|  |
|  | 
| | | ========================= =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN ----------------------------------------------------- PHONG TRAO DAU TRANH =============================================================== |
TÒAN CẢNH NỔI DẬY ĐÒI CÔNG LÝ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 11.02.2009
Ngày 06.01.2010, CSVN phạm thánh đối với Công Giáo, không phải chỉ đối với Đồng Chiêm, mà còn đối với Giáo Hội Công Giáo VN, đối với Giáo Hội Công Giáo Hòan vũ và đối với tất cả các Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Tin Lành, Chính Thống Giáo và Anh Giáo. Tất cả các Giáo Hội này lấy THÁNH GIÁ làm biểu tượng hữu hình cho ĐỨC TIN vào ơn cứu rỗi mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể nhận lấy tội trần gian trên Thánh Giá. Chính trên cây Thánh Giá, Philatô cho ghi INRI (Giêsu Nazaret, Vua Dân Do Thái), nhận Vương Quyền của Chúa Giêsu.
Từ ngày CSVN phá cây THÁNH GIÁ tại Đồng Chiêm cho đến nay, tôi không viết một bài bình luận nào, mà chi đăng tải những Thông Tin về việc phạm thánh này.
Tôi muốn nhìn Đồng Chiêm không như một vụ việc riêng lẻ, mà đặt nó trong TÒAN CẢNH chín mùi đổ vỡ của Cơ Chế CSVN hiện hành mà Lực Lượng Công Giáo VN giữ phần chủ động quan trọng.
Chúng tôi xin đề cập những khía cạnh sau đây:
=> Đối với Dân: Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN
=> Đối với ngọai bang: Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế làm cớ cho xâm lăng Quân sự
=> Hình thành và lớn mạnh của Lực Lượng Công Giáo VN với Tinh thần Đồng Chiêm
Đối với Dân: Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN
Qua kỷ niệm sụp đổ của Bức tường Bá Linh năm 1989, chúng tôi có dịp ghi nhận những bài học cụ thể dẫn đến sụp đổ cả một đế quốc được coi như một bộ máy cai trị đàn áp khắt khe đối với Dân chúng.
Có nhiều bài học. Chúng tôi muốn nhắc lại trong đọan này bài học Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã buộc lòng Mikhail GORBATCHEV phải đưa ra chủ trương GLASNOST và PERESTROIKA. Thực ra, những tha hóa và giao động Xã hội bắt nguồn từ những bất công Kinh tế và từ đó hệ thống Chính trị lung lay và sụp đổ cho dù bộ máy đàn áp được tăng cường với chiêu bài ổn định Xã hội.
Hãy nhìn tình trạng Kinh tế, Xã hội và Chính trị thời năm 1985, khi Mikhail GORBATCHEV lên nắm quyền.
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết về tình trạng tại Nga năm 1985 là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này càng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Nền Kinh tế Việt Nam cũng như Trung quốc lúc này chỉ là nền Kinh tế của nhóm đảng Mafia cướp bóc, chứ không phải là Kinh tế của quần chúng.
Nhóm đảng Mafia đưa ra những con số hào nhóang che đậy những họat động kinh tế bất công, tham nhũng, hối lộ mà chính nhóm đảng Mafia ấy biết rõ và đang tìm cách cất giấu tiền bạc riêng của mình phòng khi Kinh tế sụp đổ và mất quyền Chính trị.
Chúng tôi đã viết nhiều về tình trạng kinh tế bóc lột của nhóm đảng Mafia này. Có người nghĩ rằng vì chúng tôi chống CSVN, nên viết những điều tiêu cực. Vì vậy, để nói về tình trạng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam, chúng tôi muốn mượn lời của chính một người của đảng CSVN, Luật sư TRẦN LÂM. Nhìn tình trạng ấy, Luật sư đã phải kết luận rằng sự thay đổi đã đến gần. Luật sư viết như sau:
“Khi mở cửa, khi đón đầu tư nước ngoài, ai cũng nghĩ rằng: ta sẽ học, ta sẽ làm, ta sẽ có tất cả như các nước, ta tiến bộ, ta thừa sức theo kịp thiên hạ…Lúc đầu ta bàn nhiều đến cái thiếu sót, cái thua thiệt, coi đó là học phí với sự an ủi thầm kín. Đến nay, cũng đã nhiều năm: hãng Sony ra đi, ta không thấy nói gì đến ngành điện tử, ta có bao nhiêu hãng ô tô mà nay không thấy cái gì gọi là ô tô Việt Nam…Hóa ra xét tiến bộ đầu tư nước ngoài lấy số tiền đầu tư để đánh giá, còn nền công nghiệp của ta là một việc khác. Kết quả: mất đất, mất môi trường, sức lao động bị bán rẻ. Trong khi ấy, đồng ruộng cần máy móc nông nghiệp, phân bón; học sinh cần máy tính, người lớn cần điện thoại di động…thì tất cả của nước ngoài.
Những cái cũ ta có: gạo, café, cao su, bao nhiêu năm nay không giải quyết được ổn thỏa việc thu mua, chế biến, tồn trữ cứ vẫn như xưa. Cái ta có ưu thế tuyệt đối thì cũng không ổn định.
Những cái có mới, không ít, có thể chia ra hai loại: loại làm ra vì mục đích chính trị, nhằm khoa trương, kèm theo câu “nhất Đông Nam Á” như đường Trường Sơn, đường dây 500KV, hay như điện nguyên tử đến nay chưa có số lượng nhân lực ban đầu…Có cái khác thì thấy ai có thì học theo như Hà Nội bên Sông Hồng và Hà Nội rộng gấp 4 lần…; Loại thứ hai là thiếu hiểu biết kỹ thuật, bỏ ngoài tai ý kiến của các nhà khoa học, tự cho “chính trị là thống soái”, rồi chống cả trời đất như việc quản lí đô thị: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội: nạn ngập lụt người ta cảnh báo bao nhiêu năm, đã thấm đòn ở thành phố Hồ Chí Minh, đến nay lại xảy ra ở khu Mỹ Đình, nơi đỉnh cao của kiến trúc đô thị Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà không đi từ nông nghiệp, không công nghiệp hoá nông nghiệp, quy hoạch đô thị thì “Treo”, không có luật nhập cư, công nghiệp hoá, xuất khẩu lao động thì bỏ rơi đào tạo nghề…các việc này người ta làm ở Châu âu từ thời kỳ Napoléon – Cái “Đảng bao giờ cũng sáng suốt”, “Tập thể bao giờ cũng đúng” đi đâu mất rồi? Thế mà cứ bô bô “Năm này, năm kia ta sẽ hiện đại hóa, công nghiệp hóa!”
Còn một điều vô cùng nhức nhối: làm gì cũng nói sẽ vay vốn ODA, cứ vay rồi ai trả? Kinh tế thị trường mà không có vốn. Số nợ này là bao nhiêu? Ai biết?
Nếu chỉ có như trên thì đi một lẽ, nó lại có cái lẽ thứ hai, như rắn thêm chân :
Ở ta thì những người thân quen, con cháu người cầm quyền từ TW đến cấp tỉnh đều núp bóng cha anh để làm ăn. Dân chỉ rõ công ty này là của ai? Công ty kia là của ai? Rồi những người có quyền chức ủng hộ cái này,diệt cái kia vì hối lộ…nền sản xuất bị chết từ trong trứng.
Chưa hết, hiện nay Trung Quốc thâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam, thâm nhập bằng cả quyền lực chính trị. Nếu như họ lại có trong tay các nhóm lợi ích hay là các nhóm lợi ích hai bên kết hợp với nhau thì có lẽ nền kinh tế Việt Nam đi đứt.
Việc phân tách kinh tế Việt Nam với các mô thức, chỉ số, công thức xin dành cho các kinh tế gia, chưa chắc các kinh tế gia đã làm được vì lẽ tình hình bị che dấu.
Thiếu nhìn xa trông rộng, không có quy hoạch, thiếu kiến thức, thiếu óc phân tích, không có các biện pháp phù hợp là một phía. Phía khác là nạn tham nhũng tràn lan, cùng với ý thức có quyền hành thì cứ làm, rồi che dấu, xuyên tạc, có thể là nguyên nhân của các nguyên nhân.“
Đối với ngọai bang: Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế làm cớ cho xâm lăng Quân sự
Tòan cảnh nổi dậy tại Quốc nội: Dân đòi CÔNG BẰNG Kinh tế để phát triển Đất Nước bền vững và lâu dài.
Nhìn kỹ về những cuộc nổi dậy trước đây ở Đông Aâu từ 1953 đến 1989/91, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.
Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc. Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh cho thấy điều đó. Erich Konecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.
Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.
Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.
=> Đòi NỢ Việt Nam
Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.
Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.
=> Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam
Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam. Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.
=> Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam
Chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.
Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.
Hình thành và lớn mạnh của Lực Lượng Công Giáo VN với Tinh thần Đồng Chiêm
Khi mà tình trạng Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã chín mùi cần phải thay đổi, thì một là do chính giới Lãnh đạo Nước hiện hành tự ý thức hay là do một Lực Lượng nhân dân nổi dậy buộc giới Lãnh đạo Chính trị phải thay đổi. Tại Việt Nam, đảng CSVN, lãnh đạo Chính trị và Kinh tế quốc gia, một mặt thì như bất lực trong việc quyết định thay đổi, một mặt thì tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi cho tốt hơn.
=> Bất lực trong việc quyết định thay đổi
Những lý do đưa đến bất lực quyết định thay đổi như sau:
* Cố thủ giữ lấy quyền hành mặc dầu ý thức tình trạng tụt dốc Kinh tế, bất công Xã hội và bếp bênh Chính trị;
* Cậy nhờ vào Trung quốc để che chở Chính trị và bây giờ quyền lực che chở của Trung cộng trở thành quá lớn đến chỗ Trung cộng nắm quyền cho phép thay đổi hay không. Những Cố vấn Trung cộng trở thành những người đặt để quyền hành lãnh đạo Việt Nam.
* Các lãnh đạo Chính trị đã đi quá sâu vào vơ vét Kinh tế cho chính mình hay cho họ hàng, thân nhân, nên nếu thay đổi thì lo sợ mất những tài sản riêng đã cướp bóc, ăn hối lộ, tham nhũng mà có.
=> Tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi
Trong tình trạng Kinh tế bóc lột, bất công Xã hội và độc tài Chính trị mà Lãnh đạo Nhà nước bất lực không thay đổi như vừa nói trên đây, thì dân phải lên tiếng bầy tỏ thiện ý thay đổi. Phản ứng của lãnh đạo Nhà Nước là tăng cường đàn áp dưới chiêu bài “ổn định xã hội“, “đòan kết dân tộc“, “chống lại công quyền“, “mưu mô lật đổ nhà nước“, “tay sai thế lực thù địch ngọai lai“.
Lực Lượng Công giáo đã hình thành và lớn mạnh song hành với những tăng cường đàn áp của nhà nước CSVN. Có thể nói rằng mỗi lần CSVN tăng đàn áp là mỗi lần Lực Lượng Công giáo được tăng cường về hiệp thông và ý chí.
An Truyền, với Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ, đã thắp lên ngọn lửa phản kháng đòi CÔNG LÝ. Ngọn lửa ấy lan ra sâu rộng trong giới Công giáo Hải ngọai.
Ngày nay, Lực Lượng Công giáo Quốc nội đã lớn mạnh qua những vụ đàn áp tại Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý. Chính những xuyên tạc của Báo Đài CSVN đã quảng cáo và làm tầm ảnh hưởng của Lực Lượng Công giáo càng lan rộng. Có thể nói rằng Lực Lượng Công giáo đã đứng lên tòan diện tại các Giáo phận Miền Bắc Việt Nam.
Điều quan trọng ở đây là những vụ Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý không còn mang tính cách riêng lẻ nữa mà đã đứng chung lại thành một khối mang những đặc tính chung sau đây:
* Sự can đảm không ngại sợ đàn áp ở mọi nơi giống nhau
* Sự hiệp thông hỗ trợ trở thành tự động và tức khắc khi có một nơi nào bị đàn áp
* Tính cách THƯỜNG XUYÊN phản kháng của cả một khối người
* Thông tin tại Quốc nội đến mọi nơi rất nhanh chóng nhờ dòng Chúa Cứu Thế
Với những đặc tính trên đây, khối Công giáo Quốc nội đã trở thành một LỰC LƯỢNG thực sự với đòan ngũ chặt chẽ, được điều hành bởi các Linh mục và các Nữ tu sống cùng Giáo dân tại hiện trường.
Chúng tôi nhấn mạnh đến tính các THƯỜNG XUYÊN đấu tranh. Mỗi Nhà Thờ, không phải chỉ là nơi cầu nguyện, mà là nơi gặp gỡ, trao đổi thông tin, góp thêm ý kiến và nung nấu ý chí. Về điểm này, các Nhà Thờ nên áp dụng bài học Tôn giáo từ Bức tường Bá Linh qua hai Nhà Thờ đã đóng góp hữu hiệu về sự sụp đổ của Bức tường Cộng sản này.
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
=> Đồng Chiêm: CSVN vấp phạm ngu xuẩn làm Dân không còn sợ chết
Tại Tòa Khâm sứ, tại Xứ Thái Hà, CSVN có thể lấy ra vấn đề Đất đai để hạ thấp ý tưởng đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Tại Tam Tòa, CSVN cũng nại ra vấn đề di tích Chiến tranh. Nhưng tại Đồng Chiêm, không có vấn đề đất đai hay di tích chiến tranh mà CSVN đã bạo hành đánh đập Giáo dân, nhất là đàn bà.
Tại Đồng Chiêm, CSVN đã phạm một sai lầm rất lớn, đó là động chạm đến THÁNH GIÁ, biểu tượng hữu hình của ĐỨC TIN THIÊN CHÚA GIÁO. Thực vậy, trung tâm điểm của Đức Tin Thiên Chúa Giáo là cây Thánh Giá.
Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể và đã chịu chết trên cây THÁNH GIÁ để cứu Nhân lọai. Đó là trung tâm của Đức Tin vào sự Cứu Rỗi mà mọi người theo Thiên Chúa Giáo nhìn vào đó để hành đạo. Thập tự giá thời Đế quốc La Mã là một hình phạt cho những người bị kết án tử hình. Chúa Giêsu đã biến thập tự giá hình phạt mà ai cũng sợ hãi thời La Mã thành cây THÁNH GIÁ biểu tượng tình Thương yêu cứu rỗi Nhân Lọai. Cây THÁNH GIÁ được kính trọng bởi mọi Tín đồ Thiên Chúa Giáo: Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành cũng như Anh Giáo.
Ngòai việc cây THÁNH GIÁ biểu tượng hữu hình cho Đức Tin, cây THÁNH GIÁ còn là phương tiện mà Chúa Giêsu thiết lập Vương quyền. Năm 1925, Đức Giáo Hòang PIO XI đã tuyên bố LỄ CHÚA GIÊSU VUA, Vương quyền trên THÁNH GIÁ. Thánh Bộ Phụng Tự đã trích Phúc Aâm Thánh Gioan (Jn 18, 33-37), theo đó Vương quyền của Ngài được tuyên xưng trong mùa Phục Sinh và kết thúc trên cây THÁNH GIÁ. Philato đã cho viết tấm bảng INRI (Giêsu Nazaret, Vua dân Do Thái) đóng trên cây THÁNH GIÁ.
Phạm đến cây THÁNH GIÁ là phạm vào sự thánh, vào ĐỨC TIN GIÁO DÂN, vào VƯƠNG QUYỀN CHÚA GIÊSU. Ngay thời Vua, Chúa cấm đạo, các Vua, Chúa cũng đã hiểu ý nghĩa phạm sự thánh này. Các Vua Chúa chỉ yêu cầu Tín hữu bước qua cây THÁNH GIÁ, là được tha chết. Giáo dân biết rằng bước qua cây THÁNH GIÁ là chối bỏ ĐỨC TIN.
Tại Dồng Chiêm, CSVN đập phá cây THÁNH GIÁ, tức là mạ lỵ chính ĐỨC TIN người Thiên Chúa Giáo. Biến cố Đồng Chiêm càng làm tăng LỰC LƯỢNG đấu tranh của khối Công Giáo đến chỗ không còn sợ tra tấn đánh đập, thậm chí không sợ chết để theo gương các Thánh Tử Đạo trong quá khứ.
CSVN leo thang những đàn áp, tăng những kết án tù tội và đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm một cách mù quáng. Đây chỉ là phản ứng của những kẻ sợ sệt trước viễn tượng nổi dậy tòan diện của Dân để chấm dứt một CƠ CHẾ đầy BẤT CÔNG đã đến lúc chín mùi phải chấm dứt. Việc đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm chứng tỏ sự sợ hãi đến mù quáng trước Lực Lượng càng ngày càng lớn mạnh của Công Giáo.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.02.2010 | | | |
ĐÃ ĐẾN LÚC ÁP DỤNG HAI BÀI HỌC BỨC TƯỜNG BÁ LINH CHO CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
Chúng tôi thấy hai Bài học sau đây rất đúng cho Việt Nam ở thời điểm này:
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
Thái độ tích cực yểm trợ của Giáo Hòang Gioan-Phalô II cho CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tại Ba Lan được coi là yếu tố tiên phong gián tiếp cho tranh đấu đánh sập Bức tường Bá Linh. Hai Nhà Thờ tại Đông Bá Linh là nơi quy tụ cầu nguyện đấu tranh trực tiếp cho sụp đổ Bức tường năm 1989.
Tại Việt Nam lúc này, cao trào đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH đã đứng lên mạnh tại Hà Nội (Tòa Khâm sứ và Xứ Thái Hà), tại Vinh (Tam Tòa). CSVN đang sợ hãi sự lớn mạnh này.
=> Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI
Tình trạng Kinh tế tồi tệ đưa đến Tha hóa Xã hội tại Nga vào những năm 1985 khi GORBATCHEV lên nắm quyền đã đến lúc chín mùi, là một định mệnh cho sụp đổ của Chế độ Cộng sản. Tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA của GORBATCHEV như cải cách mong níu lại hình thức một chế độ đã đưa đến hậu quả Kinh tế tồi tệ và Xã hội tha hóa cực điểm cũng không thể tránh được sụp đổ đến như một định mệnh. Nga không còn đủ sức can thiệp vào những nổi dậy của các nước Đông Aâu nữa và đây là chìa khóa cho sụp đổ Bức tường Bá Linh cũng như các nước Đông Aâu chỉ trong vòng hơn một năm.
Tại Việt Nam, trong thời điểm này, Luật sư TRẦN LÂM, , nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.
Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.11.2009
Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Cuộc đấu tranh của Công đòan ĐÒAN KẾT Ba-Lan
Hai khách mời quan trọng hơn cả trong Lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Bá Linh là GORBATCHEV và WALESA, luôn luôn cùng đi bên cạnh với Bà MERKEL. Oâng Lech WALESA được coi là tiên phong đóng góp làm sụp đổ chế độ Cộng sản. Chính vì vậy cuộc Lễ Kỷ Niệm đã dành cho Oâng vinh dự đẩy Domino đầu tiên làm sụp đổ Bức tường tượng trưng bằng 1'000 chiếc Dominos. Oâng và Công đòan ĐÒAN KẾT mang một Đức Tin Công giáo vững mạnh luôn được cổ võ công khai bởi chính Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang thẳng thắn khuyên mọi người:“Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 đã bình luận:“Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh). Ngày 22.01.2002, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, qua 26 Giám Mục Việt Nam trước mặt Ngài tại Vatican, đã gửi cũng những lời cổ võ “đừng sợ hãi nữa“, “hãy can đảm đứng lên tiến ra khơi“ đến tất cả các Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và tòan Giáo dân Việt Nam. Đây là lời cổ võ chính đáng cho sự thiện. Nếu lúc này, vì những mưu mô xảo quyệt trao đổi ngọai giao trần thế của CSVN, mà Đức Giáo Hòang đương kim hay một Hồng Y nào ở Vatican tìm cách làm nhụt chí đấu tranh của Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và Giáo dân Việt Nam, thì đó là việc làm giảm Đức Tin Tôn Giáo và đánh lạc hướng Lương tâm của Tín hữu, nếu không muốn kết luận rằng đây là việc chủ mưu tòng phạm với quân Pharisiêu CSVN nhằm tiếp tục gây tội ác không những cho Giáo dân VN nói riêng mà còn cả cho Dân tộc VN nói chung.
Tinh thần Tôn Giáo nơi GORBATCHEV
Trong thời gian học Đại học Luật tại Mạc Tư Khoa, Gorbatchev luôn luôn chơi thân với một người bạn đến học từ Prague, tên là MLYNAR, cùng học Luật. Vợ của người bạn này là bạn gái cùng phòng với RAISSA. Chính vì mối quan hệ này mà RAISSA trở thành vợ của GORBATCHEV. Khi học xong tại Mạc Tư Khoa, MLYNAR trở về Prague và vào được Bộ Chính trị. Nhưng sau này Oâng theo Phong trào Mùa Xuân Prague và bị mất chức. MLYNAR đã viết về tinh thần Tôn giáo (Chính thống giáo) của Gia đình Gorbatchev. Oâng nội và cha của Gorbatchev âm thầm sùng đạo, mặc dầu cũng là những người theo STALINE. Thời Staline rất khắt khe và nguy hiểm về Tôn giáo. Nhưng theo tiết lộ của Gorbatchev cho bạn của mình, thì Gia đình đã dấu Hình Đức Mẹ ở đàng sau hình của Staline để lén lút cầu nguyện. Tinh thần Tôn giáo của Gia đình đã ảnh hưởng lên tinh thần của Gorbatchev. (Tài liệu: MIKHAIL S.GORBATCHEV by David Kings, Xuất bản Time Incorporated N.York 1988).
Hai Nhà Thờ tại Bá Linh: Nơi tụ họp thường xuyên đấu tranh
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
Tại Việt Nam ngày nay, chúng ta nghĩ đến những cuộc tụ họp cầu nguyện tại Khuôn viên Tòa Khâm sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa. Những Tín hữu đến cầu nguyện bị đe dọa, bị thâu hình, bị đàn áp bằng võ lực thực sự của Công an. Nhưng Tín hữu đã không sợ hãi, kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Phong trào Hiệp Thông cầu nguyện mỗi ngày mỗi lan rộng. Đây là những cuộc tụ họp đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH rất chính đáng. Hồng Y Quốc Vụ Khanh từ Vatican đã một lần can thiệp và bị quân Pharisiêu CSVN phản bội. Đây là một việc can thiệp lỗi lầm. Quân Pharisiêu CSVN còn đang muốn gian giảo tìm cách trao đổi ngọai giao trần thế với Vatican để nhằm phá đổ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM cho sự thiện của Công giáo Việt Nam. Vatican không thể để mình bị lừa gạt nữa.
Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.11.2009
Khi nói lý do KINH TẾ là ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản Nga, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Tình trạng Kinh tế tồi tàn của Nga Khi GORBATCHEV lên nắm quyền
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết bài học này là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Gorbatchev sinh ngày 02 tháng 3 năm 1931 tại làng nhỏ Privolnoie thuộc vùng Stavropol, một vùng nông nghiệp phía Nam Liên xô. Học hành thời nhỏ không có gì xuất sắc, nhưng nhờ tận tâm họat động trong đòan Thanh niên Cộng sản, nên ông được khen thưởng và được giới thiệu lên Mạc Tư Khoa học Đại học. Oâng muốn học ngành Kỷ thuật Vật lý, nhưng vì yếu môn Tóan, nên buộc phải được chỉ định học Đại học Luật. Đây là Đại học ít Sinh viên nhất vì Luật pháp dưới thời Staline không có ý nghĩa gì. Xong Đại học Luật, Oâng trở về tỉnh và trở thành Bí thư đảng của tỉnh. Sau 20 năm chỉ ở tỉnh đồng quê canh nông này, tên ông được lưu ý đến và được gọi về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Việc thăng tiến tới chức vụ lớn nhất trong đảng Cộng sản Nga cũng không phải là do công lao của ông, mà chỉ là sự run rủi ngẫu nhiên của thời thế mà chính ông không chủ động. Thực vậy, thuộc Tỉnh ông, có những suối nước nóng, nơi mà các Lãnh tụ già yếu, mang phong thấp đau mình nhức xương của đảng đến vùng đó tắm chữa bệnh. Từ đó, những Lãnh tụ già yếu này biết đến tên ông và sau này nhớ lại sự chăm sóc chữa bệnh của ông mà gọi ông về Mạc Tư Khoa.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này cảng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Tuyên bố Cải Cách của GORBATCHEV
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009 | | | |
RÚT RA TỪ KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH: Bài học 3:
THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
=> Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN
=> Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU
Ngày 12.11.2009, chúng tôi đã viết Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO. Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Ngày 19.11.2009, chúng tôi viết Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN không phải cho riêng Nga mà cho cả các nước chư hầu Đông Aâu. Phá Tôn Giáo, phá đời sống tinh thần và chỉ tôn vinh vật chất, thì khi Kinh tế (vật chất) tồi tàn, con người Cộng sản trở thành tha hóa, cá nhân sống với những tranh giành miếng ăn không còn tôn trọng danh dự và công lý. Tình trạng Kinh tế và tha hóa Xã hội như vậy trở thành Định Mệnh sụp đổ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Khi nói ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV tại Nga và kéo theo Đông Âu. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Hai Bài học trên đây đang diễn ra tại Việt Nam. Lực Lượng Tôn Giáo, đặc biệt là Công Giáo, lớn mạnh. Tinh thần đấu tranh của Lực Lượng Công Giáo càng ngày càng trở thành cương quyết do chính những đàn áp vô lý của CSVN tạo nên. Kinh tế Việt Nam là sự bóc lột sức lao động của dân, là sự cướp bóc tài sản quốc gia cho túi riêng của nhóm Mafia CSVN. Độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế của nhóm đảng Mafia làm Tham nhũng, Hối lộ tràn lan. Xã hội sống trong tha hóa, bất công.
Hôm nay, 28.01.2009, chúng tôi viết Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU. Không phải chỉ có những cuộc NỔI DẬY của Dân chúng chống Cộng sản vào những năm 1989-1991, mà từ năm 1953 đã có những cuộc nổi dậy. Nếu những cuộc nổi dậy trước những năm 1989-1991, mặc dầu rất kiên cường nhưng không mang lại thành công, thì phải có những lý do của hòan cảnh khác với tình hình Nga và Đông Aâu ở thời điểm 1989-1991. Bài học này muốn nhìn những lý do THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của những cuộc nổi dậy ở Đông Aâu để có thể áp dụng cho việc nổi dậy tại Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi viết những khía cạnh sau đây:
=> Những cuộc nổi dậy và thất bại => Những cuộc nổi dậy và thành công => Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam
Những cuộc nổi dậy và thất bại
Sau Thế Chiến II, hai Khối Cộng sản và Khối Tự do thành hình, bắt đầu từ những tranh chấp tại Bá Linh do Staline chủ xướng. Năm 1947, Chương trình Marshall với USD.173 tỉ bắt đầu tái thiết Aâu châu hậu chiến. Staline tìm mọi cách để ngăn cản Đông Bá Linh và các nước chư hầu Đông Aâu đứng ngòai tầm ảnh hưởng của đồng Đo-la do Chương trình này. Năm 1948, Staline phong tỏa Đông Bá Linh nằm trong lãnh thổ Đông Đức, cấm những đường bộ chuyển vận lương thực cho Bá Linh mà chính Đồng Minh Mỹ, Anh, Pháp cùng điều hành với Nga. Đây là việc bắt chẹt Mỹ, Anh, Pháp phải bỏ Bá Linh. Nhưng Đồng Minh đã thiết lập ngay năm 1949 Cầu Không Vận và vẫn giữ Tây Bá Linh.
1. Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953
Tây Bá Linh được xây dựng. Tây Đức phát triển Kinh tế. Đông Đức dưới quyền của Erich Honecker, một đồ đệ trung thành của Staline, đẩy mạnh kỹ nghệ nặng nhằm phục vụ cho kỹ nghệ võ khí của Nga. Phong trào nêu danh anh hùng công nhân sản xuất được phát động khắp nước. Công nhân bắt đầu thấy mình làm việc quá cực nhọc, chỉ nhận được khẩu phần ăn uống, không có nghiệp đòan bảo vệ. Khối công nhân xây cất chỉ thấy công việc xây những cơ sở cho đảng, mà chính nhà ở của họ tồi tàn, nhất là sau chiến tranh. Tình trạng này đã đưa đến cuộc nổi dậy của Công nhân, bắt đầu từ khối Công nhân xây cất.
Staline chết tháng Ba năm 1953. Nikita KHROUCHTCHEV lên nắm quyền.
Ngày 16.06.1953, Công nhân xây cất đình công. Phong trào lan tràn ra tới 278 nhóm công nhân, không phải chỉ là công nhân xây cất mà còn cả những công nhân thuộc kỹ nghệ năng. Từ đình công, thợ thuyền xuống đường biểu tình và đi đập phá những cơ sở của đảng Cộng sản.
Liền ngày hôm sau, 17.06.1953, Khrouchtchev ra lệnh cho xe tăng của Hồng Quân bắn xả vào những đòan biểu tình. Cuộc đàn áp làm cho 300 nhân công thiệt mạng. Honecker xử dụng Stasi bắt 20’000 người. Oâng cũng ra lệnh xử tử 200 công nhân được coi là những người thúc đẩy và điều hành cuộc nổi dậy.
Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953 thất bại do chính lệnh đàn áp khát máu của Moscou.
2) Cuộc nổi dậy của Dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956
Thành phố Budapest và Dân chúng Hung Gia Lợi nổi dậy vào tháng Mười năm 1956 để chống lại đảng Cộng sản đã độc tài đưa Hung Gia Lợi làm chư hầu cho Nga. Dân chúng chỉ làm việc phục vụ cho Đế quốc Cộng sản Nga, trong khi ấy đời sống dân chúng, sau hơn 10 năm chấm dứt Thế Chiến, vẫn trong tình trạng tồi tệ, nghèo nàn. Cuộc nổi dậy của Hung Gia Lợi đòi hỏi Độc Lập cho quốc gia đối với Nga.
Do lệnh của Khrouchtchev từ Moscou, hơn 200 xe tăng của Hồng Quân đã tràn vào Budapest, tàn sát những đòan Dân chúng xuống đường. Trong một thời gian, những nhóm dân chúng, từ những cửa sổ của các nhà ở đường phố đã kháng chiến chống lại xe tăng, nhưng vô hiệu.
Khrouchtchev không thể để cho dân chúng từ bất cứ quốc gia chư hầu nào chống lại quyền lực Cộng sản từ Moscou.
Cuộc nổi dậy của dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956 thất bại do sự cứng rắn đàn áp của Moscou. Hai cuộc nổi dậy 1953 tại Đức và 1956 tại Hung Gia Lợi càng làm cho Khrouchtchev tăng cường chiến tranh lạnh, nhất là tại Bá Linh.
Năm 1961, trong cuộc gặp tại Vienne (Aùo) giữa Khrouchtchev và Kennedy, Khrouchtchev đã tuyên bố với Kennedy rằng Nga sẵn sàng một cuộc chiến tranh nguyên tử về vấn đề Bá Linh. Nhưng tháng Mười năm 1961, Bức tường Bá Linh đã được thi hành với lệnh của Moscou. Việc xây Bức tường Bá Linh làm cho Kennedy nhẹ nhõm đối với đe dọa chiến tranh nguyên tử của Khrouchtchev. Theo Kennedy, xây Bức tường Bá Linh có nghĩa là Khrouchtchev thế thủ cho Khối Cộng sản chứ không tấn công nữa theo như thách thức tại Vienne.
3) Mùa Xuân tại Prague (Tiệp Khắc) năm 1968
Năm 1968 làm năm nổi dậy của giới trẻ khắp nơi. Paris 1968: sinh viên xuống đường.
Alexander DUBCEK, Bí thư đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ tháng Giêng năm 1968. Oâng chủ trương Mùa Xuân Tại Prague nhằm cởi mở Chế độ và thóat dần tầm ảnh hưởng khống chế của Moscou. Đây không phải là cuộc nổi dậy bột phát từ dân chúng, nhưng là từ một đảng Cộng sản muốn nới rộng Chế độ để có thêm Tự do, Dân chủ và Nhân quyền.
Năm 1964, Khrouchtchev buộc phải từ chức và Leonid BREJNEV lên thay.
Nhưng Mùa Xuân tại Prague 1968 cũng bị lệnh của Moscou đàn áp. Brejnev cho lệnh xe tăng của Lực Lượng Phòng Thủ Pacte de Varsovie tràn vào Tiệp Khắc. Dubcek bị lọai khỏi đảng Cộng sản Tiệp.
Alexander DUBCEK, năm 1968, có thể nói là một nhà Cải Cách đi trước Mikhail GORBATCHEV 17 năm, 1985, với Perestroika. Nếu Mùa Xuân tại Prague xẩy ra vào thời Perestroika của Gorbatchev thì có lẽ nó đã thành công, chứ không bị xe tăng đàn áp như thời Brejnev.
THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG đến từ lệnh của Moscou vậy.
Những cuộc nổi dậy và thành công
Chúng ta đi vào những cuộc nổi dậy từ năm 1980 đến 1989-1991. Trong thời kỳ này, có những thay đổi từ Moscou.
Bắt đầu từ năm 1978, sau 14 năm nắm trọn quyền hành, đến năm 1982, Brejnev bước vào giai đọan mà người ta gọi là chiều tà của ông với những tệ đoan hành chánh, xã hội, kinh tế báo hiệu tình trạng sụp đổ của Cộng sản mà Gorbatchev buộc lòng phải cải cách sau này để cứu vãn chế độ. “Les années 1978 à 1982 furent le crépuscule de l’ère Brejnev, époque òu la stagnation économique et la storpeur politique semblaient faire éclore la corruption et l’intrigue dans les plus hautes sphère de la politique.” (Những năm 1978 đến 1982 đã là chiều tà của triều đại Brejnev, thời kỳ mà tình trạng ứ đọng kinh tế và sự hôn mê chính trị dường như làm nẩy nở tham nhũng và mưu mẹo ở những địa vực cao nhất của chính trị) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.161).
Tháng Mười năm 1980, Gorbatchev vào Bộ Chính trị. Trừ Gregori ROMANOV hơn ông 8 tuổi, GORBATCHEV sống giữa những Lãnh tụ già yếu khác gần đất xa trời, thở không ra hơi. Gorbatchev trẻ trung, đầy sinh lực, không uống rượu, có tài ngọai giao, được coi là người giữ chủ yếu chính sách của Moscou từ những năm 1980.
Những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1980 có hòan cảnh để thành công, hoặc tối thiểu không bị xe tăng đàn áp đẫm máu như trước đây.
1) Cuộc nổi dậy của CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT Ba Lan năm 1980
Lech WALESA thành lập CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tháng Bẩy năm 1980, một Công Đòan Tự do ở trong một Thể Chế độc tài Cộng sản. Đây là một việc nổi dậy của giới công nhân. Năm 1981, cuộc đình công đấu tranh đầu tiên được tổ chức tại Dansk và trong cuộc biểu tình, Lech WALESA giơ cao cho công nhân thấy chiến tháng đầu tiên của đấu tranh, đó là tờ giấy mà Nhà Nước Cộng sản cho phép thành lập Công Đòan.
Khi chính thức được công nhận, Công Đòan Đòan Kết tiếp tục đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, mặc dầu bị Nhà Nước Cộng sản Ba-Lan tìm cách đàn áp.
Xin nhắc ở đây rằng từ 16.10.1978, một Hồng Y gốc Ba Lan được bầu làm Giáo Hòang, Jean-Paul II. Từ Moscou, bắt đầu tinh thần Gorbatchev, không có lệnh mang xe tăng đàn áp cuộc nổi dậy tại Ba Lan. Tuy nhiên Giáo Hòang Jean-Paul II, vẫn nhớ những hình ảnh xe tăng đàn áp trước đây, đã công khai tuyên bố rằng nếu Nga đem xe tăng tràn vào Ba-Lan, thì Ngài sẵn sàng cởi áo Giáo Hòang để về Ba Lan chiến đấu. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang Jean-Paul II thẳng thắn khuyên mọi người: “Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 còn viết về sự đóng góp đấu tranh của Giáo Hòang: “Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh).
Cuộc đấu tranh của Công Dòan Đòan Kết đã trường kỳ, bắt buộc Nhà Nước Cộng sản phải đối thọai. Đảng Cộng sản Ba Lan cuối cùng vào tháng Tám năm 1989 đã phải họp bàn tròn với Lực Lượng đối lập mà dẫn đầu là Công Đòan Đòan Kết. Lần đầu tiên, một Thủ tướng được bầu lên mà không phải là đảng viên Cộng sản.
Việc đấu tranh thành công của Công Đòan Đòan Kết hiển nhiên từ hai yếu tố ngòai Ba Lan: Moscou không gửi xe tăng đàn áp như trước và Giáo Hòang La Mã tích cưcï ủng hộ.
2) Những cuộc nổi dậy 1989-1991 chấm dứt Cộng sản
Như trên chúng tôi đã viết, từ năm 1978, Brejnev sống như người đã chết. Một tờ báo Văn Học từ Leningrad đã viết: “La plupart des gens pensent à lui comme s’il était déjà mort.” (Phần lớn những người nghĩ về ông như là ông đã chết) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162). Gorbatchev, trong bộ chính trị, đã mang vào tinh thần cải cách, đổi mới ngay từ cuối triều đại Brejnev.
Năm 1982, Brejnev chết, Tatiana ANDROPOV lên thay, nhưng cũng là người già yếu phải vịn vào vai Gorbatchev để đi dự đám táng Brejnev. Những tháng cuối cùng, Andropov nằm liệt giường tại bệnh viện Kuntsevo và tất cả những quyết định chính trị đều qua tay Gorbatchev truyền thông. Andropov chết tháng Hai 1984. Một ông già nữa đau yếu bệnh tật, TCHERNENKO lên thay. “Il était déjà si faible qu’il n’aivait même plus la force de lever le bras jusqu’au cercueil qu’il accompagnait sur la place Rouge. Il pouvait à peine traverser une pìece sans aide” (Oâng ta yếu sức đến nỗi ông ta không còn sức để giơ tay lên đụng vào quan tài mà ông phải đưa đám đền Công trường Đỏ. Oâng ta khó khăn đi qua được một căn phòng mà không có sự giúp sức.) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162).
Tchernenko chết ngày 11.03.1985. Mikhail GORBATCHEV lên thay. Nắm trọn quyền, Gorbatchev tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA như chúng tôi đã viết trong Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN. Gorbatchev đã giúp đỡ các Lãnh đạo già yếu để đưa đám táng cho nhau. Trong tình trạng bại họai của Kinh tế và Xã hội, Gorbatchev phải cố gắng Cải Cách nếu muốn cứu vớt phần nào chế độ.
Tinh thần Cải Cách của Moscou lan rộng khắp Đông Aâu. Moscou không còn sức để can thiệp vào các chư hầu.
Các nước Đông Aâu đã đồng đứng dậy vào những năm 1989-1991:
=> Hung Gia Lợi mở hàng rào kẽm gai giữa Hung và Áo
=> Đại sứ quán của Tây Đức được Nhà Nước Cộng sản Tiệp cho phép đón tỵ nạn, từ đó di chuyển sang Tây Đức.
=> Dân chúng Đông Bá Linh, từ hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS phát xuất những cuộc biểu tình tuần hành của dân chúng.
Thực vậy cuộc nổi dậy của Dân Đông Bá Linh mang tính cách quyết định và được sự ủng hộ công khai của GORBATCHEV nhân cuộc ông qua để mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản tại Đông Đức.
Năm 1989, Erich HONECKER, đệ tử trung thành của Staline, tổ chức mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản. Oâng mời các đảng Cộng sản trên Thế giới đến tham dự. Ngày 06.10.1989, Gorbatchev sang tham dự. Dân chúng biểu tình hô lớn Gorbi ! Gorbi ! như người đến tháo gỡ chế dộ ra khỏi kềm kẹp Staline mà Honecker vẫn chủ trương.
Xuống máy bay, Gorbatchev đã tuyên bố ngay rằng tất cả những quyết định chính trị phải để ý đến đòi hỏi của dân chúng. Ngày hôm sau, 07.10.1989, cuộc gặp riêng giữa Honecker và Gortbatchev được coi là cuộc họp của hai người điếc; mỗi người mỗi ngả. Gorbatchev đã cảnh cáo Honecker rằng những ai không theo Thời cuộc, sẽ bị Thời cuộc lọai ra.
Hai ngày sau khi Gorbatchev lên máy bay về Nga, một cuộc biểu tình lớn 10'000 người phát xuất từ Nhà Thờ ST.NICOLAS ngày 09.10.1989. Người ta sợ một cuộc đàn áp bằng xe tăng do quyết định của chính Honecker chứ không từ Moscou. Người ta nghĩ đến cuộc đàn áp bằng xe tăng tại Thiên An Môn mới đây ngày 04.06.1989.
Nhưng cuối cùng Honecker không dám đàn áp biểu tình bằng xe tăng bởi vì ngại sợ chính những người trong đảng. Đảng bắt đầu chia rẽ trước sức mạnh biểu tình của dân chúng. Ngày 18.10.1989, Erich Honecker xin từ chức. Egon KRENZ lên và tuyên bố những biện pháp cải tổ nửa vời. Nhưng dân chúng, một khi đã nổi dậy, họ muốn đi tới cùng.
Ngày 04.11.1989, một cuộc biểu tình vĩ đại được phép tổ chức. Ngày 09.11.1989, lúc 23 giờ đêm, Bức tường Bá Linh được chọc thủng và nhanh chóng đổ xuống ngày hôm sau.
Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam
Nhìn những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1953 đến những năm 1989-1991, chúng ta thấy rằng tại một nước chư hầu, yếu tố quyết định THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của dân chúng nổi dậy, ngòai ý chí đấu tranh can đảm của dân, còn phải kể đến sự can thiệp đàn áp hay sự thả lỏng, cổ võ từ Moscou. Những cuộc nổi dậy của Dức 1953, của Hung Gia Lợi 1956, của Tiệp Khắc 1968 đã THẤT BẠI vì bị xe tăng của Hồng Quân trực tiếp đàn áp do lệnh của Khrouchtchev và của Brejnev, trong khi đó những cuộc nổi dậy từ 1980 đến những năm 1989-1991 đã THÀNH CÔNG vì không những không có đàn áp đến từ Moscou, mà còn được tinh thần Cải Cách của Gorbatchev nâng đỡ, cổ võ.
Tại Việt Nam, chúng tôi muốn dành cho một Luật sư lão thành của chế độ lên tiếng trước về thực trạng Quê Hương, như vậy để tránh cái công thức láo khóet của CSVN rằng đây là tuyên truyền của thế lực thù địch ngọai lai. Luật sư TRẦN LÂM, nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” Chúng tôi chỉ thêm rằng: “Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.”
Lực Lượng nổi dậy của Dân chúng Việt Nam đã sẵn sàng. Dân Oan mất Nhà, Đất, đã kéo về Sài Gòn, Hà Nội biểu tình. Công Nhân thường xuyên đình công. Giới trẻ và Trí thức đã can đảm cất tiếng nói ngăn chặn xâm lăng Trung quốc. Dân Công giáo đã hiệp thông thành một Lực Lượng lớn.
Bài học từ Bức tường Bá Linh làm cho Lực Lượng sẵn sàng nổi dậy này đặt những câu hỏi sau đây:
=> Về mặt Chính trị, CSVN đã làm bồi cho Trung quốc đến mức nào ? Phải chăng CSVN mất độc lập về Chính trị để đến nỗi sẵn sàng rước xe tăng Trung quốc tràn vào Việt Nam để giết con cháu Hồng Bàng?
=> Về mặt Quân sự, lệnh chỉ huy của Trung quốc có dủ mạnh để bắt quân đội Việt Nam xả súng giết đồng bào ruột thịt của mình không ?
=> Về mặt Kinh tế, quyền lợi Kinh tế của Trung quốc nắm giữ tại Việt Nam lớn đến nỗi Trung Cộng có thể biện minh trước Thế giới rằng họ cho Quân đội tràn vào Việt Nam để bảo vệ Kinh tế của họ hay không?
Hỏi những câu đó, cốt ý để thẩm định sự THÀNH CÔNG hay THẤT BẠI khi Lực Lượng quần chúng hiện nay đứng lên như tại Đông Aâu. Nếu chỉ nguyên CSVN, thì Lực Lượng dân chúng không có gì phải ngại sợ mà đặt câu hỏi. Honecker không dám ra lệnh cho lính Đức dùng xe tăng bắn xả vào dân Đức vì sợ chính một phần quân đội Đức sẽ chống lại. Cũng vậy, Nông Đức Mạnh không thể ra lệnh dùng chiến xa bắn vào dân chúng anh em bà con của chính quân đội, sợ rằng một bộ phân quân đội sẽ đảo chính giết chính Nông Đức Mạnh.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010
| | | |
HỢP SỨC ĐẤU TRANH: DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN & CHỐNG TẦU XÂM LĂNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 03.12.2009
Lực lượng Quốc nội đang đứng lên. Hải ngọai hợp sức hỗ trợ cho Lực lượng Quốc nội. Cuộc đấu tranh của Quốc nội và sự hỗ trợ từ Hải ngọai nhằm dứt bỏ Cơ Chế CSVN tham nhũng để phát triển Đất Nước và chống lại việc xâm lăng của Trung quốc từ việc họ chiếm Đất, Biển của Tổ Tiên đến việc ho cho tràn lan hàng hóa giết chết Kinh tế của Quê Hương.
Nhìn vấn đề đấu tranh hiện nay như vậy, ngày 26.10.2009, chúng tôi đã đề nghị một QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH để cùng thảo luận; và ngày 28.11.2009, chúng tôi, nhân danh Phong trào Việt TỰ-DÂN, ra bản TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH, nhân cuộc Họp Kỷ Niệm 9 năm PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 tổ chức tại Toronto, Canada.
MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Tham Luận cho cuộc họp mở rộng ngày 28-29/11/2009 của Phong Trào Hiến Chương 2000: Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009 Bài này đi từ nhận định tình hình xã hội tại VN dưới quyền cai trị của độc đảng CSVN để đi tới dự phóng một quan điểm đấu tranh.
Nhận định Tình hình Từ khi đảng CSVN đặt ách thống trị trên tòan lãnh thổ Việt Nam 1975, tình hình đấu tranh đã chuyển biến rất nhiều từ những năm đầu sánh với ngày naỵ Cho đến ngày sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Nga và Đông Âu Cuộc đấu tranh đặt nặng ở phía người Việt Hải ngọai, trong khi ấy tại Quốc nội, Dân chúng sống trong sợ sệt dưới quyền cai trị hòan tòan khắt khe và đàn áp của đảng CSVN. Cuộc đấu tranh của người Việt Hải ngọai đặt chính yếu vào giải pháp quân sự nhằm giải phóng Quê Hương. Có những xâm nhập từ ngòai vào, nhưng dân chúng Việt Nam vẫn đang bàng hòang về cuộc chiến mới đây, nhất là đang sống dưới cùm kẹp khát máu của CSVN, nên những xâm nhập này không đủ sức dấy động một cuộc nổi dậy của quần chúng. Giai đọan CSVN buộc lòng phải mở cửa và "đổi mới" Khi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, đảng và Nhà Nước CSVN hòan tòan ở trong thế bí về ngân sách vì không còn sự giúp đỡ của Nga và Đông Aâu nữạ Dân chúng đã phải ăn bo bo trước đây, bây giờ rơi vào tình trạng đói ăn thực sư.. Biết rằng phá hàng rào tre khép kín Chế độ là nguy hiểm, nhưng đảng và Nhà Nước CSVN bắt buộc phải mở cửa chơi với phía Thế giới Tự do vì bí miếng ăn. Người ngọai quốc và Việt kiều có thể vào Việt Nam và giao tiếp với dân chúng quốc nộị Qua những giao tiếp này, người quốc nội biết đến ý chí đấu tranh của khối người Việt tỵ nạn. Cũng trong thời kỳ này, việc đấu tranh, vẫn chính yếu từ Hải ngọai, nhưng chuyển hướng sang đấu tranh cho ý thức Chính trị, Nhân quyền, hơn là giải pháp quân sự như thời gian trước đâỵ Cuộc đấu tranh của Lm.NGUYỄN VĂN LÝ: một ngọn lửa công khai đốt lên Những giao tiếp với nước ngòai và với Việt kiều cho dân quốc nội biết đến ý chí đấu tranh tại Hải ngọai, nhưng giới biết tin vẫn còn dè dặt chưa lên tiếng. Chính trong tình hình dè dặt này mà cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ được coi là tiên phong thắp lên NGỌN LỬA đấu tranh . Cuộc đấu tranh của Linh mục tuy bị đàn áp, nhưng việc làm này đã mang lại hiệu quả tác động tâm lý, nói lên ý nghĩa phải can đảm đứng lên từ quốc nội thì mới hy vọng thay đổi được Cơ Chế đàn áp của CSVN. Điều quan trọng ở đây là phải đặt tầm quyết định ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI tự giải phóng mình. Ý chí đấu tranh giải phóng Quê Hương của Hải ngọai trở thành ý chí HỖ TRỢ cho Quốc Nộị Tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường để sửa sọan vào WTO hội nhập với Thế giới Cách đây 7 năm, đảng và Nhà Nước CSVN đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Họ thêm cái đuôi "định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa". Thực ra, một là để chữa thẹn, hai là một cái vỏ bọc cho một CƠ CHẾ vẫn giữ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Với Cơ Chế này việc tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường là tréo cẳng ngỗng. Nhờ sự giúp đỡ của Hoa kỳ, Việt Nam đã vào được WTỌ Khi giúp đỡ như vậy, TT.BUSH đồng thời cũng mong mỏi một Tiến Trình Dân Chủ hóa Việt Nam. Cuộc đấu tranh tại Quốc nội cũng như Hải ngọai khởi sắc lên như trông đợi ở áp lực của Hoa kỳ và Tây phương. Tại Quốc nội một Phong trào gọi là những Nhà Dân chủ đã công khai ra mặt. Tại Hải ngọai, một số nhóm Chính trị, nào thành lập những Chính phủ lưu vong, nào là hé cho thấy chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp. Họ có lẽ hy vọng vào áp lực của Hoa kỳ để được về Việt Nam cùng với CSVN thực hiện Tiến Trình Dân Chủ Hóạ Nếu có hứa với TT.BUSH để được ra khỏi danh sách Những Nước Bị Quan Tâm Đặc Biệt vì vi phạm Tự do Tôn giáo, rồi vào WTO, vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, thì ngày nay CSVN đã phản bội lại lời hứa Tiến Trình Dân chủ hóạ Sa lầy với Trung Cộng và việc đứng lên mạnh mẽ tại Quốc nội "Đi với Mỹ thì mất đảng; Đi với Tầu thì mất nước", đó là câu mà dân Hà Nội thường nói với nhaụ CSVN không muốn mất đảng, thà là mất nước. Đảng và Nhà Nước CSVN ngày nay đã hòan tòan chọn lựa đi với Trung Cộng để mất nước. CSVN đã thẳng tay đàn áp các Phong trào Dân Chủ, đàn áp tất cả những ai động chạm đến cuộc xâm lăng Lãnh Thổ, Lãnh Hải và Kinh tế của Trung Cô.ng. Chính những cuộc đàn áp không chính đáng này đã tạo lên làn sóng phản kháng từ mọi giới tại Việt Nam: 1) Dân Oan mất Nhà, Đất đã công khai kéo về Sài Gòn và Hà Nộị Cuộc đàn áp mà không giải quyết cho có Công lý càng làm tăng thên uất ức sẵn sàng bùng nổ nơi Dân Oan. 2) Công nhân đã làm những cuộc đình công. Ngày nay hậu quả của Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới và việc nhân công Trung quốc ồ ạt vào VN càng làm công nhân VN thất nghiệp. Nguồn phản kháng này mỗi ngày một nhen nhúm, đe dọa nổ lớn. 3) Những vụ Tòa Khâm sứ Hà Nội, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý làm hàng Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân Công giáo đòan kết quyết tâm đấu tranh cho CÔNG LÝ. 4) Việc Trung Cộng cấm đóan Ngư dân miền Trung đánh cá trong vùng Biển VN, rồi đánh đập, cướp bóc Ngư dân lánh nạn bão số 9 vừa qua đang tạo phẫn nộ từ dân chúng đối với Nhà Nước CSVN hèn yếụ 5) Vụ Bôxít Tây Nguyên đã dấy động lên phong trào phản đối công khai của giới Trí thức và ngay cả phía quân độị 6) Từ vụ Bôxit đến hàng hóa Trung quốc tràn ngập Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi tòan dân cứu nguy Đất Nước, không xài hàng Trung quốc. 7) Trước nạn xâm lăng Kinh tế của Trung quốc, giới chuyên gia Kinh tế VN đã công khai lên tiếng phản đối và kêu gọi cứu nguy Đất Nước. Vietnamnet ngày 15.06.2009 đã viết: "Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, "quét" sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các doanh nghiệp VN đang "thua trắng bụng". Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc." 8) Theo lệnh của Trung quốc, qua Tùy viên Thương mại Hồ Tỏa Cẩm, Nguyễn Tấn Dũng ra Quyết Định 97 ngày 24.07.2009 cấm đóan giới Trí thức phản biện đụng chạm đến Tầụ Tổ chức IDS tự giải tán vì lý do Quyết Định bịt miệng nàỵ 9) Một cuộc Thảo Luận công khai được tổ chức ngày 22.09.2009 gồm những Giáo sư Đại học về Kinh tế đã nói lên tính cách tréo cẳng ngỗng của mô hình Kinh tế Tự do Thị trường "định hướng XHCN", nghĩa là một CƠ CHẾ vẫn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Giáo sư Tiến sĩ TRẦN NGỌC HIÊN phát biểu: "Sự phát triển của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính tri.. Về mặt chính trị, sự phát triển kinh tế thị trường trở thành bước ngoặc kết thúc các chế độ chuyên chế và hình thành chế độ dân chủ. "Không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến. Không thể coi là đã có nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn phổ biến". Câu nói cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự phải dẫn đến DÂN CHỦ. Tình hình qua 9 điểm kể ra trên đây cho thấy rằng Quốc Nội đang đứng lên dắu tranh, từ giới đại đa số là Dân nghèo, đến giới Trí thức và Lực lượng các Tôn giáọ Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Quốc nội mỗi ngày mỗi tăng. Đảng và Nhà Nước CSVN càng đàn áp bao nhiêu, thì càng đi vào chỗ bí vì dựa vào lý do bất chính và càng làm cho dân chúng phẫn nộ vì biết rõ đây là hành động cả vú lấp miệng em mà thôị
Một Quan Điểm Đấu Tranh để tham luận Trong khí thế đấu tranh đang lên mạnh của tòan dân gồm mọi giới, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một quan điểm đấu tranh gồm những điểm sau đây: 1) Mục đích tối hậu đi tới của đấu tranh: DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Mục đích này hòan tòan mang tính cách Kinh tế. Chúng ta nhằm vào việc phát triển Kinh tế Đất Nước. Nhân danh việc phát triển này, chúng ta không thể để việc độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cái CƠ CHẾ chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là nguồn gốc những tham nhũng, hối lộ, bất công. Không thể phát triển Kinh tế chỉ cho một nhóm ngườị Thực vậy, chính CƠ CHẾ này đang tạo Kinh tế Mafia: nhóm người tham nhũng hối lộ giầu nứt khố và dân lam lũ làm ăn nghèo kiết xác. Chúng ta lấy lý do dấu tranh là Kinh tế, đó là xây dựng và không phải là phạm điều 88 mà CSVN cố ngụy biện gán cho những ai không đồng ý với những cướp bóc của ho.. Chính sự phát triển Kinh tế Tự do này đặt nền tảng để những tác nhân Kinh tế (mọi người) thiết lập ra nguyên tắc DÂN CHỦ trước hết để giải quyết những tranh chấp quyền lợi, sau đó cùng nhau chấp nhận hệ thống Pháp Luật cho cuộc sống chung đụng xã hội cho CÔNG BẰNG. DÂN CHỦ là nguyên tắc hệ quả của việc phát triển Kinh tế Tự dọ Nhắc hai chữ Dân chủ, CSVN ngụy biện nói chúng ta phạm điều 88. Chúng ta chỉ nói Phát triển Kinh tế Tự dọ 2) Những điểm cụ thể đấu tranh Chúng ta phải đấu tranh với một Nhà Nước độc tài và ngụy biện, xử dụng vũ lực và nhà tù để đàn áp. Vì vậy, trước khi đấu tranh, chúng ta phải nghĩ đến chống đỡ cho điểm mình đấu tranh. Chúng tôi nêu ra những điểm đấu tranh sau đây: a. Đấu tranh đòi CÔNG LÝ Khi đòi CÔNG LÝ, chúng ta được sự ủng hộ của khối Dân Oan và Lực lượng các Tôn giáọ Dân Oan và Tôn giáo đang đòi Công lý. b. Đấu tranh bênh vực nghề nghiệp cho Công nhân và Ngư dân Công nhân mỗi ngày mỗi mất việc vì nhân công Trung quốc tràn vàọ Ngư dân mất nơi đánh cá do Tầu chiếm Biển và Hải đảọ c. Đấu tranh chống khai thác Bôxit Tây Nguyên và việc Tầu xâm lăng Hòang/Trường Sa Đây là việc dấy động giới Trẻ Sinh viên Học sinh và giới Trí thức, cũng như nhiều giới khác, nghĩ đến Tiền đồ Đất Nước. d. Đấu tranh chống xâm lăng Kinh tế Trung quốc Hàng Trung quốc, nhất là hàng độc, lan tràn Việt Nam và giết Kinh tế Việt Nam. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Mỗi Dự án hàm ngụ việc xuất cảng thiết bị và công nhân Tầu sang Việt Nam. Mỗi Dự án là việc nhận nợ mà Thế hệ tương lai phải oằn lưng trả nơ.. Dây là khía cạnh dấy động tòan dân, đặc biệt giới doanh nhân. e. Triệt để chống Tham nhũng, Lãng phí Đây không phải là cá nhân, mà chính là CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng vi trùng Tham nhũng, Lãng phí ăn ruỗng đời sống Kinh tế của tòan dân. Chống Tham nhũng, Lãng phí là chống chính cái CƠ CHẾ hiện hành vậỵ CSVN không thể nói việc chống tham nhũng là phạm điều 88. f. Đấu tranh cho Tự do phản biện xây dựng Kinh tế Nếu CSVN ngụy biện cấm phản biện đối với khía cạnh Chính trị, thì chúng ta tối thiểu đòi Tự do phản biện để XÂY DỰNG KINH TẾ, phát triển Đất nước. Chúng tôi ao ước rằng những điểm ĐỀ NGHỊ ĐẤU TRANH trên đây trở thành PHONG TRÀO, nghĩa là các Nhóm đấu tranh CÙNG NHAU nói lên MỘT tiếng nói cho ma.nh.
TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH
PHONG TRÀO TỰ-DÂN 22 Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland. Tel. : 0041 22 731 82 66. E-Mail : viettudan@yahoo.com
TỰ-DÂN, thành lập từ 1964, gồm những thành phần Thanh niên, Sinh viên, Học sinh đấu tranh cho nền TỰ DO, DÂN CHỦ tại Miền Nam Việt Nam, chống lại chủ nghĩa độc tài Cộng sản Miền Bắc. Sau 1975, những thành viên TỰ-DÂN di tản ra nước ngòai đã hợp lại với nhau , cùng giữ vững lập trường đấu tranh cũ, dưới danh xưng Việt TỰ-DÂN. Kể từ năm 2001, Việt TỰ-DÂN đã tích cực tái nhập cuộc đấu tranh ở Hải ngọai nhằm hỗ trợ cho Lực Lượng đấu tranh chính yếu đang nổi dậy tại Quốc nội. Nhận thấy các Phong trào đấu tranh tại Hải ngọai cần có chung một tiếng nói, đi chung một đường lối mới tạo được sức mạnh triệt để, giúp cho cuộc nổi dậy tại Quốc nội sớm thành công, PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 đã đứng ra kêu gọi và chính thức mời Việt TỰ-DÂN tham gia cuộc họp mở rộng của Phong Trào Hiến Chương 2000, ngày 28-29.11.2009 tại Toronto, Canada, nhằm vạch ra những phương thức hành động cụ thể, nhân dịp kỷ niệm 9 năm ra mắt Phong Trào. Sau khi tham khảo nội bộ, Việt TỰ-DÂN nhận lời tham dự và long trọng tuyên bố cùng hợp tác đấu tranh song song với Phong Trào Hiến Chương 2000, như sau :
1) Mục đích chung tối hậu của việc hợp tác là hỗ trợ Lực Lượng nổi dậy tại Quốc nội nhằm dứt bỏ Cơ Chế Cộng sản Việt Nam hiện hành để Dân tộc cùng chung bảo vệ Tổ Quốc, chống ngọai xâm và phát triển Kinh tế trong Công lý và Hòa Bình.
2) Những lãnh vực đấu tranh cụ thể như sau:
a. Hỗ trợ các Lực lượng Dân Oan vàTôn giáo đang bị Cơ chế CSVN tham nhũng cướp bóc đất đai, nhà cửa một cách bất chính. Hỗ trợ khối Công nhân bị bóc lột dã man sức lao động, hiện đang bị triệt để khai thác hay bán đứng cho nước ngòai mà không được họp thành Nghiệp đòan để bảo vệ quyền lợi của mình.
b. Đối với những phần Lãnh thổ và Lãnh hải của Tổ Quốc đã bị CSVN dâng cúng cho Trung Cộng để được che chở mà bám lấy quyền hành Chính trị độc tài của họ, chúng ta cùng hợp tác một lòng với tòan dân, đấu tranh để dành lại và bảo tòan Đất, Biển của Tổ Quốc.
c. Chống lại việc để cho hàng hóa của Trung Cộng tràn sang Việt Nam, và chống lại việc để cho Trung Cộng khai thác tài nguyên của Đất Nước. Với hai sự kiện trên, CSVN đang tiếp tay cho Trung Cộng làm cuộc xâm lăng Kinh tế trên Tổ Quốc Việt Nam. Trên căn bản độc lập về phương diện tổ chức, Việt TỰ-DÂN công khai khẳng định cùng hợp tác đấu tranh với PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000, ở mục đích tối hậu và ở những lãnh vực cụ thể nêu ra trên đây.
Làm tại GENEVA, Thụy sĩ, ngày 28 tháng 11 năm 2009
Đại diện Việt TỰ-DÂN Ký tên NGUYỄN PHÚC LIÊN
Khi Đất Nước lâm nguy trước cảnh xâm lăng hiện nay do CSVN rước giặc vào Nhà, phải có một Hội Nghị DIÊN HỒNG để đồng tâm cứu nước. Nếu chưa có được một Hội Nghị DIÊN HỒNG của tòan dân, thì chúng ta hãy bắt đầu bằng hai, bằng ba... người tìm gặp đến nhau để cấu kết khởi sự ở những lãnh vực đấu tranh cụ thể nhất để tiến lên.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế | | | |
ĐÃ ĐẾN LÚC ÁP DỤNG HAI BÀI HỌC BỨC TƯỜNG BÁ LINH CHO CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
Chúng tôi thấy hai Bài học sau đây rất đúng cho Việt Nam ở thời điểm này:
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
Thái độ tích cực yểm trợ của Giáo Hòang Gioan-Phalô II cho CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tại Ba Lan được coi là yếu tố tiên phong gián tiếp cho tranh đấu đánh sập Bức tường Bá Linh. Hai Nhà Thờ tại Đông Bá Linh là nơi quy tụ cầu nguyện đấu tranh trực tiếp cho sụp đổ Bức tường năm 1989.
Tại Việt Nam lúc này, cao trào đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH đã đứng lên mạnh tại Hà Nội (Tòa Khâm sứ và Xứ Thái Hà), tại Vinh (Tam Tòa). CSVN đang sợ hãi sự lớn mạnh này.
=> Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI
Tình trạng Kinh tế tồi tệ đưa đến Tha hóa Xã hội tại Nga vào những năm 1985 khi GORBATCHEV lên nắm quyền đã đến lúc chín mùi, là một định mệnh cho sụp đổ của Chế độ Cộng sản. Tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA của GORBATCHEV như cải cách mong níu lại hình thức một chế độ đã đưa đến hậu quả Kinh tế tồi tệ và Xã hội tha hóa cực điểm cũng không thể tránh được sụp đổ đến như một định mệnh. Nga không còn đủ sức can thiệp vào những nổi dậy của các nước Đông Aâu nữa và đây là chìa khóa cho sụp đổ Bức tường Bá Linh cũng như các nước Đông Aâu chỉ trong vòng hơn một năm.
Tại Việt Nam, trong thời điểm này, Luật sư TRẦN LÂM, , nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.
Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.11.2009
Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Cuộc đấu tranh của Công đòan ĐÒAN KẾT Ba-Lan
Hai khách mời quan trọng hơn cả trong Lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Bá Linh là GORBATCHEV và WALESA, luôn luôn cùng đi bên cạnh với Bà MERKEL. Oâng Lech WALESA được coi là tiên phong đóng góp làm sụp đổ chế độ Cộng sản. Chính vì vậy cuộc Lễ Kỷ Niệm đã dành cho Oâng vinh dự đẩy Domino đầu tiên làm sụp đổ Bức tường tượng trưng bằng 1'000 chiếc Dominos. Oâng và Công đòan ĐÒAN KẾT mang một Đức Tin Công giáo vững mạnh luôn được cổ võ công khai bởi chính Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang thẳng thắn khuyên mọi người:“Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 đã bình luận:“Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh). Ngày 22.01.2002, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, qua 26 Giám Mục Việt Nam trước mặt Ngài tại Vatican, đã gửi cũng những lời cổ võ “đừng sợ hãi nữa“, “hãy can đảm đứng lên tiến ra khơi“ đến tất cả các Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và tòan Giáo dân Việt Nam. Đây là lời cổ võ chính đáng cho sự thiện. Nếu lúc này, vì những mưu mô xảo quyệt trao đổi ngọai giao trần thế của CSVN, mà Đức Giáo Hòang đương kim hay một Hồng Y nào ở Vatican tìm cách làm nhụt chí đấu tranh của Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và Giáo dân Việt Nam, thì đó là việc làm giảm Đức Tin Tôn Giáo và đánh lạc hướng Lương tâm của Tín hữu, nếu không muốn kết luận rằng đây là việc chủ mưu tòng phạm với quân Pharisiêu CSVN nhằm tiếp tục gây tội ác không những cho Giáo dân VN nói riêng mà còn cả cho Dân tộc VN nói chung.
Tinh thần Tôn Giáo nơi GORBATCHEV
Trong thời gian học Đại học Luật tại Mạc Tư Khoa, Gorbatchev luôn luôn chơi thân với một người bạn đến học từ Prague, tên là MLYNAR, cùng học Luật. Vợ của người bạn này là bạn gái cùng phòng với RAISSA. Chính vì mối quan hệ này mà RAISSA trở thành vợ của GORBATCHEV. Khi học xong tại Mạc Tư Khoa, MLYNAR trở về Prague và vào được Bộ Chính trị. Nhưng sau này Oâng theo Phong trào Mùa Xuân Prague và bị mất chức. MLYNAR đã viết về tinh thần Tôn giáo (Chính thống giáo) của Gia đình Gorbatchev. Oâng nội và cha của Gorbatchev âm thầm sùng đạo, mặc dầu cũng là những người theo STALINE. Thời Staline rất khắt khe và nguy hiểm về Tôn giáo. Nhưng theo tiết lộ của Gorbatchev cho bạn của mình, thì Gia đình đã dấu Hình Đức Mẹ ở đàng sau hình của Staline để lén lút cầu nguyện. Tinh thần Tôn giáo của Gia đình đã ảnh hưởng lên tinh thần của Gorbatchev. (Tài liệu: MIKHAIL S.GORBATCHEV by David Kings, Xuất bản Time Incorporated N.York 1988).
Hai Nhà Thờ tại Bá Linh: Nơi tụ họp thường xuyên đấu tranh
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
Tại Việt Nam ngày nay, chúng ta nghĩ đến những cuộc tụ họp cầu nguyện tại Khuôn viên Tòa Khâm sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa. Những Tín hữu đến cầu nguyện bị đe dọa, bị thâu hình, bị đàn áp bằng võ lực thực sự của Công an. Nhưng Tín hữu đã không sợ hãi, kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Phong trào Hiệp Thông cầu nguyện mỗi ngày mỗi lan rộng. Đây là những cuộc tụ họp đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH rất chính đáng. Hồng Y Quốc Vụ Khanh từ Vatican đã một lần can thiệp và bị quân Pharisiêu CSVN phản bội. Đây là một việc can thiệp lỗi lầm. Quân Pharisiêu CSVN còn đang muốn gian giảo tìm cách trao đổi ngọai giao trần thế với Vatican để nhằm phá đổ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM cho sự thiện của Công giáo Việt Nam. Vatican không thể để mình bị lừa gạt nữa.
Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.11.2009
Khi nói lý do KINH TẾ là ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản Nga, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Tình trạng Kinh tế tồi tàn của Nga Khi GORBATCHEV lên nắm quyền
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết bài học này là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Gorbatchev sinh ngày 02 tháng 3 năm 1931 tại làng nhỏ Privolnoie thuộc vùng Stavropol, một vùng nông nghiệp phía Nam Liên xô. Học hành thời nhỏ không có gì xuất sắc, nhưng nhờ tận tâm họat động trong đòan Thanh niên Cộng sản, nên ông được khen thưởng và được giới thiệu lên Mạc Tư Khoa học Đại học. Oâng muốn học ngành Kỷ thuật Vật lý, nhưng vì yếu môn Tóan, nên buộc phải được chỉ định học Đại học Luật. Đây là Đại học ít Sinh viên nhất vì Luật pháp dưới thời Staline không có ý nghĩa gì. Xong Đại học Luật, Oâng trở về tỉnh và trở thành Bí thư đảng của tỉnh. Sau 20 năm chỉ ở tỉnh đồng quê canh nông này, tên ông được lưu ý đến và được gọi về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Việc thăng tiến tới chức vụ lớn nhất trong đảng Cộng sản Nga cũng không phải là do công lao của ông, mà chỉ là sự run rủi ngẫu nhiên của thời thế mà chính ông không chủ động. Thực vậy, thuộc Tỉnh ông, có những suối nước nóng, nơi mà các Lãnh tụ già yếu, mang phong thấp đau mình nhức xương của đảng đến vùng đó tắm chữa bệnh. Từ đó, những Lãnh tụ già yếu này biết đến tên ông và sau này nhớ lại sự chăm sóc chữa bệnh của ông mà gọi ông về Mạc Tư Khoa.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này cảng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Tuyên bố Cải Cách của GORBATCHEV
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009
| | | |
DỰ PHÓNG MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Tham Luận cho cuộc họp mở rộng ngày 28-29/11/2009 của Phong Trào Hiến Chương 2000:
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009
Discussion Paper:
Suggestion of a struggle strategy to effectively neutralize the Vietnamese communist oppression
(SUMMARY BY PHONG TRAO HIEN CHUONG 2000/ CHARTER 2000/ CHARTE 2000)
In this discussion paper, Prof. Dr. NGUYEN PHUC LIEN made a review of the situation of the society of VN under the Vietnamese communist regime, to project a struggle strategy to effectively neutralize the Vietnamese communist oppression based on Article 88 of the Penal Code.
The writer pointed out several periods of the struggle path of the Vietnamese refugees and the people in the homeland, as well as the policy changes of the Vietnamese communists to cope with the dissolution of the Soviet empire and the era of globalization:
- During the years of the refugee exodus until the days of the collapse of the communist empire in Eastern Europe and the Soviet Union (end of the 1980s and early 1990s), the overseas Vietnamese, in general, took care of the struggle against the Vietnamese communist regime, mostly by military solutions (such as Hoang Co Minh’s group). The efforts failed.
- The period of opening to the Western world and "Renovation" : Upon the collapse of the Soviet Union and Eastern Europe, the Vietnamese communists realized a dead end as no more aids came from the communist bloc; they moved to the Western world and the overseas Vietnamese for survival. They opened in economics but still controlled in politics, in what is called: "market economy under the socialist directions". In this period, the struggle of the overseas Vietnamese was mostly in human rights and political rights.
- The struggle initiated by Rev. Thaddeus NGUYEN VAN LY: To the end of the year 2000, Rev. NGUYEN VAN LY was the first man who created a direct struggle battle against the Vietnamese communist regime, under his famous slogan: "Freedom of religion or death!". The struggle was suppressed, but the spirit of Rev. LY has since inspired numerous democracy and church activists to follow his cause. He has become a flame to shine the way for the people to stand up without fear. The struggle forces and the strength of the people in the homeland to stand up for themselves is decisive, Viet struggle organizations overseas can only serve as supportive forces.
- The acceptance of the market economy to participate in the WTO and integrate into the world in the globalization era: 2006 marked the final preparation stage for the Vietnamese communist regime to join the WTO following the APEC Summit in Hanoi, with the decisive help of the U.S. (removed VN from the CPC list by President Bush and other things). The democratic movements (such as the 8406 Bloc) were also given birth in 2006.
- Problems with communist China and the fierce reactions of the people in the homeland: while the Vietnamese communist leaders serve as lackeys and servants to Beijing, they are determined to suppress the democratic movements, victims of injustice, religious churches (Thai Ha, Tam Toa, Bat Nha etc), and even workers who strike to struggle for their working and living conditions. The Bauxite mining exploitation project in the Central Highlands offered to China by the Nguyen Tan Dung government caused fierce waves of challenge, from the military ranks, intellectuals, and religious leaders.
The writer raised nine points to prove that the people of VN are standing up against the Vietnamese communist regime. Oppression and treason of the Communist Party of VN to serve Beijing only leads to more unforeseeable reactions of the religious disciples, intellectuals, students and youths, cadres and officers, army generals, workers and victims of injustice.
Prof. Dr. NGUYEN PHUC LIEN’s suggestion of the ultimate move in the struggle battle in VN is to remove the reactionary mechanism of the current communist regime to pave the way for a smooth transformation to a real market economy, to eliminate the mafia and dictatorial system which is the origin of corruption, jungle laws, sweating the people etc. The main SLOGAN is: "STRUGGLE FOR ECONOMIC ATTAINMENTS" , not political struggle that is subject to the application of Article 88 of the Penal Code.
For more information, please refer to the writer’s discussion paper in Vietnamese submitted to the two-day meeting of the Charter 2000 Movement in Toronto on 28-29 November 2009 that is published in this issue.
Bài này đi từ nhận định tình hình xã hội tại VN dưới quyền cai trị của độc đảng CSVN để đi tới dự phóng một quan điểm đấu tranh.
NHẬN ĐỊNH TÌNH HÌNH
Từ khi đảng CSVN đặt ách thống trị trên tòan lãnh thổ Việt Nam 1975, tình hình đấu tranh đã chuyển biến rất nhiều từ những năm đầu sánh với ngày naỵ
Cho đến ngày sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Nga và Đông Âu
Cuộc đấu tranh đặt nặng ở phía người Việt Hải ngọai, trong khi ấy tại Quốc nội, Dân chúng sống trong sợ sệt dưới quyền cai trị hòan tòan khắt khe và đàn áp của đảng CSVN. Cuộc đấu tranh của người Việt Hải ngọai đặt chính yếu vào giải pháp quân sự nhằm giải phóng Quê Hương. Có những xâm nhập từ ngòai vào, nhưng dân chúng Việt Nam vẫn đang bàng hòang về cuộc chiến mới đây, nhất là đang sống dưới cùm kẹp khát máu của CSVN, nên những xâm nhập này không đủ sức dấy động một cuộc nổi dậy của quần chúng.
Giai đọan CSVN buộc lòng phải mở cửa và "đổi mới"
Khi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, đảng và Nhà Nước CSVN hòan tòan ở trong thế bí về ngân sách vì không còn sự giúp đỡ của Nga và Đông Aâu nữạ Dân chúng đã phải ăn bo bo trước đây, bây giờ rơi vào tình trạng đói ăn thực sư.. Biết rằng phá hàng rào tre khép kín Chế độ là nguy hiểm, nhưng đảng và Nhà Nước CSVN bắt buộc phải mở cửa chơi với phía Thế giới Tự do vì bí miếng ăn. Người ngọai quốc và Việt kiều có thể vào Việt Nam và giao tiếp với dân chúng quốc nộị Qua những giao tiếp này, người quốc nội biết đến ý chí đấu tranh của khối người Việt tỵ nạn. Cũng trong thời kỳ này, việc đấu tranh, vẫn chính yếu từ Hải ngọai, nhưng chuyển hướng sang đấu tranh cho ý thức Chính trị, Nhân quyền, hơn là giải pháp quân sự như thời gian trước đâỵ
Cuộc đấu tranh của Lm.NGUYỄN VĂN LÝ: một ngọn lửa công khai đốt lên
Những giao tiếp với nước ngòai và với Việt kiều cho dân quốc nội biết đến ý chí đấu tranh tại Hải ngọai, nhưng giới biết tin vẫn còn dè dặt chưa lên tiếng. Chính trong tình hình dè dặt này mà cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ được coi là tiên phong thắp lên NGỌN LỬA đấu tranh . Cuộc đấu tranh của Linh mục tuy bị đàn áp, nhưng việc làm này đã mang lại hiệu quả tác động tâm lý, nói lên ý nghĩa phải can đảm đứng lên từ quốc nội thì mới hy vọng thay đổi được Cơ Chế đàn áp của CSVN. Điều quan trọng ở đây là phải đặt tầm quyết định ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI tự giải phóng mình. Ý chí đấu tranh giải phóng Quê Hương của Hải ngọai trở thành ý chí HỖ TRỢ cho Quốc Nộị
Tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường để sửa sọan vào WTO hội nhập với Thế giới
Cách đây 7 năm, đảng và Nhà Nước CSVN đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Họ thêm cái đuôi "định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa". Thực ra, một là để chữa thẹn, hai là một cái vỏ bọc cho một CƠ CHẾ vẫn giữ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Với Cơ Chế này việc tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường là tréo cẳng ngỗng.
Nhờ sự giúp đỡ của Hoa kỳ, Việt Nam đã vào được WTỌ Khi giúp đỡ như vậy, TT.BUSH đồng thời cũng mong mỏi một Tiến Trình Dân Chủ hóa Việt Nam.
Cuộc đấu tranh tại Quốc nội cũng như Hải ngọai khởi sắc lên như trông đợi ở áp lực của Hoa kỳ và Tây phương. Tại Quốc nội một Phong trào gọi là những Nhà Dân chủ đã công khai ra mặt. Tại Hải ngọai, một số nhóm Chính trị, nào thành lập những Chính phủ lưu vong, nào là hé cho thấy chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp. Họ có lẽ hy vọng vào áp lực của Hoa kỳ để được về Việt Nam cùng với CSVN thực hiện Tiến Trình Dân Chủ Hóạ
Nếu có hứa với TT.BUSH để được ra khỏi danh sách Những Nước Bị Quan Tâm Đặc Biệt vì vi phạm Tự do Tôn giáo, rồi vào WTO, vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, thì ngày nay CSVN đã phản bội lại lời hứa Tiến Trình Dân chủ hóạ
Sa lầy với Trung Cộng và việc đứng lên mạnh mẽ tại Quốc nội
"Đi với Mỹ thì mất đảng; Đi với Tầu thì mất nước", đó là câu mà dân Hà Nội thường nói với nhaụ CSVN không muốn mất đảng, thà là mất nước. Đảng và Nhà Nước CSVN ngày nay đã hòan tòan chọn lựa đi với Trung Cộng để mất nước. CSVN đã thẳng tay đàn áp các Phong trào Dân Chủ, đàn áp tất cả những ai động chạm đến cuộc xâm lăng Lãnh Thổ, Lãnh Hải và Kinh tế của Trung Cô.ng.
Chính những cuộc đàn áp không chính đáng này đã tạo lên làn sóng phản kháng từ mọi giới tại Việt Nam:
1) Dân Oan mất Nhà, Đất đã công khai kéo về Sài Gòn và Hà Nộị Cuộc đàn áp mà không giải quyết cho có Công lý càng làm tăng thên uất ức sẵn sàng bùng nổ nơi Dân Oan.
2) Công nhân đã làm những cuộc đình công. Ngày nay hậu quả của Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới và việc nhân công Trung quốc ồ ạt vào VN càng làm công nhân VN thất nghiệp. Nguồn phản kháng này mỗi ngày một nhen nhúm, đe dọa nổ lớn.
3) Những vụ Tòa Khâm sứ Hà Nội, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý làm hàng Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân Công giáo đòan kết quyết tâm đấu tranh cho CÔNG LÝ.
4) Việc Trung Cộng cấm đóan Ngư dân miền Trung đánh cá trong vùng Biển VN, rồi đánh đập, cướp bóc Ngư dân lánh nạn bão số 9 vừa qua đang tạo phẫn nộ từ dân chúng đối với Nhà Nước CSVN hèn yếụ
5) Vụ Bôxít Tây Nguyên đã dấy động lên phong trào phản đối công khai của giới Trí thức và ngay cả phía quân độị
6) Từ vụ Bôxit đến hàng hóa Trung quốc tràn ngập Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi tòan dân cứu nguy Đất Nước, không xài hàng Trung quốc.
7) Trước nạn xâm lăng Kinh tế của Trung quốc, giới chuyên gia Kinh tế VN đã công khai lên tiếng phản đối và kêu gọi cứu nguy Đất Nước. Vietnamnet ngày 15.06.2009 đã viết: "Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, "quét" sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các doanh nghiệp VN đang "thua trắng bụng". Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc."
8) Theo lệnh của Trung quốc, qua Tùy viên Thương mại Hồ Tỏa Cẩm, Nguyễn Tấn Dũng ra Quyết Định 97 ngày 24.07.2009 cấm đóan giới Trí thức phản biện đụng chạm đến Tầụ Tổ chức IDS tự giải tán vì lý do Quyết Định bịt miệng nàỵ
9) Một cuộc Thảo Luận công khai được tổ chức ngày 22.09.2009 gồm những Giáo sư Đại học về Kinh tế đã nói lên tính cách tréo cẳng ngỗng của mô hình Kinh tế Tự do Thị trường "định hướng XHCN", nghĩa là một CƠ CHẾ vẫn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Giáo sư Tiến sĩ TRẦN NGỌC HIÊN phát biểu: "Sự phát triển của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính tri.. Về mặt chính trị, sự phát triển kinh tế thị trường trở thành bước ngoặc kết thúc các chế độ chuyên chế và hình thành chế độ dân chủ. "Không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến. Không thể coi là đã có nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn phổ biến". Câu nói cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự phải dẫn đến DÂN CHỦ.
Tình hình qua 9 điểm kể ra trên đây cho thấy rằng Quốc Nội đang đứng lên dắu tranh, từ giới đại đa số là Dân nghèo, đến giới Trí thức và Lực lượng các Tôn giáọ Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Quốc nội mỗi ngày mỗi tăng. Đảng và Nhà Nước CSVN càng đàn áp bao nhiêu, thì càng đi vào chỗ bí vì dựa vào lý do bất chính và càng làm cho dân chúng phẫn nộ vì biết rõ đây là hành động cả vú lấp miệng em mà thôị
DỰ PHÓNG MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Trong khí thế đấu tranh đang lên mạnh của tòan dân gồm mọi giới, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một quan điểm đấu tranh gồm những điểm sau đây:
1) Mục đích tối hậu đi tới của đấu tranh: DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Mục đích này hòan tòan mang tính cách Kinh tế. Chúng ta nhằm vào việc phát triển Kinh tế Đất Nước. Nhân danh việc phát triển này, chúng ta không thể để việc độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cái CƠ CHẾ chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là nguồn gốc những tham nhũng, hối lộ, bất công. Không thể phát triển Kinh tế chỉ cho một nhóm ngườị Thực vậy, chính CƠ CHẾ này đang tạo Kinh tế Mafia: nhóm người tham nhũng hối lộ giầu nứt khố và dân lam lũ làm ăn nghèo kiết xác.
Chúng ta lấy lý do dấu tranh là Kinh tế, đó là xây dựng và không phải là phạm điều 88 mà CSVN cố ngụy biện gán cho những ai không đồng ý với những cướp bóc của ho..
Chính sự phát triển Kinh tế Tự do này đặt nền tảng để những tác nhân Kinh tế (mọi người) thiết lập ra nguyên tắc DÂN CHỦ trước hết để giải quyết những tranh chấp quyền lợi, sau đó cùng nhau chấp nhận hệ thống Pháp Luật cho cuộc sống chung đụng xã hội cho CÔNG BẰNG.
DÂN CHỦ là nguyên tắc hệ quả của việc phát triển Kinh tế Tự dọ Nhắc hai chữ Dân chủ, CSVN ngụy biện nói chúng ta phạm điều 88. Chúng ta chỉ nói Phát triển Kinh tế Tự dọ
2) Những điểm cụ thể đấu tranh
Chúng ta phải đấu tranh với một Nhà Nước độc tài và ngụy biện, xử dụng vũ lực và nhà tù để đàn áp. Vì vậy, trước khi đấu tranh, chúng ta phải nghĩ đến chống đỡ cho điểm mình đấu tranh. Chúng tôi nêu ra những điểm đấu tranh sau đây:
ạ. Đấu tranh đòi CÔNG LÝ
Khi đòi CÔNG LÝ, chúng ta được sự ủng hộ của khối Dân Oan và Lực lượng các Tôn giáọ Dân Oan và Tôn giáo đang đòi Công lý.
b. Đấu tranh bênh vực nghề nghiệp cho Công nhân và Ngư dân
Công nhân mỗi ngày mỗi mất việc vì nhân công Trung quốc tràn vàọ Ngư dân mất nơi đánh cá do Tầu chiếm Biển và Hải đảọ
c. Đấu tranh chống khai thác Bôxit Tây Nguyên và việc Tầu xâm lăng Hòang/Trường Sa
Đây là việc dấy động giới Trẻ Sinh viên Học sinh và giới Trí thức, cũng như nhiều giới khác, nghĩ đến Tiền đồ Đất Nước.
d. Đấu tranh chống xâm lăng Kinh tế Trung quốc
Hàng Trung quốc, nhất là hàng độc, lan tràn Việt Nam và giết Kinh tế Việt Nam. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Mỗi Dự án hàm ngụ việc xuất cảng thiết bị và công nhân Tầu sang Việt Nam. Mỗi Dự án là việc nhận nợ mà Thế hệ tương lai phải oằn lưng trả nơ.. Dây là khía cạnh dấy động tòan dân, đặc biệt giới doanh nhân.
ẹ Triệt để chống Tham nhũng, Lãng phí
Đây không phải là cá nhân, mà chính là CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng vi trùng Tham nhũng, Lãng phí ăn ruỗng đời sống Kinh tế của tòan dân. Chống Tham nhũng, Lãng phí là chống chính cái CƠ CHẾ hiện hành vậỵ CSVN không thể nói việc chống tham nhũng là phạm điều 88.
f. Đấu tranh cho Tự do phản biện xây dựng Kinh tế
Nếu CSVN ngụy biện cấm phản biện đối với khía cạnh Chính trị, thì chúng ta tối thiểu đòi Tự do phản biện để XÂY DỰNG KINH TẾ, phát triển Đất nước.
Chúng tôi ao ước rằng những điểm ĐỀ NGHỊ ĐẤU TRANH trên đây trở thành PHONG TRÀO, nghĩa là các Nhóm đấu tranh CÙNG NHAU nói lên MỘT tiếng nói cho ma.nh.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009 | | | |
**************************** MẶT TRẬN DIỆT TRỪ THAM NHŨNG *********************** VÀ LÃNG PHÍ ************************************************************************************************* | | | |
PHÁT TRIỂN HAY TƯ DUY NHIỆM KỲ ?
Người Buôn Gió
Mấy chữ “tư duy nhiệm kỳ” nghe mà phát ghét. Ở đó bao hàm tất cả những cái gì là hủ bại nhất trong tính cách dân tộc, nhất là cái tính cách ăn xổi ở thì. Ăn xổi ở thì thì làm bất kỳ việc nào cũng cốt qua loa cho xong đi, để mà còn nặng túi trở về với gia đình, chăm sóc cái tổ ấm vốn đã lo đâu vào đấy trong khi đang tại chức. Cho nên mọi việc anh làm, tiếng là vì dân, nhân danh thật to tát, cuối cùng chỉ là đổ vỏ ra đấy để cho kẻ đến sau đi hót. Và chu trình cứ thế lặp đi lặp lại, trở thành một đại họa cho dân. Một thành phố Hà Nội mà càng cải tạo lại càng nhếch nhác chẳng phải vì thế thì còn gì. Nghe đâu ngài đương kim trọng thần của nhiệm kỳ này đang cố tranh thủ một mảnh đất nào đấy ở Hồ Mây, cái đích ngài cố ngắm cho trúng, chứ đâu phải là nghĩ suy về những quy hoạch tổng thể cho Hà Nội ngàn năm “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như cụ Hồ nói. Trách gì mới vài năm trước khi nước mưa biến cả thành phố thành sông thì có vị quan to đã có ngay một câu thật nổi tiếng: Dân Hà Nội bây giờ quen dựa dẫm vào Nhà nước mất rồi. Thì chính là vì dựa dẫm vào Nhà nước mà dân chúng Thủ đô chúng tôi cứ tưởng rồi sẽ có đường phố khang trang, đi lại thông thoáng hơn, nào hay bây giờ ra đường đã thấy ngay những con đường do Nhà nước cải tạo đã đang tắc ứ. Còn các khu Hà Nội mới mở từ khi Thủ đô ta giải phóng đến nay nhất là từ khi có đồng vốn vay nước ngoài để làm kinh tế thị trường, thì nhiều nơi lại còn ngõ ngách chật hẹp, chen chúc, lúc nhúc còn hơn cả Hà Nội 36 phố phường thuở xưa. Những nơi ấy xe cộ tha hồ mà tắc.
Ấy là lấy một Hà Nội mà làm ví dụ vậy thôi chứ xem binh tình cả nước thì có đâu mà không tắc. Các quan đầu tỉnh còn làm được gì hơn ngoài việc bán rừng mà sống theo kiểu “sống chết mặc bay”. Các kế hoạch xây dựng càng xây càng hỏng, nào hầm Thủ Thiêm, đường hầm Kim Liên…; có nhà máy như Dung Quất tưởng đã vận hành từ lâu thì nay lại phát hiện thêm 100 lỗi trong khi thi công nên phải tạm ngưng, không biết sẽ còn ngưng đến bao giờ. Các đại tập đoàn đứng sau Nhà nước, tưởng lập ra là cốt tăng thêm GDP, giúp cho an sinh được cải thiện, dân đỡ khổ hơn, nào hay anh nào cũng dài mồm than lỗ, mới ra Tết mọi thứ sản phẩm của họ đã tăng giá vùn vụt, nghĩa là họ chỉ góp phần vào bĩ cực mà chẳng thấy có thái lai.
Vậy thì còn gì nữa nhỉ nếu ta chưa tìm cách cắt phăng ngay đi cái kiểu tư duy nhiệm kỳ, tống quách nó vào quá khứ có hơn không?
Bauxite Việt Nam
Dự án khai thác quặng nhôm trên Tây Nguyên của Chính phủ gặp nhiều ý kiến phản đối trong mọi giai tầng nhân dân. Nhưng vì sự thống nhất từ Bộ Chính trị mà dự án này đột nhiên được thông báo là tiếp tục triển khai vì lợi ích kinh tế khu vực Tây Nguyên và được sự đồng thuận cao trong nhân dân? Tưởng rằng dự án khai thác này ký cách đây nhiều năm, như việc đã rồi với Trung Quốc. Không thể dừng lại được cho nên bằng mọi giá bỏ qua những lời khuyên của các nhà chuyên môn, trí thức, Bô Xít Tây Nguyên (cụm từ chắc chăn sẽ gắn liền với thể chế này để đi vào lịch sử) vẫn triển khai như thống nhất trước từ đâu đó.
Cho dù bô xít được triển khai trên Tây Nguyên, những tiếng nói ngăn cản không thành, nhưng thiết nghĩ đó cũng là bài học cho những nhà lãnh đạo đất nước khi động bút đến tài nguyên, môi trường, vị trí chiến lược của đất nước sẽ cẩn trọng hơn. Để cho họ nhận ra một điều minh bạch là bất ổn xã hội không phải do các thế lực thù địch nào tạo ra, mà bất ổn có thể do chính những quyết sách không được lòng dân. Một sự thật hiển nhiên là chưa có dự án nào từ xưa đến nay của Chính phủ mà bị chỉ trích công khai nhiều như dự án khai thác bô xít.
Người ta đưa nhiều lý do để biện minh cho việc khai thác bô xít, một nguyên nhân thuyết phục nhất là để phát triển kinh tế địa phương. Những người dân Tây Nguyên quanh năm sống trong nghèo khó, một sớm mai nghe tin có dự án, có việc làm, có cơ hội kinh doanh, dịch vụ… những cơ hội cải thiện đời sống được vẽ ra rạng ngời. Và hiện thực là tiền của đang đổ vào nơi họ sống. Dân nào mà chả muốn, nhất là dân nghèo. Họ đâu cần biết ngày mai, hay thế hệ sau hậu quả ra sao. Bởi vì họ không tính được đến mai sau cho nên họ là dân. Còn những người ra quyết sách lớn lao đó họ có tính được không ? Tôi nghĩ họ tính được bởi vì họ nói họ khôn ngoan hơn dân, có đạo đức hơn dân. Bởi thế dân đã tin tưởng chọn họ làm lãnh đạo để ra những quyết sách.
Môt số người nói rằng những hành vi đang bán nước.
Tôi không nghĩ vậy hoặc chưa dám nghĩ vậy. Xưa nay bề trên kết tội kẻ dưới có thể tùy tiện. Nhưng kẻ dưới hặc tội bề trên thì dù có lý lẽ hẳn hoi đều có kết cục bi thảm. Mệnh đề “bán nước” là chuyện nghiêm trọng, cần đông đảo nhân dân hay lịch sử sau này phán xét mới thật sự khách quan.
Mới đây người ta vừa được biết có hơn 300 ngàn ha rừng đầu nguồn đã được cho Trung Quốc thuê với thời gian đến nửa thế kỷ.
Lý do đưa ra vẫn muôn thuở – phát triển kinh tế khu vực.
Một dự án bô xít Tây Nguyên mà dư âm phản đối còn chưa lắng đọng, lại tiếp thêm 300 nghìn ha rừng đầu nguồn.
Phát triển kinh tế khu vực hay tư duy nhiệm kỳ?
Có lẽ cụm từ “tư duy nhiệm kỳ” nhẹ nhàng và có phần sát với thực tế hơn là kết luận “bán nước”.
Ở nhiệm kỳ của mình, vị lãnh đạo nào cũng muốn thể hiện được việc gì đó rõ ràng mang ích lợi về cho địa phận mình quản lý. Ở tình trạng dân chúng làm ăn tư duy manh mún, chụp giật, cán bộ dưới quyền quan liêu , năng lực yếu, bộ máy hành chính cồng kềnh những vận hành trì trệ, không ăn khớp… để giải quyết hạ tầng năng lực, tư duy ở một địa phương như vậy, nhà lãnh đạo cần bao nhiêu năm? Giải quyết vấn đề phi vật thể như vậy, công sức bỏ ra nhiều, thời gian cũng nhiều mà kết quả không thể đánh giá được ngay. Người lãnh đạo cầu toàn thường hay chọn cho mình phương án tối ưu nhất trong thời gian mình lãnh đạo địa phương. Và cách thu được tiền bạc nhanh nhất là cho thuê đất, đào tài nguyên đem bán lấy tiền? Nhất là không thể không nói đến những khoản hoa hồng cho người đặt bút ký.
Nhiệm kỳ 10 năm làm vậy, thì các lãnh đạo khác của 40 năm sau này còn gì để thuê, còn gì để khai thác. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì chỉ thêm vài nhiệm kỳ nữa, con người Việt Nam còn chưa chắc thuộc về mình chứ đừng nói đến đất đai, tài nguyên, chủ quyền, văn hóa…
Người ta lại có thể lý giải, nhiệm kỳ này cho thuê đất, khai thác tài nguyên để lấy vốn phát triển nội lực, sau này không phải bán hay cho thuê gì nữa. Vẫn là ngụy biện cho qua nhiệm kỳ thôi. Hạ tầng năng lực, chuyên môn, kiến thức, tư duy… con người như vậy thì tiền đổ vào thế chứ nữa cũng chỉ làm nháo nhào trương cái biển, dựng cái cổng, mua máy móc cũ vận hành loáng thoáng để chụp ảnh, quay phim lấy thành tích rồi bỏ đó, quản lý và phát triển được đâu. Cốt có lý do để mang tiền về rồi chia nhau tiêu, rồi có số liệu để nói kinh tế đang tăng trưởng… Việc này xảy ra nhan nhản ở khắp các địa phương.
Bao nhiêu tài nguyên đã ra đi để mong mỏi làm vốn liếng cho đất nước phát triển, một mỏ than Quảng Ninh mênh mông tưởng rằng vô tận. Thì ngày hôm nay điện tăng giá vì lý do than phải nhập từ Trung Quốc về nên giá lên. Cả một khu dầu mỏ Dung Quất, Vũng Tàu đầy tiềm năng, đầu tư không biết bao nhiêu, mà giờ để xăng, dầu tăng giá với lý do nhập khẩu dầu thế giới tăng. Chúng ta khai thác tài nguyên lấy vốn để giờ chúng ta vượt xa Căm Pu Chia những 20 năm. Tự hào chăng?
Giờ đang còn nhiều tài nguyên nữa đang và chuẩn bị ra đi để đổi lại cho đất nước, con người Viêt Nam này là gì?
- Là hãy nghĩ đến bản thân mình bây giờ đi, xã hội thế nào có người khác lo.
Đó là lời của người có quyền sinh sát nhắc nhở tôi, chắc chắn nhiều rất nhiều người trong nhân dân chúng ta cũng nghĩ vậy. Đôi khi có lúc tôi không nghĩ vậy, vì thỉnh thoảng không nghĩ vậy tôi viết bài như thế này.
Còn bình thường tôi lại nghĩ rằng:
Chúng ta đừng nhìn Nhật, Nam Hàn, Phi, Mã, Sing, Thái, In Do… chúng ta nhìn Căm Pốt, Bắc Hàn để thấy rằng mình còn hạnh phúc, còn lạc quan, còn tin tưởng vào những gì mà chúng ta bảo nhau là cần lạc quan tin tưởng.
Nguồn: nguoibuongio. multiply. com
| | | |
KINH DOANH QUYỀN CHỨC TRONG CƠ CHẾ CSVN
"Kinh doanh" quyền chức - Một hiện tượng đáng lo ngại
Mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.
LTS: Chuyện "chạy chức chạy quyền" xảy ra lâu nay ở một số nơi đã khiến không ít nhà lãnh đạo cũng như người dân quan tâm, lo lắng, thậm chí trở thành đề tài chất vấn tại Diễn đàn Quốc hội. Đây là một hiện tượng không phổ biến song rất đáng lo ngại và cần được đấu tranh loại trừ.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều bày tỏ góc nhìn riêng về hiện tượng này.
Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi.
Không phải ngẫu nhiên mà dân gian xì xào với nhau, "kinh doanh" quyền chức là thứ kinh doanh mau lãi nhất.
Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn đề gây đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn đề này.
Ai cũng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.
Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.
Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...
Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?
Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?
Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...
Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.
Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.
Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.
Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.
Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.
Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.
Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.
Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.
Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?
| | | |
VIỆT NAM: KINH DOANH QUYỀN CHỨC LÃI NHẤT
http://danluan. org/node/ 3773 Bài viết này được đăng trên Tuần Việt Nam, nhưng sau đó đã bị gỡ xuống...
Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức... Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi. Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.
Ai cùng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.
Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.
Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...
Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?
Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?
Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...
Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.
Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.
Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.
Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.
Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.
Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.
Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.
Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.
Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?
Theo TVNN
| | | |
CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH: MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 17.12.2009
Chúng tôi luôn luôn viết rằng diệt THAM NHŨNG không phải là đi tìm diệt cá nhân, nhưng là lọai trừ những hòan cảnh để cái mầm tham nhũng sẵn có ở trong mỗi người có cơ hội phát triển. Chúng tôi ví tham nhũng là một trứng trùng nằm sẵn trong mỗi người. Ở trong hòan cảnh không thuận lợi thì trứng không nở ra và lớn lên. Nhưng khi gặp hòan cảnh thuận tiện, thì nó nở thành trùng và lớn lên. Vì vậy, diệt THAM NHŨNG là lọai bỏ cái môi trường thuận lợi để trứng sinh ra trùng và lớn lên được.
Hiện nay, ai cũng than phiền rằng THAM NHŨNG nhan nhản, nghĩa là trứng trùng tham nhũng đã nở thành con và lớn lên, sinh thêm con cái từng đàn nhung nhúc. Chính vì vậy mà Nguyễn Tấn Dũng mới hô hào diệt tham nhũng. Cách diệt tham nhũng là đi bắt từng con trùng trong khi ấy để yên lành cái hòan cảnh, cái khỏang đất tốt để trùng ẩn tránh, để trứng tham nhũng vẫn sinh ra thêm trùng và lớn lên.
Tham nhũng đầy đàn
Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”
Phóng viên Hải Châu, ngày thứ Tư 16.12.2009, đã tả những nguy hiểm của người tố cáo tham nhũng như những trường hợp sau đây:
=> Người tố cáo tham nhũng thường phải chấp nhận cuộc đối đầu không cân sức với kẻ tham nhũng và các thế lực chìm, nổi - nhận định của Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng Lê Mạnh Luân.
=> “Tôi là người trực tiếp tố cáo vụ việc tiêu cực nhưng thấy quá đơn độc". Đó là lời bộc bạch của ông Lê Phước Cẩm (xã Quế Trung, huyện Quế Sơn, Quảng Nam) tại hội nghị biểu dương 29 cá nhân ở các ngành, địa phương trong cả nước có thành tích phòng chống tham nhũng do Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng tổ chức ngày 15/12 tại Đà Nẵng.
=> Ông Cẩm kể, từ khi ông lên tiếng tố cáo vụ phá rừng Khe Diên, không đêm nào ông ngủ yên. "Trùm phá rừng Sáu Ngọc và bọn tiêu cực, tham nhũng dọa giết tôi cùng người thân, trong khi gia đình tôi nghèo, vợ đau cột sống, con bị chất độc da cam nằm một chỗ. Tôi được biết từ ngày 14/12, vụ án được xét xử sơ thẩm lại lần 2. Tôi mong muốn tòa án làm rõ ai cho chủ trương, ai phá rừng, ai tiếp tay, tại sao chính quyền biết mà vẫn làm ngơ”.
=> Theo ông Lê Mạnh Luân, Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo, thực tế cho thấy, người tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có vị thế xã hội cao, quan hệ xã hội rộng rãi, có tiềm lực vật chất và có nhiều thủ đoạn từ né tránh, đánh chìm sự việc đến tổ chức lực lượng chống trả tinh vi, quyết liệt và các thủ đoạn chạy tội, chạy án. Đặc biệt, hình thức trả thù của những kẻ tham nhũng cũng rất tinh vi, không phải chỉ trước mắt mà còn lâu dài.
Không thể diệt Tham nhũng bằng bắt từng con trùng
Khi trứng trùng Tham nhũng gặp đất tốt nở thành con và lớn lên sinh thêm con cháu đầy đàn, thì việc chống tham nhũng không còn là việc đi bới tìm từng con trùng nữa. Người đi bới trùng có thể bị đàn trùng quá đông xúm vào cắn chết. Ngay tại các Phòng chống Tham nhũng, những người điều hành có thể chính là những con trùng tham nhũng rồi. Ai dám tin tưởng mà hợp tác với họ để tìm trùng tham nhũng.
Đám trùng tham nhũng đông nhung nhúc ! Làm thế nào bắt từng con được.
Vị Giáo sư người Nhật đã tả rất đúng khi so sánh Cơ chế CSVN là một cái bộ máy gồm bánh xe lớn, bánh xe nhỏ, đinh ốc lớn, đinh ốc nhỏ chằng chịt. Bánh xe, Đinh ốc lớn nhỏ đều phải có dầu nhớt, thì Bộ máy mới có thể chạy được. Chúng tôi thì ví cái Cơ chế CSVN này là một cái vườn phì nhiêu làm điều kiện cho trứng trùng tham nhũng nở thành con, lớn lên và sinh con cháu đầy đàn. Có thể ví cái Cơ chế CSVN như một đống phân để trứng ruồi mới có thể nở thành giòi, thành ruồi... rồi đẻ trứng thêm.
Diệt tham nhũng ở đây không còn là đi sửa từng bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ của cái máy, cũng không không phải là đi bắt từng con trùng ở cái vườn quá tốt cho chúng sinh thêm, cũng không phải là đi nhặt ra giết từng con giòi của đống phân.
Diệt Tham nhũng là thiêu hủy cả cái Máy, là đốt cái Vườn làm cơ hội sinh đầy trùng, là hốt đống Phân là chỗ sinh đầy giòi
Cái Cơ chế CSVN đã tạo một vùng đất tốt để làm hòan cảnh sinh nở ra đầy tràn trùng tham nhũng. Không thể bắt từng con, không thể chỉ đi tìm những cá nhân tham nhũng, mà phải phá hủy cái vùng đất làm hòan cảnh cho cá nhân trở thành trùng tham nhũng. Không có cách nào hơn.
Một Thánh nhân, dù có tu luyện diệt dục lâu năm, mà chưa trở thành họan quan, thì cái mầm dục vẫn nằm trong bụng vị Thánh nhân ấy. Nếu nhốt chung Thánh nhân trong một phòng tối tăm với một mỹ nữ khỏa thân, thì cái mầm dục có thể được hòan cảnh mà lớn lên đến lúc Thánh nhân cầm không được. Một cá nhân để ngồi cạnh đống vàng. Cá nhân đó lại có tòan quyền dộc tài bịt miệng mọi người, thì cá nhân ấy có hòan cảnh nhặt những thỏi vàng bỏ vào túi mình làm của riêng.
Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Máy mà những bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ đều cần dầu nhớt hàng ngày để khỏi bị cháy. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Khu Vườn tốt đã làm hòan cảnh sinh đầy trùng tham nhũng. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là bãi Phân mà giòi tham nhũng đang lúc nhúc đục khóet.
Đúng vậy, Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành chủ trương cho ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm trọn ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Đó là định nghĩa đích thực của Cơ Chế. ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ cho phép người tham nhũng bịt miệng, nhốt tù tất cả những ai dám đi chỉ điểm những con trùng tham nhũng sinh ra từ Cơ Chế. ĐỘC QUYỀN KINH KẾ là cho phép những người nắm độc tài Chính trị giữ đống Vàng của Quốc gia.
Nắm giữ hai quyền như vậy, thì làm thế nào không có tham nhũng phát sinh được. Nhặt đi từng tên tham nhũng mà Cơ Chế hiện hành vẫn nằm đó, thì trứng trùng tham nhũng vẫn nở thành con, rồi sinh ra từng đàn tham nhũng nữa.
Phải tận diệt cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành đã tạo điều kiện phát sinh tham nhũng từ trên xuống dưới lúc này và nếu CƠ CHẾ vẫn tồn tại thì Kinh tế Việt Nam sẽ khó lòng phát triển vì bầy trùng tham nhũng vẫn tiếp tục nẩy sinh để gậm nhấm ruỗng nền Kinh tế. Đây không phải là đòi hỏi Chính trị mà là đòi hỏi cho phát triển Kinh tế Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
NHẬP SIÊU TĂNG DÙ NGÂN SÁCH THIẾU HỤT, QUYẾT ĐỊNH DỰ ÁN DÙVỠ NỢ NGUY NGẬP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 17.12.2009
Bài ngắn gọn này đi liền với bài CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH: MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP mà chúng tôi đăng lại liền dưới đây.
Trong khi cán cân thương mại mất cân bằng, ngân sách thiếu hụt trầm trọng mà những Tổng Công ty Nhà Nước cứ tăng ào ào nhập siêu. Cũng vậy, thẩm định Quốc tế xếp Việt Nam vào nước có nguy cơ vỡ nợ lớn, thế mà những Dự án Công nghệ và Xây cất cứ được quyết định liên tục và dễ dàng.
Giới Chuyên gia Kinh tế tại Việt Nam đồng thanh lên tiếng rằng 75% dân chúng sống về nông nghiệp, ngư nghiệp lại không được vốn đầu tư của Nhà Nước để ý tới. Nhà Nước giữ quyền chính yếu xuất cảng gạo mà không lưu ý đầu tư để nông dân mất mát khỏang 30% những thu họach mùa màng. Đồng thời những Tổng Công ty vật tư Nông Nghiệp lại giữ “quotas” quan trọng và nhập cảng phân đạm. Nhà Nước cũng không dự trù những Ngân khỏan để hỗ trợ giá cả nông sản khiến nông dân dễ bị ém giá gạo mỗi khi được mùa. Tệ hơn nữa, người ta còn thấy tại các tỉnh, đất đai trồng cấy của nông dân còn bị trưng dụng để làm khu chế xuất cho ngọai quốc thuê hay làm những sân golf, khu giải trí ăn chơi phục vụ khách nước ngòai.
Lý do nào làm động lực cho những tình trạng vừa kể ra trên đây ?
Lý do chính yếu để cắt nghĩa là những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước chỉ lưu ý đến những sinh họat Kinh tế mà họ có thể làm THAM NHŨNG dễ dàng và mau chóng được. Thực vậy:
=> Đối với ngành Nông nghiệp và Ngư nghiệp, những người giữ quyền của Nhà Nước khó lòng ăn tham nhũng đối với nông dân và ngư dân, nên những Dự án đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp ít được để ý tới. Trừ trường hợp nhập cảng phân đạm, thì những Tổng Công ty Nhà Nước dành giữ lấy quotas để mua với giá cao và được những Công ty bán phân đạm nước ngòai trích ra một phần trên giá cao ấy thưởng công cho người mua. Chính tôi còn giữ hồ sơ về tham nhũng của Tổng giám đốc Khánh của Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp tại Hà Nội khi ông ăn cánh với Công ty SINGA UNIVERSAL Singapore để tăng giá mua phân đạm Urea N.46%.
=> Khi mua hàng từ nước ngòai, thì đây là dịp có thể tham nhũng. Chính vì vậy dù Việt Nam thiếu Ngân sách, mất cân bằng trầm trọng về cán cân mậu dịch, mà nhập siêu vẫn tăng đều đều. Phải có nhập siêu, thì mới có dịp tham nhũng. Tôi thường nhắc lại câu nói của Phạm Văn Đồng:”Những gì nước khác không làm được, thì nước ta làm được”. Về Kinh tế tại các nước khác, người bán muốn bán giá cao và người mua nài nỉ giá thấp. Nhưng đối với Việt Nam, người mua làm ngược lại, đó là người mua lại muốn mua giá cao.
=> Tại Việt Nam, những Dự án từ trung ương đến các tỉnh được đưa ra ào ào. Có những người chỉ biết số vốn tiếng Anh, cũng có thể làm nghề viết Dự án kiếm ăn được. Trong thời gian làm Đại diện cho một Tập đòan Tài chánh Hoa kỳ, trụ sở tại Zurich, tôi đã nhận được không biết bao nhiêu Dự án. Có cả Dự án nuôi đà điểu tại Đồng bằng Sông Cửu Long để lấy thịt. Người viết Dự án có lẽ tưởng đà điểu giống như con vịt, nên cho nó xuống đồng bằng sông Cửu Long để lội nước hoặc lội bùn lầy. Có Dự án nuôi hươu lấy sừng tại Nghệ An. Có Dự án nuôi Kangourou do một Kiều bào ở Uùc mách nước cho tỉnh Bình Tuy. Phải có Dự án và dùng sự quen thân trong đảng để quyết định. Không có Dự án, thì làm thế nào ăn bẩn được. Một lần, tôi đã nói với Tiến sĩ Phùng Khắc Kế, hồi ấy là Giám đốc Tín dụng tại Ngân Hàng Nhà Nước, rằng nếu Ngân Hàng Nhà Nước cứ làm tái Bảo Lãnh cho các Ngân Hàng khác, thì Ngân Hàng Nhà Nước sẽ vỡ nợ. Oâng nói:”Người Chủ Dự án đến chỉ thẳng vào mặt tôi và nói rằng ông ta đã là đồng đội đánh trận sống chế cùng với bố của tôi”. Nhà Nước biết sẽ có cắt xén tham nhũng, nhưng Nhà Nước chấp nhận Dự án để thưởng công bằng tham nhũng. Tham nhũng trở thành một chủ trương của Nhà Nước CSVN.
=> Ngày nay, những Dự án lại được dâng cho Trung Cộng. Trung Cộng chủ trương mua những Dự án để xuất cảng thiết bị cũ, vật liêu xây dựng và nhân công của họ sang Việt Nam cũng như các nước khác, nhất là những nước Phi châu. Họ cho đồng tiền hối lộ đi trước để mua Dự án.
Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành, với độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế, là một Cơ Chế cho phép THAM NHŨNG. Những đảng viên lấy vốn của Nhà Nước gọi là để làm Kinh tế, nhưng trước tiên là nghĩ kế cắt xén vốn đó cho túi riêng của mình . Không thể phát triển Kinh tế thực sự với Cơ chế này được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 17.12.2009
“Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” (Khẳng định từ một Giáo sư người Nhật)
| | | |
KHÔNG THAM NHŨNG HỐI LỘ, KHÔNG LÀM VIỆC ĐƯỢC
Không tham nhũng, hối lộ, không làm việc được?!
Một GS Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”
Những phát hiện của Dự án Nâng cao năng lực phòng chống tham nhũng (PCTN) dựa trên kết quả điều tra, phỏng vấn hàng nghìn người dân, cán bộ tổ chức xã hội, đoàn thể, chính quyền tại 9 tỉnh, TP: Lào Cai, Hà Giang, Thái Bình, Hà Nội, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An… bằng các hình thức: lập các phiếu điều tra để người dân điền vào, phỏng vấn sâu lãnh đạo các tổ chức xã hội, đoàn thể, tổ chức một số buổi thảo luận với sự tham gia đông đảo của người dân ở thôn, xã…
Ngày 4/12 tới tại TP.HCM, dự án sẽ tổ chức hội thảo để công bố những phát hiện, nguyên nhân, đề xuất giải pháp về tình hình tham nhũng ở Việt Nam, lấy ý kiến góp ý các đại biểu để hoàn thiện dự án…
PGS – TS Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển cộng đồng (CECODES), thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật VN, đã dẫn chứng như vậy khi trao đổi với Pháp luật TP.HCM, liên quan đến Dự án Nâng cao năng lực phòng chống tham nhũng (PCTN) cho các tổ chức xã hội và người dân, do CECODES phối hợp với Ban Dân chủ và pháp luật (Mặt trận Tổ quốc VN) tổ chức thực hiện từ giữa năm 2008 đến tháng 3/2010.
Dự án nhằm phân tích, đánh giá được hiện trạng sau 3 năm thi hành Luật phòng chống tham nhũng, tìm ra bản chất, nguyên nhân, tham nhũng ở VN, đề xuất các giải pháp hữu hiệu. Đồng thời, tìm ra các giải pháp làm cho người dân, đại diện là các tổ chức xã hội và cộng đồng, tham gia tích cực hơn vào công cuộc phòng chống tham nhũng.
“Tham nhũng là căn bệnh cấu trúc hoá vào hệ thống” - Xin ông cho biết những phát hiện của dự án sau khi nghiên cứu, khảo sát và lấy ý kiến người dân về thực trạng, tình hình tham nhũng ở Việt Nam? - Phát hiện lớn thứ nhất, tình hình tham nhũng ở Việt Nam có tính đặc thù, đó là phổ biến trong xã hội. Ngôn ngữ khoa học gọi là tính hệ thống, còn nói dân dã là tràn lan, ngấm sâu vào khắp nơi. Có người dân phàn nàn: Nó hệ thống lắm là vì cứ ai có quyền là có thể tham nhũng được, không nhất thiết chỉ có chức. Ví dụ, người quét rác bụi mù lên ở trước cửa một nhà hàng, anh muốn yên ổn phải mang mấy chục nghìn đưa cho người này.
Tại sao nói lại kết luận tham nhũng mang tính hệ thống? Bởi vì có hiện tượng công chức chưa coi việc phục vụ như là một nghĩa vụ để hưởng lương mà coi đó như một vị trí, điều kiện, thời cơ để kiếm sống. Cho nên họ lo lót vào chức ấy, kết bè phái (cũng do người dân nói). Nó thành hệ thống rất khó chữa chứ không phải chỉ có cá nhân nào ấy tham ô. Tham nhũng trở thành như một cái gì đó để tạo ra thu nhập.
Một giáo sư Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tưởng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy. “
Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu khi gặp gỡ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ngoài câu khen Việt Nam tăng trưởng ngoạn mục…, thì ông ấy nói “tuy nhiên, tham nhũng của các ngài đã trở thành một căn bệnh cấu trúc hoá vào trong hệ thống”. Ý câu này dẫn đến cách phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không thể theo hệ thống đơn giản bình thường, bắt một vài anh tham nhũng, hối lộ, không ăn thua! - Câu nói của GS người Nhật có vẻ hơi quá, thưa ông? - Khi nói câu ấy ra ở 9 tỉnh (dự án điều tra, khảo sát ở 9 tỉnh – PV) thì không ai phản đối hết! Và coi đấy như một phát hiện, nhận xét sắc sảo. Thậm chí một đồng chí tỉnh uỷ viên ở Đà Nẵng, chủ tịch mặt trận còn nói: Dùng chữ tham nhũng có tính hệ thống là đúng vì ở đây có liên kết ngang với nhau, liên kết dọc với nhau (tức là dưới với trên) và liên kết chéo với nhau (tức là ngành này chéo ngành kia).
Trong một cỗ máy rất lớn “bôi dầu” để chạy đến khi chỗ nào chảy dầu ra thì mới lo lót, tố cáo…, không thì cứ chạy trong đấy nhưng nguy hiểm. Vì dầu đó cũng là những virus dần làm hỏng bộ máy. - Thứ hạng những ngành, lĩnh vực xẩy ra tham nhũng nhiều nhất theo “xếp hạng” của người dân mới đây có sự thay đổi gì không, thưa ông? - Những ngành mang nhiều tiềm năng, hiện trạng tham nhũng lớn là những ngành liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người dân, đứng đầu là quản lý đất đai, đến xây dựng cơ bản, rồi đến các ngành khác.
Thiếu tướng Trịnh Xuân Thu, Bộ Công an từng nói trước Quốc hội rằng, cán bộ tham nhũng cấp phát đất đai như mớ rau, con cá… Vì ông tỉnh, huyện có quyền phân đất, lấy đất cho DN này thì họ “lại quả” bao nhiêu… Ông Thu ấy nói rất ngắn nhưng có 2 hiện tượng phù hợp với nghiên cứu của dự án này là tham nhũng đất đai ghê gớm nhất. Đất đai còn ghê gớm hơn cả xây dựng cơ bản vì từ đất đai mới ra xây dựng.
Giáo viên, bác sĩ khổ quá vì tham nhũng chưa thâm nhập?! “Lẽ ra cán bộ, công chức lấy lương từ thuế, đằng này lại chia sẻ từ khoản đó (từ tham nhũng, hối lộ)… Tức là quan chức chia sẻ cơ chế không công bằng trong quá trình phát triển để làm ra thu thập chứ không phải là lương bổng. Quan chức lại dùng tiền ấy sử dụng dịch vụ, người làm dịch vụ cũng hưởng tham nhũng theo kiểu hối lộ, ví dụ như bác sĩ, cô mẫu giáo, thành ra đang hưởng vòng quay của hối lộ và tham nhũng. Những nơi hưởng tiền ít, ví dụ vùng núi xa xôi quan chức, người dân không có tiền mấy thì người dạy mẫu giáo ít được phong bì. Nên người dân nói tiếu lâm rất ghê: “Vùng cao, giáo viên, bác sĩ khổ quá vì tham nhũng chưa thâm nhập vào đây!” (cười)”
Lần này, ngành tổ chức xếp hạng khá cao cũng là một phát hiện đáng lưu ý. Người dân cho là chạy chức, chạy quyền rất lớn vì từ đó mới ra quyền lực, chức tước, lợi lộc… Tham nhũng trong ngành tổ chức xếp thứ 4-5 chứ không phải thứ 7-9 như trước đây. Một khi tổ chức được xếp tham nhũng khá cao là rất nguy hiểm. Vì từ tổ chức, từ con người “cầm cân nảy mực” mới phát sinh ra nhiều chuyện…
Thể chế pháp lý khiếm khuyết - Phát hiện lớn nhất trong nguyên nhân về tham nhũng mà dự án rút ra được là gì, thưa ông? - Trước đây người ta hay nói nhiều đến nguyên nhân là sự tha hoá của cán bộ, tức là sâu mọt, rồi lương thấp, không nghiêm trị… Nhưng dự án này dám nêu lên một nguyên nhân quan trọng bậc nhất là do một số thể chế pháp lý còn khiếm khuyết. Thứ nhất là thể chế pháp lý về quản lý đất đai. Cái yếu tố đất đai thuộc sở hữu toàn dân, cộng với cơ chế cho phép cán bộ từ huyện đến tỉnh được quyền phân quyền đất đai, doanh nghiệp ấy giải phóng mặt bằng đền bù theo giá rẻ mạt và được lại rất nhiều. Nguyên nhân này là giá đền bù cho người dân thấp hơn rất nhiều so với giá đất cơ hội. Giá đất đang như thế này nhưng khi tôi làm một quy hoạch công nghiệp, cơ hội mảnh đất này lên giá rất cao. Nhưng khi làm nhà nước bảo đất này là đất ruộng trồng lúa nên giá chỉ mấy chục nghìn 1 mét vuông. Có một người dân dẫn chứng rất cụ thể: Chỉ cần xin 5ha, giải phóng mặt bằng 1 tỷ đồng, 1 tỷ lo lót tất cả từ thành phố cho đến xã, tổng cộng mất 2 tỷ. Xong người ta liên kết với Hàn Quốc làm một xí nghiệp, bảo “tôi có mảng đất 5ha này, ông đưa máy móc vào đây thì giá trị mảnh đất của tôi là 5 triệu đô”. Và 5 triệu đô thì lãi bao nhiêu, được hàng trăm tỷ mà mất có 2 tỷ. Thật kinh khủng! Phương diện thứ hai của nguyên nhân về thể chế là quản lý doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn thì cũng tạo ra tham nhũng rất lớn. Tập đoàn nhà nước nên Nhà nước cho vốn, cho vay ngân hàng, lúc thua lỗ thì anh xoá nợ… Ông chủ tịch tập đoàn lại là cán bộ nhà nước nhưng lại làm công ty con, “sân sau”… Chẳng hạn như tập đoàn về lương thực bán lúa gạo. Ông có công ty con ở Singapore, bán gạo giá rẻ, nó lại bán đắt lên trục lợi. Tập đoàn nhà nước làm hại rất nhiều cho công quỹ nhưng ít va chạm với người dân thường như lĩnh vực đất đai. Cho nên hai mặt của phương diện thể chế tạo cho tham nhũng mang tính hệ thống và rất khó chữa theo kiểu vụ việc được. Anh phải thay đổi cái cách phân phối đất, phải thay đổi cách quản trị vốn của doanh nghiệp, tập đoàn nhà nước… Dự án xếp nguyên nhân trên là quan trọng nhất. Công nghiệp hoá “trên lưng người nông dân”? “Đất đai quản lý như thế này người dân nói rất ghê. Tôi thấy găng quá nên nói, “tôi ghi vào đây có ảnh hưởng đến bác không?” Họ nói, “không, không, cứ ghi tên tôi ở dưới đi”. Câu thứ nhất họ bảo là: Ngoài tham nhũng ra, nếu quản lý đất đai kiểu này thì quá trình công nghiệp hoá hiện nay đang tiến hành “trên lưng người nông dân”. Không phải lời của dự án mà ghi chú thích hẳn hoi, ông này ở Thái Bình, từng là tỉnh uỷ viên. Ông ấy cho rằng, ngoài hiện tượng tạo thời cơ cho tham nhũng thì quá trình công nghiệp hoá thế này đang lợi cho doanh nghiệp, gây thiệt hại cho người nông dân. Cái doanh nghiệp mà được đất ở chỗ Ciputra (Hà Nội) được lãi gấp mấy trăm lần? Hay một sân golf họ lấy 100ha, 60ha làm sân gôn, 40ha làm biệt thự, lãi đấy vào túi ai?” Mua giấy phép thành lập trường để “bán bằng”? Vậy còn nguyên nhân nào khác dự án đưa ra về tình trạng tham nhũng? - Nguyên nhân thứ hai là cơ chế xin – cho của thời bao cấp đang còn rất thịnh hành. Ví dụ tôi xin lập một trường đại học dân lập thì tự nhiên được mảnh đất mấy ha, được giấy phép tuyển sinh. Tuyển sinh lấy mỗi em 1 triệu/tháng, bao nhiêu triệu 1 năm thì tự nhiên thành bao nhiêu tỷ lập tức. Ngành giáo dục trong hội thảo mà có người đứng lên nói: Cách đây độ 5 năm muốn được giấy phép để mở một trường ĐH-CĐ dân lập độ tốn 300 triệu lo lót các nơi thì bây giờ năm 2009 là 2 tỷ. Xong giấy phép ấy mà không lập có người khác mua ngay, gấp 2-3 lần. Sau đó lại tham nhũng kiểu khác, lấy tiền cho học sinh, làm cho chất lượng giảm đi. Tóm lại các trường đại học hiện nay có hiện tượng thành lập lên như trung tâm “bán bằng”. Muốn thành lập trung tâm bán bằng phải có giấy phép, muốn có giấy phép phải có hối lộ… Cho nên hệ thống tham nhũng nó giằng rịt như vậy. Như vậy hệ thống xin – cho rất mạnh, nhất là các dự án. Xin được mở bệnh viện tư, trường đại học… xin được căn hộ chung cư mua theo giá gốc, tưởng là thị trường nhưng chưa đích thực. - Như hai nguyên nhân ông nói kể trên không đề cập đến việc cán bộ tha hoá, sa sút về đạo đức dẫn đến tham nhũng? Trước kia trong các văn bản về phòng chống tham nhũng của nhà nước khi nói nguyên nhân hay nói đến ban đầu là đạo đức tha hoá, lương thấp… thì dự án này không nói như thế. Hai nguyên nhân nói trên không có dính đến đạo đức. Đạo đức rất khá nhưng rơi vào vòng xoáy này cũng phải nhận hối lộ, còn nếu khá hơn nữa ông đứng ra ngoài không làm nữa, ông về nghỉ hưu. Còn nếu anh vào cuộc, lại phải xin, phải đưa ra phong bì… Do đó, dự án đưa ra hai nguyên nhân chính ở trên rồi mới đến nguyên nhân đạo đức kém, lương bổng thấp, nền kinh tế dùng tiền mặt… Chẳng hạn dùng tiền mặt, anh ra phố Hà Trung (Hà Nội) mà đổi được 100 nghìn USD, lo lót hải quan chuyển sang Thuỵ Sĩ thì xong rồi. Chả ai còn biết nữa. Các nước đổi 5.000 USD phải xem ai cần đổi, nguồn gốc từ đâu, tại sao cần đổi… Mà cái hối lộ của Việt Nam nó lại ghê gớm, thành văn hoá, có bà nói: “Các bác cứ nói hối lộ xấu xa nhưng bây giờ vào bệnh viện, ngày lễ ngày tết cho cô giáo mà không đưa tiền, phong bì… thì mình trở thành người vô văn hoá”. Bà ta dùng chữ nặng lắm là vô học, mà có học, có văn hoá thì phải đưa, thành ra cái lệ đó rồi. Có hai ý kiến dự án này không đồng ý: Ý kiến thứ nhất bảo là cảnh sát giao thông xấu xa nhưng ta chiểu theo hai nguyên nhân kia thì ông cảnh sát là bình thường, vì nằm trong hệ thống. Ví dụ cảnh sát tỉnh A thế này còn cảnh sát các tỉnh khác rất nghiêm túc thì mới gọi là phạm trù đạo đức của cảnh sát. Như thế không phải tại vấn đề ở bản thân ông ấy mà tại hệ thống. Cho nên vừa rồi đối thoại về tham nhũng trong y tế, tôi có nói câu: Ngành y tế theo thống kê của người dân có tham nhũng nhưng không ghê gớm (về giá trị bằng tiền, vật chất) bằng đất đai. Nhưng tham nhũng ở đấy mang tính chất đương nhiên và noi gương? - Vì sao ông nói tham nhũng ở ngành y tế là “đương nhiên và noi gương”? - Vì anh bác sĩ lý lẽ: Tội gì mà tôi ngồi đây mổ suốt ngày lương 3 triệu mà anh kia chạy loăng quăng, có tiền tỷ. Thì bác sĩ lấy tiền của bệnh nhân, thậm chí có bệnh nhân van bác sĩ nhận tiền. Tôi có quen một người giải phẫu giỏi ở Việt Đức (tôi đã lắng nghe và hỏi rất cẩn thận). Người bác sĩ giỏi ở Việt Đức 40 tuổi, mổ chính bây giờ lương chính có 3 triệu nhưng thu nhập tất cả tiền hàng tháng 40 triệu. 40 triệu tương đương hơn 2.000 USD, được quá! Nhưng hiện nay thu nhập do hệ thống tham nhũng, hối lộ cung ứng. Thế mà có lần có một bà già 70 tuổi ở Hà Giang đưa phong bì, ông ấy không nhận vì trông bà nghèo khổ, bà ta sợ quá gần như quỳ xuống để cầu van… Lúc ấy thành văn hoá, “nếu bác sĩ không nhận phong bì của tôi thì tức là phản đối tôi, không chăm chút tôi. Nhận cho tôi để chăm chút cho tôi”. Bác sĩ ấy nhận, khi yên ổn rồi bóc ra thấy 30 ngàn đồng mà phát khóc… Có những ý kiến nói ra nhưng tổng kết lại người dân không đồng ý. “Người dân làm hỏng cán bộ, tham nhũng hối lộ tại người dân”, nói như vậy là sai hoàn toàn. Nói như thế này đúng: Lương thấp nên không giữ được mình, vì không nước nào lương thấp thế này cả. Công chức quá đông và lương quá thấp, đó là vấn đề lớn, là hiện tượng ở Việt Nam. Công chức không thực tài mà theo hệ thống tuyển lựa nó không đúng như một thị trường đích thực. “Bốc thuốc” cho bệnh tham nhũng - Vậy sau khi “chẩn đoán”, dự án đã “bốc thuốc” như thế nào để chữa “bệnh” tham nhũng ở Việt Nam? - Khuyến nghị tập trung nhất, về đường trường (lâu dài) thì phải thay đổi, hoàn thiện một số cơ chế sở hữu. Đó là đề xuất lớn nhất đầu tiên của dự án này, thí dụ về đất đai. Làm thế nào đó để người dân có quyền hơn, được đền bù cao hơn, được đối thoại với nhà đầu tư…? Chứ hiện nay họ có quyền rất ít và quyền ấy đưa về chính quyền. Mà quan chức ưu ái cho doanh nghiệp thì tự nhiên là tham nhũng. Tập đoàn nhà nước cần nghiên cứu lại, anh chủ tịch tập đoàn phải góp tiền của anh. Đằng này tập đoàn nhà nước tiền của dân, tội gì không làm ra công ty con, làm hại cho tập đoàn, lợi cho công ty con, cuối cùng tập đoàn càng lỗ. Đề xuất thứ hai về dài hạn muốn chống tham nhũng tốt phải minh bạch và tính giải trình phải cao.Ví dụ người dân có quyền yêu cầu UBND chỗ này giải trình… Chỉ giải trình anh cũng đã sợ rồi! Cũng như sân golf anh lấy đất thế nào cho ai và nộp bao nhiêu. tại sao sân golf một nửa làm biệt thự? Thứ ba về đường trường, tiếng nói của tổ chức xã hội và người dân phải tăng nữa. Giống như về ô nhiễm môi trường, phải có sức ép người dân kiện Vedan, hoặc trao giải thưởng không đúng, báo chí, người dân lên tiếng phải mạnh mẽ thì mới được. Giải pháp trước mắt, người dân đề xuất rất đơn giản và cụ thể là không nên để ông chỉ đạo (trưởng ban) phòng chống tham nhũng là ông chủ tịch chính quyền. Hiện nay là vừa đá bóng vừa thổi còi. Còn nữa, anh thanh tra ở tỉnh sợ ông chính quyền. Thanh tra ở tỉnh phải độc lập với ông chính quyền thì mới ăn thua. Vì vậy người dân đề nghị tăng cường hoạt động, tham gia giám sát của Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng… Kiến nghị thứ hai Đảng viên cũng như không Đảng viên, cán bộ cao cấp cũng như thấp cấp đều chịu trách nhiệm trước pháp luật. Không có xử riêng, cấp uỷ có ý kiến… Tức là thượng tôn pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Thứ ba, phải làm thế nào cho người dân dám tố cáo tham nhũng, thí dụ đơn thư khiếu nại tố cáo nặc danh cũng phải xét, rồi hòm thư tố giác tham nhũng để nơi thoải mái cho người dân dễ nhận biết. Kiến nghị thứ tư là vai trò giám sát của người dân, truyền thông, của tổ chức xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên… phải tăng nữa và và thực chất hơn. - Ông vừa đưa ra đề xuất “vá” những chỗ khiếm khuyết về cơ chế. Nhưng có thể những người làm chính sách cơ hội không dễ thay đổi, từ bỏ quyền lợi của mình. Vậy theo ông phải làm như thế nào? - Ở VN có một đặc điểm và đặc điểm đó hay tạo nên tham nhũng mà trong dự án đã nêu là anh hành pháp lại lập pháp. Thí dụ cơ chế phát triển ngành điện lực, Luật điện lực hoặc chính sách phát triển điện lực lại do anh EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam), Bộ Công thương đề xuất. Các nước chữa bằng cách hạn chế anh hành pháp lại, mà khi lập chính sách phải để cho anh lập pháp là Quốc hội. Trong Quốc hội thì anh Bộ trưởng phải rất ít, thậm chí đã Bộ trưởng không đại biểu Quốc hội. Của mình ngược lại hầu hết Bộ trưởng đều là đại biểu QH. Tách lập pháp ra khỏi hành pháp thì lập pháp mới đứng trên quyền lợi chung. Đằng này khi lập pháp có dấu vết hành pháp ở bên trong, thiên vị anh hành pháp nên rất nguy hiểm. Tham nhũng ở Việt Nam mang tính chất nạn nhân “Dự án này tập trung vào để không xẩy ra tham nhũng, nó chân tình ở chỗ ấy. Dự án không đề nghị tăng hình phạt gấp mấy lần, thậm chí còn đề nghị không tử hình tội tham nhũng. Vì “hồn” của dự án này nói tham nhũng ở Việt Nam mang tính chất nạn nhân nhiều hơn. Tội nhân là một số nào đấy… Giống như giáo dục, nhiều người là nạn nhân nên dự án này “không thích” ông Nguyễn Việt Khoa ở Hà Tây. Dự án này không đồng ý vì cách tiếp cận ấy đi vào những cái nhỏ lẻ, mà phải tìm nguyên nhân của những thứ đó. Mang camera quay đưa tiền cảnh sát ngoài đường, dự án này hoàn toàn không có dáng dấp như thế. Dự án này “đụng chạm” tại sao cảnh sát tham nhũng, cần phải “chữa” để cảnh sát không cần, không thể và không dám tham nhũng…” - Tại sao dự án không “hiến kế” những giải pháp cụ thể, thưa ông? - Anh quản lý phải nghĩ cách làm lợi cho dân, tránh tham nhũng. Anh đồng ý đất đai phân phối như vậy có phải lò sinh ra tham nhũng không? Không thể không đồng ý. Lò sinh ra tham nhũng anh phải chữa đi, anh phải mời chuyên gia chứ không thể người dân nói cách chữa được. Cũng giống như ông QH bảo ông Bộ trưởng: Tôi phát hiện cho ông việc để chính quyền phát đất thế này dễ tạo tham nhũng, ông phải đi tìm cách chữa mới nói ông quản lý dân chứ! Hoặc người ta nói tập đoàn là ổ tham nhũng. Thế thì phải cổ phần hoá hết đi hoặc làm cách nào đấy… Nếu làm được cái này lợi nhuận mới tập trung về cho xã hội, anh quay lại trả lương cho công chức. Chứ tổng số tiền ở VN không ít, nhưng rơi vào các đại gia, các doanh ngiệp và quan chức… Như thế công chức nhỏ không có lương phải “chấm mút” kiểu khác, cứ lằng nhằng thế. Là hệ thống cứ xoay vòng theo kiểu mà trong vòng luẩn quẩn như thế này, nó dựa vào tham nhũng phát triển theo kiểu không trong sáng, không đàng hoàng… Xin cảm ơn ông!
Văn Tiến thực hiện Nguồn: http://butlong. multiply. com/journal/ item/476/ 476 http://bauxitevietn am.info/c/ 20149.html
ĐỪNG ĐỂ THAM NHŨNG GIẾT CHẾT PHÁT TRIỂN
TT - Ngày quốc tế chống tham nhũng năm nay (9-12) diễn ra cùng lúc với Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu. Cả hai đều do Liên Hiệp Quốc tổ chức, nôm na mà nói là để tìm kiếm một thỏa hiệp chống tác hại của mỗi nước - nơi môi trường sống của cả nhân loại!
Hai sự kiện trọng đại này bổ sung cho nhau trong ý nghĩa: giữa tham nhũng và tàn phá môi trường có một mối liên quan hỗ tương.
Mới đây, Tổ chức Minh bạch quốc tế vừa công bố bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng 2009, theo đó thứ hạng Việt Nam vẫn cứ sau 2/3 số nước khác như mọi năm (hạng 120/180). Có thể hi vọng rằng với việc mới phê chuẩn Công ước LHQ chống tham nhũng vào tháng 7 năm nay, sau sáu năm đắn đo, cách chống tham nhũng ở ta sẽ đến gần với cách chống tham nhũng chung của cả thế giới...
Cũng thế, hội nghị Copenhagen về biến đổi khí hậu là một nhắc nhở đừng hủy hoại môi trường sống của dân tộc mình và của nhân loại. Biến đổi khí hậu có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân phá hủy môi trường sống. Có thể dưới dạng phá rừng, cho dù dưới danh nghĩa rất hợp pháp như trồng cây công nghiệp, làm thủy điện, xây sân golf, khu công nghiệp...
Những số liệu sau cho thấy chúng ta đang tiến đến một thảm họa do chính mình gây ra khi tàn phá thiên nhiên: trong vòng 10 năm qua, mỗi năm mất trắng 51.000ha rừng, phần lớn là rừng tự nhiên ở thượng nguồn. Ở Tây nguyên, muốn trồng được 100.000ha cao su phải phá đi khoảng 140.000ha rừng tự nhiên! 80% diện tích rừng ngập mặn Việt Nam đã mất đi hoặc suy giảm chất lượng, đặc biệt giai đoạn từ 1995 trở lại đây, để nuôi trồng thủy sản!
Các mất mát đó phải chăng chính là lời giải đã có sẵn cho những bài toán có vẻ như nan giải, như có thể thấy trên một trang web chuyên ngành môi trường: ”Thủy điện: phát triển và đánh đổi?”, “Tam Đảo: rừng hay resort?“, “Long An: nông nghiệp hay sân golf?”... Những bài toán trên thật ra không nan giải về mặt kinh tế và phát triển, song lại nan giải về mặt lương tâm. Vì đằng sau đó có khi là hậu quả của “xin và cho”.
Không lấy làm lạ tại sao Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon trong thông điệp nhân Ngày quốc tế chống tham nhũng năm nay lại nhấn mạnh: ”Đừng để tham nhũng giết chết phát triển”! Nói cách khác, ông muốn cảnh báo chuyện nhân danh sự phát triển (có thể đó là xã nhà, huyện nhà, tỉnh nhà, ngành ta, đất nước mình...) để trục lợi và qua đó giết chết sự phát triển của chính xã ta, huyện ta, tỉnh ta…
Một năm ba tháng đã trôi qua kể từ khi dân chúng ven sông Thị Vải cay đắng nhận ra dòng sông sinh nhai của họ vì đâu mà “chết”, hiểu ra rằng họ có quyền đòi kẻ gây ô nhiễm phải bồi thường. Thế nhưng, đơn kiện của họ vẫn chưa được chính tòa án “nhà” của họ nhận đơn.Và họ vẫn đang cô độc đòi bồi thường chứ không thể chấp nhận hỗ trợ. Thị Vải chỉ là một trong những bài toán đã có “lời giải có sẵn”.
DANH ĐỨC
| | | |
DIỆT THAM NHŨNG LÀ DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://VietTUDAN.net Geneva, 24.09.2009
Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản.
Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG.
Trung Quốc: không thể kinh doanh mà không hối lộ
Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009
Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.
“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.
“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể.
Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,
Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.
Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.
Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng.
Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.
Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.
Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.
Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng.
Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông.
A. L. BVN dịch
Việt Nam: Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam
Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn,
Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358.
Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào?
Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa.
Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy.
Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ.
Thân mến, PGS TS Vũ Triều Minh, Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia
Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.
Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’
Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế Geneva, 22.09.2009
| | | |
CHỐNG THAM NHŨNG BẰNG MIỆNG
Hà Phan
Sáng 13/10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định tình trạng tham nhũng tuy có giảm nhưng vẫn đang tồn tại một số vụ việc gây bức xúc trong dư luận; một số giải pháp phòng ngừa tham nhũng chưa đạt hiệu quả cao, tính minh bạch tại một số lĩnh vực như thuế, đầu tư, đất đai, chi tiêu công vẫn chưa cao… Những điều Thủ tướng nói không sai, chẳng lạ và cũng chưa có gì mới vì trên thực tế tại VN vẫn chống tham nhũng, lãng phí bằng khẩu hiệu và tuyên bố nhiều hơn hành động. Nghị quyết, quyết định, chỉ thị, biện pháp… chống tham nhũng, lãng phí không thiếu nhưng thực hiện thì vô cùng thiếu. Hàng loạt vụ án tham nhũng lớn như PCI, Nguyễn Đức Chi, PMU 18, Điện kế điện tử, Nguyễn Lâm Thái… cuối cùng đã hiện rõ là “đầu voi đuôi chuột”. Nhiều tờ báo và phóng viên bị “chỉ mặt” là thủ phạm “bé xé ra to” làm mất uy tín các cơ quan Đảng và chính quyền, quan chức!? Sau thời gian ngắn tưởng chừng như “tổ” tham nhũng sẽ bị phá thì đến nay không chỉ báo chí rụt rè mà người dân cũng chán nản khi thấy các quan chức “phản đòn” như vụ PMU 18 hay Nguyễn Đức Chi. Với những gì đã diễn ra thì công luận càng nghi ngờ quyết tâm “cá nhân tham nhũng không được bầu vào cấp ủy Đảng” như những tuyên bố gần đây khi Đại hội Đảng các cấp đến gần.
Còn nhớ cuối 1999 trầy trật mãi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới thông qua được quy chế chống lãng phí sau 8, 9 lần dự thảo sửa đi sửa lại. Nhưng 10 năm qua, quy chế này tồn tại trên giấy nhiều hơn hiệu quả thực tế vì phần lớn Bộ, ngành, địa phương đều nói hay hơn làm. Xe công mua quá giá quy định lãng phí đến mức mà thời còn làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Nguyễn Sinh Hùng phải thốt lên “Bãi sông Hồng chứa cũng không đủ”. Từ địa phương đến trung ương, việc mua xe cho các quan đi lại lố hàng trăm triệu đã thành chuyện bình thường. Trong một cuộc Hội nghị không lớn tại miền Tây, tôi từng chứng kiến hơn 200 xe biển số xanh mổi chiếc chở một vị dù chung tỉnh, chung ngành. Chủ trương gom các văn phòng 2 của Bộ, ngành trung ương tại TP Hồ Chí Minh về một mối cũng nhanh chóng phá sản dù đã đổ hàng chục tỷ xây trụ sở chung vì Bộ nào cũng muốn riêng một cõi hoành tránh. Ngay tại TP Hồ Chí Minh tấc đất tấc vàng mà có văn phòng Bộ chỉ vỏn vẹn 10 người chiếm luôn biệt thự gần 1000 m2. Làm việc không hết, chia chác nhau vẫn dư thừa, họ đem cho thuê và luôn tìm cách lờ đi nghĩa vụ nộp ngân sách. Hơn ai hết, người đứng đầu địa phương và Bộ, ngành nắm rõ tình trạng này; họ cũng hô hào phải tiết kiệm, không được lãng phí nhưng vì “ nồi cơm nhỏ” của mỗi người, mỗi ngành nên “ nồi cơm chung” của cả nước cứ mãi bị bớt xén.
Chỉ riêng TP Hồ Chí Minh, quỹ đất dôi dư bị sử dụng lãng phí đem bán thu về cho ngân sách 14.913 tỷ đồng, số tiền đủ để xây thêm vài chiếc cầu Mỹ Thuận hay nuôi sống hàng triệu dân trong cả năm trời. Tham nhũng còn có thể vạch mặt chỉ tên trị tội chứ lãng phí thì vẫn vin vào trách nhiệm chung chung và quá nhiều người cảm thấy mình “vô tội” một cách vô cảm. Nếu nhận ra rằng hàng triệu đồng bào đang sống ở mức mà bớt một bữa tiệc rượu bia lai láng có thể nuôi cả gia đình nghèo trong vài tháng thì mới thấy đó là tội ác. Còn việc hô hào rồi vẫn nhắm mắt cho lãng phí vẫn tràn lan như bia rượu chảy đầy trong các lễ mừng công, đón huân chương, xe công vi vu lễ hội, nhà công như món quà biếu nhau thì người lãnh đạo nên xem lại nhân cách mình.
Bộ trưởng dùng vang Đà Lạt tiếp khách chắc quan chức dưới quyền mấy ai dám dùng Hennessy tiếp đãi nhau. Bí thư, Chủ tịch tỉnh đi làm bằng xe máy cũng ít cấp dưới dám dùng xe công đưa con đi học, vợ đi chợ, bản thân đi nhậu. Có gương ắt phải soi, còn ngược lại, phép nước sẽ tiếp tục bị coi thường và tài sản công vẫn là “cha chung không ai khóc”. Xài thoải mái của công không những thỏa được đặc lợi mà còn có mảnh đất màu mỡ để tham nhũng. Hàng trăm vụ tham nhũng lớn cũng bắt nguồn từ “mỡ nhiều quá mèo ăn không hết phải đem về cho vợ con, họ hàng, bạn bè”.
Giờ đây dân chúng đang chờ khẩu hiệu chống lãng phí phải được thực thi chứ không phải hô hào suông mãi. Họ có quyền đòi hỏi công bộc làm nhiều hơn nói vì suy cho cùng mọi nguồn tài sản của đất nước đều bắt nguồn từ đóng góp, thuế má của hàng chục triệu dân chúng. Hơn nữa, đó còn là lương tri và trách nhiệm của những người thay mặt nhân dân quản lý tài sản công – thứ lương tri và trách nhiệm lâu nay bị không ít quan chức để quên, đánh mất hay phung phí như tài sản công mà họ đã vung vãi suốt hàng chục năm qua.
H. P. http://bauxitevietn am.info/c/ 13569.html
THAM NHŨNG XÂY TƯỢNG ĐÀI ĐIỆN BIÊN
8 người bị truy tố vì tham nhũng khi thi công tượng đài chiến thắng Điện Biên Bảo Thạch Bài đăng ngày 14/10/2009 Cập nhật lần cuối ngày 14/10/2009 15:46 TU
Hôm nay, 14/10/2009, AFP trích dẫn một số nguồn tin trong nước, cho biết là 8 người đã bị truy tố vì tội tham nhũng trong việc xây dựng tượng đài kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ bằng những vật liệu rẻ tiền.
Tượng đài này đã được khánh thành năm 2004, đánh dấu 50 năm quân đội viễn chinh Pháp chiến bại tại Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, vài ba năm sau, tượng đài Điện Biên Phủ đã bắt đầu bị hư hại. Cuộc điều tra cho thấy tượng đài này đã được xây dựng với chất liệu rẻ tiền là đồng vụn, thay vì đồng nguyên chất như đã dự trù.
Các bị cáo đã bớt xén và bỏ túi hàng trăm triệu đồng. Trong số các bị cáo có ông Dương Phượng Các, nguyên phó giám đốc Sở Văn Hóa tỉnh Điện Biên và Võ Thị Hồng, nguyên giám đốc công ty Mỹ thuật Trung ương. Công ty này đã được chỉ định thầu thi công đài tưởng niệm.
| | | |
DIỆT THAM NHŨNG LÀ DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://VietTUDAN.net Geneva, 24.09.2009
Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản.
Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG.
Trung Quốc: không thể kinh doanh mà không hối lộ Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009
Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.
“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.
“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể.
Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,
Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.
Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.
Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng.
Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.
Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.
Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.
Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng.
Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông.
A. L. BVN dịch
Việt Nam: Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn,
Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358.
Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào?
Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa.
Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy.
Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ.
Thân mến, PGS TS Vũ Triều Minh, Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia
Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.
Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’
Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
| | | |
TẠI TRUNG QUỐC: KHÔNG THỂ KINH DOANH MÀ KHÔNG HỐI LỘ
Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009
Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.
“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.
“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể. Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,
Song công nghệ phương Tây, trong trường hợp này là công nghệ Đức, thì đắt đỏ. Hai yếu tố còn lại cũng chống lại vị thương gia người Đức. Nếu không có guanxi, tức phải duy trì qua thông đồng hay tham nhũng rõ ràng, yếu tố sót lại chỉ là chất lượng, mà riêng chất lượng thì không thể đảm bảo có được bất kỳ thỏa thuận nào tại Trung Quốc, doanh nhân này cho biết.
Các tập đoàn lớn đang làm ăn tại quốc gia đông dân nhất thế giới này cùng vấp phải vấn đề tương tự để giữ cho đôi tay họ được sạch sẽ.
“Hối lộ hay lại quả là một bộ phận trong truyền thống kinh doanh ở Trung Quốc,” quan chức làm cho một công ty lớn của Đức đang tuyển dụng hàng ngàn nhân công tại Trung Quốc phát biểu.
“Thật khó ngăn cản nhân viên hay đại diện bán hàng người Trung Quốc của chúng tôi (không được hối lộ), nhưng chúng tôi sẽ cố gắng,” ông nói.
Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.
Ba nhân viên người Trung Quốc và trưởng văn phòng đại diện Rio Tinto ở Thượng Hải, Stern Hu, công dân Úc gốc Hoa, đã bị bắt giam vì các cáo buộc tham nhũng từ hồi tháng Tám.
Vụ này đã khiến quốc tế quan ngại vì nhà chức trách Trung Quốc quyết định trả đũa Rio Tinto chỉ sau khi hành động mua lại một phần hùn lớn từ Rio Tinto của công ty nhôm nhà nước Chinalco đã gặp phải phản đối từ phía Úc. Các hành động bắt giam còn kích hoạt lại cuộc thảo luận trong truyền thông Trung Quốc về công cuộc chống tham nhũng mà hiện nay đã lan rộng đến mọi tầng lớp xã hội.
Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.
Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng. Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.
Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.
Công an cũng chẳng hưởng được tiếng thơm. Tại thủ phủ Trùng Khánh ở mạn Tây Nam, một số quan chức cấp cao đang phải đối mặt với án tù sau khi lãnh đạo Đảng mới lên là Bạc Hi Lai quyết định ra tay thanh trừng.
Vị nguyên Bộ trưởng Thương mại này, từng là ứng viên tiềm năng cho ghế Thủ tướng, đang tự đánh bóng tên tuổi của mình như một chiến sĩ chống tham nhũng trong tỉnh. Kết quả là Phó Giám đốc lực lượng công an Trùng Khánh giờ đây đang phải ngồi tù cùng với Giám đốc công an giao thông và Giám đốc Qui hoạch Đô thị, kẻ vừa được tạm hoãn hai năm án tử hình.
Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau ngay bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.
Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng. Một số cho rằng báo cáo của truyền thông nhà nước về việc có hơn 50.000 quan chức bị phát hiện có hành vi tham nhũng trong sáu năm qua là một thành công. Những kẻ khác thì lại cho rằng đây là tuyên ngôn về sự thất bại. Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông. A. L. BVN dịch
TRUNG QUỐC: ĐẢNG VÀ BĂNG ĐẢNG NHƯ RĂNG VỚI MÔI
Hà Giang - Thiện Giao (Tổng hợp) Trúc Liên Bang (Bamboo Union triad)
Liên hệ giữa Hội Tam Hoàng và Ðảng Cộng Sản Trung Quốc hiện nay, cũng như với Trung Hoa Quốc Dân Ðảng trong quá khứ, luôn trong tình trạng, lúc tốt thì gần gũi như “răng với môi,” lúc xấu thì “nửa lạnh nửa ấm,” yêu ghét lẫn lộn.
Một bài báo trên tờ Vancouver Sun ngày 2 Tháng Chín viết, “Thế nhưng, chiến dịch tảo thanh tội phạm và tham nhũng vừa được tiến hành gần đây tại Trùng Khánh, tỉnh 32 triệu dân miền viễn tây Trung Quốc, cho người ta thấy rằng, tình thân giữa hai bên (Ðảng CS và hội Tam Hoàng) là những sợi dây, cứ xoắn chặt vào nhau.”
Mọi người cũng cần lưu ý, rằng chỉ còn ít ngày nữa, đúng vào 1 Tháng Mười, Bắc Kinh sẽ kỷ niệm 60 năm ngày Cộng Sản Trung Quốc cướp chính quyền từ tay Trung Hoa Quốc Dân Ðảng.
Tờ The Economist, trong số báo ra ngày 3 Tháng Chín, viết rằng, một cuộc duyệt binh “hoành tráng” sẽ được tổ chức tại Bắc Kinh đúng vào ngày đầu Tháng Mười, như bằng chứng của một “phương thức hữu hiệu chống lại các thế lực thù địch trong và ngoài nước.”
Bắc Kinh không ngần ngại tung tiền chi tiêu cho cuộc duyệt binh mười năm mới có một lần, và Bắc Kinh cũng không ngần ngại mạnh tay trấn áp đối lập.
Công an Bắc Kinh, với sự trợ giúp từ hàng trăm ngàn thiện nguyện viên, sẽ tiến hành một chiến dịch an ninh “cao độ,” không thua gì giai đoạn Olympics hồi năm ngoái.
Người dân từ các tỉnh xa bị cấm đổ về thủ đô khiếu kiện. Công an thì đặt trong tình trạng báo động tại các khu vực “cứng đầu,” như Tân Cương, Tây Tạng. Hơn 200 ngàn người, kể cả những người dựng các cầu tiêu di động cho cuộc duyệt binh, đều phải là đảng viên, và phải là đảng viên trung kiên của đảng.
Trở lại mối quan hệ “răng - môi” giữa Cộng Sản với Tam Hoàng, theo tờ Vancouver Sun, thì “mối liên hệ có tính lịch sử giữa Hội Tam Hoàng với Ðảng Cộng Sản, và trước đó là Quốc Dân Ðảng, đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của những nhân vật trị vì Trung Quốc.”
Bốn thế hệ kể từ ngày Mao Trạch Ðông đứng giữa Thiên An Môn, tuyên bố “Trung Quốc trỗi dậy,” nạn tham nhũng, cửa quyền vẫn tiếp tục, khiến hàng triệu người Trung Quốc sống trong khốn cùng.
Cả Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào, lẫn Thủ Tướng Ôn Gia Bảo đều nhận thức rõ sự đe dọa của xã hội đen đối với vị trí độc tôn của Ðảng Cộng Sản. Riêng đối với Hồ Cẩm Ðào, thì cuộc duyệt binh là dịp “once in a lifetime!” Duyệt binh quốc gia thì 10 năm mới tổ chức một lần. Một lần duy nhất bị hủy bỏ là năm 1989 do biến cố Thiên An Môn. Mọi thứ, bất kể thứ gì, có thể mang ra làm bằng chứng sức mạnh của Trung Quốc, sẽ được trưng dụng. Chắc chắn phải có hỏa tiễn liên lục địa, xe tăng, máy bay chiến đấu...
Mỗi năm, trong 20 năm liên tiếp, Trung Quốc gia tăng hơn 10% ngân sách dành cho quốc phòng. Bắc Kinh sẽ có rất nhiều phương tiện để phô trương thanh thế. Gần đây, một bài báo trên một tờ báo chính thống của nhà nước viết rằng, lãnh đạo Ðảng Cộng Sản TQ “thấu hiểu tình trạng tham nhũng của các viên chức chính quyền mọi cấp đã và đang làm tổn hại thanh danh của Ðảng. Và tham nhũng khiến quần chúng bất mãn cùng cực.”
Chính sách của Trung Quốc cho đến nay vẫn là: cứ bắt giam, truy tố, hoặc bắn bỏ giới chức cao cấp thất bại trong việc dẹp bỏ nạn tham nhũng.
Chiến dịch chống tham nhũng qui mô tại Trùng Khánh đang mang lại uy tín cho lãnh đạo của địa phương này. Song, xem chừng thành công của lãnh đạo tỉnh, “vương tử” Bạc Hi Lai, không hoàn toàn được đảng tin tưởng. Bắc Kinh có vẻ chưa lường được tất cả hậu quả khi công an bắt tay vào điều tra. Liệu, cuộc thanh trừng sẽ làm “lòi” ra những ai? Kể từ thời điểm bắt đầu chiến dịch này hồi Tháng Sáu vừa qua, hơn 1,500 người đã bị tống giam, kể cả 67 thủ lĩnh của các băng đảng, ba tỉ phú nổi tiếng nhất của thành phố, cùng 50 viên chức nhà nước và công an.
Người bị câu lưu nổi tiếng nhất là Văn Cường, giám đốc Sở Tư Pháp, cựu giám đốc Sở Công An. Nhưng, cuộc “hôn nhân” giữa Hội Tam Hoàng và Ðảng Cộng Sản Trung Quốc được khắc họa rõ nhất khi người ta khám phá ra là một số thủ lĩnh của Hội Tam Hoàng cũng chính là thành viên của ngành lập pháp địa phương, hoặc hội nghị Tư Vấn Chính Trị Nhân Dân Trung Hoa, một cơ quan có rất nhiều thế lực.
Chiến dịch chống tham nhũng tại Trùng Khánh đưa ra hình ảnh tiêu biểu làm nổi bật mức độ thối nát trầm trọng của Ðảng Cộng Sản, khi “con ông cháu cha,” là những người điều khiển và nắm giữ hầu hết các hoạt động kinh doanh, đang phải nhờ vào sở trường và hệ thống rửa tiền của Hội Tam Hoàng.
Nghiên cứu do một số cơ quan Trung Quốc thực hiện gần đây cho thấy 90% tỉ phú của nước này là con, cháu các viên chức cao cấp của chính quyền. Danh sách này có cả tên của Hồ Hải Phong, con trai chủ tịch nước, Hồ Cẩm Ðào. Hồ Hải Phong là người đang bị điều tra ở Namibia vì những nghi vấn liên quan đến một số hợp đồng béo bở mà công ty Tsinghua Holdings do ông ta điều hành giành được hồi năm ngoái.
Tham nhũng cứ lan tràn, và vẫn cứ bất trị, người dân Trung Quốc thì được “nâng cao tinh thần” bằng... khẩu hiệu. Tờ The Economist viết rằng, một danh sách 50 khẩu hiệu được duyệt xét cẩn thận, được tung ra trong dịp duyệt binh 1 Tháng Mười. Quân đội thì khỏi nói! Họ đã dán, và hô thật lớn, các khẩu hiệu kiểu này trong các doanh trại. Sự gắn bó giữa “con ông cháu cha” và Hội Tam Hoàng sâu đậm đến mức nào, người ta chưa hoàn toàn xác định được, nhưng chắc chắn là phải bền chặt hơn điều mà cựu Thủ Tướng Chu Dung Cơ mô tả hồi năm 1996, rằng Hội Tam Hoàng là một “tổ chức yêu nước.”
Và mặc dầu Hội Tam Hoàng đã bỏ rơi lý tưởng anh hùng yêu nước của các vị sư Thiếu Lâm để chạy theo con đường bá đạo của các băng đảng, họ vẫn giữ được tinh thần dân tộc cao độ.
Người ta thấy được tinh thần này trong những ngày qua tại Ðài Loan, qua hình thức chống đối từ những người tham dự cuộc biểu tình chống đức Ðạt Lai Lạt Ma ủy lạo nạn nhân của trận bão Morakot cách đây một tháng.
Những ngày ấy, Trương An Lạc, người bị cáo buộc là cựu thủ lãnh Hội Tam Hoàng Bamboo Union, hãnh diện nói với đài truyền hình Trung Quốc là ông ta tổ chức cuộc biểu tình chống vị lãnh đạo tôn giáo Tây Tạng, người mà Bắc Kinh cáo buộc muốn Tây Tạng trở thành một quốc gia độc lập Ông Trương hiện sống lưu vong tại Trung Quốc, nơi sinh trưởng, sau khi nhân danh Quốc Dân Ðảng tổ chức cuộc ám sát nhà văn bất đồng chính kiến Ðài Loan Henry Liu ở California vào năm 1984. Trương sống 10 năm trong một nhà tù tại Hoa Kỳ vì tội buôn bán ma túy, bắt cóc, âm mưu tống tiền. Sau đó bị trục xuất về Ðài Loan. Từ Ðài Loan, Trương trốn qua Trung Quốc lục địa để tránh các cuộc điều tra của chính quyền Ðài Loan về vụ tham gia vào Hội Tam Hoàng.
Nguồn: http://www.nguoi- viet.com
CƠ CHẾ HIỆN HÀNH TẠI TQ VÀ VN: CHỐNG THAM NHŨNG CHỈ LÀ HÔ SUÔNG
Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra nhiều chiến dịch chống tham nhũng nhưng kết quả vẫn chỉ là nửa vời Anh Vũ,RFI Bài đăng ngày 04/09/2009 Cập nhật lần cuối ngày 04/09/2009 17:01 TU
Chủ tịch Hồ Cẩm Đào (trái), cựu chủ tịch Giang Trạch Dân (giữa) và thủ tướng Ôn Gia Bảo (Reuters)
Tham nhũng và chống tham nhũng ở Trung Quốc giờ đây không còn phải là chuyện mới mẻ. Tờ Le Monde hôm nay đề cập trở lại đến khía cạnh hiệu qủa vì nhận thấy đảng cộng sản vẫn cứ liên tiếp tung ra nhiều chiến dịch chống tham nhũng, bề ngoài có vẻ rất quyết liệt nhưng không có kết qủa
Le Monde nhận thấy trước ngày 60 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa một tháng, chính quyền của ông Hồ Cẩm Đào đã đưa ra một bản báo cáo về cuộc đấu tranh chống tham những rất màu mè. Trong vài tháng gần đây thôi, hàng lọat các nhân vật lãnh đạo cấp vùng đã bị kết án vì tội tham nhũng.
Gần đây nhất là hôm 1 tháng 9, phó chủ tịch khu tự trị Quảng Tây bị kết án 18 năm tù vì biển thủ hàng triệu nhân dân tệ. Trước đó người ta cũng thấy nào là Thị trưởng thành phố Thẩm Quyến, phó chủ tịch Tòa án Tối cao hay ông chủ của ngành hạt nhân Trung Quốc cũng phải ra hầu tòa vì tham nhũng.
Le Monde đưa ra một thí dụ điển hình, mới đây trong một chiến dịch chống mafia tại Trùng Khánh người ta đã phát hiện ra có rất nhiều nhân vật cao cấp trong công an và tư pháp đã bảo kê cho các thành viên hội Tam hoàng và một số thương gia. Le Monde cho biết là tổ chức Minh bạch Quốc tế Transparency Internationnal dù xếp Trung Quốc đứng hàng thứ 72 thế giới về tham nhũng vào năm ngoái, cũng có ghi nhận gần đây Trung Quốc đã có những cố gắng trong cuộc chiến với quốc nạn của họ.
Trước tình hình nạn tham nhũng lan tràn, Trung Quốc cũng đã có nhiều cơ quan từ cấp trung ương chuyên trách về phòng chống tham nhũng. Nhưng Le Monde cũng nhận thấy dù các ủy ban phòng chống tham nhũng đã có mặt ở trong mọi cấp trong chính quyền nhưng họat động của nó thường bị trói buộc bởi các cấp ủy đảng. Các chuyên gia lo ngại rằng việc họat động thiếu độc lập và các cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng đã làm cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Trung Quốc không còn được tin cậy nữa.
Tờ báo trích lời của nhận định của ông Ren, một điều phối viên của tổ chức Minh bạch Quốc tế cho rằng ở Trung Quốc «không có một cơ quan trung ương thực sự nào để chống tham nhũng, việc chống tham nhũng vẫn thường bị bẻ theo các cuộc đấu đá chính trị nhiều hơn là xử theo luật. Vì thế mà kết qủa không bao giờ đựoc như ý muốn. Mặc dù đã có 20 năm chống tham nhũng nhưng không thể nói ngừoi ta đã ngăn chặn được nạn tham nhũng ở đây».
Còn giáo sư đại học người Mỹ gốc Hoa Pei Minxin, từng có những nghiên cứu về tham nhũng ở Trung Quốc thì giải thích cho Le Monde rằng những chiến dịch chống tham nhũng của nhà nước không có gì là mới cả.
Vấn đề là ở chỗ nó không rõ ràng. Chính quyền để ra hàng lọat những cơ quan để chống tham nhũng nhưng thực chất thì các cơ quan đó lại bị lệ thuộc vào đảng, vì thế mà quyết định của nó bao giờ cũng mang tính chính trị.
Cũng vẫn chuyên gia trên nhận thấy rằng trung bình chỉ có 3% quan chức tham nhũng ở Trung Quốc có nguy cơ phải ngồi tù. Vì thế mà tham những ở Trung Quốc vẫn là «một họat động rất sinh lợi và ít rủi ro».
Và để kết luận chuyên gia này nhận định : "Với báo chí tự do hơn và một hệ thống tư pháp độc lập hơn, các bạn (Trung Quốc) sẽ có trong tay công cụ rất mạnh để làm giảm nạn tham nhũng. Nhưng đó là con dao hai lưỡi, vì những công cụ đó sẽ đe dọa quyền lực tuyệt đối của đảng"
| | | |
**************************** MẶT TRẬN KINH TẾ-TÀI CHÁNH ******************************* NÔNG DÂN, CÔNG NHÂN VÀ TƯ DOANH ĐẤU TRANH CHO QUYỀN SỐNG **************************************************************************************************** Thể chế CSVN độc tài toàn trị đầy tham nhũng hiện nay đưa Kinh tế Việt Nam đến thụt lùi. Công nhân và Nông dân ngày càng nghèo. Những cuộc Đình Công đòi hỏi thành lập Nghiệp đoàn Độc lập, nghĩa là đảng CSVN đừng chính trị hóa lao động để phục vụ cho chủ trương Chính trị riêng của đảng, nhất là để dễ dàng bóc lột sức lao động của dân nghèo, mà hãy để cho giới nghèo được tự do tìm phương tiện nuôi sống cho chính họ. Tư doanh bị kềm chế bởi Quốc doanh phục vụ cho đảng và cho túi riêng con cái đảng.
| | | |
DÂN BỨC XÚC VỀ NHỮNG VỤ THAM NHŨNG
“Dân bức xúc chủ yếu với các vụ tham nhũng nhỏ”
Tại cuộc họp triển khai công việc năm mới, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương, ông Vũ Tiến Chiến, dẫn ra một số vụ tham nhũng quy mô nhỏ, như trưởng thôn biển thủ 80kg ngô giống, người khác tư túi 90 triệu đồng tiền công đức... Ông đi tới kết luận: “Dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ. Chủ yếu là quan hệ của cán bộ với dân”.
Mới nghe qua phát biểu này thì người ta có thể nghĩ, như vậy nước ta cũng ít vụ tham nhũng lớn, không có nhiều vụ nghiêm trọng tới mức dân phải bức xúc. Tuy nhiên, nghĩ kỹ thì có thể thấy điều bất ổn: Tại sao người dân lại không bức xúc với các vụ tham nhũng quy mô lớn?
Tất nhiên, dân chúng sẽ bất bình với những trường hợp “ăn nhỏ”, “ăn vặt” mà họ chứng kiến hàng ngày ở nơi họ ở, hay tại cơ quan họ làm việc, tại công sở mà họ bị “hành”. Nhưng như thế không có nghĩa là họ bỏ qua những vụ tham nhũng lớn tầm quốc gia, ảnh hưởng đến lợi ích chung của đất nước, thậm chí đến quốc thể, đến các thế hệ tương lai. Nói cho đúng là, do nhiều khi thông tin “nhạy cảm” bị giữ kín, người dân không được biết tới nội tình các vụ tham nhũng quy mô lớn.
Nếu tham nhũng nhỏ có thể chỉ là một hành vi sai phạm, thì tham nhũng lớn phải bị coi là tội ác cần tiêu diệt. Nếu “dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ”, thì chứng tỏ họ không được biết tới các vụ việc lớn, và sự minh bạch thông tin của xã hội chúng ta “có vấn đề”. Quan chức nên lấy thực tế đó làm điều lo ngại.
| | | |
TỐ CÁO CỦA BA CÔNG DÂN HUYÊN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN
Kính gửi :
-Lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam tại thủ đô Hà Nội - Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc - Chính Giới các nước quan tâm đến Nhân Quyền Việt Nam - Quốc Hội Liên bang Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ - Tổ Chức theo dõi và bảo vệ Nhân Quyền Quốc Tế (HRW) - Tổ Chức Phóng Viên Không Biên giới - Các Tổ Chức, Hội Đoàn, Cá Nhân người Việt Nam trong nước và Hải Ngoại - Mạng lưới Nhân Quyền Việt Nam ở Hải Ngoại
Chúng tôi gồm những công dân: Nguyễn thị Hân, Cao Thanh Tư, Nguyễn thị Lam trú tại khối Trung Nghĩa, phường Quang Tiến, thị xã Thái Hòa thị xã Thái Hòa, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Đã từng có mặt trong đoàn 350 người dân ra trung ương Đảng Cộng Sản tố cáo, phản đối hành vi, vi phạm quyền con người của lãnh đạo đảng cộng sản tỉnh Nghệ An đòi công bằng xã hội, đòi quyền con người, quyền tự do dân chủ cho bản thân mình và cho dân tộc Việt Nam nói chung hiện đang bị nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tước đoạt đi quyền sống, quyền con người và quyền tự do dân chủ. Kỳ trước nhân dân huyện Tân Kỳ, Nghệ An đã phát đơn, đem bằng chứng tố cáo các hành vi phạm của lãnh đạo Đảng từ trung ương đến địa phương đặc biệt tỉnh Nghệ An chúng tôi. Những người dân thị xã Thái hòa, tỉnh Nghệ An tiếp tục đưa thêm bằng chứng đồng thanh với nhân dân huyện Tân Kỳ cùng toàn tỉnh Nghệ An tố cáo quan chức tại thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. Có hành vi tham nhũng và nhà cầm quyền Cộng Sản vừ địa phương đến trung ương đồng lõa bao che tham nhũng, để ghi thêm tội ác của nhà cầm quyền cộng sản việt nam đã đối xử thậm tệ với nhân dân mình nhầm trực lợi cho cán bộ cộng sản cụ thể: I.Nguyễn thị Hân, Cao Thanh Tư khiếu tố bà Nguyễn Thị Kim Oanh chủ tịch phường Quang Tiến, thị xã Thái Hòa, từ năm 2004 đến nay bà Oanh đã có thành tích 11 vụ tham nhũng .
Cụ thể:
1. Lấy 3000 m2 đất nông nghiệp của dân bán đổi cho cá nhân doanh nghiệp trái quy định pháp luật.
2. Năm 2004 lấy 91m2 đất của đội thuế bán cho ông Hồ Bá Điều để xây khách sạn. Tiếp theo bà Oanh cố ý bảo kê cho ông Điều lợi dụng lấn chiếm đất đai để xây khách sạn không có giấy phép xây dựng để kinh doanh. Còn để mặc cho Ông Điều xây hành lang chiếm khoảng không đổ chồng lên nóc nhà bà Ngọc cùng xóm.
3. Năm 2007 nhà nước cung cấp vốn đầu tư nước sạch cho đồng bào dân tộc và một số hộ bị ô nhiễm ở xung quanh nhà máy gỗ Việt Trung. Số tiền được cấp là 130 000 000 đ( một trăm ba mươi triệu). Số tiền này không cấp thẳng cho dân mà bà Oanh với mục tiêu trục lợi cho bản thân nên tự thuê người đổ cống cho mỗi nhà một cái cống không đạt chất lượng, chưa chở về đã bị vỡ tại chỗ, hoặc chở về đến nhà là bị vỡ nên nhiều người dân không có cống.
4. Năm 2006-2007 UBND phường nâng cấp đường lên nghĩa trang của 10 xóm do nhà nước tài trợ ½ kinh phí số tiền lên tới 1 tỷ đồng, còn lại là người dân dống góp. Có trường hợp ông Cao Thanh Tư nuôi cha mẹ liệt sỹ là Cao Đắc Lịch huy sinh từ năm 1975, hai cha mẹ của liệt sỹ Cao Đắc Lịch đã chết từ 1995 bà Oanh vẫn buộc họ nộp tiền nâng cấp nghĩa trang này. Những em bé mới 36 tháng tuổi cũng phải nộp khoảng tiền này. Nhân dân phản đối việc làm sai trái độc đoán mất dân chủ này.
5. Năm 2006 đội sản xuất chúng tôi được chọn làm mô hình rau sạch cung cấp cho vùng thị xã tại vùng đồng màu ven sông Hiếu. số tiền hỗ trợ là một trăm triệu đồng mà chỉ xây tám cái bể tưới bé tí, không bằng một phần mười gíá trị được cấp. Số tiền còn lai vào túi ai không rõ? Nhân dân khiếu kiện chưa được trả lời.
6. Năm 2007 nhà máy gỗ Việt Trung đóng trên địa bàn phường nơi tập trung đông dân cư gây ô nhiễm môi trường, nhân dân đồng loạt lên tiếng phản đối đấu tranh. Tỉnh đã về xác minh dân đấu tranh là đúng. Thế nhưng bà Oanh chủ tịch phường đe dọa trù dập cắt gia đình văn hóa không xác nhận hồ sơ lý lịch cho con cháu những người đi kiện trong xã đi học. Cụ thể bà Phạm Thị Trường (có chứng cứ)
7.Bà Nguyễn Thị Kim Oanh đã sai phạm trong nguyên tắc quản lý nhà nước để tham nhũng. Cấu kết với phòng tài nguyên môi trường , phồng đia chính huyện Nghìa Đàn(cũ). Bán số đất lớn trên đìa bàn lấy tiền chia nhau. Cụ thể đất của các cơ quan nhà nước giải thể nay rơi vào tay cá nhân được hợp thức hóa không thông qua dân. Đặc biệt có khu sân vận động phường Quang Tiến, thị xã Thái Hòa họ đã chia ra 30 lô đất. Bà Oanh lấy riêng một xuất, ông Hoàng Viết Đường nguyên chủ tịch huyện Nghĩa Đàn, nay là bí thư Thị ủy thị Xã Thát Hòa cũng lấy riêng một xuất (Mang tên ông bố là Hoàng Viết Thường). Mảnh đất đó bây giờ đã bán cho người khác. Ông phó công an huyện Trần Thông một xuất, ông thanh tra huyện Nghĩa Đàn (ông Thái) một xuất ….
Sở tài nguyên về điều tra sự việc, biết rõ nhưng chỉ lập biên bản xử phạt 5 triệu đồng mà không thu hồi đất.
8. Ngày 15-7 hàng năm hội cựu TNXP phường Quang Tiến, làm lễ thành lập cũng là ngày tri ân của lực lượng thanh niên xung phong và sơ kết 6 đầu năm 2009 cán bộ hội đề xuất chủ tịch Oanh xin kinh phí nhưng bà ta chối bỏ, bà Oanh nói rõ lý do vì một số hội viên đang đấu tranh sai trái của họ(lãnh đạo phường). Rõ rằng bà Oanh trù dập tổ chức cựu thanh niên xung chỉ vì họ đấu tranh cho lẽ phải .
9. Tháng 9 năm 2009 Áp đặt những khoản thu bất hợp pháp như :
- Thu phí xây trạm xá phường. - Nhà mẫu giáo chuẩn.
Mỗi gia đình phải 2 trăm nghìn đồng, nhà nghèo phải nộp 1 trăm ngàn đồng. Dân không đồng tình thế mà bà Oanh lập hồ sơ sai lệch báo cáo lên cấp trên nói dân tán thành một trăm phần trăm.
10. Giải tỏa hành lang đường 48 thu hồi đất của dân mà không hề đền bù. Nhân dân phản đối chủ tịch. Bà Oanh lại cho lực lượng công an chặt hết cây cối của dân, sau đó mời 100 hộ hai bên đường này lên yêu cầu mỗi hộ nộp 3 triệu đồng để lát gạch vỉa hè. Sự việc quá sai trái nhưng bà Oanh vẫn bắt nộp(cho ăn tết xong thì phải nộp). Bà Oanh đã tiếp tục vi phạm quy chế quyền dân chủ.
11. Đặc biệt là vụ tranh chấp đất đai của gia đình tôi Nguyên Thị Hân và Cao Thanh Tư với gia đình ông Năm thì chính quyền xã đã giải quyết bằng văn bản trái ngược nhau. Gia đình tôi mất thời gian, mất hết sức lực theo đuổi khiếu kiện lên các cấp. Làm thiệt kinh tế trong quá trình khiếu kiện ,không được các cấp chức năng giải quyết theo quy định Pháp luật. Cho đến nay sự việc xảy ra đã 7 năm trời làm cho gia đình tôi kiệt quệ khốn đốn.
Thời kỳ cấp đất cho gia đình tôi, bà chủ tịch Oanh cũng nằm trong thành phần những người cấp đất tháng 3 năm 1985 với chúc vụ là kế toán hợp tác xã. vậy vì cớ gì cán bộ công quyền lại cứ xử lý vòng vo ???...
II. Nguyễn thị Lam khối Trung Nghĩa, phường Quang Tiến, thị xã Thái Hòa.
Năm 2005 có đơn khiếu tố bà Nguyễn Thị Kim Oanh chủ tịch phường Quang Tiến thị xã Thái Hòa. Cố ý làm sai phạm luật đất đai cấu kết với cán bộ huyện Nghĩa Đàn và tỉnh Nghệ An bán đổi đất bất hợp pháp để cùng nhau vụ lợi. Cụ thể bán đổi đất nông nghiệp cho cá nhân. Đất thương nghiệp và phòng thuế cũng bán đổi cho cá nhân Hồ Bá Điều một cán bộ công an tha hóa biến chất bị đuổi về.
Đảng Cộng sản luôn hô hào thực hiện công bằng dân chủ, sống và làm việc theo hiến pháp pháp luật nhưng những vấn đề nhân dân khiếu tố không hề được giải quyết trả lại công bằng cho nhân dân và xử lý bà chủ tịch Oanh và Hoàng Viết Đường cùng số cán bộ kéo bè, kéo cánh tham nhũng tài sản của nhân dân. Tổ chức Đảng nhà cầm quyền mọi cơ quan đoàn thể đều có trong diện tham nhũng chúng tôi đã tố cáo, thì cấp trên đẩy xuống đẩy lên không có cấp nào chịu xử lý. Ngược lại chúng tôi vô cũng phẫn nộ khi lên đến trụ sở thì bao nhiêu bằng khen giấy khen của cấp trên liên tiếp, hầu như năm nào chủ tịch Oanh cũng là người được đảng nhà nước cấp trên trên khen thưởng có thành tích. Phải chăng chính sách khen thưởng của đảng nhà nước Việt Nam là khen thưởng cho những kẻ có thành tích tham nhũng sao???
Vậy chúng tôi viết đơn này gửi đến lãnh đạo đảng nhà nước cùng các cơ quan tổ chức trên đây mong muốn tìm được câu trả lời của nhà nước cộng sản việt Nam cùng gửi các cơ quan trên đây để ghi thêm tội ác của nhà cầm quyền cộng sản xin được lên tiền bảo vệ. và mông rằng sẽ đưa tội ác của nhà cầm quyền cộng Việt Nam ra sử tội một ngày không xa
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn, và sẽ tiếp tục đem thêm bằng chứng rồi sẽ tổng hợp những "thành tích" tham những hại dân của cán bộ cộng sản tại tỉnh nhà, sự bảo kê của trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam để dân tộc Việt Nam sẽ đem tội ác của nhà cầm quyền Cộng Sản ra xử tội trước tòa án Quốc Tế một ngày không xa.
Hồ Thị Bích Khương Xóm 2, xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. ĐT: 0984 980 597
Viết trên tư liệu và yêu cầu của thầy giáo Bùi Đức Sáng, ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Ân và bà Nguyễn Thị Ngọc gửi kèm theo ảnh Bà Nguyễn Thị Ân và Bà Nguyễn Thị Ngọc, một số bằng chứng ra tận trung ương đảng cộng sản khiếu kiện mất thaaif gian tốn sức lực không được nhà cầm quyền trung ương cộng sản bảo vệ
DÂN BỨC XÚC VỀ NHỮNG VỤ THAM NHŨNG NHỎ
“Dân bức xúc chủ yếu với các vụ tham nhũng nhỏ”
Tại cuộc họp triển khai công việc năm mới, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương, ông Vũ Tiến Chiến, dẫn ra một số vụ tham nhũng quy mô nhỏ, như trưởng thôn biển thủ 80kg ngô giống, người khác tư túi 90 triệu đồng tiền công đức... Ông đi tới kết luận: “Dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ. Chủ yếu là quan hệ của cán bộ với dân”.
Mới nghe qua phát biểu này thì người ta có thể nghĩ, như vậy nước ta cũng ít vụ tham nhũng lớn, không có nhiều vụ nghiêm trọng tới mức dân phải bức xúc. Tuy nhiên, nghĩ kỹ thì có thể thấy điều bất ổn: Tại sao người dân lại không bức xúc với các vụ tham nhũng quy mô lớn?
Tất nhiên, dân chúng sẽ bất bình với những trường hợp “ăn nhỏ”, “ăn vặt” mà họ chứng kiến hàng ngày ở nơi họ ở, hay tại cơ quan họ làm việc, tại công sở mà họ bị “hành”. Nhưng như thế không có nghĩa là họ bỏ qua những vụ tham nhũng lớn tầm quốc gia, ảnh hưởng đến lợi ích chung của đất nước, thậm chí đến quốc thể, đến các thế hệ tương lai. Nói cho đúng là, do nhiều khi thông tin “nhạy cảm” bị giữ kín, người dân không được biết tới nội tình các vụ tham nhũng quy mô lớn.
Nếu tham nhũng nhỏ có thể chỉ là một hành vi sai phạm, thì tham nhũng lớn phải bị coi là tội ác cần tiêu diệt. Nếu “dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ”, thì chứng tỏ họ không được biết tới các vụ việc lớn, và sự minh bạch thông tin của xã hội chúng ta “có vấn đề”. Quan chức nên lấy thực tế đó làm điều lo ngại.
| | | |
NÔNG DÂN NGHÈO KHỔ
Bao giờ người nông dân hết nghèo Thanh Quang, phóng viên RFA 2009-12-25
Trong lãnh vực nông nghiệp của Việt Nam, tình trạng khó khăn, thiệt thòi của người trồng lúa hẳn là một trong những đề tài gây nhiều chú ý – và cũng gây nhiều bàn cãi về nguyên nhân của vấn đề.
Lỗi tại ai
Trong thời gian gần đây, xem chừng như ngày càng có nhiều ý kiến đề cập tới tình cảnh khó khăn gần như triền miên của đại đa số nông dân VN, nhất là tại vùng ĐBSCL, mà một trong những nguyên nhân chủ chốt là người làm ra hạt lúa thường xuyên gặp thiệt thòi vì bị thương lái ép giá, như một chuyên gia Miền Tây mô tả:
“Tại vùng ĐBSCL, hầu hết nông dân tiêu dùng mọi thứ bằng lúa. Họ thu họach lúa xong rồi mới bán lúa để trang trải nợ nần, chi phí phân bón, tiền nước mắm, dầu lửa...đủ thứ hết. Rồi tới thời vụ bị thương lái ép giá. Nhưng bây giờ nhà nước có chủ trương này đỡ cho nông dân lắm, đó là hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp. Thí dụ như doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng nhà nước, nhà nước hỗ trợ phần lãi suất đó để giúp các doanh nghiệp mua lúa của dân trữ lại. Chớ để tới thời vụ, lúa ứ đọng nhiều quá doanh nghiệp không chịu mua, rồi khi mua họ bắt đầu ép giá lúa của dân.”
Nói chung vấn đề thương lái ép giá lúa cũng có, nhưng đó không phải là vấn đề phổ biến, ảnh hưởng nặng lắm đâu. Tại vì hiện giờ hệ thống thương lái vẫn là hệ thống tích cực trong việc thu mua lúa, giải quyết vấn đề bán lúa của nông dân. Trong những trường hợp nhất định, nông dân nóng lòng bán lúa sớm, rồi sau đó giá lúa lên khiến họ cảm thấy bị ép giá.
Nhưng cũng có quan điểm ngược lại, cho rằng thiệt thòi của nông dân không phải phát xuất từ tình trạng bị thương lái ép giá, mà vì người trồng lúa bán nông sản của mình không đúng lúc. Thạc sĩ Phạm Văn Quỳnh, Phó giám đốc Sở Nông Nghiệp Cần Thơ thuộc trong những người có quan điểm như vậy, như ông nhận xét sau đây:
“Nói chung vấn đề thương lái ép giá lúa cũng có, nhưng đó không phải là vấn đề phổ biến, ảnh hưởng nặng lắm đâu. Tại vì hiện giờ hệ thống thương lái vẫn là hệ thống tích cực trong việc thu mua lúa, giải quyết vấn đề bán lúa của nông dân. Trong những trường hợp nhất định, nông dân nóng lòng bán lúa sớm, rồi sau đó giá lúa lên khiến họ cảm thấy bị ép giá. Thực tế, đó chỉ là cơ chế thị trường thôi, theo giá lên giá xuống. Vấn đề là nông dân bán lúa không đúng thời điểm. Thương lái cũng có vai trò tích cực trong một hệ thống, chớ không phải tiêu cực đâu, nhất là họ phải đi luồn lách từng ngõ ngách để thu gom lúa về cho công ty.”
Về vấn đề nông dân bán lúa không đúng thời điểm cũng được một nông dân ở An Giang mô tả thêm: “Lúa em mần ở bên đây, mới mần xong đem vô mình chưa có hay biết giá cả. Thí dụ giá lúa hôm qua 5 ngàn/1 ký, rồi bữa nay nó lên nữa mình đâu có hay. Nên mình bán theo giá hôm qua thì người ta mua liền. Tới khi hay lúa lên giá thì mình đã bán cho người ta rồi. Ép giá lá ép như vậy đó.”
Tại nhiều hội thảo về nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua, rất nhiều người có trách nhiệm đã đặt ra vấn đề định hướng, quy họach vùng sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nghề; doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nông sản cho nông dân...Thế nhưng, nhìn chung, trên thực tế, ở rất nhiều nơi, nông dân vẫn phải ‘tự bơi’ trong cơ chế thị trường
Kế hoạch và thực tế
Theo TS Phạm Văn Quỳnh, thì vật giá nói chung gia tăng – trong khuôn khổ cơ chế thị trường – góp thêm phần bất lợi cho mức sống nông dân:
“Đây là vấn đề nan giải cho bài tóan kinh tế VN. Tại vì số diện tích của từng nông hộ thường thì nhỏ. Do đó điều kiện giá cả nói chung tăng khiến thu nhập của họ chưa đáp ứng hết được nhu cầu cuộc sống, nên tình trạng nông dân không được khá thôi. Rồi giá cả vật tư nông nghiệp tăng khi giá lúa tăng. Trong bối cảnh giá cả nói chung của các mặt gia tăng khiến nông dân không trang trải hết chi phí nỗi, cho nên họ chưa khá giả được. Tuy nhiên, vấn đề giá cả tăng như vậy là theo cơ chế thị trường thôi, chớ không phải vấn đề ép nông dân gì hết.”
Dù thế nào đi nữa thì người trồng lúa nói chung vẫn gặp khó khăn.. Câu hỏi được nêu lên là giới hữu trách, và cả những chuyên gia nông nghiệp, có biện pháp nào để trợ giúp nông dân không. TS Phạm Văn Quỳnh giải thích:
“Đó là hướng nhà nước phát triển theo cơ chế, tức là làm thế nào để doanh nghiệp gắn bó, khắng khít với nông dân, trong khi các nhà khoa học cũng tham gia chuyển giao được những tiến bộ khoa học tốt nhất để cho sản xuất nông nghiệp có hiệu quả, đồng thời giúp giảm thiểu tình trạng thất thoát, lãng phí lượng nông sản thu họach của nông dân, để bảo đảm nguồn thu nhập của nông dân. Đây là xu hướng mà VN đang đẩy mạnh, và chứng tỏ đang mang lại kết quả tốt.”
Vẫn theo TS Phạm Văn Quỳnh thì hiện VN bắt đầu chú trọng tới nông thôn nhiều hơn:
“Hiện chính phủ đang tăng cường đầu tư cho nông thôn tương đối toàn diện, từ đường xá, trường học, tới các trạm y tế địa phương...Thứ hai là nhà nước cũng có hỗ trợ nông dân về lãi suất trong vốn vay để đáp ứng sản xuất. Nói chung là trong chiều hướng chú trọng tới nông thôn, tập trung đầu tư vào nông thôn nhiều hơn trước.”
Có lẽ câu hỏi cần được nêu lên ở đây là những kế họach tốt đẹp của nhà nước dành cho nông nghiệp, nông thôn và nhất là nông dân được thực hiện cụ thể ra sao ? Báo điện tử Cần Thơ cách nay ít lâu có bài tựa đề “Khi Nông Dân Lên Tiếng” nhận xét rằng “Tại nhiều hội thảo về nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua, rất nhiều người có trách nhiệm đã đặt ra vấn đề định hướng, quy họach vùng sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nghề; doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nông sản cho nông dân...Thế nhưng, nhìn chung, trên thực tế, ở rất nhiều nơi, nông dân vẫn phải ‘tự bơi’ trong cơ chế thị trường, trong làn sóng hội nhập-cạnh tranh ngày càng khốc liệt”.
| | | |
NGƯỜI NGHÈO: NẠN NHÂN BẤT ĐẮC DĨ CỦA HÀNG ĐỘC TQ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 26.11.2009
Đối với những hàng độc hại Trung quốc, những nước giầu đã có những Biện pháp ngăn chặn. Trong Mậu dịch Quốc tế, mặc dầu đối với những Quốc gia đã gia nhập WTO, những nước muốn ngăn chặn có thể dùng những Biện pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để chế tài. Biện pháp Vệ sinh được nại ra để kiểm sóat những đồ ăn, đồ chơi cho trẻ em và những hàng may mặc nguy hại cho thân thể. Những Biện pháp kiểm sóat ngăn chặn này đang được thi hành ở Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu cũng như tại một số nước giầu Á châu.
Đồng tiền đi trước, hàng độc đến sau tại những nước nghèo Á châu và Phi châu
Đối với những nước nghèo Á châu, nhất là Phi châu, không phải là những Chính quyền không biết đến phân biệt hàng độc hại và những hàng khác của Trung Cộng. Nhưng Chính quyền những nước này dễ bị đồng tiền hối lộ đi trước để làm ngơ việc nhập nội những hàng độc hại từ Trung quốc. Không phải chỉ nguyên những lọai hàng đề cập đến trên đây, mà ngay cả những dược phẩm trực tiếp làm hại sức khỏe cũng được làm ngơ cho nhập vào. Nhận tiền hối lộ, cho nhập hàng độc vào, dân nghèo xử dụng và bệnh tật thì ráng chịu. Thực vậy, những người ăn hối lộ, có tiền mua dùng những hàng khác.
Lấy một tỉ dụ được đăng trên báo Le Nouvel Observateur: “Nhân vật trọng tâm của mạng lưới mà Jean Luc phát hiện, tên Wajee Abu Odeh, một người Jordanie, đến ở Trung Quốc, chính xác hơn là ở Thẩm Quyến. Ở Cận Đông, mạng lưới của nhân vật này cung cấp thuốc giả cho từ Jordanie, Ai Cập đến Syrie v.v...Tại Ai Cập chẳng hạn, họ cung cấp đến 50 % thuốc chữa trị ung thư. Không kể các loại thuốc giả chết người này tràn lan ở những khu vực ngoại ô nghèo, những vùng nông thôn, mà qua nhiều môi giới, nó cũng đã đến một số nhà thuốc tây, hay bệnh viện có uy tín ở thủ đô.“
Tại Việt Nam, Hàng độc lan tràn, CSVN sợ Tầu và không có biện pháp
Những chuyên viên Kinh tế, Thương mại đã báo động về việc lan tràn hàng độc và phế thải từ Trung quốc. Nhưng Nhà Nước, không phải chỉ nguyên “Đồng tiền đi trước, hàng độc theo sau”, mà còn vì lệ thuộc Chính trị để cố thủ giữ quyền hành, đã không có những Biện pháp ngăn chặn nào. Dân chết, miễn là đảng ăn hối lộ có tiền, mua hàng tốt để dùng là được rồi.
Lê Khả Phiêu biết rõ ngay cả rau cỏ cũng mang chất độc hại, nên đã bỏ tiền 25’000 đô-la để làm khu vườn riêng trồng rau ăn tránh chất độc. Khu vườn này được chính Lê Khả Phiêu giới thiệu cho báo chí đến thăm nhà của mình.
Dân nghèo: nạn nhân bất đắc dĩ
Không phải là người nghèo không biết phân biệt hàng độc hại và hàng tốt, không độc hại, nhưng cái khó bó cái khôn. Điều đau đớn là họ ý thức đó là hàng độc hại mà vẫn phải dùng. Tôi xin kể ra hai tỉ dụ:
Tỉ dụ 1: Có Việt kiều về Việt Nam, đi ăn ở hàng quán và kể rằng họ rất ngượng ngùng khi thấy người ăn mày ngồi chờ họ vất cục xương xuống đất để nhặt lấy gặm hoặc chờ xin bát nước cặn còn thừa để húp. Người ăn mày đó đói quá, đành phải làm vậy, chứ không phải là không biết.
Tỉ dụ 2: Sau năm Bức tường Bá Linh sụp đổ, tôi sang Mạc Tư Khoa. Một thương gia Nga muốn nhờ tôi môi giới để mua những đồ hộp đã hết hạn cho rẻ. Tôi nói rằng khi hết hạn, đồ hộp có thể độc hại. Oâng trả lời tôi liền: “Oâng không biết dạ dầy Cộng sản hay sao. Nếu có đau bụng, chỉ cần một ly Vodka là xong !”
Dân nghèo Phi châu cũng như Á châu ý thức về sự độc hại của hàng Trung quốc. Những Phong trào kêu gọi bài trừ hàng Trung quốc. Nhưng vì nghèo quá, không có tiền, đành nhắm mắt xử dụng hàng độc từ Trung quốc bán rẻ mạt. Khi dạ dầy rỗng, thì đồ ăn có thiếu vệ sinh, vẫn phải ăn cho đỡ đói.
Cuộc Họp tại Copenhague bàn về khí độc mang hậu quả tàn phá thiên nhiên. Tại sao không nói đến hàng độc hại Trung quốc đang tràn lan để phá họai chính sức khỏe của thân xác con người ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
THỰC HÀNH LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 16.11.2009
PARIS, ngày 16.11.2009 (PTTPGQT) - Thượng tọa Thích Thanh Quang, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên, Viện Hoá Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cùng Huynh trưởng Lê Công Cầu, Vụ trưởng Gia Đình Phật tử Vụ đã ký tên chung bản Tuyên Cáo kêu gọi thực hành Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Hoá Trung Quốc của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống kiêm Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Bản Tuyên cáo được gửi đến các Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử các cấp trong và ngoài nước, đồng thời gửi đến anh chị em Thanh niên, Sinh viên và Học sinh Việt Nam.
Là những người sống trong nước, chịu sức ép nghìn cân từ nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội đến sức ép xâm lăng của Bắc Kinh, nên những nguy cơ trên các lĩnh vực quốc phòng, văn hoá, giáo dục, xã hội, kinh tế được phân tích cặn kẽ. Đọc xong không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước hai nạn Nội xâm và Ngoại xâm đang hoành hành nước Việt.
Xin mời quý bạn đọc tham cứu toàn văn Tuyên cáo ký ngày 12.11.2009 sau đây:
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN HOÁ ĐẠO TỔNG VỤ THANH NIÊN GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỤ VP: Chùa Giác Minh - K356/42 Đường Hoàng Diệu - Thành Phố Đà Nẵng —Φ—
TUYÊN CÁO TỔNG VỤ TRƯỞNG TỔNG VỤ THANH NIÊN VHĐ/GHPGVNTN & VỤ TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỤ GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM
KÍNH GỞI: - Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Các Cấp - Anh Chị Em Huynh Trưởng Các Cấp Quốc Nội và Hải Ngoại
ĐỒNG KÍNH GỞI: Anh Chị Em Thanh Niên, Sinh Viên và Học Sinh Phật Tử Việt Nam.
TRÍCH YẾU: THỰC HÀNH LỜI KÊU GỌI CỦA HÒA THƯỢNG XỬ LÝ THƯỜNG VỤ VIỆN TĂNG THỐNG KIÊM VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO - GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT :“ KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC”
I/.NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT:
- Năm 1958, Ông Phạm Văn Đồng thay mặt Đảng Cộng Sản Việt Nam, ký công hàm bán nước, thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng. Công hàm nầy đã tạo điều kiện cho Trung Cộng xâm lăng lâu dài Tổ Quốc Việt Nam.
- Đến nay với sự đồng lõa và tiếp tay của các thế hệ Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam , việc xâm lăng toàn diện của Trung Cộng đã diễn ra khốc liệt trên mọi mặt trận của Dân Tộc:
1/. Mặt trận chính trị: Sau khi thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, Đảng Cộng Sản Việt Nam trở lại thần phục Đảng Cộng Sản Trung Quốc, xem Trung Cộng như là một cái phao cứu sinh. Tất cả mô hình chính trị của Viêt Nam hoàn toàn rập khuôn theo mẫu Trung quốc. Mô hình chính trị ấy đã áp đặt lên Dân Tộc Việt Nam một chế độ độc tài toàn trị, người dân đã bị tước đoạt hoàn toàn mọi quyền tự do.
2/. Mặt trận quốc phòng: Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tước đoạt nền quốc phòng toàn dân, biến Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thành một đội quân riêng của Đảng. Dướí danh nghĩa “ trung với Đảng, hiếu với Dân”, nhưng thật sự quân đội chỉ “trung với Đảng”, lo bảo vệ Đảng mà thôi. Đảng dâng đất, dâng biển, dâng các cứ điểm trọng yếu cho Trung Cộng, quân đội vẫn im lặng, không hề có một phản ứng tích cực nào để bảo vệ Tổ Quốc. Còn tinh thần “hiếu với dân” thì đã bị Đảng xóa sổ. Theo lệnh Đảng, quân đội đã án binh bất động, để mặc cho lính Trung Cộng bắn giết, bắt người, cướp tài sản, đòi tiền chuộc ngay trên hải phận của Tổ Quốc mà quân đội đang có trách nhiệm trấn giữ.
3/. Mặt trận văn hóa: Thể hiện sự nô lệ Bắc Kinh bằng văn hóa, Đảng Cộng Sản nghiêm cấm tất cả sách báo, truyền thanh, truyền hình Việt Nam không được xúc phạm đến Trung Cộng. Ngược lại Đảng đã cho phép các nhà xuất bản, các nhà sách của Việt Nam đua nhau trích dịch, in ấn, phổ biến các tác phẩm ca ngợi Trung Cộng mà điển hình nhất là quyển sách “Ma Chiến Hữu” của Mạc Ngôn đề cao người lính Trung Cộng đã cướp đất, tàn phá làng mạc, giết hại hơn 50 ngàn quân dân cán chính Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Một trang web của bộ Công Thương đã mặc nhiên để cho Trung Cộng điều hành, tuyên truyền chủ nghĩa bành trướng bá quyền Bắc Kinh. Gần đây nhất là tờ báo điện tử của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc khi mô tả cuộc diễn tập trên biển đảo Hoàng Sa là cuộc diễn tập bảo vệ biên cương Tổ Quốc của Trung Cộng. Cho dù Đảng đã phạt Tổng Biên Tập của tờ báo 30 triệu đồng nhưng không thể cứu vãn danh dự của Đảng trước bản án khôi hài cho kẻ bán nước.
4/. Mặt trận giáo dục: Với chủ trương Hồng hơn Chuyên, nền giáo dục Cộng Sản cốt cho con người thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lê Nin, trong đó hận thù và đấu tranh giai cấp là chủ đạo. Tuy nhiên đối với đàn anh Phương Bắc, Đảng chủ trương không những xóa bỏ hận thù mà còn phải biết ơn, phải tôn trọng, vì thế ngoài việc cho phát hành sách vở, báo chí đề cao Trung Quốc, Đảng đã cho các đài truyền hình từ trung ương cho đến địa phương đua nhau quảng bá phim ảnh Trung Cộng, nhất là các phim lịch sử. Qua các phim nầy, những nhân vật, những triều đại Trung Quốc đã từng xâm lược Việt Nam, gây chết chóc điêu linh cho dân tộc, tang thương cho đất nước đều trở thành các vị anh hùng, nhân từ, đức độ. Ngược lại Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam không hề đầu tư vào những phim ảnh lịch sử để nêu cao những tấm gương anh hùng dân tộc, những cuộc kháng chiến oai hùng giành lại đất nước từ tay kẻ thù. Đây là một chính sách nhồi sọ thanh thiếu nhi Việt Nam nhằm tước đoạt tinh thần tự hào dân tộc của tuổi trẻ, đưa tuổi trẻ đi vào con đường thần phục Bắc Phương.
5/. Mặt trận xã hội: Đảng Cộng Sản đã dành toàn quyền cho người Trung Quốc vào Việt Nam không cần hộ chiếu, người Trung Quốc đã lợi dụng tình thế, lũng đoạn nhiều danh nghiệp, nhiều tổ chức kinh tế nhằm quấy rối xã hội Việt Nam. Đảng Cộng Sản lại tạo điều kiện cho các nhà thầu Trung Quốc thắng thầu hầu hết mọi công trình quan trọng của đất nước, rước Trung Quốc vào khai thác bô xít Tây Nguyên bất chấp sự phản đối của toàn dân. Trung Cộng đã đưa hàng vạn công nhân Trung Quốc vào các công trình quan trọng nầy, tạo tiền đề cho những xóm làng Trung Quốc mọc lên. Khi không có chiến tranh, các xóm làng nầy sẽ phát triển theo kế hoạch vết dầu loan để Hán hóa dần dần người Việt. Khi chiến tranh xẩy ra, hàng ngũ công nhân nầy là đội quân tiên phong của Trung Cộng, các xóm làng của họ trở thành những pháo đài án ngữ trên các trọng điểm của Tổ Quốc, xã hội Việt Nam sẽ biến thành xã hội nô lệ vô phương cứu vãn
6/. Mặt trận kinh tế: Đây là mặt trận khốc liệt nhất, diễn ra dưới 3 mũi giáp công của Trung Cộng, với sự đồng lõa của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhanh chóng đưa Dân Tộc Việt Nam vào vòng Hán hóa.
a/.Mũi thứ nhất là đánh vào ngư dân: - Trước hết, Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa sau đó ngang ngược vạch bản đồ hình lưỡi bò để liếm hầu hết toàn bộ lãnh hải Việt Nam trên biển đông. - Sau khi chiếm hết lãnh hải Việt Nam, Trung Cộng ngang nhiên bắn giết, bắt bớ, cướp bóc, giam giữ ngư dân để đòi tiền chuộc. Ngay cả khi ngư dân chạy nạn, tránh cơn bão số 9 vừa qua chúng cũng thẳng thừng bắn giết, cướp bóc như một bọn hải tặc. - Trung Cộng lại ngang ngược ra lệnh cấm đánh bắt cá nam trong 3 tháng vụ mùa, để cướp tài nguyên trên biển. Ngư dân không còn biển để làm ăn đành neo tàu chịu đói.
b/. Mũi thứ nhì là đánh vào nông dân: - Với chủ trương, đất đai do nhà nước quản lý, Đảng đã thẳng tay thu hồi ruộng vườn nhà cửa của nông dân để phục vụ các tập đoàn, các doanh nghiệp tư bản, gây nên cảnh dân oan khiếu kiện khắp mọi miền đất nước. - Với chủ trương lớn của Đảng, bất chấp sự phản đối của toàn dân, Đảng đã rước Trung Quốc vào khai thác bô-xít Tây Nguyên, khai thác khoáng sản bừa bãi tại các địa phương, môi trường sẽ bị tàn phá, người nông dân địa phương sẽ lâm vào cảnh khốn cùng.
c/. Mũi thứ ba là đánh vào công nhân: - Trước tình trạng tụt hậu, đói nghèo của đất nước, người công nhân Việt Nam buộc phải chấp nhận đồng lương rẽ mạt để nuôi sống bản thân, nhưng vẫn thường xuyên bị giới chủ bóc lột, hành hạ. Bao nhiêu cuộc đình công đã diễn ra nhưng cuối cùng thiệt thòi vẫn do người công nhân gánh chịu vì nhà nước luôn đứng về phía chủ đầu tư. - Hàng hóa giá rẻ của Trung Cộng tràn ngập thị trường, đánh sập các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất của Việt Nam, tình trạng người công nhân đã bị bóc lột nay càng thêm khốn đốn. Nền kính tế quốc dân vốn đã yếu kém nay đã đứng trên bờ phá sản vì hàng giá rẻ của Trung Cộng đang khống chế thị trường. II/. THÁI ĐỘ CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT:
Đối diện với tình trạng luân hiểm của Dân Tộc Việt Nam nêu trên, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ, người lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thông Nhất - Giáo Hội truyền thừa của Lịch Đại Tổ Sư - đã thốt lên rằng:
“Người dân Việt không có các tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, cũng không có chính quyền hay quân đội để trực tiếp và mạnh mẽ phản chống nạn xâm lăng quân sự, xâm lăng tư tưởng và xâm lăng kinh tế. Vũ khí của người dân bị trị ngày nay là THÁI ĐỘ. Chúng ta cần biểu tỏ qua THÁI ĐỘ để chống hai quốc nạn Nội xâm và Ngoại xâm ”
- Với quan điểm ấy, đứng trước chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân quyền, phủ nhận tự do dân chủ của Đảng Cộng Sản Việt Nam, suốt 34 năm qua Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, không ngừng bày tỏ thái độ bằng các văn kiện lịch sử để đòi hỏi Đảng Cộng Sản phải thực thi một nền độc lập, tự do và dân chủ thật sự cho Dân Tộc Việt Nam.
- Với quan điểm ấy, đứng trước hành động bá quyền của Trung Cộng đã ngang ngược lấn chiếm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như đất đai biên giới, GHPGVNTN đã bày tỏ thái độ bằng Tuyên Cáo Của Hội Đồng Lưỡng Viện do Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ-Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN thừa ủy nhiệm Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ấn ký ngày 27.12.2007 lên án Trung Cộng xâm lược và lên án Việt Cộng bán nước.
- Với quan điểm ấy, đứng trước chủ trương lớn của Đảng, rước Trung Cộng vào khai thác bô xít Tây Nguyên, tạo điều kiện cho đội quân Trung Cộng án ngữ nơi yết hầu của Tổ Quốc và hủy diệt màu xanh Tây Nguyên, gieo thảm họa quốc phòng và môi sinh cho Dân Tộc. Hòa Thượng Thích Quảng Độ - Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã ban hành LỜI KÊU GỌI THÁNG NĂM BẤT TUÂN DÂN SỰ VÀ BIỂU TÌNH TẠI GIA bày tỏ thái độ của GHPGVNTN cương quyết phản đối sự cấu kết giữa hai Đảng Cộng Sản nhằm đưa Dân Tộc Việt Nam vào vòng nô lệ Trung Cộng.
- Với quan điểm ấy, đứng trước vấn đề sinh tử của Dân Tộc hiện nay do việc hàng hóa giá rẻ và độc hại của Trung Cộng ồ ạt tràn vào Việt Nam, GHPGVNTN biểu tỏ thái độ qua Lời Kêu Gọi KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của Hòa Thượng Xử Lý Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN ban hành ngày 03.10.2009 nhằm lên án Trung Cộng với sự tiếp tay của Việt Cộng, dùng hàng giá rẻ để xâm lăng kinh tế Việt Nam, dùng hàng độc hại để tiêu diệt sinh lực Dân Tộc Việt Nam. III/. LỜI KÊU GỌI “KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC” LÀ VẤN ĐỀ SINH TỬ CỦA DÂN TỘC
1/. Ý nghĩa Lời Kêu Gọi:
Ngày 03.10.2009, Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Hóa Trung Quốc do Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo ấn ký và ban hành.
Ngày 05.10.2009, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế đã phổ biến rộng rãi để cho toàn dân trong và ngoài nước tiếp cận ý nghĩa của Lời Kêu Gọi.
Ý nghĩa ấy đã được minh thị rõ ràng và cương quyết: …Thái độ cần biểu tỏ hôm nay để Nhà cầm quyền Bắc Kinh thấy rõ ý chí kiên cường của người dân Việt là phát động phong trào không dùng hàng Trung quốc. Không dùng hàng Trung quốc không phải là biểu tỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chống nhân dân Trung quốc, chống công nhân Trung quốc. Vì nhân dân Trung quốc, công nhân Trung quốc cũng là nạn nhân của Đảng Cộng sản như nhân dân, công nhân và nông dân Việt Nam. Tẩy chay hàng Trung quốc là tẩy chay chủ nghĩa bá quyền xâm lược của Nhà cầm quyền Cộng sản Bắc Kinh. Ngoài lý do chính trị mà tẩy chay, còn lý do hàng xấu và hàng độc Trung quốc đang gây nguy hại cho cơ thể và môi sinh người tiêu dùng Việt Nam.
Và thái độ biểu tỏ đối với Nhà cầm quyền Hà Nội như tôi đã gợi ý trước đây qua “ Lời Kêu Gọi Thàng 5 Bất Tuân Dân Sự - Biểu Tình Tại Gia ”.
Kính mong được đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng kể từ khi đọc Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Trung quốc công bố hôm nay (trích LKG).
2/. Hàng giá rẻ của Trung Cộng là vấn đề sinh tử của Dân Tộc Việt Nam:
“Có thực mới vực được đạo” đó là nguyên lý kinh tế chi phối toàn bộ mọi lãnh vực xã hội. Vì vậy qua ý nghĩa của Lời Kêu Gọi Tẩy Chay Hàng Hóa Trung Quốc đã thể hiện 3 vấn đề sinh tử của Dân Tộc Việt Nam:
- Vấn đề thứ nhất: hàng giá rẻ là phương tiện xâm lăng Việt Nam của Trung Cộng:
Hơn ai hết, Trung Cộng hiểu rất rõ nền kính tế yếu kém của đất nước Việt Nam. Một khi nền kinh tế Việt Nam bị hàng giá rẻ của Trung Cộng đánh sập thì mọi lãnh vực quân sự, quốc phòng, văn hóa, giáo dục sẽ suy sụp theo. Hàng giá rẻ của Trung Cộng sẽ làm kiệt quệ đất nước Việt Nam , Dân Tộc Việt Nam sẽ mất thực lực chiến đấu, việc xâm lăng Việt Nam sẽ được thực hiện nhanh chóng và dễ dàng.
Vậy, tẩy chay hàng hóa Trung Cộng là nghĩa vụ toàn dân góp phần chận đứng chủ nghĩa bá quyền bành trướng của Bắc Kinh.
- Vấn đề thứ hai: hàng giá rẻ là phương tiện tiêu diệt sinh lực Dân Tộc Việt Nam của Trung Cộng:
Để có hàng giá rẻ Trung Cộng đã dùng các hóa chất độc hại (có thứ cực độc) để chế biến từ sữa trẻ em đến thức ăn, áo quần giày dép, đồ chơi và cả vật liệu xây dựng. Đây là một chính sách vô nhân đạo phản chống lại con người, một tội ác diệt chủng trong thời bình nếu đem so sánh với Hitler, Polpot trong thời chiến. Cả thế giới đều lên án hàng hóa Trung Cộng.
Riêng với Dân Tộc Việt Nam, Trung Cộng hiểu rất rõ đại đa số người dân sống trong nghèo khó, do đó khi gặp hàng giá rẻ dù biết là độc hại nhưng người dân vẫn mua để giải quyết nhu cầu hiện tại, ngày sau ra sao thì ra. Lợi dụng tâm lý ấy, Trung Cộng cho hàng giá rẻ và độc hại ồ ạt vào Việt Nam, ngoài việc làm băng hoại nền kinh tế nước nhà, hàng hóa Trung Cộng còn gây ra bệnh tật hiểm nghèo làm tiêu hao sinh lực của Dân Tộc để dễ bề thôn tính Tổ Quốc chúng ta.
Vậy, tẩy chay hàng hóa Trung Cộng là nghĩa vụ toàn dân góp phần bảo vệ sinh mệnh Dân Tộc, tránh di hại cho các thế hệ con cháu tương lai.
- Vấn đề thứ ba: hàng giá rẻ đã tạo điều kiện cho Trung Cộng xúc phạm tinh thần Dân Tộc Việt Nam: Trung Cộng hiểu rất rõ lòng tự hào dân tộc và tinh thần quật khởi của người Việt Nam mà Trung Quốc là đối tượng lịch sử. Qua sự kiện hàng giá rẻ và độc hại của Trung Quốc thâm nhập thị trường Việt Nam ảnh hưởng đến sự an nguy của Đất Nước và Dân Tộc, Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) đã có cuộc tọa đàm trực tuyến lên án hàng Trung Quốc là “lũ quét”, là “ bất chấp đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh”. Tòa Đại Sứ Trung Cộng tại Hà Nội lập tức cử Ông Hồ Tỏa Cẩm lên giọng nước lớn buộc Đảng Cộng Sản Việt Nam phải “ kiểm điểm công việc nầy, không để việc nầy tổn hại cho dân chúng Trung Quốc, thương nhân Trung Quốc, chính phủ Trung quốc…”
Với thái độ kẻ cả, xúc phạm danh dự cũng như tinh thần Dân Tộc của Việt Nam như thế mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã không phản đối, lại còn tuân thủ bằng cách ra Quyết Định 97 cấm các tổ chức Khoa Học và Công Nghệ không được phản biện về đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng. Quyết Định nầy đưa đến việc các thành viên IDS tự giải thể để bảo toàn danh dự, bất chấp lời hăm dọa truy tố của Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Vậy, tẩy chay hàng hóa Trung Quốc là góp phần bảo vệ lòng tự hào Dân Tộc, bảo vệ tinh thần bất khuất của Dân Tộc Việt Nam. IV/. TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA:
Thưa toàn thể Anh Chị Em Huynh Trưởng,
Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Hóa Trung Quốc của Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã được ban hành.
Hưởng ứng Lời Kêu Gọi là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn thể công dân Việt Nam . Vì vậy Lời Kêu Gọi phải được phổ biến sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, sắc tộc hay tín ngưỡng. Đó là trách nhiệm của mỗi Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử chúng ta.
- Trách nhiệm ấy phải được thể hiện trên tinh thần cá nhân: tự thân Huynh Trưởng cương quyết không dùng hàng Trung Quốc, vận động người thân trong gia đình tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, và gia đình Huynh Trưởng có trách nhiệm vận động xóm làng hưởng ứng, tạo nên phong trào KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC sâu rộng trong cộng đồng dân tộc.
- Trách nhiệm ấy phải được thực hiện trên tinh thần tập thể: Các Ban Hướng Dẫn, Ban Huynh Trưởng hãy tổ chức cho đoàn sinh các Gia Đình và đạo hữu các Khuôn Hội học tập Lời Kêu Gọi trong giờ sinh hoạt, để mỗi thành viên Gia Đình Phật Tử là một nhân tố tích cực trong việc tẩy chay hàng hóa Trung Cộng. Mỗi thành viên ấy có trách nhiệm phát huy Lời Kêu Gọi trên mọi lãnh vực liên quan như trường học, bạn bè, xóm giềng…để Lời Kêu gọi trở thành hành động cụ thể KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của mọi người công dân Việt Nam.
Và Thưa Anh Chị Em Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh Phật Tử,
34 năm qua Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị trù dập, đọa đày trong vòng vô minh của chế độ, do đó Giáo Hội chưa có thuận duyên để đoàn ngũ hóa Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh Phật Tử trong khuôn khổ Tổng Vụ Thanh Niên theo tinh thần Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Tuy nhiên qua LỜI KÊU GỌI THÁNG 5 BẤT TUÂN DÂN SỰ-BIỂU TÌNH TẠI GIA của Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vừa qua, các Anh Chi Em đã tiếp tay với Tổng Vụ Thanh Niên và Gia Đình Phật Tử Vụ phổ biến rộng rãi Lời Kêu Gọi đến các Trường Đại Học, Cao Đẳng và Trung Học trên Toàn Quốc, nhất là tại Huế và Đà Nẳng, gây ý thức toàn dân trước hiểm họa của Dân Tộc do hai Đảng Cộng Sản tạo ra.
Giờ đây, LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC vừa là tiếng chuông cảnh tỉnh toàn dân ý thức bảo vệ đất nước và bảo vệ giống nòi, vừa là bản án tố cáo chủ trương bành trướng bá quyền vô nhân đạo của Cộng Sản Trung Quốc, gieo rắc tai họa không những cho Dân Tộc Việt Nam mà cả Nhân Loại trên hành tinh chúng ta, đồng thời tố cáo Đảng Cộng Sản Viêt Nam đã tíếp tay đắc lực cho Trung Cộng qua việc đàn áp sinh viên, học sinh biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược, bỏ tù các nhà đấu tranh dân chủ, trấn áp những người phản đối bô-xít Tây Nguyên và nhất là để cho hàng hóa độc hại của Trung Cộng tàn phá đất nước cũng như con người Việt Nam.
Với tinh thần đó, mong ước các Anh Chị Em tiếp tục sát cánh cùng Tổng Vụ Thanh Niên và Gia Đình Phật Tử Vụ phổ biến Lời Kêu Gọi TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của Đại Lão Hòa Thượng Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng VHĐ/GHPGVNTN và Tuyên Cáo nầy đến đồng bào các giới quốc nội và hải ngoại, góp phần giải trừ hai quốc nạn Nội Xâm và Ngoại Xâm đã gieo rắc kinh hoàng lên ngôi nhà Việt Nam trên 6 thập kỷ qua.
TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG CỘNG LÀ GÓP PHẦN CỨU NGUY ĐẤT NƯƠC, CỨU NGUY GIỐNG NÒI.
NAM MÔ THƯỜNG TINH TẤN BỒ TÁT MA HA TÁT Phật Lịch 2553, Giác Minh ngày 12 tháng 11 năm 2009
KÝ TÊN Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên Viện Hoá Đạo/GHPGVNTN TỲ KHEO THÍCH THANH QUANG
Vụ trưởng Gia Đình Phật tử Vụ Gia Đình Phật tử Việt Nam NGUYÊN CHÁNH LÊ CÔNG CẦU
| | | |
550 DÂN OAN BIỂU TÌNH TẠI SÀI GÒN NGÀY 07.10.2009
vietland Điều Hành Join Date: Jun 2008 Posts: 996 550 người biểu tình tại số 210 Đường Võ Thị Sáu Sài Gòn Ngày 08-10-2009, giờ 01:44
Hôm nay lúc 11 giờ VN ngày 07 /10.2009 Một đoàn Biểu tình 550 người gồm có 300 người từ Tinh An Giang và 250 người từ Tinh Kiên Giang Cuộc biễu tình xãy ra trước Nhà Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ số 210 Đường Võ Thị Sáu Đây là cuộc Biểu tình lớn nhất trong năm 2009
Đoàn người biểu tình mang những khẩu hiệu đòi nhà nước Cộng Sãn việt Nam trả đất ruộng Dân oan đã bị các Quan Chức Địa phương lạm dụng quyền lực cuớp đất ruộng của Nông Dân có hệ thống . Mãnh ruộng đất nào mặt tiền hay mầu mở các Quan chức lừa dối là cần mãnh đất ruộng đó để làm những công trình công ích và đền bù vời giá rẽ mạt . Sau đó các Quan chức Địa phương sang tay cho các Đầu nậu Địa ốc xây dựng những khu giải trí , du lịch , sân Golf hay biến thành tài sãn riêng cho chính mình .
Đây là lý do xãy ra nhiều cuộc biểu tình từ trước đến nay của Dân các Tỉnh An Giang và Kiên Giang và các Tỉnh khác ..
http://nhabaovanhai.multiply.com/journal/item/638/638
BAO GIỜ HẾT KHỦNG HỎANG KINH TẾ MỸ VÀ THẾ GIỚI ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.10.2009
KINH TẾ Dân nghèo: nguồn ĐỘT BIẾN Cách Mạng
Nhập và viết trên các Diễn Đàn từ gần 10 năm nay vì ngưỡng mộ cái DŨNG của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ đã bất khuất đấu tranh ở trong lòng một Cơ Chế đàn áp mọi đối lập. Trong một số năm đầu, tôi không viết gì về Kinh tế, mà chỉ viết về Tự do Tín ngưỡng, Tự do Dân chủ, Nhân quyền.
Nhưng từ khi Phong trào DÂN OAN nổi dậy mạnh tại Sài Gòn và Hà Nội, rồi những đợt ĐÌNH CÔNG của Công nhân, tôi bắt đầu chuyển hướng đấu tranh. Mục đích là phải DỨT BỎ cái Cơ Chế CSVN hiện hành. Đâu là LỰC LƯỢNG khả dĩ lật được Cơ Chế CSVN ? Phải chăng là Phong trào DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN ? Phong trào đối chọi với CSVN qua những phạm trù trừu tượng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền… Nhưng CSVN cối chầy, ngụy biện ngay đối với những phạm trù trừu tượng này.
Tôi bắt đầu thấy rằng chỉ có Dân Nghèo (Dân Oan, Nông dân, Công nhân) chiếm đa số quần chúng mới có thể đứng lên làm cuộc ĐỘT BIẾN lật đổ Cơ Chế CSVN.
Nhìn lại Lịch sử những cuộc Cách Mạng, đó cũng là từ đại đa số Dân Nghèo. Cuộc đại Cách Mạng Pháp 1789, không phải là những nhà Trí thức như Danton làm nên, nhưng là từ tiếng thanh la của một cô gái đói bụng, la lên đòi đồ ăn để khỏi chết đói. Tiếng la đói ấy có sức lôi cuốn cả quần chúng Pháp làm Cách Mạng. Cũng vậy, cuộc Cách Mạng 1917 của Cộng sản cũng dựa trên lớp vô sản Nông dân và Công nhân.
Người nghèo Nông dân và Công nhân Việt Nam quan tâm đến cái quyền đầu tiên, đó là quyền DẠ DẦY, chứ không phải là những phạm trừ trừu tượng Nhân quyền tổng quát. Mà quyền DẠ DẦY có nghĩa là Kinh tế căn bản để kiếm sống. Tôi cũng thấy rằng sự can đảm sống chết của Dân nghèo đến từ cái DẠ DẦY bị đói quá. Đa số (75%) Dân Việt càng bị bóc lột bao nhiêu, càng nghèo kiết xác bao nhiêu, thì càng tiến dần đến ĐỘT BIẾN để lật đổ cái Cơ Chế CSVN đầy tham nhũng bóc lột.
Chính vì cái quyền DẠ DẦY của đại đa số Dân nghèo này, mà tôi bỏ không viết nữa về những phạm trù trừu tượng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền tổng quát. Tôi chỉ chú tâm viết về quyền DẠ DẦY, nghĩa là Kinh tế, cho đại đa số Dân nghèo.
Tôi bắt đầu bằng lọat bài Tương quan Kinh tế—Chính trị giữa lúc CSVN tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do/Thị trường mà vẫn giữ độc tài Chính trị một các tréo cẳng ngỗng.
Tiếp theo đó, tôi viết về cuộc Khủng Hỏang Tài chánh Á-châu 1997 để tìm xem những yếu tố nào tương tự đang dẫn đến cuộc Khủng hỏang tại Việt Nam về Tài chánh và Kinh tế.
Liền sau lọat bài này, thì cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới xẩy ra. Tôi phân tích về cuộc Khủng hỏang Thế giới này.
Hiện nay, tôi chú trọng đến những biến chuyển Tài chánh/Kinh tế của 3 Quốc gia: Hoa kỳ, Trung quốc và Việt Nam. Trong những tương quan dây chuyền Tài chánh/Kinh tế giữa ba nước này, tôi đã chọn ra một Chủ đề: CHỐNG LẠI XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC TẠI VIỆT NAM. Tôi nhận thấy rằng Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng qua Hoa kỳ và Liên Âu. Trung quốc rất lo sợ Khủng hỏang tiếp tục tại Hoa kỳ và Liên Âu. Trung quốc quay về xuất cảng và chiếm cứ Kinh tế tại các nước nghèo Á-châu, nhất là Việt Nam.
Viết những điều trên đây, tôi muốn cắt nghĩa tại sao tôi chú tâm viết những bài về Kinh tế, nhất là Kinh tế Hoa-kỳ, Liên Aâu và Thế giới. Nhiều khi trước cảnh dân nghèo Việt Nam bị Cơ Chế CSVN bóc lột đến cùng cực, tôi mong Kinh tế Mỹ, Liên Aâu và Thế giới đổ vỡ để Dân nghèo VN đi đến chỗ quá nghèo mà nổi dậy làm ĐỘT BIẾN chấm dứt Cơ Chế CSVN ăn cướp. Dĩ độc trị độc vậy.
Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Theo nhận định của Oâng Ben BERNANKE Tuyên bố của Ông BERNANKE: Chấm dứt Khủng hỏang tại Hoa kỳ
Tôi luôn luôn phân biệt hai lãnh vực: Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh và Lãnh vực Kinh tế thực. Trong thập niên qua, Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh trở thành một kỹ nghệ tạo ra những sản phẩm vốn để ăn lời quá đáng. Mà vốn này hầu hết thuộc về tương lai chưa làm ra hiện thực (Virtual Capital). Họ xả láng cho những Credits để cổ võ tiêu thụ cá nhân, để những Công ty sản xuất hàng hóa bừa bãi không không quan tâm đến khả năng tiêu thụ thực của quần chúng. Đó là cái nguyên cớ đưa đến Khủng hỏang Tài chánh. Khủng hỏang Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực khiến Thất nghiệp tăng.
Những Chương trình BAILOUTS cứu vãn Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh làm cho Lãnh vực này tạm yên. Rồi Chỉ số của Thị trường Chứng khóan lên. Điều này chưa hẳn là Kinh tế thực đã lấy lại sức mạnh. Thường sau những cuộc Khủng hỏang Thị trường Chứng khóan, có những cuộc Buy-Back của những nhà đầu tư. Có thể lúc này, Chỉ số Thị trường Chứng khóan lên, một phần là vì những nhà tài phiệt bỏ vốn ra mua những Giá trị chứng khóan với giá đang hạ để sau này bán lại kiếm lời. Đó là vấn đề thương mại ở Thị trường chứng khóan và chưa hẳn là việc phục hồi Kinh tế thực. Chính vì nghĩ như vậy, nên một số người nói rằng lời tuyên bố của Ông BERNANKE là hơi vội, và có phần phiến diện nếu chỉ căn cứ ở sự tăng lên của Chỉ số Chứng khóan.
Có thể việc tuyên bố của Ông BERNANKE mang yếu tố tâm lý cổ võ cho việc Chi tiêu để làm tăng phía CẦU của Lãnh vực Kinh tế thực. Tôi cũng đồng ý với ý kiến này, nghĩa là lời tuyên bố lạc quan của Ông BERNANKE mang yếu tố tâm lý làm phấn khởi cho Tiêu thụ, tăng phía CẦU.
Cùng ngày 16.09.2009, hai Ký giả Peter A.McKay & Geoffrey Rogow viết trong THE WALL STREET JOURNAL, trang 20, rằng: “Stocks pushed higher Tuesday, helped by Federal Reserve Chairman Ben Bernanke’s declaration the U.S. recession had lkely ended. Mr.Bernanke said that from a technical point.” (Giá trị chứng khóan tăng cao hơn hôm thứ Ba, được cổ võ bởi lời tuyên bố của Chủ tịch FED Bernanke rằng cuộc Khủng hỏang Mỹ dường như đã chấm dứt. Ông Bernanke đã nói điều đó từ một khía cạnh kỹ thuật).
Oâng GREENSPAN nhấn mạnh đến THẤT NGHIỆP của Khủng hỏang Kinh tế
Ông Greenspan tuyên bố thất nghiệp sẽ vượt qua mức 10%, và không cần đến kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai (Cali Today News, Trần Thị Sông Dinh, Oct 04, 2009)
Cali Today News – Ông Greenspan – Cựu chủ tịch Qũy Dự Trữ Liên Bang (DTLB) Hoa Kỳ, nay đã nghỉ hưu, vừa tuyên bố hôm chủ nhật là mức thất nghiệp sẽ vượt qua 10%, rồi sẽ dừng ở đó một thời gian, và chương trình kích thích kinh tế hiện nay chưa cần đến.
Ngoài ra, ông ta cũng phát biểu thuận lợi cho việc gia hạn trợ cấp thất nghiệp, khấu trừ thuế cho tiền bảo hiểm y tế – đó chính là chương trình mà chính quyền của ông Obama đang xem xét để giúp đỡ những người bị thất nghiệp trong đợt suy thoái lần này. Hiện nay, có tới 15 triệu người Mỹ thất nghiệp, và mức thất nghiệp hiện nay đang ở mức 9.8%, mức cao nhất trong vòng 26 năm qua.
Ông cũng cho rằng đây là một giai đoạn thật đặc biệt và một số hành động tạm thời cần được áp dụng. Phát biểu trên ABC’s trong mục “This Week”, ông nói: “Tôi thật sự không xem xét các loại chương trình kích thích kinh tế, tôi nghĩ một cách căn bản đó là những chương trình giúp đỡ cho người dân, nhất là một phần đối với tiêu chuẩn sống của họ. Tôi cho rằng nó sẽ có hiệu quả kích thích, nhưng đó là điểm chính của tôi.”
Ông ta gọi bản tường trình công việc được công bố vào thứ sáu rồi là “khá tệ”, và ông Greenspan đặc biệt quan tâm về những con số thống kê cho thấy số người mất việc làm trong 6 tháng qua hoặc hơn đã đến con số 5 triệu người, sau khi đã gia tăng đáng kể trong tháng qua.
Ông nói thêm: “Những người bị mất việc cho một thời gian dài sẽ thật sự mất đi tay nghề của họ. Những điều tạo ra một nền kinh tế vĩ đại là sự kết hợp giữa tài sản vốn của nền kinh tế và nhân sự điều hành tài sản này. Và nếu bạn mất đi những năng khiếu con người, thì thật sự có một sự mất mát thật sự và không tìm lại được.”
Nhìn về trước trong bức tranh toàn cảnh của tình trạng thất nghiệp, ông ta nói rằng nó sẽ vượt qua mức 10%, và ở đó một thời gian, trước khi rơi xuống trở lại.
Ông Greenspan nói rằng ông đề nghị TT Obama tập trung đưa nền kinh tế đi lên, nhưng đừng thúc đẩy nhiều quá đến nỗi mà nó sẽ tạo ra phản tác dụng. Với mức phát triển của qúy 3 là 3% hay cao hơn, Greenspan cho biết là ông ta đề nghị không cần kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai. Ông ta nói rằng cần chờ đợi và quan sát xem cái động lực đang thúc đẩy nền kinh tế đi lên sẽ tiến triển ra sao.
Ông Greenspan cũng tỏ ra quan tâm về sự gia tăng mức thâm thủng ngân sách và nợ của quốc gia.
NHÂN LỰC là một trong hai Yếu tố chính Của Sản Xuất Kinh tế thực
Phương trình Lượng Sản Xuất cho mọi nước như sau:
Q = f(K, L, t)
Q là Lượng sản xuất. Trong Phương trình này, K (Vốn) và L (Nhân Lực) là hai yếu tố sản xuất chính yếu. “t“ đứng trong Phương trình để chỉ Technology. Technology không đứng độc lập với Vốn (K) và Nhân Lực (L). Người ta gọi “t” là Incorporated Technology, nghĩa là phải có hai yếu tố K và L trước đã thì Technology mới Incorporated vào được. Có Vốn, thì mới mua được Technology. Và Technology được incorporated vào Nhân Lực để làm tăng hiệu lực cho Nhân lực. Trong Lãnh vực Kinh tế thực hiện đại, giữa Nhân lực và Technology đang có sự đố kỵ. Tăng Kỹ thuật để thải nhân lực !
Ở những nước chưa mở mang, chưa có Kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân, nhưng nông dân vẫn sản xuất nhờ Vốn mua ruộng, hạt giống, phân đạm và nhờ bắp thị cứng rắn (Nhân lực). Điều đó có nghĩa là việc sản xuất của nông dân ở những nước nghèo này chưa có Technology can thiệp vào, mà chỉ nhờ VỐN (K) và NHÂN LỰC (L) là những yếu tố chính yếu của sản xuất.
Với Công thứ tồng quát Q=f(K,L,t), tôi có thể áp dụng cho mọi nước, từ những nước nghèo nhất chưa có tiền mua Technology. Technology phải từ từ incorporated vào K và L khi người ta có VỐN để mua Technology và khi NHÂN LỰC được huấn luyện kiến thức nghề nghiệp về Technology.
Khi NHÂN LỰC là một trong hai Yếu tố chính sản xuất cho Lãnh vực Kinh tế thực, thì THẤT NGHIỆP là một Chỉ số quan trọng để những Nhà Kinh tế nói về Khủng Hỏang. Đối với những người nắm quyền Chính trị, thì Chỉ số THẤT NGHIỆP thực sự trở thành quan trọng vì từ khối người Thất nghiệp, tình trạng căng thẳng Xã hội nẩy sinh và có thể đưa đến xáo trộn Xã hội và ĐỘT BIẾN Chính trị.
Oâng GREENSPAN chú trọng đến Chỉ số Thất nghiệp. Sau khi Oâng BERNANKE tuyên bố lạc quan dựa trên Chỉ số Chứng khóan, thì OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đưa ra ngay Chỉ số Thất nghiệp để cho thấy tình trạng Khủng hỏang. Ký giả Gabriele PARUSSINI viết ra quan điểm của Ông Angel CURRIA, Tổng Thư ký của OECD gồm 30 quốc gia, viết Bài báo, với tựa đề là OECD SAYS JOBS CRISIS HAS REPLACED CREDIT CRISIS, được đăng trên THE WALL STREET JOURNAL ngày thứ Năm, 17.09.2009, trang 2.
Ký giả Gabriele PARUSSINI và OECD đứng theo quan điểm THẤT NGHIỆP để nói về Khủng hỏang Kinh tế thực, chứ không riêng Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh như Ông Bernanke.
Chưa có thể nói đơn giản là Cuộc Khủng Hỏang Tài chánh/Kinh tế đã chấm dứt
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới bắt đầu từ những Tín Dụng Địa Oác (Mortgage Credit). Những Subprime Mortgage Credits bị ung thối rồi lan sang các Tin dụng khác làm cho giới Ngân Hàng/ Tài chánh co rúm lại, mất giá. Thị trường Subprime Mortgage Credits không phải chỉ tác dụng riêng cho giới Ngân Hàng/ Tài chánh Hoa-kỳ, mà cho các Ngân Hàng lớn khắp Thế giới. Đây không phải chỉ lỗi riêng của Hoa kỳ, mà còn là việc tham dự Tín dụng của các Ngân Hàng/ Tài chánh lớn Thế giới vào Thị trường Hoa kỳ để chia phần lợi nhuận. Cùng chia phần lợi nhuận để sau đó các Ngân Hàng/ Tài chánh lớn của các nước khác cùng bị hậu quả của sự ung thối Subprime Mortgage Credits, thì bây giờ không thể óan trách riêng Hoa kỳ.
Chính quyền Hoa kỳ, ngay cuối thời TT.BUSH đã chỉ chú tâm vào việc cứu vãn giới Ngân Hàng và các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh bằng những Chương trình BAILOUTS. Chính quyền TT.OBAMA tiếp tục những Chương trình BAILOUTS cho giới Ngân Hàng và những Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh.
Nhưng lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh bắt đầu lan sang lãnh vực KINH THẾ thực làm đình trệ sản xuất và do đó nạn THẤT NGHIỆP bán phần (chomage au temps partiel) rồi tòan phần (chomage à plein temps) tăng lên. Ngành nghiệp KINH TẾ bị khủng hỏang trầm trọng là Kỹ nghệ Xe Hơi. Kỹ nghệ Thiết bị, Kỹ nghệ những Sản phẩm xa hoa.
Không những chỉ Chính quyền Hoa kỳ, mà các Chính quyền của các nước đã Kỹ nghệ hóa đưa ra những Chương trình Kích cầu (STIMULUS plans) để nâng cao phía CẦU của Dân chúng đang bị co rúm lại và từ đó làm cho các Kỹ nghệ có thể sản xuất mà tăng phía CUNG.
Cuộc Khủng hỏang bắt đầu từ năm 2007, qua suốt 2008, rồi hiện nay là tháng 9/2009.
Đọc Tờ THE WALL STREET JOURNAL ngày 16.09.2009, trang 3, tôi thấy bài của hai Ký giả Sara MURRAY và Ann ZIMMERMAN viết chiếm trọn 5 cột với đầu đề “BERNANKE DECLARES END TO RESESSION IN THE U.S.” (BERNANKE TUYÊN BỐ CHẤM DỨT KHỦNG HỎANG TẠI HOA KỲ). Tôi mừng cho nước Mỹ, mừng cho những đồng hương của tôi sẽ bắt đầu sống sung sướng sung túc như trước đây.
Những thành phần tham dự vào Thị trường Chứng khóan là những Tỉ phú, Triệu phú, là những Ngân Hàng, những Tổ chức Bảo Hiểm, Tài chánh. Khi Chỉ số Thị trường Chứng khóan xuống, họ mất, nhưng tài sản của họ vẫn còn mức độ căn bản làm họ tiếp tục sống vương giả. Những nhân viên làm việc cho các Triệu phú, Tỉ phú, các Ngân Hàng, các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh, dù bị thất nghiệp, nhưng trước đó họ đã thu vào những khả năng Tiền bạc để bảo đảm tình trạng thất nghiệp lúc này.
Nếu những Chương trình BAILOUTS khổng lồ cứu vãn giới Tài chánh (Giới có Tiền bạc kho đụn), thì những Chương trình STIMULUS cho Kinh tế với những chi tiêu khổng lồ xả láng mà hiệu quả còn mù mờ chưa cho phép nói là Khủng hỏang đã chấm dứt. Thậm chí chúng ta có thể nói Khủng hỏang Kinh tế còn đang tăng nếu nhìn Chỉ số THẤT NGHIỆP là mối quan tâm chính yếu cho Lãnh vực Khủng hỏang Kinh tế thực.
Cứu đổ vỡ cho Ngân Hàng, Triệu phú ở Thị trường Chứng khóan hay cứu Dân nghèo THẤT NGHIỆP ?
Khi các Chính quyền cứu vớt các Ngân Hàng, các Tổ chứ Bảo Hiểm/Tài chánh là nhằm hai mục đích: (i) Để họ không chết; (ii) Để họ có vốn tăng lên mà cho Lãnh vực Kinh tế thực vay. Khi các Ngân Hàng Trung Ương hạ lãi suất chỉ đạo xuống gần số không, đó là hạ giá vốn để các Xí nghiệp có thể vay được vốn với giá hạ trong lúc túng quẫn. Mục đích tối hậu của những Chương trình BAILOUTS cứu vớt giới Ngân Hàng/ Tài chánh là để giới này cùng với các Xí nghiệp tạo công ăn việc làm cho Dân chúng. Cũng vậy mục đích hạ lãi suất chỉ đạo cũng nhằm tạo công ăn việc làm qua các Xí nghiệp. Mục đích tạo công ăn việc làm là hòan tòan chính đáng và là công bằng xã hội bởi lẽ những số tiền khổng lồ cho những Chương trình BAILOUTS và những Chương trình STIMULUS là do sự dóng thuế của tòan Dân, chứ không phải đến từ giới Triệu phú, Tỉ phú hoặc Ngân Hàng.
Nhưng tại sao những số tiền khổng lồ BAILOUTS và STIMULUS đi vào đâu mà không tạo hiệu quả làm giảm thất nghiệp theo mục đích của các Chính quyền?
Nếu những Chương trình BAILOUTS chỉ giúp các Tỉ phú, Triệu phú, các Ngân Hàng, các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh đổ số tiền giúp đỡ ấy vào việc chơi ở Thị trường Chứng khóan để làm cho Chỉ số Chứng khóan tăng lên, đó là việc những người giầu này làm tăng sự giầu có của họ do thuế Dân đóng vào, chứ không phải là tạo công ăn việc làm cho chính người Dân nghèo đóng thuế.
Đối với những Xí nghiệp sản xuất, Ngân Hàng Trung ương hạ lãi suất, rồi Dân đóng thuế cho những Chi tiêu khổng lồ trong những Chương trình STIMULUS, cố ý tăng Sản xuất của những Xí nghiệp và do đó tạo công ăn việc làm. Nhưng tại sao THẤT NGHIỆP càng tăng? Có ba cách cắt nghĩa:
=> Các Xí nghiệp đang trong thời kỳ thế thủ với cuộc khủng hỏang hiện nay. Họ xử dụng vốn rẻ để củng cố sự vững chắc cho Xí nghiệp họ hơn là tăng sản xuất để có thể đi vào phiêu lưu trong thời gian bấp bênh tới chưa lường được.
=> Việc sản xuất tùy thuộc hai yếu tố Q = f (K, L,t). Q là lượng sản xuất, K là xử dụng Vốn, L là xử dụng Nhân lực. K tượng trưng cho những phương tiện sản xuất Kỹ thuật, Máy móc. Các Xí nghiệp nếu có tăng lượng sản xuất Q, thì họ thiên về việc xử dụng Vốn cho những phương tiện Kỹ thuật, Máy móc hơn là thu nhập thêm Nhân công vốn dĩ mang nhiều phức tạp. Trong thời gian qua, các Xí nghiệp phải chịu tình trạng Kỹ thuật, Máy móc ngưng chạy (thất nghiệp máy móc), nên lúc này họ cho Máy móc chạy lại đúng mức độ để sản xuất hơn là thu nhận thêm Nhân công.
=> Những Xí nghiệp Sản xuất luôn luôn gặp những phức tạp khi phải sa thải nhân công vì các Nghiệp Đòan Thợ thuyền đứng đó để sẵn sàng tranh đấu. Trong hai Yếu tố Sản xuất chính K (Vốn), L (Nhân lực), những Nhà Quản trị Xí nghiệp dễ điều khiển Vốn hơn là Nhân công. Tại những nước tiền tiến, những Nhà Quản trị dễ tìm dịp thay thế Vốn vào chỗ Nhân công. Mỗi mức Tiến triển Khoa học Kỹ thuật là mỗi bước sa thải Nhân lực. “La Technologie chasse les Ouvriers“ (Kỹ thuật đuổi Thợ thuyền). Sa thải Nhân công thì dễ, mà nhận lại mới khó. Vì vậy, cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế này có lẽ là dịp may cho một số Xí nghiệp để có cớ sa thải Nhân công. Tình trạng Thất nghiệp sẽ kéo dài vậy.
Các Chương trình BAILOUTS và STIMULUS là do thuế của Dân đóng vào, trong đó có cả những người THẤT NGHIỆP, chứ không phải chỉ nguyên những Ngân hàng gia hay những Tỉ phú chơi Chứng khóan. Người Dân đóng thuế là mong những Chương trình BAILOUTS và STIMULUS lo cho Dân có công ăn việc làm. Khi THẤT NGHIỆP vẫn tăng, thì đó có nghĩa là các Chương trình BAILOUTS và STIMULUS chưa đạt được mục đích mà chính Dân đóng thuế mong ước.
Không thể chỉ lấy nguyên Chỉ số Chứng khóan để nói rằng Khủng hỏang chấm dứt. Phải theo Chỉ số THẤT NGHIỆP mà nói rằng Khủng hỏang đã chấm dứt hay chưa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.10.2009
| | | |
DOANH NHÂN THẤM NHỤC
Vài dòng của một doanh nhân Kính gởi Ban Biên Tập Bauxitevietnam,
Tôi cũng là một trong số những độc giả hàng ngày vào thăm trang mạng của Quý vị, ngày nào tôi vì lý do nào đó bận công việc mà không đọc Bauxitevietnam thì ngày đó tôi cảm thấy như thiếu thiếu cái gì đó. Thật ra tôi là một doanh nhân bình thường như các doanh nhân khác, chỉ làm kinh tế mà ít quan tâm đến chính trị. Nhưng từ khi có trang Bauxite này tôi lại theo dõi hàng ngày, xem tất cả các tin tức và ý kiến của mọi người, và ngày càng thật sự xấu hổ cho bản thân. Nhân đọc bài Tiếng nói của tuổi trẻ: thư ngỏ gởi Mẹ Nấm, chị Đoan Trang và anh Thanh Hiếu của bạn trẻ Duy Hải, tôi thấy mình như quá ích kỷ khi là một người dân Việt nam. Có thể BBT sẽ không đăng những dòng suy nghĩ này, nói thật ra tôi thì không biết văn chương mấy, chỉ lo tính toán làm kinh tế, chỉ biết làm sao kiếm lãi, bây giờ tôi mới biết mình đã quá ích kỷ khi mà hiểu được mối quan tâm của mọi người đến vấn đề môi sinh, đến an ninh của đất nước. Các bạn trẻ đã dám nói thật tiếng nói của lòng mình, và các bạn như: Mẹ Nấm, Đoan Trang, Thanh Hiếu… đã dám công khai bộc lộ những suy nghĩ chính đáng của mình, dám nói lên sự thật, dù biết rằng những gì mình nói sẽ đem lại hậu quả cho chính mình, nhưng họ vẫn cứ nói. Điều đó thật là hành động dũng cảm, tôi thật sự khâm phục họ.
Về phía tôi là doanh nhân, tuy biết nhưng không dám thổ lộ vì tôi nói riêng và các doanh nhân khác nói chung vẫn sợ ảnh hưởng đến việc kinh doanh cũa mình, nên không dám lên tiếng công khai, chỉ biết ngồi với nhau phù phiếm thôi. Nhưng nói thật là tự trong đáy lòng tôi vẫn có lòng yêu nước dâng trào đấy, khi đọc một sự kiện gì ví dụ như vấn đề khai thác Bauxite hiện nay, tôi luôn ủng hộ quý vị chống dự án khai thác thứ quặng có thể gây hiểm họa khôn lường cho đất nước về nhiều mặt ấy, hoặc vấn đề Biển Đông, hay những ý kiến phản biện các chính sách bất ổn của chế độ… thì máu trong người tôi sôi sục.
Cho nên không phải tất cả giới doanh nhân trên đất nước này đều thờ ơ trước hiện tình đất nước. Vì miếng cơm manh áo của họ và những người lao động cho họ nên họ không dám nói, nhưng tôi biết được trong họ cũng sôi sục máu yêu nước như tôi. Có đôi khi đọc các bài viết trên mạng Bauxitevietnam tôi cũng muốn có ý kiến lắm nhưng tôi đắn đo mãi không biết nên nói hay không và phải viết như thế nào, rồi cũng sợ liên lụy nữa, nhưng bây giờ tôi đã dám viết vài dòng này thổ lộ tâm tư cho vơi đi ức chế trong lòng.
Tôi biết rằng đất nước mình có rất nhiều nhân tài, sẵn sàng cống hiến cho Tổ quốc , nhung vì sống trong bối cảnh của chế độ hiện nay, nên không ai dám cống hiến gì cả, mà chỉ lo toan tính miếng cơm hàng ngày. Tôi cũng không ngạc nhiên khi các nhà trí thức của IDS tự giải thể, nó cũng không ngoài dự đoán của tôi. Trong một thể chế như hiện nay, anh không thể nào chống lại các chủ trương chính sách [sai trái] của Đảng và Nhà nước được trừ phi tất cả trí thức cùng đồng lòng, đoàn kết chống lại thì may ra, hoặc trừ phi… , đó là câu chuyện nhạy cảm và cũng là hy hữu. Có những vấn đề cũng có thể tích cực theo đuổi, chẳng hạn dùng luật của Nhà nước phản biện lại Nhà nước, tuy không đem lại kết quả như ý nhưng ảnh hưởng rất lớn và có ý nghĩa, tôi ví dụ như việc Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hiện nay đối với nhiều người, ông Cù Huy Hà Vũ là một người dũng cảm dám đi một bước táo bạo, tạo được một nét điển hình mới trong công tác phản biện bằng hành động đúng Luật.
Theo tôi nghĩ, một hành động gây tiếng vang trong dân chúng bình thường, đến tai được quần chúng rộng rãi thì sẽ có tác động lớn, chứ thật tình, chỉ phản biện bằng ngôn từ không thôi thì chỉ mới ảnhh hưởng ở một tầng lớp nào đấy, có khi rất mạnh mẽ sâu sắc, nhưng chưa thấu đến tai người dân thường được, vì tất cả mọi người dân không thể ai cũng tiếp cận được thông tin. Tôi tin Ông Hà Vũ sẽ thắng kiện. Không biết suy nghĩ của tôi có đụng chạm ai không, nếu có mong thứ lỗi vì đó chỉ là suy nghĩ của tôi
Kết thúc lá thư, tôi mong rằng trang Bauxitevietnam luôn sống mãi để còn có những ý kiến, tin tức thật sự bổ ích cho người xem. Tôi mong rằng trang này đừng bị xóa bỏ như các trang báo hay blog khác khi dám nói tiếng nói thật của mình, và thật buồn khi không còn cách gì tiếp cận với SỰ THẬT, khi cứ phải đọc những tờ báo “lề phải” chán ngắt của Bộ 4T
. NTQ HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập. http://bauxitevietn am.info/c/ 10475.html
| | | |
NÔNG DÂN VIỆT NAM ĐANG BỊ BẦN CÙNG HÓA
Nam Nguyên, đài RFA
Như một sự kiện chưa từng có, một nhà khoa học nổi tiếng đang sống ở trong nước đã công khai nhận định trên báo điện tử VietNamNet rằng, nông nghiệp nông thôn Việt Nam kém phát triển hoàn toàn là do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo. Ðó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa.
Tạo công ăn việc làm ở nông thôn đồng thời cũng giúp giải quyết được tình trạng người lao động nhập cư đổ về các thành phố lớn để kiếm sống.
Nhân vật này là Giáo Sư Viện Sĩ Ðào Thế Tuấn 78 tuổi, từng là viện trưởng Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam, ông xuất thân từ một gia đình khoa bảng, thân phụ là học giả sử gia Ðào Duy Anh. Sự kiện nổi bật gần đây nhất, ngày 25 Tháng Sáu 2009 đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, đã thay mặt chính phủ Pháp, trao tặng GSVS Ðào Thế Tuấn Huân Chương Nông Nghiệp Ðệ Nhất Hạng, là huân chương vinh danh những cá nhân có cống hiến lớn lao cho nông nghiệp.
Bài phỏng vấn do nhà báo Ðoan Trang thực hiện cho chuyên mục Tuần Việt Nam thuộc VietNamNet. Bài theo dạng hỏi đáp dài hơn 2,600 từ chứa đựng những ý kiến phê bình thẳng thắn, GSVS Ðào Thế Tuấn đã không ngần ngại nói thẳng rằng nông dân Việt Nam đang bị bần cùng hóa. Chúng tôi trích đọc nguyên văn lời ông nói:
“Nhìn từ góc độ chính trị-xã hội, nông dân Việt Nam là những người ít được hưởng lợi từ đổi mới nhất. Nông dân còn quá nghèo, ít được hưởng phúc lợi xã hội như giáo dục, y tế... thiếu việc làm ở nông thôn và buộc phải di cư ra thành phố làm thuê với giá lao động rẻ mạt.
Nông dân đang bị bần cùng hóa, và đó là nguy cơ gây bất ổn xã hội. Như ở Trung Quốc bây giờ, bạo loạn ở nông thôn xảy ra nhiều lắm, ấy là hậu quả của sự bần cùng hóa nông dân.”
Tái diễn kịch bản của Trung Quốc và Nga
Ðáp các câu hỏi khác của VietNam Net, GSVS Ðào Thế Tuấn cho rằng nước Việt Nam đang diễn lại đúng kịch bản ở Trung Quốc và Liên Xô trước kia. Theo lời ông, thế kỷ 20, Liên Xô sau khi tiến hành Cách Mạng Tháng Mười, không có nguồn lực để công nghiệp hóa nên họ buộc phải dùng nông nghiệp để làm công nghiệp. Trung Quốc từ thời Mao Trạch Ðông cũng vậy, bóc lột nông dân, vắt kiệt nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp. Và Việt Nam bây giờ đang diễn lại đúng kịch bản đó.
Nhà báo đặt ngược vấn đề là nhà nước Việt Nam không có một chủ trương nào nói rằng phải dùng nông nghiệp để nuôi công nghiệp. GSVS Ðào Thế Tuấn nhìn nhận là tuy không có chủ trương, nhưng thực tế đang cho thấy đúng như vậy. Tất cả những khẩu hiệu đẹp đẽ liên quan tới nông dân được GSVS Ðào Thế Tuấn mô tả là mị dân, đại loại những câu ‘nông dân là lực lượng cách mạng’, ‘phải biết ơn nông dân’, ‘phải ưu tiên phát triển hợp lý nông nghiệp’.
GSVS Ðào Thế Tuấn nhấn mạnh, trên thực tế nông nghiệp đang bị lép vế, nông dân thua thiệt đủ bề. Ðó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa. Nói cách khác, việc nông thôn, nông nghiệp Việt Nam bây giờ kém phát triển hoàn toàn do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo mà thôi.
Chúng tôi nêu câu hỏi này với T.S. Ðặng Kim Sơn, viện trưởng Viện Chính Sách và Chiến Lược Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn. Từ Hà Nội ông nhận định:
“Quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam có phải là một quá trình bóc lột nông dân hay không, thì tôi nghĩ là không phải như thế. Thực ra mà nói, nếu không có sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn vừa qua, thì không những không thể nào phát triển công nghiệp hóa được và quá trình đổi mới ở Việt Nam không diễn ra một cách tốt đẹp như thế này. Trong thời gian vừa qua tỷ lệ đói nghèo ở nông thôn giảm xuống hơn ba lần và thu nhập của cư dân nông thôn tăng lên khoảng ba lần. Ðây là mức thay đổi mà ít có nước nào trên thế giới có thể đạt được trừ Trung Quốc. Thế thì có thể nói đây là một thành tựu, nếu nói là Việt Nam trong thời gian ba mươi năm đổi mới vừa qua cái gì là nổi bật, thì phải nói là nông nghiệp phát triển là thành tựu, một trong những thành tựu nhiều nhất là trước khi đổi mới Việt Nam nhập mỗi năm từ 0.8 tới hơn 1 triệu tấn lương thực, thì đến nay Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Năm nay thậm chí xuất kỷ lục có thể xuất 6 triệu tấn gạo. Thế thì đây là cái thành tựu không thể chối cãi được, hay là tỷ lệ giảm đói nghèo mỗi năm 2% là một mức độ rất kỳ diệu. Vì thế không thể nói rằng nông nghiệp nông thôn bị bóc lột hay là nông dân bị bần cùng hóa.”
Thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm
Ngoài những nhận định có thể gây sốc cho các giới chức nhà nước, GSVS Ðào Thế Tuấn lại không đi theo trào lưu đề cao tăng hạn điền hoặc tái lập quyền tư hữu đất đai. Ông cho rằng mất đất nông nghiệp là do quản lý tồi, tăng hạn điền chỉ tạo điều kiện cho đầu cơ phát triển thêm, trong khi nhiều chuyên gia kinh tế cũng như nông nghiệp kêu gọi có cải cách về sở hữu ruộng đất.
Trở lại bài báo trên VietNamNet, GSVS Ðào Thế Tuấn cho rằng, vấn đề lớn của nông dân Việt Nam hiện nay là thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm. Khoảng cách thu nhập, chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị là rất lớn. Nông dân ở nông thôn không được tiếp cận rộng rãi với giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, không có tích lũy. Nhà có người ốm đi viện một lần là của cải mất hết, trắng tay. Thêm một đứa con đi học xa, học lên cao là cả nhà lao đao.
Ðối với vấn đề vừa nêu, T.S. Ðặng Kim Sơn đưa ra nhận định của ông:
“Chuyện nông nghiệp và nông thôn bị bần cùng hóa đã diễn ra ở các nước ngay cả các nước công nghiệp phát triển ở Âu Mỹ trong giai đoạn công nghiệp hóa đẩy mạnh, nhưng tình hình đó không diễn ra ở nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên phải nói rằng cái mà nông dân được hưởng, nông nghiệp được đầu tư chưa tương xứng với mức độ đóng góp của người nông dân, mức độ phấn đấu hy sinh của người nông dân cũng như thành tích mà nông nghiệp đem lại. Ðầu tư công cho nông nghiệp là thấp, đầu tư của toàn xã hội cho nông nghiệp là thấp. Mức tăng trưởng đời sống của nông dân rất cao, nhưng so với mức tăng trưởng của đời sống của người dân ở đô thị thì hiện nay khoảng cách của thu nhập trung bình của cư dân nông thôn chỉ bằng một nửa của đô thị. Tất nhiên so với nhiều quốc gia kể cả Trung Quốc thì đây là một thành tích đáng tự hào, nhưng rõ ràng là người Việt Nam không phấn khởi với mức chênh lệch này. Thế thì điều có thể nói là chúng ta phải tiếp tục thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn với đô thị, phải tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cho phát triển nông nghiệp. Nói như thế thì hợp lý hơn, chứ còn nói thời gian vừa qua là bóc lột, là bần cùng hóa nông thôn nông nghiệp thì chúng tôi nghĩ rằng nói như thế là không công bằng.”
Phần cuối cuộc phỏng vấn trên VietNamNet, GSVS Ðào Thế Tuấn kết luận rằng, điều quan trọng cần làm ngay ở nông thôn bây giờ là xây dựng xã hội dân sự. Theo ông, ngày xưa ở Việt Nam đã có cộng đồng làng xã, thôn xóm, đại diện là những lý trưởng xã trưởng. Bây giờ thì chỉ còn mấy ông bà cán bộ, ông bí thư, chủ tịch xã, bà tổ trưởng phụ nữ. Người dân chẳng được tham gia gì cả. Theo GSVS Ðào Thế Tuấn, cần phải hướng dẫn, phải tạo cơ chế để giúp nông dân tổ chức lại được với nhau, xây dựng các doanh nghiệp xã hội. Nhà nước không thu thuế đối với họ, dĩ nhiên họ cũng có một mức lãi nào đó. Nhưng về bản chất, họ là một hệ thống các tổ chức chăm lo phát triển xã hội. Hệ thống đó là một phần của xã hội dân sự.
| | | |
***************************** TOÀN DÂN DIỆT LŨ BÁN NƯỚC,********************************* ĐUỔI QUÂN XÂM LĂNG *******************************************************************************************************
NHÌN GƯƠNG TỔ TIÊN
NHỮNG LỜI NHẮN GỬI CON CHÁU
Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :
“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“ (Trần Nhân Tôn)
Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN đã viết để cảnh cáo những người có trách nhiệm mà phản bội cần phải loại trừ
“Nay các ngươi... trông thấy quốc sỉ mà không |
|
|
|