DIEN DAN CHINH TRI VIET NAMDau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
============== CHÚ THÍCH ĐẦU: LƯU TRỮ NHỮNG BÀI ================
Trong Phần Phổ Biến Mỗi Ngày hoặc trong mỗi số VietTUDAN hàng Tuần, có những Bài muốn giữ lại lâu hơn nữa trong DIỄN ĐÀN này, chúng tôi sẽ chuyển sang Phần Lưu Trữ Tổng Quát hoặc sang các Phần có những Chủ Đề dưới đây:
Phúc trình của CPJ về tình hình báo chí tại VN Thanh Quang, phóng viên RFA 2010-02-17
Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả, gọi tắt là CPJ, trụ sở tại New York, Hoa Kỳ, hôm thứ Ba (02/16) công bố bản phúc trình hàng năm tựa đề “Những Cuộc Tấn Công Báo Chí Năm 2009” nhằm duyệt lại tình hình đàn áp báo chí trên khắp thế giới.
Kiểm soát gắt gao
Mở đầu về tình hình đàn áp giới truyền thông tại VN, tổ chức CPJ cho biết chính quyền Việt Nam vừa tiếp tục siết chặt báo chí, vừa tăng cường việc kiểm soát chặt chẽ phương tiện Internet bằng các biện pháp mới nhằm hạn chế những nội dung phổ biến trên mạng, đồng thời gia tăng việc theo dõi các bloggers.
Theo số liệu của Bộ Thông Tin và Truyền Thông VN thì khoảng 22 triệu người trong gần 90 triệu dân VN sử dụng Internet, trong số này, có chừng 2 triệu là bloggers – tức những người viết nhật ký trên mạng.
Trong bối cảnh đó, bản phúc trình của tổ chức CPJ nhận xét rằng lượng bloggers gia tăng đang đưa nhà cầm quyền độc đoán VN lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan: Một mặt muốn mở rộng phương tiện Internet để cải cách kinh tế, nhưng mặt khác vẫn duy trì các biện pháp hạn chế gắt gao quyền tự do bày tỏ cảm tưởng, nhất là mọi hình thức chỉ trích giới lãnh đạo đảng CS hay những chính sách tế nhị của nhà nước.
CPJ cảnh báo rằng, trong năm qua, nhiều phóng viên và bloggers phổ biến quan điểm của họ, nhất là có nội dung chỉ trích mối quan hệ Việt-Trung, đều bị Hà Nội sách nhiễu, thẩm vấn, bỏ tù. Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả CPJ lưu ý rằng hiện có nhiều nhà báo trong nước cũng viết nhật ký trên mạng để phổ biến tin tức, bài vở vốn bị kiểm duyệt trên báo chí do nhà nước kiểm soát. Nhưng, CPJ cảnh báo rằng, trong năm qua, nhiều phóng viên và bloggers phổ biến quan điểm của họ, nhất là có nội dung chỉ trích mối quan hệ Việt-Trung, đều bị Hà Nội sách nhiễu, thẩm vấn, bỏ tù. Mới đây nhất là trường hợp blogger trẻ tuổi Phạm Thanh Nghiên, đã gây xúc động thế giới sau khi nhà văn Phạm Thanh Nghiên bị án tù 4 năm cộng thêm 3 năm quản chế chỉ vì bài viết của cô trên mạng chỉ trích viên chức địa phương bỏ túi những khoản tiền giúp gia đình ngư dân bị TQ bắn chết hồi năm 2007, và việc Phạm Thanh Nghiên trả lời phỏng vấn các đài nước ngoài.
Chị ruột của Phạm Thanh Nghiên, là Phạm Thanh Yến, nhận xét :
“Em thấy kết tội như thế, không đáng xử như thế. Em cũng không biết là tội gì nữa. Em nghe luật sư cãi hộ, thì em nghĩ là Nghiên không có tội. Nhưng mà bên tòa án xử thì người ta nói là có tội. Em thấy bài báo mà Nghiên nhà em viết thì nó không có tội”.
CPJ dẫn chứng một số trường hợp, chẳng hạn như hồi tháng 8 năm ngoái, blogger “Người Buôn Gió”, tức nhà báo Bùi Thanh Hiếu, bị giam giữ, các máy điện toán và cả tư trang của ông bị tịch thu vì ông viết những bài chỉ trích liên quan cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa VN và TQ, cũng như những vụ tước đoạt đất đai của Giáo hội Công Giáo tại VN.
Bản phúc trình của CPJ cũng đề cập đến trường hợp blogger “Trang Ridiculous”, tức phóng viên Phạm Đoan Trang của báo mạng VietnamNet, bị Hà Nội gán tội vi phạm luật an ninh quốc gia cũng vì đề cập tới vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa VN và TQ.
Rồi vụ blogger “Mẹ Nấm” Nguyễn Ngọc Như Quỳnh gặp rắc rối tương tự vì những bài cũng liên quan mối quan hệ Việt-Trung, kể cả vấn đề bauxite Tây Nguyên. Hay vụ blogger Bút Thép từng bị công an giam giữ cũng vì dám đụng tới mối quan hệ “tế nhị” Việt-Trung, nhất là việc anh mặc áo thun in dòng chữ “Hoàng Sa và Trường Sa là của VN”.
Hồi tháng Năm năm ngoái, tổ chức CPJ xếp VN là một trong 10 nước đàn áp tự do báo chí tồi tệ nhất, dựa trên việc VN gia tăng đàn áp bloggers, tiếp tục giam giữ blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải.
Kiểm duyệt Internet
Tăng cường kiểm soát các cửa hàng Internet hoạt động trong nước. AFP Photo/Hoang Dinh Nam Tình hình đàn áp giới truyền thông như vừa nói khiến Quốc Hội Hoa Kỳ, vào tháng 10 vừa qua, đã ra nghị quyết kêu gọi VN phóng thích các bloggers bị tù tội và tôn trọng tự do Internet, khiến VN phản ứng mạnh mẽ. Phát ngôn viên bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga nói nghị quyết đó không đúng sự thật, và ở VN không có ai bị bắt, bị giam giữ hay xét xử vì bày tỏ quan điểm của mình.
Bản phúc trình của CPJ trích dẫn Tổ chức quốc tế OpenNet Initiative chuyên nghiên cứu về tình trạng kiểm duyệt Internet lưu ý rằng VN, cũng giống như những xứ độc tài Miến Điện và TQ, tiếp tục ngăn chận và gạn lọc thông tin một cách khắt khe nhất so với những nước khác tại Á Châu.
Giữa lúc số quán cà-phê Internet tại VN trong những năm gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở thị thành, những cơ sở ấy, dù công hay tư, theo bản phúc trình của CPJ, đều được lệnh của giới cầm quyền VN là phải kiểm soát và lưu hồ sơ của khách hàng cùng những thông tin về hoạt động trên mạng của họ.
Bản phúc trình không quên đề cập tới việc hồi tháng 8 năm ngoái, một trong những dịch vụ được nhiều bloggers sử dụng nhất, là Yahoo 360, bị đóng cửa, hoặc mạng xã hội ăn khách Facebook không truy cập được hồi cuối năm qua.
Bản phúc trình của Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả cũng nhắc tới trường hợp báo Thanh Niên trích dẫn lời Thứ trưởng Bộ Thông Tin Và Truyền Thông Đỗ Quý Doãn cho biết bộ này sẽ nhờ Google và Yahoo kiểm soát nội dung các Web sites cùng những trang nhật ký trên mạng, sau khi Bộ Thông Tin VN, hồi cuối năm 2008, ra chỉ thị kiểm duyệt Internet cũng giống như lệnh tương tự trước đó đối với báo chí. Lệnh của giới cầm quyền VN là phải kiểm soát và lưu hồ sơ của khách hàng cùng những thông tin về hoạt động trên mạng của họ.
Phúc trình của CPJ
Theo CPJ thì chính phủ VN tiếp tục duy trì việc kiểm soát giới truyền thông bằng phương cách tổ chức những cuộc hội họp hàng đầu tuần giữa quan chức Bộ Thông Tin và các chủ bút để duyệt qua bài vở, nhất là ngăn chận những bài chỉ trích lãnh đạo đảng hay chính sách nhà nước.Và những chủ bút, phóng viên nào không tuân lệnh sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.
CSVN TÌM MỌI CÁCH KIỂM SOÁT ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ CỦA DÂN CHÚNG
Tin tổng hợp - Hãng thông tấn Pháp AFP trong một bài phân tích gửi đi từ Hà Nội hôm thứ Bảy, cho rằng trong mục đích duy trì quyền lực độc tôn, nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam vẫn đang tìm mọi cách để kiểm soát đời sống chính trị của dân chúng. Ðảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mạnh mẽ sự kiểm soát chặt chẽ trên đời sống chính trị của đất nước trong bối cảnh đảng này được 80 tuổi và đang bị nhiều thành phần khác nhau trong xã hội chỉ trích. Thứ ba vừa qua nhân dịp kỷ niệm 80 ngày thành lập đảng Cộng sản Ðông dương là tiền thân của đảng Cộng sản Việt Nam, báo chí trong nước đã đưa tin là Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh đã nhắc lại rằng Ðảng đã và tiếp tục là lực lượng tiên phong của giai cấp lao động, của dân tộc Việt Nam.
Lời phát biểu trên đây được đưa ra hai tuần lễ sau khi 4 người bất đồng chính kiến bị kết án từ 5 đến 16 năm tù giam vì tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền. Ðối với chính phủ Việt Nam, tội danh của bốn người này là bảo vệ sự đa đảng, có liên hệ với những tổ chức ở ngoài nước và âm mưu lật đổ chính phủ một cách bất bạo động bằng cách tuyên truyền trên Internet. Theo AFP, các nhà quan sát tình hình Việt Nam nghĩ rằng nhà cầm quyền nước này đã tăng cường chính sách đàn áp từ cuối năm 2006, sau khi hội nghị thượng đỉnh châu Á-Thái Bình Dương được tổ chức tại Hà Nội, và sau khi Việt Nam được kết nạp vào Tổ chức Thương mãi Thế giới. Từ 3 năm nay, ngành tư pháp Việt Nam đã đưa ra xét xử nhiều cá nhân dám chỉ trích chế độ. Họ đến từ nhiều tầng lớp khác nhau như là thành viên công đoàn, nhà báo, tu sĩ, luật sư ủng hộ dân chủ, nhà văn chủ trương đa đảng và chỉ trích quan hệ Việt-Trung.
Các nhà phân tích còn nhận thấy một điều mới lạ là kể từ nay chính sách đàn áp của Việt Nam còn nhắm vào những thanh niên đã được đào tạo ở nước ngoài bị tố cáo là đã bắt liên lạc với những tổ chức chính trị ở ngoài nước. Theo ông Ben Kerkvliet, thuộc trường Ðại học quốc gia Úc ở Canberra được AFP trích dẫn, có những dấu hiệu cho thấy là càng có nhiều người chỉ trích về đường lối chính trị và nằm trong một tổ chức thì chính quyền càng ra tay đàn áp. Ông Kerkvliet còn nhận thấy là đối với nhiều người vấn đề trầm trọng là tệ nạn tham nhũng bên trong đảng Cộng sản. AFP nhận thấy là nếu như các nhà phân tích gặp khó khăn để đưa ra những nguyên nhân chính xác của các đợt bắt bớ vừa qua, thì cũng có một số người nêu lên khả năng những đấu đá trong nội bộ vì sắp đến Ðại hội lần thứ 11 của đảng Cộng sản Việt Nam, sẽ được tổ chức vào tháng giêng năm 2011. Ông Stein Toennesson thuộc Viện nghiên cứu về hoà bình của Oslo Na Uy, đưa ra giả thuyết là trước Ðại hội, những thành phần bảo thủ nhất nắm phần chủ động và những người khác không dám chống lại vì sợ bị đánh giá là có thái độ không kiên định. Nhưng ông không loại trừ khả năng là những thành phần đổi mới muốn cải tổ đảng từ bên trong.
Trong khi đó ông Carl Thayer thuộc trường đại học New South Wales của Úc, thì nghĩ rằng đại đa số đảng viên không có cảm tưởng là Ðảng Cộng sản sẽ dễ dàng bị lật đổ, cho dù từ hai thập niên qua tính chính đáng của đảng này ngày càng bị phản bác.(SBTN)
Posted on 10 Feb 2010 FreeVietNews
BEAUXITE VIỆT NAM QUYẾT SỐNG
Đăng bởi boxitvn on 11/01/2010 http://boxitvn. wordpress. com/2010/ 01/11/bauxite- viet-nam- quyet-song/ #more-8
Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Cù Huy Hà Vũ trong đêm đầu năm mới 2010.
Phải khẳng định rằng đối với Loài Người Văn Minh, thông tin chuyển tải trên Internet đã trở nên thiết yếu tới mức không có nó thì không thể tồn tại, như Oxy đối với Sự sống vậy. Cũng như thế, từ 8 tháng nay với 17 triệu rưỡi lượt truy cập – một con số kỷ lục – trang mạng Bauxite Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Nhà giáo Phạm Toàn và Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng khởi xướng, tập hợp trên 3 nghìn chữ ký của giới trí thức Việt Nam và các tầng lớp nhân dân ký vào Kiến nghị, quyết liệt phản đối Chính phủ cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên, bất chấp hậu họa cho môi trường và an ninh quốc gia, tiếp nối những bức tâm thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cùng vấn đề, đã thực sự trở thành “dinh dưỡng tinh thần” hàng ngày của tất cả những ai “con Lạc cháu Hồng” ứa máu với Hoàng Sa, đau đáu với Trường Sa, với sinh mệnh của Tổ quốc đang lâm nguy bởi “liên minh ma quỷ” giữa các thế lực tham nhũng trong nước và bành trướng phương Bắc. Cũng chính vì vậy, với Bauxite Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng sản, “xã hội dân sự” – thành phần quyết không thể thiếu của bất kỳ quốc gia Dân chủ và Pháp quyền nào – đã được thị phạm một cách vô cùng hoành tráng và sinh động!
Điều vô cùng nghiêm trọng là từ ngày 12 tháng 12 năm ngoái, 2009, Bauxite Việt Nam liên tục bị “tin tặc” đánh phá khốc liệt, mạng bị sập nhiều lần, thậm chí cả các hộp thư điện tử cá nhân của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Nhà giáo Phạm Toàn cũng bị chúng trộm cắp mật khẩu hoặc “nhái” địa chỉ để “chế” và phát tán một số thư mạo danh người này để đả kích, xúc phạm danh dự người nọ. Nếu như hành vi đầu cùa “tin tặc” dù là thô bạo và trắng trợn nhưng cũng chẳng làm nhụt được chí của ai thì hành vi sau của chúng quả vô cùng hiểm độc bởi không chỉ nhằm ly gián những người chủ trương Bauxite Việt Nam với nhau mà chính là còn nhằm ly gián những người ký Kiến nghị và ủng hộ trang mạng, hòng đẩy cả một phong trào yêu nước và dân chủ rầm rộ nhất từ trước đến nay đi đến chỗ tan rã.
Thế nhưng như mọi người đã thấy, những “mưu ma chước quỷ” nói trên ngay lập tức đã thất bại thảm hại với lời kết án “bọn lưu manh tin học” thật đanh thép và đầy khinh bỉ của Nhà giáo Phạm Toàn, với các thư “chế” sặc mùi mật thám tuốt tuột bị vụt vô sọt rác mà bằng chứng là không có bất cứ trang mạng nào dù trong hay ngoài nước đăng lại. Mặc dù vậy, để khôi phục một cách bền vững Bauxite Việt Nam, không thể không đặt câu hỏi: Ai là kẻ chủ mưu và làm cách nào để diệt trừ tận gốc những hành vi bỉ ổi và để tiện ấy ?!
Tất cả những ý kiến mà tôi nghe được cho đến nay đều cho rằng hỏi tức trả lời: Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo “xóa” Bauxite Việt Nam bởi run sợ trước ảnh hưởng xã hội ngày một lớn mà trang mạng có được bằng những phản biện quyết liệt mà rất khoa học và đúng pháp luật đối với quyết định cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên và các quyết định trái pháp luật khác của Chính phủ và Thủ tướng, bằng những phanh phui không khoan nhượng những bất cập, tha hóa và phản dân chủ của hệ thống chính trị hiện hành, cốt lành mạnh hóa hệ thống, và chỉ đạo này đã được “ẩn” dưới Công văn 8500/VPCP-TH do Thủ tướng ký đầu tháng 12/2009 giao Bộ Thông tin và Truyền thông tiến hành kiểm tra các trang mạng “có phép và không phép” và báo cáo Thủ tướng trước 15/12/2009! Nghĩa là, trang mạng nào làm ngứa “nhãn” Thủ tướng hay không theo “lề phải” thì cứ việc rút giấy phép, thu thẻ (nhà báo) khỏi cần nêu lý do đối với loại “có phép” (như đã làm đối với trang mạng của Tạp chí Tia sáng vào ngày 27/10/2009 sau khi trang này đăng bài “Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng” của Giáo sư Hoàng Tụy), còn đối với loại “không phép” thì dùng “tin tặc” thủ tiêu là tuyệt chiêu! Tóm lại, dưới góc nhìn của cư dân mạng có óc hài hước, Thủ tướng đã biến Bộ bốn T – tên gọi khác của Bộ Thông tin và Truyền thông – thành “Bộ Thu thẻ tùy tiện”, “Bộ Thực thi Tin tặc”, hay gọn lại, “Bộ Thu thẻ – Tin tặc”! Và không phải ngẫu nhiên, vẫn những ý kiến trên, mà Công văn 8500/VPCP-TH lại rất “đồng điệu” với Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24/7/2009 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng độc đoán cấm các tổ chức khoa học và công nghệ công khai “phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước” (thật kỳ quái, phản biện mà không công khai, tức không để công chúng biết để giám sát đối tượng được phản biện, thì đó là lối “góp ý”, “phê bình” áp dụng cho sinh hoạt nội bộ Đảng và chính quyền, không tiếp thu thì “ghế” cũng chẳng hề hấn gì miễn được “sếp” đỡ, chứ đâu phải là phản biện như một chế tài, không sửa sẽ bị dân loại bỏ, trừ phi chính quyền không “từ nhân dân mà ra”!), dẫn đến IDS, Viện Nghiên cứu Phát triển tư nhân đầu tiên của Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ độc lập với Chính phủ, phải tự giải thể vào trung tuần tháng 9 cùng năm.
Nói cách khác, việc đánh phá Bauxite Việt Nam và những người chủ trương trang mạng dứt khoát không phải là hành vi đơn lẻ hay nhất thời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhằm vô hiệu hóa những kẻ dám “chọc gậy bánh xe dự án bauxite” đang quay tít mà ngược lại, nằm trong cả một chiến dịch quy mô do Chính phủ tiến hành nhằm bóp nghẹt mọi phản ứng xã hội trước những “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” làm lén Quốc Dân Đại hội nói riêng, bịt miệng giới Trí thức Yêu nước chuộng Công lý và Dân chủ nói chung để “giữ vững ổn định chính trị”, tức giữ statuquo – nguyên trạng “chế độ xã hội chủ nghĩa”, nhất là trong bối cảnh Đại hội XI của Đảng đã cận kề…
Về logic hình thức, tức về hiện tượng mà nói thì những ý kiến trên là rất thuyết phục. Tuy nhiên với tư cách một người làm công tác pháp luật, tôi chưa vội kết luận, không chỉ vì chưa có chứng cứ cụ thể và trực tiếp – “bắt tận tay, day tận trán” như các cụ vẫn nói – mà còn vì những ý kiến trên quá chủ quan, đã đánh giá quá thấp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bởi dẫu có bất đồng chính kiến với Bauxite Việt Nam đến đâu, không đời nào Thủ tướng – người không ngớt hô hào xây dựng Nhà nước pháp quyền vì Dân – lại có thể hành xử phản pháp luật đến như vậy!
Thực thế, các hành vi phá hoại trên của “tin tặc” đã xâm phạm nghiêm trọng những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và Pháp luật bảo hộ và bị các Nhà lập pháp liệt vào danh sách tội phạm thể hiện tại các quy định pháp luật sau: - Điều 69 Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin…” - Điều 73 Hiến pháp: “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được đảm bảo an toàn, bí mật”. - Khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh bưu chính, viễn thông: “Nghiêm cấm thu trộm, nghe trộm thông tin trên mạng viễn thông, trộm cắp, sử dụng trái phép mật khẩu, khoá mật mã và thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác”. - Điều 125 Bộ Luật hình sự về “Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” quy định: “Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền bằng phương tiện viễn thông và máy tính, hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” với hình phạt “cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” trong trường hợp “có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, phạm tội nhiều lần, gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại các Điểm a, b, c, d Khoản 2 Điều này. - Điều 122 Bộ Luật hình sự về “Tội vu khống” quy định: “Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”với hình phạt “phạt tù từ một năm đến bảy năm” trong trường hợp “có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, đối với nhiều người, ” quy định tại các Điểm a, b, c Khoản 2 Điều này. Vậy để trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời gián tiếp chứng minh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “vô can” một cách có căn cứ pháp luật, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Nhà giáo Phạm Toàn với tư cách chủ nhân trang mạng Bauxite Việt Nam, chủ nhân của những hộp thư điện tử bị tin tặc trộm cắp mật khẩu, khoá mật mã hoặc “nhái” địa chỉ và chủ nhân của những thư điện tử bị tin tặc chiếm đoạt để mạo danh vu khống người khác, hoàn toàn có quyền yêu cầu Nhà nước “nhập cuộc” bằng cách căn cứ Điều 100 (Căn cứ khởi tố vụ án hình sự) và Điều 101 (Tố giác và tin báo về tội phạm) Bộ Luật tố tụng hình sự để làm đơn tố cáo hoặc tố giác gửi Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về các tội phạm trên của “tin tặc” và đề nghị khởi tố vụ án hình sự “Xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” theo Điều 125 và “Vu khống” theo Điều 122 Bộ Luật hình sự để truy tìm và đưa ra trước vành móng ngựa “bọn lưu manh tin học” và những kẻ chủ mưu.
Song song, hai ông có thể cậy tới sự giúp đỡ của Hiệp sĩ Công nghệ thông tin Nguyễn Tử Quảng, Giám đốc Trung tâm An ninh mạng BKIS thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội, người đã rất thành công trong việc tổ chức tấn công và chiếm quyền kiểm soát hai máy chủ ở Anh được cho là nguồn gốc điều khiển các cuộc tấn công vào các trang mạng của Hàn Quốc và Mỹ vào tháng 7 năm ngoái. Tôi tin Tử Quảng không hổ danh Hiệp sĩ và cũng là một người yêu nước chân chính, tiếp nối dũng khí của bố vợ là Nhà báo Đăng Ngọc, Phó Tổng biên tập báo Đại đoàn kết bị buộc thôi việc do ngày 6/11/2007 đã đăng bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp phản đối phá bỏ Hội trường Ba Đình để xây Nhà Quốc Hội, sẽ hết mình vì Bauxite Việt Nam!
“Quyết sống!”, đó là câu trả lời của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi gửi cá nhân tôi ngay khi Bauxite Việt Nam bị đánh sập. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là lời tuyên thệ long trọng của những người khởi xướng trang mạng, tiếp nối lời thề “Quyết Tử cho Tổ quốc quyết Sinh” của những bậc Anh hùng nước Việt Mùa Đông năm 1946. Hậu sinh Cù Huy Hà Vũ này chỉ có thể nghiêng mình và noi theo trước khí phách của các Ông – những Chu Văn An của “Thất trảm sớ” thời nay – với niềm tin chắc nịch rằng những Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng cùng hàng ngàn Nghĩa sĩ của Phong trào Kiến nghị 2009 đã và đang làm nên Lịch sử!
Hà Nội Mùa Đông 4/01/2010 – 9/01/2010 CHHV
ÔNG TRẦN ANH KIM RA TÒA NGÀY 28/12
Nhân vật hoạt động dân chủ, cựu trung tá Trần Anh Kim, sẽ ra tòa tại Thái Bình ngày 28/12 tới vì tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, theo Điều 79 Bộ Luật hình sự.
Luật sư bào chữa cho ông Kim xác nhận với đài BBC thông tin này.
Luật sư Đặng Ngọc Phúc thuộc Đoàn Luật sư Thái Bình cho hay ông đã khước từ lời mời bào chữa cho ông Kim của gia đình ông, nhưng chấp nhận khi Tòa án Nhân dân Thái Bình chỉ định ông làm công việc này.
Ông Trần Anh Kim bị bắt hôm 07/07 tại nhà riêng ở thị xã Thái Bình, cùng ngày với thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung tại TP Hồ Chí Minh.
Sau đó ông bị khởi tố tội Tuyên truyền chống nhà nước XHCN theo Điều 88 Bộ Luật hình sự. Cơ quan an ninh điều tra nói trong các hành vi chống đối của ông Trần Anh Kim, có việc "soạn thảo và phát tán trên mạng internet 85 bài viết có nội dung chống Nhà nước".
Ông còn bị buộc tội đã tham gia kích động khiếu kiện đông người tại Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh và thường xuyên liên lạc với "phản động nước ngoài".
Theo luật sư Đặng Ngọc Phúc, việc thay đổi tội danh đối với ông Kim có thể là do trong quá trình điều tra cơ quan an ninh tìm ra được các chứng cứ mới gắn ông với tội danh nặng hơn là tội lật đổ.
Luật sư Phúc nói: "Tôi sẽ cố gắng căn cứ luật pháp để đấu tranh một cách tốt nhất cho quyền lợi của thân chủ tôi."
Gây dư luận
Thời gian gần đây, có nhiều thông tin, đồn đoán về phiên xử các nhà đối kháng, trong đó có ông Trần Anh Kim, về tội Lật đổ chính quyền.
Hôm thứ Hai 21/12, báo Công an Nhân dân đăng bài bình luận tựa đề 'Đừng tiếp tục biến mình thành con rối', đề cập tới các nhân vật "sắp phải ra tòa" trong "vụ án đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia".
Báo của Bộ Công an viết: " Những tên đầu têu Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung… sẽ ra trước vành móng ngựa và sẽ lĩnh những bản án thích đáng".
Báo này cũng nói vụ án là "một lời cảnh cáo đối với các thế lực thù địch đang có âm mưu và hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam".
Tội danh Lật đổ chính quyền có mức án cao nhất là tử hình.
Sinh năm 1949, ông Trần Anh Kim từng mang quân hàm trung tá, giữ chức Bí thư Đảng ủy quân sự, phó chỉ huy chính trị Ban quân sự Thị xã Thái Bình.
Ông là thương binh, đã được tặng thưởng nhiều huân huy chương. Ông Kim cũng là thành viên Đảng Dân chủ Việt Nam (XXI) và còn là một trong các sáng lập viên phong trào đấu tranh dân chủ Khối 8406, phụ trách các tỉnh phía Bắc.
Cùng năm người khác, ông được tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) trao giải thưởng Hellman/Hammett năm nay.
Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ đều đã từng bày tỏ quan ngại về trường hợp của ông cũng như của một số nhân vật bất đồng chính kiến khác bị bắt mùa hè vừa rồi.
Hôm 19/08, truyền hình nhà nước Việt Nam phát đi đoạn băng, trong đó bốn nhân vật bị bắt, trong có ông Kim, nhận tội và "xin khoan hồng".
Hiện chưa được xác nhận chính thức, nhưng có thông tin rằng các ông Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Trần Huỳnh Duy Thức cũng sẽ phải ra tòa cuối tháng này.
HÒAN TÒAN ỦNG HỘ BÀ LORETTA SANCHEZ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 22.12.2009
Có người cho đây là việc tại Tiểu Bang California, nhất là vùng Nam Cali, không cần động chạm tới.
Nếu chỉ có việc ông TRẦN THÁI VĂN ra tranh cử ở vùng Nam Cali, thì chúng tôi không động chạm tới làm gì bởi lẽ chúng tôi không biết Ông Trần Thái Văn là ai, rồi Nam Cali cũng xa Thụy sĩ. Nhưng chúng tôi muốn lên tiếng về việc tranh cử này chỉ vì Bà Loretta SACHEZ đã trở thành một chiến hữu đầy nhiệt huyết cùng đồng hành đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam để có TỰ DO, DÂN CHỦ và CÔNG LÝ. Chiến hữu Loretta SANHCEZ không những chỉ được biết đến ở California, mà còn khắp các Tiểu Bang khác và khắp các Cộng đồng Việt Nam trên Thế giới từ Canada, Âu châu và Úc châu. Tại Lưỡng viện Liên Bang Hoa kỳ, ai cũng biết Bà xả thân bênh vực cho Tự do, Dân chủ và Công lý tại Việt Nam. Những nhà Dân chủ đang nằm trong tù tại Việt Nam cũng phải nhớ ơn sự tận tâm lên tiếng bênh đỡ của Bà.
Bài phân tích của Ông TRẦN BÌNH NAM dưới đây rất khách quan và với tâm tình tha thiết đến cuộc đấu tranh tại Quê Hương Việt Nam mà Bà Loretta SANCHEZ là một chiến hữu thực tâm và xả thân đồng hành với chúng ta.
Ông Trần Thái Văn ra cùng một đơn vị nhằm hạ một chiến hữu đang xả thân đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam. Nếu Ông Trần Thái Văn hạ được Bà Loretta SANCHEZ, có thể CSVN hài lòng bởi lẽ CSVN ngại sợ những nhân vật đồng minh gốc nước ngòai cùng đấu tranh với người Việt. Hạ Bà Loretta SANCHEZ, một đồng minh gốc nước ngòai đang cùng mình đấu tranh, đó là việc làm đáng tiếc. Bà Loretta SANCHEZ mang trái tim Việt Nam, Ông Trần Thái Văn mang trái tim Việt Nam, nhưng tiếng nói của Ông tại Quốc Hội Liên Bang yếu hơn tiếng nói của Bà Loretta SANCHEZ bởi lẽ những Dân Biểu Liên Bang có thể nghĩ rằng Dân Biểu Trần Thái Văn gốc người Việt tỵ nạn Cộng sản, nên bây giờ lên tiếng. CSVN cũng có thể ngụy biện cắt nghĩa rằng việc lên tiếng của Dân Biểu Trần Thái Văn chỉ là thái độ “quá khích” chống chế độ VN hiện hành từ những người tỵ nạn. Nhưng nếu việc lên tiếng tại Quốc Hội Liên Bang do Bà Loretta SANCHEZ, thì những Dân Biểu khác không thể nghĩ giống như nghĩ về Dân Biểu Trần Thái Văn và CSVN cũng không thể ngụy biện cắt nghĩa như cắt nghĩa về Dân Biểu Trần Thái Văn.
Vấn đề sang chính Việt Nam để trực diện đối chọi với Cộng sản, cũng có những khác biệt giữa Bà Loretta SANCHEZ và Ông Trần Thái Văn. Bà Loretta SANCHEZ đã không ngại sợ vấn đề an ninh, đã can đảm về tận Việt Nam để trực diện đối chọi. Trong khi đó, vì nghĩ đến an ninh mà Ông Trần Thái Văn gốc Việt Nam, liệu Ông có đủ can đảm về tận Việt Nam để trực diện đối chọi hay không. Ông Trần Thái Văn gốc Việt Nam và CSVN có nhiều mưu chước ngụy tạo lắm. Ông Trần Thái Văn không có đủ can đảm như Bà Loretta SANCHEZ gốc nước ngòai đâu.
Nếu vì quyền lợi đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam, thì chúng ta chọn Bà Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh gốc nước ngòai, đã tận tụy đồng hành với chúng ta.
Theo thiển kiến, chúng tôi nghĩ rằng Ông Trần Thái Văn chỉ nghĩ đến việc lợi dụng số đông người Việt tại Nam Cali mà thăng quan tiến chức cho cá nhân của Ông ta, chứ không phải vì cuộc đấu tranh cam go hiện giờ cho Quê Hương Việt Nam. Nếu vì việc lợi dụng này mà tính tóan thăng quan tiến chức cho cá nhân, đồng thời mong hạ bệ Bà Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh đang đấu tranh cho Việt Nam, thì Ông Trần Thái Văn đã tính tóan lầm. Một tính tóan lầm có thể sẽ mang họa cho chính cái danh của Ông sau này, nghĩa là việc thăng quan tiến chức của Ông thất bại và ngưng tại đó.
Bà Loretta SANCHEZ không phải là người riêng của vùng Nam Cali nữa. Bà đã trở thành một chiến hữu mà các Cộng đồng người Việt khắp nơi ngưỡng mộ: => Các Cộng đồng thuộc các Tiểu Bang khác tại Hoa kỳ => Các Cộng đồng thuộc Canada, Liên Âu và Úc châu
Nếu chỉ vì nhằm lợi dụng số đông người Việt tại Nam Cali mà Ông Trần Thái Văn lấy quyết định tranh cử cùng đơn vị nhằm hạ Bà Loretta SANCHEZ để thăng quan tiến chức cho cá nhân mình, thì đây là việc tính tóan sai lầm có thể làm Ông bị danh liệt vì tính tóan sai lầm này.
Các Tiểu Bang khác tại Hoa kỳ sẽ lên tiếng phản đối Ông. Chúng tôi tại các nước cũng lên tiếng phản đối việc tính tóan thăng quan tiến chức cá nhân của Ông mà làm hại cho cuộc đấu tranh chung cho Quê Hương Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 22.12.2009
DÂN BIỂU CALIFORNIA TRẦN THÁI VĂN VÀ DÂN BIỂU LIÊN BANG LORETTA SANCHEZ
Trần Bình Nam
Tờ tuần báo Mõ San Francisco số ngày 21/11/2009 có đăng một Tâm Thư của một số vị trong cộng đồng Việt Nam ủng hộ dân biểu tiểu bang California Trần Thái Văn tranh ghế dân biểu Liên bang đơn vị 47 (vùng Garden Grove, Nam California) trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 2010.
Việc cộng đồng người Việt ủng hộ một người Mỹ gốc Việt là một việc làm chính đáng, và rất nên khuyến khích. Còn gì quý bằng trong quốc hội Liên bang chúng ta có thêm một đaị diện người Mỹ gốc Việt.
Điều đáng quan tâm là trong Tâm thư, quý thân hữu của Dân biểu Trần Thái Văn (thuộc đảng Cộng Hòa) cho biết rằng Dân biểu Trần Thái Văn sẽ ra tranh với nữ Dân biểu Loretta Sanchez (thuộc đang Dân Chủ). Quý vị ký Tâm Thư công nhận rằng Dân biểu Loretta Sanchez từng tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam nhưng Dân biểu Trần Thái Văn là người gốc Việt có quả tim Việt Nam nên ông sẽ tranh đấu hữu hiệu hơn.
Tôi nghĩ quý vị quyết định ủng hộ Dân biểu Trần Thái Văn để thay thế Dân biểu Sanchez là một việc làm thiếu cân nhắc.
Bà Dân biểu Sanchez trong bao năm qua đã tranh đấu không mệt mỏi cho lý tưởng dân chủ tự do tại Việt Nam. Bà không nề hà một khó khăn nào để làm công việc đó. Bà đã lên tiếng tại Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ. Bà đã đệ nạp nhiều dự luật ủng hộ cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Bà đã bao lần về Việt Nam đấu tranh trực diện với chính quyền Hà Nội. Bà San chez đã là ân nhân của nhiều người Việt tị nạn.
Chúng ta sằn sàng ủng hộ Dân biểu Trần Thái Văn vào quốc hội Liên bang, nhưng vào để thay thế bà San chez thì chúng ta sẽ trả một giá rất đắt, một cuộc đi buôn lỗ lã. Dân biểu Trần Thái Văn nên tìm một đơn vị khác, ông sẽ được sự ủng hộ nồng nhiệt của cử tri người Mỹ gốc Việt tại đơn vị đó.
Trước hết nếu Dân biểu Trần Thái Văn thắng bà Sanchez thì từ nay về sau sẽ không có một dân biểu người Mỹ nào còn hứng thú để đấu tranh cho những lý tưởng của cộng đồng Việt Nam vì người ta hiểu cộng đồng Việt Nam là một cộng đồng phe đảng và vô ơn bạc nghĩa. Còn nếu bà Sanchez vẫn thắng thì chúng ta sẽ mất sự ủng hộ của bà cho cuộc tranh đấu của chúng ta. Bà nghĩ rằng bà đã bị phản bội.
Vậy đằng nào cộng đồng người Việt cũng bị thiệt thòi.
Trở lại chuyện quả tim người Việt nơi Dân biểu Trần Thái Văn. Tôi tin Dân biểu Trần Thái Văn có quả tim người Việt hơn bà Sanchez nhưng có quả tim và trải quả tim đó ra mà người ta có nghe hay không là một chuyên khác.Tiếng nói của bà Sanchez từng được nghe tại tòa nhà quốc hội Hoa Kỳ, từng vang dội tại Hà Nội. Dân biểu Trần Thái Văn nếu thay cho bà Sanchez chưa chắc tiếng nói của ông mạnh bằng tiếng nói của bà Sanchez.
Tôi hy vọng bức Tâm Thư ủng hộ Dân biểu Trần Thái Văn để thay thế bà Loretta Sanchez chỉ hạn chế trong giới hạn địa lý vùng Vịnh. Những vị đại diện cộng đồng Nam California tại đơn vị của bà Dân biểu Sanchez sẽ sáng suốt nhận định để hướng dẫn bà con tại địa phương.
Trần Bình Nam Dec. 4, 2009
HỢP TÁC KINH TẾ VỚI KẺ CƯỚP LÀ TÒNG PHẠM VỚI VI PHẠM NHÂN QUYỀN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 19.11.2009
Chúng tôi thấy một số Truyền thông ca tụng TT.Obama đã nói về Tự do Internet với Sinh viên ở Thượng Hải, rồi đã yêu cầu đối thọai giữa Trung Cộng và Đức ĐẠT LAI LẠT MA Tây Tạng. Những lời nói của TT.Obama chỉ nhắc lại những từ chương mà trong nhiều chục năm trường nhiều người đã viết với tất cả tâm hồn để rồi có những người phải ngồi tù vì đã kêu gọi những điều mà TT.Obama đọc sách của họ để nói ra. Chẳng có gì phải ca tụng khi thấy rằng có lẽ chính Hồ Cẩm Đào cho phép Obama nói cho thêm mầu mè mà che đậy cho những việc vi phạm nhân quyền tầy đình của Trung Cộng. Thực vậy, báo chí quốc tế đã nhắc lại rằng những điều Obama nói với sinh viên Thượng Hải đã không được phổ biến trên Truyền Hình Trung quốc mà chỉ hạn hẹp ở trong một phòng nhỏ. Báo chí cũng nói rằng tại sao Obama đã nhát đảm, sợ sệt Hồ Cẩm Đào trước đó khi Obama từ chối không gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Mỹ vì sợ bóng sợ gió Trung quốc. Dân chúng Trung quốc trông đợi ở Obama những biện pháp đòi bạo quyền Trung quốc tôn trọng nhân quyền, chứ không phải chỉ nhắc lại suông những từ chương về nhân quyền mà nhiều đã viết.
Chính vì vậy, những nhà đấu tranh cho Trung quốc có Tự do, Dân chủ, đã thất vọng đối với chuyến đi này của TT.Barack Obama.
Nhắc lại ít điều từ chương rồi, TT.Barack Obama lại xả láng ca tụng sự hợp tác Kinh tế giữa Trung quốc và Hoa kỳ như G2 lãnh đạo giải quyết việc cứu nguy và phát triển Kinh tế Thế giới. Chính việc tuyên bố hợp tác này chứng tỏ Obama đã, một là quá hạn hẹp nhân quyền ở vài cái râu ria vẽ vời, hai là không hiểu cái nhân quyền trọng yếu với khối dân chúng nằm ở chỗ nào, ba là chính mình muối lương tâm tòng phạm với kẻ cướp để bóc lột đời sống của đại đa số dân chúng, nhất là dân chúng nghèo khổ bần cùng.
Làm Kinh tế, hay nói nôm na là kiếm ra đồng tiền, cũng phải có cái luân lý của nó. Mọi người đều tranh đấu làm Kinh tế, nghĩa là kiếm ra đồng tiền để tối thiểu nuôi thân xác mình sống. Vì mọi người cùng làm Kinh tế, nên phải có những nguyên tắc phải tôn trọng trong việc phân chia quyền lợi cho công bằng. Không thể kiếm đồng tiền bằng bóp cổ họng người khác để cướp lấy tiền bạc.
Quyền sống thân xác cá nhân là điều hệ trọng nhất của Nhân quyền
Hãy hỏi một người trong đại đa số quần chúng phải ngày đêm làm lụng kiếm bữa cơm bữa cháo để sống. Hãy hỏi họ xem giữa quyền tự do vào Internet để đọc tin tức thỏa mãn tinh thần và quyền lựa chọn một phương tiện làm ăn để có miếng cơm cho dạ dầy đỡ đói, họ sẽ dành việc ưu tiên chọn gì ? Chắc chắn họ sẽ nói ưu tiên chọn lựa là phương tiện kiếm sống, còn Internet thì hạ hồi phân giải. Hãy hỏi một công nhân xem quyền tự do họp lại với nhau để cùng có một tiếng nói cho mạnh bảo vệ đồng lương tương xứng với sức lao động cung cấp là ưu tiên hay quyền tự do họp lại để thảo luận văn hóa, chính trị, xã hội là ưu tiên. Công nhân sẽ chọn việc bảo vệ đồng lương tương xứng là điều ưu tiên. Hãy hỏi những nghệ sĩ, những người chơi thể thao... cố gắng trở thành anh hùng của Lý tưởng Xã Hội Chủ nghĩa với những Huy chương đeo đầy ngực là quan trọng hay đánh giá bằng tiền bạc việc cố gắng để cho tiền họ sống là quan trọng hơn. Họ sẽ chọn lấy tiền bạc trước đã. Hãy hỏi chính những Lãnh tụ Cộng sản xem danh dự quyền lực là quan trọng hay qua việc nắm quyền để có dịp thâu được nhiều tiền bạc là quan trọng.
Tóm lại, đối với quần chúng ở những Quốc gia nghèo, cái quyền làm Kinh tế nuôi sống thân xác là NHÂN QUYỀN ưu tiên nhất.
Hai nền Kinh tế khác nhau giữa Hoa kỳ và Trung Cộng
Nền Kinh tế Hoa kỳ đặt trọng tâm vào việc cá nhân kiếm sống cho mình, lấy tư hữu làm nền tảng xây dựng tự do kinh doanh Kinh tế. Cá nhân có quyền tự do thụ hưởng những kết quả kinh doanh của mình. Khi những cá nhân trách nhiệm kiếm sống, thì chính họ quyết định với nhau những Luật lệ phân định và bảo vệ quyền lợi làm ăn cho công bằng. Nhà Nước đứng bảo đảm việc thi hành đứng đắn những Luật lệ làm ăn do chính những tác nhân Kinh tế đã đồng thuận. Đó là một nền Kinh tế Tư doanh và Tự do Cạnh tranh. Đây là nền Kinh tế quần chúng tôn trọng trước tiên quyền kiếm sống của từng cá nhân.
Nền Kinh tế mà Trung quốc đang thực hiện là nền Kinh tế của riêng một nhóm đảng. Đảng Cộng sản Trung quốc có quyền độc tài Chính trị và nắm trọn độc quyền làm Kinh tế qua hệ thống những Công ty quốc doanh nắm những chủ chốt sinh họat Kinh tế. Đây là hệ thống Kinh tế Mafia. Người ta nói Trung quốc thu và tích lũy được một số vốn lớn, nghĩa là giầu có, nhưng đã không nói rõ rằng số vốn lớn này nằm trong tay quyết định chi dùng của nhóm đảng Mafia Cộng sản Trung quốc, chứ không được phân phối cho những quyết định xử dụng của những cá nhân thuộc đại đa số nhân dân. Đảng Mafia Cộng sản Trung quốc có số vốn lớn trong khi ấy đại đa số quần chúng Trung quốc nghèo khổ. Đảng Mafia Cộng sản Trung quốc, trong những năm trường, đã bóc lột, bán rẻ sức lao động của quần chúng để làm giầu cho nhóm đảng mình. Một số những Công ty Liên quốc gia nước ngòai đã tòng phạm với chủ trương bóc lộc lao động này để khai thác nhân công rẻ.
Nếu nền Kinh tế Hoa kỳ tôn trọng nhân quyền ưu tiên, nghĩa là quyền tự do kiếm sống cá nhân, thì nền Kinh tế Mafia Trung Cộng là nền Kinh tế bóc lột quyền kiếm sống cá nhân để làm giầu cho một nhóm người.
Hợp tác Kinh tế Hoa kỳ và Trung quốc có tôn trọng Nhân quyền hay không ?
Hai Chủ trương làm Kinh tế Hoa kỳ và Trung Cộng khác biệt nhau từ bản chất về phương diện tôn trọng Nhân quyền mà quyền cá nhân kiếm sống là ưu tiên. TT.Barack Obama nói tại Trung quốc trong chuyến Á du vừa rồi, chỉ là nói tới một số điểm vẽ vời râu ria về nhân quyền, mà không đề cập chính yếu đến một hệ thống tước đọat chính quyền tự do kiếm sống, một điểm ưu tiên của nhân quyền cho đại đa số quần chúng. TT.Barack Obama lớn tiếng kêu gọi việc hợp tác giữa Trung quốc (nhóm Mafia CSTQ) và Hoa kỳ trong những quyết định Kinh tế ảnh hưởng tới Thế giới. Việc hợp tác này là việc cổ võ tòng phạm với nhóm đảng Mafia trong việc đề bẹp quyền kiếm sống của cá nhân tự do. Hợp tác để nhóm đảng Mafia CSTQ tiếp tục bóc lột dân chúng nữa, đó là việc tôn trọng nhân quyền hay là việc tòng phạm vi phạm nhân quyền mà TT.Barack Obama đã lớn tiếng ca tụng việc làm tội lỗi này ?
Nếu TT.Barack Obama nghĩ rộng hơn nữa về chủ trương của nhóm Mafia CSTQ đang tìm mọi cách xử dụng hối lộ tiền bạc để thực hiện chính sách Tân Thuộc địa tại những nước nghèo Á châu và Phi châu, thì việc hợp tác của Hoa kỳ còn là việc tiếp tay phổ biến tội ác Kinh tế của Trung Cộng khắp Thế giới.
Nói chính đến hậu quả của việc hợp tác Kinh tế trên nước Mỹ. Việc tự do mậu dịch với hàng rẻ tiền Trung quốc tràn lan tại Hoa kỳ sẽ làm một số xí nghiệp nhỏ tại Mỹ đóng cửavà làm tăng thất nghiệp cho chính người Mỹ.
Việc hợp tác với kẻ cướp để bóc lột là việc tòng phạm với tội ác. Hãy nói NHÂN QUYỀN ở điểm thiết yếu này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.11.2009
TỰ DO BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM
Đỗ Hiếu, phóng viên RFA, Bangkok 2009-10-22 Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới RSF từ Paris vừa phổ biến bản xếp hạng về tự do báo chí trên toàn cầu năm 2009, trong đó Việt Nam xếp thứ 166/175 quốc gia.
Trang web của RSF thông báo bảng xếp hạng về tự do báo chí trên tòan cầu
Trên Thế giới
Trong số 10 quốc gia đứng cuối bản, bị xem là kẻ thù của truyền thông báo chí - internet, có 6 nước Châu Á, riêng Việt Nam thì xếp thứ 166 trên 175 quốc gia liệt kê trong danh sách.
Theo đánh gía của RSF, các quốc gia không có tự do báo chí, hạn chế quyền tự do ngôn luận, che dấu sự thật, ngăn cản nhà báo hành nghề, bỏ tù hay ám hại những người cầm bút, xét thấy bất lợi cho chế độ cầm quyền phi dân chủ, quân phiệt, độc đoán, gồm những nước thống trị bằng bạo lực, thường xuyên xảy ra xung đột quân sự, chiến tranh kéo dài, hay dung dưỡng tệ nạn tham nhũng, hậu quả hiển nhiên là ở những nước đó quyền làm người bị xâm phạm, chính quyền khóa miệng đối lập, bắt bớ, sách nhiễu những tiếng nói đấu tranh ôn hòa cho dân chủ và nhân quyền.
Trong bản xếp hạng vừa được phổ biến, “bộ ba” luôn đứng chót là Bắc Hàn, Miến Điện và Lào do những thành tích như kiểm duyệt báo chí gắt gao, không cho phép tư nhân hoạt động trong ngành truyền thông đại chúng, giam nhốt, ám hại bất cứ ai muốn nói lên sự thật một cách công khai.
Tại Việt Nam
Khi giải thích về việc Hà Nội xếp hạng 166 trên tổng số 175 quốc gia được khảo sát, năm nay, ông Vincent Brossel - Giám Đốc Điều Hành RSF đặc trách Châu Á, cho Đài RFA chúng tôi biết đại ý là gần đây nhà nước Việt Nam, một chế độ cầm quyền độc đảng, đã gia tăng bắt bớ, xử phạt tù nhiều nhà báo, bloggers, những nhà hoạt động cho dân chủ, những cây bút tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là những đối tượng công khai phê phán sự nhượng bộ mà Hà Nội dành cho Bắc Kinh về vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, khai thác bauxite…
Gần đây nhà nước Việt Nam, một chế độ cầm quyền độc đảng, đã gia tăng bắt bớ, xử phạt tù nhiều nhà báo, bloggers, những nhà hoạt động cho dân chủ, những cây bút tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là những đối tượng công khai phê phán sự nhượng bộ mà Hà Nội dành cho Bắc Kinh về vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, khai thác bauxite
Vẫn theo ông Vincent Brossel, nhà nước Việt Nam thường xuyên kiểm soát chặt chẽ mọi phương tiện truyền thông, bưng bít sự thật, lọc lựa các nguồn thông tin mà họ chỉ muốn cho người dân nghe - biết, không chấp nhận báo chí tư nhân độc lập, cắt xén những vần đề bén nhạy, ngại làm phật lòng làng giếng khổng lồ phía Bắc:
Kế đó, góp ý với RFA về thành tích của Việt Nam trong việc đối xử với nhà báo, blogger, người viết bài trên internet, các tiếng nói dân chủ, cô Dương Thị Xuân một cây bút độc lập ở Hà Nội nhấn mạnh:
Nhà báo tự do Dương Thị Xuân : Tôi là ký giả tự do. Nói về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam thì tất cả mọi người đều biết rằng là Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký chỉ thị là không có báo chí tư nhân, cho nên cái vấn đề báo chí tư nhân ở Việt Nam là không có, còn những ký giả tự do như chúng tôi thì chỉ là ký giả tự do thôi, còn nếu làm là đi hành nghề báo tự do thì sẽ được cơ quan an ninh hỏi thăm ngay: "Thẻ nhà báo đâu? Ai cho hành nghề?" Ấy, cho nên vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam là hoàn toàn không có. Thế hoạt động thế nào hả anh? Đúng không ạ? Bởi vì nói thật ra làm gì có tự do. Đây là tôi viết bài theo cái tâm tư của tôi thôi chứ còn nếu mà tôi hành nghề báo chí tại Việt Nam hiện nay thì sẽ được nhà cầm quyền bắt ngay.
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký chỉ thị là không có báo chí tư nhân, cho nên cái vấn đề báo chí tư nhân ở Việt Nam là không có, còn những ký giả tự do như chúng tôi thì chỉ là ký giả tự do thôi, còn nếu làm là đi hành nghề báo tự do thì sẽ được cơ quan an ninh hỏi thăm ngay
Trong một buổi phát thanh trước, qua câu chuyện với đài chúng tôi, từ Paris ông Benoit Hervieu cũng nhắc lại là qua đánh giá và đúc kết của RSF thì năm rồi Việt Nam cũng nằm trong danh sách 12 kẻ thù nguy hiểm nhất của internet. Trong bản xếp hạng tự do báo chí 2008 do RSF đúc kết, Hà Nội xếp thứ 168 trên 173 quốc gia được liệt kê
Được biết, các nước Châu Á xếp hạng cao và trung bình trong danh sách của RSF gồm có Nhật Bản thứ 17, Đài Loan hạng 59 và Nam Hàn thứ 69.
Sáu nước Châu Á xếp cuối bản là Campuchia, thứ 117, Việt Nam 166, Trung Quốc hạng 168, Lào 169, Miến Điện 171 và Bắc Hàn hạng 174.
Đỗ Hiếu, RFA Bangkok, Thailand.
NGHỊ QUYẾT 672 HOA KỲ VỀ INTERNET TẠI VIỆT NAM
Quốc Hội Hoa Kỳ Thông Qua Nghị Quyết 672 về Quyền Tự-Do Internet tại Việt Nam.
Nguyễn Trung 21/10/2009
Thưa quý vị, Hạ viện Hoa Kỳ hôm thứ Tư đã nhất trí thông qua với đa số phiếu thuận Nghị quyết HR 672 do dân biểu Loretta Sanchez đề xuất, kêu gọi Việt Nam ‘thả các blogger bị cầm tù và tôn trọng tự do Internet’. Đồng bảo trợ nghị quyết này còn có một số dân biểu khác quan tâm tới các vấn đề Việt Nam như Edward Royce, Frank Wolf, Zoe Lofgren và Cao Quang Ánh. Phát biểu tại Hạ viện, nữ dân biểu từ California cho rằng Hoa Kỳ ‘cần phải lên tiếng cho những ai không có tiếng nói ở Việt Nam’. Phóng viên Nguyễn Trung của Ban Việt Ngữ đài VOA đã theo dõi quá trình thảo luận cũng như bỏ phiếu và có bài tường thuật sau.
Dân biểu Loretta Sanchez cho rằng Internet là 'công cụ thực thi quyền tự do ngôn luận'.
Bảy ngày sau khi dân biểu Loretta Sanchez chủ trì một buổi thuyết trình về tình hình tự do Internet ở Việt Nam tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ, với sự tham gia của các diễn giả đại diện cho các tổ chức thúc đẩy nhân quyền quốc tế và hải ngoại, lưỡng đảng tại Hạ viện Hoa Kỳ đã nhất trí thông qua Nghị quyết HR 672 với đa số phiếu thuận.
Nghị quyết do bà Sanchez đề xuất viết rằng, Việt Nam đã ‘bỏ tù các blogger và nhiều nhà hoạt động dân chủ bày tỏ quan điểm ôn hòa trên Internet’, cũng như ‘dựng tường lửa chặn các trang thúc đẩy dân chủ và nhân quyền ở nước ngoài’ trong khi ‘Internet là công cụ thực thi quyền tự do ngôn luận, chia sẻ thông tin một cách tự do cũng như liên kết người Việt Nam ở cả trong nước lẫn quốc tế’.
Phát biểu tại Hạ viện hôm 21/10, nữ dân biểu này cho rằng Việt Nam đã ‘có biện pháp trái luật’ khi bắt giữ các bloggers trong thời gian qua. Bà nói: ‘Internet cũng đã trở thành một phương tiện chia sẻ thông tin một cách tự do, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và dân chủ. Tuy nhiên, trong những tháng vừa qua, chính phủ Việt Nam đã có những bước đi tôi cho là trái luật nhằm kiểm soát Internet’.
Cũng phát biểu ủng hộ Nghị quyết HR 672 tại Hạ viện còn có ông Ed Royce và Cao Quang Ánh, dân biểu gốc Việt đầu tiên trong Quốc hội Hoa Kỳ.
Nghị quyết HR 672 cũng cho rằng việc thành lập Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử hồi tháng 10/2008 và việc ra Thông tư 07 tháng 12/2008 ở Việt Nam đã ‘giới hạn tự do Internet, kiểm duyệt blog cá nhân cũng như buộc các công ty công nghệ hợp tác với chính phủ trong nỗ lực kiểm soát các thông tin cá nhân của người sử dụng mạng Internet’.
Hồi năm ngoái, trong buổi lễ ra mắt Cục này, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn từng nói với báo giới trong nước rằng sự ra đời của Cục này là ‘bước quan trọng trong quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử’.
Tuy nhiên, trong Nghị quyết HR 672, bà Sanchez cho rằng đây là một cơ quan ‘có mục đích duy nhất là giới hạn tự do Internet, kiểm duyệt blog cá nhân cũng như yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet cung cấp thông tin về những người sử dụng vi phạm các quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông của nước này’.
Trả lời VOA Việt Ngữ qua điện thoại, một giới chức không muốn nêu tên từ Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cho rằng nhận định trên ‘thiếu chính xác’, nhưng không giải thích cụ thể.
Nghị quyết cũng 'kêu gọi trả tự do' cho luật sư Lê Cộng Định và một số nhà hoạt động dân chủ khác.
Ngoài kêu gọi tự do Internet rộng rãi hơn ở Việt Nam, Nghị quyết cũng yêu cầu chính phủ Việt Nam phóng thích ‘tất cả các tù nhân chính trị’ trong số đó có một số người bị bắt trong thời gian qua như luật sư Lê Công Định, nhà giáo Vũ Hùng hay nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Tiến Trung.
HR 672 còn kêu gọi Hạ viện Hoa Kỳ ‘ủng hộ quyền tiếp cận website của người dân Việt Nam cũng như quyền tự do chia sẻ và công bố thông tin trên Internet’.
Tại Hạ viện, bà Sanchez cho rằng Washington ‘chưa có quan điểm cứng rắn trước tình trạng vi phạm quyền ở Việt Nam’. Bà nói: ‘Tôi tin rằng chúng ta, Hoa Kỳ, phải có quan điểm phản đối việc vi phạm nhân quyền rõ ràng của Việt Nam. Hoa Kỳ là nước dẫn đường về tự do và dân chủ, nên nhiệm vụ của chúng ta là phải lên tiếng thay cho những ai không có tiếng nói’.
Hà Nội chưa có phản ứng chính thức về việc Hạ viện Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết HR 672. Bộ Ngoại giao Việt Nam trước đây từng khẳng định ‘chính sách nhất quán’ về ‘quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, và quyền được thông tin cho mọi người dân’. Mới đây, trong một thông cáo hôm 14/10, Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội đã bày tỏ quan ngại về việc chín nhà hoạt động dân chủ bị kết án ở Việt Nam một tuần trước đó.
Sau đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng cho rằng Hoa Kỳ ‘can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam’.
TÒA ĐẠI SỨ HOA KỲ TỎ THÁI ĐỘ VỀ VỤ KẾT ÁN
Quan ngại sâu sắc' sau vụ kết án http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/10/091014_ usembassydisside nts.shtml
Trong một thông cáo báo chí ra hôm 14/10, Đại sứ quán của Hoa Kỳ ở Hà Nội bày tỏ ''quan ngại sâu sắc về việc 9 nhà hoạt động dân chủ bị kết án ở Việt Nam hồi tuần trước".'
Thông cáo viết: "Các nhà hoạt động đơn giản chỉ bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa và không tạo ra bất cứ mối đe dọa nào tới an ninh quốc gia của Việt Nam."
''Chúng tôi cũng quan ngại về việc bắt giữ nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, bà đã bị đánh đập và bắt giữ sau khi công khai bày tỏ sự ủng hộ đối với 9 nhà hoạt động dân chủ. Không nên có cá nhân nào bị đánh đập, bắt giữ, hoặc giam giữ vì thực hành quyền tự do ngôn luận,'' thông cáo viết tiếp. ''Các hành động này, cùng với việc cưỡng ép các sư sãi ra khỏi Tu viện Bát Nhã ở tỉnh Lâm Đồng và việc chính phủ đã không bảo vệ họ khỏi bị tấn công là trái với cam kết của chính Việt Nam đối với các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận về nhân quyền và nền pháp trị.''
Đại sứ quán Hoa Kỳ thúc giục: ''Chính phủ Việt Nam tôn trọng các cam kết nhân quyền quốc tế của mình, và thả ngay lập tức và vô điều kiện những người này cũng như các tù nhân khác bị giam giữ vì đã bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa.''
Xử hàng loạt
Tổng cộng đã có chín người phải ra tòa với cùng một tội danh. Tất cả số này đều bị bắt từ tháng Chín năm ngoái.
Họ bị buộc tội đã "lưu trữ, phát tán những tài liệu vu khống chế độ, sau đó chụp hình và phát tán lên mạng Internet".
Các nhà hoạt động đơn giản chỉ bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa.
Những người ra tòa ở Hải Phòng ngày 09/10 có các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, 60 tuổi; Nguyễn Văn Tính, 67 tuổi; Nguyễn Kim Nhàn, 60 tuổi; Nguyễn Văn Túc, 45 tuổi; Ngô Quỳnh, 25 tuổi và Nguyễn Mạnh Sơn, 66 tuổi.
Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa nhận án nặng nhất là 6 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia vì 'vai trò lãnh đạo'.
Họ bị cáo buộc là vào hồi tháng 8/2008 đã tổ chức treo biểu ngữ và rải truyền đơn với nội dung "chống chính quyền" tại cầu vượt Lạch Tray (Hải Phòng) và Lai Cách (Hải Dương) rồi chụp ảnh và viết bài đưa lên mạng Internet.
Các biểu ngữ mà ḥọ đã treo được nói có nội dung chống chính quyền, kêu gọi dân chủ, đa nguyên đa đảng, chỉ trích tình trạng lạm phát trong kinh tế và chính sách biển đảo.
Trên một biểu ngữ còn có dòng chữ về Khối 8406, một tập hợp đấu tranh dân chủ trong nước.
Hôm 08/10, ông Phạm Văn Trội, 37 tuổi, bị Tòa án Nhân dân Hà Nội xử 4 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia.
Trước đó, nhà giáo Vũ Hùng cũng lãnh 3 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Điều 88. Nhà thơ Trần Đức Thạch, 57 tuổi, Hội viên Hội Nhà văn Nghệ An, hôm 06/10 bị xử tù giam 3 năm và 3 năm quản chế
KÊU GỌI CAN THIỆP CHO NHỮNG NGƯỜI BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN
Thân nhân các nhà bất đồng chính kiến VN kêu gọi quốc tế can thiệp Gia Minh, phóng viên RFA 2009-09-24
Thân nhân của 8 nhà bất đồng chính kiến theo kế hoạch bị xét xử cũng gửi một thư đến Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và lãnh đạo các quốc gia khác trình bày hoàn cảnh của người thân họ.
8 nhà bất đồng chính kiến bị cáo buộc vi phạm điều 88 Bộ luật hình sự CHXHCNVN.
Theo kế hoạch thì vào ngày hôm nay ở Hải Phòng sẽ diễn ra phiên xử 6 nhà bất đồng chính kiến theo điều 88 bộ luật hình sự. Tuy nhiên phiên xử đã được đình hoãn. Lý do được nêu ra là 1 trong 6 người phải ra tòa bị ốm nặng không thể hầu tòa.
Tuy nhiên, giới quan sát cho là chính quyền Hà Nội không muốn ông Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đang tham dự kỳ họp thường niên Đại hội đồng Liên hiệp quốc tại New York khó ăn nói với các vị khác.
Bất đồng chính kiến
Sáu nhà bất đồng chính kiến nằm trong danh sách ra tòa ở Hải Phòng là nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Ngô Quỳnh và các ông Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Kim Nhàn.
Riêng thầy giáo Vũ Hùng, kỹ sư Phạm Văn Trội được thông báo sẽ phải chịu xét xử trong hai phiên xử riêng ở Hà Nội.
Tuy nhiên các phiên xử đều được hoãn lại nhưng các thức thông báo khác nhau.
Bà Nguyễn thị Nga vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết:
“Đúng lịch ra theo giấy triệu tập thì tôi phải có mặt tại phiên tòa vào hai ngày thứ năm và thứ sáu; nhưng hôm qua tôi nhận được giấy hoãn với lý do anh Nguyễn Văn Tính bị mệt phải chữa ở bệnh xá và anh ấy xin hoãn phiên tòa.”
Chồng tôi đấu tranh vì nguyện vọng của mọi người, là điều tốt cho mọi người. Bây giờ có ý kiến lên tiếng đấu tranh cho tất cả những người này thì tôi rất là mừng và tôi đã ký. Tôi nghĩ rằng thế giới này họ rất là nhân đạo mà Việt Nam đã ký vào công ước nhân quyền năm 1982.
Luật sư Huỳnh Văn Đông, người nhận bào chữa cho kỹ sư Phạm Văn Trội trong phiên xử dự kiến diễn ra hôm nay trình bày:
“Tôi vừa từ phòng thẩm phán ra và họ tuyên bố là phiên tòa bị hoãn vì một lý do khách quan nào đó, các kiểm sát viên giữ quyền công tố có những công việc chồng chéo nên không thể tham gia được. Hiện nay người ta tập trung vào xét xử những vụ án lớn hơn vụ án của anh Trội; nguyên văn là như thế và thông báo bằng miệng chứ không có một văn bản nào cả.”
Bà Lý thị Tuyết Mai, vợ nhà giáo Vũ Hùng cũng cho biết:
“Hôm qua tôi lên tòa để xin giấy tham dự phiên xử vào ngày mai thì chánh án nói hoãn phiên tòa nhưng không cho biết lý do gì chỉ bảo về đi.”
Đánh động dư luận quốc tế
Nhân dịp ông Chủ tịch nước Việt Nam đến New York tham dự kỳ họp thường niên Đại Hội đồng LHQ năm nay, thân nhân của tám nhà bất đồng chính kiến vừa nêu cũng cùng ký tên vào bức thư gửi cho ông Tổng thư ký và những vị nguyên thủ quốc gia khác.
Quốc tế vận động trả tự do cho các nhà tranh đấu dân chủ tại Việt Nam. Lý do của việc làm đó được các thân nhân những nhà bất đồng chính kiến nêu ra. Theo bà Nguyễn thị Nga thì:
“Chồng tôi đấu tranh vì nguyện vọng của mọi người, là điều tốt cho mọi người. Bây giờ có ý kiến lên tiếng đấu tranh cho tất cả những người này thì tôi rất là mừng và tôi đã ký. Tôi nghĩ rằng thế giới này họ rất là nhân đạo mà Việt Nam đã ký vào công ước nhân quyền năm 1982.
Những anh em ở đây chỉ lên tiếng đòi quyền tự do ngôn luận cho con người và đòi quyền con người thì tôi nghĩ những anh em đó không có ai có tội cả và tôi đã ký để bên ủy ban nhân quyền thế giới lên tiếng cho chúng tôi.
Kinh tế mở rộng thì chính trị cũng nên mở rộng, tôi mong muốn nhà nước Việt Nam nên có ứng xử sao cho nhân đạo…”
Bà Lý thị Tuyết Mai cũng cho hay:
Tôi viết thư gửi lên Tổng thư ký Liên hiệp quốc và để mọi người hỏi lãnh đạo Việt Nam làm như thế có đúng không, bắt người và tạm giam như vậy có đúng không?
Bà Lý Thị Tuyết Mai: “Tại vì tôi thấy những việc chồng tôi đã làm không có gì đáng là vi phạm pháp luật cả; thế mà bắt lâu như thế mà gia đình không được gặp. Bắt hơn một năm - một năm mấy ngày rồi mà gia đình không được thông tin gì không hề hay biết tình hình sức khỏe gì của chồng tôi.
Tôi thấy làm như thế là không đúng và tôi viết thư gửi lên Tổng thư ký Liên hiệp quốc và để mọi người hỏi lãnh đạo Việt Nam làm như thế có đúng không, bắt người và tạm giam như vậy có đúng không? Hình sự thì tôi thấy không có gì là hình sự khi treo một khẩu hiệu như vậy, tôi nghĩ hình sự thì phải có hành vi- hành động gì bạo lực.
Chồng tôi anh ấy viết câu khẩu hiệu như thế và người ta cho là bất đồng quan điểm, không nhất trí theo ý kiến của nhà nước.
Người ta mỗi người có quyền, có thể có những suy nghĩ khác nhau, có quyền thể hiện suy nghĩ của mình một cách khác nhau chứ không thể ai cũng giống ai. Mình được quyền nói chứ không phải ai cũng nhất mực tuân thủ; những cái sai trái mình cũng tuân thủ theo à?”
Bà Nguyễn Thị Huyền Trang cũng xác nhận đã ký vào đơn nhưng khi đứng trước tòa thì không nói nhiều được: “Vì điều đó là đúng và phù hợp.”
Bạn nghĩ gì về sự kiện này? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của Bạn, hoặc tham gia thảo luận tại Trang blog Ban Việt ngữ RFA
Thân nhân của tám người vừa nói trong bức thư gửi đến tổng thư ký Liên hiệp quốc nói rõ là người nhà của họ không hề có tội gì khi lên tiếng kêu gọi bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Việt Nam cũng như đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.
Những người viết đơn cho rằng những hoạt động mà người thân của họ làm lâu nay hoàn toàn theo đúng hiến pháp nước Việt Nam. Họ cũng nêu ra hai điều 9 và 19 của Bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền về các quyền của con người trong đó xác định rõ không ai có thể là nạn nhân của chính sách giam cầm, truy tố hay truy bức một cách tùy tiện.
Xin được nhắc lại, tám nhà bất đồng chính kiến vừa nói bị truy tố theo điều 88 Bộ luật hình sự với cáo buộc họ chống lại nhà nước công hòa xã hội chủ nghĩa.
Thân nhân các nhà dân chủ VN gửi thư đến LHQ RFA 24.09.2009 Thân nhân của 8 nhà bất đồng chính kiến đang bị chính quyền Hà Nội giam giữ hôm nay có thư gửi đến tổng thư ký Liên Hiệp Quốc.
Trong bức thư gửi đến Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc cùng các vị nguyên thủ quốc gia tham dự cuộc họp đại hội đồng lần thứ 64 tại New York, Hoa Kỳ, thân nhân của các nhà bất đồng chính kiến, có kế hoạch đưa ra xét xử theo điều 88 Bộ Luật hình sự Việt Nam, nói rõ là người nhà của họ không hề có tội gì khi lên tiếng kêu gọi bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Việt Nam cũng như đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.
Theo kế hoạch thì trong ngày hôm nay và ngày mai tại Hà Nội và Hải Phòng sẽ diễn ra ba phiên xử đối với nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Ngô Quỳnh, thầy giáo Vũ Hùng, kỹ sư Phạm Văn Trội,và các ông Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Kim Nhàn.
Thế nhưng tin cho hay các phiên xử này sẽ hoãn chưa rõ khi nào sẽ được tổ chức lại.
BỊ BẮT VÌ THIẾU HỮU NGHỊ VỚI TRUNG QUỐC
Trân Văn, phóng viên đài RFA 2009-09-02
Sau hàng loạt thông tin liên quan đến vụ bắt giữ blogger Người Buôn Gió hôm 27 tháng 8, các diễn đàn điện tử, các blog và nhiều hãng thông tấn nước ngoài tiếp tục loan báo, lực lượng an ninh của Công an Việt Nam đã bắt giữ bà Phạm Đoan Trang, 31 tuổi, nữ phóng viên của báo điện tử VietNamNet, cơ quan ngôn luận thuộc Bộ Thông tin Truyền thông Việt Nam vì “xâm phạm an ninh quốc gia”. Trước đây, các cơ quan bảo vệ pháp luật của Việt Nam đã từng khởi tố, tạm giam, truy tố và kết án một số nhà báo ở Việt Nam vì một
Nữ phóng viên Phạm Đoan Trang. photo courtesy RFI
số tội khác nhau, đã được qui định trong bộ luật hình sự, song cô Phạm Đoan Trang có lẽ là nhà báo Việt Nam đầu tiên bị bắt giữ vì “xâm phạm an ninh quốc gia”... Cô Phạm Đoan Trang đã làm những gì? Mời qúy vị nghe Trân Văn tường trình...
Chỉ biết là... “xâm phạm an ninh quốc gia”
Tuy tin cô Phạm Đoan Trang, phóng viên báo điện tử VietNamNet, bị lực lượng an ninh quốc gia của Công an Việt Nam bắt giữ vì “xâm phạm an ninh quốc gia”, đã được khá nhiều diễn đàn điện tử, blog, cũng như hàng chục hãng thông tấn quốc tế loan báo, song đến nay, những chi tiết có liên quan đến vụ bắt giữ này chỉ ngừng lại ở mức độ đó.
Tuy tin cô Phạm Đoan Trang, phóng viên báo điện tử VietNamNet, bị lực lượng an ninh quốc gia của Công an Việt Nam bắt giữ vì “xâm phạm an ninh quốc gia”, đã được khá nhiều diễn đàn điện tử, blog, cũng như hàng chục hãng thông tấn quốc tế loan báo, song đến nay, những chi tiết có liên quan đến vụ bắt giữ này chỉ ngừng lại ở mức độ đó.
Trong một cuộc trao đổi ngắn với Đài Á Châu Tự Do vào tối 1 tháng 9, ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng Biên tập báo điện tử VietNamNet, bảo rằng, VietNamNet cũng chỉ được thông báo là cô Phạm Đoan Trang đã bị bắt vào tối 28 tháng 8, ở bên ngoài Toà soạn, do những hoạt động bên ngoài tờ báo chứ không liên quan đến những bài cô viết trên VietNamNet.
Cũng theo ông Nguyễn Anh Tuấn, cách nay vài năm, cô Phạm Đoan Trang từng làm việc cho bộ phận VietNamNet TV. Sau đó xin nghỉ việc và mới quay trở lại làm việc cho chuyên trang Tuần Việt Nam được hơn một năm. Ông Tuấn khẳng định rằng, sau khi tìm hiểu đủ thông tin, VietNamNet sẽ có thông tin chính thức liên quan đến việc cô Phạm Đoan Trang bị bắt.
Đã từng xúc phạm... Trung Quốc
Ngoài việc trò chuyện với ông Nguyễn Anh Tuấn, chúng tôi cũng đã tìm cách tiếp xúc với vài blogger được xem là thạo tin để tìm những thông tin có liên quan đến việc bắt giữ cô Phạm Đoan Trang. Theo một blogger có nickname là PoorLady thì: Lý do quan trọng nhất là cô này bị cáo buộc liên quan đến việc tiết lộ tin Tham tán Kinh tế - Thương mại Hồ Tỏa Cẩm lên lớp báo chí Việt Nam. Cô này đưa tin cho Người Buôn Gió và Người Buôn Gió đã viết một bài trên blog của anh.
Cũng có một nguồn tin cho biết là phóng viên Đoan Trang viết một bài liên quan tới Tham tán Kinh tế - Thương mại Hồ Tỏa Cẩm đề nghị phía Việt Nam kỷ luật những tờ báo cho đăng những phát biểu của bà Phạm Chi Lan và ông Nguyễn Minh Phong về hàng hoá Trung Quốckhông tốt mà tràn vào thị trường Việt Nam.
Bài này không đăng trên những tờ báo chính thức ở trong nước mà đăng trên blog. Có một lý do nữa là cô này viết một bài nói về những hiệp ước mà chính phủ Việt Nam đã ký với Trung Quốc, cho nên đã bỏ qua rất là nhiều cơ hội cho đất nước đi lên...
Cũng có một nguồn tin cho biết là phóng viên Đoan Trang viết một bài liên quan tới Tham tán Kinh tế - Thương mại Hồ Tỏa Cẩm đề nghị phía Việt Nam kỷ luật những tờ báo cho đăng những phát biểu của bà Phạm Chi Lan và ông Nguyễn Minh Phong về hàng hoá Trung Quốckhông tốt mà tràn vào thị trường Việt Nam.
Chúng tôi đã thử đối chiếu những thông tin do blogger PoorLady cung cấp với các dữ kiện khác.
Theo đó, đúng là blogger Người Buôn Gió đã từng đưa lên blog của ông một tin ngắn, độ dài khoảng 400 chữ, cho biết, trong cuộc gặp bà Quản Duy Ngân Hà – Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ Thông tin Truyền Thông Việt Nam, ông Hồ Tỏa Cẩm, Tham tán Kinh tế - Thương mại của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, đã yêu cầu Bộ Thông tin Truyền Thông Việt Nam cần phải rút kinh nghiệm và phải quản lý báo chí chặt chẽ hơn do báo chí Việt Nam đã để hai chuyên gia kinh tế lả bà Phạm Chi Lan và ông Nguyễn Minh Phong có những lời lẽ không hữu nghị với Trung Quốc.
Ít ngày sau, sự kiện mà blogger Người Buôn Gió loan báo trên blog của ông, đã được chi tiết hoá bằng bài viết “Sứ quán Trung Quốc đòi khuyến cáo, nhắc nhở VietNamNet”, có độ dài lên tới 2.200 chữ, trên Diễn đàn điện tử X-cafe.
Với bút danh N.T.D - tác giả bài viết “Sứ quán Trung Quốc đòi khuyến cáo, nhắc nhở VietNamNet” đã chọn lối tường thuật sự kiện theo kiểu “Biên bản cuộc họp”. Nội dung cuộc họp giữa Tham tán Kinh tế - Thương mại của Đại sứ quán Trung Quốc, với Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ Thông tin Truyền Thông Việt Nam đủ để khiến bất kỳ người Việt nào đọc bài viết này cũng cảm thấy ngán ngẩm cho quốc thể, âu lo cho chủ quyền quốc gia!
Trung Quốc theo đuổi chính sách đã làm gì thì làm tới cùng. Có khi họ không quan tâm nhiều hoặc bất chấp những điều thuộc về đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh: hàng xấu, hàng độc... Ngay cả đối với dân của họ, họ cũng không quan tâm, chẳng hạn trường hợp trẻ em Trung Quốc ngộ độc sữa...
Bà Phạm Chi Lan
Tại sao “Sứ quán Trung Quốc đòi khuyến cáo, nhắc nhở VietNamNet”? Ngày 16 tháng 6, chuyên trang Tuần Việt Nam của báo điện tử VietNamNet tổ chức một buổi tọa đàm, nhằm tìm giải pháp đối phó với hàng Trung Quốc chất lượng thấp, với sự tham gia của bà Phạm Chi Lan – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam và ông Nguyễn Minh Phong - Viện nghiên cứu Kinh tế Xã hội Hà Nội.
Tại buổi tọa đàm này, bà Phạm Chi Lan cho rằng, một trong những nguyên nhân giúp hàng Trung Quốc có giá bán rẻ là: Trung Quốc theo đuổi chính sách đã làm gì thì làm tới cùng. Có khi họ không quan tâm nhiều hoặc bất chấp những điều thuộc về đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh: hàng xấu, hàng độc... Ngay cả đối với dân của họ, họ cũng không quan tâm, chẳng hạn trường hợp trẻ em Trung Quốc ngộ độc sữa... Cho nên đối với người tiêu dùng nước khác, dại dột mua hàng kém chất lượng và bị hại, họ càng không coi đó là vấn đề của mình.
Ông Nguyễn Minh Phong tán thành điều đó và góp thêm: Người hàng xóm của chúng ta đã ‘hy sinh’ 750 triệu nông dân nước họ để có giá thành lao động cực thấp, thậm chí với 1USD một ngày họ cũng làm quần quật, chưa kể chi phí của lao động trẻ em, lao động tù nhân. Và như mọi người đều biết, trong nhiều trường hợp, họ bỏ qua những tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Đấy là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của họ. Nếu chúng ta bám được vào ý này, chúng ta sẽ tạo được những điểm mạnh cho chúng ta.
Người hàng xóm của chúng ta đã ‘hy sinh’ 750 triệu nông dân nước họ để có giá thành lao động cực thấp, thậm chí với 1USD một ngày họ cũng làm quần quật, chưa kể chi phí của lao động trẻ em, lao động tù nhân. Và như mọi người đều biết, trong nhiều trường hợp, họ bỏ qua những tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Ông Nguyễn Minh Phong
Nếu đối chiếu những nhận định của bà Phạm Chi Lan và ông Nguyễn Minh Phong với các ý kiến phân tích, đánh giá của nhiều chuyên gia, cũng như báo chí trên thế giới về chính sách kinh tế và hàng hoá Trung Quốc, ai cũng có thể thấy những nhận định này không mới.
Vậy thì tại sao một nhân viên ngoại giao, chỉ giữ vai trò tham tán kinh tế - thương mại trong đại sứ quán của một quốc gia, lại dám hành xử như vậy trên lãnh thổ của một quốc gia khác? Chưa kể trước yêu cầu như thế của một nhân viên ngoại giao nước ngoài, tại sao một viên chức cấp Vụ trưởng lại đi cám ơn và hứa "sẽ xem xét, báo cáo lại với các đồng chí có trách nhiệm”? Thậm chí còn mời Đoàn quản lý báo chí của Trung Quốc sang thăm Việt Nam để trao đổi về chính sách quản lý báo chí bằng chi phí của Việt Nam?
Đến này, ông Bùi Thanh Hiếu - blogger Người Buôn Gió đã bị giam năm ngày. Cô Phạm Đoan Trang đã bị giam bốn ngày nhưng cơ quan an ninh Việt Nam chưa tiết lộ cả hai chỉ bị tạm giữ hành chính hay đã bị khởi tố và đang tạm giam vì tội gì. Thân nhân cũng như nơi họ làm việc chỉ cho biết họ mất tự do vì “xâm phạm an ninh quốc gia”.
Tường thuật thông tin, trình bày suy nghĩ không có lợi cho quan hệ Việt – Trung theo đúng “phương châm 16 chữ vàng” và “tinh thần bốn tốt” là đủ để bị coi như “xâm phạm an ninh quốc gia”?
BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM
GS Nguyễn Văn Tuấn
Đối với các phóng viên ngoại quốc (phương Tây) Việt Nam không (hay chưa) có tự do báo chí. Nhà nước Việt Nam không đồng ý với quan điểm này của giới báo chí phương Tây. Cứ mỗi lần có ai đặt vấn đề tự do báo chí thì Người phát ngôn Bộ Ngoại giao lặp lại quan điểm rằng Việt Nam có tự do báo chí, rồi lấy con số mấy trăm tờ báo ra làm bằng chứng.
Nhưng thật sự tôi không thấy con số tờ báo có liên quan gì đến tự do báo chí cả. Ừ, thì có nhiều tiếng nói đó, nhưng hình như những tiếng nói này na ná giống nhau. Điều này cũng dễ hiểu vì tất cả báo chí chỉ trực thuộc sự kiểm soát của Đảng, nên làm sao họ nói khác được. Vấn đề là những tờ báo này chưa bao giờ là diễn đàn cho những tiếng nói phản biện, chưa bao giờ là phương tiện cho những tranh luận công khai về các vấn đề mà người dân quan tâm. Nhưng nếu có những ai lên tiếng thì có khi chuốc họa vào thân, chẳng hạn như trường hợp của một số phóng viên gần đây.
Thật vậy, dạo này, Nhà nước có vẻ bố ráp giới truyền thông rất căng. Giới phóng viên liên tục bị “hỏi thăm”, và có người thậm chí còn bị bắt bớ, giam cầm. Một bầu không khí ngột ngạt.
Tháng trước, khi còn ở TPHCM tôi đã nghe đồn đại râm ran rằng Huy Đức sẽ bị bắt, thậm chí còn nghe công an đã thông báo Sài Gòn Tiếp thị (nơi Huy Đức công tác) là sẽ bắt anh ta. Thế nhưng sau đó thì chẳng thấy công an động tĩnh gì. Nhưng (vẫn nghe nói) Huy Đức bị theo dõi gắt gao, cứ mỗi lần rời Tòa soạn là có người chạy xe kè kè theo sau. Điện thoại và e-mail cũng có thể bị theo dõi. Đến giữa tháng 8 khi còn dự hội nghị nội tiết thì tôi nghe một anh bạn cho biết Huy Đức đã bị SGTT cho nghỉ việc.
Tôi cũng thỉnh thoảng viết cho SGTT, và đồng tình với những bài viết của anh. Nói tôi ngưỡng mộ những ý kiến sắc sảo của anh cũng đúng. Do đó, khi còn ở Sài Gòn, tôi đã có ý định rủ Huy Đức đi uống cà phê, nhưng chưa làm được điều này. Hôm tháng 7 thì anh đi công tác, còn tôi lại sắp về Sydney. Đến tháng 8 tôi bận túi bụi nên cũng không có thì giờ để mời Huy Đức uống cà phê. Thật là tiếc! Hi vọng Huy Đức an toàn trong tương lai.
Hôm nay, đọc tin này mới biết là phóng viên Đoan Trang của TuanVietNam bị bắt. Tôi vẫn theo dõi đọc những bài viết của Đoan Trang về các vấn đề biển Đông, và rất có cảm tình với cô phóng viên mà tôi biết là còn trẻ này. Trước đây, tôi cũng thường viết cho TuanVietNam (khi đặc san này mới ra đời), nhưng sau này bận quá nên rất ít viết cho họ. Dù chưa ghé qua Tòa soạn lần này, chưa gặp bất cứ ai trong tòa soạn, nhưng tôi nghe bạn bè báo chí kể rằng TuanVietNam chỉ do vài cô phóng viên trẻ điều hành, và điều này làm tôi phục sát đất. Những người như Đoan Trang và đồng nghiệp của chị ấy trong TuanVietNam (mà tôi không nêu tên) làm tôi còn hi vọng về giới trí thức trẻ ở trong nước.
Điều đáng nói ở đây là sự im lặng của cơ quan chủ quản SGTT và Vietnamnet. Dù phóng viên của họ bị bắt nhưng Vietnamnet thậm chí không có đến một bản tin về chuyện này! Còn SGTT thì im lặng về sự ra đi của Huy Đức. Thái độ này rất khác với giới truyền thông bên Úc mà tôi biết. Còn nhớ một phóng viên của Đài truyền hình số 7 và phóng viên của tờ Sydney Morning Herald ra tòa, mà họ đưa tin gần như hàng ngày. Khi một phóng viên kì cựu nào rời tờ báo, tôi thấy họ đều đưa tin rất trang trọng. Thậm chí một cây bỉnh bút đi nghỉ một thời gian (nghỉ hè hay điều trị bệnh) tờ báo đều thông báo cho độc giả biết. Nói thế thôi, chứ tôi cũng hiểu tại sao Vietnamnet và SGTT im lặng, bởi vì họ chịu sự chi phối của Bộ 4T. Khi Bộ 4T không cho phép thì sao họ dám viết gì. Phải thông cảm cho họ!
Đầu tuần này thì nghe tin một blogger nổi tiếng (Người buôn gió) bị bắt. Anh nổi tiếng đến độ những ai hay đọc blog đều biết đến Người buôn gió qua loạt bài “Đại Vệ chí dị”. Có lần ngồi nói chuyện phiếm với bè bạn ở Thanh Đa, một anh bạn nói Người buôn gió chắc chắn phải là một người ngoài Hà Nội, vì theo anh, chỉ có dân “sĩ phu Bắc Hà” mới nghĩ ra những câu chuyện độc đáo và thâm thúy như thế, chứ còn dân miền Nam nếu có bức xúc quá thì chửi vài câu rồi kéo nhau đi… nhậu. Vâng, tôi cũng là một fan của Người buôn gió, và thán phục cái tâm và tầm của anh Nay anh lại bị bắt làm tôi thấy buồn cho không khí báo chí ở trong nước quá.
Dù giới an ninh Việt Nam đánh giá thế nào về những phóng viên vừa kể, tôi vẫn xem họ là những công dân ưu tú và can đảm của Việt Nam.
Điều đáng chú ý là tất cả những phóng viên bị bắt bớ gần đây đều là những người từng viết bài liên quan đến Trung Quốc. Điều này dẫn đến thắc mắc: Chẳng biết các quan Bộ Hình nước Tề có tác động hay đứng đằng sau giật dây nước Vệ (nói theo ngôn ngữ của Người buôn gió) để bắt bớ những công dân ưu tú này?
NVT Nguồn: http://tuanvannguye n.blogspot. com/2009/ 08/bao-chi- o-viet-nam. Html
&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&& TU DAY, THUOC VE NHUNG THOI KY TRUOC
LM LÊ QUANG UY BỊ CÂU LƯU TẠI SÂN BAY
Linh mục Dòng chúa Cứu thế bị câu lưu ở sân bay Tân Sơn Nhất Thiện Giao, phóng viên RFA 2009-06-09
Linh mục Lê Quang Uy thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn vừa từ Hoa Kỳ trở về Việt Nam đã bị câu lưu tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Máy vi tính cùng các băng đĩa ông mang theo đã bị giới hữu trách thành phố Hồ Chí Minh giữ lại để giám định và cho đến nay vẫn chưa trả lại cho ông.
Một linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế ở Hà Nội, là ông Nguyễn Văn Khải, đang có mặt tại Sài Gòn, chia sẻ với chúng tôi những thông tin liên quan đến việc linh mục Lê Quang Uy bị câu lưu và bị thu giữ hành lý. Biên tập viên Thiện Giao phỏng vấn linh mục Nguyễn Văn Khải sau đây.
Thu giữ máy tính, băng đĩa
Thiện Giao: Thưa linh mục Nguyễn Văn Khải, được biết ông là một tu sĩ tại Giáo Xứ Thái Hà, Hà Nội, nhưng hiện nay đang có mặt tại Sài Gòn, nơi linh mục Lê Quang Uy phục vụ. Được biết linh mục Lê Quang Uy gặp một số trục trặc tại sân bay Tân Sơn Nhất khi ngài từ nước ngoài trở về Sài Gòn. Thưa, có những trục trặc như vậy không ạ?
LM Nguyễn Văn Khải: Vâng. Tôi là một linh mục tu sĩ phục vụ tại giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, nhưng hiện nay tôi đang có mặt tại dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Đây là Nhà Mẹ của Nhà Dòng Việt Nam chúng tôi. Đúng lúc tôi vào đây thì linh mục Lê Quang Uy, một người anh em trong Dòng chúng tôi vừa kết thúc thời gian phục vụ tại Hoa Kỳ và trở về Việt Nam. Khi vừa vào đến đây vào buổi sáng thì buổi trưa tôi gặp linh mục Lê Quang Uy nói cho biết ngài vừa bị các quan chức sân bay giữ lại gần 2 giờ đồng hồ để kiểm tra hành lý trong 1 phòng đặc biệt. Họ thu giữ của ngài một số băng đĩa và 1 máy tính mà ngài dùng để làm việc. Họ có hẹn hôm nay thứ Hai lên Sở Văn Hóa làm việc. Và hôm nay linh mục Uy có mặt tại đấy để làm việc với cán bộ phòng giám định. Cùng đi với linh mục Lê Quang Uy là các cha dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn và Hà Nội. Có điều lạ, là ngoài cán bộ Sở Văn Hóa cùng 1 chuyên viên kỹ thuật, còn có 5 cán bộ không rõ danh tính cùng hiện diện làm việc. Trong số 5 cán bộ này, theo nhận diện của chúng tôi, thì có 1 cán bộ biết rõ tên tuổi. Đó là ông Tâm, thuộc Phòng An Ninh Chính Trị PA 38, Công An Thành Phố Hồ Chí Minh. Các cán bộ hải quan và nhân viên an ninh tách ngài ra khỏi đoàn khách đang làm thủ tục nhập cảnh. Thế rồi họ đưa ngài vào một phòng đặc biệt, ra lệnh khám hành lý của ngài. Thế nhưng, họ không cho biết lý do, họ cũng không nói mục đích khám. Họ không cho linh mục Uy biên bản nào cả.
Lý do?
Thiện Giao: Linh Mục Lê Quang Uy có nói với ông về lý do người câu lưu linh mục ấy không?
LM Nguyễn Văn Khải: Các cán bộ hải quan và nhân viên an ninh tách ngài ra khỏi đoàn khách đang làm thủ tục nhập cảnh. Thế rồi họ đưa ngài vào một phòng đặc biệt, ra lệnh khám hành lý của ngài. Thế nhưng, họ không cho biết lý do, họ cũng không nói mục đích khám. Họ không cho linh mục Uy biên bản nào cả. Linh mục Lê Quang Uy có yêu cầu biên bản thư giữ hành lý, nhưng họ nói không cần thiết.
Thiện Giao: Thưa, linh mục Lê Quang Uy có nhận lại hành lý của ngài chưa?
LM Nguyễn Văn Khải: Đến bây giờ thì linh mục Lê Quang Uy chưa nhận được đồ đoàn bị giữ ở sân bay. Lý do họ nói là vì giám định chưa xong. Tức là hôm nay, cán bộ của Cục Hải Quan giao máy tính và băng đĩa ấy cho phòng giám định, Sở Văn Hóa. Sở này sẽ giao chép lại nội dung từ đĩa và máy tính ra đĩa của Sở Văn Hóa rồi mới đưa đi giám định. Tức là hôm nay tiếng là đi làm việc giám định, nhưng thực tế chỉ mới chứng kiến cảnh sao chép nội dung băng đĩa thôi. Vì trục trặc kỹ thuật, sao chép buổi sáng chưa xong. Buổi chiều cũng chưa xong. Họ có nói ngày mai sẽ tiếp tục làm công việc sao chép, sau đó giám định thì mới có các buổi làm việc tiếp theo.
Thiện Giao: Xin cảm ơn thời gian và thông tin mà linh mục chia sẻ với chúng tôi.
LM LÊ QUANG UY TẠI SỞ VĂN HÓA
Tin về buổi làm việc của linh mục Lê Quang Uy với Sở Văn hoá – Thông tin Tp. HCM
Sáng nay, 08.6.2009, linh mục Lê Quang Uy từ trụ sở Tỉnh Dòng Chúa Thế Việt Nam tại Sài Gòn đến Sở Văn hoá – Thông tin để làm việc về chiếc laptop của ngài bị tịch biên cách đây mấy ngày. Cùng đi với linh mục Lê Quang Uy là 3 linh mục khác cùng Dòng.
Chuẩn bị lên đường với Cha Quang Uy
Theo tường thuật của các linh mục có mặt trong ngày làm việc hôm nay tại Sở Văn hóa - Thông tin TP. HCM, thì vào lúc 9g15 nhân viên Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất chuyển laptop của cha Uy qua Sở Văn hóa - Thông tin (164 Đồng Khởi, quận 1).
Ban đầu, nhân viên Sở Văn hoá – Thông tin cố tình để các linh mục phải chờ đợi ở bên ngoài lâu giờ. Chỉ khi một trong số các ngài lên tiếng thúc giục, thì các nhân viên mới uể oải bắt đầu buổi làm việc. Buổi làm việc diễn ra từ 10g30 đến 11g30, sau đó nghỉ trưa và tiếp tục từ 13g50 đến 17g30.
Trước cổng Sở Văn hóa - Thông tin TP. HCM
Điều khiến nhiều người không lấy gì làm ngạc nhiên là trong buổi làm việc cả sáng cũng như chiều, không chỉ có nhân viên của Sở Văn hoá – Thông tin trực tiếp gặp gỡ các linh mục, mà còn có một số công an chìm cũng làm việc cách “kín đáo”.
Các linh mục cho biết, khi đến Sở Văn hóa - Thông tin, các ngài thấy có mặt Phó công an PA38 tên Tâm. Anh này vì bị nhận diện nên đã tránh mặt ra ngoài, nhưng sau đó anh ta chỉ đạo cho 4 đàn em vào bên trong giám sát. Bên ngoài cũng có một số đàn em nữa canh chừng chuyện “đột xuất”.
Ban đầu các cán bộ nhất định chỉ cho một mình cha Uy vào bên trong, nhưng các linh mục cương quyết yêu cầu phải có thêm người vào thì mới làm việc. Cuối cùng họ đồng ý cho một cha cùng vào.
Công việc của nhân viên Sở Văn hóa - Thông tin là mở niêm phong thùng đựng laptop do bên hải quan đưa qua và kiểm tra nội dung các tài liệu có trong laptop.
Một trong các linh mục cùng đi với cha Quang Uy nhận định: “Thật ra, nhân viên Sở Văn hóa - Thông tin chỉ làm theo lệnh của một công an chìm ngồi bên cạnh bảo chép lại file nào thì anh nhân viên chép lại y như lệnh”.
Cha Quang Uy và cha Nguyễn Thể Hiện trong phòng thường trực của Sở Văn hóa - Thông tin
Anh công an chìm này sau khi chọn lựa một số bài viết liên quan đến những vấn đề anh được giao kiểm tra thì đã chép ra được 2 DVD.
Tưởng rằng buổi làm việc kết thúc ở đây vì các cán bộ sẽ tiến hành giám định trên 2 DVD đó, nhưng khi mọi việc chuẩn bị kết thúc thì anh Nguyễn Thiếu Sơn, nhân viên phòng giám định vào và yêu cầu phải chép tất cả dữ liệu có trong laptop vào một ổ cứng khác để tiến hành giám định. Anh cho biết thêm: Sở Văn hóa - Thông tin không có chức năng trả lại laptop cho cha Quang Uy mà phải gửi kết quả giám định và laptop về cho hải quan và bên hải quan sẽ xử lý.
Những vấn đề được anh công an chìm quan tâm để giữ lại dữ liệu là chuyện bôxít, chuyện công lý và hòa bình, chuyện ở DCCT Thái Hà và các bài giảng của cha Quang Uy. Anh ta tìm tòi các tài liệu này để giám định. Được biết, tất cả những tài liệu có trong laptop của cha Quang Uy mà anh công an chìm được lệnh phải lưu giữ thò đều đã được đăng trên mạng internet rồi, tất cả đều rõ rang công khai.
Anh nhân viên tiếp tục làm theo lệnh là chép tất cả dữ liệu vào một ổ cứng khác. Tuy nhiên, cho đến 17g30 anh ta vẫn không thể chép xong vì những trục trặc kỹ thuật. Cuộc làm việc đành phải tạm ngừng ở đây và hẹn một dịp khác sẽ tiếp tục khi có thể.
Như vậy, đến nay chuyện nhà cầm quyền muốn gây khó dễ, muốn quan tâm đặc biệt đến linh mục Lê Quang Uy vẫn chưa dừng lại. Vẫn chưa thể biết chuyện gì sẽ xảy ra cho tác giả của lời kêu gọi “Hãy cứu lấy Tây Nguyên khỏi thảm hoạ bauxite đỏ”.
CTV CSsR Nguồn: DCCTVN
ĐÌNH BẢN BÁO CHÍ NÓI VỀ LÒNG YÊU NƯỚC
Người trong cuộc nói gì về vụ báo Du Lịch bị đình bản? Nam Nguyên, phóng viên RFA 2009-04-16
Tờ báo Du Lịch ấn hành toàn quốc mỗi tuần 2 số vừa bị Bộ Thông Tin Truyền Thông Việt Nam ra quyết định đình bản ba tháng, kể từ hôm 15/4/2009.
Bộ Thông Tin Truyền Thông nêu rõ là trong số báo xuân Kỷ Sửu lãnh đạo báo đã cho đăng những bài không chấp hành sự chỉ đạo đối với thông tin quan trọng, phức tạp, nhạy cảm. Chấp hành nhưng không đồng ý Được biết, số báo Xuân Du lịch vừa nói, có bài với tựa đề “Tản mạn đảo xa”, phóng viên Trung Bảo đã đề cao tinh thần yêu nước của những ngừơi có quan điểm chống lại việc Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam.
Nam Nguyên phỏng vấn ông Nguyễn Quốc Thái Trợ Lý Phó Tổng Biên Tập phụ trách tờ Du Lịch. Từ TP.HCM ông Thái phát biểu: Ông Nguyễn Quốc Thái: Chúng tôi chấp hành quyết định của Bộ Thông Tin Truyền Thông (TTTT) nhưng tôi không đồng ý với nội dung của quyết định đó.
Nam Nguyên: Thưa như vậy ông không đồng ý ở những điểm nào? Ông Nguyễn Quốc Thái: Bởi vì trong quyết định đó, Bộ TTTT nói để kiện toàn tổ chức, phần này chúng tôi không nói đến. Nói về những bài trong số báo Xuân, trong đó nêu ra bài ‘Tản mạn đảo xa’ của phóng viên Trung Bảo.
Đó là một bài viết thể hiện những bức xúc lo lắng và buồn phiền của một công dân một quốc gia bị nứơc khác xâm lấn phần đất quê cha đất tổ của mình. Một biểu lộ về lòng yêu nứơc như vậy, tôi nghĩ không nên bị kết án.
Chúng tôi thấy rằng bài báo đó là một bài viết thể hiện những bức xúc lo lắng và buồn phiền của một công dân một quốc gia bị nứơc khác xâm lấn phần đất quê cha đất tổ của mình. Một biểu lộ về lòng yêu nứơc như vậy, tôi nghĩ không nên bị kết án.
Nam Nguyên: Trong quyết định đình bản có nói là Báo đã không xử lý đúng những thông tin nhạy cảm. Thưa điều này nên được hiểu như thế nào? Ông Nguyễn Quốc Thái: Tôi không hiểu cách suy luận của những ngừơi có quyết định đó như thế nào. Nhưng tôi đã đọc lại bài của phóng viên Trung Bảo, cũng như các bài khác có được nhắc đến, tôi thấy rằng không có gì sai trái trong tất cả những bài viết đó hết.
Tôi vẫn tự hỏi, phải chăng biểu lộ một tình cảm về đất nứơc của mình, ở trong hoàn cảnh nào đó không phù hợp với quan điểm của một ngừơi nào đó là một cái tội. Tôi nghĩ rằng lịch sử sẽ xét xử việc này.
Sẵn sàng tranh luận công khai
Nam Nguyên: Thưa ông, với quyết định này tương lai Báo Du Lịch sẽ như thế nào theo sự nhận định của ông? Ông Nguyễn Quốc Thái: Theo như quyết định của Bộ Thông Tin Truyền Thông để kiện toàn tổ chức về nhân sự, thì chúng tôi không biết chiều hứơng sẽ như thế nào. Bởi vì như thế sẽ có bổ nhiệm mới và chủ trương của người mới sẽ ra sao thì chúng tôi chưa biết rõ được.
Tôi không đồng ý nội dung quyết định đình bảo báo Du Lịch, và tôi sẵn sàng tranh luận công khai vấn đề này trên các phương tiện truyền thông. Anh Nguyễn Trung Dân là Phó Tổng Biên Tập Phụ Trách, theo cách nói khác là Quyền Tổng Biên Tập, anh đã xác nhận anh chịu hình thức kỷ luật, nếu biện pháp kỷ luật là cần thiết thì anh sẽ sẵn lòng.
Những nhân viên thuộc quyền thì nếu có một người khác về phụ trách tờ báo thì đó là quyền quyết định của họ, hiện nay ban biên tập vẫn hoạt động bình thường, trong thời gian ấn bản báo Du Lịch tạm đình bản, các phụ trang và Du Lịch Online vẫn hoạt động bình thường.
Nam Nguyên: Thưa ông đây có phải là biểu hiện báo chí phải đi theo lề bên phải như báo chí trong nứơc từng nói tới?
Ông Nguyễn Quốc Thái: Trong cuộc họp trực tuyến ngày hôm qua với ông Tổng Cục Trưởng Du Lịch kiêm Thứ Trưởng Bộ Văn Hoá Thể Thao và Du Lịch.
Tôi có thông tin cho ông biết rằng, trong ngày hội du lịch ở Đầm Sen, chúng tôi đã bán được mấy ngàn tờ báo chỉ trong một buổi sáng. Như vậy chứng tỏ Báo Du Lịch chúng tôi đi đúng hứơng đúng nguyện vọng của ngừơi đọc.
Việc thay đổi nhân sự và tổ chức là quyết định của cơ quan có thẩm quyền, nhưng quyết định còn lại để đình bảo báo Du Lịch ba tháng, thì như tôi đã trình bày là tôi không đồng ý nội dung quyết định đó và tôi sẵn sàng tranh luận công khai vấn đề này trên các phương tiện truyền thông.
Bạn nghĩ gì quyết định đình bản báo Du Lịch của Bộ Thông tin Truyền thông VN? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của Bạn, hoặc tham gia thảo luận tại Trang blog Ban Việt ngữ RFA
Nam Nguyên: Liệu yêu cầu của ông có hiện thực trong bối cảnh xã hội và báo chí Việt Nam hiện nay thưa ông? Ông Nguyễn Quốc Thái: Có một cuộc tranh luận công khai như vậy thì sẽ tốt đẹp hơn. Nhưng có thể có hay không thì không thuộc thẩm quyền của chúng tôi.
Nam Nguyên: Ngoài những vấn đề vừa nói, chúng tôi có thông tin là báo Du Lịch hôm thứ Hai có đăng một bài về vụ Bauxite, vấn đề vốn đang gây sôi nổi, rồi qua ngày thứ Ba báo bị đình bản. Ông Nhận định gì về sự kiện này? Ông Nguyễn Quốc Thái: Xin các ông tự nhận định và đánh giá, tôi xin phép được không bình luận vấn đề này.
Nam Nguyên: Xin cảm ơn ông!
PHÓNG VIÊN KHÔNG BIÊN GIỚI LÊN ÁN
Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ Phóng Viên Không Biên Giới lên án vụ báo Du lịch bị phạt đình bản vì đăng những bài về chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa trong đặc san Tết Kỷ Sửu 2009
Trong một thông cáo phổ biến ngày 16 tháng 4, Phóng Viên Không Biên Giới cực lực lên án vụ bộ Thông tin Truyền thông CSVN phạt đình bản 3 tháng báo Du lịch. Trả lời cuộc phỏng vấn của đài BBC, ông Nguyễn Trung Dân, Phó tổng biên tập cho rằng tất cả những bài viết trên đặc san Du lịch Tết Kỷ Sửu 2009 chỉ là để phản ảnh những Khát Vọng của dân chúng. Ông còn khẳng định: "Người Việt Nam nào cũng làm như tôi (khi quyết định cho đăng các bài trên). Động viên lòng yêu nước của người dân (chỉ là một điều tốt thôi) có gì mà không làm ?’’. Ông dứt khoác bác bỏ sự cáo buộc ban biên tập và các tác giả đã phạm lỗi lầm đối với luật báo chí CSVN.
Nhắc lại, báo Du lịch thuộc Tổng cục Du lịch (bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch CSVN), trong đặc san Tết Kỷ Sửu 2009, bên cạnh những sáng tác của vài nhà văn tên tuổi như Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang A và nhứt là nhà thơ bất đồng chính kiến Bùi Minh Quốc, còn đăng một số bài báo, văn thơ về chủ đề Hoàng Sa, Trường Sa. Báo ngợi ca sinh viên, thanh niên, bất chấp lệnh cấm và hành vi trấn áp thô bạo của nhà nước CSVN, đã xuống đường biểu tình phản đối chính sách bành trướng bằng vũ lực của tân thực dân và đế quốc Trung Cộng. Trong những bài viết đáng chú ý có ‘’Tản Mạn cho Đảo Xa’’, hoặc ‘’Ải Nam Quan’’ với đoạn thơ trích từ vỡ kịch thơ ‘’Hận Nam Quan’’ của thi sĩ Hoàng Cầm. Báo vừa phát hành đã gây xôn xao lớn trong dư luận quốc nội, nhứt là giới thanh niên, sinh viên, học sinh, giáo sư, nhà văn, trí thức. Một nguồn tin báo động: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Ðảng, bộ Thông tin Truyền thông và bộ Công an CSVN sẽ có biện pháp để ‘’nghiêm khắc xử lý vụ sai phạm trầm trọng chưa từng thấy này đối với luật báo chí hiện hành”.
Còn nhớ trước đây tờ báo điện tử VietNamNet đã bị cảnh cáo và xử phạt hành chánh chỉ vì đăng một bài viết về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có bàn đến thái độ chính đáng của giới trẻ đòi nhà cầm quyền CSVN bảo vệ lãnh hải Việt Nam. Chuyện phải đến vừa đến dưới chế độ độc tài CS. Tờ Du lịch bị phạt đình bản 3 tháng kể từ 14 tháng 4. Biện pháp chế tài này được áp dụng bằng quyết định có hiệu lực tức khắc của Đỗ Quý Doãn, thứ trưởng Thông tin Truyền thông CSVN. Quyết định nêu lý do là ‘’lãnh đạo báo Du lịch đã không chấp hành sự chỉ đạo đối với các thông tin quan trọng, phức tạp và nhạy cảm’’. Phạm tội vì đã ‘’cho đăng những thông tin trên số báo Tết Kỷ Sửu 2009 vi phạm nghiêm trọng một số quy định tại Luật báo chí và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí’’... Càng đáng bị tội nặng ’khi lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên đã chưa nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ nghiêm trọng của khuyết điểm...mặc dù họ ‘’đã kiểm điểm những sai phạm trên nhưng thiếu nghiêm túc’’. Nói rõ hơn, tờ Du lịch bị buộc tội không 'thông tin trung thực’', không tuân thủ ‘'tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước'’ và đã ‘'kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước'’.
Genève ngày 16 tháng 4 năm 2009
KỀM CHẾ BLOG, NGUỒN SINH LỰC
CSVN kềm chế hệ thống blog đầy sinh lực trong nước Tim Johnston, Washington Post, 18/01/09, Nguyễn Phương Nga lược dịch
Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều quyết định trong những tháng gần đây để ngăn chặn việc xử dụng blog, vì con số những người dùng Internet đang tăng vọt trong đất nước cộng sản này.
Chiến dịch trên bắt đầu vào tháng 8, khi chính phủ công bố một nghị định cho phép công an có một quyền hạn rộng rãi để ra tay đối phó với thành phần chỉ trích nhà nước trên mạng, trong đó cả những người chống đối “nhà nước CHXHCN Việt Nam”, phá hoại an ninh quốc gia và trật tự xã hội.
Nghị định cũng cấm “khiêu dâm truỵ lạc … và phá huỷ phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc”, theo tin tức đăng tải trên tờ báo mạng của Bộ Thông tin Truyền thông.
Việt Nam là một quốc gia đến với thời đại Internet tương đối khá trễ, nhưng mức tăng trưởng kinh tế phi thường trong vài năm qua đã tạo ra một sự gia tăng mạnh mẽ tương tự trong những người xử dụng Internet. Nhiều ước lượng cho thấy khoảng 24 triệu trong tổng số dân 84 triệu người thường xuyên lên mạng. Các dịch vụ thì có đầy rẫy để cho những ai không thể sắm nổi máy tính, và nhiều cửa tiệm nhỏ bán các nhu liệu vi phạm bản quyền cho những người có máy.
Trong một môi trường mà thông tin bị kiểm soát nặng nề bởi truyền thông nhà nước, thì các blogger đã nhanh nhẩu tìm ra được nhiều khả năng mà thế giới Internet có thể cung cấp cho họ. Tin tức về đất nước, phần lớn là từ các cơ quan truyền thông nước ngoài, và những bài bình luận chính trị thường xuyên phê phán chỉ trích chính phủ đã trở thành một nhu cầu cần thiết hàng đầu. Do đó, những bàn cãi về tương lai chính trị của đất nước, dù có hoặc không có Ðảng Cộng sản, đã trở nên sôi nổi.
“Ðây là một môi trường trí tuệ không được đồng đều”, theo bà Kim Ninh, người đứng đầu tổ chức Asia Foundation ở Hà Nội, khi nói về hệ thống của các trang blog, Bà nói, “Có rất nhiều chuyện đánh bùn sang ao, nhưng ở bên dưới là cả một truyền thống trí tuệ có từ thời kỳ thực dân Pháp trong các thập niên 20s, 30s, và 40s đang tiếp tục tràn tới. Họ tiếp nhận các đề tài tranh luận chính trị rất nghiêm túc. Mọi người vào các trang blog để tìm những tin tức mà họ không thể lấy được từ truyền thông chính thức”.
Hành động của nhà nước đối với việc tham gia vào các blog đã khêu gợi nên một phản ứng gay gắt từ những người cổ xuý cho tự do ngôn luận, “Việt Nam là một trong vài nước mà người dân có thể bị bỏ tù vì các tội danh như ‘lợi dụng quyền tự do dân chủ’. Các nhà tài trợ cho Việt Nam nên tiếp tục đòi hỏi nhà nước phải chấm dứt hành động hình sự hóa việc bày tỏ tư tưởng một cách ôn hòa”, theo ông Brad Adams, giám đốc Á châu của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch cho biết trong một thông cáo báo chí hôm Thứ Năm.
Sau một thời gian tương đối được tự do, khi các nhà báo trên mạng và báo giấy thử đi vào những phạm vi mà họ có thể đăng tải được, thì nhà cầm quyền mới đây lại bắt đầu đàn áp.
Cuối năm ngoái, toà án áp đặt một bản án tù hai năm lên một nhà báo sau khi ông ta viết một loạt bài vạch trần tham nhũng, và một blogger nổi tiếng được biết qua biệt danh Ðiếu Cày, có tên thật là Nguyễn Văn Hải, bị kết án 2 năm tù vì tội trốn thuế trong một trường hợp được khắp nơi coi như một sự trừng phạt vì anh ta tham gia vào blog.
Peter Leech, một người Úc đã thành lập ra ở Việt Nam một trang web, Intellasia.net, nhằm thu thập các tin tức phổ biến, bắt đầu gặp nhiều khó khăn với nhà cầm quyền vào tháng 6/2007. Ông ta nói rằng công an thường xuyên lục soát văn phòng Intellasia, máy chủ đặt trang web ở Hoa Kỳ bị tấn công và cuối cùng ông buộc phải bỏ chạy khỏi Việt Nam.
“Họ đang trở nên cứng rắn hơn đối với mọi thứ -báo chí, internet, mọi thứ”. Ông Leech nói từ thành phố Perth ở nước Úc.
Ðại đa số các blogger ở Việt Nam dùng các bộ phận nền tạo lập ra các trang blog của Yahoo và Google, và nhà nước nói rằng họ sẽ tranh thủ để tìm sự trợ giúp của các công ty này trong việc giám sát mạng internet.
“Các nhà cung cấp dịch vụ sẵn lòng hợp tác với các cơ quan Việt Nam”, theo Ðỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ Thông tin Truyền thông cho biết tại một cuộc họp báo hồi cuối tháng trước. “Tôi nghĩ là các nhà cung cấp dịch vụ cũng mong muốn có một môi trường internet sạch sẽ, Tôi nghĩ nếu các cơ quan nhà nước Việt Nam yêu cầu hợp tác, thì Google hoặc Yahoo cũng sẽ sẵn lòng”.
Bộ phận nền (platform) tạo lập ra blog phổ biến nhất đối với giới blogger Viêt Nam là Yahoo 360. Công ty Yahoo cho biết trong tuần này rằng họ chưa được nhà nước Viêt Nam tiếp xúc về bất cứ sự kiểm soát nào.
“Như một chính sách chung, thì công ty Yahơo cũng như các công ty khác trên thế giới, được yêu cầu phải tuân hành theo các luật lệ do các chính phủ đòi hỏi khi công ty là đối tượng lệ thuộc vào luật pháp của nước đó”, Yahơo nói trong một thông cáo, chỉ rõ ra cho thấy rằng bộ phận nền Yahoo 360 được vận hành từ Singapore
Ðể xem coi nhà nước Việt Nam có thể kiểm soát thành công Internet như thế nào. Như Trung Quốc đã cho thấy, có kỹ thuật tồn tại để ngăn chận các nội dung mà nhà nước không muốn, ít nhất là từ những người xử dụng thất thường. Nhưng không giống như những người xử dụng Internet của Trung Quốc, là nơi chính phủ của họ kiểm duyệt Internet từ lúc ban đầu, còn những người xử dụng ở Việt Nam đã có 8 năm được hưởng sự truy cập vào Internet không bị ràng buộc, vốn là điều mà họ coi là một quyền tự do.
Ông Leech nói về các quan chức nhà nước, “Nếu họ làm một vài điều gì đó khắc nghiệt, thì không những nó chỉ là một bước đi lùi to lớn, mà nó còn làm mọi người rất giận dữ”.
GIỚI HẠN MỚI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN
Phóng viên của Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị kết tội lạm dụng quyền tự do dân chủ
Đuổi việc nhà báo, bỏ tù phóng viên và giới viết blog thay vì làm những việc đó đối với các quan chức tham nhũng sẽ khiến nhà chức trách Việt Nam chẳng có thêm bạn.
Đó là kết luận của bài báo có tựa “Làm người đưa tin im tiếng” (Muting the messengers) mà tạp chí The Economist của Anh ra ngày 15/01/2009.
Báo này nói trong khoảng 700 tờ báo mà toàn bộ do chính phủ kiểm soát, chỉ có một số báo tương đối mạnh dạn trong cách đưa tin.
Tuy nhiên, phóng viên của hai tờ báo hàng đầu tại Việt Nam viết bài liên quan tới vụ tham nhũng của quan chức tại một ban quản lý dự án thuộc Bộ giao thông vận tải đã phải ra tòa vì tội “lạm dụng quyền tự do dân chủ”.
Tổng biên tập của hai tờ này (Thanh Niên và Tuổi Trẻ) mới đây nhận quyết định không được tái bổ nhiệm vì điều mà The Econnomist mô tả là vì họ làm việc quá hiệu quả.
Hệ lụy của vụ này cũng như nỗ lực khống chế giới viết blog có nội dung nhạy cảm về chính trị có thể làm cụt hứng nỗ lực chống tham nhũng.
'Không bắt cá lớn'
Hai báo có phóng viên bị bắt ra bài kêu gọi thả nhân viên của họ "Mặc dù có một số thành công về chống tham nhũng nhưng dường như chính phủ đã và đang chặt chém báo chí trước khi cá lớn bị sa lưới."
Mọi việc xảy ra vào thời điểm chẳng may mắn gì cho Việt Nam khi nền kinh tế đang có các vết rạn nứt.
Lo ngại về khủng hoảng tiền tệ làm giới đầu tư mất lòng tin.
Xuất khẩu giảm, đầu tư nước ngoài ít đi và triển vọng tụt dốc kinh tế khiến The Economist dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chỉ đạt 3.2% trong năm 2009.
Lần gần nhất tạp chí được đông đảo giới học giả và chính khách quốc tế đọc đã viết bài về Việt Nam hồi tháng 6/2008, nhắc nhở Hà Nội về thực trạng lạm phát ngoài vòng kiểm soát làm người dân mất lòng tin.
Trong bài lần này, lời cảnh báo cho Hà Nội là với hàng ngàn người có nguy cơ mất việc làm trong năm này thì rủi ro về bất ổn xã hội chắc chắn sẽ gia tăng.
Băng keo dán miệng chưa đủ,kỳ này thêm cây kim và sợi chỉ nữa. PPT Việt Nam
The Economist đưa ra một nhận xét xác đáng. Những giới hạn tự do ngôn luận mà nhà nước Việt Nam đưa ra gần đây chỉ làm cho Đảng CS cầm quyền thêm thù mất bạn. Cái mất nguy hiểm nhất của nhà nước Việt Nam là hạ cấp giá trị báo chí chính thống thành cơ quan tuyên truyền, dẫn tới việc từ người bình dân ít quan tâm thời cuộc cũng cho rằng khi "nhà nước nói thế này tức là sự việc đã xảy ra thế khác". Cách hiểu này sẽ rất nguy hiểm cho chế độ. Xem ra ngăn cấm ngôn luận lúc này lợi bất cập hại.
HIẾN CHƯƠNG KHỐI 8406
77, 06, 08 và vân vân (toàn bài)
Duyên Lãng Hà Tiến Nhất
Thiết nghĩ có nhiều bạn đọc khi xem qua tiêu đề trên sẽ không hiểu gì cả. Vâng đúng vậy, cái tiêu đề chỉ là những con số trần truồng vô nghĩa khiến không thể hiểu được người viết muốn nói gì. Nhưng nếu chúng tôi thêm vào trước các con số chữ “Hiến Chương” (Charter) thì đa số quí vị đều hiểu ra ngay, đó là các Hiến Chương 77 của Tiệp Khắc, Hiến Chương 06 của Việt Nam, và Hiến Chương 08 của Trung Quốc. Các con số đều là những niên kỷ Hiến Chương ra đời. Người viết chỉ có ý gợi tính tò mò một chút mua vui cho bạn đọc, và hơn nữa, rút ngắn cái tiêu đề lại một chút cho khỏi lòng thòng vướng bận.
Chữ Hiến-Chương (HC) trong bài viết được hiểu là một văn kiện xuất phát từ quần chúng nhân dân trong một quốc gia, nêu lên những nguyên tắc căn bản cho việc thay đổi một cơ chế hay một chế độ chính trị và điều hành đất nước làm sao cho tốt và hữu hiệu hơn trước. Hiến Chương khác với Hiến Pháp ở chỗ Hiến Pháp là bộ luật căn bản của quốc gia được quốc hội biểu quyết, còn HC lại xuất phát từ quần chúng. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc khác với định nghĩa này nên không nói đến. Theo định nghĩa trên thì từ trước đến nay đã có nhiều bản HC ra đời trên khắp thế giới. HC 88 tại Anh và HC 97 tại Belarus (Bạch Nga) là những bản HC ít gây được sự chú ý. HC 88 của một nhóm công dân Anh cổ võ thay đổi bầu cử và nhất là thay đổi Hiến Pháp Anh là một loại Hiến Pháp bất thành văn. HC 97 tại Cộng Hòa Belarus (Bạch Nga) là một bản tuyên ngôn đưa ra những nguyên tắc chỉ đạo về quyền độc lập, tự do, và dân chủ, tôn trọng nhân quyền và tình liên đới giữa mọi công dân Belarus. Ba bản HC nêu trên tiêu đề bài viết đều là những bản HC quan trọng đã thu hút rất nhiều sự chú ý của thế giớị. Điểm cần nhấn mạnh ở đây là cả ba đều xuất phát từ các nước xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích thay đổi chế độ CS. Điều đó chứng tỏ các nước độc tài CS đều là những chế độ không có tự do, dân chủ và nhân quyền là những khát vọng tha thiết nhất của người dân.
Bài viết này sẽ chỉ đề cập đến phần nội dung của các HC 77 và HC 08, còn chủ yếu là trình bầy về HC 06 tại Việt Nam, nội dung và bối cảnh lúc nó ra đời cùng với nhận định của người viết, bởi vì HC 06 trực tiếp liên quan đến vận mệnh của đất nước và trực tiếp đến mỗi người Việt Nam chúng ta.
Các Hiến Chương 77 và 08
1. Hiến Chương 77
Tại Tiệp Khắc (Czechoslavia), sự đấu tranh để giải thể chế độ CS trong nước Tiệp xuất hiện dước nhiều hình thức, nhưng một lực lượng nổi bật nhất là một phong trào quần chúng với cái tên là Hiến Chương 77 (charter 77). Phong trào này mang tên của một văn kiện lưu hành trong dân chúng Tiệp vào đầu năm 1977. Khởi đầu nó xuất hiện như một bản Tuyên Ngôn trên một tờ báo ở Đức được ký tên bởi 243 công dân Tiệp thuộc đủ các thành phần dân chúng. Đến giữa thập niên 80 con số chữ ký lên đến 1200. HC 77 chỉ trích nhà cầm quyền CS Tiệp và đòi hỏi phải thực thi những vấn đề về nhân quyền đã ký kết, bao gồm Hiến Pháp Tiệp, luật chung kết về an ninh và hợp tác Âu Châu, các cam kết vói Liên Hiệp Quốc về các quyền chính trị, dân sự, kinh tế và văn hóa. HC 77 nhấn mạnh đây không phải là một tổ chức. Nó không có nội qui, không có cơ quan, và không tự biến thành một tổ chức chính trị đối lập. Điều qui định sau hết là nó cố gắng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của Tiệp Khắc.
Trước những thách thức này, dĩ nhiên chính quyền CS Tiệp phải có phản ứng. Các nhà xuất bản lậu bản HC và nhiều tờ báo ngoại quốc đăng tải bị trừng phạt một cách thô bạo. Báo chí nhà nước mô tả bản tuyên ngôn này như là phản quốc, chống Xã hội Chủ Nghĩa, mị dân, lạm dụng quyền viết lách, và gọi những người ký tên trên bản HC là những kẻ phản bội, tôi tớ và tay sai của đế quốc, bọn chính khách phá sản, những kẻ phiêu lưu quốc tế. Và cũng tất nhiên, những người ký tên đều bị trả thù. Kẻ mất việc và con cái bị đuổi học, người bị thu bằng lái xe, cưỡng bách lưu đầy, mất quyền công dân, bị tù tội, giam cầm và trừng phạt. Ngiều người bị bắt buộc phải cộng tác vói cơ quan an ninh. Tháng 10 – 1979, Sáu nhà lãnh đạo trong nhóm hỗ trợ Hiến Chương trong đó có Váchav Havel bị đưa ra tòa và bị kết án trên 5 năm tù giam về tội lật đổ chính phủ.
Dưói chế độ CS, dân chúng Tiệp ít biết đến HC 77 vì thông tin bị bưng bít. Đa số dân chúng biết được là vì nhà cầm quyền mở các chiến dịch đàn áp. Cuối thập niên 80, khi các chế độ Đông Âu yếu dần, các thành viên của HC 77 thấy nhận thấy cơ hội đã đến và họ mạnh dạn tham gia chống đối tích cực hơn. Người ta gọi là cuộc Cách Mạng Nhung 29-12-1989 (Velvet Revolution) việc chuyển giao quyền hành êm thắm từ CS sang tay người dân Tiệp sau những cuộc biểu tình của sinh viên và dân chúng Tiệp. Không ai chối cãi HC 77 là nguồn cảm hứng và là động lực giải phóng nước Tiệp Khắc khỏi ách thống trị của CS, và đem lại tự do dân chủ và nhân quyền cho nhân dân Tiệp.
2. Hiến Chương 08
Ngày 10/12 là Ngày Quốc tế Nhân quyền. Vào ngày 9/12/08, bản HC 08 được công bố. Nó được ký kết bởi 303 công dân, thuộc thành phần khoa bảng trí thức Trung Quốc cùng với các luật sư, chuyên gia và các nhà hoạt động nhân quyền, những người trong chính quyền lẫn dân sự, không phải chỉ có các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng và giới trí thức khoa bảng, mà có cả các cán bộ trung cấp và thành phần lãnh đạo ở nông thôn. Theo HC 08 thì rất nhiều cái gọi là tiến bộ chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ có trên giấy tờ. Điều rõ ràng là ở Trung Quốc, có cả một rừng luật nhưng chỉ xài toàn luật rừng; có một hiến pháp, nhưng chế độ lại vi hiến. Đảng cầm quyền tiếp tục đeo bám vào quyền cai trị độc tài của họ, bác bỏ bất cứ đề nghị cải cách chính trị thật sự nào. Hậu quả trực tiếp là nạn tham nhũng hoành hoành, một xã hội vô luật lệ, không có sự bảo vệ thật sự cho nhân quyền, đạo đức bị đổ vỡ, xã hội bị phân chia thành nhiều thái cực, phát triển kinh tế không đồng đều, các môi trường thiên nhiên và văn hoá bị tàn phá thê thảm, thiếu thốn một hệ thống bảo vệ quyền tự do, quyền tư hữu tài sản và quyền mưu cầu hạnh phúc cho người dân. Có nhiều mâu thuẫn xã hội khác nhau ngày càng chồng chất. Sự bất mãn đang dâng lên, lòng oán giận đang thịnh hành cùng với thái độ thù địch giữa cán bộ nhà nước và người dân nhanh chóng gia tăng. Toàn bộ những hiện tượng này chứng tỏ cho thấy xã hội Trung Quốc đang hướng về một triền dốc đầy thảm khốc không kềm chế nổi. Hệ thống chính trị hiện nay đã quá lỗi thời cho nên các biện pháp cải cách quyết liệt vô cùng cần thiết.
HC 08 đòi hỏi nhà cầm quyền Trung cộng phải thực thi các quyền tự do, nhân quyền, bình đẳng, cộng hoà, dân chủ, và hiến trị cho người dân Trung Quốc. Cổ võ cho những thay đổi cơ chế hiện nay tại Trung Quốc như thiết lập một Hiến Pháp mới, phân chia các quyền lập pháp, tư pháp, và hành pháp, bầu cử trực tiếp, và dân chủ, tòa án độc lập, kiểm soát công khai công chức nhà nước, phải có sự bảo đảm nghiêm chỉnh cho nhân quyền và tôn trọng phẩm giá con người, giáo dục cải tạo lao động phải được huỷ bỏ, bầu cử các chức vụ nhà nước, bình đẳng giữa nông thôn và thành thị, tự to thành lập các hội đoàn, tự do hội họp, tự do bày tỏ tư tưởng, tự do tôn giáo, phải huỷ bỏ các môn học và kiểm tra chính trị được đề ra để nhồi sọ tư tưởng của nhà nước vào đầu các học sinh, thiết lập và bảo vệ quyền tư hữu tài sản, và đề xướng ra một hệ thống kinh tế thị trường tự do và công bằng, thiết lập một hệ thống tài chánh công cộng có trách nhiệm theo quy định dân chủ để bảo đảm cho quyền lợi của người đóng thuế được bảo vệ và hoạt động dưới các thủ tục pháp lý, thiết lập một hệ thống an sinh xã hội công bằng và thích ứng để che chở cho tất cả các công dân, cần bảo vệ môi trường thiên nhiên và khuyến khích phát triển, thiết lập Cộng Hoà Liên Bang TH gồm các cộng đồng dân chủ Trung Quốc. Và cuối cùng HC 08 đòi phải hồi phục lại uy tín cho tất cả mọi người kể cả thân nhân của họ, những người đã phải chịu đựng nhiều vết nhơ trong các chiến dịch đàn áp chính trị trong qúa khứ, hoặc những người bị gán cho là thành phần tội phạm vì tư tưởng, lời nói hoặc tín ngưỡng của họ. Nhà nước nên bồi thường cho những người này. Tất cả các tù nhân chính trị và lương tâm phải được trả tự do. Nên có một Uỷ ban Điều tra Sự thật với nhiệm vụ tìm kiếm sự thật và xác định trách nhiệm về những nỗi bất công và hành động tàn bạo trong qúa khứ, duy trì công lý, và trên những căn bản này, tìm kiếm sự hoà giải xã hội.
Sau khi HC 08 được phổ biến, Đảng cộng sản Trung Quốc trở nên hoảng hốt, bằng chứng là một trong những nhân vật ký tên vào bản HC, ông Liu Xiaobo, bị bắt giữ ngay lập tức. Các nhà hoạt động nhân quyền đã ngụ ý cho biết vào ngày 11/12/2008 rằng ông Liu Xiaobo có thể sẽ bị cầm tù rất lâu. Công an đến bao vây nhà ông Yu Jie, một người khác đã ký vào bản Hiến chương. Theo tin tức thì công an tuyên bố rằng ông Yu Jie sẽ bị truy tố về tội "có âm mưu lật đổ nhà nước". Cùng ngày với ông Liu Xiaobo có Học giả Zhang Zuhua cũng đã bị công an Trung Quốc bắt giữ. Ông Zhang Zuhua đã được thả vào ngày 9 tháng 12, còn ông Liu Xiaobo cho đến nay vẫn còn bị giam giữ.
HC 08 của Trung Hoa mới ra đời, còn quá mới mẻ nên chưa biết ảnh hưởng của nó ra sao. Nhưng xét rằng Trung Quốc là một nước lớn nên tầm ảnh hưởng của của bản HC 08 sẽ có một tác dụng không nhỏ đối với tình hình trong nước Tầu và còn vang vọng ra tới bên ngoài nữa. Một điểm nghi ngờ cần đặt thành vấn đề là HC 08 là một văn kiện được soạn thảo rất công phu và tỉ mỉ, nhưng đã không đưa ra được một phương hướng nào trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải đối với VN cũng như vấn đề độc lập của người Tây Tạng. Đối với người Việt chúng ta, HC 08 là của người Tầu. Người Tầu chống CS Tầu thì tốt thôi, nhưng chưa hẳn đã là điều may mắn cho dân tộc VN nếu người Tầu chống cộng vẫn theo đuổi đường lối xâm lược và bành trướng của đảng cộng sản Tầu hiện nay. Do đó người Việt chúng ta cũng cần phải thận trọng và cảnh giác trước bất cứ loại Tầu nào.
Hiến Chương 06 Việt Nam
Xin nói rõ rằng thực tế không có Hiến Chương 06 mà chỉ có Khối 8406 tại VN. Khối 8406 ra đời ngày 8 tháng 4 năm 2006 ở trong nước. Người viết tự đặt cho Khối 8406 cái tên “Hiến Chương 06” vì căn cứ trên hình thức, nội dung cũng như chủ đích của văn kiện thì nó hoàn toàn giống các HC 77 của người Tiệp và HC 08 của người Trung Hoa. Như đã nói ở trên, trong bài này chúng tôi muốn đi sâu vào HC 06 này hơn vì nó liên quan đến đất nước và vận mệnh của Dân Tộc ta.
1. Bối Cảnh và Sự Ra Đời của Hiến Chương 06 (hayKhối 8406)
Ngày 24-11-2000, Lm Nguyễn Văn Lý chính thức bắt đầu cuộc tranh đấu đòi tự do tôn giáo của ngài tại giáo xứ Nguyệt Biều, Thừa Thiên với tấm biểu ngữ “Tự Do Tôn Giáo hay là Chết”. Nên nhớ rằng vào lúc đó, VGCS đã có chính sách mở cửa với bên ngoài và thả lỏng một chút cho các tôn giáo. Nhân cơ hội mở cửa, một số lớn hàng giáo phẩm CG từ hồng y trở xuống đến các giám mục, linh mục, nữ tu … ào ào đi ngoại quốc vắt sữa bò bổn đạo hải ngoại về để xây nhà thờ, làm nhà xứ, mua sắm tiện nghi v.v. Hiện tượng này tự nó là sự phủ định sự mất tự do TG tại VN mà Lm Lý nêu lên làm chiêu bài tranh đấu. Hoặc nói khác đi là nó chứng minh VN đang có tự do tôn giáo. Đúng 2 tuần lễ sau, ngày 8-12-2008 Lm Lý gởi thơ kêu gọi Hội Đồng Giám Mục VN yêu cầu lên tiếng đòi TDTG. Lời kêu gọi của ngài bị chìm lỉm vào làn sóng người đi vắt sữa bò không một tiếng dội. Việc các tôn giáo tại VN bị tước đoạt quyền tự do hành đạo là sự thật. Việc cha Lý tranh đấu đòi TDTG là chuyện chính đáng. Nhưng hàng giáo phẩm VN (xin nhấn mạnh một số đông mà không nói toàn thể) đã chọn việc phát triển những vẻ hào nhoáng bên ngoài cho GH của mình hơn là thực thi giáo lý phục vụ Chân Lý và Công Bình xã hội của Phúc Âm. Vì thế công việc của cha Lý bị thất bại và ngài phải vào tù. Nhiều con sâu đã làm rầu nồi canh. GHCGVN đã bị tiếng xấu lây. Đây là sự thể hiện tính ích kỷ, tính thích phô trương và thiển cận của một số đông đảo giáo sĩ mà trong nhiều giai đoạn lịch sử của GH đã bộc lộ ra khi gặp được cơ hội.
Tại VN muốn vận động để thay đổi một một chế độ, các đảng phái QG đều đã chứng tỏ bất lực và vô dụng. Chỉ có tôn giáo mới làm được chuyện đó. Biến cố 1-11-1963 đã cho Lm Nguyễn Văn Lý kinh nghiệm này. Nhưng đáng tiếc ngài đã không gặp thời, lại còn bị chính những đồng đạo của mình phản bội. Vì thế ngài thấy cần phải thay đổi phương hướng đấu tranh. Ngày 24-8- 2005 trong khi bị quản thúc tại nhà chung TGP Huế, Lm Lý ra tuyên ngôn “làm sao để thắng sợ hãi” cổ võ quyền tự do ngôn luận. Cuối tháng 10-2005, ngài đi xa hơn nữa qua lời kêu gọi bầu cử quốc hội đa đảng và tẩy chay bầu cử QH độc đảng năm 2007. Và một tuần sau, ngài ra bản tuyên bố đòi hỏi dân chủ cho VN. Và từ đó về sau, Lm Nguyễn Văn Lý công khai kêu gọi, nêu sáng kiến và thúc đẩy các cuộc vận động chính trị làm thay đổi chế độ CS. Nên biết rằng vào thòi gian đó, đảng và nhà nước VGCS cũng đang ra công cố sức vận động để được Hoa Kỳ rút tên VN ra khỏi danh sách CPC và gia nhập WTO. Để đạt các mục tiêu quan trọng đó, VGCS bắt buộc phải làm sao cho thế giới thấy bộ mặt chế độ bớt hắc ám hơn. Chúng thả lỏng hơn một chút cho các sinh hoạt chính trị. Một cơ hội tốt cho các nhà dân chủ cuội cũng như không cuội , các tổ chức đón gió cũng như đấu tranh thật trong cũng như ngoài nước xuất hiện. Hiến Chương 06 tức Khối 8406 do Lm Nguyễn Văn Lý chủ xướng đã ra đời trong cái bối cảnh này. Khối 8406 sau đó đã khai sinh ra các đảng Vì Dân và đảng Thăng Tiến VN. Rồi sau đó nữa, hai đảng Vì Dân và Thăng Tiến VN lại kết hợp lại thành Liên Đảng Lạc Hồng. Mặt khác, cuộc bầu cử Quốc Hội VGCS năm 2007 cũng còn là một động cơ thu hút các nhà hoạt động chính trị và thúc đẩy mạnh mẽ sự xuất hiện của các đảng phái. Người ta không lạ gì khi thấy ngay tại ngoại quốc cũng mọc ra một số đảng phái hoạt động ì xèo vì nghe tin do Mỹ áp lực, VGCS sẽ phải chấp nhận bầu cử đa đảng. Cái mũi đánh hơi (đón gió) của bọn chính khứa chạy rông ở hải ngoại xem ra còn nhậy hơn khứu giác của loại chó săn rất nhiều.
2. Nội Dung Hiến Chương 06 (hay Khối 8406)
Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ cho VN 2006 (Manifesto of Bloc 8406 on Freedom & Democracy for Viet Nam 2006), do HC 06 công bố ngày 8-6-06 nhận định về thực trạng VN như sau: Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Thế nhưng những quyền thiêng liêng ấy của Dân tộc đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên. Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin”. Và trong Điều Lệ, phần Mục Đích và Tôn Chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Ang ghen - Lênin - Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…”. Sau ngày 30-4-1975, cái bóng ma chủ nghĩa Marx-Lenin đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.
Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được đổi mới từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng. Hệ thống tam quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải được phân lập rõ ràng. Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn dân sau đây: Quyền tự do thông tin ngôn luận theo Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc. Quyền tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử theo Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị. Quyền tự do hoạt động công đoàn độc lập và quyền đình công chính đáng theo Công Ước Quốc Tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được Liên Hiệp Quốc biểu quyết. Quyền tự do tôn giáo theo Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị. Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu. Thể chế chính trị độc đảng dứt khoát phải bị chôn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo đất nước.
Bản công bố lần 1 ngày 8-4-2006 gồm có 118 nhân vật tại quốc nội ký tên. Danh sách Công bố lần thứ 10 ngày 8-10-2006 có 1.951 người và 420 gia đình quốc nội, 20 ngàn tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm và 483 gia đình nông dân Nam Bộ, 3.000 tín hữu Tin Lành Tây Nguyên, 3.872 người và 9 đại diện cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại. 3.881 nhân sĩ ngoại quốc và 139 chính khách quốc tế bảo trợ Tuyên ngôn 8406.
Nhìn chung, những người ký tên trên bản Tuyên Ngôn 8406 đại đa số là giới bình dân, rất ít thành phần trí thức có máu mặt trong xã hội, và càng vắng bóng giới trí thức công giáo dấn thân ở trong nước hơn. Đây là một thiếu sót đáng tiếc có tác dụng cầm chân Khối 8406. Ngược lại thì ở hải ngoại, nhiều trí thức và nhân sĩ công giáo tích cực tham gia hơn. Điều này dễ hiểu thôi vì ở đây có tự do. Tuy nhiên điều đáng buồn là sự tham gia hoạt động cho Khối 8406 tại hải ngoại lại nặng tinh thần cát cứ sứ quân, mạnh địa phương nào nơi đó làm, hoàn toàn thiếu thống nhất và phối hợp.
Ngày 22-8-2006, HC 06 còn đưa raTIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM gồm 4 giai đoạn và 8 bưóc. Sau đây là những điểm quan trọng: Giai đoạn II, bước 3: các đảng dân chủ không cộng sản lần lượt công khai xuất hiện với trụ sở, văn phòng, cơ quan ngôn luận và các phương tiện truyền thông đại chúng bình thường khác. Bước 4: Sau khi các chính đảng phục hoạt, Khối 8406 sẽ chấm dứt hoạt động và nhường bước cho các chính đảng. Giai đoạn III, bước 5: Các Chính Đảng tập hợp thành một hoặc nhiều Liên minh đồng loạt cùng gây sức ép lên nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam để thành lập Hội đồng soạn thảo Hiến pháp tạm thời gồm đại diện của tất cả các chính đảng, các tổ chức xã hội và các tôn giáo nào muốn cử đại diện tham gia. Bước 6: đưa dự thảo Hiến Pháp Mới ra trưng cầu ý dân và công bố Hiến Pháp Mới Tạm Thời. Giai đoạn IV, bước 7: thành lập Hội Đồng thi hành Hiến Pháp Mới Tạm Thời. Thành lập Hội đồng Tổ chức Bầu Cử Quốc Hội Dân Chủ.
3. Hiện Tình của Hiến Chương 06 (hay Khối 8406)
Hiến Chương 77 của Tiệp Khắc phải mất 12 năm mới hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó. Như thế người VN cũng không nên quá nôn nóng về thành quả mà HC 06 có thể mang lại. Điều may mắn cho HC 77 là đã không gặp phải những khó khăn nội tại, trong khi HC 06 mới ra đời hơn 2 năm mà đã gặp phải không biết bao nhiêu rắc rối từ bên trong. HC 77 thực chất chỉ là bản đề nghị những đường lối chỉ đạo cho công cuộc giải phóng đất nước Tiệp mà bất cứ nhà hoạt động dân chủ nào của Tiệp Khắc cũng có thể lấy đó làm kim chỉ nam. Nó không phải là một tổ chức theo nghĩa thông thường của danh từ này nên trong cuộc đấu tranh tại Tiệp Khắc không ai dựa vào đó mà tranh dành ảnh hưởng sống chết. Trong khi đó, HC 06 tại VN lại được coi như một tổ chức nhưng lại không có nội qui, không kỷ luật nên đã dẫn đến nhiều hệ lụy. Các chú cuội trong nước tha hồ nhào vô ăn có, và những phường bát nháo, các chính khứa thời cơ tại hải ngoại cứ “vô tư” coi đó là đất dụng võ của mình nên mặc sức múa may tung hoành. Vì thế Khối 8406 đã trở thành “không người lái” và có nguy cơ đang trên đà tuột dốc đáng ngại. Nói ra thật đau lòng, có thể bị hiểu lầm hoặc xuyên tạc, nhưng vẫn cứ phải nói. Và nói như thế có nghĩa là chúng tôi thực tâm tin tưởng và nhìn nhận rằng HC 06 có một sự khởi đầu tốt, chính đáng, và cần thiết cho công cuộc giải phóng đất nước khỏi ách cộng sản bạo tàn. Các vị linh mục viết ra Tuyên Ngôn 8406 (Manifesto 8406) là những người có đầy đủ trí tuệ, tư cách cá nhân, và tinh thần yêu nước nồng nàn. Chính điểm này đã đem lại bước đầu rất thành công của HC 06 và đã gây một tiếng vang lớn trên thế giới.
Phải đem so sánh HC 06 với đảng Dân Chủ 21 của Hoàng Minh Chính-Trần Khuê thì mới chứng minh đuợc sự thành công của Tuyên Ngôn 8406. HC 06 và đảng Dân Chủ ra đời trong cùng một giai đoạn lịch sử. Cha đẻ của HC 06 là những vị không có dính dáng gì đến chế độ đương thời. Trong khi đó Hoàng Minh Chính, Trần Khuê đã từng là những con gà nòi của chế độ. Bản Tuyên Ngôn 8406 dứt khoát mọi ảnh hưởng của CS, trái lại trong Lời Mở Đầu của tờ báo điện tử “Tiếng Nói Dân Chủ” số đầu tiên của đảng Dân Chủ 21 do Trần Khuê soạn thảo lại kể bao gồm cả Võ Văn Kiệt và Lê Khả Phiêu, những tên giết dân không gớm tay, bán nước bán biển cho Tầu cộng cũng là những nhà đấu tranh cho dân chủ. Thật là trớ trêu. Sự thể này đảng Dân Chủ 21 và các ông Hoàng Minh Chính-Trần Khuê đã tự phủ định mình là những người đấu tranh cho dân chủ và hiện nguyên hình là những nhà dân chủ cuội không còn gì để biện bạch. Muốn biết rõ những người được gọi là “nhà dân chủ” hàng đầu ở trong nước có tranh đấu cho dân chủ thật hay không không gì bằng chính mắt đọc những tư tưởng phản dân chủ của họ được báo chí tường thuật lại như sau đây:
- Hoàng Minh Chính: Hoàng Minh Chính phát biểu tại Đại học Harvard ngày 28-09-05 "những nhà dân chủ không chủ trương lật đổ". Nhưng, 5 ngày sau lại nói "chúng tôi chủ trương lật đổ giống như là Ukraina". Quan điểm bất nhất của “con chim dân chủ đầu đàn” làm sao điều khiển nhóm nói chi đến lãnh đạo một phong trào rộng lớn.
- Nguyền Thanh Giang: Lật đổ là sự cực chẳng đã và là con đường tàn hại. Nhân dân Việt Nam đã đau khổ mất mát quá nhiều qua bao cuộc chiến, bây giờ lại đâm chém, giết chóc, đập nhà, phá phố.
- Và Trần Khuê còn tệ hơn nữa: Do đó, vấn đề đảng cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền là đương nhiên không cần đặt ra nữa, vì quyền này không giao vào tay đảng cộng sản thì cũng giao vào tay một đảng nào khác …Trong sự hiểu biết thiển cận của chúng tôi thì chúng ta chỉ có thể theo CNXH của Hồ chí Minh … Ðức tổ Hùng Vương có công lớn khai sáng nên nhà nước đầu tiên và đó là nhà nước của giai cấp qúy tộc. Còn Ðức thánh Hồ chí Minh khai sáng ra một nhà nước của nhân dân, do nhân dân làm chủ và có một hiến pháp dân chủ sánh ngang được với bản hiến pháp trên thế giới. … Trước sau chúng tôi coi đảng cộng sản là một bộ phận máu thịt của dân tộc không thể để cho Ðảng suy sụp.
Một chứng cớ cuội khác rõ ràng hơn nữa là giải pháp Tiểu Diên Hồng của ông Hoàng Minh Chính đưa ra khi ông ta sang Mỹ chữa bệnh. Giải pháp này gồm 3 thành phần: đảng CSVN, đại diện trí thức trong nước ông Trần Khuê do Hoàng Minh Chính chỉ định, và đại diện trí thức hải ngoại BS Nguyễn Xuân Ngãi cũng do Hoàng Minh Chính chỉ định nốt. Ông Hoàng Minh Chính nếu có khờ thì cũng không khờ đến độ không hiểu rằng đây thực tế chỉ là mưu đồ giao trứng cho ác? Khi đảng Dân Chủ 21 của Hoàng Minh Chính-Trần Khuê bị lột mặt nạ tại hải ngoại thì Khối 8406 càng ngày càng được sự tin tưởng hơn của người Việt tỵ nạn, và sự ủng hộ của chính giới ngoại quốc.
Nhưng kết quả đáng mừng trên bắt đầu bị khựng lại trước việc trong nước bổ nhiệm ông Nguyễn Ngọc Bích làm chủ tịch Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền VN trái với ý muốn của Lm Nguyễn Văn Lý. Do sự bổ nhiệm này người ta mới vỡ lẽ ra rằng Liên Minh là cơ quan ngoại vi của Khối 8406. Thế nhưng như người ta thấy LMDCNQ lại có sự hiện diện của nhiều nhân vật Việt Tân. Việc bổ nhiệm này đã bị Lm Nguyễn Văn Lý cự tuyệt đến hai lần nhưng không hiểu làm sao vẫn xẩy ra. Chính GS Nguyễn Chánh Kết (lúc đó đã sang Mỹ ở nhà ông Bích) cũng viết E-mail đề cử Nguyễn Ngọc Bích, nhưng cha Lý vẫn nhất quyết cự tuyệt. Người ta không hiểu lý do, nhưng trong cách suy nghĩ của người Việt tỵ nạn thì Lm Lý quả là rất sáng suốt. Nguyễn Ngọc Bích là ai, nhiều người ỏ trong nước không biết ông ta, nhưng ở hải ngoại người ta biết về ông quá rành.
Vụ đáng kể thứ hai là việc bổ nhiệm GS Nguyễn Chánh Kết làm đại diện Khối 8406 tại hải ngoại. Người viết vẫn coi GS Kết là một người bạn đáng tin cẩn. Tôi rất mến phục tư cách cá nhân, lối sống đạo đức, và tinh thần dấn thân phục vụ công ích của anh Kết. Nhưng chính những đức tính đáng quí ấy nhiều khi lại là trở ngại cho những quyết định có tính cách chính trị của anh. Tôi đã từng nói với NCK là anh thật thà quá, làm chính trị không được. Một vài người nói với tôi có thể anh NCK đã bị một âm mưu nào đó đẩy đi ngoại quốc để trong nước người ta dễ thao túng, đồng thời để hải ngoại đốt cháy anh ta. Điều này cũng có thể hiểu được bởi vì NCK cho biết việc anh ta đi Mỹ chỉ bàn với Đỗ Nam Hải, còn Lm Phan Văn Lợi không hay biết gì. Những chuyện khó hiểu này đưa đến mối nghi ngờ là có gian tế trong Khối 8406. Người ta lý luận nếu không thì tại sao Lm Nguyễn Văn Lý đi tù không có ngày về. Nhiều người khác cũng lập đảng, cũng chống đối ra trò sao không ai bị đối xử như cha Lý. Hơn nữa mấy người đệ tử của cha Lý như Nguyễn Phong thì bị bắt đến nay coi như biệt tích, và Ls Lê Thị Công Nhân thì bị hành hạ quá sức tưởng tượng bằng cách bị nhốt chung với bọn tù hình sự. Nếu vấn đề gian tế là có thật thì chuyện giáo sư NCK bị đẩy đi Mỹ để bị đốt cháy là chuyện có thể giải thích được. Có một lần trong lúc trò chuyện, tôi hỏi NCK anh có tính trở về không. Anh vẫn quả quyết rằng anh sẽ trở về. Mặc dầu tôi rất thương và lo cho anh, cũng như ái ngại cho hoàn cảnh gia đình anh ở bên nhà, nhưng tôi vẫn khuyên anh nên trở về nếu anh còn có ý muốn hoạt động. Tôi phân tích với anh là sẽ có 1 trong 3 trường hợp sẽ xẩy ra khi anh đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Một là VGCS sẽ không làm khó khăn anh, chúng sẽ đến thăm anh và sẽ dành mọi dễ dãi cho anh trong cuộc sống, cũng như để anh đi thăm viếng người này người nọ. Đó là cách thức chúng nó giết anh không cần dao găm, súng đạn. Thứ hai là nó sẽ đưa thẳng anh từ phi trường về khám Chí Hòa. Tôi nói tôi kông tin VGCS sẽ hành xử lỗ mãng như vậy, bởi vì như thế chẳng khác gì chúng nó phong thánh cho anh rồi. Anh sẽ có credit hơn để hoạt động. Và trường hợp thứ ba là chúng nó tống anh lên phi cơ và bắt anh bay trở lại Mỹ. Như vậy là may mắn nhất cho anh. Anh vừa có lý do xin tỵ nạn, vừa ung dung hoạt động mà không ai dị nghị gì được. Như thế anh hãy nên ở lại. Thế nhưng không hiểu sao cho đến nay anh NCK vẫn còn nằm lại Mỹ. Anh càng ở lại lâu bao nhiêu càng biến thành tro than mau bấy nhiêu. Công lao anh đổ ra cho đại cuộc sẽ thành dã tràng xe cát biển đông hết. Thật đáng tiếc cho một con người có tấm lòng và có chí hướng.
Về vấn đề Khối 8406 bổ nhiệm giáo sư NCK làm đại diện tại hải ngoại, tôi xin miễn có ý kiến riêng, mà xin mượn tâm sự của một người rất gần gũi với Lm Phan Văn Lợi giãi bầy như sau: “Doi voi Q (tên người nói viết tắt), luon trung thanh voi Cha Ly va Nhom NKD (Đức TGM Nguyễn Kim Điền). Q dat tat ca tin tuong noi F Phero (Lm Phan Văn Lợi), the nhung tu nhien thay viec bo nhiem NCK thi cung nan chi tang bong that. Hai ngoai da mat tin tuong ve to chuc cua VT, Da so da chan ngan khi NCK sat canh voi VT, nen thay nhan vat nay dai dien nay no thi e kho long cho Khoi.”
Trong khi đã có giáo sư NCK làm đại diện Khối 8406 tại hải ngoại rồi thì khi không lại lòi ra một đại diện khác là quí ông Trần Ngọc Bính. Nhân vật Trần Ngọc Bính này hoàn toàn xa lạ với cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Nhưng một người có biết đôi chút về ông Bính này, cũng là ông Q. vừa nói ở trên. Ông Q. tiết lộ: “Vua roi 6-10, Vancouver Canada co to chuc gay quy do nhom Tran Ngoc Binh, thi ra Tran Ngoc Binh la cua VT, nhom Seattle len do ta hoa tam tinh, khi di co dem so sachVu An Cha Ly len ban, ban chang duoc, bo cua chay lay nguoi nen da bot sot tai tran mot so sach Cha Ly. Di nhien buoi gay quy nay co mot Banner lon: Chao Mung chien si tu do GS NCK.”
Các sự kiện nêu trên cùng với nhiều việc tương tự khác nữa cho thấy một sự thật là đảng Việt Tân đã xâm nhập Khối 8406 sâu rồi. Mà VT là cái gì và tại sao lại phải sợ VT quá vậy? Thật ra khó có thể tìm cho ra được một kết luận ngắn gọn nhưng đầy đủ về VT. Nếu căn cứ trên các tội ác đã bị rất nhiều người tố cáo mà tổ chức này đã phạm từ hồi nó còn mang danh là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng VN hay còn gọi là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh đến nay thì VT nên được gọi là một tổ chức mafia chuyên gây tội ác là đúng nhất. Tội ác lớn nhất đối với người Việt tỵ nạn chúng ta là tội xâm nhập, phá nát, và lũng đoạn tất cả mọi cộng đồng, mọi đoàn thể, mọi tổ chức QG, làm tiêu tán mọi khả năng và mọi nỗ lực chống cộng của người Việt tỵ nạn trên khắp thế giới. VT thường hay lập lờ ca tụng Hồ Chí Minh và đảng VGCS, nhiều lần giả bộ lầm trương cờ đỏ sao vàng rồi xin lỗi. Chính vì thế người Việt Nam gọi VT là tay sai CS thật không sai. Những sự thật rõ như ban ngày như thế mà nhiều nhà trí thức vẫn chưa nhìn thấy. Một vị trí thức công giáo và là nhà văn nhà báo chống cộng có tiếng, rất gắn bó với Khối 8406 vẫn còn chống chế cho VT như thế này: “Tôi xin nói thật: đối với tôi, cho đến giờ phút này, tôi chưa thấy một bằng chứng nào cụ thể, mà cũng chưa có ai chỉ cho tôi thấy là VT đi với CS. Nếu nói một cá nhân hay tổ chức chính trị có chủ trương lôi kéo, thân thiện để lợi dụng những phần tử CS phản tỉnh, bất mãn, hoặc khai thác những mâu thuẫn trong hàng ngũ địch là những người, những tổ chức "làm lợi hoặc theo cộng" thì tôi xin phép nói thẳng là tôi không đồng ý.” Phải thế nào nữa mới đồng ý đây? Có lẽ phải đợi có một ngày 30 tháng 4 khác nữa thì những nhà trí thức này mới hiểu được CS là gì và VT là ai. Cũng vì cái tinh thần bác ái xóa bỏ hận thù, coi thù cũng là bạn này mà trên bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận, trong các màn paltalk, hội luận v.v. mới thường thấy xuất hiện các tên Bùi Tín, Lý Thái Hùng, Nguyễn Ngọc Bích v.v. Làm cách mạng, kẻ bất đồng chính kiến, không cùng đường lối, nếu không kể là thù thì cũng không thể coi là bạn. VGCS và tay sai của chúng chỉ bạn bè với người QG trong khi chúng gặp hoạn nạn. Lúc hưởng vinh quang chúng xơi tái mình là chuyện dứt khoát phải xẩy ra. Chúng ta không thiếu kinh nghiệm về mặt này.
Vấn đề của các vấn đề nêu trên nằm ngay ở trong tâm của Khối 8406. Thật vậy, Khối 8406 như Tuyên Ngôn của nó, không phải là một đoàn thể có tổ chức, ban bệ, nội qui v.v. Thế nhưng nó lại nắm quyền chỉ định người lãnh đạo các địa phương bằng cách ban hành văn thư bổ nhiệm. Đó là chuyện trái khoáy. Việc đặt để người theo cung cách này tự nó thực sự cũng không gây dị nghị. Chỉ có sự dị nghị khi người được đặt để lại là đảng viên của đảng VT. Đảng này chỉ có khả năng quan hệ với một số nhỏ thành phần chính khứa xôi thịt, đón gió để chạy chọt làm tay sai chứ chẳng phải vì dân vì nước gì hết. Ngưu tầm ngưu, mã ầm mã ở chỗ đó. VT không được quần chúng ủng hộ. Nó không thể bắt rễ trong quần chúng. Ở chỗ nào có sự hiện diện của VT thì quần chúng lánh xa. Do đó Khối 8406 bị đồng bào tỵ nạn ở hải ngoại nghi kỵ và thờ ơ là vì vậy. Đầu tầu của Khối 8406 là các Lm Nguyễn Văn Lý và Phan Văn Lợi, kẻ ở tù trong người tù ngoài, không biết các ngài có hiểu rõ tình trạng này không?
Trong chiến tranh VN, VGCS tự biết mình không thể đấu lại bằng quân sự trên chiến trường trước vũ khí tối tân và quân đội hùng mạnh của Mỹ và QLVNCH, chúng bèn chuyển hướng phương thức đấu tranh và đấu trường. Chúng đem chiến tranh sang nước Mỹ và đánh nhau bằng cái mồm thôi. Thế mà chúng đã thắng. Thực tế là thế đấu tranh ở trong nước kém thuận lợi, vì vừa bị truy bức, vừa phải cạnh tranh chí tử như cái chợ cá với các ngọn cờ đầu và cả cỏ đuôi chó dân chủ cuội khác. Có thể các nhà lãnh đạo Khối 8406 đã rút ra được bài học kinh nghiệm.Vì thế đấu trưòng chính đã được chuyển ra nước ngoài rồi chăng? Chiến lược mới này có thể sẽ hữu hiệu hơn nếu biết lấy kinh tế, văn hóa làm vũ khí tấn công, lấy vận động ngoại giao và dư luận quốc tế để bao vây và cô lập địch. Nhưng điều quan trọng trên hết là muốn thành công, Khối 8406 phải đứng trên đôi chân của mình chứ không thể đứng trên đôi chân của người khác. Không ít người đang muốn đội Khối 8408 lên bằng sức lực của VT. Nhưng vô ích thôi vì nhân gian tin rằng đảng VT thực chất chỉ là một cái lò thiêu sự công chính. Bất cứ nhà chống cộng chân chính nào, bất cứ đoàn thế QG nào nếu đã chui đầu vào cái lò thiêu này đều không chóng thì chầy sẽ biến thành tro than hết. Bởi một lý lẽ rất đơn giản như trên đã nói, người Việt tỵ nạn ai nấy đều coi VT như tim la cùi hủi. Chẳnh ai muốn dây với bọn chúng hết. Đàng khác, cũng có không ít bọn bát nháo đang ráng thổi ống đu đủ cho Khối 8406 phình lên. Nhưng vô hiệu, đó chẳng qua chỉ là lối show up bản thân của bọn vô tài bất tướng, muốn chơi nổi hơn là vì lợi ích thực sự của Khối 8406. Cái nhìn bàng quan của những người đã một thời tin tưởng vào một vận hội mới mà Khối 8406 sẽ mang lại cho Dân Tộc là hiện nay tại hải ngoại tất cả mọi hoạt động của Khối 8406 xem ra đều nằm gọn trong tay bọn VT hoặc những cảm tình viên của đảng mafia này. Chính tiền thân của nó là Mặt Trận HCM đã ăn cướp hàng chục triệu tiền mồ hôi nưóc mắt của đồng bào, giết chết cả một cao trào chống cộng của người tỵ nạn vào đầu thập niên 1980. Những đau thương này người tỵ nạn không thể nào không ghi khắc.
Lời Cuối
“Gánh vàng đi đổ sông Ngô, đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Tương”. Xin nhắc lại câu hát ru con của bà mẹ VN để chúng ta hiểu được cái tâm trạng của người có phước trong tay mà không biết hưởng, có vàng không biết xài lại đem đổ đi. Người ta vẫn thường nói “phúc bất trùng lai”. Nhân dân VN đã bao nhiều lần có phước mà không thèm hưởng lại còn quăng đổ cả đi. Đến khi gặp họa thì mới trắng mắt ra bèn than thân trách phận, ông Trời gần, ông Trời xa. Chế độ Đệ I Cộng Hòa yên vui tốt đẹp như thế lại giơ chân đạp đổ. Cộng Hòa không chịu lại rước Cộng Sản vào để rồi phải chạy sất bất sang bang làm kẻ ăn mày tha phương cầu thực. Cõi trời hạnh phúc kia bây giờ tìm đâu ra. Nó đã mất và mất đi mãi mãi. Hiến Chương 06 có thể nói là cơ hội Trời cho để tìm lại cõi phước đã mất. HC 06 không những là cơ hội mà còn là một vận hội cũng như HC 77 là một vận hội cho người Tiệp Khắc. Nhân dân Tiệp đã lợi dụng tốt vận hội Trời ban và đã thành công trong việc loại bỏ chế độ CS, đem lại tự do dân chủ cho đất nước. Nếu người VN chúng ta không biết lợi dụng vận hội quí báu này thì nó sẽ qua đi. Giao vận hội vào trong tay bọn lưu manh phá hoại và lũ bát nháo có khác gì gánh vàng đổ sông Ngô. Vận hội chỉ đến có một lần, và không bao giờ trở lại. Người đổ vàng đi lúc tiếc của đã không ra sông Ngô mò mà lại mò ở sông Tương. Làm sao tìm lại được vàng. Vận hội đến mà không biết lợi dụng, bỏ đi uổng có đáng tiếc không?
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
LM NGUYỄN VĂN LÝ: ĐẤU TRANH NGAY TRONG NHÀ TÙ
(Bản tin ngày 06-01-2009)
Sáng ngày 02-01-2009, một người cháu gọi linh mục Nguyễn Văn Lý bằng chú ruột là anh Nguyễn Công Hoàng đã từ Quảng Biên ra trại K1, xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam để thăm vị tù nhân lương tâm linh mục. Anh đến trại lúc 6g30 và nộp giấy tờ, nhưng phải đợi tới 8g45 mới thấy cán bộ trại dẫn chú mình ra.
Trong chiếc áo tù sọc dưa (bắt buộc mặc), linh mục Lý trông khỏe mạnh và tươi tỉnh như mọi lần. Trước hết, cha cho biết cách đây vài tuần, đã có hai linh mục thuộc Tổng giáo phận Huế ra thăm (lần thứ hai kể từ tháng 03-2007). Đó là linh mục quản lý Nhà chung và linh mục Trần Văn Quý, quản xứ Trường An (hay Phường Đúc) kiêm thành viên Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên và Hội đồng nhân dân thành phố Huế. Đại diện cho tòa Tổng giám mục Huế, hai vị này đã đem quà (tiền mặt, sách nguyện) của Đức Tổng giám mục Nguyễn Như Thể. Tiền thì trại cho nhận (nhưng phải ký gởi) còn sách nguyện thì cán bộ giữ lại (y như số phận cuốn sách nguyện mà gia đình đã gởi cách đây gần hai năm).
Tiếp đến, trước mặt công an trại giam, linh mục Lý cho anh Hoàng biết từ lâu nay, thỉnh thoảng cán bộ từ trung ương có đến “làm việc” với cha, và cha đã lợi dụng những dịp đó để đấu tranh với họ.
Linh mục đấu tranh về 3 điểm chính:
-Quyền tự do ngôn luận, -quyền sống của thai nhi & - quyền tư hữu đất đai tài sản của nhân dân.
Về quyền tự do ngôn luận, linh mục lập luận (với cán bộ trung ương): Karl Marx, vào thế kỷ 19, đã từng xử dụng quyền này để phê phán -thậm chí đòi tiêu diệt- chế độ tư bản bên Anh, nơi ông đang sống, mà chẳng bị hề hấn gì.
Nhóm Nguyễn Ái Quốc, cũng thế kỷ 19, ra báo tại Paris để chống lại chính quyền thực dân Pháp mà vẫn bình yên.
Các nhà nho Việt Nam có tư tưởng tiến bộ đầu thế kỷ 20 đã được nhà cầm quyền thuộc địa Pháp để cho tự do mở Đông Kinh Nghĩa Thục. Tại sao nhà cầm quyền CSVN nay lại không cho nhân dân lên tiếng?
Về quyền sống của thai nhi, linh mục Lý lập luận: Tại sao vì muốn cho các em bé đã sinh ra được điều kiện sinh sống học hành mà lại giết những em bé đang còn trong bụng mẹ? Việc sát nhi ghê tởm này, cả chồng lẫn vợ cùng cán bộ y tế khắp Việt Nam đang đồng lòng thực hiện một cách bình thản, dựa theo quy định cấm nhân viên nhà nước có đứa con thứ ba và theo chủ trương tự do phá thai của nhà cầm quyền CS. Tội ác ngút trời này đang kéo tai họa xuống cho nhân dân Việt Nam mà trước hết cho các thủ phạm.
Linh mục Lý cũng cho biết trong đợt tù 2001-2005 (vẫn tại trại giam này), cán bộ đã có hai lần mời cha thuyết trình về vấn đề kế hoạch hóa gia đình cho họ, nam riêng nữ riêng, mỗi lần hai giờ. (Chú thích: ngay sau 1975, linh mục Lý là chuyên gia giảng dạy về phương pháp ngừa thai tự nhiên tại Tổng giáo phận Huế).
Về quyền sở hữu đất đai tài sản của nhân dân, cha Lý cho biết mình đã tranh đấu chuyện này từ đợt tù trước. Lúc ấy, cha đã yêu cầu nhà cầm quyền trả lại tiểu chủng viện Hoan Thiện, trường trung học Thiên Hựu, trường Bình Linh và nhiều cơ sở khác cho Giáo phận Huế. Trung ương hứa trả. Nhưng khi ra tù, linh mục thấy đó chỉ là lời nói dối gạt.
Nay thì linh mục tiếp tục đấu tranh (trong những lần làm việc với cán bộ trung ương) cho quyền sở hữu đất đai của dân oan và của các tôn giáo.
Linh mục Lý còn cho biết hôm tháng 3-2008, tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội đã có cho người đến thăm linh mục. Nghe thông báo, linh mục liền đưa ra hai điều kiện: phải để tôi giải thích cho tòa đại sứ vì sao tôi phải mang áo tù này, hai là không được chụp hình quay phim. Trại chấp nhận. Gặp phái đoàn, trước hết cha Lý dành ra nửa giờ đồng hồ để giải thích chuyện mặc áo tù (hơi dài như thế vì bắt buộc phải qua thông dịch viên).
Linh mục nói: Trong thế giới văn minh hiện giờ, có các Công ước quốc tế nhân quyền. Mỗi nước soạn luật pháp riêng nhưng một khi đã ký vào Công ước thì phải lấy đó quy tắc cao nhất. Tại sao Việt Nam đã gia nhập hai Công ước nhân quyền 1966 mà còn làm ngược lại?
Cha Lý giải thích (cho tòa đại sứ): Nhà cầm quyền CS bắt tôi ở tù và bắt tôi mặc áo tù này chính vì tôi đã thúc đẩy Việt Nam thực thi Công ước quốc tế. Họ cho tôi sai nên bắt tôi. Cho nên tôi là tù nhân lương tâm chứ không phải là tội phạm hình sự…
Hai chú cháu nói chuyện khoảng một tiếng thì cán bộ trại loan báo hết giờ. Thế nhưng linh mục Lý vẫn chủ động ngồi lại thêm nửa giờ nữa (như các lần trước) và bắt đầu hỏi thăm thân nhân, bằng hữu xa gần. Linh mục xin gởi lời cám ơn đồng bào và các tổ chức nhân quyền quốc nội lẫn hải ngoại cũng như của quốc tế đã luôn quan tâm đến mình.
Về bản thân, linh mục cho biết mình vẫn bị biệt giam trong một khu vực riêng, không được có sách nguyện để đọc kinh hằng ngày, bị tước mọi giấy bút và sách vở (ngoại trừ báo chí của nhà nước mà gia đình gởi). Mỗi ngày, linh mục chỉ ăn sáng và tối, nhịn bữa trưa để cầu nguyện cho quê hương và Giáo hội, nhất là cho Thái Hà.
Trước khi tiễn biệt, linh mục Lý đọc cho anh Hoàng nghe bài thơ nhỏ sau đây: Tự do ngôn luận cho dân! Độc tài độc đảng phải cần bỏ đi. Trục xuất sát hại thai nhi, Vô thần duy vật, tội ghi mãi hoài. Cửa nhà cơ sở đất đai, Của dân, của đạo trả ngay tức thì !
Nhóm Phóng viên FNA tường trình từ Huế lúc 16g40 ngày 06-01-2009
THỦ ĐOẠN TRẤN ÁP MỚI CỦA CSVN
Trần Nam - ĐDCND www.ddcnd.org
Ngày 14-11-2008, nhà cầm quyền Hà Nội đã tuyên án anh Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng 5 năm tù về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đây là một tội danh ảo, cũng giống như tội “trốn thuế” mà nhà nước CSVN đã áp dụng đối với anh Nguyễn Văn Hải, tức Điều Cày.
Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng
Trước toà, anh Ngô Phát Đạt đã phủ nhận tội trạng nhưng CSVN vẫn cứ tiến hành. Thực chất đây chỉ là phiên toà và bản án trá hình, mục tiêu chính là bịt miệng các tiếng nói bất đồng chính kiến, mà anh Trần Minh Hoàng cũng như anh Nguyễn Văn Hải là nạn nhân điển hình của chế độ độc tài, toàn trị.
Thời gian gần đây, nhà cầm quyền Hà Nội đã dùng hình thức trấn áp tinh vi và hiểm độc hơn. Bằng thủ đoạn truy tố các tội danh có tính hình sự, như vi phạm tội kinh tế, trốn thuế, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản v.v…Cộng Sản Việt Nam đã dùng hệ thống luật pháp và bộ máy an ninh để nhanh chóng bịt miệng các tiếng nói đối lập, gán ghép họ những tội phạm kinh tế, hình sự thay vì các tội chính trị như vi phạm điều 88 tuyên truyền chống nhà nước, lợi dụng dân chủ v.v.... để tránh bị dư luận thế giới lên án về những hành vi đàn áp nhân quyền của Việt Nam đối với các nhà bất đồng chính kiến.
Anh Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng, sinh năm 1960 tại Vĩnh Long, là người đã từng viết nhiều bài lên án chế độ và phê bình các chính sách kinh tế sai trái của cộng sản Việt Nam. Vì sớm nhận thức ra bộ mặt thật của chế độ, anh Trần Minh Hoàng đã tham gia vào các hoạt động dân chủ, đóng góp cụ thể bằng những bài viết lý luận. Trước đó, anh dự định tham gia vào Đảng Dân Chủ Việt Nam của cụ Hoàng Minh Chính và đã có viết đơn xin gia nhập, tuy nhiên sau khi cụ Hoàng Minh Chính chết, anh quyết định không tham gia Đảng Dân Chủ Việt Nam nữa, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động độc lập để đóng góp cho phong trào dân chủ trên mặt trận lý luận và tuyên vận.
Những bài viết ký tên Trần Minh Hoàng đã làm cho bộ máy an ninh Hà Nội lo sợ và ngày đêm tung lực lượng an ninh mạng truy lùng tác giả. Ngày 16 tháng 7 năm 2008 công an Sài Gòn đã bắt anh tại Phú nhuận. Bốn tháng sau, qua toà án nhân dân quận Phú Nhuận, cộng sản Việt Nam đã gán ghép anh tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với bản án 5 năm tù giam. Anh Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng đã kịch liệt phản bác những cáo buộc của chế độ, che đậy cho hành vi trấn áp các tiếng nói bất đồng chính kiến. Trước khi bị cộng sản Việt Nam bắt, anh Trần Minh Hoàng đã cảnh báo "Do nắm giữ độc quyền kinh tế và chính trị đã sản sinh ra tham nhũng. Hành vi tham nhũng do chính thể chế chính trị và kinh tế ở VN sinh ra và dung dưỡng ngày một nghiêm trọng và hết thuốc chữa. Thay vì ra sức sửa chữa khuyết điểm do nhân dân đóng góp, nhà nước VN lại ra sức dung túng cho tham nhũng và quay ngược lại đàn áp đánh phá các phong trào đấu tranh chống tham nhũng của người dân. Đây là một tội ác lớn và tày đình của đảng cộng sản đối với dân tộc.". Vụ án hối lộ, tham nhũng tiền ODP của Huỳnh Ngọc Sỹ gần cả triệu mỹ kim cho thấy những tiên liệu của Trần Minh Hoàng có cơ sở, đã làm cho chế độ CS phải hoảng hốt, nhanh chóng quay ra đàn áp, bịt miệng các tiếng nói trung thực.
Chúng tôi phổ biến lại bài viết Trần Minh Hoàng và vụ án của anh để rộng đường dư luận, cảnh báo trước các âm mưu thâm độc của cộng sản Việt Nam, qua thủ đoạn dùng các bản án phạm tội “hình sự” đàn áp những tiếng nói đối lập, hòng chạy tội, để tránh bớt áp lực và lên án của dư luận thế giới. Dù cho CSVN che đậy và quỷ quyệt thế nào, tên tuổi của anh Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng cũng sẽ được nhân dân quý mến, xem anh như một chiến sĩ, đã vì đấu tranh cho lý tưởng tự do dân chủ mà chịu cảnh tù đày, cùng chung số phận với những chiến sĩ dân chủ khác như luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Bắc Truyễn, bác sĩ Lê Nguyên Sang, ký giả Huỳnh Nguyên Đạo v.v...
Trần Nam
CSVN XIẾT CHẶT CÁC TRANG BLOG
Trọng Nghĩa
Các nhà cung cấp dịch vụ Internet có nhiệm vụ thiết lập những cơ sở dữ liệu và phong tỏa, xoá bỏ mọi nội dung bị chính quyền Việt Nam đánh giá là bất hợp pháp
Theo một thông tư mới ban hành mà hãng tin Pháp AFP có được bản sao, thì kể từ nay các trang blogs chỉ được quyền loan tải các thông tin mang tính chất cá nhân, và nội dung không được quyền ''chống lại Nhà Nước'' hoặc ''phá rối trật tự xã hội''.
Ngoài ra các nhà cung cấp dịch vụ Internet có nhiệm vụ thiết lập những cơ sở dữ liệu và phong tỏa, xoá bỏ mọi nội dung bị chính quyền đánh giá là bất hợp pháp.
Theo hãng AFP, chính quyền đã áp đụng đối với các trang blog những quy định ban hành hồi tháng 8 vừa qua đối với Internet, vốn cấm đoán việc chống lại Nhà Nước, làm tổn hại an ninh quốc gia, trật tư công cộng và an toàn xã hội, phá hoại tình đoàn kết dân tộc. Mặt khác chính quyền cũng nghiêm cấm việc phát tán bí mật quốc gia trong cả lãnh vực quân sự lẫn kinh tế.
Ngày từ đầu tháng 12 vừa qua, thứ trưởng bộ Thông tin, ông Đỗ Qúy Doãn đã chuẩn bị dư luận về việc xiết chặt quyền kiểm soát các trang blog khi cho rằng chính quyền không muốn can thiệp vào chuyện riêng tư của những người viết blog, mà chỉ muốn giúp họ hiểu rõ phạm vi những hoạt động mà họ được phép tiến hành.
Trong phương án kiểm soát trang blog, theo báo Thanh Niên, chính quyền Việt Nam có ý định liên lạc với các tập đoàn Internet lớn như Yahoo và Google để các công ty này giúp đỡ chính quyền trong việc kiểm soát các trang blog.
Theo hãng AFP, trong thời gian qua, Internet đã giúp cho người Việt Nam phát biểu ý kiến một cách thoải mái hơn, một sự thông thoáng không thể có trên các phương tiện thông tin báo chí truyền thống bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ.
Trong những tháng gần đây, trên mạng đã xuất hiện vô số nhưng lời phê phán chính quyền về cách xử lý hồ sơ tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc. Trong lúc đó, trên mặt báo chính thức, hồ sơ nhạy cảm này hầu như không được đề cập đến.
Việt Nam siết chặt kiểm soát đối với các blogger VOA 24/12/2008
Theo tinh thần một bản Thông Tư Hướng Dẫn mới, đòi hỏi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phải cung cấp mọi thông tin liên quan tới người sử dụng, Việt Nam đã siết chặt thêm quyền kiểm soát đối với những chủ thể của các trang blog, thường được gọi là blogger, để ngăn cấm những quan điểm bị coi là chống đối nhà nước hoặc gây phương hại tới an ninh quốc gia.
Tin của AFP cho hay internet lâu nay vẫn cung cấp cho người Việt một diễn đàn để bày tỏ những quan điểm không thể tìm thấy trên các phương tiện truyền thông truyền thống bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ. Internet đã tạo ra một bầu không khí trang blog ngày càng trăm hoa đua nở, thế nhưng hồi đầu tháng, chính phủ cho biết là muốn có những luật lệ chặt chẽ hơn để kiểm soát những trang blog này.
Bản Thông Tư Hướng Dẫn mới xác định rõ là những trang blog chỉ được trình bày những nội dung có tính cách riêng tư và không bao giờ được cung cấp, truyền đi hoặc đặt đường liên kết trực tiếp đến những thông tin vi phạm các qui định của một nghị định được đưa ra hồi đầu năm nay.
Nghị định này cấm chỉ đưa lên các trang điện tử những thông tin chống đối nhà nước, gây phương hại tới an ninh quốc gia và trật tự xã hội, tạo ra những vụ đối đầu, hoặc tiết lộ những bí mật liên quan tới an ninh quốc gia, quân đội hoặc kinh tế. Trong số ấn hành trước đây trong tháng này, nhật báo Thanh Niên cho biết giới hữu trách sẽ tiếp xúc với hai công ty Internet khổng lồ là Yahoo và Google để xin cộng tác trong việc tạo một mội trường lành mạnh và tốt đẹp hơn cho các bloggers.
Bản Thông Tư Hướng Dẫn mới yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến thiết lập hồ sơ dữ kiện liên quan tới những trang blog dưới sự giám sát của họ và cung cấp những thông tin này cho nhà chức trách khi được yêu cầu, cũng như để loại bỏ những nội dung vi phạm luật lệ.
Thông Tấn Xã Reuters cho hay Bản Thông Tư này không nói rõ những gì sẽ xảy ra đối với những trang blog được đăng tải trên mạng của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ của nước ngoài, như mạng Yahoo360 đang được nhiều người sử dụng.
Hội Nhà Báo Không Biên Giới chuyên theo dõi các hoạt động truyền thông, trụ sở đặt tại Paris, liệt kê Việt Nam vào danh sách các nước kẻ thù của internet vì đã có những hành động kiểm duyệt chặt chẽ tương tự như hành động của nước đàn anh Trung Quốc.
Tuy nhiên, theo AFP, dù phải đương đầu với những hành động kiểm duyệt như vậy, những lời chỉ trách nhà chức trách đã xuất hiện nhiều trên các trang điện tử trong năm qua, trong đó đáng kể nhất là những lời chỉ trích chính phủ về cách giải quyết cuộc tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh trong biển Đông.
Cả Việt Nam lẫn Trung Quốc cùng nhận có chủ quyền với các dãy đảo Trường Sa và Hoàng Sa, và cuộc tranh chấp này đã tạo ra những vụ biểu tình hiếm thấy tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh một năm trước đây. Đây là một vấn đề rất nhạy cảm về mặt chính trị, gây cản trở cho việc phát triển quan hệ thêm nữa giữa hai nước đồng minh cùng theo chủ nghĩa cộng sản và hiếm khi được báo chí tại Việt Nam đề cập tới, hoặc nếu có thì cũng chỉ bàn tới một cách ngắn gọn và đầy thận trọng.
Các tòa án tại Việt Nam đã bỏ tù một số người bày tỏ thái độ bất đồng chính kiến trên internet và hồi đầu tháng đã giữ nguyên bản án hai năm rưỡi tù dành cho một blogger được nhiều người biết tiếng.
Blogger Điếu Cày, tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, đã bị buộc tội trốn thuế, dù Hội Nhà Báo Không Biên Giới cho rằng thật ra ông này bị trừng phạt chỉ vì đã chỉ trích chính sách của Bắc Kinh trong vùng Biển Đông. Thông Tấn Xã DPA của Đức cho biết bản Thông Tư Hướng Dẫn mới này không nói rõ về việc trừng phạt những vụ vi phạm.
Cũng theo DPA, một vài người tỏ vẻ nghi ngờ về tác dụng của Bản Thông Tư Hướng Dẫn mới. Ông Lê Bạch Dương, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Phát Triển Xã Hội ở Hà Nội, nói rằng theo ông nghĩ, chính phủ không nên dùng các biện pháp kỹ thuật và hành chính để kiểm soát các trang blog, vì những biện pháp này khó mang lại hiệu quả.
Ngay trong ngày thứ Tư, một trang blog trên mạng Yahoo360 viết rằng chính phủ khó mà thi hành được những điều đề ra trong bản Thông Tư Hướng Dẫn.
Tin của Reuters cho hay hiện có khoảng 21 triệu người sử dụng internet tại Việt Nam. Năm ngoái, số người dùng internet tại Việt Nam là 17 triệu 700 ngàn người, và năm 2006 chỉ có 14 triệu 700 ngàn người.
BBC 24 Tháng 12 2008 - Cập nhật 08h39 GMT VN cấm blog 'chống đối nhà nước'
Việt Nam mới chính thức cấm các blogger truyền đi hoặc đặt đường link liên quan tới các nội dung ‘chống lại nhà nước, tiết lộ bí mật quốc gia, an ninh và kinh tế’.
Theo tin từ tờ Hà Nội Mới, hôm 23/12, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT – TT) Đỗ Quý Doãn đã ký thông tư, theo đó còn cấm các blog đưa thông tin “xuyên tạc, vu khống và gây rối”.
Bộ TT – TT nhận định, blog ‘giúp cá nhân mở rộng khả năng tương tác trên môi trường internet’ nhưng cần phải ‘phù hợp với thuần phong mỹ tục và pháp luật’ cũng như sử dụng ‘tiếng Việt trong sáng và lành mạnh’.
Thông tư này nhấn mạnh, các blogger ‘phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin cung cấp, lưu trữ, truyền đi trên blog của mình, bảo đảm không vi phạm quy định của pháp luật’.
Ngoài cá nhân blogger, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet cũng phải ‘có trách nhiệm’ kiểm soát hoạt động của các blog trên trang họ cung cấp.
Tuy nhiên, thông tư này không nói rõ hình thức xử lý đối với các blog sử dụng dịch vụ từ nước ngoài như Yahoo!360, vốn được phần đông các blogger Việt Nam ưa chuộng.
Thời gian qua, cộng đồng blogger cũng có nhiều ý kiến trái chiều về các biện pháp quản lý blog của nhà nước.
'Chiếm lĩnh môi trường mạng'
Một trong những nhiệm vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông là quản lý hoạt động Internet ở Việt Nam.
Theo thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam, hiện có hơn 21 triệu người sử dụng Internet ở Việt Nam.
Hồi đầu tháng này, tờ Thanh Niên đưa tin, Bộ TT – TT dự kiến sẽ liên hệ với hai công ty Yahoo và Google để yêu cầu hợp tác nhằm “tạo ra một môi trường tốt và lành mạnh nhất cho các blogger”.
Vài năm trở lại đây, blog là phương tiện được sử dụng nhiều để người dân trong nước nói lên tiếng nói về mọi vấn đề trong xã hội, trong đó có các chủ đề nhà nước coi là ‘nhạy cảm’ như vấn đề Trường Sa – Hoàng Sa hay nhân quyền. Thống kê không chính thức nói hiện có khoảng hơn hai triệu blog ở Việt Nam, mà theo các nhà quan sát là đang ‘chiếm lĩnh môi trường mạng Việt Nam’.
Hồi tháng Tư, trả lời BBC Việt Ngữ, ông Vũ Minh Trí, Tổng Giám đốc Yahoo! tại Việt Nam, nói sẽ 'không tiết lộ thông tin khách hàng' cho bên thứ ba. "Yahoo! không tiết lộ thông tin cho phía bên ngoài. Một trong những điều chúng tôi khẳng định là sẽ giữ đúng cam kết đó với khách hàng".
DÂN CHỦ LÀ CÁCH SỐNG ỔN ĐỊNH
Ngô Nhân Dụng
Các chế độ cộng sản thường viện lẽ cần bảo vệ ổn định xã hội nên phải độc tài. Như thế nào gọi là ổn định? Nhìn vào cảnh những nông dân Việt Nam khiếu kiện về đất đai, những vụ đình công ngoài vòng pháp luật ở Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Hải Phòng, không thấy gì ổn định. Nhưng bên Trung Quốc gần đây các cuộc biểu tình ôn hòa đã biến thành bạo động nữa. Khẩu hiệu “xã hội hài hòa” của ông Hồ Cẩm Ðào không thể hiện được, khi nào xã hội còn đầy tham nhũng, bất công. Nhưng thiếu sót lớn nhất là không có những phương tiện bình thường, giản dị để người dân được lên tiếng nói.
Trong tỉnh Quảng Ðông phát triển nhanh nhất Trung Quốc, hàng ngàn công nhân thất nghiệp đã kéo nhau tới trước các hãng xưởng mới đóng cửa. Họ đến đòi chủ nhân phải trả hết số lương còn thiếu. Khi nhiều xí nghiệp quịt lương của nhân viên, mối liên hệ giữa con người với con người có được hài hòa hay không? Ở các nước tư bản thật sự, các chủ nhân không dám làm như vậy vì còn có pháp luật. Khi nhân viên ở một nước cộng sản mất việc mà không thể trông cậy vào hệ thống pháp luật để đòi tiền lương còn thiếu, khi họ phải tự mình kéo thành đám đông đi biểu tình đòi nợ, như vậy thì xã hội có sống trong nền nếp ổn định hay không? Ở Thẩm Quyến vào đầu Tháng Mười Một 2008, dân chúng biểu tình bạo động sau khi cảnh sát ở một trạm canh giết một thanh niên lái xe gắn máy cãi lệnh. Ở một thành phố khác cũng trong tỉnh Quảng Ðông, mười ngày sau lại xẩy ra một vụ tương tự, dân cũng biểu tình. Tại sao họ không đợi nhà chức trách điều tra những vụ giết người, mà phải biểu tình bạo động? Tại sao một vụ vi phạm luật giao thông mà cũng dẫn tới cảnh chết người? Nếu những chuyện như vậy năm thì mười họa mới xẩy ra thì hiểu được. Nhưng chỉ trong vòng 10 ngày trong cùng một tỉnh có tới hai vụ thì xã hội này có nếp sống đầy bạo lực!
Mỗi năm ở Trung Quốc có hàng trăm ngàn cuộc biểu tình với số lượng lớn từ hàng trăm người trở lên. Chính phủ Bắc Kinh đã mở cửa cho phép các báo, đài nhà nước loan tin về các cuộc biểu tình này, vì họ biết rằng không thể bịt miệng dân mãi được. Các mạng lưới điện tử đã đóng vai thúc đẩy đảng cộng sản phải nới lỏng chế độ kiểm duyệt tin tức. Vì họ biết nếu nhà nước không loan tin thì dân chúng sẽ được nghe các nguồn tin khác. Cho nên chính sách của đảng cộng sản hiện giờ là “kiểm duyệt tin bằng cách loan tin trước.”
Cho nên chúng ta mới biết ở thành phố Trùng Khánh, hàng trăm tài xế taxi đã biểu tình phản đối cảnh sát dung túng cho những chiếc xe taxi “lậu” cướp khách của họ. Chính quyền thành phố phải họp mặt với đại diện các tài xế suốt ba giờ. Ở nhiều nơi khác giới lái taxi cũng đình công hưởng ứng. Các người lái taxi phản đối nạn tham nhũng và sự thông đồng giữa nhà nước cộng sản và các chủ nhân cho thuê xe chạy taxi bóc lột giới tài xế. Nhiều chiếc xe taxi bị phá vì tài xế không tham dự cuộc đình công, cho thấy người ta sẵn sàng gây bạo động.
Ngày 8 tháng 11 ở Bắc Kinh, hơn 400 người biểu tình trước tòa thị chính để phản đối một cuộc “lạc quyên” lừa bịp. Tân Hoa Xã loan tin như vậy, chỉ khiến người đọc thắc mắc thêm. Tại sao bị kẻ gian lừa bịp mà lại đem nhau tới tòa đô chính phản đối? Ai lạc quyên? Họ nhân danh đảng và nhà nước ở cấp thành phố hay trung ương khi yêu cầu dân đóng góp? Ðể làm gì? Những ông lớn nào dính líu? Không ai biết.
Vụ biểu tình đang được cả thế giới chú ý là người dân ở thị xã Lũng Nam, tỉnh Cam Túc. Bản tin của nhà nước cộng sản cho biết hàng ngàn người đã biểu tình, và chỉ loan tin có 60 cảnh sát viên bị dân đánh. Nhưng những nguồn tin độc lập nêu lên con số mười ngàn người, với nhiều biến chuyển rõ hơn.
Vụ biểu tình ở Lũng Nam bắt đầu với 30 người dân “khiếu kiện về đất đai,” một lý do thông thường nhất, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay. Những người này đã nộp đơn khiếu oan từ năm 2006 vì chính quyền chiếm đất không bồi thường thỏa đáng; ngày Thứ Hai vừa qua họ lại “biểu tình hâm nóng” nỗi oan khuất để nhắc nhở nhà nước khỏi quên. Qua ngày hôm sau, có thêm khoảng 2,000 người dân khác tới dự biểu tình, và vấn đề được nêu lên đã thay đổi. Người ta phản đối chính quyền thị xã Lũng Nam đã quyết định đổi nơi thiết lập “trụ sở ủy ban nhân dân” sau trận động đất cũ. Người biểu tình đã đánh lại công an, cảnh sát bằng gậy sắt, xích sắt; ném đá, ném gạch, ném cả chậu cây kiểng vào đám công an; chiếm một xe cứu hỏa, đốt các xe hơi khác của công an, đốt cả xe đạp và xe gắn máy; dân cũng kéo tới đập vỡ cửa kính trụ sở nhà nước và chiếm cả một văn phòng trong một ngày. Số người biểu tình lên tới 10,000 người, theo nguồn tin của Asia News.
Cuộc biểu tình ở Lũng Nam đông người vì nông dân ở các làng mạc chung quanh cũng kéo về tham dự, mỗi nhóm người đến với những khẩu hiệu, những nỗi oan ức và yêu sách mới. Một người Trung Hoa nói với nhà báo: “Tôi trước là cán bộ nhà nước, nhưng nay tôi ủng hộ người dân.”
Ngày Thứ Tư, cuộc biểu tình đã bị đàn áp và chính quyền tuyên bố tình trạng giới nghiêm trong thành phố 2 triệu 6 dân và Tân Hoa Xã báo tin “tình hình đã ổn định!” Nhưng trong thành phố còn nhiều đám khói bốc lên.
Vì đâu một cuộc biểu tình “bình thường” của 30 người dân mất đất khiếu kiện (đã kéo dài từ 2 năm nay) bỗng nhiên biến thành vụ bạo động khiến hàng trăm người dân bị bắt? Nguyên nhân chính được nêu lên là dân chúng phản đối việc chính quyền đổi địa điểm trụ sở huyện Võ Ðô từ thị xã Lũng Nam tới một thành phố khác, trong kế hoạch xây dựng lại sau vụ động đất vào tháng Năm vừa qua.
Cuộc động đất ở Tứ Xuyên hồi Tháng Năm lan sang tới huyện Võ Ðô, tiếp theo lại một trận động đất vào ngày 21 tháng 6, tất cả khiến cho gần 2 triệu người trong huyện mất nhà cửa. Lấy lý do vùng này có thể bị động đất nữa, chi đảng cộng sản địa phương quyết định dời trụ sở ủy ban nhân dân huyện từ Lũng Nam đi nơi khác.
Tại sao dân chúng lại phản đối quyết định dời địa chỉ của trụ sở nhà nước? Lý do chắc không đơn giản. Cuộc biểu tình biến thành bạo động cho thấy phải có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn khác, nhiều nỗi phẫn uất được tích tụ từ bao năm, chỉ chờ dịp bùng nổ. Trên các mạng lưới nhiều người than thở rằng dân chúng huyện Võ Ðô đã khổ vì các cán bộ cộng sản tham nhũng cửa quyền, những vụ chiếm đất không bồi thường đầy đủ trong bao nhiêu năm qua. Cam Túc là một tỉnh vùng biên cương, tiếp giáp với vùng Tây Vực, có nhiều nhóm dân thiểu số bị người Hán cai trị; cũng là tỉnh đã diễn ra những cuộc biểu tình của người Tây Tạng trong Mùa Hè vừa qua.
Quyết định dời trụ sở huyện có thể đúng, có thể sai, người ngoài không biết được nguyên ủy. Nhưng khi những người dân bị ảnh hưởng của quyết định trên đã bầy tỏ ý kiến phản đối bằng cách bạo động, chúng ta thấy chắc các cán bộ đã quyết định đơn phương và bất ngờ, dân không được hỏi ý kiến. Cách cai trị của đảng cộng sản không bao giờ minh bạch, công khai. Mỗi chi bộ đảng cộng sản là một “hội kín,” họ quyết định gì cũng chỉ có họ biết với nhau, đó là nguyên nhân chính tạo ra những bất mãn chồng chất.
Người dân thì lúc nào cũng nghi ngờ cán bộ quyết định điều gì đều vì quyền lợi của chính họ. Mỗi quyết định lớn đều tạo ra cơ hội tham nhũng, việc dời trụ sở huyện Võ Ðô hay mở rộng thủ đô Hà Nội đều có những lý do chấm mút cả. Khi trụ sở huyện đổi chỗ, khi đất thành phố được quy hoạch lại, giá nhà ở nơi cũ sẽ xuống giá, địa điểm mới sẽ lên giá! Các quan chức nào được ăn nhiều trong các kế hoạch đó?
Khi cán bộ đảng ở Lũng Nam giải thích rằng họ phải đổi địa điểm cơ quan nhà nước vì Lũng Nam ở trong vùng động đất, người dân đã hỏi lại rằng nếu lo động đất thì tại sao không cho cả 2.6 triệu người dân đổi địa chỉ theo? Ðây là một câu hỏi cho thấy dân không tin tưởng vào bất cứ lời giải thích nào nữa. Một người dân Lũng Nam đã than với nhà báo rằng bà ta thuộc lớp người nghèo, trụ sở huyện thay đổi thì bà ta cũng không được, không mất gì cả. Nhưng, bà vẫn thấy, “Khi trụ sở huyện còn ở đây thì dù tôi không có việc làm cũng vẫn đi mót rác được, đủ cơm ăn. Bây giờ họ đổi trụ sở huyện đi nơi khác, tìm đâu ra rác nữa để mà mót?” Bà than: “Bây giờ còn có cơm ăn, mai mốt sẽ phải ăn bắp trừ cơm thôi!”
Cuộc biểu tình bạo động ở Lũng Nam chỉ là một trong hàng trăm ngàn cuộc phản đối của nhân dân Trung Hoa đối với chính quyền cộng sản. Một chế độ như thế không thể coi là ổn định được. Các nước cộng sản như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn đều là những thùng thuốc nổ chỉ lo sẽ có lúc bùng lên. Lý do chính là vì người dân không được hưởng những quyền tự do tối thiểu: Tự do báo chí để được phát biểu ý kiến bất đồng; tự do hội họp để cùng nêu lên những ý kiến chung. Tóm lại là chưa có tự do dân chủ.
Một đặc tính thiết yếu của chế độ dân chủ là người dân được góp ý kiến trong những quyết định liên can tới đời sống của họ, chuyện nhỏ cũng như chuyện lớn.
Người dân các nước như Pháp, Canada, Mỹ đều chấp nhận phải có một nhóm người cầm quyền bính và quyết định thay cho mình; về những công việc chung, như xây cầu, làm đường, tăng thuế hay giảm thuế. Không người dân nào đòi tự mình quyết định lấy tất cả mọi việc.
Nhưng nếu có người thấy chính quyền “làm bậy” thì sao? Thí dụ, nếu ông, bà thị trưởng phá bỏ một công viên để làm trường học, hoặc ông tổng thống định làm thêm hai hàng không mẫu hạm nữa, mà người dân không đồng ý thì sao? Ở một nước tự do dân chủ người ta có quyền nói: Chúng tôi chống dự án này. Có quyền kêu gọi những ai đồng ý với mình cùng lên tiếng nói, có khi lên tiếng với tư cách một đảng đối lập. Nói mãi mà chính quyền vẫn làm trái ý mình thì sao? Thì đến kỳ bầu cử tới mình sẽ bỏ phiếu chống, và hô hào mọi người chống bà thị trưởng hoặc ông tổng thống “ngu dốt” hoặc tham nhũng này.
Người ta không cần phải bạo động để bầy tỏ ý kiến. Ðó là đặc tính của thể chế dân chủ. Lý do là vì người ta biết có thể thay đổi chính quyền, thay đổi xã hội chung quanh mình bằng lá phiếu. Trong các nước dân chủ lâu lâu cũng xẩy ra những cuộc biểu tình bạo động. Nhưng đó là những biến cố họa hiếm, khi có những xúc động mạnh bị dồn nén lâu ngày cần bùng nổ ra, có lý do chính đáng hoặc không chính đáng.
Còn ở các nước độc tài thì những cuộc biểu tình bạo động xẩy ra rất nhiều. Chính vì những người dân ở đó không có cơ hội phát biểu các ý kiến trái ngược với ý nhà nước. Ðến khi người dân không chịu nổi sự áp bức nữa, thì chỉ còn cách là bạo động. Cho nên chính thể chế dân chủ tự do mới bảo đảm cho xã hội được ổn định, hòa bình trong lâu dài.
TÁC GIẢ NGHỊ QUYẾT LIÊN ÂU BÌNH LUẬN
Tác giả Nghị quyết của Nghị viên Châu Âu phản biện quan điểm của Bộ ngoại giao VN Trà Mi, phóng viên đài RFA 2008-10-29
Ngay sau khi Nghị Viện Châu Âu thông qua Nghị Quyết đề nghị Ủy Ban và Hội Đồng Châu Âu đặt tình trạng nhân quyền của Việt Nam làm điều kiện để tiếp tục ký kết Hiệp Ước Hợp Tác với Hà Nội, Bộ Ngoại Giao Việt Nam lập tức lên án Nghị Quyết này là sai trái, làm ảnh hưởng mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và các nước thuộc khối Liên Minh Châu Âu.
Ông Marco Cappato, thành viên Quốc Hội Châu Âu.
Phản hồi của những người ra Nghị Quyết ra sao? Trà Mi ghi nhận qua cuộc phỏng vấn ông Marco Cappato, thành viên Quốc Hội Châu Âu, là tác giả chính của Nghị Quyết vừa được Nghị Viện Châu Âu thông qua hôm 22/10/2008.
Tôi cho rằng với chúng tôi, điều quan trọng là mối quan hệ đối với người Việt Nam. Nói thẳng ra, những gì quốc tế đang kêu gọi là vì quyền lợi của chính nhân dân Việt Nam, dĩ nhiên nó có thể trái ý với bộ máy cầm quyền Hà Nội.
Ông Marco CappatoTrước tiên, ông Cappato trình bày nguyên nhân của Nghị Quyết:
Tầm quan trọng của Nghị Quyết
Ông Marco Cappato: Mọi việc bắt đầu khi tôi và ông Marco Pannella thuộc đảng Cấp Tiến chủ trương bất bạo động của Italy yêu cầu Tiểu Ban về Nhân Quyền trong Quốc Hội Châu Âu trình bày các đánh giá của họ về thực trạng nhân quyền tại Việt Nam, vào khi một hiệp ước mới về hợp tác mậu dịch giữa Liên Minh Châu Âu với Việt Nam sắp được ký kết.
Đáng tiếc rằng chúng tôi nhận được nhiều nguồn thông tin về vi phạm nhân quyền của chính phủ Hà Nội trong khi Liên Minh Châu Âu ngày càng ít lưu tâm đến thực trạng nhân quyền tại Việt Nam, mà tình hình thực tế lại không có dấu hiệu nào cải thiện, ngược lại, còn có chiều hướng tệ hơn, cụ thể như các quyền tự do tôn giáo, tự do bày tỏ quan điểm của người dân tại Việt Nam.
Trong phiên họp toàn thể của Nghị Viện Châu Âu, đảng cực hữu chúng tôi cũng đã yêu cầu Ủy Ban Châu Âu và nước chủ tịch luân phiên của Hội Đồng Châu Âu hiện giờ là Pháp cập nhật thông tin về tiến trình của các cuộc thương thuyết ký kết Hiệp Ước Hợp Tác với Việt Nam.
Dựa trên tất cả các cơ sở đó, chúng tôi quyết định soạn thảo Nghị Quyết về quan hệ giữa EU và Việt Nam, trình ra trước Nghị Viện, và đã được thông qua với tỷ lệ áp đảo là 479 phiếu thuận, 21 phiếu chống, và 4 phiếu trắng.
Trà Mi: Xin ông cho biết tầm quan trọng của Nghị Quyết này ra sao, thưa ông?
Ông Marco Cappato: Trong nội dung các Hiệp Ước Hợp Tác Kinh Tế và Mậu Dịch giữa Liên Minh Châu Âu với các nước, luôn luôn có điều khoản về nhân quyền, ghi rõ rằng các thỏa thuận có thể bị đình hoãn hoặc thậm chí bị hủy bỏ, nếu có các vi phạm về nhân quyền. Đáng tiếc là chưa có một cơ chế giúp bảo đảm điều khoản này được thi hành cụ thể trong thực tế.
Vì vậy, nhân tiến trình các cuộc thương lượng ký kết Hiệp Ước Hợp Tác mới giữa EU và Việt Nam đang diễn ra, chúng tôi đề nghị với Hội Đồng và Ủy Ban Châu Âu nên áp lực Việt Nam cải thiện nhân quyền trước khi muốn hoàn tất việc ký kết này.
Ý nghĩa quan trọng của Nghị Quyết này chính là Nghị Viện Châu Âu đã chính thức lên tiếng rõ ràng, đặt điều kiện với đôi bên tham gia ký kết phải xem xét đến việc cải thiện nhân quyền của Hà Nội trước khi bàn đến sự hợp tác.
Sẽ rất thú vị nếu như họ đưa ra được những thông tin hoặc những bằng chứng xác thực chứng minh điều ngược lại. Những gì chúng tôi nêu lên trong Nghị Quyết dựa trên các thông tin từ giới ngoại giao quốc tế, các tổ chức NGO trên thế giới, và cả từ các nhân chứng trực tiếp.
Những yêu cầu cụ thể được liệt kê trong Nghị Quyết bao gồm nhà nước Việt Nam phải hợp tác tích cực với các cơ quan nhân quyền của Liên Hiệp Quốc bằng cách cho phép các đặc sứ vào quan sát thực trạng, cho phép các tổ chức tôn giáo độc lập được tự do tiến hành các sinh hoạt tín ngưỡng mà không bị sự can thiệp, điều khiển của nhà nước, hủy bỏ các luật định hình sự hóa những ý kiến bất đồng, cũng như phóng thích các tù nhân chính trị và tôn giáo.
Vai trò của Nghị Viện Châu Âu
Trà Mi: Để những yêu cầu này là điều không thể chối cãi đối với chính quyền Hà Nội thì Nghị Viện Châu Âu đóng vai trò ra sao, thưa ông?
Ông Marco Cappato: Quốc Hội Châu Âu về mặt nào đó, có vai trò độc lập hơn Ủy Ban và Hội Đồng Châu Âu, dù chúng tôi không có quyền khiến những điều trong Nghị Quyết này được thi hành vào thực tế, nhưng điều đáng nói là khi các thành viên trong Quốc Hội Châu Âu được thông tin đầy đủ, thì đa số đã nhận rõ được thực trạng nhân quyền tại Việt Nam, mà bằng chứng là số phiếu ủng hộ thông qua Nghị Quyết này áp đảo gấp mấy chục lần số phiếu chống.
Nghị quyết của Nghị viện Châu Âu về các mối quan hệ hợp tác với Việt Nam.
Trà Mi: Ngay khi Nghị Quyết này được thông qua, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã lên tiếng tố cáo đó là một việc làm sai trái, đặt ra với những điều kiện không có căn cứ làm ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và Liên Minh Châu Âu. Ý kiến của ông ra sao?
Ông Marco Cappato: Tôi cho rằng với chúng tôi, điều quan trọng là mối quan hệ đối với người Việt Nam. Nói thẳng ra, những gì quốc tế đang kêu gọi là vì quyền lợi của chính nhân dân Việt Nam, dĩ nhiên nó có thể trái ý với bộ máy cầm quyền Hà Nội, nhưng những gì chúng tôi làm không hề mang mục đích như cái gọi là chống đối “kẻ thù”, mà là giúp họ cải thiện. Và nếu như họ thật sự cải thiện thì chúng tôi sẽ là những quốc gia tiên phong công nhận những thành tích ấy và thay đổi cách nhìn đối với nhà cầm quyền Việt Nam.
Dĩ nhiên thái độ phản ứng của chính quyền Hà Nội là điều chúng ta có thể đoán biết trước, nhưng tôi thật lòng hy vọng rằng sau phản ứng tức thời này, họ sẽ suy ngẫm lại kết quả mà toàn bộ Nghị Viện chúng tôi đã bỏ phiếu thông qua, hoặc chí ít là đáp ứng một vài những mối quan tâm chính yếu của chúng tôi. Còn như ngược lại, tôi cho rằng quan điểm và cách nhìn của quốc tế về tình hình nhân quyền tại Việt Nam sẽ chẳng thể thay đổi được.
Thực trạng nhân quyền tại Việt Nam
Trà Mi: Thế nhưng Bộ Ngoại Giao cho rằng những lời tố cáo này không phản ánh đúng tình hình ở Việt Nam. Vậy làm thế nào có thể chứng minh sự lên án đó là dựa trên các căn cứ thực tế đáng tin cậy?
Ông Marco Cappato: Sẽ rất thú vị nếu như họ đưa ra được những thông tin hoặc những bằng chứng xác thực chứng minh điều ngược lại. Những gì chúng tôi nêu lên trong Nghị Quyết dựa trên các thông tin từ giới ngoại giao quốc tế, các tổ chức NGO trên thế giới, và cả từ các nhân chứng trực tiếp.
Ví dụ như, nhà cầm quyền Hà Nội chỉ đưa ra lời nói phủ nhận các vấn đề nhân quyền tại Tây Nguyên, nhưng tại sao họ lại không cho phép quốc tế được tự do tiếp cận khu vực để đánh giá và tìm hiểu tình hình? Hoặc khi các trường hợp bị đàn áp, với đầy đủ chi tiết về tên tuổi nạn nhân, ngày giờ bắt bớ được nêu rõ, tại sao nhà nước Việt Nam không đưa ra các bằng chứng thuyết phục để phản hồi, để lý giải cụ thể, nếu cho rằng thông tin đó không xác thực?
Tóm lại, lời tuyên bố của Bộ Ngoại Giao chỉ là luận điệu tuyên truyền của nhà nước Việt Nam, những lý luận hoàn toàn không có cơ sở thuyết phục.
Khi một nhà nước đàn áp quyền của người dân, cầm tù những tiếng nói bất đồng thì họ giải thích như thế nào đây? Đấy có phải là văn hóa, là lối sống của người Việt Nam chăng? Tôi không nghĩ vậy, mà theo tôi, đó đơn giản chỉ là những hành động của giới cầm quyền đàn áp, sách nhiễu nhân quyền của người dân Việt Nam mà thôi.
Ông Marco CappatoTrà Mi: Ngược lại, Hà Nội tố cáo các nước phương Tây đang lợi dụng chiêu bài “nhân quyền” để can thiệp vào chuyện nội bộ của Việt Nam, đồng thời khẳng định rằng không một quốc gia nào có quyền áp đặt cái gọi là “khuôn mẫu nhân quyền” của họ lên nước khác. Ông sẽ phản hồi như thế nào?
Ông Marco Cappato: Điều này có thể đúng cách đây hàng trăm năm trước, khi nhân loại chưa có những tiêu chí toàn cầu về quyền con người. Đồng ý rằng không có gì tuyệt đối, không có dân chủ tuyệt đối mà cũng không có độc tài tuyệt đối. Ở nước Ý của tôi cũng có thể có vài vấn đề về nhân quyền và luật pháp.
Cho nên chẳng bao giờ có chuyện rằng quốc gia nào đưa ra một khuôn mẫu làm bài học cho quốc gia nào cả, nhưng ở Việt Nam có những sự vi phạm nhân quyền và dân chủ nghiêm trọng một cách có hệ thống, những quyền căn bản của con người được cả thế giới công nhận qua các Hiệp Ước Quốc Tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Khi một nhà nước đàn áp quyền của người dân, cầm tù những tiếng nói bất đồng thì họ giải thích như thế nào đây? Đấy có phải là văn hóa, là lối sống của người Việt Nam chăng? Tôi không nghĩ vậy, mà theo tôi, đó đơn giản chỉ là những hành động của giới cầm quyền đàn áp, sách nhiễu nhân quyền của người dân Việt Nam mà thôi.
Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn ông Marco Cappato đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn đặc biệt này.
CHO DÂN TRỰC TIẾP BẦU CHỦ TỊCH XÃ TRÒ LỪA MỚI CỦA VIỆT CỘNG
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Trên trang Chính Trị Xã Hội trong báo Người Lao Động của Viê.tcộng, đề ngày 24-08-2008, đăng bài của tác giả Thái An với đề tài: “Thí điểm bầu trực tiếp Chủ Tịch Xã từ năm 2009. Bước Đột Phá Để Mở Rộng Dân Chủ Cơ Sở. Đề án thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận , huyện, phường và thí điểm nhân dân bầu trực tiếp chủ tịch UBND xã đang được Bộ Nội Vụ soạn thảo, để thực hiện thí điểm từ năm 2009, sau khi HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 kết thúc. Đề án thực sự là bước đột phá trong đổi mới tư duy, tầm nhìn, hành động và là bước tiến lớn trong việc mở rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở”. Theo cơ chế của nhà nước Viê.tcộng hiện nay, thì các cấp tỉnh, quận, huyện, phường, xã đều có Hội Đồng Nhân Dân để bầu ra và kiểm soát chủ tịch và Ủy Ban Nhân Dân. Nhưng đứng trên đầu 2 cơ chế này là Đảng Ủy và Viên Bí Thư đầy quyền lực, ở mọi cấp, mà vô trách nhiệm về mặt hành chánh và luật pháp nhà nước.
Đây là cái gốc của việc lạm quyền, tham nhũng, hà hiếp, đàn áp, bóc lội người dân lành Viê.tnam khốn khổ. Cảnh Dân Oan hiện nay, đểu do đơn vị hành chánh cấp xã thực hiện theo chỉ thị từ thượng cấp. Chính vì vậy, mà lâu nay, các nước như Thụy Điển có thiện chí, muốn cố vấn và tài trợ cho Viê.tcộng cải tổ hệ thống hành chánh trì trệ, thối nát, tùy tiện, thảy đều bất lực, đành chào thuạ Nay, Viê.tcộng muốn làm một bước đột phá cho dân bầu trực tiếp người điều hành cơ sở gốc của Quốc Gia là vị đứng đầu xã, và guồng máy hành chánh Làng Xã ở nông thôn và Thị Xã ở đô thi.. Giống như ỏ Hoakỳ và các nước Dân Chủ thành nếp sống lâu đờị Chính nơi đây, người dân mới ý thức và cảm nhận được quyền làm chủ xã hội và đất nước của mình. Mình thực sự biết rõ để chọn ra và kiểm soát những người điều hành Làng Xã, Thị Xã để đề ra những công việc cụ thể do nhu cầu của dân địa phương, và thực hiện luật lệ cũng như các chính sách nhà nước một cách nghiêm minh, nhằm phục vụ quyền lợi cả tinh thần, lẫn vật chất cho chính người dân, chứ không vì quyền lợi của kẻ thống trị, đảng phái cầm quyền, hoặc tôn giáo toàn thống. Đây mới là nền Dân Chủ Trực Tiếp, từ đó ý thức dân chủ trưởng thành để người dân đủ trình độ sáng suốt chọn bầu ra các thành phần lãnh đạo quốc giạ Đây là đường hướng xây dựng thể chế dân chủ đi từ gốc lên trên. Còn các cuộc gọi là cách mạng thì ưu tiên đoạt chính quyền trung ương, rồi mới thực hiện các lý tưởng này, nọ, hoặc thi hành xây dựng dân chủ. Tức là đi từ ngọn xuống, nên thường thì chẳng bao giờ tới được gốc, vì dễ rơi vào thế chuyên chế. Riêng với chủ trương của Quốc Tế Cộng Sản thì họ tự nhận họ thuộc chế độ Vô Sản Chuyên Chính. Họ chỉ vì quyền lợi của Nhân Dân Lao Động, không vì lợi ích của Người Dân Mỗi Nước. Đó là trên lý thuyết, còn thực tế, khi Cô.ngđảng cướp được chính quyền ở Ngạ ở Tầu, ở Việt… thì những lãnh tụ trở thành Vị Vua cực quyền. Đảng trở thành Giai Cấp Thống Trị, Nhân Dân Lao Động và Toàn Dân đều trở thành những tên Nô Lệ Khổ Sai, Trí Thức bị hèn hóa chỉ biết phục vụ cho ý muốn hoang tưởng và quyền lợi của lãnh tụ và cô.ngđảng. Đó là nguyên nhân nội tại, tương tác với duyên ngoại lai của chiến lược Mỹ, tạo ra cảnh huynh đệ tương tàn, làm cho Quốc Tế Cộng Sản sụp đổ.
Cô.ngsản Tầu, Cô.ngsản Việt tuy đã đầu hàng Tưbản, nhưng không dám thực hiện dân chủ đúng nghĩa, chỉ muốn đổi từ cộng sản bao cấp thành tư bản bóc lột, để được nhận vào kinh tế thị trường. Vì muốn có những thị trường nhân dụng rẻ tiền, nên tư bản các nước kỹ nghệ cũng hăm hở đổ vốn đầu tư vào làm ăn, và mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa cho hàng của Tầu, Việt nhập cảng. Thế nhưng vì lợi nhuận lâu dài của giới tư bản và vị thế chiến lược của Mỹ và các cường quốc Dân Chủ, họ vẫn dùng áp lực Nhân Quyền để buộc các nước còn duy trì cơ chế độc đảng độc tài như Tầucộng, Viê.tcộng phải tuân thủ những đòi hỏi thực tế của ho.. Đồng thời từng bước phải thay đổi chế độ và luật pháp cho hợp với nhu cầu kinh tế thị trường toàn cầu hóạ Vì nguyên tắc phát triển của kinh tê thị trường là phải Dân Chủ Hóa Chế Đô.. Có như vậy người dân ở các nước Dân Chủ Tự Do mới trở thành khách hàng tiêu thụ sản phẩm của kỹ nghệ tư bản, và những Quốc Gia đó mới đủ khả năng tài chánh để trang bị kỹ thuật cao của Mỹ trong sản xuất và phòng thủ đất nước. Chính vì vậy mà mấy năm gần đâỵ Hoakỳ đã tài trợ cho Tầucộng tổ chức bầu cử trực tiếp tại một số thí điểm Xã Ấp. Nhưng Tầucộng đã lươn lẹo, không cho bầu cử trực tìếp ở đơn vị Hành Chánh Gốc là Xã, mà chỉ cho bầu các Trưởng Thôn, Trưởng Ấp. Xã vẫn nằm trong hệ thống tham nhũng của các cấp ủy đảng. Bởi vậy các Trưởng Thôn, Trưởng Ấp do dân bầu mới vì quyền lợi của dân, tổ chức các cuộc biểu tình đòi quyền sống, mà mỗi năm có tới hàng Trăm Ngàn vụ xẩy ra ở Trungcô.ng.
Nay Viê.tcộng đi xa hơn Tầucộng một bước, là dự định cho dân bầu trực tiếp Chủ Tịch Xã, người cầm đầu Ủy Ban Nhân Dân Xã. Tức là đơn vị Hành Chánh Gốc của Nhà Nước. Định bỏ các Hội Đồng Nhân Dân Xã, Phường, Huyện, Quận, mà chỉ tăng cường thành phần HĐND tỉnh, và thành phố trực thuộc Trung Ương. Nhưng xem ra Cô.ngđảng vẩn duy trì thứ Đảng Ủy và Viên Bí Thư Xã để nắm đầu Chủ Tịch Xã và Ủy Ban Nhân Dân Xã. Rồi trao cho Mặt Trận Tổ Quốc đứng ra tổ chức bầu cử theo công thức bầu bán lạc hậu “Đảng Cử Dân Bầu”. Như vậy dù dân có bầu ra Chủ Tịch Xã thì vẫn bị thứ cơ chế Đảng Lãnh Đạo, Nhà Nước Quản Lý và Dân vẫn Làm Mọi như xưạ Đây là một trò bịp lớn, không chỉ bịp toàn dân Việt, mà bịp luôn cả Mỹ, bịp toàn thể dư luận quốc tế.
Việc Người Dân trong Xã trực tiếp bầu Xã Trưởng và 4 hoặc 6 Nghị Viên Xã để quyết định đường lối và điều khiển hệ thống hành chánh xã là đúng với nhu cầu, và đòi hỏi của Nền Dân Chủ Trực Tiếp, mang tính thời đạị Lại rất hợp với truyền thống Dân Tộc đã có từ ngàn xưạ Đây là nguyên tắc “Phép Vua Thua Lệ Làng” trong hành trình bảo vệ tinh thần độc lập của Dân Tộc trước sức khống chế của các Đế Quốc, bắt Vua ta phải xưng thần, triều cống và nghe lê.nh. Vì biết cách tổ chức đơn vị Làng Xã Tự Quản, nên thời bình dù Vua có bị xưng thần, thì dân vẫn nuôi được tinh thần Độc Lâp, thời chiến Làng Xã là đồn lũy chiến đấu trường kỳ. Dân Tộc Việt nhờ đó mới thoát khỏi một ngàn năm bị người Tầu đồng hóa, và một trăm năm bị Thực Dân Pháp cải hóạ Nhưng rồi chính Hồ Chí Minh và Viê.tcộng đã tiêu diệt tận gốc rễ hệ thống Làng Xã Tự Quản, qua việc nhận lệnh Nga, Tầucộng thực hiện Cải Cách Ruộng Đất. Rồi cấy vào đó thứ “Chi Bộ Cộng Sản Xã”. Sau đó Viê.tcộng theo Nga thì bắt toàn dân phải thờ Nga, theo Tầu thì buộc toàn dân nô lệ Tầụ Nay, Viê.tcộng nếu muốn chuộc trọng tội đó với Dân Tôc và Toàn Dân thì nên khởi sự bằng việc tự hủy bỏ hệ thống Đảng Ủy tại Làng Xã, Thị Xã. Nghiêm chỉnh tổ chức một cuộc bầu cử thật sự tự do, công bằng, vô tư, trong sáng. Trao cho thành phần dân sự ngoài đảng, chính quyền và MTTQ, đứng ra tổ chức bầu cử tại Làng Xã, Thị Xã. Tập thể có nhân sự và khả năng làm việc đó ở Viê.tnam hiện nay là các Trường Đại Học. Vì sinh viên chỉ trong ngắn ngày là có thể học hiểu luật, phương pháp vận động, tổ chức bầu cử. Rồi từng nhóm trên mươi người do một Giáo Sư hướng đẫn về từng Làng Xã, Thị Xã tiến hành bầu cử. Chỉ có thế người dân mới tin tưởng, người được bầu ra mới thấy mình không bị thượng cấp ban ơn và lệ thuộc ho.. Lúc đó chỉ biết có quyền lợi của dân và pháp luật của Quốc Gia Dân Chủ.
Little Saigon ngày 26-08-2008.
HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI AI VÀ CÁI GÌ ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Cách đây chừng hai năm, nhiều chính khách xu thời đã nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp. Nhìn thấy tính cách xu thời mong nhẩy bàn độc, nhiều Vị đã lên tiếng nói rõ rằng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là lá đơn van xin làm bồi cho CSVN vì chính CSVN không nêu ra vấn đề ấy và vì tâm địa cố hữu của CSVN là ngoan cố bấu víu chặt lấy quyền độc tài độc đảng. Chúng tôi cũng đã viết nhiều về vấn đề này.
Trong tuần vừa rồi, tôi đọc bài của Oâng NGUYỄN TƯỜNG LONG mang đầu đề HÒA GIẢI LÀ MỘT NHU CẦU CÓ THẬT. Tôi cũng có đọc những ý kiến của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH về Hòa Giải Hòa Hợp.
Đối với vấn đề này, lập trường của chúng tôi được bầy tỏ qua hai câu hỏi: 1) Ai hòa hợp hòa giải với ai ? 2) Hòa hợp hòa giải về cái gì ?
Nếu không trả lời chính xác cho hai câu hỏi ấy, thì vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tung ra để che đậy những mưu mô khác.
AI HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI ?
Khi nói hòa hợp hòa giải là nói đến hai lực lượng tranh đấu, dành dựt một cái gì mà dai dẳng không phân thắng bại để tổn thương nguy hại đến cả hai lực lượng. Vì vậy hai bên ngồi lại thảo luận với nhau để chia chác điều mà mình đang dằng co. Nếu chia phần cho đều, thì hai lực lượng tạm yên đánh nhau.
Nếu hiểu Hòa Giải Hòa Hợp là giữa Quốc gia và Cộng sản thì không trúng bởi lẽ người Quốc gia không dành dựt cái điều mà CSVN đang nắm giữ. Trở lại về nguyên thủy cuộc đấu tranh Quốc-Cộng, người Quốc gia đứng ở vị trí bảo vệ Tự do, Nhân quyền, còn người Cộng sản dùng võ lực đến chiếm quyền để đặt để Độc tài độc đảng, không cho Tự do và chà đạp Nhân quyền. Vì vậy người Quốc gia không đi dành dựt chiếm hữu, lấy cho mình cái quyền Độc tài, tiêu diệt Tự do, chà đạp Nhân quyền như Cộng sản. Một bên là tự vệ, một bên là xâm lăng ăn cướp. Vì vậy nói người Quốc gia đi Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN là không trúng
Trúng hơn là nên nói hòa hợp hòa giải giữa những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng và những người làm Chính trị phe chủ trương độc đảng về cái quyền lực cai trị. Nếu những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng muốn hòa hợp hòa giải với CSVN, thì cứ việc làm, nhưng đây là việc đấu tranh dành quyền lực giữa tầng lớp làm chính trị. Liệu CSVN có chia quyền hành cho những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng hay không, hay là CSVN xử dụng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để vẽ râu ria cho chế độ cố hữu của họ, xử dụng những người làm Chính trị phe đa đảng như bung xung lừa bịp Dân và Quốc tế.
Nếu hai phe Chính trị mà chỉ dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để chia ghế, chia quyền hành, thì Dân vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại cả hai phe thống trị.
HÒA HỢP HÒA GIẢI VỀ CÁI GÌ ?
Đối với người Dân, vấn đề tha thiết căn bản của họ là có TỰ DO, có việc tôn trọng NHÂN QUYỀN thực sự và những người cầm quyền đừng ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của họ. Trừ những người làm Chính trị cho quyền hành, hầu hết đồng bào Tỵ nạn Hải ngoại đứng về phía Dân chúng Việt Nam quốc nội đấu tranh cho TỰ DO, NHÂN QUYỀN và QUYỀN SINH SỐNG NUÔI THÂN XÁC. Ơû Hải ngoại, người Quốc gia Tỵ nạn đã có TỰ DO, có NHÂN QUYỀN và CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC. Họ đứng sau lưng Dân chúng Việt Nam để hỗ trợ cuộc đấu tranh của người Dân đòi CSVN cho TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN và đừng CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân chúng quốc nội.
Vậy thì việc Hòa Giải Hòa Hợp là giữa CSVN và DÂN CHÚNG VIỆT NAM tại Quốc nội, chứ không phải giữa CSVN và khối người Quốc gia tỵ nạn tại Hải ngoại. CSVN muốn Hòa Giải Hòa Hợp thì hãy làm công việc đó đối với Dân chúng Việt Nam tại Quốc nội. CSVN hãy trả lại TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN, đừng nắm Kinh tế ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân và phải hòan trả lại Dân những gì mà CSVN đã ăn cướp trong bao chục năm trường. Điều cuối cùng này rất quan trọng. Thực vậy, đừng dùng chiêu bài Hòa giải Hòa hợp để chuyển tài sản ăn cướp ra nước ngoài, rồi cho con cháu ra đây bảo lãnh mình ra sống vương giả trên của cải ăn cướp được.
Hãy Hoà Giải Hòa Hợp giữa CSVN và Dân chúng Quốc nội, chứ đừng đểu cán kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp với một số thành phần Chính trị ở việc chia ghế. CÁI GÌ (đối tượng) cho việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa CSVN và DÂN CHÚNG QUỐC NỘI là: (i) cho TỰ DO, (ii) tôn trọng NHÂN QUYỀN, (iii) đừng nắm độc quyền Kinh tế mà ĂN CƯỚP NHÀ ĐẤT VÀ CƠM ÁO của Dân, (iv) phải hoàn trả lại cho DÂN và ĐẤT NƯỚC những gì đã ăn cướp trước đây.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
KHẨU HIỆU PHẢN ĐỐI CSVN NGAY TẠI HÀ NỘI
Khẩu Hiệu Chống Tham Nhũng, Kết Án Tội Bán Đất Bán Biển, Đòi Hỏi Dân Chủ Hóa Đất Nước Xuất Hiện Trên Cầu Vượt Nam Thăng Long - Nội Bài, Ngay Giữa Hà Nội, Trong Giờ Đi Làm
[28/07/2008 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]
Nhóm Phóng viên Dân chủ Nhân quyền tại Hà Nội Hà Nội, 28-07-2008
Nhóm phóng viên chúng tôi có mặt như đã hẹn qua e-mail với một số nhà dân chủ đang hoạt động bí mật tại Hà nội. Địa điểm là ngay chân cầu Vượt Nam thăng Long - Nội Bài vào đúng 7h30 sáng ngày hôm nay Thứ Hai 28/7/2008.
Đúng giờ hẹn, chúng tôi thấy 2 xe máy gồm 4 người dừng lại trên cầu vượt và họ bình tĩnh mở túi ra, lấy khẩu hiệu cỡ 5m x 2m nền đỏ chữ vàng và phân công nhau mỗi người buộc một đầu rồi thả xuống mẽ bên cầu, nơi mà hàng chục ngàn cư dân Hà nội đang giờ đi làm. Sau khi thả xong khẩu hiệu, họ còn đứng lại giơ tay vẫy chào những người dân đang dồn lại để xem. Bên dưới chúng tôi cũng nhận thấy tại 4 góc ngã tư này cũng có các ánh đèn Flash loé lên, đó là các bạn bè và các nhà dân chủ đến để mục sở thị việc làm này.
Nội dung khẩu hiệu là :
- Tham nhũng là hút máu nhân dân - Lạm phát, giả cả tăng cao là giết dân - Mất đất, biển, đảo là có tội với tổ tiên - Yêu cầu Đảng cộng sản thực hiện ngay DÂN CHỦ HOÁ ĐẤT NƯỚC - ĐA NGUYÊN - ĐA ĐẢNG
Trong e-mail những nhà dân chủ nói với chúng tôi là mục đích họ chọn 7h30 sáng Thứ hai ngày đầu tuần để chăng khẩu hiệu là vì để câu chuyện này được bàn luận rôm rả ngay trong nội bộ các công sở và sức lan truyền lớn, và họ chọn cửa ngõ Nam Thăng Long vì hàng ngày khi bắt đầu giờ đi làm 7h30 - 8h00 có hàng trăm ngàn công chức và nhân dân lưu thông qua vị trí trọng điểm này và như vậy sẽ được rất nhiều người biết đến. Cộng thêm vào 7h30 này thì các lực lượng chức năng còn đang mải mê phân luồng giao thông hoặc chưa đi làm nên thời gian tồn tại của khẩu hiệu sẽ được lâu hơn, khẩu hiệu ở thành cầu rất dễ nhìn và khó cho việc tháo dỡ.
Hiện tại là 8h30 chúng tôi vẫn còn thấy khẩu hiệu chăng ngang vị trí cũ.
Chúng tôi sẽ cập nhật thêm chi tiết sau. 9h30 ngày 28/7/2008. Nhóm phóng viên dân chủ nhân quyền tại Hà nội.
TIN MỚI NHẤT VỀ LM NGUYỄN VĂN LÝ
Hôm 09-07-2008 mới rồi, anh Nguyễn Công Hoàng, cháu gọi linh mục Nguyễn Văn Lý bằng chú ruột, đã từ Quảng Biên, Đồng Nai, đem vợ và 3 con nhỏ đi thăm vị tù nhân lương đang bị giam tại trại tù Ba Sao, Nam Hà, tỉnh Hà Nam.
Họ ra đến thị xã Phủ Lý lúc 5g30 sáng ngày thứ tư (09-7-2008). Xuống xe tốc hành, họ thuê xe taxi lên trại và tới cổng lúc 6g30'. Khi cậu công an bảo vệ đang ghi danh sách khách thăm nuôi thì chiếc taxi chở họ đã vội quay trở ra.
Cậu công an hỏi số xe, anh Hoàng trả lời: "Tôi đâu có biết, tôi kêu thì họ chạy chứ ai để ý số xe làm chi!"
Sau đó họ được cho xách hành lý vào nhà khách chờ.
Đi lui tới trong sân nhà khách khá lâu. Lúc này chưa có ai lên thăm nuôi cả.
Khoảng 7g15’ có một viên công an ra, đưa tờ giấy "kê khai quà gởi thăm nuôi phạm nhân".
Lúc 7g30', người thường xuyên dẫn linh mục Lý ra vào thăm gặp thân nhân từ trước đến nay, kể cả đợt tù 2001-2005 là trung tá Nam xuất hiện và mời tất cả 5 người vào trong khu thăm gặp đặc biệt, y như mọi lần.
Ngồi chờ đến 7g45' thì thấy cha Lý đi ra cùng ông Nam .
Các cháu vội chạy tới ôm chầm lấy "Ông Lý" và tất cả cùng nhau vào phòng thăm gặp.
Vẫn bộ đồ trắng sọc đen như các lần trước. Cha mở đầu bằng nụ cười rạng rỡ như thủa nào và lên tiếng: "Chúng cháu tưởng ông ở đây buồn lắm sao? Không! Ông không buồn vì có Chúa Kitô Phục sinh ở với ông. Có Chúa ở với mình thì làm sao mà buồn được!"
Cha bắt đầu giải thích cách ung dung cho 3 cháu nhỏ hiểu lý do tại sao cha bị giam ở đây và phải mang bộ đồ này: "Họ bắt giam ông vì ông chống lại luật pháp ở VN. Luật pháp ở VN đi ngược lại Công ước quốc tế, với bản Hiến chương LHQ mà VN đã gia nhập và ký công nhận; và ông đấu tranh cho luật pháp ở VN phải phù hợp với Công ước quốc tế. Họ nói ông làm thế là "có tội", vì vậy họ bắt ông…." Sau đó, quay sang chuyện học hành của các cháu, cha Lý nói: "Cháu chắt nhà mình không thể tiến xa được, vì chương trình học nặng về "đạo đức cách mạng", mà mình thì có hiểu và sống theo thứ đạo đức đó được đâu mà thăng với tiến!!! Thời gian này, ông có xem các chương trình truyền hình "đố vui để học" của nhà nước thì thấy trong các chương trình đó, các câu hỏi về xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng chiếm gần một nửa rồi! Thật là vô bổ!" Rồi như để giải độc cho mấy cháu yêu, cha Lý trình bày vắn tắt cho chúng nghe về lịch sử đạo Công giáo tại VN, với thời gian bị bắt đạo lúc sơ khai, các chứng nhân đã dùng mạng sống mình để làm chứng cho Chúa Kitô Phục sinh như thế nào... Tay cán bộ Nam chỉ biết trơ mắt nhìn, chẳng dám phản ứng gì cả!
Sau đó anh Hoàng đưa vài thông tin về bà con ruột thịt, thông tin về hiện tượng tại linh đài La Vang, Quảng Trị hôm 13-6-2008, lúc phái đoàn Tòa thánh đang dâng lễ (hiện tượng mặt trời chói chan bỗng dưng dịu lại và có vầng sáng bao quanh, x. xem bản tin trên nhiều trang mạng), về chuyện tranh đấu của giáo xứ Sáo Cát đã thành công (lấy lại được ngôi trường), về thông điệp của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô 16 gởi cho Giáo hội, nói đến Niềm hy vọng cứu rỗi, trong đó ĐGH đã nêu tấm gương của Thánh Tử đạo Lê Bảo Tịnh và cố Hồng y Nguyễn văn Thuận (bức thông điệp nêu 5 vị gương mẫu, trong đó Việt Nam đã chiếm 2), về hồ sơ phong chân phước cho cố Hồng y Thuận. Anh còn nói tiếp chuyện các cộng đoàn Công giáo ở Đức xin cha Lý dâng lễ cầu nguyện cho họ, chuyện vị nguyên chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức đang vận động cho cha được giải Nobel Hòa bình năm nay….. cũng như chuyện nhiều tổ chức nhân quyền đang vận động cho cha các giải khác. Anh cũng chuyển lời thăm hỏi của 2 vị Giám mục Giáo phận Huế, của vô số bạn bè thân hữu trong và ngoài nước đến cho cha.
Đáp lại, linh mục Lý hỏi thăm về anh Nguyễn Phong, anh Nguyễn Bình Thành, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Thị Công Nhân và nhiều thân hữu khác. Nghe biết luật sư LTCN không chịu đi Mỹ, cha nói: "Như vậy là tốt, đấu tranh muốn hiệu quả phải ở ngay trong lòng chế độ! Ngoài ra, cho đi như thế là trục xuất chứ có phải là trả tự do đâu!"…. Đoạn cha nhắn nhủ gia đình và các cháu hãy chịu khó đi thăm cha thêm 6-7 năm nữa rồi cha về chứ cha không đi đâu hết (Bộ công an cách đây vài tháng có đến đề nghị trả tự do cho Linh mục nếu Linh mục chịu ra nước ngoài).
Cha kính gởi lời cám ơn tất cả bà con bạn hữu xa gần, kính chuyển lời xin Đức Tổng giám mục Huế tiếp tục cầu nguyện nhiều cho cha, cha chỉ thiếu một điều là lời cầu nguyện của tất cả.
Còn về các giải thưởng, linh mục Lý xin cám ơn những ai đã quan tâm ủng hộ vận động và trao tặng cho cha, chứ cha "cảm thấy không xứng, một ao ước đời mình chỉ như giọt sương mong manh cho ngọn cỏ tươi mát, chỉ như tấm giẻ rách chùi sạch đồ dùng và chỉ như cái chổi cùn quét dọn rác rưởi trong căn nhà mà thôi".
Hiện nay, nhìn bề ngoài thì thấy linh mục Lý mập mạp, nhưng sắc da lại không hồng như các lần trước mà có phần đen đen!
Linh mục ăn chay mỗi tuần vào ngày thứ 6, và các ngày mồng 1, 8, 15 hằng tháng để cầu nguyện cho nhân quyền, cho dân chủ, cho tự do, cho Giáo hội cũng như Quê hương VN. Tuy nhiên cha cho biết mình không thể tuyệt thực được 2 ngày vì vào ngày thứ 2 là vùng phổi sẽ nóng ran lên chịu không được.
Khi đang nói chuyện, thì ông Nam đưa tờ giấy kê khai nhận quà ra, linh mục Lý gạch bỏ dòng chữ "phạm nhân" và viết lại “tù nhân lương tâm” rồi ghi họ tên và ký vào đó.
Cha khẳng định: "Chú đã tuyên bố với trại: nếu có phái đoàn ngoại quốc nào vào thăm thì chú chỉ ra thăm gặp với điều kiện
- không mang áo tù và - vào phòng không treo hình ảnh ông HCM, vì ông này có nhiều vấn đề phải làm sáng tỏ! Bằng không thì chú chẳng gặp. Vì trước đây chú đã trại lừa 1 lần rồi. Và đến nay chú cũng không ký nhận tội gì hết !!!".
Hơn 60 phút trò chuyện, ông Nam bắt đầu nhắc hết giờ thăm nuôi, nhưng linh mục Lý vẫn bình thản ngồi tiếp tục tâm sự.
Phải thêm 2 lần nhắc nữa, cha mới đồng ý đứng lên từ giã gia đình đứa cháu ruột. Thời gian nói chuyện tổng cộng kéo dài gần 90 phút!
Lần này thì chỉ có 1 mình ông Nam ngồi ghi chép ở bàn bên cạnh chứ không có cán bộ trại giam kè kè sát bên vị tù nhân lương tâm như các lần trước.
Trở ra cổng để về, các cháu nhỏ nói với anh Hoàng: "Ông công an đó cũng sợ Ông Lý của mình nữa ba ạ!"
Cả gia đình ra xa khỏi cổng mới gọi xe taxi (vì không muốn cho công an ghi số xe) rồi vừa đi tản bộ vừa chờ xe lên đón. Họ đi bộ khoảng 2 km, xe mới lên đón về Phủ Lý. Ngay trưa hôm đó, họ mua vé về lại nhà ở Quảng Biên, Đồng Nai.
Phóng viên FNA tường trình từ Huế 27-07-2008
LS LÊ THỊ CÔNG NHÂN TỪ CHỐI ĐI MỸ
LS Lê Thị Công Nhân từ chối đi Mỹ định cư như một cách bị "lưu đày" Luật sư Lê Thị Công Nhân http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=80604&z=157 (Tặng Giáo sư NGUYỄN CHÍNH KẾT làm bài học)
HÀ NỘI 24-6 (NV).- Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, tù nhân chính trị đang bị giam giữ ở nhà tù số 5 tỉnh Thanh Hóa nói rằng cô sẽ không chấp nhận đi Mỹ định cư như một cách giúp chế độ Hà Nội thi hành chính sách tống xuất tất cả những người đấu tranh đòi dân chủ hóa đất nước ra khỏi Việt Nam.
"Vào các ngày 10, 11 vừa qua, một số cán bộ của Cục A 42 (thuộc Tổng Cục An Ninh CSVN) đã đến trại tù số 5 ở tỉnh Thanh Hóa để hỏi Nhân là có muốn đi Mỹ không nếu nước Mỹ nhận?" Bà Trần Thị Lệ, mẹ nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cho báo Người Việt hay như vậy sau chuyến thăm con gái hôm Thứ Bảy 21 tháng 6, 2008 vừa qua. Bà đã lặn lội 200 cây số đi thăm con gái nhưng chỉ được cho gặp mặt một giờ và một lần trong một tháng.
Theo lời bà Lệ, sau khi một người đã "thành án", chẳng có quan chức nhà nước nào đến thăm hỏi. Nhưng một số cán bộ cao cấp của Bộ Công An CSVN đến nửa dò ý nửa thuyết phục Lê Thị Công Nhân cho thấy họ có chủ ý rõ rệt.
"Nhân rất ngạc nhiên khi được hỏi như vậy và hiểu rằng không phải bỗng dưng mà cán bộ từ Hà Nội lại lặn lội đến nhà tù để phỏng vấn tội phạm về ý nguyện của người ta. Nhân đã trả lời là nếu được đi đến một quốc gia khác có dân chủ, nhân quyền để du lịch hay du học thì rất muốn. Còn 'đi luôn' thì không".
Bà Lệ thuật lại lời con gái đối đáp với cán bộ Cục A 42 như vậy. Bà thuật lại cho biết cô con gái bà cho cán bộ CSVN biết là cô "sinh ra ở Việt Nam là có một mục đích là đóng góp vào công cuộc vận động dân chủ hóa đất nước".
Sau nhiều lời thuyết phục cô chấp nhận đi Mỹ định cư không xong, đám cán bộ Công an A 42 đã đe nẹt cô là "Nếu không đi Mỹ thì đây (trại tù số 5 Thanh Hóa) sẽ là địa chỉ mãi mãi của chị đấy!". Bà Lệ thuật lại.
"Họ mỉa mai mạt sát Nhân là trước đây là một luật sư trắng trẻo, xinh đẹp, còn bây giờ thì là một tù nhân đen đúa xấu xí." Bà kể, "Nhân đáp lại rằng tù nhân thì thế thôi."
Bà nói khi nào cán bộ công an nói quá đáng thì Nhân mới đáp lại. Khi bị đáp lại thì họ lại im vì không trả lời được.
Theo lời bà Trần Thị Lệ, Luật Sư Lê Thị Công Nhân đã chuẩn bị tinh thần từ trước để vào tù vì biết hành động đòi hỏi tự do dân chủ và nhân quyền thật sự của mình sẽ không được các kẻ cai trị độc tài chấp nhận.
"Công Nhân rất kiên định, không viết đơn xin khoan hồng cũng không nhìn nhận mình có tội gì". Bà nói. "Nhân nói đến Chúa còn bị đóng đinh trên thánh giá, còn Nhân bị tù ở đây cũng là một sự thử thách nhân cách và định lực của con người".
Bởi vậy, qua những lần thăm trước, bà có hỏi con gái là có muốn nộp đơn làm "giám đốc thẩm" để chống lại các áp đặt phi lý của các bản án sơ thẩm và phúc thẩm không, cô trả lời rằng "Có làm cũng chẳng được gì" vì biết các bản án chính trị đã được chế độ Hà Nội định sẵn nhằm trừng phạt các người đấu tranh dân chủ ở trong nước.
"Còn nước còn tát". Bà Lệ thuật lại lời nói với con gái như vậy và được cô trả lời là "Sự giả dối của nền tư pháp tại Việt Nam không còn gì để tin được". Dù vậy cô "ủng hộ việc làm của luật sư biện hộ cũng như của gia đình Luật Sư Ðài.
Bà Lệ cho hay, trong cương vị của một người mẹ thấy con bị tù tội, bà không thể không làm bất cứ gì để cứu con nên bà cũng đã nộp đơn xin "giám đốc thẩm" (Báo Người Việt đã loan tin này tuần trước).
"Má cũng làm đơn à?" Cô hỏi mẹ một cách ngạc nhiên.
Bà Lệ cho hay, cán bộ A 42 đến gặp LS Lê Thị Công Nhân ở nhà tù Thanh Hóa cho biết thư gửi cho cô chứa đầy "một xe tải". Tuy nhiên, cô không nhận được một cái nào. Bà Lệ nói điều này cho thấy tất cả thư từ, bưu thiếp mọi người trên thế giới gửi đến cho cô để bày tỏ lòng yêu quí, cảm thông đều bị công an CSVN chận giữ hết. Cô cho biết gửi qua đường bưu điện 6 lá thư thì bà Lệ chỉ nhận được một cái duy nhất.
Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, 28 tuổi, bị chế độ Hà Nội bắt giam cùng với Luật Sư Nguyễn Văn Ðài ngày 6 tháng 3, 2007 với sự vu cáo "tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN".
Khi ra tòa sơ thẩm ở Hà Nội ngày 11 tháng 5, 2007, LS Ðài, 39 tuổi, bị kết án 5 năm tù, 4 năm quản chế; LS Nhân bị kêu án 4 năm tù 3 năm quản chế. Nhưng trước các lời đả kích của dư luận quốc tế về không có nhân quyền ở Việt Nam, họ chỉ được giảm án mỗi người một năm tù còn giữ nguyên án quản chế.
Cuối Tháng Năm vừa qua, LS Lê Công Ðịnh, một trong 5 luật sư biện hộ trong phiên tòa phúc thẩm, đã gửi đơn đòi "giám đốc thẩm" lại các bản án cho hai Luật Sư Ðài và Nhân vì nhận thấy thủ tục tố tụng hình sự đã bị vi phạm trầm trọng. Sau đó, cô Vũ Minh Khánh, vợ Luật Sư Ðài, cũng đã làm đơn đòi "giám đốc thẩm" với các dẫn chứng chi tiết, cụ thể về sự vi phạm ngay chính luật tố tụng hình sự của tòa án CSVN.
Cho tới nay, cả 3 lá đơn yêu cầu giám đốc thẩm của LS Ðịnh, cô Khánh và bà Lệ cũng không thấy được trả lời.
Ngày 29 tháng 5, 2008, phụ tá ngoại trưởng Mỹ, David Kramer, đến Việt Nam đối thoại nhân quyền. Ông đã đề nghị trả tự do cho một số người trước khi Nguyễn Tấn Dũng đến Mỹ vận động đầu tư và viện trợ. Trong số đó có LM Nguyễn Văn Lý, LS Nguyễn Văn Ðài, LS Lê Thị Công Nhân. Tuy nhiên, Nguyễn Tấn Dũng đang có mặt ở Mỹ và các người vừa kể vẫn ở trong tù.
TỰ DO BÁO CHÍ
Nguyễn Đạt Thịnh
Tự do báo chí là yếu tố không thể thiếu trong bất cứ thể chế dân chủ nào; điều tất nhiên này xẩy ra hàng ngày tại Hoa Kỳ. Thử hình dung ký giả Tim Russert của NBC News bị cảnh sát bắt khi anh tiết lộ bà Valerie Plame là điệp viên của CIA, và thử hình dung phản ứng của người Mỹ, của truyền thông Mỹ đối với hành động bắt bớ đó,là đủ thấy quyền thông tin của truyền thông Mỹ luôn luôn được bảo vệ. Luật pháp cấm đoán việc tiết lộ lý lịch nhân viên CIA, vì mất lốt ngụy trang, người điệp viên có thể mất mạng --bị quốc gia đối phương giết hại-- hoặc nhẹ lắm cũng không còn hoạt động được nữa.
Nhưng luật pháp lại không cấm đoán truyền thông làm công việc tiết lộ này; biện lý Patrick Fitzgerald phải điều tra, tìm xa hơn anh ký giả Russert để thấy người tiết lộ cho anh biết lý lịch bà Plame là tham mưu trưởng của phó tổng thống Dick Cheney, ông Lewis "Scooter" Libby. Bản án bỏ tù Libby thêm một lần nữa khẳng định quyền thông tin trung thực của truyền thông.
Ngoài vụ Libby còn hàng trăm vụ khác chứng minh việc người Mỹ tôn trọng tự do truyền thông; vụ mà chúng ta biết rõ hơn cả là chính phủ Hoa Kỳ phải đưa tờ Washington Post ra tòa để xin tòa tuyên án bắt tờ báo ngừng không đăng "hồ sơ mật Ngũ Giác Ðài" (Pentagone papers), nhưng tòa lại khước từm và tờ báo có quyền tiếp tục đăng, vì loan tin trung thực là bổn phận của báo chí.
Nhưng chế độ "dân chủ xã hội chủ nghiã" của Việt Cộng lại không chấp nhận quyền thông tin của báo chí Việt Nam: không những bắt nhốt hai nhà báo Nguyễn Văn Hải (Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (Thanh Niên) vì "tội" loan tin tham nhũng, mà chúng còn bác đơn xin tại ngoại của họ, và tiếp tục mời một loạt các nhà báo khác lên đồn công an thẩm vấn về cách viết tin vụ PMU 18. Chủ nhiệm hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ cũng "được" mời ra Hà Nội họp với bọn quan chức phụ trách lãnh đạo báo chí và tư tưởng. BBC cho biết báo chí Việt Nam "đang rất sợ hãi" trước những gì sắp xảy ra. Một yếu tố quan trọng trong diễn biến này là cuộc đối thoại vừa xẩy ra giữa trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ David Kramer với viên chức Việt Cộng.
Qua lời ông Kramer, Hoa Kỳ muốn Việt Nam thả hai nhà báo vừa bị bắt. Yêu cầu này đặt nhà chức trách trước một vấn đề khó khăn, nhất là trong bối cảnh Nguyễn Tấn Dũng chuẩn bị thăm Mỹ. Dư luận báo chí Mỹ coi việc bắt bớ ký giả là chỉ dấu tranh chấp quyền lực trong nội bộ Việt Cộng; tờ The Wall Street Journal nêu nghi vấn là phe bảo thủ trong đảng tỏ ra "nóng ruột" về xu hướng mở cửa của Nguyễn Tấn Dũng. "… một số đồng chí của ông Dũng có đầu óc bảo thủ hơn ông, vài người trong họ đứng về cùng phe với Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh, đã vận dụng quyền lực của mình hồi tháng trước để công an bắt giữ hai phóng viên." Tờ Wall Street Journal viết; họ nói hai nhà báo chỉ là hai trong số nhiều người đã vạch trần một trong những vụ tham nhũng nổi tiếng nhất Việt Nam vào năm 2005.
Bài báo hôm mùng 3 tháng Sáu của James Hookway nói vì lạm phát gia tăng và làn sóng đình công đang tràn lan đến mức không ngăn cản nổi, "các nhân vật bảo thủ trong Bộ chính trị muốn chứng tỏ quyền lực của họ." Lèo lái dư luận bằng công an và tù ngục chưa đủ, Việt Cộng còn dùng đến phân người để đàn áp mọi tư tưởng chống đối. Chúng sử dụng loại "vũ khí khủng bố" này với giáo sư Nguyễn Thượng Long, người từng lên tiếng về những bê bối trong thi cử ở Hà Tây.
Ðài RFA cho biết vào đêm ngày 31/5 một số kẻ "lạ mặt" đã ném không ít "bom bẩn" và truyền đơn vào nhà ông Long tại tỉnh Hà Tây chỉ vì ông đã có những bài viết cổ súy cho phong trào đấu tranh tự do dân chủ tại Việt Nam.
Ông Long nói, "Vừa rồi tôi có viết một loạt bài phê phán chế độ, trong đêm 31-05, rạng sáng mùng 1-06 họ đã tấn công "khủng bố" tôi bằng những thứ dơ bẩn ném vào nhà cùng những tờ truyền đơn."
Độc quyền ra báo, độc quyền trả lương ký giả để tha hồ vo tròn, bóp méo dư luận, mà Việt Cộng vẫn còn phải sử dụng đến công an, lao tù, và cả phân người nữa để đàn áp tự do tư tưởng, tự do báo chí, thì quả là mức độ phẫn uất của người trong nước đã lên đến cao độ.
Cùng tắc biến, biến động đang xẩy ra qua ngõ đình công, biểu tình, và tự do tư tưởng, tự do báo chí; nhưng bao giờ giai đoạn "biến tắc thông" mới xẩy ra.
Nguyễn Đạt Thịnh
TỰ DO BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM
Việt Nam xếp hạng 178/195 trên thế giới về tự do báo chí Thiện Giao, phóng viên đài RFA 2008-05-03
Tổ chức Freedom House vừa công bố bản phúc trình thường niên về tự do báo chí trên toàn thế giới năm 2007. Nhận định chung là mức độ tự do báo chí toàn cầu giảm dần trong 6 năm liền. Theo phúc trình này, Việt Nam xếp hạng 178 trên 195 quốc gia được khảo sát, và thuộc vào nhóm “không có tự do.”
Xếp hạng 178 trên 195
Tổ chức Freedom House vừa công bố phúc trình tự do báo chí thường niên nhằm đánh giá mức độ tự do báo chí trên toàn thế giới, trên từng khu vực, và tại mỗi quốc gia, trong năm 2007. Mức độ tự do báo chí năm 2007 sụt giảm so với năm trước, và là sự tiếp tục sụt giảm trong một giai đoạn 6 năm liền. Đó là kết luận tổng quát nhất được tiết lộ từ các con số thống kê.
Điều bất ngờ là, ngoài sự mất tự do báo chí tại các quốc gia độc tài, ngay cả các quốc gia có nền dân chủ cao cũng có dấu hiệu sụt giảm của tự do báo chí. Bản phúc trình khảo sát 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy 72 quốc gia có tự do báo chí; 59 quốc gia tương đối tự do; và 64 quốc gia không có tự do báo chí. Việt Nam thuộc vào nhóm không có tự do báo chí, được xếp hạng 178 trên 195.
“Nhà nước ra nhiều luật liên quan đến báo chí, và gần đây nhất là chỉ thị 37 của thủ tướng cấm tư hoá báo chí. Tôi cho rằng với hoàn cảnh như vậy, báo chí phát triển rất khó khăn.”
“Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.”
Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.
“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội thuộc nhà nước mới có quyền ra báo.”
Đó là những phát biểu của một số nhà báo Việt Nam, trong đó có những người tự gọi là “nhà báo tự do,” không tham gia trong hệ thống báo chí chính thống nhà nước, mà là những blogger hay những người viết bài gởi ra đăng ở các tờ báo nước ngoài. Các phát biểu này đã được ghi âm và phát trên một chương trình của đài Á Châu Tự Do hồi trung tuần tháng Hai vừa qua, cũng liên quan trực tiếp đến câu hỏi về mức độ tự do báo chí tại Việt Nam.
Tất cả đều do nhà nước quản lý
Tại Việt Nam hầu hết các ngòi bút đều bị kiểm duyệt nghiêm ngặt và bị đặt dưới áp lực của đảng và nhà nước.
Anh Văn Lang, một nhà báo tự do, đã từng đưa ra nhận định: “Báo chí tự do thì phải ở thể chế tự do. Do đó ở Việt Nam, báo chí nằm trong một cái khung không thể đi ra được. Về mặt cơ chế, ở nước ngoài, các vị trí trong ban biên tập, như chủ nhiệm, chủ bút đều thuộc tư nhân, họ làm đúng theo luật, và không ai xen vào được.
Tại Việt Nam thì tất cả đều do nhà nước quản lý, Tổng Biên Tập do nhà nước chỉ định, nên nếu anh làm trái ý “ông chủ” thì “ông chủ” có quyền cắt, chuyển anh qua công tác khác. Do đó các tổng biên tập làm việc như có lưỡi dao trên bên trên, họ phải làm có mức độ, nếu ai qua khỏi mức độ thì mất việc. Tại Việt Nam, các tổng biên tập mất chức liên tục.”
Những phát biểu này cho thấy, Việt Nam khống chế báo chí thông qua sự khống chế về nhân sự báo chí. Gần đây, như nhiều người ta đã biết, thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng, cho ban hành chỉ thị số 37, cấm tư nhân hoá báo chí.
Bản phúc trình thường niên của Freedom House, ngoài việc đánh giá tổng quát trên toàn thế giới, còn thiết lập những đánh giá theo từng vùng và nhận định riêng cho từng quốc gia. Trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương với 40 quốc gia, Tân Tây Lan được xếp đầu bản và Bắc Hàn xếp cuối bản. Việt Nam thuộc nhóm “không có tự do,” đứng hàng thứ 36, ngay trên nước Lào và dưới Brunei. Cũng trong bảng này, Cambodia hạng 26, và được xếp vào nhóm “tương đối tự do.”
Trong cuộc phỏng vấn hồi tháng Hai, một nhà báo Việt Nam mô tả luật báo chí Việt Nam và tiến trình bổ nhiệm một Tổng Biên Tập, nhân vật cao cấp nhất của một tờ báo, như sau.
“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội của nhà nước mới có quyền ra báo. Và quyền ra báo phải được thừa nhận bởi một giấy phép do Bộ Văn Hoá Thông Tin cấp. Theo luật, khi tờ báo là cơ quan ngôn luận của các tổ chức ấy, thì tờ báo ấy là cơ quan trực thuộc tổ chức đó. Cơ quan đó sẽ đề nghị một tổng biên tập.
Đề nghị này sẽ được xem xét theo rất nhiều tầng nấc. Bắt đầu bằng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Phố trực thuộc trung ương. Rồi đến Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Uỷ, rồi sau đó gởi lên cho ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương mà ngày nay người ta gọi là Ban Tuyên Giáo. Sau khi cơ quan Đảng có ý kiến về đề nghị đó [bổ nhiệm Tổng Biên Tập], họ chuyển cho chính quyền phê duyệt. Trên nguyên tắc, sự bổ nhiệm tổng biên tập phải có sự đồng ý của ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương và Bộ Văn Hoá Thông Tin.”
Chính quyền và các nhà báo
Rõ ràng, tiến trình đề cử và bổ nhiệm như vừa được mô tả, cho thấy người được cất nhắc vào các vị trí cao trong các cơ quan truyền thông Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu mang đầy màu sắc chính trị do phải được sự phê duyệt của các cơ quan chịu trách nhiệm về tư tưởng của Đảng và chính quyền.
Trong một bảng đánh giá về mức độ tự do báo chí của Việt Nam trước đó một năm, tức là năm 2006, Freedom House viết rằng: “Mức độ căng thẳng giữa chính quyền và các nhà báo lên cao. Trong khi các nhà hoạt động vận động cho một nền truyền thông tự do hơn, thì nhà nước Việt Nam tiếp tục đàn áp tự do ngôn luận, nhất là những thông tin trên Internet.”
Mức độ căng thẳng giữa chính quyền và các nhà báo lên cao. Trong khi các nhà hoạt động vận động cho một nền truyền thông tự do hơn, thì nhà nước Việt Nam tiếp tục đàn áp tự do ngôn luận, nhất là những thông tin trên Internet.
Nhà báo tự do Hoàng Hải, mà nhiều người trong giới blog biết đến với tên gọi “Điếu Cày,” vừa bị bắt gần đây do những hoạt động phản đối Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, đã từng nhận định, rằng, nếu “Nhà nước cấm đăng thì toàn bộ các báo không đăng. Các báo không đăng, thì dân không biết tin tức.” Cũng theo blogger này, trong hoàn cảnh như thế, Internet sẽ là phương tiện truyền đạt và phá vỡ bức tường bưng bít thông tin trong truyền thông nhà nước.
Công việc đưa tin buổi lễ rước đuốc Olympics Bắc Kinh tại Sài Gòn ngày 29 tháng Tư vừa qua là một ví dụ về sự kiểm soát báo chí Việt Nam. Gần như không một tờ báo nào của Việt Nam đưa tin về việc rước đuốc. Rồi bỗng nhiên, đến ngày 29 tháng Tư, tất cả các báo cùng đưa tin, với nội dung và mức độ
VẤN ĐỀ HÒA HỢP VÀ HÒA GIẢI
Bài 1/4
by: • Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất Saturday, May 03 2008
Nếu hòa hợp hòa giải (HHHG) Dân Tộc là con đường lý tưởng đưa đến phát triển đất nước thì tại sao cộng sản Việt Nam (CSVN) lại ban hành Nghị Quyết 36? Và nếu HHHG là giải pháp tốt đẹp để giải quyết các vấn đề của Việt Nam (VN) thì tại sao các nhà hoạt động chính trị tại hải ngoại lại không công khai tuyên truyền và cổ võ nó? HHHG dân tộc, vấn đề đã xưa cũ, nó chỉ là chuyện của dân gian và của báo chí. Tuyệt nhiên không thấy người ta công khai đề cập đến trong các cuộc hội họp chính trị, và ngay cả những nhà tranh đấu đòi dân chủ cũng thường tỏ ra úy kị nó. Như vậy có phải HHHG chỉ là hiện tượng ảo của một âm mưu đen tối nào đó làm người ta bị nhột khi phải đối diện với nó? Từ ngữ thời trang các nhà hoạt động chính trị thường sử dung hiện nay là đa nguyên đa đảng thay vì HHHG. Có lẽ vì thế dư luận mới cho rằng HHHG và đa nguyên đa đảng chẳng qua chỉ là hai mặt của một đồng tiền. Loại giấy bạc này do CS Hànội in ra và dùng nó để mua sự khờ dại của những nhà hoạt động chính trị loại school smart (xin tạm dịch là mọt sách). Những người thực sự chủ trương HHHG với Việt gian cộng sản (VGCS) cũng không có ai giải thích vấn đề một cách tường tận. Chung quanh có rất nhiều câu hỏi cần phải được đặt ra. Tại sao phải HHHG với VGCS? Phải hiểu thế nào là HHHG? Những ai chủ trương HHHG? Những ai chống? Tại sao người ta không minh danh đặt vấn đề ra một cách công khai cho mọi người thảo luận để tìm ra chân lý, mà cứ phải úp úp mở mở, nói một đàng, làm một nẻo. Lấy cái gì để nói chuyện HHHG với VGCS? Hậu quả của việc HHHG sẽ ra sao? Vân vân và vân vân. Nếu không minh bạch hóa vấn đề thì HHHG hay đa nguyên đa đảng hơn kém chỉ nên coi là một màn xiệc mà chủ gánh là bọn chóp bu Hànội, không ai khác vào đây cả. Có nhiều màn trình diễn hấp dẫn. Chủ gánh không cần quảng cáo mà người hiếu kỳ vẫn tấp nập mua vé vào xem.
HHHG trong một tình trạng rất ư là mơ huyền … mờ như thế đấy. Bài viết xin được đóng góp một vài ý kiến nhỏ hy vọng soi sáng được phần nào những hóc hiểm đầy ảo thuật tính của màn xiệc hấp dẫn này. Mong những ai còn tha thiết đến vận mệnh của đất nước quan tâm hơn đối với vấn đề.
I. Sơ Lược Về Tình Hình Đấu Tranh Hiện Nay
1. Gió Đã Đổi Chiều
Khái niệm về chiến tranh đã thay đổi trong thời đại ngày nay, và hình như định nghĩa về chiến tranh cũng đang là độc quyền của một vài quốc gia có sức mạnh áp đảo. Ngày xưa du kích VC giật mìn xe đò, pháo kích trường học, nổ rạp hát, bắt người đi mò tôm v.v. chả thấy ai kết tội chúng là khủng bố cả. Nhưng bây giờ thì khác, chuyện lớn như ôm bom tự sát, chuyện nhỏ như liệng một trái phá tự chế không có ngòi nổ ở đâu đó, cãi cọ rồi xô xát với nhân viên của một phái đoàn ngoại giao, rải truyền đơn chống cộng v.v. tất cả đều được ghép chung vào một loại tội phạm gọi là tội “khủng bố”. Chữ “khủng bố” và chữ “chiến tranh” có nghĩa khác nhau một trời một vực. Chiến tranh xem ra còn ẩn tàng một một chút gì nhân đạo. Hai bên đánh nhau còn có cơ hội để thương lương hòa giải. Nhưng khủng bố thì không. Dù nặng hay nhẹ, biện pháp là tuyệt đối không tha, phải đuổi tận giết tuyệt. Điều trớ trêu là ngày nay bọn giật mìn xe đò, pháo kích trường học, chôn sống thường dân vô tội v.v. lại đang bô bô kết tội những hành động chống lại chúng là khủng bố. Và thật là tồi tệ, luật pháp nước Mỹ cũng thường khi y án phụ họa.
Sự đổi chiều quan điểm này đã khiến tất cả mọi khuynh hướng đấu tranh của chúng ta, trong cũng như ngoài nưóc nhất loạt thay đổi đường lối theo. Đấu tranh vũ trang tất nhiên bị dẹp bỏ vì đó là khủng bố. Tất cả các tổ chức tranh đấu đều đồng loạt tuyên bố đấu tranh bất bạo động. Đến như Mặt Trận Hoàng Cơ Minh trước kia hung hăng đông tiến đem âm binh về giải phóng VN, nay đứa con quí tử là Việt Tân (VT) cũng sợ co vòi, chỉ còn dám nói canh tân để giải phóng đất nước. Lý Thái Hùng Tổng Bí Thư đảng VT tuyên bố: “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng chủ trương tiến hành một cuộc đãu tranh toàn diện, để xây dựng tự do dân chủ và để canh tân Việt Nam . Nghĩa là đấu tranh để ưu tiên chấm dứt ách độc tài hiện nay nhưng cũng đồng thời tiến hành những nỗ lực canh tân một cách chọn lọc và tích cực, đáp ứng nhu cầu chung và dài hạn của đất nước.” (Chủ trương và đường lối của đảng VT – Lý Thái Hùng , Berlin , Đức Quốc 19-9-2004).
Cương lĩnh, tuyên ngôn v.v. của các đảng phái và tổ chức mới ra đời lúc gần đây đều có cùng luận điệu như thế cả:
- Đảng Dân Chủ VN của ông Hoàng Minh Chính: Xây dựng chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng, bầu cử tự do và công bằng. Xây dựng cơ cấu quốc gia tam quyền phân lập (Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp đều có thẩm quyền độc lập.) Sinh hoạt chính trị lành mạnh. Các đảng chính trị bình đẳng với nhau. Hoạt động của các đảng phái chính trị và nhà nước phải riêng biệt. Bộ máy hành chính quốc gia phải gọn nhẹ để phục vụ nhân dân một cách hữu hiệu.
- Đảng Dân Chủ Nhân Dân: Mục tiêu đấu tranh là hình thành một lực lượng đối lập công khai, để kịp thời ngăn chặn những hành động của nhà cầm quyền gây tổn hại cho đất nước và cho nhân dân……. Đấu tranh với chính quyền độc tài sửa đổi Hiến pháp và Pháp luật để phù hợp với ý nguyện nhân dân, hướng tới việc xây dựng một nhà nước dân chủ và pháp quyền.
- Đảng Thăng Tiến VN: Trực diện đấu tranh bất bạo động với đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), nhằm mục đích xây dựng một Hiến pháp mới, để người Dân thực hiện quyền làm chủ Đất nước của mình thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do với sự tham gia tranh cử bình đẳng của tất cả các Chính đảng ; qua đó nắm quyền lãnh đạo và quản lý Đất nước.
- Khối 8406: Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.
Khối 8406 nói có phần hơi mạnh mẽ hơn, nhưng cũng chưa đủ để xác định rõ sự khác biệt. Nhờ được tiếp xúc với một số người hiểu biết về Khối 8406, người viết tin tưởng rằng nhiều quí vị lãnh đạo nòng cốt của tập hợp chính trị này là những người rất đáng tin tưởng cả về mặt đạo đức cá nhân lẫn xã hội, có tinh thần dấn thân, can đảm và đầy nhiệt huyết. Tuy nhiên trong hành động, quí vị đó đã vấp phải một số sai lầm nguy hiểm, đến nỗi có dư luận coi khối 8406 cũng là dân chủ cuội. Đàng khác, Khối 8406 đã để Việt Tân xâm nhập và lũng đoạn nhiều quá khiến mất đi rất nhiều cảm tình và tin tưởng của người Việt hải ngoại. Đấy là chưa nói đến tình trạng nghi ngờ có chuyện cài người của VGCS. Ở trong nước chuyện này khó tránh khỏi. Tuy nhiên, thật sự là điều bất công nếu cứ vơ đũa cả nắm khẳng định rằng Khối 8406 là một tổ chức dân chủ cuội. Đành rằng cá thể có cuội trong đó, nhưng toàn thể thì nhất định không.
- Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền VN: Mục tiêu của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam là đấu tranh nhằm vận động sức mạnh của Toàn Dân để giải quyết dứt khoát sự lũng đoạn của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đến thay thế triệt để thể chế chính trị độc đảng toàn trị lạc hậu hiện nay bằng thể chế chính trị đa đảng tiến bộ, nghĩa là thay thế sinh hoạt chính trị không công bằng, không chấp nhận cạnh tranh bằng sinh hoạt công bằng, có cạnh tranh trong sáng.
- Tổ Chức Phục Hưng VN: Tổ Chức PHVN chủ trương tiến hành công cuộc phục hưng đất nước trên căn bản xây dựng Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên song hành với nỗ lực phục hưng Văn Hóa Dân Tộc.
- Liên Đảng Lạc Hồng: Xây dựng một Liên Minh Chính Trị đối lập có thực lực đối trọng với đảng CSVN. Liên Đảng Lạc Hồng quyết tâm thúc đẩy tiến trình đấu tranh chấm dứt tình trạng độc tài toàn trị, góp phần phục hưng Dân Tộc và phát triển một quốc gia thực sự có đạo đức, dân chủ, tự do, hạnh phúc và văn minh.
- Lộ Trình 9 điểm của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thỉnh thoảng được nhóm Cao Trào Nhân Bản của ông tại Mỹ giới thiệu với chính giới Hoa Kỳ. BS Quế cũng chủ trương như các đảng phái trên, không có gì khác lạ. Gọi phương thức tranh đấu của nhóm này là chính trị sa-lông không sai. Họ đứng riêng lẻ, tranh đấu không có gốc, tức là không dựa vào quần chúng, mà chủ yếu là dựa vào cách bắt mạch xem cái ngọn tức đường lối của Hoa Kỳ rồi theo đó mà phất cờ. Nhóm Cao Trào Nhân Bản chỉ thấy tranh đấu đâu đó chung quanh Quốc Hội Hoa Kỳ, không thấy xuất hiện ở những chỗ đông người tỵ nạn như xuống đường hay biểu tình v.v. Nó biểu lộ cái quán tính của một số chính khách và đảng phái của nhiều chánh khách miền Nam xưa kia.
Sự trùng hợp hoặc giống nhau đến nỗi người ta có thể tưởng tượng là tất cả các cương lĩnh và đường lối đều do cùng một tác giả viết ra. Mỗi đảng, mỗi tổ chức chỉ cần đem về sao chép, xào nấu lại, sửa lời văn đôi chút là đã có một bản cương lĩnh riêng của mình rồi. Đọc qua một số trích yếu từ các văn kiện chính thức của các đảng và tổ chức chính trị hiện nay, chúng ta thấy được hai điểm quan trọng: một là họ không minh nhiên lập trường tiêu diệt chế độ CS. Hai là họ chủ trương chế độ mà CS cũng được công nhận là một thành phần tham gia sinh hoạt trong đó. Rõ ràng đây là một hình thức hòa hợp. Sự hòa hợp này không hẳn đã có hòa giải nên chắc chắn sẽ lại đem đến xung đột về sau. Điều thiếu sòng phẳng là các đảng phái và tổ chức chính trị kia chủ trương HHHG với VGCS nhưng họ lại không dám tự nhận là mình có chủ trương đó. Chuyện này cũng dễ hiểu thôi vì đại đa số đồng bào tỵ nạn không chấp nhận HHHG. Nếu họ tự nhận, họ sẽ mất cảm tình của đồng bào và sẽ bị đồng bào tẩy chay. Trường hợp của Việt Tân là một thí dụ.
2. Những Thành Phần Trong Bàn Cờ Chính Trị VN
Ở đây dĩ nhiên chúng tôi chỉ đề cập đến người Việt Nam . Có 4 thành phần. Nhìn qua lăng kính chính trị, và dù đứng dưới bất cứ góc độ nào cũng rất dễ dàng nhận ra.
- Thứ nhất: CS chuyên chính. Gọi là CS chuyên chính hay CS chính chuyên cũng đồng một ý nghĩa. Thành phần này đều là đảng viên đang tham gia vào cơ cấu chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương. Bọn này tuyệt đối trung kiên và trung thành với đảng vì quyền lợi và vì đang có điều kiện hưởng thụ mà thường là bất hợp pháp. Ngoài ra còn phải kể đến vài nhóm và cá nhân ở hải ngoại. Loại này không phải là CS “chính chuyên”, nhưng tự đông làm việc nhiều khi không công cho VGCS, ngày trước còn làm vụng trộm, nhưng bây giờ ít thấy còn e dè lén lút nữa.
- Thứ hai: Nhân dân trong nước và đặc biệt đại đa số đồng bào tỵ nạn tại hải ngoai. Thành phần này không đội trời chung với CS, và tuyệt đối không chấp nhận sự có mặt của VGCS dưới bất cứ hình thức nào trong cơ cấu chính quyền vì họ đã và đang là nạn nhân trực tiếp của chế độ.
- Thứ ba: Cộng sản phản tỉnh. Dùng chữ phản tỉnh thực ra chỉ là miễn cưỡng. Gọi cho có cái tên mà thôi. Phản tỉnh là xét lại tư tưởng để tìm sai lầm mà sửa chữa. Câu hỏi đặt ra là đã có người CS nào thực tâm đi tìm sai lầm để sửa chữa chưa. Chủ nghĩa CS là một sai lầm lớn nhất trong lịch sử con người. Hàng núi tài liệu và sách vở với vô số bằng chứng đã chứng minh rồi đấy. Lịch sử và thực tế đã công nhận rồi đấy. Các văn kiện đảng viết rõ ràng đảng CSVN là một chi bộ của CS Liên Sô, Hồ Chí Minh (HCM) là một cán bộ lãnh lương và hoạt động cho đảng CS Liên Sô. Đảng CS đã bán đất bán biển cho ngoại bang. Thế mà đã có ai trong số 3 triệu đảng viên CS dám nhìn nhận những tội ác và sai lầm đó không? Hoàng Minh Chính (HMC) chỉ là một tên CS theo chủ nghĩa xét lại. Ông ta chủ trương chống đảng để cứu đảng. Dân chủ mà HMC đòi là thứ dân chủ được lãnh đạo bởi phe CS của HMC. Tất cả chỉ có thế. Tôn HMC lên hàng “tổ tông” của phong trào dân chủ VN là chẳng hiểu gì về HMC. Xem phương án Tiểu Diên Hồng của ông ta tất sẽ hiểu ông ta. Ông ta không bao giờ phản đảng cả. Bùi Tín, Nguyễn Thanh Giang vẫn ca ngợi Hồ Chí Minh là một người yêu nước. Trần Khuê phong thánh cho Hồ và gọi là đức thánh Hồ. Thánh Hồ còn ngồi trên cả quốc tổ Hùng Vương. Hà Sĩ Phu nói Trời cho dân và đảng hai bên chọn được nhau và sẽ còn là của nhau cho đến trăm năm đầu bạc. Lê Hồng Hà khẳng định đây là cuộc đấu tranh chấm dứt vai trò độc đảng, đảng trị của đảng CSVN, chớ không phải là cuộc đấu tranh để đánh đổ và xoá bỏ đảng CSVN. Còn nhiều và rất nhiều như thế lắm. Lê Hồng Hà đưa ra tuyên ngôn trên là lời giải thích rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa nhất thay cho cả bọn gọi là phản tỉnh này. Tất cả các thành phần được coi là phản tỉnh cốt cán trên đã có thấy ai nhìn nhận sai lầm và sửa sai chưa? Như thế thì làm sao gọi là phản tỉnh.
- Thứ tư: Thành phần thứ 3. Thành phần này đa số thuộc giới trí thức, già có, trẻ có. Tiếc rằng giới trẻ có học mà sao họ không biết gì về lịch sử và nhất là phong trào CS trên thế giới. Chuyện thật đáng lo ngại, nhưng không trách họ được vì nhà trường đã đào tạo họ như thế. Nhưng còn những người lớn tuổi, có học? Điều này mới thực là kỳ lạ. Hơn ba mươi năm trước họ sống dưới chế độ Cộng Hòa nhưng lại xu hướng CS. Sau 30-4-75 họ phải bỏ miền Nam vượt biên ra nước ngoài vì không thể sống được với CS. Ở hải ngoại họ lại ngoảnh đầu về trong nước và trông đợi ở những người CS phản tỉnh. Họ học cao và đã dầy dạn kinh nghiệm mà không thể hiểu rằng người CS phản tỉnh không bỏ đảng và cũng không chống đảng, chỉ chống ngững người CS đang cầm quyền mà thôi. Họ cũng không tiên đoán được rằng một chế độ đa đảng hậu CS sẽ đưa đất nước đi về đâu. Con đường đấu tranh của nhóm thuộc thành phần thứ ba này có thể tìm thấy qua lá thư của GS Nguyễn Chánh Kết viết gởi cho một người bạn của ông. Lá thư này ông gởi qua mạng internet có đoạn viết: “Hiện nay, điều quan trọng là chúng ta phải đoàn kết với tất cả những ai có khuynh hướng tranh đấu cho tự do dân chủ, cho đa nguyên đa đảng, bất kể họ là ai. Chúng ta phải tiến từng bước một, và tiến được tới đâu thì chấp nhận tới đó đã, rồi lại tiếp tục tiến tới nữa. Không nên chủ trương Tout ou rien, non à peu près, everything or nothing, not nearly (được ăn cả, ngã về không)”. Ông Nguyễn Chánh Kết kể là người ở trong nước. Còn ở hải ngoại, nhiều nhà trí thức cũng đã bầy tỏ bằng những luận điệu tương tự. Chẳng hạn BS Nguyễn Xuân Ngãi nói “đảng cuội (tức đảng Dân Chủ VN của Hoàng Minh Chính) cũng được đi, ủng hộ lầm có mất mát gì đâu”. Hoặc các ông Hoàng Cơ Định, Nguyễn Trọng Việt, Nguyễn Ngọc Bích cũng đồng ca một giọng: cờ nào cũng là cờ, cả hai lá cờ không tốt sao.
3. Ôn Lại Một Chút Lịch Sử Để Rút Kinh Nghiệm
Tưởng cũng nên ôn lại vài bài học lịch sử Dân Tộc về HHHG cho những ai trí nhớ không được tốt.
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc Hội đầu tiên của nước Vietnam họp khoáng đại ra mắt toàn dân tại Nhà Hát Lớn, Hànội. Cũng tại đây, ngày này, một chánh phủ liên hiệp kháng chiến được đưa ra trình diện Quốc Hôi. Chính Phủ này gồm đủ mặt các đảng phái: Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc, Dân Chủ, và nhân sĩ độc lập. Tình trạng hợp tác giữa các phe phái chính trị này ngày xưa gọi là liên hiệp, ngày nay nếu có ai gọi là đa nguyên đa đảng hay hoà hợp hoà giải chắc cũng không sai.
Chỉ 4 ngày sau khi Quốc Hội họp khoá đầu tiên, chính phủ liên hiệp do Hồ Chí Minh cầm đầu đã ký với Pháp một văn kiện quan trọng gọi là Hiệp Ước Sơ Bộ, và sau đó ít tháng, Tạm Ước ngày 14-9-46. Ký hai văn kiện này, Hồ Chí Minh tạm coi như được rảnh tay đối phó với Pháp để dồn nỗ lực vào công việc thanh toán các đảng phái quốc gia và những thành phần chống đối Việt Minh. Thời kỳ này có thể ví như một đêm tối kinh hoàng trong lịch sử Dân Tộc. Hàng ngàn, hàng vạn những cuộc ám sát, bắt cóc, thủ tiêu bí mật trên khắp mọi miền đất nước do Việt Minh chủ động. Không có toà án nào xét xử.
Màn liên hiệp này thực tế đã cho thấy chỉ là trò bịp bợm do Hồ dàn dựng. Những người đứng về phe Quốc Gia có thể nói đã học được một bài học đắt giá về chuyện liên hiệp, hay đa nguyên đa đảng, hay hoà hợp hoà giải với CS.
Năm 1975, trong khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà đang đổ xương máu chống lại sự xâm lăng của cộng sản miền Bắc, thì một số chính khách tại miền Nam tự nhận là thành phần thứ ba tôn Dương Văn Minh làm thủ lãnh, công khai chiếm chánh quyền để thực hiện âm mưu bắt tay hoà hợp hoà giải với CS. Nhưng "thiên bất dung gian", cái chính quyền vô năng bất lực này đã phải cay đắng bẽ mặt khi cả đám đứng lên nghênh đón tên sĩ quan CS bước vào phòng họp chính phủ tại dinh Độc Lập để nghe tên VC này hách dịch ra lệnh cho họ: "Dơ tay lên đầu hàng. Các anh có còn gì đâu mà đòi bàn giao". Quân dân miền Nam mất tất cả đã đành. Những kẻ ôm mộng HHHG với CS cũng đã tiêu tán tất cả chì lẫn chài. Lần thứ hai người quốc gia lại học được bài học HHHG với CS. Nhưng lần này thì đau hơn nhiều Người quốc gia đã mất trắng tay, còn bị lưu đầy, tù tội, nhà tan cửa nát, gia đình ly tán...!
Hai lần kinh nghiệm xương máu như thế đó mà ngày nay nhiều người vẫn chưa tởn. Nhiều người đang tự bôi xóa thân phận tỵ nạn của mình, đội mồ dựng dậy cái thành phần thứ 3 để đứng vào trong đó. Xem ra lịch sử lại đang tái diễn? Điểm đáng lưu ý là vấn đề HHHG tại hải ngoại thực tế không được các chính khách và đảng phái minh thị quảng diễn, nhưng lại được biểu lộ ra bằng rất nhiều hành động hai mặt để đánh lừa dư luận. Chẳng hạn đảng Việt Tân một mặt phái người về trong nước cho CS bắt để chứng minh ta đây chống cộng. Nhưng mặt khác, chủ tịch đảng Đỗ Hoàng Điềm lại cố tình trình bầy sai tình hình nhân quyền tại VN mà mục đích là để làm thất bại Dự Luật Nhân Quyền VN tại Quốc Hội Mỹ. Tình trạng đang diễn ra tại hải ngoại cũng gần giống như ngày trước khi miền Nam rơi vào tay CS Bắc Việt. Điều đáng lo ngại là người Việt tỵ nạn xem ra chẳng mấy cảnh giác về chuyện đó. Có phải họ đã qua sông nên đấm cò vào sóng!
(còn tiếp) Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
QUỐC HỘI ÂU CHÂU TẨY CHAY BẮC KINH
Quốc Hội Âu Châu Bỏ Phiếu Tẩy Chay Thế Vận Hội Bắc Kinh
http://www.sbtn.net - Apr 11, 2008
Tin Brussels - Quốc Hội Âu châu ngày hôm qua đã thông qua với đa số tuyệt đối, một nghị quyết về Tây Tạng và kêu gọi các lãnh tụ thế giới tẩy chay buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội, nếu chính phủ Trung cộng không chịu ngồi lại để thương thuyết với người lãnh đạo Giáo hội Phật Giáo Tây Tạng và cũng là quốc vương của quốc gia này là đức Ðạt Lai Lạt Ma.
Nghị quyết không có giá trị bắt buộc nhưng cũng là một áp lực lên các lãnh tụ Liên Hiệp Âu Châu để có một thái độ mạnh mẽ hơn trước những vụ biểu tình chống đối khắp nơi về sự đàn áp của Trung cộng đối với Tây Tạng, và gây khó khăn cho Bắc Kinh là một quốc gia buôn bán lớn nhất đối với toàn cõi Âu châu. Nghị quyết này được sự ủng hộ của những tổ chức chính đảng trong Quốc Hội Âu châu, đã được bày tỏ qua kết quả là 580 phiếu thuận, chỉ có 24 phiếu chống và 54 phiếu trắng.
Chủ tịch Quốc Hội là ông Hans-Gert Poettering, một người bạn thân cận với nữ Thủ tướng Ðức Angela Merkel, nói rằng vào tháng trước đáng lý ra Âu châu đã phải xét lại việc tẩy chay hoàn toàn buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội, và mời đức Ðạt Lai Lạt Ma đến nói chuyện trước Quốc Hội. Phó Chủ tịch tổ chức này là ông Edward McMillan-Scott, một trong những người soạn thảo bản nghị quyết, đã tỏ ra vui mừng trước kết quả cuộc bỏ phiếu, và nói việc này sẽ đưa tới những áp lực đối với các chính trị gia tại Âu châu. Ông nói không chỉ những hình ảnh tàn nhẫn tại Tây Tạng và phong cách mà Trung cộng đã đối xử với người dân Tây Tạng trong nhiều năm qua, nhưng việc này còn đi xa hơn nữa đến những vấn đề như Darfur, Miến Ðiện, Việt Nam, và ngay cả tại Trung cộng là nơi người ta được biết hiện đang có khoảng 7 triệu người đang bị cầm giữ trong các trại cải tạo. Ông nhấn mạnh đây là một hệ thống đàn áp gần như không thể so sánh trong lịch sử thế giới. Và khi Thế Vận Hội được trao cho Trung cộng tổ chức vào năm 2001, ai cũng mong là sẽ thấy được những thay đổi từ quốc gia này, khi các lãnh tụ hứa hẹn là họ sẽ thay đổi. Thế nhưng họ đã không giữ lời hứa, và nay các chính trị gia trên thế giới đã tỉnh mộng trước những lời hứa hão huyền này.
Cho đến nay chủ tịch luân phiên Quốc Hội Âu châu là Slovenia và các viên chức cao cấp của Liên Âu đã lên án những hành động bạo động tại Tây Tạng, và kêu gọi Bắc Kinh hãy mở những cuộc đàm phán với nhân vật lãnh đạo Giáo hội Phật Giáo Tây Tạng, nhưng đã ngưng lại trước khi tuyên bố tẩy chay toàn bộ Thế Vận Hội. Văn phòng Thủ tướng Anh quốc là ông Gordon Brown hôm thứ tư tuyên bố ông sẽ không tham dự lễ khai mạc Thế Vận Hội, nhưng nhấn mạnh rằng đây không phải là một hành động chính trị vì ông Brown sẽ có mặt trong buổi lễ bế mạc, khi Trung cộng sẽ trao đuốc và cờ Thế Vận cho Anh quốc là nơi sẽ tổ chức Thế Vận Hội kế tiếp vào năm 2012.
Tổng thống Pháp là ông Nicolas Sarkozy, là quốc gia sẽ giữ chức chủ tịch luân phiên của Liên Âu khi Thế Vận Hội diễn ra vào tháng 8, cũng từng tuyên bố việc ông có tham dự lễ khai mạc Thế Vận hay không tùy vào việc Trung cộng có ngồi lại với đức Ðạt Lai Lạt Ma hay không.
Ông Graham Watson, Chủ tịch nhóm Tiến Bộ tại Quốc Hội Âu châu, nói ông hy vọng nghị quyết này sẽ làm cho chính phủ Trung cộng phải suy nghĩ lại về những ý kiến trên toàn thế giới. Ðây là một nghị quyết có tính cách đóng góp vào cộng đồng thế giới, và là một thông điệp mạnh mẽ trong thời gian này. Theo ông thì những người Trung Hoa nay đang hối hận vì đã đứng ra tổ chức Thế Vận Hội, trước khi họ sẵn sàng để thay đổi hệ thống chính trị ở quốc gia của mình.
Quốc Hội Âu châu được bầu trực tiếp bởi người dân và không có quyền can dự vào đường lối đối ngoại của những quốc gia thành viên, nhưng là nơi bày tỏ ý kiến của công chúng và đưa ra những áp lực về chính trị với các quốc gia trong toàn khối Âu châu. Quyết định cuối cùng của khối 27 quốc gia này sẽ nằm trong tay của Hội đồng Âu châu, sẽ họp vào tháng tới.
CSVN CHỦ TRƯƠNG ĐÀN ÁP CHÍNH TRỊ
Chế Độ CSVN Đề Ra Chủ Trương Đàn Áp Chính Trị BRIDGET JOHNSON. seattlepi.nwsource. com 18/3/08 http://seattlepi. nwsource. com/opinion/ 355469_johnsonon line19.html Khánh Đăng chuyển ngử.
Hồi năm ngoái, khi bị hỏi dồn về tình trạng nhân quyền trong chuyến viếng thăm lịch sử đến thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã bác bỏ những cáo buộc về xúc phạm nhân quyền vì “cách suy nghĩ khác nhau” cần phải được hiểu trong cái nội dung của “quá trình và điều kiện lịch sử”.
Nhưng các nhà ủng hộ dân chủ Việt Nam hiểu rất rõ các điều kiện được xếp đặt một cách có hệ thống là giữ im lặng không lên tiếng. Bây giờ thì rõ ràng là có một chỉ thị từ giới lãnh đạo ÐCSVN đã cho biết câu chuyện như thế nào.
Một tài liệu tối mật, vừa mới bị tiết lộ của nhà nước CSVN, thúc giục các cán bộ đảng hãy cảnh giác cao hơn trong nhiệm vụ của họ để “hạn chế sư lan tỏa của các tư tưởng, quan điểm sai trái trong nhân dân trong các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước”, và làm việc để “chủ động vô hiệu hoá các tổ chức, cá nhân có mưu đồ chống phá đất nước và chế độ xã h 897?i chủ nghĩa”.
Tài liệu này có tựa đề “THÔNG BÁO: KẾT LUẬN CỦA BỘ CHÍNH TRỊ, Về nâng cao chất lượng, hiệu quả xử lý các vụ án chính trị trong tình hình mới.”, được đề ngày 12/9/2007 và phổ biến đến các cơ quan chính quyền các tỉnh và các ủy viên Ban chấp hành trung ương đảng, cùng các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc trung ương, như đã được ghi trong chỉ thị.
Ðược ký và đóng dấu bởi Uỷ viên thường trực Ban bí thư trung ương đảng Trương Tấn Sang, Bộ chính trị ÐCSVN đã gởi ra một số bản sao trên căn bản là tài liệu thu hồi. Nhưng một bản sao của tài liệu này đã được tiết lộ bởi một đảng viên ÐCSVN, đến Ðảng Dân chủ Nhân dân Việt Nam, là đảng luôn tán thành một hệ thống chính trị đa đảng và vì thế bị chế độ CSVN cấm hoạt động.
Ðọc tài liệu này -- bản dịch tiếng Anh do Ðảng Dân chủ Nhân dân Việt Nam cung cấp – là một cửa sổ để nhìn vào một chế độ có âm mưu hệ thống hóa để bịt miệng các nhà bất đồng chính kiến nhưng lại sợ hãi sự chú ý cặn kẽ của quốc tế có thể làm hỏng đi những dự tính của họ để được thế giới chấp nhận cho hội nhập vào.
Chỉ thị được đọc, “Chất lượng, hiệu quả xử lý các vụ án chính trị chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm”, và than phiền rằng, “Việc lựa chọn thời điểm, đối tượng truy tố, xét xử trong một số vụ án chưa thật hợp lý, thiếu kinh nghiệm xử lý những tình huống bất ngờ, phúc tạp trong xét xử”, và các phiên xử đã, “để các đối tượng phạm tội phản ứng cực đoan, tạo cớ cho các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền, vu cáo Đảng và Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo....”
“… Ðấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa lâu dài, khó khăn và phức tạp của toàn Đảng, toàn dân, đòi hỏi chúng ta không được mơ hồ, mất cảnh giác hoặc hữu khuynh trong công tác này”
Sau khi tôi đưa cho Bộ Ngoại giao một bản sao của chỉ thị này, thì một viên chức đã nói, “Chúng tôi không ở trong cái vị trí để xác nhận tính trung thực của tài liệu này”. Viên chức trên, yêu cầu không muốn được nêu tên, đã nhanh chóng nói thêm rằng Hoa Kỳ thường xuyên nêu lên các vấn đề nhân quyền với nhà nước Việt Nam . Nhưng Việt Nam đã được tháo gỡ khỏi danh sách Các quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC) vào tháng 11/2006, sau khi được coi là đã thoả mãn đầy đủ các tiêu chuẩn về nới rộng tự do tôn giáo.
Hãy nói với Cha Lý như thế.
Vào ngày 30/3/2007, Cha Nguyễn Văn Lý, một linh mục Công giáo đồng thời là chủ bút Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận đã bị kết án 8 năm tù vì các hoạt động ủng hộ dân chủ và tự do tôn giáo. Là một vị lãnh đạo trong phong trào tranh đấu nhân quyền, và không như vài nhà bất đồng chính kiến khác đang ở trong tù, thì Cha Lý được biết là không được phép tiếp khách đến viếng thăm.
Chỉ thị của Bộ chính trị còn ghi rằng, “Công tác thông tin tuyên truyền thiếu sắc bén, chưa kịp thời, chưa tập trung vạch trần một số đối tượng cầm đầu nguy hiểm,”.
Ðảng Dân chủ Nhân dân Việt Nam – là một trong những tổ chức đấu tranh dân chủ đã từng gặp gỡ Tổng thống Bush và Phó Tổng thống Cheney trước khi ông Bush đón chào chủ tịch Triết đến Tòa Bạch Ốc hồi năm ngoái – đã chỉ ra cho thấy làm sao mà các quan chức nhà nước Việt Nam có thể cho rằng không có tù nhân chính trị.
“Nếu quả là như vậy, thì chúng tôi không biết các tù nhân chính trị tại Việt Nam là gì, chẳng hạn như Cha Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân, các ông Nguyễn Bắc Truyển (luật sư), Trần Quốc Hiền (nhà bất đồng chính kiến xử dụng internet), Bác sĩ Lê Nguyên Sang, ký giả Huỳnh Nguyên Ðạo, (Chủ tịch Ðảng Thăng Tiến Việt Nam) Nguyễn Phong, (nhà đối kháng) Ðoàn Văn Diên, (các nhà hoạt động công đoàn) Trần Thị Lệ Hồng, Ðoàn Huy Chương cũng được biết qua cái tên là Nguyễn Tấn Hoành, vân vân …”
Trên một diễn đàn hỏi và trả lời trên mạng Internet vào tháng 7/2007, vị Ðại sứ Hoa Kỳ lúc đó là ông Michael. Marine đã nói trong phần trả lời về một quan tâm về nhân quyền rằng, “chúng tôi luôn hy vọng rằng chính người dân Viêt Nam cũng sẽ nhận thức được tầm quan trọng của các quyền tự do căn bản này”.
Người Việt Nam biết tầm quan trọng của các quyền tự do căn bản này; họ chỉ bị ném vào các nhà tù khi họ lên tiếng cho các quyền tự do đó. Và thay đổi sẽ đến khi người dân Việt Nam nhận được sự yểm trợ cho công cuộc đấu tranh của họ.
Bây giờ là lúc để đưa Việt Nam trở lại danh sách Các quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC), và nên xem xét các biện pháp trừng phạt khác đối với một quốc gia vì sự huỷ diệt có chủ trương của họ, về các quyền làm người căn bản của nhân dân.
.
HỘI ĐỒNG ÂU CHÂU/ Nghị Viện Quốc Hội Nhu cầu kết án quốc tế về những tội phạm của những chế độ cộng sản toàn trị
NGHỊ QUYẾT 1481 (Năm 2006)
1. Nghị Viện Quốc Hội tham chiếu Nghị Quyết 1096 (Năm 1996) của mình về những biện pháp tháo bỏ cái di sản của những hệ thống cộng sản toàn trị đã qua.
2. Những chế độ cộng sản toàn trị đã cai trị ở Trung và Đông Aâu-châu trong thế kỷ vừa qua, và những chế độ ấy vẫn còn nắm quyền tại một số nước trên thế giới, hết thảy các chế độ ấy, không có ngoại lệ, đã bị xếp loại vào đặc tính là mang những vi phạm tập thể về nhân quyền. Những vi phạm này đã có những khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào nền văn hóa, vào quốc gia và vào giai đoạn lịch sử, và những vi phạm này đã bao gồm những vụ ám sát và xử tử cá nhân hay tập thể, bao gồm việc chết chóc trong các trại tập trung, bao gồm việc bỏ đói, lưu đầy, tra tấn, lao động nô dịch và bao gồm những hình thức khác như khủng bố thể xác hàng loạt, như bách hại dựa theo tiêu chuẩn chủng tộc hay tôn giáo, như vi phạm vào tự do của lương tâm, của tư tưởng và phát biểu, vi phạm vào tự do báo chí, và cũng như thiếu đa dạng chính trị.
3. Các tội ác đã được biện bạch nhân danh lý thuyết đấu tranh giai cấp và nhân danh nguyên tắc độc tài của giai cấp vô sản. Sự giải thích của hai nguyên tắc ấy đã hợp thức hóa việc “trừ khử“ những người bị xem là nguy hại tới việc xây dựng một xã hội mới và, như thế, những người này bị coi là những kẻ thù của các chế độ cộng sản toàn trị. Con số lớn rộng những nạn nhân trong mỗi quốc gia liên hệ đã là công dân thuộc chính quốc gia ấy. Đặc biệt đó là trường hợp của các dân tộc thuộc cựu Liên bang Xô Viết, vốn vượt rất xa các dân tộc khác về con số nạn nhân.
4. Nghị viện thừa nhận rằng, mặc dù các tội ác của các chế độ toàn trị, vài đảng cộng sản Aâu-châu cũng đã có những đóng góp vào việc đạt tới nền dân chủ.
5. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản toàn trị tại Trung và Đông Aâu-châu đã không được tiếp nối theo, trong mọi trường hợp, bởi một cuộc điều tra quốc tế về những tội ác vi phạm bởi các chế độ này. Hơn thế nữa, những thủ phạm gây ra tội ác đã không bị mang ra tòa xử án bởi cộng đồng quốc tế giống như trường hợp các tội ác khủng khiếp vi phạm bởi chế độ Quốc Xã đã bị mang ra xử.
6. Bởi thế, việc cảnh giác quần chúng về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị thực là rất được ít ỏi thực hiện. Đảng cộng sản còn hợp pháp và còn hoạt động tại một số quốc gia, ngay cả trong một số trường hợp chính những đảng này đã không xa ra cho lắm (rất gần) những tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị trong quá khứ.
7. Nghị viện xác tín rằng việc cảnh giác Lịch sử là một trong những tiền điều kiện để tránh những tội ác tương tự trong tương lai. Hơn thế nữa, việc thẩm định luân lý và việc kết án những tội ác đã vi phạm giữ một vai trò quan trọng việc giáo dục các thế hệ trẻ. Quan điểm minh bạch của cộng đồng quốc tế về quá khứ có thể là một điểm tham chiếu cho những hành động tương lai của họ.
8. Ngoài ra, Nghị viện tin rằng những nạn nhân của các tội ác vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị, mà những nạn nhân này còn đang sống hay gia đình của họ, đều xứng đáng nhận lòng trìu mến, sự thông cảm và sự thừa nhận về những nỗi thống khổ của họ.
9. Những chế độ cộng sản toàn trị còn hoạt động trong một số quốc gia trên thế giới và những tội ác còn tiếp tục vi phạm. Những quan tâm về quyền lợi quốc gia chớ nên ngăn cản các quốc gia ấy phê phán thích đáng về các chế độ cộng sản toàn trị hiện tại. Nghị viện kết án mạnh mẽ tất cả những vi phạm đó về nhân quyền.
10. Các cuộc tranh luận và lên án mà cho tới nay vẫn được tiến hành ở bình diện quốc gia tại một số nước thành viên của Hội Đồng Aâu Châu không thể miễn trừ cho cộng đồng quốc tế trong việc lấy một vị trí minh bạch về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị. Cộng đồng quốc tế có bổn phận luân lý phải làm như vậy mà không được trì hoãn lâu hơn nữa.
11. Hội Đồng Aâu-Châu có vị trí tốt cho một cuộc tranh luận như vậy ở bình diện quốc tế. Tất cả các quốc gia cộng sản cũ Aâu-châu, ngoại trừ Belarus, ngày nay là thành viên của Hội Đồng và việc bảo vệ nhân quyền cũng như quy tắc luật pháp đều là những giá trị nền tảng mà Hội Đồng chủ trương.
12. Vì thế, Nghị viện Quốc Hội mạnh mẽ kết án những vi phạm tập thể về nhân quyền do các chế độ cộng sản toàn trị gây ra và bầy tỏ lòng trìu mến, sự thông cảm và thừa nhận đối với những nạn nhân của các tội ác này.
13. Hơn nữa, Nghị viện Quốc Hội kêu gọi tất cả các đảng cộng sản hay hậu cộng sản trong những nước thành viên mà cho đến nay đã chẳng làm như thế để tái thẩm định lịch sử chủ nghĩa cộng sản và quá khứ riêng của mình, hãy tự tách rời mình ra một cách rõ rệt khỏi những tội ác đã vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị và hãy kết án những tội ác ấy không chút mơ hồ nào cả.
14. Nghị viện tin tưởng rằng quan điểm minh bạch này của cộng đồng quốc tế sẽ dọn đường cho sự hòa giải tương lai. Hơn nữa, hy vọng Nghị viện sẽ khuyến khích các sử gia khắp thế giới tiếp tục công cuộc khảo cứu của họ nhắm mục đích xác định và kiểm chứng khách quan về những gì đã xẩy ra.
=============
(1) Nghị viện tranh luận vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5)(xem Doc.10765, phúc trình của Uûy Ban Chính Trị Vụ,Người Phúc trình:Ông LINDBLAD). Văn bản được Nghị viện thông qua vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5).
.
.
NHỮNG ĐỀ TÀI KHAI TRIỂN TỪ NGHỊ QUYẾT 1481 (Năm 2006) NGHỊ VIỆN QUỐC HỘI ÂU CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Chúng tôi coi Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) như nền tảng của một Bản Cáo Trạng để xét xử những tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam.
Nghị Quyết ấy kêu gọi việc Xử án Quốc tế đối với những tội ác đã qua của các chế độ Cộng sản toàn trị, đồng thời kêu gọi phải phổ biến những tội ác lịch sử ấy: (i) cho những đảng phái chính trị hiện hành biết, hầu đi đến hòa giải; (ii) và cho việc giáo dục những thế hệ trẻ tương lai phải tránh những tội ác tương tự.
Dân tộc Việt Nam đã phải chịu đựng những tội ác ấy rất ghê tởm và rất lâu dài do đảng cộng sản Việt Nam chủ trương. Vì những tội ác ấy mà Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua hai cuộc Di cư Tỵ nạn liền sau 1954 và liền sau 1975 lớn nhất Thế giới.
Hiện nay, đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đó và vẫn chủ trương chế độ toàn trị mà Quốc Hội Aâu Châu lên án. Dân tộc Việt Nam đã phải sống trên 60 năm dài Lịch sử dưới những tội ác rất hung dữ của Cộng sản Việt Nam, tất nhiên phải đồng loạt trước hết là lật đổ chế độ toàn trị này và sau đó phải xử án những tội ác đó như một bài học Lịch sử cho tương lai hòa giải của Dân tộc và cho cuộc sống lành mạnh, nhân đạo của các thế hệ trẻ tương lai. Quốc Hội Việt Nam gồm những nghị viên hoàn toàn sinh ra và lớn lên trong chế độ đầy tội ác của cộng sản. (i) Một là họ ngu mê đần độn không còn biết thẩm định đâu là thiện, đâu là ác, mà chỉ như đàn khỉ được huấn luyện làm xiệc, chỉ đâu gật đó; (ii) Hai là họ biết phân biệt thiện ác, nhưng đã không đứng về phía Dân để lên tiếng bênh đỡ Dân đang đau khổ dưới những tội ác, mà đã đứng hẳn về phía đảng cộng sản Việt Nam để cùng đám tội phạm cộng sản này để cùng gây tội ác trên đầu Dân. Ngu đần như súc vật hoặc tích cực hợp tác với tội phạm, họ đều bị Dân kết án không bầu cho cái Quốc Hội đó nữa.
Hoà nhịp với cộng đồng quốc tế và nhìn tương lai của hạnh phúc Dân tộc, của phát triển Đất Nước, chúng tôi muốn đóng góp một số những khai triển từ Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) của Quốc Hội Aâu Châu, mong Dân mình thấy rõ Lập trường của nhân dân thuộc cộng đồng quốc tế và phế bỏ Quốc Hội bù nhìn cũng như đảng cộng sản Việt Nam.
Những đề tài khai triển như sau:
1) GIÁ TRỊ THẨM ĐỊNH CỦA NGHỊ VIỆN QUỐC HỘI ÂU CHÂU
Thẩm định về những tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị, Quốc Hội Aâu Châu có khả năng thẩm định cao hơn các Quốc Hội khác như Hoa kỳ chẳng hạn, bởi vì những nghị viên thẩm định đã sống sát liền hay chính trong lòng các chế độ cộng sản toàn trị ấy.
Việt Nam: vạch trần ra việc làm của Quốc Hội Việt Nam, không những không đứng về phía Dân với vai trò mà Dân trao phó, mà còn hợp tác với kẻ chủ trương tội ác là đảng cộng sản độc tài Việt Nam.
2) VI PHẠM TẬP THỂ VỀ NHÂN QUYỀN
Tính cách vi phạm TẬP THỂ được nhấn mạnh trong Nghị Quyết. Thực vậy, nếu có những đàn áp nhân quyền cho một cá nhân, thì việc đàn áp cá nhân này được đảng thực hiện như là một biện pháp nhằm khủng bố nhân quyền cho một Tập thể.
Việt Nam: Liệt kê những vi phạm Tập thể về nhân quyền và việc đàn áp, bắt tù tội cá nhân tại Việt Nam trong chủ trương khủng bố tinh thần Tập thể.
4) TỘI ÁC ÁM SÁT
Tại những nước dưới chế độ cộng sản toàn trị trước đây, việc ám sát đối lập hoặc tình nghi đối lập là chủ trương của những chế độ. Những sách viết về tội ác này tại Liên Xô và những nước Trung và Đông Aâu còn đó.
Việt Nam: Tội ác này do chính Hồ Chí Minh chủ trương từ thời Mặt trận Việt Minh, đến việc thanh trừng Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việc ám sát đã kéo dài tiếp theo từ Miền Bắc, rồi Miền Nam Việt Nam.
5) TỘI ÁC XỬ TỬ
Các chế độ cộng sản không thể phủ nhận những bản án xử tử, hoặc xử tử không cần kêu án tại Liên Xô, tại Trung Hoa (Cách Mạng Văn Hóa), tại những tiểu quốc chư hầu Trung và Đông Aâu (Hung gia lợi 1956 và Mùa Xuân Tiệp khắc 1968...)
Việt Nam: Điển hình nhất của tội ác này của đảng cộng sản Việt Nam là cuộc Cải Cách Điền Địa 1952-1956. Tội ác đã tái diễn trong dịp Tết Mậu Thân 1968 với những mồ chôn TẬP THỂ.
6) TỘI ÁC BẮT ĐI LƯU ĐẦY
Điển hình nhất về tội ác này là tại Liên Xô với việc lưu đầy tại Tây Bá Lợi Á. Hãy đọc sách viết của Soljenitsyne (Archipel du Goulag).
Việt Nam: Ơû Việt Nam, đây là tội ác của những Vùng Kinh tế mới và nhất là những Trại Cải Tạo.
7) TỘI ÁC ĐỂ CHẾT CHÓC, BỎ ĐÓI, TRA TẤN, LAO ĐỘNG NÔ DỊCH TRONG CÁC TRẠI TẬP TRUNG
Tại những nước Trung và Đông Aâu, các trại Tập trung đã được thiết lập với những tội ác liệt kê như trên. Những trại Tập trung khổng lồ nhất là tại Liên Xô.
Việt Nam: Những người đã phải giam cầm trong các trại Cải Tạo đều biết rõ những tội ác này.
8) TỘI ÁC BÁCH HẠI THEO TIÊU CHUẨN CHỦNG TỘC, TÔN GIÁO
Tại Trung và Đông Aâu, nhất là Liên Xô, việc bách hại tôn giáo kéo dài trong những năm trường vì cộng sản coi tôn giáo là thuốc phiện của dân chúng.
Việt Nam: Hãy nhìn tình trạng bách hại Tôn giáo trước năm 1975 tại Miền Bắc và sau đó tại Miền Nam liền những năm sau 1975. Hiện nay, Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo vẫn kềm kẹp Tôn giáo.
9) TỘI ÁC ĐỐI VỚI TỰ DO LƯƠNG TÂM, TỰ DO TƯ TƯỞNG
Đây là tội ác nhằm những cá nhân có tầm ảnh hưởng lãnh đạo Tập thể. Đàn áp những cá nhân này được đảng chủ trương như việc khủng bố tư tưởng và lương tâm Tập thể.
Việt Nam: Chính một số cựu đảng viên cũng đã chịu cảnh đàn áp, tù đầy này. Sống động nhất: hãy hỏi Hòa thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Mục sư Nguyễn Hồng Quang và những, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn... và những nhà đấu tranh cho Dân chủ hiện nay.
10) TỘI ÁC CẤM ĐOÁN TỰ DO PHÁT BIỂU, TỰ DO BÁO CHÍ
Đây là tội ác nhằm bưng bí sự thật và dành độc quyền nhồi sọ Dân chúng những lý thuyết và chủ trương của đảng cộng sản. Tội ác này cũng nhằm diệt tất cả những ý tưởng nào có thể gây nên một tập họp quần chúng khả dĩ chống lại việc độc tài tư tưởng của đảng.
Việt Nam: Cấm đoán ngay cả việc đọc Diễn đàn Internet. Không có một tờ báo viết nào mà không dưới quyền kiểm soát của đảng cộng sản Việt Nam.
11) TỘI ÁC KHÔNG CHO ĐA DẠNG CHÍNH TRỊ
Chủ trương một chế độ độc tài toàn trị, nên đảng cộng sản cấm tất cả mọi hình thức đa dạng chính trị. Việc này vẫn tồn tại ở Việt Nam ngày nay.
Việt Nam: Cuộc đấu tranh hiện hành đòi tối thiểu một Quốc Hội đa nguyên. Điều 4 của Hiến Pháp vẫn còn nằm chình ình ra đó.
12) CHE LẤP TỘI ÁC BẰNG LÝ THUYẾT ĐẤU TRANH GIAI CẤP
Từ ngụy biện về giá trị lao động, đến ngụy tạo về bóc lột giai cấp, cộng sản đẩy dân vào một cuộc đấu tranh giai cấp đến độ chém giết nhau. Lợi dụng việc thanh trừng giai cấp để đảng cộng sản chiếm quyền cai trị.
Việt Nam: Những tòa án nhân dân, nhất là trong vụ Cải Cách Điền Địa, dưới việc điều khiển của đảng, đẩy việc đấu tranh giai cấp đến tàn sát chính người Dân vô tội mà đảng nghi ngờ có thể chống lại quyền độc đoán của đảng.
13) CHE LẤP TỘI ÁC ĐỘC TÀI BẰNG TỰ NHẬN LÃNH ĐẠO GIAI CẤP VÔ SẢN
Nắm toàn quyền cai trị, đảng cộng sản, từ đấu tranh giai cấp, tiến đến tước hữu tài sản nhân dân ngay cả của giới lao động. Đảng cộng sản nhân danh Cách Mạng Vô Sản cho một Xã Hội mới, mặc dầu đã bao chục năm trường cũ rích, thâu tóm mọi quyền Chính trị, Kinh tế về cho đảng mình.
Việt Nam: Truất hữu tài sản, ruộng đất tại Miền Bắc. Sau 1975, truất hữu tài sản cá nhân, đoàn thể hay Tôn giáo tại Miền Nam. Điều 4 của Hiến Pháp VN còn đó. Nó tượng trưng cho việc nguỵ biện này để nắm quyền cho đảng cả về Chính trị lẫn Kinh tế.
14) LẤY CỚ ĐẤU TRANH GIAI CẤP, LÃNH ĐẠO VÔ SẢN ĐỂ TRỪ KHỬ NHỮNG AI KHÔNG ĐỒNG QUAN ĐIỂM.
Chúng tôi không nói đối lập mà chỉ nói đến không đồng quan điểm là đã bị trừ khử rồi. Che lấp tội ác bằng nguỵ biện Đấu tranh Giai cấp và Lãnh đạo Vô sản, đảng cộng sản đẩy những nguỵ biện ấy đến chỗ coi ai không đồng chính kiến là “kẻ thù“ của Cách Mạng để họ tiêu diệt ngay thân xác những người ấy.
Việt Nam: Đảng chỉ cần tung ra tiếng “ngụy“ đã đủ trừ khử những cá nhân hoặc tập thể mà họ muốn. Hai tiếng “nguỵ quyền“ đã tự cho phép họ giết tập thể năm Mậu Thân 1968. Hiện nay, tên ngợm giáo gian quốc doanh Nguyễn Tấn Khóa còn nói như con vẹt rằng “thế lực thù địch“ để hô hào giáo dân tách xa ra khỏi những Lãnh đạo Tôn giáo chân chính, để gán cho những ai dám can đảm đòi Tự do Tôn giáo.
15) NẠN NHÂN BỊ TRỪ KHỬ CHÍNH LÀ NHỮNG NGƯỜI DÂN CỦA QUỐC GIA
Nghị Quyết 1481 nêu rõ rằng những nạn nhân bị trừ khử lại chính là những người dân của quốc gia sống dưới chế độ toàn trị của cộng sản. Quyết Nghị nói rằng những nạn nhân này nhiều nhất là ở Liên Xô.
Việt Nam: Riêng Việt Nam, chúng ta chứng nhận những cuộc trừ khử đẫm máu này trên chính Dân tộc Việt Nam để phục vụ hai điều nguỵ biện trên đây mà Hồ Chí Minh nhập cảng vào từ nước ngoài.
16) ĐÒI HỎI CUỘC ĐIỀU TRA QUỐC TẾ VỀ NHỮNG TỘI ÁC
Nghị Quyết 1481 đòi hỏi phải có một cuộc điều tra quốc tế về tất cả những tội ác đã qua trên đây vi phạm bởi các đảng cộng sản toàn trị.
Việt Nam: Chúng ta yêu cầu việc điều tra quốc tế về chính những tội ác xẩy ra tại Việt Nam không những đã qua, mà còn đang diễn ra dưới chế độ hiện hành.
17) ĐÒI HỎI XỬ ÁN NHỮNG TỘI ÁC
Nghị Quyết 1481 nêu ra trường hợp quốc tế xử án những tội ác dưới chế độ Đức Quốc Xã và yêu cầu việc xử án những tội phạm dưới các chế độ cộng sản toàn trị.
Việt Nam: Trường hợp Việt Nam, tội phạm như Hồ Chí Minh không những không bị xét xử mà đảng cộng sản còn muốn tôn vinh trong cộng đồng quốc tế. Dân tộc Việt Nam phải lật đổ những tên tội phạm thuộc chế độ toàn trị công sản này và phải xử tội chúng theo công lý của nhân loại và Dân tộc về những tội ác mà chúng đã làm. Chúng tôi nhớ lại một việc làm rất ý nghĩa của Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa tại Thụy sĩ. Khi Võ Nguyên Giáp được đám theo đóm ăn tàn mời qua Thụy sĩ, Hội Cựu Quân Nhân VNCH đã viết cho Chính quyền Thụy sĩ đòi phải xử những tội ác của Võ Nguyên Giáp, khiến việc viếng thăm của ông ta với Chính quyền tại đây không được báo chí chụp hình. Với Nghị Quyết này của Quốc Hội Aâu Châu, khi có nhân vật nào của đảng CSVN qua Aâu-châu, các Phong trào người Việt Hải ngoại có thế để yêu cầu Chính quyền địa phương phải hỏi những nhân vật ấy về tội ác mà họ đã làm đối với Dân tộc Việt Nam.
18) CẢNH GIÁC QUẦN CHÚNG VỀ NHỮNG TỘI ÁC
Quyết Nghị 1481 thẩm định rằng việc cảnh quần chúng về những tội ác này đã rất ít được thực hiện trong những nước đã thoát ra khỏi những chế độ cộng sản toàn trị. Đây là việc thiếu sót.
Việt Nam: Tại Việt Nam, dân chúng dù có được cảnh giác, nhưng chế độ cộng sản toàn trị vẫn nắm quyền và khủng bố dân chúng không được phát biểu ra.
19) MỘT SỐ ĐẢNG CỘNG SẢN VẪN HỢP PHÁP VÀ HOẠT ĐỘNG
Nghị Quyết 1481 muốn nói đến những quốc gia như Trung quốc, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba, cũng như một số đảng vẫn tồn tại ở những nước mà chế độ cộng sản đã sụp đổ. Ơû những nước mà chế độ cộng sản còn tồn tại, thì những tội ác vẫn tiếp tục mặc dầu dưới hình thức khác. Tại những nước đã thoát khỏi chế độ, một số đảng cộng sản vẫn hợp pháp và hoạt động, nhưng đã không lìa xa cho đủ những vết tích tội phạm.
Việt Nam: Dân tộc Việt Nam vẫn chưa thoát ra được cái chế độ cộng sản toàn trị với những tội ác vẫn còn được chủ trương dù dưới hình dạng uyển chuyển vì áp lực kinh tế quốc tế.
20) CẦN VIỆC CẢNH GIÁC LỊCH SỬ ĐỂ TRÁNH TỘI ÁC TƯƠNG LAI
Nghị Quyết nhấn mạnh rằng việc cảnh giác Lịch sử về những tội ác đã vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị là điều cần thiết để tránh những tội ác này hoặc tương tự như vậy trong tương lai.
Việt Nam: Đảng cộng sản cố tình bóp méo Lịch sử không những tại Quốc nội mà còn rêu rao trên bình diện Quốc tế để mong tiếp tục những tội ác. Nghị Quyết 1481 của Quốc Hội Aâu Châu chặn đứng những xuyên tạc bóp méo Lịch sử này hầu ngăn chặn những tội ác tương lai của cộng sản.
21) THẨM ĐỊNH VÀ KẾT ÁN TỘI ÁC ĐỂ GIÁO DỤC TUỔI TRẺ
Việc thẩm định những tội ác này là một đòi buộc luân lý. Việc kết án những tội ác là một đòi buộc công lý. Tất cả mang giá trị giáo dục cho những thế hệ tương lai.
Việt Nam: Tại Việt Nam, ngược lại, tuổi trẻ còn đang bị giáo dục, “nhồi sọ“ với những lý thuyết đã gây ra những tội ác vô nhân đạo, phi luân lý. Ngay cả trong Tôn giáo, tại các Chủng viện Công giáo chẳng hạn, những lý thuyết cộng sản toàn trị vẫn được giảng dậy, nhồi sọ. Các Lãnh đạo Tôn giáo có thể ngồi yên để cộng sản tiếp tục nhồi sọ tuổi trẻ về một lý thuyết đã gây những tôi ác ghê tởm hay không ?
22) NHỮNG NẠN NHÂN CỦA CÁC TỘI ÁC ĐƯỢC THỪA NHẬN VỚI TRÌU MẾN
Đây là việc thừa nhận và trìu mến của cộng đồng quốc tế đối với các nạn nhân của các chế độ cộng sản toàn trị.
Việt Nam: Trong khi ấy, đảng cộng sản Việt Nam và một số những kẻ theo đóm ăn tàn, muốn nhẩy bàn độc... lên tiếng bất xứng đối với khối người Việt Nam tỵ nạn, nạn nhân của chế động cộng sản toàn trị. Nhớ đến việc một tướng Kỳ cục nào đó đã phản bội đồng đội, đã không biết hãnh diện rằng mình nhất quyết từ bỏ những kẻ tội phạm để đi tìm tự do. Tướng Kỳ cục còn ca ngợi chính đảng cộng sản toàn trị mà cộng đồng quốc tế khẳng khái kết án.
23) QUỐC HỘI ÂU CHÂU KẾT ÁN TẤT CẢ NHỮNG VI PHẠM NHÂN QUYỀN CỦA MỘT SỐ ĐẢNG CỘNG SẢN HIỆN HÀNH
Nói đến một số đảng cộng sản còn tồn tại hoặc còn nắm quyền trên một số quốc gia, Quốc hội Aâu châu tái khẳng định việc kết án tất cả những vi phạm nhân quyền còn tái diễn trên các quốc gia ấy. Một số nước không cộng sản, không thể viện cớ những quyền lợi riêng quốc gia mà ngăn cản hoặc lờ đi việc thẩm định và kết án những tội ác của những chế độ cộng sản toàn trị hiện tại.
Việt Nam: Đối với người Việt Nam, chỉ những kẻ nào vì lợi lộc cá nhân, muốn theo đóm ăn tàn... mới không dám động chạm tới những tội ác của đảng công sản Việt Nam đang tiếp tục trên Quê Hương. Yù nghĩa nào cho việc Lãnh đạo Tôn giáo yên tiếng ?
24) KÊU GỌI THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG ÂU CHÂU KẾT ÁN CỘNG SẢN
Mặc dầu ở bình diện thành viên của Hội Đồng Aâu Châu, có những tranh luận kết án các tội ác cộng sản ở bình diện quốc gia, nhưng Hội Đồng kêu gọi họ hãy lên tiếng kết án chung trong khuôn khổ cộng đồng quốc tế. Việc kết án quốc tế này là một bổn phận luân lý không thể trì hoãn.
Việt Nam: Khi những người Quốc gia tỵ nạn lên tiếng kết án cộng sản Việt Nam, một số người, theo tuyên truyền của cộng sản hay vì tư lợi nhỏ nhen, đã gọi chúng ta là những người cực đoan. Nghị Quyết 1481 của Quốc Hội Aâu châu không phải là việc thẩm định cực đoan mà là một bổn phận luân lý cần phải lên tiếng.
25) LẬP TRƯỜNG CỦA CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ LÀ ĐIỂM QUY CHIẾU CHO CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN
Việc bảo vệ nhân quyền và quy tắc luật pháp mà Hội Đồng Aâu châu chủ trường đưa đến việc thẩm định và kết án những tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị. Những giá trị mà Hội đồng chủ trương phải là điểm quy chiếu nền tảng cho những quốc gia thành viên của Hội Đồng. Đây là lời kêu gọi để các quốc gia thành viên đứng thành một khối nhất quyết lên án những tội ác của cộng sản.
Việt Nam: Những giá trị về bảo vệ nhân quyền và về quy tắc luật pháp của Quốc Hội Aâu châu không những là tiếng kêu gọi các quốc gia thành viên mà còn là việc đòi buộc chế độ cộng sản toàn trị Việt Nam tuân theo nếu Việt Nam muốn một sự trợ lực về Kinh tế. Dân Việt đồng thanh với lời kêu gọi này để yêu cầu việc chấm dứt chế độ của đảng cộng sản toàn trị tại Việt Nam.
26) KÊU GỌI NHỮNG ĐẢNG CỘNG SẢN HOẶC HẬU CỘNG SẢN TRONG NHỮNG NƯỚC THÀNH VIÊN TRÁNH XA TỘI ÁC VÀ KẾT ÁN KHÔNG MƠ HỒ
Trong những nước thành viên của Hội Đồng Aâu Châu, còn sót lại những đảng cộng sản hay những đảng hậu cộng sản. Hội đồng kêu gọi họ tránh xa những tội ác quá khứ của chế độ công sản toàn trị và lên tiếng kết án chúng không chút mơ hồ.
Việt Nam: Cùng với lời kêu gọi của Hội Đồng Aâu châu, Nhân dân Aâu châu, người Việt Nam không những thẳng thắn lên tiếng mà còn phải nhất quyết đấu tranh đòi buộc đảng cộng sản Việt phải từ bỏ tội ác hiện hành. Chúng ta kết án những tội ác ấy mà không chút ngờ vực nào cả. Những ai còn lưỡng lự vì quyền lợi cá nhân, hãy đọc kỹ Nghị Quyết 1481 của Nghị viện Quốc Hội Aâu Châu gồm những nghị viên đã từng sống sát cạnh hoặc chính trong lòng những chế độ cộng sản toàn trị ấy. Họ hoặc gia đình họ đã từng là những nạn nhân của chế độ. Không chút mơ hồ ! Tiếng nói đầy xác tín này không cho phép người Việt Nam, đã trải qua trên 70 năm Lịch sử đầy tội ác ghê tởm của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam, có thái độ lưỡng lự dưới chiêu bài Hoà Giải Hòa Hợp chẳng hạn để những tội ác phản nhân quyền, phi luân lý ấy còn tiếp diễn mãi trên Quê Hương.
Tuần tự, chúng tôi sẽ khai triển những Đề tài (26 Đề tài) nêu ra trên đây. Chúng tôi cũng xin thú nhận rằng vì xa Quê Hương Việt Nam đã 41 năm nay, thiếu những kinh nghiệm sống trong lòng của chế độ cộng sản toàn trị trên Đất Nước, nên những khai triển của chúng tôi chắc chắn có những thiếu sót. Tỉ dụ những năm Cải Cách Điền Địa, chúng tôi còn nhỏ tuổi, nên không thể nhận định như những bậc lão thành đã tham dự chính những Tòa án Nhân dân giết người theo lệnh của đảng. Cũng vậy, Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi đã ở bên Thụy sĩ này, nên không thể chứng kiến cảnh ghê rợn giết người và chôn tập thể tại Huế. Về tội ác tại những trại Cải Tạo, làm thế nào chúng tôi có thể tả ra những tội ác ấy bằng chính những Vị đã từng phải đói khổ, hành hạ, lao động nô dịch...trong chính những trại mà những Vị ấy đã phải sống. Viết bằng đọc lại sách không thể nào sống động với toàn thân như những Vị đã từng phải trải qua những trại Cải Tạo phi nhân phẩm và phi luân lý. Những Thuyền nhân lao mình xuống biển làm mồi cho cá, cho tất cả mọi nguy hiểm sống chết. Những Thuyền nhân này cảm thấu hơn chúng tôi nhiều về sự sống chết bên cạnh khi nhất quyết từ bỏ Việt Nam đi tìm Tự do. Những thuyền nhân này cảm thấu hơn chúng tôi nhiều về những tội ác của cộng sản đã làm họ liều chết.Trong khi đó chúng tôi chỉ xem hình ảnh để tả lại, nên không thể sống động và cảm thấu những điều ác nhân của cộng sản được.
Cố gắng khai triển những đề tài trên đây, nhưng vì thiếu kinh nghiệm sống thực những cảnh tội ác, nên chúng tôi tha thiết mong mỏi những Vị đã từng sống trong lòng chế độ với những tội ác ấy từ chế độ, hãy lên tiếng để viết không trì hoãn và không mơ hồ hầu kêu gọi chấm dứt chế độ cộng sản toàn trị tại Việt Nam và kết án những tội ác ấy để thế hệ tuổi trẻ tương lai nhìn rõ mà ghê tởm và tránh cho Dân tộc Việt Nam những tội ác tương tự.
Tương lai HÒA GIẢI HÒA HỢP Dân tộc chỉ có thể đạt được khi mà chế độ cộng sản toàn trị đầy tội ác này chấm dứt, và nhân danh công lý, những tội ác ấy phải bị kết án minh bạch. Không thể có Hòa Giải Hòa Hợp trong tình trạng mập mờ. Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) viết để kết luận: “Nghị viện tin tưởng rằng quan điểm minh bạch này của cộng đồng quốc tế sẽ dọn đường cho sự hòa giải tương lai. Hơn nữa, hy vọng Nghị viện sẽ khuyến khích các sử gia khắp thế giới tiếp tục công cuộc khảo cứu của họ nhắm mục đích xác định và kiểm chứng khách quan về những gì đã xẩy ra.“