|  |
|  | 
| | | ========================= =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN ----------------------------------------------------------NHAN QUYEN/DAN CHU =============================================================== |
QUỐC HỘI ÂU CHÂU ĐÒI VIỆT NAM THỰC HIỆN NHÂN QUYỀN
22/10/2008: Quốc hội châu Âu ra nghị quyết kêu gọi EU tạo áp lực để Việt Nam phải thực hiện việc tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản khác, trước khi ký kết Hiệp ước hợp tác với Việt Nam.
Nghị quyết được thông qua tại phiên họp của Quốc hội châu Âu ở Strasbourg hôm thứ tư, với 479 phiếu thuận trên 21 phiếu chống.
Nghị quyết kêu gọi Uỷ ban và Hội đồng châu Âu đòi hỏi Việt Nam thực hiện nhân quyền theo những thoả thuận hiện hành. Châu Âu cần yêu cầu Việt Nam chấm dứt ngay sự vi phạm có hệ thống những quyền dân chủ và nhân quyền, trước khi ký kết những hiệp ước mới.
Nghị quyết của Quốc hội châu Âu tố cáo sự bất dung tôn giáo của nhà cầm quyền Việt Nam, kêu gọi Hà Nội lập tức trả tự do cho tất cả những người bị giam tù, cầm giữ vì bày tỏ ý kiến chính trị và tôn giáo một cách ôn hoà.
Số người này bao gồm hơn 300 người Thượng theo đạo Tin lành, cũng như những người Khmer Krom, tu sĩ Phật giáo, những người Công giáo, Cao đài, Hòa Hảo và những người hoạt động chính trị, dân oan khiếu kiện về nhà đất cùng với các lãnh đạo công đoàn.
Nghị quyết cũng kêu gọi hành pháp châu Âu đề nghị Việt Nam xét lại đạo luật buộc những người bất đồng ý kiến về chính trị và tôn giáo vào tội hình sự, chấm dứt việc kiểm duyệt và kềm chế báo chí trong nước, kể cả internet và blog cá nhân.
Quốc hội châu Âu còn lên án Việt Nam về việc giam giữ những ký giả viết bài chống tham nhũng, việc công an Hà Nội bắt giữ và hành hung ký giả Ben Stocking của Mỹ. RFA News
QUỐC HỘI ÂU CHÂU QUYẾT ĐỊNH GIẢI SAKHAROV CHO HU JIA
EU honors Chinese dissident Hu Jia By PAUL AMES, Associated Press Writer Paul Ames, Associated Press Writer – 46 mins ago AP – In this March 31, 2006 file photo, Chinese AIDS activist Hu Jia speaks during an interview at a cafe … STRASBOURG, France – The European Union honored jailed Chinese dissident Hu Jia with its top human rights prize on Thursday in defiance of Beijing's warning that selecting him would seriously harm its relations with the 27-nation bloc. "Hu Jia is one of the real defenders of human rights in the People's Republic of China," said European Parliament President Hans-Gert Poettering. "The European Parliament is sending out a signal of clear support to all those who support human rights in China."
Members of the European Parliament selected Hu for the Sakharov Prize from a shortlist of three that also included candidates from Belarus and Congo. Lawmakers said Chinese pressure had been counterproductive.
Before the announcement, the Chinese Foreign Ministry said awarding Hu the prize would constitute interference in China's internal affairs.
"We all know what kind of person Hu Jia is. He is a criminal, convicted on the charge of inciting subversion of government," ministry spokesman Qin Gang said at a news briefing in Beijing
"To issue an award to such a criminal is interference in China's judicial sovereignty and totally against the initial purpose of this prize," Qin said.
China's ambassador to the EU wrote to Poettering last week to warn that picking Hu would seriously damage China's relations with the EU.
The prize, named in honor of Soviet dissident Andrei Sakharov, was announced as EU leaders gathered in Beijing for a summit with Asian counterparts Friday and Saturday seeking to build a global response to the financial crisis.
Hu is a brash dissident who chronicled the arrests and harassment of other activists before he was sentenced in April to 3 1/2 years in jail in China. The authorities in Beijing say he planned to work with foreigners to disturb the Beijing Olympics. Just before Hu's arrest he had spoken to a committee of EU lawmakers by phone to discuss human rights before the games.
He started out fighting for the rights of HIV/AIDS patients, but his scope expanded after the government gave little ground and he began to see China's problems as rooted in authorities' lack of respect for human rights.
Hu's lawyer said he was pleased by the award, but doubted it would lead to his client's early release from jail.
"If they release him right now, people will say the government succumbed to pressure by the international society," Li Jingsong said.
As the parliamentarians went into their meeting to choose a winner, Hu had the backing of the conservative European People's Party, the largest faction in the 785-seat European Parliament, along with the Liberals and Greens.
"Awarding the Sakharov Prize to Hu Jia puts human rights back at the heart of EU-China relations following China's failure to keep its pre-Olympic promises on raising human rights standards," said a statement from Green faction leaders Daniel Cohn-Bendit and Monica Frassoni.
The Socialists, who make up the second-largest group had backed Abbe Apollinaire Malu-Malu, who guided Congo through its first elections in 50 years in 2006. The other candidate was Belarus opposition leader Alexander Kozulin.
Hu had also been suggested for this year's Nobel Peace Prize, which drew Chinese criticism, too. That prize went to former Finland President Martti Ahtisaari.
In his Oct. 16 letter to Poettering, Song said EU-China relations are just recovering from the angry backlash in China triggered by European human rights protests before this year's Beijing Olympics.
"Not recognizing China's progress in human rights and insisting on confrontation will only deepen the misunderstanding between the two sides," Song cautioned. The $64,000 prize was begun in 1988 in honor of Sakharov, who died the following year. Previous winners include former South African President Nelson Mandela, East Timorese leader Xanana Gusmao and Cuban dissident Oswaldo Paya.
To mark the 20th aniversary of the prize, the EU plans two days of special events culminating in the award to Hu on Dec. 17 in Strasbourg, France.
Associated Press writer Anita Chang in Beijing contributed to this report
NGHỊ QUYẾT 1636 CỦA QUỐC HỘI LIÊN ÂU
Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu thông qua Nghị Quyết 1636 đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ Ngày 3-10-2008 vừa qua, Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết 1636. Nghị Quyết nầy long trọng đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ .
Vào dịp nầy, Tiến sĩ Callamard, Chủ Tịch Tổ Chức Điều 19 (Article 19 Organization), một tổ chức Nhân Quyền độc lập hoạt động khắp thế giới nhằm bảo vệ và cổ võ quyền tự do phát biểu cũng đã tuyên bố: "Vào lúc có những thách thức lớn lao cho ngành truyền thông khắp thế giới, luôn cả tại Âu châu, Nghị Quyết 1636 đã ra đời đúng lúc và được hoan nghênh đặc biệt. Những cuộc tấn công nhắm vào tự do truyền thông và tự do phát biểu gần suốt 10 năm qua đã đảo ngược trào lưu tích cực của 10 năm trước đó, đồng thời đã ngăn trở việc phổ biến thông tin tự do đến dân chúng, tạo nên hiểm họa nghiêm trọng cho các chế độ dân chủ mới cũng như cũ".
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam hân hoan chào mừng sự ra đời của Nghị Quyết 1636. Việc thông qua Nghị Quyết nầy đã nói lên mối quan tâm sâu xa của các quốc gia hội viên thuộc Liên Hiệp Âu Châu về các quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin đang bị chà đạp nặng nề tại nhiều quốc gia đang bị quân phiệt và cộng sản độc tài thống trị.
Nhân dịp nầy, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đặc biệt kêu gọi nhà cầm quyền Hà Nội phải chấm dứt ngay mọi vi phạm Nhân Quyền, trong đó có các quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, theo đúng tinh thần của Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị của Liên Hiệp Quốc mà Hà Nội đã phê chuẩn và cam kết tôn trọng kể từ năm 1982.
Theo Tiến Sĩ Callamard, quyền tự do phát biểu và thông tin của giới truyền thông là một đòi hỏi thiết yếu của dân chủ. "Sự tham gia của quần chúng trong tiến trình quyết định đòi hỏi quần chúng phải được thông tin đầy đủ và có cơ hội tự do trao đổi và thảo luận những ý kiến khác nhau."
Nghị Quyết 1636 hoan nghênh những nhận định có tính cách so sánh về các tình trạng truyền thông tại các quốc gia, và mời gọi quốc hội các nước phân tích tình hình truyền thông của nước họ để tìm ra những thiếu sót trong luật lệ và cách thực hành về truyền thông, và có biện pháp thích ứng để chấn chỉnh. Nghị Quyết 1636 đã đưa ra 27 nguyên tắc căn bản để đánh giá tình hình tự do báo chí tại mỗi quốc gia.
Đặc biệt Nghị Quyết 1636 đã đưa ra những nguyên tắc về luật lệ thích hợp và tương ứng liên quan đến việc bêu xấu. "các viên chức chính quyền không được đặc miễn đối với sự phê bình và nói xấu khác hơn người dân bình thường, chẳng hạn như bằng hình luật với mức án cao hơn… Các nhà báo sẽ không phải bị tù hay các cơ sở truyền thông sẽ không bị đóng cửa vì lời bình luận chỉ trích" (Nguyên tắc căn bản 2); cái gọi là luật lệ chống phát biểu hận thù: "Hình luật chống lại sự xúi dục hận thù hay để bảo vệ trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia phải tôn trọng quyền tự do phát biểu. Các hình phạt phải đúng với nhu cầu cần thiết và tương xứng" (Nguyên tắc căn bản 3); sỡ hữu chủ truyền thông: "sỡ hữu chủ truyền thông và giới có ảnh hưởng kinh tề đến truyền thông phải minh bạch. Luật lệ phải chống lại nạn độc quyến truyền thông và các loại thị trường áp đảo trong ngành truyền thông. Ngoài ra, phải có hành động tích cực nhằm khích lệ sự đa nguyên truyền thông." (Nguyên tắc căn bản 18).
Nghị Quyết 1636 cũng kêu gọi nhà cầm quyền phải tôn trọng sự kín đáo về các nguồn thông tin của nhà báo (Nguyên tắc căn bản 8); bảo vệ các nhà báo, kể cả bằng cảnh sát và tòa án: "Các nhà báo bị hăm dọa phải được cảnh sát bảo vệ khi họ yêu cầu. Các công tố viên và tòa án phải xử lý thích đáng và đúng mức khi các nhà báo bị hăm dọa hay bị tấn công." (Nguyên tắc căn bản 14).
Ngoài ra, Nghị Quyết cũng nêu lên nhiều nguyên tắc nhằm bảo đãm sự độc lập của các cơ sở truyền thông, đáng kể nhất gồm có: (1) chống lại sự can thiệp chính trị: "các nhân viên chính phủ còn tại chức không được hoạt động trong ngành truyền thông chuyên nghiệp" (Nguyên tắc căn bản 23); (2) độc lập đối với các sở hữu chủ truyền thông (Nguyên tắc căn bản 13); (3) được sử dụng một cách công bằng và bính đẵng các kênh, tần số, hay dây cáp phân phối tin tức (Nguyên tắc căn bản 16); (4) được sử dụng một cách công bằng và bình đẳng các phương tiện truyên thông khi có bầu cử (Nguyên tắc căn bản 5); (5) sử dụng không hạn chế sách báo thông tin ngoại quốc hay điện tử, kể cả Internet (Nguyên tắc căn bản 17); (6) độc lập của các nhà phát thanh công cọng không bị sự can thiệp chính trị (Nguyên tắc căn bản 20); và (7) truyền thông tư nhân không bị đặt dưới sự điều hành của các công ty nhà nước hay do nhà nước khống chế và kiềm soát; (8) các tổ chức truyền thong tư nhân phải được hưởng quyền tự điều hành: "phải có một hệ thống tự điều hành trong ngành truyền thông bao gồm quyền các nhà báo trả lời và sửa chữa hoặc tự nguyện xin lỗi. Ngành truyền thông phải thành lập những cơ quan tự điều hành như hội đồng khiếu nại hay người phụ trách tiếp nhận và điều tra khiếu nại. Quyết định của các cơ quan này phải được thi hành, và những biện pháp này phải được tòa án công nhận là hợp pháp. (Nguyên tắc căn bản 25); và "các nhà báo phải tự thiết lập và áp dụng những chuẩn mực chuyên môn về tư cách hành xử, phải cho khán giả hay độc giả biết những quyền lợi chính trị va tài chánh của họ cũng như sự hợp tác của họ với nhà nước, chẳng hạn như các nhà báo đi theo quân đội" (Nguyên tắc căn bản 26).
| | | |
QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ BỊ BÓP NGHẸT
25/08/2008
Hôm cuối tuần, chính phủ Việt Nam cho hay: 4 nhà báo bị tịch thu thẻ hành nghề vì đã viết và duyệt đăng những tin tức thất thiệt về một vụ chống tham nhũng và vì đã bênh vực cho các đồng nghiệp bị bắt giữ vì các bài tường thuật của họ trong vụ này.
Thông tấn xã AFP trích một bản tin của chính phủ nói rằng những nhà báo này đã không tìm hiểu các nguồn tin khi trực tiếp viết, biên tập, duyệt đăng những tin tức và bài vở liên quan tới vụ PMU18, trong đó có những thông tin sai sự thật nghiêm trọng.
Theo AFP, dân chúng trong nước đã cực kỳ phẫn nộ năm 2005 khi báo chí phanh phui một vụ tham nhũng trong đơn vị lo về hạ tầng cơ sở có tên là PMU18 của Bộ Giao Thông Vận Tải, trong đó tin nói rằng các viên chức hữu trách đã biển thủ ngân quỹ và dùng những món tiền này để cá độ bóng đá. Vụ tai tiếng tham nhũng này đã khiến Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải phải từ chức.
Cũng theo AFP, tháng 5 năm nay, hai nhà báo Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến, những người hăng say trong việc tường thuật vụ tham nhũng, đã bị bắt giữ sau khi bị buộc tội lạm dụng quyền hạn và thông tin sai lạc, khiến giới truyền thông mạnh mẽ phản kháng.
Nhật báo Thanh Niên lập tức đòi trả tự do ngay cho các nhà báo lương thiện, trong khi nhât báo Tuổi Trẻ viết rằng nhà báo của họ đã phải trả một cái giá cho những tin tức về một vấn đề chưa được giải quyết xong xuôi mà lại còn diễn ra một cách lạ kỳ.
Tuy nhiên, tin tức cho biết hai ngày sau các báo này đã phải ngưng ngay những lời phản kháng sau khi nhận được một lời cảnh cáo của chính phủ. Dầu vậy, đầu tháng Tư vừa qua, 4 nhà báo hàng đầu của hai nhật báo vừa kể đã bị chính phủ tịch thu thẻ hành nghề mà không đưa ra một lý do cụ thể.
Hôm thứ Bảy vừa rồi, chính phủ mới giải thích rằng những người này đã đưa ra những thông tin kích động phản đối hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong loạt bài sau khi hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải bị cơ quan an ninh điều tra, khởi tố và bắt tạm giam.
Các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền và các nhà quan sát quốc tế đã lên án Hà Nội về các vụ bắt giữ này, cho rằng đây là những vi phạm nghiêm trọng tới quyền tự do báo chí. Hôm thứ Tư vừa rồi, đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak, cũng đã bày tỏ sự lo ngại bằng lời nhận định rằng các vụ bắt giữ sẽ có một tác động tiêu cực cho những nhà báo muốn tường thuật những vụ họ có thể phát giác.
Cũng trong ngày thứ Tư tuần trước, trong bài tường thuật với đề tài 'Tại Việt Nam, quyền tự do báo chí bị bóp nghẹt' đọc trên hệ thống truyền thanh NPR, sau khi đề cập đến chuyện hai nhà báo Việt Nam bị bắt giữ và 5 nhà báo khác bị tịch thu thẻ hành nghề, thông tín viên Michael Sullivan đã trích nhận định của nhiều quan sát viên và của ông Carl Thayer, một chuyên viên về vấn đề Việt Nam của Viện Quốc Phòng Úc, trong đó mọi người cho rằng hành động của chính phủ Việt Nam sẽ khiến giới nhà báo trong nước phải thận trọng hơn, có nghĩa là phải tự kiểm duyệt nhiều hơn, trong tương lai. | | | |
CHO DÂN TRỰC TIẾP BẦU CHỦ TỊCH XÃ TRÒ LỪA MỚI CỦA VIỆT CỘNG LÝ ĐẠI NGUYÊN
Trên trang Chính Trị Xã Hội trong báo Người Lao Động của Viê.tcộng, đề ngày 24-08-2008, đăng bài của tác giả Thái An với đề tài: “Thí điểm bầu trực tiếp Chủ Tịch Xã từ năm 2009. Bước Đột Phá Để Mở Rộng Dân Chủ Cơ Sở. Đề án thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận , huyện, phường và thí điểm nhân dân bầu trực tiếp chủ tịch UBND xã đang được Bộ Nội Vụ soạn thảo, để thực hiện thí điểm từ năm 2009, sau khi HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 kết thúc. Đề án thực sự là bước đột phá trong đổi mới tư duy, tầm nhìn, hành động và là bước tiến lớn trong việc mở rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở”. Theo cơ chế của nhà nước Viê.tcộng hiện nay, thì các cấp tỉnh, quận, huyện, phường, xã đều có Hội Đồng Nhân Dân để bầu ra và kiểm soát chủ tịch và Ủy Ban Nhân Dân. Nhưng đứng trên đầu 2 cơ chế này là Đảng Ủy và Viên Bí Thư đầy quyền lực, ở mọi cấp, mà vô trách nhiệm về mặt hành chánh và luật pháp nhà nước.
Đây là cái gốc của việc lạm quyền, tham nhũng, hà hiếp, đàn áp, bóc lội người dân lành Viê.tnam khốn khổ. Cảnh Dân Oan hiện nay, đểu do đơn vị hành chánh cấp xã thực hiện theo chỉ thị từ thượng cấp. Chính vì vậy, mà lâu nay, các nước như Thụy Điển có thiện chí, muốn cố vấn và tài trợ cho Viê.tcộng cải tổ hệ thống hành chánh trì trệ, thối nát, tùy tiện, thảy đều bất lực, đành chào thuạ Nay, Viê.tcộng muốn làm một bước đột phá cho dân bầu trực tiếp người điều hành cơ sở gốc của Quốc Gia là vị đứng đầu xã, và guồng máy hành chánh Làng Xã ở nông thôn và Thị Xã ở đô thi.. Giống như ỏ Hoakỳ và các nước Dân Chủ thành nếp sống lâu đờị Chính nơi đây, người dân mới ý thức và cảm nhận được quyền làm chủ xã hội và đất nước của mình. Mình thực sự biết rõ để chọn ra và kiểm soát những người điều hành Làng Xã, Thị Xã để đề ra những công việc cụ thể do nhu cầu của dân địa phương, và thực hiện luật lệ cũng như các chính sách nhà nước một cách nghiêm minh, nhằm phục vụ quyền lợi cả tinh thần, lẫn vật chất cho chính người dân, chứ không vì quyền lợi của kẻ thống trị, đảng phái cầm quyền, hoặc tôn giáo toàn thống. Đây mới là nền Dân Chủ Trực Tiếp, từ đó ý thức dân chủ trưởng thành để người dân đủ trình độ sáng suốt chọn bầu ra các thành phần lãnh đạo quốc giạ Đây là đường hướng xây dựng thể chế dân chủ đi từ gốc lên trên. Còn các cuộc gọi là cách mạng thì ưu tiên đoạt chính quyền trung ương, rồi mới thực hiện các lý tưởng này, nọ, hoặc thi hành xây dựng dân chủ. Tức là đi từ ngọn xuống, nên thường thì chẳng bao giờ tới được gốc, vì dễ rơi vào thế chuyên chế. Riêng với chủ trương của Quốc Tế Cộng Sản thì họ tự nhận họ thuộc chế độ Vô Sản Chuyên Chính. Họ chỉ vì quyền lợi của Nhân Dân Lao Động, không vì lợi ích của Người Dân Mỗi Nước. Đó là trên lý thuyết, còn thực tế, khi Cô.ngđảng cướp được chính quyền ở Ngạ ở Tầu, ở Việt… thì những lãnh tụ trở thành Vị Vua cực quyền. Đảng trở thành Giai Cấp Thống Trị, Nhân Dân Lao Động và Toàn Dân đều trở thành những tên Nô Lệ Khổ Sai, Trí Thức bị hèn hóa chỉ biết phục vụ cho ý muốn hoang tưởng và quyền lợi của lãnh tụ và cô.ngđảng. Đó là nguyên nhân nội tại, tương tác với duyên ngoại lai của chiến lược Mỹ, tạo ra cảnh huynh đệ tương tàn, làm cho Quốc Tế Cộng Sản sụp đổ.
Cô.ngsản Tầu, Cô.ngsản Việt tuy đã đầu hàng Tưbản, nhưng không dám thực hiện dân chủ đúng nghĩa, chỉ muốn đổi từ cộng sản bao cấp thành tư bản bóc lột, để được nhận vào kinh tế thị trường. Vì muốn có những thị trường nhân dụng rẻ tiền, nên tư bản các nước kỹ nghệ cũng hăm hở đổ vốn đầu tư vào làm ăn, và mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa cho hàng của Tầu, Việt nhập cảng. Thế nhưng vì lợi nhuận lâu dài của giới tư bản và vị thế chiến lược của Mỹ và các cường quốc Dân Chủ, họ vẫn dùng áp lực Nhân Quyền để buộc các nước còn duy trì cơ chế độc đảng độc tài như Tầucộng, Viê.tcộng phải tuân thủ những đòi hỏi thực tế của ho.. Đồng thời từng bước phải thay đổi chế độ và luật pháp cho hợp với nhu cầu kinh tế thị trường toàn cầu hóạ Vì nguyên tắc phát triển của kinh tê thị trường là phải Dân Chủ Hóa Chế Đô.. Có như vậy người dân ở các nước Dân Chủ Tự Do mới trở thành khách hàng tiêu thụ sản phẩm của kỹ nghệ tư bản, và những Quốc Gia đó mới đủ khả năng tài chánh để trang bị kỹ thuật cao của Mỹ trong sản xuất và phòng thủ đất nước. Chính vì vậy mà mấy năm gần đâỵ Hoakỳ đã tài trợ cho Tầucộng tổ chức bầu cử trực tiếp tại một số thí điểm Xã Ấp. Nhưng Tầucộng đã lươn lẹo, không cho bầu cử trực tìếp ở đơn vị Hành Chánh Gốc là Xã, mà chỉ cho bầu các Trưởng Thôn, Trưởng Ấp. Xã vẫn nằm trong hệ thống tham nhũng của các cấp ủy đảng. Bởi vậy các Trưởng Thôn, Trưởng Ấp do dân bầu mới vì quyền lợi của dân, tổ chức các cuộc biểu tình đòi quyền sống, mà mỗi năm có tới hàng Trăm Ngàn vụ xẩy ra ở Trungcô.ng.
Nay Viê.tcộng đi xa hơn Tầucộng một bước, là dự định cho dân bầu trực tiếp Chủ Tịch Xã, người cầm đầu Ủy Ban Nhân Dân Xã. Tức là đơn vị Hành Chánh Gốc của Nhà Nước. Định bỏ các Hội Đồng Nhân Dân Xã, Phường, Huyện, Quận, mà chỉ tăng cường thành phần HĐND tỉnh, và thành phố trực thuộc Trung Ương. Nhưng xem ra Cô.ngđảng vẩn duy trì thứ Đảng Ủy và Viên Bí Thư Xã để nắm đầu Chủ Tịch Xã và Ủy Ban Nhân Dân Xã. Rồi trao cho Mặt Trận Tổ Quốc đứng ra tổ chức bầu cử theo công thức bầu bán lạc hậu “Đảng Cử Dân Bầu”. Như vậy dù dân có bầu ra Chủ Tịch Xã thì vẫn bị thứ cơ chế Đảng Lãnh Đạo, Nhà Nước Quản Lý và Dân vẫn Làm Mọi như xưạ Đây là một trò bịp lớn, không chỉ bịp toàn dân Việt, mà bịp luôn cả Mỹ, bịp toàn thể dư luận quốc tế.
Việc Người Dân trong Xã trực tiếp bầu Xã Trưởng và 4 hoặc 6 Nghị Viên Xã để quyết định đường lối và điều khiển hệ thống hành chánh xã là đúng với nhu cầu, và đòi hỏi của Nền Dân Chủ Trực Tiếp, mang tính thời đạị Lại rất hợp với truyền thống Dân Tộc đã có từ ngàn xưạ Đây là nguyên tắc “Phép Vua Thua Lệ Làng” trong hành trình bảo vệ tinh thần độc lập của Dân Tộc trước sức khống chế của các Đế Quốc, bắt Vua ta phải xưng thần, triều cống và nghe lê.nh. Vì biết cách tổ chức đơn vị Làng Xã Tự Quản, nên thời bình dù Vua có bị xưng thần, thì dân vẫn nuôi được tinh thần Độc Lâp, thời chiến Làng Xã là đồn lũy chiến đấu trường kỳ. Dân Tộc Việt nhờ đó mới thoát khỏi một ngàn năm bị người Tầu đồng hóa, và một trăm năm bị Thực Dân Pháp cải hóạ Nhưng rồi chính Hồ Chí Minh và Viê.tcộng đã tiêu diệt tận gốc rễ hệ thống Làng Xã Tự Quản, qua việc nhận lệnh Nga, Tầucộng thực hiện Cải Cách Ruộng Đất. Rồi cấy vào đó thứ “Chi Bộ Cộng Sản Xã”. Sau đó Viê.tcộng theo Nga thì bắt toàn dân phải thờ Nga, theo Tầu thì buộc toàn dân nô lệ Tầụ Nay, Viê.tcộng nếu muốn chuộc trọng tội đó với Dân Tôc và Toàn Dân thì nên khởi sự bằng việc tự hủy bỏ hệ thống Đảng Ủy tại Làng Xã, Thị Xã. Nghiêm chỉnh tổ chức một cuộc bầu cử thật sự tự do, công bằng, vô tư, trong sáng. Trao cho thành phần dân sự ngoài đảng, chính quyền và MTTQ, đứng ra tổ chức bầu cử tại Làng Xã, Thị Xã. Tập thể có nhân sự và khả năng làm việc đó ở Viê.tnam hiện nay là các Trường Đại Học. Vì sinh viên chỉ trong ngắn ngày là có thể học hiểu luật, phương pháp vận động, tổ chức bầu cử. Rồi từng nhóm trên mươi người do một Giáo Sư hướng đẫn về từng Làng Xã, Thị Xã tiến hành bầu cử. Chỉ có thế người dân mới tin tưởng, người được bầu ra mới thấy mình không bị thượng cấp ban ơn và lệ thuộc ho.. Lúc đó chỉ biết có quyền lợi của dân và pháp luật của Quốc Gia Dân Chủ. Little Saigon ngày 26-08-2008.
HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI AI VÀ CÁI GÌ ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Cách đây chừng hai năm, nhiều chính khách xu thời đã nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp. Nhìn thấy tính cách xu thời mong nhẩy bàn độc, nhiều Vị đã lên tiếng nói rõ rằng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là lá đơn van xin làm bồi cho CSVN vì chính CSVN không nêu ra vấn đề ấy và vì tâm địa cố hữu của CSVN là ngoan cố bấu víu chặt lấy quyền độc tài độc đảng. Chúng tôi cũng đã viết nhiều về vấn đề này.
Trong tuần vừa rồi, tôi đọc bài của Oâng NGUYỄN TƯỜNG LONG mang đầu đề HÒA GIẢI LÀ MỘT NHU CẦU CÓ THẬT. Tôi cũng có đọc những ý kiến của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH về Hòa Giải Hòa Hợp.
Đối với vấn đề này, lập trường của chúng tôi được bầy tỏ qua hai câu hỏi: 1) Ai hòa hợp hòa giải với ai ? 2) Hòa hợp hòa giải về cái gì ?
Nếu không trả lời chính xác cho hai câu hỏi ấy, thì vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tung ra để che đậy những mưu mô khác.
AI HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI ?
Khi nói hòa hợp hòa giải là nói đến hai lực lượng tranh đấu, dành dựt một cái gì mà dai dẳng không phân thắng bại để tổn thương nguy hại đến cả hai lực lượng. Vì vậy hai bên ngồi lại thảo luận với nhau để chia chác điều mà mình đang dằng co. Nếu chia phần cho đều, thì hai lực lượng tạm yên đánh nhau.
Nếu hiểu Hòa Giải Hòa Hợp là giữa Quốc gia và Cộng sản thì không trúng bởi lẽ người Quốc gia không dành dựt cái điều mà CSVN đang nắm giữ. Trở lại về nguyên thủy cuộc đấu tranh Quốc-Cộng, người Quốc gia đứng ở vị trí bảo vệ Tự do, Nhân quyền, còn người Cộng sản dùng võ lực đến chiếm quyền để đặt để Độc tài độc đảng, không cho Tự do và chà đạp Nhân quyền. Vì vậy người Quốc gia không đi dành dựt chiếm hữu, lấy cho mình cái quyền Độc tài, tiêu diệt Tự do, chà đạp Nhân quyền như Cộng sản. Một bên là tự vệ, một bên là xâm lăng ăn cướp. Vì vậy nói người Quốc gia đi Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN là không trúng
Trúng hơn là nên nói hòa hợp hòa giải giữa những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng và những người làm Chính trị phe chủ trương độc đảng về cái quyền lực cai trị. Nếu những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng muốn hòa hợp hòa giải với CSVN, thì cứ việc làm, nhưng đây là việc đấu tranh dành quyền lực giữa tầng lớp làm chính trị. Liệu CSVN có chia quyền hành cho những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng hay không, hay là CSVN xử dụng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để vẽ râu ria cho chế độ cố hữu của họ, xử dụng những người làm Chính trị phe đa đảng như bung xung lừa bịp Dân và Quốc tế.
Nếu hai phe Chính trị mà chỉ dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để chia ghế, chia quyền hành, thì Dân vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại cả hai phe thống trị.
HÒA HỢP HÒA GIẢI VỀ CÁI GÌ ?
Đối với người Dân, vấn đề tha thiết căn bản của họ là có TỰ DO, có việc tôn trọng NHÂN QUYỀN thực sự và những người cầm quyền đừng ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của họ. Trừ những người làm Chính trị cho quyền hành, hầu hết đồng bào Tỵ nạn Hải ngoại đứng về phía Dân chúng Việt Nam quốc nội đấu tranh cho TỰ DO, NHÂN QUYỀN và QUYỀN SINH SỐNG NUÔI THÂN XÁC. Ơû Hải ngoại, người Quốc gia Tỵ nạn đã có TỰ DO, có NHÂN QUYỀN và CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC. Họ đứng sau lưng Dân chúng Việt Nam để hỗ trợ cuộc đấu tranh của người Dân đòi CSVN cho TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN và đừng CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân chúng quốc nội.
Vậy thì việc Hòa Giải Hòa Hợp là giữa CSVN và DÂN CHÚNG VIỆT NAM tại Quốc nội, chứ không phải giữa CSVN và khối người Quốc gia tỵ nạn tại Hải ngoại. CSVN muốn Hòa Giải Hòa Hợp thì hãy làm công việc đó đối với Dân chúng Việt Nam tại Quốc nội. CSVN hãy trả lại TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN, đừng nắm Kinh tế ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân và phải hòan trả lại Dân những gì mà CSVN đã ăn cướp trong bao chục năm trường. Điều cuối cùng này rất quan trọng. Thực vậy, đừng dùng chiêu bài Hòa giải Hòa hợp để chuyển tài sản ăn cướp ra nước ngoài, rồi cho con cháu ra đây bảo lãnh mình ra sống vương giả trên của cải ăn cướp được.
Hãy Hoà Giải Hòa Hợp giữa CSVN và Dân chúng Quốc nội, chứ đừng đểu cán kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp với một số thành phần Chính trị ở việc chia ghế. CÁI GÌ (đối tượng) cho việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa CSVN và DÂN CHÚNG QUỐC NỘI là: (i) cho TỰ DO, (ii) tôn trọng NHÂN QUYỀN, (iii) đừng nắm độc quyền Kinh tế mà ĂN CƯỚP NHÀ ĐẤT VÀ CƠM ÁO của Dân, (iv) phải hoàn trả lại cho DÂN và ĐẤT NƯỚC những gì đã ăn cướp trước đây.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
X
| | | NHỮNG LO NGẠI LIÊN QUAN ĐẾN TC VÀ VC
Báo Mỹ viết về những mối lo ngại liên quan đến Trung Quốc, Việt Nam 15/01/2008
Báo Washington Times số ra hôm thứ ba, ngày 15 tháng 1, năm 2008 đăng một bài viết nhan đề 'Trung Quốc, Việt Nam và Những Mối Lo Ngại Toàn Cầu'. Bài viết mở đầu rằng: 'Trung Quốc và Việt Nam đứng đầu nhiều danh sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và của Liên Hiệp Quốc như hồ sơ vi phạm nhân quyền, danh sách các nước gây gây ô nhiễm môi trường, danh sách những nước đặt ưu tiên phát triển kinh tế trên nhiệm vụ bảo vệ người dân vốn sống trong môi trường thiếu các quyền tự do như tự do phát biểu, tự do báo chí, bầu cử công bằng và minh bạch'.
Bài viết này được tờ Washington Times loan tải vào lúc Phó Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông John Negroponte, bắt đầu đi thăm hai nước Châu Á này. Bài báo nói rằng các đề tài quan trọng được quan chức ngoại giao cao cấp thứ hai của chính phủ Mỹ đưa ra thảo luận trong chuyến đi thăm này chắc chắn sẽ là vấn đề mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân trao đổi thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, tỉ giá đồng nhân dân tệ, quyền và an toàn của người lao động tại Việt Nam và Trung Quốc, và an toàn sản phẩm xuất khẩu, thế nhưng còn nhiều vấn đề khác đáng ra phải được đưa ra thảo luận nhưng lại ít được chú ý đến. Đó là những vấn đề mà tờ nhật báo nằm trong số có nhiều độc giả nhất tại thủ đô Washington liệt kê bao gồm:
•Nhân Quyền - Bài báo nói 'cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều nằm trong danh sách các nước thường xuyên vi phạm nhân quyền', mặc dù trước đây trong hồ sơ tranh đăng cai Olympic, Bắc Kinh có hứa sẽ giảm tình trạng này, và chính phủ Việt Nam cũng cam kết sẽ chú trọng vào lãnh vực nhân quyền khi họ phấn đấu gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới.
Washington Times viết tiếp rằng: 'Hầu hết các nhóm tranh đấu cho nhân quyền đều nói rằng những lời hứa của Trung Quốc và Việt Nam với cộng đồng thế giới là không có thật'.
•Kế đến, Bắc Kinh bị chỉ trích là thiếu tích cực trong việc dùng ảnh hưởng của họ thông qua các hoạt động kinh tế để giúp giải quyết cuộc khủng hoảng nhân đạo tại khu vực Darfur của Sudan.
•Bài báo nói rằng: 'Trung Quốc và Việt Nam hiện đang là những nước đứng đầu thế giới trong việc gây ô nhiễm môi trường. Nguồn nước ngầm tại hai nước này có mức ô nhiễm cao, mà nguyên nhân chính là do việc sử dụng hóa chất diệt trùng và phân hóa học quá nhiều'.
Riêng về Trung Quốc, nước láng giềng Nhật Bản của họ đã từng lên tiếng phản đối việc khói mù từ “nhà máy của thế giới” này đã lan sang gây ảnh hưởng bầu không khí của Nhật Bản.
•Tranh chấp chủ quyền và các nguồn tài nguyên, Bài báo nói rằng 'Trung Quốc và Việt Nam tiếp tục tranh chấp chủ quyền tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi mà dư luận tin là có nhiều trữ lượng dầu khí. Vấn đề tranh chấp mới đây trở nên gay gắt khi Trung Quốc có lại các hành động xác lập chủ quyền đối với các hải đảo này vào mấy tháng cuối năm vừa qua. Người dân Việt Nam đã biểu tình và bày tỏ phản đối trên mạng Internet. Còn phía Trung Quốc thì yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trấn áp các hình thức phản đối này… Những tranh chấp này có thể mang lại nhiều hậu quả, và tựu trung là sẽ ảnh hưởng đến tình hình hòa bình và ổn định chung của khu vực'.
Tác giả của bài viết -- ông John E Carey, một cựu sĩ quan cấp cao của quân đội Mỹ, một chuyên gia về Châu Á, và hiện là chủ tịch của Công Ty Tư Vấn Quốc Phòng Quốc Tế – đã kết luận rằng ngoài những đề tại kinh tế được chú trọng như trao đổi mậu dịch và tỉ giá hối đoái, còn những vấn đề khác ở hai quốc gia cộng sản này cũng cần được nêu lên để bàn thảo công khai.
Một số thông tin trên đây được trích từ The Washington Times
|
| ===================QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN======================
“Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình” (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982). (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)
==========================
| |
|
| TỰ DO BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM
Việt Nam xếp hạng 178/195 trên thế giới về tự do báo chí Thiện Giao, phóng viên đài RFA 2008-05-03
Tổ chức Freedom House vừa công bố bản phúc trình thường niên về tự do báo chí trên toàn thế giới năm 2007. Nhận định chung là mức độ tự do báo chí toàn cầu giảm dần trong 6 năm liền. Theo phúc trình này, Việt Nam xếp hạng 178 trên 195 quốc gia được khảo sát, và thuộc vào nhóm “không có tự do.”
Xếp hạng 178 trên 195
Tổ chức Freedom House vừa công bố phúc trình tự do báo chí thường niên nhằm đánh giá mức độ tự do báo chí trên toàn thế giới, trên từng khu vực, và tại mỗi quốc gia, trong năm 2007. Mức độ tự do báo chí năm 2007 sụt giảm so với năm trước, và là sự tiếp tục sụt giảm trong một giai đoạn 6 năm liền. Đó là kết luận tổng quát nhất được tiết lộ từ các con số thống kê.
Điều bất ngờ là, ngoài sự mất tự do báo chí tại các quốc gia độc tài, ngay cả các quốc gia có nền dân chủ cao cũng có dấu hiệu sụt giảm của tự do báo chí. Bản phúc trình khảo sát 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy 72 quốc gia có tự do báo chí; 59 quốc gia tương đối tự do; và 64 quốc gia không có tự do báo chí. Việt Nam thuộc vào nhóm không có tự do báo chí, được xếp hạng 178 trên 195.
“Nhà nước ra nhiều luật liên quan đến báo chí, và gần đây nhất là chỉ thị 37 của thủ tướng cấm tư hoá báo chí. Tôi cho rằng với hoàn cảnh như vậy, báo chí phát triển rất khó khăn.”
“Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.”
Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.
“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội thuộc nhà nước mới có quyền ra báo.”
Đó là những phát biểu của một số nhà báo Việt Nam, trong đó có những người tự gọi là “nhà báo tự do,” không tham gia trong hệ thống báo chí chính thống nhà nước, mà là những blogger hay những người viết bài gởi ra đăng ở các tờ báo nước ngoài. Các phát biểu này đã được ghi âm và phát trên một chương trình của đài Á Châu Tự Do hồi trung tuần tháng Hai vừa qua, cũng liên quan trực tiếp đến câu hỏi về mức độ tự do báo chí tại Việt Nam.
Tất cả đều do nhà nước quản lý
Tại Việt Nam hầu hết các ngòi bút đều bị kiểm duyệt nghiêm ngặt và bị đặt dưới áp lực của đảng và nhà nước.
Anh Văn Lang, một nhà báo tự do, đã từng đưa ra nhận định: “Báo chí tự do thì phải ở thể chế tự do. Do đó ở Việt Nam, báo chí nằm trong một cái khung không thể đi ra được. Về mặt cơ chế, ở nước ngoài, các vị trí trong ban biên tập, như chủ nhiệm, chủ bút đều thuộc tư nhân, họ làm đúng theo luật, và không ai xen vào được.
Tại Việt Nam thì tất cả đều do nhà nước quản lý, Tổng Biên Tập do nhà nước chỉ định, nên nếu anh làm trái ý “ông chủ” thì “ông chủ” có quyền cắt, chuyển anh qua công tác khác. Do đó các tổng biên tập làm việc như có lưỡi dao trên bên trên, họ phải làm có mức độ, nếu ai qua khỏi mức độ thì mất việc. Tại Việt Nam, các tổng biên tập mất chức liên tục.”
Những phát biểu này cho thấy, Việt Nam khống chế báo chí thông qua sự khống chế về nhân sự báo chí. Gần đây, như nhiều người ta đã biết, thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng, cho ban hành chỉ thị số 37, cấm tư nhân hoá báo chí.
Bản phúc trình thường niên của Freedom House, ngoài việc đánh giá tổng quát trên toàn thế giới, còn thiết lập những đánh giá theo từng vùng và nhận định riêng cho từng quốc gia. Trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương với 40 quốc gia, Tân Tây Lan được xếp đầu bản và Bắc Hàn xếp cuối bản. Việt Nam thuộc nhóm “không có tự do,” đứng hàng thứ 36, ngay trên nước Lào và dưới Brunei. Cũng trong bảng này, Cambodia hạng 26, và được xếp vào nhóm “tương đối tự do.”
Trong cuộc phỏng vấn hồi tháng Hai, một nhà báo Việt Nam mô tả luật báo chí Việt Nam và tiến trình bổ nhiệm một Tổng Biên Tập, nhân vật cao cấp nhất của một tờ báo, như sau.
“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội của nhà nước mới có quyền ra báo. Và quyền ra báo phải được thừa nhận bởi một giấy phép do Bộ Văn Hoá Thông Tin cấp. Theo luật, khi tờ báo là cơ quan ngôn luận của các tổ chức ấy, thì tờ báo ấy là cơ quan trực thuộc tổ chức đó. Cơ quan đó sẽ đề nghị một tổng biên tập.
Đề nghị này sẽ được xem xét theo rất nhiều tầng nấc. Bắt đầu bằng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Phố trực thuộc trung ương. Rồi đến Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Uỷ, rồi sau đó gởi lên cho ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương mà ngày nay người ta gọi là Ban Tuyên Giáo. Sau khi cơ quan Đảng có ý kiến về đề nghị đó [bổ nhiệm Tổng Biên Tập], họ chuyển cho chính quyền phê duyệt. Trên nguyên tắc, sự bổ nhiệm tổng biên tập phải có sự đồng ý của ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương và Bộ Văn Hoá Thông Tin.”
Chính quyền và các nhà báo
Rõ ràng, tiến trình đề cử và bổ nhiệm như vừa được mô tả, cho thấy người được cất nhắc vào các vị trí cao trong các cơ quan truyền thông Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu mang đầy màu sắc chính trị do phải được sự phê duyệt của các cơ quan chịu trách nhiệm về tư tưởng của Đảng và chính quyền.
Trong một bảng đánh giá về mức độ tự do báo chí của Việt Nam trước đó một năm, tức là năm 2006, Freedom House viết rằng: “Mức độ căng thẳng giữa chính quyền và các nhà báo lên cao. Trong khi các nhà hoạt động vận động cho một nền truyền thông tự do hơn, thì nhà nước Việt Nam tiếp tục đàn áp tự do ngôn luận, nhất là những thông tin trên Internet.”
Mức độ căng thẳng giữa chính quyền và các nhà báo lên cao. Trong khi các nhà hoạt động vận động cho một nền truyền thông tự do hơn, thì nhà nước Việt Nam tiếp tục đàn áp tự do ngôn luận, nhất là những thông tin trên Internet.
Nhà báo tự do Hoàng Hải, mà nhiều người trong giới blog biết đến với tên gọi “Điếu Cày,” vừa bị bắt gần đây do những hoạt động phản đối Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, đã từng nhận định, rằng, nếu “Nhà nước cấm đăng thì toàn bộ các báo không đăng. Các báo không đăng, thì dân không biết tin tức.” Cũng theo blogger này, trong hoàn cảnh như thế, Internet sẽ là phương tiện truyền đạt và phá vỡ bức tường bưng bít thông tin trong truyền thông nhà nước.
Công việc đưa tin buổi lễ rước đuốc Olympics Bắc Kinh tại Sài Gòn ngày 29 tháng Tư vừa qua là một ví dụ về sự kiểm soát báo chí Việt Nam. Gần như không một tờ báo nào của Việt Nam đưa tin về việc rước đuốc. Rồi bỗng nhiên, đến ngày 29 tháng Tư, tất cả các báo cùng đưa tin, với nội dung và mức độ
| | |
| ===============PHONG TRAO DÂN CHỦ/ NHÂN QUYỀN================= ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM
========================
Kêu gọi các đảng viên THĂNG TIẾN VIỆT hãy cùng nhau lập BAN XỬ LÝ THƯỜNG để nối tiếp ý chí bất khuất của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ và BAN ĐẠI DIỆN như Oâng NGUYỄN PHONG, Luật sư LÊ THỊ CÔNG NHÂN
(NHUYỄN PHÚC LIÊN, đảng viên đảng Thăng Tiến Việt Nam) . | | |
LS LÊ THỊ CÔNG NHÂN TỪ CHỐI ĐI MỸ
LS Lê Thị Công Nhân từ chối đi Mỹ định cư như một cách bị "lưu đày" Luật sư Lê Thị Công Nhân http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=80604&z=157 (Tặng Giáo sư NGUYỄN CHÍNH KẾT làm bài học)
HÀ NỘI 24-6 (NV).- Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, tù nhân chính trị đang bị giam giữ ở nhà tù số 5 tỉnh Thanh Hóa nói rằng cô sẽ không chấp nhận đi Mỹ định cư như một cách giúp chế độ Hà Nội thi hành chính sách tống xuất tất cả những người đấu tranh đòi dân chủ hóa đất nước ra khỏi Việt Nam.
"Vào các ngày 10, 11 vừa qua, một số cán bộ của Cục A 42 (thuộc Tổng Cục An Ninh CSVN) đã đến trại tù số 5 ở tỉnh Thanh Hóa để hỏi Nhân là có muốn đi Mỹ không nếu nước Mỹ nhận?" Bà Trần Thị Lệ, mẹ nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cho báo Người Việt hay như vậy sau chuyến thăm con gái hôm Thứ Bảy 21 tháng 6, 2008 vừa qua. Bà đã lặn lội 200 cây số đi thăm con gái nhưng chỉ được cho gặp mặt một giờ và một lần trong một tháng.
Theo lời bà Lệ, sau khi một người đã "thành án", chẳng có quan chức nhà nước nào đến thăm hỏi. Nhưng một số cán bộ cao cấp của Bộ Công An CSVN đến nửa dò ý nửa thuyết phục Lê Thị Công Nhân cho thấy họ có chủ ý rõ rệt.
"Nhân rất ngạc nhiên khi được hỏi như vậy và hiểu rằng không phải bỗng dưng mà cán bộ từ Hà Nội lại lặn lội đến nhà tù để phỏng vấn tội phạm về ý nguyện của người ta. Nhân đã trả lời là nếu được đi đến một quốc gia khác có dân chủ, nhân quyền để du lịch hay du học thì rất muốn. Còn 'đi luôn' thì không".
Bà Lệ thuật lại lời con gái đối đáp với cán bộ Cục A 42 như vậy. Bà thuật lại cho biết cô con gái bà cho cán bộ CSVN biết là cô "sinh ra ở Việt Nam là có một mục đích là đóng góp vào công cuộc vận động dân chủ hóa đất nước".
Sau nhiều lời thuyết phục cô chấp nhận đi Mỹ định cư không xong, đám cán bộ Công an A 42 đã đe nẹt cô là "Nếu không đi Mỹ thì đây (trại tù số 5 Thanh Hóa) sẽ là địa chỉ mãi mãi của chị đấy!". Bà Lệ thuật lại.
"Họ mỉa mai mạt sát Nhân là trước đây là một luật sư trắng trẻo, xinh đẹp, còn bây giờ thì là một tù nhân đen đúa xấu xí." Bà kể, "Nhân đáp lại rằng tù nhân thì thế thôi."
Bà nói khi nào cán bộ công an nói quá đáng thì Nhân mới đáp lại. Khi bị đáp lại thì họ lại im vì không trả lời được.
Theo lời bà Trần Thị Lệ, Luật Sư Lê Thị Công Nhân đã chuẩn bị tinh thần từ trước để vào tù vì biết hành động đòi hỏi tự do dân chủ và nhân quyền thật sự của mình sẽ không được các kẻ cai trị độc tài chấp nhận.
"Công Nhân rất kiên định, không viết đơn xin khoan hồng cũng không nhìn nhận mình có tội gì". Bà nói. "Nhân nói đến Chúa còn bị đóng đinh trên thánh giá, còn Nhân bị tù ở đây cũng là một sự thử thách nhân cách và định lực của con người".
Bởi vậy, qua những lần thăm trước, bà có hỏi con gái là có muốn nộp đơn làm "giám đốc thẩm" để chống lại các áp đặt phi lý của các bản án sơ thẩm và phúc thẩm không, cô trả lời rằng "Có làm cũng chẳng được gì" vì biết các bản án chính trị đã được chế độ Hà Nội định sẵn nhằm trừng phạt các người đấu tranh dân chủ ở trong nước.
"Còn nước còn tát". Bà Lệ thuật lại lời nói với con gái như vậy và được cô trả lời là "Sự giả dối của nền tư pháp tại Việt Nam không còn gì để tin được". Dù vậy cô "ủng hộ việc làm của luật sư biện hộ cũng như của gia đình Luật Sư Ðài.
Bà Lệ cho hay, trong cương vị của một người mẹ thấy con bị tù tội, bà không thể không làm bất cứ gì để cứu con nên bà cũng đã nộp đơn xin "giám đốc thẩm" (Báo Người Việt đã loan tin này tuần trước).
"Má cũng làm đơn à?" Cô hỏi mẹ một cách ngạc nhiên.
Bà Lệ cho hay, cán bộ A 42 đến gặp LS Lê Thị Công Nhân ở nhà tù Thanh Hóa cho biết thư gửi cho cô chứa đầy "một xe tải". Tuy nhiên, cô không nhận được một cái nào. Bà Lệ nói điều này cho thấy tất cả thư từ, bưu thiếp mọi người trên thế giới gửi đến cho cô để bày tỏ lòng yêu quí, cảm thông đều bị công an CSVN chận giữ hết. Cô cho biết gửi qua đường bưu điện 6 lá thư thì bà Lệ chỉ nhận được một cái duy nhất.
Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, 28 tuổi, bị chế độ Hà Nội bắt giam cùng với Luật Sư Nguyễn Văn Ðài ngày 6 tháng 3, 2007 với sự vu cáo "tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN".
Khi ra tòa sơ thẩm ở Hà Nội ngày 11 tháng 5, 2007, LS Ðài, 39 tuổi, bị kết án 5 năm tù, 4 năm quản chế; LS Nhân bị kêu án 4 năm tù 3 năm quản chế. Nhưng trước các lời đả kích của dư luận quốc tế về không có nhân quyền ở Việt Nam, họ chỉ được giảm án mỗi người một năm tù còn giữ nguyên án quản chế.
Cuối Tháng Năm vừa qua, LS Lê Công Ðịnh, một trong 5 luật sư biện hộ trong phiên tòa phúc thẩm, đã gửi đơn đòi "giám đốc thẩm" lại các bản án cho hai Luật Sư Ðài và Nhân vì nhận thấy thủ tục tố tụng hình sự đã bị vi phạm trầm trọng. Sau đó, cô Vũ Minh Khánh, vợ Luật Sư Ðài, cũng đã làm đơn đòi "giám đốc thẩm" với các dẫn chứng chi tiết, cụ thể về sự vi phạm ngay chính luật tố tụng hình sự của tòa án CSVN.
Cho tới nay, cả 3 lá đơn yêu cầu giám đốc thẩm của LS Ðịnh, cô Khánh và bà Lệ cũng không thấy được trả lời.
Ngày 29 tháng 5, 2008, phụ tá ngoại trưởng Mỹ, David Kramer, đến Việt Nam đối thoại nhân quyền. Ông đã đề nghị trả tự do cho một số người trước khi Nguyễn Tấn Dũng đến Mỹ vận động đầu tư và viện trợ. Trong số đó có LM Nguyễn Văn Lý, LS Nguyễn Văn Ðài, LS Lê Thị Công Nhân. Tuy nhiên, Nguyễn Tấn Dũng đang có mặt ở Mỹ và các người vừa kể vẫn ở trong tù. | | | |
| VẤN ĐỀ HÒA HỢP VÀ HÒA GIẢI
Bài 1/4
by: • Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất Saturday, May 03 2008
Nếu hòa hợp hòa giải (HHHG) Dân Tộc là con đường lý tưởng đưa đến phát triển đất nước thì tại sao cộng sản Việt Nam (CSVN) lại ban hành Nghị Quyết 36? Và nếu HHHG là giải pháp tốt đẹp để giải quyết các vấn đề của Việt Nam (VN) thì tại sao các nhà hoạt động chính trị tại hải ngoại lại không công khai tuyên truyền và cổ võ nó? HHHG dân tộc, vấn đề đã xưa cũ, nó chỉ là chuyện của dân gian và của báo chí. Tuyệt nhiên không thấy người ta công khai đề cập đến trong các cuộc hội họp chính trị, và ngay cả những nhà tranh đấu đòi dân chủ cũng thường tỏ ra úy kị nó. Như vậy có phải HHHG chỉ là hiện tượng ảo của một âm mưu đen tối nào đó làm người ta bị nhột khi phải đối diện với nó? Từ ngữ thời trang các nhà hoạt động chính trị thường sử dung hiện nay là đa nguyên đa đảng thay vì HHHG. Có lẽ vì thế dư luận mới cho rằng HHHG và đa nguyên đa đảng chẳng qua chỉ là hai mặt của một đồng tiền. Loại giấy bạc này do CS Hànội in ra và dùng nó để mua sự khờ dại của những nhà hoạt động chính trị loại school smart (xin tạm dịch là mọt sách). Những người thực sự chủ trương HHHG với Việt gian cộng sản (VGCS) cũng không có ai giải thích vấn đề một cách tường tận. Chung quanh có rất nhiều câu hỏi cần phải được đặt ra. Tại sao phải HHHG với VGCS? Phải hiểu thế nào là HHHG? Những ai chủ trương HHHG? Những ai chống? Tại sao người ta không minh danh đặt vấn đề ra một cách công khai cho mọi người thảo luận để tìm ra chân lý, mà cứ phải úp úp mở mở, nói một đàng, làm một nẻo. Lấy cái gì để nói chuyện HHHG với VGCS? Hậu quả của việc HHHG sẽ ra sao? Vân vân và vân vân. Nếu không minh bạch hóa vấn đề thì HHHG hay đa nguyên đa đảng hơn kém chỉ nên coi là một màn xiệc mà chủ gánh là bọn chóp bu Hànội, không ai khác vào đây cả. Có nhiều màn trình diễn hấp dẫn. Chủ gánh không cần quảng cáo mà người hiếu kỳ vẫn tấp nập mua vé vào xem.
HHHG trong một tình trạng rất ư là mơ huyền … mờ như thế đấy. Bài viết xin được đóng góp một vài ý kiến nhỏ hy vọng soi sáng được phần nào những hóc hiểm đầy ảo thuật tính của màn xiệc hấp dẫn này. Mong những ai còn tha thiết đến vận mệnh của đất nước quan tâm hơn đối với vấn đề.
I. Sơ Lược Về Tình Hình Đấu Tranh Hiện Nay
1. Gió Đã Đổi Chiều
Khái niệm về chiến tranh đã thay đổi trong thời đại ngày nay, và hình như định nghĩa về chiến tranh cũng đang là độc quyền của một vài quốc gia có sức mạnh áp đảo. Ngày xưa du kích VC giật mìn xe đò, pháo kích trường học, nổ rạp hát, bắt người đi mò tôm v.v. chả thấy ai kết tội chúng là khủng bố cả. Nhưng bây giờ thì khác, chuyện lớn như ôm bom tự sát, chuyện nhỏ như liệng một trái phá tự chế không có ngòi nổ ở đâu đó, cãi cọ rồi xô xát với nhân viên của một phái đoàn ngoại giao, rải truyền đơn chống cộng v.v. tất cả đều được ghép chung vào một loại tội phạm gọi là tội “khủng bố”. Chữ “khủng bố” và chữ “chiến tranh” có nghĩa khác nhau một trời một vực. Chiến tranh xem ra còn ẩn tàng một một chút gì nhân đạo. Hai bên đánh nhau còn có cơ hội để thương lương hòa giải. Nhưng khủng bố thì không. Dù nặng hay nhẹ, biện pháp là tuyệt đối không tha, phải đuổi tận giết tuyệt. Điều trớ trêu là ngày nay bọn giật mìn xe đò, pháo kích trường học, chôn sống thường dân vô tội v.v. lại đang bô bô kết tội những hành động chống lại chúng là khủng bố. Và thật là tồi tệ, luật pháp nước Mỹ cũng thường khi y án phụ họa.
Sự đổi chiều quan điểm này đã khiến tất cả mọi khuynh hướng đấu tranh của chúng ta, trong cũng như ngoài nưóc nhất loạt thay đổi đường lối theo. Đấu tranh vũ trang tất nhiên bị dẹp bỏ vì đó là khủng bố. Tất cả các tổ chức tranh đấu đều đồng loạt tuyên bố đấu tranh bất bạo động. Đến như Mặt Trận Hoàng Cơ Minh trước kia hung hăng đông tiến đem âm binh về giải phóng VN, nay đứa con quí tử là Việt Tân (VT) cũng sợ co vòi, chỉ còn dám nói canh tân để giải phóng đất nước. Lý Thái Hùng Tổng Bí Thư đảng VT tuyên bố: “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng chủ trương tiến hành một cuộc đãu tranh toàn diện, để xây dựng tự do dân chủ và để canh tân Việt Nam . Nghĩa là đấu tranh để ưu tiên chấm dứt ách độc tài hiện nay nhưng cũng đồng thời tiến hành những nỗ lực canh tân một cách chọn lọc và tích cực, đáp ứng nhu cầu chung và dài hạn của đất nước.” (Chủ trương và đường lối của đảng VT – Lý Thái Hùng , Berlin , Đức Quốc 19-9-2004).
Cương lĩnh, tuyên ngôn v.v. của các đảng phái và tổ chức mới ra đời lúc gần đây đều có cùng luận điệu như thế cả:
- Đảng Dân Chủ VN của ông Hoàng Minh Chính: Xây dựng chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng, bầu cử tự do và công bằng. Xây dựng cơ cấu quốc gia tam quyền phân lập (Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp đều có thẩm quyền độc lập.) Sinh hoạt chính trị lành mạnh. Các đảng chính trị bình đẳng với nhau. Hoạt động của các đảng phái chính trị và nhà nước phải riêng biệt. Bộ máy hành chính quốc gia phải gọn nhẹ để phục vụ nhân dân một cách hữu hiệu.
- Đảng Dân Chủ Nhân Dân: Mục tiêu đấu tranh là hình thành một lực lượng đối lập công khai, để kịp thời ngăn chặn những hành động của nhà cầm quyền gây tổn hại cho đất nước và cho nhân dân……. Đấu tranh với chính quyền độc tài sửa đổi Hiến pháp và Pháp luật để phù hợp với ý nguyện nhân dân, hướng tới việc xây dựng một nhà nước dân chủ và pháp quyền.
- Đảng Thăng Tiến VN: Trực diện đấu tranh bất bạo động với đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), nhằm mục đích xây dựng một Hiến pháp mới, để người Dân thực hiện quyền làm chủ Đất nước của mình thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do với sự tham gia tranh cử bình đẳng của tất cả các Chính đảng ; qua đó nắm quyền lãnh đạo và quản lý Đất nước.
- Khối 8406: Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.
Khối 8406 nói có phần hơi mạnh mẽ hơn, nhưng cũng chưa đủ để xác định rõ sự khác biệt. Nhờ được tiếp xúc với một số người hiểu biết về Khối 8406, người viết tin tưởng rằng nhiều quí vị lãnh đạo nòng cốt của tập hợp chính trị này là những người rất đáng tin tưởng cả về mặt đạo đức cá nhân lẫn xã hội, có tinh thần dấn thân, can đảm và đầy nhiệt huyết. Tuy nhiên trong hành động, quí vị đó đã vấp phải một số sai lầm nguy hiểm, đến nỗi có dư luận coi khối 8406 cũng là dân chủ cuội. Đàng khác, Khối 8406 đã để Việt Tân xâm nhập và lũng đoạn nhiều quá khiến mất đi rất nhiều cảm tình và tin tưởng của người Việt hải ngoại. Đấy là chưa nói đến tình trạng nghi ngờ có chuyện cài người của VGCS. Ở trong nước chuyện này khó tránh khỏi. Tuy nhiên, thật sự là điều bất công nếu cứ vơ đũa cả nắm khẳng định rằng Khối 8406 là một tổ chức dân chủ cuội. Đành rằng cá thể có cuội trong đó, nhưng toàn thể thì nhất định không.
- Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền VN: Mục tiêu của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam là đấu tranh nhằm vận động sức mạnh của Toàn Dân để giải quyết dứt khoát sự lũng đoạn của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đến thay thế triệt để thể chế chính trị độc đảng toàn trị lạc hậu hiện nay bằng thể chế chính trị đa đảng tiến bộ, nghĩa là thay thế sinh hoạt chính trị không công bằng, không chấp nhận cạnh tranh bằng sinh hoạt công bằng, có cạnh tranh trong sáng.
- Tổ Chức Phục Hưng VN: Tổ Chức PHVN chủ trương tiến hành công cuộc phục hưng đất nước trên căn bản xây dựng Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên song hành với nỗ lực phục hưng Văn Hóa Dân Tộc.
- Liên Đảng Lạc Hồng: Xây dựng một Liên Minh Chính Trị đối lập có thực lực đối trọng với đảng CSVN. Liên Đảng Lạc Hồng quyết tâm thúc đẩy tiến trình đấu tranh chấm dứt tình trạng độc tài toàn trị, góp phần phục hưng Dân Tộc và phát triển một quốc gia thực sự có đạo đức, dân chủ, tự do, hạnh phúc và văn minh.
- Lộ Trình 9 điểm của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thỉnh thoảng được nhóm Cao Trào Nhân Bản của ông tại Mỹ giới thiệu với chính giới Hoa Kỳ. BS Quế cũng chủ trương như các đảng phái trên, không có gì khác lạ. Gọi phương thức tranh đấu của nhóm này là chính trị sa-lông không sai. Họ đứng riêng lẻ, tranh đấu không có gốc, tức là không dựa vào quần chúng, mà chủ yếu là dựa vào cách bắt mạch xem cái ngọn tức đường lối của Hoa Kỳ rồi theo đó mà phất cờ. Nhóm Cao Trào Nhân Bản chỉ thấy tranh đấu đâu đó chung quanh Quốc Hội Hoa Kỳ, không thấy xuất hiện ở những chỗ đông người tỵ nạn như xuống đường hay biểu tình v.v. Nó biểu lộ cái quán tính của một số chính khách và đảng phái của nhiều chánh khách miền Nam xưa kia.
Sự trùng hợp hoặc giống nhau đến nỗi người ta có thể tưởng tượng là tất cả các cương lĩnh và đường lối đều do cùng một tác giả viết ra. Mỗi đảng, mỗi tổ chức chỉ cần đem về sao chép, xào nấu lại, sửa lời văn đôi chút là đã có một bản cương lĩnh riêng của mình rồi. Đọc qua một số trích yếu từ các văn kiện chính thức của các đảng và tổ chức chính trị hiện nay, chúng ta thấy được hai điểm quan trọng: một là họ không minh nhiên lập trường tiêu diệt chế độ CS. Hai là họ chủ trương chế độ mà CS cũng được công nhận là một thành phần tham gia sinh hoạt trong đó. Rõ ràng đây là một hình thức hòa hợp. Sự hòa hợp này không hẳn đã có hòa giải nên chắc chắn sẽ lại đem đến xung đột về sau. Điều thiếu sòng phẳng là các đảng phái và tổ chức chính trị kia chủ trương HHHG với VGCS nhưng họ lại không dám tự nhận là mình có chủ trương đó. Chuyện này cũng dễ hiểu thôi vì đại đa số đồng bào tỵ nạn không chấp nhận HHHG. Nếu họ tự nhận, họ sẽ mất cảm tình của đồng bào và sẽ bị đồng bào tẩy chay. Trường hợp của Việt Tân là một thí dụ.
2. Những Thành Phần Trong Bàn Cờ Chính Trị VN
Ở đây dĩ nhiên chúng tôi chỉ đề cập đến người Việt Nam . Có 4 thành phần. Nhìn qua lăng kính chính trị, và dù đứng dưới bất cứ góc độ nào cũng rất dễ dàng nhận ra.
- Thứ nhất: CS chuyên chính. Gọi là CS chuyên chính hay CS chính chuyên cũng đồng một ý nghĩa. Thành phần này đều là đảng viên đang tham gia vào cơ cấu chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương. Bọn này tuyệt đối trung kiên và trung thành với đảng vì quyền lợi và vì đang có điều kiện hưởng thụ mà thường là bất hợp pháp. Ngoài ra còn phải kể đến vài nhóm và cá nhân ở hải ngoại. Loại này không phải là CS “chính chuyên”, nhưng tự đông làm việc nhiều khi không công cho VGCS, ngày trước còn làm vụng trộm, nhưng bây giờ ít thấy còn e dè lén lút nữa.
- Thứ hai: Nhân dân trong nước và đặc biệt đại đa số đồng bào tỵ nạn tại hải ngoai. Thành phần này không đội trời chung với CS, và tuyệt đối không chấp nhận sự có mặt của VGCS dưới bất cứ hình thức nào trong cơ cấu chính quyền vì họ đã và đang là nạn nhân trực tiếp của chế độ.
- Thứ ba: Cộng sản phản tỉnh. Dùng chữ phản tỉnh thực ra chỉ là miễn cưỡng. Gọi cho có cái tên mà thôi. Phản tỉnh là xét lại tư tưởng để tìm sai lầm mà sửa chữa. Câu hỏi đặt ra là đã có người CS nào thực tâm đi tìm sai lầm để sửa chữa chưa. Chủ nghĩa CS là một sai lầm lớn nhất trong lịch sử con người. Hàng núi tài liệu và sách vở với vô số bằng chứng đã chứng minh rồi đấy. Lịch sử và thực tế đã công nhận rồi đấy. Các văn kiện đảng viết rõ ràng đảng CSVN là một chi bộ của CS Liên Sô, Hồ Chí Minh (HCM) là một cán bộ lãnh lương và hoạt động cho đảng CS Liên Sô. Đảng CS đã bán đất bán biển cho ngoại bang. Thế mà đã có ai trong số 3 triệu đảng viên CS dám nhìn nhận những tội ác và sai lầm đó không? Hoàng Minh Chính (HMC) chỉ là một tên CS theo chủ nghĩa xét lại. Ông ta chủ trương chống đảng để cứu đảng. Dân chủ mà HMC đòi là thứ dân chủ được lãnh đạo bởi phe CS của HMC. Tất cả chỉ có thế. Tôn HMC lên hàng “tổ tông” của phong trào dân chủ VN là chẳng hiểu gì về HMC. Xem phương án Tiểu Diên Hồng của ông ta tất sẽ hiểu ông ta. Ông ta không bao giờ phản đảng cả. Bùi Tín, Nguyễn Thanh Giang vẫn ca ngợi Hồ Chí Minh là một người yêu nước. Trần Khuê phong thánh cho Hồ và gọi là đức thánh Hồ. Thánh Hồ còn ngồi trên cả quốc tổ Hùng Vương. Hà Sĩ Phu nói Trời cho dân và đảng hai bên chọn được nhau và sẽ còn là của nhau cho đến trăm năm đầu bạc. Lê Hồng Hà khẳng định đây là cuộc đấu tranh chấm dứt vai trò độc đảng, đảng trị của đảng CSVN, chớ không phải là cuộc đấu tranh để đánh đổ và xoá bỏ đảng CSVN. Còn nhiều và rất nhiều như thế lắm. Lê Hồng Hà đưa ra tuyên ngôn trên là lời giải thích rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa nhất thay cho cả bọn gọi là phản tỉnh này. Tất cả các thành phần được coi là phản tỉnh cốt cán trên đã có thấy ai nhìn nhận sai lầm và sửa sai chưa? Như thế thì làm sao gọi là phản tỉnh.
- Thứ tư: Thành phần thứ 3. Thành phần này đa số thuộc giới trí thức, già có, trẻ có. Tiếc rằng giới trẻ có học mà sao họ không biết gì về lịch sử và nhất là phong trào CS trên thế giới. Chuyện thật đáng lo ngại, nhưng không trách họ được vì nhà trường đã đào tạo họ như thế. Nhưng còn những người lớn tuổi, có học? Điều này mới thực là kỳ lạ. Hơn ba mươi năm trước họ sống dưới chế độ Cộng Hòa nhưng lại xu hướng CS. Sau 30-4-75 họ phải bỏ miền Nam vượt biên ra nước ngoài vì không thể sống được với CS. Ở hải ngoại họ lại ngoảnh đầu về trong nước và trông đợi ở những người CS phản tỉnh. Họ học cao và đã dầy dạn kinh nghiệm mà không thể hiểu rằng người CS phản tỉnh không bỏ đảng và cũng không chống đảng, chỉ chống ngững người CS đang cầm quyền mà thôi. Họ cũng không tiên đoán được rằng một chế độ đa đảng hậu CS sẽ đưa đất nước đi về đâu. Con đường đấu tranh của nhóm thuộc thành phần thứ ba này có thể tìm thấy qua lá thư của GS Nguyễn Chánh Kết viết gởi cho một người bạn của ông. Lá thư này ông gởi qua mạng internet có đoạn viết: “Hiện nay, điều quan trọng là chúng ta phải đoàn kết với tất cả những ai có khuynh hướng tranh đấu cho tự do dân chủ, cho đa nguyên đa đảng, bất kể họ là ai. Chúng ta phải tiến từng bước một, và tiến được tới đâu thì chấp nhận tới đó đã, rồi lại tiếp tục tiến tới nữa. Không nên chủ trương Tout ou rien, non à peu près, everything or nothing, not nearly (được ăn cả, ngã về không)”. Ông Nguyễn Chánh Kết kể là người ở trong nước. Còn ở hải ngoại, nhiều nhà trí thức cũng đã bầy tỏ bằng những luận điệu tương tự. Chẳng hạn BS Nguyễn Xuân Ngãi nói “đảng cuội (tức đảng Dân Chủ VN của Hoàng Minh Chính) cũng được đi, ủng hộ lầm có mất mát gì đâu”. Hoặc các ông Hoàng Cơ Định, Nguyễn Trọng Việt, Nguyễn Ngọc Bích cũng đồng ca một giọng: cờ nào cũng là cờ, cả hai lá cờ không tốt sao.
3. Ôn Lại Một Chút Lịch Sử Để Rút Kinh Nghiệm
Tưởng cũng nên ôn lại vài bài học lịch sử Dân Tộc về HHHG cho những ai trí nhớ không được tốt.
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc Hội đầu tiên của nước Vietnam họp khoáng đại ra mắt toàn dân tại Nhà Hát Lớn, Hànội. Cũng tại đây, ngày này, một chánh phủ liên hiệp kháng chiến được đưa ra trình diện Quốc Hôi. Chính Phủ này gồm đủ mặt các đảng phái: Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc, Dân Chủ, và nhân sĩ độc lập. Tình trạng hợp tác giữa các phe phái chính trị này ngày xưa gọi là liên hiệp, ngày nay nếu có ai gọi là đa nguyên đa đảng hay hoà hợp hoà giải chắc cũng không sai.
Chỉ 4 ngày sau khi Quốc Hội họp khoá đầu tiên, chính phủ liên hiệp do Hồ Chí Minh cầm đầu đã ký với Pháp một văn kiện quan trọng gọi là Hiệp Ước Sơ Bộ, và sau đó ít tháng, Tạm Ước ngày 14-9-46. Ký hai văn kiện này, Hồ Chí Minh tạm coi như được rảnh tay đối phó với Pháp để dồn nỗ lực vào công việc thanh toán các đảng phái quốc gia và những thành phần chống đối Việt Minh. Thời kỳ này có thể ví như một đêm tối kinh hoàng trong lịch sử Dân Tộc. Hàng ngàn, hàng vạn những cuộc ám sát, bắt cóc, thủ tiêu bí mật trên khắp mọi miền đất nước do Việt Minh chủ động. Không có toà án nào xét xử.
Màn liên hiệp này thực tế đã cho thấy chỉ là trò bịp bợm do Hồ dàn dựng. Những người đứng về phe Quốc Gia có thể nói đã học được một bài học đắt giá về chuyện liên hiệp, hay đa nguyên đa đảng, hay hoà hợp hoà giải với CS.
Năm 1975, trong khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà đang đổ xương máu chống lại sự xâm lăng của cộng sản miền Bắc, thì một số chính khách tại miền Nam tự nhận là thành phần thứ ba tôn Dương Văn Minh làm thủ lãnh, công khai chiếm chánh quyền để thực hiện âm mưu bắt tay hoà hợp hoà giải với CS. Nhưng "thiên bất dung gian", cái chính quyền vô năng bất lực này đã phải cay đắng bẽ mặt khi cả đám đứng lên nghênh đón tên sĩ quan CS bước vào phòng họp chính phủ tại dinh Độc Lập để nghe tên VC này hách dịch ra lệnh cho họ: "Dơ tay lên đầu hàng. Các anh có còn gì đâu mà đòi bàn giao". Quân dân miền Nam mất tất cả đã đành. Những kẻ ôm mộng HHHG với CS cũng đã tiêu tán tất cả chì lẫn chài. Lần thứ hai người quốc gia lại học được bài học HHHG với CS. |
|
|
|