và đường đột như thế này vì không biết địa chỉ của em mà xin phép. Thành thật cám ơn em.

(Phần mượn làm kết luân)

Thành phần được CSVN “gài” vào Đại Hội Thanh Niên Thế Giới Sydney, từ 15 đến 20/7/2008, họ là những ai?

     Thành phần được CSVN “gài” vào Đại Hội Thanh Niên Thế Giới Sydney, từ 15 đến 20/7/2008, họ là những ai, họ được chỉ thị phải làm gì và họ đã làm gì trong suốt tuần Đại Hội này, ít ai được rõ.

     Lý do là vì họ không ra mặt, và dường như họ... chẳng làm gì hết.

     Nói cách khác, chắc họ thấy rõ không nên ra tay làm gì cả vì nó sẽ... lố bịch lắm, nó sẽ... phơi bày cái ác giữa bầu không khí nhân ái, thánh thiện của suốt tuần lễ Đại Hội.

     Theo tuần tự thời gian, một số bạn trẻ từ trong nước đã tâm tình như sau:

     Ngày 13/7, Chủ Nhật, ngày đầu tiên chúng em đặt chân đến Sydney, chúng em được sắp xếp ở chung với các nhóm trẻ Việt Nam từ các nơi đến. Chúng em hỏi các bạn: À, bạn này từ Mỹ thì mang cờ Mỹ, nhóm kia ở Canada đến thì cầm cờ Canada, còn tụi em từ Việt Nam thì cầm cờ Việt Nam chứ ạ? Bọn em có mang theo cờ trong cặp này.

     Các bạn nhìn chúng em rồi bảo: Bạn ra hỏi Ban Tổ Chức đi nhé. Ban Tổ Chức thì bảo chúng em: Các em cứ cất trong cặp đi, đừng mang ra, ở hải ngoại không dùng cờ này đâu, vài ngày nữa rồi tính.

     Thế là chúng em cất trong cặp.

     Ngày thứ hai, ngày thứ ba, và các ngày kế tiếp, chúng em sinh hoạt chung với nhau trong hội trường Whitlam Centre, tất cả các bạn đến từ mọi nơi, có khi chung cả khối 3 ngàn người Việt Nam, có khi chia ra từng nhóm nhỏ. Rất vui, rất cởi mở. Các bạn ở Úc đón tiếp chúng em rất niềm nở, hỏi han đủ chuyện. Từ chuyện học hành đến chuyện việc làm và sinh hoạt trong gia đình, trong các giáo xứ chúng em ở Hà Nội, Bùi Chu, Hà Tĩnh, Huế, Đà Lạt, Kontum, Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau, Sàigòn, v.v... và cả những sinh hoạt ngoài xã hội. Lạ quá, các bạn hải ngoại đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác qua những câu chuyện chúng em kể. Các bạn ấy không biết (và không chấp nhận) rằng ở Việt Nam, làm gì cũng phải hối lộ. Ở Úc, hối lộ là mất việc làm! Đối với bọn em, ở trong nước quen rồi, không hối lộ làm sao mà sống? Này nhé, bằng cấp đại học hay tiến sĩ hay tốt nghiệp phổ thông, cứ chi tiền ra là có ngay. Chạy xe ngoài đường, có lỡ phạm luật thì cứ nhét tiền cho công an là xong, chứ mà để họ ghi phạt thì rắc rối to! Ở Úc thì đừng hòng hối lộ người ghi phạt, đã bị phạt nặng hơn, còn bị trừ điểm! À hay quá, ở cái xứ có luật lệ thích nhỉ!

     Còn nữa, ở Úc, chuyện COCC (xê ô xê xê/con ông cháu cha) là không có đâu. Bạn này học giỏi, bạn kia khôn lanh, được chọn trong những kỳ tuyển chọn nhân viên là sẽ được việc. Không phải như ở Việt Nam, con cán bộ là có việc ngon, còn bọn em thì mãi-mãi chỉ có những việc làm... đói meo. Con bạn học cùng với em, bố nó là cán bộ “khung” nghĩa là cán bộ “gộc”, thành ra nó là “dân nhà nòi” rồi. Hiện nó đang du học ở Mỹ, khi về nó sẽ đương nhiên là trưởng phòng, rồi từ-từ, mai kia mốt nọ, nó sẽ làm đến... Thứ Trưởng như bố nó đấy! Bọn em chẳng tin là con cháu cán bộ du học về rồi sẽ thay đổi Việt-Nam tốt hơn đâu.

     Ngược lại, một bạn trẻ sanh ra ở Úc kể cho chúng em rằng gia-đình bạn toàn là đàn ông, chỉ có một “đứa” con gái, đó là... mẹ của bạn. Ối giời ơi! bạn phải nói là “nhà bạn chỉ có một người đàn bà, đó là mẹ bạn, tiếng Việt mình phong phú lắm!”.

     Chúng em được học hỏi giáo lý rất nhiều về Đức Chúa Thánh-Thần, vì chủ đề của Đại hội là: “Hãy lãnh nhận Sức Mạnh từ Chúa Thánh-Thần, và hãy trở nên nhân chứng của Ngài.”

     Vâng, chúng em tin rằng trong mấy ngày này, Đức Chúa Thánh-Thần đang thổi hơi, đang ban sức mạnh và soi-sáng chúng em qua những trao đổi với các bạn trẻ, với các cô các chú ở Úc và từ các nơi. Chúng em nhận ra được đâu là gian tà, đâu là chân-lý. Sự ác cạnh sự lành, những dối trá cạnh những hành xử đầy nhân bản, yêu thương. Các bài hướng dẫn đến từ các Đức Giám-Mục, các linh-mục và cả từ các bạn trẻ lên chia sẻ kinh nghiệm thực tế đã đánh động chúng em. Rồi đến các buổi văn nghệ. Chúng em hòa đồng và hiệp thông trong yêu thương. Chúng em cùng hòa vang trong các bài hát chung, nhất là bài của linh-mục Chu-Văn-Chi tại Sydney: “Gần nhau trao cho nhau yêu thương tình loài người, gần nhau trao cho nhau tin yêu đừng gian dối, gần nhau trao cho nhau ánh mắt nhân loại này, tình thương trao cho nhau xây đắp trong tình người. Cho dù rừng thay lá xanh đi, cho dù biển cạn nước bao la, ta vẫn yêu thương nhau mãi-mãi!”

     Rồi đến ngày đón Đức Giáo Hoàng, Thứ Năm 17/7. Trước khi tất cả được xe bus chở đến Barangaroo Park trên City, thì một anh trong Ban Tổ Chức hỏi thăm bọn em thấy thế nào trong mấy ngày qua, còn định mang cờ đỏ đi không. Câu trả lời là : “Anh ơi, chúng em không đưa cờ đỏ ra đâu, vì nó sẽ kỳ lắm, nó sẽ lạc lõng trong cái không khí vui tươi, hiệp thông và thánh thiện này. Nhưng mà anh ơi, bọn em tâm sự với anh thật lòng thế này, bọn em mong anh hiểu cho, anh đừng chụp hình bọn em mà có “dính” cờ vàng nhé, vì bọn em được chọn qua đây rồi thì về cũng phải báo cáo cho tập thể chứ đâu phải không, nên anh hiểu cho bọn em nhé.”

     Trong thâm tâm chúng em đã hiểu rằng, cờ vàng là cờ của Việt-Nam, đã được dùng từ lâu lắm, trước khi bọn em ra đời, và cả trước khi ba má bọn em ra đời nữa. Còn cờ đỏ là cờ của một đảng phái đem ra làm cờ cho cả nước. Ở Úc này, cờ đảng phái không bao giờ được áp đặt cho cả dân tộc Úc. Nếu xẩy ra đìều này thì ngay cái đảng phái đó bị tẩy chay ngay, nhất là khi đảng phái đó làm cho dân nghèo hơn, đói hơn, bị đối xử bất công hơn và còn để cho mất đất mất biển nữa. Nhưng mà ở Việt-Nam, quyền hành ở trong tay “người ta” thì bọn em làm gì được? Thôi thì cứ phải thủ cho an toàn.

     Ra đến City, trong ngày Khai Mạc Đại Hội, chúng em chứng kiến đoàn rước cờ các nước. Đẹp quá! Một bạn trẻ Việt-Nam trong Đại Hội đã cầm lá cờ vàng đại diện cho Việt-Nam. Tất cả mọi người Việt-Nam tham dự đều hoan-hô, vỗ tay la hét ầm-ĩ. Hễ đứng cạnh một người Việt-Nam là thấy reo hò như muốn bể lồng ngực. Chúng em cũng chia sẻ niềm vui này. Trong thâm tâm, chúng em, là những người đang sống cảnh bất công, kềm kẹp tại Việt-Nam, tiếng gào thét trong lòng chúng em cho một Việt-Nam công bằng, nhân ái còn phải lớn hơn các bạn ở Úc.

     Trước khi qua Úc, chúng em lo lắm, cứ nghĩ là người Việt ở Úc và các nước... dữ-dằn lắm! Vì sẽ xem chúng em như là.... Việt cộng con!! Nhưng mà, sau mấy ngày gần gũi, chúng em thấy rõ lòng nhân ái của các bạn và của các cô các chú chăm sóc cho chúng em. Chúng em đâu có bà con họ hàng gì với các cô các chú trong các giáo xứ tại Úc mà được các cô các chú cho ăn, ngủ, còn đưa đi đón về suốt cả tuần, còn nấu phở, bún riêu cho chúng em. Trong chỗ Đại Hội, hôm nào mà Ban Tổ Chức Úc lo phần ẩm thực, thì chúng em khổ tâm lắm vì không nuốt được thịt trừu, nó hôi quá!! Đi bộ hằng 5-7 cây số, mệt nhừ tử. Về đến phái đoàn Việt-Nam chúng em được ăn cháo gà. Có bữa đứa nào về trễ quá thì chỉ còn mì gói, nhưng sao nó ngon lạ lùng trong cái không khí lạnh căm của mùa đông Sydney.

     Rồi đến sáng ngày Chủ Nhật 20/7, lễ Bế Mạc Đại Hội. Trước đó, chúng em nhận được lệnh của trong nước là phải giương 400 lá cờ đỏ, để át cờ vàng đã xuất hiện quá nhiều trong ngày Khai Mạc Đại Hội. Tuy nhiên, chúng em đã bảo nhau không thực hiện lệnh này. Và quyết định liều lĩnh này của chúng em đã tỏ ra sáng suốt, bởi vì, chao ôi, nhìn đâu cũng thấy cờ vàng, nhất là khi phái đoàn người Việt, có đến 5,000 người tiến vào trong khu chính thức cử hành lễ tại Randwick Race Course. Rợp trời, một màu vàng chói chang, lộng lẫy giữa những lá cờ muôn sắc của các nước khác! Đẹp quá, và ý nghĩa quá! Lúc đó, có chụp hình góc cạnh nào cũng “dính” cờ vàng, nhưng chúng em không sợ nữa. Tới đâu hay đó, khi về chúng em có bị làm khó dễ thì chúng em sẽ trả lời là: Không có cách nào chụp hình mà không có cờ vàng, vì ở đâu cũng có, chụp từ trái, từ phải, từ đằng trước, đằng sau, chụp gần sân khấu cử hành lễ hay chụp xa sân khấu cũng có cờ vàng, không tránh được.

     Ấy thế mà bọn chúng em cũng có vài đứa bị một phóng viên Báo Thanh Niên kéo ra một chỗ, trong góc kẹt, để giăng vài lá cờ đỏ và chụp hình lén lút để phóng viên này “tường trình” về Đại Hội. Bọn em chẳng lạ gì cái kiểu tường trình dối trá này.

     Nhưng bọn em sẽ là nhân chứng của sự thật!

     Đi một đàng học một sàng khôn. Qua Đại Hội Thanh Niên Sydney 2008, chúng em học được không biết bao nhiêu là sàng khôn! Rất nhiều điều chúng em đã hiểu ra. Cho đến lúc bước lên máy bay về Việt-Nam, chúng em vẫn còn như đang sống trong mơ. Thực tế ra sao khi chúng em trở lại cuộc sống bình thường? Sẽ bị hạch hỏi? Sẽ phải làm báo cáo? Sẽ phải tường trình theo chỉ thị? Và còn gì nữa? Sẽ bị theo dõi trong sinh hoạt hằng ngày và trên các trao đổi vi tính với các bạn trẻ mà bọn em vừa được sống chung những ngày vui tươi, thân ái và đầy ý nghĩa?

     Chúng em tin tưởng là Đức Chúa Thánh-Thần đang sống trong chúng em, đang ban sức mạnh cho chúng em, sẽ giúp chúng em làm chứng nhân.

     Chúa Thánh-Thần sẽ tác động cho người trẻ Việt-Nam trong cũng như ngoài nước tiếp tục hiệp thông để cùng xây dựng một Việt-Nam nhân ái, công bằng, dân-chủ, tự-do.

     Sau Thánh lễ Bế Mạc, Đức Giáo Hoàng tuyên bố chính thức: “Chúng ta sẽ gặp lại nhau tại Đại Hội Thanh Niên Thế Giới lần tới tại Madrid vào năm 2011”. Các bạn trẻ Tây-Ban-Nha nhẩy cỡn, vỗ tay, reo hò bằng tiếng Tây Ban Nha, la hét theo nhịp điệu: “Viva/Papa”, “Benedicto/we can’t live without you” “Madrid, Espagnola!”. Họ quàng vai nhau kết thành một chuỗi dài vừa đi vừa tung-tăng nhẩy nhót. Họ giương cao ngọn cờ Tây Ban Nha để được các phóng viên chụp hình, nét mặt rạng-rỡ tin yêu. Họ làm rầm trời rầm đất như thể cả cái sân với 500,000 người này chỉ có mình họ hiện diện.

     Chúng em nhìn họ mà thèm. Họ ngây thơ sung-sướng quá! Chúng em mơ ngày Đại Hội Thanh Niên sẽ được tổ chức tại Việt-Nam. Nhưng Việt-Nam thế nào? Dứt khoát phải là một Việt-Nam công-bằng, nhân ái, nơi đó dân chủ tự do triển nở, để các bạn trẻ Việt-Nam năm châu cùng nắm tay nhau xây dựng đất nước phú cường và hiệp thông với nhau, như lần này, để cùng tổ chức Đại Hội. Và ngọn cờ được phất cao, dứt khoát không phải là ngọn cờ của bạo lực, dối trá, gian tà như hiện nay.

Mai Ly

Sydney 21/7/2008”

(hết phần mượn để kết luận và chấm dứt)
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 



HY MẪN ĐI VÀO NGÕ CỤT

Bức Thư Ngỏ Của Hồng Y Phạm Minh Mẫn
Đã Đưa Hồng Y Vào Ngõ Cụt.

Nguyễn An Quý


Thử tìm ánh sáng để dọn đường cho chuyến công tác gọi là “mục vụ di dân” dài hạn, ngài HY Phạm Minh Mẫn đã phóng bức thư ngỏ để bày tỏ sự lo ngại về sự hiện diện của Lá Cờ Vàng. Dĩ nhiên là chỉ đề cập rất khiêm tốn về sự hiện diện của Lá Cờ Vàng trong ba kỳ Đại hội Giới trẻ trước đây tại Pháp, Đức, Canada mà ngài HY gọi là “Sự Cố” làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN. Nhằm mục đích thuyết phục, ngài HY đã trình bày theo lối pha trò giểu cợt rằng: người mẹ Việt Nam lúc mặc áo vàng ( cờ vàng), lúc mặc áo đỏ( cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách. Có lẻ ngài Ngài HY sợ những giáo dân tầm thường không hiểu hết ý của ngài khi đọc thư ngỏ, nên ngài đã tỏ ra rất minh bạch ở chỗ vừa giểu cợt, vừa giải thích với những từ ngữ được đóng trong ngoặc đơn rất cụ thể: áo vàng ( cờ vàng), áo đỏ ( cờ đỏ). Quả thật, qua thư ngỏ, HY Phạm Minh Mẫn có ý nhắn với người Việt tỵ nạn tại hải ngoại rằng: đất nước Việt Nam lúc thì cờ vàng tức chế độ Việt Nam Cộng Hoà, lúc thì cờ đỏ tức nhà nước CHXHCNVN hiện nay, có sao đâu? Cờ vàng hay cờ đỏ, trước sau tôi vẫn sống rất thoải mái cả mà . Thời VNCH thì tôi đi tu, làm linh mục, xuất ngoại du học. Bây giờ, thời cộng sản thì tôi làm đến chức Hồng y, tôi thường xuất ngoại làm công tác “mục vụ di dân”, và tôi đã đi ra hải ngoại rất nhiều lần, có chi mà các bạn cứ đeo cái thói đời mang tính đối kháng hoài vậy. Tuy không nói huệch toạt, nhưng chắc chắn, ngài HY tin rằng đây là tờ thông hành rất bảo đảm cho chuyến lên đường được mệnh danh là công tác “mục vụ di dân”một cách vẻ vang từ Mỹ Châu sang Úc Châu.

Vào trung tuần tháng 6 năm 2008, Ngài Hồng y có mặt trong những ngày Hành Hương Đức Mẹ La Vang từ 18 đến 21 tháng 6 năm 2008 tại Nguyện Đường ở Washington DC, quả thật đẹp như mơ vì khi đến đây đã không thấy bóng một ngọn Cờ Vàng nào. Tưởng cũng nên nhắc lại, đây là thời điểm mà người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ đang tập trung vào việc giương cao ngọn cờ vàng khi Nguyễn Tấn Dũng đến năn nỉ Tổng Thống Mỹ cứu sống đảng VC. Qua các ngày Hành Hương La Vang nói trên không thấy bóng cờ vàng, nên ngài HY nghĩ rằng viêc thực hiện ánh sáng dọn đường qua bức thư ngỏ đã thành công. Bởi vậy, ngài HY rất hí hửng khi đến tiếp xúc với Dịch Vụ Thông Tin Công Giáo (Catholic News Service) tại Hoa Thịnh Đống ngày 24-6-2008. Ngài Hồng y đã nói với ký giả Chaz Muth ( CNS): “Tôi bảo họ, các bạn đang ở đây, các bạn không còn là người tỵ nạn nữa…”( Bản tin VietCatholic News 25-6-2008).

Từ lời phán trong thư ngỏ: “Sự cố cờ vàng làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN” đến việc tuyên bố chính thức tại Hoa Kỳ: “Tôi bảo họ, các bạn đang ở đây, các bạn không còn là người tỵ nạn nữa ” là điều tất yếu để đưa Hồng y đi vào ngõ cụt.

Tưởng cũng nên nhắc lại, những người Việt trốn cộng sản, hiện lưu vong trên thế giới đã trải qua 33 năm, dù họ đang ở đâu trên các nước tự do, tất cả đều cùng có chung một căn cước là tỵ nạn cộng sản, biểu tượng của lực lượng tỵ nạn cộng sản là ngọn cờ vàng. Trong nước, họ không được tự do treo ngọn cờ vàng này nữa, nên họ đã trốn ra hải ngoại để được tự do trân quý. Ai có quyền đòi dẹp bỏ lá Cờ  vàng, và với tư cách gì HY Phạm Minh Mẫn lại dám quả quyết” các bạn không còn còn là người tỵ nạn nữa”?

Xin nhắc lại một lần cho rõ, cương vị của môt HY khi ra hải ngoại với nhiệm vụ gọi là “mục vụ di dân”, chắc chắn ngài phải biết đa số ở hải ngoại là người đã chạy trốn cộng sản, ngoại trừ môt số cán bộ VC được trá hình người tỵ nạn, len lỏi vào trong các Cộng Đồng người Việt tỵ nạn, để hoạt động quấy phá theo chỉ thị của đảng cướp csVN, thế nhưng HY lại đủ can đảm phán trong thư ngỏ: “Cờ vàng làm tắc nghẽn con đường hiệp thông” cộng với câu tuyên bố như một lời ra lệnh “bạn không còn là người tỵ nạn nữa”. Thử hỏi sự can đảm này bởi đâu mà có ?

Hậu quả của sự can đảm nói điều không đáng nói, đã làm cho chuyến công tác “mục vụ di dân” tại Bắc Mỹ của ngài HY Phạm Minh Mẫn trong những tuần lễ vừa qua trở nên tiêu tùng, và quả thật  ngài đã tự đi vào ngõ cụt.

Khi bức thư ngõ về “Sự Cố Cờ Vàng làm tắc nghẽn con đường hiệp thông.… “được phóng đi thì lập tức nhiều giáo dân cũng như nhiều người tỵ nạn khác đã bày tỏ sự phẩn nộ, dù biết đó là sự đau lòng khi phải đụng chạm đến tước vị Hồng Y của Giáo hội.

Cộng Đồng người Việt ở Úc Châu là nơi được chọn làm thí điểm đầu tiên về viêc triệt hạ Cờ vàng mà ngài Hồng y đưa ra để thăm dò qua thư ngỏ. Đó là nơi đang chuẩn bị tổ chức Ngày Đại Hội Giới trẻ thế giới năm 2008 (WYD2008). Úc Châu là nơi người Việt tỵ nạn cư ngụ khá đông và hệ thống tổ chức Cộng Đồng Người Việt Tự do tại đây khá vững mạnh. Điểm son ở đây là các Cộng Đoàn Công giáo Việt Nam luôn luôn đứng bên cạnh các tổ chức Cộng Đồng Người Việt Tự do Úc châu (CĐNVTD/UC) cho nên vấn đề thư ngỏ của HY Phạm Minh Mẫn đã được các đoàn thể, cùng quan tâm hết sức đặc biệt.

Ngày 17-6-2008 Cộng Động Người Việt Tự do Úc Châu ( CĐNVTD/UC) đã viết một bức thư gởi Linh Mục Nguyễn Minh Thúy, Chủ tịch Tuyên Uý Đoàn Cộng Đồng Công Giáo Việt nam Úc Châu để bày tỏ quan ngại về bức thư ngỏ của HY Phạm Minh Mẫn.

Sau khi đã thảo luận với Tuyên Uý Đoàn Cộng Đồng Công giáo Việt Nam Úc Châu, ngày 23-6-2008 Cộng Đồng Người Việt Tự do Úc Châu ra Tuyên Bố Chung về Nhận định của Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn với lời tuyên bố như sau: “Mặc dù rất tôn trọng vị trí lãnh đạo tôn giáo của Hồng Y, CĐNVTD /UC hoàn toàn không đồng ý với những quan điểm của Đức Hồng Y về lá cờ vàng…”

Ngày 2-7-2008, CĐNVTD /UC đã ra Thông cáo kêu gọi mọi người Việt tham dự ngày Đại Hội G