|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN --------------------------------------------------------------KINH TE/ TAI CHANH =============================================================== |
JAMES S.CHANOS DỰ ĐÓAN HIỆN TÌNH KINH TẾ TRUNG CỘNG
ĐÀO NHƯ
Theo báo New York Times hôm 8/1/2010, James S Chanos, năm nay 51 tuổi, một trong những người Mỹ đầu tư tại Trung cộng. Chanos sở hữu một tài khoản đồ sộ 6 tỷ Mỹ kim, và ông có thể sử dụng đầu tư bất cứ nơi nào trên đất nước Trung cộng. Do đó ông là người có cái nhìn thấu đáo vào tận những gốc khuất của nền kinh tế TC, những ưu cũng như khuyết điểm của nó. James S. Chanos tuần vừa rồi đưa ra lời báo động các nhà đầu tư thế giới phải hiểu rằng nền kinh tế TC hiện nay đang có những rủi ro to lớn có thể đưa đến một cuộc khủng hoảng kinh tế mới ngay cả sư sụp đổ của nền kinh tế của đất nước này. Theo Chanos, trong hiện tại không ai chối cải được sức hút như khối nam châm khổng lồ của nền kinh tế TC vì các nhà đầu tư thế giới bị ‘mà mắt’ bởi những dữ kiện của thống kê về chỉ số Stock nội địa của TC.
Nguy cơ của nền kinh tế Trung cộng hiện nay được tạo nên do gói kích cầu $586 tỷ usd. Thoạt tiên gói kích cầu này có mục đích rõ ràng, ngoài mục đích củng cố và nâng cao xuất khẩu, nó còn dùng để kích thích tiêu dùng của người dân. Người dân TC có tiền vay từ ngân hàng với lãi xuất thắp, họ mua sắm, tậu nhà cửa, xây dựng doanh nghiệp mới. Bằng cách này thì thị trường tín dụng sẽ phục hồi nhanh, và thị trường địa ốc cũng sẽ vận hành tốt trở lại.
Chính phủ Trung công hy vọng nhờ thế họ chấn hưng nền kinh tế TC và đẩy mạnh tiến trình phục hưng kinh tế thế giới. Nhưng gói kích cầu của những năm 2008-09 quá lớn và các nguồn tiền này đựợc lùa vào Wall Street, thị trường địa ốc, tạo ra tình trạng cho vay và mua nhà với những điều kiện quá dễ dàng và nhiều quá vượt mức kiểm soát. Hơn nữa thấy thị trường địa ốc TC ăn nên làm ra, các nhà đầu tư thế giới lao vào bỏ ra số vốn rất lớn đầu cơ vào thị trường này. Do đó thị trường địa ốc và tín dụng của TC tăng nhanh, phình lớn, cổ phiếu ở Wall Street tăng mạnh, tạo ra tình trạng “bong bóng kinh tế”. Có lần xuất hiện trong chương trình CNBC, Chanos cảnh cáo:
“Hiện tượng bong bóng tín dụng là thấy rõ nhất tại thị trường tín dụng TC…Không đâu có bong bóng tín dụng phình đại như TC hôm nay” Bubbles are best identified by credit excesses, not evaluation excesses…And there’s no credit bigger than credit excess in China”
Thị trường tín dụng, và địa ốc đang phì đại một cách nguy hiểm vì cả hai thị trường này đang vận hành không đúng theo qui luật, tăng trưởng vượt kiểm soát. Hơn thế nữa, trong cuộc phỏng vấn với tờ báo Politico hồi tháng 11-2009, Chanos còn cảnh cáo là hiện tại TC sản xuất một khối lượng lớn các mặt hàng họ không thể bán ra được. Số hàng này đang tồn kho chờ ngày quá date. Jim Grant, người bạn lâu năm của Chanos, chủ biên tập san tài chánh Grant’s Interest Rate Observer, cũng cảnh cáo, nền kinh tế Trung cộng bị quấy nhiễu và phiền toái rất nhiều trong mấy chục năm qua bởi điều mà ông ta gọi là Quyền Lực Thứ Ba, và Thứ Tư họ lợi dụng gói kích cầu. Hiện nay tại các ngân hàng TC, mức độ bad loans đã là 20% và sau gói kích cầu có thể cao hơn thế nữa. Trong tương lai gần, xem chừng nền kinh tế tài chánh TQ có thể sẽ đi vào con đường mòn của nền kinh tế Hoa Kỳ đã kinh qua vào những năm 2007-2008: thị trường tín dụng phì đại và vỡ, thị trường địa ốc, Freddie Mac, Fannie Mae sụp đổ lôi theo nhiều ngân hàng lớn khác khiến chánh phủ Hoa Kỳ phải kịp thời ra tay chống đỡ.
Sở dĩ những việc tiên đoán của James S. Chanos về hiện tượng bong bóng hiện tại của nền kinh tế TC có sức thuyết phục đối với một số nhà kinh tế phương Tây và các nhà đầu tư thế giới là vì trong quá khứ Chanos đã tiên đoán đúng với nhiều bằng chứng xác thực về sự sụp đổ của tập đoàn Enron và sau đó là Tyco International, Boston Market restaurant chain, Home builders và nhiều ngân hàng lớn của thế giới…
Chanos cảnh cáo nhiều lần các nhà đầu tư hải ngoại trên thế giới khị bỏ tiền vào đầu tư ở TC, họ chỉ dựa vào, hầu như “tuân theo” những dữ kiện về chỉ số Stock nội địa của TC. Nhưng với Chanos, không bao giờ bị“mà mắt” vì những dữ kiện hời hợt dó, ông đầu tư theo phương hướng, chính sách của ông. Nghiên cứu đầu tư của ông tại TC bao giờ cũng tập trung vào sự tìm hiểu tường tận về khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyên viên kỹ thuật, phối trí nhân lực, nhân công, giao thông vận tải, khả năng phát triển công nghệ sản xuất cement, than, sắt, thép và các nguồn quặng khoáng chất. Theo Chanos, khả năng phát triển công nghệ này và đào tạo nhân công ở Trung cộng còn rất yếu, thiếu sáng tạo.
Trong khi đó Jim Rodgers, sáng lập viên của Quantum Fund với George Soros, đang sống tại Singapore, thì cho rằng những dự đoán của Chanos về hiện tượng bong bóng của nền kinh tế TC hôm nay cần phải xét lại vì Jim Rodgers cho rằng những dự đoán của Chanos thiếu cơ sở, và sự quan hệ của Chanos với nền kinh tế TC chưa đủ bề dày để cho phép Chanos đưa ra những dự đoán trên. Theo Jim Rodgers thì hiện tại thị trường tín dụng và địa ốc của TC chưa bao giờ có hiện tượng bong bóng. Nhiều đồng nghiệp và bạn bè của Chanos cũng công nhận là Chanos mới bắt đầu tìm hiểu đi sâu vào nền kinh tế TC trong một vài năm gần đây. Chanos hiện vẫn thường email tham khảo học hỏi ý kiến của những người sành về kinh tế TC. Chanos và nhóm bạn bè của ông cũng đang đối mặt với các nhà đầu tư tên tuổi trên thế giới: Warren Buffet, Will Beer L.. Ross Jr...họ không mấy tin tưởng vào lập luận của nhóm Chanos.
Trong lúc đó, có một nhóm chuyên gia kinh tế người Hoa công nhận hiện tượng bong bóng trên nền kinh tế của TC đang mỗi ngày một hiện rõ hơn. Xa hơn nữa, năm 2001 Gordon G. Chang, chuyên viên kinh tế tại Hoa Kỳ, đã từng tiên đoán về nền kinh tế TC sẽ đi vào khủng hoảng trầm trọng.
James S Chanos, một trong ba người con trai của một gia đình làm nghề giặt ủi tại Milwaukee . Chanos tốt nghiệp Yale như là một sinh viên PreMed. Nhưng sau đó Chanos chuyển sang kinh tế lý do là Chanos có nhiều đam mê và khuynh hướng về nghiên cứu kinh tế. Chanos khởi đầu sư nghiệp gia nhập thị trường chứng khoán- phố Wall-Wall Street . Tại Wall Street ông học hỏi rất nhiều về điều hành Stock và sự quan hệ giữa đầu tư và Stock. Chính Wall Street là con đường đưa James S. Chanos đến sự thành công hôm nay.
Chính những năm làm việc tại đây ông đã đưa ra sự tiên đoán chính xác về sư sụp đổ của tập đoàn Enron và sau đó là Tyco International, Boston Market restaurant chain, Freddie Mac, Fannie Mae và nhiều financial disasters khác, nhất là những ngân hàng tầm cỡ của thế giới. Chanos sẽ có buổi thuyết trình với đề tài “Contrarian Investor Sees Economic Crash in China ” tại viện đại học Oxford - Anh quốc cuối tháng Jan này.
Chúng ta thử chờ xem và theo dõi kết quả của buổi thuyết trình này nhất là phản ứng của của Trung cộng, của thế giới và của viện Đại học Oxford đối với quan điểm của James S Chanos. Từ đó hy vọng chúng ta có cái nhìn chính xác hơn về những dự đoán của Chanos về nền kinh tế Trung cộng hôm nay./.
Đào Như Bs Đào Trong Thể 10/Jan/2010 Oak park , Ill. USA
TƯ NHÂN HÓA, GIA ĐÌNH HÓA HAY TRUNG QUỐC HÓA TÀI SẢN QUỐC GIA VN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Kinh tế Trung quốc và Kinh tế Việt Nam thóat thai từ Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Chủ trương Kinh tế này còn mang một khía cạnh nhân đạo, đó là Bao Cấp và đồng hưởng Xã hội. Để có thể thực hiện Chủ trương Kinh tế ấy, thì Nhà Nước tập trung quyền lực Chính trị độc tài về mình, đồng thời giữ luôn độc quyền phác họa những kế họach Kinh tế gồm Sản xuất và phân phối Tiêu thụ.
Kinh tế nhóm đảng Mafia: Một người làm quan, cả họ được nhờ
Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy và Bao cấp Xã hội đã thất bại vì tiền bạc chung bị thất thóat và bao cấp xã hội làm người ta lười biếng. Do đó, Trung quốc cũng như Việt Nam tuyên bố chuyển mình sang Chủ trương Kinh tế Tự và Thị trường. Nhưng Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường THỰC SỰ đòi hỏi phải có một Môi trường Chính trị-Pháp lý phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat): Tư hữu những phương tiện sản xuất và tiêu thụ, Tự do tư doanh, Tự do thương lượng và ký kết giao kèo, Luật pháp bảo đảm những quyền sinh họat Kinh tế phải do những cá nhân đồng quyết định (Dân chủ).
Trung quốc và Việt Nam nói rằng chấp nhận Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường cho mọi tác nhân Kinh tế, nhưng đã đặt hệ thống Kinh tế trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp cũ của Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy: độc đảng giữ trọn quyết định trên những phương tiện sản xuất, độc đảng nắm đất đai và tài nguyên quốc gia, độc đảng giữ trọn những sinh họat kinh tế/ thương mại qua những Công ty quốc doanh, Luật pháp liên quan đến sinh họat Kinh tế do độc đảng thiết lập và cá nhân phải tuân phục. Đảng đã thêm vào cái đuôi “định hướng XHCN“ để lấy cớ giữ trọn cái Mội trường Chính trị-Pháp lý bảo đảm cho độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế, đồng thời làm một việc bất nhân nữa là không nhận trách nhiệm bao cấp và đồng hưởng xã hội.
Đó chính là bóc lột của nhóm đảng Mafia mà kết quả là nhóm đảng Mafia trở thành giầu nứt khố và đại đa số dân chúng bị bóc lột đến nghèo kiết xác. Không có CÔNG LÝ ở một lọai Kinh tế như vậy, tất nhiên cũng không thể có HÒA BÌNH xã hội.
Sự phản kháng của đại đa số Dân chúng tại Trung quốc cũng như tại Việt Nam đang lên mạnh để đòi hỏi CÔNG LÝ và do đó HÒA BÌNH cho cá nhân và xã hội. Trước sự phản kháng lên mạnh này, nhóm đảng Mafia đã trở thành giầu có sau những chục năm bóc lột, cảm thấy rằng không thể ngồi yên thụ hưởng, nên dường như đang tìm cách cất giấu tiền bạc dưới một chiêu bài nào đó.
Việc chuyển tài sản ra nước ngòai để cất giấu là sự tất nhiên. Giới Ngân Hàng Thụ sĩ nói nhỏ với nhau rằng họ sẽ nhận được việc chuyển từ Trung quốc sang Thụy sĩ số tài sản tới USD.180 tỉ. Chúng tôi cũng đọc tin thấy rằng Việt Nam đang định “tư nhân hóa“ một số Công ty quốc doanh lớn. Đây cũng là chiêu bài để nhóm đảng Mafia cất giấu tài sản tại chính quốc nội.
Không phải chỉ nguyên chúng tôi nhận định về Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam. Có nhiều người đã viết. Chúng tôi xin trích đăng một số tỉ dụ.
Nhà phân tích Bill Hayton nói về Kinh tế Mafia gia đình tại Việt Nam
Việt Nam sẽ đi về đâu? Chắc chắn là sẽ không bình yên. Báo Foreign Policy (foreignpolicy. com) hôm 21-1-2010 có bài viết nhan đề “Vietnam’s New Money” (Đồng Tiền Mới của VN) cho thấy một viễn ảnh u ám của kinh tế và xã hội VN, và dịch tóm tắt như sau.
Nhà phân tích Bill Hayton mở đầu bài viết bằng hình ảnh ngày 16-11-2008, kể về đám cưới của 2 doanh nhân tại khách sạn sang trọng Caravelle ở Sài Gòn: Chú rể là Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, quản trị công ty đầu tư IDG Ventures Vietnam, và cô dân là Nguyễn Thanh Phượng, 27 tuổi, chủ tịch quỹ đầu tư VietCapital. Hai công ty của cô dâu chú rể kết hợp quản trị 150 triệu đô la các khoản đầu tư ở VN.
Cô Phượng là con gái Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Chú rể là Việt kiều công dân Mỹ, con của một gia đình chạy khỏi VN năm 1975 để trốn chế độ CS, bây giờ trở về để cưới con của một trong những người quyền lực nhất nước.
Đám cưới này biểu hiện cho thấy Đảng CSVN vẫn khống chế cả khu vực công lẫn tư. Nhiều hãng tư thực ra nguyên là hãng quốc doanh cũ (SOE) hay vẫn còn thuôc quyền nhà nước quản lý, và hầu hết vẫn điều hành bởi các đảng viên.
Hầu hết những người chỉ huy kinh tế tư doanh hiện này là do đảng chỉ định, hay gia đình họ, hay bạn bè của họ. Giới thượng lưu CSVN đang biến chủ nghĩa tư bản VN trở thành một kinh doanh gia đình. Và nếu phiên tòa xử 4 nhà dân chủ tuần này về tội lật đổ chính phủ có dấu hiệu nào, thì tình hình củng cố quyền lực đảng là diễn biến kinh sợ cho tương lai VN.
Có nhìều điển hình về mối quan hệ gia tộc và tiền bạc, quyền lực tại VN: một trong những người giàu nhất VN là Trương Gia Bình, chủ tịch công ty tin học lớn nhất VN, hãng FPT. Bình cùng là ngưòi duy nhất tại VN thường được nhắc với nhãn hiệu “cựu phò mã” bởi vì Bình từng kết hôn với con gaí cuả tướng Võ Nguyên Giáp.
Một thí dụ khác là Đinh Thị Hoa, người VN đầu tiên tốt nghiệp MBA, cao học kinh doanh, tại Đaị Học Harvard. Khi về VN, Hoa lập công ty có tên là Galaxy. Trông thì đúng là mô hình kinh tế tư doanh. Nhưng Galaxy là một trong nhiều công ty thuộc sở hữu của con cái các lãnh tụ đảng. Khi WB cấp học bổng cho Hoa, cha của Hoa là Thứ Trưởng Ngoaị Giao.
Việc kết hợp tài sản của cả nước vào tay các gia đình quyền thế tại VN đang bóp méo nền kinh tế này: kinh tế sẽ đi theo ý muốn của một số ít người, chứ không đi theo nhu cầu của đa số dân. Và mạng lưới chủ nghĩa xã hội bè cánh chia chác kinh tế đang trở thành một đe dọa cho ổn định tương lai VN. VN có cơ nguy gặp số phận của nhiều đứa con cưng trước kia của WB -- bùng nổ kinh tế, rồi sẽ sụp đổ.
Các hãng quốc doanh lớn nhất được hưởng nguồn tài trợ tiền không minh bạch cho các dự án tài chánh với rất ít hợp lý về kinh tế. Vào tháng 6-2008, tới 28 hãng quốc doanh xài 1.5 tỉ đô để thiết lập hay mua cổ phần trong các công ty quản lý tiền đầu tư, các hãng chứng khoán, các ngân hàng thương mại và các hãng bảo hiểm. Có 3/4 công ty tài chánh VN hiện sở hữu của các hãng quốc doanh lớn nhất (còn gọi là tổng công ty).
Với tiền dễ dàng xài như thế, nên mới xảy ra hiện tượng các hãng quốc doanh phải hối lộ khách hàng, cán bộ và thanh tra để nhắm mắt cho vi phạm luật. Câu hỏi là, vào thời khoảng khủng hoảng, Đảng CSVN có thể trừng phạt chính các đảng viên của họ không để đưa kinh tế đen naỳ trở lại vòng kiểm soát. Nhưng bao lâu nữa mới có thể làm thế?
Vụ kết án các nhà dân chủ tuần này có phaỉ là dấu hiệu cho thấy mạng lưới tham nhũng của đảng, của quyền lực và của đặc quyền hiện đã ra ngoaì vòng kiểm soát?
Tim JOHNSTON viết về tư nhân hóa các Tổng Công ty Việt Nam
Ngày 06.01.2010, từ Bangkok, Ký giả Tim JOHNSTON, dưới đề mục TƯ NHÂN HÓA (PRIVATISATION) đăng trên FINANCIAL TIMES trang 15, đã viết về việc Nguyễn Tấn Dũng sắp cho tư nhân hóa hai Tổng Công ty lớn của Nhà Nước, đó là PETROLIMEX và VIETNAM STEEL CORP.
Petrolimex, trước đây gọi là Vietnam National Petroleum Corp., chính yếu nhập cảng dầu lửa cho cả nước. Hiện Petrolimex có tất cả 6'000 trạm phân phối xăng dầu trên tòan quốc.
Vietnam Steel Corp. là Tổng Công ty sản xuất và cung ứng sắt thép cho Việt Nam.
Phải chăng đây là tiến trình tư nhân hóa Kinh tế hay chỉ vì những lý do sau đây:
=> Tổng Công ty Nhà Nước lãng phí, thua lỗ mà Ngân qũy Nhà Nước thiếu hụt không còn sức bù thêm tài chánh nữa.
=> Một chiêu bài để con cháu đảng giầu có mua lại Công ty nhà nước làm tư hữu và giấu tài sản. Đây có thể gọi là gia đình hóa, hay nhóm đảng hóa tài sản quốc gia.
=> Trung quốc có nhiều tiền muốn chuyển ra nước ngòai. Nếu Trung quốc mua lại đa số phần hùn Petrolimex, thì họ giữ quyền kiểm sóat xăng nhớt tại Việt Nam. Đây sẽ nằm trong chương trình xâm lăng Kinh tế vậy.
=> Cũng vậy, nếu Trung quốc mua đa số phần hùn trong Tổng Công ty Sắt Thép Việt Nam, họ có thể biến Tổng Công ty này thành một chi nhánh Sắt Thép của họ đã khá mạnh trên Thế giới.
Tác giả Tim Johnston nhận định rằng: “The appetite for investment in Vietnam is quite low!“ (Sự ham muốn đầu tư vào Việt Nam còn hòan tòan thấp). Bỏ vốn đầu tư vào một Tổng Công ty vẫn lệ thuộc ở một hệ thống Luật pháp độc tài, độc đảng, đó là liều lĩnh.
Chúng tôi cũng nghĩ rằng giới Việt kiều có thể về thăm Quê Hương, giúp vốn cho người nhà làm ăn nhỏ, nhưng chưa dám bỏ số vốn lớn để hùn vào Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp.
Đại đa số dân chúng thì nghèo khổ, làm sao có tiền hùn vốn mua Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp. Chỉ có nhóm đảng Mafia, đã cướp bóc được nhiều tiền, cánh nhóm đảng Mafia Trung quốc, có thể bỏ vốn mua để cất giấu tài sản.
Jamil ANDERLINI viết về những Công ty của con Thủ tướng ÔN GIA BẢO và con Chủ tịch HỒ CẨM ĐÀO
Một sự trùng hợp hy hữu. Cũng trong thời gian này, Tác giả Tim ANDERLINI từ Bắc Kinh, cũng dưới đề mục tài sản tư, viết đăng trên tờ FINANCIAL TIMES ngày hôm qua 27.01.2010, trang 17, một bài về những Công ty của con trai Thủ tướng Oâng Gia Bảo và của con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, thì tại Trung quốc, con trai Thủ tướng Oân Gia Bảo và con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, cũng dựa quyền thế sinh sát độc đóan của đảng mà làm ăn thâu tóm tài sản.
ÔN YUNSONG, cũng gọi là Winston ÔN, con trai của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, có Công ty tư nhân về tài chánh NEW HORIZON có thể đầu tư tiền tỷ Đo-la. Chúng tôi xin dịch một đọan viết của Tác giả Jamil ANDERLINI:
“Một Tập đòan Tài chánh được thành lập bởi con trai của Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc, đã cùng với một số nhà đầu tư nước ngòai sắp đầu tư số lượng USD.1 tỷ vào lục địa Trung quốc.“
“ÔN Yunsong, cũng được gọi là Winston ÔN, là con trai độc nhất của Thủ tướng Trung quốc, có Tập đòan Tài chánh NEW HORIZON với vốn lúc đầu USD.750 triệu và sắp tăng lên USD.1 tỷ trong những tuần tới.“
Về những bí mật làm việc của những con cái các Lãnh đạo của đảng Cộng sản, Tác giả Jamil ANDERLINI viết: “The children of China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON and Winston WEN were blocked in China yesterday.“ (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).
Về riêng con trai của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Tác giả Jamil ANDERLINI cũng viết như sau: “In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).
Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam đang tìm cách giấu cất tài sản bằng tư nhân hóa hay gia đình hóa những Công ty quốc doanh vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010
| | | |
QUỐC TẾ ÁP LỰC LÊN TRUNG QUỐC VỀ TỶ GIÁ TIỀN TỆ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Trong suốt những năm phát triển Kinh tế, Trung quốc đã cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan thấp gắn liền với Đo-la, phương tiện thanh tóan thương mại Quốc tế. Trung quốc cố tình xử dụng quyền lực độc đóan Chính trị để giữ tỷ giá đồng Yuan thấp hơn bình thường trong mục đích hạ giá hàng hóa để cạnh tranh xuất cảng. Thời Tổng thống BUSH đã có nhiều những thảo luận và áp lực lên Trung quốc để nâng cao tỷ giá đồng Yuân tới mức độ bình thường, nhưng Trung quốc vẫn tìm cách ngụy biện mà không thực hiện.
Những đòi hỏi Quốc tế hiện nay
Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 430 tuần trước, 14.01.2010, chúng tôi đã viết về việc Quốc tế trở nên bực tức đối với những gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đến nỗi phải nghĩ đến những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures du Protectionnisme). Một trong những tức bực nhất của Quốc tế là vấn đề Trung quốc chai lỳ cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan.
Ngày 28.12.2009, từ Bắc Kinh, Geoff BYER đã đăng một bài trên tờ FINANCIAL TIMES với đầu đề CHINA DISMISSES CURRENCY PRESSURE (Trung quốc từ chối không kể đến áp lực tiền tệ). Tác giả thuật lại trong một bài phỏng vấn của Tân Hoa xã hôm qua, Oâng Gia Bảo đã nói rõ: “Chúng tôi sẽ không thỏa mãn cho những áp lực dưới bất cứ hình thức nào ép buộc chúng tôi phải nâng tỷ giá tiền tệ. Như tôi đã nói với một số bạn hữu ngọai quốc: một mặt các ông đòi hỏi chúng tôi tăng tỷ giá tiền tệ, một mặt các ông lại đưa ra mọi biện pháp Che chở Kinh tế (Protectionnisme)!“ (trang 14)
Cùng ngày 28.12.2009, trong tờ THE WALL STREET JOURNAL, hai Tác giả James T. AREDDY và Shen HONG cũng viết rằng Oân Gia Bảo cũng đã từ chối những công kích của ngọai quốc về chính sách tiền tệ của Trung quốc, áp lực chúng tôi phải nâng tỷ giá đồng Yuan (trang 3).
Đầu năm 2010, những Quốc gia chính trong khối ASEAN, vì lý do Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan hạ, nên yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.
Ngày 06.01.2010, Tác giả Julie DESNE từ Thượng Hải, viết trên tờ FIGARO rõ ràng về áp lực của Hoa kỳ và Liên Aâu đối với Trung quốc, rằng: “Washington et Bruxelles n’ont de cesse de dénoncer un yuan sous-évalue qui maintient les exportations chinoises anormalement bon marché, aggravant les déficits américain et européen face à la Chine.“ (Hoa Thịnh Đốn và Bruxelles không ngừng tố cáo tỷ giá đồng Yuan cố ý giữ hạ để giữ những xuất cảng của Trung quốc với giá hàng thấp không bình thường, khiến những cán cân thương mại Mỹ và Liên Aâu thua lỗ đối với Trung quốc) (trang 24)
Nâng tỷ giá đồng Yuan lên bao nhiêu ? Oâng Zhang BIN, một trong những Kinh tế gia Trung quốc làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội (CASS) của Nhà Nước Trung quốc, đã công khai đề nghị rằng Bác Kinh nên nâng tỷ giá đồng Yuan lên 10% (FIGARO 06.01.2010, trang 24). Nhà Nước Trung quốc có nghe theo lời khuyến cáo này không, đó là chuyện khác.
Cắt nghĩa ảnh hưởng tỷ giá tiền tệ trên giá cả hàng hóa xuất cảng
Chúng tôi sẽ có dịp viết chi tiết và dài về “Chiến tranh Tiền tệ“ mà Trung quốc đã nêu ra nhân việc xuống giá của đồng Đo-la trong khi ấy Trung quốc cũng như một số Quốc gia đang phát triển giữ khối Đo-la Dự trữ lớn. Thống đốc Ngân Hàng Trung Quốc thậm chí công khai kêu gọi thay đồng Đo-la bằng một lọai tiền tệ khác.
Trong phạm vị bài QUAN ĐIỂM này, chúng tôi chỉ cắt nghĩa những liên hệ trực tiếp tỷ giá tiền tệ đến giá cả hàng xuất cảng.
=> Từ Hội Nghị Tiền tệ Thế giới tại Bretton Woods năm 1944, Hệ thống Tiền tệ được bảo đảm dựa trên trung gian đồng Đo-la bởi vì Aâu châu đã mất hết vàng trong Thế Chiến II khả dĩ bảo đảm cho giá trị đồng tiền mỗi nước, trong khi ấy chỉ còn Đo-la có vàng làm bảo chứng giá trị. Hội nghị Bretton Woods chấp nhận Régime Etalon-Devise ($)-Or. Đồng Đo-la trở thành phương tiện thanh tóan Thương mại tòan cầu và là qũy Dự trữ trong các Ngân Hàng. Như vậy, khi xuất cảng hàng hóa, các nhà xuất cảng mỗi nước đều yêu cầu người mua phải thanh tóan bằng đồng Đo-la.
=> Aâu châu được tái thiết và Kinh tế phát triển. Xuất cảng hàng hóa, các nước Aâu châu đòi trả tiền bằng Đo-la. Khối sản xuất Dầu lửa cũng đòi việc thanh tóan bằng Đo-la. Nhật bản, Đài Loan tiến mạnh và xuất cảng, cũng thu Đo-la vào. Nhưng mỗi nước Aâu châu, Trung đông và Viễn đông lại có tiền riêng của mỗi nước để làm phương tiện thương mại trong nội địa: đồng Bảng Anh, đồng Quan Pháp, đồng Mark Đức, đồng Yen... Vì vậy mà tỷ giá giữa đồng tiền mỗi nước và đồng Đo-la phải được thiết lập. Tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai nước cũng được thiết lập qua trung gian đồng Đo-la. Tỉ dụ FF.1 (Franc Pháp) tương đương với USD.0.25 cents và DM.1 (Mark Đức) tương đương với USD.0.50 cents. Nhờ qua trung gian đồng Đo-la, người ta thiết lập tỷ giá giữa Mark Đức và Franc Pháp: DM.1 = (USD.0.50 cents/ USD.0.25 cents) = FF.2.
=> Khi mà Đồng Đo-la lan tràn trên Thế giới, thì lượng vàng làm căn bản định nghĩa bảo chứng Đo-la không được bảo đảm. Bỏ Régime Etalon-Devise-Or, hệ thống Tiền tệ chỉ được bảo đảm dựa trên Khả năng Kinh tế của mỗi nước trong hệ thống gọi là Régime du Pouvoir d’Achat của đồng tiền. Kinh tế Hoa kỳ vẫn giữ sức mạnh quán quân Thế giới và đồng Đo-la vẫn được chấp nhận như phương tiện thanh tóan Thương mại Thế giới. Khi đồng tiền không được bảo đảm theo định nghĩa dựa trên lượng vàng nữa, mà chỉ dựa trên sức mạnh Kinh tế, thì tỷ giá giữa mỗi đồng tiền đối với Đo- và tỷ giá giữa các đồng tiên quốc gia đối với nhau có những thay đổi tùy theo sức mạnh Kinh tế mỗi quốc gia.
=> Ở đọan trên, chúng tôi nói đến Khả năng Kinh tế quốc gia dựa trên đó một đồng tiền quốc gia được thẩm định giá trị và do đó tạo lý do thứ nhất cho sự thay đổi (Flexibilité) của tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và Đo-la và giữa các đồng tiền quốc gia với nhau. Trong đọan này, chúng tôi nói đến lý do thứ hai của sự thay đổi tỷ giá đối với một ngọai tệ (Đo-la) dựa trên CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ giữa đồng tiền quốc gia và ngọai tệ ở một nước. Tại một quốc gia, có việc nhập ngọai tệ do xuất cảng và việc xuất ngọai tệ do nhập cảng. Cụ thể là phương tiện thanh tóan xuất nhập cảng là đồng Đo-la. Như vậy có Thị trường trao đổi giữa đồng tiền quốc gia với ngọai tệ Đo-la do Xuất Nhập cảng làm thay đổi CUNG và CẦU đo-la và đồng tiền quốc gia trên Thị trường. Khi CUNG và CẦU thay đổi ở Thị trường Tiền tệ, thì tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và đồng Đo-la có có những bấp bênh thay đổi (Flexible et Flottant). Đây là lý do thứ hai làm thay đổi tỷ giá giữa ngọai tệ và tiền quốc gia.
=> Thị trường Tiền tệ mỗi quốc gia như nói trên đây tùy thuộc cán cân Thương mại mỗi nước, nghĩa là thặng dư Xuất-Nhập cảng hay thiếu hụt Xuất-Nhập cảng. Nói thặng dư Xuất-Nhập cảng nghĩa là Xuất cảng lớn hơn Nhập cảng và ngược lại thiếu hụt Xuất-Nhập cảng nghĩa là Nhập cảng cao hơn xuất cảng. Xuất cảng cao hơn Nhập cảng tức là quốc gia thu vào nhiều Đo-la (ngọai tệ chính thanh tóan Xuất-Nhập cảng). Nhập cảng cao hơn Xuất cảng tức là quốc gia cho ra ngòai nhiều Đo-la. Chi tiêu trong nước bằng tiền quốc gia. Vì vậy khi Xuất cảng nhiều và thu vào nhiều Đo-la, thì những nhà xuất cảng phải đổi Đo-la ra để chi tiêu trong nước, tức là phía CẦU đồng tiền quốc nội phải tăng. Khi tăng CẦU tiền quốc nội, thì giá trị tiền quốc nội trở thành mắc giá sánh với Đo-la. Tỷ giá giữa đồng tiền quốc nội sánh với Đo-la phải tăng. Nhưng nếu Nhập cảng nhiều hơn Xuất cảng, thì phía CẦU Đo-la tăng, vì vậy Đo-la mắc giá hơn tiền quốc nội.
=> Theo nguyên tắc CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ quốc nội trên đây, Trung quốc Xuất cảng nhiều hơn Nhập cảng, thì họ thu vào nhiều Đo-la hơn là chi tiêu Đo-la ra nước ngòai. Các nhà Xuất cảng phải đổi Đo-la ra đồng Yuan, tiền quốc gia, để chi tiêu trong nước. Phía CẦU đồng Yuan phải tăng, nghĩa là đồng Yuan phải lên giá sánh với Đo-la. Đó là tỷ giá tự nhiên giữa đồng Yuan và đồng Đo-la. Trong bao nhiêu năm Xuất cảng hàng hóa, Trung quốc thu vào số lượng lớn Đo-la và phải chi tiêu trong nước bằng đồng Yuan, tiền quốc gia. Những nhà Xuất cảng hàng Trung quốc tăng phía CẦU đồng Yuan để chi tiêu ở Trung quốc. Tỷ giá đồng Yuan phải lên cao. Đó là tỷ giá được gọi là tự nhiên theo luật CUNG và CẦU của đồng tiền quốc nội ở Thị trường Tiền tệ nếu có tự do.
=> Nhưng khuynh hướng tăng tỷ giá giữa đồng Yuan và Đo-la tại Trung quốc đã bị sự ngăn chặn bởi quyền lực Chính trị. Người ta gọi đây là sự can thiệp Nhà Nước độc đóan vào Luật CUNG và CẦU ở một Thị trường. Khi khuynh hướng tự nhiên là tỷ giá giữa đồng Yuan và đồng Đo-la phải cao hơn, thì Nhà Nước ấn định một tỷ giá thấp hơn. Đây là việc đặt “Giá trần nhà“ (Prix plafond) để ngăn chặn khuynh hướng tăng giá. Việc ngăn chặn với “giá trần nhà“ này luôn luôn tạo ra Chợ Đen và là nguồn gốc của sự ăn bẩn, hối lộ, đặc quyền.
=> Tại sao Nhà Nước Trung quốc làm công việc đặt “Giá trần nhà“ để ngăn chặn khuynh hướng tăng tỷ giá tự nhiên giữa dồng Yuan và đồng Đo-la ? Lý do là để làm hạ giá hàng hóa Trung quốc xuất cảng. Thực vậy, ở Thị trường Thương mại hàng hóa, phương tiện cạnh tranh chính yếu là giá cả hàng hóa. Mục đích của họat động Kinh tế là thu vào Lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận là độ lớn giữa Giá bán và Giá thành. Ơû Thị trường cạnh tranh gay gắt, người ta rất khó tăng Giá bán, nhưng có thể hạ Giá thành để làm tăng độ lớn của Lợi nhuận. Kinh tế gia Paul SAMUELSON nói ra như một định luật:“Trên thị trường cạnh tranh dài hạn, Lợi nhuận có khuynh hướng triệt tiêu“. Nhưng có những Xí nghiệp vẫn sống vì thu được Lợi nhuận vì họ biết quản trị Giá thành thấp. Hàng hóa Trung quốc thuộc chính yếu những hàng hóa xử dụng thường ngày cho đại đa số quần chúng nghèo, không cần phẩm chất cao. Sản xuất những hàng hóa này không cần phải chi tiêu thiết bị Kỹ thuật đắt giá, mà chỉ xử dụng chính yếu Nhân lực. Trung quốc xử dụng độc đóan Chính trị để khai thác khối Nhân lực lớn với tiền lương rẻ mạt. Đồng thời, một cách hạ giá thành sản xuất nữa là tăng số lượng sản xuất, điều mà Trung quốc có thể làm.
=> Khi xử dụng quyền Chính trị Nhà Nước để giữ tỷ giá đồng Yuan hạ dối với Đo-la, đó là việc họ hạ thêm giá hàng xuất cảng để quyến rũ những nhà mua hàng từ nước ngòai có đựơc đồng Yuân hạ để mua hàng, chi tiêu tại Trung quốc. Đây cũng là việc hấp dẫn những Xí nghiệp Liên quốc gia (Multinationales) xử dụng vốn Đo-la, mua được đồng Yuan với giá rẻ để sản xuất hoặc xuất cảng ra nước ngòai bán thu vào Đo-la mắc giá. Mức độ Lợi nhuận tăng rộng từ giá hạ sản xuất tại Trung quốc với chi tiêu đồng Yuan rẻ, đến giá xuất cảng thương mại với giá Đo-la cao.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010
| | | |
GIAN GIẢO KINH TẾ TQ LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 14.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Những gian lận Kinh tế/ Thương mại của Trung quốc dần dần xuất hiện. Trong tình trạng phát triển Kinh tế bình thường hoặc hồ hởi, người ta dễ bỏ qua những gian lận ấy. Nhưng ngày nay, sau việc khó khăn phục hồi Kinh tế hậu Khủng hỏang, nhất là tình trạng thất nghiệp tăng mạnh khắp nơi, những gian lận ấy được phanh phui ra và những biện pháp chế tài gian lận sẽ được đặt ra và áp dụng.
Những gian lận Kinh tế/ Thương mại Trung quốc
Trong Hội Nghị Copenhague vừa qua, người ta thấy thái độ quá lì lợm của Trung quốc làm nguyên nhân chính cho bế tắc những đàm phán của Hội Nghị. Thái độ khăng khăng của Trung quốc gồm hai điểm: (i) thứ nhất là Trung quốc nhất định bám sát Ký kết Kyoto theo đó thì các nước đã kỹ nghệ hóa phải tài trợ cho những nước chưa phát triển để giảm thiểu thải khí độc trong đó có Trung quốc là nước được hưởng tài trợ này; (ii) thứ hai là Trung quốc nhất định không cho phép bất cứ những thanh tra, kiểm điểm nào đến từ nước ngòai hay một tổ chức nào gồm một số nước được trao trách nhiệm kiểm sóat, thanh tra thực hiện việc giảm thiểu khí độc.
Trung quốc nại ra vấn đề Chủ quyền Quốc gia để nhất định không nhượng bộ điểm thứ hai trên đây. Hoa kỳ, qua Ngọai trưởng Hilary CLINTON, đã nhấn mạnh đòi hỏi thanh tra này bởi lẽ Trung quốc đứng đầu trong việc thải khí độc, mà nếu không có kiểm điểm việc thực hiện, thì những cố gắng gỉam thiểu khí của các nước khác trở thành vô ích.
Thái độ cố thủ của Trung quốc đã cho các nước khác dự đóan một sự gian lận nào đó mà Trung quốc không muốn cho ai biết.
Thực ra sự nghi ngờ về lòng ngay thẳng của Trung quốc ở lãnh vực Kinh tế/ Thương mại đã có một số biểu lộ với chứng cớ từ đã một số năm nay. Hình ảnh về gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn qua những sự việc sau đây:
1) Thương hiệu MADE IN CHINA mỗi ngày mỗi giảm xuống qua những kiểm chứng có tính cách khoa học đối với một số những hàng hóa Trung quốc:
* Thực phẩm, sữa, bánh kẹo mang nhiều lượng mélanine có hại cho sức khỏe. Một số những thực phẩm được sản xuất thiếu những điều kiện vệ sinh đòi hỏi.
* Hàng nông nghiệp mang dấu vết tồn tại của những chất sát trùng hoặc những hóa chất nguy hại.
* Những đồ chơi cho trẻ con mang nước sơn có thể sinh bệnh, nhất là khi trẻ con cho vào miệng ngậm.
* Hàng công nghệ đẹp mã, với giá rẻ, nhưng chất liệu xử dụng không tốt và dễ hư hỏng trong một thời gian rất ngắn.
* Những thuốc giả đem bán tại những nước nghèo, nhất là tại Phi châu, không những không chữa được bệnh mà có thể gây thêm những bệnh khác.
* Một số những vật liệu xây cất cũng được sản xuất với chất liệu kém, khiến những công trình xây cất nhằm dài hạn bị hư hỏng trước hạn kỳ dự trù.
2) Những xí nghiệp, những nhà máy sản xuất nhằm sản xuất cấp thời để xuất cảng hàng hóa thâu tiền mau chóng. Việc tổ chức nhà máy đã không tôn trọng những những đòi hỏi thiết lập những phương tiện bảo vệ môi trường. Kỹ nghệ Trung quốc đã làm ô uế và phá họai môi trường mà dân chúng phải hứng chịu. Có lẽ đây là lý do mà Trung quốc cố thủ không cho một kiểm sóat, thanh tra nào từ nước ngòai để có thể tố giác những gian lận công nghệ hóa của đảng CSTQ, nhóm Mafia làm Kinh tế riêng cho nhóm.
3) Ai cũng biết việc xử dụng có tính cách bóc lột nhân lực tại Trung quốc. Nhân công bị khai thác không tương xứng với đồng lương. Một số những nhà luân lý, nhậy cảm về nhân quyền đã lên tiếng kêu gọi từ chối việc xử dụng hàng Trung quốc.
4) Trung quốc đã xử dụng vốn dự trữ để khai thác tài nguyên, nhất là nguyên vật liệu như quặng, khí đốt thiên nhiên, dầu lửa... từ nhưng nước nghèo, có thể qua những hối lộ cho những chính quyền những nước này:
* USD.25 tỉ cho vùng Trung Á. Tại vùng này, có những va chạm quyền lợi với Nga. Nga không dễ dàng gì mà để Trung quốc yên lành khai thác chính trong vùng đang mang nhiều liên hệ có tính cách lịch sử với Nga.
* USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.
* USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.
Việc khai thác nguyên vật liệu cũng đồng thời nằm trong chủ trương xuất cảng sang những vùng nghèo trên đây:
-> Những thiết bị cũ của Trung quốc
-> Những vật liệu xây cất sản xuất rẻ tiền từ Trung quốc
-> Khối nhân công rẻ tiền của Trung quốc. Hiện tại Phi châu có chừng trên 100'000 nhân công Trung quốc..
Trung quốc muốn trở thành chủ nợ cũng như họ đã là chủ nợ của CSVN để dễ dàng bắt ép con nợ phải nhận những nhượng quyền về Kinh tế/Thương mại. Những phản ứng của dân chúng Việt Nam về Beauxite cắt nghĩa những phản ứng sẽ xẩy ra ở những xứ nghèo con nợ khác.
5) Việc cố thủ xử dụng tỉ giá đồng Yuan thấp sánh với Mỹ-kim nhằm nâng đỡ xuất cảng đã từ lâu gây bực tức cho Mỹ, Liên Aâu và một số lớn những nước Á châu. Một trong những lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.
Báo Philippine Star trong tháng 12/2009 có bài cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỉ giá đồng nhân dân tệ như hiện nay khiến hàng xuất khẩu của Asean chịu thiệt hại nặng.
Kinh tế gia Zhang BIN, làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội tại chính Trung quốc, đã lên tiếng khuyến cáo Trung quốc phải nâng tỉ giá đồng Yuan lên 10% sánh với Mỹ-kim.
6) Hoa kỳ đang có những nghi ngờ về liên hệ giữa Iran và Trung quốc khiến Trung quốc có thái độ lừng khừng đối với việc chế tài chương trình Nguyên tử của Iran. Trung quốc cần dầu lửa và có quyền Veto ở Liên Hiệp Quốc.
Sự gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đã và sẽ tạo ra những phản ứng thất lợi cho chính Trung quốc. Không thể lừa người khác lâu dài được.
Chính sách Kinh tế Trung quốc làm tổn hại đến mọi Quốc gia
Đó là khẳng định của Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010
(http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html) (Người dịch: Đoàn Hưng Quốc):
“Nền kinh tế của Trung Quốc rất thành công trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển vượt bực nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát triển.
Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.
Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.
Sau khi thả nổi đồng Quan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.
Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.
Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.
Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.
Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Quan của Bắc Kinh.
Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.
Những biện pháp Che Chở Mậu Dịch
Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).
Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Oâng LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).
Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.
Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 14.01.2010
| | | |
HÕAN TỰ DO MẬU DỊCH TRUNG QUỐC-ASEAN
2010 mở đầu Tự do Mậu dịch với TQ, nhưng ASEAN muốn hõan?
Trang web tiếng Trung và Anh về Khu vực Tự do Mậu dịch với Asean. Chỉ vài ngày sau khi Khu vực Tự do Mậu dịch Trung Quốc-Asean khai trương, Indonesia đã đề nghị hoãn lại việc thực hiện trong lúc giới doanh nghiệp Thái Lan, Philippines cũng nói hiệp định có hại cho họ.
Theo báo Jakarta Post hôm nay 5/1/2010, Bộ trưởng Thương mại Indonesia vừa đưa ra đề nghị hoãn việc áp dụng chế độ cắt giảm thuế nhập khẩu trong khuôn khổ hiệp định tự do thương mại với Trung Quốc, gọi tắt là AC-FTA hoặc CAFTA. Theo các thỏa thuận đã ký từ trước, năm 2010 mở ra một khu vực tự do mậu dịch giữa Trung Quốc và sáu nước chủ chốt của Asean là Singapore, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Brunei. Những nước kém phát triển hơn về kinh tế trong Asean gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện dự kiến sẽ tham gia khu vực tự do mậu dịch vào 2015.
Nhưng nay, Bộ trưởng Mohamad Suleman Hidayat của Indonesia thông báo chính phủ nước ông đã gửi lên ban lãnh đạo khối Asean đề nghị hoãn lại việc cắt giảm thuế nhập đồng thời muốn "đàm phán lại".
Chính Trung Quốc cũng hiểu rằng tự do hóa thị trường một cách toàn diện có thể tác động xấu đến Asean.
Từ mấy tuần qua, báo chí các nước trong vùng đã nói Bấm Khu vực Tự do Mậu dịch với Trung Quốc "gây hại cho doanh nghiệp và xuất khẩu" của Asean.
Báo Philippine Star trong tháng 12/2009 có bài cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỉ giá đồng nhân dân tệ như hiện nay khiến hàng xuất khẩu của Asean chịu thiệt hại nặng.
Nay, doanh nghiệp các nước khác trong Asean cũng lên tiếng.
Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Hoa kiều Malaysia (ACCCIM), ông Tan Sri William Cheng nói với báo chí nước này rằng chính Trung Quốc "cũng hiểu rằng tự do hóa thị trường một cách toàn diện có thể tác động xấu đến Asean".
Theo báo Indonesia, thỏa thuận AC-FTA, mức thuế quan không phần trăm đươc áp dụng cho 17 khu vực kinh tế nước này, gồm 12 trong ngành sản xuất, năm trong ngành nông nghiệp, khai khoáng và cả hải sản.
Thiệt nhiều hơn lợi?
Điều Asean lo ngại là hàng rẻ nhập từ Trung Quốc. Bộ trưởng Công nghiệp Indonesia Mohamad Suleman Hidayat nói rằng cần đàm phán lại để "hàng hóa nhập khẩu rẻ không tràn vào làm lụt thị trường mà không bị ngăn chặn".
Còn ông Tan Sri William Cheng tin rằng nếu các vấn đề không được giải quyết thì Khu vực Tự do Mậu dịch sẽ "có nhiều điểm cản trở hơn là thuận lợi".
Dù ngoại giao với Bắc Kinh tiến triển, doanh nghiệp Malaysia lo bị thiệt vì hàng Trung Quốc. Ông cũng nói ngoài ngành xe hơi được chính phủ Malaysia bảo vệ chặt chẽ, các ngành công nghiệp khác sẽ gặp khó khăn khi thuế nhập hàng từ Trung Quốc xuống không phần trăm.
Dù chính giới Indonesia tiết lộ rằng các bên đã "trao đổi không chính thức" và họ sẽ tìm cách "đàm phán lại vào cuối năm nay", phía Trung Quốc chưa thấy nói gì về việc áp dụng FTA với Asean. Cho tới nay, Trung Quốc chỉ cam kết bỏ ra 10 tỉ USD vào các dự án xây cất đường xá và cơ sở hạ tầng tại Asean, với mục tiêu nâng cao hiệu năng của trao đổi thương mại.
Bấm Việt Nam, nước chủ tịch Asean năm 2010, đã tự có động thái là phá giá đồng tiền của mình để "tự vệ" và kích thích hàng xuất khẩu.
Hiện chưa thấy Việt Nam lên tiếng trước các phát biểu của lãnh đạo và doanh nghiệp Asean trong việc tìm đối sách với Trung Quốc khi AC-FTA có hiệu lực.
Giới trí thức người Việt tuy thế đã lên tiếng cảnh báo về việc áp dụng các quy chế tự do mậu dịch với Trung Quốc.
Theo Giáo sư Trần Văn Thọ từ Đại học Waseda, Nhật Bản thì năm 2008 xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ bằng 29% kim ngạch nhập khẩu từ nước này và riêng nhập siêu với Trung Quốc chiếm 60% tổng nhập siêu của Việt Nam, một yếu tố gây bất ổn định kinh tế vĩ mô từ nhiều năm nay.
Bấm Trong bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ông cho rằng theo Hiệp định thương mại tự do (FTA) đến năm 2015 Việt Nam sẽ bãi bỏ thuế quan đối với hàng từ Trung Quốc, lúc đó tác động của kinh tế Trung Quốc đối với Việt Nam còn mạnh mẽ hơn hiện nay.
Nguy cơ cho Việt Nam, theo chuyên gia Việt kiều này chính là "cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do, trong đó các nước đi sau không nỗ lực cải cách và có chiến lược phát triển thích hợp sẽ sa vào bẫy làm cố định cơ cấu kinh tế và ngoại thương hiện tại, và do đó có khả năng không thể công nghiệp hóa".
TỰ DO MẬU DỊCH CAFTA
Trần Khải
Việt Nam gỡ rào thương mại, và hàng Trung Quốc sẽ ào ạt tiến vào. Cuộc chiến mới đang diễn ra: trong khi các quan chức Hà Nội trấn an dư luận rằng tự do mậu dịch giữa khối ASEAN và Trung Quốc sẽ là cơ hội cho hàng Việt Nam chiếm lĩnh thị trường TQ, thì thực tế như dường diễn ra là hàng Việt đang bị đẩy lùi về phương Nam.
Tình hình lúc đầu tưởng như là dễ ăn, vì trong cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu mấy năm qua, nhiều nước vùng Liên Âu và Hoa Kỳ nghiêng về chính sách bảo hộ mậu dịch, kiếm cớ gây sự dựng rào cản thương mại, từ giày da tới hàng may mặc, cho tới cá basa... cho nên Trung Quốc được khối ASEAN nhìn như một thị trường khổng lồ và dễ dãi. Nhưng thực tế, thấy vậy mà không phảỉ vậy.
Hiệp ước có tên gọi tắt là CAFTA, viết đủ là China-Asean Free Trade Area. Đã hiệu lực kể từ ngày 1-1-2010. Được ca ngợi là thị trường tự do mậu dịch lớn nhất thế giới, CAFTA được mô tả là có 1.7 triệu khách hàng, với tổng sản lượng quốc dân là 2 ngàn tỉ đô la, và có tổng trị giá thương mại là 1.3 ngàn tỉ đô la. Trong đó, trị giá thương mại hiệp ước này là 200 tỉ đô.
Hiệp ước viết rằng, thương mại giữa TQ và 6 nước khối Asean trong đó có Brunei, Indonesia, Mã Lai, Phi Luật Tân, Thái Lan và Singapore đã miễn thuế quan cho hơn 7,000 mặt hàng.
Vào năm 2015, các nước Asean mới vào, trong đó có Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Miến Điện, sẽ vào sân chơi miễn thuế quan.
Thế là Trung Quốc, và chủ yếu là TQ, ca ngợi ầm ĩ rằng CAFTA sẽ mang “lợi ích hỗ tương” cho cả TQ và Asean. Thực tế, lợi nhiều nhất lại là TQ.
Phía Việt Nam, khi nhiều nhà quan sát nêu lên nỗi lo là sẽ bị hàng TQ tràn vào đè bẹp, các quan chức trấn an liền.
Báo Tìn Nhanh dựa theo bản tin báo Tuổi Trẻ tuần qua đăng bài nhan đề “E ngại hàng giá rẻ tràn vào Việt Nam,” ghi lại cuộc phỏng vấn một quan chức. Bản tin trích:
“VN bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế cho các mặt hàng Trung Quốc để đến năm 2015, 90% dòng thuế sẽ về 0-5%. Liệu hàng Trung Quốc có ồ ạt vào VN thời gian tới? Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Quang Lân - phó vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công thương) - cho biết:
- Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) bắt đầu thực thi từ năm 2005. Mục tiêu của hiệp định là trong mười năm sẽ tạo ra khu vực thương mại tự do, không thuế quan giữa các nước ASEAN - Trung Quốc. Năm 2010 là một năm quan trọng với sáu nước ASEAN cũ là Singapore, Philippines, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Brunei khi 90% dòng thuế sẽ giảm xuống mức 0-5%, trong đó chủ yếu là 0%. Riêng VN từ năm 2010 cũng bắt đầu cắt giảm để đến năm 2015, 90% dòng thuế đối với hàng Trung Quốc sẽ về 0-5%. Tuy thực hiện chậm hơn nhưng ta vẫn được hưởng đầy đủ ưu đãi của Trung Quốc như các nước ASEAN khác.
* Hàng Trung Quốc chưa được giảm thuế đã tràn ngập, hiệp định này sẽ mở ra những thách thức lớn hơn đòi hỏi doanh nghiệp VN cần nhanh chóng nhận thức và vào cuộc?
- Phải nói thách thức khi cắt giảm thuế quan với hàng Trung Quốc là rất lớn, tuy nhiên VN cũng có cơ hội. Thực tế trong chương trình thu hoạch sớm, mặc dù VN chưa giảm thuế mạnh cho Trung Quốc nhưng phía Trung Quốc đã giảm thuế trước cho hàng VN. Vì vậy, nhiều mặt hàng nông sản của VN đã xuất khẩu mạnh vào Trung Quốc thời gian gần đây.
Trên nguyên tắc, chương trình thu hoạch sớm rất có lợi cho VN với nhiều hàng nông sản như rau quả, thủy, hải sản... được giảm thuế. Vì vậy, riêng những mặt hàng theo chương trình thu hoạch sớm VN lúc nào cũng xuất siêu. Chương trình đang mang lại nhiều lợi ích cho VN vì tất cả hàng nông sản xuất vào Trung Quốc đều cơ bản đã có thuế suất 0%. Từ năm 2004 đến nay, năm nào ta cũng xuất siêu. Riêng năm 2008 trong chương trình thu hoạch sớm, VN xuất khẩu sang Trung Quốc 365 triệu USD, nhập khẩu 131 triệu USD.
Chúng ta cũng bước đầu xuất khẩu được nhiều sản phẩm may mặc, giày dép, thiết bị sang Trung Quốc với tỉ trọng ngày một tăng. Tôi xin nhấn mạnh doanh nghiệp của ta vẫn cần chủ động hơn nữa để tận dụng ưu đãi của ACFTA trong các năm tới...” (hết trích)
Nghĩa là, qua lời ông Phó Vụ Trưởng Lê Quang Lân, phía Việt Nam hưởng lợi vô số kể. Nhưng thực tế có đúng là như thế không? Có đúng là hàng VN bán vào TQ ào ạt không, hay là ngược lại, chưa thực hiện gì đã thấy hàng TQ tràn vào VN như thác lũ?
Bản tin BBC tuần này đưa nỗi bi quan ngay ở nhan đề bản tin, “Cửa chính và cửa sau đều là hàng TQ,” viết:
“... thách thức đối với hàng Việt Nam là vô cùng lớn, như cuộc trao đổi sau đây giữa BBC Việt Ngữ với bà Phạm Chi Lan, chuyên viên kinh tế từ Việt Nam. ..
BBC: Lộ trình của Hiệp định tự do Thương mại Asean Trung Quốc cho thấy tới năm 2015, 90 phần trăm dòng thuế đánh vào hàng Trung Quốc sẽ ở mức từ 0 đến 5%. Thưa bà liệu các công ty Việt Nam có chuẩn bị kịp không?
Phạm Chi Lan: Thực sự tôi lo đây là thách thức rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tôi lo rằng trong 5 năm nữa nhiều doanh nghiệp khi phải trực diện cạnh tranh với hàng TQ khi vào Việt Nam sẽ không dễ gì cạnh tranh nổi. Vì thời gian năm năm có thể không đủ cho họ để nâng cao năng lực cạnh tranh của họ để đối phó với hàng Trung Quốc.
Ai cũng biết nâng cao năng lực cạnh tranh không dễ dàng, nó phụ thuộc một phần vào doanh nghiệp, phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, vào điều kiện phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam. Các điều kiện phát triển hiện nay có nhiều mặt chưa thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là thực tế không thể nào bỏ qua. Trong khi về phía Trung Quốc có thể nói là các nhà cầm quyền của Trung Quốc cũng đã có nỗ lực rất lớn và có các chính sách rất khôn ngoan để hỗ trợ cho doanh nghiệp của họ. Vì vậy vị thế của họ có thể luôn luôn là tốt hơn so với vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam ở ngay thị trường của mình...”(hết trích)
Phía Indonesia đã lạnh cẳng rồi. Như thế, có phải VN chưa thấy quan tài chưa đổ lệ?
Một phát ngôn nhân Bộ Kỹ Nghệ Indonesia mới tuần qua nói với nhật báo Mỹ Wall Street Journal, rằng chính phủ Indonesia đã chính thức trình một lá thư lên ASEAN để xin cho hiệp ước tự do thương mại với TQ hoãn cho tới tháng 1-2011. Nghĩa là xin hoãn một năm.
Indonesia thấy rằng khi miễn thuế quan cho 90% hàng hóa nhập khẩu – trong đó có các sản phẩm như may dệt, thép và hóa chất -- sẽ làm hại cho các kỹ nghệ của Indonesia vì hàng TQ nhập vào bán giá quá rẻ. Và Indonesia cần hoãn một năm để sửa soạn nội lực đón “thác lũ thương mại” từ TQ.
Không chỉ có Indonesia, nhiều viên chức Phi Luật Tân cũng lo ngại. Báo Inquirer.net của Phi Luật Tân hôm 14-1-2010 đăng bài của Walden Bello -- một dân biểu Phi Luật Tân, thuộc Đảng Hành Động Công Dân và bản thân là nhà nghiên cứu ở viện Focus on the Global South -- cho thấy rằng, cứ tưởng khi Liên Âu và Mỹ gây sự khép thị trường, khối Asean nhảy sang tìm thị trường tự do mậu dịch với TQ hóa ra lại còn tệ hại hơn.
Trước tiên là tình hình hàng lậu từ TQ, thực tế đã làm hỗn loạn nhiều nền kinh tế của ASEAN rồi. Bello viết rằng có khoảng 70-80% tiệm giày ở VN đang bán giày TQ nhập lậu, và do vậy, kỹ nghệ giày VN thiệt hại nặng lắm rồi. Trường hợp Phi Luật Tân cũng tương tự như thế, theo bài viết nhan đề “The China-Asean Free Trade Area: Propaganda and Reality” (Vùng Tự Do Thương Mại TQ-Asean: Tuyên Truyền và Thực Tiễn).
Không chỉ giaỳ da, mà kỹ nghệ rau quả cũng thiệt hại vì hàng TQ nhập lậu.
Bello còn viết, “Thực tế, nhiều mặt hàng đã bị ảnh hưởng xấu rồi, kể cả thép, giấy, xi-măng, hóa dầu, nhựa plastic, và ngói sứ.”
Bello dẫn ra bản nghiên cứu của Joseph Francia và Errol Ramos từ tổ chức Free Trade Alliance, trong đó viết, “Nhiều công ty Phi Luật Tân, ngay cả những công ty có tin1h cạnh tranh toàn cầu, đã phải đóng cửa hay là phải giảm sản lượng và cắt bớt nhân viên, chỉ vì hàng lậu tràn vào.”
Bello viết, “Bây giờ có nỗi lo là hiệp ước CAFTA sẽ đơn giản hợp pháp hóa việc nhập lậu và làm tệ hại thêm ảnh hưởng vốn đã xấu vì hàng TQ nhập vào đối với kỹ nghệ và nông nghiệp ASEAN.”
Thực tế ra sao? Chỉ thấy rằng, trong khi quan chức Hà Nội lạc quan, thì nhiều nhà phân tích thị trường, cả Việt Nam, Indonesia và Phi Luật Tân đều bi quan.
Hiệp ước CAFTA có vẻ như khúc gân gà rồi vậy.
| | | |
NĂM 2010: NHẬN ĐỊNH CHUNG TÌNH HÌNH KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Tóm tắt nội dung Bài này đã được Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn và ghi âm hôm qua, 06.01.2009. Hôm nay 07.01.2010, bài phỏng vấn sẽ được phát thanh về Việt Nam.
Nhật Báo Anh FINANCIAL TIMES thứ Hai 04.01.2010 đăng ở trang 19 bài phỏng vấn một số những nhà Quản trị xí nghiệp lớn Quốc tế dưới đầu đề SỰ NGHIÊM KHẮC LÀ TIẾNG NÓI CHÌA KHÓA KHI NHỮNG NHÀ QUẢN TRỊ ĐẶT CHƯƠNG TRÌNH CHO NĂM TỚI (Austeriry the Key word as Business Leaders plan for the coming year). Cũng Vậy, Nhật Báo LE MONDE thứ Ba 05.01.2010 đăng ở trang 13 bài phỏng vấn 5 nhà Quản trị xí nghiệp lớn của Pháp với đầu đề là HỒI PHỤC KINH TẾ NÀO CHO 2010 ? DỰ ĐÓAN CỦA 5 CHỦ XÍ NGHIỆP (Quelle eprise en 2010 ? Le Pronostic de cinq Patrons). Năm nhà Quản trị này thuộc những ngành họat động khác nhau : Phân phối Hàng hóa, Sản xuất Xe Hơi, Bưu điện, Xây Cất và Chuyên Chở.
Nhận định của những Nhà Quản trị như thế nào ?
=> Theo Nhật Báo FINANCIAL TIMES
Oâng Michael O’LEARY, Chủ tịch Công ty Hãng Máy Bay hạ giá RYANAIR đã tóm tắt thái độ của các Xí nghiệp Tây phương bằng những chữ « Phải nghiêm khắc về Chi tiêu ». Oâng đã gọi năm 2010 là năm rất bảo thủ (“2010 is a year to be very conservative“)
Ong Alan MIDDLETON, Giám đốc Điều Hành của Công ty PA Tư Vấn của Anh quốc, cảnh cáo rằng các Xí nghiệp phải lo tạo dựng vững chắc Qũy lưu hành thường xuyên (Liquidité permanente) họat động, chứ không đầu tư xả láng và phiêu lưu.
Oâng Feike SIJBESMA, đứng đầu Tập đòan DSM của Đức nói : »Qũy lưu hành thường xuyên và canh chừng chi tiêu là hai ưu tiên trong suốt năm 2010 ».
Oâng Michel DEMARE, Giám đốc Tài chánh của Tập đòan Điện ABB của Thụy sĩ, cho rằng mối quan tâm của những Xí nghiệp Liên quốc gia là di chuyển một số đơn vị sản xuất sang những nước bắt đầu phát triển để giảm chi tiêu.
Một Phúc trình của Ngân Hàng UBS cho rằng trong năm một số những Xí nghiệp yếu sẽ bị mua và biến mất.
=> Theo Nhật Báo LE MONDE
Oâng Michel-Edouard LECLERC, Chủ tịch Tập đòan Phân Phối Hàng Hóa LECLERC tuyên bố rằng năm nay 2010, Tiêu thụ vẫn còn giảm sút. Năm ngóai, thụt giá từ 4% tới 0%. Nếu giảm giá vẫn tiếp tục, thì đây là sự ngưng họat động của một số nhà phân phối.
Oâng Patrick PELATA, Tổng Giám đốc Hãng Renault, đưa ra ba yếu tố đình trệ: thứ nhất là Khả năng tài chánh tiêu thụ, thứ hai là sự Tin tưởng của giới tiêu thụ vào Kinh tế (như vậy mới dám tin tưởng lấy Tín dụng tiêu thụ), thứ ba là sự Già đi của sản xuất Xe Hơi.
Oâng Jean-Paul BAILLY, Chủ tịch Bưu Điện, nhận xét rằng việc Phục hồi Kinh tế rất khác nhau tùy theo từng Châu lục và việc Phục hồi ấy khá chậm chạp cho Aâu châu, nhất là Pháp.
Oâng Pierre-André De CHALANDAR, Tổng Giám đốc Tập đòan Xây Cất Saint-Gobain, nhận xét rằng năm 2009, họat động xuống rất thấp và ông rất thận trọng cho năm 2010 vì chưa thấy dấu hiệu phục hồi nào. Trong hệ thống liên đới sản xuất, Oâng lo ngại cho những khó khăn của những Công ty nhỏ và Trung bình hợp tác làm việc xây cất với Tập đòan lớn của Oâng.
Oâng Patrick MOLIS, Chủ tịch Hãng Chuyên chở Quốc gia, tuyên bố : »Năm 2010 sẽ rất bình lặng ở Pháp và Aâu châu, không có phục hồi mạnh. Thất nghiệp tăng là vấn đề chính yếu. Nó ảnh hưởng tới phía Cầu tiêu thụ. Mặt khác, đừng quá trông chờ vào đà phát triển của Trung quốc. Mức Tiêu thụ của 1.3 tỉ người Trung quốc chỉ tương đương với 15% mức Tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ. Chính Aâu châu và Hoa kỳ mới kéo theo Đầu tầu Tiêu thụ của Thế giới. Tại Trung quốc, việc phục hồi mang tính cách giả tạo. Họ đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vào khả năng sản xuất, nhưng không có lối thóat tiêu thụ. Tại Aâu châu và đặc biệt tại Pháp, khuynh hướng tổng quát là thắt chặt đồng lương và giảm nhân viên.... Những Công ty nhỏ và trung bình, nếu có khả năng tài chánh, phải đầu tư để tạo công ăn việc làm. Những Xí nghiệp lớn thì tìm cách chuyển một số đơn vị sản xuất đi nơi khác, vì vậy giảm nhân viên tại Pháp và tại Aâu châu. »
Cắt nghĩa những nhận định bi quan cho năm 2010
Tổng quát mà nói, tình trạng đình trệ những họat động Kinh tế tùy thuộc vào phía CẦU tiêu thụ đúng như nghiên cứu của Kinh tế gia John M. KEYNES, ông tổ của nền Kinh tế Tiêu thụ (Economie de Consommation). Chính Tiêu thụ kéo theo Sản xuất (La Consommation mène la Production). Khi phía CẦU hàng hóa tăng, thì phía CUNG đầu tư để sản xuất. Phía Ngân Hàng, Tài chánh tin tưởng và dễ dàng cho Tín dụng.
=> Aûnh hưởng tâm lý của cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế 2008/2009
Năm 2010 chưa quên Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh năm 2008 và Khủng hỏang Kinh tế năm 2009. Thực vậy, cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh đi từ lý do quá dễ dãi của phía giữ vốn. Giới Ngân Hàng/Tài chánh tạo ra những sản phẩm tài chánh riêng của họ để cấp Tín dụng và buôn bán những sản phẩm Tài chánh ấy để ăn lời cao và nhanh chóng trong Kỹ nghệ Tài chánh riêng của họ (Industries Financìeres). Họ khuyến khích giới Tiêu thụ nhắm mát chi tiêu dựa trên Tín dụng dễ dãi, nghĩa là dựa trên ngưỡng vọng thu nhập tương lai. Giới sản xuất cũng dễ dàng có vốn đầu tư để sản xuất quá nhiều hàng hóa. Tiêu thụ và Sản xuất Kinh tế được thổi phồng lên như bong bóng mà những tác nhân Kinh tế như quên rằng đến một lúc nào đó bong bóng quá căng sẽ nổ. Thực vậy, khi giới Tiêu thụ, phía CẦU, ý thức về tiêu thụ quá lố, hoặc cảm thấy những hiệu quả thỏa mãn (Effets de Saturation), hoặc việc thu nhập tương lai không như ý hướng khả dĩ hòan Tín dụng, thì họ ngưng Tiêu thụ, giảm hẳn phía CẦU. Phía Ngân Hàng/Tài chánh không thâu hồi được Tín dụng và vỡ nợ hoặc thắt chặt lại việc cho vay cho cả phía CẦU và phía CUNG. Nền Kinh tế ngưng trệ, Khủng hỏang diễn ra.
=> Giữ thế thủ Tài chánh/ Kinh tế
Hình ảnh Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh và Kinh tế của những năm 2008/2009 vẫn còn sống trong đầu óc những nhà Quản trị Xí nghiệp khiến họ phải giữ những thận trọng cho năm 2010 như những phát biểu ở trên đây từ những Nhà Quản trị. Sự thận trọng bao gồm những điểm sau đây :
1) Giữ số vốn lưu hành chắc chắn để bảo đảm việc xoay sở những họat động của Xí nghiệp (Solvabilité).
2) Chắt bóp và căn cơ việc chi tiêu để có thể làm cho lợi nhuận tăng và do đó có tiền cho vào Qũy lưu hành (Liquidité) và Qũy dự trữ (Réserves). Không thể chi tiêu xả láng như trước với Tín dụng được dễ dàng cho bởi phía Ngân Hàng và Tài chánh.
3) Khi Kinh tế đi lên, các Xí nghiệp lạc quan và chi tiêu cho sản xuất. Khi Kinh tế đi xuống, thì các Xí nghiệp lo lắng về quản trị Chi tiêu ( Gestion des Dépenses, des Couts). Ở giai đọan khó khăn về tiền bạc, thì phải thắt lưng buộc bụng khi tiêu xài. Theo Paul SAMUELSON, ở một Thế giới cạnh tranh Kinh tế/Thương mại, khỏang cách lợi nhuận có khuynh hướng triệt tiêu, nên việc sống còn của Xí nghiệp tùy thuộc vào Quản trị Chi tiêu.
4) Chính vì lo lắng về quản trị Chi tiêu, mà các Xí nghiệp hướng về việc tái xử dụng những phương tiện sản xuất sẵn có. Trước khi đi mua cây bút chì mới, thì lục sóat trong ngăn kéo xem mình còn nửa cây bút chì gẫy chưa dùng hay không.
5) Cũng chính vì mối quan tâm quản trị Chi tiêu mà các Xí nghiệp chưa vội mướn thêm nhân công, đồng thời tìm cách chuyển những đơn vị sản xuất đến những nước có nhân công rẻ. Đây là lý do làm tăng thất nghiệp tại các nước đã Kỹ nghệ hóa : Hoa kỳ, Aâu châu, Pháp mà các nhà Quản trị trên đây đã đề cập tới.
6) Khi số thất nghiệp tăng, thì Kinh tế lại đi vào vòng luẩn quẩn. Tăng thất nghiệp có nghĩa là Thu nhập của giới Tiêu thụ giảm. Thu nhập giảm, thì phía CẦU giảm tác hại lên chính phía CUNG. Henry FORD đã áp dụng một chính sách lương bổng nâng đỡ phía CẦU khi Oâng nói:“Tôi trả lương hậu cho thợ để họ có tiền mua xe hơi mà tôi sản xuất“. Việc tăng thất nghiệp hiện nay, nhất là giới trẻ, làm giảm phía CÂU, sẽ tác hại lên chính phía sản xuất.
7) Một lý do nữa là giảm phía CẦU từ phía Nhà Nước. Các Nhà Nước của những Quốc gia đã Kỹ nghệ hóa đều thâm lạm Ngân Sách có tính dài hạn. Việc thâm lạm này là để cứu giới Ngân Hàng/Tài chánh. Chi tiêu Nhà Nước (Dépenses Publiques) chiếm vai trò khá quan trọng cho phía CẦU. Nhưng khi Ngân sách thâm lạm, thì tất nhiên Nhà Nước không thể chi tiêu, do đó làm giảm thên phía CẦU.
=> Thử nghĩ đến một vài đề nghị tích cực
1) Đầu tư vào những Công ty nhỏ và trung bình
Những nhận định bi quan trên đây đến từ những nhà Quản trị những Xí nghiệp lớn Liên quốc gia (Multinationales). Lời khuyên của Oâng Patrick MOLIS, Chủ tịch Tập đòan Chuyên chở Quốc gia Pháp là một trong những giải pháp cho tình trạng đình trệ và luẩn quẩn hiện nay. Đó là những Công ty Nhỏ và Trung bình đầu tư tạo công ăn việc làm. Chúng ta đã có kinh nghiệm của nước Ý cách đây 30 năm trước. Thực vậy, cách đây 30 năm, Kinh tế Ý dựa trên những Tập đòan lớn và hậu quả là dân thất nghiệp đình công. Từ những đại Xí nghiệp, Kinh tế Ý đã chuyển sang tiểu Xí nghiệp Gia đình để cứu vãn tình hình.
2) Đầu tư vào phương diện sáng tạo Kỹ thuật. Đây là ý tưởng của Oâng Jean-Paul BAILLY, Chủ tịch Bưu Điện Pháp. Oâng tuyên bố:“La crise des années 2008 et 2009 accélérera les innovations et les mutations technologiques, ce qui permettra une meilleure compétitivité des entreprises“ (LE MONDE 05.01.2010, page 13) (Khủng hỏang những năm 2008 và 2009 sẽ làm tăng tốc độ những sáng chế và những hóan chuyển kỹ thuật, điều cho phép tính cạnh tranh tốt nhất của những xí nghiệp). Thực vậy, những sáng chế thường phát xuất từ những trường hợp khó khăn, bế tắc mà người ta phải cố gắng tìm lối thóat.
Không thể quá tin tưởng vào đà phát triển Trung quốc
Đây là ý kiến của Oâng Patrick MOLIS. Thực vậy, cái nhìn của Thế giới vào Kinh tế Trung quốc là theo nhãn quan của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Thế giới làm Kinh tế trong khung cảnh một Xã Hội Dân chủ, nghĩa là Kinh tế thuộc về Dân. Trong khi đó, những họat động Kinh tế của Trung quốc thuộc về một nhóm đảng giữ quyền độc tài. Đây là Kinh tế của một nhóm Mafia hòan tòan giữ quyền quyết định độc tài. Thế giới nhìn vào Kinh tế Trung quốc và vẫn tưởng rằng đó là phát triển Kinh tế giống như ở Xã hội Dân chủ Tây phương.
Nền Kinh tế Mafia với quyền Chính trị độc tài mang những đặc tính sau đây:
1) Nhà Nước độc tài hòan tòan nắm vốn đầu tư. Những Xí nghiệp lớn nắm 90% sinh họat Kinh tế và do Nhà Nước cấp vốn. Nếu có 10% do vốn tư nhân, thì những công ty nhỏ tư nhân này cũng lệ thuộc vào những quyết định của những đại công ty Quốc doanh làm việc cho đảng.
2) Sinh họat Kinh tế của Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng để thu nhập nhanh cho Nhà Nước. Ông Patrick MOLIS nói rất đúng, mức tiêu thụ của 1.3 tỉ dân Trung quốc chỉ bằng 15% mức tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ. Khi mà Âu châu và Hoa kỳ, vì khó khăn Kinh tế, giảm thiểu tiêu thụ, thì ảnh hưởng trực tiếp là làm giảm xuất cảng của Trung quốc.
3) Với độc tài Chính trị, 90% Công ty Nhà Nước đã khai thác nhân lực Trung quốc như những nô lệ sản xuất để phục vụ thu nhập xuất cảng cho nhóm Mafia đảng Cộng sản Trung quốc. Những thu nhập cho đảng và cho túi riêng của đảng viên là giá mồ hôi nước mắt của khối dân không lồ Trung quốc bị Chính trị độc tài bắt ép làm việc với đồng lương rẻ mạt.
4) Nền Kinh tế Trung quốc ăn xổi ở thì, thu nhập mau, nhưng không quan tâm đến những ô uế môi trường. Dân chúng vừa bị khai thác nhân lực, vừa phải chịu những ô uế môi trường trong lâu dài. Tại Hội Nghị Copenhague, nếu có ai ngạc nhiên thấy thái độ khăng khăng của Trung quốc không muốn ai nhòm ngó, kiểm sóat việc phóng khí độc, thì phải hiểu rằng đây là một hệ thống sản xuất mà nhóm đảng Mafia cố thủ giấu kín. Ai chết mặc ai, miễn là đảng thu nhập nhanh chóng. Tỉ dụ mới đây nhất là ống dẫn dầu bị vỡ và dầu chảy loang làm ô uế sông Hòang Hà. Nhà Nước và Báo đài giấu diếm.
5) Những Chương trình kích cầu kinh tế không nhằm khối dân tiêu thụ Trung quốc. Ông Patrick MOLIS gọi đây là những Chương trình có tính cách giả tạo:
* Chi tiêu vào Hạ tầng cơ sở. Với xứ sở mênh mông, hạ tầng cơ sở không thể xây dựng nhanh chóng với số vốn bỏ ra tương đối nhỏ bé. Đảng Mafia chỉ lo những thành phố ven biển và xây cất nhà cửa giống như Dubai để làm vẻ vang cho đảng, chứ không phải cho dân.
* Canh tân một số những cơ sở sản xuất bởi vì thiết bị sản xuất lúc đầu là những máy móc “second hand” mua lại rẻ từ Tây phương, nhưng Ông Patrick MOLIS nhận xét luôn rằng sản xuất mà Trung quốc không có ngõ ra tiêu thụ (capacités de production, mais sans débouchés). Tiêu thụ Hoa kỳ và Âu châu giảm xuống, tiêu thụ nội địa Trung quốc thì không được đầu tư, do đó không có lối thóat tiêu thụ (sans débouchés).
* Kinh tế Trung quốc thuộc về nhóm Mafia đảng, mà đảng muốn giữ quyền độc tài và không muốn chuyển Kinh tế sang tay Dân. Đầu tư tăng khả năng tiêu thụ cho Dân, đó là sự chuyển hướng Kinh tế về Dân, điều mà nhóm Mafia đảng không muốn vậy. Muốn giữ độc tài Chính trị, thì phải giữ vững độc quyền Kinh tế. Khối Dân Trung quốc gồm 1.3 tỉ người. Đảng CSTQ nắm số vốn lớn do sự bóc lột sức lao động của khối Dân ấy mà có. Nhưng đảng không muốn bỏ vốn nâng cấp Khả năng Tiêu thụ (Pouvoir d’Achat) cho khối Dân đó để Kinh tế Trung quốc trở thành độc lập, không lệ thuộc vào lo lắng giảm sút đặt hàng từ nước ngòai. Đảng biết rằng khi nâng cấp khả năng Tiêu thụ cho Dân chúng, tức là bắt đầu Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế. Dân chủ hóa Kinh tế là bước chắc chắn nhất để phế bỏ độc tài Chính trị. Khi Dân nắm vững Kinh tế trong tay, thì họ có thể tuyên bố:”Trước đây thì nhất sĩ (Chính trị), nhì nông (Kinh tế), nhưng hết gạo chạy rông, thì nhất nông (Kinh tế) nhì sĩ (Chính trị)”. Dân chủ hóa Kinh tế là một sự nhượng quyền Chính trị (đảng) bó buộc vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
NĂM 2010: KINH TẾ MỸ SUY THÓAI LẦN HAI ?
Paul Krugman:
Kinh tế gia đoạt giải Nobel, ông Paul Krugman, cho rằng khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái lần hai ở thời điểm nửa sau năm 2010 khi ảnh hưởng từ kế hoạch kích cầu tài khóa và tiền tệ của Chính phủ Mỹ kết thúc là 30%.
Paul Krugman nhận định kinh tế Mỹ có thể rơi vào suy thoái lần hai trong năm 2010.
Trong bài phát biểu mới nhất tại hội nghị kinh tế ở Atlanta, ông nói: “Khả năng suy thoái kinh tế lần hai đến là 30 - 40% - tỷ lệ không hề thấp. Khả năng tăng trưởng kinh tế chững lại khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên cũng không nhỏ”.
Kinh tế gia 56 tuổi này nhận định tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ chững lại khi FED chấm dứt việc mua các loại chứng khoán, kế hoạch 787 tỷ USD của chính quyền Tổng thống Obama giảm bớt, các công ty ngừng khôi phục lại hàng tồn kho.
Giáo sư kinh tế thuộc Đại học Princeton, ông Krugman, đã cùng giáo sư kinh tế Martin Feldstein thuộc Đại học Harvard, giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz của Đại Colombia, lên tiếng cảnh báo về nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Dù việc các công ty đẩy mạnh khôi phục hàng tồn kho đã giúp kinh tế Mỹ tăng trưởng với tốc độ trung bình năm đạt 4% trong quý 4/2009, ông Krugman nhận định tốc độ tăng trưởng năm nay sẽ chỉ quanh mức 2%, rủi ro kinh tế đi xuống ở thời điểm nửa sau của năm là hoàn toàn có thể.
Dự báo của ông Krugman như vậy u ám hơn nếu so với dự báo của 58 chuyên gia kinh tế tham gia khảo sát của Bloomberg vào đầu tháng 12/2009.
FED có kế hoạch ngưng chương trình 1.250 tỷ USD mua chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp và dừng chương trình 175 tỷ USD mua nợ liên bang vào tháng 3/2010, theo ông Krugman, lãi suất thế chấp sau đó có thể tăng, doanh số và giá nhà đất có thể hạ trở lại.
Ông Krugman cho rằng FED nên cân nhắc mua thêm 2.000 tỷ USD tài sản để giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Krugman cho biết, ông không đồng ý với quan điểm của cựu Chủ tịch FED Alan Greenspan về việc thị trường chứng khoán tăng điểm trong năm qua cho thấy nền kinh tế không cần thêm kế hoạch hỗ trợ từ chính phủ. Chỉ số S&P 500 tăng 23% trong năm 2009 và như vậy có năm tăng điểm mạnh nhất từ năm 2003.
Krugman nhận xét: “Hiện nay người ta nghèo hơn 4 năm trước, tiêu dùng người dân không phụ thuộc vào giá cổ phiếu mà phụ thuộc vào giá nhà đất”. Ông nói: “Khả năng kinh tế rơi vào suy thoái lần hai hiện hữu tại phần lớn các nền kinh tế phát triển thuộc châu Á và châu Âu”.
Ông cũng dự báo đồng USD có thể suy yếu nhẹ so với đồng tiền của một số nền kinh tế khác thuộc nhóm nước phát triển: “Sự suy yếu của đồng USD tốt cho chúng ta, tuy nhiên không tốt đối với nước thuộc châu Âu và Nhật”.
Krugman nhận xét về kinh tế Mỹ: “Thông thường khủng hoảng tài chính thường kéo dài, Dù hệ thống ngân hàng Mỹ đã ổn định, tình hình của ngành ngân hàng vẫn chưa trở lại bình thường”
| | | |
NĂM 2010: THẶNG DƯ TQ CÓ THỂ GIẢM MẠNH
Thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể giảm xuống 19% trong năm 2010 khi mà Trung Quốc đang có xu hướng nhập khẩu tăng do nhu cầu trong nước tăng mạnh.
Thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể giảm xuống 19% trong năm 2010 khi xu hướng nhập khẩu tăng.
Trong năm 2010, nhập khẩu có thể tăng tới 16%, vượt qua mức tăng 8% của xuất khẩu. Trong khi đó, nền kinh tế nước này dự báo sẽ tăng trưởng 10,1%.
Bộ Thương mại Trung Quốc cho hay rằng mức thặng dư thấp hơn có thể khiến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thứ 3 thế giới này giảm xuống so với các đối tác thương mại chủ chốt. Trước đó Trung Quốc đã hướng tới nước xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Theo ông Lu Ting, nhà kinh tế trụ sở tại Hồng Kông nhận định số lượng hàng nhập về sẽ thu hẹp lại còn 160 tỷ USD so với ước tính 198 tỷ USD năm nay.
“Yếu tố then chốt trong việc thu hẹp thặng dư sẽ là mức tăng trong nhập khẩu nhờ vào nhu cầu trong nước”, ông Lu cho biết.
Nhập khẩu trong tháng 11/2009 cũng đã tăng lên lần đầu tiên trong 13 tháng qua, tăng lên mức 27% do gói kích cầu kinh tế và khoản cho vay kỷ lục của Chính phủ đẩy nhu cầu chi tiêu tiêu dùng của người dân lên cao.
Bên cạnh biện pháp đẩy căng thẳng thương mại xuống, khoản thặng dư thấp hơn có thể khiến chính sách tiền tệ hiệu quả
NĂM 2010: HÕAN TỰ DO MẬU DỊCH TRUNG QUỐC-ASEAN
2010 mở đầu Tự do Mậu dịch với TQ, nhưng ASEAN muốn hõan?
Trang web tiếng Trung và Anh về Khu vực Tự do Mậu dịch với Asean. Chỉ vài ngày sau khi Khu vực Tự do Mậu dịch Trung Quốc-Asean khai trương, Indonesia đã đề nghị hoãn lại việc thực hiện trong lúc giới doanh nghiệp Thái Lan, Philippines cũng nói hiệp định có hại cho họ.
Theo báo Jakarta Post hôm nay 5/1/2010, Bộ trưởng Thương mại Indonesia vừa đưa ra đề nghị hoãn việc áp dụng chế độ cắt giảm thuế nhập khẩu trong khuôn khổ hiệp định tự do thương mại với Trung Quốc, gọi tắt là AC-FTA hoặc CAFTA. Theo các thỏa thuận đã ký từ trước, năm 2010 mở ra một khu vực tự do mậu dịch giữa Trung Quốc và sáu nước chủ chốt của Asean là Singapore, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Brunei. Những nước kém phát triển hơn về kinh tế trong Asean gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện dự kiến sẽ tham gia khu vực tự do mậu dịch vào 2015.
Nhưng nay, Bộ trưởng Mohamad Suleman Hidayat của Indonesia thông báo chính phủ nước ông đã gửi lên ban lãnh đạo khối Asean đề nghị hoãn lại việc cắt giảm thuế nhập đồng thời muốn "đàm phán lại".
Chính Trung Quốc cũng hiểu rằng tự do hóa thị trường một cách toàn diện có thể tác động xấu đến Asean.
Từ mấy tuần qua, báo chí các nước trong vùng đã nói Bấm Khu vực Tự do Mậu dịch với Trung Quốc "gây hại cho doanh nghiệp và xuất khẩu" của Asean.
Báo Philippine Star trong tháng 12/2009 có bài cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỉ giá đồng nhân dân tệ như hiện nay khiến hàng xuất khẩu của Asean chịu thiệt hại nặng.
Nay, doanh nghiệp các nước khác trong Asean cũng lên tiếng.
Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Hoa kiều Malaysia (ACCCIM), ông Tan Sri William Cheng nói với báo chí nước này rằng chính Trung Quốc "cũng hiểu rằng tự do hóa thị trường một cách toàn diện có thể tác động xấu đến Asean".
Theo báo Indonesia, thỏa thuận AC-FTA, mức thuế quan không phần trăm đươc áp dụng cho 17 khu vực kinh tế nước này, gồm 12 trong ngành sản xuất, năm trong ngành nông nghiệp, khai khoáng và cả hải sản.
Thiệt nhiều hơn lợi?
Điều Asean lo ngại là hàng rẻ nhập từ Trung Quốc. Bộ trưởng Công nghiệp Indonesia Mohamad Suleman Hidayat nói rằng cần đàm phán lại để "hàng hóa nhập khẩu rẻ không tràn vào làm lụt thị trường mà không bị ngăn chặn".
Còn ông Tan Sri William Cheng tin rằng nếu các vấn đề không được giải quyết thì Khu vực Tự do Mậu dịch sẽ "có nhiều điểm cản trở hơn là thuận lợi".
Dù ngoại giao với Bắc Kinh tiến triển, doanh nghiệp Malaysia lo bị thiệt vì hàng Trung Quốc. Ông cũng nói ngoài ngành xe hơi được chính phủ Malaysia bảo vệ chặt chẽ, các ngành công nghiệp khác sẽ gặp khó khăn khi thuế nhập hàng từ Trung Quốc xuống không phần trăm.
Dù chính giới Indonesia tiết lộ rằng các bên đã "trao đổi không chính thức" và họ sẽ tìm cách "đàm phán lại vào cuối năm nay", phía Trung Quốc chưa thấy nói gì về việc áp dụng FTA với Asean. Cho tới nay, Trung Quốc chỉ cam kết bỏ ra 10 tỉ USD vào các dự án xây cất đường xá và cơ sở hạ tầng tại Asean, với mục tiêu nâng cao hiệu năng của trao đổi thương mại.
Bấm Việt Nam, nước chủ tịch Asean năm 2010, đã tự có động thái là phá giá đồng tiền của mình để "tự vệ" và kích thích hàng xuất khẩu.
Hiện chưa thấy Việt Nam lên tiếng trước các phát biểu của lãnh đạo và doanh nghiệp Asean trong việc tìm đối sách với Trung Quốc khi AC-FTA có hiệu lực.
Giới trí thức người Việt tuy thế đã lên tiếng cảnh báo về việc áp dụng các quy chế tự do mậu dịch với Trung Quốc.
Theo Giáo sư Trần Văn Thọ từ Đại học Waseda, Nhật Bản thì năm 2008 xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ bằng 29% kim ngạch nhập khẩu từ nước này và riêng nhập siêu với Trung Quốc chiếm 60% tổng nhập siêu của Việt Nam, một yếu tố gây bất ổn định kinh tế vĩ mô từ nhiều năm nay.
Bấm Trong bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ông cho rằng theo Hiệp định thương mại tự do (FTA) đến năm 2015 Việt Nam sẽ bãi bỏ thuế quan đối với hàng từ Trung Quốc, lúc đó tác động của kinh tế Trung Quốc đối với Việt Nam còn mạnh mẽ hơn hiện nay.
Nguy cơ cho Việt Nam, theo chuyên gia Việt kiều này chính là "cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do, trong đó các nước đi sau không nỗ lực cải cách và có chiến lược phát triển thích hợp sẽ sa vào bẫy làm cố định cơ cấu kinh tế và ngoại thương hiện tại, và do đó có khả năng không thể công nghiệp hóa".
| | | |
TƯƠNG LAI ẢM ĐẠM CỦA NGÀNH DU LỊCH VN
Ngày 07-12-2009, giờ 20:35 Tương lai của ngành du lịch Việt Nam sẽ rất ảm đạm vì vấn đề vệ sinh, môi trường và giá cả. Nếu không có Việt Kiều thì chắc càng thê thảm hơn .
(Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Úc) *. Theo một thống kê thăm dò ý kiến những du khách đến Việt Nam thì có đến trên 70% những người hỏi trả lời rằng họ sẽ không quay lại Việt Nam một lần nữa. Tôi gọi đó là hiện tượng “một đi không trở lại”. Một câu hỏi vẫn ám ảnh tôi là tại sao có hiện tượng này, trong khi đất nước này có nhiều cảnh đẹp và con người nói chung là hiếu khách và cũng dễ mến. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình đi du lịch ở trong nước, vì đơn giản là mỗi lần về Việt Nam là một chuyến về quê thăm nhà và bà con. Nhưng có cơ hội đi đây đi đó, Tôi cũng quan sát được đôi điều thú vị, ít ra là có thể trả lời cho câu hỏi tại sao có hiện tượng “một đi không trở lại”.
Vấn đề sản phẩm du lịch Việt Nam có nhiều cảnh đẹp, nhưng chúng ta chưa biết tận dụng thế mạnh này. Chúng ta còn nhiều bãi biển có thể nói là đẹp chẳng thua bãi biển nào trên thế giới.
Chẳng hạn như bãi biển Nha Trang, chỉ có thể mô tả là quá đẹp và lại rất dài (khoảng 9 km). Phú Quốc cũng có một số bãi biển đẹp hoang sơ đến mê hồn. Hôm tôi ghé khu Mũi Dương (Phú Quốc), với những hàng dương thẳng tắp và cát trắng đó là một nơi hết sức lý tưởng để nghỉ mát và tắm biển. So với các nơi khác trên thế giới mà tôi đã từng đi qua, những bãi biển của ta có thể nói là đẹp hơn nhiều. Chẳng hạn như bãi biển Gold Coast nổi tiếng của Úc chẳng là cái thá gì của bãi biển Nha Trang! Thế những Gold Coast được quảng cáo rất hay, và được gìn giữ rất cẩn thận nên không có ô nhiễm như các bãi biển ở nước ta. Điều đáng buồn nhất là hầu hết những thắng cảnh nước ta đang bị ô nhiễm trầm trọng, và đây có thể là một “downfall” của Việt Nam.
Ở Nha Trang, đi trên cáp treo nhìn xuống biển mà thấy đau nhói vì rác rưởi mênh mông. Ở Phú Quốc ở những bãi biển đẹp tuyệt vời mà nhìn thì mắt bị đau vì những bãi rác khổng lồ. Có những nơi mang tiếng là khu di tích lịch sử cấp nhà nước mà việc bảo tồn thì chẳng ra gì. Tháp Bánh Ít (xây từ thời cuối thế kỉ 11 ở Qui Nhơn), được công nhận di tích lịch sử quốc gia tháng 12/1982 mà rác vỏ cam quít ngập đầy trong tháp! Nhìn vào cách trùng tu tháp này Tôi chỉ biết lắc đầu dơ tay lên trời cho sự dốt nát của người làm công việc trùng tu. Thuở đời nay, bên cạnh những viên gạch có độ tuổi hàng ngàn năm được hun đúc và xây rất nghệ thuật, người ta trát vào đó những viên gạch dỏm và… xi măng. Trông nó thô kệch làm sao. Tôi thật không hiểu nổi tại sao lại có cách làm vô văn hóa như thế, và tại sao mấy ông quan văn hóa lại để tình trạng này xảy ra.
Còn ở dinh Độc Lập (nay là dinh Thống Nhất) thì bị xuống cấp nghiêm trọng. Phòng ốc loang lổ, dơ bẩn, rồi lại có những cái lô-cốt có lẽ tồn tại từ thời bao cấp của những người Bộ-đội từ Bắc mới vào Nam xây để trồng rau để “cải thiện đời sống” vẫn còn chình ình phía sau dinh, trông rất phản cảm. Còn phía trong, những toilet (ôi thoi ! những toilet) ở đây không được tu sửa nên bước vào phòng là mùi hôi thối nồng nặc. Ấy thế mà người ta tổ chức hội nghị khoa học quốc tế ở đây mới chết người chứ ! Ở những nơi này, người ta đều thu phí vào nhưng chẳng biết số tiền đó được sử dụng cho việc gì, chắc chắn không phải cho việc bảo trì rồi.
Đó là chưa kể đến đội quân chèo kéo du khách lúc nào cũng bu quanh họ làm họ hết hồn hết vía Thật ra, chẳng đâu xa, ngay phía ngoài những khách sạn 5 sao sang trọng, mỗi khi khách bước ra là bị đội quân này vây đến nỗi có khách dơ tay lắc đầu than trời. Những người buôn gánh bán bưng này không còn thi vị như trước nữa, mà họ đã trở thành một lực lượng hung-hãn có thể bóp méo hình ảnh một nước Việt Nam thân-thiện. Thật ra, phần lớn lực lượng chèo kéo này là người từ “miền ngoài”(Thanh Hóa, Nghệ An Hà Tĩnh, v.v…) vào, chứ không hẳn là người miền Nam. Nhìn thấy những cảnh này, Tôi – một người Việt- thấy rất xấu hổ cho cái văn hóa đặc thù đó. Tôi sẽ không trách các du khách đó nếu họ nói “Tôi sẽ không bao giờ quay lại xứ sở này”.
Dịch vụ nghèo nàn và kém.
Dịch vụ du lịch ở Việt Nam nếu đem so với Thái Lan thì còn kém quá xa. Ngoại trừ một số công ti du lịch lớn, đại đa số các công ti du-lịch trung và nhỏ thì chưa cónhững hướng dẫn viên chuyên nghiệp,am hiểu lịch sử và tình hình đại phương để thuyết-phục khách du lịch Ở những nơi có nhiều thắng cảnh như Phú Quốc, còn thiếu rất nhiều nhân viên du-lịch có khả năng hướng dẫn du khách.. Nhiều khi tôi hỏi những em làm hướng dẫn ở địa phương,các em ấy chỉ nói “không biết và kèm theo một…Nụ cười!
Hôm ở Qui Nhơn, Tôi ghé thăm khu bảo tàng Quang Trung và nghe một cô hướng dẫn thuyết trình về những trận đánh gắn liền với tên tuổi của vua Quang Trung mà không biết nên cười hay khóc..
Tôi nghĩ Em nhầm lẫn giữa tuyên truyền và hướng dẫn du khách, nên những lời nói và cách nói của em biến em thành một cái loa tuyên truyền rất… khôi hài.
Một vấn đề nổi cộm ở Việt Nam là vệ sinh.
Ghé qua bất cứ khu du lịch nào, dù là những khu nổi tiếng “danh lam thắng cảnh”, cái nỗi kinh hoàng nhất với du-khách là nhà vệ sinh. Hình sau đây cho thấy giữa một khu bảo tàng Quang Trung được xây khá hoành tráng mà nhà vệ sinh thì kinh-khủng và Tôi dám chắc rằng chẳng có du khách nào dám vào đó. Thật ra, chẳng cần đi đâu xa, du khách chỉ cần ghé qua cái toilet của nhà ga sân bay Phú Bài (Huế) hay sân bay Cam Ranh (Nha Trang), thậm chí nhà ga sân bay nội địa Tân Sơn Nhất thì sẽ thấy ngay người Việt Nam nói chung không quan tâm đến vệ sinh cá nhân. Ở những nơi (hãy tạm cho) là “văn minh” này, Tôi thấy những cái toilet cũ kĩ, dơ bẩn, nhếch nhúa, và có khi được thiết kế một cách rất… ngu xuẩn. Ngu xuẩn như thế nào? Chẳng hạn như ở nhà ga sân bay Phú Bài, người ta thiết kế cái toilet đi tiểu chắc là cho những người đàn ông cao 2 m trở lên, hay như cái cầu toilet mà nếu đóng cửa thì người ngoài vẫn có thể nhìn vào thấy mồn một ! Hay như ở nhà ga sân bay nội địa Tân Sơn Nhất, nơi tập trung nhiều chuyến bay hàng ngày, mà chỉ có một toilet, đến nỗi khi mỗi chuyến bay là có một hàng người dài chờ đi toilet! Thật khó mà tưởng tượng nổi tại sao một đất nước đang đổi mới lại có những người thiết kế những thứ toilet quái đản như thế hay những cái đầu quản lí với một cái toilet! Nói đến vệ sinh cá nhân làm Tôi nhớ đến chuyện…giấy.
Những ngày lưu lại thành phố Qui Nhơn tôi ở trong khách sạn Hải Âu….Theo quảng cáo và chứng nhận của Tổng cục Du lịch thì khách sạn này có hạng 4 sao tức là thuộc vào hạng khách sạn cao cấp. Khách sạn được xây gần bờ biển, và người thiết kế khách sạn phải nói là giỏi, vì ở bất cứ phòng nào, khách vẫn có thể nhìn ra biển, đều có thể mụch kích cảnh núi rừng hùng vĩ, và đều có thể nhìn xuống thấy toàn bộ cảnh quan của thành phố. Phòng ốc cũng sạch sẽ, hiện đại, được trang bị hệ thống internet và wifi tuyệt vời, chắc chắn là hơn những khách sạn 5 sao mà Tôi từng ở Hà Nội và Sài Gòn, hay các thành phố lớn như Montréal, Los Angeles, San Francisco , New York, Florence,
Nhưng nếu có một khách sạn nào mà du khách không muốn quay lại ở thì Hải Âu là một khách sạn như thế. Phòng ốc tuy rất tuyệt vời, nhưng phần lớn đều… hôi thối. Nói chính xác hơn là hôi thối mùi thuốc lá. Có lẽ vì khách sạn cho phép khách hút thuốc lá trong phòng, nên vào phòng nào cũng hôi mùi thuốc lá không chịu được. Chỉ trong vòng vài phút mà Tôi phải thay đổi đến 4 phòng để có một phòng có thể tạm sống được. Tôi góp ý cho mấy người làm quản lí, nhưng nhìn qua thái độ của họ tôi không hi vọng gì họ sẽ thay đổi.
Điều đáng nói nữa là khách sạn 4 sao nhưng trong phòng không có đến một cái cơ bản nhất của khách: đó là giấy serviette. Tôi hỏi thì người ta trả lời là khách sạn không có chính sách cung cấp hộp giấy trong phòng; muốn thì phải mua. Trời! mới nghe qua, Tôi tưởng mình nghe lầm. Khách sạn 4 sao gì mà không có giấy ??? Họ cho biết nếu cung cấp hộp giấy trong phòng thì khách sẽ ăn cắp hết. À, thì ra họ sợ khách ăn cắp giấy, nên làm khổ du khách.
Đây có lẽ là một lối suy nghĩ nhỏ mọn, chỉ vì tiết kiệm vài ba ngàn đồng mà họ bỏ qua cái lớn hơn : đó là thu hút khách. |Thực khách ở những nhà hàng Việt Nam đều quen với tình trạng không có giấy serviette.
Buồn cười nhất và có lẽ tục-tĩu nhất là trong các nhà hàng hạng trung, người ta sử dụng giấy đi cầu để … lau miệng và lau tay. Còn những nhà hàng hạng “bình dân”, người ta cắt những mảnh giấy báo thành những mảnh vuông nhỏ khoảng 3 x 3 cm để làm giấy…Có nơi thì cung cấp những cái khăn lạnh (và dĩ nhiên là tính tiền), nhưng những ai có kinh nghiệm thì không dám sử dụng mấy cái khăn này vì chúng hàm chứa hàng triệu vi khuẩn gây bệnh trong đó.
Theo báo chí phản ảnh thì mấy khăn lạnh này được “tái sinh” bằng một công nghệ kinh khủng: sau khi dùng xong, người ta tẩy và thấm nước qua loa rồi xịt vào đó những loại dầu thơm rẻ tiền của Trung Quốc, và vô bao rồi đem đi giao cho các nhà hàng. Do đó, Tôi không ngạc nhiên chút nào khi mở ra thì thấy khăn vẫn còn những vết dơ bẩn hiển hiện trong khăn! Thật là kinh khủng! Người ta chỉ vì lợi nhuận mà làm bất cứ chuyện gì, kể cả chuyện lây bệnh
Cái gì cũng giả…
Nạn làm giả ở VN đã và đang làm cho hình ảnh nước ta đã méo mó càng xấu xí hơn. Có thể nói ở Việt Nam bây giờ cái gì cũng có đồ giả, đồ dỏm. Quần áo, đồng hồ, máy móc, vật dụng gia đình, rượu bia, thức ăn,v.v…đều có thể giả, và du khách có khi phải trả cái giá đắt cho sự giả tạo này. Chẳng riêng gì du khách, ngay cả người dân trong nước cũng thiếu tin tưởng vào hàng hóa “Made in Vietnam”. Nạn làm đồ giả ở nước ta đang trở thành một Quốc Nạn.
Kinh nghiệm cá nhân của Tôi có lẽ là một bài học ? Trên đường từ Kiên Giang về TPHCM, Tôi và anh bạn ghé vào một quán ăn vừa giải lao vừa nhâm nhi, Tôi kêu hai chai bia “Ken”, thì thằng Em dơ tay ngăn lại ngay. Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao thì nó giải thích: coi chừng bia giả. Trời, bia mà giả à ? Nó giải thích rằng trong thời gian gần đây bia Heineken do bán quá chạy nên bị giả nhiều, nhất là bia chai vì chai dễ giả hơn là bia lon. Hễ bất cứ cái gì có vẻ nổi tiếng trên thị trường thì có đồ giả hay đồ nhái ngay.
Hôm ở Qui Nhơn, hai lần đi mua bin để vào máy chụp hình là hai lần bị bin giả. Pin cũng được đóng hộp và bao bì rất “xịn”, nhưng chụp chưa đầy 5 tấm hình thì … hết pin. Tôi đã phải trả 30.000 đồng cho 8 cục pin như thế. Tiền thì tốn chẳng bao nhiêu, nhưng giận nhất là đứng trước một cảnh đẹp, ưng ý mình, mà đành bó tay vì máy nói “Battery Empty” (hết pin) để ghi lại. Có khi Tôi muốn thốt lên lời chửi thề cho hả dạ, nhưng nghĩ lại thì biết chửi ai đây ? Chửi cái văn hóa dỏm, cái văn hóa lường gạt của dân mình ư ? Đành phải ngậm miệng và bấm bụng chịu đau thôi.. Giá cả quá đắt…Tôi đã nói qua những dịch vụ kém cỏi của du lịch Việt Nam, nhưng có cái làm chùng bước du khách nhất là giá cả quá đắt đỏ. Khách sạn ở Việt Nam bây giờ, dù là khách sạn không sao, giá vẫn 40-50 USD/phòng. Khách sạn 3 sao trở lên thì giá tuy còn quá rẻ so với các khách sạn cùng hạng ở Tây phương, nhưng lại khá đắt so với các khách sạn trong vùng Đông Nam Á. Với những dịch vụ nghèo nàn như ở nước ta thì Tôi nghĩ sẽ không khó cho du khách khi họ chọn đi Thái Lan và Mã Lai vì ở những nơi này giá cả còn rẻ (hơn Việt Nam) mà dịch vụ thì lại tốt hơn gấp mấy lần..
Có một hiện tượng ở những tỉnh lẻ là người ta hay “chém” du khách và Việt kiều. Một hôm, Tôi và một người bà con vào quán Bảy Mẫu trên đường Xuân Diệu, Thành-Phố Qui Nhơn…Quán ăn thuộc loại bình dân, chứ chẳng phải sang trọng gì, nhưng vì nằm gần biển nên Tôi muốn ngồi đó mà ngắm biển cho vui mắt. Tôi gọi 1 con cá lớn bằng gang tay, nửa con gà luộc, và 4 lon bia “Ken”. Đến khi gọi tính tiền, Tôi thấy con số tròn trĩnh 300.000 đồng. Nhìn qua thì tôi biết mình bị “chém”, nhưng Tôi làm bộ hỏi: con số 300 ngàn tròn quá hả em ? Người tính tiền là một em bé trai khoảng 19 tuổi gì đó cười mà không nói gì trước câu bình phẩm của Tôi. Nhưng Tôi vẫn vui vẻ trả, cho dù người bà con muốn cãi cọ và “kiếm chuyện” vì anh ấy là dân địa phương và thấy giá bất hợp lí. Tưởng bị chém ở quán là xong, ai dè lên xe taxi lại bị chém tiếp. Từ quán Bảy Mẫu đến Khách sạn Hải Âu chỉ khoảng 2 hay cao lắm là 3 cây số, và vì đêm đó (28/12, khoảng 10 pm) Việt Nam thắng Thái Lan nên để an toàn kêu taxi đi về khách sạn. Chiếc taxi của hãng Mai Linh (rất tiếc là tôi quên số) đi đến đường Nguyễn Tất Thành thì không đi thêm được nữa vì quá đông người và xe gắn máy. Tôi đành bảo anh tài xế cho Tôi xuống xe cuốc bộ khoảng 500 thước gì đó.
Nhìn đồng hồ tôi thấy 30 ngàn đồng! Tôi biết mình bị chém, vì quãng đường đó chỉ tốn 15 ngàn là cùng. Thôi thì đêm nay vui nên mình có thể cho anh ta thêm chục ngàn cũng chẳng sao. Nghĩ thế Tôi vui vẻ trả tiền…Nhưng vì ban đêm và Tôi tin anh ta, nên cầm tiền thối, tôi không để ý là anh ta lấy bao nhiêu ? Đến khi về khách sạn thì thấy anh ta lấy đến 50 ngàn đồng! Thế là bị chém đến 3 lần…Cũng là một chuyến đi đáng nhớ đời.
Có khi họ “chém” trước mặt mình chứ chẳng lén lút gì. Chẳng hạn như hôm đi thăm khu du lịch sinh thái Hàm-Hô (Bình Định). Ông anh Tôi (người địa phương) vào mua vé, mỗi vé giá 12 ngàn đồng. Nhưng đến khi cầm vé thì thấy trên giấy ghi là 10 ngàn đồng, anh Tôi bèn hỏi tại sao thêm 2 ngàn đồng ? Người bán vé thản nhiên nói vì phải thêm phần bảo hiểm ! Hỏi bảo hiểm gì thì anh chàng bán vé không trả lời được và bắt đầu nói ngọng. Tôi nói với ông anh “Thôi, cãi cọ làm gì với 2 ngàn đồng, mình bỏ qua cho chuyến đi được vui”. Ông anh Tôi còn ấm ức nói : Làm ăn kiểu này thì mai mốt ai dám vô đây ? Đúng, Tôi cũng nghĩ như anh, với cách làm tiền trắng trợn như thế thì du-khách có thể mỉm cười cho ăn, nhưng Họ sẽ không quay lại một lần nữa.
Cuối năm 2008 ngành du lịch đang than vản vì du khách đến Việt Nam giảm so với năm ngoái. Thật vậy, nhiều khách sạn Tôi ở qua đều than trời về tình trạng phòng trống, không có người thuê. Cũng may mà có khách Việt kiều về thăm quê, chứ nếu nguồn khách này giảm nữa thì quả là một thất bại. Nói gì thì nói, tình trạng “một đi không trở lại” là một xu hướng hết sức đáng ngại. Các giới chức đang bàn kế hoạch để thu hút du khách trở lại Việt Nam. Theo Tôi có lẽ hơi muộn. Nhưng muộn còn hơn không. Tôi nghĩ du khách có thể quay lại Việt Nam nếu ngành du lịch chấn chỉnh lại dịch vụ, xóa bỏ nạn chèo kéo du-khách, điều chỉnh giá cả cho hợp lí, và một điều không thể thiếu được : Đó là Vệ-Sinh.
Sydney Australia .
KINH TẾ MỸ ĐI NGƯỢC GIÓ
Phát biểu trước Câu lạc bộ Kinh tế Washington ngày 7/12, Chủ tịch FED, Ben Bernanke, cho rằng đà phục hồi của kinh tế Mỹ nói riêng và kinh tế thế giới nói chung vẫn chưa được đảm bảo một cách chắc chắn.
Theo ông Bernanke, kinh tế Mỹ vẫn đang trong giai đoạn khó khăn dù đã vượt qua suy thoái. Thị trường lao động vẫn ở trong tình trạng ốm yếu, nhu cầu tiêu dùng chưa được cải thiện trong điều kiện tín dụng thắt chặt là những tác nhân chính khiến kinh tế Mỹ phải "đi ngược gió" ở thời điểm hiện tại.
Dư nợ tín dụng tiêu dùng tại Mỹ đạt 3,51 tỷ USD trong tháng 10 vừa qua, mức thấp nhất trong vòng 9 tháng liên tiếp. Con số này cho thấy sức tiêu dùng của người dân chưa thực sự được cải thiện. Theo dự báo, mức sụt giảm tín dụng tại Mỹ có thể đạt 9,3% trong năm 2009.
Tiếp tục thận trọng với quá trình phục hồi kinh tế, ông Bernanke cho rằng vẫn còn quá sớm để tăng lãi suất cơ bản và FED tiếp tục giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục 0,25% một năm. Lý giải cho quyết định chưa tăng lãi suất, Chủ tịch FED cho rằng lạm phát tại Mỹ vẫn đang trong tầm kiểm soát và khó có khả năng tăng cao trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn ốm yếu. Ông Bernanke cũng dẫn ra một vài dự báo của các nhà phân tích cho rằng quá trình phục hồi có thể bị đình lại vào cuối năm 2010 khi các chương trình hỗ trợ của Chính phủ Mỹ kết thúc.
Trao đổi với hãng tin AP, người đứng đầu thể chế tài chính lớn nhất tại Mỹ cho rằng việc FED giữ đồng USD ở trạng thái yếu như hiện tại là do sức hấp dẫn của đồng tiền này hiện đã kém đi do mức lãi suất cơ bản thấp. Đồng đôla yếu cũng mang đến cơ hội cho thị trường chứng khoán cũng như giúp các công ty Mỹ có nhiều lợi nhuận hơn từ xuất khẩu.
ĐÁNH GIÁ MỚI CỦA QUỐC TẾ VỀ KINH TẾ VIỆT NAM
Huy Phương, 26/10/2009 Nhân dịp các tổ chức quốc tế công bố bản đánh giá thường kỳ về tình hình kinh tế của các quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ Trần Lê Anh, giáo sư Đại học Lasell, bang Massachusetts đã dành cho ban Việt ngữ buổi trao đổi về những điểm mà Việt Nam cần lưu ý qua các bản đánh giá này.
VOA: Nền kinh tế của Việt Nam đã bị ảnh hưởng như thế nào trước sự suy thoái của kinh tế thế giới trong năm qua?
TS ANH: Với một nền kinh tế khá mở và một đất nước đang hội nhập thì Việt Nam đã chịu một số ảnh hưởng tiêu cực.
Theo số liệu gần đây của Tổng cục Thống kê Việt Nam, thì vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 9 tháng đầu của năm nay giảm gần 80% so với với cùng kỳ năm trước.
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng giảm 16% và cũng đã có dự báo là lượng kiều hối có thể giảm gần tới 20%, so với 7,2 tỉ đôla trong năm 2008.
Nhưng có lẽ ảnh hưởng trực tiếp khá mạnh là kim ngạch xuất khẩu giảm trên 14% trong 9 tháng vừa qua. Những ảnh hưởng này nhìn chung tác động đến nguồn thu ngoại tệ, doanh thu của doanh nghiệp và công ăn việc làm của người dân.
VOA: Trước sự khó khăn đầu ra của hàng hóa sản xuất trong nước do xuất khẩu giảm thì Việt Nam gần đây có phát động phong trào “người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”. Tiến sĩ có nhận xét gì về giải pháp này?
TS ANH: Tôi nghĩ đây là một định hướng đúng. Với dân số tương đối khá trẻ và khoảng 87 triệu dân thì thị trường Việt Nam không phải là nhỏ. Tuy nhiên, đây cần phải là chiến lược lâu dài chứ không phải là giải pháp tình thế.
Muốn vậy, các doanh nghiệp cần giải quyết tốt vấn đề chất lượng cũng như các kênh phân phối hàng hóa, và phía chính phủ Việt Nam cần cân nhắc các công cụ pháp lý để đẩy lui các mặt hàng nhập khẩu bất hợp pháp.
Chúng ta thấy hàng Trung Quốc tràn lan thị trường Việt Nam, đa số các mặt hàng này trong nước có thể sản xuất được nhưng doanh nghiệp trong nước cạnh tranh không lại, do giá hàng Trung Quốc quá rẻ, rẻ một cách bất bình thường.
Với tình trạng này, theo tôi, Việt Nam có cơ sở để cho mở cuộc điều tra chống bán phá giá và trợ giá.
Bên cạnh đó cũng phải giải quyết vấn đề hàng nhập lậu và loan báo rộng rãi đến người tiêu dùng để tránh những mặt hàng ngoại nhập kém chất lượng. Được như vậy mới hy vọng người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước đến với nhau nhiều hơn.
VOA: Trong bối kinh tế thế giới vẫn còn tương đối khó khăn hiện tại thì triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm nay và năm tới là như thế nào?
TS ANH: Việt Nam đề ra chỉ tiêu tăng trưởng cho năm 2009 là khoảng 5%, con số thấp nhất kể từ năm 2000.
Trong 3 quý vừa qua, mức tăng trưởng trung bình là 4,6% so với cùng kỳ năm ngoái, với mức tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước. Với đà này, bây giờ Việt Nam dự báo tăng trưởng cho toàn năm là 5,2%, mặc dù dự báo mới đây của một số tổ chức tài chính quốc tế đều dưới 5%.
Qua năm 2010 Việt Nam đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là 6,5%. Con số này cao hơn nhiều so với dự đoán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 5,3%. Theo tôi nghĩ, 6,5% là hơi lạc quan.
VOA: Xin cho biết nhận xét của tiến sĩ về những chính sách của Việt Nam để chống suy thoái để tiếp tục giữ được con số tăng trưởng dương trong năm nay?
TS ANH: Bắt đầu từ đầu năm nay, Việt Nam đã triển khai gói kích thích kinh tế khoảng 8 tỉ đôla thông qua các biện pháp như hỗ trợ lãi xuất, giảm và giãn thuế.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng hạ lãi suất cơ bản xuống còn 7% từ đầu năm nay. Đây là mức cắt giảm rất mạnh so với mức 14% của tháng 10 năm 2008. Mục đích là để kích thích các hoạt động vay vốn và đầu tư của các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng gia tăng rất mạnh các khoản chi tiêu của chính phủ để thúc đẩy các hoạt động kinh tế nhằm ngăn chận suy thoái.
VOA: Những biện pháp mà Việt Nam sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có để lại hệ quả gì không?
TS ANH: Chúng ta có thể thấy một số vấn đề.
Thứ nhất, do việc nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua biện pháp cắt giảm và hỗ trợ lãi suất, nên tín dụng đã tăng nhanh, dẫn đến khả năng tăng lạm phát trong năm tới.
Hơn nữa, việc tăng trưởng các khoản cho vay tương đối dễ dãi sẽ đặt mầm mống cho nợ xấu gia tăng, có khả năng gây bất ổn tài chính. Các tổ chức đánh giá rủi ro quốc tế như S & P hoặc Moody dự báo nợ xấu sẽ gia tăng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam trong tương lai gần.
Bên cạnh đó, do các khoản chi của chính phủ tăng mạnh nên đã dẫn đến bội chi ngân sách cao. Bội chi ngân sách cũng là một yếu tố làm tăng lạm phát và chi tiêu ồ ạt không có hiệu quả cao làm méo mó việc phân bổ nguồn lực.
VOA: Triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong trung hạn và dài hạn phụ thuộc vào những yếu tố nào?
TS ANH: Một số tổ chức phân tích kinh tế quốc tế đều cho rằng đẩy mạnh quá trình cải cách là rất quan trọng. Quá trình này bao gồm những vấn đề như cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính và pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động.
Nhưng tôi nghĩ quan trọng nhất vẫn là giải quyết vấn đề tham nhũng. Nó là mấu chốt của những vấn đề như lãng phí tài nguyên, làm mất niềm tin của nhà đầu tư, và giảm khả năng nâng cao hiệu suất của nền kinh tế nói chung. Giảm thiểu được tham nhũng sẽ tạo được sức bật mới cho nền kinh tế.
VOA: Có một số chuyên gia cảnh báo rằng mặc dù Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong nhiều năm qua nhưng chất lượng của tăng trưởng thì chưa cao. Tiến sĩ nghĩ sao về về cảnh báo này?
TS ANH: Tăng trưởng kinh tế chỉ đơn giản là sự tăng lên của lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế. Nhưng nếu đốn thêm rừng để gia tăng xuất khẩu gỗ hoặc khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên bất chấp vấn đề môi trường thì cũng đem lại tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng rõ ràng tăng trưởng kiểu đó là có vấn đề, cho nên mới nói đến vấn đề chất lượng tăng trưởng.
Ở phương diện cơ bản nhất, tăng trưởng có chất lượng là tăng trưởng có tính bền vững, vừa duy trì được tốc độ tăng trưởng lâu dài, vừa không gây ra những hệ quả tiêu cực.
Việt Nam, dù có tốc độ tăng trưởng tương đối cao nhưng đã bộc lộ những tác động tiêu cực lên môi trường; chẳng hạn như ô nhiễm sông ngòi. Trong những năm gần đây, tăng trưởng dựa rất nhiều vào sự gia tăng của tổng đầu tư, chẳng hạn như năm nay gần bằng 43% GDP, nhưng hiệu quả của đầu tư ngày càng giảm đi, thể hiện qua hệ số ICOR ngày càng tăng. Hậu quả là tài nguyên kinh tế bị lãng phí, cho nên muốn có tăng trưởng có chất lượng thì Việt Nam trước mắt phải giải quyết các vấn đề về hệ quả đầu tư, hạn chế tác động tiêu cực của tăng trưởng lên môi trường, cũng như phải bình ổn kinh tế vĩ mô để giảm bớt những xáo động mạnh trong đời sống của dân chúng.
Huy Phương, 26/10/2009
| | | |
TỶ GIÁ ĐỒNG NGUYÊN & VẤN ĐỀ CỦA ĐÔNG Á
Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA ...khi đô la Mỹ lên hay xuống giá thì đồng Nguyên chuyển dịch theo...
Trong chuyến công du Trung Quốc và sau cuộc họp báo bên Chủ tịch Hồ Cẩm Đào hôm Thứ Ba 17, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố là ông rất vui khi thấy Trung Quốc hẹn sẽ áp dụng một chính sách ngoại hối thích hợp hơn với quy tắc thị trường. Lời tuyên bố khiến các nước Đông Á hy vọng Bắc Kinh sẽ sớm điều chỉnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ cho sát hơn với quy luật cung cầu để khỏi gây thiệt hại cho kinh tế Đông Á... Nhưng vì sao tỷ giá đồng bạc Trung Quốc lại là mối quan tâm của Mỹ và các nước Đông Á? Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa trong chương trình chuyên đề do Việt Long thực hiện sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đang chính thức thăm viếng Trung Quốc và, trong cuộc họp báo hôm Thứ Ba tại Bắc Kinh cùng Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, ông Obama trình bày sơ khởi kết quả của hai lần gặp gỡ với Chủ tịch Trung Quốc. Trong một chuỗi rất dài các vấn đề được hai vị nguyên thủ đề cập, có một chi tiết gây chú ý là việc Tổng thống Mỹ nói đến chính sách ngoại hối của Trung Quốc. Do đó, tiết mục chuyên đề tuần này xin yêu cầu ông trình bày cho thính giả hiểu rõ hồ sơ ấy.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Về chi tiết mà Tổng thống Hoa Kỳ đề cập tới, rằng ông vui mừng với lời hứa hẹn của Trung Quốc là sẽ áp dụng một chính sách ngoại hối phù hợp hơn với quy luật thị trường, tôi xin được trình bày trước về bối cảnh của vấn đề. Sau đó ta mới tìm hiểu xem vấn đề ấy là gì, cho ai và làm sao giải quyết.
- Trước hết, Trung Quốc áp dụng chính sách ngoại hối cố định, là neo giá đồng Nguyên của họ, cũng gọi là đồng Nhân dân tệ, vào đồng Mỹ kim của Hoa Kỳ theo một tỷ giá nhất định. Cụ thể là khi đô la Mỹ lên hay xuống giá thì đồng Nguyên chuyển dịch theo, trong một biên độ nhất định và thật ra rất hẹp. Tỷ giá đó được Ngân hàng Trung ương của Bắc Kinh ấn định khá thấp và khi Mỹ kim sụt giá như ta đang thấy từ đầu năm, đồng Nguyên sụt theo, khiến hàng hóa Trung Quốc giảm giá và dễ bán hơn.
- Nhưng, khi Mỹ kim sụt giá thì các đồng bạc Đông Á ngoài Trung Quốc lại tăng giá và hàng hóa của họ thành đắt hơn, khó bán hơn. Trong cảnh kinh tế hồi phục chậm và bấp bênh, các nước xuất khẩu Đông Á thấy họ bị thiệt và muốn Hoa Kỳ nêu vấn đề, tức là gây sức ép để Bắc Kinh phải nâng giá đồng Nhân dân tệ của họ. Vì vậy, ta mới có vấn đề tỷ giá đồng Nguyên trong quan hệ tay ba giữa Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nước xuất khẩu Đông Á, thí dụ như Thái Lan, Nam Hàn, Singapore và thậm chí cả Ấn Độ...
Việt Long: Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu từng khía cạnh của vấn đề rắc rối này. Câu hỏi đầu tiên là vì sao tiền Mỹ lại mất giá như vậy? Sở dĩ câu hỏi được nêu ra vì thính giả tại Việt Nam thì đang thấy sức ép rất mạnh khiến đồng bạc Việt Nam có thể phải phá giá so với đồng đô la Mỹ.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Khi nói là một đồng bạc bị mất giá thì mình phải xét tiếp xem là mất giá so với cái gì, thí dụ như so với các ngoại tệ khác, với vàng, hoặc với giá thương phẩm, nguyên nhiên vật liệu. Giữa hai nước buôn bán với nhau thì trị giá đồng tiền của họ, là tỷ giá ngoại hối hay hối suất, tùy thuộc vào luồng giao dịch mua bán với nhau. Khi Việt Nam bị nhập siêu nặng, vì nhập nhiều hơn xuất khẩu, đồng bạc của Việt Nam tất nhiên phải sụt giá và sụt giá mạnh so với loại ngoại tệ sử dụng phổ biến nhất để mua bán với bên ngoài, là đồng đô la. Khi Việt Nam định giá đồng bạc với mức giả tạo trên thị trường chính thức thì người ta mua bán đô la trên thị trường tự do, hoặc chợ đen, với tỷ giá trung thực hơn. Hiện tượng ấy làm hao hụt khối dự trữ ngoại tệ trong tay nhà nước và có thể gây khủng hoảng ngoại hối.
- Trong khi ấy, và trở lại giá Mỹ kim trên thế giới, thì đồng đô la Mỹ đã mất giá mạnh so với giá vàng và so với các ngoại tệ lớn trên thế giới thì mất từ 14 đến16% trong vòng năm nay. Riêng với các xứ Đông Á ngoài Trung Quốc, tiền Mỹ mất giá làm đồng bạc của các xứ này lên giá. Như trong sáu tháng qua, đồng Won của Nam Hàn lên giá 8%, đồng Yen Nhật, Rupee Ấn Độ tăng giá 6%, đồng Bath của Thái tăng 4%, nghĩa là hàng hóa các xứ đó lên giá theo cùng mức độ và khó bán hơn. Lý do chính của vụ đô la sụt giá có thể nhìn thấy từ hai góc.
- Thứ nhất, vì khủng hoảng tài chính năm ngoái tại Mỹ bùng nổ giữ cơn suy trầm kinh tế, Ngân hàng Trung ương Mỹ liên tục hạ lãi suất và duy trì lãi suất đó ở số không và ngoài ra còn in bạc bơm ra cả ngàn tỷ Mỹ kim để cấp cứu. Khi tiền quá nhiều và quá rẻ như vậy thì giá trị của nó phải sụt, nếu so với các đồng tiền khác. Hôm Thứ Ba, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ còn tuyên bố rằng vì kinh tế phục hồi chậm với thất nghiệp cao nên Mỹ sẽ duy trì chính sách tiền rẻ và lãi suất hạ khá lâu trong tương lai. Điều ấy càng đánh sụt tiền Mỹ, ít ra trong ngắn hạn.
Việt Long: Ông nói tới hai lý do của nạn đô la mất giá. Lý do thứ nhất là bơm tiền và hạ lãi suất, còn lý do thứ hai là gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Lý do thứ hai là Chính quyền Obama đã tung ra 787 tỷ đô la kích thích kinh tế và tăng chi quá nhiều khiến ngân sách quốc gia bị bội chi rất nặng và rất lâu. Dự án cải tổ y tế đang được thảo luận còn tăng chi thêm ngàn tỷ nữa. Để bù đắp, Chính quyền Mỹ dự trù tăng thuế nhà giầu, nhưng tăng thuế thì sẽ đánh sụt lợi tức, là làm giảm căn bản tính thuế, mà phần tô suất phụ trội sẽ không bù đắp nổi. Hậu quả là trong 10 năm tới, nước Mỹ phải đi vay tiền tới mức kỷ lục để tài trợ thâm hụt ngân sách. Điều ấy mới làm Mỹ kim mất giá nặng và có khi tuột giá rất nhanh trong vài tháng tới, ngay cả trong kịch bản lạc quan là Ngân hàng Trung ương Mỹ có thể nâng lãi suất kể từ mua Thu năm tới nếu tình hình kinh tế khả quan hơn.
Việt Long: Bây giờ, ta nhìn qua vế bên kia là chính sách ngoại hối của Trung Quốc khi giàng giá đồng bạc của họ vào tiền Mỹ, khiến tiền Mỹ chìm tới đâu thì đồng Nguyên sụt tới đó. Vì sao họ lại áp dụng chính sách này thay vì để đồng bạc lên hay xuống giá theo quy luật cung cầu?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung các nước Đông Á đều định giá đồng bạc của họ căn cứ trên Mỹ kim, nhưng theo một hối suất hay tỷ giá linh động. Sau khi mở cửa giao dịch với bên ngoài, Trung Quốc, và cả Việt Nam, áp dụng chế độ tỷ giá cố định vì nghĩ là điều ấy đảm bảo ổn định giá cả và giúp cho người ta tính toán lời lỗ với cái giá định trước, biết trước. Nhưng, khi thị trường chuyển động, cũng như con nước lên hay xuống, mà dây neo quá ngắn thì có thể ghìm con tầu xuống, hoặc bật đứt dây neo và gây khủng hoảng ngoại hối.
- Vì vậy, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2001 và đạt xuất siêu lớn, Trung Quốc thấy đồng Nhân dân tệ của họ bị đẩy lên giá trong khi họ lại muốn giữ tỷ giá thấp để càng dễ xuất khẩu hơn. Các nước khác, kể cả Hoa Kỳ, than phiền chính sách ghìm giá đồng Nguyên là cạnh tranh bất chính nên vào tháng Bẩy năm 2005, Bắc Kinh đành nâng giá đồng bạc một cách tiệm tiến, chầm chậm, thay vì duy trì chế độ cố định. Từ đó, đồng Nguyên đã tăng cỡ 21% so với đô la, từ giá 8 đồng 28 xu ăn một đô la lên tới 6,83 đồng là đã đổi được một đô la.
- Nhưng tháng Bảy năm ngoái, khi thấy kinh tế Mỹ suy trầm, Bắc Kinh sợ là xuất khẩu của mình sẽ giảm. Vì vậy, dù lương thực và dầu thô đang lên giá mạnh, họ quyết định giữ tỷ giá 6,83 ấy chứ không điều chỉnh nữa, và giữ nguyên tới bây giờ, mặc dù đang khoe là kinh tế đạt mức tăng trưởng tới 8,9% trong quý ba vừa qua. Đấy là lý do khiến các nước Đông Á muốn Hoa Kỳ gây áp lực để Bắc Kinh phải điều chỉnh hối suất cho sát với tình hình cung cầu của thị trường. Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF cũng vừa mới có lời khuyến cáo tương tự.
Việt Long: Bây giờ, Tổng thống Obama tỏ vẻ hài lòng là Bắc Kinh có thể điều chỉnh tỷ giá đồng bạc cho sát với quy luật thị trường hơn, liệu điều ấy có xảy ra không, bao giờ điều chỉnh à điều chỉnh tới mức nào?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta không rõ là trong hai buổi họp, lãnh đạo hai nước có đề cập tới các chi tiết kỹ thuật ấy hay chăng. Riêng tôi thì e là không. Ta nên chú ý là ông Obama nói ra điều ấy chứ ông Hồ Cẩm Đào đứng bên cạnh thì vẫn mặt lạnh như tiền!
- Xét vào chi tiết thì hôm 11 tháng 11, Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh công bố báo cáo về chính sách tiền tệ. Bên trong, ta để ý tới một điều được viết ra là họ sẽ "tùy thời định giá đồng Nhân dân tệ căn cứ trên luồng giao dịch tư bản và sự chuyển động của các loại ngoại tệ mạnh khác". Chi tiết này đáng chú ý vì họ không nói tới khẩu hiệu cố hữu là theo đuổi chính sách ngoại hối ổn định. Các thị trường bèn kết luận là Bắc Kinh bắn tiếng là họ sẽ điều chỉnh đồng Nguyên căn cứ trên tình hình giao dịch của thị trường và có lẽ đó cũng là kết luận của Tổng thống Mỹ. Nhưng với Trung Quốc thì ta nên cẩn thận trừ bì chớ đừng cả tin mà đã vội mừng.
Việt Long: Vì sao ông lại kết luận có vẻ bi quan như vậy?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì nhiều lý do lắm. Thứ nhất là sau khi Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh bắn tiếng như vậy thì ngay trước khi Tổng thống Mỹ hạ cánh tại Thượng Hải, bộ Thương mại Trung Quốc lại nói ngược và bác bỏ khuyến cáo của các nước. Điều ấy cho thấy bên trong Chính quyền Bắc Kinh vẫn chưa có sự nhất trí.
- Nếu tìm hiểu kỹ thì lãnh đạo xứ này vẫn sợ động loạn và muốn dùng xuất khẩu làm đầu máy tăng trưởng và tạo ra việc làm, là quan điềm của các tỉnh duyên hải. Ngược lại, nhiều thành phần khác thì cho là đến lúc nâng giá đồng Nguyên để tăng mức tiêu thụ nội địa và giúp các tỉnh nghèo bị khoá trong lục địa. Ngay cả trong giả thuyết lạc quan là có sự thống nhất ý kiến, tôi e là Bắc Kinh vẫn trì hoãn điều chỉnh sau một quyết định có vẻ ngoạn mục ban đầu, và rốt cuộc nếu có tăng giá đồng bạc chừng 6% trong suốt cả năm nữa thì cũng chưa giải quyết được vấn đề.
Việt Long: Nếu như vậy, vì sao trong một danh mục rất dài những đề tài đã được hai bên trao đổi, Tổng thống Mỹ lại nói đến chuyện ngoại hối?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thì ông Obama cũng phải nói đến một hy vọng nào đó có vẻ tích cực chứ chẳng lẽ không có gì sao? Tới Bắc Kinh, Tổng thống Mỹ kêu gọi tái lập quân bình kinh tế toàn cầu qua việc Mỹ tiêu thụ ít hơn và xuất khẩu nhiều hơn, trong khi Trung Quốc và Đông Á phải tiêu thụ và nhập khẩu nhiều hơn. Nguyên tắc đó đúng mà không vui cho Đông Á đang sợ suy trầm và còn đáng ngại cho Bắc Kinh vì phản ứng bảo hộ mậu dịch rất mạnh của Quốc hội Mỹ hiện nay. Trong khi ấy Mỹ sẽ lại mắc nợ nặng, khi cho Mỹ vay tiền mà đồng bạc mất giá và lấy tiền lời về với lãi suất hạ thì họ cũng không vui. Trong cảnh đó, và chưa kể tới nhiều vấn đề phức tạp khác về an ninh hay môi sinh, ông Obama khó có thế mạnh để gây sức ép ngoại hối với Bắc Kinh, nên đành phải hài lòng với một lời hứa, trong tinh thần ngoại giao chưa có thực chất.
NGUYỄN XUÂN NGHĨA/ VIỆT LONG RFA
ĐÁNH GIÁ MỚI CỦA QUỐC TẾ VỀ KINH TẾ VIỆT NAM
Huy Phương, 26/10/2009
Nhân dịp các tổ chức quốc tế công bố bản đánh giá thường kỳ về tình hình kinh tế của các quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ Trần Lê Anh, giáo sư Đại học Lasell, bang Massachusetts đã dành cho ban Việt ngữ buổi trao đổi về những điểm mà Việt Nam cần lưu ý qua các bản đánh giá này.
VOA: Nền kinh tế của Việt Nam đã bị ảnh hưởng như thế nào trước sự suy thoái của kinh tế thế giới trong năm qua?
TS ANH: Với một nền kinh tế khá mở và một đất nước đang hội nhập thì Việt Nam đã chịu một số ảnh hưởng tiêu cực.
Theo số liệu gần đây của Tổng cục Thống kê Việt Nam, thì vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 9 tháng đầu của năm nay giảm gần 80% so với với cùng kỳ năm trước.
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng giảm 16% và cũng đã có dự báo là lượng kiều hối có thể giảm gần tới 20%, so với 7,2 tỉ đôla trong năm 2008.
Nhưng có lẽ ảnh hưởng trực tiếp khá mạnh là kim ngạch xuất khẩu giảm trên 14% trong 9 tháng vừa qua. Những ảnh hưởng này nhìn chung tác động đến nguồn thu ngoại tệ, doanh thu của doanh nghiệp và công ăn việc làm của người dân.
VOA: Trước sự khó khăn đầu ra của hàng hóa sản xuất trong nước do xuất khẩu giảm thì Việt Nam gần đây có phát động phong trào “người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”. Tiến sĩ có nhận xét gì về giải pháp này?
TS ANH: Tôi nghĩ đây là một định hướng đúng. Với dân số tương đối khá trẻ và khoảng 87 triệu dân thì thị trường Việt Nam không phải là nhỏ. Tuy nhiên, đây cần phải là chiến lược lâu dài chứ không phải là giải pháp tình thế.
Muốn vậy, các doanh nghiệp cần giải quyết tốt vấn đề chất lượng cũng như các kênh phân phối hàng hóa, và phía chính phủ Việt Nam cần cân nhắc các công cụ pháp lý để đẩy lui các mặt hàng nhập khẩu bất hợp pháp.
Chúng ta thấy hàng Trung Quốc tràn lan thị trường Việt Nam, đa số các mặt hàng này trong nước có thể sản xuất được nhưng doanh nghiệp trong nước cạnh tranh không lại, do giá hàng Trung Quốc quá rẻ, rẻ một cách bất bình thường.
Với tình trạng này, theo tôi, Việt Nam có cơ sở để cho mở cuộc điều tra chống bán phá giá và trợ giá.
Bên cạnh đó cũng phải giải quyết vấn đề hàng nhập lậu và loan báo rộng rãi đến người tiêu dùng để tránh những mặt hàng ngoại nhập kém chất lượng. Được như vậy mới hy vọng người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước đến với nhau nhiều hơn.
VOA: Trong bối kinh tế thế giới vẫn còn tương đối khó khăn hiện tại thì triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm nay và năm tới là như thế nào?
TS ANH: Việt Nam đề ra chỉ tiêu tăng trưởng cho năm 2009 là khoảng 5%, con số thấp nhất kể từ năm 2000.
Trong 3 quý vừa qua, mức tăng trưởng trung bình là 4,6% so với cùng kỳ năm ngoái, với mức tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước. Với đà này, bây giờ Việt Nam dự báo tăng trưởng cho toàn năm là 5,2%, mặc dù dự báo mới đây của một số tổ chức tài chính quốc tế đều dưới 5%.
Qua năm 2010 Việt Nam đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là 6,5%. Con số này cao hơn nhiều so với dự đoán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 5,3%. Theo tôi nghĩ, 6,5% là hơi lạc quan.
VOA: Xin cho biết nhận xét của tiến sĩ về những chính sách của Việt Nam để chống suy thoái để tiếp tục giữ được con số tăng trưởng dương trong năm nay?
TS ANH: Bắt đầu từ đầu năm nay, Việt Nam đã triển khai gói kích thích kinh tế khoảng 8 tỉ đôla thông qua các biện pháp như hỗ trợ lãi xuất, giảm và giãn thuế.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng hạ lãi suất cơ bản xuống còn 7% từ đầu năm nay. Đây là mức cắt giảm rất mạnh so với mức 14% của tháng 10 năm 2008. Mục đích là để kích thích các hoạt động vay vốn và đầu tư của các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng gia tăng rất mạnh các khoản chi tiêu của chính phủ để thúc đẩy các hoạt động kinh tế nhằm ngăn chận suy thoái.
VOA: Những biện pháp mà Việt Nam sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có để lại hệ quả gì không?
TS ANH: Chúng ta có thể thấy một số vấn đề.
Thứ nhất, do việc nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua biện pháp cắt giảm và hỗ trợ lãi suất, nên tín dụng đã tăng nhanh, dẫn đến khả năng tăng lạm phát trong năm tới.
Hơn nữa, việc tăng trưởng các khoản cho vay tương đối dễ dãi sẽ đặt mầm mống cho nợ xấu gia tăng, có khả năng gây bất ổn tài chính. Các tổ chức đánh giá rủi ro quốc tế như S & P hoặc Moody dự báo nợ xấu sẽ gia tăng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam trong tương lai gần.
Bên cạnh đó, do các khoản chi của chính phủ tăng mạnh nên đã dẫn đến bội chi ngân sách cao. Bội chi ngân sách cũng là một yếu tố làm tăng lạm phát và chi tiêu ồ ạt không có hiệu quả cao làm méo mó việc phân bổ nguồn lực.
VOA: Triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong trung hạn và dài hạn phụ thuộc vào những yếu tố nào?
TS ANH: Một số tổ chức phân tích kinh tế quốc tế đều cho rằng đẩy mạnh quá trình cải cách là rất quan trọng. Quá trình này bao gồm những vấn đề như cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính và pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động.
Nhưng tôi nghĩ quan trọng nhất vẫn là giải quyết vấn đề tham nhũng. Nó là mấu chốt của những vấn đề như lãng phí tài nguyên, làm mất niềm tin của nhà đầu tư, và giảm khả năng nâng cao hiệu suất của nền kinh tế nói chung. Giảm thiểu được tham nhũng sẽ tạo được sức bật mới cho nền kinh tế.
VOA: Có một số chuyên gia cảnh báo rằng mặc dù Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong nhiều năm qua nhưng chất lượng của tăng trưởng thì chưa cao. Tiến sĩ nghĩ sao về về cảnh báo này?
TS ANH: Tăng trưởng kinh tế chỉ đơn giản là sự tăng lên của lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế. Nhưng nếu đốn thêm rừng để gia tăng xuất khẩu gỗ hoặc khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên bất chấp vấn đề môi trường thì cũng đem lại tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng rõ ràng tăng trưởng kiểu đó là có vấn đề, cho nên mới nói đến vấn đề chất lượng tăng trưởng.
Ở phương diện cơ bản nhất, tăng trưởng có chất lượng là tăng trưởng có tính bền vững, vừa duy trì được tốc độ tăng trưởng lâu dài, vừa không gây ra những hệ quả tiêu cực.
Việt Nam, dù có tốc độ tăng trưởng tương đối cao nhưng đã bộc lộ những tác động tiêu cực lên môi trường; chẳng hạn như ô nhiễm sông ngòi. Trong những năm gần đây, tăng trưởng dựa rất nhiều vào sự gia tăng của tổng đầu tư, chẳng hạn như năm nay gần bằng 43% GDP, nhưng hiệu quả của đầu tư ngày càng giảm đi, thể hiện qua hệ số ICOR ngày càng tăng. Hậu quả là tài nguyên kinh tế bị lãng phí, cho nên muốn có tăng trưởng có chất lượng thì Việt Nam trước mắt phải giải quyết các vấn đề về hệ quả đầu tư, hạn chế tác động tiêu cực của tăng trưởng lên môi trường, cũng như phải bình ổn kinh tế vĩ mô để giảm bớt những xáo động mạnh trong đời sống của dân chúng.
Huy Phương, 26/10/2009
| | | |
HÀNG XUẤT CẢNG VN VẤP RÀO CẢN MỸ & LIÊN ÂU
Trọng Nghĩa Bài đăng ngày 19/10/2009 Cập nhật lần cuối ngày 19/10/2009
Vào năm 2010, hàng thủy sản Việt Nam nhập vào Châu Âu sẽ phải tuân thủ quy định IUU, yêu cầu chứng nhận là sản phẩm được đánh bắt và khai thác hợp pháp. Cùng lúc, hàng may mặc Việt Nam vào Mỹ (và một số sản phẩm khác) cũng phải đạt chuẩn mực do đạo luật CPSIA quy định. Các rào cản kỹ thuật này đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại.
Trong tuần qua, một công văn của Ủy ban Châu Âu được báo chí tiết lộ cho biết là định chế này sẽ đề nghị Liên Hiệp Châu Âu kéo dài thêm 15 tháng thời hạn áp thuế chống phá giá lên giày da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc. Áp dụng từ năm 2006, mức thuế đối với sản phẩm Việt Nam là 10%.
Việc áp đặt thuế chống phá giá này là một trong những khó khăn mà ngành xuất khẩu Việt Nam đang gặp phải trong bối cảnh các nước nhập khẩu hàng hoá ngày càng dựng thêm các rào cản để bảo vệ nền sản xuất nội địa. Vấn đề lại càng hệ trọng đối với Việt Nam khi mà các chướng ngại vật này lại được các thị trường chủ yếu của hàng Việt dựng lên, như tại Châu Âu hay Hoa Kỳ.
Quy định của Châu Âu về nguồn gốc hợp pháp của thủy sản
Tại Châu Âu chẳng hạn, trong lúc mặt hàng giày da dự trù sẽ tiếp tục bị áp thuế chống phá giá, thì kể từ tháng giêng năm 2010, đến lượt thủy sản bắt đầu gặp khó khăn về mặt thủ tục khi nhập vào thị trường Liên Hiệp Châu Âu. Vào lúc ấy, Châu Âu bắt đầu áp dụng những quy định gọi tắt là IUU (Illegal, Unreported and Unregulated Fishing) nhằm chống các hoạt động khai thác và đánh bắt thủy sản trái phép trên toàn thế giới.
Cá tra và cá ba sa xuất khẩu phải lọc đi toàn bộ phần mỡ. Theo các quy định này, thì tất cả các lô hải sản từ Việt Nam xuất qua châu Âu đều phải được chứng nhận về tính hợp pháp, có tên tàu đánh bắt, vùng biển khai thác vân vân, những vấn đề khó đáp ứng do phương thức đánh cá còn cá thể, manh múm và thủ công của ngư dân Việt Nam.
Chuẩn mực mới về an toàn do Hoa Kỳ áp dụng
Khó khăn cũng có thể đến từ Mỹ, thị trường quan trọng nhất của ngành xuất khẩu Việt Nam. Trên nguyên tắc, kể từ tháng 2/2010, chính quyền Mỹ sẽ áp dụng đạo luật có tên là Consumer Product Safety Improvment Act (CPSIA), tạm dịch là Luật Cải thiện An Toàn Sản phẩm Tiêu dùng. Theo đó luật này, các mặt hàng nhập vào thị trường Hoa Kỳ phải hội đủ các tiêu chuẩn an toàn nghiêm ngặt.
Báo Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh vào thứ hai tuần trước đã nêu bật một ví dụ liên quan đến hàng may mặc, theo đó nhà sản xuất phải cung cấp nhiều loại giấy tờ như giấy kiểm tra về tính an toàn của vải khi bị cháy, kèm theo hàm lượng chì trên vải chẳng hạn. Đạo luật CPSIA đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại vì đã đặt ra nhiều loại tiêu chuẩn cao về chất lượng và tính an toàn, buộc giới sản xuất tại Việt Nam phải cố gắng rất nhiều mới thỏa mãn được.
Để tìm hiểu thêm về rào cản kỹ thuật mới mà đạo luật Cải thiện An Toàn Sản phẩm Tiêu dùng CSPIA tại Hoa Kỳ đặt ra cho hàng nhập khẩu vào Mỹ, đặc biệt là đối với hàng Việt Nam, RFI đã phỏng vấn chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California (Hoa Kỳ). Theo anh Nguyễn Xuân Nghĩa, tình hình không đáng phải lo ngại quá mức căn cứ vào cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào Mỹ, và tinh thần của đạo luật Cải thiện An Toàn Sản phẩm Tiêu dùng CPSIA sẽ có hiệu lực từ tháng 2 năm 2010.
Trả lời phỏng vấn của RFI, chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa trước hết nêu bật chiều hướng trao đổi thương mại ngày càng gia tăng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, với lợi thế hiện đang thiên về Việt Nam.
Trước hết, về luồng giao dịch ngoại thương của Việt Nam với Hoa Kỳ thì 15 năm trước, khi Mỹ bắt đầu bãi bỏ cấm vận với Việt Nam, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước mới chỉ khoảng hơn 220 triệu đô la, chủ yếu là Mỹ bán cho Việt Nam hơn 170 triệu và mua hàng của có 50 triệu đô la mà thôi. Bước đột phá bắt đầu từ năm 2001, khi luồng giao dịch tăng vọt lên hơn một tỷ 400 triệu đô la với Việt Nam đạt xuất siêu hơn 600 triệu vì bán nhiều hơn mua với Hoa Kỳ.
Qua năm 2002 thì hai nước gia tăng buôn bán hơn gấp đôi sau khi Hoa Kỳ cho Việt Nam hưởng quy chế mậu dịch bình thường, trước đó gọi là quy chế tối huệ quốc, nhờ ký kết Hiệp định Thương mại Song phương vào cuối năm 2001. Kể từ đấy, luồng giao dịch bành trướng mạnh và năm ngoái đã lên tới hơn 15 tỷ đô la, trong đó, Việt Nam bán được gần 13 tỷ và mua vào 2,6 tỷ, đạt xuất siêu gần 10 tỷ đô la.
- Một chi tiết nhỏ là Việt Nam được xuất siêu chừng nào khi mua bán với Mỹ thì lại bị nhập siêu chừng đó - là quãng 10 tỷ đô la - với Trung Quốc. Tức là được lợi chừng nào với Mỹ thì lại nộp chừng ấy tiền cho Trung Quốc! Riêng trong năm tháng đầu năm nay thì tình hình mua bán với Mỹ có sút kém vì Việt Nam chỉ bán được có gần năm tỷ và đạt xuất siêu có bốn tỷ sáu thôi, so với năm tháng đầu của năm ngoái, kim ngạch giao dịch có giảm 3%.
- Nói về cơ cấu hàng hóa thì Việt Nam chủ yếu bán cho Mỹ áo quần, đồ gỗ, giày dép, thủy sản, một chút sản phẩm dầu khí, máy móc điện cơ, và sau cùng là cà phê và hạt điều. Ngược lại, Việt Nam mua của Mỹ xe hơi, thiết bị máy móc, thịt bò, bông vải, nhựa, sắt thép và máy điện cơ.
Việt Nam bị vạ lây từ phản ứng của Mỹ chống hàng Trung Quốc
Về đạo luật CSPIA tăng cường kiểm soát an toàn trên một số mặt hàng mà Hoa Kỳ sắp áp dụng, anh Nguyễn Xuân Nghĩa xác định :
- Đây lại là một trường hợp khác mà Việt Nam bị họa lây vì Trung Quốc! Số là năm 2007, dân Mỹ phát giác là nhiều mặt hàng của Trung Quốc bán vào Mỹ có quá nhiều độc chất nguy hại, nhất là đồ chơi cho trẻ em. Vì vậy, Hạ viện rồi Thượng viện Mỹ đã theo nhau biểu quyết hai dự luật tăng cường kiểm soát mức độ an toàn trên một số mặt hàng nói chung, kể cả các mặt hàng nhập cảng, nhưng thật ra không có chủ đích tập trung vào hàng nhập cảng.
- Ngày 14/08/2008, Tổng thống George Bush mới ban hành đạo luật này, gọi là Consumer Product Safety Improvement Act, CPSIA, theo đó, trước tiên là Hội đồng Kiểm soát An toàn được tăng ngân sách để tuyển thêm người lo việc kiểm tra song song cùng hai cơ chế hiện hành là Cơ quan Lương thực và Dược phẩm FDA và Bộ Canh nông là cơ chế có thẩm quyền về các loại nông sản. Sau khi đạo luật được ban hành, các cơ quan hữu trách tại Hoa Kỳ mới nghiên cứu việc áp dụng trong thực tế, thí dụ như đào tạo nhân viên và đặt ra tiêu chuẩn thử nghiệm mà các doanh nghiệp phải tôn trọng.
- Một điều cần chú ý là đạo luật này chủ yếu tập trung vào các sản phẩm bán cho trẻ em, theo định nghĩa là từ 12 tuổi trở xuống, trong đó có đồ chơi và cả áo khoác. Ngoài ra, còn có loại xe giải trí có thể chạy chơi trên mọi loại địa hình, cũng lọt vào vòng phải kiểm soát.
Về lý do vì sao các doanh nghiệp Việt Nam lại có vẻ hốt hoảng về đạo luật CSPIA, chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa giải thích :
- Đạo luật này được tung ra để bảo vệ an toàn cho giới tiêu thụ - nhất là trẻ em - và doanh nghiệp nào của Mỹ cũng bị chi phối vì các tiêu chuẩn an toàn đó nếu sản xuất hay phân phối cho khách hàng Mỹ. Tuy nhiên, vì đa số các sản phẩm bị tăng cường kiểm soát lại là hàng tiêu dùng cho thiếu nhi và là hàng nhập khẩu nên các nhà sản xuất ở xứ khác mà muốn bán vào Mỹ thì sẽ phải thận trọng hơn. Một cách cụ thể là đồ chơi cho trẻ em sẽ bị kiểm soát kỹ để giảm dần chất chì trong nước sơn theo một lịch trình ngày càng khắt khe hơn từ nay đến năm 2011. Một thí dụ khác có thể liên hệ đến Việt Nam là áo quần cho trẻ em là mặt hàng mà nếu muốn sản xuất để bán qua Mỹ thì phải kiểm soát kỹ lưỡng từ cái khóa kéo đến các hợp chất của vải, nhựa, v.v...
Đối với anh Nguyễn Xuân Nghĩa, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm hiểu trước về các tiêu chuẩn cần chú ý để thi hành, đừng để xẩy ra tính trạng hàng qua đến Mỹ rồi bị trả về.
Thật ra, cơ quan hữu trách của Hoa Kỳ là Hội đồng Kiểm soát gọi tắt là CPSC đang nghiên cứu điều lệ áp dụng và khi bắt đầu thi hành thì các tùy viên kinh tế hay thương mại của các Sứ quán Hoa Kỳ ở ngoại quốc và các Phòng Thương mại Mỹ phải được biết để phổ biến rộng rãi. Giới sản xuất tại Việt Nam cần biết rõ như vậy để hỏi kỹ từ trước.
Một điều khoản cụ thể của đạo luật là nhà sản xuất các mặt hàng bị coi là đối tượng cần gia tăng kiểm soát an toàn phải có được "Giấy Chứng nhận" về mức độ phù hợp căn cứ trên việc thử nghiệm. Nghĩa là một số hàng mẫu phải được thử nghiệm từ gốc để xác định là hợp tiêu chuẩn và giấy chứng nhận phải viết bằng Anh ngữ, đi kèm món hàng từ khi sản xuất qua ngần ấy chặng phân phối xỉ và lẻ cho tới tay người tiêu thụ sau cùng.
Ngoài ra, cũng cần chú ý là đạo luật này triệt để bảo vệ người tố giác - có thể là công nhân viên ngay trong hãng sản xuất nếu họ thấy có sự gian lận. Vì vậy, các doanh nghiệp rất khó luồn lách để vượt qua luật lệ. Và hình phạt ở đây là cả hình lẩn hộ, cả án tù lẫn tiền phạt và thu hồi sản phẩm theo thủ tục do Hội đồng Kiểm soát quyết định chứ không có chuyện thương thảo hoặc dàn xếp.
Sau khi đạo luật được ban hành, cơ chế độc lập của Quốc hội chuyên về kiểm tra Chính phủ gọi là Government Accountability Office (GAO) đã nghiên cứu việc áp dụng cho các mặt hàng nhập khẩu và công bố phúc trình của họ hồi giữa tháng Tám. Sau đó, hôm 07/10 vừa qua họ trình bày trước Hội đồng Kiểm soát kết quả nghiên cứu và những đề nghị. Căn cứ trên báo cáo này thì ta thấy Hội đồng Kiểm soát có trách nhiệm nặng nề hơn mà lại thiếu nhiều phương tiện, kể cả nhân sự, và cần phối hợp với các cơ quan khác, như Quan thuế và Biên phòng. Trước hết là việc lập ra danh sách những độc chất cần loại trừ và thủ tục kiểm phẩm, thử nghiệm, cấp giấy chứng nhận để thông báo trước kỳ hạn tháng 2/2010.
Một giải pháp nên lập tức thi hành là yêu cầu viện trợ kỹ thuật để mình học hỏi ngay những hậu quả hay đòi hỏi của luật lệ mới và công khai phổ biến cho mọi người cùng biết rõ vì đạo luật này đòi chính nhà sản xuất ở nước ngoài thi hành việc thử nghiệm đó, chứ không phải đợi tới khi hàng cập bến vào Mỹ mới được nhà chức trách Mỹ thử nghiệm rồi gửi trả nếu không hợp tiêu chuẩn.
| | | |
CÁC NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC BÊN BỜ SỤP ĐỔ
Các ngân hàng Trung Quốc đang bên bờ của sự sụp đổ" Nguồn tin: Theo Tạp chí Manager
Nền kinh tế Trung Quốc có đang đứng trước một cuộc khủng hoảng lớn? Hay sự bùng nổ - vừa khớp với các lễ hội ăn mừng 60 năm quốc khánh nước cộng hòa nhân dân - sẽ tiếp tục? Nhà nghiên cứu tương lai người Mỹ George Friedman đã có câu trả lời khá rõ ràng.
Người đứng đầu công ty thông tin tư nhân Stratfor, trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí manager (mm.de) đã khẳng định: cuộc khủng hoảng tiếp theo của châu Á đang dần lớn lên. George Friedman là người sáng lập và lãnh đạo công ty thông tin tư nhân Stratfor. Ông đã viết nhiều sách và bài báo về các chủ đề chính sách an ninh, truyền thông và công nghệ. Tác phẩm mới nhất là cuốn "The Next 100 Years: A Forecast for the 21st Century". mm.de: Thưa ông Friedman, trong số mới của tạp chí manager (số 10/2009) đề cập tới hiện tượng phát triển quá nóng của nền kinh tế Trung Quốc, mang đầy đủ các biểu hiện của một bong bóng. Vẫn còn có nhiều doanh nhân và kinh tế gia phương Tây đặt nhiều hy vọng vào sự năng động của Trung Quốc, có phải vậy không?
Friedman: Tốt hơn là không nên vậy - tốc độ tăng trưởng không nói lên được nhiều về hiện trạng của một nền kinh tế.
mm.de: Vậy thì nền kinh tế Trung Quốc (TQ) đang như thế nào?
Friedman: Đứng trên đôi chân đất sét. Các doanh nghiệp chủ yếu do các ngân hàng tài trợ. Bởi vậy họ không lưu tâm lắm đến kiếm lời thông qua tạo nguồn thu để trả nợ. Thay vì vậy, họ cố bán càng nhanh càng nhiều. Rất thành công - như các con số đề thặng dư xuất khẩu đã chỉ ra.
mm.de: Điều đó có gì tệ đâu?
Friedman: Ở TQ không có cơ chế thị trường để phân bổ vốn. Người TQ chỉ có thể gửi tiền vào các ngân hàng nhà nước với lãi suất thấp. Các ngân hàng này lại cho các doanh nghiệp quốc doanh hoặc chịu ảnh hưởng của nhà nước vay lại - nặng về quan hệ và ý chí hơn là quan tâm tới lợi nhuận.
mm.de: Đó không phải là kinh tế thị trường thuần túy. Nhưng mà cho tới giờ hệ thống đó vẫn hoạt động thành công...
Friedman: Chỉ khi nào các doanh nghiệp còn phát triển. Nếu tăng trưởng giảm sút - như bây giờ qua khủng hoảng của các nước mua hàng - sẽ xuất xảy ra tình trạng vỡ nợ hàng loạt. Hệ thống tài chính sẽ sụp đổ một cách chậm chạp, nhưng chắc chắn - giống như trong cuộc khủng hoảng chấu Á lần thứ nhất ở Nhật Bản. Khi đó, tỷ lệ tín dụng so với tổng thu nội địa ở mức 17% đã bị coi là xấu. Hiện tại ở TQ tỷ lệ này là 30 tới 40 phần trăm. Giống như Nhật Bản ở vận tốc lớn hơn.
mm.de: Nhưng TQ có các nguồn lực khổng lồ - chỉ riêng dự trữ ngoại tệ đã hơn 2000 tỷ đô la, phần lớn là các trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ. Tại sao nền kinh tế đó không hấp thu được các khoản vỡ nợ?
Friedman: Dự trữ đô la lớn là một dấu hiệu rất xấu. Nó có nghĩa là trong nước không có cơ hội đầu tư thích đáng cho các khoản tiền. Thay vì đầu tư ở TQ người TQ lại thích đầu tư và các hầm mỏ ở châu Phi hay Cục Dự trữ Hoa Kỳ..
mm.de: Vậy thì tại sao các doanh nghiệp châu Âu và Hoa kỳ lại nóng lòng đầu tư vào TQ?
Friedman: Bởi họ đánh hơi thấy các cơ hội thị trường khổng lồ. Họ nhìn thấy số dân tới 1 tỷ 3 con người. Họ thấy những tỷ phú ở các thành phố duyên hải đang sắm xe Mercedes và Maserati cho mình.
mm.de: Điều đó có vẻ rất lạc quan?
Friedman: Họ không để ý thấy có hơn 1 tỷ người TQ chỉ kiếm được chưa đầy 2000 đô la. Mức thu nhập này nằm ở mức của Châu phi khu vực xích đạo. Hoàn cảnh của những con người này cần phải cải thiện nếu không sẽ xuất hiện các bất ổn xã hội, điều mà các nhà đầu tư ngoại quốc luôn né tránh.
mm.de: 30 năm qua tình hình TQ đã cải thiện liên tục. Tại sao điều đó không tiếp tục trong thời gian tới?
Friedman: Để làm dịu tình hình nghèo khổ, TQ phải tiếp tục tăng trưởng. Các doanh nghiệp khém hiệu quả hiện đang được duy trì giả tạo bằng các hợp đồng và nhiều khoản vay của nhà nước hơn thông qua chương trình kích thích. Tuy vậy toàn bộ số tiền mà TQ kiếm được nhờ những năm bùng nổ xuất khẩu cũng không đủ để kéo dài việc ổn định hệ thống.
mm.de: Liệu có con đường nào khác không?
Friedman: Tôi e rằng không. Tự TQ không kiểm soát được nền kinh tế của mình. Sự thần kỳ trong phát triển của vùng duyên hải không hơn gì sự bành trướng của Wal-Mart. Công nghiệp TQ không có khách hàng ở ngay nội địa vì ở đó con người sống theo kiểu tự cung tự cấp. Kinh tế TQ sống nhờ khách hàng ở Mỹ và châu Âu. Và các quốc gia này cũng quyết định liệu TQ có phát triển tiếp hay không - và có vẻ không phải là như vậy.
mm.de: Chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng của châu Á?
Friedman: Chúng ta đã sa vào cuộc khủng hoảng lần 3 của châu Á. Các doanh nghiệp TQ nợ quá nhiều rồi. Các ngân hàng đang đứng bên bờ sụp đổ.
mm.de: Ngài có nói quá không? Các chỉ số của các ngân hàng TQ xem ra có vẻ chắc chắn hơn các ngân hàng phương Tây.
Friedman: Ồ không, các báo cáo không nói hết sự thật. Nhà nước đã đảm nhận các khoản nợ xấu và chia cho các Công ty quản lý tài sản. Và các công ty này đã tồn tại từ lâu. Thêm tăng trưởng không có lợi nhuận chẳng đưa đến đâu cả - nó chỉ thổi phồng cái bong bóng TQ thêm mà thôi.
Lê Đông Phương (lược dịch)
KINH TẾ ẤN ĐỘ SẼ VƯỢT TRUNG QUỐC
Kinh tế Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc? Paranjoy Guha Thakurta Nhà phân tích kinh tế Ấn Độ
World Bank nói các nước đang phát triển đóng vai trò phục hồi kinh tế toàn cầu
Con voi ì ạch có thể vượt qua con rồng năng động hay không? Điều được coi là không thể xảy ra trong nhiều thập niên, nếu không muốn nói là hơn nửa thế kỷ thực sự có thể sớm xảy ra, và có lẽ sẽ diễn ra vào năm tới.
Trong năm 2010, nền kinh tế Ấn Độ có thể tăng trưởng nhanh hơn Trung Quốc.
Các chuyên gia cho rằng Nam Á thậm chí có thể có kinh tế tăng tốc nhanh hơn khu vực Đông Á.
Trong khi không hiếm người tin rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế lớn khác trên toàn cầu trong tương lai gần, lại có những người khác cho rằng sẽ có thể có thay đổi trong xu hướng tốc độ tăng trưởng của hai quốc gia đông dân nhất và rằng Ấn Độ có thể nhích hơn Trung Quốc một chút.
Nền kinh tế của Ấn Độ bắt đầu tăng tốc từ những năm 1990 trở đi khi Delhi nới lỏng kiểm soát trong ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Trung Quốc và Ấn Độ, chiếm khoảng 40% trong tổng số 6.5 tỷ dân trên hành tinh, không chỉ đơn thuần là hai đang phát triển nền kinh tế nhanh nhất trên thế giới hiện nay mà còn nằm trong số vài quốc gia tăng trưởng dương trong khi hầu hết các nước bị tăng trưởng âm.
Vào đầu thập niên 1950, xét về thu nhập bình quân đầu người và mức độ phát triển kinh tế, Trung Quốc và Ấn Độ không khác nhau là bao. Một nửa số dân của cả hai nước đều trong cảnh nghèo đói, trong trường hợp của Ấn Độ là vì nhiều thế kỷ bị đô hộ.
Từ những năm 1970, nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh, trong khi Ấn Độ đã tăng trưởng ở mức chậm 3,5%.
Khi Trung Quốc tăng trưởng ở mức hai chữ số trong gần 40 năm, giới kinh tế gia cho rằng thế nào cũng sẽ bị hiện tượng “nổ bong bóng”. Tuy nhiên con rồng Bắc Kinh cứ lớn mạnh theo năm tháng bất chấp mọi sự mong đợi và dự đoán.
Nền kinh tế của Ấn Độ bắt đầu tăng tốc từ những năm 1990 trở đi khi Delhi nới lỏng kiểm soát trong ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
World Bank dự kiến kinh tế Ấn độ tăng trưởng 8% trong năm 2010
Vào giữa những năm 1990, lần đầu tiên kể từ khi Ấn Độ giành độc lập vào tháng 8 năm 1947, nền kinh tế của họ tăng trưởng trung bình hàng năm hơn 9% trong bốn năm liên tục, và chỉ giảm tốc khi kinh tế thế giới suy thoái. Các nhà kinh tế cho rằng một trong những lý do khiến kinh tế của Ấn Độ phát triển nhanh hơn của Trung Quốc trong tương lai gần chỉ đơn giản là là dựa vào sự khác biệt về cơ cấu trong nền kinh tế giữa hai nước..
Nền kinh tế của Trung Quốc có kích cỡ gấp 3.5 lần kinh tế Ấn độ.
GDP của Trung Quốc trong năm 2008 là 4.2 ngàn tỷ USD và GDP của Ấn độ là 1.2 tỷ USD.
Có một lý do quan trọng khiến nền kinh tế Ấn Độ bị thiệt hại tương đối ít hơn do suy thoái kinh tế thế giới so với Trung Quốc, nước có sự tăng trưởng chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong nhiều thập niên qua.
Xuất khẩu và nhập khẩu tính gộp chiếm khoảng phân nửa GDP của Ấn Độ trong khi đó tỷ lệ này của Trung Quốc là trên 80%.
Sửa dự báo
Cách đây hai năm, Trung Quốc vượt qua Mỹ như là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ.
Theo dự kiến kinh tế Đông Á sẽ tăng trưởng chậm hơn Nam Á
Cuối tháng Sáu, Ngân hàng Thế giới trong báo cáo Phát triển Tài chính Toàn cầu 2009 dự kiến trong năm 2010, tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế của Ấn Độ đạt 8% trong khi theo dự kiến Trung Quốc sẽ tăng trưởng kinh tế ở mức 7,7%.
Trong năm 2009 Ngân hàng Thế giới sửa lại dự báo cho cả Trung Quốc (từ 6,5% đến 7,2%) và Ấn Độ (từ 4% đến 5,1%), là mức thấp hơn dự báo từ chính phủ hai nước.
Chính phủ Trung Quốc nói sẽ có mức tăng trưởng gần 8% cho năm 2009, trong khi các cơ quan khác nhau của chính phủ Ấn Độ nói kinh tế của họ tăng trong khoảng giữa 6,5% và 7%.
Báo cáo Ngân hàng Thế giới nói:"Khi không gộp cả Trung Quốc và Ấn Độ vào thì tổng GDP tại các nước đang phát triển sẽ giảm 1,6%, tức là sẽ có thêm người thất nghiệp và nghèo đói”.
Justin Lin, kinh tế gia trưởng của ngân hàng, được trích dẫn khi nói rằng các nước đang phát triển “trở thành một động lực quan trọng" trong phục hồi nền kinh tế của thế giới với điều kiện “đầu tư nội địa tiếp tục tăng với sự hỗ trợ quốc tế bao gồm tái tục các nguồn tín dụng từ quốc tế".
Ông Lin không phải là người duy nhất có quan điểm này. Phát biểu tại một hội thảo gần đây ở Delhi, Ajay Chibber, Trợ lý Tổng thư ký của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, cho biết cho đến gần đây người ta vẫn không thể tưởng tượng rằng Ấn Độ có thể có mức tăng trưởng nhanh hơn Trung Quốc.
"Tôi chưa bao giờ nghĩ tôi sẽ chứng kiến trong đời tôi ngày mà Nam Á có thể tăng trưởng nhanh hơn so với khu vực Đông Á", ông nhận xét.
Kalpana Kochhar, Phó Giám đốc bộ phận Châu Á Thái Bình Dương của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, nói với tôi rằng hoàn toàn có thể xảy ra khả năng Ấn Độ có thể tăng trưởng nhanh hơn so với Trung Quốc hay Nam Á sẽ tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn Đông và Đông Nam Á. Bà nói: "Tôi thấy có nhiều khả năng xảy ra điều này”.
ASEAN CÀNG NGÀY CÀNG NGHI NGỜ TQ
(Tổng hợp từ nguyệt san Bình luận phòng vệ Hán Hòa, “Bình luận Trung Quốc” số tháng 9/2009, tờ Đại công báo và Đông phương Nhật báo của Hồng Kông số ra gần đây)
Thời gian gần đây, việc quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan có xu thế hòa hoãn cũng như thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông (biển Nam Trung Hoa) đã dẫn đến sự nghi ngờ phổ biến và ngày càng gia tăng của các nước ASEAN đối với Trung Quốc. Hơn thế, mối nghi ngờ này có chiều hướng được công khai hóa, thậm chí dẫn đến sự chuẩn bị cao độ trên phương diện quân sự của một số nước ASEAN hữu quan.
1 – Biểu hiện cụ thể
Hồi tháng 4/2009, tại Lễ duyệt binh trên biển của lực lượng Hải quân Trung Quốc, trong số các nước ASEAN, ngoài Xinhgapo, đã không có nước nào điều động tàu hải quân đến tham dự. Các nhà phân tích quốc tế cho rằng đây là một bằng chứng chứng minh cho sự nghi ngờ và cảnh giác của các nước ASEAN đối với Trung Quốc. Còn Hải quân Xinhgapo sở dĩ điều động tàu hải quân tham gia Lễ duyệt binh này của Trung quốc, chủ yếu là do trước đây, trong thời gian diễn ra “Triển lãm và Hội thảo Hải quân quốc tế lần thứ 2” (IMDEX) tại Xinhgapo, Trung Quốc đã điều động tàu hải quân đến thăm Xinhgapo.
Bên cạnh đó, tình trạng các nước ASEAN không mua sắm trang bị vũ khí quân sự của Trung Quốc đã bộc lộ rõ. Trong những năm gần đây, Trung Quốc ngoài “viện trợ” vũ khí cho Chính quyền quân sự Mianma, không bán được cho các nước ASEAN bất kỳ một loại trang bị vũ khí nào. Ngoài ra, gần đây còn xuất hiện động thái các nước ASEAN tiến hành liên kết cùng đối phó với Trung Quốc, hoặc dựa vào phương Tây để cân bằng với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền tại khu vực Biển Đông. Việt Nam và Malaixia là điển hình của phương thức này.
2 – Lý do khiến ASEAN nghi ngờ Trung Quốc
Trung Quốc tiến hành các hoạt động quân sự quy mô lớn tại khu vực Biển Đông, như xây dựng mở rộng căn cứ hải quân quy mô lớn cho tàu ngầm hạt nhân và tàu mặt nước (thậm chí cả tàu sân bay trong tương lai) tại đảo Hải Nam; bố trí tàu đổ bộ cỡ lớn “071” tại Biển Đông; tiến hành các cuộc diễn tập quân sự liên hợp trên biển quy mô lớn, v.v. Vấn đề khiến các nước ASEAN lo ngại là ý đồ của Trung Quốc trong việc xây dựng căn cứ lớn cho tàu ngầm hạt nhân và tàu mặt nước tại đảo Hải Nam cũng như ý đồ của Trung Quốc bố trí tàu đổ bộ cỡ lớn “071” tại Biển Đông. Rõ ràng, nhìn từ góc độ các nước ASEAN, hành động này của Trung Quốc đã chứng minh: Trung Quốc bắt đầu đi theo phương hướng chuẩn bị quân sự cụ thể cho biện pháp giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.
Thái độ Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển Đông tỏ ra cứng rắn hơn cũng như Trung Quốc có động thái bố trí nhiều hơn tàu ngầm thông thường và tàu ngầm hạt nhân tại căn cứ ở đảo Hải Nam. Quan chức Hải quân Trung Quốc từng tuyên bố có đủ năng lực bảo vệ Biển Đông, thậm chí hô hào Trung Quốc cần “tiên lễ hậu binh” (ngoại giao trước, quân sự sau) trước các hành động gọi bằng “khiêu khích” Trung Quốc của các nước xung quanh Biển Đông. Điều này khiến giới quân sự ASEAN lo ngại không hiểu quan chức hải quân Trung Quốc tuyên bố có đủ năng lực bảo vệ biển Nam Trung Hoa là có ý gì.
Hải quân Trung Quốc đưa ra khái niệm “biên giới lợi ích” và tuyên bố “biên giới lợi ích” của Trung Quốc tới đâu, sứ mệnh của hải quân cần bảo vệ tới đó. Hầu hết các nước ASEAN cho rằng nếu nói “biên giới lợi ích”, các nước đều có, không chỉ mình Trung Quốc có “biên giới lợi ích”. Tuy nhiên, điều khiến các nước ASEAN càng nghi ngờ Trung Quốc hơn là không hiểu rốt cuộc Trung Quốc sẽ bảo vệ cái gọi là “biên giới lợi ích” như thế nào. Giới quân sự các nước ASEAN bày tỏ cách nói “biên giới lợi ích” của Trung Quốc là không thuận, không phù hợp cũng như không có luật quốc tế làm căn cứ. Trong khi đó, phía Trung Quốc đưa ra giải thích chung chung: “biên giới lợi ích” mà Trung Quốc đề cập là xuất phát từ nguyên tắc công bằng, bảo đảm chắc chắn phân chia khu vực trách nhiệm chống cướp biển.
Trung Quốc thừa nhận đang nghiên cứu đóng tàu sân bay, tuy nhiên Trung Quốc chưa từng công khai tiến trình và kết quả cụ thể, khiến mối nghi ngờ của các nước ASEAN đối với Trung Quốc ngày càng tăng. Phía Trung Quốc cho biết hiện nay, nước này đang trong quá trình nghiên cứu đóng tàu sân bay, đợi đến khi có kết quả cụ thể sẽ công bố công khai. Ngoài ra, Trung Quốc luôn nhấn mạnh hải dương hài hòa, nhưng gần đây lại có những hành động ngăn chặn tàu của Mỹ thực hiện nhiệm vụ khảo sát, thăm dò ở vùng biển quốc tế thuộc khu vực Biển Đông. Điều này cho thấy “hình tượng quốc tế” của Trung Quốc đang có vấn đề. “Sách Trắng quốc phòng” mà Ôxtrâylia công bố gần đây đã nêu rõ cần cảnh giác cao độ với thái độ của Trung Quốc.
Quan hệ hai bờ Eo biển Đài Loan có xu thế hòa hoãn, Trung Quốc có điều kiện tập trung sức mạnh quân sự tại Biển Đông, điều này đã dẫn đến sự nghi ngờ phổ biến của các nước ASEAN đối với Trung Quốc và mối nghi ngờ này dường như đã công khai hóa.
3 – Hệ quả
Các nước ASEAN liên kết với nhau, thậm chí dựa vào cường quốc phương Tây đối phó với Trung Quốc. Ví như hồi cuối tháng Tư đầu tháng Năm, trong vấn đề vạch đường ranh giới phân chia khu vực ngoài thềm lục địa 200 hải lý, Việt Nam đã cùng với Malaixia đưa ra phương án phân chia chung tại Biển Đông. Đa số các nước ASEAN không chỉ bắt đầu nghi ngờ Trung Quốc trong vấn đề “biên giới lợi ích”, mà còn đưa ra vấn đề trước hiện tượng gần đây hải quân Trung Quốc liên tiếp bày tỏ thái độ cứng rắn trong vấn đề biển Nam Trung Hoa. Tư lệnh hải quân Malaixia từng công khai nhấn mạnh nếu như những tàu ngư chính của Trung Quốc xâm nhập vùng biển Malaixia, Hải quân Malaixia có quyền xua đuổi.
Những hành động của Trung Quốc đã gây ra phản ứng chính trị ở tầng nấc tối cao. Hồi đầu tháng 3/2009, đích thân Thủ tướng Malaixia Abdullah Badawi tới thăm đảo Layang (đảo Hoa Lau) thuộc quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa), hòn đảo mà Trung Quốc cho rằng còn tồn tại tranh cãi chủ quyền. Tiếp sau đó, Tổng thống Philippin Gloria Arroyo đã ký “Dự luật đường lãnh hải cơ sở”. Việt Nam bổ nhiệm quan chức hành chính quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, v.v. Rõ ràng cấp phản ứng chính trị của các nước ASEAN đối với Trung Quốc ngày càng nâng cao, thậm chí lên đến cấp cao nhất.
Nỗ lực xuất khẩu kỹ thuật, trang bị vũ khí sang thị trường các nước ASEAN là bằng không. Tại IMDEX – 2007, công ty tàu thuyền Trung Quốc đã tham gia triển lãm, giới thiệu với Thái Lan và Malaixia tàu đổ bộ cỡ lớn “071”. Còn IMDEX – 2009 (từ ngày 12 – 14/5/2009, tại Xinhgapo), không có công ty tàu thuyền nào của Trung Quốc tham dự triển lãm vì cho rằng không có hiệu quả. Hải quân Malaixia đã tuyên bố rõ ràng với Trung Quốc: Hải quân Malaixia đang xem xét mua tàu đổ bộ của nước khác ngoài Trung Quốc. Hãng DAMEN của Hà Lan thừa nhận đã hai năm liền giới thiệu bán cho Malaixia tàu đổ bộ ENFORCER 13.000 tấn. Ngoài ra, quan chức phụ trách thị trường của Công ty ThyssenKrupp (Đức) xác nhận Malaixia đang nhờ ThyssenKrupp tư vấn mua tàu đổ bộ cỡ lớn MHD – 200 trọng tải từ 17.000 – 20.000 tấn. Tính đến nay, trang bị quân sự mà Trung Quốc giới thiệu bán cho Malaixia, chưa có thương vụ nào thành công. Chứng tỏ Malaixia đã đưa ra phương châm mua sắm vũ khí cơ bản: không trực tiếp nhập khẩu vũ khí từ Trung Quốc.
Bên cạnh đó, nỗ lực của Trung Quốc tham gia đầu thầu đóng tàu đổ bộ cho Hải quân Thái Lan cũng không có kết quả. Tháng 11/2008, Hải quân Thái Lan đã cùng với hãng ST Marine của Xinhgapo chính thức ký kết hợp đồng trị giá 200 triệu USD. Theo đó, Thái Lan sẽ nhập khẩu 1 tàu LPD lớp 8.000 tấn, 2 tàu LCM Mic-23, 2 tàu LCVP Mic 13 của Xinhgapo. Quan chức phụ trách chương trình thị trường của ST Marine cho biết tháng 7/2009, ST Marine đã bắt đầu đóng thân tàu LDP, năm 2012 sẽ giao hàng cho Hải quân Thái Lan. Nguồn tin từ Hải quân Thái Lan cho biết hiện Thái Lan không lựa chọn mua tàu đổ bộ cỡ lớn “071” của Trung Quốc là do kết quả đấu thầu. Nhưng trên thực tế, vấn đề mua sắm tàu thuyền do Trung Quốc sản xuất là vấn đề gây tranh cãi nhất ở Thái Lan. Bởi vì hai tàu hộ vệ tên lửa 3.000 tấn Thái Lan mua của Trung Quốc trước đây, hiện nay hệ thống rađa và hệ thống điện liên tiếp bị trục trặc, hơn thế sửa chữa mất rất nhiều thời gian. Hải quân Thái Lan dự tính trong điều kiện có kinh phí, sẽ mua hệ thống Atlas Elektronik của Đức để thay thế cho hệ thống điện trên tàu mua của Trung Quốc. Ngoài ra, hệ thống trợ đáp của hai máy bay trực thăng OPV mà Thái Lan mua của Trung Quốc gần đây nhất, trên phương diện chỉnh thăng bằng cũng nhiều lần xuất hiện vấn đề.
Các nước ASEAN nhấn mạnh năng lực tác chiến chống ngầm trong xây dựng lực lượng hải quân và không quân. Cụ thể, tại khu vực Biển Đông, các nước ASEAN phổ biến lấy nâng cao năng lực tác chiến chống ngầm làm đối sách cụ thể ưu tiên phát triển hải quân. Trong năm nay, Malaixia sẽ tiếp nhận chiếc tàu ngầm chạy đầu Scorpenne đầu tiên do Pháp sản xuất và Hải quân Malaixia sẽ phân chia thành hai khu vực tác chiến chống ngầm. Việt Nam chuẩn bị nhập khẩu tàu ngầm KILO – 636M của Nga. Báo chí Nga đưa tin Việt Nam đặt mua của Nga 6 tàu ngầm lớp KILO-636, tổng trị giá lên đến 1,8 tỷ USD, đồng thời còn theo đuổi dự án mua 8 máy bay chiến đấu đa năng Su30MK2 của Nga, tổng giá trị là 500 triệu USD. Báo chí Nga còn cho biết hồi tháng 1/2009, hai bên đã ký kết hợp đồng, nhưng thông tin này hiện nay vẫn chưa được Chính phủ Việt Nam và Nga thừa nhận. Việt Nam nêu rõ cần có tàu ngầm để bảo vệ lãnh hải của Việt Nam. Giới công nghiệp quân sự của Nga tại Xinhgapo xác nhận thị trường tàu ngầm của Việt Nam là mở cửa đối với Nga.
Cùng với xu thế quyết liệt hóa trong vấn đề tranh chấp các đảo bãi trên Biển Đông, các nước ASEAN đang phổ biến trang bị tàu đổ bộ cỡ lớn. Hải quân Inđônêxia bắt đầu tự thiết kế tàu đổ bộ mang theo máy bay trực thăng cỡ lớn 35.000 tấn. Ngoài ra, Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào tranh chấp tại Biển Đông. Cuộc diễn tập liên hợp trên biển hàng năm mang tên “Carat” giữa Mỹ với một số nước xung quanh Biển Đông, quy mô ngày càng lớn, màu sắc nhằm vào “một nước lớn nào đó” của “Carats” cũng rõ ràng hơn. Chưa hết, gần đây “Sách trắng quốc phòng” của Ôxtrâylia bày tỏ rõ Biển Đông là tuyến đường an ninh trên biển mà Ôxtrâylia quan tâm.
Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: ASEAN, Hải quân |
Nguồn: anhbasam on 06/10/2009 http://bauxitevietn am.info/c/ 12691.html
| | | |
THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 24.09.2009
Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?
Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.
Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.
Việt Nam con nợ của Tầu
Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.
CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.
Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.
Tầu là chủ nợ cho Việt Nam
Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.
Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây: => Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa. => Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng. => Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.
Tương quan Chủ nợ—Con nợ
Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT-TRUNG ĐỂ XÂM LĂNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 02.07.2009
Chúng tôi đọc những lời khuyên cáo của Hồ Tỏa Cẩm, Tham tán Kinh tế - Thương Mại tại Sứ quán Trung Quốc Hà Nội, nhằm công kích những Chuyên gia Kinh tế Việt Nam nhận định về sự lan tràn hàng hóa Trung quốc tại Việt Nam. Những Chuyên gia này noi len một thực trạng hòan tòan trong lãnh vực Kinh tế, Thương mại. Trong khi đó, những lời công kích, khuyến cáo của Hồ Tỏa Cẩm chỉ nói đến những gì ngòai lãnh vực Kinh tế, Thương mại như Tình Hữu Nghị Việt-Trung, Tình anh em gắn bó lâu năm trong Xã Hội Chủ nghĩa, Việt Nam phải quản lý Báo chí, cụ thể Việt Nam để VietNamNet đụng chạm đến Chủ trương Kinh tế, Thương mại của Chính phủ Trung quốc.
Những lới công kích ngòai phạm vi Kinh tế, Thương mại này của Hồ Tỏa Cẩm chứng tỏ ông không phải là một Tham Tán Kinh tế-Thương mại, mà chỉ là một Tham tán Chính trị Thiên Triều muốn Nhà Nước Thái thú Việt Nam trừng phạt những Chuyên gia Kinh tế-Thương mại, thậm chí phải khóa miệng những Báo chí dám đụng đến Thiên Triều.
Sứ Quán Trung Quốc Đòi “Khuyến Cáo, Nhắc Nhở VietNamNet” Linh Thủy
Sau khi Tuần Việt Nam thực hiện bàn tròn trực tuyến "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp" theo yêu cầu của đông đảo độc giả, Đại sứ quán Trung Quốc đã có một số phản hồi về cuộc thảo luận này.
Công kích các Chuyên gia Kinh tế VN không tôn trọng tình hữu nghị. Tham tán Kinh tế - Thương Mại Hồ Tỏa Cẩm đã có buổi trao đổi với Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Thông tin & Truyền Thông, Quản Duy Ngân Hà.
Ông Hồ Tỏa Cẩm nói mình đã có 12 năm gắn bó với VN.
Bắt đầu phần trình bày, ông Cẩm nói bằng tiếng Hoa, để một người phiên dịch dịch lại qua tiếng Việt. Nhưng sau đó ít phút, ông đã trực tiếp nói bằng tiếng Việt.
Tham tán Kinh tế - Thương Mại Hồ Tỏa Cẩm: "Tuần Việt Nam – VietNamNet đã có những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc"
Ông Hồ Tỏa Cẩm nói được sự ủy quyền của ngài Đại sứ, thay mặt Đại sứ quán Trung Quốc, nói về buổi tọa đàm bàn tròn trên VietNamNet:
Trong ngày 16/6, Tuần Việt Nam – báo VietNamNet đã phát biểu những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc trong bài: "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp".
Trong bài này có chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Bà ấy tôi cũng biết, trước là phó chủ tịch VCCI. Có Nguyễn Minh Phong – học giả về kinh tế. Hai ông bà này là có tên tuổi, nhất là bà Phạm Chi Lan, chúng tôi cũng có tiếp xúc nhiều lần. Lần này, bà ấy phát biểu những lời không hữu nghị.
Bào chữa cho chủ trương xâm lấn Kinh tế của Trung quốc
Chúng tôi chấp nhận là hàng hóa Trung Quốc bây giờ vào VN rất nhiều, thông qua hai con đường chính ngạch và tiểu ngạch. Có hàng giả hàng nhái.
Do chủ yếu không phải chính phủ Trung Quốc làm thế nào, mà theo cơ chế thị trường. Bên này có người mua, có người nhận, bên kia có người giúp.
Nhưng trong đó, trong buổi tọa đàm này, bà Phạm Chi Lan gọi hàng Trung Quốc là “lũ quét”. Chúng tôi không thể chấp nhận được. "Lũ quét" là gì, là một cái gì rất có hại, tai hại. Mạnh hơn lũ lụt. Không phải.
Thực ra, chính phủ VN vẫn luôn hoan nghênh hàng TQ vào VN.
Tôi chỉ ra là nêu hàng TQ là lũ quét là không đúng. Không phù hợp. Không nên như vậy. Lần này, trọng tâm là tôi nói về bà Phạm Chi Lan nói sâu vào chính phủ Trung Quốc.
Nếu mà chúng tôi, chính phủ TQ là như vậy, thế thì thôi, thì chúng tôi chấp nhận. Nhưng thật ra là mà không phải vậy. Không phải là chính phủ Trung Quốc là chính phủ không có lương tâm.
Còn chuyên gia Nguyễn Minh Phong cũng có lời nói TQ đã hi sinh 750 triệu người nông dân của họ để có giá thành lao động cực thấp. Thực ra là không phải.
Cơ quan báo chí coi người Phạm Chi Lan, Nguyễn Minh Phong này là chuyên gia – coi là chuyên gia rất là hiểu Trung Quốc. Thực ra tôi không biết bà ấy đi Trung Quốc mấy lần. Tôi đoán là bà ấy không hiểu Trung Quốc.
Lại khẳng định "tình anh em"
Sau khi nêu các ý không tán đồng các ý kiến của chuyên gia VN đưa ra, ông Hồ Tỏa Cẩm khẳng định:
"Hiện giờ chúng ta có quan hệ gọi là đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Trung Quốc với các nước khác là không có quan hệ này. Việt Nam cũng như vậy. Hai nước ta là Xã hội Chủ nghĩa. Đều coi trong đời sống dân sinh, không phải coi thường dân sinh. Cho nên giới báo chí phải làm theo lời, thỏa thuận của 2 chính phủ, 2 nhà nước."
"Xuất phát từ quan điểm này, tôi thấy VietNamNet chưa làm đúng thỏa thuận của hai nước." – Ông Cẩm nhắc lại.
“Đối với những người ấy, phát biểu không đúng sự thực. Tôi sẵn sàng trao đổi với ông bà ấy về Trung Quốc. Hai người này được coi là chuyên gia Trung Quốc. Nhưng cũng có cả phóng viên Nguyễn Quang Thiều. Mấy ông này là theo dõi Trung Quốc từ nhiều năm, ở Đông Âu hay là Liên Xô cũ. Trung Quốc không phải cửa quan như vậy đâu.”
“Mong muốn khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị" VietNamNet
Ông Hồ Tỏa Cẩm đã nhắc lại không dưới 3 lần, mong muốn các cơ quan VN phải "khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị" báo VietNamNet.
"Bài này đăng trên mạng VietNamNet, có nhiều nơi kể cả ở Trung Quốc cũng biết. Bây giờ, về internet truyền bá rất nhanh, kể cả nước ngoài. Chính phủ VN cho phép đăng những bài này, làm cho chúng tôi thấy là ngạc nhiên." - Người từng có "12 năm gắn bó với VN" nói.
“Lần này chúng tôi chỉ mong muốn là Bộ TT&TT nhắc nhở, đề xuất, cảnh thị với những người có liên quan, những cơ quan thông tấn báo chí, cụ thể là VietNamNet, nếu làm về hàng Trung Quốc, cứ làm thôi, không có vấn đề gì, nhưng làm trước hết phải đúng sự thực.
Thứ hai là đăng những bài vừa phải, TQ cũng như VN, mình phải nghĩ đến chính sách báo chí của nhà nước.
Tôi làm báo chí lâu năm tại Tân Hoa Xã, trong đó có 2 năm thường trú tại VN. Tôi rất là biết báo chí VN. Bây giờ giới báo chí 2 nước rất hay trao đổi với nhau. Hai nước có quan hệ rất là tốt. Tại sao lại có vấn đề như vậy?
Sứ quán chúng tôi mong là những cơ quan có liên quan kiểm điểm công việc này. Không để việc này tổn hại, thương hại cho dân chúng TQ, thương nhân TQ, chính phủ TQ.”
"Nhắc nhở quản lý" Báo chí và "khẳng định tình thân" Việt-Trung
Ngay sau những lời khẳng định của bà Quản Duy Ngân Hà: “việc đăng những bài ấy là chuyện của tòa soạn.”, ông Cẩm nói lại: "Với những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, chính trị, bộ phận nội bộ, không nên tung ra bên ngoài mà không có quản lý. Lần này tôi muốn nghe khẳng định lại, mong cơ quan quản lý báo chí VN, nếu báo chí nào đăng những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, có liên quan đến vấn đề nhạy cảm, thì theo tôi cũng quản lý được. Nếu trước kia quản lý chưa kĩ, thì sau này – tôi gọi là có thể quản lý được, can thiệp được."
Sau đó, ông Cẩm lại tiếp tục nói về tình thân của mình đối với Việt Nam và tình cảm hai nước Việt - Trung:
"Chúng tôi rất vui mừng chừng kiến sự phát triển của VN. Rất vui là VN cùng TQ là 2 nước anh em cùng phát triển. Tôi rất là mong muốn sau này chúng ta gặp nhau, chúc mừng những thành quả mà 2 nước đã đạt được."
Không thể nhân danh Tình thương mà ăn cướp tiền bạc của nhau
Tình yêu thương, tình Hữu nghị là trừu tượng và người ta có thể nhân danh những tiếng đó để cướp dựt tiền bạc của nhau. Tiêu chuẩn để nói về Kinh tế-Thương mại là sự công bằng quyền lợi vật chất, tiền bạc. Nhưng Chuyên gia Kinh tế Việt Nam đã nhận định theo đúng tiêu chuẩn Kinh tế-Thương mại. Còn Hồ Tỏa Cẩm lấy tiêu chuẩn tình thương, tình hữu nghị mà nói về Kinh tế-Thương mại. Điều đó chứng tỏ rằng : một là ông ngu dốt không xứng đáng mang danh Tham Tán Kinh tế-Thương mại, hai là ông giả hình lấy điều nhân nghĩa để che đậy một sự cướp dựt trắng trợn.
Chúng tôi đưa ra đây ba tỉ dụ để cho Hồ Tỏa Câm thấy rằng về lãnh vực Kinh tế-Thương mại, phải lấy tiêu chuẩn công bằng quyền lợi vật chất, tiền bạc mà thảo luận và quyết định.
Tỉ dụ thứ nhất : Vợ chồng ký giấy tách rời tài sản, tiền bạc
Tình thương yêu Vợ Chồng còn cao hơn gấp bội tình Hữu Nghị. Hai người thanh niên nam nữ yêu nhau thắm thiết, thậm chí chàng thanh niên còn tuyên bố sẵn sàng chết vì nàng. Thế rồi hai người xỏ nhẫn cho nhau thề sống suốt đời với nhau trong tình nghĩa Vợ Chồng. Không tình cảm nào, như tình Hữu nghị chẳng hạn, có thể cao hơn tình yêu Vợ Chồng. Thế mà liền sau khi ký Giấy Cưới nhau, hai người ký Bản Giao Kèo Tách rời Tài sản (Séparation des Biens). Tài sản thuộc lãnh vực vật chất, Kinh tế, Tiền bạc, không thể lấy Tình yêu, hoặc tình Hữu nghị, mà giải quyết.
Tỉ dụ thứ hai : Thỏa thuận Đền bù Thương mại giữa hai nước (Effets compensatoires bilatéraux)
Stuart MILL, một trong những ông tổ của giao dịch thương mại quốc tế cùng với Adam SMITH, David RICARDO, đã nêu ra vấn đề Thỏa thuận Đền bù trong những Hợp Đồng Thương mại tay đôi giữa hai Quốc gia. Thực vậy, khi hai Quốc gia thảo luận và ký kết tay đôi thương mại về một mặt hàng trao đổi, nếu vì những điều kiện thực tế bất khả kháng mà một nước mất chút quyền lợi về mặt hàng đó, thì nước mất chút quyền lợi này có quyền đòi hỏi nước kia phải dành quyền lợi lớn hơn trong Hợp Đồng về mặt hàng khác để đền bù. Đó là sự công bằng trong giao dịch thương mại, chứ không phải vì tình thương yêu hay hữu nghị. Kinh tế, Thương mại lấy sự đền bù quyền lợi vật chất cho công bằng.
Tỉ dụ thứ ba : WTO/OMC và Điều khỏan Quốc gia Ưu đãi.
WTO/OMC luôn luôn khuyên hai Quốc gia khi ký những Hợp Đồng Thương mại tay đôi (Contrat Commercial Bilatéral), nên cho vào Hợp Đồng Điều khỏan tuyên bố nước kia là Quốc gia ưu đãi (Clause de la Nation la plus favorisée). Đây là câu tuyên bố Tình yêu giữa hai nước. Câu tuyên bố này khiến hai Quốc gia ký kết có quyền tự động áp dụng những quyền lợi nếu Quốc gia ký kết dành cho một nước thứ ba trong tương lai. Không phải Tổng thống, Thủ tướng một Quốc gia có thể ký kết Điều khỏan này một cách dễ dàng bởi vì đây là quyền lợi Kinh tế, Thương mại của một Quốc gia. Hồ Tỏa Cẩm không thể chỉ nói suông tình hữu nghị, tình am em, mà lấy quyền lợi Kinh tế, Thương mại cho Trung quốc. Những chuyên gia Kinh tế, Thương mại Việt Nam nhìn trước hết vấn đề công bằng quyền lợi trong lãnh vực này. Những Chuyên gia KT/TM Việt Nam không thể vì tình hữu nghị, tình am em XHCN mà yên tiếng khi thấy cán cân Thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam hòan tòan thất lợi cho Việt Nam : «10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008»
Chủ trương Trung quốc xâm chiếm Kinh tế Á châu đã được Quốc tế nhìn rõ
Hồ Tỏa Cẩm muốn nêu cao sự đứng đắn của Trung quốc trong lãnh vực Kinh tế/Thương mại để công kích các Chuyên gia Việt Nam nói sai sự thật về Trung quốc. Ý đồ xâm lăng Kinh tế Trung quốc sang các nước nghèo Á châu, trong đó có Việt Nam mà Trung quốc coi như chư hầu, đã được quốc tế phân tích và nhìn rõ.
Hồ Tỏa Cẩm hay đọc lại Bản tin sau đây của Tân Hoa Xã tháng tư vừa rồi :
Bản Tin: «Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 14-4 cho biết, quỹ đầu tư trên sẽ thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nối Trung Quốc với 10 nước thành viên ASEAN, trong khi các khoản cho vay sẽ có thời hạn từ 3 đến 5 năm.
Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực.
Theo ông Dương Khiết Trì, những đề nghị này nhằm phản ánh quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự hợp tác với ASEAN ».
Cũng trong tháng tư, chúng tôi đã viết hai bài về ý đồ này của Trung Quốc. Chúng tôi đăng kèm dưới đây. Trung quốc không bỏ ra USD.25 tỉ để cứu nhân độ thế đâu như lời ca tụng của Hồ Tỏa Cẩm.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 08.07.2009
| | | |
TUYÊN CHIẾN VỚI HÀNG TRUNG QUỐC XÂM LĂNG
Tuyên chiến với cuộc tấn công của hàng ngoại chất lượng thấp 18/06/2009 09:37 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- "Dù tất cả đã có nhưng lực lượng hải quan, lực lượng kiểm tra thị trường, nói chính xác hơn là con người mà bị thủng thì phòng tuyến ngăn chặn hàng giá rẻ, chất lượng thấp vào thị trường Việt Nam cũng sẽ bị thủng..."- TS. Nguyễn Minh Phong nói.
Chất lượng công quyền
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Không rõ có chính xác hay không, nhưng tôi cảm giác Nhà nước mình như một ông chủ đội bóng, bỏ tiền ra mua đội bóng đó, đầu tư cho đội bóng nhưng lại giữ chân huấn luyện viên. Theo tôi hiểu, huấn luyện viên là một chuyên môn khác, đẳng cấp khác, còn việc của người quản lý đương nhiên là một công việc khác hoàn toàn.
TS. Nguyễn Minh Phong: Xin được quay trở lại câu chuyện còn đang dở, chúng ta vừa nói đến hàng may mặc Trung Quốc, nhưng giờ chúng ta phải nói đến tất cả các hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc, bởi có những thứ kém chất lượng, độc hại mà cơ quan kiểm định đã công bố, và thế giới cũng đều biết, đang có mặt nhan nhản ở thị trường Việt Nam.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Rõ ràng, chúng ta có những phòng tuyến chặn cửa như hải quan, các cơ quan kiểm thị trường, kiểm dịch, công an, quân đội và cả thuế vụ nữa… nhưng tại sao hàng ngoại chất lượng thấp lưu hành trên thị trường tiêu dùng vẫn không hề giảm đi, thậm chí có phần ồ ạt tiến vào vào thị trường Việt Nam. Liệu có hay không phòng tuyến nào bị hổng, hay tất cả đều bị hổng, thưa TS. Nguyễn Minh Phong?
TS. Nguyễn Minh Phong: Tôi cho rằng có 3 điểm cần lưu ý. Thứ nhất, chúng ta phải học tập Nhật và Trung Quốc, nghĩa là hàng tốt của Việt Nam phải bán cho người Việt Nam, chứ không phải hàng tốt thì mang hết ra nước ngoài, còn hàng bán ở Việt Nam toàn hàng xấu, tự nhiên người tiêu dùng trong nước bị ấn tượng hàng Việt Nam là hàng xấu.
Thứ hai, những chế tài và những quy định pháp lý, đặc biệt là những chế tài quy định liên quan đến hàng rào kỹ thuật cần phải được tăng cường hơn. Lâu nay, chúng ta sử dụng nặng công cụ thuế, còn công cụ hàng rào kỹ thuật lại xem rất nhẹ, thậm chí còn không biết làm như thế nào vì tiêu chuẩn chưa định hình, cái đã định hình thường thấp hơn rất nhiều so với thế giới. Do vậy, những hàng rào kỹ thuật, những tiêu chuẩn hoá về kỹ thuật cần sớm được quốc tế hoá, được xác lập và triển khai trên thực tế một cách hiệu quả.
Thứ ba, rất quan trọng. Dù tất cả những tiêu chuẩn đó đã có nhưng nếu lực lượng hải quan, lực lượng kiểm tra, hay nói gọn hơn là con người mà bị thủng thì phòng tuyến đương nhiên sẽ bị thủng... Cái thủng của con người là cái thủng lớn nhất. Chúng ta đã có rất nhiều bài học như vụ án hàng lậu Tân Thanh. Một khi quan chức liên tỉnh bắt tay dằng dây sẽ vô hiệu hóa tất cả những hàng rào kĩ thuật khác.
Bà Phạm Chi Lan: Về lỗ thủng chất lượng đội ngũ tôi đồng ý với anh Phong. Nhưng chúng ta nhìn nó rộng ra hơn một chút là cơ chế có thể tạo nên những con người như vậy, muốn có đội ngũ công chức thật tốt như chúng ta mong muốn thì phải có hệ thống cơ chế trong đó bao gồm cả thể chế cả chính sách, cả tiêu chuẩn cán bộ như thế nào, cách để chọn vào ra như thế nào, tất cả đều phải nghiêm chứ đừng chỉ đứng hô hào chung chung.
Bản thân Nhà nước phải rất nghiêm với chính mình về hàng rào kĩ thuật này, đã đặt ra phải xử lí, chỗ nào chưa có phải làm. Không phải bây giờ khi cả xã hội kêu lên là hàng chất lượng thấp thì bộ nọ, bộ kia lại chưa có căn cứ, chưa có tiêu chuẩn để kết luận đó là xấu, ngăn chặn không cho họ vào hoặc phản ứng lại với họ. Đó là cách trả lời vô cùng thiếu trách nhiệm. Lỗ thủng về trách nhiệm ở đây cũng là rất lớn, chứ không phải chỉ là vấn đề về tư cách con người hay về tham nhũng không thôi.
Chiến lược thực tế
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa bà Phạm Chi Lan, tôi đã từng nghe một số nhà nghiên cứu nói rằng Trung Quốc đã có một hồ sơ kĩ lưỡng về chiến lược hàng Trung Quốc đối với Việt Nam. Nghĩa là Trung Quốc có những chiến lược cụ thể, có đường lối rõ ràng cho từng khu vực, từng nước, từng mọi mặt hàng, từng mọi vấn đề của họ. Chính vì thế họ tạo sự đồng nhất trên toàn cầu. Vậy thưa bà chúng ta đã có một bộ hồ sơ cho nền kinh tế chúng ta, cho ngành nghề nào đó chưa với một khu vực hay với từng giai đoạn như vậy của chúng ta chưa hay ta vẫn chỉ là một sự ngẫu hứng, một sự chuyển động rời rã của chân con rết?
Bà Phạm Chi Lan: Đó là điều rất đáng tiếc về phía chúng ta. Việc làm sao chống được sự xâm lấn của hàng bên ngoài thì yếu tố quan trọng hàng đầu vẫn là sức mạnh của chính mình.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung cho giai đoạn từ 2001 đến 2010, có đưa ra một số ý tưởng đối với một số ngành mà Nhà nước coi là có tầm quan trọng, chiến lược phải được đặt vào trong chiến lược chung đó để phát triển. Nhưng còn cụ thể đối với các ngành thông thường chúng ta vẫn thiếu các chiến lược và ngay cả khi có chiến lược thì vẫn rất thiếu tính cụ thể cần thiết, thiếu những công cụ, biện pháp đi cùng để có thể thực hiện được.
Theo tôi, đã là chiến lược phát triển phải rất cụ thể và rất tường tận. Đi cùng hàng loạt các công cụ về chính sách, những nhân tố vật chất về nguồn lực về con người để thực hiện, chứ không phải cứ vẽ ra cho vui, lấy oai cho ngành này ngành khác.
Bệnh thành tích
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Những điều mà bà Phạm Chi Lan nói về chiến lược xuất khẩu ô tô, hoặc chúng ta sản xuất máy bay đã được thực tế chứng minh về tính khả thi. Dự án ô tô Mê kông là một sự thất bại to lớn. Lịch sử đã chứng minh người Việt rất cần cù, rất chịu khó, sáng tạo, khéo tay, quả cảm…, nhưng đôi khi chúng ta cũng rất ảo tưởng.. Với chúng ta, tôi nghĩ rằng chúng ta đang hão huyền sinh ra bệnh thành tích. Ngày xưa ông cha ta căn cơ, chính xác, gọn ghẽ đâu ra đấy. Nhưng chủ nghĩa thành tích đã sinh ra sự hão huyền, chạy theo thành tích sẽ thế này thế kia… chúng ta phải rời bỏ điều đó, phải trở lại hiện thực và làm một bát phở thật ngon, hãy may một cái áo thật đẹp… Tôi những tưởng mây tre Việt Nam sẽ nhất thế giới, nhưng sau này đi ra thế giới tôi thấy chúng ta bại trận hoàn toàn. Chúng tôi đau đớn khi mua những đồ thủ công mỹ nghệ bằng cói, tre từ Nhật, Hàn Quốc trở về. Thưa Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, ông suy nghĩ gì về điều đó, về chủ nghĩa thành tích vẫn đeo bám chúng ta, ăn sâu vào ta, khiến ta sẽ còn gặp nhiều khó khăn?
TS. Nguyễn Minh Phong: Nói một cách chính xác đến nay không phải chỉ là dư âm thành tích. Thành tích chỉ là bề nổi của cơ chế chúng ta đang sử dụng, đó là cơ chế điều hành quản lý mang tính chất quân sự, trận đánh. Cả một chuỗi quá trình như vậy cho đến nay vẫn quán tính như vậy. Quán tính này đi vào kinh tế thể hiện ở chỗ những phong trào thi đua, chiến dịch thành tích báo cáo. Rõ ràng chúng ta đang tự mình làm con tin, tự mình là nạn nhân của chính mình trong vấn đề cơ chế như vậy.
Đã đến lúc chúng ta phải bỏ qua tất cả những hình thức phù phiếm, tất cả những khẩu hiệu sáo rỗng, bánh vẽ giá trị ảo để trở về cuộc sống thực tế, giá trị thực để đáp ứng nhu cầu.
Giải pháp khả thi
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa bà Phạm Chi Lan cơn lũ hàng nhập ngoại xấu, kém chất lượng, độc hại đang tràn vào Việt Nam đã lên đỉnh điểm chưa, hay sẽ tiếp tục, hoặc giảm xuống? Bà Phạm Chi Lan: Nó như thế nào phụ thuộc vào thái độ của chính chúng ta. Nếu chúng ta bỏ lơ, coi thường chuyện đó, các cơ quan Nhà nước vẫn cảm thấy dửng dưng không ý thức ngăn chặn, bảo vệ cho đồng bào mình thì làm sao cơn lũ này chấm dứt được.
Hoặc truyền thông của chúng ta không dấy lên được tiếng nói mạnh mẽ để cổ động cho hàng Việt Nam, biểu dương cho những doanh nghiệp hàng tốt như May 10, và rất nhiều những doanh nghiệp khác, trân trọng người tiêu dùng trong nước thì làm sao ngăn nổi cơn lũ này.
Nếu không cùng nhau làm việc đó như một tính chất cả hệ thống thì cơn lũ đó chưa tới đỉnh điểm đâu, sẽ tiếp tục đổ vào, tiếp tục tràn vào dữ dội hơn. Người ta đã có hẳn một kế hoạch lớn, chiến lược lớn để làm điều đó, họ sẽ không dừng lại trừ khi chúng ta biết tự vạch hướng đi cho mình, tự bảo vệ cho mình, đẩy làn sóng đó ngược trở lại trả về phía bên họ.
Quả thực tôi lo lắng cơn lũ này chưa đến đỉnh điểm, mà còn có thể tệ hại hơn nữa bởi vì chúng ta vẫn chưa làm được gì nhiều để ngăn chặn.
Tôi nói vui với các doanh nghiệp là bây giờ biên mậu đã diễn ra ở tận thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải biên mậu ở Lào Cai, Lạng Sơn nữa.
Thực tế, người ta đã vào tận thành phố Hồ Chí Minh để làm rồi, gần như tất cả các giao dịch diễn ra ngay tại đó. Chỉ cần nhấc một cú điện thoại lên thôi là hàng hóa đâu vào đó. Không khó để bắt gặp từng đoàn xe mang biển số của một quốc gia láng giềng có thể vào đất Việt Nam đàng hoàng, thậm chí người nước họ cũng ra vào làm việc ở đây tự do. Nếu chúng ta vẫn dễ dãi như vậy thì cơn lũ hàng giá rẻ, chất lượng thấp còn tiếp tục dấn tới.
Tôi vừa từ Lục Ngạn (Bắc Giang) về. Tôi đã chứng kiến một đoàn 65 thương gia Trung Quốc đang ở đó, tại những cứ điểm để thu mua vải quả, và họ là người quyết định giá cả.
Chúng ta đã để đến mức như vậy thì việc không tự bảo vệ được mình là do chính mình, mình vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân của việc đó, chứ không thể đổ hoàn toàn cho chính sách của nước khác được. Mình không biết tự mình bảo vệ mình thì nói được gì nữa. Nếu ta không có hành động từ cao nhất, làm quyết liệt thì các doanh nghiệp phần nào phải bó tay.
TS Nguyễn Minh Phong: Tôi cho rằng, hàng may mặc, hàng điện tử là một ví du, tất cả những hàng đơn lẻ đó là một ví dụ và trong tương lai nó sẽ thành dòng thác lũ.
Tôi đồng ý với chị Chi Lan nếu như chúng ta vẫn bình chân như vại, cơ chế trách nhiệm vẫn như hiện nay, các bộ phận doanh nghiệp rời rạc thiếu gắn kết quyện hòa, cơ chế bảo vệ không rõ ràng sẽ tiếp tục tạo ra lỗ hổng để cho hàng ngoài vào tự do, gây thiệt hại cho chính những người trong nước, cho nền kinh tế quốc gia.
Đã đến lúc Nhà nước phải suy nghĩ nghiêm túc hơn về bàn tay của nhà nước để tạo ra chất kết dính. Mỗi doanh nghiệp có sức mạnh của riêng họ, có trách nhiệm, yếu điểm và cái lí của mình. Để bảo vệ một cộng đồng dân tộc nói chung thì phải bằng bàn tay Nhà nước, chứ một May 10 cũng không làm được, một cá nhân không làm được. Bàn tay Nhà nước ở đây rất cụ thể, của Chính phủ, của bộ, ngành và của từng vị trí công quyền.
Phải tạo ra sức mạnh cộng hưởng như vậy, chúng ta mới có hy vọng đẩy lùi được cơn lũ hàng ngoại giá rẻ kém chất lượng.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Các doanh nghiệp ta đang trong tình trạng số phận là tự bơi lấy một mình. Chúng ta không thiếu trí tuệ, không thiếu chuyên gia kinh tế, giáo dục, khoa học. Chúng ta đang sở hữu họ, nhưng không sử dụng họ điều này rất nguy hiểm.
Và chúng ta cũng đang thiếu một điều là tính hệ thống để tập hợp tất cả tạo thành một nguồn lực sức mạnh lớn nhất. Trong cuộc bàn tròn hôm nay, tôi xác định rõ kẻ thù đối với thị trường của chúng ta, nhưng ngày mai bước ra đường đến một cửa hiệu, tôi lại dày vò chọn lựa hàng này của Việt Nam hay hàng kia của nước ngoài. Những gì được đặt ra tại bàn tròn hôm nay đã phần nào động chạm tới những điều cơ bản và chi tiết, chúng ta cũng đã nói ra tất cả những điều mang tính hệ thống, chiến lược. Nếu biết lắng nghe, biết sửa mình thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn, còn nếu vẫn chỉ là trách nhiệm, là lợi ích cá nhân thì e rằng 50 năm nữa chúng ta lại ngồi lại đây, nói lại những điều phiền muộn này. Xin cám ơn chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, anh Thân Đức Việt, và cám ơn tất cả các quí vị độc giả của Tuần Việt Nam/Vietnamnet. Chúng ta hi vọng rằng có thể trong lúc trước mặt chúng ta còn quá nhiều chân trời mờ mịt, nhưng chúng ta phải đi tìm, không cách nào khác là phải lên tiếng. Nói một lần, hai lần, nói ngày lẫn đêm và cả trong giấc ngủ để một ngày nào đó chúng ta nhận ra rằng lòng tự trọng dân tộc thật lớn. Một lần nữa, xin cảm ơn các quý khách đến dự hôm nay, và tôi tin rằng bạn đọc sẽ gửi những phản hồi nhiều chia sẻ, đồng tình lên tiếng cùng chúng ta về một vấn đề đang nhức nhối để từng bước tiến đến một dân tộc hùng mạnh. Tôi nhớ lại cách đây 5 năm, khi cùng một Giáo sư Mỹ đến siêu thị ở Boston và ông ta kêu lên trong siêu thị khiến tất cả mọi người kinh ngạc: “Thiều quay lại đây” và chỉ cho tôi một chiếc quần kaki Made in VietNam. Một lần nữa, xin cảm ơn tất cả quý vị!
Tuần Việt Nam
| | | |
HÀNG TRUNG QUỐC GIẾT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Doanh nghiệp thua đau bởi hàng Trung Quốc giá rẻ 16/06/2009 05:34 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - “Tôi rất lo sợ do chúng ta thiếu sự chuẩn bị thì có thể trong cuộc chơi mới, chúng ta háo hức hòa nhập với mong muốn chiến thắng, nhưng lại thua trong quá trình hội nhập ở mặt này hay mặt khác, kể cả trên sân nhà”, bà Phạm Chi Lan.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Kính thưa bạn đọc Tuần Việt Nam/VietNamNet, kính thưa các vị khách mời, chủ đề của bàn tròn trực tuyến hôm nay là: Giải pháp với hàng TQ chất lượng thấp.
Câu hỏi đầu tiên xin được dành cho bà Phạm Chi Lan: Khi nhận được lời mời tham dự bàn tròn trực tuyến với chủ đề “Giải pháp với hàng TQ chất lượng thấp”, cảm giác của bà như thế nào?
Bà Phạm Chi Lan: Những ngày gần đây, tôi thực sự thấy rất bứt rứt, sốt ruột và đau lòng vô cùng về hàng chất lượng thấp của nước ngoài, đặc biệt là của TQ tràn vào VN. Không những nó làm hại cho người tiêu dùng mà còn làm hại cho nền sản xuất VN ở mức độ rất to lớn.
Do vậy, khi được Tuần Việt Nam/Vietnamnet mời tham dự cuộc trò chuyện hôm nay tôi đã nhận lời ngay lập tức vì cũng muốn chia sẻ một số những điều mà mình đang bức xúc trong lòng với bạn đọc.
Tôi cũng muốn thông qua đây có một thông điệp nho nhỏ đến bạn đọc, đến những người tiêu dùng, các nhà sản xuất và cả với Nhà nước để chúng ta có thể cùng nhau chặn được cơn lũ quét này, bảo vệ cho sự an toàn của đất nước, của người dân VN và đấy cũng là điều tôi mong muốn.
Chưa chuẩn bị chu đáo
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Trong tư duy và phân tích của bà, bà đã biết được nguy cơ hàng nhập ngoại kém chất lượng ồ ạt vào VN, nhất là hàng hóa chất lượng thấp có xuất xứ từ TQ đối với nền kinh tế VN từ lúc nào? Ngay cả bây giờ, một bộ phận người tiêu dùng vẫn tiếp tục bị hàng hóa giá rẻ của TQ quyến rũ, 1 năm? 5 năm? hay 10 năm? Theo bà, vì sao người ta vẫn không ý thức được điều đó để đến nay, chúng ta phải đối mặt với cấp báo động cao nhất về tình trạng này?
Bà Phạm Chi Lan: Mối lo của tôi có lẽ xuất hiện rõ rệt nhất là vào khoảng cách đây 10 năm, năm 1999.
Khi đó tôi được Chính phủ chỉ định là một trong hai người Việt Nam cùng với ông Nguyễn Quang Thái bây giờ là Tổng Thư ký của Hiệp hội Kinh tế VN tham gia vào nhóm gọi là Tầm nhìn Đông Á. Theo đó, mỗi nước cử hai người trong 10 nước Asian, cộng với 3 nước là Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản để bàn về một cơ chế hợp tác mở rộng thị trường trong khu vực và hợp tác giữa khối Asian với 3 nước đó theo hướng sẽ mở cửa dần thị trường.
10 nước này sẽ trao đổi với nhau trên nguyên tắc tương tự như với Asian, nghĩa là thuế sẽ giảm từ 0-5%, tiến dần đến 0%, tất cả các hàng rào khác phi thuế sẽ dần được gỡ bỏ. Tuy nhiên, cái còn lại mà các nước có thể giữ lại là hàng rào kỹ thuật, để bảo vệ chính đáng cho hàng hóa của mình, người tiêu dùng của mình.
Điều mà tôi lo lắng khi ấy là trong không khí thảo luận như vậy, khi VN đang chuẩn bị tham gia WTO, dấy lên mọi nỗ lực, hào hứng để gia nhập công cuộc mở rộng hợp tác đó nhưng không có sự chuẩn bị đầy đủ để tạo nên thế lực, hàng rào chắn cho mình để tránh khỏi những áp lực xấu.
Khi ta mở cửa ra, sẽ có những làn gió tốt lành thổi vào nhưng phải biết là cũng sẽ có ruồi muỗi bay vào và phải có cách để phòng chống. Nhưng chúng ta dường như rất ít để ý đến sự phòng chống đó.
Trong toàn bộ công cuộc đàm phán với nước ngoài, ta đã đưa ra rất nhiều những cam kết khác nhau để mở cửa thị trường, nhưng chúng ta lại rất ít tham vấn DN, ít thông báo cho người dân là những người sẽ chịu tác động những yếu tố này, để họ có tinh thần chuẩn bị đối phó.
Điều này rất khác với TQ trong toàn bộ quá trình chuẩn bị mở cửa, họ thông báo tối đa đến người dân và DN, giúp người ta chuẩn bị sẵn sàng lực lượng để đối phó với sự cạnh tranh mới.
Còn ở VN, tôi rất lo sợ do chúng ta thiếu sự chuẩn bị thì có thể trong cuộc chơi mới, chúng ta háo hức hòa nhập với mong muốn chiến thắng, nhưng lại thua trong quá trình hội nhập ở mặt này hay mặt khác, kể cả trên sân nhà.
Tấn công có chủ định
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa TS. Nguyễn Minh Phong, ông là một nhà nghiên cứu kinh tế-xã hội, chắc chắn ông đã có một phác thảo về tiến trình xâm nhập của hàng ngoại vào VN, đặc biệt là hàng TQ, đặc biệt hơn nữa là hàng TQ chất lượng thấp. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, thẩm mĩ, kinh tế của người dân VN. Vậy ông có thể đưa ra một cách nhìn, hay phác thảo về một lộ trình của hàng hóa TQ vào VN trong 5 năm trở lại đây như thế nào? Nó đang tiến lên, nguy cơ hơn, thống trị hơn? hay là sự hợp tác thương mại tốt đẹp?
TS. Nguyễn Minh Phong: Tôi xin đẩy thời gian lùi xa một chút, cách đây 20 năm. Năm 1996, tôi làm nghiên cứu sinh ở Nga và đó là thời kỳ hậu Xô Viết, tiền tư bản, thời kỳ mà hàng TQ bắt đầu có mặt ở nước Nga.
Lúc đó, hàng VN cũng cùng sang Nga với hàng TQ. Chúng tôi đã chứng kiến thời kỳ "cơn lốc áo gió" của VN sang Liên Xô và áp đảo hàng TQ, mang lại rất nhiều lợi nhuận và công ăn việc làm cho người VN. Đó là thời điểm huy hoàng của người Việt. Nhưng thời kỳ đó kết thúc rất nhanh, chỉ trên dưới 1 năm và hàng TQ tăng dần mặt trận và trở nên thống trị.
Tại sao cùng một thời điểm, cùng một điều kiện như nhau, mà TQ lại thắng được VN ở Liên Xô, sau đó là thắng ở những nước khác nữa, và sau đó là thắng ở cả trên sân của VN?
Năm năm trở lại đây, hàng nhập của TQ vào VN ngày càng tăng, riêng năm ngoái chúng ta đã nhập siêu 11 tỷ USD, và sẽ còn tăng nữa trong thời gian tới.
Nếu với tình hình hiện nay, với sự phòng ngự bị động, thậm chí là không phòng ngự gì cả, và với tính chất tấn công có chủ định rất nhịp nhàng, bài bản, có chủ đích của TQ thì xu hướng này sẽ còn gia tăng.
Rẻ nhờ 4 lý do
Hàng TQ vào VN ngày càng tăng, riêng năm ngoái chúng ta đã nhập siêu 11 tỷ USD, và sẽ còn tăng nữa trong thời gian tới.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Có một hiện thực mà tôi quan sát được là nhiều khi có những mặt hàng TQ rẻ đến mức bất ngờ, mà tôi nghĩ rằng đó là trò ảo thuật hay pháp thuật vì tôi không lý giải được vì sao lại rẻ như thế.
Cứ mỗi dịp tết về, cuồn cuộn từng đợt người, kể cả công chức, trí thức cũng ùn lên phía bắc để mua hàng TQ vì nó quá rẻ. Vậy trong cách nhìn của các vị khách mời, tại sao TQ lại có thể làm hàng rẻ được đến thế? Không phải chỉ một lần, một đợt, mà ở nhiều mặt hàng và bền bỉ trong rất nhiều năm nay?
Bà Phạm Chi Lan: Theo tôi, người TQ có thể làm được hàng rẻ có mấy lý do:
Thứ nhất, họ có quy mô thị trường rất lớn, và họ đã tận dụng được lợi thế quy mô. Trong quy luật phát triển ngành hàng của các nước trên thế giới thì quy luật về quy mô cũng rất quan trọng.
Chính Paul Krugman người đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế năm ngoái cũng là một trong những người đưa ra rất sớm về chiến lược phát triển theo quy mô như vậy.
Với lợi thế về qui mô, mỗi đơn hàng của TQ có thể có hàng triệu sản phẩm, và họ có thể tiêu thụ sản phẩm cho một tỷ người, thậm chí trong một triệu sản phẩm thử nghiệm đầu tiên có bị lỗi, hỏng thì vẫn có đủ người chấp nhận sử dụng thành phẩm đó với giá rẻ hơn.
Đến triệu sản phẩm thứ hai, nếu vẫn tiếp tục còn lỗi thì vẫn còn những người tiêu dùng ở nông thôn chấp nhận sử dụng, tiêu dùng được... Cho đến khi sản phẩm đủ hoàn thiện, thì họ có thể tung hàng triệu sản phẩm như vậy ra thị trường và được tiêu thụ nhanh chóng, trong khi số sản phẩm hàng lỗi cũng vẫn được tiêu thụ ở thị trường thấp hơn.
Thứ hai, vì qui mô kinh tế lớn nên họ xây dựng được cả một hệ thống ngành hàng hoàn chỉnh. Họ có đủ các nguyên phụ liệu từ A - Z để sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm, do đó giá thành sản phẩm cũng rẻ hơn so với những nước phải đi nhập khẩu nguyên phụ liệu.
Chưa kể họ có được sự liên kết giữa các ngành với nhau, tạo ra một lợi thế giá rẻ hơn cho sản phẩm của TQ.
Thứ ba, sự hỗ trợ của Chính phủ. Phải nói rằng CP TQ đã hỗ trợ được rất nhiều cho các ngành nghề sản xuất của TQ. Họ hỗ trợ về luật, về chính sách đã đành, nhưng một trong những điều rất cụ thể là: Chi phí hạ tầng. Chi phí hạ tầng của TQ rẻ hơn rất nhiều so với VN.
Cách đây mấy năm, Ngân hàng thế giới đã đưa ra số liệu chứng minh DN VN phải chịu chi phí hạ tầng đắt đỏ hơn 1,5 lần so với TQ trong vận chuyển đường bộ. Lợi thế này giúp DN TQ giảm được giá thành của sản phẩm rất đáng kể.
Đối với DN VN, vận chuyển đường bộ hay đường biển trong nước và ra ngoài quốc tế đều đắt đỏ hơn so với DN TQ. Khi CP TQ hỗ trợ chi phí hạ tầng cho các DN TQ thì các nước phương Tây cũng khó có thể tố cáo TQ bán phá giá bởi vì đây là việc làm mang tính phúc lợi cho cả xã hội, chứ không phải cho mỗi DN.
Ví dụ: Một container của TQ chở hàng sang châu Âu rẻ bằng một nửa so với chi phí phải dùng ở VN.
Thứ tư, TQ theo đuổi chính sách làm cái gì thì làm tới cùng cho được. Có khi họ không cần quan tâm nhiều hoặc bất chấp những cái thuộc về đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh: hàng xấu, hàng độc... Ngay cả đối với người dân của họ, họ còn không quan tâm (như trẻ em của họ phải uống sữa độc hại họ còn không quan tâm) cho nên đối với người tiêu dùng nước khác dại dột mua hàng kém chất lượng và bị hại thì họ càng không coi đó là vấn đề của mình.
Điều này cũng góp phần rất lớn trong việc khiến hàng hoá TQ rẻ hơn so với các nước khác.
Chơi vơi trên sân nhà
"Ngân hàng thế giới đã đưa ra số liệu chứng minh DN VN phải chịu chi phí hạ tầng đắt đỏ hơn 1,5 lần so với TQ trong vận chuyển đường bộ. Lợi thế này giúp DN TQ giảm được giá thành của sản phẩm rất đáng kể." Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Vừa rồi, bà Phạm Chi Lan và TS. Nguyễn Minh Phong đã nói đến một hiện thực đang xảy ra trên thị trường của chúng ta. Tôi mong muốn một câu trả lời cụ thể hơn cho câu hỏi: Tại sao người TQ có thể làm vậy mà người VN thì không? Tôi rất mơ hồ vì cảm thấy rất nhiều DN VN đơn độc, mơ hồ, không biết dựa vào đâu. Tôi muốn hỏi ông Thân Đức Việt, là có bao giờ những người quan trọng nhất trong DN của ông ngồi lại để báo động rằng hàng TQ đang tràn vào, đè bẹp hàng hóa của ta? Các ông đánh giá hàng may mặc của TQ đối với thị trường may mặc VN nói chung, và May 10 nói riêng như thế nào? Dù rằng thương hiệu May 10 vẫn đang tiến lên, nhưng đó là những bước nhích rất khó khăn, nặng nhọc và tương lai xán lạn chưa thực sự mở ra. Vậy ông đánh giá thế nào về cuộc "xâm lăng" của hàng TQ kém chất lượng, nhưng vẫn thắng thế trên thị trường VN?
Ông Thân Đức Việt: Xuất khẩu hàng hóa sang 3 thị trường lớn trên thế giới là Mỹ, EU và Nhật Bản, chúng tôi đều vấp phải sự cạnh tranh rất lớn từ hàng hóa của TQ với tư cách là đối thủ cạnh tranh.
Xét trên góc độ hàng xuất khẩu của TQ vào VN thì chúng ta thường đánh giá là hàng hóa chất lượng thấp, nhưng khi xuất khẩu sang các nước khác thì phải đánh giá lại. Ở TQ có một lợi thế mà DN VN không có, đó là tính chuyên môn hóa rất cao, tính hiệp hội cũng rất cao.
Tôi từng sang Hàng Châu TQ, tại đó, có tới 4.000 DN dệt, mỗi DN chỉ chuyên môn vào một chủng loại vải nào đó. Với cách làm như vậy, tập đoàn dệt may ở VN chúng tôi có muốn đầu tư cũng không thể nào cạnh tranh nổi về giá cũng như về chất lượng.
Tính hợp tác giữa các DN dệt của TQ cũng rất mạnh. Tất cả các công ty thương mại của TQ tập trung vào một chỗ, và khi chúng tôi mua thì họ có thể đáp ứng với mức giá rất rẻ. Đó là lý do mà chúng ta rất khó cạnh tranh được với hàng TQ về mặt xuất khẩu.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Đứng riêng về lĩnh vực may mặc, nếu bây giờ tất cả các mặt hàng may mặc Trung Quốc vẫn tăng lên thì làm cách nào để may mặc nói riêng và các doanh nghiệp khác nói chung thoát khỏi sự thống trị này. Và nếu tiếp tục như vậy thì tương lai của hàng may mặc Việt Nam đứng trước hàng may mặc Trung Quốc sẽ như thế nào?
Ông Thân Đức Việt: Thực ra không chỉ riêng ngành may mặc đâu, mà chúng tôi còn lo cho các ngành khác nữa.
Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi rất muốn tham gia vào những chuỗi bán lẻ, cũng rất muốn những nhà phân phối mạnh giúp chúng tôi. Nhưng chúng tôi có cảm giác gì đó rất không yên lòng. Một khi chính sách của Nhà nước chưa đến nơi thì làm sao bán lẻ phát triển được. Mà bán lẻ không phát triển được thì những nhà sản xuất cung cấp cho bán lẻ cũng làm sao phát triển được. Làm gì cũng phải có thị trường, và thị trường phải có nơi có chốn, có hiệp hội này nọ.
Chúng tôi rất mong Nhà nước không chỉ ủng hộ những doanh nghiệp sản xuất mà còn nên ủng hộ những chuỗi cung ứng để cung cấp và đưa những sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất đưa ra thị trường. Đó là cái mà thực sự doanh nghiệp chúng tôi mong muốn.
Trong trường hợp chưa nhận được sự hỗ trợ từ các hiệp hội, từ các các cơ quan ban ngành thì chúng tôi vẫn phải tự cứu lấy chúng tôi, loay hoay làm thế nào để chiếm lĩnh thị phần càng lớn càng tốt. Nhưng rõ ràng nếu không có sự ra tay hỗ trợ kịp thời, doanh nghiệp chúng tôi sẽ khó khăn vô cùng trước cơn lốc hàng ngoại giá rẻ.
Tuần Việt Nam
| | | |
ĐƯƠNG ĐẦU VỚI TỔNG TẤN CÔNG HÀNG TQ
Đương đầu với cuộc “tổng tấn công” của hàng Trung Quốc 09/06/2009 15:31 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các DN ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.
Từ góc nhìn của một doanh nghiệp Việt…
Anh Đào Xuân Anh là giám đốc một công ty kinh doanh hóa mỹ phẩm ở Hà Nội. Đăng ký chức năng hoạt động là sản xuất và phân phối (bán lẻ) các loại hóa mỹ phẩm chăm sóc tóc, nhưng 4-5 năm nay, công ty của anh chỉ tập trung nguồn lực vào nhập hàng từ Trung Quốc về bán. Lý do rất đơn giản: Nhập hàng Trung Quốc có lợi hơn.
Cái lợi ở đây, anh giải thích, gồm nhiều mặt: Chi phí nhập khẩu (tính cả mua hàng lẫn vận chuyển) rẻ hơn là tự sản xuất, quy trình làm việc đơn giản và ít phải suy nghĩ hơn. “Nếu tôi mở xưởng chẳng hạn, sẽ có muôn vàn thứ phải tính: địa điểm, nhân lực, thuế má, và vô số loại chi phí không tiện nêu tên nữa.
Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc
Trong các ngành khác thì không biết thế nào, chứ trong ngành này, tất cả các sản phẩm - từ thuốc nhuộm, tới dầu xả, dầu dưỡng v.v. - nhập từ Trung Quốc về đều rẻ hơn và giản tiện hơn tự sản xuất. Danh mục này chỉ trừ dầu gội đầu, nhưng ngay cả sản xuất dầu gội thì cũng có một số nguyên liệu phải nhập từ Trung Quốc”.
Anh nói thêm: “Đấy là tôi còn chưa kể, làm việc với phía Trung Quốc cũng khá thoải mái. Sản phẩm của họ chất lượng tốt, giá lại rẻ, mua càng nhiều càng rẻ. Họ giữ chữ tín và chiều chuộng đối tác - ít ra cho đến lúc này tôi vẫn thấy như vậy. Ở ta thì làm giám đốc doanh nghiệp nhỏ, như tôi, phải đương đầu với quá nhiều chuyện: thuế vụ, đại lý o ép, đối tác không đáng tin cậy v.v.”.
Chiến lược kinh doanh của anh Đào Xuân Anh tỏ ra hoàn toàn đúng đắn, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, chi phí sản xuất tiếp tục tăng cao. Trong khi đó, giá hàng Trung Quốc vẫn được duy trì ở mức thấp, chất lượng vẫn đảm bảo (hoặc nếu không đảm bảo thì cũng chẳng ai biết).
Và như vậy, với một công ty quy mô nhỏ, không đầy một chục người, giải pháp khôn ngoan nhất là: Cả sếp và nhân viên cùng kéo nhau sang Trung Quốc xách hàng về bán.
… tới con số nhập siêu kỷ lục của nền kinh tế
10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008.
Kết quả là con số thâm hụt thương mại kỷ lục của Việt Nam trước Trung Quốc: hơn 11 tỷ đô-la. Điều đáng sợ là không có dấu hiệu nào cho thấy con số này sẽ giảm đi.
Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Thương mại, Trung Quốc là thị trường trọng điểm của Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội vô cùng to lớn tại đất nước hơn 1 tỷ dân này.
Từ năm 2004, lãnh đạo hai nước đã xác định: Với lợi thế địa lý số 1 - có chung đường biên giới trên bộ dài đến hàng trăm km - với hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy tương đối thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa, hoạt động buôn bán qua biên giới giữa hai nước là một bộ phận cấu thành của quan hệ kinh tế.
Trên thực tế, có cơ sở để tin rằng thị trường hơn 1 tỷ dân của Trung Quốc là một mảnh đất màu mỡ, luôn “khát hàng”; và trên thực tế, Trung Quốc đã “qua mặt Mỹ để trở thành người tiêu dùng lớn nhất thế giới ở một số mặt hàng then chốt”. (*)
Riêng trong quan hệ thương mại với Việt Nam, Trung Quốc có nhu cầu cao đối với nhiều mặt hàng mà chúng ta có thế mạnh như: rau quả, thủy sản, cao su, đồ gỗ, than đá…
Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc, doanh nghiệp ta vẫn lép vế thảm hại ngay trên sân nhà, và khủng hoảng kinh tế càng kéo dài thì ta càng “thua trắng bụng”. Vì đâu?
Tầm nhìn chiến lược của người Trung Quốc
Nhìn vào những chính sách và quy định pháp luật của Trung Quốc về mậu dịch với các nước có chung đường biên giới, trong đó có Việt Nam, mới thấy không khỏi giật mình.
Theo TS Phạm Trí Hùng (Viện Marketing và Quản trị Việt Nam), từ năm 1978, Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa nền kinh tế, đã xác định “mở cửa toàn diện, nhiều hình thức, nhiều tầng”, trong đó có mở cửa ven biên giới đất liền.
“Phương châm của chiến lược mở cửa ven biên giới là: lấy mậu dịch biên giới dẫn đường, coi hợp tác kinh tế - kỹ thuật là trọng điểm, lấy khu vực lục địa làm chỗ dựa, coi việc khai thác thị trường các nước xung quanh là mục tiêu”.
TS Hùng cho biết, riêng trong cơ cấu thị trường, ngay từ cuối những năm 80, Trung Quốc đã coi mậu dịch biên giới là “đột phá khẩu” và có những chính sách quản lý rất rõ ràng, thống nhất, hướng vào việc đẩy mạnh mậu dịch biên giới, nhằm cải thiện đời sống của cư dân vùng biên giới, phát triển kinh tế vùng biên.
Chẳng hạn, Trung Quốc thực hiện những chính sách ưu đãi như: xóa bỏ mọi sự hạn chế về hình thức sở hữu đối với các thành phần tham gia mậu dịch biên giới; xóa bỏ mọi sự hạn chế, ràng buộc của chính quyền địa phương sở tại đối với mậu dịch biên giới; xóa bỏ sự hạn chế về kim ngạch, đảm bảo các giao dịch của mậu dịch biên giới qua một cửa; thực hiện việc miễn thuế, giấy phép xuất nhập khẩu đối với những hàng hóa bình thường....
Bắc Kinh còn giao quyền cho chính quyền địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu theo nguyên tắc: mức thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương; cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương, còn các cửa khẩu quốc tế do hải quan thu và nộp về ngân sách trung ương.
Trung Quốc cũng đầu tư làm tốt công tác kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu vào nước mình, bởi họ xác định đó là “vấn đề quan trọng, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và nhân dân, trực tiếp liên quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước”.
Những gì Bắc Kinh thực hiện cho thấy một chiến lược lâu dài, bài bản của chính phủ nhằm hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp lớn nhỏ, thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó đặc biệt ưu tiên mậu dịch biên giới. Nó cũng chứng tỏ rằng, trong việc xuất khẩu hàng hóa, chiếm lĩnh thị trường nước khác, doanh nghiệp không thể đơn lẻ.
Đừng để doanh nghiệp Việt Nam đơn độc
Ở đây phải nhấn mạnh, Nhà nước không thể đứng ngoài công cuộc hỗ trợ cho doanh nghiệp (“hỗ trợ” chứ không phải “quản lý”).
Một khi Việt Nam đã gia nhập WTO, những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp quá trực tiếp, “lộ liễu” không còn được chấp nhận nữa vì có thể vi phạm điều lệ. Nhưng vẫn có những việc Chính phủ có thể làm – và làm tốt – để giúp doanh nghiệp nội đương đầu với hàng ngoại.
Ví dụ như cung cấp thông tin về thị trường Trung Quốc và các chính sách của Bắc Kinh đối với các thị trường láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam. Sao cho không còn những vụ như vụ dưa hấu Việt Nam bị ách ở cửa khẩu Tân Thanh vì doanh nghiệp không cập nhật được những thay đổi trong luật kiểm dịch của Trung Quốc.
Bên cạnh đó là việc thực thi pháp luật để tiêu diệt vấn nạn hàng lậu. Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh “than” hộ doanh nghiệp: “Đã đành là tự do cạnh tranh, doanh nghiệp làm ăn yếu kém, không hiệu quả, thì phải chịu, Chính phủ không cứu được. Nhưng buôn lậu là cái có thể ngăn chặn được chứ đâu phải vô phương chống đỡ? Vấn đề là hình như chúng ta không làm gì cả”.
Về ý kiến cho rằng vì cơ cấu xuất khẩu của ta có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc nên khó xác định được những ngành có lợi thế cạnh tranh, ông Bùi Trinh nhận xét: “Thực ra từ trước đến giờ Việt Nam chưa có chính sách xác định cụ thể một ngành nào là cần ưu tiên. Đúng hơn là ta có xác định, nhưng đều chỉ một thời gian lại thay đổi: nào dệt may, nào mía đường, nào thép… Tôi thấy cứ như thể chúng ta chưa thực sự quan tâm tới ngành nào cả”.
Doanh nghiệp VN: Phải tự cứu mình
Trước làn sóng hàng Trung Quốc, không còn thời gian để mỗi doanh nghiệp Việt Nam trong ngành có liên quan bình tâm chờ đợi một chiến lược hay vài chính sách “hỗ trợ” từ phía Nhà nước. Cải tiến thiết kế, đẩy mạnh hoạt động marketing, chủ động tìm kiếm khách hàng, là những việc doanh nghiệp ta có thể thực hiện ngay trên thị trường nội địa.
“Rõ ràng là thị trường trong nước không cung cấp đủ hàng hóa, dân có nhu cầu thì họ mua của Trung Quốc là phải” – chuyên gia kinh tế Bùi Trinh nói.
Sự chủ động, xông pha thị trường với tinh thần sáng tạo, “sẵn sàng tự do cạnh tranh”, xem ra không phải tố chất có thừa ở các doanh nghiệp Việt Nam. Cũng ông Bùi Trinh cho biết, từ ngày có chủ trương kích cầu, “nhiều công ty đang dồn nỗ lực vào việc kiếm được một khoản tiền hỗ trợ Nhà nước rót. Có công ty còn đem tiền ấy cho vay lại, kiếm lãi, thay vì tập trung vào đầu tư, sản xuất”.
Còn trong việc xuất khẩu hàng theo hướng… ngược lại, sang Trung Quốc, hơn ai hết, doanh nghiệp phải cập nhật thường xuyên thông tin về thị trường nhập khẩu, chủ động xúc tiến thương mại, nâng cao khả năng cạnh tranh. Một số chuyên gia khuyến cáo: Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn coi nhẹ vấn đề kiểm dịch, nên hay bị phía đối tác Trung Quốc lợi dụng ép giá. Đây cũng là điều các nhà xuất khẩu phải lưu tâm.
Trong sự thảm bại của hàng Việt Nam trên sân nhà, có lẽ người tiêu dùng là ít đáng trách nhất. Bởi ở Việt Nam, thu nhập đầu người thấp, hàng hóa nội địa yếu cả về số lượng và chất lượng, người tiêu dùng quay sang hàng Trung Quốc là điều dễ hiểu. Chúng ta có thể hô hào kêu gọi tinh thần dân tộc và lòng yêu nước ở mỗi con người. Tuy nhiên, điều đó lại thuộc về một câu chuyện khác rồi
Đoan Trang
| | | |
WTO & TẦU CHỆT : MỒ CHÔN CƠ CHẾ CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHÚ THÍCH :
Bài này được viết từ những tháng cuối năm 2006 khi mà Nhà Nước CSVN hứng khởi gia nhập WTO/OMC như gà mắc đẻ và mơ mộng đem những Công ty Nhà Nước đi khắp thiên hạ để vơ tiền về cho đảng. Nhưng ba năm sau, 2009, những Chuyên gia Kinh tế làm việc cho CSVN đã phải lớn tiếng la lên rằng Kinh tế Việt Nam đang bị Tầu chệt xâm lăng trong khung cảnh WTO/OMC. Từ năm 2006, chúng tôi đã nói rằng vào WTO/OMC trong Cơ chế cho phép Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế sẽ là Mồ chôn CSVN. Thực vậy, lúc này, trong cảnh Kinh tế bị Tầu Chệt giết chết, Dân chúng đói khổ, thì họ sẽ đào Mồ để chôn CSVN, mặc dù Cơ chế này vẩn còn chai lỳ dùng võ lực để cứu vớt.
Xin quý Độc giả vào Web sau đây để đọc thêm những bài khác : APEC & WTO : http://VietTUDAN. net/176201. html
Chúng tôi đã phân tích tỉ mỉ, khi vào WTO, những CÁI NGUY HẠI PHẢI CHỐNG ĐỠ như Bài đăng dưới đây. Qua những phân tích hoàn toàn trong phạm vi Kinh tế, Thương mại, chúng tôi muốn rút ra những KẾT LUẬN cho bài này về khía cạnh Chính trị làm môi trường cho việc CHỐNG ĐỠ NHỮNG CÁI NGUY HẠI hay làm điều kiện cho việc THU VÀO NHỮNG CÁI LỢI. Chúng tôi đề cập đến những điểm sau đây:
=> Tóm tắt những cái nguy hại đưa đến Thuộc địa Kinh tế
=> Vào WTO, những Điều kiện tăng Cạnh tranh hữu hiệu
TÓM TẮT NHỮNG CÁI NGUY HẠI ĐƯA ĐẾN THUỘC ĐỊA KINH TẾ
Không phải chỉ riêng những phân tích của chúng tôi về những cái nguy hại, mà chính những nhà Kinh tế quốc tế hoặc thuộc chế độ CSVN đã xác nhận.
Những nguy hại từ hai bài phân tích của chúng tôi.
Đó là những nguy hại mà chính chúng tôi liệt kê tóm tắt như sau:
=> Hàng hóa nước ngoài, nhất là từ những nước chung quanh đã tiến trước, cạnh tranh và tiêu diệt, ở chính trên lãnh thổ mình, những hàng hóa thuộc công nghệ Việt Nam mới ở giai đoạn phát sinh (les Industries naissantes). Việt Nam dễ trở thành thuộc địa Kinh tế của Trung cộng về hàng công nghệ chẳng hạn.
=> Trong chế độ độc tài độc đảng hiện nay, tham nhũng cấu kết với tài phiệt ngoại lai để bóc lột lao động.
=> Thiệt hại nặng hơn cả là việc giết chế nông nghiệp và ngư nghiệp, nguồn phát triển sống còn của nước mình.
=> CSVN hồ hởi vào WTO nhằm mục đích chính yếu là cũng cố quyền lực Chính trị độc tài hơn là những đắn đo về Kinh tế.
Xác nhận những nguy hại từ những nhà Kinh tế
Những nhà Kinh tế quốc tế cũng như quốc nội (CSVN) đều nhìn thấy những nguy hại của việc vào WTO với tình trạng Kinh tế cũng như Chính trị hiện hành:
=> Tiến sĩ Carl THAYER, Giám đốc Diễn đàn Nghiên cứu Quốc phòng của Đại học New South Wales, đã nêu ra 6 cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO.
=> Ngày 7/11/06, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề "Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế". Theo đó cho biết, 92% doanh nghiệp kinh doanh bình thường và kém. Chính CSVN xác nhận sự yếu kém của mình về cả sản xuất cụ thể lẫn kiến thức về doanh nghiệp. WTO không phải là nơi đại hội tưng bừng đến đó để chia phần bánh, mà là một đấu trường kẻ mạnh diệt kẻ yếu không thương tiếc. Đây là nơi đấu tranh về tiền bạc.
VÀO WTO, NHỮNG ĐIỀU KIỆN TĂNG CẠNH TRANH HỮU HIỆU
WTO là Tổ chức Thương mại Thị trường Tự do mà Tư hữu và Cá nhân là chủ động, không có sự can thiệp trắng trợn của quyền lực Chính trị. Vào Tổ chức, không thể quen thói gian lận, bịp bợm của một thể chế Chính trị độc tài độc đảng với hệ thống Công ty quốc doanh, hệ thống làm ăn Mafia gia đình, Mafia đảng.
Vào WTO, phải phế bỏ Cơ Chế VN hiện hành
Đây không phải là sự đòi buộc mang tính cách đấu tranh Chính trị để chiếm quyền lực mà là sự đòi buộc cho tương lai phát triển Kinh tế Việt Nam. Cái Cơ chế hiện hành đã đưa Việt Nam đến tình trạng Kinh tế lúc này trước khi vào WTO với những nguy hại mà chúng tôi đã phân tích trên đây và được xác nhận bởi những nhà Kinh tế quốc tế và quốc nội. Nếu chúng ta vẫn duy trì cơ chế độc tài độc đảng hiện hành, thì về mặt cụ thể, Việt Nam dễ trở thành một thuộc địa Kinh tế, và về mặt lý thuyết, không có sự phù hợp giữa Kinh tế / Thương mại Tự do Thị trường và cơ chế độc tài độc đảng luôn áp chế Chính trị độc đoán vào sinh hoạt Kinh tế Tư nhân tự do.
Vào WTO, phải tôn trọng Tư Hữu và quyền Tự do Sinh hoạt Kinh tế Tư doanh Không thể dùng lời khuyên, khích lệ, cổ võ tinh thần mà diệt được Tham nhũng, kẻ thù của phát triển Kinh tế Tự do Thị trường. Đối lập quyền lực và Chính trị là biện pháp chính để ngăn chặn Tham nhũng. Những quy luật của Tổ chức Mậu dịch Quốc tế được thiết lập trên căn bản của nền Kinh tế Tự do Thị trường của những sinh hoạt Kinh tế tư nhân, phạm vi có Năng Suất tối đa và do đó có khả năng Cạnh tranh hữu hiệu trên Thị trường Tự do. Cần diệt Tham nhũng từ một Cơ Chế làm phát sinh và nuôi dưỡng và cần theo quy luật WTO đặt căn bản trên Tự do Cạnh tranh, thì phải có một Thể Chế lấy giải quyết những tranh chấp Kinh tế/ Thương mại theo nguyên tắc DÂN CHỦ giữa những tác nhân Kinh tế/ Thương mại.
Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp phải do chính những Tác nhân Kinh tế lập nên
Một nền Kinh tế Tự do và Thi trường không được đặt trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phép tập trung những quyết định Kinh tế vào một quyền lực Chính trị độc tài. Đó là Môi trường tréo cẳng ngỗng. Phải có một Môi trường Chính trị-Luật pháp tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦtrong những quyết định liên hệ đến Kinh tế/ Thương mại. Khi những điều kiện trên đây được tôn trọng, thì những Tác nhân Kinh tế/ Thương mại tự động thiết lập lên Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phù hợp. Chúng tôi ít khi nói đến một nền Chính trị Dân Chủ đa nguyên như một sự họp lại của giới làm Chính trị (đa Đảng) để định đoạt cho giới Tư doanh. Chúng tôi càng không nói tới một thứ Dân Chủ do một đảng độc tài ban phát ra cho Dân.
Chúng tôi quan niệm rằng một Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường là kết quả của một Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế đem đến Dân chủ hóa Chính trị.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
HÀNG NƯỚC NGÒAI DIỆT KINH TẾ VN TRÊN SÂN NHÀ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHÚ THÍCH: Bài này đã được viết từ lâu nhân dịp Việt Nam vào WTO/OMC và nhân Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale) về việc Hội nhập WTO/OMC này của Việt Nam. Chúng tôi đã cảnh cáo ngay thời đó rằng có những cái hại cạnh tranh mà Việt Nam chưa sửa sọan và khó chống lại việc tràn vào của những hàng nước ngòai, nhất là hàng Trung quốc. Chúng tôi cho đăng lại Bài này vì đúng ngày nay, hàng hóa Trung quốc đang lan tràn vào Việt Nam và diệt Kinh tế nước mình. Đây là một trong lọat Bài viết về Hội nhập WTO/OMC của Việt Nam. Qúy độc giả có thể đọc những bài khác trong Web sau đây: APEC & WTO : http://VietTUDAN. net/176201. html
Bài này viết về những cái hại tổng quát. Khi viết loạt bài này và có thể những loạt bài kết tiếp để khai triển thêm những chi tiết, tôi muốn cho thấy rằng chính những đòi hỏi Phát triển Kinh tế tương lai bắt buộc phải phế bỏ chế độ độc tài CSVN hiện nay. Khi tôi nói là phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành, đó không phải là việc tôi đòi hỏi hoặc “làm chính trị“. Đó chỉ là đòi hỏi của những điều kiện phát triển thuần túy Kinh tế mà thôi.
Bài thứ Nhất nói về khi nhậpWTO, cơ hội phát triển Kinh tế, trước hết có NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Bài này sẽ đề cập đến hai phần như sau:
=> Những cái hại gặp phải khi vào WTO/OMC
=> Những biện pháp chống lại những cái hại.
NHỮNG CÁI HẠI GẶP PHẢI KHI VÀO WTO/OMC
Vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC), nghĩa là Việt Nam nhập vào Cạnh tranh của Thị trường tự do. Nói đến Cạnh tranh, việc trước hết là phải biết mình có khả năng có thể cạnh tranh với người khác hay không, nếu không người khác sẽ đánh cho mình chết trong trứng nước hoặc lụn bại luôn. Việc cạnh tranh là ở chính trên nước mình, chứ không phải là Thị trường quốc tế tại những nưỡng nước khác. Dường như CSVN sống trong mơ mộng rằng vào WTO/OMC là đi hốt bạc tại những nước khác, mà quên đi rằng những nước khác có quyền vào chính nước mình để thu bạc đem ra.
Khả năng cạnh tranh của Việt Nam
Yêu cầu chế độ đừng ngông nghênh kiêu ngạo tự khen mình, coi mình như nhất nhì thiên hạ. Tôi còn nhớ câu chuyện một Tùy viên Quân sự của Sứ quán Việt Cộng bên cạnh Liên Hiệp Quốc nói với tôi rằng: “Thế Giới có 5 Tướng tài, Việt Nam chiếm 3“. Tôi nhịn cười không được bởi vì thấy ông ấy nói thành thực và ngây ngô chứ không phải là nói diễu chơi cho vui. Vấn đề vào WTO/OMC không còn phải là tự khoe mình ngông nghênh, tuyên truyền cho chế độ nữa. Vào WTO/OMC là vấn đề tiền bạc thực tiễn: cạnh tranh không nổi thì mất tiền, cạnh tranh thắng thì có tiền. Còn nếu chỉ nhằm khoe khoang, mơ mộng, thì chết đói. Đó là thực tiễn, chứ không dỡn chơi.
Nếu xét về việc tiến triển phần nào Kinh tế hiện hành, đó là nhờ sự đấu tranh Kinh tế của khối tư doanh và nhờ chính yếu nguồn ngoại tệ từ phía Việt kiều. Một số người nhìn sự tiến triển ấy, đã lầm lẫn hoặc cố ý nịnh đầm, đã cho rằng đó là công của CSVN. Nói như vậy là không hiểu gì về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Dân làm Kinh tế và phát triển Kinh tế, chứ không phải quyền lực Chính trị. Khối Cộng sản đã chủ trương làm Kinh tế để bao cấp Dân và họ đã hoàn toàn thất bại đến chỗ Dân đòi lại quyền làm chủ Đất Nước để nắm trong tay quyền làm ăn phát triển Kinh tế.
Tại Việt Nam, Dân nghèo phải làm ăn để có đủ sống. Họ nhờ nguồn tài trợ từ khối người Tỵ nạn thương gia đình còn ở lại. Khi phải tự mình kiếm sống, họ phải tìm đủ mọi cách tránh né sự áp chế, dành quyền kinh tế từ những Công ty quốc doanh. Khi phải tự mình kiếm sống, họ đã phải cay đắng cho CSVN ăn bẩn, ăn thỉu để có thể có việc làm, có cơ hội doanh thương tự họ. Khi phải tự mình kiếm sống, người Dân đã phải cay đắng nhận những đồng lương bóc lột mà CSVN bán họ cho nước ngoài và ăn hớt tiền trên sức lao động của họ. Nhìn như vậy, xin hãy nói cho đúng rằng nếu có những tiến triển kinh tế hiện nay, thì đó là từ sự cố gắng vượt mực của Dân. Chính CSVN đã cản mũi kỳ đà sức cố gắng phát triển này của người Dân. Những ai há mõm khen CSVN làm cho Kinh tế phát triển một phần hiện nay, đó là những người nói ngu xuẩn, thiếu học về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Tôi thẳng thắn nói vậy và sẵn sàng trả lời những ai ngu xuẩn khen tặng CSVN một cách nịnh đầm vô lương tâm và hèn hạ.
Sự phát triển kinh tế một phần hiện nay chưa cho phép Việt Nam tự hào rằng mình đã có đủ lực cạnh tranh trên Thị trường quốc tế. Vào WTO/OMC phải cấp tốc đẩy mạnh những gì đã có một phần phát triển. Việc đẩy mạnh này thiết yếu đòi phải dành quyền cho Dân bởi những phát triển kia là từ sức cố gắng của Dân, chứ không phải từ quyền lực CSVN, một quyền lực cản mũi kỳ đà cho phát triển.
Hàng hóa quốc tế diệt hàng hóa Việt Nam tại chính nước mình
Trên đây, chúng tôi nói tổng quát đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong đoạn này, chúng tôi nhìn xem những hàng hóa nước ngoài diệt chính hàng hóa Việt Nam tại quốc nội như thế nào. Trong đoạn tiếp theo, chúng tôi quan sát khả năng cạnh tranh của những hàng hóa Việt Nam bên cạnh những hàng hóa nước ngoài trên Thị trường quốc tế.
=> HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Chúng tôi đã nhiều lần nói đến sự cạnh tranh chính yếu đến từ Thái Lan. Nguồn sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp (Conditions géographiques—Ressources naturelles) giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam. Nhân lực làm việc (Conditions démographiques) về những ngành này cũng không khác gì nhau. Nhưng có sự khác biệt rất rõ rệt về điều kiện Chính trị—Pháp lý (Conditions Politico-Juridiques): một đàng (Thái Lan) dành phần khai thác cho Tư nhân, một đàng (Việt Nam) dành cho quốc doanh (người của độc đảng) những quyền khai thác, bóc lột ưu tiên. Ai cũngt biết rằng khi việc khai thác nằm trong tay quyền lực Chính trị, thì không thể không có lãng phí và tham nhũng được bao che, và do đó năng xuất khai thác không thể nào được phát triển như trong Điều kiên Chính trị—Pháp lý Dân chủ.
Trong việc khai thác, hai yếu tố chính sản xuất là Vốn và Nhân lực (K: Capital, L:Labour). Nếu nhân lực sản xuất giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam, thì có sự chênh lệch rất rõ rệt việc đầu tư Vốn vào hai ngành nông nghiệp va ngư nghiệp giữa hai nước: Thái Lan đầu tư vốn 8 lần hơn Việt Nam vào hai ngành này.
Hiện nay, mặc dầu chưa vào WTO, mà hàng nông nghiệp và ngư nghiệp của Thái Lan đã cạnh rất ưu thế tại chính Việt Nam. Những hàng nông nghiệp của Thái Lan như gạo, trái cây... được coi là hàng sang và đã lan tràn ở Việt Nam. Dân Việt mua gạo Thái để ăn, mua trái cây của Thái để cúng vái, để ăn những dịp lễ. Những hàng gia vị của Thái cũng đang lan tràn tại chính quốc nội.
=> HÀNG KỸ NGHỆ BIẾN CHẾ NÔNG PHẨM VÀ NGƯ PHẨM
Việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ biến chế những sản phẩm này tại chỗ. Không có Kỹ nghệ này tại chỗ, thì rất khó phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp. Những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm nhằm nối dài thời gian xử dụng trong tương lai (thời gian) và mở rộng địa vực xử dụng đến những nơi không có những hàng nông nghiệp và ngư nghiệp (không gian). Tỉ dụ, nước Ý có kỹ nghệ làm Cà Chua Hộp để nâng đỡ việc trồng Cà Chua, nếu không Cà Chua dễ thối.
Kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tại Việt Nam, xứ có nguồn dồi dào về ngư nghiệp và nông nghiệp, lại thua kém hẳn Thái Lan, Tân Gia Ba và Đài Loan. Như vậy, những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tràn vào Việt Nam và cạnh tranh trong phần thắng.
=> HÀNG CÔNG NGHỆ THÔNG DỤNG HÀNG NGÀY
Đây là những hàng công nghệ thường dùng hàng ngày. Những hàng này không thuộc loại hàng hóa phức tạp (Produits sophistiqués) cần phải có một trình độ kỹ thuật cao. Tỉ dụ như bát đĩa, xoong chảo, nồi cơm điện, xe hai bánh, quạt máy, phích nước..., đó là những đồ công nghệ thông dụng hàng ngày.
Hiện nay, ngay chưa nhập WTO, những hàng này đang diệt những hàng tương tự sản xuất tại Việt Nam. Nhà Nước Việt Nam mới tuyên bố rằng khi vào WTO, những hàng này của Trung Cộng còn được giảm xuống 16% nữa cho thuế nhập cảng. Như vậy khả năng những hàng này cũa Tầu diệt hàng Việt Nam càng tăng lên hơn nữa.
Tại sao Trung Cộng có khả năng cạnh tranh cao về những hàng công nghệ này ? Trong sản xuất, việc cạnh tranh là giá thành của hàng hóa. Muốn hạ giá thành, thì phải tăng số lượng sản xuất. Trung Cộng có khả năng tăng lượng sản xuất vì họ có khối lượng dân số 1 tỉ rưỡi. Hàng sản xuất không sợ ứ đọng vì đã có khối dân không lồ bảo đảm việc tiêu thụ hết hàng hóa.
=> HÀNG KỸ NGHỆ MÁY MÓC CAO & PHỨC TẠP
Những hàng Kỹ nghệ Máy móc cao và phức tạp (Produits sophistiqués) hầu như chưa phát sinh tại Việt Nam, nên chưa nói đến việc cạnh tranh được. Việt Nam mới bắt đầu sản xuất thuê những linh kiện (pìeces détachées) cho những Công ty nước ngoài, chứ chưa ở mức độ sản xuất những máy móc phức tạp (Produits sophistiqués) như sản phẩm cuối cùng sẵn sàng cho tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).
Việc cạnh tranh những hàng hóa này là việc cạnh tranh xử dụng Kỹ thuật tân tiến và cao (Haute Technologie moderne). Muốn có những Kỹ thuật tân tiến và cao, thì phải đầu tư những số Vốn lớn. Việt Nam chưa có khả năng Vốn lớn đầu tư, vì vậy hàng hóa trong phạm vi này không thể có khả năng cạnh tranh, thậm chí chưa sinh ra.
Những máy móc cao và phức tạp của những nước chung quanh sẽ tràn vào và diệt hàng Việt Nam trong trứng (chưa sinh ra). Những nước này là: Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, ngay cả Thái Lan và Mã Lai.
=> NHỮNG DỊCH VỤ (SERVICES)
Dịch vụ đầu tiên là Dịch vụ Phân phối hàng hóa (Thương mại). Khi vào WTO, những Tổ chức phân phối đa quốc gia (Chaines de Distribution Multinationales) có quyền mở rộng Thị trường phân phối tại Việt Nam. Nếu không vào WTO, những Tiểu thương hoặc những Nhà phân phối quốc nội được che chở phần nào trước sức mạnh của những Tổ chức phân phối đa quốc gia. Khi vào WTO, những Tổ chức này dễ dàng bóp chết hệ thống phân phối quốc nội vì những Tổ chức đa quốc gia này có số vốn khổng lồ để che chở việc cạnh tranh bán hàng hóa.
Ngoài Dịch vụ Phân phối hàng hóa, còn nhưng Dịch vụ độc lập khác như Kiểm Toán, Bảo Hiểm, Nha sĩ, Bác sĩ... Nếu những Dịch vụ này hiện diện ở Việt Nam vì phải tôn trọng Tự do lưu thông hàng hóa và dịch vụ khi vào WTO, thì sự cạnh tranh rất là gay gắt cho những dịch vụ từ người Việt tại quốc nội. Dân Việt chọn lựa những Dịch vụ từ người nước ngoài vì có nhiều những tin tưởng hơn (!). Tỉ dụ chọn Kiểm toán nước ngoài hơn là Kiểm toán quốc nội; chọn Bảo Hiểm ngoại quốc có nhiều tin tưởng hơn...
Hàng hoá Việt Nam thua kém cạnh tranh trên Thị trường quốc tế
Ở đoạn trên, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh quan trọng nhất, đó là những hàng hóa nước ngoài cạnh tranh với những hàng hoá Việt Nam hoặc diệt chính những hàng hóa Việt Nam trên lãnh thổ của Quê Hương mình.
Trong đoạn này, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi đứng bên cạnh hàng hóa các nước khác trên Thị trướng quốc tế:
=> Hàng nông nghiệp và ngư nghiệp
Nói ngay đến khối người Việt tỵ nạn, họ đã phải tiêu thụ hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Thái Lan trong 30 năm rồi. Trong thị trường quốc tế về hàng nông nghiệp và ngư nghiệp, còn phải kể đến những nước cạnh tranh khác: Nam Mỹ, các nước Đông Aâu, Aân độ, Nam Dương.
=> Hàng kỹ nghệ chế biến nông phẩm và ngư phẩm
Việt Nam chưa sánh được ngay cả với những nước trong vùng như Đài Loan, Tân Gia Ba, Thái Lan, Mã Lai..., huống chi nói đến những nước đã mở mang trên Thế Giới. Những nước nông nghiệp, chăn nuôi như Nam Mỹ, đang mở mang mạnh kỹ nghệ chế biến thực phẩm. Đông Aâu đang mở mang mạnh về những kỹ nghệ biến chế thực phẩm này. Những nước tân tiến như Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha...cần mở mang những kỹ nghệ biến chế nông phẩm này để nâng đỡ phát triển nông nghiệp của họ.
=> Hàng công nghệ thường dùng
Hàng Trung Cộng đang tràn lan. Việt Nam khó cạnh tranh với Trung Cộng về những hàng hóa thông dụng hàng ngày này.
=> Những máy móc cao và phức tạp
Không thể có, lúc này, sự cạnh tranh của Việt Nam ở Thị trường quốc tế về những máy móc. Tôi chưa thấy có chiếc Ti-Vi “made in Vietnam“ bán ở Thị trường Thụy sĩ.
=> Những Dịch vụ (Services)
Đến bao giờ mới có Dịch vụ Kiểm toán Việt Cộng ở Thị trường Pháp, Đức... ?
NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG LẠI NHỮNG CÁI HẠI
Phần trên đây phân tích về những điểm yếu, những cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO/OMC. Phần này nói đến những biện pháp nào để mong tránh hoặc ngăn chặn những cái nguy hại có thể xẩy ra.
Mặc dầu vào WTO rồi, nghĩa là phải thi hành Tự do Giao thương, nhưng có biện pháp nào tránh né cái Tự do đó hay không trong việc cạnh tranh? Đó là biện pháp tiêu cực.
Nhưng chúng ta phải nghĩ đến những biện pháp tích cực nhằm tăng cường cho chính khả năng cạnh tranh của mình.
Quyền che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh
Mặc dầu vào WTO, một Tổ chức luôn cổ võ Tự do Mậu dịch, cổ võ việc dành cho nhau Điều khoản “Quốc gia tối ưu đãi“ (Clause de la nation la plus favorisée), nghĩa là tuyên bố tình yêu với nhau, quyền Che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh vẫn được tôn trọng.
Đứng về mặt nguyên tắc và lý thuyết, Tự do Mậu dịch (Le Libre Echange) vẫn không khai trừ nguyên tắc Che Chở cho Kỹ nghệ đang phát sinh (Le Protectionnisme des Industries naissantes). Về nguyên tắc này, chúng tôi đã mới nói trong cuộc Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale).
Nhân sự va chạm giữa CNUCED và WORLD BANK trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc qua cuộc Hội Nghị nhận định về sự phát triển của những nước nghèo hoặc đang mở mang, ngày 13.09.2006, Đài RADIO FRANCE INTERNATIONALE (RFI) phỏng vấn tôi về 4 câu hỏi:
1) Tại sao Trung Cộng có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Quốc tế ? CNUCED coi đây là một sự thành công mà các nước kém mở mang có thể học đòi theo, đồng thời công kích Ngân Hàng Thế Giới đã trợ lực tài chánh cho các nước nghèo mà hiệu quả không gặt hái được cụ thể.
2) Vậy các nước nghèo có thể áp dụng được chính sách xuất cảng hàng hóa mà Trung Cộng đã áp dụng hay không ?
3) Tại sao chính sách hỗ trợ tài chánh cho những nước nghèo mà Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) chủ trương trong nhiều năm nay lại không đưa đến những kết quả tốt cụ thể?
4) Nhận xét về hậu quả như thế nào khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) ?
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề này và Đài RFI đã phát thanh về Việt Nam ngày Thứ Năm 14.09.2006, trong chương trình từ 15g-16g (giờ Paris). Xin vào RFI để nghe:
http://www.rfi.fr/langues/statiques/rfi_vietnamien.asp
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề nêu ra trên đây. Câu hỏi thứ tư liên hệ đến Việt Nam khi vào WTO. Chúng tôi đã khai triển câu hỏi này trong phần trên đây, vì vậy chúng tôi không nhắc lại trong phần này nữa mà chỉ nhấn mạnh đến cái Quyền Che chở Kỹ nghệ đang phát sinh mặc dầu Việt Nam vào WTO với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) để chúng ta tìm cách che chở những cái thiệt hại cho nước mình khi mình thiếu khả năng cạnh tranh.
=> Trả lời cho câu hỏi 1
Nếu CNUCED coi đây là một Mô hình Kinh tế sáng kiến bởi Trung Cộng, thì đó là không đúng. Đây chỉ là một Chính sách Thương mại quốc tế mà những nước kém mở mang có quyền Bảo vệ những ngành Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Chủ trương này không phải là sự phát minh của Trung Cô.ng. Việc chủ trương bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này đã có trong Lịch sử Thương mại của những nước tư bản. Sau Cách mạng Kỹ nghệ của Anh quốc, nước này trở thành mạnh nhất Thế giới (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20) và muốn chiếm Thị trường quốc tế, đã kêu gọi và cực lực thuyết minh cho Chính sách Tự do Mậu dịch (Libre Echange) dựa trên những Thuyết lý Kinh tế của Adam SMITH, David RICARDO và Stuart MILL. Chính thời này, Hoa kỳ và Đức, còn trong thời kỳ gây dựng cho những Kỹ nghệ đang phát sinh, đã chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này (Protectionnisme des Industries naissantes) chống lại hàng hóa của Anh quốc. Lý thuyết gia Frederic LIST đã hùng hồn thuyết minh cho chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Ngày nay, Hoa kỳ và Đức đã trưởng thành về những Kỹ nghệ này, nên lại cực lực thuyết minh cho Tự do Mậu dịch (Libre Echange), thậm chỉ kêu gào cho Toàn cầu hóa (Globalisation). Vậy thì Tự do Mậu dịch (Libre Echange) hay Bảo vệ Mậu dịch (Protectionnisme) chỉ là tương đối tùy theo sức mạnh Kinh tế của nước đứng ra kêu gọị
Việc Trung Cộng bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh của mình là việc có quyền của những nước đang phát triển. Tự do Mậu dịch là một điều lý tưởng, những phải giả thiết rằng mọi Nước tham dự phải có sức mạnh Kinh tế đồng đềụ Điều này rất khó thực hiện trên Thế giới và luôn luôn là nguồn tranh cãi không lối thoát giữa đa số những nước nghèo và thiểu số những nước giầu qua những Vòng Thương Nghị (Tokyo Round, Kennedy Roung, Uruguay Round...) trong khuôn khổ GATT (tiền thân của WTO/OMC).
Việc Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh khác với việc xử dụng quyền lực độc đoán bóc lột nhân công để có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Thế giớị Chấp nhận trên nguyên tắc rằng những nước đang mở mang có quyền bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh, nhưng không thể chấp nhận việc hai nước Trung Cộng và Việt Cộng xử dụng quyền độc tài để bóc lột lương nhân công và để hạ giá thành hàng hóa, từ đó bán phá giá trên Thị trường quốc tế.
=> Trả lời cho câu hỏi 2 Các Nước nghèo hoặc đang trên đà phát triển có quyền BẢO VỆ NHỮNG KỸ NGHỆ ĐANG PHÁT SINH, nhưng CNUCED không thể khuyên họ hãy trở tha `nh một nước Cộng sản chủ trương chế độ độc tài để bóc lột sức lao động của nhân công như Trung Cộng và Việt Cộng đang làm. CNUCED muốn lấy khôn lỏi của Kinh tế để đè bẹp Nhân quyền hay sao?
=> Trả lời cho câu hỏi 3
Chủ trương của Ngân Hàng Thế Giới muốn trợ lực tài chánh cho những Nước nghèo là rất đúng bởi vì với chủ trương Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa từ G8 hiện nay đồng thời cũng là việc Tập trung hóa Tài chánh về những nước giầu, thì hố sâu giầu nghèo giữa các nước sẽ khơi rô.ng.
Globalisation des Marchandises == Centralisation Financiere
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đã chủ trương việc tái phân phối tài chánh đến những nước nghèọ Đây là chủ trương rất nhân đạọ Nhưng tại sao chủ trương này không mang đến những hiệu quả tốt cụ thể. Tôi đã trả lời rất rõ rệt rằng sở dĩ không đạt được những hiệu quả tốt cụ thể là vì hai điều:
=> Việc tài trợ này qua các Chính phủ tại những nước kém mở mang. Những Chính phủ này có đầy tham nhũng lãng phí tài chánh làm thất toát số vốn tài trơ..
=> Ngân Hàng Thế Giới, một là thiếu phương tiện kiểm soát, hai là không đủ khả năng kiểm soát chặt chẽ về tài chánh đối với quyền lực chính trị của những nước ấỵ
Những Biện pháp không giá biểu
Tất cả những Đàm phán về Thương mại Song phương (Bilatéral: tỉ dụ Hoa kỳ—Việt Nam), từng Vùng (Régional: tỉ dụ Union Eropéenne) hay Thế Giới (Mondial: tỉ dụ WTO/OMC) đều mong đưa đến một Hợp Đồng về giá biểu. Những giá biểu này gọi là Giá Biểu Hợp Đồng cho Quan Thuế (Tarifs douaniers contractuels).
Khi nói đến Giá Biểu Hợp Đồng, thì hai nước, hoặc những nước cùng Vùng hoặc tất cả mọi nước trên Thế Giới coi nhau đồng đều và phải áp dụng những Giá Biểu đã kỳ kết.
Nhưng trên thực tế, có nước mạnh, nước yếu không đồng đều. Chính vì vậy, mặc dầu những Giá Biểu Hợp Đồng được ký kết mà mỗi nước tùy theo sức lực riêng, điều kiện cạnh tranh riêng, có thể áp dụng những Biện Pháp không Giá Biểu. Ngay cả trong phần Lý thuyết về Tự do Mậu dịch, những lý thuyết gia cũng biện minh cho những Biện Pháp không Giá Biểu gọi là “Les Mesures non-tarifaires“, như:
=> Biện Pháp Hạn chế Lượng (Contingentement/ Quotas) => Biện Pháp Kiểm soát Hối đoái (Controle de Change) => Biện Pháp Kỹ thuật (Mesure Technique) => Biện Pháp Hành chánh (Mesure Administrative)
Tất cả những Biện Pháp này là những “hiểu ngầm thông cảm hữu lý“ cho những nước quá bị thiệt thòi khi áp dụng đúng theo nhữn Giá Biểu Quan Thuế theo Hợp Đồng (Tarifs Douaniers Contractuels)
Đường lối nâng cao khả năng cạnh tranh
Hai Cách thế trình bầy trên đây: (1) Che Chở cho những Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes); và (2) Những biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) là hai Cách thế mang tính cách tiêu cực trong những quan hệ Thương mại quốc tế khi mà những nước ký với nhau trong Hợp Đồng không có sức mạnh cạnh tranh đồng đều như nhau.
Đường lối nỗ lực tự mình nâng cao khả năng cạnh tranh là Chính sách luôn luôn được khuyến khích. Đường lối này phải đến từ sức mạnh Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực mà người Dân làm chủ Kinh tế, Nhà Nước không can thiệp trực tiếp vào đời sống Kinh tế bằng quyền lực. Chúng tôi sẽ bàn về điểm này trong Bài thứ Ba để đòi buộc phải phế bỏ chế độc CSVN hiện hành.
Trả lời Phỏng vấn của RFI, tôi đã lưu ý đến việc nâng cao cạnh tranh của Trung Cộng và Việt Cộng một cách bất chính và vi phạm Nhân quyền. Thực vậy, đây không phải là việc nâng cao cạnh tranh một cách lành mạnh trong ý nghĩa chính đáng Kinh tế. Trung Cộng và Việt Cộng đã dùng bạo quyền bóc lột sức lao động của công nhân, ép buộc công nhân phải chấp nhận đồng lương rẻ mạt, như vậy Nhà Nước mới hạ được giá thành của hàng hóa và có khả năng bất chính cạnh tranh. Không những bất chính trên Thị trường quốc tế, mà Trung Cộng và Việt Cộng còn dùng bạo quyền đàn áp Nhân quyền, bóc lột sứ lao động của Dân cho quyền lợi của cá nhân mình qua việc tham nhũng, lấy tiền thưởng của nước ngoài khi họ vào Việt mua sức lao động rẻ mạt mà Công nhân “không dám than vãn“ lên nghiệp đoàn Công nhân do chính đảng CSVN nắm giữ.
Quốc tế công kích và tăng thuế nhập cảng về hàng da từ Trung Cộng và Việt Cộng là vì tính cách bóc lột công nhân của hai nước này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
TỪ CÔNG NGHỆ HÓA ĐẾN PHÂN PHỐI HÀNG TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 02.07.2009 & 03.09.2009
Nhà Nước CSVN vẫn huênh hoang chương trình vĩ mô Công Nghệ hóa Kinh tế Việt Nam. Dưới chiêu bài này, những Dự án, những Khu chế xuất có quyền ưu tiên tịch thu đất trồng cấy khiến Nông nghiệp thiệt hại. Nhà Nước hy sinh Nông nghiệp, một căn bản sẵn có và truyền thống của đại đa số Dân Việt sinh sống.
Vì quá lệ thuộc vào Trung quốc để bảo đảm quyền lực Chính trị, đảng CSVN đang biến cái gọi là Công nghệ hóa thành thảm cảnh tổ chức phân phối cho hàng hóa Trung quốc.
Thực vậy, CSVN để tự do nhập nội hàng hóa Trung quốc. Tại Thị trường hàng hóa, hai yêu tố cạnh tranh chủ yếu là GIÁ CẢ và PHẨM CHẤT (Prix et Qualité) của món hàng.
Giá cả hàng Trung quốc rẻ hơn
Giá bán tùy thuộc vào giá thành sản xuất. Hệ thống sản xuất công/ kỹ nghệ ngày nay là hệ thống những linh kiện cấu thành món hàng cuối cùng. Đó là hệ thống liên đới sản xuất những bộ phận cấu thành (système de sous-traitance des pìeces détachées). Món hàng cuối củng sẵn sàng cho tiêu thụ chỉ là việc ráp nối (assemblage) những bộ phận. Không một Công ty nào sản xuất tòan bộ những bộ phận cấu thành món hàng cuối cùng. Đây không phải là việc bất lực về khả năng, mà là vì giá thành của món hàng cuối cùng sẽ tăng lên gấp bội.
Khi món hàng cuối củng được chia ra thành những bộ phân riêng rẽ, thì những bộ phận này sẽ do những xí nghiệp chuyên môn sản xuất trong hệ thống liên đới. Vì chỉ sản xuất những bộ phận chuyên môn, nên những Xí nghiệp này có thể tăng lượng sản xuất để triệt tiêu phí tổn trang bị máy móc sản xuất (Installation des équipements).
Yếu tố khách quan làm cho những món hàng Trung quốc rẻ hơn hàng Việt Nam, đó là Trung quốc có thể tăng rất lớn lượng sản xuất những linh kiện. Trung quốc sản xuất từ A tới Z của một mặt hàng là như vậy.
Cùng sản xuất một mặt hàng như Trung quốc, nhưng Việt Nam phải mua lại từ Trung quốc những bộ phận cấu thành mặt hàng cuối cùng. Vì vậy mà mặt hàng Việt Nam bán ở Thị trường không thể nào rẻ hơn mặt hàng của Trung quốc.
Cũng chính vì điểm này, mà những Công ty Tây phương đặt mua linh kiện tại Trung quốc.
Phẩm chất của món hàng
Hệ thống sản xuất liên đới những linh kiện (système de sous-traitance des pìeces détachées) không phải chỉ làm giảm giá thành sản xuất, mà còn cho phép những Công ty chuyên nghiệp có thời giờ và cô đọng khả năng vào việc kiện tòan phẩm chất của từng bộ phận, từng linh kiện. Thực vậy, những Công ty chuyên nghiệp này dành trọn thời giờ cho Nhóm Nghiên cứu (Equipe de recherche) chuyên tâm vào một linh kiện, một bộ phận. Đây là việc làm tăng phẩm chất chuyên môn cho sản phẩm. Vấn đề cạnh tranh trên Thị trường không phải chỉ nguyên giá cả mà trở thành cạnh tranh về phẩm chất chuyên môn, kiện tòan của từng linh kiện cấu thành. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh được áp dụng triệt để ở hệ thống sản xuất linh kiện công nghệ và kỹ nghệ hiện nay.
Trung quốc có điều kiện phát triển hệ thống liên đới sản xuất từ A tới Z và tất nhiên họ có điều kiện kiện tòan phẩm chất mặt hàng cuối cùng hơn Việt Nam
Công nghệ hóa Việt Nam hay Việt Nam phân phối hàng công nghệ Trung quốc
Chúng tôi rất đau lòng đọc tin sau đây từ Quốc nội: “(TuanVietNam)- Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các DN ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.“
Cán cân Thương Mại giữa Trung quốc và Việt Nam cho thấy cuộc xâm lăng Kinh tế tại Việt Nam mỗi ngày một tăng mạnh: “10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008.“
Oâng ĐÀO XUÂN ANH, chủ một Công ty sản xuất, đã kết luận:”Chi phí nhập khẩu (tính cả mua hàng lẫn vận chuyển) rẻ hơn là tự sản xuất, quy trình làm việc đơn giản và ít phải suy nghĩ hơn.“ Từ là Doanh nhân sản xuất công nghệ, Oâng trở thành một Thương gia phân phối hàng Trung quốc !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
XUỐNG CẤP KINH TẾ HOA-KỲ LÀM CUỘC KHỦNG HỎANG KÉO DÀI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 09.09.2009 & 10.09.2009
Khối lượng vốn tích lũy, lượng sản xuất và thương mại, thì chưa nước nào hay nhóm nước nào vượt qua được Hoa kỳ. Kinh tế Mỹ vẫn là lãnh đạo cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Chính quyền OBAMA với đảng Dân chủ nắm Quốc Hội đến giữa thời Khủng hỏang. Cần phải có những Chương trình Chi Tiêu Kích Cầu dựa trên Lý thuyết của KEYNES đã được áp dụng hữu hiệu sau cuộc Đại Khủng Hỏang 1929/30. Nhưng KEYNES đặt việc Chi Tiêu Kích Cầu hòan tòan trên quan điểm làm Kinh tế thuần túy, nghĩa là LỢI NHUẬN TỐI ĐA hướng dẫn những quyết định Chi tiêu.
Chính quyền OBAMA và đảng Dân chủ lại Chi Tiêu Kích Cầu theo “chính trị hóa kiếm phiếu“ và mang mầu sắc “Xã hội Chủ nghĩa“. Chi Tiêu Kích Cầu ngả một phần sang “phát chẩn“ và do đó không mang đến LỢI NHUẬN KINH TẾ TỐI ĐA mà cuộc Khủng Hỏang Tài chánh/Kinh tế hiện nay đang cần để phục hồi. Oâng Michael STEELE, Chủ tịch đảng Cộng Hòa đã thẳng thắn tố cáo OBAMA: “Il a accusé le président de faire du “Socialisme“, un quasi-insulte aux Etats-Unis. Il estime que le Projet de Barack Obama est “une intrusion jamais vue de la part du gouvernement dans le secteur privé“ (Oâng đã tố cáo tổng thống chủ trương “Xã hội Chủ nghĩa“, một việc hầu như lăng mạ đối với Hoa kỳ. Oâng thẩm định rằng Chương trình của Barack Obama là một “việc xâm nhập chưa từng thấy của một Nhà Nước vào Lãnh vực tư nhân.“ (Trích Nhật Báo TRIBUNE DE GENEVE, ngày 09.09.2009, trang 11).
Những Chương trình Chi Tiêu khổng lồ theo khuynh hướng xã hội, phát chẩn không những không mang lại hiệu quả Kinh tế tối đa cần thiết vực lại cuộc Khủng hỏang, mà còn tạo thêm thâm thủng ngân sách trầm trọng, nợ nần chồng chất, để các Thế hệ tương lai phải làm việc ngày đêm hòan nợ qua ngả đóng thuế.
Việc can thiệp của Nhà Nước vào Lãnh vực Kinh tế tư nhân cũng làm giảm hiệu năng sản xuất của nền Kinh tế (Productivité) bởi vì nó làm giàm độ kích thích cá nhân (stimulation privé) và trong tức thời nó làm thất thóat vốn Hoa kỳ ra nước ngòai.
Ký giả John W.MILLER, từ BRUSSELS, viết đãng trên THE WALL STREET JOURNAL, ngày 10.09.2009, trang 4, rằng: “Barack Obama’s popularity is shrinking at home“ (Lòng dân đối với Barack Obama đang tụt xuống tại nhà). (Xin qúy độc giả đọc ba bài liên tiếp chúng tôi viết về tình trạng Chi Tiêu dưới Chính quyền Obama đăng ở trong Phần KINH TẾ/TÀI CHÁNH dưới đây)
Người ta lo ngại cho nền Kinh tế Hoa kỳ vì Kinh tế Hoa kỳ vẫn là đầu tầu kéo Kinh tế Thế giới. Sự xuống cấp của Kinh tế Hoa kỳ kéo dài thêm Khủng hỏang, tăng thêm thất nghiệp không những cho Hoa kỳ mà cho các nước khác trên Thế giới.
Những BẢN THẨM ĐỊNH KINH TẾ THẾ GIỚI ra đời, trong đó Bản Thẩm định của WORLD ECONOMIC FORUM (WEF: Diễn Đàn Kinh tế Thế giới) làm chúng tôi lưu ý đặc biệt.
Nhân Bản Tin của AFP đánh đi từ Geneve ngày 08.09.2009 về BẢN THẨM ĐỊNH WEF, Đài Pháp Thanh Pháp Quốc tế (RFI: Radio France Internationale) phỏng vấn ý kiến của tôi. Tôi đã góp ý kiến về những điểm sau đây:
1) Những Bản Tin
Dựa trên nguồn thẩm định của Diễn Đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Bản Tin của Thông Tấn Pháp AFP đánh đi từ Genève ngày 08.09.2009 về xếp hạng tình hình Kinh tế của 133 Quốc gia theo một số tiêu chuẩn thẩm định về Tính Cạnh Tranh, sự Tin tưởng vào hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh, sự Bền vững của nền Kinh tế tổng quát và về việc Thâm thủng Ngân sách quốc gia. Cùng theo nguồn thẩm định WEF, nhật báo The Wall Street Journal ngày 09.09.2009 cũng in ở trang nhất thông tin giống như Bản Tin của AFP.
2) Diễn Đàn Kinh tế Thế giới (WEF) là gì ?
Diễn Đàn Kinh tế Thế giới gọi là World Economic Forum, thóat thai từ cuộc họp thường niên về Kinh tế Thế giới tại Davos, Thụy sĩ. Cuộc họp thường niên quy tụ những Lãnh đạo Quốc gia, những Chuyên gia Tài chánh/Kinh tế và những Doanh nhân của các Công ty lớn trên Thế giới… tụ về Davos thảo luận những biến cố Tài chánh/Kinh tế liên hệ đến những Quốc gia hay những vùng Kinh tế liên quốc gia. Diễn Đàn Kinh tế Thế giới WEF quy tụ những Giáo sư và những Chuyên gia Kinh tế/Tài chánh làm việc thường xuyên để đưa ra một bản thẩm định xếp hạng các Quốc gia. Tỉ dụ Giáo sư Kinh tế Xavier Sala-I-Martin, Đại học Columbia Hoa ky,ø là một trong những tác giả của Bản Thẩm định của Diễn Đàn Kinh tế Thế giới năm nay.
3) Bản Thẩm định về Chỉ số Cạnh tranh Kinh tế tổng quát Thế giới
Sau khi nghiên cứu các phương diện cấu thành tính cách Cạnh Tranh của mỗi nước, Diễn Đàn Kinh tế Thế giới đưa ra Bản Xếp Hạng cao thấp về tính Cạnh tranh. Chúng tôi chỉ đưa ra 10 nước đầu như sau cho năm 2009:
Thứ nhất: Thụy sĩ Thứ hai: Hoa-kỳ Thứ ba: Tân gia ba Thứ tư: Thụy Điển Thứ năm: Đan Mạch Thứ sáu: Phần lan Thứ bay: Đức quốc Thứ tám: Nhật Thứ chin: Gia nã đại Thứ mười: Hòa lan
Năm ngóai 2008, Hoa kỳ đứng đầu và Thụy sĩ đứng thứ hai, nhưng năm nay, Hoa kỳ xuống thứ hai và Thuyï sĩ lên vị trí thứ nhất. Lý do của sự thay đổi này sẽ được cắt nghĩa riêng về Hoa kỳ liên quan đến cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/2008.
4) Xếp hạng về một số khía cạnh chuyên biệt
Một số những khía cạnh chuyên biệt như sự Tin tưởng vào hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh (Confiance en système bancaire et financier), Tính cách đều đặn vững chắc của nền Kinh tế tổng quát (Stabilité de l’économie)
=> Về Tin tưởng vào hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh, Hoa kỳ tụt xuống hạng thứ 108 trong 133 nước được thẩm định vì sự vỡ nợ trong cuộc Khủng hỏang. Hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh Thụy sĩ bị tụt xuống thứ 44 vì những công kích quốc tế chống lại Bí mật Ngân Hàng.
=> Về tính Bền vững của nền Kinh tế tổng quát, Hoa kỳ đứng ở vị trí thứ 93 trong số 133 nước.
5) Xếp hạng cho khối BRIC
Khối BRIC là chữ viết tắt của những nước sau đây: Ba-tây (Brésil), Nga (Russe), Ấn độ (Inde) và Trung quốc (Chine). Đây là những nước lớn đông dân và bắt đầu phát triển. Hạng của những nước này được xếp tổng quát vào khỏang 50 đến 30. Đặc biệt trong khối này, năm nay Nga bị tụt xuống 12 bậc, đứng ở vị trí thứ 63 trong số 133 nước vì thiếu tính cách hiệu lực của nhà nước, thiếu sự độc lập pháp lý và không sáng sủa trong những quyền tư hữu.
6) Cắt nghĩa sự xuống cấp của Hoa kỳ
Cắt nghĩa về sự xuống cấp của Hoa kỳ trong Bản Thẩm định của Diễn Đàn Kinh tế Thế giới WEF, các Chuyên viên thẩm định đưa ra những lý do sau đây:
=> Hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh của Mỹ lỏng lẻo, cho Tín dụng với những may rủi lớn, nhất là phương diện Địa ốc và Tiêu dùng của Dân chúng chứ không phải của Xí nghiệp. Đây là lý do chính làm phát sinh sự phá sản của một số Ngân Hàng để lan sang lãnh vực Kinh tế.
=> Trước cuộc Khủng hỏang, khuynh hướng tiêu thụ tăng lên quá mạnh, trong khi ấy phần dành cho tiết kiệm xuống gần đến số không. Việc tăng khuynh hướng tiêu thụ lại được Ngân Hàng cổ võ bằng cung cấp Tín dụng qua ngả thả lỏng Credit Cards.
=> Thâm thủng Ngân sách Quốc gia tích lũy đến năm 2008 là 455 tỉ Mỹ kim. Quốc Hội Mỹ và chính TT.Obama mới tuyên bố việc thâm thủng ngân sách năm nay lên tới 1’600 tỉ đo-la. Số thâm thủng này được ước tính tăng lên 9’000 tỉ đo-la vào cuối năm 2019.
=> Chương trình Kích cầu 786 tỉ đo-la không cho những chi tiết chi tiêu rõ rệt. Chương trình mang tính cách chi tiêu xã hội hơn là tính tóan chi tiêu mang hiệu quả Kinh tế thuần túy theo Lý thuyết nền tảng của Keynes, một nhà Kinh tế Tư bản nghiên cứu khôi phục nền Kinh tế Hoa kỳ hậu Khủng hỏang 1929-30.
=> Dân chúng Hoa kỳ hỏang sợ về việc nợ nần quá nhiều của nước Mỹ mà thế hệ con cháu họ phải gánh chịu trả nợ cho sự chi tiêu quá lớn của triều đại Obama và đảng Dân chủ Mỹ. Những chi tiêu xả láng này lại có tính cách xã hội phát chẩn mang mầu sắc tranh phiếu chính trị hơn là thực thụ chi tiêu Kinh tế để làm sinh ra lợi nhuận cho thế hệ tương lai
=> Chính trị có khuynh hướng xã hội của Obama và đảng Dân chủ đang tìm cách can thiệp vào những họat động Kinh tế hòan tòan tư doanh, nền tảng đã tạo nên sự giầu có của Kinh tế Hoa ky trong quá khứø. Ông Michael STEELE, đảng trưởng đảng Cộng Hòa tố cáo Obama chủ trương “Xã hội chủ nghĩa”, một điều gần như lăng mạ cho Hoa kỳ (Il a accusé le president de faire du “socialisme”, un quasi-insulte aux Etats-Unis (trích TRIBUNE DE GENEVE, 09.09.2009, p.11).
=> Đồng Đo-la đang trở thành yếu đi sánh với một số Tiền các nước khác. Ngày thứ Ba, 08.09.2009, trên Thị trường Tiền tệ, người ta ghi nhận sự xuống giá của Đo-la sánh với Euro, Yen, Bảng Anh và Đo-la Úc.
Kinh tế Mỹ đang ở trong tình trạng giao động khiến cho Mỹ mất vị trí Cạnh tranh số một, khiến cho sự tin tưởng vào hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh Mỹ phải tụt xuống hàng 108 và sự bền vững của nền Kinh tế xuống thứ 93 trong số 133 nước được xếp hạng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 09.09.2009
| | | |
KHỦNG HOẢNG TC/KT TẠI HOA KỲ DƯỚI CHÍNH QUYỀN OBAMA
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Khi viết liên tiếp 3 Bài đăng dưới đây, có độc giả từ Mỹ chưa đọc toàn diện những gì tôi viết từ hai năm nay về cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới 2007-08, nên nghĩ rằng tôi viết để công kích Hoa kỳ. Do đó những dòng viết dưới đây là để cắt nghĩa thêm cho rõ tại sao chúng tôi viết 3 Bài liên tiếp về Hoa kỳ hiểu như một nước chủ chốt mà đồng Đo-la, Tài chánh và Kinh tế còn giao động, thì Thế giới vẫn chưa ổn.
Viết về cuộc Khủng Hỏang Tài chánh/Kinh tế Hoa kỳ và Thế giới
1) Không phải những ngày gần đây tôi mới viết 3 bài về tình hình Kinh tế Mỹ liên quan mật thiết với cuộc Khủng hỏang. Tôi đã theo rõi cuộc Khủng hỏang này phát xuất từ Hoa kỳ từ năm 2007 và viết rất nhiều về nó. Việc tôi quan tâm và viết về cuộc Khủng hỏang này không phải là “vô tích sự” coi như công kích Mỹ như Ông đã vội vã phê bình. Tôi coi cuộc Khủng hỏang này rất quan trọng và có rất nhiều “tích sự” để viết vì những lý do sau đây:
=> Nó liên hệ đến đời sống Kinh tế của tòan Thế giới chứ không riêng gì Hoa kỳ
=> Nó mang những hậu quả đặc biệt trên Kinh tế Trung quốc và Việt Nam mà tôi muốn nhìn qua những hậu quả này để thấy rõ con đường chống lại xâm lăng Kinh tế Trung quốc và nhất là trừ diệt cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành chủ trương ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để ăn cướp sức lực làm ăn của Dân chúng Việt Nam lam lũ.
Không những viết phổ biến trên Diễn Đàn, mà tôi đã cho xuất bản sách mới đây:
@ DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN (216 trang)
@ TÀI CHÁNH/KINH TẾ THẾ GIỚI: KHỦNG HOẢNG 2007-08 & HẬU QUẢ CHO VIỆT NAM (425 trang).
Tôi vẫn quan niệm rằng việc lật đổ CSVN phải qua QUYỀN DẠ DẦY của đại đa số Dân chúng đói nghèo bị bóc lột. Phải có CÔNG LÝ sòng phẳng trong việc làm ăn chứ không phải cảnh người làm lụng vất vả mà thiếu ăn, còn người ngồi mát lại ăn cướp bát vàng. HÒA BÌNH trước hết là khi Dạ Dầy người nghèo đói có miếng ngô khọai, đừng để kiến bò trong bụng mà làm lọan.
2) Ông nói tôi viết để công kích Hoa kỳ. Đồng Đo-la, Tài chánh, Kinh tế Hoa kỳ có tầm ảnh hưởng bao trùm Thế giới. Tôi muốn Hoa kỳ mạnh với một Chính quyền cứng rắn, dám nói và dám làm, chứ không phải chỉ nói xã giao cho đẹp, rồi ngồi yên ngỏanh mặt đi không làm gì, để những Giá trị Nhân bản tiếp tục bị chà đạp.
Với Chính quyền OBAMA và đảng Dân chủ, tôi nhận thấy những điểm sau đây:
=> OBAMA nói rất hay, nói về mọi vấn đề cho hay, nhưng thực hiện thì ít
=> OBAMA và đảng Dân chủ đang hướng Kinh tế Mỹ theo khuynh hướng Xã hội. Đây là hướng đang xa dần quan điểm làm Kinh tế truyền thống của Hoa kỳ với kết quả là làm cho Kinh tế Hoa kỳ đã đứng hàng đầu Thế giới. Việc làm Kinh tế theo khuynh hướng Xã hội của Obama và đảng Dân chủ nhằm mục đích kiếm phiếu cho Chính trị, chứ không thuần túy làm Kinh tế.
Khi tôi viết ba bài mới đây, không phải là tôi công kích Hoa kỳ, mà muốn nói lên những nguy hiểm cho nước Mỹ khi mà việc làm Kinh tế còn ngầm theo ý hướng lấy phiếu Chính trị cho Obama và đảng Dân chủ bằng những Chương trình Chi tiêu khổng lồ làm hài lòng nhất thời “khuynh hướng xã hội”, chứ không tính tóan căn cơ Chi tiêu theo tiêu chuẩn Kinh tế.
Khi viết như vậy, không phải là tôi công kích nước Mỹ, mà trái lại tôi còn thương nước Mỹ, muốn nước Mỹ mạnh, cứng rắn đứng làm lãnh đạo trong việc bảo vệ những Giá trị Nhân bản.
NGUYỄN PHÚC LIÊN
| | | |
CHẤM DỨT VỊ TRÍ TỐI THƯỢNG CỦA ĐO-LA?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.09.2009 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Những ngày gần đây, chúng tôi đã viết hai bài: (i) HIỆU QUẢ OBAMA’S STIMULUS PLAN USD.786 TỈ RA SAO ? (ngày 20.08.2009); và (ii) OBAMA ĐƯA HOA-KỲ ĐẾN VỠ NỢ ? (ngày 27.08.2009), dựa trên những phản ứng của Dân chúng Mỹ và Quốc Hội Hoa kỳ đối với những khối tiền khổng lồ chi tiêu và viễn tượng mắc nợ dự phòng tới 9 ngàn tỉ vào thập niên tới. Chúng tôi cũng nhìn thấy những hình ảnh phản đối Obama của một em bé cầm biểu ngữ “HOW MANY ZEROS ARE IN A TRILLION?”, của một người trung niên “OBAMA=One Big Awful Mistake, America ! “.
Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm nay, 02.09.2009, trang 11, đăng một bài dài với đầu đề HEALTH-CARE ANGER HAS DEEPER ROOTS” của Janet ADAMY & Jonathan WEISMAN kèm theo hình ảnh Dân phản đối.
Cũng chính trong tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm nay, Wednesday 02.09.2009 ở trang 21, chúng tôi đọc được bài của Ký giả Dennis K.BERMAN với đầu đề: AN END TO DOLLAR’S PRIMACY ? (CHẤM DỨT VỊ TRÍ TỐI THƯỢNG CỦA ĐO-LA ?).
Đồng Đo-la Mỹ đã được chấp nhận như đồng Tiền của Thế giới và đã đạt vị trí tối thượng đối với những Tiền khác. Ngày nay, với cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới 2007-08 và với dự phóng nợ nần của Hoa kỳ, người ta kêu gọi việc chấm dứt vị trí tối thượng của đồng Đo-la.
Bao giờ ngai vàng Đo-la mới bị lật đổ ?
Chúng tôi xin bàn những khía cạnh sau đây:
=> Đồng Đo-la lên ngôi và tỏa quyền lực
=> Những phản kháng chống ngai vàng Đo-la
=> Tương lai Đo-la mất ngai vàng
Đồng Đo-la lên ngôi và tỏa quyền lực
Tiền tệ của mỗi nước được tự do định giá trị trên lượng vàng hàm chứa. Như vậy lượng vàng hàm chứa bảo đảm cho giá trị của một đơn vị tiền tệ. Tỉ dụ đồng Đo-la Mỹ được định là 0.10 grams vàng ròng ; đồng Quan Thụy sĩ được định là 0.05 grams vàng ròng. Từ việc định cân lượng vàng độc lập của mỗi nước, người ta có thể định hối suất tiền tệ giữa hai nước. Với tỉ dụ trên UD$ 1 = (0.10 grams vàng ròng/ 0.05 grams vàng ròng) = CHF.2 (2 quan Thụy sĩ). Chế độ Tiền tệ này được gọi là REGIME ETALON-OR. Hối suất Tiền tệ giữa các nước cố định vì lượng vàng hàm chứa không thay đổi.
Với chế độ vàng làm bảo chứng (Régime Etalon-Or), Giấy bạc có thể được hóan chuyển sang lượng vàng tương đương theo định nghĩa. Nhưng Thế Chiến Thứ II đã làm đảo lộn hệ thống Hối đóai giữa các nước. Tiền tệ Aâu châu được định theo cân lượng vàng, nhưng Thế Chiến đã làm cho các nước Aâu châu mất hết vàng làm bảo chứng. Vì vậy Tiền tệ các nước Aâu châu mất hết giá trị vì không còn vàng bảo chứng. Chỉ có Tiền Thụy sĩ và Tiền Đo-la Mỹ còn lượng vàng bảo chứng.
Năm 1942, Hoa kỳ triệu tập một Hội Nghị Thế giới về Tiền tệ tại BRETTON-WOODS để giải quyết việc bảo chứng đồng tiền. Hội Nghị lấy hai quyết định chính yếu sau đây :
1) Thiết lập Chế độ Tiền Trung gian REGIME ETALON-DEVISE-OR
Vàng vẫn được coi là bảo chứng cho định nghĩa Tiền tệ. Những nước không còn vàng phải định Tiền tệ của mình qua trung gian một đồng Tiền còn vàng bảo chứng. Tiền Thụy sĩ còn vàng bảo chứng, nhưng vì Thụy sĩ là nước nhỏ, không thể có một lượng lưu hành Tiền lớn được, nên Thế giới chấp nhận đồng Đo-la Mỹ làm Tiền trung gian. Các nước định giá trị đồng tiền của mình theo Đo-la và qua đồng Đo-la có lượng vàng bảo chứng khi muốn hóan chuyển Giấy bạc sang vàng. Tỉ dụ một Quan Pháp (FF.1) được định tương đương với 0.15 cents USD ; một Đức Mã (D.Mark 1) được định tương đương với 0.30 cents USD. Hối đóai giữa Đức và Pháp sẽ là : D.Mark 1 = (0.30 cents USD./ 0.15 cents USD.) = FF.2 (2 Quan Pháp). Đồng Đo-la được mọi nước cho lên ngôi vàng tối thượng từ 1942.
2) Thiết lập Qũy Tiền Tệ Quốc tế (IMF/ FMI)
IMF/ FMI lúc mới thành lập chỉ là Qũy Tương trợ Tiền tệ (Entride Monétaire). Mục đích của Qũy là để giúp những nước khi Tiền tệ yếu kém. Mỗi nước, tùy khả năng, đóng góp vào Qũy. Lúc đầu, Hoa kỳ đã đóng góp vào Qũy tới 80%. Những nước Hội viên có thể vay một số Tiền từ Qũy để hỗ trợ cho Tiền tệ của nước mình.
Sau này, các Hội viên được mở rộng tới ngay đến những nước nghèo. IMF/FMI được đặt thêm mục đích hỗ trợ việc phát triển Kinh tế.
Sau khi lên ngôi tối thượng, đồng Đo-la bắt đầu tỏa uy quyền khắp Thế giới :
=> Chương Trình Marshall tái thiết đổ vào Aâu châu USD.173 tỉ
=> Chương trình Colombo đổ Đo-la sang Nam Á châu
=> Hoa kỳ che chở Nhật và Đài Loan, đổ Đo-la vào những nước này
=> Chiến tranh Nam Triều Tiên đổ Đo-la vào nước này
=> Chiến tranh Việt Nam cũng đổ Đo-la vào Việt Nam và Thái Lan
Các nước Aâu châu được tái thiết và tiếp tục thương mại với các cựu thuộc địa. Thương mại được trả bằng đồng Đo-la. Thương mại Nhật cũng thu vào bằng Đo-la. Tiếp đến là thời kỳ bùng phát của năng lượng dầu lửa. Các nước A-rập bán dầu và thu vào bằng đồng Đo-la. Khối Đo-la trữ lại tại Aâu-châu được gọi là Euro-Dollar. Khối A rập bán dầu và trữ Đo-la được gọi là Pétro-Dollar.
Các Ngân Hàng trên Thế giới giữ Đo-la làm tiền bảo chứng. Điều quan trọng hơn nữa của sức mạnh Đo-la là nó không những là đồng tiền trung gian làm định nghĩa cho các đồng tiền do Ngân Hàng Trung Ương mỗi nước (Ngân Hàng Quốc Gia, Ngân Hàng Phát Hành), mà nó đã trở thành đồng tiền được Dân chúng chấp nhận tiêu dùng hàng ngày. Thực vậy, cầm đồng Đo-la, Dân chúng không cần phải vào Ngân Hàng để đổi nó ra tiền địa phương mà mua hàng hóa, nhưng có thể dùng trực tiếp nó để mua bán. Tính cách phổ biến của Đo-la đã đến tận Dân chúng. Ngay đứa trẻ con cũng có thể nói « one Dollar please !”
Chưa có một Đế quốc nào rộng lớn bằng Đế quốc Đo-la (Empire du Dollar).
Những phản kháng chống ngai vàng Đo-la
Người phản kháng đầu tiên chống lại sự bành trướng của đồng Đo-la là Staline. Oâng hiểu rằng Chương trình Marshall có mục đích ngăn chặn bành trướng của Cộng sản quốc tế. Staline đã cấm những nước chư hầu Đông Aâu nhận viện trợ tái thiết của Chương trình Marshall. « IMPERIALISME DU DOLLAR » là tên gọi mà Staline đặt cho ý hướng của Hoa kỳ.
Những nước Aâu châu, nhất là Pháp, khi đã được tái thiết và lớn mạnh, trữ Euro-Dollar, bắt đầu thấy mình lệ thuộc vào Hoa kỳ qua ngả Tiền tệ. Thực vậy, Tiền tệ mỗi nước được định qua trung gian của Đo-la và nếu vì một lý do nào đó, Hoa kỳ định lại giá trị của đồng Đo-la, thì các nước khác cũng phải thay đổi.
Sau Staline, người phát xuất phản kháng thứ hai là De GAULLES. Sau khi bỏ Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương, TT.De GAULLES đòi Hoa kỳ phải chở vàng đổi lấy Euro-Dollar mà nước Pháp đang giữ theo nguyên tắc hóan chuyển Giấy bạc thành vàng (Convertibilité en Or). Hoa kỳ đã từ chối.
Các nước A-rập, trữ Pétro-Dollar, vì Hoa kỳ ủng hộ Do-Thái tại Trung Đông, cũng tuyên chiến Tiền tệ với Hoa kỳ bằng cách đòi Hoa kỳ phải chở tương đương vàng để đổi lấy Pétro-đollar. Hoa kỳ đã từ chối.
Những đứa con của Đo-la nay đã lớn mạnh và muốn lật đổ ngai vàng.
Tương lai Đo-la mất ngai vàng
Việc Hoa kỳ không tôn trọng nguyên tắc Hóan chuyển Đo-la thành Vàng (Convertibilité du Dollar en Or) trên đây cùng với Thị trường Thương mại Vàng song song đã làm Chế độ trung gian giữa Đo-la-Vàng và các Tiền tệ khác chấm dứt (Fin du REGIME ETALON-DEVISE($)-OR. Tiền tệ mỗi nước được « giải phóng » khỏi Vàng và Đo-la. Được giải phóng khỏi bảo chứng định nghĩa dựa trên Vàng làm mẫu số chung để định Hối đóai Tiền tệ giữa các nước, hệ thống Tiền tệ phải chọn một mẫu số chung nào đó để có thể so sánh giá trị giữa Tiền mỗi nước mà thiết lập Hối suất.
Từ Chế độ REGIME ETALON-OR sang Chế độ REGIME ETALON-DEVISE-OR như đã cắt nghĩa trên đây, ngày nay Tiền tệ mỗi nước được định giá trị dựa trên Giá trị Tương đương Hàng hóa. Người ta gọi là CHẾ ĐỘ MÃI LỰC HÀNG HÓA (RÉGIME DU POUVOIR D’ACHAT). Việc định nghĩa đồng tiền mỗi nước dựa trên MÃI LỰC không phải là do Quyền Lực Tiền tệ (Pouvoir Monétaire) của Ngân Hàng Trung ương nữa, mà là do chính Dân chúng tiêu dùng hàng ngày. Tỉ dụ, một US Đo-la mua được 2 kí Cà chua, một Quan Thụy sĩ mua được 1.6 kí Cà chua, thì Hối suất giữa US Đo-la và Quan Thụy sĩ sẽ là : USD.1 = (2kg Cà chua/ 1.6kg Cà chua) = CHF.1.25. Với Chế độ Tiền tệ này, Giá trị đồng tiền mỗi nước tùy thuộc vào Khả năng Kinh tế mỗi quốc gia.
Nếu lấy Vàng làm bảo chứng cho Tiền, thì cân lượng vàng không thay đổi. Do đó Hối suất giữa các đồng tiền đựa trên vàng làm mẫu số chung cũng không thay đổi. Còn nếu lấy Khả năng Kinh tế của mỗi nước làm bảo chứng cho Giá trị đồng tiền, thì Khả năng Kinh tế mỗi nước thay đổi dễ dàng : khi được mùa, khi mất mùa. Vì vậy mà Hối suất giữa các đồng tiền thay đổi dễ dàng (Taux de Change Flexible). Khi thì đồng Đo-la lên, Lúc thì đồng Euro xuống vân vân.
Như trên chúng tôi đã nói, Đế quốc Đo-la tràn lan khắp Thế giới, đến tận đời sống hàng ngày của Dân chúng. Nếu Giá trị của Đo-la trong Chế độ Mãi lực (Régime du Pouvoir d’Achat) lúc này dựa trên tương hàng hóa (Kinh tế), thì mỗi lần Kinh tế Hoa kỳ nhức đầu sổ mũi, thì các Ngân Hàng trữ tiền Đo-la và cả Dân chúng tiêu đồng Đo-la cũng bị nhức đầu sổ mũi theo.
Khủng hỏang Tài chánh Hoa kỳ 2007-08
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh Hoa kỳ khởi đầu năm 2007 và đã lan tràn như Tsumani trên Thế giới chính vì sự tính cách Đế quốc của đồng Đo-la. Một số Quốc gia đặt lại vấn đề vị trí tối thượng của đồng Đo-la trong hệ thống Tiền tệ và Tài chánh. TT.SARKOZY đã tuyên bố : »The Dollar cannot claim to be the only currency in the world » (Đồng Đo-la không thể dành vị trí tiền tệ độc nhất trên Thế giới). Trung quốc là nước dự trử Đo-la nhiều nhất và hỏang sợ vì cuộc khủng hỏang tài chánh này. Ông ZHOU XIAOCHUAN, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã than :”The costs of such a system (dollar) to the world may have exceeded its benefits” (Những tốn kém của một hệ thống như vậy (đo-la) cho Thế giới có thể đã vượt quá những lợi tức của nó).
Ký giả Dennis K.BERMAN đã viết dưới tựa đề AN END TO DOLLAR’S PRIMACY trong THE WALL STREET JOURNAL ngày 02.09.2009 (trang 21): “FINANCIAL CRISIS COST AMERICA CREDIBILITY: CRUSP OF MAJOR CHANGE. Decades from now, the crisis of 2008 might not be remembered as the last days of Bear Stearns and Lehman Brothers Holdings, but as the moment the dollar lost its No.1 ranking among the world currencies. (KHỦNG HỎANG TÀI CHÁNH LÀM MẤT TIN TƯỞNG VÀO MỸ: MỘT MẤU NGẴNG CỦA HỐI ĐÓAI. Từ những thập niên đến nay, cuộc Khủng hỏang 2008 có thể đã không được nhớ như những ngày cuối của Bear Sterns và Lehman Brothers Holdings, nhưng được nhớ như thời điểm mà đồng Đo-la mất vị trí số 1 trong những Tiền tệ Thế giới.)
Khủng hỏang tiếp tục và viễn tượng vỡ nợ của Hoa kỳ
Mất phần tín nhiệm qua cuộc Khủng hỏang Tài chánh 2007-08, đồng Đo-la tiếp tục mất vị trí tối thượng vì những Hiệu quả yếu kém của Obama’s Stimulus Plan USD.786 tỉ, với viễn tượng vỡ nợ 9 ngàn tỉ đo-la cuối thập niên tới.
Đồng Đo-la lên ngôi và bành trướng thế lực song hành với sức tràn lan của Kinh tế Hoa kỳ. Sức mạnh này luôn luôn được hỗ trợ bởi sức mạnh Quân đội giải phóng Âu châu, rồi bảo vệ Thế giới Tự do trước đe dọa trước đây của Thế giới Cộng sản.
Ngày nay, sức mạnh Kinh tế Mỹ gặp cạnh tranh của Liên Âu và những nước lớn bắt đầu phát triển như Brésil, Nam Phi, Ấn độ, Trung quốc và Nga. Sức mạnh Quân đội của những nước này cũng được tăng cường.
Những thế lực Kinh tế đang lên này, trong hòan cảnh yếu dần của Hoa kỳ, có thể đưa đến việc đặt lại vấn đề vị trí độc tôn tối thượng của đồng Đo-la. Trong tháng 3 vừa rồi, Zhou Xiaochuan, Thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Trung quốc, đã công khai đề xướng “a move away from the dollar as reserve currency” (The Wall Street Journal, Wednesday 02.09.2009, p.21).
Đồng tiền nào sẽ lên Ngai vàng ?
Tuy yếu dần đi, nhưng đồng Đo-la đã nhiều chục năm vẫn nằm trong các Ngân Hàng. Để có thể thay thế, phải có đồng tiền mạnh hơn và được phổ biến đến tận Dân chúng khắp Thế giới. Thực ra hiện nay, chưa có đồng tiền nào đủ uy lực để có thể thay thế tức khắc đồng Đo-la vì người ta vẫn còn sợ những biến chứng không lường được do sự truất phế Đo-la.
Ký giả Dennis K.BERMAN, trong bài AN END TO DOLLAR’S PRIMACY trong The Wall Street Journal 02.09.2009 trang 21, đã nhắc ra một Dự án thay thế Đo-la, được ủng hộ bởi Thống Đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, Zhou Xiaochuan :”The approach favored by Mr.Zhou is to rely heavily on something called SDR, a “special drawing right” created by the International Monetary Fund. The SDR is a synthetic currency, comprised of a basket of the dollar, euro, yen and the pound, and contributed to central-bank reserves.” (Dự án được ủng hộ bởi ông Zhou, liên hệ chính yếu đến cái gọi là SDR, một “quyền phát hành đặc biệt” bởi Qũy Tiền Tệ Quốc Tế. SDR là một thứ tiền tệ cô đọng gồm một rổ có đo-la, euro, yen và bảng Anh, và đã giúp làm những dự trữ của Ngân Hàng Trung ương).
IMF/FMI là con đẻ của Hội Nghị BRETTON-WOODS năm 1942 do Hoa kỳ triệu tập và Hoa kỳ đóng góp vào Qũy đó trong nhiều năm trường tới 80%. Đứa con đẻ này sẽ dùng SDR để lên ngôi thay thế đồng Đo-la hay không ? và bao giờ ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.09.2009
| | | |
OBAMA ĐƯA HOA-KỲ ĐẾN VỠ NỢ ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 27.08.2009 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Chúng tôi viết bài đính kèm dưới đây về HIỆU QUẢ OBAMA’S STIMULUS PLAN USD.786 TỈ, những nét chính Lý thuyết của J.M.KEYNES được trình bầy như nền tảng của những Chương trình Kích Cầu Kinh tế. Việc chi tiêu USD.786 mang hiệu quả như thế nào được đối chiếu với những điều kiện mà J.M.KEYNES đã đòi hỏi trong Lý thuyết Kích Cầu của Ông. Vì khuôn khổ của bài viết, chúng tôi chỉ trình bầy Lý thuyết của KEYNES cô đọng vào hai Thông số K và c trong Công thức K = 1/(1-c). Một vài bạn đọc trẻ (Sinh viên) viết cho tôi và muốn tôi khai triển sự hình thành của hai Thông số ấy.
Cũng trong những ngày mới đây nhất, giới Kinh tế Hoa kỳ kêu hỏang về việc thâm thủng kỷ lục ngân sách Hoa kỳ và có thể đi đến vỡ nợ thậm chí làm xẩy ra một cuộc Khủng Hỏang Tài Chánh/Kinh Tế còn nguy hại hơn cuộc Khủng hỏang 2007-2008 vừa diễn ra mà tương lai khôi phục Kinh tế còn tối tăm.
Vì vậy, trong bài này, chúng tôi xin đề cập đến những điểm sau đây:
=> Sự hình thành hai Thông số K và c
=> Công bố chính thức về thâm thủng kỷ lục ngân sách Hoa kỳ
=> Dự đóan một cuộc Khủng hỏang vì vỡ nợ ngân sách
Sự hình thành hai Thông số K và c
Chúng tôi viết về sự hình thành của hai Thông số này không phải là cho những Nhà Kinh tế, mà chủ ý là cho một ít bạn trẻ sinh viên yêu cầu tôi nhân việc tôi viết tóm gọn trong bài đính kèm dưới đây.
John Maynard KEYNES, căn bản là Nhà Tóan học, nhưng đã đặc biệt nghiên cứu về cuộc Khủng hỏang 1929-30 nhằm mục đích tìm cách khôi phục nền Kinh tế sau khủng hỏang. Trước Ông, Kinh tế đặt nặng về Sản xuất (phía Cung), nhưng từ nghiên cứu của Ông, Kinh tế chú trọng hẳn về Tiêu thụ (phía Cầu). Từ đó, người nói đến Kinh tế Tiêu thụ (Economie de Consommation). Chính Tiêu thụ (Consommation) hướng dẫn việc Sản xuất (Production). Việc Tiêu thụ có sức Kích thích Kinh tế. Khi Tiêu thụ giảm xuống, thì Sản xuất cũng giảm theo và đưa đến Khủng hỏang, Thất nghiệp. Vì vậy, để kích thích Sản xuất, làm giảm Thất nghiệp, phải tìm cách làm tăng Tiêu thụ.
Tất cả mọi người đều Tiêu thụ, nhưng cường độ tiêu thụ tùy thuộc từng xã hội, từng lớp người thành phần của xã hội. Tỉ dụ cường độ tiêu thụ của xã hội Mỹ cao hơn cường độ tiêu thụ của Aâu châu và Á châu. Trong bất cứ xã hội nào, thành phần trẻ tiêu thụ mạnh hơn giới già chẳng hạn.
Muốn tiêu thụ, thì phải có số thu vào. Số thu vào là Lương tháng cho Công nhân, là Lợi tức của Thương mại chẳng hạn. Khi Số thu nhận được, mỗi cá nhân dành ra một số tiền Tiết kiệm và một số tiền để Tiêu thụ. Cường độ dành phần tiền cho Tiêu thụ được gọi bằng « c » (Propension marginale à consommer). Người nghèo, Công nhân, lớp Trẻ có Thông số « c » mạnh. Thông số « c » này đứng ở giữa 0 và 1. Khi c = 0, nghĩa là một người không tiêu thụ gì vào Số thu, mà dành tòan Số thu cho Tiết kiệm. Khi c = 1, nghĩa là Số thu vào được mang đi chi tiêu sạch bách, không tiết kiệm gì cả.
Để Hiệu quả Kinh tế của một Chương trình Kích Cầu cao, phải nhằm vào giới có cường độ chi tiêu cao. Mà giới có cường độ « c » chi tiêu cao, đó là giới Công nhân, nghèo và trẻ. Nếu Chương trình Kích Cầu chỉ dồn vào lớp người già và giầu, thì Hiệu quả Kích Cầu sẽ thấp vì cường độ chi tiêu « c » của lớp người này thấp.
Một Chương trình Kích Cầu (Stimulus Plan, Plan de Relance) là một Chương trình mà Nhà Nước dành ra một số tiền khơi động Chi tiêu lúc đầu vào một nền Kinh tế đang trầm trệ. Đây là việc thẩy vào một cộng đồng Kinh tế một số tiền từ bên ngòai. Người ta nói đây là một việc Đầu tư chích vào một nền Kinh tế từ phía bên ngòai (Un Investissement autonome injecté). Khi đã tiêm vào nền Kinh tế một số tiền rồi, thì những họat động kinh tế của cộng đồng mang lại cho nhau những hiệu quả hỗ tương trong lòng nền Kinh tế (Les effets économiques endogènes). Tỉ dụ khi bỏ ra 5 tỉ để tổ chức Điền Kinh Thế giới ở một thành phố, thì bắt đầu có việc xây cất. Công nhân xây cất lãnh được lương và đi ăn ở hàng quán. Hãng làm bia được kích thích để tăng sản xuất bia. Tăng sản xuất bia, thì cần phải có lúa mạch. Người nông dân cũng được kích thích để trồng thêm lúa mạch. Đây là những hiệu quả Kinh tế dây chuyền hỗ tương ở trong lòng một cộng đồng Kinh tế.
Gốc là một Nhà Tóan học, J.M.KEYNES muốn tính tóan bằng con số tổng cộng những hiệu quả hỗ tương từ khi tiêm vào cộng đồng một món tiền lúc ban đầu trong một khỏang thời gian cho đến lúc hiệu quả còn rất nhỏ. J.M.KEYNES thấy rằng những hiệu quả mỗi giai đọan được tăng lên theo cấp số nhận. Tổng cộng tất cả những giai đọan hiệu quả ấy sẽ cho Thông số K mà ông gọi là CON SỐ NHÂN K.
Hãy lấy một tỉ dụ cho vào nền Kinh tế 100.- mà Keynes gọi là đầu tư ban đầu va tỉ dụ cường độ tiêu thụ c = 0.75. Năm thứ 0 được gọi là năm khởi thủy đầu tư tiêm vào. Từ đó ông tính hiểu quả cho Năm thứ 1, rồi Năm thứ 2, Năm thứ 3… Khi tổng cộng những hiệu quả của tất cả các năm, ông tìm ra Thông số K = 1/(1-c).
Năm thứ 0 : Hiệu quả : 100 = 100.00
Năm thứ 1 : Hiệu quả : 100 x c = 100c = 75.00
(lũy thừa)… 2 Năm thứ 2 : Hiệu quả : 100c x c = 100c = 56.25 (lũy thừa)… 2 3 Năm thứ 3 : Hiệu quả : 100c x c = 100c = 42.18
(lũy thừa)… 3 4 Năm thứ 4 : Hiệu quả : 100c x c = 100c = 36.64
Năm thứ 5 : ................
(lũy thừa)… n Năm thứ n Hiệu quả : 100c = 0.01
TỔNG CỘNG HIỆU QUẢ :
= 100.00 + 75.00 + 56.25 + 42.18 + 36.64 + … + 0.01
(lũy thừa)… 2 3 4 n = 100 + 100c + 100c + 100c + 100c + …. + 100c
(lũy thừa)… 0 1 2 3 4 n = 100c + 100c + 100c + 100c + 100c + … + 100c
(lũy thừa)… 0 1 2 3 4 n = 100 ( c + c + c + c + c + … + c )
(lũy thừa)… 1 2 3 4 n = 100 ( 1 + c + c + c + c + ….+ c )
(lũy thừa)… n n Nhắc lại Hằng đẳng thức đáng nhớ của Thương số: (x - a )/(x – a)
Nếu x = 1 và a = c, thì:
(lũy thừa)… n n (1 - c )/(1 - c) =
(lũy thừa)… n 1 2 3 4 n-1 (1 – c )/(1 – c) = (1 + c + c + c + c + … + c )
(lũy thừa)… n Vì điều kiện cường độ tiêu thụ 0 < c < 1, nên c = 0, do đó, Tổng số nhân Hiệu quả sẽ là:
(lũy thừa)… 1 2 3 4 n (hay n-1) (1 + c + c + c + c + … + c ) =
1 ---------- = K ( 1 - c )
Tìm ra con sô nhân K = 1 / (1 – c), Hiệu quả Tổng cộng của việc tiêm vào nền Kinh tế 100.- sẽ được tính dễ dàng:
1 1 100 x K = 100 x ------- = 100 x ------------ = 100 x 4 = 400.- 1 – c 1 – 0.75
Hiệu quả tổng cộng sẽ gấp 4 lần đầu tư tiêm vào lúc ban đầu.
Công bố chính thức về thâm thủng kỷ lục ngân sách Hoa kỳ
Trong những ngày gần đây, những Bản Tin dồn dập trên Diễn Đàn, Việt ngữ có, Anh ngữ có, cho thấy giới Chính quyền và Dân chúng Mỹ tỏ ra sự hỏang sợ về Hiệu quả rất yếu kém của Obama’s Stimulus Plan USD.786 tỉ, về tình trạng thất nghiệp càng tăng có thể tới 11%, về sự thâm thủng ngân sách có thể tới vỡ nợ, về việc những thế hệ tương lai phải è lưng ra đóng thuế cho những chi tiêu xả láng không hiệu quả của Chính quyền Obama và đảng Dân chủ.
Chúng tôi đọc được những Bản Tin sau đây:
Ngân sách Mỹ thâm thủng ‘kỷ lục’
Ngân sách Mỹ sẽ thâm thủng khoảng 1,6 nghìn tỷ USD trong năm nay.
Tòa Bạch Ốc và Quốc hội Mỹ cảnh báo ngân sách của Mỹ sẽ thâm thủng khoảng 1,6 nghìn tỷ trong năm nay.
Đây là con số cao nhất trong mọi thời đại.
Chi tiêu lớn nhất khiến cho ngân sách bị thâm thủng nặng là khoản kích cầu 787 tỷ USD của tổng thống Obama. Cạnh đó là thuế thu về ít hơn do khủng hoảng kinh tế.
Để xem ngân sách năm nay thâm thủng lớn ra sao, cần so sánh nó với năm ngoái.
Năm 2008 ngân sách Mỹ thâm hụt 455 tỷ USD.
Tòa Bạch Ốc cho hay mức thâm thủng sẽ còn gia tăng, dự báo sẽ đạt tới điểm cao nhất là 9 nghìn tỷ USD giai đoạn 2010-2019.
Tuy nhiên Tòa Bạch Ốc tin tưởng rằng kinh tế Mỹ sẽ bắt đầu hồi phục trong năm nay.
Tòa Bạch Ốc dự tính tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ sẽ tăng trên mức 10% trong năm nay. Qua năm 2010 tỷ lệ này sẽ giảm từ từ. Con số mới nhất về tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ trong tháng Bảy là 9,4%.
'Nghiêm trọng'
Các dự báo mới nhất về ngân sách do Tòa Bạch Ốc và Văn phòng Ngân sách của Quốc hội, CBO, tổ chức phi đảng phái, đưa ra.
Giám đốc Văn phòng Điều phối Ngân sách của Tòa Bạch Ốc, Peter Orszag nói: "Tóm lại các dự báo về ngân sách cho thấy tình hình tài chính nghiêm trọng để lại cho chính quyền Obama. Cạnh đó nó nhắc đến nhu cầu cần thực hiện các bước để đưa nước Mỹ trở lại quỹ đạo ngân sách bền vững.”
Điều kiện tài chính của Hoa Kỳ hiện nay chẳng khác gì tiếng còi cấp cứu
Mitch McConnell TNS Cộng hòa, Christina Romer, một trong các cố vấn kinh tế của tổng thống Obama nói suy thoái kinh tế trở nên tồi tệ hơn những gì dự tính.
Bà nói Tòa Bạch Ốc nay dự tính kinh tế Mỹ sẽ co lại khoảng 2,8% trong năm 2009. Như vậy gấp đôi so với dự tính đầu năm nay.
Bà Romer nói thêm, sau đó kinh tế Hoa Kỳ sẽ tăng trưởng khoảng 2% trong năm 2010, tuy thấp hơn 3,2% là mức dự báo trước đó. Năm 2011 kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng khá hơn, đạt mức 3,6%.
'Không kiểm soát nổi'
Các dân biểu đảng Cộng Hòa cho hay dự báo mới nhất về ngân sách Mỹ cho thấy tình hình tài chính quốc gia vô cùng nghiêm trọng.
Thượng nghị sĩ thuộc phe thiểu số tại Thượng viện Mỹ, Mitch McConnell nói: “Báo động về thâm thủng ngân sách của Mỹ nay thành tiếng còi cấp cứu,”
"Nếu ai đó còn có nghi nghờ về hậu quả của sự thâm thủng này đối với tương lai của nước Mỹ, những người này cần phải xem lại. Chi tiêu, vay mượn và các khoản nợ không còn kiểm soát nổi nữa.”
Các phân tích gia cho hay dự báo mới nhất tăng thêm khả năng Hoa Kỳ sẽ tăng thuế một khi nước này thoát khỏi suy thoái.
Văn phòng Ngân sách của Quốc hội Mỹ cho rằng đó là việc làm cần thiết.
"Đưa quốc gia trở lại điều kiện tài chính hợp lý sẽ cần phải giảm bớt chi tiêu và tìm thêm nguồn thu cho chính phủ. Và chúng sẽ cao hơn những gì người ta dự tính trong lúc này,” Văn phòng nói.
Đọc Bản Tin trên, chúng tôi nhận thấy những tuyên bố rất bi quan. Một số tuyên bố muốn tạo sự lạc quan với HY VỌNG. Từ 6 tháng nay, TT.OBAMA đã nói những hy vọng rất đẹp. Ngày nay, những lời tuyên bố trong hy vọng giảm dần giá trị vì thực tế là những chi tiêu xả láng đang chứng tỏ thực sự những nguy cơ. Hy vọng là tương lai. Thực tế là chi tiêu hiện tại đang gây những lo lắng lớn cho Kinh tế Hoa kỳ.
WASHINGTON (Reuters) – President Barack Obama's domestic policy proposals will face the reality of skyrocketing deficits on Tuesday when officials release two government reports projecting huge budget shortfalls over the next decade.
The White House budget office and the Congressional Budget Office (CBO), a non-partisan arm of Congress, release updated economic forecasts and deficit estimates on Tuesday, providing further fiscal fodder to opponents of Obama's nearly $1 trillion healthcare overhaul plan.
Tinh thần của Lý thuyết nền tảng cho Kích Cầu của J.M.KEYNES là tinh thần làm Kinh tế Tư Bản thực sự. Làm Kinh tế Tư Bản thực sự là phải nghĩ đến LỢI NHUẬN TỐI ĐA thu vào. Câu nói sau đây về Kinh tế Tư Bản xem ra nghịch lý: “Làm ra tiền đã khó, mà Tiêu tiền còn khó hơn”. Việc Tiêu tiền theo tinh thần Kinh tế Tư Bản là phải tính tóan xít xao thu hồi lại món tiền đã chi tiêu cộng thêm LỢI NHUẬN của việc Chi tiêu. Vì vậy việc Tiêu tiền còn khó hơn bởi vì phải tính tóan trước số thu vào.
Làm Kinh tế không phải là làm việc Xã Hội. Làm Kinh tế cũng không phải là làm việc Bố Thí. Trong Lý thuyết Kich Cầu của Keynes, ông không chấp nhận những Chi tiêu mang tính cách Xã hội, Bố thí, mà phải nhằm việc thu lại những món tiền Kich Cầu lớn hơn gấp bội. KEYNES đã nhấn mạnh đến Công bằng Kinh tế, Tài chánh trong việc Chi Tiêu Kích Cầu. Món Tiền Kích Cầu là theo Chủ trương DEFICIT BUDGETAIRE, nghĩa là chi tiêu hiện tại là việc nhận nợ của Thế hệ đương thời để rồi Thế hệ tương lai hòan lại món nợ ấy. Công bằng Kinh tế/Tài chánh là những Chương trình Kích Cầu phải tạo ra những HẬU QUẢ KINH TẾ tương lai để Thế hệ tương lai có khả năng hòan nợ và được hưởng hậu quả Kinh tế đền bù khi họ phải hòan nợ. Nếu việc Chi tiêu Kích Cầu hiện tại chỉ là việc Xã Hội, Bố thí, Phát chẩn cho Thế hệ hiện tại, thì Thế hệ tương lai, không được hưởng hậu quả Kinh tế đền bù, không những họ có quyền từ chối việc hòan nợ mà còn không có khả năng hòan lại nợ cho những thâm thủng ngân sách khổng lồ.
Những Chi tiêu hiện hành của Obama và đảng Dân chủ dường như mang tính cách Xã hội, Bố thí, Phát chẩn để lấy phiếu hơn là tính tóan xít xao cho những Chi tiêu thực sự Kinh tế theo tinh thần của J.M.KEYNES.
Dự đóan một cuộc Khủng hỏang vì vỡ nợ ngân sách
Cuộc Khủng hỏang 1929-30 có nguồn gốc từ sự hồ hởi dùng Tín dụng đổ vào tăng trưởng Sản xuất quá đáng mà không nghĩ rằng một khi phía Cầu (Tiêu Thụ) ngưng trệ, thì tình trạng Surpoduction hiện ra để cái Giốc xuống giá (Spirale Déflationniste) đến nỗi phải thiêu hủy hàng hóa như năm 1929-30. Những Nhà Sản xuất và Ngân Hàng vỡ nợ vì không thâu hồi Tài chánh như dự đóan hồ hởi thâu lại Tín dụng đã cho ra.
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á châu 1997 cũng bắt nguồn từ việc Chi tiêu bằng Tín dụng cho Sản xuất Kinh tế tại một số nước Á châu. Tín dụng thuộc về tương lai bấp bênh.
Cuộc Khủng hỏang 2007/08 bắt nguồn từ Tín dụng Địa ốc Hoa kỳ. Người ta Chi tiêu hiện tại về Nhà cửa bằng dự phóng thu nhập tương lai. Ngân hàng cổ võ việc chấp thuận Tín dụng dễ dàng.
Ngân Hàng lo lắng một cuộc Khủng hỏang Credit Cards và đã thắt chặt Tín dụng dựa trên Credit Cards.
Việc Chi tiêu xả láng, thiếu tính tóan Hiệu quả theo tinh thần làm Kinh tế Tư Bản đang gây tình trạng thâm thủng Ngân Sách như chúng tôi trình bầy trong đọan trên đây.
Chưa cứu được cuộc Khủng hỏang hiện hành, thì một số Nhà Kinh tế đã phải nghĩ đến một cuộc Khủng hỏang nữa sẽ xẩy ra từ sự vỡ nợ của Ngân sách Hoa kỳ:¨
“Stanford University economics professor John Taylor, an influential economist, told Reuters Television on Friday the U.S. budget deficit poses a greater risk to the financial system than the collapse in commercial real estate prices.”
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 27.08.2009
| | | |
HIỆU QUẢ OBAMA’S STIMULUS PLAN US$.786 TỈ RA SAO ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 20.08.2009 UNICODE : http://VietTUDAN.net
Stimulus Plan ! Plan de Relance ! Chương Trình Kích Cầu ! Những tiếng này vang lên vào cuối năm 2008 như một Phong trào cho những người điều hành các Quốc gia trên Thế giới.
Nguyễn Tấn Dũng cũng nói oang oang đến Chương Trình Kích Cầu USD.8 tỉ. Nhưng tiền đào đâu ra mà có ? Gần đây nhất, sau khi nhường cho Trung quốc Dự án Nhà Máy Nhiệt Điện ở Quàng Ninh, một Thứ Trưởng cũng phát ngôn với các nhà báo hai chữ Kích Cầu « à la mode » cho oai. Thứ trưởng đó nói mà chẳng hiểu Kích Cầu là gì bởi lẽ Nhà Máy Nhiệt Điện USD.300 triệu chỉ là việc nhận nợ của Việt Nam trong khi đó việc chi tiêu nhân công và thiết bị là dành cho Trung quốc Kích Cầu cho nước họ. Ngu ơi là ngu ! Mình nhận nợ để trả, trong khi Trung quốc hưởng Kích Cầu cho nước họ. Tên Thứ trưởng nói Kích Cầu mà không hiểu gì !
Trở lại những Chương trình Kích Cầu của Thế giới được tuyên bố vào cuối năm 2008. Liên Aâu tuyên bố Chương trình Euro.200 tỉ, Trung quốc đề xướng Chương trình USD.586 tỉ.
Thứ Hai 24.11.2008, trong cuộc Họp Báo tại Chicago, OBAMA tuyên bố Chương trình Phát động Kinh tế USD.800 tỉ. Chương trình nhằm tạo 2.5 triêu công ăn việc làm. Chương trình được tuyên bố, nhưng OBAM từ chối không đi vào chi tiết ở giai đoạn này.
Báo LE MONDE Mercredi 26.11.2008, trang 12, viết: “Il était attendu sur son “plan de relance”, mais refusé d’en préciser les détails à ce stade” (Người ta đợi Oâng nói về “chương trình phát động”, nhưng Oâng đã từ chối không nói rõ về những chi tiết ở giai đoạn này.”
Những Chương trình Kích Cầu, Stimulus Plans, Plans de Relance... đều dựa trên căn bản Lý thuyết của J.M.KEYNES, nhà Tóan học và Kinh tế gia Anh nghiên cứu cách thế phát động Kinh tế sau cuộc Đại Khủng hỏang năm 1929-30. Vì vậy, nếu xét Hiệu Quả của một Chương trình Kích Cầu, cần phải theo sát việc áp dụng chi tiêu theo căn bản Lý thuyết của J.M.KEYNES.
Chúng tôi bàn những khía cạnh sau đây:
=> Căn bản Lý thuyết cho những Chương trình Phát động Kinh tế
=> Xác nhận Hiệu Quả của Obama’s Stimulus Plan USD.786 tỉ
=> Nhận định về Hiệu Quả đối chiếu với Lý thuyết của J.M.KEYNES
Căn bản Lý thuyết cho những Chương trình Phát động Kinh tế
Tác giả Claire GUELAUD, dưới đầu đề UNE POLITIQUE ECONOMIQUE KEYNESIENNE đã nói về Chương trình mang tính cách dài hạn và tổng quát:”...Aller au-delà ou s’orienter vers une intervention plus globale et une relance budgétaire de type keynésien ? (... Vượt quá mức (hiện hành) hay hướng về một sự can thiệp tổng quát hơn và một sự phát động ngân sách theo kiểu Keynes hay không ?) (LE MONDE, Mercredi 26.11.2008, page 2).
John Maynard KEYNES, Nhà Toán học và Kinh tế Anh, đã nghiên cứu Cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 và những biện pháp khôi phục.
Cũng bắt đầu từ Lãnh vực Tài chánh, cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh tế 1929-30 xẩy ra mau chóng và toàn diện mà lý do chính là tình trạng Sản xuất quá mức Hàng hóa (Surproduction) thời ấy khi mà Khả năng Tiêu thụ/ Khả năng Thu nhập của quần chúng giảm xuống.
Các nhà Kinh tế đã chứng nhận hiện tượng Tụt dốc Giá cả (Spirale déflationiste) mà không biết đâu là mức cuối cùng. Cái chu trình tụt giá như sau:
Thu nhập quần chúng yếu đi (Revenu diminue) trong khi ấy Sản xuất Hàng hóa quá nhiều (Surproduction des Produits). Như vậy CUNG lớn hơn CẦU mà hậu quả trực tiếp là Giá cả Hàng hóa giảm xuống (Prix de vente diminue). Bán Hàng hóa với giá hạ, Lợi nhuận yếu hoặc thua lỗ, nên các Công ty sản xuất buộc phải thải Thợ ( Chomage augmente). Thất nghiệp tăng có nghĩa là Thu nhập quần chúng càng yếu đi. Chu trình quay lại từ đầu làm cho việc tụt dốc giá cả càng tụt dốc thêm (Spirale déflationiste).
Các biện pháp khôi phục Kinh tế là phải làm thế nào để tăng Khả năng tiêu thụ/Khả năng thu nhập của quần chúng để phía CẦU tăng lên. Như vậy mới có thể làm ngưng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste).
Biện pháp thứ nhất là giúp đỡ trực tiếp cho dân chúng dưới hình thức Trợ Lực Xã Hội (Aide Sociale), kiểu Welfare còn tồn đọng đến ngày nay.
Cũng lưu ý tìm kiếm những biện pháp, nhà Toán học/Kinh tế gia KEYNES không chủ trương việc Giúp đỡ Xã Hội trực tiếp, mà phải kiếm việc cho quần chúng làm và trả lương, như vậy làm giảm thất nghiệp và làm tăng khả năng thu nhập tiêu thụ.
KEYNES chủ trương những Chương trình xây dựng Hạ tầng cơ sở lớn mà Nhà Nước bỏ vốn đầu tư vào (Grands Travaux Publics). Hoa kỳ đã áp dụng biện pháp của KEYNES bằng những Chương trình xây cất hệ thống Đường Sá, xây cất những Tòa nhà Hành chánh lớn, xây dựng những Đập Nước... Những người thất nghiệp được xử dụng trong những chương trình này và họ có lương, tăng khả năng tiêu thụ. Phía CẦU tăng và chận đứng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste). Giá cả bắt đầu xoay chiều lên, các Công ty có lợi nhuận và lại thuê Thợ làm việc. Kinh tế phục hồi.
Vì là nhà Toán học, nên KEYNES đã nhìn ảnh hưởng của việc đầu tư vào những Chương trình Xây dựng lớn (Grands Travaux) có tầm ảnh hưởng theo cấp số nhân, nghĩa là đầu tư một đồng, thì có thể tạo việc tăng thu nhập của quần chúng đến 4, 5 lần hơn theo công thức:
0 1 2 3 4 n 1 K = c + c + c + c + c + ....... c = --------- 1 - c
c : phần dành ra từ thu nhập của dân chúng dùng vào việc tiêu thụ hàng hóa. Tỉ dụ khi thu vào 1 đồng, dân chúng dành ra 0,75 xu để mua hàng hóa (c = 0.75).
K : được gọi là Số Nhân Đầu Tư của KEYNES (Multiplicateur keynésien).
Vậy, nếu Nhà Nước bỏ ra 2'000 đồng để đầu tư, thì việc tăng thu nhập cho Kinh tế sẽ là:
1 1 2'000 x K = 2’000 x -------- = 2'000 x --------- = 2'000 x 4 = 8'000.- 1 - c 1 – 0.75
Ba điểm của biện pháp áp dụng Số Nhân Đầu Tư của KEYNES dược nhấn mạnh như sau:
=> Mức độ (c) mà nhân công xử dụng đồng lương thu được vào việc tiêu thụ là yếu tố tạo những ảnh hưởng nội tại của nền Kinh tế (Effets endogènes) từng đợt để có thể đạt hiệu quả cuối cùng nhân lên.
=> Việc tiêu thụ phải được thực hiện trong lòng của nền Kinh tế, chứ không được thất thoát ra ngoài. Tỉ dụ tại nước Đức, nếu nhân công được xử dụng lại là những người từ Đông Aâu, những người này mang lương về nước họ để chi tiêu, thì sẽ giảm hẳng hiệu quả Kinh tế cho nước Đức.
=> Tài trợ cho những Chương trình đầu tư là xử dụng Vay nợ của Nhà nước theo Chính sách Tài chánh Déficit Budgétaire. Chính sách này là việc chuyển nợ từ đời Cha sang đời Con bởi vì chính đời Con được hưởng những hiệu quả của việc đầu tư vào Hạ tầng Cơ sở Kinh tế.
Xác nhận Hiệu Quả của Obama’s Stimulus Plan USD.786 tỉ
Cũng trong thời gian mà những Chương trình Kích Cầu Kinh tế Thế giới được tuyên bố cuối tháng 11/2008, Đài RFI (Radio Frnace Internationale) phỏng vấn tôi về những Chương trình này trong đó có câu hỏi về thẩm định Hiệu Quả của những Chương trình
Chương trình của Trung quốc USD.586 tỉ
Đảng và Nhà Nước Trung quốc vừa quyết định dành ra USD.586 tỉ. Đây là Chương trình mang tính cách dài hạn, trong khi ấy vấn đề xuống dốc Kinh tế nằm trong cấp thời và ngắn hạn phải giải quyết. Thực vậy, chương trình USD 586 tỉ đặt trọng tâm vào xây dựng hạ tầng cơ sở Kinh tế như đường sá, cầu cống, ống dẫn dầu...
Nhận định về hiệu lực của Chương trình này, dưới hàng chữ lớn CRITICS OF GOVERNMENT’S INFRASTRUCTURE SPREE WORRY EFFORT WILL END UP BEING WASTE OF MONEY, Oâng Andrew BATSON viết ngày hôm qua 12.11.2008 trong THE WALL STREET JOURNAL như sau:
“This road boom is taking place in a poor, largely rural country where only about 10% of the population have their driver’s licenses... New roads and buildings are going unused and will end up being waste of money. In the poorest areas, some highways are often empty but for crops farmers spread out on them to dry in the sun.” ( Cuộc bùng dậy xây đường sá này xẩy ra ở một xứ nghèo nàn, chính yếu là dồng quê nơi mà chỉ vào khoảng 10% dân số có bằng lái xe... Những con đường mới và cao ốc sẽ không được xử dụng và sẽ kết thúc bằng tiêu phí tiền bạc. Ở những vùng nghèo khổ nhất, nhiều xa lộ thường vắng xe trống rỗng trừ trường hợp những người dân quê xử dụng để phơi nắng cho khô sản phẩm nông nghiệp dưới ánh mặt trời.)
Thực sự thì việc xây dựng hệ thống đường sá đã được hoạch định từ những chục năm trước và chương trình muốn chấm dứt mãi tới năm 2020. Đây là việc chi tiêu mang tính dài hạn, trong khi ấy Trung quốc cần phải có biện pháp cấp thời để khả năng tiêu thụ nội địa bù trừ cho việc cắt giảm đặt mua hàng hiện nay từ nước ngoài. Số tiền USD.586 tỉ là dự chi cho toàn Chương trình bao trùm một thời gian dài. Người ta dự đoán rằng nếu chương trình được khởi công lại, thì Trung quốc cũng chỉ tiêu cho hạ tầng cơ sở khoảng 1/5 tổng số tiền đã tuyên bố.
Chương trình của Liên Au Euro.200 tỉ
Không thể thầm định Hiệu Quả của Chương trình Liên Aâu bởi vì Liên Aâu chưa trở thành một nước để có thể áp dụng những điều kiện theo Lý thuyết của J.M.KEYNES.
Gọi là Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ LIÊN ÂU thì không đúng, mà phải gọi là Phong trào Phát Động Kinh tế các Nước trong Liên Au mới đúng bởi vì các Nước trong Liên Aâu mang những nhược điểm sau đây để không thể có một Chương trình duy nhất:
* Liên Aâu chưa phải là một Liên Bang
* Các nước trong khối Liên Aâu nghĩ về mình trước tiên, nhất là về vấn đề tiền bạc.
* Các nước trong khối Liên Aâu chưa có sự đồng nhất
* Tình hình phát triển Kinh tế của mỗi nước cũng khác nhau
* Khả năng tài chánh của mỗi nước cũng khác nhau.
Trong con số Euro.200 tỉ nêu ra, chỉ có Euro.30 tỉ là từ quỹ chung của Liên Aâu. Chương trình thực hiện Phát động Kinh tế của mỗi nước cũng không đồng nhất. Tỉ dụ nước Anh xử dụng phương pháp giảm Thuế TVA 17% để kích thích các Công ty có vốn đầu tư. Nước Đức có khả năng bỏ vốn ra hơn, nhưng khi bỏ vốn ra, họ muốn cứu Kỹ nghệ xe hơi của họ, chứ không cứu hãng Renault... Cũng vậy, nước Ý cứu Fiat của họ chứ không muốn cứu hãng VW của Đức. Ngoài ra, trong số 27 nước trong khối Liên Aâu, thì phần lớn đang nghèo, mới thoát ra khỏi chế độ Cộng sản.
Một điểm quan trọng nữa mà ngay mỗi nước như Pháp, Đức... cũng khó thực hiện những công trình xây dựng hạ tầng cơ sở theo Lý thuyết của KEYNES vì nhân công làm việc trong các công trình lại đến từ những nước khác, nhất là từ Đông Aâu. Họ lãnh lương và đưa về nước họ, nên hiệu quả đầu tư không đạt được theo Số Nhân Cấp Số của KEYNES.
Chương trình của OBAMA USD.786 tỉ
Chúng tôi có những yếu tố để có thể thẩm định về Hiệu Quả Chương Trình của McCAIN vì đây là Chương Trình mà người ta thấy rõ rệt công việc và hướng chi tiêu. Chúng ta thấy Chương trình của McCAIN quy tụ vào một công trình rõ rệt hơn, nhất là hướng công trình toàn diện vào những hậu quả Kinh tế. Năng lượng là yếu tố cốt lõi động cơ của nền Kinh tế. Tong khi đó, Chương trình của OBAMA thiên về lãnh vực Xã hội, nghĩa là không quy tụ mũi dùi chính yếu về lãnh vực kinh tế. Những lãnh vực như đường sá và cầu cống, thì Hoa kỳ đã được mở mang, nên việc tiêu dùng vốn không mấy cần thiết.
Riêng về Chương trình của OBAMA, vì thời ấy mới chỉ được tuyên bố mà chính Nhật Báo LE MONDE cũng chưa biết rõ chi tiết. Báo LE MONDE Mercredi 26.11.2008, trang 12, viết: “Il était attendu sur son “plan de relance”, mais refusé d’en préciser les détails à ce stade” (Người ta đợi Oâng nói về “chương trình phát động”, nhưng Oâng đã từ chối không nói rõ về những chi tiết ở giai đoạn này.”
Ngày nay, sau sáu th&aacu |
|
|
|