*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.379/27.11.08
=>So/No.378/20.11.08
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>So/No.377/13.11.08
=>So/No.376/06.11.08
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 



 =========================           =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


===============================================================
VietTUDAN ---------------------------------------------------------------THOI SU/THONG TIN
===============================================================


============== CHÚ THÍCH ĐẦU: LƯU TRỮ NHỮNG BÀI ================

Trong Phần Phổ Biến Mỗi Ngày hoặc trong mỗi số VietTUDAN hàng Tuần, có những Bài muốn giữ lại lâu hơn nữa trong DIỄN ĐÀN này, chúng tôi sẽ chuyển sang Phần Lưu Trữ Tổng Quát hoặc sang các Phần có những Chủ Đề dưới đây:
   
                      *   VietTUDAN -- chu de Ton Giao/ subject Religion :
                                                CONG SAN & TON GIAO   
                                                CSVN & TON GIAO                         
                                                NHUNG VU DAN AP  
                                                PHAP LENH TON GIAO                                              
                                                NGOM GIAO GIAN        
                      *   VietTUDAN -- chu de Kinh Te/ subject Economy                
                                                THAT BAI KINH TE CHI HUY   
                                                TUONG QUAN KT/CHINH TRI        
                                                DOC TAI & THAM NHUNG         
                                                KT. TU DO THI TRUONG     
                                                WTO & NGOAI THUONG   
                                                TU HUU & DAN CHU             
                                                CACH MANG VO SAN MOI     
                      *   VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics   
                                                SUP DO THE GIOI CS              
                                                KET AN CS TAN NHAN    
                                                HO CHI MINH & CSVN     
                                                HO SO TOI AC CSVN        
                                                CA NHAN & CHINH TRI           
                                                THE CHE TU DO/DAN CHU    
                                                DAN CHU PHAP TRI       
                      *   VietTUDAN -- luu tru/ archives    

                (Xin xem cuối trang để biết bài giữ lại được chuyển vào Phần nào)
 
===============================================================
 
                               NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:


                                       HÒA GIẢI HOÀ HỢP ĐÍCH THỰC
                                      VÀ HÒA GIẢI HÒA HỢP TRÁ HÌNH



                                            Gioan NGUYỄN PHÚC LIÊN
                                Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
                                                        23.10.2008




Mỗi tuần,chúng tôi có bài QUAN ĐIỂM. Nhưng những bài quan điểm này thường được viết liên tục ý tưởng theo loạt bài Chủ đề kéo dài trong nhiều tuần. Những bài quan điểm bầy tỏ Lập trường của VietTUDAN có tính cách dài hạn. Tuy nhiên mỗi tuần, có những sự việc xẩy ra mang tính cách thời sự mà chúng tôi muốn đưa ra những NHẬN ĐỊNH mang tính cách ngắn hạn theo thời sự. Chính vì vậy mà chúng tôi mở thêm đề mục NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ để bầy tỏ lập trường đối với những biến cố xẩy ra mỗi tuần

Vấn đề được thảo luận trên các Diễn Đàn hơn một tháng nay là chung quanh Oâng NGUYỄN CHÍ THIỆN với những câu hỏi như sau:

1) Oâng Nguyễn Chí Thiện đang sống ở Mỹ có phải là Oâng Nguyễn Chí Thiện THẬT hay không ?

2) Nếu đúng là Oâng Nguyễn Chí Thiện THẬT, thì Oâng có phải là đích thực TÁC GIẢ của Tập Thơ Vô Đề triệt để chống Cộng hay không ?

3) Qua những tuyên bố của Oâng Nguyễn Chí Thiện, nếu Oâng là THẬT và nếu chính Oâng là TÁC GIẢ của Tập Thơ Vô Đề, người ta lại thấy rằng Oâng tỏ ra có khuynh hướng chủ trương HÒA GIẢI HÒA HỢP, không giống với tinh thần chống Cộng triệt để theo nội dung của Tập Thơ Vô Đề.

Đối với tôi, hai câu hỏi số 1 và số 2 không phải là vấn đề Thời sự. Tôi không động chạm đến hai vấn đề của câu hỏi 1 và 2. Thực vậy Thời sự đối với tôi là cuộc đấu tranh của Dân chúng Việt Nam đang lớn mạnh tại Quê Hương mà CSVN đang phải điên cái đầu không những chỉ nguyên về cuộc đấu tranh đang lớn mạnh mà còn về sự tụt dốc của Kinh tế giữa khung cảnh Khủng hoảng Tài chánh Thế giới.

Tại sao câu hỏi số 3 về HÒA GIẢI HÒA HỢP lại là Thời sự cho tôi. Cái lý do là nó liên hệ đến cuộc đấu tranh đang đi lên quyết liệt của Dân chúng.

Tôi phân biệt hai loại HÒA GIẢI HÒA HỢP như sau:

=> HOÀ GIẢI HÒA HỢP đích thực 

Việc Hòa Giải Hòa Hợp hay không là tại Quốc Nội, giữa một bên là DÂN CHÚNG VIỆT NAM không có CÔNG LÝ, không có sự tôn trọng về NHÂN QUYỀN, bị cướp bóc TÀI SẢN bất công, và một bên là đảng CSVN xử dụng bạo lực để làm BẤT CÔNG, để chà đạp NHÂN QUYỀN và tước đoạt TÀI SẢN của DÂN CHÚNG. Việc Hòa Giải Hòa Hợp như vậy là giữa DÂN CHÚNG QUỐC NỘI và đảng CSVN độc tài cai trị. Cuộc HÒA GIẢI HÒA HỢP đích thực là Xã hội có CÔNG LÝ, con người được tôn trọng về NHÂN QUYỀN và TÀI SẢN của Dân được trả lại.

=> HÒA GIẢI HÒA HỢP trá hình

Nếu chỉ có một số người làm Chính trị ở nước ngoài nói chuyện Hòa Giải Hòa Hợp với đảng CSVN, thì đó chỉ là loại HÒA GIẢI HÒA HỢP trá hình. Vì những lý do sau đây mà tôi gọi kiểu Hòa Giải Hòa Hợp này là trá hình:

* Một số người làm Chính trị đang nằm tại nước ngoài không đại diện cho Dân chúng Việt Nam Quốc nội gồm 85 triệu người. Họ nêu ra Hòa Giải Hòa Hợp là chỉ muốn ngồi chung với CSVN để mong CSVN chia cho mẩu bánh rơi rụng. Đây là việc mong chia quyền hành cai trị chung với CSVN mà thôi. Người Dân quốc nội không muốn loại Hòa Giải Hòa Hợp chia phần cai trị của giới Chính trị trên đầu họ.

* Đảng CSVN cũng muốn xử dụng một số những thành phần Chính trị ở ngoại quốc muốn nhẩy bàn độc để làm cái bung xung, đỡ đạn cho chúng để chúng tiếp tục duy trì quyền cai trị độc tài dài thêm nữa. 

Tóm lại, một số người làm Chính trị tại nước ngoài mong nhẩy bàn độc, muốn xử dụng bốn chữ HÒA GIẢI HÒA HỢP để mong chia được chút bánh rơi rụng. Trong khi đó, CSVN cũng muốn núp dưới những chữ HOÀ GIẢI HOÀ HỢP, xử dụng số người Chính trị xôi thịt kia làm bung xung, lá chắn, để tiếp tục kéo dài quyền cai trị độc tài của CSVN. Đây là loại HÒA GIẢI HÒA HỢP trá hình.

Cái loại kêu gọi HÒA GIẢI HÒA HỢP trá hình này chắc chắn không đi đến đâu. Tuy nhiên tôi coi nó quan trọng bởi vì tính cách PHẢN BỘI TỘI LỖI của nó (Trahison Criminelle). Thực vậy, trong lúc Dân chúng đang cam go đấu tranh, bị đánh đập, bị tù tội trong mục đích HÒA GIẢI HÒA HỢP đích thực, thì tại nước ngoài này một số Chính khách xôi thịt lại tung ra HÒA GIẢI HÒA HỢP trá hình làm lung lay tinh thần đấu tranh tại Quê Hương, giúp cho CSVN kéo dài việc cai trị độc tài. Như vậy những Chính khách xôi thị này đã cấu kết với CSVN, phản bội lại DÂN CHÚNG đang cực nhọc đấu tranh tại Quê Hương. Đây là hành động PHẢN BỘI TỘI LỖI (Trahison Criminelle) đối với DÂN CHÚNG QUỐC NỘI vậy.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 
 




HẬU QUẢ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH THẾ GIỚI
CHO TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
21.10.2008



Mục đích của chúng tôi khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 của Á châu và nhất là theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh hiện nay của Thế giới là để: (i) phân tích tình trạng bấp bênh phát triển Kinh tế tại Việt Nam theo mẫu Trung quốc; (ii) xem hậu quả của của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay 2007/08 lên hai nước Cộng sản này như thế nào.


Bối cảnh hệ thống Ngân Hàng
Tại Trung quốc và Việt Nam

Vào những năm 1997, những nước bắt đầu phát triển tại Á châu có một hệ thống Ngân Hàng luộm thuộm, quyết định tài chánh mang tính gia đình hay quyền lực Chính trị. Khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF/FMI) lập Plan Bailout cho những nước bị Khung hoảng 1997, IMF đòi buộc những nước này trước tiên là phải chỉnh đốn lại hệ thống Ngân Hàng, đặt Cơ quan kiểm soát độc lập đối với các Ngân Hàng.

Đối với Trung quốc và Việt Nam ngày nay, trong lúc hai nước này ca ngợi độ phát triển Kinh tế cao của họ, thì người ta cũng quan sát thấy tính cách luộm thuộm của hệ thống Ngân Hàng hai nước và những quyết định Tín dụng Ngân Hàng bị ảnh hưởng trầm trọng bởi liên hệ gia đình, phe nhóm băng đảng chính trị.

Tại Trung quốc, Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “... un système bancaire national perchus de mauvais crédits... “(LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (... một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15).

Tại Việt Nam, chính Nguyễn Tấn Dũng đã phải than lên rằng có những Ngân Hàng đã lấy vốn ngắn hạn để đầu tư cho những dụ án dài hạn.
 
Ký giả Gia Huy đã viết đãng trong VietNamNet ngày 09.10.2008 như sau:”Bức tranh kinh tế xã hội 2008 có nhiều biến động đã bộc lộ thực tại đời sống ngân hàng từ quản lý vĩ mô đến việc quản trị điều hành, việc thực thi chiến lược quản lý tiền tệ cũng như các kế hoạch kinh doanh và hàng loạt các vấn đề liên quan khác. Chính sách tiền tệ quốc gia và kinh doanh tài chính ngân hàng còn nhiều bất cập. Khi có biến cố thị trường tất cả đều bị động chạy theo. Công cụ và kiểm soát quản trị rủi ro có không ít vấn đề.”

Cái bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng tại Việt Nam và Trung quốc cũng có những điểm giống năm 1997 tại những quốc gia bị Khủng hoảng Tài chánh trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn mà chính IMF/FMI đòi đỏi phãi cải tổ như một điều kiện được hưởng Plan Bailout của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.

Một bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh như vậy tự nó là nguồn Khủng hoảng cho Tài chánh/ Kinh tế cho một nước theo như phân tích của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng hoảng Á châu năm 1997.

Và trước cuộc Khủng hoảng Thế giới hiện nay về Ngân Hàng/Tái chánh, hai nước Trung quốc, Việt Nam, với bối cảnh Ngân Hàng/Tài chánh luộm thuộm lúc này, không thể chống đỡ lại tầm ảnh hưởng Tài chánh đang diễn ra trên Thế giới.

Chúng tôi nhìn tầm ảnh hưởng Tài chánh Thế giới dưới ba góc cạnh: (i) về Vốn nước ngoài; (ii) về Giảm sút độ tăng trưởng Kinh tế; (iii) về Xáo trộn xã hội ảnh hưởng lên Chính trị.

Với hạn hẹp của bài viết và với những dữ kiện chưa dồi dào ở bước đầu của tầm ảnh hưởng, chúng tôi chỉ phác họa tổng quát hướng đi của tầm ảnh hưởng. Chúng tôi sẽ viết tiếp tục để khai triển thêm theo với thời gian và theo những dữ kiện từ từ thu lượm.


Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Vốn nước ngoài

Trung Cộng và Việt Nam chủ trương Chính trị độc tài độc đảng và chế độ Chính trị ấy nắm độc quyền Kinh tế. Ở hai nước, Lao động bị kềm chế ở mức lương thấp. Nhiều những bài báo cáo Quốc tế đã viết về Lao động tại hai nước như một sự khai thác Nhân lực bất chấp Nhân quyền. Tại Trung quốc, nhân công từ những vùng nghèo khổ nội địa kéo về các tỉnh công nghệ ven biển  và làm việc cực nhọc như những đàn súc vật. Tại Việt Nam, đồng quê bị bỏ rơi, nông dân về những khu chế xuất công nghệ làm việc trong những điều kiện tồi tệ.

Các Công ty Liên quốc nước ngoài (Le Multinationales Etrangeres), trong chủ trương quản trị Chi tiêu cho xí nghiệp (Gestion des Charges de l’Entreprise) đã tìm đến hai nước này để khai thác nhân công rẻ với sự đồng ý và phụ lực khai thác của một chính thể độc tài độc đảng khóa miệng nhân công.

Vốn nước ngoài đổ vào hai nước này để mở xưởng chế xuất hàng hóa không phải là Vốn Đầu tư lâu dài cho hai nước, mà là Vốn ngắn hạn khai thác nhân lực nhằm sản xuất hàng hóa rẻ mạt xuất khẩu sang những nước đã Kỹ nghệ hóa để bán với giá cao.

Với cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay, hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh tại những nước đã Kỷ nghệ hóa như Mỹ và Liên Aâu rơi vào tình trạng thiếu Vốn. Trong tình trạng này, họ có thể cắt xuống hoạc rút Vốn ra từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam. Có những Dự án đã ký kết, nhưng có thể không được giải ngân vì tình trạng thiếu Vốn.

Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho vấn đề Vốn ở Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence...”. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng Jonathan MANTHORPE, Vancouver Sun 13/10/08, đã nhận xét: “Nhưng các vấn đề của các quốc gia đang phát triển còn tuỳ thuộc vào sự phát triển đầu tư và các thị trường trong quỹ đạo kinh tế toàn cầu chuyển động chung quanh Hoa Ky.“ø

Trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, ngày 15.10.2008, dưới đầu đề CHINA DRAWS LESS CAPITAL, Ký giả Andrew BATSON đã viết: ”Capital flows into China have slowed sharply and even reversed in recent months, according to official data that show how the financial crisis has disheartened investors and disrupted banks in this fast-growing nation” (page 4) (“Trào lưu Vốn chảy vào Trung quốc đã chậm lại mạnh and ngay cả chảy ngược lại trong những tháng gần đây, theo những dữ kiện cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chánh đã làm mất can đảm những nhà đầu tư và đã làm ngưng trệ các ngân hàng trong cái nước đang phát triển mau lẹ này.” (trang 4)

Đối với Trung quốc, tình trạng Vốn nước ngoài đã như vậy, huống chi đối với Việt Nam. Việt Nam còn bị thiếu vốn trầm trọng hơn Trung quốc vì nguồn Vốn nọi địa yếu kém hơn Trung quốc.


Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Độ Tăng trưởng Kinh tế.

Tại những nước đã Kỹ nghệ hóa, các Chính phủ đang lo ngại tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực làm cho đà Tăng trưởng giảm xuống trong những năm tới.

Ba lý do chính cát nghĩa tầm ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đối với Lãnh vực Kinh tế thực tại Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm Độ tăng trưởng Kinh tế tại hai nước này:

=> Lý do thứ nhất: Khi nguồn Vốn nước ngoài giảm thiểu và nguồn Vốn nội địa không đủ, thì tất nhiên một số Công ty không trường vốn sẽ bị phá sản. Tại Liên Aâu và Hoa kỳ, những Công ty có nguồn vốn nội địa và những Công ty này đã tạo trong nhiều năm rồi số vốn riêng của họ tích lũy (Cumulation des Fonds propres) để có độc lập về Tài chánh (Autonomie Financìere), nhưng tại những nước mới bắt đầu phát triển, những Công ty lệ thuộc vào Thị trường Tài chánh mang tính cách bấp bênh.

=> Lý do thứ hai: Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới làm cho các nước Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước trong vùng Á châu giảm thiểu việc mua hàng mà trước đây Trung quốc và Việt Nam vẫn cung cấp cho họ: những linh kiện cho Kỹ nghệ hay những hàng thường dùng cho dân chúng. Nên lưu ý rằng việc chế xuất hàng hóa từ Trung quốc hay Việt Nam là để cung cấp cho nước ngoài tới 70%. Việc giảm thiểu mua hàng này từ những nước đã Kỹ nghệ hóa tất nhiên làm ngưng trệ Kinh tế Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm độ Tăng trưởng Kinh tế.

=> Lý do thứ ba: Sau những cuộc Khủng hoảng, những Quốc gia dù có chủ trương Tự do Mậu dịch mấy đi nữa, cũng dễ có khuynh hướng Che chở (Protectionnisme) cho những Công ty quốc gia mình tại nội địa. Tại cuộc họp thượng đỉnh giữa Liên Aâu và Canada, dưới đầu đề A QUEBEC, MR.SARKOZY MET EN GARDE CONTRE LE PROTECTONNISME, Báo LE MONDE ngày Thứ Hai 20.10.2008 đã viết như sau: “Derrìere la crise bancaire, le spectre du protectionnisme qui hanta les années 1930. Avant de rencontrer, Samedi 18 Octobre, le président américain George BUSH dans sa résidence de Camp David, Nicolas SARKOZY, président en exercice de l’Union Européenne (UE), et le président de la Commission, José Manuel BARROSO, ont lancé vendredi, depuis Québec, un appel contre la fermeture des frontìeres.” (Đàng sau cuộc khủng hoảng tài chánh, con quỉ Che Chở (Protectionnisme) đã hiện về trong những năm 1930. Trước khi gặp, Thứ Bảy 18.10, Tổng thống Mỹ George BUSH ở Camp David, Nicolas SARKOZY, Chủ tịch đương nhiệm của Liên Aâu, và Oâng Chủ tịch Uûy Ban Liên Aâu, đồng kêu gọi hôm Thứ Sáu, từ Québec, chống lại việc đóng các biên giới.).

Dù không công khai tuyên bố Che Chở, nhưng các nước áp dụng những Biện Pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để hạn chế nhập khẩu. Trong trường hợp Che Chở, hay những Biện pháp không giá biểu, thì Trung quốc và Việt Nam điều bị thiệt hại vì hai nước này làm việc cho xuất cảng.

Thứ Hai 20.10.2008, Trung quốc công khai cho biết rằng độ tăng trưởng Kinh tế của họ từ 11% xuống tới 9% trong Tam Cá Nguyệt thứ ba của năm nay.

Trong Tờ FINANCIAL TIMES, thứ Hai 20.10.2008, Ký giả Geoff DYER tại Bắc Kinh còn trích lời Oâng HA Jiming, Kinh tế trưởng của China International Capital Corporation ỡ Bắc Kinh, tiên đoán rằng độ tăng trưởng Kinh tế Trung công có thể thụt xuống 7.3% (Ha Jiming, Chief Economist at China International Capital Corporation in Beijing, predicts that growth will fall to 7.3 per cent.)

Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe Thứ Hai 20.10.2008 loan tin về tình trạng một số khá nhiều Công ty tại Trung quốc sẽ phá sản. Đặc biệt tờ báo còn loan tin sự phá sản của Công ty sản xuất đồ chơi với 6’500 nhân công làm việc.

Tờ FINANCIAL TIMES hôm nay Thứ Ba 21.10.2008 cho chạy tít lớn ở trang nhất: CHINA GROWTH SLOWS SHARPLY. Cũng vậy, Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm nay thứ Ba cũng đăng bài dài về sự xuống dốc của Kinh tế Trung Cộng với đầu đề THE WORLD FEELS CHINA’S DECLINING GROWTH.

Việt Nam, cùng một thể chế Chính trị với Trung Cộng, cùng một hệ thống Kinh tế làm việc cho xuất cảng, tất nhiên chịu cùng những hậu quả của cuộc Khủng hoảng Tài chánh như tại Trung quốc. Chính Báo Việt Nam đã loan tin tình trạng phá sản tới 20% các Công ty.

Jonathan Manthorpe, Vancouver Sun 13/10/08, đã viết: “Ông Dũng đã giảm bớt sự ước lượng mức tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa trong năm nay xuống còn 7% từ mục tiêu ban đầu là 9%. Nhưng ít nhà kinh tế tin rằng mục tiêu đó thực tế vì mức tăng trưởng chỉ có 6.5% trong 9 tháng đầu năm và triển vọng cho những tháng còn lại thì thậm chí còn tối tăm ảm đạm hơn“.


Aûnh hưởng gián tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Xã Hội và Chính trị.

Tình trạng Kinh tế xuống dốc tất nhiên ảnh hưởng tới những vấn đề Xã hội và Chính trị mà hai đảng Cộng sản Trung quốc và Việt Nam phải lo lắng.

Giáo sư TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng. Tại Việt Nam, nhân công cũng từ thôn quê miền Nam, từ những tỉnh miền Trung nghèo khổ và từ những tỉnh miền Bắc kéo về Thủ đô. Khi họ bị sa thải, làm thế nào đẩy họ tở về nguyên quán.

Để giải quyết vấn đề này, Trung ương đảng CS Trung quốc đã họp kín 4 ngày trong tuần vừa rồi. Ký giả GILLIAN WONG, Associated Press Writer Gillian Wong, Associated Press Writer – Sun Oct 12, 11:20 am ET AP, đã viết: “BEIJING – China's ruling Communist Party on Sunday said it would seek to expand its massive internal market to counter the global economic slowdown that has reduced international demand for Chinese goods. The party, led by President Hu Jintao, released a statement at the end of a four-day meeting of its Central Committee where it also approved a plan aimed at doubling rural incomes by 2020.”(Bắc Kinh—Ban Điều hành đảng Cộng sản Trung quốc nói là Trung quốc tìm cách khai triển thị trường nội địa kếch xù của họ để bù trừ vào việc đình trệ của kinh tế tổng quát đã giảm thiểu việc đặt mua hàng của quốc tế đối với hàng hóa Trung quốc. Đảng, lãnh đạo bởi Chủ tịch HU JINTAO, tuyên bố sau 4 ngày họp của Trung ương đảng rằng đảng đã chấp nhận một chương trình nhằm tăng gấp đôi thu hoạch nông thôn vào khoảng năm 2020.”

Đây là chương trình không dễ thực hiện và rất tốn kém bởi vì trong nội địa Trung quốc, phải mất tối thiểu 20 năm nữa mới có thể có một hệ thống đường sá khả dĩ hỗ trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.

Tại Việt Nam, vì quá hồ hởi với việc công nghệ hóa, nên đảng CSVN đã hầu như bỏ quên nông thôn. Đây là điều vô cùng đáng tiếc bởi vì Việt Nam có căn bản địa lý đồng bằng để phát triển mau chóng nông nghiệp.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế










THỊ TRƯỜNG TÀI CHÁNH VN MỜ ÁM

Thị trường tài chính VN: Hiện trạng, Phát triển và Thách thức
Thiện Giao, phóng viên đài RFA
2008-10-21



Trong hai ngày 17 và 18 tháng 10 vừa qua, một phái đoàn gồm các giáo sư đại học và chuyên viên nghiên cứu, từ Hà Nội đã sang tham dự một buổi hội thảo tại đại học Princeton, Hoa Kỳ. Chủ đề buổi hội thảo là “Việt Nam – Đông Á Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hoá.”

Lạm phát gia tăng, xuất khẩu giảm sút cùng với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, Việt Nam phải hạ giảm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của năm 2008.

Một phần trong buổi hội thảo bàn về các thách thức cho thị trường tài chánh Việt Nam. Biên tập viên Thiện Giao có mặt tại buổi hội thảo và trình bày một số ghi nhận sau đây.

Nhiều thách thức

Thị trường tài chánh Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá đang đối mặt với nhiều thách thức, ngoại vi cũng như nội tại, cần được giám sát kỹ hơn trong một chính sách minh bạch hơn, đó là nội dung chính trong số nhiều ý kiến được nêu ra tại buổi hội thảo vừa đề cập.

Diễn giả chính của buổi hội thảo, tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Kinh Tế, thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội, nhận định, rằng “thị trường tài chánh Việt Nam đặt nền tảng trên hệ thống ngân hàng,” phát triển nhanh, nhưng phần vốn Nhà Nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn.

Ông nói: “Hệ thống ngân hàng Việt Nam cung cấp hơn 20% vốn cho toàn bộ lượng đầu tư xã hội trong nền kinh tế Việt Nam. Số lượng ngân hàng hoạt động tăng rất nhanh, từ 9 đơn vị trong năm 1991, tăng lên đến con số 80 trong năm 2008.”

Mặc dầu phát triển nhanh, tính chất của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn mang tính quốc doanh, vì tỷ lệ ngân hàng có vốn nhà nước hoặc do nhà nước làm chủ, vẫn chiếm đa số.

Tiến sĩ Sơn cho biết, rằng mặc dầu phát triển nhanh, tính chất của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn mang tính quốc doanh, vì tỷ lệ ngân hàng có vốn nhà nước hoặc do nhà nước làm chủ, vẫn chiếm đa số.

Cho đến nay, mặc dầu Nhà Nước Việt Nam chỉ làm chủ 6 ngân hàng, nhưng số vốn thuộc Nhà Nước trong toàn bộ hệ thống lại chiếm đến hơn 67%.

Nếu tính trong khu vực ngân hàng cổ phần, thì phần lớn trong số 34 ngân hàng loại này đều do Nhà Nước thành lập hoặc cung cấp vốn.

Trong số những thách thức mà hệ thống ngân hàng và thị trường tài chánh phải đối mặt trong bối cảnh toàn cầu hoá, câu hỏi được đặt ra, là tính minh bạch và vai trò của Nhà Nước trong thị trường này.

Nhà nước và Thị trường

Tham gia đóng góp ý kiến tại buổi hội thảo, tiến sĩ Regina M. Abrami, giáo sư môn Khoa Học Chính Trị, Khoa Quản Trị Kinh Doanh thuộc đại học Harvard, nói rằng vai trò của Nhà Nước trong thị trường không được phân định rõ ràng.

Câu hỏi đặt ra, là Nhà Nước đóng vai trò giám sát hay vai trò cổ đông góp vốn? Từ câu hỏi này, người ta đặt lại vấn đề của tính minh bạch. Ví dụ cụ thể là Tổng Công Ty Đầu Tư Vốn Nhà Nước, SCIC. Trong khi SCIC có nhiệm vụ mua lại càng nhiều càng tốt các công ty quốc doanh, thì trong một nghĩa nào đó, Tổng Công Ty này đóng cả hai vai trò, vừa là người giám sát, vừa là người góp vốn.

Đồng bạc VN mất giá so với đồng đôla, nhiều ngân hàng thương mại đã liên tục tăng lãi xuất để thu hút vốn.

Hiện nay, SCIC có trong danh mục của mình hơn 900 công ty con, thuộc Nhà Nước, và khoảng 200 tỷ đồng tài sản.

Giáo sư Abrami, một chuyên gia về Việt Nam và Trung Quốc, nhận xét, rằng: “Trong khi Việt Nam thúc đẩy tính minh bạch cùng quá trình giám sát các cơ chế tài chánh, thì Nhà Nước đã thực hiện nhiều cách thức làm phát sinh sự phức tạp.”

Theo thông tin mà tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn cho biết, thì hệ thống ngân hàng, vai trò “cột sống” của thị trường tài chánh Việt Nam, “phát triển nhanh” trong “môi trường thiếu tính cạnh tranh.”

Bên cạnh đó, tỷ trọng tài sản của ngân hàng (equity capital) vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực. Chẳng hạn, Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn với qui mô lớn nhất Việt Nam, chỉ có tỷ trọng tài sản vào khoảng 600 triệu đô la.

Kết quả của tiến trình niêm yết các công ty nhà nước sẽ là yếu tố duy trì niềm tin của giới đầu tư vào Việt Nam.

Chính sách tiền tệ?

Cũng tham gia trong buổi hội thảo, ông Raymond Burghard, nguyên Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2004, hiện đang là Giám Đốc Indochina Capital Corporation, thì cho rằng quyền kiểm soát của Nhà Nước là một trong những trở ngại.

Ông nói: “Tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà Nước còn chậm. Một số công ty lớn, nằm trong kế hoạch cổ phần hoá, nay cũng chưa được thực hiện. Một trong các lý do chính là “sự duy trì quyền kiểm soát của chính quyền, tức là vấn đề quản trị, liên quan đến sự quản trị mang tính chính trị.”

Ông Burghard cũng tiên đoán, rằng kết quả của tiến trình niêm yết các công ty nhà nước sẽ là yếu tố duy trì niềm tin của giới đầu tư vào Việt Nam. Ông nói, rằng đây là “vấn đề của sự tín nhiệm, tín nhiệm vào khả năng của chính phủ dung hoà quyền lợi mọi phía tham gia, trong thời gian lâu dài.”

Sự kéo dài thời gian cổ phần hoá các ngân hàng thương mại quốc doanh tạo nên nhiều ảnh hưởng tiêu cực trong hoạt động của ngành ngân hàng.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn cũng đưa ra nhận định, mà ông cho là một đặc tính của thị trường này: hệ thống ngân hàng tại Việt Nam được giám sát bởi Ngân Hàng Nhà Nước, một thực thể không có sự độc lập đối với chính phủ.

Vẫn theo tiến sĩ Sơn, thì các khu vực ngân hàng khác nhau có giới khách hàng khác nhau. Chẳng hạn, khách hàng của ngân hàng do nhà nước làm chủ là các doanh nghiệp nhà nước, công ty tư có qui mô lớn, và khu vực nông nghiệp. Trong khi khách hàng của các ngân hàng cổ phần là các công ty tư nhân nhỏ và vừa.

Trong khi đó, khu vực đầu tư ngoại quốc và một số công ty tài chánh thì quan hệ kinh doanh với các ngân hàng ngoại quốc.

Một thực tế cũng tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn nêu ra tại buổi hội thảo, là chính sách dùng tiến đồng mua lại ngoại tệ trước áp lực của vốn đầu tư từ nước ngoài đã góp phần làm tăng lạm phát.

Để đối phó với tình trạng giá cả tăng cao, các chính sách thắt chặt tiền tệ được áp dụng đã đẩy lãi suất tăng vọt, “tác động nghiêm trọng đến khoảng 20% doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có một nửa đối mặt với tình trạng phá sản.”





                             TÀI CHÁNH THẾ GIỚI: NIỀM HY VỌNG



                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                    Web: http://vietTUDAN.net/
                                           Chiều 14.10.2008


NỘI DUNG GỒM NHỮNG BÀI:

@ THỤY SĨ: YÊN LẶNG LÀ VÀNG
@ THỨ HAI XANH 13.10.2008: EUROPEAN PLANS BAILOUTS EURO.1300 TỈ 
@ SÁNG THỨ NĂM 09.10.2008: XIẾT CỔ NGÂN HÀNG VÀ TRỢ LỰC KINH TẾ
@ THỨ TƯ 08.10.2008: KINH TẾ CHẮC TRONG TSUMANI TÀI CHÁNH
@ THỨ HAI 06.10 VÀ THỨ BA 07.10.2008 ĐEN CHO Á VÀ ÂU CHÂU
@ HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC
@ US CONGRESS  VÀ PLAN BAILOUT $700 TỈ 
@ US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH
@ WALL STREET: BA NGÀY PHÁ SẢN NGÂN HÀNG
@ THẾ CHẤP ĐỊA ỐC NGUY HIỂM
@ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH  HOA KỲ BẮT ĐẦU TỪ 2007


Để có thể phát triển BỀN VỮNG và LÂU DÀI, phải có ĐỘT BIẾN đến từ đại đa số quần chúng có CAN ĐẢM đứng lên đối chọi với một thể chế Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế như ở Việt Nam hiện nay. Cái lòng CAN ĐẢM của quần chúng đến từ:

=> Một là từ Lòng Tin Tôn Giáo khi mà lòng tin ấy bị bạo lực đàn áp. Trường hợp này đang xẩy ra với khởi đầu là Xứ Thái Hà và Tòa Khâm sứ. Cái lầm lẫn của CSVN là đã vu khống, đã xử dụng bạo lực để làm bất công. Từ hai miếng Đất, cuộc đấu tranh hiện nay đang đứng ở bình diện bao trùm tổng quát: CÔNG LÝ và SỰ THẬT.

=> Hai là từ cái Dạ Dầy đói mà quần chúng phải buộc lòng đứng lên và có thể sẵn sàng làm BẠO ĐỘNG như tất cả các cuộc CÁCH MẠNG Pháp 1789 hay Nga 1917. Thay vì chết đói, thì quần chúng phải đứng lên dành lại miếng cơm từ những kẻ đã cướp bóc mình.

Chính vì phương diện Kinh tế này của đại đa số quần chúng Việt Nam (75% dân số) mà chúng tôi theo rõi những cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế đẩy quần chúng đến đói khổ cùng cực để từ đó họ buộc lòng phải đứng lên dành lấy miếng ăn. Thực vậy CSVN đã bao chục năm chủ trương Độc tài Chính trị nắm trọn Độc quyền Kinh tế để Tham nhũng Lãng phí lan tràn. Một thể chế như vậy không thể nào làm cho Đất Nước phát triển BỀN VỮNG và LÂU DÀI được. Hố sâu cách biệt Giầu-Nghèo mỗi ngày mỗi khơi sâu.

Những cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế càng đẩy Dân nghèo vào chỗ cùng cực để từ đó mà lòng CAN ĐẢM BÓ BUỘC phải có để liều chết đứng dậy loại bỏ cơ chế đã làm cho họ đói khổ cùng cực.

Chúng tôi đã đi tìm hiểu và viết rất nhiều về những cuộc Khủng hoảng Tài chánh và Kinh tế :

=> Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Á châu năm 1997 để tìm hiểu những nguyên do có thể áp dụng vào trường hợp Việt Nam.

=> Chúng tôi tha thiết đến những cuộc Đình công của giới Công nhân và việc Dân Oan đứng lên đòi Nhà Đất.

=> Đầu năm nay, Lạm phát và Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế đã bùng nổ ra tại Việt Nam sâu rộng hơn các nước khác trong vùng.

=> Hiện nay, cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế từ Hoa kỳ đang bao trùm Thế giới. Cuộc Khủng hoảng này chắc chắn mang tầm ảnh hưởng quan trọng đến tình hình Tài chánh và Kinh tế tại Việt Nam vốn đang bị bệnh tật nặng nề với thể chế hiện hành. Vì mục đích tối hậu là Việt Nam, nên chúng tôi theo rõi sát cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Thế giới hiện nay. 

=> Chúng tôi sẽ viết một loạt bài Chủ đề về ẢNH HƯỞNG KHỦNG HOẢNG CHO KINH TẾ VIỆT NAM, tuy nhiên ngay lúc này chúng tôi lo lắng cho việc Nhà Nước CSVN sẽ phạm một tội tầy đình về Hình sư là LẠM PHÁT TIỀN TỆ, nên đã viết cảnh cáo. Chúng tôi trích ra đây lời nhận xét của Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng.

Nhận xét này rất giống cho tình trạng ở Việt Nam.  Vốn nước ngoài đã đổ vào Việt Nam làm việc. Kinh tế Việt Nam làm việc 70% cho xuất cảng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng Tài chánh hiện nay làm cho Việt Nam thiếu vốn và làm giảm xuất cảng hàng ra nước ngoài. Các Xí nghiệp phá sản vì thiếu vốn và thiếu khách đặt mua hàng. Nhân công từ các vùng quê kéo về thành thị để làm việc trong các xí nghiệp. Bây giờ sa thải họ và phải đẩy họ trở lại những vùng quê nghèo nàn. Việc xáo trộn xã hội không thể tránh được.

Tình trạng thiếu vốn nước ngoài,  khan hiếm (mắc mỏ) vốn nội địa và giảm sút đặt mua hàng của nước ngoài sẽ đưa đến phá sản những xí nghiệp. Kinh tế suy thoái sẽ đưa đến tình trạng thiếu hụt số thu cho Nhà Nước. Cộng thêm vào đó, lại có tình trạng mất cân bằng cán cân thương mại do nhập siêu quá nhiều. Đồng thời Nhà Nước đang phải gánh vác số chi khổng lồ cho những lãng phí từ các Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ đợi sự cung cấp vốn từ Nhà Nước.

Ngân sách của Nhà Nước tất nhiên thiếu hụt. Nhà Nước bị đẩy đến tình trạng phải tìm đủ mọi cách để có đủ Ngân sách chi tiêu. Nhà Nước trong những năm trường đã mang những món nợ lớn đối với nước ngoài, nên việc vay mượn thêm không phải là dễ dàng.
 
Với tình trạng như vậy, Nhà Nước độc tài nghĩ đến việc phát hành Tiền tệ mới để tiêu dùng. Đây là việc Lạm phát Tiền tệ mà chúng tôi đã viết dài.

Chúng tôi xin nhắc lại đây lời của  Giáo sư Florin AFTALION, người đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:

”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)

(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)






THỤY SĨ: YÊN LẶNG LÀ VÀNG

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
14.10.2008

Tôi sống tại Thụy sĩ đã 41 năm và dậy học về Tài chánh tại xứ Ngân Hàng này đã trên 30 năm. Tôi thường nói rằngkhi nào Thế giới có loạn, thì Thụy sĩ mở cửa biên giới để tiền vào tự do và khi nào Thế giới bình yên thì đóng cửa biên giới để tiền khỏi chạy ra.

Điều đó xấu hay tốt ? Tôi trả lời không được.

Khi một người có tiền triệu, tiền tỉ, thì việc đầu tiên mà người đó lo lắng là làm thế nào cất tiền cho kỹ để khỏi bị mất trước khi nghĩ đến làm ăn kiếm tiền thêm hay làm việc xã hội để có tiếng nhân đức. Cụ thể, nếu quý vị có 5 triệu đo la trong tay, quý vị cất ở đâu cho vững chắc: (i) không bị mất vì ngân hàng phá sản; (ii) không bị lạm phát mất giá đồng tiền.

Cất ở Ngân Hàng bên Mỹ ? Hệ thống Ngân Hàng bên Mỹ lỏng lẻo, dễ bị phá sản.

Cất ở bên Pháp ? Hệ thống Ngân Hàng bên Pháp dễ như con gà Cốc Cô Ri Cô gáy nhiều khó tin, đồng thời cứ nhăm nhe quốc hữu hóa theo Xã hội Chủ nghĩa.

Cất ở bên Tầu ? Mấy chú chệt nhuộm tiền bằng nước tương pha thêm mélanine thì chết

Cuối cùng tự nhiên thấy cất tiền ở núi đồi Thụy sĩ thì yên trí hơn. Thụy sĩ là nước nhỏ chỉ có 7 triệu dân. Chính trị của nước nhỏ chẳng có ảnh hưởng quốc tế, lại thêm trung lập. Luật pháp rất minh bạch. Dân chủ lại trực tiếp từ dân. Cứ lấy được 200'000 chữ ký, thì Nhà Nước Liên Bang phải cho Dân bầu phiếu quyết định.

Một nước Thụy sĩ nhỏ như vậy mà có hai Ngân Hàng UBS (Union Bank of Switzerland) và Crédit Suisse đứng vào số 10 Ngân Hàng lớn nhất Thế giới.

Trong cuộc Khủng Hoảng Ngân Hàng/ Tài chánh Thế giới hiện nay, Nhà Nước Liên Bang Thụy sĩ không hề LA HOẢNG. Nếu UBS và CREDIT SUISSE có mất tiền về Mortgage SUBPRIME Credit, thì họ thảo luận với BNS (Banque Nationale Suisse) để hỗ trợ giúp đỡ mà không cần phải hò hổng khoe khoang.

Nhà Nước Liên Bang Thụy sĩ chỉ hội họp với các Chủ Ngân Hàng để nội bộ dàn xếp cứu nhau. Ngân Hàng Trung Ương Thuỵ sĩ (BNS=Banque Nationale Suisse) có dư đủ tiền và khối vàng khổng lồ đã mua từ Thế chiến Thứ II để bảo đảm đồng tiền Thụy sĩ. BNS đã phải bán đi 300 tấn vàng dư thừa để khỏi mang tiếng và để giúp việc xã hội.

Nhà Nước Liên Bang Thụy sĩ bảo đảm cho người tiết kiệm và có hệ thống Ngân Hàng tại mỗi Bang BC (Banque Cantonale) để bảo đảm 100% cho những người gửi tiền ở Ngân Hàng.

Thụy sĩ họp với nhau, không cần phải rêu rao có Plan Bailout, không cần phải đi Washington, đi Paris... để cùng tuyên bố cho có tiếng. Họ giữ vững Ngân Hàng của họ trong yên lặng. Thực là YÊN LẶNG LÀ VÀNG.

Thực vậy, khi giữ yên lặng, họ cho những người có tiền triệu, tiền tỉ biết rằng nếu gửii tiền vào Ngân Hàng Thụy sĩ, thì người gửi tiền được hoàn toàn bảo đảm vì những lý do sau đây
=> Đồng tiền Thụy sĩ không bị mất giá
=> Hai Ngân Hàng Thụy sĩ UBS và CREDIT SUISSE lớn trong 10 Ngân Hàng Thế giới
=> Thụy sĩ là nước nhỏ, chỉ có 7 triêu dân nên các cường quốc không thèm để ý tới, Chính trị trung lập và có Dân chủ trực tiếp với Luật pháp minh bạch.
=> Ngân Hàng Thụy sĩ có sự Kín Đáo Ngân Hàng (Secret Bancaire) cho mỗi cá nhân gửi tiền. Nhiều nguyên thủ quốc gia các nước khác gửi tiền mà họ không nói gì cả. 

Ngày hôm qua 13.10.2008, trong lúc các Ngân Hàng Thế giới lo lắng về thiếu vốn lưu động (Liquidités) và phá sản, thì hai Ngân Hàng Thụy sĩ:

UBS (Union Bank of Switzerland)
CREDIT SUISSE

quảng cáo cho khắp Thế giới rằng họ giữ tiền chắc chắn, đáng được tin cậy.

Cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng/ Tài chánh này sẽ làm cho Ngân Hàng Thụy sĩ giầu thêm.
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



THỨ HAI XANH 13.10.2008:
EUROPEAN PLANS BAILOUTS EURO.1300 TỈ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
14.10.2008

Trong bài dưới đây, đọc giả đã biết rằng từ 4 giờ sáng Thứ Năm 09.10.2008, tôi thức dậy mở Đài CNBC để xem tình hình các Thị trường Chứng khoán Á châu. Mầu xanh của những mũi tên chỉ lên. Một niềm hy vọng. Nhưng rồi từ trưa Thứ Năm 09.10.2008, mầu xanh chuyển sang mầu đỏ và đỏ đậm với mũi tên chỉ xuống Hỏa ngục.
Mũi tên đỏ chỉ xuống Hỏa ngục
trong hai ngày Tứ Năm 09.10 và THỨ SÁU 10.10.2008

Mầu đỏ của mũi tên bắt đầu từ Á châu rồi lan sang Aâu châu, Mỹ châu trong ngày 09.10.2008.

Ngày 10.10.2008, độ giảm của mũi tên đỏ càng trở thành trầm trọng. Đài CNBC cho biết tình trạng tụt giốc trong ngày 100.10.2008 như sau:
Chỉ số FTSE Anh quốc:  tụt xuống 8.85%
Chỉ số DAX Đức quốc:  tụt xuống 7.01%
Chỉ số CAC Páp quốc:  tụt xuống 7.73%
Chỉ số SMI Thụy sĩ:   tụt xuống 7.79%

Đài Phát thanh RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn tôi lúc 13:30 ngày THỨ SÁU 10.10.2008 và hỏi rằng tại sao tôi viết về niềm hy vọng buổi sáng thứ Năm 09.10.2008 mà bây giờ các Thị trường Chứng Khoán khắp Thế giới lại tụt giốc như vậy.

Tôi vẫn tin vào sự vững chắc của Lãnh vực Kinh tế thực và tin vào cái Lo-gic của việc các Ngân Hàng Trung Ương hỗ trợ trực tiếp Lãnh vực Kinh tế thực. Việc giao động Thị trường Chứng Khoán Thế giới có thể là vì tính cách đầu cơ ém giá của giới đầu tư trước khi mua bán.

Lảnh đạo Chính trị Liên Aâu
chạy vắt giò lên cổ

Những ngày cuối tuần 11-12.10.2008, các Lãnh đạo Chính trị Aâu châu đã làm việc không ngủ. Các Tổng trưởng Tài chánh, nhân cuộc họp thường niên IMF-WORLD BANK, đã kéo sang Mỷ.

Bộ trưởng Ngân khố Mỹ, Henry Paulson Jr., đề ra Hành động Cấp bách và Đặc biệt (Une Action Urgente et Exceptionnelle) gồm 5 điểm:
1) Ngăn cản việc phá sản các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh
2) Cung cấp mọi phương tiện để các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh có thể có vốn lưu động (Liquidités)
3) Khuyến khích và tạo điều kiện để các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh cho các Công ty vay vốn
4) Làm thế nào bảo đảm sự an toàn cho những người tiết kiệm gửi tiền vào các Ngân Hàng
5) Kiểm điểm những tín dụng nghi ngờ tại các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh.

Nhóm G7 chấp nhận trong Hành động Cấp bách và Đặc biệt này một việc quốc hữu hóa bán phần những Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh.

Trong khi ấy các Thủ Lãnh Chính phủ tại Aâu châu họp nhau Chúa Nhật 12.10.2008 tại Paris đồng thuận những Chương trình đồng loạt Cứu vớt các Ngân Hàng và hỗ trợ Vốn lưu động (Liquidités) để các Ngân Hàng cho nhau vay mượn. Những món tiền chính yếu mà mỗi nước bỏ ra trong nhóm Euro Group 15 như sau:

=> Anh quốc:    dành ra Euro.633 tỉ
=> Đưc quốc:    dành ra Euro.480 tỉ
=> Pháp quốc:    dành ra Euro.360 tỉ
=> Tây Ban Nha:   dành ra Euro.100 tỉ
=> Ý quốc:    dành ra Euro.40 tỉ

 

THỨ HAI XANH 13.10.2008:
Thị Trường Phục Hồi

Từ sáng sớm Thứ Hai 13.10.2008, từ Á châu đến Aâu châu và Mỹ châu, các Đài Truyền Hình vừa nói vừa cười vui như Tết: NHỮNG MŨI TÊN XANH RỜN chỉ lên Thiên Đàng. Chúng tôi nói xanh RỜN vì độ tăng của các Chỉ số tăng lên rất cao để bù lại hai ngày Thứ Năm và Thứ Sáu tuần trước:

Á-châu:
Từ sáng sớm Thứ hai, người ghi nhận
Tokyo :    nghỉ Lễ ngày Thứ Hai
Hong Kong:  tăng 8.37%
Shanghai:  tăng 3.65%
Sydney:   tăng 5.55%
Aâu-châu:
Chỉ số FTSE Anh: tăng 8.26%
Chỉ số DAX Đức: tăng 11.4%
Chỉ số CAC Pháp: tăng 11.18%
Chỉ số S&P/MIB Ý: tăng 11.9%
Chỉ số SMI Thụy sĩ: tăng 12.0%
Wall Street New York:
Chỉ số DOW:  tăng 4.8%






SÁNG THỨ NĂM HY VỌNG 09.10.2008:
XIẾT CỔ NGÂN HÀNG VÀ TRỢ LỰC KINH TẾ THỰC

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
Sáng sớm 09.10.2008 

Chúng tôi viết bài dưới đầu đề HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC để cho thấy rằng cái nguyên nhân chính của cuộc Khủng hoảng Mỹ và Thế giới hiện nay là do giới Ngân Hàng/Tài chánh lộng hành, đi với những sản phẩm riêng của Lãnh vực của họ để thu Lợi nhuận với tốc độ điện tử.

Cơn Tsumani Tài chánh thổi giữa họ, trong khi ấy Lãnh vực Kinh tế thực chưa có những giao động tương tự như những năm 1929-30. Kinh tế thực vẩn đứng vững.

Thấy rõ vấn đề như vậy, nên từ hôm THỨ BA 07.10.2008, bài lên tiếng của Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch FED Ngân Hàng Trung ương Mỹ, khởi đầu cho một cuộc Thống Nhất Thế Giới của những Ngân Hàng Trung ương, quyền lực của Tiền tệ. Các Ngân Hàng Trung Ương thống nhất hành động về ba phương diện sau đây:

1) Bảo đảm cho Dân Tiết kiệm gửi Tiền tại các Ngân Hàng. Một số Ngân Hàng ngắc ngoải bên bờ phá sản . Việc cứu các Ngân Hàng chính yếu là để cứu Dân tiết kiệm gửi tiền vào Dépôts.

2) Nhưng điều quan trọng hơn cả là che chở cho LÃNH VỰC KINH TẾ THỰC khỏi bị ảnh hưởng nặng nề về cuồng phong Tài chánh để có thể chuyển sang KHỦNG HOẢNG KINH TẾ.

3) Các Tập đoàn Kinh tế lớn đều tạo Độc Lập Tài chánh cho mình (Autonomie Financìere) bằng tích luỹ dự trữ trích ra hàng năm từ Lợi nhuận (Réserves). Tuy nhiên quyền lực Tiền tệ (Pouvoir Monétaire) nhận thấy rằng Thị trường hiện nay thiếu Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement). Vậy quyền lực Tiền tệ (các Ngân Hàng Trung ương) phải trực tiếp can thiệp trong Lãnh vực này.

Nếu những Plan Bailout Mỹ $700 tỉ hay của Anh Euro.360 tỉ, của Pháp, Đức Euro.1'600 tỉ, Tây Ban Nha Euro.34 tỉ... là nhằm cứu một số Ngân Hàng để bảo đảm cho Dân Tiết kiệm, thì các Ngân Hàng Trung ương Mỹ, Liên Aâu, Anh, Pháp, Đức, Thụy sĩ, Uùc, Nhật, Hong Kong, Nam Hàn phải hành động đồng loạt với nhau trong sự đoàn kết Thế giới để có thể cung cấp trực tiếp cho Thị trường, cho nền KINH TẾ THỰC  số Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement).

Để thực hiện việc này, các Ngân Hàng Trung Ương trên Thế giới đã đồng loạt giảm LÃI SUẤT chỉ đạo, nghĩa là làm cho giá thuê Vốn rẻ đi. Đây là việc giúp cho Liquidités lưu hành dễ dàng.

Các Ngân Hàng Trung ương
đồng loạt GIẢM LÃI SUẤT chỉ đạo

Ngày hôm qua, THỨ TƯ 08.10.2008, các Ngân Hàng Trung Ương chính trên Thế giới đồng loạt cắt giảm LÃI SUẤT chỉ đạo:

FED, Ngân Hàng Trung Ương Hoa kỳ:  Lãi suất giảm từ 2.0% xuống 1.5%
ECB, Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu:  Lãi suất giảm từ 4.25% xuống 3.75%
Bank of England:     Lãi suất giàm từ 5.0% xuống 4.5%
BNS, Ngân Hàng Trung Ương Thụy sĩ:  Lải suất giảm từ 3.0% xuống 2.5%
Sweden’s Riksbank:     Lãi suất giảm từ 4.75% xuống 4.25%

Từ đêm vừa rồi, Đài Truyền Hình CNBC cũng loan báo việc giàm Lải suất của các Ngân Hàng Trung Ương của Nam Hàn, Đài Loan, Hong Kong và Uùc. Riêng các Ngân Hàng Trung Ương Nhật và Trung quốc cũng đang do dự xem độ giàm sẽ suống bao nhiêu.


Những Chương trình cứu vớt
Ngân Hàng Aâu châu cũng được
công khai tuyên bố

=> Anh quốc
Sau khi cứu vớt Ngân Hàng Northern Rock vào tháng hai vừa rồi, Anh quốc mới bỏ ra Euro.63 tỉ để cứu Ngân Hàng Bradford & Bingley. Nhà Nước Anh cũng dành ra Euro.68 tỉ để tái cấp vốn cho những Ngân Hàng Lloyds TSB, HSBC, Royal Bank of Scotland, Standard Chartered, Barclays.
=> Đức quốc
Bà Thủ tướng Angela MERKEL tăng thêm vốn lưu hành (Liquidités) cho Tập đoàn Hypo Real Estate số tiền Euro.15 tỉ, mặc dầu đã bào đảm Tín dụng cho Tập đoàn này số tiền Euro.35 tỉ. Nhà Nước Liên Bang Đức cũng dành ra số tiền Euro.1'600 tỉ để bảo đảm an toàn cho Dân tiết kiệm gửi tiền tại các Ngân Hàng.
=> Pháp quốc:
Nhà Nước Pháp đã cứu vớt Ngân Hàng Dexia với số tiền Euro.3 tỉ. Hai Ngân Hàng Caisse d’Epargne và Banque Populaire đã đứng chung với nhau để có số vốn chung Euro.40 tỉ.
=> Tây Ban Nha:
Chính quyền ZAPATERO dành khẩn cấp số tiền Euro.34 tỉ nhằm hỗ trợ các Ngân Hàng và Lãnh vực Kinh tế.

Thị Trường Chứng Khoán
lắng dịu và khởi sắc

Quan sát kỹ những biến động trong tuần vửa rồi và các ngày Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư tuần này, người ta thấy giới đầu tư chưa tin tưởng và những Plan Bailouts của Hoa kỳ cũng như Aâu châu cho các Ngân Hàng. Những Chỉ số Chứng Khoán khắp Thế giới vẫn tụt giốc nặng nề.

Tuy nhiên, thừ khi các Ngân Hàng Trung Ương tuyên bố trực tiếp cung cấp Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement) cho Thị trường, nhất là cho LÃNH VỰC KINH TẾ THỰC, bằng biện pháp đồng loạt GIẢM LÃI SUẤT chỉ đạo để giá thuê Vốn rẻ đi, thì chúng ta thấy triệu chứng tin tưởng từ giới đầu tư tại các Thị trường Chứng khoán.

Trưa hôm qua, Đài truyển hình TF1 Pháp tuyên bố Chỉ số CAC Paris không xuống mà còn lên được 0.09%. Đây là triệu chứng HY VỌNG nên chúng tôi viết liền vào buổi chiều THỨ TƯ 08.10.2008 để báo tin HY VỌNG này giữa Tsumani Tài chánh vẫn còn thổi mạnh.

Hôm nay THỨ NĂM 09.10.2008, từ 4 giờ sáng, chúng tôi mở Đài Truyền Hình CNBC để xem phản ứng của các Thị trường Chứng Khoán Á-châu đối với việc cắt Lãi suất đồng loạt ra sao. Trên màn ảnh Tivi, những Chỉ số Á châu không có mầu đỏ với mũi tên chỉ xuống như các ngày THỨ HAI và THỨ BA ĐEN nữa, mà ngược lại mầu xanh mũi tên chỉ lên cho thấy NIỀM HY VỌNG tổng quát.

Lúc 10 giờ sáng, mở Đài CNN, thì thấy các Chỉ số Thị trường Aâu châu cũng với những mũi tên xanh chỉ lên.

Từ lâu rồi, chúng tôi không có thiện cảm cho lắm đối với giới Ngân Hàng/ Tài chánh. Họ buôn bán giữa họ những Sản phẩm Tài chánh do chính họ đẻ ra để kiếm Lợi nhuận với siêu tốc độ như chúng tôi đã trình bầy trong bài dưới đầu đề HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC. Nếu giới Ngân Hàng/ Tài chánh tạo ra những cuồng phong, thì chúng tôi vẩn nghĩ rằng để họ tự đào thải.

Chúng tôi luôn luôn tha thiết đến việc làm thế nào Lãnh vực KINH TẾ THỰC được an toàn để những người mang bắp thịt, mang chất sám làm việc cho SẢN XUẤT KINH TẾ THỰC khỏi thất nghiệp. Nếu giới Ngân Hàng/ Tài chánh bị thất nghiệp, thì cũng không thương tiếc cho lắm vì trước đó họ đã thắt cà vạt, mặc đồ lớn, ăn lương cao rồi.

Chúng tôi hoàn toàn hoan nghênh sự hiệp nhất của quyền lực Tiền tệ khắp Thế giới (các Ngân Hàng Trung Ương) cắt lãi suất, trực tiếp trợ lực Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement) cho Lãnh vực KINH TẾ THỰC


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




THỨ TƯ 08.10.2008: KINH TẾ CHẮC
TRONG TSUMANI TÀI CHÁNH

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
Chiều 08.10.2008 

Những thông tin trong bài này dựa theo FINANCIAL TIMES (Europe), THE WALL STREET JOURNAL (Europe), LE MONDE (Pháp), LE TEMPS (Thụy sĩ), ngày 08.10.2008. Đồng thời chúng tôi cũng theo rõi các Đài Truyển Hình TSR1 (Thụy sĩ) và hai Đài TF1 (Pháp), A2 (Pháp).

Mặc dầu Đài Truyền hình TSR1 Thụy sĩ loan tin sáng sớm hôm nay, cơn Tsumani vẫn hoành hành tại Á châu, nhất là tại Tokyo. Chỉ số NIKKEI Tokyo tụt xuống thêm 9%. Đây là việc mà từ 25 năm nay chưa bao giờ có. Đài Truyền hình hỏi trực tiếp Đại diện của mình tại Nhật là Oâng BAUMGARTNER để cho biết chi tiết. Lời bình luận của Oâng BAUMGARTNER không có gì bi quan. Theo Oâng, thì đây là hiện tượng các nhà đầu tư Tây phương bán tháo tại Thị trường Tokyo để lấy tiền mặt (Liquidités) mà Thị trường Tài chánh Thế giới đang cần.

Nếu Plan Bailout USD.700 tỉ của PAULSON nhằm chống đở cho phía Ngân Hàng, thì các Ngân Hàng Trung ương khắp Thế giới nhằm vào việc bảo đảm cho Dân Tiết kiệm gửi tiền ở các Ngân Hàng, nhất là cung cấp cho Lãnh vực KINH TẾ THỰC khỏi bị ảnh hưởng nặng nề bởi Lãnh vực quay cuồng của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh. Cơn lốc Tài chánh Ngân Hàng sẽ hạ xuống, nhưng các Nước chú trọng đến giới Tiết kiệm gửi tiền tại Ngân Hàng được bảo đảm và nhất là nền Kinh tế Thực khỏi rơi vào Khủng hoảng như những năm 1929-30.

Chúng tôi đã viết bài dưới đầu đề HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC cùng đăngi trong loạt bài này để độc giả hiểu sự tách rời của hai Lãnh vực.

Các Ngân Hàng Trung Ương thi hành nhiệm vụ của mình, đó là lo liệu cho Lãnh vực Kinh tế Thực có quỹ Tiền mặt (Liquidités/ Fonds de Roulement) để Kinh tế sản xuất và Thương mại trao đổi vận hành đều đặn. Tuy cuồng phong Wall Street Ngân Hàng thổi mạnh, không cho Credits để đầu tư, nhưng các Ngân Hàng Trung ương có đủ Tiền để cung cấp cho Lãnh vực Kinh tế thực để giữ sức khỏe của mình giữa cơn sóng cuồng Tài chánh do Ngân Hàng.

Ben BERNANKE, Chủ tịch FED,
Ngân Hàng Trung Ương Hoa kỳ, lên tiếng
 
Tờ THE WALL STREET JOURNAL, ngày 08.10.2008, dưới đầu đề FED WILL LEND TO COMPANIES, đã viết như sau:
’In an historic and risky step by the central bank, the FED said it would make loans directly to companies in the USD.1.6 trillion commercial paper market, which provides life-blood short-term financing for firms ranging from AT&T Inc. to Coca-Cola Co. to United Parcel Service Inc.’

Những món vay này sẽ với giá hạ (’further interest-rate cuts’).

Chính sách này nhằm hỗ trợ cho nền Kinh tế thực không xuyên qua hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh.

Các Ngân Hàng Trung Ương Aâu châu

Không có những Plan Bailout Paulson như Hoa ký, nhưng các Ngân Hàng Trung ương trực tiếp nhẩy vào cuộc: một mặt trợ lực các Ngân Hàng yếu kém để bảo đãm cho Dân tiết kiệm gửi tiền tại Ngân Hàng, một mặt cung cấp Tiền rẻ cho Lãnh vực Kinh tế thực. Các Ngân Hàng Trung ương đã quyết định hạ Lãi suất xuống để giá thuê tiền rẻ đi.

Iceland khởi đầu bằng bỏ ra Euro.4 tỉ. Bank of England bỏ ra 35 tỉ Bảng Anh để tăng thêm Tiền mặt (Liquidités) cho Thị trường và đồng thời cứu một số Ngân Hàng, như Royal Bank of Scotland chẳng hạn. Đức bảo đảm cho Dân tiết kiệm gửi Ngân Hàng tới mức 100%, chống đỡ cho Lãnh vực Kinh tế và cứu Tập đoàn Hypo Real Estate với tổng số dự trù bỏ ra là Euro.1621 tỉ. Tây Ban Nha dành cho Thị trường số Tiền Euro.34 tỉ.

Một điểm nữa làm cho Lãnh vực Kinh tế thực lạc quan, đó là giá Dầu lửa giảm.

Trưa hôm nay THỨ TƯ HY VỌNG 08.10.2008, Đài Truyền Hỉnh TF1 của Pháp loan tin rằng chỉ số CAC Chứng khoán Paris, thay vì giảm, đã tăng lên được 0.09%.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế  

 





THỨ HAI 06.10 VÀ THỨ BA 07.10.2008 ĐEN
CHO Á VÀ ÂU CHÂU

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
Sáng sớm 08.10.2008  


Bài hôm nay ghi nhận hai điểm:

=> Thị trường Chứng khoán Á châu và Aâu châu thụt giá trầm trọng

=> Thất bại của Quỹ cứu nguy chung của Aâu châu

Chứng khoán Á và Aâu châu
thụt giá trầm trọng

Mặc dầu Plan Bailout USD.700 tỉ được Thượng viện Mỹ chấp thuận ngày 01.10.2008 và được US Congress House tái bỏ phiếu chấp thuận ngày 03.10.2008, nhưng vẫn chưa đủ tạo niềm tin để giữ vững giá các Thị trường Chứng khoán.

THỨ HAI 06.10.2008 và THỨ BA 07.10.2008 được giới Tài chánh gọi là hai ngày đen bao trùm các Thị trường Chứng khoán Aâu, Á châu.

Tình trạng thụt giá các Thị trường trong ngày THỨ HAI và tiếp theo THỨ BA như sau:

Tại Á châu:

 Chỉ số NIKKEI Tokyo:   giảm 4.3%
 Chỉ số HANG SENG Hong Kong:  giảm 5.0%

Tại Aâu châu:
 Chỉ số RTS Moscou:   giảm 19.1%
 Chỉ số DAX Frnakfurt:   giảm 7.07%
 Chỉ số CAC Paris:    giảm 9.04%
 Chỉ số SMI Zurich:    giảm 6.12%
 Chỉ số FTSE London:   giảm 7.9%
 Chỉ số S&P/MIB Milan:   giảm 8.2%

Các giới đầu tư thẩm định rằng Plan Bailout USD.700 tỉ, mặc dầu được chấp thuận, nhưng con số USD.700 tỉ vẫn chưa đủ ngay cho Thị trường Mỹ, trong khi ấy các Ngân Hàng Á châu và nhất là Aâu châu đang gặp những khó khăn trầm trọng. Có những Ngân Hàng đang đứng bên bờ phá sản. Tình trạng thụt giá trầm trọng tại Aâu châu cũng còn do việc Liên Aâu không thể đoàn kết trong Dự án Cứu Nguy chung.


Thất bại của
Quỹ cứu nguy chung của Aâu châu

Do sáng kiến của TT.SARKOZY Pháp, một cuộc họp thượng đỉnh mệnh danh là G4 được triệu tập về Paris ngày THỨ BẨY 04.10.2008 trong mục đích tạo một Qũy Cứu Nguy chung co Liên Aâu. Nhóm G4 gồm Pháp, Đức, Anh và Ý. Nhưng mổi nước có những liên hệ Kinh tế và Tài chánh không đồng nhất.

Anh quốc với Luân Đôn là trung tâm Tài chánh mạnh sau Wall Street New York, luôn luôn liên kết với Hoa kỳ không những về Tài chánh, Kinh tế mà còn rất nhiều phương diện khác. Đức có khả năng Kinh tế và Tài chánh mạnh hơn Pháp rất nhiều và muốn đi với Hoa kỳ hơn đi với Pháp. Ý cũng có nhiều liên hệ Kinh tế với Hoa kỳ hơn là Pháp. Tính cách không đồng đều về khả năng Tài chánh và không giống nhau về liên hệ Kinh tế đã khiến cuộc họp thượng đỉnh này thất bại trong việc lập một Quỹ chung.

Ngoài ra, qua thái độ của TT.Pháp SARKOZY, với bài Diễn văn công kích Mỹ tại Liên Hiệp Quốc cách đây không lâu và với ngầm ý làm cho Liên Aâu tách rời khỏi Hoa kỳ về Tài chánh, các nước khác Anh, Đức, Ý không muốn Liên Aâu đứng tách ra như một khối.

Cuộc họp đưa đến kết luận là mỗi nước lo việc cứu nguy cho nước mình. Quyết định này cùng với việc thấy số tiền USD.700 tỉ của Hoa kỳ chưa đủ, nên các Thị trường Chứng khoán Aâu châu thụt giá trầm trọng trong ngày THỨ HAI 06.10 và THỨ BA 07.10.2008.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 





HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH:
TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
05.10.2008

Chúng tôi viết một số kinh nghiệm và suy nghĩ về hai Lãnh vực Kinh tế thực và Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh xen kẽ ở đây để hiểu hơn thái độ của Chính quyền BUSH và Lập trường của US Congress khi bỏ phiếu lần thứ nhất từ chối Plan Bailout USD.700 tỉ.

Chính quyền BUSH có 3 nhân vật tỏ thái độ đối với cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng/Tài chánh. Tổng Thống BUSH không thích gì Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh đã tạo ra một Kỹ nghệ Tài chánh riêng của mình để buôn bán với nhau khiến Khủng hoảng phát sinh. Oâng thiên về việc để Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh tự đào thải. Đây là thái độ để LEHMAN BROTHERS chết mà không thương tiếc. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố và là Ngân Hàng gia chuyên nghiệp, đã cố gắng cứu vãn Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch Ngân Hàng Trung ương Mỹ FED, đứng về phương diện điều chỉnh Tiền tệ/ Vốn và thiên về việc trợ lực Lãnh vực Kinh tế thực thuộc các Công ty sản xuất.

Những Nghị sĩ đại diện Dân chúng trong US Congress House muốn bênh đỡ Dân chúng, nên đã từ chối lần bầu thứ nhất cho Plan Bailout USD.700 tỉ nhằm cứu Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Đại đa số Dân chúng đóng thuế là những người lãnh lương từ Lãnh vực Kinh tế thực. Việc khủng hoảng đến từ Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Tại sao phải bắt đại đa số Dân chúng đóng thuế phải góp tiền cứu vớt?

Trình bày hai Lãnh vực này và nhất là cách thế làm giầu mau chóng của Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh để độc giả hiểu những thái độ trên đây, nhất là hiểu tại sao US Congress House phải bỏ phiếu lại lần thứ hai.


Lý thuyết về sự Tách rời hay
Hội nhập giữa hai Lãnh vực

Có hai giai đoạn đưa ra những Lý thuyết cắt nhgĩa tương quan giữa đồng Tiền (tờ giấy 1'000 đồng chẳng hạn) và Đời sống Kinh tế với hàng hóa thực (tô phở chẳng hạn). Không ai nhai tờ giấy 1'000 đồng để bụng khỏi đói. Nhưng ăn tô phở thì bụng hết đói. Việc hết đói là đời sống kinh tế thực, trong khi ấy tờ giấy 1'000 đồng chỉ là phương tiện mua tô phở. Vì vậy, người ta phân biệt ra hai Lãnh vực: Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực và Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh. Hai Lãnh vực có những liên hệ như thế nào ?

=> Lý thuyết Định Lượng Tiền bạc (Théorie Quantitative de la Monnaie)

Đây là Lý thuyết đơn giản và tiên khởi cắt nghĩa tương quan giữa Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh và Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực. Lý thuyết được đưa ra đầu tiên ở Thế kỷ XVIII bởi David HUME và Richard CANTILLON. Theo hai tác giả này, thì nếu tăng gấp đôi lượng tiền cho một cộng đồng Kinh tế, thì tức khắc vật giá sẽ tăng lên gấp đôi. Nhưng phải đợi đến cuối Thế kỷ XIX và đầu Thế kỷ XX, thì Irving FISHER mới đưa ra Công thức sau đây:

  M.V
--------   =   P
    T

M : Lượng Tiền thả ra cho cộng đồng Kinh tế; V : Tốc độ lựong Tiền lưu hành; T: Những sản phẩm thực Kinh tế lưu hành trong Cộng đồng; P: Mức tổng quát giá cả.

Cứ theo Công thức của FISHER, thì nếu lượng tiền lưu hành (M.V) không thay đổi, mà Lượng hàng hóa lưu hành (T) sút kém, thì Vật giá tổng quát (P) tăng lên. Đây là Lạm phát thực. Nhưng nếu mức sản xuất và lưu hành hàng hóa giữ nguyên, mà vì lý do nào đó Lượng Tiền lưu hành tăng lên, thì Vật giá tổng quát (P) cũng tăng lên. Đây là Lạm phát về phía Tiền tệ. Việc tăng Lượng Tiền có thể do việc tung ra cộng đồng một số Tiền mới in, hoặc do việc tăng tốc độ lưu hành Tiền tệ (V). Tỉ dụ bình thường Công nhân lĩnh lương tháng. Nhưng nếu áp dụng việc trả Lương tuần (như bên Mỹ), thì tốc độ lưu hành Tiền sẽ được nhân tăng lên.

=> Lý thuyết Hội nhập Tiền tệ (Théorie de l’Intégration Monétaire)

Từ J.M.KEYNES, nhất là Milton FRIEDMAN, trường phái Chicago, thì Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh không đứng ngoài Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực như khách bàng quan. Phải có một sự Hội nhập Tiền tế, Tài chánhä vào Lãnh vực Đời sống Kinh tế để lượng tiền mới mang một giá trị mua bán.  Chu trình Hội nhập như sau:

Đồng Tiền mới in ra từ Ngân Hàng Phát Hành (Trung ương) chưa mang giá trị mua bán. Đó chỉ là một mảnh giấy không hơn không kém. Đồng Tiền ấy phải qua hệ thống sản xuất dưới dạng trả lương cho Công nhân chẳng hạn. Công nhân nhận được đồng Tiền. Đây là đồng Tiền bắt đầu có giá trị mua bán. Khi hàng hóa sản xuất thực được đưa ra Chợ, Công nhân mang đồng Tiền đến mua hàng hóa, thì có sự tương đương của đồng Tiền với Hàng hóa. Khi có sự tương đương như vậy, thì đây là đồng Tiền thực, có giá trị mua bán.

Chính đời sờng sản xuất Kinh tế thực đã mang lại cho tờ giấy Tiền lúc ban đầu có một giá trị (Pouvoir d’Achat).

Bây giờ nếu vì một lý do nào đó, Ngân Hàng Phát Hành in ra một lượng Tiền mới tinh mà không cho lượng tiền mới ấy vào Chu trình Hội nhập, thì lượng Tiền mới này củng chỉ là mớ giấy chưa có giá trị mua bán (Pouvoir d’Achat). Nếu Nhà Nước đem số Tiền mới in này thả đại vào Lượng Tiền đang lưu hành, thì đó là hành động lưu manh đánh lận con đen pha lộn Tiền thực (đã Hội nhập) và Tiền chưa có khà năng Kinh tế (chưa Hội nhập). Đây là hành động ăn ướp giá trị Tiền thực của Công nhân... Khối Tiền đã Hội nhập cộng chung với Khối Tiền chưa Hội nhập làm cho Vật giá tăng lên, nghĩa là Tiền mất giá. Đây là hành động ăn cướp Tiền tệ phải xử tử hình theo Luật Tiền tệ.

Một Nhà Nước tự động tăng lượng Tiền mới chưa Hội nhập Kinh tế là Nhà Nước đáng phải chịu tội tử hình này.

=> Từ Tiền tệ, Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh phát hành những Phương tiện thanh toán (Moyens de paiement)

Hệ thống Ngân Hàng Thương mại không phát hành Tiền công khai (Billets de  Banque) như Ngân Hàng Trung Ương, nhưng lại phát hành Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) như Credit Cards, Cheques, Letter of Credit, Promissory Notes, Bank Guarantees, Standby Letter of Credit. Đây là những phương tiện mua bán giống như Tiền tệ. Khi các Ngân Hàng Thương Mại phát hành bừa bãi Tiền tệ tương lai (Virtual Money) chưa có hiện thực để tiêu dùng cho hàng hóa hiện tại như vậy, thì đó là nguồn làm tăng Khối Tiền đang lưu hành và do đó làm Lạm phát Tiền tệ. Việc phát hành này còn tệ hơn nữa khi mà những Ngân Hàng Thương mại lại thiếu phần tiền cọc tối thiểu bảo chứng.

Ngoài việc phát hành những loại Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) của hệ thống Ngân Hàng, những Tập đoàn Bảo Hiểm phát hành những Bảo Hiểm Tài chánh (Financial Insurances) có thể xử dụng như Phương tiện thanh toán (Moyens de Paiement) giống như Tiền tệ.

Những phát hành trên đây trở thành những Sản phẩm Tài chánh (Produits Financiers) riêng của Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh và họ buôn bán với nhau để kiếm lời rất mau lẹ trong lãnh vực riêng của mình.

Lợi nhuận lớn và rất mau
với những Sản phẩm Tài chánh

Đả những chục năm nay, người ta nói đến những Financial Traders và đến những Lợi nhuận cao (High Yield) gần như phép lạ. Financial Traders là những người chuyên môn buôn bán (Buy/Sell) những phát hành Ngân Hàng (Bank Notes) hay những Sản phẩm Tài chánh (Produits Financiers).

Từ Mỹ sang Aâu châu, khi phải cứu Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh, các Chính quyền nhấn mạnh đến việc không cho phép những Ngân Hàng gia nhẩy dù vàng với những Bonus khổng lồ từ việc buốn bán những Sản phẩm Tài ch&a