|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN ----------------------------------------------------------NHAN QUYEN/DAN CHU =============================================================== |
DÂN CHỦ LÀ CÁCH SỐNG ỔN ĐỊNH
Ngô Nhân Dụng
Các chế độ cộng sản thường viện lẽ cần bảo vệ ổn định xã hội nên phải độc tài. Như thế nào gọi là ổn định? Nhìn vào cảnh những nông dân Việt Nam khiếu kiện về đất đai, những vụ đình công ngoài vòng pháp luật ở Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Hải Phòng, không thấy gì ổn định. Nhưng bên Trung Quốc gần đây các cuộc biểu tình ôn hòa đã biến thành bạo động nữa. Khẩu hiệu “xã hội hài hòa” của ông Hồ Cẩm Ðào không thể hiện được, khi nào xã hội còn đầy tham nhũng, bất công. Nhưng thiếu sót lớn nhất là không có những phương tiện bình thường, giản dị để người dân được lên tiếng nói.
Trong tỉnh Quảng Ðông phát triển nhanh nhất Trung Quốc, hàng ngàn công nhân thất nghiệp đã kéo nhau tới trước các hãng xưởng mới đóng cửa. Họ đến đòi chủ nhân phải trả hết số lương còn thiếu. Khi nhiều xí nghiệp quịt lương của nhân viên, mối liên hệ giữa con người với con người có được hài hòa hay không? Ở các nước tư bản thật sự, các chủ nhân không dám làm như vậy vì còn có pháp luật. Khi nhân viên ở một nước cộng sản mất việc mà không thể trông cậy vào hệ thống pháp luật để đòi tiền lương còn thiếu, khi họ phải tự mình kéo thành đám đông đi biểu tình đòi nợ, như vậy thì xã hội có sống trong nền nếp ổn định hay không? Ở Thẩm Quyến vào đầu Tháng Mười Một 2008, dân chúng biểu tình bạo động sau khi cảnh sát ở một trạm canh giết một thanh niên lái xe gắn máy cãi lệnh. Ở một thành phố khác cũng trong tỉnh Quảng Ðông, mười ngày sau lại xẩy ra một vụ tương tự, dân cũng biểu tình. Tại sao họ không đợi nhà chức trách điều tra những vụ giết người, mà phải biểu tình bạo động? Tại sao một vụ vi phạm luật giao thông mà cũng dẫn tới cảnh chết người? Nếu những chuyện như vậy năm thì mười họa mới xẩy ra thì hiểu được. Nhưng chỉ trong vòng 10 ngày trong cùng một tỉnh có tới hai vụ thì xã hội này có nếp sống đầy bạo lực!
Mỗi năm ở Trung Quốc có hàng trăm ngàn cuộc biểu tình với số lượng lớn từ hàng trăm người trở lên. Chính phủ Bắc Kinh đã mở cửa cho phép các báo, đài nhà nước loan tin về các cuộc biểu tình này, vì họ biết rằng không thể bịt miệng dân mãi được. Các mạng lưới điện tử đã đóng vai thúc đẩy đảng cộng sản phải nới lỏng chế độ kiểm duyệt tin tức. Vì họ biết nếu nhà nước không loan tin thì dân chúng sẽ được nghe các nguồn tin khác. Cho nên chính sách của đảng cộng sản hiện giờ là “kiểm duyệt tin bằng cách loan tin trước.”
Cho nên chúng ta mới biết ở thành phố Trùng Khánh, hàng trăm tài xế taxi đã biểu tình phản đối cảnh sát dung túng cho những chiếc xe taxi “lậu” cướp khách của họ. Chính quyền thành phố phải họp mặt với đại diện các tài xế suốt ba giờ. Ở nhiều nơi khác giới lái taxi cũng đình công hưởng ứng. Các người lái taxi phản đối nạn tham nhũng và sự thông đồng giữa nhà nước cộng sản và các chủ nhân cho thuê xe chạy taxi bóc lột giới tài xế. Nhiều chiếc xe taxi bị phá vì tài xế không tham dự cuộc đình công, cho thấy người ta sẵn sàng gây bạo động.
Ngày 8 tháng 11 ở Bắc Kinh, hơn 400 người biểu tình trước tòa thị chính để phản đối một cuộc “lạc quyên” lừa bịp. Tân Hoa Xã loan tin như vậy, chỉ khiến người đọc thắc mắc thêm. Tại sao bị kẻ gian lừa bịp mà lại đem nhau tới tòa đô chính phản đối? Ai lạc quyên? Họ nhân danh đảng và nhà nước ở cấp thành phố hay trung ương khi yêu cầu dân đóng góp? Ðể làm gì? Những ông lớn nào dính líu? Không ai biết.
Vụ biểu tình đang được cả thế giới chú ý là người dân ở thị xã Lũng Nam, tỉnh Cam Túc. Bản tin của nhà nước cộng sản cho biết hàng ngàn người đã biểu tình, và chỉ loan tin có 60 cảnh sát viên bị dân đánh. Nhưng những nguồn tin độc lập nêu lên con số mười ngàn người, với nhiều biến chuyển rõ hơn.
Vụ biểu tình ở Lũng Nam bắt đầu với 30 người dân “khiếu kiện về đất đai,” một lý do thông thường nhất, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay. Những người này đã nộp đơn khiếu oan từ năm 2006 vì chính quyền chiếm đất không bồi thường thỏa đáng; ngày Thứ Hai vừa qua họ lại “biểu tình hâm nóng” nỗi oan khuất để nhắc nhở nhà nước khỏi quên. Qua ngày hôm sau, có thêm khoảng 2,000 người dân khác tới dự biểu tình, và vấn đề được nêu lên đã thay đổi. Người ta phản đối chính quyền thị xã Lũng Nam đã quyết định đổi nơi thiết lập “trụ sở ủy ban nhân dân” sau trận động đất cũ. Người biểu tình đã đánh lại công an, cảnh sát bằng gậy sắt, xích sắt; ném đá, ném gạch, ném cả chậu cây kiểng vào đám công an; chiếm một xe cứu hỏa, đốt các xe hơi khác của công an, đốt cả xe đạp và xe gắn máy; dân cũng kéo tới đập vỡ cửa kính trụ sở nhà nước và chiếm cả một văn phòng trong một ngày. Số người biểu tình lên tới 10,000 người, theo nguồn tin của Asia News.
Cuộc biểu tình ở Lũng Nam đông người vì nông dân ở các làng mạc chung quanh cũng kéo về tham dự, mỗi nhóm người đến với những khẩu hiệu, những nỗi oan ức và yêu sách mới. Một người Trung Hoa nói với nhà báo: “Tôi trước là cán bộ nhà nước, nhưng nay tôi ủng hộ người dân.”
Ngày Thứ Tư, cuộc biểu tình đã bị đàn áp và chính quyền tuyên bố tình trạng giới nghiêm trong thành phố 2 triệu 6 dân và Tân Hoa Xã báo tin “tình hình đã ổn định!” Nhưng trong thành phố còn nhiều đám khói bốc lên.
Vì đâu một cuộc biểu tình “bình thường” của 30 người dân mất đất khiếu kiện (đã kéo dài từ 2 năm nay) bỗng nhiên biến thành vụ bạo động khiến hàng trăm người dân bị bắt? Nguyên nhân chính được nêu lên là dân chúng phản đối việc chính quyền đổi địa điểm trụ sở huyện Võ Ðô từ thị xã Lũng Nam tới một thành phố khác, trong kế hoạch xây dựng lại sau vụ động đất vào tháng Năm vừa qua.
Cuộc động đất ở Tứ Xuyên hồi Tháng Năm lan sang tới huyện Võ Ðô, tiếp theo lại một trận động đất vào ngày 21 tháng 6, tất cả khiến cho gần 2 triệu người trong huyện mất nhà cửa. Lấy lý do vùng này có thể bị động đất nữa, chi đảng cộng sản địa phương quyết định dời trụ sở ủy ban nhân dân huyện từ Lũng Nam đi nơi khác.
Tại sao dân chúng lại phản đối quyết định dời địa chỉ của trụ sở nhà nước? Lý do chắc không đơn giản. Cuộc biểu tình biến thành bạo động cho thấy phải có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn khác, nhiều nỗi phẫn uất được tích tụ từ bao năm, chỉ chờ dịp bùng nổ. Trên các mạng lưới nhiều người than thở rằng dân chúng huyện Võ Ðô đã khổ vì các cán bộ cộng sản tham nhũng cửa quyền, những vụ chiếm đất không bồi thường đầy đủ trong bao nhiêu năm qua. Cam Túc là một tỉnh vùng biên cương, tiếp giáp với vùng Tây Vực, có nhiều nhóm dân thiểu số bị người Hán cai trị; cũng là tỉnh đã diễn ra những cuộc biểu tình của người Tây Tạng trong Mùa Hè vừa qua.
Quyết định dời trụ sở huyện có thể đúng, có thể sai, người ngoài không biết được nguyên ủy. Nhưng khi những người dân bị ảnh hưởng của quyết định trên đã bầy tỏ ý kiến phản đối bằng cách bạo động, chúng ta thấy chắc các cán bộ đã quyết định đơn phương và bất ngờ, dân không được hỏi ý kiến. Cách cai trị của đảng cộng sản không bao giờ minh bạch, công khai. Mỗi chi bộ đảng cộng sản là một “hội kín,” họ quyết định gì cũng chỉ có họ biết với nhau, đó là nguyên nhân chính tạo ra những bất mãn chồng chất.
Người dân thì lúc nào cũng nghi ngờ cán bộ quyết định điều gì đều vì quyền lợi của chính họ. Mỗi quyết định lớn đều tạo ra cơ hội tham nhũng, việc dời trụ sở huyện Võ Ðô hay mở rộng thủ đô Hà Nội đều có những lý do chấm mút cả. Khi trụ sở huyện đổi chỗ, khi đất thành phố được quy hoạch lại, giá nhà ở nơi cũ sẽ xuống giá, địa điểm mới sẽ lên giá! Các quan chức nào được ăn nhiều trong các kế hoạch đó?
Khi cán bộ đảng ở Lũng Nam giải thích rằng họ phải đổi địa điểm cơ quan nhà nước vì Lũng Nam ở trong vùng động đất, người dân đã hỏi lại rằng nếu lo động đất thì tại sao không cho cả 2.6 triệu người dân đổi địa chỉ theo? Ðây là một câu hỏi cho thấy dân không tin tưởng vào bất cứ lời giải thích nào nữa. Một người dân Lũng Nam đã than với nhà báo rằng bà ta thuộc lớp người nghèo, trụ sở huyện thay đổi thì bà ta cũng không được, không mất gì cả. Nhưng, bà vẫn thấy, “Khi trụ sở huyện còn ở đây thì dù tôi không có việc làm cũng vẫn đi mót rác được, đủ cơm ăn. Bây giờ họ đổi trụ sở huyện đi nơi khác, tìm đâu ra rác nữa để mà mót?” Bà than: “Bây giờ còn có cơm ăn, mai mốt sẽ phải ăn bắp trừ cơm thôi!”
Cuộc biểu tình bạo động ở Lũng Nam chỉ là một trong hàng trăm ngàn cuộc phản đối của nhân dân Trung Hoa đối với chính quyền cộng sản. Một chế độ như thế không thể coi là ổn định được. Các nước cộng sản như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn đều là những thùng thuốc nổ chỉ lo sẽ có lúc bùng lên. Lý do chính là vì người dân không được hưởng những quyền tự do tối thiểu: Tự do báo chí để được phát biểu ý kiến bất đồng; tự do hội họp để cùng nêu lên những ý kiến chung. Tóm lại là chưa có tự do dân chủ.
Một đặc tính thiết yếu của chế độ dân chủ là người dân được góp ý kiến trong những quyết định liên can tới đời sống của họ, chuyện nhỏ cũng như chuyện lớn.
Người dân các nước như Pháp, Canada, Mỹ đều chấp nhận phải có một nhóm người cầm quyền bính và quyết định thay cho mình; về những công việc chung, như xây cầu, làm đường, tăng thuế hay giảm thuế. Không người dân nào đòi tự mình quyết định lấy tất cả mọi việc.
Nhưng nếu có người thấy chính quyền “làm bậy” thì sao? Thí dụ, nếu ông, bà thị trưởng phá bỏ một công viên để làm trường học, hoặc ông tổng thống định làm thêm hai hàng không mẫu hạm nữa, mà người dân không đồng ý thì sao? Ở một nước tự do dân chủ người ta có quyền nói: Chúng tôi chống dự án này. Có quyền kêu gọi những ai đồng ý với mình cùng lên tiếng nói, có khi lên tiếng với tư cách một đảng đối lập. Nói mãi mà chính quyền vẫn làm trái ý mình thì sao? Thì đến kỳ bầu cử tới mình sẽ bỏ phiếu chống, và hô hào mọi người chống bà thị trưởng hoặc ông tổng thống “ngu dốt” hoặc tham nhũng này.
Người ta không cần phải bạo động để bầy tỏ ý kiến. Ðó là đặc tính của thể chế dân chủ. Lý do là vì người ta biết có thể thay đổi chính quyền, thay đổi xã hội chung quanh mình bằng lá phiếu. Trong các nước dân chủ lâu lâu cũng xẩy ra những cuộc biểu tình bạo động. Nhưng đó là những biến cố họa hiếm, khi có những xúc động mạnh bị dồn nén lâu ngày cần bùng nổ ra, có lý do chính đáng hoặc không chính đáng.
Còn ở các nước độc tài thì những cuộc biểu tình bạo động xẩy ra rất nhiều. Chính vì những người dân ở đó không có cơ hội phát biểu các ý kiến trái ngược với ý nhà nước. Ðến khi người dân không chịu nổi sự áp bức nữa, thì chỉ còn cách là bạo động. Cho nên chính thể chế dân chủ tự do mới bảo đảm cho xã hội được ổn định, hòa bình trong lâu dài.
TÁC GIẢ NGHỊ QUYẾT LIÊN ÂU BÌNH LUẬN
Tác giả Nghị quyết của Nghị viên Châu Âu phản biện quan điểm của Bộ ngoại giao VN Trà Mi, phóng viên đài RFA 2008-10-29
Ngay sau khi Nghị Viện Châu Âu thông qua Nghị Quyết đề nghị Ủy Ban và Hội Đồng Châu Âu đặt tình trạng nhân quyền của Việt Nam làm điều kiện để tiếp tục ký kết Hiệp Ước Hợp Tác với Hà Nội, Bộ Ngoại Giao Việt Nam lập tức lên án Nghị Quyết này là sai trái, làm ảnh hưởng mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và các nước thuộc khối Liên Minh Châu Âu.
Ông Marco Cappato, thành viên Quốc Hội Châu Âu.
Phản hồi của những người ra Nghị Quyết ra sao? Trà Mi ghi nhận qua cuộc phỏng vấn ông Marco Cappato, thành viên Quốc Hội Châu Âu, là tác giả chính của Nghị Quyết vừa được Nghị Viện Châu Âu thông qua hôm 22/10/2008.
Tôi cho rằng với chúng tôi, điều quan trọng là mối quan hệ đối với người Việt Nam. Nói thẳng ra, những gì quốc tế đang kêu gọi là vì quyền lợi của chính nhân dân Việt Nam, dĩ nhiên nó có thể trái ý với bộ máy cầm quyền Hà Nội.
Ông Marco CappatoTrước tiên, ông Cappato trình bày nguyên nhân của Nghị Quyết:
Tầm quan trọng của Nghị Quyết
Ông Marco Cappato: Mọi việc bắt đầu khi tôi và ông Marco Pannella thuộc đảng Cấp Tiến chủ trương bất bạo động của Italy yêu cầu Tiểu Ban về Nhân Quyền trong Quốc Hội Châu Âu trình bày các đánh giá của họ về thực trạng nhân quyền tại Việt Nam, vào khi một hiệp ước mới về hợp tác mậu dịch giữa Liên Minh Châu Âu với Việt Nam sắp được ký kết.
Đáng tiếc rằng chúng tôi nhận được nhiều nguồn thông tin về vi phạm nhân quyền của chính phủ Hà Nội trong khi Liên Minh Châu Âu ngày càng ít lưu tâm đến thực trạng nhân quyền tại Việt Nam, mà tình hình thực tế lại không có dấu hiệu nào cải thiện, ngược lại, còn có chiều hướng tệ hơn, cụ thể như các quyền tự do tôn giáo, tự do bày tỏ quan điểm của người dân tại Việt Nam.
Trong phiên họp toàn thể của Nghị Viện Châu Âu, đảng cực hữu chúng tôi cũng đã yêu cầu Ủy Ban Châu Âu và nước chủ tịch luân phiên của Hội Đồng Châu Âu hiện giờ là Pháp cập nhật thông tin về tiến trình của các cuộc thương thuyết ký kết Hiệp Ước Hợp Tác với Việt Nam.
Dựa trên tất cả các cơ sở đó, chúng tôi quyết định soạn thảo Nghị Quyết về quan hệ giữa EU và Việt Nam, trình ra trước Nghị Viện, và đã được thông qua với tỷ lệ áp đảo là 479 phiếu thuận, 21 phiếu chống, và 4 phiếu trắng.
Trà Mi: Xin ông cho biết tầm quan trọng của Nghị Quyết này ra sao, thưa ông?
Ông Marco Cappato: Trong nội dung các Hiệp Ước Hợp Tác Kinh Tế và Mậu Dịch giữa Liên Minh Châu Âu với các nước, luôn luôn có điều khoản về nhân quyền, ghi rõ rằng các thỏa thuận có thể bị đình hoãn hoặc thậm chí bị hủy bỏ, nếu có các vi phạm về nhân quyền. Đáng tiếc là chưa có một cơ chế giúp bảo đảm điều khoản này được thi hành cụ thể trong thực tế.
Vì vậy, nhân tiến trình các cuộc thương lượng ký kết Hiệp Ước Hợp Tác mới giữa EU và Việt Nam đang diễn ra, chúng tôi đề nghị với Hội Đồng và Ủy Ban Châu Âu nên áp lực Việt Nam cải thiện nhân quyền trước khi muốn hoàn tất việc ký kết này.
Ý nghĩa quan trọng của Nghị Quyết này chính là Nghị Viện Châu Âu đã chính thức lên tiếng rõ ràng, đặt điều kiện với đôi bên tham gia ký kết phải xem xét đến việc cải thiện nhân quyền của Hà Nội trước khi bàn đến sự hợp tác.
Sẽ rất thú vị nếu như họ đưa ra được những thông tin hoặc những bằng chứng xác thực chứng minh điều ngược lại. Những gì chúng tôi nêu lên trong Nghị Quyết dựa trên các thông tin từ giới ngoại giao quốc tế, các tổ chức NGO trên thế giới, và cả từ các nhân chứng trực tiếp.
Những yêu cầu cụ thể được liệt kê trong Nghị Quyết bao gồm nhà nước Việt Nam phải hợp tác tích cực với các cơ quan nhân quyền của Liên Hiệp Quốc bằng cách cho phép các đặc sứ vào quan sát thực trạng, cho phép các tổ chức tôn giáo độc lập được tự do tiến hành các sinh hoạt tín ngưỡng mà không bị sự can thiệp, điều khiển của nhà nước, hủy bỏ các luật định hình sự hóa những ý kiến bất đồng, cũng như phóng thích các tù nhân chính trị và tôn giáo.
Vai trò của Nghị Viện Châu Âu
Trà Mi: Để những yêu cầu này là điều không thể chối cãi đối với chính quyền Hà Nội thì Nghị Viện Châu Âu đóng vai trò ra sao, thưa ông?
Ông Marco Cappato: Quốc Hội Châu Âu về mặt nào đó, có vai trò độc lập hơn Ủy Ban và Hội Đồng Châu Âu, dù chúng tôi không có quyền khiến những điều trong Nghị Quyết này được thi hành vào thực tế, nhưng điều đáng nói là khi các thành viên trong Quốc Hội Châu Âu được thông tin đầy đủ, thì đa số đã nhận rõ được thực trạng nhân quyền tại Việt Nam, mà bằng chứng là số phiếu ủng hộ thông qua Nghị Quyết này áp đảo gấp mấy chục lần số phiếu chống.
Nghị quyết của Nghị viện Châu Âu về các mối quan hệ hợp tác với Việt Nam.
Trà Mi: Ngay khi Nghị Quyết này được thông qua, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã lên tiếng tố cáo đó là một việc làm sai trái, đặt ra với những điều kiện không có căn cứ làm ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và Liên Minh Châu Âu. Ý kiến của ông ra sao?
Ông Marco Cappato: Tôi cho rằng với chúng tôi, điều quan trọng là mối quan hệ đối với người Việt Nam. Nói thẳng ra, những gì quốc tế đang kêu gọi là vì quyền lợi của chính nhân dân Việt Nam, dĩ nhiên nó có thể trái ý với bộ máy cầm quyền Hà Nội, nhưng những gì chúng tôi làm không hề mang mục đích như cái gọi là chống đối “kẻ thù”, mà là giúp họ cải thiện. Và nếu như họ thật sự cải thiện thì chúng tôi sẽ là những quốc gia tiên phong công nhận những thành tích ấy và thay đổi cách nhìn đối với nhà cầm quyền Việt Nam.
Dĩ nhiên thái độ phản ứng của chính quyền Hà Nội là điều chúng ta có thể đoán biết trước, nhưng tôi thật lòng hy vọng rằng sau phản ứng tức thời này, họ sẽ suy ngẫm lại kết quả mà toàn bộ Nghị Viện chúng tôi đã bỏ phiếu thông qua, hoặc chí ít là đáp ứng một vài những mối quan tâm chính yếu của chúng tôi. Còn như ngược lại, tôi cho rằng quan điểm và cách nhìn của quốc tế về tình hình nhân quyền tại Việt Nam sẽ chẳng thể thay đổi được.
Thực trạng nhân quyền tại Việt Nam
Trà Mi: Thế nhưng Bộ Ngoại Giao cho rằng những lời tố cáo này không phản ánh đúng tình hình ở Việt Nam. Vậy làm thế nào có thể chứng minh sự lên án đó là dựa trên các căn cứ thực tế đáng tin cậy?
Ông Marco Cappato: Sẽ rất thú vị nếu như họ đưa ra được những thông tin hoặc những bằng chứng xác thực chứng minh điều ngược lại. Những gì chúng tôi nêu lên trong Nghị Quyết dựa trên các thông tin từ giới ngoại giao quốc tế, các tổ chức NGO trên thế giới, và cả từ các nhân chứng trực tiếp.
Ví dụ như, nhà cầm quyền Hà Nội chỉ đưa ra lời nói phủ nhận các vấn đề nhân quyền tại Tây Nguyên, nhưng tại sao họ lại không cho phép quốc tế được tự do tiếp cận khu vực để đánh giá và tìm hiểu tình hình? Hoặc khi các trường hợp bị đàn áp, với đầy đủ chi tiết về tên tuổi nạn nhân, ngày giờ bắt bớ được nêu rõ, tại sao nhà nước Việt Nam không đưa ra các bằng chứng thuyết phục để phản hồi, để lý giải cụ thể, nếu cho rằng thông tin đó không xác thực?
Tóm lại, lời tuyên bố của Bộ Ngoại Giao chỉ là luận điệu tuyên truyền của nhà nước Việt Nam, những lý luận hoàn toàn không có cơ sở thuyết phục.
Khi một nhà nước đàn áp quyền của người dân, cầm tù những tiếng nói bất đồng thì họ giải thích như thế nào đây? Đấy có phải là văn hóa, là lối sống của người Việt Nam chăng? Tôi không nghĩ vậy, mà theo tôi, đó đơn giản chỉ là những hành động của giới cầm quyền đàn áp, sách nhiễu nhân quyền của người dân Việt Nam mà thôi.
Ông Marco CappatoTrà Mi: Ngược lại, Hà Nội tố cáo các nước phương Tây đang lợi dụng chiêu bài “nhân quyền” để can thiệp vào chuyện nội bộ của Việt Nam, đồng thời khẳng định rằng không một quốc gia nào có quyền áp đặt cái gọi là “khuôn mẫu nhân quyền” của họ lên nước khác. Ông sẽ phản hồi như thế nào?
Ông Marco Cappato: Điều này có thể đúng cách đây hàng trăm năm trước, khi nhân loại chưa có những tiêu chí toàn cầu về quyền con người. Đồng ý rằng không có gì tuyệt đối, không có dân chủ tuyệt đối mà cũng không có độc tài tuyệt đối. Ở nước Ý của tôi cũng có thể có vài vấn đề về nhân quyền và luật pháp.
Cho nên chẳng bao giờ có chuyện rằng quốc gia nào đưa ra một khuôn mẫu làm bài học cho quốc gia nào cả, nhưng ở Việt Nam có những sự vi phạm nhân quyền và dân chủ nghiêm trọng một cách có hệ thống, những quyền căn bản của con người được cả thế giới công nhận qua các Hiệp Ước Quốc Tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Khi một nhà nước đàn áp quyền của người dân, cầm tù những tiếng nói bất đồng thì họ giải thích như thế nào đây? Đấy có phải là văn hóa, là lối sống của người Việt Nam chăng? Tôi không nghĩ vậy, mà theo tôi, đó đơn giản chỉ là những hành động của giới cầm quyền đàn áp, sách nhiễu nhân quyền của người dân Việt Nam mà thôi.
Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn ông Marco Cappato đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn đặc biệt này.
| | | |
CHO DÂN TRỰC TIẾP BẦU CHỦ TỊCH XÃ TRÒ LỪA MỚI CỦA VIỆT CỘNG LÝ ĐẠI NGUYÊN
Trên trang Chính Trị Xã Hội trong báo Người Lao Động của Viê.tcộng, đề ngày 24-08-2008, đăng bài của tác giả Thái An với đề tài: “Thí điểm bầu trực tiếp Chủ Tịch Xã từ năm 2009. Bước Đột Phá Để Mở Rộng Dân Chủ Cơ Sở. Đề án thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận , huyện, phường và thí điểm nhân dân bầu trực tiếp chủ tịch UBND xã đang được Bộ Nội Vụ soạn thảo, để thực hiện thí điểm từ năm 2009, sau khi HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 kết thúc. Đề án thực sự là bước đột phá trong đổi mới tư duy, tầm nhìn, hành động và là bước tiến lớn trong việc mở rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở”. Theo cơ chế của nhà nước Viê.tcộng hiện nay, thì các cấp tỉnh, quận, huyện, phường, xã đều có Hội Đồng Nhân Dân để bầu ra và kiểm soát chủ tịch và Ủy Ban Nhân Dân. Nhưng đứng trên đầu 2 cơ chế này là Đảng Ủy và Viên Bí Thư đầy quyền lực, ở mọi cấp, mà vô trách nhiệm về mặt hành chánh và luật pháp nhà nước.
Đây là cái gốc của việc lạm quyền, tham nhũng, hà hiếp, đàn áp, bóc lội người dân lành Viê.tnam khốn khổ. Cảnh Dân Oan hiện nay, đểu do đơn vị hành chánh cấp xã thực hiện theo chỉ thị từ thượng cấp. Chính vì vậy, mà lâu nay, các nước như Thụy Điển có thiện chí, muốn cố vấn và tài trợ cho Viê.tcộng cải tổ hệ thống hành chánh trì trệ, thối nát, tùy tiện, thảy đều bất lực, đành chào thuạ Nay, Viê.tcộng muốn làm một bước đột phá cho dân bầu trực tiếp người điều hành cơ sở gốc của Quốc Gia là vị đứng đầu xã, và guồng máy hành chánh Làng Xã ở nông thôn và Thị Xã ở đô thi.. Giống như ỏ Hoakỳ và các nước Dân Chủ thành nếp sống lâu đờị Chính nơi đây, người dân mới ý thức và cảm nhận được quyền làm chủ xã hội và đất nước của mình. Mình thực sự biết rõ để chọn ra và kiểm soát những người điều hành Làng Xã, Thị Xã để đề ra những công việc cụ thể do nhu cầu của dân địa phương, và thực hiện luật lệ cũng như các chính sách nhà nước một cách nghiêm minh, nhằm phục vụ quyền lợi cả tinh thần, lẫn vật chất cho chính người dân, chứ không vì quyền lợi của kẻ thống trị, đảng phái cầm quyền, hoặc tôn giáo toàn thống. Đây mới là nền Dân Chủ Trực Tiếp, từ đó ý thức dân chủ trưởng thành để người dân đủ trình độ sáng suốt chọn bầu ra các thành phần lãnh đạo quốc giạ Đây là đường hướng xây dựng thể chế dân chủ đi từ gốc lên trên. Còn các cuộc gọi là cách mạng thì ưu tiên đoạt chính quyền trung ương, rồi mới thực hiện các lý tưởng này, nọ, hoặc thi hành xây dựng dân chủ. Tức là đi từ ngọn xuống, nên thường thì chẳng bao giờ tới được gốc, vì dễ rơi vào thế chuyên chế. Riêng với chủ trương của Quốc Tế Cộng Sản thì họ tự nhận họ thuộc chế độ Vô Sản Chuyên Chính. Họ chỉ vì quyền lợi của Nhân Dân Lao Động, không vì lợi ích của Người Dân Mỗi Nước. Đó là trên lý thuyết, còn thực tế, khi Cô.ngđảng cướp được chính quyền ở Ngạ ở Tầu, ở Việt… thì những lãnh tụ trở thành Vị Vua cực quyền. Đảng trở thành Giai Cấp Thống Trị, Nhân Dân Lao Động và Toàn Dân đều trở thành những tên Nô Lệ Khổ Sai, Trí Thức bị hèn hóa chỉ biết phục vụ cho ý muốn hoang tưởng và quyền lợi của lãnh tụ và cô.ngđảng. Đó là nguyên nhân nội tại, tương tác với duyên ngoại lai của chiến lược Mỹ, tạo ra cảnh huynh đệ tương tàn, làm cho Quốc Tế Cộng Sản sụp đổ.
Cô.ngsản Tầu, Cô.ngsản Việt tuy đã đầu hàng Tưbản, nhưng không dám thực hiện dân chủ đúng nghĩa, chỉ muốn đổi từ cộng sản bao cấp thành tư bản bóc lột, để được nhận vào kinh tế thị trường. Vì muốn có những thị trường nhân dụng rẻ tiền, nên tư bản các nước kỹ nghệ cũng hăm hở đổ vốn đầu tư vào làm ăn, và mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa cho hàng của Tầu, Việt nhập cảng. Thế nhưng vì lợi nhuận lâu dài của giới tư bản và vị thế chiến lược của Mỹ và các cường quốc Dân Chủ, họ vẫn dùng áp lực Nhân Quyền để buộc các nước còn duy trì cơ chế độc đảng độc tài như Tầucộng, Viê.tcộng phải tuân thủ những đòi hỏi thực tế của ho.. Đồng thời từng bước phải thay đổi chế độ và luật pháp cho hợp với nhu cầu kinh tế thị trường toàn cầu hóạ Vì nguyên tắc phát triển của kinh tê thị trường là phải Dân Chủ Hóa Chế Đô.. Có như vậy người dân ở các nước Dân Chủ Tự Do mới trở thành khách hàng tiêu thụ sản phẩm của kỹ nghệ tư bản, và những Quốc Gia đó mới đủ khả năng tài chánh để trang bị kỹ thuật cao của Mỹ trong sản xuất và phòng thủ đất nước. Chính vì vậy mà mấy năm gần đâỵ Hoakỳ đã tài trợ cho Tầucộng tổ chức bầu cử trực tiếp tại một số thí điểm Xã Ấp. Nhưng Tầucộng đã lươn lẹo, không cho bầu cử trực tìếp ở đơn vị Hành Chánh Gốc là Xã, mà chỉ cho bầu các Trưởng Thôn, Trưởng Ấp. Xã vẫn nằm trong hệ thống tham nhũng của các cấp ủy đảng. Bởi vậy các Trưởng Thôn, Trưởng Ấp do dân bầu mới vì quyền lợi của dân, tổ chức các cuộc biểu tình đòi quyền sống, mà mỗi năm có tới hàng Trăm Ngàn vụ xẩy ra ở Trungcô.ng.
Nay Viê.tcộng đi xa hơn Tầucộng một bước, là dự định cho dân bầu trực tiếp Chủ Tịch Xã, người cầm đầu Ủy Ban Nhân Dân Xã. Tức là đơn vị Hành Chánh Gốc của Nhà Nước. Định bỏ các Hội Đồng Nhân Dân Xã, Phường, Huyện, Quận, mà chỉ tăng cường thành phần HĐND tỉnh, và thành phố trực thuộc Trung Ương. Nhưng xem ra Cô.ngđảng vẩn duy trì thứ Đảng Ủy và Viên Bí Thư Xã để nắm đầu Chủ Tịch Xã và Ủy Ban Nhân Dân Xã. Rồi trao cho Mặt Trận Tổ Quốc đứng ra tổ chức bầu cử theo công thức bầu bán lạc hậu “Đảng Cử Dân Bầu”. Như vậy dù dân có bầu ra Chủ Tịch Xã thì vẫn bị thứ cơ chế Đảng Lãnh Đạo, Nhà Nước Quản Lý và Dân vẫn Làm Mọi như xưạ Đây là một trò bịp lớn, không chỉ bịp toàn dân Việt, mà bịp luôn cả Mỹ, bịp toàn thể dư luận quốc tế.
Việc Người Dân trong Xã trực tiếp bầu Xã Trưởng và 4 hoặc 6 Nghị Viên Xã để quyết định đường lối và điều khiển hệ thống hành chánh xã là đúng với nhu cầu, và đòi hỏi của Nền Dân Chủ Trực Tiếp, mang tính thời đạị Lại rất hợp với truyền thống Dân Tộc đã có từ ngàn xưạ Đây là nguyên tắc “Phép Vua Thua Lệ Làng” trong hành trình bảo vệ tinh thần độc lập của Dân Tộc trước sức khống chế của các Đế Quốc, bắt Vua ta phải xưng thần, triều cống và nghe lê.nh. Vì biết cách tổ chức đơn vị Làng Xã Tự Quản, nên thời bình dù Vua có bị xưng thần, thì dân vẫn nuôi được tinh thần Độc Lâp, thời chiến Làng Xã là đồn lũy chiến đấu trường kỳ. Dân Tộc Việt nhờ đó mới thoát khỏi một ngàn năm bị người Tầu đồng hóa, và một trăm năm bị Thực Dân Pháp cải hóạ Nhưng rồi chính Hồ Chí Minh và Viê.tcộng đã tiêu diệt tận gốc rễ hệ thống Làng Xã Tự Quản, qua việc nhận lệnh Nga, Tầucộng thực hiện Cải Cách Ruộng Đất. Rồi cấy vào đó thứ “Chi Bộ Cộng Sản Xã”. Sau đó Viê.tcộng theo Nga thì bắt toàn dân phải thờ Nga, theo Tầu thì buộc toàn dân nô lệ Tầụ Nay, Viê.tcộng nếu muốn chuộc trọng tội đó với Dân Tôc và Toàn Dân thì nên khởi sự bằng việc tự hủy bỏ hệ thống Đảng Ủy tại Làng Xã, Thị Xã. Nghiêm chỉnh tổ chức một cuộc bầu cử thật sự tự do, công bằng, vô tư, trong sáng. Trao cho thành phần dân sự ngoài đảng, chính quyền và MTTQ, đứng ra tổ chức bầu cử tại Làng Xã, Thị Xã. Tập thể có nhân sự và khả năng làm việc đó ở Viê.tnam hiện nay là các Trường Đại Học. Vì sinh viên chỉ trong ngắn ngày là có thể học hiểu luật, phương pháp vận động, tổ chức bầu cử. Rồi từng nhóm trên mươi người do một Giáo Sư hướng đẫn về từng Làng Xã, Thị Xã tiến hành bầu cử. Chỉ có thế người dân mới tin tưởng, người được bầu ra mới thấy mình không bị thượng cấp ban ơn và lệ thuộc ho.. Lúc đó chỉ biết có quyền lợi của dân và pháp luật của Quốc Gia Dân Chủ.
Little Saigon ngày 26-08-2008.
HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI AI VÀ CÁI GÌ ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Cách đây chừng hai năm, nhiều chính khách xu thời đã nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp. Nhìn thấy tính cách xu thời mong nhẩy bàn độc, nhiều Vị đã lên tiếng nói rõ rằng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là lá đơn van xin làm bồi cho CSVN vì chính CSVN không nêu ra vấn đề ấy và vì tâm địa cố hữu của CSVN là ngoan cố bấu víu chặt lấy quyền độc tài độc đảng. Chúng tôi cũng đã viết nhiều về vấn đề này.
Trong tuần vừa rồi, tôi đọc bài của Oâng NGUYỄN TƯỜNG LONG mang đầu đề HÒA GIẢI LÀ MỘT NHU CẦU CÓ THẬT. Tôi cũng có đọc những ý kiến của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH về Hòa Giải Hòa Hợp.
Đối với vấn đề này, lập trường của chúng tôi được bầy tỏ qua hai câu hỏi: 1) Ai hòa hợp hòa giải với ai ? 2) Hòa hợp hòa giải về cái gì ?
Nếu không trả lời chính xác cho hai câu hỏi ấy, thì vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tung ra để che đậy những mưu mô khác.
AI HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI ?
Khi nói hòa hợp hòa giải là nói đến hai lực lượng tranh đấu, dành dựt một cái gì mà dai dẳng không phân thắng bại để tổn thương nguy hại đến cả hai lực lượng. Vì vậy hai bên ngồi lại thảo luận với nhau để chia chác điều mà mình đang dằng co. Nếu chia phần cho đều, thì hai lực lượng tạm yên đánh nhau.
Nếu hiểu Hòa Giải Hòa Hợp là giữa Quốc gia và Cộng sản thì không trúng bởi lẽ người Quốc gia không dành dựt cái điều mà CSVN đang nắm giữ. Trở lại về nguyên thủy cuộc đấu tranh Quốc-Cộng, người Quốc gia đứng ở vị trí bảo vệ Tự do, Nhân quyền, còn người Cộng sản dùng võ lực đến chiếm quyền để đặt để Độc tài độc đảng, không cho Tự do và chà đạp Nhân quyền. Vì vậy người Quốc gia không đi dành dựt chiếm hữu, lấy cho mình cái quyền Độc tài, tiêu diệt Tự do, chà đạp Nhân quyền như Cộng sản. Một bên là tự vệ, một bên là xâm lăng ăn cướp. Vì vậy nói người Quốc gia đi Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN là không trúng
Trúng hơn là nên nói hòa hợp hòa giải giữa những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng và những người làm Chính trị phe chủ trương độc đảng về cái quyền lực cai trị. Nếu những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng muốn hòa hợp hòa giải với CSVN, thì cứ việc làm, nhưng đây là việc đấu tranh dành quyền lực giữa tầng lớp làm chính trị. Liệu CSVN có chia quyền hành cho những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng hay không, hay là CSVN xử dụng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để vẽ râu ria cho chế độ cố hữu của họ, xử dụng những người làm Chính trị phe đa đảng như bung xung lừa bịp Dân và Quốc tế.
Nếu hai phe Chính trị mà chỉ dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để chia ghế, chia quyền hành, thì Dân vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại cả hai phe thống trị.
HÒA HỢP HÒA GIẢI VỀ CÁI GÌ ?
Đối với người Dân, vấn đề tha thiết căn bản của họ là có TỰ DO, có việc tôn trọng NHÂN QUYỀN thực sự và những người cầm quyền đừng ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của họ. Trừ những người làm Chính trị cho quyền hành, hầu hết đồng bào Tỵ nạn Hải ngoại đứng về phía Dân chúng Việt Nam quốc nội đấu tranh cho TỰ DO, NHÂN QUYỀN và QUYỀN SINH SỐNG NUÔI THÂN XÁC. Ơû Hải ngoại, người Quốc gia Tỵ nạn đã có TỰ DO, có NHÂN QUYỀN và CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC. Họ đứng sau lưng Dân chúng Việt Nam để hỗ trợ cuộc đấu tranh của người Dân đòi CSVN cho TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN và đừng CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân chúng quốc nội.
Vậy thì việc Hòa Giải Hòa Hợp là giữa CSVN và DÂN CHÚNG VIỆT NAM tại Quốc nội, chứ không phải giữa CSVN và khối người Quốc gia tỵ nạn tại Hải ngoại. CSVN muốn Hòa Giải Hòa Hợp thì hãy làm công việc đó đối với Dân chúng Việt Nam tại Quốc nội. CSVN hãy trả lại TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN, đừng nắm Kinh tế ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân và phải hòan trả lại Dân những gì mà CSVN đã ăn cướp trong bao chục năm trường. Điều cuối cùng này rất quan trọng. Thực vậy, đừng dùng chiêu bài Hòa giải Hòa hợp để chuyển tài sản ăn cướp ra nước ngoài, rồi cho con cháu ra đây bảo lãnh mình ra sống vương giả trên của cải ăn cướp được.
Hãy Hoà Giải Hòa Hợp giữa CSVN và Dân chúng Quốc nội, chứ đừng đểu cán kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp với một số thành phần Chính trị ở việc chia ghế. CÁI GÌ (đối tượng) cho việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa CSVN và DÂN CHÚNG QUỐC NỘI là: (i) cho TỰ DO, (ii) tôn trọng NHÂN QUYỀN, (iii) đừng nắm độc quyền Kinh tế mà ĂN CƯỚP NHÀ ĐẤT VÀ CƠM ÁO của Dân, (iv) phải hoàn trả lại cho DÂN và ĐẤT NƯỚC những gì đã ăn cướp trước đây.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
KHẨU HIỆU PHẢN ĐỐI CSVN NGAY TẠI HÀ NỘI
Khẩu Hiệu Chống Tham Nhũng, Kết Án Tội Bán Đất Bán Biển, Đòi Hỏi Dân Chủ Hóa Đất Nước Xuất Hiện Trên Cầu Vượt Nam Thăng Long - Nội Bài, Ngay Giữa Hà Nội, Trong Giờ Đi Làm
[28/07/2008 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]
Nhóm Phóng viên Dân chủ Nhân quyền tại Hà Nội Hà Nội, 28-07-2008
Nhóm phóng viên chúng tôi có mặt như đã hẹn qua e-mail với một số nhà dân chủ đang hoạt động bí mật tại Hà nội. Địa điểm là ngay chân cầu Vượt Nam thăng Long - Nội Bài vào đúng 7h30 sáng ngày hôm nay Thứ Hai 28/7/2008.
Đúng giờ hẹn, chúng tôi thấy 2 xe máy gồm 4 người dừng lại trên cầu vượt và họ bình tĩnh mở túi ra, lấy khẩu hiệu cỡ 5m x 2m nền đỏ chữ vàng và phân công nhau mỗi người buộc một đầu rồi thả xuống mẽ bên cầu, nơi mà hàng chục ngàn cư dân Hà nội đang giờ đi làm. Sau khi thả xong khẩu hiệu, họ còn đứng lại giơ tay vẫy chào những người dân đang dồn lại để xem. Bên dưới chúng tôi cũng nhận thấy tại 4 góc ngã tư này cũng có các ánh đèn Flash loé lên, đó là các bạn bè và các nhà dân chủ đến để mục sở thị việc làm này.
Nội dung khẩu hiệu là :
- Tham nhũng là hút máu nhân dân - Lạm phát, giả cả tăng cao là giết dân - Mất đất, biển, đảo là có tội với tổ tiên - Yêu cầu Đảng cộng sản thực hiện ngay DÂN CHỦ HOÁ ĐẤT NƯỚC - ĐA NGUYÊN - ĐA ĐẢNG
Trong e-mail những nhà dân chủ nói với chúng tôi là mục đích họ chọn 7h30 sáng Thứ hai ngày đầu tuần để chăng khẩu hiệu là vì để câu chuyện này được bàn luận rôm rả ngay trong nội bộ các công sở và sức lan truyền lớn, và họ chọn cửa ngõ Nam Thăng Long vì hàng ngày khi bắt đầu giờ đi làm 7h30 - 8h00 có hàng trăm ngàn công chức và nhân dân lưu thông qua vị trí trọng điểm này và như vậy sẽ được rất nhiều người biết đến. Cộng thêm vào 7h30 này thì các lực lượng chức năng còn đang mải mê phân luồng giao thông hoặc chưa đi làm nên thời gian tồn tại của khẩu hiệu sẽ được lâu hơn, khẩu hiệu ở thành cầu rất dễ nhìn và khó cho việc tháo dỡ.
Hiện tại là 8h30 chúng tôi vẫn còn thấy khẩu hiệu chăng ngang vị trí cũ.
Chúng tôi sẽ cập nhật thêm chi tiết sau. 9h30 ngày 28/7/2008. Nhóm phóng viên dân chủ nhân quyền tại Hà nội.
TIN MỚI NHẤT VỀ LM NGUYỄN VĂN LÝ
Hôm 09-07-2008 mới rồi, anh Nguyễn Công Hoàng, cháu gọi linh mục Nguyễn Văn Lý bằng chú ruột, đã từ Quảng Biên, Đồng Nai, đem vợ và 3 con nhỏ đi thăm vị tù nhân lương đang bị giam tại trại tù Ba Sao, Nam Hà, tỉnh Hà Nam.
Họ ra đến thị xã Phủ Lý lúc 5g30 sáng ngày thứ tư (09-7-2008). Xuống xe tốc hành, họ thuê xe taxi lên trại và tới cổng lúc 6g30'. Khi cậu công an bảo vệ đang ghi danh sách khách thăm nuôi thì chiếc taxi chở họ đã vội quay trở ra.
Cậu công an hỏi số xe, anh Hoàng trả lời: "Tôi đâu có biết, tôi kêu thì họ chạy chứ ai để ý số xe làm chi!"
Sau đó họ được cho xách hành lý vào nhà khách chờ.
Đi lui tới trong sân nhà khách khá lâu. Lúc này chưa có ai lên thăm nuôi cả.
Khoảng 7g15’ có một viên công an ra, đưa tờ giấy "kê khai quà gởi thăm nuôi phạm nhân".
Lúc 7g30', người thường xuyên dẫn linh mục Lý ra vào thăm gặp thân nhân từ trước đến nay, kể cả đợt tù 2001-2005 là trung tá Nam xuất hiện và mời tất cả 5 người vào trong khu thăm gặp đặc biệt, y như mọi lần.
Ngồi chờ đến 7g45' thì thấy cha Lý đi ra cùng ông Nam .
Các cháu vội chạy tới ôm chầm lấy "Ông Lý" và tất cả cùng nhau vào phòng thăm gặp.
Vẫn bộ đồ trắng sọc đen như các lần trước. Cha mở đầu bằng nụ cười rạng rỡ như thủa nào và lên tiếng: "Chúng cháu tưởng ông ở đây buồn lắm sao? Không! Ông không buồn vì có Chúa Kitô Phục sinh ở với ông. Có Chúa ở với mình thì làm sao mà buồn được!"
Cha bắt đầu giải thích cách ung dung cho 3 cháu nhỏ hiểu lý do tại sao cha bị giam ở đây và phải mang bộ đồ này: "Họ bắt giam ông vì ông chống lại luật pháp ở VN. Luật pháp ở VN đi ngược lại Công ước quốc tế, với bản Hiến chương LHQ mà VN đã gia nhập và ký công nhận; và ông đấu tranh cho luật pháp ở VN phải phù hợp với Công ước quốc tế. Họ nói ông làm thế là "có tội", vì vậy họ bắt ông…." Sau đó, quay sang chuyện học hành của các cháu, cha Lý nói: "Cháu chắt nhà mình không thể tiến xa được, vì chương trình học nặng về "đạo đức cách mạng", mà mình thì có hiểu và sống theo thứ đạo đức đó được đâu mà thăng với tiến!!! Thời gian này, ông có xem các chương trình truyền hình "đố vui để học" của nhà nước thì thấy trong các chương trình đó, các câu hỏi về xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng chiếm gần một nửa rồi! Thật là vô bổ!" Rồi như để giải độc cho mấy cháu yêu, cha Lý trình bày vắn tắt cho chúng nghe về lịch sử đạo Công giáo tại VN, với thời gian bị bắt đạo lúc sơ khai, các chứng nhân đã dùng mạng sống mình để làm chứng cho Chúa Kitô Phục sinh như thế nào... Tay cán bộ Nam chỉ biết trơ mắt nhìn, chẳng dám phản ứng gì cả!
Sau đó anh Hoàng đưa vài thông tin về bà con ruột thịt, thông tin về hiện tượng tại linh đài La Vang, Quảng Trị hôm 13-6-2008, lúc phái đoàn Tòa thánh đang dâng lễ (hiện tượng mặt trời chói chan bỗng dưng dịu lại và có vầng sáng bao quanh, x. xem bản tin trên nhiều trang mạng), về chuyện tranh đấu của giáo xứ Sáo Cát đã thành công (lấy lại được ngôi trường), về thông điệp của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô 16 gởi cho Giáo hội, nói đến Niềm hy vọng cứu rỗi, trong đó ĐGH đã nêu tấm gương của Thánh Tử đạo Lê Bảo Tịnh và cố Hồng y Nguyễn văn Thuận (bức thông điệp nêu 5 vị gương mẫu, trong đó Việt Nam đã chiếm 2), về hồ sơ phong chân phước cho cố Hồng y Thuận. Anh còn nói tiếp chuyện các cộng đoàn Công giáo ở Đức xin cha Lý dâng lễ cầu nguyện cho họ, chuyện vị nguyên chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức đang vận động cho cha được giải Nobel Hòa bình năm nay….. cũng như chuyện nhiều tổ chức nhân quyền đang vận động cho cha các giải khác. Anh cũng chuyển lời thăm hỏi của 2 vị Giám mục Giáo phận Huế, của vô số bạn bè thân hữu trong và ngoài nước đến cho cha. Đáp lại, linh mục Lý hỏi thăm về anh Nguyễn Phong, anh Nguyễn Bình Thành, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Thị Công Nhân và nhiều thân hữu khác. Nghe biết luật sư LTCN không chịu đi Mỹ, cha nói: "Như vậy là tốt, đấu tranh muốn hiệu quả phải ở ngay trong lòng chế độ! Ngoài ra, cho đi như thế là trục xuất chứ có phải là trả tự do đâu!"…. Đoạn cha nhắn nhủ gia đình và các cháu hãy chịu khó đi thăm cha thêm 6-7 năm nữa rồi cha về chứ cha không đi đâu hết (Bộ công an cách đây vài tháng có đến đề nghị trả tự do cho Linh mục nếu Linh mục chịu ra nước ngoài).
Cha kính gởi lời cám ơn tất cả bà con bạn hữu xa gần, kính chuyển lời xin Đức Tổng giám mục Huế tiếp tục cầu nguyện nhiều cho cha, cha chỉ thiếu một điều là lời cầu nguyện của tất cả.
Còn về các giải thưởng, linh mục Lý xin cám ơn những ai đã quan tâm ủng hộ vận động và trao tặng cho cha, chứ cha "cảm thấy không xứng, một ao ước đời mình chỉ như giọt sương mong manh cho ngọn cỏ tươi mát, chỉ như tấm giẻ rách chùi sạch đồ dùng và chỉ như cái chổi cùn quét dọn rác rưởi trong căn nhà mà thôi".
Hiện nay, nhìn bề ngoài thì thấy linh mục Lý mập mạp, nhưng sắc da lại không hồng như các lần trước mà có phần đen đen!
Linh mục ăn chay mỗi tuần vào ngày thứ 6, và các ngày mồng 1, 8, 15 hằng tháng để cầu nguyện cho nhân quyền, cho dân chủ, cho tự do, cho Giáo hội cũng như Quê hương VN. Tuy nhiên cha cho biết mình không thể tuyệt thực được 2 ngày vì vào ngày thứ 2 là vùng phổi sẽ nóng ran lên chịu không được.
Khi đang nói chuyện, thì ông Nam đưa tờ giấy kê khai nhận quà ra, linh mục Lý gạch bỏ dòng chữ "phạm nhân" và viết lại “tù nhân lương tâm” rồi ghi họ tên và ký vào đó.
Cha khẳng định: "Chú đã tuyên bố với trại: nếu có phái đoàn ngoại quốc nào vào thăm thì chú chỉ ra thăm gặp với điều kiện
- không mang áo tù và - vào phòng không treo hình ảnh ông HCM, vì ông này có nhiều vấn đề phải làm sáng tỏ! Bằng không thì chú chẳng gặp. Vì trước đây chú đã trại lừa 1 lần rồi. Và đến nay chú cũng không ký nhận tội gì hết !!!".
Hơn 60 phút trò chuyện, ông Nam bắt đầu nhắc hết giờ thăm nuôi, nhưng linh mục Lý vẫn bình thản ngồi tiếp tục tâm sự.
Phải thêm 2 lần nhắc nữa, cha mới đồng ý đứng lên từ giã gia đình đứa cháu ruột. Thời gian nói chuyện tổng cộng kéo dài gần 90 phút!
Lần này thì chỉ có 1 mình ông Nam ngồi ghi chép ở bàn bên cạnh chứ không có cán bộ trại giam kè kè sát bên vị tù nhân lương tâm như các lần trước.
Trở ra cổng để về, các cháu nhỏ nói với anh Hoàng: "Ông công an đó cũng sợ Ông Lý của mình nữa ba ạ!"
Cả gia đình ra xa khỏi cổng mới gọi xe taxi (vì không muốn cho công an ghi số xe) rồi vừa đi tản bộ vừa chờ xe lên đón. Họ đi bộ khoảng 2 km, xe mới lên đón về Phủ Lý. Ngay trưa hôm đó, họ mua vé về lại nhà ở Quảng Biên, Đồng Nai.
Phóng viên FNA tường trình từ Huế 27-07-2008
LS LÊ THỊ CÔNG NHÂN TỪ CHỐI ĐI MỸ
LS Lê Thị Công Nhân từ chối đi Mỹ định cư như một cách bị "lưu đày" Luật sư Lê Thị Công Nhân http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=80604&z=157 (Tặng Giáo sư NGUYỄN CHÍNH KẾT làm bài học)
HÀ NỘI 24-6 (NV).- Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, tù nhân chính trị đang bị giam giữ ở nhà tù số 5 tỉnh Thanh Hóa nói rằng cô sẽ không chấp nhận đi Mỹ định cư như một cách giúp chế độ Hà Nội thi hành chính sách tống xuất tất cả những người đấu tranh đòi dân chủ hóa đất nước ra khỏi Việt Nam.
"Vào các ngày 10, 11 vừa qua, một số cán bộ của Cục A 42 (thuộc Tổng Cục An Ninh CSVN) đã đến trại tù số 5 ở tỉnh Thanh Hóa để hỏi Nhân là có muốn đi Mỹ không nếu nước Mỹ nhận?" Bà Trần Thị Lệ, mẹ nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cho báo Người Việt hay như vậy sau chuyến thăm con gái hôm Thứ Bảy 21 tháng 6, 2008 vừa qua. Bà đã lặn lội 200 cây số đi thăm con gái nhưng chỉ được cho gặp mặt một giờ và một lần trong một tháng.
Theo lời bà Lệ, sau khi một người đã "thành án", chẳng có quan chức nhà nước nào đến thăm hỏi. Nhưng một số cán bộ cao cấp của Bộ Công An CSVN đến nửa dò ý nửa thuyết phục Lê Thị Công Nhân cho thấy họ có chủ ý rõ rệt.
"Nhân rất ngạc nhiên khi được hỏi như vậy và hiểu rằng không phải bỗng dưng mà cán bộ từ Hà Nội lại lặn lội đến nhà tù để phỏng vấn tội phạm về ý nguyện của người ta. Nhân đã trả lời là nếu được đi đến một quốc gia khác có dân chủ, nhân quyền để du lịch hay du học thì rất muốn. Còn 'đi luôn' thì không".
Bà Lệ thuật lại lời con gái đối đáp với cán bộ Cục A 42 như vậy. Bà thuật lại cho biết cô con gái bà cho cán bộ CSVN biết là cô "sinh ra ở Việt Nam là có một mục đích là đóng góp vào công cuộc vận động dân chủ hóa đất nước".
Sau nhiều lời thuyết phục cô chấp nhận đi Mỹ định cư không xong, đám cán bộ Công an A 42 đã đe nẹt cô là "Nếu không đi Mỹ thì đây (trại tù số 5 Thanh Hóa) sẽ là địa chỉ mãi mãi của chị đấy!". Bà Lệ thuật lại.
"Họ mỉa mai mạt sát Nhân là trước đây là một luật sư trắng trẻo, xinh đẹp, còn bây giờ thì là một tù nhân đen đúa xấu xí." Bà kể, "Nhân đáp lại rằng tù nhân thì thế thôi."
Bà nói khi nào cán bộ công an nói quá đáng thì Nhân mới đáp lại. Khi bị đáp lại thì họ lại im vì không trả lời được.
Theo lời bà Trần Thị Lệ, Luật Sư Lê Thị Công Nhân đã chuẩn bị tinh thần từ trước để vào tù vì biết hành động đòi hỏi tự do dân chủ và nhân quyền thật sự của mình sẽ không được các kẻ cai trị độc tài chấp nhận.
"Công Nhân rất kiên định, không viết đơn xin khoan hồng cũng không nhìn nhận mình có tội gì". Bà nói. "Nhân nói đến Chúa còn bị đóng đinh trên thánh giá, còn Nhân bị tù ở đây cũng là một sự thử thách nhân cách và định lực của con người".
Bởi vậy, qua những lần thăm trước, bà có hỏi con gái là có muốn nộp đơn làm "giám đốc thẩm" để chống lại các áp đặt phi lý của các bản án sơ thẩm và phúc thẩm không, cô trả lời rằng "Có làm cũng chẳng được gì" vì biết các bản án chính trị đã được chế độ Hà Nội định sẵn nhằm trừng phạt các người đấu tranh dân chủ ở trong nước.
"Còn nước còn tát". Bà Lệ thuật lại lời nói với con gái như vậy và được cô trả lời là "Sự giả dối của nền tư pháp tại Việt Nam không còn gì để tin được". Dù vậy cô "ủng hộ việc làm của luật sư biện hộ cũng như của gia đình Luật Sư Ðài.
Bà Lệ cho hay, trong cương vị của một người mẹ thấy con bị tù tội, bà không thể không làm bất cứ gì để cứu con nên bà cũng đã nộp đơn xin "giám đốc thẩm" (Báo Người Việt đã loan tin này tuần trước).
"Má cũng làm đơn à?" Cô hỏi mẹ một cách ngạc nhiên.
Bà Lệ cho hay, cán bộ A 42 đến gặp LS Lê Thị Công Nhân ở nhà tù Thanh Hóa cho biết thư gửi cho cô chứa đầy "một xe tải". Tuy nhiên, cô không nhận được một cái nào. Bà Lệ nói điều này cho thấy tất cả thư từ, bưu thiếp mọi người trên thế giới gửi đến cho cô để bày tỏ lòng yêu quí, cảm thông đều bị công an CSVN chận giữ hết. Cô cho biết gửi qua đường bưu điện 6 lá thư thì bà Lệ chỉ nhận được một cái duy nhất.
Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, 28 tuổi, bị chế độ Hà Nội bắt giam cùng với Luật Sư Nguyễn Văn Ðài ngày 6 tháng 3, 2007 với sự vu cáo "tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN".
Khi ra tòa sơ thẩm ở Hà Nội ngày 11 tháng 5, 2007, LS Ðài, 39 tuổi, bị kết án 5 năm tù, 4 năm quản chế; LS Nhân bị kêu án 4 năm tù 3 năm quản chế. Nhưng trước các lời đả kích của dư luận quốc tế về không có nhân quyền ở Việt Nam, họ chỉ được giảm án mỗi người một năm tù còn giữ nguyên án quản chế.
Cuối Tháng Năm vừa qua, LS Lê Công Ðịnh, một trong 5 luật sư biện hộ trong phiên tòa phúc thẩm, đã gửi đơn đòi "giám đốc thẩm" lại các bản án cho hai Luật Sư Ðài và Nhân vì nhận thấy thủ tục tố tụng hình sự đã bị vi phạm trầm trọng. Sau đó, cô Vũ Minh Khánh, vợ Luật Sư Ðài, cũng đã làm đơn đòi "giám đốc thẩm" với các dẫn chứng chi tiết, cụ thể về sự vi phạm ngay chính luật tố tụng hình sự của tòa án CSVN.
Cho tới nay, cả 3 lá đơn yêu cầu giám đốc thẩm của LS Ðịnh, cô Khánh và bà Lệ cũng không thấy được trả lời.
Ngày 29 tháng 5, 2008, phụ tá ngoại trưởng Mỹ, David Kramer, đến Việt Nam đối thoại nhân quyền. Ông đã đề nghị trả tự do cho một số người trước khi Nguyễn Tấn Dũng đến Mỹ vận động đầu tư và viện trợ. Trong số đó có LM Nguyễn Văn Lý, LS Nguyễn Văn Ðài, LS Lê Thị Công Nhân. Tuy nhiên, Nguyễn Tấn Dũng đang có mặt ở Mỹ và các người vừa kể vẫn ở trong tù.
| | | |
| | | TỰ DO BÁO CHÍ
Nguyễn Đạt Thịnh
Tự do báo chí là yếu tố không thể thiếu trong bất cứ thể chế dân chủ nào; điều tất nhiên này xẩy ra hàng ngày tại Hoa Kỳ. Thử hình dung ký giả Tim Russert của NBC News bị cảnh sát bắt khi anh tiết lộ bà Valerie Plame là điệp viên của CIA, và thử hình dung phản ứng của người Mỹ, của truyền thông Mỹ đối với hành động bắt bớ đó,là đủ thấy quyền thông tin của truyền thông Mỹ luôn luôn được bảo vệ. Luật pháp cấm đoán việc tiết lộ lý lịch nhân viên CIA, vì mất lốt ngụy trang, người điệp viên có thể mất mạng --bị quốc gia đối phương giết hại-- hoặc nhẹ lắm cũng không còn hoạt động được nữa.
Nhưng luật pháp lại không cấm đoán truyền thông làm công việc tiết lộ này; biện lý Patrick Fitzgerald phải điều tra, tìm xa hơn anh ký giả Russert để thấy người tiết lộ cho anh biết lý lịch bà Plame là tham mưu trưởng của phó tổng thống Dick Cheney, ông Lewis "Scooter" Libby. Bản án bỏ tù Libby thêm một lần nữa khẳng định quyền thông tin trung thực của truyền thông.
Ngoài vụ Libby còn hàng trăm vụ khác chứng minh việc người Mỹ tôn trọng tự do truyền thông; vụ mà chúng ta biết rõ hơn cả là chính phủ Hoa Kỳ phải đưa tờ Washington Post ra tòa để xin tòa tuyên án bắt tờ báo ngừng không đăng "hồ sơ mật Ngũ Giác Ðài" (Pentagone papers), nhưng tòa lại khước từm và tờ báo có quyền tiếp tục đăng, vì loan tin trung thực là bổn phận của báo chí.
Nhưng chế độ "dân chủ xã hội chủ nghiã" của Việt Cộng lại không chấp nhận quyền thông tin của báo chí Việt Nam: không những bắt nhốt hai nhà báo Nguyễn Văn Hải (Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (Thanh Niên) vì "tội" loan tin tham nhũng, mà chúng còn bác đơn xin tại ngoại của họ, và tiếp tục mời một loạt các nhà báo khác lên đồn công an thẩm vấn về cách viết tin vụ PMU 18. Chủ nhiệm hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ cũng "được" mời ra Hà Nội họp với bọn quan chức phụ trách lãnh đạo báo chí và tư tưởng. BBC cho biết báo chí Việt Nam "đang rất sợ hãi" trước những gì sắp xảy ra. Một yếu tố quan trọng trong diễn biến này là cuộc đối thoại vừa xẩy ra giữa trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ David Kramer với viên chức Việt Cộng.
Qua lời ông Kramer, Hoa Kỳ muốn Việt Nam thả hai nhà báo vừa bị bắt. Yêu cầu này đặt nhà chức trách trước một vấn đề khó khăn, nhất là trong bối cảnh Nguyễn Tấn Dũng chuẩn bị thăm Mỹ. Dư luận báo chí Mỹ coi việc bắt bớ ký giả là chỉ dấu tranh chấp quyền lực trong nội bộ Việt Cộng; tờ The Wall Street Journal nêu nghi vấn là phe bảo thủ trong đảng tỏ ra "nóng ruột" về xu hướng mở cửa của Nguyễn Tấn Dũng. "… một số đồng chí của ông Dũng có đầu óc bảo thủ hơn ông, vài người trong họ đứng về cùng phe với Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh, đã vận dụng quyền lực của mình hồi tháng trước để công an bắt giữ hai phóng viên." Tờ Wall Street Journal viết; họ nói hai nhà báo chỉ là hai trong số nhiều người đã vạch trần một trong những vụ tham nhũng nổi tiếng nhất Việt Nam vào năm 2005. Bài báo hôm mùng 3 tháng Sáu của James Hookway nói vì lạm phát gia tăng và làn sóng đình công đang tràn lan đến mức không ngăn cản nổi, "các nhân vật bảo thủ trong Bộ chính trị muốn chứng tỏ quyền lực của họ." Lèo lái dư luận bằng công an và tù ngục chưa đủ, Việt Cộng còn dùng đến phân người để đàn áp mọi tư tưởng chống đối. Chúng sử dụng loại "vũ khí khủng bố" này với giáo sư Nguyễn Thượng Long, người từng lên tiếng về những bê bối trong thi cử ở Hà Tây.
Ðài RFA cho biết vào đêm ngày 31/5 một số kẻ "lạ mặt" đã ném không ít "bom bẩn" và truyền đơn vào nhà ông Long tại tỉnh Hà Tây chỉ vì ông đã có những bài viết cổ súy cho phong trào đấu tranh tự do dân chủ tại Việt Nam. Ông Long nói, "Vừa rồi tôi có viết một loạt bài phê phán chế độ, trong đêm 31-05, rạng sáng mùng 1-06 họ đã tấn công "khủng bố" tôi bằng những thứ dơ bẩn ném vào nhà cùng những tờ truyền đơn."
Độc quyền ra báo, độc quyền trả lương ký giả để tha hồ vo tròn, bóp méo dư luận, mà Việt Cộng vẫn còn phải sử dụng đến công an, lao tù, và cả phân người nữa để đàn áp tự do tư tưởng, tự do báo chí, thì quả là mức độ phẫn uất của người trong nước đã lên đến cao độ.
Cùng tắc biến, biến động đang xẩy ra qua ngõ đình công, biểu tình, và tự do tư tưởng, tự do báo chí; nhưng bao giờ giai đoạn "biến tắc thông" mới xẩy ra.
Nguyễn Đạt Thịnh
|
| | | TỰ DO BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM
Việt Nam xếp hạng 178/195 trên thế giới về tự do báo chí Thiện Giao, phóng viên đài RFA 2008-05-03
Tổ chức Freedom House vừa công bố bản phúc trình thường niên về tự do báo chí trên toàn thế giới năm 2007. Nhận định chung là mức độ tự do báo chí toàn cầu giảm dần trong 6 năm liền. Theo phúc trình này, Việt Nam xếp hạng 178 trên 195 quốc gia được khảo sát, và thuộc vào nhóm “không có tự do.”
Xếp hạng 178 trên 195
Tổ chức Freedom House vừa công bố phúc trình tự do báo chí thường niên nhằm đánh giá mức độ tự do báo chí trên toàn thế giới, trên từng khu vực, và tại mỗi quốc gia, trong năm 2007. Mức độ tự do báo chí năm 2007 sụt giảm so với năm trước, và là sự tiếp tục sụt giảm trong một giai đoạn 6 năm liền. Đó là kết luận tổng quát nhất được tiết lộ từ các con số thống kê.
Điều bất ngờ là, ngoài sự mất tự do báo chí tại các quốc gia độc tài, ngay cả các quốc gia có nền dân chủ cao cũng có dấu hiệu sụt giảm của tự do báo chí. Bản phúc trình khảo sát 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy 72 quốc gia có tự do báo chí; 59 quốc gia tương đối tự do; và 64 quốc gia không có tự do báo chí. Việt Nam thuộc vào nhóm không có tự do báo chí, được xếp hạng 178 trên 195.
“Nhà nước ra nhiều luật liên quan đến báo chí, và gần đây nhất là chỉ thị 37 của thủ tướng cấm tư hoá báo chí. Tôi cho rằng với hoàn cảnh như vậy, báo chí phát triển rất khó khăn.”
“Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.”
Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.
“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội thuộc nhà nước mới có quyền ra báo.”
Đó là những phát biểu của một số nhà báo Việt Nam, trong đó có những người tự gọi là “nhà báo tự do,” không tham gia trong hệ thống báo chí chính thống nhà nước, mà là những blogger hay những người viết bài gởi ra đăng ở các tờ báo nước ngoài. Các phát biểu này đã được ghi âm và phát trên một chương trình của đài Á Châu Tự Do hồi trung tuần tháng Hai vừa qua, cũng liên quan trực tiếp đến câu hỏi về mức độ tự do báo chí tại Việt Nam.
Tất cả đều do nhà nước quản lý
Tại Việt Nam hầu hết các ngòi bút đều bị kiểm duyệt nghiêm ngặt và bị đặt dưới áp lực của đảng và nhà nước.
Anh Văn Lang, một nhà báo tự do, đã từng đưa ra nhận định: “Báo chí tự do thì phải ở thể chế tự do. Do đó ở Việt Nam, báo chí nằm trong một cái khung không thể đi ra được. Về mặt cơ chế, ở nước ngoài, các vị trí trong ban biên tập, như chủ nhiệm, chủ bút đều thuộc tư nhân, họ làm đúng theo luật, và không ai xen vào được.
Tại Việt Nam thì tất cả đều do nhà nước quản lý, Tổng Biên Tập do nhà nước chỉ định, nên nếu anh làm trái ý “ông chủ” thì “ông chủ” có quyền cắt, chuyển anh qua công tác khác. Do đó các tổng biên tập làm việc như có lưỡi dao trên bên trên, họ phải làm có mức độ, nếu ai qua khỏi mức độ thì mất việc. Tại Việt Nam, các tổng biên tập mất chức liên tục.”
Những phát biểu này cho thấy, Việt Nam khống chế báo chí thông qua sự khống chế về nhân sự báo chí. Gần đây, như nhiều người ta đã biết, thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng, cho ban hành chỉ thị số 37, cấm tư nhân hoá báo chí.
Bản phúc trình thường niên của Freedom House, ngoài việc đánh giá tổng quát trên toàn thế giới, còn thiết lập những đánh giá theo từng vùng và nhận định riêng cho từng quốc gia. Trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương với 40 quốc gia, Tân Tây Lan được xếp đầu bản và Bắc Hàn xếp cuối bản. Việt Nam thuộc nhóm “không có tự do,” đứng hàng thứ 36, ngay trên nước Lào và dưới Brunei. Cũng trong bảng này, Cambodia hạng 26, và được xếp vào nhóm “tương đối tự do.”
Trong cuộc phỏng vấn hồi tháng Hai, một nhà báo Việt Nam mô tả luật báo chí Việt Nam và tiến trình bổ nhiệm một Tổng Biên Tập, nhân vật cao cấp nhất của một tờ báo, như sau.
“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội của nhà nước mới có quyền ra báo. Và quyền ra báo phải được thừa nhận bởi một giấy phép do Bộ Văn Hoá Thông Tin cấp. Theo luật, khi tờ báo là cơ quan ngôn luận của các tổ chức ấy, thì tờ báo ấy là cơ quan trực thuộc tổ chức đó. Cơ quan đó sẽ đề nghị một tổng biên tập.
Đề nghị này sẽ được xem xét theo rất nhiều tầng nấc. Bắt đầu bằng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Phố trực thuộc trung ương. Rồi đến Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Uỷ, rồi sau đó gởi lên cho ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương mà ngày nay người ta gọi là Ban Tuyên Giáo. Sau khi cơ quan Đảng có ý kiến về đề nghị đó [bổ nhiệm Tổng Biên Tập], họ chuyển cho chính quyền phê duyệt. Trên nguyên tắc, sự bổ nhiệm tổng biên tập phải có sự đồng ý của ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương và Bộ Văn Hoá Thông Tin.”
Chính quyền và các nhà báo
Rõ ràng, tiến trình đề cử và bổ nhiệm như vừa được mô tả, cho thấy người được cất nhắc vào các vị trí cao trong các cơ quan truyền thông Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu mang đầy màu sắc chính trị do phải được sự phê duyệt của các cơ quan chịu trách nhiệm về tư tưởng của Đảng và chính quyền.
Trong một bảng đánh giá về mức độ tự do báo chí của Việt Nam trước đó một năm, tức là năm 2006, Freedom House viết rằng: “Mức độ căng thẳng giữa chính quyền và các nhà báo lên cao. Trong khi các nhà hoạt động vận động cho một nền truyền thông tự do hơn, thì nhà nước Việt Nam tiếp tục đàn áp tự do ngôn luận, nhất là những thông tin trên Internet.”
Mức độ căng thẳng giữa chính quyền và các nhà báo lên cao. Trong khi các nhà hoạt động vận động cho một nền truyền thông tự do hơn, thì nhà nước Việt Nam tiếp tục đàn áp tự do ngôn luận, nhất là những thông tin trên Internet.
Nhà báo tự do Hoàng Hải, mà nhiều người trong giới blog biết đến với tên gọi “Điếu Cày,” vừa bị bắt gần đây do những hoạt động phản đối Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, đã từng nhận định, rằng, nếu “Nhà nước cấm đăng thì toàn bộ các báo không đăng. Các báo không đăng, thì dân không biết tin tức.” Cũng theo blogger này, trong hoàn cảnh như thế, Internet sẽ là phương tiện truyền đạt và phá vỡ bức tường bưng bít thông tin trong truyền thông nhà nước.
Công việc đưa tin buổi lễ rước đuốc Olympics Bắc Kinh tại Sài Gòn ngày 29 tháng Tư vừa qua là một ví dụ về sự kiểm soát báo chí Việt Nam. Gần như không một tờ báo nào của Việt Nam đưa tin về việc rước đuốc. Rồi bỗng nhiên, đến ngày 29 tháng Tư, tất cả các báo cùng đưa tin, với nội dung và mức độ
|
| | |
VẤN ĐỀ HÒA HỢP VÀ HÒA GIẢI
Bài 1/4
by: • Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất Saturday, May 03 2008
Nếu hòa hợp hòa giải (HHHG) Dân Tộc là con đường lý tưởng đưa đến phát triển đất nước thì tại sao cộng sản Việt Nam (CSVN) lại ban hành Nghị Quyết 36? Và nếu HHHG là giải pháp tốt đẹp để giải quyết các vấn đề của Việt Nam (VN) thì tại sao các nhà hoạt động chính trị tại hải ngoại lại không công khai tuyên truyền và cổ võ nó? HHHG dân tộc, vấn đề đã xưa cũ, nó chỉ là chuyện của dân gian và của báo chí. Tuyệt nhiên không thấy người ta công khai đề cập đến trong các cuộc hội họp chính trị, và ngay cả những nhà tranh đấu đòi dân chủ cũng thường tỏ ra úy kị nó. Như vậy có phải HHHG chỉ là hiện tượng ảo của một âm mưu đen tối nào đó làm người ta bị nhột khi phải đối diện với nó? Từ ngữ thời trang các nhà hoạt động chính trị thường sử dung hiện nay là đa nguyên đa đảng thay vì HHHG. Có lẽ vì thế dư luận mới cho rằng HHHG và đa nguyên đa đảng chẳng qua chỉ là hai mặt của một đồng tiền. Loại giấy bạc này do CS Hànội in ra và dùng nó để mua sự khờ dại của những nhà hoạt động chính trị loại school smart (xin tạm dịch là mọt sách). Những người thực sự chủ trương HHHG với Việt gian cộng sản (VGCS) cũng không có ai giải thích vấn đề một cách tường tận. Chung quanh có rất nhiều câu hỏi cần phải được đặt ra. Tại sao phải HHHG với VGCS? Phải hiểu thế nào là HHHG? Những ai chủ trương HHHG? Những ai chống? Tại sao người ta không minh danh đặt vấn đề ra một cách công khai cho mọi người thảo luận để tìm ra chân lý, mà cứ phải úp úp mở mở, nói một đàng, làm một nẻo. Lấy cái gì để nói chuyện HHHG với VGCS? Hậu quả của việc HHHG sẽ ra sao? Vân vân và vân vân. Nếu không minh bạch hóa vấn đề thì HHHG hay đa nguyên đa đảng hơn kém chỉ nên coi là một màn xiệc mà chủ gánh là bọn chóp bu Hànội, không ai khác vào đây cả. Có nhiều màn trình diễn hấp dẫn. Chủ gánh không cần quảng cáo mà người hiếu kỳ vẫn tấp nập mua vé vào xem.
HHHG trong một tình trạng rất ư là mơ huyền … mờ như thế đấy. Bài viết xin được đóng góp một vài ý kiến nhỏ hy vọng soi sáng được phần nào những hóc hiểm đầy ảo thuật tính của màn xiệc |
|
|
|