|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| =============================================================== VietTUDAN -------------------------------------------------------PHONG TRAO DAU TRANH =============================================================== | | |
TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM TRONG TÒAN CẢNH NỔI DẬY ĐÒI CÔNG LÝ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 11.02.2009
Ngày 06.01.2010, CSVN phạm thánh đối với Công Giáo, không phải chỉ đối với Đồng Chiêm, mà còn đối với Giáo Hội Công Giáo VN, đối với Giáo Hội Công Giáo Hòan vũ và đối với tất cả các Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Tin Lành, Chính Thống Giáo và Anh Giáo. Tất cả các Giáo Hội này lấy THÁNH GIÁ làm biểu tượng hữu hình cho ĐỨC TIN vào ơn cứu rỗi mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể nhận lấy tội trần gian trên Thánh Giá. Chính trên cây Thánh Giá, Philatô cho ghi INRI (Giêsu Nazaret, Vua Dân Do Thái), nhận Vương Quyền của Chúa Giêsu.
Từ ngày CSVN phá cây THÁNH GIÁ tại Đồng Chiêm cho đến nay, tôi không viết một bài bình luận nào, mà chi đăng tải những Thông Tin về việc phạm thánh này.
Tôi muốn nhìn Đồng Chiêm không như một vụ việc riêng lẻ, mà đặt nó trong TÒAN CẢNH chín mùi đổ vỡ của Cơ Chế CSVN hiện hành mà Lực Lượng Công Giáo VN giữ phần chủ động quan trọng.
Chúng tôi xin đề cập những khía cạnh sau đây:
=> Đối với Dân: Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN
=> Đối với ngọai bang: Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế làm cớ cho xâm lăng Quân sự
=> Hình thành và lớn mạnh của Lực Lượng Công Giáo VN với Tinh thần Đồng Chiêm
Đối với Dân: Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN
Qua kỷ niệm sụp đổ của Bức tường Bá Linh năm 1989, chúng tôi có dịp ghi nhận những bài học cụ thể dẫn đến sụp đổ cả một đế quốc được coi như một bộ máy cai trị đàn áp khắt khe đối với Dân chúng.
Có nhiều bài học. Chúng tôi muốn nhắc lại trong đọan này bài học Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã buộc lòng Mikhail GORBATCHEV phải đưa ra chủ trương GLASNOST và PERESTROIKA. Thực ra, những tha hóa và giao động Xã hội bắt nguồn từ những bất công Kinh tế và từ đó hệ thống Chính trị lung lay và sụp đổ cho dù bộ máy đàn áp được tăng cường với chiêu bài ổn định Xã hội.
Hãy nhìn tình trạng Kinh tế, Xã hội và Chính trị thời năm 1985, khi Mikhail GORBATCHEV lên nắm quyền.
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết về tình trạng tại Nga năm 1985 là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này càng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Nền Kinh tế Việt Nam cũng như Trung quốc lúc này chỉ là nền Kinh tế của nhóm đảng Mafia cướp bóc, chứ không phải là Kinh tế của quần chúng.
Nhóm đảng Mafia đưa ra những con số hào nhóang che đậy những họat động kinh tế bất công, tham nhũng, hối lộ mà chính nhóm đảng Mafia ấy biết rõ và đang tìm cách cất giấu tiền bạc riêng của mình phòng khi Kinh tế sụp đổ và mất quyền Chính trị.
Chúng tôi đã viết nhiều về tình trạng kinh tế bóc lột của nhóm đảng Mafia này. Có người nghĩ rằng vì chúng tôi chống CSVN, nên viết những điều tiêu cực. Vì vậy, để nói về tình trạng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam, chúng tôi muốn mượn lời của chính một người của đảng CSVN, Luật sư TRẦN LÂM. Nhìn tình trạng ấy, Luật sư đã phải kết luận rằng sự thay đổi đã đến gần. Luật sư viết như sau:
“Khi mở cửa, khi đón đầu tư nước ngoài, ai cũng nghĩ rằng: ta sẽ học, ta sẽ làm, ta sẽ có tất cả như các nước, ta tiến bộ, ta thừa sức theo kịp thiên hạ…Lúc đầu ta bàn nhiều đến cái thiếu sót, cái thua thiệt, coi đó là học phí với sự an ủi thầm kín. Đến nay, cũng đã nhiều năm: hãng Sony ra đi, ta không thấy nói gì đến ngành điện tử, ta có bao nhiêu hãng ô tô mà nay không thấy cái gì gọi là ô tô Việt Nam…Hóa ra xét tiến bộ đầu tư nước ngoài lấy số tiền đầu tư để đánh giá, còn nền công nghiệp của ta là một việc khác. Kết quả: mất đất, mất môi trường, sức lao động bị bán rẻ. Trong khi ấy, đồng ruộng cần máy móc nông nghiệp, phân bón; học sinh cần máy tính, người lớn cần điện thoại di động…thì tất cả của nước ngoài.
Những cái cũ ta có: gạo, café, cao su, bao nhiêu năm nay không giải quyết được ổn thỏa việc thu mua, chế biến, tồn trữ cứ vẫn như xưa. Cái ta có ưu thế tuyệt đối thì cũng không ổn định.
Những cái có mới, không ít, có thể chia ra hai loại: loại làm ra vì mục đích chính trị, nhằm khoa trương, kèm theo câu “nhất Đông Nam Á” như đường Trường Sơn, đường dây 500KV, hay như điện nguyên tử đến nay chưa có số lượng nhân lực ban đầu…Có cái khác thì thấy ai có thì học theo như Hà Nội bên Sông Hồng và Hà Nội rộng gấp 4 lần…; Loại thứ hai là thiếu hiểu biết kỹ thuật, bỏ ngoài tai ý kiến của các nhà khoa học, tự cho “chính trị là thống soái”, rồi chống cả trời đất như việc quản lí đô thị: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội: nạn ngập lụt người ta cảnh báo bao nhiêu năm, đã thấm đòn ở thành phố Hồ Chí Minh, đến nay lại xảy ra ở khu Mỹ Đình, nơi đỉnh cao của kiến trúc đô thị Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà không đi từ nông nghiệp, không công nghiệp hoá nông nghiệp, quy hoạch đô thị thì “Treo”, không có luật nhập cư, công nghiệp hoá, xuất khẩu lao động thì bỏ rơi đào tạo nghề…các việc này người ta làm ở Châu âu từ thời kỳ Napoléon – Cái “Đảng bao giờ cũng sáng suốt”, “Tập thể bao giờ cũng đúng” đi đâu mất rồi? Thế mà cứ bô bô “Năm này, năm kia ta sẽ hiện đại hóa, công nghiệp hóa!”
Còn một điều vô cùng nhức nhối: làm gì cũng nói sẽ vay vốn ODA, cứ vay rồi ai trả? Kinh tế thị trường mà không có vốn. Số nợ này là bao nhiêu? Ai biết?
Nếu chỉ có như trên thì đi một lẽ, nó lại có cái lẽ thứ hai, như rắn thêm chân :
Ở ta thì những người thân quen, con cháu người cầm quyền từ TW đến cấp tỉnh đều núp bóng cha anh để làm ăn. Dân chỉ rõ công ty này là của ai? Công ty kia là của ai? Rồi những người có quyền chức ủng hộ cái này,diệt cái kia vì hối lộ…nền sản xuất bị chết từ trong trứng.
Chưa hết, hiện nay Trung Quốc thâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam, thâm nhập bằng cả quyền lực chính trị. Nếu như họ lại có trong tay các nhóm lợi ích hay là các nhóm lợi ích hai bên kết hợp với nhau thì có lẽ nền kinh tế Việt Nam đi đứt.
Việc phân tách kinh tế Việt Nam với các mô thức, chỉ số, công thức xin dành cho các kinh tế gia, chưa chắc các kinh tế gia đã làm được vì lẽ tình hình bị che dấu.
Thiếu nhìn xa trông rộng, không có quy hoạch, thiếu kiến thức, thiếu óc phân tích, không có các biện pháp phù hợp là một phía. Phía khác là nạn tham nhũng tràn lan, cùng với ý thức có quyền hành thì cứ làm, rồi che dấu, xuyên tạc, có thể là nguyên nhân của các nguyên nhân.“
Đối với ngọai bang: Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế làm cớ cho xâm lăng Quân sự
Tòan cảnh nổi dậy tại Quốc nội: Dân đòi CÔNG BẰNG Kinh tế để phát triển Đất Nước bền vững và lâu dài.
Nhìn kỹ về những cuộc nổi dậy trước đây ở Đông Aâu từ 1953 đến 1989/91, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.
Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc. Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh cho thấy điều đó. Erich Konecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.
Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.
Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.
=> Đòi NỢ Việt Nam
Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.
Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.
=> Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam
Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam. Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.
=> Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam
Chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.
Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.
Hình thành và lớn mạnh của Lực Lượng Công Giáo VN với Tinh thần Đồng Chiêm
Khi mà tình trạng Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã chín mùi cần phải thay đổi, thì một là do chính giới Lãnh đạo Nước hiện hành tự ý thức hay là do một Lực Lượng nhân dân nổi dậy buộc giới Lãnh đạo Chính trị phải thay đổi. Tại Việt Nam, đảng CSVN, lãnh đạo Chính trị và Kinh tế quốc gia, một mặt thì như bất lực trong việc quyết định thay đổi, một mặt thì tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi cho tốt hơn.
=> Bất lực trong việc quyết định thay đổi
Những lý do đưa đến bất lực quyết định thay đổi như sau:
* Cố thủ giữ lấy quyền hành mặc dầu ý thức tình trạng tụt dốc Kinh tế, bất công Xã hội và bếp bênh Chính trị;
* Cậy nhờ vào Trung quốc để che chở Chính trị và bây giờ quyền lực che chở của Trung cộng trở thành quá lớn đến chỗ Trung cộng nắm quyền cho phép thay đổi hay không. Những Cố vấn Trung cộng trở thành những người đặt để quyền hành lãnh đạo Việt Nam.
* Các lãnh đạo Chính trị đã đi quá sâu vào vơ vét Kinh tế cho chính mình hay cho họ hàng, thân nhân, nên nếu thay đổi thì lo sợ mất những tài sản riêng đã cướp bóc, ăn hối lộ, tham nhũng mà có.
=> Tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi
Trong tình trạng Kinh tế bóc lột, bất công Xã hội và độc tài Chính trị mà Lãnh đạo Nhà nước bất lực không thay đổi như vừa nói trên đây, thì dân phải lên tiếng bầy tỏ thiện ý thay đổi. Phản ứng của lãnh đạo Nhà Nước là tăng cường đàn áp dưới chiêu bài “ổn định xã hội“, “đòan kết dân tộc“, “chống lại công quyền“, “mưu mô lật đổ nhà nước“, “tay sai thế lực thù địch ngọai lai“.
Lực Lượng Công giáo đã hình thành và lớn mạnh song hành với những tăng cường đàn áp của nhà nước CSVN. Có thể nói rằng mỗi lần CSVN tăng đàn áp là mỗi lần Lực Lượng Công giáo được tăng cường về hiệp thông và ý chí.
An Truyền, với Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ, đã thắp lên ngọn lửa phản kháng đòi CÔNG LÝ. Ngọn lửa ấy lan ra sâu rộng trong giới Công giáo Hải ngọai.
Ngày nay, Lực Lượng Công giáo Quốc nội đã lớn mạnh qua những vụ đàn áp tại Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý. Chính những xuyên tạc của Báo Đài CSVN đã quảng cáo và làm tầm ảnh hưởng của Lực Lượng Công giáo càng lan rộng. Có thể nói rằng Lực Lượng Công giáo đã đứng lên tòan diện tại các Giáo phận Miền Bắc Việt Nam.
Điều quan trọng ở đây là những vụ Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý không còn mang tính cách riêng lẻ nữa mà đã đứng chung lại thành một khối mang những đặc tính chung sau đây:
* Sự can đảm không ngại sợ đàn áp ở mọi nơi giống nhau
* Sự hiệp thông hỗ trợ trở thành tự động và tức khắc khi có một nơi nào bị đàn áp
* Tính cách THƯỜNG XUYÊN phản kháng của cả một khối người
* Thông tin tại Quốc nội đến mọi nơi rất nhanh chóng nhờ dòng Chúa Cứu Thế
Với những đặc tính trên đây, khối Công giáo Quốc nội đã trở thành một LỰC LƯỢNG thực sự với đòan ngũ chặt chẽ, được điều hành bởi các Linh mục và các Nữ tu sống cùng Giáo dân tại hiện trường.
Chúng tôi nhấn mạnh đến tính các THƯỜNG XUYÊN đấu tranh. Mỗi Nhà Thờ, không phải chỉ là nơi cầu nguyện, mà là nơi gặp gỡ, trao đổi thông tin, góp thêm ý kiến và nung nấu ý chí. Về điểm này, các Nhà Thờ nên áp dụng bài học Tôn giáo từ Bức tường Bá Linh qua hai Nhà Thờ đã đóng góp hữu hiệu về sự sụp đổ của Bức tường Cộng sản này.
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
=> Đồng Chiêm: CSVN vấp phạm ngu xuẩn làm Dân không còn sợ chết
Tại Tòa Khâm sứ, tại Xứ Thái Hà, CSVN có thể lấy ra vấn đề Đất đai để hạ thấp ý tưởng đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Tại Tam Tòa, CSVN cũng nại ra vấn đề di tích Chiến tranh. Nhưng tại Đồng Chiêm, không có vấn đề đất đai hay di tích chiến tranh mà CSVN đã bạo hành đánh đập Giáo dân, nhất là đàn bà.
Tại Đồng Chiêm, CSVN đã phạm một sai lầm rất lớn, đó là động chạm đến THÁNH GIÁ, biểu tượng hữu hình của ĐỨC TIN THIÊN CHÚA GIÁO. Thực vậy, trung tâm điểm của Đức Tin Thiên Chúa Giáo là cây Thánh Giá.
Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể và đã chịu chết trên cây THÁNH GIÁ để cứu Nhân lọai. Đó là trung tâm của Đức Tin vào sự Cứu Rỗi mà mọi người theo Thiên Chúa Giáo nhìn vào đó để hành đạo. Thập tự giá thời Đế quốc La Mã là một hình phạt cho những người bị kết án tử hình. Chúa Giêsu đã biến thập tự giá hình phạt mà ai cũng sợ hãi thời La Mã thành cây THÁNH GIÁ biểu tượng tình Thương yêu cứu rỗi Nhân Lọai. Cây THÁNH GIÁ được kính trọng bởi mọi Tín đồ Thiên Chúa Giáo: Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành cũng như Anh Giáo.
Ngòai việc cây THÁNH GIÁ biểu tượng hữu hình cho Đức Tin, cây THÁNH GIÁ còn là phương tiện mà Chúa Giêsu thiết lập Vương quyền. Năm 1925, Đức Giáo Hòang PIO XI đã tuyên bố LỄ CHÚA GIÊSU VUA, Vương quyền trên THÁNH GIÁ. Thánh Bộ Phụng Tự đã trích Phúc Aâm Thánh Gioan (Jn 18, 33-37), theo đó Vương quyền của Ngài được tuyên xưng trong mùa Phục Sinh và kết thúc trên cây THÁNH GIÁ. Philato đã cho viết tấm bảng INRI (Giêsu Nazaret, Vua dân Do Thái) đóng trên cây THÁNH GIÁ.
Phạm đến cây THÁNH GIÁ là phạm vào sự thánh, vào ĐỨC TIN GIÁO DÂN, vào VƯƠNG QUYỀN CHÚA GIÊSU. Ngay thời Vua, Chúa cấm đạo, các Vua, Chúa cũng đã hiểu ý nghĩa phạm sự thánh này. Các Vua Chúa chỉ yêu cầu Tín hữu bước qua cây THÁNH GIÁ, là được tha chết. Giáo dân biết rằng bước qua cây THÁNH GIÁ là chối bỏ ĐỨC TIN.
Tại Dồng Chiêm, CSVN đập phá cây THÁNH GIÁ, tức là mạ lỵ chính ĐỨC TIN người Thiên Chúa Giáo. Biến cố Đồng Chiêm càng làm tăng LỰC LƯỢNG đấu tranh của khối Công Giáo đến chỗ không còn sợ tra tấn đánh đập, thậm chí không sợ chết để theo gương các Thánh Tử Đạo trong quá khứ.
CSVN leo thang những đàn áp, tăng những kết án tù tội và đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm một cách mù quáng. Đây chỉ là phản ứng của những kẻ sợ sệt trước viễn tượng nổi dậy tòan diện của Dân để chấm dứt một CƠ CHẾ đầy BẤT CÔNG đã đến lúc chín mùi phải chấm dứt. Việc đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm chứng tỏ sự sợ hãi đến mù quáng trước Lực Lượng càng ngày càng lớn mạnh của Công Giáo.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.02.2010
| | | |
TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH
PHONG TRÀO TỰ-DÂN
22 Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland. Tel. : 0041 22 731 82 66. E-Mail : viettudan@yahoo.com
TỰ-DÂN, thành lập từ 1964, gồm những thành phần Thanh niên, Sinh viên, Học sinh đấu tranh cho nền TỰ DO, DÂN CHỦ tại Miền Nam Việt Nam, chống lại chủ nghĩa độc tài Cộng sản Miền Bắc. Sau 1975, những thành viên TỰ-DÂN di tản ra nước ngòai đã hợp lại với nhau , cùng giữ vững lập trường đấu tranh cũ, dưới danh xưng Việt TỰ-DÂN. Kể từ năm 2001, Việt TỰ-DÂN đã tích cực tái nhập cuộc đấu tranh ở Hải ngọai nhằm hỗ trợ cho Lực Lượng đấu tranh chính yếu đang nổi dậy tại Quốc nội. Nhận thấy các Phong trào đấu tranh tại Hải ngọai cần có chung một tiếng nói, đi chung một đường lối mới tạo được sức mạnh triệt để, giúp cho cuộc nổi dậy tại Quốc nội sớm thành công, PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 đã đứng ra kêu gọi và chính thức mời Việt TỰ-DÂN tham gia cuộc họp mở rộng của Phong Trào Hiến Chương 2000, ngày 28-29.11.2009 tại Toronto, Canada, nhằm vạch ra những phương thức hành động cụ thể, nhân dịp kỷ niệm 9 năm ra mắt Phong Trào. Sau khi tham khảo nội bộ, Việt TỰ-DÂN nhận lời tham dự và long trọng tuyên bố cùng hợp tác đấu tranh song song với Phong Trào Hiến Chương 2000, như sau :
1) Mục đích chung tối hậu của việc hợp tác là hỗ trợ Lực Lượng nổi dậy tại Quốc nội nhằm dứt bỏ Cơ Chế Cộng sản Việt Nam hiện hành để Dân tộc cùng chung bảo vệ Tổ Quốc, chống ngọai xâm và phát triển Kinh tế trong Công lý và Hòa Bình.
2) Những lãnh vực đấu tranh cụ thể như sau:
a. Hỗ trợ các Lực lượng Dân Oan vàTôn giáo đang bị Cơ chế CSVN tham nhũng cướp bóc đất đai, nhà cửa một cách bất chính. Hỗ trợ khối Công nhân bị bóc lột dã man sức lao động, hiện đang bị triệt để khai thác hay bán đứng cho nước ngòai mà không được họp thành Nghiệp đòan để bảo vệ quyền lợi của mình.
b. Đối với những phần Lãnh thổ và Lãnh hải của Tổ Quốc đã bị CSVN dâng cúng cho Trung Cộng để được che chở mà bám lấy quyền hành Chính trị độc tài của họ, chúng ta cùng hợp tác một lòng với tòan dân, đấu tranh để dành lại và bảo tòan Đất, Biển của Tổ Quốc.
c. Chống lại việc để cho hàng hóa của Trung Cộng tràn sang Việt Nam, và chống lại việc để cho Trung Cộng khai thác tài nguyên của Đất Nước. Với hai sự kiện trên, CSVN đang tiếp tay cho Trung Cộng làm cuộc xâm lăng Kinh tế trên Tổ Quốc Việt Nam. Trên căn bản độc lập về phương diện tổ chức, Việt TỰ-DÂN công khai khẳng định cùng hợp tác đấu tranh với PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000, ở mục đích tối hậu và ở những lãnh vực cụ thể nêu ra trên đây.
Làm tại GENEVA, Thụy sĩ, ngày 28 tháng 11 năm 2009 Đại diện Việt TỰ-DÂN
Ký tên: NGUYỄN PHÚC LIÊN
| | | |
ĐÃ ĐẾN LÚC ÁP DỤNG HAI BÀI HỌC BỨC TƯỜNG BÁ LINH CHO CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
Chúng tôi thấy hai Bài học sau đây rất đúng cho Việt Nam ở thời điểm này:
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
Thái độ tích cực yểm trợ của Giáo Hòang Gioan-Phalô II cho CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tại Ba Lan được coi là yếu tố tiên phong gián tiếp cho tranh đấu đánh sập Bức tường Bá Linh. Hai Nhà Thờ tại Đông Bá Linh là nơi quy tụ cầu nguyện đấu tranh trực tiếp cho sụp đổ Bức tường năm 1989.
Tại Việt Nam lúc này, cao trào đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH đã đứng lên mạnh tại Hà Nội (Tòa Khâm sứ và Xứ Thái Hà), tại Vinh (Tam Tòa). CSVN đang sợ hãi sự lớn mạnh này.
=> Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI
Tình trạng Kinh tế tồi tệ đưa đến Tha hóa Xã hội tại Nga vào những năm 1985 khi GORBATCHEV lên nắm quyền đã đến lúc chín mùi, là một định mệnh cho sụp đổ của Chế độ Cộng sản. Tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA của GORBATCHEV như cải cách mong níu lại hình thức một chế độ đã đưa đến hậu quả Kinh tế tồi tệ và Xã hội tha hóa cực điểm cũng không thể tránh được sụp đổ đến như một định mệnh. Nga không còn đủ sức can thiệp vào những nổi dậy của các nước Đông Aâu nữa và đây là chìa khóa cho sụp đổ Bức tường Bá Linh cũng như các nước Đông Aâu chỉ trong vòng hơn một năm.
Tại Việt Nam, trong thời điểm này, Luật sư TRẦN LÂM, , nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.
Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.11.2009
Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Cuộc đấu tranh của Công đòan ĐÒAN KẾT Ba-Lan
Hai khách mời quan trọng hơn cả trong Lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Bá Linh là GORBATCHEV và WALESA, luôn luôn cùng đi bên cạnh với Bà MERKEL. Oâng Lech WALESA được coi là tiên phong đóng góp làm sụp đổ chế độ Cộng sản. Chính vì vậy cuộc Lễ Kỷ Niệm đã dành cho Oâng vinh dự đẩy Domino đầu tiên làm sụp đổ Bức tường tượng trưng bằng 1'000 chiếc Dominos. Oâng và Công đòan ĐÒAN KẾT mang một Đức Tin Công giáo vững mạnh luôn được cổ võ công khai bởi chính Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang thẳng thắn khuyên mọi người:“Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 đã bình luận:“Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh). Ngày 22.01.2002, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, qua 26 Giám Mục Việt Nam trước mặt Ngài tại Vatican, đã gửi cũng những lời cổ võ “đừng sợ hãi nữa“, “hãy can đảm đứng lên tiến ra khơi“ đến tất cả các Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và tòan Giáo dân Việt Nam. Đây là lời cổ võ chính đáng cho sự thiện. Nếu lúc này, vì những mưu mô xảo quyệt trao đổi ngọai giao trần thế của CSVN, mà Đức Giáo Hòang đương kim hay một Hồng Y nào ở Vatican tìm cách làm nhụt chí đấu tranh của Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và Giáo dân Việt Nam, thì đó là việc làm giảm Đức Tin Tôn Giáo và đánh lạc hướng Lương tâm của Tín hữu, nếu không muốn kết luận rằng đây là việc chủ mưu tòng phạm với quân Pharisiêu CSVN nhằm tiếp tục gây tội ác không những cho Giáo dân VN nói riêng mà còn cả cho Dân tộc VN nói chung.
Tinh thần Tôn Giáo nơi GORBATCHEV
Trong thời gian học Đại học Luật tại Mạc Tư Khoa, Gorbatchev luôn luôn chơi thân với một người bạn đến học từ Prague, tên là MLYNAR, cùng học Luật. Vợ của người bạn này là bạn gái cùng phòng với RAISSA. Chính vì mối quan hệ này mà RAISSA trở thành vợ của GORBATCHEV. Khi học xong tại Mạc Tư Khoa, MLYNAR trở về Prague và vào được Bộ Chính trị. Nhưng sau này Oâng theo Phong trào Mùa Xuân Prague và bị mất chức. MLYNAR đã viết về tinh thần Tôn giáo (Chính thống giáo) của Gia đình Gorbatchev. Oâng nội và cha của Gorbatchev âm thầm sùng đạo, mặc dầu cũng là những người theo STALINE. Thời Staline rất khắt khe và nguy hiểm về Tôn giáo. Nhưng theo tiết lộ của Gorbatchev cho bạn của mình, thì Gia đình đã dấu Hình Đức Mẹ ở đàng sau hình của Staline để lén lút cầu nguyện. Tinh thần Tôn giáo của Gia đình đã ảnh hưởng lên tinh thần của Gorbatchev. (Tài liệu: MIKHAIL S.GORBATCHEV by David Kings, Xuất bản Time Incorporated N.York 1988).
Hai Nhà Thờ tại Bá Linh: Nơi tụ họp thường xuyên đấu tranh
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
Tại Việt Nam ngày nay, chúng ta nghĩ đến những cuộc tụ họp cầu nguyện tại Khuôn viên Tòa Khâm sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa. Những Tín hữu đến cầu nguyện bị đe dọa, bị thâu hình, bị đàn áp bằng võ lực thực sự của Công an. Nhưng Tín hữu đã không sợ hãi, kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Phong trào Hiệp Thông cầu nguyện mỗi ngày mỗi lan rộng. Đây là những cuộc tụ họp đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH rất chính đáng. Hồng Y Quốc Vụ Khanh từ Vatican đã một lần can thiệp và bị quân Pharisiêu CSVN phản bội. Đây là một việc can thiệp lỗi lầm. Quân Pharisiêu CSVN còn đang muốn gian giảo tìm cách trao đổi ngọai giao trần thế với Vatican để nhằm phá đổ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM cho sự thiện của Công giáo Việt Nam. Vatican không thể để mình bị lừa gạt nữa.
Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.11.2009
Khi nói lý do KINH TẾ là ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản Nga, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Tình trạng Kinh tế tồi tàn của Nga Khi GORBATCHEV lên nắm quyền
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết bài học này là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Gorbatchev sinh ngày 02 tháng 3 năm 1931 tại làng nhỏ Privolnoie thuộc vùng Stavropol, một vùng nông nghiệp phía Nam Liên xô. Học hành thời nhỏ không có gì xuất sắc, nhưng nhờ tận tâm họat động trong đòan Thanh niên Cộng sản, nên ông được khen thưởng và được giới thiệu lên Mạc Tư Khoa học Đại học. Oâng muốn học ngành Kỷ thuật Vật lý, nhưng vì yếu môn Tóan, nên buộc phải được chỉ định học Đại học Luật. Đây là Đại học ít Sinh viên nhất vì Luật pháp dưới thời Staline không có ý nghĩa gì. Xong Đại học Luật, Oâng trở về tỉnh và trở thành Bí thư đảng của tỉnh. Sau 20 năm chỉ ở tỉnh đồng quê canh nông này, tên ông được lưu ý đến và được gọi về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Việc thăng tiến tới chức vụ lớn nhất trong đảng Cộng sản Nga cũng không phải là do công lao của ông, mà chỉ là sự run rủi ngẫu nhiên của thời thế mà chính ông không chủ động. Thực vậy, thuộc Tỉnh ông, có những suối nước nóng, nơi mà các Lãnh tụ già yếu, mang phong thấp đau mình nhức xương của đảng đến vùng đó tắm chữa bệnh. Từ đó, những Lãnh tụ già yếu này biết đến tên ông và sau này nhớ lại sự chăm sóc chữa bệnh của ông mà gọi ông về Mạc Tư Khoa.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này cảng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Tuyên bố Cải Cách của GORBATCHEV
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009
| | | |
HỢP SỨC ĐẤU TRANH: DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN & CHỐNG TẦU XÂM LĂNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 03.12.2009
Lực lượng Quốc nội đang đứng lên. Hải ngọai hợp sức hỗ trợ cho Lực lượng Quốc nội. Cuộc đấu tranh của Quốc nội và sự hỗ trợ từ Hải ngọai nhằm dứt bỏ Cơ Chế CSVN tham nhũng để phát triển Đất Nước và chống lại việc xâm lăng của Trung quốc từ việc họ chiếm Đất, Biển của Tổ Tiên đến việc ho cho tràn lan hàng hóa giết chết Kinh tế của Quê Hương.
Nhìn vấn đề đấu tranh hiện nay như vậy, ngày 26.10.2009, chúng tôi đã đề nghị một QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH để cùng thảo luận; và ngày 28.11.2009, chúng tôi, nhân danh Phong trào Việt TỰ-DÂN, ra bản TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH, nhân cuộc Họp Kỷ Niệm 9 năm PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 tổ chức tại Toronto, Canada.
MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Tham Luận cho cuộc họp mở rộng ngày 28-29/11/2009 của Phong Trào Hiến Chương 2000: Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009 Bài này đi từ nhận định tình hình xã hội tại VN dưới quyền cai trị của độc đảng CSVN để đi tới dự phóng một quan điểm đấu tranh.
Nhận định Tình hình Từ khi đảng CSVN đặt ách thống trị trên tòan lãnh thổ Việt Nam 1975, tình hình đấu tranh đã chuyển biến rất nhiều từ những năm đầu sánh với ngày naỵ Cho đến ngày sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Nga và Đông Âu Cuộc đấu tranh đặt nặng ở phía người Việt Hải ngọai, trong khi ấy tại Quốc nội, Dân chúng sống trong sợ sệt dưới quyền cai trị hòan tòan khắt khe và đàn áp của đảng CSVN. Cuộc đấu tranh của người Việt Hải ngọai đặt chính yếu vào giải pháp quân sự nhằm giải phóng Quê Hương. Có những xâm nhập từ ngòai vào, nhưng dân chúng Việt Nam vẫn đang bàng hòang về cuộc chiến mới đây, nhất là đang sống dưới cùm kẹp khát máu của CSVN, nên những xâm nhập này không đủ sức dấy động một cuộc nổi dậy của quần chúng. Giai đọan CSVN buộc lòng phải mở cửa và "đổi mới" Khi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, đảng và Nhà Nước CSVN hòan tòan ở trong thế bí về ngân sách vì không còn sự giúp đỡ của Nga và Đông Aâu nữạ Dân chúng đã phải ăn bo bo trước đây, bây giờ rơi vào tình trạng đói ăn thực sư.. Biết rằng phá hàng rào tre khép kín Chế độ là nguy hiểm, nhưng đảng và Nhà Nước CSVN bắt buộc phải mở cửa chơi với phía Thế giới Tự do vì bí miếng ăn. Người ngọai quốc và Việt kiều có thể vào Việt Nam và giao tiếp với dân chúng quốc nộị Qua những giao tiếp này, người quốc nội biết đến ý chí đấu tranh của khối người Việt tỵ nạn. Cũng trong thời kỳ này, việc đấu tranh, vẫn chính yếu từ Hải ngọai, nhưng chuyển hướng sang đấu tranh cho ý thức Chính trị, Nhân quyền, hơn là giải pháp quân sự như thời gian trước đâỵ Cuộc đấu tranh của Lm.NGUYỄN VĂN LÝ: một ngọn lửa công khai đốt lên Những giao tiếp với nước ngòai và với Việt kiều cho dân quốc nội biết đến ý chí đấu tranh tại Hải ngọai, nhưng giới biết tin vẫn còn dè dặt chưa lên tiếng. Chính trong tình hình dè dặt này mà cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ được coi là tiên phong thắp lên NGỌN LỬA đấu tranh . Cuộc đấu tranh của Linh mục tuy bị đàn áp, nhưng việc làm này đã mang lại hiệu quả tác động tâm lý, nói lên ý nghĩa phải can đảm đứng lên từ quốc nội thì mới hy vọng thay đổi được Cơ Chế đàn áp của CSVN. Điều quan trọng ở đây là phải đặt tầm quyết định ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI tự giải phóng mình. Ý chí đấu tranh giải phóng Quê Hương của Hải ngọai trở thành ý chí HỖ TRỢ cho Quốc Nộị Tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường để sửa sọan vào WTO hội nhập với Thế giới Cách đây 7 năm, đảng và Nhà Nước CSVN đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Họ thêm cái đuôi "định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa". Thực ra, một là để chữa thẹn, hai là một cái vỏ bọc cho một CƠ CHẾ vẫn giữ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Với Cơ Chế này việc tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường là tréo cẳng ngỗng. Nhờ sự giúp đỡ của Hoa kỳ, Việt Nam đã vào được WTỌ Khi giúp đỡ như vậy, TT.BUSH đồng thời cũng mong mỏi một Tiến Trình Dân Chủ hóa Việt Nam. Cuộc đấu tranh tại Quốc nội cũng như Hải ngọai khởi sắc lên như trông đợi ở áp lực của Hoa kỳ và Tây phương. Tại Quốc nội một Phong trào gọi là những Nhà Dân chủ đã công khai ra mặt. Tại Hải ngọai, một số nhóm Chính trị, nào thành lập những Chính phủ lưu vong, nào là hé cho thấy chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp. Họ có lẽ hy vọng vào áp lực của Hoa kỳ để được về Việt Nam cùng với CSVN thực hiện Tiến Trình Dân Chủ Hóạ Nếu có hứa với TT.BUSH để được ra khỏi danh sách Những Nước Bị Quan Tâm Đặc Biệt vì vi phạm Tự do Tôn giáo, rồi vào WTO, vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, thì ngày nay CSVN đã phản bội lại lời hứa Tiến Trình Dân chủ hóạ Sa lầy với Trung Cộng và việc đứng lên mạnh mẽ tại Quốc nội "Đi với Mỹ thì mất đảng; Đi với Tầu thì mất nước", đó là câu mà dân Hà Nội thường nói với nhaụ CSVN không muốn mất đảng, thà là mất nước. Đảng và Nhà Nước CSVN ngày nay đã hòan tòan chọn lựa đi với Trung Cộng để mất nước. CSVN đã thẳng tay đàn áp các Phong trào Dân Chủ, đàn áp tất cả những ai động chạm đến cuộc xâm lăng Lãnh Thổ, Lãnh Hải và Kinh tế của Trung Cô.ng. Chính những cuộc đàn áp không chính đáng này đã tạo lên làn sóng phản kháng từ mọi giới tại Việt Nam: 1) Dân Oan mất Nhà, Đất đã công khai kéo về Sài Gòn và Hà Nộị Cuộc đàn áp mà không giải quyết cho có Công lý càng làm tăng thên uất ức sẵn sàng bùng nổ nơi Dân Oan. 2) Công nhân đã làm những cuộc đình công. Ngày nay hậu quả của Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới và việc nhân công Trung quốc ồ ạt vào VN càng làm công nhân VN thất nghiệp. Nguồn phản kháng này mỗi ngày một nhen nhúm, đe dọa nổ lớn. 3) Những vụ Tòa Khâm sứ Hà Nội, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý làm hàng Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân Công giáo đòan kết quyết tâm đấu tranh cho CÔNG LÝ. 4) Việc Trung Cộng cấm đóan Ngư dân miền Trung đánh cá trong vùng Biển VN, rồi đánh đập, cướp bóc Ngư dân lánh nạn bão số 9 vừa qua đang tạo phẫn nộ từ dân chúng đối với Nhà Nước CSVN hèn yếụ 5) Vụ Bôxít Tây Nguyên đã dấy động lên phong trào phản đối công khai của giới Trí thức và ngay cả phía quân độị 6) Từ vụ Bôxit đến hàng hóa Trung quốc tràn ngập Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi tòan dân cứu nguy Đất Nước, không xài hàng Trung quốc. 7) Trước nạn xâm lăng Kinh tế của Trung quốc, giới chuyên gia Kinh tế VN đã công khai lên tiếng phản đối và kêu gọi cứu nguy Đất Nước. Vietnamnet ngày 15.06.2009 đã viết: "Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, "quét" sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các doanh nghiệp VN đang "thua trắng bụng". Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc." 8) Theo lệnh của Trung quốc, qua Tùy viên Thương mại Hồ Tỏa Cẩm, Nguyễn Tấn Dũng ra Quyết Định 97 ngày 24.07.2009 cấm đóan giới Trí thức phản biện đụng chạm đến Tầụ Tổ chức IDS tự giải tán vì lý do Quyết Định bịt miệng nàỵ 9) Một cuộc Thảo Luận công khai được tổ chức ngày 22.09.2009 gồm những Giáo sư Đại học về Kinh tế đã nói lên tính cách tréo cẳng ngỗng của mô hình Kinh tế Tự do Thị trường "định hướng XHCN", nghĩa là một CƠ CHẾ vẫn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Giáo sư Tiến sĩ TRẦN NGỌC HIÊN phát biểu: "Sự phát triển của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính tri.. Về mặt chính trị, sự phát triển kinh tế thị trường trở thành bước ngoặc kết thúc các chế độ chuyên chế và hình thành chế độ dân chủ. "Không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến. Không thể coi là đã có nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn phổ biến". Câu nói cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự phải dẫn đến DÂN CHỦ. Tình hình qua 9 điểm kể ra trên đây cho thấy rằng Quốc Nội đang đứng lên dắu tranh, từ giới đại đa số là Dân nghèo, đến giới Trí thức và Lực lượng các Tôn giáọ Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Quốc nội mỗi ngày mỗi tăng. Đảng và Nhà Nước CSVN càng đàn áp bao nhiêu, thì càng đi vào chỗ bí vì dựa vào lý do bất chính và càng làm cho dân chúng phẫn nộ vì biết rõ đây là hành động cả vú lấp miệng em mà thôị
Một Quan Điểm Đấu Tranh để tham luận Trong khí thế đấu tranh đang lên mạnh của tòan dân gồm mọi giới, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một quan điểm đấu tranh gồm những điểm sau đây: 1) Mục đích tối hậu đi tới của đấu tranh: DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Mục đích này hòan tòan mang tính cách Kinh tế. Chúng ta nhằm vào việc phát triển Kinh tế Đất Nước. Nhân danh việc phát triển này, chúng ta không thể để việc độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cái CƠ CHẾ chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là nguồn gốc những tham nhũng, hối lộ, bất công. Không thể phát triển Kinh tế chỉ cho một nhóm ngườị Thực vậy, chính CƠ CHẾ này đang tạo Kinh tế Mafia: nhóm người tham nhũng hối lộ giầu nứt khố và dân lam lũ làm ăn nghèo kiết xác. Chúng ta lấy lý do dấu tranh là Kinh tế, đó là xây dựng và không phải là phạm điều 88 mà CSVN cố ngụy biện gán cho những ai không đồng ý với những cướp bóc của ho.. Chính sự phát triển Kinh tế Tự do này đặt nền tảng để những tác nhân Kinh tế (mọi người) thiết lập ra nguyên tắc DÂN CHỦ trước hết để giải quyết những tranh chấp quyền lợi, sau đó cùng nhau chấp nhận hệ thống Pháp Luật cho cuộc sống chung đụng xã hội cho CÔNG BẰNG. DÂN CHỦ là nguyên tắc hệ quả của việc phát triển Kinh tế Tự dọ Nhắc hai chữ Dân chủ, CSVN ngụy biện nói chúng ta phạm điều 88. Chúng ta chỉ nói Phát triển Kinh tế Tự dọ 2) Những điểm cụ thể đấu tranh Chúng ta phải đấu tranh với một Nhà Nước độc tài và ngụy biện, xử dụng vũ lực và nhà tù để đàn áp. Vì vậy, trước khi đấu tranh, chúng ta phải nghĩ đến chống đỡ cho điểm mình đấu tranh. Chúng tôi nêu ra những điểm đấu tranh sau đây: a. Đấu tranh đòi CÔNG LÝ Khi đòi CÔNG LÝ, chúng ta được sự ủng hộ của khối Dân Oan và Lực lượng các Tôn giáọ Dân Oan và Tôn giáo đang đòi Công lý. b. Đấu tranh bênh vực nghề nghiệp cho Công nhân và Ngư dân Công nhân mỗi ngày mỗi mất việc vì nhân công Trung quốc tràn vàọ Ngư dân mất nơi đánh cá do Tầu chiếm Biển và Hải đảọ c. Đấu tranh chống khai thác Bôxit Tây Nguyên và việc Tầu xâm lăng Hòang/Trường Sa Đây là việc dấy động giới Trẻ Sinh viên Học sinh và giới Trí thức, cũng như nhiều giới khác, nghĩ đến Tiền đồ Đất Nước. d. Đấu tranh chống xâm lăng Kinh tế Trung quốc Hàng Trung quốc, nhất là hàng độc, lan tràn Việt Nam và giết Kinh tế Việt Nam. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Mỗi Dự án hàm ngụ việc xuất cảng thiết bị và công nhân Tầu sang Việt Nam. Mỗi Dự án là việc nhận nợ mà Thế hệ tương lai phải oằn lưng trả nơ.. Dây là khía cạnh dấy động tòan dân, đặc biệt giới doanh nhân. e. Triệt để chống Tham nhũng, Lãng phí Đây không phải là cá nhân, mà chính là CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng vi trùng Tham nhũng, Lãng phí ăn ruỗng đời sống Kinh tế của tòan dân. Chống Tham nhũng, Lãng phí là chống chính cái CƠ CHẾ hiện hành vậỵ CSVN không thể nói việc chống tham nhũng là phạm điều 88. f. Đấu tranh cho Tự do phản biện xây dựng Kinh tế Nếu CSVN ngụy biện cấm phản biện đối với khía cạnh Chính trị, thì chúng ta tối thiểu đòi Tự do phản biện để XÂY DỰNG KINH TẾ, phát triển Đất nước. Chúng tôi ao ước rằng những điểm ĐỀ NGHỊ ĐẤU TRANH trên đây trở thành PHONG TRÀO, nghĩa là các Nhóm đấu tranh CÙNG NHAU nói lên MỘT tiếng nói cho ma.nh.
TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH
PHONG TRÀO TỰ-DÂN 22 Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland. Tel. : 0041 22 731 82 66. E-Mail : viettudan@yahoo.com
TỰ-DÂN, thành lập từ 1964, gồm những thành phần Thanh niên, Sinh viên, Học sinh đấu tranh cho nền TỰ DO, DÂN CHỦ tại Miền Nam Việt Nam, chống lại chủ nghĩa độc tài Cộng sản Miền Bắc. Sau 1975, những thành viên TỰ-DÂN di tản ra nước ngòai đã hợp lại với nhau , cùng giữ vững lập trường đấu tranh cũ, dưới danh xưng Việt TỰ-DÂN. Kể từ năm 2001, Việt TỰ-DÂN đã tích cực tái nhập cuộc đấu tranh ở Hải ngọai nhằm hỗ trợ cho Lực Lượng đấu tranh chính yếu đang nổi dậy tại Quốc nội. Nhận thấy các Phong trào đấu tranh tại Hải ngọai cần có chung một tiếng nói, đi chung một đường lối mới tạo được sức mạnh triệt để, giúp cho cuộc nổi dậy tại Quốc nội sớm thành công, PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 đã đứng ra kêu gọi và chính thức mời Việt TỰ-DÂN tham gia cuộc họp mở rộng của Phong Trào Hiến Chương 2000, ngày 28-29.11.2009 tại Toronto, Canada, nhằm vạch ra những phương thức hành động cụ thể, nhân dịp kỷ niệm 9 năm ra mắt Phong Trào. Sau khi tham khảo nội bộ, Việt TỰ-DÂN nhận lời tham dự và long trọng tuyên bố cùng hợp tác đấu tranh song song với Phong Trào Hiến Chương 2000, như sau :
1) Mục đích chung tối hậu của việc hợp tác là hỗ trợ Lực Lượng nổi dậy tại Quốc nội nhằm dứt bỏ Cơ Chế Cộng sản Việt Nam hiện hành để Dân tộc cùng chung bảo vệ Tổ Quốc, chống ngọai xâm và phát triển Kinh tế trong Công lý và Hòa Bình.
2) Những lãnh vực đấu tranh cụ thể như sau:
a. Hỗ trợ các Lực lượng Dân Oan vàTôn giáo đang bị Cơ chế CSVN tham nhũng cướp bóc đất đai, nhà cửa một cách bất chính. Hỗ trợ khối Công nhân bị bóc lột dã man sức lao động, hiện đang bị triệt để khai thác hay bán đứng cho nước ngòai mà không được họp thành Nghiệp đòan để bảo vệ quyền lợi của mình.
b. Đối với những phần Lãnh thổ và Lãnh hải của Tổ Quốc đã bị CSVN dâng cúng cho Trung Cộng để được che chở mà bám lấy quyền hành Chính trị độc tài của họ, chúng ta cùng hợp tác một lòng với tòan dân, đấu tranh để dành lại và bảo tòan Đất, Biển của Tổ Quốc.
c. Chống lại việc để cho hàng hóa của Trung Cộng tràn sang Việt Nam, và chống lại việc để cho Trung Cộng khai thác tài nguyên của Đất Nước. Với hai sự kiện trên, CSVN đang tiếp tay cho Trung Cộng làm cuộc xâm lăng Kinh tế trên Tổ Quốc Việt Nam. Trên căn bản độc lập về phương diện tổ chức, Việt TỰ-DÂN công khai khẳng định cùng hợp tác đấu tranh với PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000, ở mục đích tối hậu và ở những lãnh vực cụ thể nêu ra trên đây.
Làm tại GENEVA, Thụy sĩ, ngày 28 tháng 11 năm 2009
Đại diện Việt TỰ-DÂN Ký tên NGUYỄN PHÚC LIÊN
Khi Đất Nước lâm nguy trước cảnh xâm lăng hiện nay do CSVN rước giặc vào Nhà, phải có một Hội Nghị DIÊN HỒNG để đồng tâm cứu nước. Nếu chưa có được một Hội Nghị DIÊN HỒNG của tòan dân, thì chúng ta hãy bắt đầu bằng hai, bằng ba... người tìm gặp đến nhau để cấu kết khởi sự ở những lãnh vực đấu tranh cụ thể nhất để tiến lên.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
DỰ PHÓNG MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Tham Luận cho cuộc họp mở rộng ngày 28-29/11/2009 của Phong Trào Hiến Chương 2000:
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009
Discussion Paper:
Suggestion of a struggle strategy to effectively neutralize the Vietnamese communist oppression
(SUMMARY BY PHONG TRAO HIEN CHUONG 2000/ CHARTER 2000/ CHARTE 2000)
In this discussion paper, Prof. Dr. NGUYEN PHUC LIEN made a review of the situation of the society of VN under the Vietnamese communist regime, to project a struggle strategy to effectively neutralize the Vietnamese communist oppression based on Article 88 of the Penal Code.
The writer pointed out several periods of the struggle path of the Vietnamese refugees and the people in the homeland, as well as the policy changes of the Vietnamese communists to cope with the dissolution of the Soviet empire and the era of globalization:
- During the years of the refugee exodus until the days of the collapse of the communist empire in Eastern Europe and the Soviet Union (end of the 1980s and early 1990s), the overseas Vietnamese, in general, took care of the struggle against the Vietnamese communist regime, mostly by military solutions (such as Hoang Co Minh’s group). The efforts failed.
- The period of opening to the Western world and "Renovation" : Upon the collapse of the Soviet Union and Eastern Europe, the Vietnamese communists realized a dead end as no more aids came from the communist bloc; they moved to the Western world and the overseas Vietnamese for survival. They opened in economics but still controlled in politics, in what is called: "market economy under the socialist directions". In this period, the struggle of the overseas Vietnamese was mostly in human rights and political rights.
- The struggle initiated by Rev. Thaddeus NGUYEN VAN LY: To the end of the year 2000, Rev. NGUYEN VAN LY was the first man who created a direct struggle battle against the Vietnamese communist regime, under his famous slogan: "Freedom of religion or death!". The struggle was suppressed, but the spirit of Rev. LY has since inspired numerous democracy and church activists to follow his cause. He has become a flame to shine the way for the people to stand up without fear. The struggle forces and the strength of the people in the homeland to stand up for themselves is decisive, Viet struggle organizations overseas can only serve as supportive forces.
- The acceptance of the market economy to participate in the WTO and integrate into the world in the globalization era: 2006 marked the final preparation stage for the Vietnamese communist regime to join the WTO following the APEC Summit in Hanoi, with the decisive help of the U.S. (removed VN from the CPC list by President Bush and other things). The democratic movements (such as the 8406 Bloc) were also given birth in 2006.
- Problems with communist China and the fierce reactions of the people in the homeland: while the Vietnamese communist leaders serve as lackeys and servants to Beijing, they are determined to suppress the democratic movements, victims of injustice, religious churches (Thai Ha, Tam Toa, Bat Nha etc), and even workers who strike to struggle for their working and living conditions. The Bauxite mining exploitation project in the Central Highlands offered to China by the Nguyen Tan Dung government caused fierce waves of challenge, from the military ranks, intellectuals, and religious leaders.
The writer raised nine points to prove that the people of VN are standing up against the Vietnamese communist regime. Oppression and treason of the Communist Party of VN to serve Beijing only leads to more unforeseeable reactions of the religious disciples, intellectuals, students and youths, cadres and officers, army generals, workers and victims of injustice.
Prof. Dr. NGUYEN PHUC LIEN’s suggestion of the ultimate move in the struggle battle in VN is to remove the reactionary mechanism of the current communist regime to pave the way for a smooth transformation to a real market economy, to eliminate the mafia and dictatorial system which is the origin of corruption, jungle laws, sweating the people etc. The main SLOGAN is: "STRUGGLE FOR ECONOMIC ATTAINMENTS" , not political struggle that is subject to the application of Article 88 of the Penal Code.
For more information, please refer to the writer’s discussion paper in Vietnamese submitted to the two-day meeting of the Charter 2000 Movement in Toronto on 28-29 November 2009 that is published in this issue.
Bài này đi từ nhận định tình hình xã hội tại VN dưới quyền cai trị của độc đảng CSVN để đi tới dự phóng một quan điểm đấu tranh.
NHẬN ĐỊNH TÌNH HÌNH
Từ khi đảng CSVN đặt ách thống trị trên tòan lãnh thổ Việt Nam 1975, tình hình đấu tranh đã chuyển biến rất nhiều từ những năm đầu sánh với ngày naỵ
Cho đến ngày sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Nga và Đông Âu
Cuộc đấu tranh đặt nặng ở phía người Việt Hải ngọai, trong khi ấy tại Quốc nội, Dân chúng sống trong sợ sệt dưới quyền cai trị hòan tòan khắt khe và đàn áp của đảng CSVN. Cuộc đấu tranh của người Việt Hải ngọai đặt chính yếu vào giải pháp quân sự nhằm giải phóng Quê Hương. Có những xâm nhập từ ngòai vào, nhưng dân chúng Việt Nam vẫn đang bàng hòang về cuộc chiến mới đây, nhất là đang sống dưới cùm kẹp khát máu của CSVN, nên những xâm nhập này không đủ sức dấy động một cuộc nổi dậy của quần chúng.
Giai đọan CSVN buộc lòng phải mở cửa và "đổi mới"
Khi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, đảng và Nhà Nước CSVN hòan tòan ở trong thế bí về ngân sách vì không còn sự giúp đỡ của Nga và Đông Aâu nữạ Dân chúng đã phải ăn bo bo trước đây, bây giờ rơi vào tình trạng đói ăn thực sư.. Biết rằng phá hàng rào tre khép kín Chế độ là nguy hiểm, nhưng đảng và Nhà Nước CSVN bắt buộc phải mở cửa chơi với phía Thế giới Tự do vì bí miếng ăn. Người ngọai quốc và Việt kiều có thể vào Việt Nam và giao tiếp với dân chúng quốc nộị Qua những giao tiếp này, người quốc nội biết đến ý chí đấu tranh của khối người Việt tỵ nạn. Cũng trong thời kỳ này, việc đấu tranh, vẫn chính yếu từ Hải ngọai, nhưng chuyển hướng sang đấu tranh cho ý thức Chính trị, Nhân quyền, hơn là giải pháp quân sự như thời gian trước đâỵ
Cuộc đấu tranh của Lm.NGUYỄN VĂN LÝ: một ngọn lửa công khai đốt lên
Những giao tiếp với nước ngòai và với Việt kiều cho dân quốc nội biết đến ý chí đấu tranh tại Hải ngọai, nhưng giới biết tin vẫn còn dè dặt chưa lên tiếng. Chính trong tình hình dè dặt này mà cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ được coi là tiên phong thắp lên NGỌN LỬA đấu tranh . Cuộc đấu tranh của Linh mục tuy bị đàn áp, nhưng việc làm này đã mang lại hiệu quả tác động tâm lý, nói lên ý nghĩa phải can đảm đứng lên từ quốc nội thì mới hy vọng thay đổi được Cơ Chế đàn áp của CSVN. Điều quan trọng ở đây là phải đặt tầm quyết định ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI tự giải phóng mình. Ý chí đấu tranh giải phóng Quê Hương của Hải ngọai trở thành ý chí HỖ TRỢ cho Quốc Nộị
Tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường để sửa sọan vào WTO hội nhập với Thế giới
Cách đây 7 năm, đảng và Nhà Nước CSVN đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Họ thêm cái đuôi "định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa". Thực ra, một là để chữa thẹn, hai là một cái vỏ bọc cho một CƠ CHẾ vẫn giữ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Với Cơ Chế này việc tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường là tréo cẳng ngỗng.
Nhờ sự giúp đỡ của Hoa kỳ, Việt Nam đã vào được WTỌ Khi giúp đỡ như vậy, TT.BUSH đồng thời cũng mong mỏi một Tiến Trình Dân Chủ hóa Việt Nam.
Cuộc đấu tranh tại Quốc nội cũng như Hải ngọai khởi sắc lên như trông đợi ở áp lực của Hoa kỳ và Tây phương. Tại Quốc nội một Phong trào gọi là những Nhà Dân chủ đã công khai ra mặt. Tại Hải ngọai, một số nhóm Chính trị, nào thành lập những Chính phủ lưu vong, nào là hé cho thấy chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp. Họ có lẽ hy vọng vào áp lực của Hoa kỳ để được về Việt Nam cùng với CSVN thực hiện Tiến Trình Dân Chủ Hóạ
Nếu có hứa với TT.BUSH để được ra khỏi danh sách Những Nước Bị Quan Tâm Đặc Biệt vì vi phạm Tự do Tôn giáo, rồi vào WTO, vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, thì ngày nay CSVN đã phản bội lại lời hứa Tiến Trình Dân chủ hóạ
Sa lầy với Trung Cộng và việc đứng lên mạnh mẽ tại Quốc nội
"Đi với Mỹ thì mất đảng; Đi với Tầu thì mất nước", đó là câu mà dân Hà Nội thường nói với nhaụ CSVN không muốn mất đảng, thà là mất nước. Đảng và Nhà Nước CSVN ngày nay đã hòan tòan chọn lựa đi với Trung Cộng để mất nước. CSVN đã thẳng tay đàn áp các Phong trào Dân Chủ, đàn áp tất cả những ai động chạm đến cuộc xâm lăng Lãnh Thổ, Lãnh Hải và Kinh tế của Trung Cô.ng.
Chính những cuộc đàn áp không chính đáng này đã tạo lên làn sóng phản kháng từ mọi giới tại Việt Nam:
1) Dân Oan mất Nhà, Đất đã công khai kéo về Sài Gòn và Hà Nộị Cuộc đàn áp mà không giải quyết cho có Công lý càng làm tăng thên uất ức sẵn sàng bùng nổ nơi Dân Oan.
2) Công nhân đã làm những cuộc đình công. Ngày nay hậu quả của Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới và việc nhân công Trung quốc ồ ạt vào VN càng làm công nhân VN thất nghiệp. Nguồn phản kháng này mỗi ngày một nhen nhúm, đe dọa nổ lớn.
3) Những vụ Tòa Khâm sứ Hà Nội, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý làm hàng Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân Công giáo đòan kết quyết tâm đấu tranh cho CÔNG LÝ.
4) Việc Trung Cộng cấm đóan Ngư dân miền Trung đánh cá trong vùng Biển VN, rồi đánh đập, cướp bóc Ngư dân lánh nạn bão số 9 vừa qua đang tạo phẫn nộ từ dân chúng đối với Nhà Nước CSVN hèn yếụ
5) Vụ Bôxít Tây Nguyên đã dấy động lên phong trào phản đối công khai của giới Trí thức và ngay cả phía quân độị
6) Từ vụ Bôxit đến hàng hóa Trung quốc tràn ngập Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi tòan dân cứu nguy Đất Nước, không xài hàng Trung quốc.
7) Trước nạn xâm lăng Kinh tế của Trung quốc, giới chuyên gia Kinh tế VN đã công khai lên tiếng phản đối và kêu gọi cứu nguy Đất Nước. Vietnamnet ngày 15.06.2009 đã viết: "Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, "quét" sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các doanh nghiệp VN đang "thua trắng bụng". Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc."
8) Theo lệnh của Trung quốc, qua Tùy viên Thương mại Hồ Tỏa Cẩm, Nguyễn Tấn Dũng ra Quyết Định 97 ngày 24.07.2009 cấm đóan giới Trí thức phản biện đụng chạm đến Tầụ Tổ chức IDS tự giải tán vì lý do Quyết Định bịt miệng nàỵ
9) Một cuộc Thảo Luận công khai được tổ chức ngày 22.09.2009 gồm những Giáo sư Đại học về Kinh tế đã nói lên tính cách tréo cẳng ngỗng của mô hình Kinh tế Tự do Thị trường "định hướng XHCN", nghĩa là một CƠ CHẾ vẫn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Giáo sư Tiến sĩ TRẦN NGỌC HIÊN phát biểu: "Sự phát triển của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính tri.. Về mặt chính trị, sự phát triển kinh tế thị trường trở thành bước ngoặc kết thúc các chế độ chuyên chế và hình thành chế độ dân chủ. "Không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến. Không thể coi là đã có nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn phổ biến". Câu nói cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự phải dẫn đến DÂN CHỦ.
Tình hình qua 9 điểm kể ra trên đây cho thấy rằng Quốc Nội đang đứng lên dắu tranh, từ giới đại đa số là Dân nghèo, đến giới Trí thức và Lực lượng các Tôn giáọ Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Quốc nội mỗi ngày mỗi tăng. Đảng và Nhà Nước CSVN càng đàn áp bao nhiêu, thì càng đi vào chỗ bí vì dựa vào lý do bất chính và càng làm cho dân chúng phẫn nộ vì biết rõ đây là hành động cả vú lấp miệng em mà thôị
DỰ PHÓNG MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Trong khí thế đấu tranh đang lên mạnh của tòan dân gồm mọi giới, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một quan điểm đấu tranh gồm những điểm sau đây:
1) Mục đích tối hậu đi tới của đấu tranh: DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Mục đích này hòan tòan mang tính cách Kinh tế. Chúng ta nhằm vào việc phát triển Kinh tế Đất Nước. Nhân danh việc phát triển này, chúng ta không thể để việc độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cái CƠ CHẾ chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là nguồn gốc những tham nhũng, hối lộ, bất công. Không thể phát triển Kinh tế chỉ cho một nhóm ngườị Thực vậy, chính CƠ CHẾ này đang tạo Kinh tế Mafia: nhóm người tham nhũng hối lộ giầu nứt khố và dân lam lũ làm ăn nghèo kiết xác.
Chúng ta lấy lý do dấu tranh là Kinh tế, đó là xây dựng và không phải là phạm điều 88 mà CSVN cố ngụy biện gán cho những ai không đồng ý với những cướp bóc của ho..
Chính sự phát triển Kinh tế Tự do này đặt nền tảng để những tác nhân Kinh tế (mọi người) thiết lập ra nguyên tắc DÂN CHỦ trước hết để giải quyết những tranh chấp quyền lợi, sau đó cùng nhau chấp nhận hệ thống Pháp Luật cho cuộc sống chung đụng xã hội cho CÔNG BẰNG.
DÂN CHỦ là nguyên tắc hệ quả của việc phát triển Kinh tế Tự dọ Nhắc hai chữ Dân chủ, CSVN ngụy biện nói chúng ta phạm điều 88. Chúng ta chỉ nói Phát triển Kinh tế Tự dọ
2) Những điểm cụ thể đấu tranh
Chúng ta phải đấu tranh với một Nhà Nước độc tài và ngụy biện, xử dụng vũ lực và nhà tù để đàn áp. Vì vậy, trước khi đấu tranh, chúng ta phải nghĩ đến chống đỡ cho điểm mình đấu tranh. Chúng tôi nêu ra những điểm đấu tranh sau đây:
ạ. Đấu tranh đòi CÔNG LÝ
Khi đòi CÔNG LÝ, chúng ta được sự ủng hộ của khối Dân Oan và Lực lượng các Tôn giáọ Dân Oan và Tôn giáo đang đòi Công lý.
b. Đấu tranh bênh vực nghề nghiệp cho Công nhân và Ngư dân
Công nhân mỗi ngày mỗi mất việc vì nhân công Trung quốc tràn vàọ Ngư dân mất nơi đánh cá do Tầu chiếm Biển và Hải đảọ
c. Đấu tranh chống khai thác Bôxit Tây Nguyên và việc Tầu xâm lăng Hòang/Trường Sa
Đây là việc dấy động giới Trẻ Sinh viên Học sinh và giới Trí thức, cũng như nhiều giới khác, nghĩ đến Tiền đồ Đất Nước.
d. Đấu tranh chống xâm lăng Kinh tế Trung quốc
Hàng Trung quốc, nhất là hàng độc, lan tràn Việt Nam và giết Kinh tế Việt Nam. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Mỗi Dự án hàm ngụ việc xuất cảng thiết bị và công nhân Tầu sang Việt Nam. Mỗi Dự án là việc nhận nợ mà Thế hệ tương lai phải oằn lưng trả nơ.. Dây là khía cạnh dấy động tòan dân, đặc biệt giới doanh nhân.
ẹ Triệt để chống Tham nhũng, Lãng phí
Đây không phải là cá nhân, mà chính là CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng vi trùng Tham nhũng, Lãng phí ăn ruỗng đời sống Kinh tế của tòan dân. Chống Tham nhũng, Lãng phí là chống chính cái CƠ CHẾ hiện hành vậỵ CSVN không thể nói việc chống tham nhũng là phạm điều 88.
f. Đấu tranh cho Tự do phản biện xây dựng Kinh tế
Nếu CSVN ngụy biện cấm phản biện đối với khía cạnh Chính trị, thì chúng ta tối thiểu đòi Tự do phản biện để XÂY DỰNG KINH TẾ, phát triển Đất nước.
Chúng tôi ao ước rằng những điểm ĐỀ NGHỊ ĐẤU TRANH trên đây trở thành PHONG TRÀO, nghĩa là các Nhóm đấu tranh CÙNG NHAU nói lên MỘT tiếng nói cho ma.nh.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009
| | | |
RÚT RA TỪ KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH: Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.11.2009
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO => Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN => Bài học 3: NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH KIÊN CƯỜNG TẠI ĐÔNG ÂU => Bài học 4: TẠI SAO CHƯA THÀNH CÔNG TẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC ?
Chúng tôi lần lượt viết về 4 Bài học trên đây, bắt đầu bằng Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO.
Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Cuộc đấu tranh của Công đòan ĐÒAN KẾT Ba-Lan
Hai khách mời quan trọng hơn cả trong Lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Bá Linh là GORBATCHEV và WALESA, luôn luôn cùng đi bên cạnh với Bà MERKEL. Oâng Lech WALESA được coi là tiên phong đóng góp làm sụp đổ chế độ Cộng sản. Chính vì vậy cuộc Lễ Kỷ Niệm đã dành cho Oâng vinh dự đẩy Domino đầu tiên làm sụp đổ Bức tường tượng trưng bằng 1'000 chiếc Dominos. Oâng và Công đòan ĐÒAN KẾT mang một Đức Tin Công giáo vững mạnh luôn được cổ võ công khai bởi chính Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang thẳng thắn khuyên mọi người:“Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 đã bình luận:“Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh). Ngày 22.01.2002, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, qua 26 Giám Mục Việt Nam trước mặt Ngài tại Vatican, đã gửi cũng những lời cổ võ “đừng sợ hãi nữa“, “hãy can đảm đứng lên tiến ra khơi“ đến tất cả các Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và tòan Giáo dân Việt Nam. Đây là lời cổ võ chính đáng cho sự thiện. Nếu lúc này, vì những mưu mô xảo quyệt trao đổi ngọai giao trần thế của CSVN, mà Đức Giáo Hòang đương kim hay một Hồng Y nào ở Vatican tìm cách làm nhụt chí đấu tranh của Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và Giáo dân Việt Nam, thì đó là việc làm giảm Đức Tin Tôn Giáo và đánh lạc hướng Lương tâm của Tín hữu, nếu không muốn kết luận rằng đây là việc chủ mưu tòng phạm với quân Pharisiêu CSVN nhằm tiếp tục gây tội ác không những cho Giáo dân VN nói riêng mà còn cả cho Dân tộc VN nói chung.
Tinh thần Tôn Giáo nơi GORBATCHEV
Trong thời gian học Đại học Luật tại Mạc Tư Khoa, Gorbatchev luôn luôn chơi thân với một người bạn đến học từ Prague, tên là MLYNAR, cùng học Luật. Vợ của người bạn này là bạn gái cùng phòng với RAISSA. Chính vì mối quan hệ này mà RAISSA trở thành vợ của GORBATCHEV. Khi học xong tại Mạc Tư Khoa, MLYNAR trở về Prague và vào được Bộ Chính trị. Nhưng sau này Oâng theo Phong trào Mùa Xuân Prague và bị mất chức. MLYNAR đã viết về tinh thần Tôn giáo (Chính thống giáo) của Gia đình Gorbatchev. Oâng nội và cha của Gorbatchev âm thầm sùng đạo, mặc dầu cũng là những người theo STALINE. Thời Staline rất khắt khe và nguy hiểm về Tôn giáo. Nhưng theo tiết lộ của Gorbatchev cho bạn của mình, thì Gia đình đã dấu Hình Đức Mẹ ở đàng sau hình của Staline để lén lút cầu nguyện. Tinh thần Tôn giáo của Gia đình đã ảnh hưởng lên tinh thần của Gorbatchev. (Tài liệu: MIKHAIL S.GORBATCHEV by David Kings, Xuất bản Time Incorporated N.York 1988).
Hai Nhà Thờ tại Bá Linh: Nơi tụ họp thường xuyên đấu tranh
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
Tại Việt Nam ngày nay, chúng ta nghĩ đến những cuộc tụ họp cầu nguyện tại Khuôn viên Tòa Khâm sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa. Những Tín hữu đến cầu nguyện bị đe dọa, bị thâu hình, bị đàn áp bằng võ lực thực sự của Công an. Nhưng Tín hữu đã không sợ hãi, kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Phong trào Hiệp Thông cầu nguyện mỗi ngày mỗi lan rộng. Đây là những cuộc tụ họp đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH rất chính đáng. Hồng Y Quốc Vụ Khanh từ Vatican đã một lần can thiệp và bị quân Pharisiêu CSVN phản bội. Đây là một việc can thiệp lỗi lầm. Quân Pharisiêu CSVN còn đang muốn gian giảo tìm cách trao đổi ngọai giao trần thế với Vatican để nhằm phá đổ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM cho sự thiện của Công giáo Việt Nam. Vatican không thể để mình bị lừa gạt nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
RÚT RA TỪ KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH: Bài học 2: KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.11.2009
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO => Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN => Bài học 3: NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH KIÊN CƯỜNG TẠI ĐÔNG ÂU => Bài học 4: TẠI SAO CHƯA THÀNH CÔNG TẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC?
Chúng tôi đã viết Bài học 1 về TÔN GIÁO. Hôm nay là Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN.
Khi nói lý do KINH TẾ là ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản Nga, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Tình trạng Kinh tế tồi tàn của Nga Khi GORBATCHEV lên nắm quyền
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết bài học này là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Gorbatchev sinh ngày 02 tháng 3 năm 1931 tại làng nhỏ Privolnoie thuộc vùng Stavropol, một vùng nông nghiệp phía Nam Liên xô. Học hành thời nhỏ không có gì xuất sắc, nhưng nhờ tận tâm họat động trong đòan Thanh niên Cộng sản, nên ông được khen thưởng và được giới thiệu lên Mạc Tư Khoa học Đại học. Oâng muốn học ngành Kỷ thuật Vật lý, nhưng vì yếu môn Tóan, nên buộc phải được chỉ định học Đại học Luật. Đây là Đại học ít Sinh viên nhất vì Luật pháp dưới thời Staline không có ý nghĩa gì. Xong Đại học Luật, Oâng trở về tỉnh và trở thành Bí thư đảng của tỉnh. Sau 20 năm chỉ ở tỉnh đồng quê canh nông này, tên ông được lưu ý đến và được gọi về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Việc thăng tiến tới chức vụ lớn nhất trong đảng Cộng sản Nga cũng không phải là do công lao của ông, mà chỉ là sự run rủi ngẫu nhiên của thời thế mà chính ông không chủ động. Thực vậy, thuộc Tỉnh ông, có những suối nước nóng, nơi mà các Lãnh tụ già yếu, mang phong thấp đau mình nhức xương của đảng đến vùng đó tắm chữa bệnh. Từ đó, những Lãnh tụ già yếu này biết đến tên ông và sau này nhớ lại sự chăm sóc chữa bệnh của ông mà gọi ông về Mạc Tư Khoa.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này cảng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Tuyên bố Cải Cách của GORBATCHEV
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
********************************* MẶT TRẬN DIỆT TRỪ ************************************ THAM NHŨNG VÀ LÃNG PHÍ ************************************************************************************************ | | | |
DIỆT THAM NHŨNG LÀ DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://VietTUDAN.net Geneva, 24.09.2009
Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản.
Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG.
Trung Quốc: không thể kinh doanh mà không hối lộ Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009
Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.
“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.
“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể.
Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,
Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.
Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.
Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng.
Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.
Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.
Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.
Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng. Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông.
A. L. BVN dịch
Việt Nam: Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn,
Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358.
Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào?
Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa.
Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy.
Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ.
Thân mến, PGS TS Vũ Triều Minh, Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia
Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.
Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’
Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
| | | |
VIỆT NAM: KINH DOANH QUYỀN CHỨC LÃI NHẤT
http://danluan. org/node/ 3773 Bài viết này được đăng trên Tuần Việt Nam, nhưng sau đó đã bị gỡ xuống...
Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức... Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi. Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.
Ai cùng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.
Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.
Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...
Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?
Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?
Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...
Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.
Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.
Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.
Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.
Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.
Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.
Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.
Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.
Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?
Theo TVNN
| | | |
CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH: MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 17.12.2009
Chúng tôi luôn luôn viết rằng diệt THAM NHŨNG không phải là đi tìm diệt cá nhân, nhưng là lọai trừ những hòan cảnh để cái mầm tham nhũng sẵn có ở trong mỗi người có cơ hội phát triển. Chúng tôi ví tham nhũng là một trứng trùng nằm sẵn trong mỗi người. Ở trong hòan cảnh không thuận lợi thì trứng không nở ra và lớn lên. Nhưng khi gặp hòan cảnh thuận tiện, thì nó nở thành trùng và lớn lên. Vì vậy, diệt THAM NHŨNG là lọai bỏ cái môi trường thuận lợi để trứng sinh ra trùng và lớn lên được.
Hiện nay, ai cũng than phiền rằng THAM NHŨNG nhan nhản, nghĩa là trứng trùng tham nhũng đã nở thành con và lớn lên, sinh thêm con cái từng đàn nhung nhúc. Chính vì vậy mà Nguyễn Tấn Dũng mới hô hào diệt tham nhũng. Cách diệt tham nhũng là đi bắt từng con trùng trong khi ấy để yên lành cái hòan cảnh, cái khỏang đất tốt để trùng ẩn tránh, để trứng tham nhũng vẫn sinh ra thêm trùng và lớn lên.
Tham nhũng đầy đàn
Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”
Phóng viên Hải Châu, ngày thứ Tư 16.12.2009, đã tả những nguy hiểm của người tố cáo tham nhũng như những trường hợp sau đây:
=> Người tố cáo tham nhũng thường phải chấp nhận cuộc đối đầu không cân sức với kẻ tham nhũng và các thế lực chìm, nổi - nhận định của Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng Lê Mạnh Luân.
=> “Tôi là người trực tiếp tố cáo vụ việc tiêu cực nhưng thấy quá đơn độc". Đó là lời bộc bạch của ông Lê Phước Cẩm (xã Quế Trung, huyện Quế Sơn, Quảng Nam) tại hội nghị biểu dương 29 cá nhân ở các ngành, địa phương trong cả nước có thành tích phòng chống tham nhũng do Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng tổ chức ngày 15/12 tại Đà Nẵng.
=> Ông Cẩm kể, từ khi ông lên tiếng tố cáo vụ phá rừng Khe Diên, không đêm nào ông ngủ yên. "Trùm phá rừng Sáu Ngọc và bọn tiêu cực, tham nhũng dọa giết tôi cùng người thân, trong khi gia đình tôi nghèo, vợ đau cột sống, con bị chất độc da cam nằm một chỗ. Tôi được biết từ ngày 14/12, vụ án được xét xử sơ thẩm lại lần 2. Tôi mong muốn tòa án làm rõ ai cho chủ trương, ai phá rừng, ai tiếp tay, tại sao chính quyền biết mà vẫn làm ngơ”.
=> Theo ông Lê Mạnh Luân, Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo, thực tế cho thấy, người tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có vị thế xã hội cao, quan hệ xã hội rộng rãi, có tiềm lực vật chất và có nhiều thủ đoạn từ né tránh, đánh chìm sự việc đến tổ chức lực lượng chống trả tinh vi, quyết liệt và các thủ đoạn chạy tội, chạy án. Đặc biệt, hình thức trả thù của những kẻ tham nhũng cũng rất tinh vi, không phải chỉ trước mắt mà còn lâu dài.
Không thể diệt Tham nhũng bằng bắt từng con trùng
Khi trứng trùng Tham nhũng gặp đất tốt nở thành con và lớn lên sinh thêm con cháu đầy đàn, thì việc chống tham nhũng không còn là việc đi bới tìm từng con trùng nữa. Người đi bới trùng có thể bị đàn trùng quá đông xúm vào cắn chết. Ngay tại các Phòng chống Tham nhũng, những người điều hành có thể chính là những con trùng tham nhũng rồi. Ai dám tin tưởng mà hợp tác với họ để tìm trùng tham nhũng.
Đám trùng tham nhũng đông nhung nhúc ! Làm thế nào bắt từng con được.
Vị Giáo sư người Nhật đã tả rất đúng khi so sánh Cơ chế CSVN là một cái bộ máy gồm bánh xe lớn, bánh xe nhỏ, đinh ốc lớn, đinh ốc nhỏ chằng chịt. Bánh xe, Đinh ốc lớn nhỏ đều phải có dầu nhớt, thì Bộ máy mới có thể chạy được. Chúng tôi thì ví cái Cơ chế CSVN này là một cái vườn phì nhiêu làm điều kiện cho trứng trùng tham nhũng nở thành con, lớn lên và sinh con cháu đầy đàn. Có thể ví cái Cơ chế CSVN như một đống phân để trứng ruồi mới có thể nở thành giòi, thành ruồi... rồi đẻ trứng thêm.
Diệt tham nhũng ở đây không còn là đi sửa từng bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ của cái máy, cũng không không phải là đi bắt từng con trùng ở cái vườn quá tốt cho chúng sinh thêm, cũng không phải là đi nhặt ra giết từng con giòi của đống phân.
Diệt Tham nhũng là thiêu hủy cả cái Máy, là đốt cái Vườn làm cơ hội sinh đầy trùng, là hốt đống Phân là chỗ sinh đầy giòi
Cái Cơ chế CSVN đã tạo một vùng đất tốt để làm hòan cảnh sinh nở ra đầy tràn trùng tham nhũng. Không thể bắt từng con, không thể chỉ đi tìm những cá nhân tham nhũng, mà phải phá hủy cái vùng đất làm hòan cảnh cho cá nhân trở thành trùng tham nhũng. Không có cách nào hơn.
Một Thánh nhân, dù có tu luyện diệt dục lâu năm, mà chưa trở thành họan quan, thì cái mầm dục vẫn nằm trong bụng vị Thánh nhân ấy. Nếu nhốt chung Thánh nhân trong một phòng tối tăm với một mỹ nữ khỏa thân, thì cái mầm dục có thể được hòan cảnh mà lớn lên đến lúc Thánh nhân cầm không được. Một cá nhân để ngồi cạnh đống vàng. Cá nhân đó lại có tòan quyền dộc tài bịt miệng mọi người, thì cá nhân ấy có hòan cảnh nhặt những thỏi vàng bỏ vào túi mình làm của riêng.
Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Máy mà những bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ đều cần dầu nhớt hàng ngày để khỏi bị cháy. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Khu Vườn tốt đã làm hòan cảnh sinh đầy trùng tham nhũng. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là bãi Phân mà giòi tham nhũng đang lúc nhúc đục khóet.
Đúng vậy, Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành chủ trương cho ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm trọn ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Đó là định nghĩa đích thực của Cơ Chế. ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ cho phép người tham nhũng bịt miệng, nhốt tù tất cả những ai dám đi chỉ điểm những con trùng tham nhũng sinh ra từ Cơ Chế. ĐỘC QUYỀN KINH KẾ là cho phép những người nắm độc tài Chính trị giữ đống Vàng của Quốc gia.
Nắm giữ hai quyền như vậy, thì làm thế nào không có tham nhũng phát sinh được. Nhặt đi từng tên tham nhũng mà Cơ Chế hiện hành vẫn nằm đó, thì trứng trùng tham nhũng vẫn nở thành con, rồi sinh ra từng đàn tham nhũng nữa.
Phải tận diệt cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành đã tạo điều kiện phát sinh tham nhũng từ trên xuống dưới lúc này và nếu CƠ CHẾ vẫn tồn tại thì Kinh tế Việt Nam sẽ khó lòng phát triển vì bầy trùng tham nhũng vẫn tiếp tục nẩy sinh để gậm nhấm ruỗng nền Kinh tế. Đây không phải là đòi hỏi Chính trị mà là đòi hỏi cho phát triển Kinh tế Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
NHẬP SIÊU TĂNG DÙ NGÂN SÁCH THIẾU HỤT, QUYẾT ĐỊNH DỰ ÁN DÙVỠ NỢ NGUY NGẬP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 17.12.2009
Bài ngắn gọn này đi liền với bài CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH: MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP mà chúng tôi đăng lại liền dưới đây.
Trong khi cán cân thương mại mất cân bằng, ngân sách thiếu hụt trầm trọng mà những Tổng Công ty Nhà Nước cứ tăng ào ào nhập siêu. Cũng vậy, thẩm định Quốc tế xếp Việt Nam vào nước có nguy cơ vỡ nợ lớn, thế mà những Dự án Công nghệ và Xây cất cứ được quyết định liên tục và dễ dàng.
Giới Chuyên gia Kinh tế tại Việt Nam đồng thanh lên tiếng rằng 75% dân chúng sống về nông nghiệp, ngư nghiệp lại không được vốn đầu tư của Nhà Nước để ý tới. Nhà Nước giữ quyền chính yếu xuất cảng gạo mà không lưu ý đầu tư để nông dân mất mát khỏang 30% những thu họach mùa màng. Đồng thời những Tổng Công ty vật tư Nông Nghiệp lại giữ “quotas” quan trọng và nhập cảng phân đạm. Nhà Nước cũng không dự trù những Ngân khỏan để hỗ trợ giá cả nông sản khiến nông dân dễ bị ém giá gạo mỗi khi được mùa. Tệ hơn nữa, người ta còn thấy tại các tỉnh, đất đai trồng cấy của nông dân còn bị trưng dụng để làm khu chế xuất cho ngọai quốc thuê hay làm những sân golf, khu giải trí ăn chơi phục vụ khách nước ngòai.
Lý do nào làm động lực cho những tình trạng vừa kể ra trên đây ?
Lý do chính yếu để cắt nghĩa là những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước chỉ lưu ý đến những sinh họat Kinh tế mà họ có thể làm THAM NHŨNG dễ dàng và mau chóng được. Thực vậy:
=> Đối với ngành Nông nghiệp và Ngư nghiệp, những người giữ quyền của Nhà Nước khó lòng ăn tham nhũng đối với nông dân và ngư dân, nên những Dự án đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp ít được để ý tới. Trừ trường hợp nhập cảng phân đạm, thì những Tổng Công ty Nhà Nước dành giữ lấy quotas để mua với giá cao và được những Công ty bán phân đạm nước ngòai trích ra một phần trên giá cao ấy thưởng công cho người mua. Chính tôi còn giữ hồ sơ về tham nhũng của Tổng giám đốc Khánh của Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp tại Hà Nội khi ông ăn cánh với Công ty SINGA UNIVERSAL Singapore để tăng giá mua phân đạm Urea N.46%.
=> Khi mua hàng từ nước ngòai, thì đây là dịp có thể tham nhũng. Chính vì vậy dù Việt Nam thiếu Ngân sách, mất cân bằng trầm trọng về cán cân mậu dịch, mà nhập siêu vẫn tăng đều đều. Phải có nhập siêu, thì mới có dịp tham nhũng. Tôi thường nhắc lại câu nói của Phạm Văn Đồng:”Những gì nước khác không làm được, thì nước ta làm được”. Về Kinh tế tại các nước khác, người bán muốn bán giá cao và người mua nài nỉ giá thấp. Nhưng đối với Việt Nam, người mua làm ngược lại, đó là người mua lại muốn mua giá cao.
=> Tại Việt Nam, những Dự án từ trung ương đến các tỉnh được đưa ra ào ào. Có những người chỉ biết số vốn tiếng Anh, cũng có thể làm nghề viết Dự án kiếm ăn được. Trong thời gian làm Đại diện cho một Tập đòan Tài chánh Hoa kỳ, trụ sở tại Zurich, tôi đã nhận được không biết bao nhiêu Dự án. Có cả Dự án nuôi đà điểu tại Đồng bằng Sông Cửu Long để lấy thịt. Người viết Dự án có lẽ tưởng đà điểu giống như con vịt, nên cho nó xuống đồng bằng sông Cửu Long để lội nước hoặc lội bùn lầy. Có Dự án nuôi hươu lấy sừng tại Nghệ An. Có Dự án nuôi Kangourou do một Kiều bào ở Uùc mách nước cho tỉnh Bình Tuy. Phải có Dự án và dùng sự quen thân trong đảng để quyết định. Không có Dự án, thì làm thế nào ăn bẩn được. Một lần, tôi đã nói với Tiến sĩ Phùng Khắc Kế, hồi ấy là Giám đốc Tín dụng tại Ngân Hàng Nhà Nước, rằng nếu Ngân Hàng Nhà Nước cứ làm tái Bảo Lãnh cho các Ngân Hàng khác, thì Ngân Hàng Nhà Nước sẽ vỡ nợ. Oâng nói:”Người Chủ Dự án đến chỉ thẳng vào mặt tôi và nói rằng ông ta đã là đồng đội đánh trận sống chế cùng với bố của tôi”. Nhà Nước biết sẽ có cắt xén tham nhũng, nhưng Nhà Nước chấp nhận Dự án để thưởng công bằng tham nhũng. Tham nhũng trở thành một chủ trương của Nhà Nước CSVN.
=> Ngày nay, những Dự án lại được dâng cho Trung Cộng. Trung Cộng chủ trương mua những Dự án để xuất cảng thiết bị cũ, vật liêu xây dựng và nhân công của họ sang Việt Nam cũng như các nước khác, nhất là những nước Phi châu. Họ cho đồng tiền hối lộ đi trước để mua Dự án.
Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành, với độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế, là một Cơ Chế cho phép THAM NHŨNG. Những đảng viên lấy vốn của Nhà Nước gọi là để làm Kinh tế, nhưng trước tiên là nghĩ kế cắt xén vốn đó cho túi riêng của mình . Không thể phát triển Kinh tế thực sự với Cơ chế này được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 17.12.2009
“Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” (Khẳng định từ một Giáo sư người Nhật)
| | | |
KHÔNG THAM NHŨNG HỐI LỘ, KHÔNG LÀM VIỆC ĐƯỢC
Không tham nhũng, hối lộ, không làm việc được?!
Một GS Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”
Những phát hiện của Dự án Nâng cao năng lực phòng chống tham nhũng (PCTN) dựa trên kết quả điều tra, phỏng vấn hàng nghìn người dân, cán bộ tổ chức xã hội, đoàn thể, chính quyền tại 9 tỉnh, TP: Lào Cai, Hà Giang, Thái Bình, Hà Nội, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An… bằng các hình thức: lập các phiếu điều tra để người dân điền vào, phỏng vấn sâu lãnh đạo các tổ chức xã hội, đoàn thể, tổ chức một số buổi thảo luận với sự tham gia đông đảo của người dân ở thôn, xã…
Ngày 4/12 tới tại TP.HCM, dự án sẽ tổ chức hội thảo để công bố những phát hiện, nguyên nhân, đề xuất giải pháp về tình hình tham nhũng ở Việt Nam, lấy ý kiến góp ý các đại biểu để hoàn thiện dự án…
PGS – TS Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển cộng đồng (CECODES), thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật VN, đã dẫn chứng như vậy khi trao đổi với Pháp luật TP.HCM, liên quan đến Dự án Nâng cao năng lực phòng chống tham nhũng (PCTN) cho các tổ chức xã hội và người dân, do CECODES phối hợp với Ban Dân chủ và pháp luật (Mặt trận Tổ quốc VN) tổ chức thực hiện từ giữa năm 2008 đến tháng 3/2010.
Dự án nhằm phân tích, đánh giá được hiện trạng sau 3 năm thi hành Luật phòng chống tham nhũng, tìm ra bản chất, nguyên nhân, tham nhũng ở VN, đề xuất các giải pháp hữu hiệu. Đồng thời, tìm ra các giải pháp làm cho người dân, đại diện là các tổ chức xã hội và cộng đồng, tham gia tích cực hơn vào công cuộc phòng chống tham nhũng.
“Tham nhũng là căn bệnh cấu trúc hoá vào hệ thống” - Xin ông cho biết những phát hiện của dự án sau khi nghiên cứu, khảo sát và lấy ý kiến người dân về thực trạng, tình hình tham nhũng ở Việt Nam? - Phát hiện lớn thứ nhất, tình hình tham nhũng ở Việt Nam có tính đặc thù, đó là phổ biến trong xã hội. Ngôn ngữ khoa học gọi là tính hệ thống, còn nói dân dã là tràn lan, ngấm sâu vào khắp nơi. Có người dân phàn nàn: Nó hệ thống lắm là vì cứ ai có quyền là có thể tham nhũng được, không nhất thiết chỉ có chức. Ví dụ, người quét rác bụi mù lên ở trước cửa một nhà hàng, anh muốn yên ổn phải mang mấy chục nghìn đưa cho người này.
Tại sao nói lại kết luận tham nhũng mang tính hệ thống? Bởi vì có hiện tượng công chức chưa coi việc phục vụ như là một nghĩa vụ để hưởng lương mà coi đó như một vị trí, điều kiện, thời cơ để kiếm sống. Cho nên họ lo lót vào chức ấy, kết bè phái (cũng do người dân nói). Nó thành hệ thống rất khó chữa chứ không phải chỉ có cá nhân nào ấy tham ô. Tham nhũng trở thành như một cái gì đó để tạo ra thu nhập.
Một giáo sư Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tưởng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy. “
Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu khi gặp gỡ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ngoài câu khen Việt Nam tăng trưởng ngoạn mục…, thì ông ấy nói “tuy nhiên, tham nhũng của các ngài đã trở thành một căn bệnh cấu trúc hoá vào trong hệ thống”. Ý câu này dẫn đến cách phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không thể theo hệ thống đơn giản bình thường, bắt một vài anh tham nhũng, hối lộ, không ăn thua! - Câu nói của GS người Nhật có vẻ hơi quá, thưa ông? - Khi nói câu ấy ra ở 9 tỉnh (dự án điều tra, khảo sát ở 9 tỉnh – PV) thì không ai phản đối hết! Và coi đấy như một phát hiện, nhận xét sắc sảo. Thậm chí một đồng chí tỉnh uỷ viên ở Đà Nẵng, chủ tịch mặt trận còn nói: Dùng chữ tham nhũng có tính hệ thống là đúng vì ở đây có liên kết ngang với nhau, liên kết dọc với nhau (tức là dưới với trên) và liên kết chéo với nhau (tức là ngành này chéo ngành kia).
Trong một cỗ máy rất lớn “bôi dầu” để chạy đến khi chỗ nào chảy dầu ra thì mới lo lót, tố cáo…, không thì cứ chạy trong đấy nhưng nguy hiểm. Vì dầu đó cũng là những virus dần làm hỏng bộ máy. - Thứ hạng những ngành, lĩnh vực xẩy ra tham nhũng nhiều nhất theo “xếp hạng” của người dân mới đây có sự thay đổi gì không, thưa ông? - Những ngành mang nhiều tiềm năng, hiện trạng tham nhũng lớn là những ngành liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người dân, đứng đầu là quản lý đất đai, đến xây dựng cơ bản, rồi đến các ngành khác.
Thiếu tướng Trịnh Xuân Thu, Bộ Công an từng nói trước Quốc hội rằng, cán bộ tham nhũng cấp phát đất đai như mớ rau, con cá… Vì ông tỉnh, huyện có quyền phân đất, lấy đất cho DN này thì họ “lại quả” bao nhiêu… Ông Thu ấy nói rất ngắn nhưng có 2 hiện tượng phù hợp với nghiên cứu của dự án này là tham nhũng đất đai ghê gớm nhất. Đất đai còn ghê gớm hơn cả xây dựng cơ bản vì từ đất đai mới ra xây dựng.
Giáo viên, bác sĩ khổ quá vì tham nhũng chưa thâm nhập?! “Lẽ ra cán bộ, công chức lấy lương từ thuế, đằng này lại chia sẻ từ khoản đó (từ tham nhũng, hối lộ)… Tức là quan chức chia sẻ cơ chế không công bằng trong quá trình phát triển để làm ra thu thập chứ không phải là lương bổng. Quan chức lại dùng tiền ấy sử dụng dịch vụ, người làm dịch vụ cũng hưởng tham nhũng theo kiểu hối lộ, ví dụ như bác sĩ, cô mẫu giáo, thành ra đang hưởng vòng quay của hối lộ và tham nhũng. Những nơi hưởng tiền ít, ví dụ vùng núi xa xôi quan chức, người dân không có tiền mấy thì người dạy mẫu giáo ít được phong bì. Nên người dân nói tiếu lâm rất ghê: “Vùng cao, giáo viên, bác sĩ khổ quá vì tham nhũng chưa thâm nhập vào đây!” (cười)”
Lần này, ngành tổ chức xếp hạng khá cao cũng là một phát hiện đáng lưu ý. Người dân cho là chạy chức, chạy quyền rất lớn vì từ đó mới ra quyền lực, chức tước, lợi lộc… Tham nhũng trong ngành tổ chức xếp thứ 4-5 chứ không phải thứ 7-9 như trước đây. Một khi tổ chức được xếp tham nhũng khá cao là rất nguy hiểm. Vì từ tổ chức, từ con người “cầm cân nảy mực” mới phát sinh ra nhiều chuyện…
Thể chế pháp lý khiếm khuyết - Phát hiện lớn nhất trong nguyên nhân về tham nhũng mà dự án rút ra được là gì, thưa ông? - Trước đây người ta hay nói nhiều đến nguyên nhân là sự tha hoá của cán bộ, tức là sâu mọt, rồi lương thấp, không nghiêm trị… Nhưng dự án này dám nêu lên một nguyên nhân quan trọng bậc nhất là do một số thể chế pháp lý còn khiếm khuyết. Thứ nhất là thể chế pháp lý về quản lý đất đai. Cái yếu tố đất đai thuộc sở hữu toàn dân, cộng với cơ chế cho phép cán bộ từ huyện đến tỉnh được quyền phân quyền đất đai, doanh nghiệp ấy giải phóng mặt bằng đền bù theo giá rẻ mạt và được lại rất nhiều. Nguyên nhân này là giá đền bù cho người dân thấp hơn rất nhiều so với giá đất cơ hội. Giá đất đang như thế này nhưng khi tôi làm một quy hoạch công nghiệp, cơ hội mảnh đất này lên giá rất cao. Nhưng khi làm nhà nước bảo đất này là đất ruộng trồng lúa nên giá chỉ mấy chục nghìn 1 mét vuông. Có một người dân dẫn chứng rất cụ thể: Chỉ cần xin 5ha, giải phóng mặt bằng 1 tỷ đồng, 1 tỷ lo lót tất cả từ thành phố cho đến xã, tổng cộng mất 2 tỷ. Xong người ta liên kết với Hàn Quốc làm một xí nghiệp, bảo “tôi có mảng đất 5ha này, ông đưa máy móc vào đây thì giá trị mảnh đất của tôi là 5 triệu đô”. Và 5 triệu đô thì lãi bao nhiêu, được hàng trăm tỷ mà mất có 2 tỷ. Thật kinh khủng! Phương diện thứ hai của nguyên nhân về thể chế là quản lý doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn thì cũng tạo ra tham nhũng rất lớn. Tập đoàn nhà nước nên Nhà nước cho vốn, cho vay ngân hàng, lúc thua lỗ thì anh xoá nợ… Ông chủ tịch tập đoàn lại là cán bộ nhà nước nhưng lại làm công ty con, “sân sau”… Chẳng hạn như tập đoàn về lương thực bán lúa gạo. Ông có công ty con ở Singapore, bán gạo giá rẻ, nó lại bán đắt lên trục lợi. Tập đoàn nhà nước làm hại rất nhiều cho công quỹ nhưng ít va chạm với người dân thường như lĩnh vực đất đai. Cho nên hai mặt của phương diện thể chế tạo cho tham nhũng mang tính hệ thống và rất khó chữa theo kiểu vụ việc được. Anh phải thay đổi cái cách phân phối đất, phải thay đổi cách quản trị vốn của doanh nghiệp, tập đoàn nhà nước… Dự án xếp nguyên nhân trên là quan trọng nhất. Công nghiệp hoá “trên lưng người nông dân”? “Đất đai quản lý như thế này người dân nói rất ghê. Tôi thấy găng quá nên nói, “tôi ghi vào đây có ảnh hưởng đến bác không?” Họ nói, “không, không, cứ ghi tên tôi ở dưới đi”. Câu thứ nhất họ bảo là: Ngoài tham nhũng ra, nếu quản lý đất đai kiểu này thì quá trình công nghiệp hoá hiện nay đang tiến hành “trên lưng người nông dân”. Không phải lời của dự án mà ghi chú thích hẳn hoi, ông này ở Thái Bình, từng là tỉnh uỷ viên. Ông ấy cho rằng, ngoài hiện tượng tạo thời cơ cho tham nhũng thì quá trình công nghiệp hoá thế này đang lợi cho doanh nghiệp, gây thiệt hại cho người nông dân. Cái doanh nghiệp mà được đất ở chỗ Ciputra (Hà Nội) được lãi gấp mấy trăm lần? Hay một sân golf họ lấy 100ha, 60ha làm sân gôn, 40ha làm biệt thự, lãi đấy vào túi ai?” Mua giấy phép thành lập trường để “bán bằng”? Vậy còn nguyên nhân nào khác dự án đưa ra về tình trạng tham nhũng? - Nguyên nhân thứ hai là cơ chế xin – cho của thời bao cấp đang còn rất thịnh hành. Ví dụ tôi xin lập một trường đại học dân lập thì tự nhiên được mảnh đất mấy ha, được giấy phép tuyển sinh. Tuyển sinh lấy mỗi em 1 triệu/tháng, bao nhiêu triệu 1 năm thì tự nhiên thành bao nhiêu tỷ lập tức. Ngành giáo dục trong hội thảo mà có người đứng lên nói: Cách đây độ 5 năm muốn được giấy phép để mở một trường ĐH-CĐ dân lập độ tốn 300 triệu lo lót các nơi thì bây giờ năm 2009 là 2 tỷ. Xong giấy phép ấy mà không lập có người khác mua ngay, gấp 2-3 lần. Sau đó lại tham nhũng kiểu khác, lấy tiền cho học sinh, làm cho chất lượng giảm đi. Tóm lại các trường đại học hiện nay có hiện tượng thành lập lên như trung tâm “bán bằng”. Muốn thành lập trung tâm bán bằng phải có giấy phép, muốn có giấy phép phải có hối lộ… Cho nên hệ thống tham nhũng nó giằng rịt như vậy. Như vậy hệ thống xin – cho rất mạnh, nhất là các dự án. Xin được mở bệnh viện tư, trường đại học… xin được căn hộ chung cư mua theo giá gốc, tưởng là thị trường nhưng chưa đích thực. - Như hai nguyên nhân ông nói kể trên không đề cập đến việc cán bộ tha hoá, sa sút về đạo đức dẫn đến tham nhũng? Trước kia trong các văn bản về phòng chống tham nhũng của nhà nước khi nói nguyên nhân hay nói đến ban đầu là đạo đức tha hoá, lương thấp… thì dự án này không nói như thế. Hai nguyên nhân nói trên không có dính đến đạo đức. Đạo đức rất khá nhưng rơi vào vòng xoáy này cũng phải nhận hối lộ, còn nếu khá hơn nữa ông đứng ra ngoài không làm nữa, ông về nghỉ hưu. Còn nếu anh vào cuộc, lại phải xin, phải đưa ra phong bì… Do đó, dự án đưa ra hai nguyên nhân chính ở trên rồi mới đến nguyên nhân đạo đức kém, lương bổng thấp, nền kinh tế dùng tiền mặt… Chẳng hạn dùng tiền mặt, anh ra phố Hà Trung (Hà Nội) mà đổi được 100 nghìn USD, lo lót hải quan chuyển sang Thuỵ Sĩ thì xong rồi. Chả ai còn biết nữa. Các nước đổi 5.000 USD phải xem ai cần đổi, nguồn gốc từ đâu, tại sao cần đổi… Mà cái hối lộ của Việt Nam nó lại ghê gớm, thành văn hoá, có bà nói: “Các bác cứ nói hối lộ xấu xa nhưng bây giờ vào bệnh viện, ngày lễ ngày tết cho cô giáo mà không đưa tiền, phong bì… thì mình trở thành người vô văn hoá”. Bà ta dùng chữ nặng lắm là vô học, mà có học, có văn hoá thì phải đưa, thành ra cái lệ đó rồi. Có hai ý kiến dự án này không đồng ý: Ý kiến thứ nhất bảo là cảnh sát giao thông xấu xa nhưng ta chiểu theo hai nguyên nhân kia thì ông cảnh sát là bình thường, vì nằm trong hệ thống. Ví dụ cảnh sát tỉnh A thế này còn cảnh sát các tỉnh khác rất nghiêm túc thì mới gọi là phạm trù đạo đức của cảnh sát. Như thế không phải tại vấn đề ở bản thân ông ấy mà tại hệ thống. Cho nên vừa rồi đối thoại về tham nhũng trong y tế, tôi có nói câu: Ngành y tế theo thống kê của người dân có tham nhũng nhưng không ghê gớm (về giá trị bằng tiền, vật chất) bằng đất đai. Nhưng tham nhũng ở đấy mang tính chất đương nhiên và noi gương? - Vì sao ông nói tham nhũng ở ngành y tế là “đương nhiên và noi gương”? - Vì anh bác sĩ lý lẽ: Tội gì mà tôi ngồi đây mổ suốt ngày lương 3 triệu mà anh kia chạy loăng quăng, có tiền tỷ. Thì bác sĩ lấy tiền của bệnh nhân, thậm chí có bệnh nhân van bác sĩ nhận tiền. Tôi có quen một người giải phẫu giỏi ở Việt Đức (tôi đã lắng nghe và hỏi rất cẩn thận). Người bác sĩ giỏi ở Việt Đức 40 tuổi, mổ chính bây giờ lương chính có 3 triệu nhưng thu nhập tất cả tiền hàng tháng 40 triệu. 40 triệu tương đương hơn 2.000 USD, được quá! Nhưng hiện nay thu nhập do hệ thống tham nhũng, hối lộ cung ứng. Thế mà có lần có một bà già 70 tuổi ở Hà Giang đưa phong bì, ông ấy không nhận vì trông bà nghèo khổ, bà ta sợ quá gần như quỳ xuống để cầu van… Lúc ấy thành văn hoá, “nếu bác sĩ không nhận phong bì của tôi thì tức là phản đối tôi, không chăm chút tôi. Nhận cho tôi để chăm chút cho tôi”. Bác sĩ ấy nhận, khi yên ổn rồi bóc ra thấy 30 ngàn đồng mà phát khóc… Có những ý kiến nói ra nhưng tổng kết lại người dân không đồng ý. “Người dân làm hỏng cán bộ, tham nhũng hối lộ tại người dân”, nói như vậy là sai hoàn toàn. Nói như thế này đúng: Lương thấp nên không giữ được mình, vì không nước nào lương thấp thế này cả. Công chức quá đông và lương quá thấp, đó là vấn đề lớn, là hiện tượng ở Việt Nam. Công chức không thực tài mà theo hệ thống tuyển lựa nó không đúng như một thị trường đích thực. “Bốc thuốc” cho bệnh tham nhũng - Vậy sau khi “chẩn đoán”, dự án đã “bốc thuốc” như thế nào để chữa “bệnh” tham nhũng ở Việt Nam? - Khuyến nghị tập trung nhất, về đường trường (lâu dài) thì phải thay đổi, hoàn thiện một số cơ chế sở hữu. Đó là đề xuất lớn nhất đầu tiên của dự án này, thí dụ về đất đai. Làm thế nào đó để người dân có quyền hơn, được đền bù cao hơn, được đối thoại với nhà đầu tư…? Chứ hiện nay họ có quyền rất ít và quyền ấy đưa về chính quyền. Mà quan chức ưu ái cho doanh nghiệp thì tự nhiên là tham nhũng. Tập đoàn nhà nước cần nghiên cứu lại, anh chủ tịch tập đoàn phải góp tiền của anh. Đằng này tập đoàn nhà nước tiền của dân, tội gì không làm ra công ty con, làm hại cho tập đoàn, lợi cho công ty con, cuối cùng tập đoàn càng lỗ. Đề xuất thứ hai về dài hạn muốn chống tham nhũng tốt phải minh bạch và tính giải trình phải cao.Ví dụ người dân có quyền yêu cầu UBND chỗ này giải trình… Chỉ giải trình anh cũng đã sợ rồi! Cũng như sân golf anh lấy đất thế nào cho ai và nộp bao nhiêu. tại sao sân golf một nửa làm biệt thự? Thứ ba về đường trường, tiếng nói của tổ chức xã hội và người dân phải tăng nữa. Giống như về ô nhiễm môi trường, phải có sức ép người dân kiện Vedan, hoặc trao giải thưởng không đúng, báo chí, người dân lên tiếng phải mạnh mẽ thì mới được. Giải pháp trước mắt, người dân đề xuất rất đơn giản và cụ thể là không nên để ông chỉ đạo (trưởng ban) phòng chống tham nhũng là ông chủ tịch chính quyền. Hiện nay là vừa đá bóng vừa thổi còi. Còn nữa, anh thanh tra ở tỉnh sợ ông chính quyền. Thanh tra ở tỉnh phải độc lập với ông chính quyền thì mới ăn thua. Vì vậy người dân đề nghị tăng cường hoạt động, tham gia giám sát của Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng… Kiến nghị thứ hai Đảng viên cũng như không Đảng viên, cán bộ cao cấp cũng như thấp cấp đều chịu trách nhiệm trước pháp luật. Không có xử riêng, cấp uỷ có ý kiến… Tức là thượng tôn pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Thứ ba, phải làm thế nào cho người dân dám tố cáo tham nhũng, thí dụ đơn thư khiếu nại tố cáo nặc danh cũng phải xét, rồi hòm thư tố giác tham nhũng để nơi thoải mái cho người dân dễ nhận biết. Kiến nghị thứ tư là vai trò giám sát của người dân, truyền thông, của tổ chức xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên… phải tăng nữa và và thực chất hơn. - Ông vừa đưa ra đề xuất “vá” những chỗ khiếm khuyết về cơ chế. Nhưng có thể những người làm chính sách cơ hội không dễ thay đổi, từ bỏ quyền lợi của mình. Vậy theo ông phải làm như thế nào? - Ở VN có một đặc điểm và đặc điểm đó hay tạo nên tham nhũng mà trong dự án đã nêu là anh hành pháp lại lập pháp. Thí dụ cơ chế phát triển ngành điện lực, Luật điện lực hoặc chính sách phát triển điện lực lại do anh EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam), Bộ Công thương đề xuất. Các nước chữa bằng cách hạn chế anh hành pháp lại, mà khi lập chính sách phải để cho anh lập pháp là Quốc hội. Trong Quốc hội thì anh Bộ trưởng phải rất ít, thậm chí đã Bộ trưởng không đại biểu Quốc hội. Của mình ngược lại hầu hết Bộ trưởng đều là đại biểu QH. Tách lập pháp ra khỏi hành pháp thì lập pháp mới đứng trên quyền lợi chung. Đằng này khi lập pháp có dấu vết hành pháp ở bên trong, thiên vị anh hành pháp nên rất nguy hiểm. Tham nhũng ở Việt Nam mang tính chất nạn nhân “Dự án này tập trung vào để không xẩy ra tham nhũng, nó chân tình ở chỗ ấy. Dự án không đề nghị tăng hình phạt gấp mấy lần, thậm chí còn đề nghị không tử hình tội tham nhũng. Vì “hồn” của dự án này nói tham nhũng ở Việt Nam mang tính chất nạn nhân nhiều hơn. Tội nhân là một số nào đấy… Giống như giáo dục, nhiều người là nạn nhân nên dự án này “không thích” ông Nguyễn Việt Khoa ở Hà Tây. Dự án này không đồng ý vì cách tiếp cận ấy đi vào những cái nhỏ lẻ, mà phải tìm nguyên nhân của những thứ đó. Mang camera quay đưa tiền cảnh sát ngoài đường, dự án này hoàn toàn không có dáng dấp như thế. Dự án này “đụng chạm” tại sao cảnh sát tham nhũng, cần phải “chữa” để cảnh sát không cần, không thể và không dám tham nhũng…” - Tại sao dự án không “hiến kế” những giải pháp cụ thể, thưa ông? - Anh quản lý phải nghĩ cách làm lợi cho dân, tránh tham nhũng. Anh đồng ý đất đai phân phối như vậy có phải lò sinh ra tham nhũng không? Không thể không đồng ý. Lò sinh ra tham nhũng anh phải chữa đi, anh phải mời chuyên gia chứ không thể người dân nói cách chữa được. Cũng giống như ông QH bảo ông Bộ trưởng: Tôi phát hiện cho ông việc để chính quyền phát đất thế này dễ tạo tham nhũng, ông phải đi tìm cách chữa mới nói ông quản lý dân chứ! Hoặc người ta nói tập đoàn là ổ tham nhũng. Thế thì phải cổ phần hoá hết đi hoặc làm cách nào đấy… Nếu làm được cái này lợi nhuận mới tập trung về cho xã hội, anh quay lại trả lương cho công chức. Chứ tổng số tiền ở VN không ít, nhưng rơi vào các đại gia, các doanh ngiệp và quan chức… Như thế công chức nhỏ không có lương phải “chấm mút” kiểu khác, cứ lằng nhằng thế. Là hệ thống cứ xoay vòng theo kiểu mà trong vòng luẩn quẩn như thế này, nó dựa vào tham nhũng phát triển theo kiểu không trong sáng, không đàng hoàng… Xin cảm ơn ông!
Văn Tiến thực hiện Nguồn: http://butlong. multiply. com/journal/ item/476/ 476 http://bauxitevietn am.info/c/ 20149.html
ĐỪNG ĐỂ THAM NHŨNG GIẾT CHẾT PHÁT TRIỂN
TT - Ngày quốc tế chống tham nhũng năm nay (9-12) diễn ra cùng lúc với Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu. Cả hai đều do Liên Hiệp Quốc tổ chức, nôm na mà nói là để tìm kiếm một thỏa hiệp chống tác hại của mỗi nước - nơi môi trường sống của cả nhân loại!
Hai sự kiện trọng đại này bổ sung cho nhau trong ý nghĩa: giữa tham nhũng và tàn phá môi trường có một mối liên quan hỗ tương.
Mới đây, Tổ chức Minh bạch quốc tế vừa công bố bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng 2009, theo đó thứ hạng Việt Nam vẫn cứ sau 2/3 số nước khác như mọi năm (hạng 120/180). Có thể hi vọng rằng với việc mới phê chuẩn Công ước LHQ chống tham nhũng vào tháng 7 năm nay, sau sáu năm đắn đo, cách chống tham nhũng ở ta sẽ đến gần với cách chống tham nhũng chung của cả thế giới...
Cũng thế, hội nghị Copenhagen về biến đổi khí hậu là một nhắc nhở đừng hủy hoại môi trường sống của dân tộc mình và của nhân loại. Biến đổi khí hậu có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân phá hủy môi trường sống. Có thể dưới dạng phá rừng, cho dù dưới danh nghĩa rất hợp pháp như trồng cây công nghiệp, làm thủy điện, xây sân golf, khu công nghiệp...
Những số liệu sau cho thấy chúng ta đang tiến đến một thảm họa do chính mình gây ra khi tàn phá thiên nhiên: trong vòng 10 năm qua, mỗi năm mất trắng 51.000ha rừng, phần lớn là rừng tự nhiên ở thượng nguồn. Ở Tây nguyên, muốn trồng được 100.000ha cao su phải phá đi khoảng 140.000ha rừng tự nhiên! 80% diện tích rừng ngập mặn Việt Nam đã mất đi hoặc suy giảm chất lượng, đặc biệt giai đoạn từ 1995 trở lại đây, để nuôi trồng thủy sản!
Các mất mát đó phải chăng chính là lời giải đã có sẵn cho những bài toán có vẻ như nan giải, như có thể thấy trên một trang web chuyên ngành môi trường: ”Thủy điện: phát triển và đánh đổi?”, “Tam Đảo: rừng hay resort?“, “Long An: nông nghiệp hay sân golf?”... Những bài toán trên thật ra không nan giải về mặt kinh tế và phát triển, song lại nan giải về mặt lương tâm. Vì đằng sau đó có khi là hậu quả của “xin và cho”.
Không lấy làm lạ tại sao Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon trong thông điệp nhân Ngày quốc tế chống tham nhũng năm nay lại nhấn mạnh: ”Đừng để tham nhũng giết chết phát triển”! Nói cách khác, ông muốn cảnh báo chuyện nhân danh sự phát triển (có thể đó là xã nhà, huyện nhà, tỉnh nhà, ngành ta, đất nước mình...) để trục lợi và qua đó giết chết sự phát triển của chính xã ta, huyện ta, tỉnh ta…
Một năm ba tháng đã trôi qua kể từ khi dân chúng ven sông Thị Vải cay đắng nhận ra dòng sông sinh nhai của họ vì đâu mà “chết”, hiểu ra rằng họ có quyền đòi kẻ gây ô nhiễm phải bồi thường. Thế nhưng, đơn kiện của họ vẫn chưa được chính tòa án “nhà” của họ nhận đơn.Và họ vẫn đang cô độc đòi bồi thường chứ không thể chấp nhận hỗ trợ. Thị Vải chỉ là một trong những bài toán đã có “lời giải có sẵn”.
DANH ĐỨC
| | | |
DIỆT THAM NHŨNG LÀ DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://VietTUDAN.net Geneva, 24.09.2009
Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản.
Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG.
Trung Quốc: không thể kinh doanh mà không hối lộ
Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009
Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.
“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.
“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể.
Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,
Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.
Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.
Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng.
Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.
Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.
Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.
Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng.
Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông.
A. L. BVN dịch
Việt Nam: Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam
Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn,
Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358.
Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào?
Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa.
Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy.
Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ.
Thân mến, PGS TS Vũ Triều Minh, Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia
Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.
Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’
Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế Geneva, 22.09.2009
| | | |
CÒN VŨ KHÍ NÀO HẠN CHẾ THAM NHŨNG ? Bạn đọc góp ý: Còn vũ khí nào để hạn chế tham nhũng?
Bất chấp những “nỗ lực” của Nhà nước, trong vài chục năm trở lại đây, tham nhũng tại Việt Nam vẫn được xem là nghiêm trọng hàng đầu trên thế giới – một thực trạng đáng coi là nhục nhã ở một quốc gia đang hướng tới xã hội chủ nghĩa, xem “cán bộ là công bộc của nhân dân” như nước ta.
Căn cứ vào mô hình chính trị của đất nước và kinh nghiệm tổ chức của các quốc gia khác trên thế giới, tôi nghĩ rằng nhân dân Việt Nam có thể tạo ra một cú đột phá lớn giúp cán bộ công chức chúng ta thanh liêm hơn nếu áp dụng một số quan điểm tổ chức và hành động sau đây:
1. Thành lập Cơ quan điều tra hành chính trực thuộc cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân.
“Khách hàng” của cơ quan này sẽ là các cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể có hưởng lương/sử dụng ngân sách Nhà nước và cán bộ viên chức của những cơ quan đó.
Thực tế thì hiện nay chúng ta cũng có cơ quan giám sát cán bộ công chức là Thanh tra Nhà nước và cơ quan Công an.
Tuy nhiên, Thanh tra chỉ là đơn vị giám sát nội bộ của cơ quan hành chính và họ chỉ chịu sức ép quản lý nội bộ từ chính cơ quan hành chính. Mức độ hành động của họ ra sao hầu như vượt ngoài tầm kiểm soát của dân chúng cũng như các cơ quan dân cử.
Tương tự như vậy, cơ quan công an cũng là một tổ chức trực thuộc cơ quan hành chính.
Trong khi đó, quyền sử dụng vốn ngân sách hiện nay nằm trong tay cơ quan hành chính. Do vậy, nếu cơ quan hành chính có sai phạm thì rất ít khi các cơ quan giám sát của chính mình như thanh tra hay công an dám làm thẳng tay và quyết liệt. Ví dụ, giả sử Phó Thủ tướng, Thủ tướng làm sai thì 2 anh lính cấp dưới là Thanh tra và Công an có dám quyết liệt làm tới hay không?
Câu trả lời đã rất rõ ràng, tiêu cực của ngành Cảnh sát giao thông như ung nhọt trong nhiều năm qua nhưng chính bản than ngành công an vẫn làm ngơ.
Trên thực tế, thỉnh thoảng cũng có trường hợp cán bộ công chức bị thanh tra hay điều tra nhưng hầu như là dưới sức ép dữ dội của dân chúng, công luận chứ không phải các cơ quan nói trên chủ động tiến hành vì lợi ích chung của nhân dân. Và hậu quả xử lý sau đó cũng thường rất nhẹ nhàng. Cảnh sát giao thông sử dụng quyền lực để “cướp” tiền từ lái xe dầu đến mức tiền tỉ thì cũng chỉ bị chuyển từ địa bàn này sang đại bàn khác mà thôi. Trong khi dân thường ăn trộm 1 triệu đã phải vào tù…
Việc thành lập cơ quan điều tra hành chính trực thuộc Quốc hội sẽ hạn chế được đáng kể sự thờ ơ của cơ quan Thanh tra và Công an. Khi một sự việc phạm pháp hay chướng tai gai mắt nào đó của cán bộ công chức mà nhân dân cảm thấy nhờ Thanh tra hay Công an đều không ổn thì có thể nhờ cơ quan điều tra hành chính trực thuộc Quốc hội ra tay.
Xin lưu ý rằng, tại Việt Nam hiện nay thì Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất. Do vậy, khi thành lập cơ quan điều tra này phải cho họ được có quyền hành tuyệt đối, không phải thông qua cơ quan Đảng hay Chính phủ. Người họ phải báo cáo duy nhất đó là Quốc hội.
Tuy thế, chúng ta cũng không nên sợ cơ quan này lạm dụng quyền lực, vì song song với họ vẫn có sự hiện diện của cơ quan Công an, Viện kiểm sát. Nếu cơ quan điều tra hành chính thuộc Quốc hội lạm quyền thì cơ quan Công an và Viện kiểm sát sẽ giám sát họ.
Cơ chế hoạt động của cơ quan này chỉ thuần túy là điều tra và đưa ra kết luận sơ bộ. Cơ quan này sẽ không có thẩm quyền xét xử mà chức năng truy tố vẫn thuộc Viện Kiểm sát, xét xử vẫn thuộc Tòa án.
Nếu có sự hiện diện của cơ quan này thì chúng ta có thể tin rằng, tình trạng cảnh sát giao thông làm luật triền miên nhiều chục năm qua, dân kêu cơ quan công an không thấu, sẽ giảm, bởi có thể gọi cơ quan này vào cuộc.
2. Có cơ chế xem tất cả những ai đang hưởng lương từ ngân sách là người của công chúng.
Thực tế thì dân chúng là ông chủ của cán bộ công chức nên nhân dân hoàn toàn có quyền biết mọi sự tình cuộc sống của cán bộ công chức như thế nào.
Ví dụ như gia đình của cán bộ có bao nhiêu người, làm nghề gì, thu nhập làm sao, tài sản gia đình hiện nay ra sao v.v. Tất cả những thông số này phải công bố công khai trên mạng cho từng người dân nắm.
Việc đó các nước phát triển đã làm từ xưa rồi, và cũng không có gì gọi là xâm phạm tự do riêng tư cả.
Bởi lẽ, anh không thích làm công chức thì thôi, muốn làm thì anh phải tuân thủ luật của tôi đặt ra. Và dựa trên cơ sở đó thì từng người dân cũng như báo chí có toàn quyền đi tìm hiểu về cuộc sống riêng tư của cán bộ công chức để công bố rộng rãi ra xã hội cho dân chúng được biết. Nếu cán bộ công chức của chúng ta trong sạch thì không việc gì phải e sợ cả, chúng ta cứ công khai.
3. Minh bạch thông tin.
Tham nhũng và tiêu cực cũng một phần từ cái sự bưng bít thông tin mà ra.
Nếu mọi việc Nhà nước làm đều công khai rành rành ra thì làm gì mà tham nhũng hay tiêu cực nổi.
Ví dụ như hiện nay tại TP HCM, người dân mù tịt về cái Chương trình đạo tạo 300 Thạc sĩ, Tiến sỹ. Tiêu chuẩn lựa chọn ra sao là điều “bí mật”. Thế nên mới có thông tin râm ran chạy chọt, có thông tin con cái cán bộ cao cấp học dốt nhất lớp vẫn được xem là “ngôi sao” và cấp học bổng du học để sau này “thành tài” trở về phụng sự đất nước.
Hoặc như cái nạn ăn hối lộ của cảnh sát giao thông, chỉ cần thay đổi quy trình làm việc của họ, thay đổi quy trình giám sát thì sẽ hạn chế được rất nhiều nhưng không ai muốn làm cả, cứ để tù mà tù mù llà cơ hội cho giới CSGT lộng hành.
Riêng ở mảng này thì tôi muốn góp ý với ngành Công an ra quy định như sau:
- Khi dừng xe lưu thông thì người điều khiển xe phải ngồi yên một chỗ và tắt máy xe. Cảnh sát sẽ chủ động đi tới tận nơi kiểm tra người điều khiển xe. Nếu là xe khách thì bắt buộc cảnh sát phải mở cửa xe và lên xe kiểm tra số lượng khách. Hiện nay cứ thấy CSGT chặn xe khách nhưng chẳng thèm kiểm tra, cứ đứng một chỗ đợi tài xế chạy tới dúi “một xấp giấy” rồi lại khoát tay cho xe chạy đi…
- Bắt buộc mỗi lần dừng xe thì CSGT thì phải ghi vào Sổ Nhật ký mang theo. Trong sổ phải ghi rõ biển số xe, tên người điều khiển, lý do nghi vấn dẫn tới dừng xe, kết quả kiểm tra về giấy tờ, hành khách… và kết quả xử lý của CSGT. Kết quả phải ghi rõ xử lý như thế nào, có phạt hay không phạt, hay du di cho qua, lí do du di… Cuối mỗi trang như vậy yêu cầu cả CSGT và người điều khiển phương tiện phải ký tên xác nhận. Căn cứ vào quy định này thì lực lương giám sát chéo rất dễ dàng biết được CSGT có vi phạm hay không. Chứ cứ để như hiện nay thì rất không ổn. CSGT chặn xe vô tội vạ nhưng cấp trên cũng không ai có thể biết CSGT làm việc trong ca trực thực tế như thế nào. Người bị chặn thì cứ nhanh như cắt, đến “chấp hành luật” xong là chạy biến đi dù đôi khi số khách trên xe gấp 3 lần con số cho phép…
Đôi điều tôi muốn góp ý với Nhà nước. Rất mong Bauxite Việt Nam gửi giúp tới các bạn đọc khác và cơ quan có thẩm quyền
Xin cảm ơn nhiều Ngô Mai (TP HCM) http://bauxitevietn am.info/c/ 10842.html
CHỈ LÀ CON MUỖI
Viên Mẫn
Vụ án Đại lộ Đông Tây TP HCM (ĐLĐT) liên quan đến Hùynh Ngọc Sĩ và Lê Quả, nguyên chánh, phó giám đốc ban quản lý dự án (BQLDA) đã kết thúc với 3 năm tù dành cho Hùynh Ngọc Sĩ và 2 năm tù dành cho Lê Quả.
Dư luận trong mấy ngày qua xôn xao bàn tán về mức án dành cho 2 người. Những tờ báo của nhà nước đưa tin một cách chiếu lệ mà hầu như không có lấy một lời bình luận nào về mức án hoặc những tội danh liệu có đúng người, đúng tội hay chưa - âu cũng là để cho họ được“an phận”. Những tờ báo mạng nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước có đặt ra những tình tiết có thể gọi là “buồn cười” của vụ án - nhưng nếu để ý một chút thì thấy rằng những phân tích đưa ra cũng chỉ mới dừng ở chỗ đánh giá mức án có phù hợp hay không với số tiền nhận hối lộ 820.000USD (công tố viên Tòa án quận hạt TOKYO kiệt kê tới 2,43 triệu USD tiền hối lộ tương đương với gần 10% hợp đồng nhưng chỉ xác lập án hình sự 820.000USD) của BQLDA từ PCI do phía Nhật Bản phát hiện ra.
Ít ai nghĩ rằng gói thầu PCI (dành cho nhà thầu PCI của Nhật Bản) chỉ là 2 gói thầu nhỏ về thiết kế và dịch vụ tư vấn (DVTV) được ký kết ngày 11-1-2005 trị giá 491 tỷ VNĐ (gói 1 trị giá 196 tỷ cho công tác thiết kế chi tiết và gói 2 trị giá 295 tỷ cho công tác tư vấn giám sát dự án; và gói thứ 2 được Chính phủ chỉ thầu). Hai gói "nhỏ" này nằm trong cả dự án "lớn" gồm rất nhiều gói thầu xây dựng và tư vấn. Trong tổng vốn đầu tư của công trình trị giá 660,6 triệu USD - tương đương 9.863 tỷ (theo tỷ giá USD năm 2005) - thì gói thầu DVTV chỉ chiếm 5% tổng số vốn đầu tư cho dự án hay nói cách khác gói thầu DVTV chỉ bằng 1/20 lần của ĐLĐT. Vậy vấn đề đặt ra là các gói thầu khác thì BQLDA không thèm khoản tiền 10-15% giá trị hợp đồng hay sao khi những nhà thầu xây dựng lại chủ yếu là nhà thầu trong nước (dễ nói chuyện với nhau và an toàn hơn)? Cần nhớ lại là khoản tiền đút lót tương đương 10% hợp đồng là sự thỏa thuận cuối cùng của hai bên, trong khi BQLDA đề nghị mức 15% hợp đồng còn PCI chỉ chịu mức 10%. Thử hỏi, đối với một nhà thầu nước ngoài - để được chỉ thầu một phần bởi Chính phủ - đã phải chi tới 10% giá trị hợp đồng thì liệu các nhà thầu khác của các gói thầu xây dựng lại nhởn nhơ không chịu bỏ ra một phần trăm nào hay sao? Câu trả lời chắc để cho mọi người tự đưa ra cho mình, nhưng nếu là 10 phần trăm thì số tiền phải chi cho BQLDA sẽ lên tới gần 1000 tỷ VNĐ, nếu chỉ là 1 phần trăm thôi cũng đã tới 100 tỷ VNĐ.
Ở đây, có thể nói thêm rằng những chứng cứ để phát hiện vụ tham nhũng do phía Nhật Bản đưa ra, liên quan đến phần việc mà công ty của họ thực hiện, trong khi đó tất cả công việc từ công tác lập quy hoạch, kế hoạch, đấu thầu, ký kết hợp đồng, giải phóng mặt bằng, thi công, giám sát tư vấn và nghiệm thu lại ở Việt Nam. Mặt khác, người trả tiền thật sự cho dự án lại là Việt Nam, mà cụ thể là những người dân Việt Nam đóng thuế để trả vốn lẫn lãi các khoản vay ODA. Vậy thử hỏi các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ quan thanh tra, phòng chống tham nhũng của Chính phủ đang ở đâu mà không phát hiện - dù chỉ một mẩu nhỏ - vụ tham nhũng có thể lên đến hàng chục triệu USD trong những dự án như thế này?
Ngược lại, các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước - không hiểu vì sợ bị cắt nguồn tài trợ ODA hay vì lý do gì khác bên trong - thay vì tác động để báo chí và các phương tiện truyền thông vào cuộc để làm rõ, làm quyết liệt, để xử lý thật minh bạch, thật công khai - thì lại cố ém nhẹm vụ án, cố làm cho nó nhỏ lại và “ít nghiêm trọng”, dù đã hùng hồn tuyên bố sẽ "làm đến nơi, đến chốn". Vụ án PCI liên quan đến 2 nhân vật nói trên - nhưng theo nhận định của dư luận thì còn nhiều nhân vật cỡ bự hơn (cỡ Tướng) nằm phía sau, chứ không chỉ chỉ là Sỹ, Tượng. Đây là một nhận định hoàn toàn hợp lý vì bản thân hai ông chánh, phó giám đốc BQLDA không thể nuốt trôi hết số tiền rất lớn nói trên, đó là chưa kể rất nhiều dự án đã và đang triển khai trên địa bàn thành phố HCM và trong cả nước.
Một câu hỏi nữa được đặt ra là nếu như trong dự án ĐLĐT không có sự tham gia của nhà thầu Nhật Bản thì liệu có phát hiện ra một chút tăm hơi của vụ PCI hay không? Câu trả lời đã rõ rành rành là không bao giờ. Việc chạy dự án là hoàn toàn có thật, việc xử 3 năm hay 5 năm tù đối với bản thân ông Huỳnh Ngọc Sĩ không thể phản ánh dù chỉ một phần nhỏ mức độ tham nhũng đối với dự án ĐLĐT nói riêng và tất cả các dự án giao thông và cơ sở hạ tầng nói chung. Nếu số tiền mà họ đã nhận được trong cả dự án ĐLĐT là “con muỗi”, thì số tiền cho thuê nhà 80.000USD kia chỉ là “chân con muỗi” mà thôi. Một bài báo đăng trên Dân Luận nhan đề “Việc làm được trả lương cao nhất - ở tù” đã chia số tiền 80.000 USD cho thuê nhà đã bị chia chác cho tổng cộng 5 năm tù của 2 ông Sỹ, Quả thì mỗi ngày tù họ được trả tới 1 triệu đồng, nhưng nếu lấy số tiền thực tế có thể lên tới hàng chục triệu USD chia cho 5 năm tù của hai ông thì số tiền cho một ngày tù lên tới trăm triệu đồng. Một sự thật đau đớn và khôi hài đến mức tột cùng là nếu hỏi bất cứ người dân nào rằng nếu đổi lại việc họ đang đi làm vất vả để kiếm một ngày vài chục ngàn, thậm chí là trăm ngàn bằng việc họ bị đi tù 3 năm (thực tế chỉ khoảng 2 năm nếu “cải tạo tốt”) - để khi ra có trong tay hàng triệu USD thì họ có chấp nhận không, tôi dám chắc chắn một điều rằng đa số đều trả lời là chấp nhận một cách vui vẻ. Điều đó nói lên một thực tế là mức án dành cho những công chức vì “quá bận, nhiều việc” mà vi phạm và “có thân nhân tốt”, chẳng những không có tác dụng răn đe như mong muốn của người dân mà còn có tác dụng ngược lại là khuyến khích công chức tham nhũng khi có thể, vì số tiền đó cũng đủ cho họ hàng của họ sống vương giả cả đời. Trong xã hội phong kiến thì quan phạm tội sẽ bị xử nặng hơn dân vì họ được học hành, họ hiểu biết hơn về pháp luật và cũng là để làm gương cho người khác, trong khi đó dưới chế độ XHCN thì liệt kê những thành tích cá nhân, thân nhân để giảm án và chức càng cao thì càng nhẹ tội. Trong môn cờ tướng có nước thí tốt khi Tướng bị lâm nguy nhưng nếu tình thế bắt buộc thì việc mất Sỹ (như đĩ mất váy) cũng chẳng hề hấn gì, miễn là Tướng được an toàn, Sỹ chịu khó ở trong đó một thời gian, có thể là không bằng ở trong biệt thự nhưng cũng chẳng mấy chốc thì lại được về an dưỡng tuổi già và cung phụng vợ con.
Nguồn: http://danluan. org Nguồn: http://www.tiengnoi tudodanchu. org/modules. php?name= News&file=article&sid=8180
| | | |
DIỆT THAM NHŨNG LÀ DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://VietTUDAN.net Geneva, 24.09.2009
Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản.
Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG.
Trung Quốc: không thể kinh doanh mà không hối lộ
Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009
Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.
“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.
“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể.
Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,
Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.
Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.
Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng.
Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.
Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.
Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.
Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng.
Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông.
A. L. BVN dịch
Việt Nam: Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam
Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn,
Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358.
Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào?
Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa.
Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy.
Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ.
Thân mến, PGS TS Vũ Triều Minh, Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia
Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.
Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’
Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế Geneva, 22.09.2009
| | | |
DUNG QUẤT NGƯNG CHẠY: THỬ NGHĨ ĐẾN CẮT XÉN TIỀN BẠC
Chúng tôi nhận được nhiều ý kiến phản biện về sự cố tại Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhưng do phạm vi đề tài không thể mở rộng, chỉ xin đăng thêm ý kiến này như một góp ý cuối cùng. Cảm ơn bạn đọc đã hết sức quan tâm đến một vấn đề quan hệ đến lợi ích kinh tế thiết thân của đất nước. Bauxite Việt Nam
Lại bàn về sự cố tại Nhà máy lọc dầu Dung Quất
Tôi cũng đã làm việc gần 30 năm trong ngành dầu khí, cho phép tôi trao đổi lại với bạn “Một người làm việc ở Dự án Dung Quất” một số điểm sau:
“Tại công trường: Cũng như các thiết bị lắp đặt trọn gói khác, không ai thử áp lực lại một lần nữa tại công trường. Điều này thì ai làm trong các dự án xây dựng dầu khí đều rõ.
Trước khi đưa vào sử dụng: Trong giai đoạn pre-commissioning, người ta chỉ kiểm tra xem nó đóng mở đúng không khi nhận được lệnh từ phòng điều khiển. Việc này gọi là loop check.. Rồi kiểm tra xem nó có đóng (hay mở) không khi nhận được tín hiệu đóng (mở) khẩn cấp (thông thường ESD system). Việc này gọi là functional test.
Cái “commissioning test” mà ông Nguyễn Chí Công đề cập là rất chung chung và xa lạ đối với chúng tôi. Thậm chí là buồn cười nữa, có thể ông lấy ở một sách vở nào đó.”
Chắc bạn không biết cuộc pre-commissioning tại kho cảng Thị Vải tháng 6 năm 2000, toàn bộ hệ thống kho cảng được thử áp lực cao. Một sai sót đã xảy ra – quên đóng van vào metering system – nên hệ thống metering bị hỏng phải chờ thay mới, làm chậm tiến độ mấy tháng.
“Với hơn 9 năm kinh nghiệm làm việc cho các dự án dầu khí cả trong và ngoài nước, tôi cho rằng sự cố này chỉ đơn thuần là một sự cố kỹ thuật chẳng ai mong muốn. Nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong quá trình chạy thử một nhà máy lọc dầu như thế này. Cả chủ đầu tư và nhà thầu điều thiệt hại và đang nỗ lực để khắc phục. Xin đừng quy chụp “một ý nghĩa chính trị nào” cho nó cả”.
Trong vùng Đông Nam Á hiện nay, Malaysia có 6 nhà máy lọc dầu, Thái Lan có 7 nhà máy lọc dầu, công suất hơn 80 triệu tấn một năm mà không hề có sự cố kỹ thuật nào phải dừng chạy thử trong quá trình commissioning.
“Với những “người ngoài cuộc”, nếu cần biết nên chịu khó tìm hiểu một chút thông tin cụ thể (tôi biết việc này cũng đòi hỏi rất nhiều tâm huyết). Không nên suy đoán rồi kết luận lung tung, vì như vậy có thể làm rối loạn dư luận. Tôi cũng như những người làm việc trực tiếp có chút tâm huyết cho dự án này sẽ cảm thấy rất buồn về điều này”.
Được xây dựng ở Dung Quất với hơn 3 tỉ đô la Mỹ tiền thuế của dân nghèo, Nhà máy chưa chạy đã bị hỏng. Bạn làm việc cho PetroVietnam chắc biết rất rõ những lãng phí và rất kém hiệu quả của Tổng công ty này? Một ví dụ nhỏ: Cùng thành lập năm 1975, PetroVietnam có doanh thu hàng năm khoảng 10 tỷ đô la Mỹ chủ yếu là từ nguồn bán dầu thô. Petronas có doanh thu hơn 40 tỷ đô la Mỹ mà 60% là từ dịch vụ.
PGS TS Vũ Triều Minh Dạy học Đại Học Dầu Khí Petronas, Malaysia HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
| | | |
*************************** MẶT TRẬN KINH TẾ-TÀI CHÁNH ********************************** NÔNG DÂN, CÔNG NHÂN VÀ TƯ DOANH ĐẤU TRANH CHO QUYỀN SỐNG
Thể chế CSVN độc tài toàn trị đầy tham nhũng hiện nay đưa Kinh tế Việt Nam đến thụt lùi. Công nhân và Nông dân ngày càng nghèo. Những cuộc Đình Công đòi hỏi thành lập Nghiệp đoàn Độc lập, nghĩa là đảng CSVN đừng chính trị hóa lao động để phục vụ cho chủ trương Chính trị riêng của đảng, nhất là để dễ dàng bóc lột sức lao động của dân nghèo, mà hãy để cho giới nghèo được tự do tìm phương tiện nuôi sống cho chính họ. Tư doanh bị kềm chế bởi Quốc doanh phục vụ cho đảng và cho túi riêng con cái đảng.
**************************************************************************************************** | | | |
CĂNG THẲNG XÃ HỘI GIẦU-NGHÈO
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Đây là Bài dưới CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Trong tài liệu viết về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997, Bà Francoise NICOLAS nhắc đến Trung Cộng như một yếu tố hiện hành mang nhiều nguy hiểm bất ổn của vùng trong tương lai . Một trong những nguy hiểm chính là căng thẳng xã hội (tensions sociales) không những gây khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh, mà còn kéo theo, tất nhiên, khủng hoảng Chính trị. Một tỉ dụ điển hình là những căng thẳng xã hội trong cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 đã đưa đến sụp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm.
Cũng vậy, khi viết loạt bài đăng trong LE MONDE ngày 30.10.2007 về những quốc gia bắt đầu phát triển, các tác giả như Aalin FAUJAS, Florin AFTALION, Giáo sư Tài chánh và Chuyên viên nghiên cứu về Tương quan Kinh tế và Cách mạng, cũng đã nhấn mạnh đến nguy hiểm căng thẳng xã hội phát sinh từ vật giá tăng vọt, từ việc dân thiếu khả năng tiêu thụ, từ sự chênh lệch quá xa giầu nghèo.
Không cần phải trích dẫn những tác giả đó ra để hiểu sự căng thẳng xã hội đến từ việc phân phối không đồng đều làm chênh lệc giầu nghèo, mà chúng ta chỉ cần nghĩ đến cái lý thông thường của cuộc sống hàng ngày trong việc kiếm ăn nuôi sống thân xác mình.
Bài này đề cập đến những điểm sau đây: => Sự sợ hãi của những chính quyền thuộc những nước bắt đầu phát triển => Cái lý đơn giản thông thường trong cuộc kiếm ăn nuôi thân xác => Tình trạng căng thẳng xã hội tại Việt Nam
Sự sợ hãi của những chính quyền thuộc những nước bắt đầu phát triển
Những tác giả của loạt bài đăng trong LE MONDE ngày 30.10.2007 nói đến việc hồ hởi của những quốc gia bắt đầu phát triển như Trung Cộng, Việt Nam trong việc ca tụng đà phát triển Kinh tế tăng từ 8-12% hàng năm. Nhưng Chính quyền những nước ấy lại hết sức lo ngại việc tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm như đồ ăn, tăng lên tới 20%. Những người cầm quyền lo lắng không phải do vật giá tăng vọt bởi vì họ dư đủ khả năng tiêu thụ để chấp nhật vật giá tăng, nhưng lo lắng vì khi vật giá tăng vọt, quần chúng thiếu khả năng tiêu thụ, nên cách biệt giầu nghèo gia tăng rõ rệt để tạo ra tình trạng căng thẳng xã hội mà hậu quả là quần chúng quá đói nghèo đứng lên lật đổ quyền lực Chính trị của họ.
Một trong những lý do làm tăng vật giá là sự can thiệp của quyền lực Chính trị vào những sinh hoạt Kinh tế. Tác giả Alain FAUJAS viết:“Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois et vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit à plein fouet des prix arbitraires.“ (Le Monde 30.10.2007) ( Khi mà sự lấn quyền chính trị (những đảng cộng sản Trung quốc và Việt Nam) bành trướng sang Thương mại, Tài chánh và Kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng thừng những giá cả độc đoán). Đây là lý do đầu cơ do chính quyền lực chính trị.
Lý do thứ hai là ở khía cạnh lạm phát tiền tệ. Giáo sư Tài chánh Florin AFTALION đã lấy lại tỉ dụ điển hình thời Cách Mạng Pháp: “La crise inflationniste est née de la situation catastrophique des finances publiques. Pour remplir les caisses de l’Etat et honorer le paiement des dettes de l’Ancien Régime, les députés de l’Assemblée décidèrent la création massive de papier-monnaie. Les paysans étaient payes dans une monnaie qui se dépréciait. La population des villes a commencé à être affamée. (Le Monde 30.10.2007) (Cuộc khủng vật giá tăng vọt đã phát sinh từ tình trạng thảm khốc của tài chánh quốc gia. Để làm đầy két Nhà Nước và để hoàn trả những món nợ của Chế độ Cũ, những dân biểu quốc hội quyết định phát hành hàng loạt những tiền giấy (không bảo chứng). Nông dân được trả với đồng tiền đã mất giá. Dân chúng thành thị bắt đầu đói ăn.) Đây là hiện tượng lạm phát tiền tệ mà chúng tôi đã có dịp viết về trường hợp Việt Nam hiện nay.
Tác giả Florin AFTALION cũng nói đến tình trạng rất khó giải quyết tại Trung Cộng cho vấn đề vật giá tăng vọt này:“Le cas de la Chine illustre la difficulté à traiter le mal inflationniste“ (Trường hợp Trung quốc chứng tỏ sự khó khăn giải quyết điều xấu tăng vật giá này). Oâng nói cái khó khăn đó là sự cách biệt giầu nghèo giữa dân của những thành phố ven biển và dân trong nội địa (le pouvoir d’achat des côtiers).
Một tài liệu nghiên cứu của một số Đại học cho thấy rằng hầu hết những triệu phú tại Trung Cộng là thuộc đảng và 9/10 dân số trong nội địa vẫn nghèo khổ. Sự căng thẳng xã hội là dân nghèo nội địa tràn ra những thành phố ven biển và sẽ xẩy ra vấn đề tranh chấp giữa dân nội địa và dân ven biển. Chúng tôi sẽ nói ở phần sau về trường hợp Việt Nam.
Cái lý đơn giản thông thường trong cuộc kiếm ăn nuôi thân xác
Thực vậy, lấy cái lý đơn giản thông thường hàng ngày kiếm ăn, chúng ta cũng hiểu rằng khi mà miếng đỉnh chung không được phân phối đồng đều, thì trâu buộc ghét trâu ăn, nhất là ăn hớt, ăn bất công. Khi đã bị ăn hớt rồi, mà mình than vãn, còn bị kẻ ăn trên ngồi trốc khóa miệng, đàn áp, thì sự căng thẳng muốn uấn lộn tất nhiên không thể tránh.
Ngay anh em ruột trong gia đình, cha mẹ không chia tài sản đồng đều, cũng sinh bất hòa, hận thù.
Tôi cũng có dịp xem những phim cao bồi ăn cướp ngân hàng hay xe lửa chở vàng. Khi chưa ăn cướp được, thì mọi người đoàn kết nhất trí. Nhưng họ bắt đầu phản bội nhau, bắn nhau là ở lúc chia tiền, chia vàng đã ăn cướp được.
Khi nói đến Lý tưởng trong ý niệm trừu tượng, người ta có thể đối thoại, nhân nhượng, chín bỏ làm mười. Nhưng khi nói đến tiền bạc, phương tiện nuôi thân xác, thì không có đối thoại nhân nhượng mà phải CÔNG BẰNG dứt khoát. Khi nói về Tự do, thì có thể gia giảm ít nhiều, nhưng khi nói về chia phần phương tiện sống cụ thể, thì phải phân minh dứt khoát.
Vì vậy, những căng thẳng xã hội chính yếu phát sinh từ những phấn phối không CÔNG BẰNG về phương tiện sinh sống nuôi thân xác. Đây là điểm trọng yếu mà mọi chế độ chính trị phải chú tâm giải quyết. Hãy lấy hai tỉ dụ: chế độ công hữu của Cộng sản và chế độ tư hữu của Tư bản. Điểm chung của hai chế độ là tìm cách phân phối kinh tế cho đồng đều.
Chế độ công hữu Cộng sản chủ trương truất hữu, thâu tóm quyền sở hữu về Nhà Nước mà đảng Cộng sản là duy nhất chỉ huy Nhà Nước. Đảng chỉ huy mọi người làm Kinh tế và chính đảng giữ toàn quyền phân phối đồng đều những thu nhập từ Kinh tế. Đây là chủ trương học được theo đúng khuôn khổ tổ chức làm ăn và phân phối phương tiện sống giống một dòng tu Công giáo thời Trung Cổ Aâu châu. Nhưng chủ trương này đã gặp những thất bại mà những lý do như sau:
=> Sự khác biệt khả năng trí tuệ và thể xác giữa những cá nhân làm kinh tế trong hệ thống chỉ huy bởi Nhà Nước. Những khác biệt không thể tránh được này khiến hiệu quả kinh tế khác nhau. Vì vậy việc phân phối đồng đều hiệu quả kinh tế khiến cho những cá nhân: (i) một là cảm thấy một sự bất công; (ii) hai là làm cho những cá nhân có khả năng hơn bị thiếu những kích thích khi làm việc. Kết quả của chủ trương này đưa đến tình trạng kém năng suất.
=> Những người nắm quyền lực chính trị độc đoán lại là những người làm chủ những tài sản. Khi có quyền và ngồi bên cạnh đống vàng, thì nẩy sinh lòng ham dành tài sản cho riêng mình, hay cho gia đình mình, cho những người thân thuộc mình hơn, nghĩa là việc phân phối không đồng đều nữa.
=> Những dòng tu Công giáo thời Trung Cổ có thể thực hiện được chủ trương này vì họ có lòng tin Tôn Giáo, tin vào một Đấng có thể thưởng phạt họ khi họ bất công. Trong khi ấy đảng Cộng sản không có lòng tin Tôn giáo để thưởng phát, mà còn chủ trương Duy vật chủ nghĩa, nên không thể thực hiện được việc cộng chung tài sản.
Đối với chế độ tư hữu của Tư bản, Chính quyền cũng phải lo lắng giải quyết vấn đề phân phối Kinh tế cho tương đối đồng đều để tránh cách biệt quá xa giữa giầu nghèo, nghĩa là tránh căng thẳng xã hội có thể đi đến lật đổ quyền lực chính trị. Chế độ tư hữu Tư bản nhằm những điểm sau đây:
=> Để cho những cá nhân tự do sinh hoạt kinh tế. Mỗi người có tự do xử dụng khả năng trí tuệ và thân xác của mình để làm ăn, gặt hái những hiệu năng tối đa. Chính vì vậy mà năng suất kinh tế của chế độ này cao hơn. Tuy nhiên, sự chênh lệch khả năng trí tuệ và thân xác khiến cho có sự chênh lệch về hiệu quả kinh tế gặt hái được của mỗi cá nhân.
=> Sự chênh lệc quá xa trong chế độ này giữa giầu và nghèo có thể đưa đến căng thẳng xã hội. Vì vậy chế độ tìm cách giảm đi sự chênh lệch bằng cách Tái phân phối Thu nhập (Redistribution des Revenus). Đó là lấy Thuê nặng nơi những cá nhân có thu nhập cao để xử dụng những thuế thu được ấy làm những công trình xã hội cho quần chúng có thu nhập thấp, trợ giúp xã hội cho những người nghèo. Nhiều chính quyền còn khuyến khích những tư nhân có thu nhập cao trực tiếp làm những việc xã hội.
Tình trạng căng thẳng xã hội tại Việt Nam
Trong hai phần trên, chúng tôi nói đến tình trạng tăng vọt vật giá hiện nay tại những quốc gia bắt đầu phát triển và những lo lắng của các chính quyền hiện hành về việc tăng vọt vật giá này, lo lắng việc giảm khả năng tiêu thụ khiến nẩy sinh căng thẳng xã hội khả dĩ lật đổ chính quyền; chúng tôi cũng đề cập đến nguyên tắc phải phân phối đồng đều hiệu quả kinh tế để tránh hố quá sâu giữa giầu nghèo, yếu tố cụ thể làm phát sinh căng thẳng xã hội.
Phần này nói cụ thể đến Việt Nam hiện nay với ba câu hỏi: (i) vật giá ở Việt Nam tăng như thế nào ? (ii) Việc phân phối độ phát triển kinh tế có đồng đều hay không ? (iii) Hố cách biệt giầu nghèo sẽ mang đến căng thẳng xã hội ra sao ?
(i) vật giá ở Việt Nam tăng như thế nào ?
Trước Tết: (Việt Báo Thứ Ba, 1/29/2008, 12:02:00 AM)
“Từ các siêu thị cho tới các chợ khắp nứơc Việt Nam đều đang gặp nỗi lo lạm phát. Tính riêng trong tháng 12-2007 vừa qua, lạm phát đã lên tới 12.6%, thúc đẩy bởi tình hình tăng giá lương thực, xăng dầu và vật liệu xây dựng. Đây là mức lạm phát cao nhất trong một thập niên qua ở Việt Nam, và cao hơn cả mức trung bình lạm phát ở các nứơc Châu Á đang phát triển khác.
Tại các chợ, giá các loại thịt đã tăng 10-20% so với tháng trước, giá thủy hải sản cũng tăng gần 10%, dầu ăn tăng khoảng 5%. Giá các mặt hàng rau, củ, quả và các mặt hàng đồ khô như măng, miến, nấm hương cũng tăng đáng kể.
So với hai tuần trước, giá các loại rượu, bia đã cao hơn khoảng 20,000-40,000đồng/thùng và tiếp tục tăng theo từng ngày, do giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh. Giá bán mặt hàng này tại các siêu thị cũng có sự chênh lệch khá lớn, điển hình là một thùng bia Hà Nội tại siêu thị FiviMart được bán với giá là 20,600 đồng, tại Intimex là 187,200 đồng và tại đại lý là 165,000 đồng.
Bốn doanh nghiệp lớn của Hà Nội đã dự trữ khoảng 1,000 tấn thịt heo, gà và giò, hơn 410 tấn nem, 22 tấn dầu ăn và gần 2 tấn trứng gà. Các doanh nghiệp Sài Gòn cũng đã được thành phố hỗ trợ 400 tỷ đồng để dự trữ hàng hóa thực phẩm thiết yếu.
Dự báo giá cả các mặt hàng sẽ tiếp tục tăng nhanh cho đến ngày 30 Tết (ngày 6 tháng 2) và dừng lại ở mức cao trong những ngày sau Tết. Đặc biệt, các mặt hàng hoa tươi, thực phẩm tươi sống, gạo, đỗ, chè và rau quả sẽ tăng giá mạnh vào dịp này.
Sau Tết: (Hà Nội 11-2 (TH)
“Mùng 5 Tết, các chợ đã họp khá đông. Mặt hàng nào cũng có, từ thịt, cá, rau quả đến hải sản nhưng các bà nội trợ sững sờ bởi thực phẩm nào cũng tăng giá gấp 3-4 lần so với ngày thường.” Báo điện tử Vietnamnet ngày Thứ Hai 11 tháng 2, 2008 viết.
“Sợ quá. Rau đắt hơn cả thịt cá. Loại rau nào cũng tăng gấp 3-4 lần so với trước Tết. Một mớ rau cải cúc giá 2,000 đồng, ngải cứu 3,000 đồng, cải xoong 5,000 đồng, rau cần 10,000 đồng. Bắp cải 10,000 đồng/kg... Không mua nhanh không chắc đã còn mà mua'' - chị Mai Hằng ở khu tập thể Kim Liên than vãn.
Theo báo Vietnamnet, “Tại chợ Thành Công, mặt hàng nào cũng có nhưng giá lên rất cao. Chị Thanh, ở B5 Thành Công, khi mua đậu phụ về ăn lẩu tưởng mình nghe nhầm, khi được chị bán hàng báo giá 2,000 đồng/bìa. Chị bán hàng cho biết, chị lấy vào đắt thì đành bán đắt. Cả thùng đậu, chị bán chỉ còn vài bìa, không mua nhanh là hết. Chị Thanh lo rằng từ nay đến Rằm Tháng Giêng, giá cả chắc còn lên nữa.”
Tờ báo đưa ra một cuộc khảo sát để độc giả hình dung ra vật giá gia tăng thế nào:
“Theo khảo sát của PV VietNamNet, sau Tết thịt, cá tăng giá gấp rưỡi, gấp đôi trước Tết, rau xanh tăng gấp 3-4 lần. Trước Tết, xương ống có giá 40,000 đồng/kg, nay lên 60,000 đồng/kg, xương sườn tăng từ 60,000 đồng/kg lên 90,000 đồng/kg; ngao biển tăng thêm 5,000-10,000 đồng/cân, cá chắm ngày thường 30,000-35,000 đồng/kg nay cũng lên tới 65,000-70.000 đồng/kg, gà ta mổ sẵn trước Tết 80,000 đồng/kg nay là 110,000-120,000đồng/kg, tôm sú loại vừa lên tới 170,000-180,000 đồng/kg.
Không chỉ giá thực phẩm mà bất cứ dịch vụ nào cũng tăng giá. Theo quy định của UBND thành phố Hà Nội, giá giữ xe đạp là 1,000 đồng/xe, xe máy 2,000 đồng/xe (ban ngày) nhưng tại nhiều khu vui chơi giải trí cũng như các điểm giữ xe ở các khu đình, chùa, ngay từ đêm 30 Tết đều đã bán vé với giá ‘cắt cổ’. Giá thấp nhất cũng phải 5,000 đồng/xe máy, thậm chí lên tới 15,000-20,000 đồng/xe. Tuy nhiên, do nhu cầu du xuân nên nhiều gia đình chấp nhận bị ‘móc túi’.
Tác giả Alain FAUJAS đã viết cái lý do thứ nhất của việc vật giá tăng trong một hệ thống Kinh tế mà Nhà Nước can thiệp :“Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois et vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit à plein fouet des prix arbitraires.“ (Le Monde 30.10.2007) ( Khi mà sự lấn quyền chính trị (những đảng cộng sản Trung quốc và Việt Nam) bành trướng sang Thương mại, Tài chánh và Kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng thừng những giá cả độc đoán).
Lý do thứ hai là đồng tiền Việt Nam mất giá do lạm phát tiền tệ. Tác giả Florin AFTALION trong phần đầu của bài này, đã lấy tỉ dụ thời lạm phát tiền tệ Cách Mạng Pháp. Chúng tôi cũng đã viết một bài riêng về lạm phát tiền tệ do Nhà Nước. Viết về lý do này, Oâng VŨ QUANG VIỆT đã viết trong một bài đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :
“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Nếu như nhà nước phát hành trái phiếu và bán cho dân để mượn tiền tiêu thì không có vấn đề. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“
(ii) Việc phân phối độ phát triển kinh tế có đồng đều hay không ?
Nhà Nước Việt Nam từng huênh hoang độ tăng trưởng Kinh tế là 8.5%. Nhưng điều quan trọng là việc phân phối độ tăng này có đồng đều hay không, nghĩa là 85 triệu dân chúng Việt Nam có được hưởng tương đối độ tăng này hay không, hay chỉ một thiểu số người được hưởng.
=> Trước hết Nông dân chiếm 70% dân số rất ít được hưởng độ tăng trưởng này vì số đầu tư vảo nông thôn rất ít ỏi. Ông NGUYỄN QUỐC CƯỜNG, chủ tịch Hội Nông dân VN, cho biết:
“Đại bộ phận dân cư vẫn ở khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp nhất. Bên cạnh đó, giá cả cứ "leo thang" chóng mặt. Dù đến cuối năm nay chỉ số tăng giá tiêu dùng dừng ở mức 8%, nhưng so với mức tăng trưởng thấp ở khu vực nông thôn mới thấy đời sống nông dân cực kỳ khó khăn.
Chúng tôi đề nghị Nhà nước tăng đầu tư cho khu vực nông thôn. Cụ thể là tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông nông thôn và thủy lợi. Nếu hai khoản này được Nhà nước đầu tư tốt thì có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển. Kinh tế - xã hội phát triển tức là điều kiện sản xuất phát triển thì đời sống nông dân mới hi vọng được cải thiện. Ngoài ra Nhà nước cũng phải hết sức tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ tư vấn, hướng dẫn cho nông dân, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, dịch vụ vay vốn, tín chấp với ngân hàng để nông dân được vay vốn sản xuất.“
=> Sau đó, độ tăng trưởng 8.5% mà 8 triệu Công Nhân đã đóng góp sản xuất trong các ngành công nghệ, nhưng lương Công Nhân tăng lên rất ít hàng năm, nghĩa là độ tăng 8.5% này được phân phối cho công nhân rất ít ỏi. Trong một bài viết gần đây, Tiến sĩ ÂU DƯƠNG THỆ đã nói về việc Công Nhân đình công đòi tăng lương như sau: “Thật vậy, ngay những người cầm đầu Công đoàn Lao động VN, một tổ chức của ĐCS dựng lên để kiểm soát giai cấp lao động thay vì bảo vệ quyền lợi của họ, cũng đã phải xác nhận là, trong năm 2007 đã có tới 541 cuộc đình công với sự tham gia của 350.000 công nhân, trong đó phần lớn là các cuộc đình công bộc phát, tức “bất hợp pháp”.
Nói về đời sống Công nhân, Tiến sĩ tiếp:
“Không chỉ phải chịu ngược đãi của chủ nhân trong các bữa cơm quá khắc khổ, vì đồng lương không đủ sống nên hàng trăm ngàn công nhân VN và con cái của họ phải sống chui rúc trong các nhà ổ chuột, phòng trọ của họ như các “chuồng gà”, nhưng vẫn phải thuê với giá cao. Chính báo chí của chế độ cũng đã phải nhìn nhận: Bước vào nhà trọ của công nhân (CN) Trương Thị Đan Huyền, chúng tôi thật sự bàng hoàng! Thoạt nhìn, phòng trọ giống như một dãy “chuồng gà”. Dòng kênh nước đen nhờ nhờ rác sau nhà lắm khi tràn lên ngập mắt cá chân. Mỗi phòng rộng 1,2m, dài 1,6m, đủ rộng để đặt hai cái gối nằm và đủ dài để người cao phải ngủ co chân. Quần áo được treo bên vách. Còn mọi đồ dùng cá nhân đều phải đặt lên kệ. Vách và nền phòng đều được ghép bằng loại ván ép cũ, dán giấy loang lổ.“
Tệ hại hơn nữa là Nguyễn Tấn Dũng vừa ký hai Nghị Định 11 và 12 ngày 30.01.2008 cấm đình công. Đây là những Nghị Định bóc lột sức lao động của Công Nhân.
=> Thành phần được hưởng hầu hết độ tăng trưởng Kinh tế 8.5% là một thiểu số người chừng 5%. Thành phần này gồm:
* Lớp ngoại lai đầu tư vào Việt Nam với mục đích duy nhất là khai thác Nhân Lực ở một quốc gia dưới chế độ độc đảng và độc tài. Nghi Định 11 & 12/2008 nhằm phục vụ cho lớp ngoại lai khai thác nhân lực Việt Nam. * Lớp quốc doanh thuộc đảng CSVN cũng khai thác nhân lực Việt Nam và còn được hỗ trợ cả về quyền lực đàn áp nhân công và vốn đầu tư từ ngân quỹ quốc gia * Lớp giữ quyền lực cai trị, tuy không làm Kinh tế, nhưng được chia phần vào độ tăng trưởng 8.5% qua những tham nhũng.
(iii) Hố cách biệt giầu nghèo sẽ mang đến căng thẳng xã hội ra sao ?
Lớp thiểu số 5% được hưởng hầu hết độ tăng Kinh tế 8.5% mỗi ngày mỗi tích trữ của cải giầu thêm. Đối với lớp người này việc vật giá tăng vọt, nhất là nhu yếu phẩm và đồ ăn, không có ảnh hưởng gì lên họ.
Trong khi ấy 90% dân số gồm hầu hết là Nông Dân, Công Nhân được hưởng rất ít ỏi về độ tăng Kinh tế 8.5% chắc chắn là nạn nhân của việc tăng vọt vật giá. Nếu Nông dân và Công nhân không cảm thấy sự bất công của việc phân phối không đồng đều độ tăng Kinh tế, thì việc vật giá tăng hàng ngày làm cho họ thấy mỗi ngày mỗi mất khả năng tiêu thụ (perte du pouvoir d’achat), nghĩa là mỗi ngày ra chợ mua đồ ăn là mỗi ngày họ thấy tỏ tường mình nghèo đi. Đây là cái nghèo trông thấy, sờ thấy (pauvreté tangible, touchable)
Sự căng thẳng xã hội càng tăng thêm khi mà 90% dân số nhìn thấy trước mắt những kẻ bóc lột họ đang tiêu xài tiền như nước.
Họ đọc lên những câu thơ của NGUYỄN CUNG THƯƠNG:
Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ Nên biết rõ từng tên đại ác Trên bàn tiệc máu xương dân tộc Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh! Chúng ta sẽ tỉa từng thằng Đất nước cần nhiều "quốc táng" Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này Còn có chút sáng láng hơn
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
TẾT NÓI CHUYỆN GIẦU NGHÈO Ở VIỆT NAM
- Trần Việt Trình -
Đất nước Việt Nam đang chuẩn bị đón mừng một năm mới âm lịch. Năm nào cũng vậy, cứ mỗi độ xuân về, gần Tết, các gia đình VN lại chuẩn bị tạm biệt một năm cũ và đón chào một năm mới. Với truyền thống tự ngàn đời, Tết Nguyên Đán với người VN dù ở đâu cũng có nhiều ý nghĩa lớn lao, cũng có những thiêng liêng sâu sắc, mà mọi người trân trọng, nguyện cầu cho sức khỏe, an bình, ấm no và nhiều thành công cho năm mới. Tết cũng là một dịp để con cháu nhớ đến gia đình, tổ tiên, anh em, bè bạn, gặp nhau qua rượu chè trà mứt sau một năm dài làm việc.
Vì vậy, mọi người, mọi gia đình đều háo hức đón chờ và chuẩn bị Tết rất chu đáo và công phu. Khắp cõi VN những ngày này, từ đô thị đến những vùng nông thôn hẻo lánh xa xôi, nơi nơi chuẩn bị đón Tết. Nhưng đâu phải gia đình nào cũng có thể chuẩn bị được một cái Tết vui vầy, ấm cúng! Rất nhiều gia đình không thể tự lo Tết được. Họ là những người nghèo quá đâm ra sợ Tết hay nghèo quá không dám nghĩ đến Tết!
Tôi có quen một người, anh làm nghề hớt tóc ở ngoại ô thành phố Nha Trang. Mỗi ngày anh kiếm được khoảng 70.000 đồng, vợ thì lo việc nội trợ và trông nom đứa cháu ngoại, còn hai đứa con thì đang học trung học. Tháng Chạp lại là tháng cưới hỏi giỗ quảy liên miên. Mỗi đám bỏ bì cũng cả trăm ngàn. Anh nói “Tết của tui ở tận đâu đâu … nếu cứ đứng núi này trông núi nọ. Thôi thì thu vén trong vài trăm ngàn lo vài đòn bánh tét, ít thịt heo, chút mứt, hạt dưa tiếp khách và nhang đèn cúng tổ tiên cũng được rồi. Mình còn thong thả hơn biết bao người khác”, anh buồn buồn an phận chấp nhận.
Tôi cũng có biết trường hợp một gia đình nghèo khác ở một huyện nhỏ ở Quảng Nam Đà Nẵng. Anh mất vợ, có ba con chẳng học hành nhiều vì đời sống gia đình quá khó khăn. Anh lại đau yếu luôn nên việc làm không ổn định. Mỗi ngày đạp xe bỏ nước đá kiếm được vài chục ngàn. Cái quần tây và chiếc áo sơ mi của một người bạn tặng Tết năm kia, anh vẫn mặc khi giỗ hội. Tết năm nay anh sẽ phải mặc lại.. “Tết tới bên lưng rồi ông ơi, mà nhà tôi thì trống hoác”, anh chỉ nói được chừng ấy rồi ứa nước mắt!
Mới đây báo chí trong nước có đưa tin về một gia đình “Nhà nghèo quá nên sợ… Tết”. Đó là gia đình bà Phan Thị Nga (50 tuổi) ở ấp Thị Tứ, huyện Phong Điền, Cần Thơ. Nhà của bà là của cha mẹ để lại trước khi mất. Căn nhà vốn đã nhỏ hẹp, tồi tàn và lụp xụp còn phải bị ngăn ra làm 3 gian. Mỗi gian một gia đình. Bốn mẹ con bà chen chúc với nhau trong một gian.
Căn nhà tồi tàn lụp xụp của 4 mẹ con bà Phan Thị Nga
Bà Nga bị viêm khớp nặng, hàng ngày ngồi một chỗ trước nhà bày bán nước đá và thuốc lá lẻ mong kiếm chỉ vài ngàn đồng mua gạo. Ba đứa con, 2 trai 1 gái, thì đã có 2 đứa bị bệnh. Con trai lớn của bà là Phan Văn Cường (27 tuổi) cách đây 2 tháng đi làm hồ bị bụi sắt bay vào mắt và do không có tiền chữa trị nên đã bị mù một mắt phải. Hàng ngày Cường vẫn cùng đứa em kế là Huỳnh Bá Dư (25 tuổi) lang thang khắp nơi lượm bao ni long và phế liệu để bán lấy tiền phụ mẹ nuôi sống gia đình. Cô con gái út Huỳnh Thị Trúc Mai (10 tuổi) thì bị bệnh tim bẩm sinh nên sức khỏe rất yếu. Cũng vì quá nghèo, lo từng miếng ăn còn vất vả nên bệnh tật của mẹ con bà Nga không được chữa trị đến nơi đến chốn.
Trong khi chung quanh nhiều gia đình đang sửa soạn lại nhà cửa để chuẩn bị đón Tết thì mẹ con bà Nga ngồi lặng lẽ, hiện rõ những nỗi buồn trên gương mặt. Bà Nga buồn bã tâm sự: “Từ lúc chồng mất đi, do không có tiền nên Tết đến, tôi đành đi mua thiếu người ta gạo với ít thịt ăn Tết. Đợi qua Tết, con nó đi lượm bọc kiếm tiền rồi mới trả. Năm nay chắc cũng vậy, lâm vào hoàn cảnh này rồi gia đình tôi có mong gì Tết nữa đâu”. Khi nói đến Tết giọng bà thật buồn cho biết không năm nào gia đình bà được đón một cái Tết đầy đủ, vui vẻ. Bà Nga thổ lộ, có nhiều năm đến 29, 30 Tết rồi mà trong nhà không có lấy một hạt gạo để nấu cơm. Bà phải chạy qua hàng xóm để mượn đỡ về nấu cho cả nhà ăn. Ngày Tết cũng chỉ ăn chao, tương, đậu hũ chứ cũng chẳng có thịt cá gì. Bà nói “Năm nay chắc cũng như mọi năm khác, cận Tết mà trong nhà trống không. Nhà nghèo, con cái cứ ngớ ngẩn như thế thì có ăn Tết cũng buồn lắm”.
Còn bao nhiêu người nghèo như những người tôi vừa kể rải rác trên khắp đất nước này? Đối với họ, cái Tết sẽ không còn hương vị của một ngày lễ hội mang tính văn hóa truyền thống, mà là một gánh nặng. Họ vẫn sống âm thầm khổ nhọc với cái nghèo như một thứ định mệnh.
Trớ trêu thay, bên cạnh những mảnh đời bất hạnh đó, bên cạnh những khó khăn cùng cực đó là những cuộc liên hoan xa hoa tốn kém, những bữa chè chén bạc triệu ở các nhà hàng sang trọng khi các cán bộ tiếp khách. Những cuộc rượu chè xa xỉ đua nhau nốc bia rượu cho đến ói mửa, đến say xỉn không còn biết đường về. Dọc đường phố đông đúc của Hà Nội và thành phố HCM có lắm người ăn bận quần áo đắt tiền, lái những chiếc xe hơi sang trọng nhất thế giới, và hàng ngày dùng những bữa tiệc no say tại những khách sạn huy hoàng tráng lệ.
Thời gian gần đây chuyện đại gia ở VN tậu xe hơi “siêu sang” là những chuyện mà độc giả dễ dàng tìm thấy trên báo chí, trên internet ở ngoài nước cũng như ở ngay trong nước. Với khả năng tài chính vô hạn các đại gia ồ ạt nhập siêu xe về cho mình, toàn là loại có một không hai trong nước, loại hàng “độc” thật đắt giá, cho bằng được, bất kể giá cả là bao nhiêu. Theo quy định hiện hành tại VN, xe mới nhập khẩu phải chịu 3 loại thuế, gồm thuế nhập khẩu 70%, thuế tiêu thụ đặc biệt 50% và VAT 10%. Tổng cộng các loại, giá chiếc Rolls-Royce Phantom khi tới tay người sử dụng trong nước lên đến con số 1 triệu USD. Ấy vậy mà hiện nay ở VN danh sách xe “siêu sang” có đến mười mấy chiếc Rolls Royce và trên 20 chiếc Bentley. Thậm chí có đại gia đã bắt đầu sắm máy bay riêng cho mình.
Hình những chiếc xe siêu hạng
Chiếc Rolls-Royce Phantom 1 triệu USD của đại gia Khải Silk trong làng tơ lụa và các sản phẩm thời trang
Chiếc Rolls-Royce Phantom đắt nhất Việt Nam của đại gia bất động sản Dương Thị Bạch Diệp mang bản số 77L-7777
Chiếc Bentley Continental Flying Spur màu đỏ của bà chủ hãng mỹ phẩm Shiseido VN Lê Hoài Anh thuộc hàng “độc” lần đầu tiên có tại VN.
Hình ảnh tương phản của giàu nghèo: Chiếc Bentley Continental Flying Spur len lỏi qua khu lao động chen chúc với dân buôn gánh bán bưng
Vừa rồi trang báo điện tử VietnamNet ở VN đưa tin con của một cán bộ cao cấp sắm một xe hơi trị giá 1 triệu 500 ngàn Mỹ kim dù trong tay đã có đến 5 chiếc cùng một loại.
Trước hàng loạt tin tức về việc các đại gia ồ ạt nhập siêu xe về cho mình, nay đến lượt giới văn nghệ sĩ “thể hiện đẳng cấp sống”. Tuần rồi, ca sĩ “Đờm” Vĩnh Hưng đã “gây sốc” khi bỏ tiền ra tậu 1 căn apartment sang trọng ở khu Sunrise City, khu đô thị mới Him Lam Tân Hưng, có giá lên đến 5 triệu Mỹ kim. Đây là một trong những căn Penthouse lớn và sang trọng bậc nhất VN.
Cao cấp hơn thì lên tới các vị lãnh đạo nhà nước. Không cần phải nhìn đâu xa, cái nhà thờ gia tộc ở Kiên Giang của đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đáng giá hàng chục tỷ. Nếu chỉ căn cứ vào mức lương theo qui định của nhà nước thì hàng tháng ông chỉ nhận được chừng 5, 4 triệu đồng. Nếu có tính thêm tiền phụ cấp, tiền ăn trưa ở cơ quan nữa thì cũng chỉ chừng 6 triệu đồng mà thôi. Vậy thì cái nhà thờ họ của ông, khối tài sản kếch xù của ông ngày nay, con cái ông du học bên Mỹ tiền ở đâu ra? Ông là người được Đảng giao cho làm trưởng ban chỉ đạo chống tham nhũng TW mà vậy, các ông “quan” khác thì sao!?
Nhưng thôi, mặc ai nghèo thì cứ nghèo, ai kiếm được thì cứ cố mà kiếm, kiếm được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Ai biết được ngày mai sẽ ra sao phải không mấy “quan”!?
Chủ nghĩa Cộng Sản được phát triển mạnh nhờ chiêu bài “xóa bỏ giai cấp” để đưa đến thế giới đại đồng, nhưng thực tế hôm nay cho thấy hoàn toàn ngược lại. Không những không “xóa” mà còn “thêm” để cho sự cách biệt giai cấp tồi tệ hơn: giai cấp của tham quan thì giàu nứt vách còn giai cấp của nhân dân thì nghèo mạt rệp. Ở VN ngày nay người nghèo thì quá nhiều và người giàu cũng không ít. Người nghèo thì nghèo đến khốn cùng còn người giàu thì giàu đến mức không thể tưởng tượng nỗi. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn. “Thiên đường XHCN” là đây! Địa ngục XHCN cũng là đây! Cả Thiên đường và Địa ngục đều hội tụ và đang hiện hữu trên đất nước VN. Thiên đường và Địa ngục đó dễ dàng bắt gặp nhiều nơi trên đất nước, ngày càng rõ rệt.
Trần Việt Trình 9 tháng 2, 2010 (26 tháng Chạp Âm lịch năm Kỷ Sửu)
DÂN BỨC XÚC VỀ NHỮNG VỤ THAM NHŨNG NHỎ
“Dân bức xúc chủ yếu với các vụ tham nhũng nhỏ”
Tại cuộc họp triển khai công việc năm mới, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương, ông Vũ Tiến Chiến, dẫn ra một số vụ tham nhũng quy mô nhỏ, như trưởng thôn biển thủ 80kg ngô giống, người khác tư túi 90 triệu đồng tiền công đức... Ông đi tới kết luận: “Dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ. Chủ yếu là quan hệ của cán bộ với dân”.
Mới nghe qua phát biểu này thì người ta có thể nghĩ, như vậy nước ta cũng ít vụ tham nhũng lớn, không có nhiều vụ nghiêm trọng tới mức dân phải bức xúc. Tuy nhiên, nghĩ kỹ thì có thể thấy điều bất ổn: Tại sao người dân lại không bức xúc với các vụ tham nhũng quy mô lớn?
Tất nhiên, dân chúng sẽ bất bình với những trường hợp “ăn nhỏ”, “ăn vặt” mà họ chứng kiến hàng ngày ở nơi họ ở, hay tại cơ quan họ làm việc, tại công sở mà họ bị “hành”. Nhưng như thế không có nghĩa là họ bỏ qua những vụ tham nhũng lớn tầm quốc gia, ảnh hưởng đến lợi ích chung của đất nước, thậm chí đến quốc thể, đến các thế hệ tương lai. Nói cho đúng là, do nhiều khi thông tin “nhạy cảm” bị giữ kín, người dân không được biết tới nội tình các vụ tham nhũng quy mô lớn.
Nếu tham nhũng nhỏ có thể chỉ là một hành vi sai phạm, thì tham nhũng lớn phải bị coi là tội ác cần tiêu diệt. Nếu “dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ”, thì chứng tỏ họ không được biết tới các vụ việc lớn, và sự minh bạch thông tin của xã hội chúng ta “có vấn đề”. Quan chức nên lấy thực tế đó làm điều lo ngại.
| | | |
NGƯỜI NGHÈO: NẠN NHÂN BẤT ĐẮC DĨ CỦA HÀNG ĐỘC TQ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 26.11.2009
Đối với những hàng độc hại Trung quốc, những nước giầu đã có những Biện pháp ngăn chặn. Trong Mậu dịch Quốc tế, mặc dầu đối với những Quốc gia đã gia nhập WTO, những nước muốn ngăn chặn có thể dùng những Biện pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để chế tài. Biện pháp Vệ sinh được nại ra để kiểm sóat những đồ ăn, đồ chơi cho trẻ em và những hàng may mặc nguy hại cho thân thể. Những Biện pháp kiểm sóat ngăn chặn này đang được thi hành ở Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu cũng như tại một số nước giầu Á châu.
Đồng tiền đi trước, hàng độc đến sau tại những nước nghèo Á châu và Phi châu
Đối với những nước nghèo Á châu, nhất là Phi châu, không phải là những Chính quyền không biết đến phân biệt hàng độc hại và những hàng khác của Trung Cộng. Nhưng Chính quyền những nước này dễ bị đồng tiền hối lộ đi trước để làm ngơ việc nhập nội những hàng độc hại từ Trung quốc. Không phải chỉ nguyên những lọai hàng đề cập đến trên đây, mà ngay cả những dược phẩm trực tiếp làm hại sức khỏe cũng được làm ngơ cho nhập vào. Nhận tiền hối lộ, cho nhập hàng độc vào, dân nghèo xử dụng và bệnh tật thì ráng chịu. Thực vậy, những người ăn hối lộ, có tiền mua dùng những hàng khác.
Lấy một tỉ dụ được đăng trên báo Le Nouvel Observateur: “Nhân vật trọng tâm của mạng lưới mà Jean Luc phát hiện, tên Wajee Abu Odeh, một người Jordanie, đến ở Trung Quốc, chính xác hơn là ở Thẩm Quyến. Ở Cận Đông, mạng lưới của nhân vật này cung cấp thuốc giả cho từ Jordanie, Ai Cập đến Syrie v.v...Tại Ai Cập chẳng hạn, họ cung cấp đến 50 % thuốc chữa trị ung thư. Không kể các loại thuốc giả chết người này tràn lan ở những khu vực ngoại ô nghèo, những vùng nông thôn, mà qua nhiều môi giới, nó cũng đã đến một số nhà thuốc tây, hay bệnh viện có uy tín ở thủ đô.“
Tại Việt Nam, Hàng độc lan tràn, CSVN sợ Tầu và không có biện pháp
Những chuyên viên Kinh tế, Thương mại đã báo động về việc lan tràn hàng độc và phế thải từ Trung quốc. Nhưng Nhà Nước, không phải chỉ nguyên “Đồng tiền đi trước, hàng độc theo sau”, mà còn vì lệ thuộc Chính trị để cố thủ giữ quyền hành, đã không có những Biện pháp ngăn chặn nào. Dân chết, miễn là đảng ăn hối lộ có tiền, mua hàng tốt để dùng là được rồi.
Lê Khả Phiêu biết rõ ngay cả rau cỏ cũng mang chất độc hại, nên đã bỏ tiền 25’000 đô-la để làm khu vườn riêng trồng rau ăn tránh chất độc. Khu vườn này được chính Lê Khả Phiêu giới thiệu cho báo chí đến thăm nhà của mình.
Dân nghèo: nạn nhân bất đắc dĩ
Không phải là người nghèo không biết phân biệt hàng độc hại và hàng tốt, không độc hại, nhưng cái khó bó cái khôn. Điều đau đớn là họ ý thức đó là hàng độc hại mà vẫn phải dùng. Tôi xin kể ra hai tỉ dụ:
Tỉ dụ 1: Có Việt kiều về Việt Nam, đi ăn ở hàng quán và kể rằng họ rất ngượng ngùng khi thấy người ăn mày ngồi chờ họ vất cục xương xuống đất để nhặt lấy gặm hoặc chờ xin bát nước cặn còn thừa để húp. Người ăn mày đó đói quá, đành phải làm vậy, chứ không phải là không biết.
Tỉ dụ 2: Sau năm Bức tường Bá Linh sụp đổ, tôi sang Mạc Tư Khoa. Một thương gia Nga muốn nhờ tôi môi giới để mua những đồ hộp đã hết hạn cho rẻ. Tôi nói rằng khi hết hạn, đồ hộp có thể độc hại. Oâng trả lời tôi liền: “Oâng không biết dạ dầy Cộng sản hay sao. Nếu có đau bụng, chỉ cần một ly Vodka là xong !”
Dân nghèo Phi châu cũng như Á châu ý thức về sự độc hại của hàng Trung quốc. Những Phong trào kêu gọi bài trừ hàng Trung quốc. Nhưng vì nghèo quá, không có tiền, đành nhắm mắt xử dụng hàng độc từ Trung quốc bán rẻ mạt. Khi dạ dầy rỗng, thì đồ ăn có thiếu vệ sinh, vẫn phải ăn cho đỡ đói.
Cuộc Họp tại Copenhague bàn về khí độc mang hậu quả tàn phá thiên nhiên. Tại sao không nói đến hàng độc hại Trung quốc đang tràn lan để phá họai chính sức khỏe của thân xác con người ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
THỰC HÀNH LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 16.11.2009
PARIS, ngày 16.11.2009 (PTTPGQT) - Thượng tọa Thích Thanh Quang, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên, Viện Hoá Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cùng Huynh trưởng Lê Công Cầu, Vụ trưởng Gia Đình Phật tử Vụ đã ký tên chung bản Tuyên Cáo kêu gọi thực hành Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Hoá Trung Quốc của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống kiêm Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Bản Tuyên cáo được gửi đến các Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử các cấp trong và ngoài nước, đồng thời gửi đến anh chị em Thanh niên, Sinh viên và Học sinh Việt Nam.
Là những người sống trong nước, chịu sức ép nghìn cân từ nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội đến sức ép xâm lăng của Bắc Kinh, nên những nguy cơ trên các lĩnh vực quốc phòng, văn hoá, giáo dục, xã hội, kinh tế được phân tích cặn kẽ. Đọc xong không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước hai nạn Nội xâm và Ngoại xâm đang hoành hành nước Việt.
Xin mời quý bạn đọc tham cứu toàn văn Tuyên cáo ký ngày 12.11.2009 sau đây:
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN HOÁ ĐẠO TỔNG VỤ THANH NIÊN GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỤ VP: Chùa Giác Minh - K356/42 Đường Hoàng Diệu - Thành Phố Đà Nẵng —Φ—
TUYÊN CÁO TỔNG VỤ TRƯỞNG TỔNG VỤ THANH NIÊN VHĐ/GHPGVNTN & VỤ TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỤ GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM
KÍNH GỞI: - Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Các Cấp - Anh Chị Em Huynh Trưởng Các Cấp Quốc Nội và Hải Ngoại
ĐỒNG KÍNH GỞI: Anh Chị Em Thanh Niên, Sinh Viên và Học Sinh Phật Tử Việt Nam.
TRÍCH YẾU: THỰC HÀNH LỜI KÊU GỌI CỦA HÒA THƯỢNG XỬ LÝ THƯỜNG VỤ VIỆN TĂNG THỐNG KIÊM VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO - GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT :“ KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC”
I/.NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT:
- Năm 1958, Ông Phạm Văn Đồng thay mặt Đảng Cộng Sản Việt Nam, ký công hàm bán nước, thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng. Công hàm nầy đã tạo điều kiện cho Trung Cộng xâm lăng lâu dài Tổ Quốc Việt Nam.
- Đến nay với sự đồng lõa và tiếp tay của các thế hệ Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam , việc xâm lăng toàn diện của Trung Cộng đã diễn ra khốc liệt trên mọi mặt trận của Dân Tộc:
1/. Mặt trận chính trị: Sau khi thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, Đảng Cộng Sản Việt Nam trở lại thần phục Đảng Cộng Sản Trung Quốc, xem Trung Cộng như là một cái phao cứu sinh. Tất cả mô hình chính trị của Viêt Nam hoàn toàn rập khuôn theo mẫu Trung quốc. Mô hình chính trị ấy đã áp đặt lên Dân Tộc Việt Nam một chế độ độc tài toàn trị, người dân đã bị tước đoạt hoàn toàn mọi quyền tự do.
2/. Mặt trận quốc phòng: Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tước đoạt nền quốc phòng toàn dân, biến Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thành một đội quân riêng của Đảng. Dướí danh nghĩa “ trung với Đảng, hiếu với Dân”, nhưng thật sự quân đội chỉ “trung với Đảng”, lo bảo vệ Đảng mà thôi. Đảng dâng đất, dâng biển, dâng các cứ điểm trọng yếu cho Trung Cộng, quân đội vẫn im lặng, không hề có một phản ứng tích cực nào để bảo vệ Tổ Quốc. Còn tinh thần “hiếu với dân” thì đã bị Đảng xóa sổ. Theo lệnh Đảng, quân đội đã án binh bất động, để mặc cho lính Trung Cộng bắn giết, bắt người, cướp tài sản, đòi tiền chuộc ngay trên hải phận của Tổ Quốc mà quân đội đang có trách nhiệm trấn giữ.
3/. Mặt trận văn hóa: Thể hiện sự nô lệ Bắc Kinh bằng văn hóa, Đảng Cộng Sản nghiêm cấm tất cả sách báo, truyền thanh, truyền hình Việt Nam không được xúc phạm đến Trung Cộng. Ngược lại Đảng đã cho phép các nhà xuất bản, các nhà sách của Việt Nam đua nhau trích dịch, in ấn, phổ biến các tác phẩm ca ngợi Trung Cộng mà điển hình nhất là quyển sách “Ma Chiến Hữu” của Mạc Ngôn đề cao người lính Trung Cộng đã cướp đất, tàn phá làng mạc, giết hại hơn 50 ngàn quân dân cán chính Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Một trang web của bộ Công Thương đã mặc nhiên để cho Trung Cộng điều hành, tuyên truyền chủ nghĩa bành trướng bá quyền Bắc Kinh. Gần đây nhất là tờ báo điện tử của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc khi mô tả cuộc diễn tập trên biển đảo Hoàng Sa là cuộc diễn tập bảo vệ biên cương Tổ Quốc của Trung Cộng. Cho dù Đảng đã phạt Tổng Biên Tập của tờ báo 30 triệu đồng nhưng không thể cứu vãn danh dự của Đảng trước bản án khôi hài cho kẻ bán nước.
4/. Mặt trận giáo dục: Với chủ trương Hồng hơn Chuyên, nền giáo dục Cộng Sản cốt cho con người thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lê Nin, trong đó hận thù và đấu tranh giai cấp là chủ đạo. Tuy nhiên đối với đàn anh Phương Bắc, Đảng chủ trương không những xóa bỏ hận thù mà còn phải biết ơn, phải tôn trọng, vì thế ngoài việc cho phát hành sách vở, báo chí đề cao Trung Quốc, Đảng đã cho các đài truyền hình từ trung ương cho đến địa phương đua nhau quảng bá phim ảnh Trung Cộng, nhất là các phim lịch sử. Qua các phim nầy, những nhân vật, những triều đại Trung Quốc đã từng xâm lược Việt Nam, gây chết chóc điêu linh cho dân tộc, tang thương cho đất nước đều trở thành các vị anh hùng, nhân từ, đức độ. Ngược lại Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam không hề đầu tư vào những phim ảnh lịch sử để nêu cao những tấm gương anh hùng dân tộc, những cuộc kháng chiến oai hùng giành lại đất nước từ tay kẻ thù. Đây là một chính sách nhồi sọ thanh thiếu nhi Việt Nam nhằm tước đoạt tinh thần tự hào dân tộc của tuổi trẻ, đưa tuổi trẻ đi vào con đường thần phục Bắc Phương.
5/. Mặt trận xã hội: Đảng Cộng Sản đã dành toàn quyền cho người Trung Quốc vào Việt Nam không cần hộ chiếu, người Trung Quốc đã lợi dụng tình thế, lũng đoạn nhiều danh nghiệp, nhiều tổ chức kinh tế nhằm quấy rối xã hội Việt Nam. Đảng Cộng Sản lại tạo điều kiện cho các nhà thầu Trung Quốc thắng thầu hầu hết mọi công trình quan trọng của đất nước, rước Trung Quốc vào khai thác bô xít Tây Nguyên bất chấp sự phản đối của toàn dân. Trung Cộng đã đưa hàng vạn công nhân Trung Quốc vào các công trình quan trọng nầy, tạo tiền đề cho những xóm làng Trung Quốc mọc lên. Khi không có chiến tranh, các xóm làng nầy sẽ phát triển theo kế hoạch vết dầu loan để Hán hóa dần dần người Việt. Khi chiến tranh xẩy ra, hàng ngũ công nhân nầy là đội quân tiên phong của Trung Cộng, các xóm làng của họ trở thành những pháo đài án ngữ trên các trọng điểm của Tổ Quốc, xã hội Việt Nam sẽ biến thành xã hội nô lệ vô phương cứu vãn
6/. Mặt trận kinh tế: Đây là mặt trận khốc liệt nhất, diễn ra dưới 3 mũi giáp công của Trung Cộng, với sự đồng lõa của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhanh chóng đưa Dân Tộc Việt Nam vào vòng Hán hóa.
a/.Mũi thứ nhất là đánh vào ngư dân: - Trước hết, Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa sau đó ngang ngược vạch bản đồ hình lưỡi bò để liếm hầu hết toàn bộ lãnh hải Việt Nam trên biển đông. - Sau khi chiếm hết lãnh hải Việt Nam, Trung Cộng ngang nhiên bắn giết, bắt bớ, cướp bóc, giam giữ ngư dân để đòi tiền chuộc. Ngay cả khi ngư dân chạy nạn, tránh cơn bão số 9 vừa qua chúng cũng thẳng thừng bắn giết, cướp bóc như một bọn hải tặc. - Trung Cộng lại ngang ngược ra lệnh cấm đánh bắt cá nam trong 3 tháng vụ mùa, để cướp tài nguyên trên biển. Ngư dân không còn biển để làm ăn đành neo tàu chịu đói.
b/. Mũi thứ nhì là đánh vào nông dân: - Với chủ trương, đất đai do nhà nước quản lý, Đảng đã thẳng tay thu hồi ruộng vườn nhà cửa của nông dân để phục vụ các tập đoàn, các doanh nghiệp tư bản, gây nên cảnh dân oan khiếu kiện khắp mọi miền đất nước. - Với chủ trương lớn của Đảng, bất chấp sự phản đối của toàn dân, Đảng đã rước Trung Quốc vào khai thác bô-xít Tây Nguyên, khai thác khoáng sản bừa bãi tại các địa phương, môi trường sẽ bị tàn phá, người nông dân địa phương sẽ lâm vào cảnh khốn cùng.
c/. Mũi thứ ba là đánh vào công nhân: - Trước tình trạng tụt hậu, đói nghèo của đất nước, người công nhân Việt Nam buộc phải chấp nhận đồng lương rẽ mạt để nuôi sống bản thân, nhưng vẫn thường xuyên bị giới chủ bóc lột, hành hạ. Bao nhiêu cuộc đình công đã diễn ra nhưng cuối cùng thiệt thòi vẫn do người công nhân gánh chịu vì nhà nước luôn đứng về phía chủ đầu tư. - Hàng hóa giá rẻ của Trung Cộng tràn ngập thị trường, đánh sập các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất của Việt Nam, tình trạng người công nhân đã bị bóc lột nay càng thêm khốn đốn. Nền kính tế quốc dân vốn đã yếu kém nay đã đứng trên bờ phá sản vì hàng giá rẻ của Trung Cộng đang khống chế thị trường. II/. THÁI ĐỘ CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT:
Đối diện với tình trạng luân hiểm của Dân Tộc Việt Nam nêu trên, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ, người lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thông Nhất - Giáo Hội truyền thừa của Lịch Đại Tổ Sư - đã thốt lên rằng:
“Người dân Việt không có các tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, cũng không có chính quyền hay quân đội để trực tiếp và mạnh mẽ phản chống nạn xâm lăng quân sự, xâm lăng tư tưởng và xâm lăng kinh tế. Vũ khí của người dân bị trị ngày nay là THÁI ĐỘ. Chúng ta cần biểu tỏ qua THÁI ĐỘ để chống hai quốc nạn Nội xâm và Ngoại xâm ”
- Với quan điểm ấy, đứng trước chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân quyền, phủ nhận tự do dân chủ của Đảng Cộng Sản Việt Nam, suốt 34 năm qua Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, không ngừng bày tỏ thái độ bằng các văn kiện lịch sử để đòi hỏi Đảng Cộng Sản phải thực thi một nền độc lập, tự do và dân chủ thật sự cho Dân Tộc Việt Nam.
- Với quan điểm ấy, đứng trước hành động bá quyền của Trung Cộng đã ngang ngược lấn chiếm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như đất đai biên giới, GHPGVNTN đã bày tỏ thái độ bằng Tuyên Cáo Của Hội Đồng Lưỡng Viện do Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ-Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN thừa ủy nhiệm Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ấn ký ngày 27.12.2007 lên án Trung Cộng xâm lược và lên án Việt Cộng bán nước.
- Với quan điểm ấy, đứng trước chủ trương lớn của Đảng, rước Trung Cộng vào khai thác bô xít Tây Nguyên, tạo điều kiện cho đội quân Trung Cộng án ngữ nơi yết hầu của Tổ Quốc và hủy diệt màu xanh Tây Nguyên, gieo thảm họa quốc phòng và môi sinh cho Dân Tộc. Hòa Thượng Thích Quảng Độ - Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã ban hành LỜI KÊU GỌI THÁNG NĂM BẤT TUÂN DÂN SỰ VÀ BIỂU TÌNH TẠI GIA bày tỏ thái độ của GHPGVNTN cương quyết phản đối sự cấu kết giữa hai Đảng Cộng Sản nhằm đưa Dân Tộc Việt Nam vào vòng nô lệ Trung Cộng.
- Với quan điểm ấy, đứng trước vấn đề sinh tử của Dân Tộc hiện nay do việc hàng hóa giá rẻ và độc hại của Trung Cộng ồ ạt tràn vào Việt Nam, GHPGVNTN biểu tỏ thái độ qua Lời Kêu Gọi KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của Hòa Thượng Xử Lý Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN ban hành ngày 03.10.2009 nhằm lên án Trung Cộng với sự tiếp tay của Việt Cộng, dùng hàng giá rẻ để xâm lăng kinh tế Việt Nam, dùng hàng độc hại để tiêu diệt sinh lực Dân Tộc Việt Nam. III/. LỜI KÊU GỌI “KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC” LÀ VẤN ĐỀ SINH TỬ CỦA DÂN TỘC
1/. Ý nghĩa Lời Kêu Gọi:
Ngày 03.10.2009, Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Hóa Trung Quốc do Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo ấn ký và ban hành.
Ngày 05.10.2009, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế đã phổ biến rộng rãi để cho toàn dân trong và ngoài nước tiếp cận ý nghĩa của Lời Kêu Gọi.
Ý nghĩa ấy đã được minh thị rõ ràng và cương quyết: …Thái độ cần biểu tỏ hôm nay để Nhà cầm quyền Bắc Kinh thấy rõ ý chí kiên cường của người dân Việt là phát động phong trào không dùng hàng Trung quốc. Không dùng hàng Trung quốc không phải là biểu tỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chống nhân dân Trung quốc, chống công nhân Trung quốc. Vì nhân dân Trung quốc, công nhân Trung quốc cũng là nạn nhân của Đảng Cộng sản như nhân dân, công nhân và nông dân Việt Nam. Tẩy chay hàng Trung quốc là tẩy chay chủ nghĩa bá quyền xâm lược của Nhà cầm quyền Cộng sản Bắc Kinh. Ngoài lý do chính trị mà tẩy chay, còn lý do hàng xấu và hàng độc Trung quốc đang gây nguy hại cho cơ thể và môi sinh người tiêu dùng Việt Nam.
Và thái độ biểu tỏ đối với Nhà cầm quyền Hà Nội như tôi đã gợi ý trước đây qua “ Lời Kêu Gọi Thàng 5 Bất Tuân Dân Sự - Biểu Tình Tại Gia ”.
Kính mong được đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng kể từ khi đọc Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Trung quốc công bố hôm nay (trích LKG).
2/. Hàng giá rẻ của Trung Cộng là vấn đề sinh tử của Dân Tộc Việt Nam:
“Có thực mới vực được đạo” đó là nguyên lý kinh tế chi phối toàn bộ mọi lãnh vực xã hội. Vì vậy qua ý nghĩa của Lời Kêu Gọi Tẩy Chay Hàng Hóa Trung Quốc đã thể hiện 3 vấn đề sinh tử của Dân Tộc Việt Nam:
- Vấn đề thứ nhất: hàng giá rẻ là phương tiện xâm lăng Việt Nam của Trung Cộng:
Hơn ai hết, Trung Cộng hiểu rất rõ nền kính tế yếu kém của đất nước Việt Nam. Một khi nền kinh tế Việt Nam bị hàng giá rẻ của Trung Cộng đánh sập thì mọi lãnh vực quân sự, quốc phòng, văn hóa, giáo dục sẽ suy sụp theo. Hàng giá rẻ của Trung Cộng sẽ làm kiệt quệ đất nước Việt Nam , Dân Tộc Việt Nam sẽ mất thực lực chiến đấu, việc xâm lăng Việt Nam sẽ được thực hiện nhanh chóng và dễ dàng.
Vậy, tẩy chay hàng hóa Trung Cộng là nghĩa vụ toàn dân góp phần chận đứng chủ nghĩa bá quyền bành trướng của Bắc Kinh.
- Vấn đề thứ hai: hàng giá rẻ là phương tiện tiêu diệt sinh lực Dân Tộc Việt Nam của Trung Cộng:
Để có hàng giá rẻ Trung Cộng đã dùng các hóa chất độc hại (có thứ cực độc) để chế biến từ sữa trẻ em đến thức ăn, áo quần giày dép, đồ chơi và cả vật liệu xây dựng. Đây là một chính sách vô nhân đạo phản chống lại con người, một tội ác diệt chủng trong thời bình nếu đem so sánh với Hitler, Polpot trong thời chiến. Cả thế giới đều lên án hàng hóa Trung Cộng.
Riêng với Dân Tộc Việt Nam, Trung Cộng hiểu rất rõ đại đa số người dân sống trong nghèo khó, do đó khi gặp hàng giá rẻ dù biết là độc hại nhưng người dân vẫn mua để giải quyết nhu cầu hiện tại, ngày sau ra sao thì ra. Lợi dụng tâm lý ấy, Trung Cộng cho hàng giá rẻ và độc hại ồ ạt vào Việt Nam, ngoài việc làm băng hoại nền kinh tế nước nhà, hàng hóa Trung Cộng còn gây ra bệnh tật hiểm nghèo làm tiêu hao sinh lực của Dân Tộc để dễ bề thôn tính Tổ Quốc chúng ta.
Vậy, tẩy chay hàng hóa Trung Cộng là nghĩa vụ toàn dân góp phần bảo vệ sinh mệnh Dân Tộc, tránh di hại cho các thế hệ con cháu tương lai.
- Vấn đề thứ ba: hàng giá rẻ đã tạo điều kiện cho Trung Cộng xúc phạm tinh thần Dân Tộc Việt Nam: Trung Cộng hiểu rất rõ lòng tự hào dân tộc và tinh thần quật khởi của người Việt Nam mà Trung Quốc là đối tượng lịch sử. Qua sự kiện hàng giá rẻ và độc hại của Trung Quốc thâm nhập thị trường Việt Nam ảnh hưởng đến sự an nguy của Đất Nước và Dân Tộc, Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) đã có cuộc tọa đàm trực tuyến lên án hàng Trung Quốc là “lũ quét”, là “ bất chấp đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh”. Tòa Đại Sứ Trung Cộng tại Hà Nội lập tức cử Ông Hồ Tỏa Cẩm lên giọng nước lớn buộc Đảng Cộng Sản Việt Nam phải “ kiểm điểm công việc nầy, không để việc nầy tổn hại cho dân chúng Trung Quốc, thương nhân Trung Quốc, chính phủ Trung quốc…”
Với thái độ kẻ cả, xúc phạm danh dự cũng như tinh thần Dân Tộc của Việt Nam như thế mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã không phản đối, lại còn tuân thủ bằng cách ra Quyết Định 97 cấm các tổ chức Khoa Học và Công Nghệ không được phản biện về đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng. Quyết Định nầy đưa đến việc các thành viên IDS tự giải thể để bảo toàn danh dự, bất chấp lời hăm dọa truy tố của Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Vậy, tẩy chay hàng hóa Trung Quốc là góp phần bảo vệ lòng tự hào Dân Tộc, bảo vệ tinh thần bất khuất của Dân Tộc Việt Nam. IV/. TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA:
Thưa toàn thể Anh Chị Em Huynh Trưởng,
Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Hóa Trung Quốc của Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã được ban hành.
Hưởng ứng Lời Kêu Gọi là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn thể công dân Việt Nam . Vì vậy Lời Kêu Gọi phải được phổ biến sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, sắc tộc hay tín ngưỡng. Đó là trách nhiệm của mỗi Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử chúng ta.
- Trách nhiệm ấy phải được thể hiện trên tinh thần cá nhân: tự thân Huynh Trưởng cương quyết không dùng hàng Trung Quốc, vận động người thân trong gia đình tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, và gia đình Huynh Trưởng có trách nhiệm vận động xóm làng hưởng ứng, tạo nên phong trào KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC sâu rộng trong cộng đồng dân tộc.
- Trách nhiệm ấy phải được thực hiện trên tinh thần tập thể: Các Ban Hướng Dẫn, Ban Huynh Trưởng hãy tổ chức cho đoàn sinh các Gia Đình và đạo hữu các Khuôn Hội học tập Lời Kêu Gọi trong giờ sinh hoạt, để mỗi thành viên Gia Đình Phật Tử là một nhân tố tích cực trong việc tẩy chay hàng hóa Trung Cộng. Mỗi thành viên ấy có trách nhiệm phát huy Lời Kêu Gọi trên mọi lãnh vực liên quan như trường học, bạn bè, xóm giềng…để Lời Kêu gọi trở thành hành động cụ thể KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của mọi người công dân Việt Nam.
Và Thưa Anh Chị Em Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh Phật Tử,
34 năm qua Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị trù dập, đọa đày trong vòng vô minh của chế độ, do đó Giáo Hội chưa có thuận duyên để đoàn ngũ hóa Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh Phật Tử trong khuôn khổ Tổng Vụ Thanh Niên theo tinh thần Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Tuy nhiên qua LỜI KÊU GỌI THÁNG 5 BẤT TUÂN DÂN SỰ-BIỂU TÌNH TẠI GIA của Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vừa qua, các Anh Chi Em đã tiếp tay với Tổng Vụ Thanh Niên và Gia Đình Phật Tử Vụ phổ biến rộng rãi Lời Kêu Gọi đến các Trường Đại Học, Cao Đẳng và Trung Học trên Toàn Quốc, nhất là tại Huế và Đà Nẳng, gây ý thức toàn dân trước hiểm họa của Dân Tộc do hai Đảng Cộng Sản tạo ra.
Giờ đây, LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC vừa là tiếng chuông cảnh tỉnh toàn dân ý thức bảo vệ đất nước và bảo vệ giống nòi, vừa là bản án tố cáo chủ trương bành trướng bá quyền vô nhân đạo của Cộng Sản Trung Quốc, gieo rắc tai họa không những cho Dân Tộc Việt Nam mà cả Nhân Loại trên hành tinh chúng ta, đồng thời tố cáo Đảng Cộng Sản Viêt Nam đã tíếp tay đắc lực cho Trung Cộng qua việc đàn áp sinh viên, học sinh biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược, bỏ tù các nhà đấu tranh dân chủ, trấn áp những người phản đối bô-xít Tây Nguyên và nhất là để cho hàng hóa độc hại của Trung Cộng tàn phá đất nước cũng như con người Việt Nam.
Với tinh thần đó, mong ước các Anh Chị Em tiếp tục sát cánh cùng Tổng Vụ Thanh Niên và Gia Đình Phật Tử Vụ phổ biến Lời Kêu Gọi TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của Đại Lão Hòa Thượng Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng VHĐ/GHPGVNTN và Tuyên Cáo nầy đến đồng bào các giới quốc nội và hải ngoại, góp phần giải trừ hai quốc nạn Nội Xâm và Ngoại Xâm đã gieo rắc kinh hoàng lên ngôi nhà Việt Nam trên 6 thập kỷ qua.
TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG CỘNG LÀ GÓP PHẦN CỨU NGUY ĐẤT NƯƠC, CỨU NGUY GIỐNG NÒI.
NAM MÔ THƯỜNG TINH TẤN BỒ TÁT MA HA TÁT Phật Lịch 2553, Giác Minh ngày 12 tháng 11 năm 2009
KÝ TÊN Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên Viện Hoá Đạo/GHPGVNTN TỲ KHEO THÍCH THANH QUANG
Vụ trưởng Gia Đình Phật tử Vụ Gia Đình Phật tử Việt Nam NGUYÊN CHÁNH LÊ CÔNG CẦU
| | | |
550 DÂN OAN BIỂU TÌNH TẠI SÀI GÒN NGÀY 07.10.2009
vietland Điều Hành Join Date: Jun 2008 Posts: 996 550 người biểu tình tại số 210 Đường Võ Thị Sáu Sài Gòn Ngày 08-10-2009, giờ 01:44
Hôm nay lúc 11 giờ VN ngày 07 /10.2009 Một đoàn Biểu tình 550 người gồm có 300 người từ Tinh An Giang và 250 người từ Tinh Kiên Giang Cuộc biễu tình xãy ra trước Nhà Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ số 210 Đường Võ Thị Sáu Đây là cuộc Biểu tình lớn nhất trong năm 2009
Đoàn người biểu tình mang những khẩu hiệu đòi nhà nước Cộng Sãn việt Nam trả đất ruộng Dân oan đã bị các Quan Chức Địa phương lạm dụng quyền lực cuớp đất ruộng của Nông Dân có hệ thống . Mãnh ruộng đất nào mặt tiền hay mầu mở các Quan chức lừa dối là cần mãnh đất ruộng đó để làm những công trình công ích và đền bù vời giá rẽ mạt . Sau đó các Quan chức Địa phương sang tay cho các Đầu nậu Địa ốc xây dựng những khu giải trí , du lịch , sân Golf hay biến thành tài sãn riêng cho chính mình .
Đây là lý do xãy ra nhiều cuộc biểu tình từ trước đến nay của Dân các Tỉnh An Giang và Kiên Giang và các Tỉnh khác .. http://nhabaovanhai.multiply.com/journal/item/638/638
NGƯ DÂN CAY ĐẮNG PHÁ BỎ TÀU
Tin tổng hợp - Tin tức từ Việt Nam cho biết cơn bão số 9 vừa qua đã làm cho gần 80 tàu thuyền của ngư dân Quảng Ngãi bị mắc cạn trên đồng ruộng, rừng cây, nhiều tàu bể nát không thể khôi phục. Hàng trăm ngư dân đang tự tay mình tháo dỡ từng con tàu trong tâm trạng xót xa. Mặc dù bão đi qua khá lâu nhưng nhiều người vẫn không lấy lại được tinh thần. Họ đã tích góp, vay mượn ngân hàng, bà con lên đến hàng trăm triệu để đóng chiếc tàu đi biển. Một ngư dân cho biết khi nghe tin có bão, cả gia đình cùng bạn biển neo tàu cẩn thận tại bến Cù Lao thuộc cửa Sa Cần. Thế nhưng do bão quá mạnh đã cuốn trôi con tàu nặng 61 tấn từ xã Bình Chánh lên tận cánh đồng Min thuộc xã Bình Dương xa tới hơn 8 cây số. Sau bão cả gia đình đã nỗ lực đi nhờ các nhóm cứu cấp để trục vớt nhưng cho đến nay vẫn chưa thể đưa tàu về. Ða số không mua bảo hiểm hoặc chỉ mua một phần, nên bảo hiểm chỉ trả rất ít. Do vậy nếu đưa được con tàu về bến thì chỉ tốn kinh phí trục vớt, còn nếu không đưa được tàu về thì chỉ còn cách duy nhất là tháo ván, phá bỏ tàu, thiệt hại rất nặng nề. Một người khác ở thôn Sơn Trà, xã Bình Ðông, Bình Sơn cùng anh em bạn biển đang tự tay tháo dỡ những bộ phận còn lại của con tàu trong ngậm ngùi, lo lắng. Bão quá mạnh đã đẩy tàu lên bờ mắc cạn và con tàu trị giá hơn 300 triệu đồng là tài sản mưu sinh duy nhất giờ chỉ còn là đống gõ nất. Ðau xót hơn là tàu không mua bảo hiểm nên đành mất trắng. Hiện nay hàng ngàn ngư dân rơi vào cảnh thất nghiệp, khó khăn chồng chất. Bão số 9 đã phá nát gần 60 tàu thuyền, 17 tàu thuyền bị mắc cạn trên các cánh đồng cao, qua nhiều cánh rừng, thôn xóm cản trở nên không thể đưa tàu ra biển. Không còn cách nào khác dân phải tự tay tháo ván, phá dỡ tàu, thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Nhà nước thì đã không giúp đỡ gì hết đối với những ngư dân này, họ chỉ đành ngậm ngùi nuốt nước mắt tìm cách khác để sinh sống mà thôi.(SBTN)
Posted on 24 Oct 2009
| | | |
BAO GIỜ HẾT KHỦNG HỎANG KINH TẾ MỸ VÀ THẾ GIỚI ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.10.2009
KINH TẾ Dân nghèo: nguồn ĐỘT BIẾN Cách Mạng
Nhập và viết trên các Diễn Đàn từ gần 10 năm nay vì ngưỡng mộ cái DŨNG của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ đã bất khuất đấu tranh ở trong lòng một Cơ Chế đàn áp mọi đối lập. Trong một số năm đầu, tôi không viết gì về Kinh tế, mà chỉ viết về Tự do Tín ngưỡng, Tự do Dân chủ, Nhân quyền.
Nhưng từ khi Phong trào DÂN OAN nổi dậy mạnh tại Sài Gòn và Hà Nội, rồi những đợt ĐÌNH CÔNG của Công nhân, tôi bắt đầu chuyển hướng đấu tranh. Mục đích là phải DỨT BỎ cái Cơ Chế CSVN hiện hành. Đâu là LỰC LƯỢNG khả dĩ lật được Cơ Chế CSVN ? Phải chăng là Phong trào DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN ? Phong trào đối chọi với CSVN qua những phạm trù trừu tượng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền… Nhưng CSVN cối chầy, ngụy biện ngay đối với những phạm trù trừu tượng này.
Tôi bắt đầu thấy rằng chỉ có Dân Nghèo (Dân Oan, Nông dân, Công nhân) chiếm đa số quần chúng mới có thể đứng lên làm cuộc ĐỘT BIẾN lật đổ Cơ Chế CSVN.
Nhìn lại Lịch sử những cuộc Cách Mạng, đó cũng là từ đại đa số Dân Nghèo. Cuộc đại Cách Mạng Pháp 1789, không phải là những nhà Trí thức như Danton làm nên, nhưng là từ tiếng thanh la của một cô gái đói bụng, la lên đòi đồ ăn để khỏi chết đói. Tiếng la đói ấy có sức lôi cuốn cả quần chúng Pháp làm Cách Mạng. Cũng vậy, cuộc Cách Mạng 1917 của Cộng sản cũng dựa trên lớp vô sản Nông dân và Công nhân.
Người nghèo Nông dân và Công nhân Việt Nam quan tâm đến cái quyền đầu tiên, đó là quyền DẠ DẦY, chứ không phải là những phạm trừ trừu tượng Nhân quyền tổng quát. Mà quyền DẠ DẦY có nghĩa là Kinh tế căn bản để kiếm sống. Tôi cũng thấy rằng sự can đảm sống chết của Dân nghèo đến từ cái DẠ DẦY bị đói quá. Đa số (75%) Dân Việt càng bị bóc lột bao nhiêu, càng nghèo kiết xác bao nhiêu, thì càng tiến dần đến ĐỘT BIẾN để lật đổ cái Cơ Chế CSVN đầy tham nhũng bóc lột.
Chính vì cái quyền DẠ DẦY của đại đa số Dân nghèo này, mà tôi bỏ không viết nữa về những phạm trù trừu tượng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền tổng quát. Tôi chỉ chú tâm viết về quyền DẠ DẦY, nghĩa là Kinh tế, cho đại đa số Dân nghèo.
Tôi bắt đầu bằng lọat bài Tương quan Kinh tế—Chính trị giữa lúc CSVN tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do/Thị trường mà vẫn giữ độc tài Chính trị một các tréo cẳng ngỗng.
Tiếp theo đó, tôi viết về cuộc Khủng Hỏang Tài chánh Á-châu 1997 để tìm xem những yếu tố nào tương tự đang dẫn đến cuộc Khủng hỏang tại Việt Nam về Tài chánh và Kinh tế.
Liền sau lọat bài này, thì cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới xẩy ra. Tôi phân tích về cuộc Khủng hỏang Thế giới này.
Hiện nay, tôi chú trọng đến những biến chuyển Tài chánh/Kinh tế của 3 Quốc gia: Hoa kỳ, Trung quốc và Việt Nam. Trong những tương quan dây chuyền Tài chánh/Kinh tế giữa ba nước này, tôi đã chọn ra một Chủ đề: CHỐNG LẠI XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC TẠI VIỆT NAM. Tôi nhận thấy rằng Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng qua Hoa kỳ và Liên Âu. Trung quốc rất lo sợ Khủng hỏang tiếp tục tại Hoa kỳ và Liên Âu. Trung quốc quay về xuất cảng và chiếm cứ Kinh tế tại các nước nghèo Á-châu, nhất là Việt Nam.
Viết những điều trên đây, tôi muốn cắt nghĩa tại sao tôi chú tâm viết những bài về Kinh tế, nhất là Kinh tế Hoa-kỳ, Liên Aâu và Thế giới. Nhiều khi trước cảnh dân nghèo Việt Nam bị Cơ Chế CSVN bóc lột đến cùng cực, tôi mong Kinh tế Mỹ, Liên Aâu và Thế giới đổ vỡ để Dân nghèo VN đi đến chỗ quá nghèo mà nổi dậy làm ĐỘT BIẾN chấm dứt Cơ Chế CSVN ăn cướp. Dĩ độc trị độc vậy.
Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Theo nhận định của Oâng Ben BERNANKE Tuyên bố của Ông BERNANKE: Chấm dứt Khủng hỏang tại Hoa kỳ
Tôi luôn luôn phân biệt hai lãnh vực: Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh và Lãnh vực Kinh tế thực. Trong thập niên qua, Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh trở thành một kỹ nghệ tạo ra những sản phẩm vốn để ăn lời quá đáng. Mà vốn này hầu hết thuộc về tương lai chưa làm ra hiện thực (Virtual Capital). Họ xả láng cho những Credits để cổ võ tiêu thụ cá nhân, để những Công ty sản xuất hàng hóa bừa bãi không không quan tâm đến khả năng tiêu thụ thực của quần chúng. Đó là cái nguyên cớ đưa đến Khủng hỏang Tài chánh. Khủng hỏang Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực khiến Thất nghiệp tăng.
Những Chương trình BAILOUTS cứu vãn Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh làm cho Lãnh vực này tạm yên. Rồi Chỉ số của Thị trường Chứng khóan lên. Điều này chưa hẳn là Kinh tế thực đã lấy lại sức mạnh. Thường sau những cuộc Khủng hỏang Thị trường Chứng khóan, có những cuộc Buy-Back của những nhà đầu tư. Có thể lúc này, Chỉ số Thị trường Chứng khóan lên, một phần là vì những nhà tài phiệt bỏ vốn ra mua những Giá trị chứng khóan với giá đang hạ để sau này bán lại kiếm lời. Đó là vấn đề thương mại ở Thị trường chứng khóan và chưa hẳn là việc phục hồi Kinh tế thực. Chính vì nghĩ như vậy, nên một số người nói rằng lời tuyên bố của Ông BERNANKE là hơi vội, và có phần phiến diện nếu chỉ căn cứ ở sự tăng lên của Chỉ số Chứng khóan.
Có thể việc tuyên bố của Ông BERNANKE mang yếu tố tâm lý cổ võ cho việc Chi tiêu để làm tăng phía CẦU của Lãnh vực Kinh tế thực. Tôi cũng đồng ý với ý kiến này, nghĩa là lời tuyên bố lạc quan của Ông BERNANKE mang yếu tố tâm lý làm phấn khởi cho Tiêu thụ, tăng phía CẦU.
Cùng ngày 16.09.2009, hai Ký giả Peter A.McKay & Geoffrey Rogow viết trong THE WALL STREET JOURNAL, trang 20, rằng: “Stocks pushed higher Tuesday, helped by Federal Reserve Chairman Ben Bernanke’s declaration the U.S. recession had lkely ended. Mr.Bernanke said that from a technical point.” (Giá trị chứng khóan tăng cao hơn hôm thứ Ba, được cổ võ bởi lời tuyên bố của Chủ tịch FED Bernanke rằng cuộc Khủng hỏang Mỹ dường như đã chấm dứt. Ông Bernanke đã nói điều đó từ một khía cạnh kỹ thuật).
Oâng GREENSPAN nhấn mạnh đến THẤT NGHIỆP của Khủng hỏang Kinh tế
Ông Greenspan tuyên bố thất nghiệp sẽ vượt qua mức 10%, và không cần đến kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai (Cali Today News, Trần Thị Sông Dinh, Oct 04, 2009)
Cali Today News – Ông Greenspan – Cựu chủ tịch Qũy Dự Trữ Liên Bang (DTLB) Hoa Kỳ, nay đã nghỉ hưu, vừa tuyên bố hôm chủ nhật là mức thất nghiệp sẽ vượt qua 10%, rồi sẽ dừng ở đó một thời gian, và chương trình kích thích kinh tế hiện nay chưa cần đến.
Ngoài ra, ông ta cũng phát biểu thuận lợi cho việc gia hạn trợ cấp thất nghiệp, khấu trừ thuế cho tiền bảo hiểm y tế – đó chính là chương trình mà chính quyền của ông Obama đang xem xét để giúp đỡ những người bị thất nghiệp trong đợt suy thoái lần này. Hiện nay, có tới 15 triệu người Mỹ thất nghiệp, và mức thất nghiệp hiện nay đang ở mức 9.8%, mức cao nhất trong vòng 26 năm qua.
Ông cũng cho rằng đây là một giai đoạn thật đặc biệt và một số hành động tạm thời cần được áp dụng. Phát biểu trên ABC’s trong mục “This Week”, ông nói: “Tôi thật sự không xem xét các loại chương trình kích thích kinh tế, tôi nghĩ một cách căn bản đó là những chương trình giúp đỡ cho người dân, nhất là một phần đối với tiêu chuẩn sống của họ. Tôi cho rằng nó sẽ có hiệu quả kích thích, nhưng đó là điểm chính của tôi.”
Ông ta gọi bản tường trình công việc được công bố vào thứ sáu rồi là “khá tệ”, và ông Greenspan đặc biệt quan tâm về những con số thống kê cho thấy số người mất việc làm trong 6 tháng qua hoặc hơn đã đến con số 5 triệu người, sau khi đã gia tăng đáng kể trong tháng qua.
Ông nói thêm: “Những người bị mất việc cho một thời gian dài sẽ thật sự mất đi tay nghề của họ. Những điều tạo ra một nền kinh tế vĩ đại là sự kết hợp giữa tài sản vốn của nền kinh tế và nhân sự điều hành tài sản này. Và nếu bạn mất đi những năng khiếu con người, thì thật sự có một sự mất mát thật sự và không tìm lại được.”
Nhìn về trước trong bức tranh toàn cảnh của tình trạng thất nghiệp, ông ta nói rằng nó sẽ vượt qua mức 10%, và ở đó một thời gian, trước khi rơi xuống trở lại.
Ông Greenspan nói rằng ông đề nghị TT Obama tập trung đưa nền kinh tế đi lên, nhưng đừng thúc đẩy nhiều quá đến nỗi mà nó sẽ tạo ra phản tác dụng. Với mức phát triển của qúy 3 là 3% hay cao hơn, Greenspan cho biết là ông ta đề nghị không cần kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai. Ông ta nói rằng cần chờ đợi và quan sát xem cái động lực đang thúc đẩy nền kinh tế đi lên sẽ tiến triển ra sao.
Ông Greenspan cũng tỏ ra quan tâm về sự gia tăng mức thâm thủng ngân sách và nợ của quốc gia.
NHÂN LỰC là một trong hai Yếu tố chính Của Sản Xuất Kinh tế thực
Phương trình Lượng Sản Xuất cho mọi nước như sau:
Q = f(K, L, t)
Q là Lượng sản xuất. Trong Phương trình này, K (Vốn) và L (Nhân Lực) là hai yếu tố sản xuất chính yếu. “t“ đứng trong Phương trình để chỉ Technology. Technology không đứng độc lập với Vốn (K) và Nhân Lực (L). Người ta gọi “t” là Incorporated Technology, nghĩa là phải có hai yếu tố K và L trước đã thì Technology mới Incorporated vào được. Có Vốn, thì mới mua được Technology. Và Technology được incorporated vào Nhân Lực để làm tăng hiệu lực cho Nhân lực. Trong Lãnh vực Kinh tế thực hiện đại, giữa Nhân lực và Technology đang có sự đố kỵ. Tăng Kỹ thuật để thải nhân lực !
Ở những nước chưa mở mang, chưa có Kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân, nhưng nông dân vẫn sản xuất nhờ Vốn mua ruộng, hạt giống, phân đạm và nhờ bắp thị cứng rắn (Nhân lực). Điều đó có nghĩa là việc sản xuất của nông dân ở những nước nghèo này chưa có Technology can thiệp vào, mà chỉ nhờ VỐN (K) và NHÂN LỰC (L) là những yếu tố chính yếu của sản xuất.
Với Công thứ tồng quát Q=f(K,L,t), tôi có thể áp dụng cho mọi nước, từ những nước nghèo nhất chưa có tiền mua Technology. Technology phải từ từ incorporated vào K và L khi người ta có VỐN để mua Technology và khi NHÂN LỰC được huấn luyện kiến thức nghề nghiệp về Technology.
Khi NHÂN LỰC là một trong hai Yếu tố chính sản xuất cho Lãnh vực Kinh tế thực, thì THẤT NGHIỆP là một Chỉ số quan trọng để những Nhà Kinh tế nói về Khủng Hỏang. Đối với những người nắm quyền Chính trị, thì Chỉ số THẤT NGHIỆP thực sự trở thành quan trọng vì từ khối người Thất nghiệp, tình trạng căng thẳng Xã hội nẩy sinh và có thể đưa đến xáo trộn Xã hội và ĐỘT BIẾN Chính trị.
Oâng GREENSPAN chú trọng đến Chỉ số Thất nghiệp. Sau khi Oâng BERNANKE tuyên bố lạc quan dựa trên Chỉ số Chứng khóan, thì OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đưa ra ngay Chỉ số Thất nghiệp để cho thấy tình trạng Khủng hỏang. Ký giả Gabriele PARUSSINI viết ra quan điểm của Ông Angel CURRIA, Tổng Thư ký của OECD gồm 30 quốc gia, viết Bài báo, với tựa đề là OECD SAYS JOBS CRISIS HAS REPLACED CREDIT CRISIS, được đăng trên THE WALL STREET JOURNAL ngày thứ Năm, 17.09.2009, trang 2.
Ký giả Gabriele PARUSSINI và OECD đứng theo quan điểm THẤT NGHIỆP để nói về Khủng hỏang Kinh tế thực, chứ không riêng Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh như Ông Bernanke.
Chưa có thể nói đơn giản là Cuộc Khủng Hỏang Tài chánh/Kinh tế đã chấm dứt
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới bắt đầu từ những Tín Dụng Địa Oác (Mortgage Credit). Những Subprime Mortgage Credits bị ung thối rồi lan sang các Tin dụng khác làm cho giới Ngân Hàng/ Tài chánh co rúm lại, mất giá. Thị trường Subprime Mortgage Credits không phải chỉ tác dụng riêng cho giới Ngân Hàng/ Tài chánh Hoa-kỳ, mà cho các Ngân Hàng lớn khắp Thế giới. Đây không phải chỉ lỗi riêng của Hoa kỳ, mà còn là việc tham dự Tín dụng của các Ngân Hàng/ Tài chánh lớn Thế giới vào Thị trường Hoa kỳ để chia phần lợi nhuận. Cùng chia phần lợi nhuận để sau đó các Ngân Hàng/ Tài chánh lớn của các nước khác cùng bị hậu quả của sự ung thối Subprime Mortgage Credits, thì bây giờ không thể óan trách riêng Hoa kỳ.
Chính quyền Hoa kỳ, ngay cuối thời TT.BUSH đã chỉ chú tâm vào việc cứu vãn giới Ngân Hàng và các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh bằng những Chương trình BAILOUTS. Chính quyền TT.OBAMA tiếp tục những Chương trình BAILOUTS cho giới Ngân Hàng và những Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh.
Nhưng lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh bắt đầu lan sang lãnh vực KINH THẾ thực làm đình trệ sản xuất và do đó nạn THẤT NGHIỆP bán phần (chomage au temps partiel) rồi tòan phần (chomage à plein temps) tăng lên. Ngành nghiệp KINH TẾ bị khủng hỏang trầm trọng là Kỹ nghệ Xe Hơi. Kỹ nghệ Thiết bị, Kỹ nghệ những Sản phẩm xa hoa.
Không những chỉ Chính quyền Hoa kỳ, mà các Chính quyền của các nước đã Kỹ nghệ hóa đưa ra những Chương trình Kích cầu (STIMULUS plans) để nâng cao phía CẦU của Dân chúng đang bị co rúm lại và từ đó làm cho các Kỹ nghệ có thể sản xuất mà tăng phía CUNG.
Cuộc Khủng hỏang bắt đầu từ năm 2007, qua suốt 2008, rồi hiện nay là tháng 9/2009.
Đọc Tờ THE WALL STREET JOURNAL ngày 16.09.2009, trang 3, tôi thấy bài của hai Ký giả Sara MURRAY và Ann ZIMMERMAN viết chiếm trọn 5 cột với đầu đề “BERNANKE DECLARES END TO RESESSION IN THE U.S.” (BERNANKE TUYÊN BỐ CHẤM DỨT KHỦNG HỎANG TẠI HOA KỲ). Tôi mừng cho nước Mỹ, mừng cho những đồng hương của tôi sẽ bắt đầu sống sung sướng sung túc như trước đây.
Những thành phần tham dự vào Thị trường Chứng khóan là những Tỉ phú, Triệu phú, là những Ngân Hàng, những Tổ chức Bảo Hiểm, Tài chánh. Khi Chỉ số Thị trường Chứng khóan xuống, họ mất, nhưng tài sản của họ vẫn còn mức độ căn bản làm họ tiếp tục sống vương giả. Những nhân viên làm việc cho các Triệu phú, Tỉ phú, các Ngân Hàng, các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh, dù bị thất nghiệp, nhưng trước đó họ đã thu vào những khả năng Tiền bạc để bảo đảm tình trạng thất nghiệp lúc này.
Nếu những Chương trình BAILOUTS khổng lồ cứu vãn giới Tài chánh (Giới có Tiền bạc kho đụn), thì những Chương trình STIMULUS cho Kinh tế với những chi tiêu khổng lồ xả láng mà hiệu quả còn mù mờ chưa cho phép nói là Khủng hỏang đã chấm dứt. Thậm chí chúng ta có thể nói Khủng hỏang Kinh tế còn đang tăng nếu nhìn Chỉ số THẤT NGHIỆP là mối quan tâm chính yếu cho Lãnh vực Khủng hỏang Kinh tế thực.
Cứu đổ vỡ cho Ngân Hàng, Triệu phú ở Thị trường Chứng khóan hay cứu Dân nghèo THẤT NGHIỆP ?
Khi các Chính quyền cứu vớt các Ngân Hàng, các Tổ chứ Bảo Hiểm/Tài chánh là nhằm hai mục đích: (i) Để họ không chết; (ii) Để họ có vốn tăng lên mà cho Lãnh vực Kinh tế thực vay. Khi các Ngân Hàng Trung Ương hạ lãi suất chỉ đạo xuống gần số không, đó là hạ giá vốn để các Xí nghiệp có thể vay được vốn với giá hạ trong lúc túng quẫn. Mục đích tối hậu của những Chương trình BAILOUTS cứu vớt giới Ngân Hàng/ Tài chánh là để giới này cùng với các Xí nghiệp tạo công ăn việc làm cho Dân chúng. Cũng vậy mục đích hạ lãi suất chỉ đạo cũng nhằm tạo công ăn việc làm qua các Xí nghiệp. Mục đích tạo công ăn việc làm là hòan tòan chính đáng và là công bằng xã hội bởi lẽ những số tiền khổng lồ cho những Chương trình BAILOUTS và những Chương trình STIMULUS là do sự dóng thuế của tòan Dân, chứ không phải đến từ giới Triệu phú, Tỉ phú hoặc Ngân Hàng.
Nhưng tại sao những số tiền khổng lồ BAILOUTS và STIMULUS đi vào đâu mà không tạo hiệu quả làm giảm thất nghiệp theo mục đích của các Chính quyền?
Nếu những Chương trình BAILOUTS chỉ giúp các Tỉ phú, Triệu phú, các Ngân Hàng, các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh đổ số tiền giúp đỡ ấy vào việc chơi ở Thị trường Chứng khóan để làm cho Chỉ số Chứng khóan tăng lên, đó là việc những người giầu này làm tăng sự giầu có của họ do thuế Dân đóng vào, chứ không phải là tạo công ăn việc làm cho chính người Dân nghèo đóng thuế.
Đối với những Xí nghiệp sản xuất, Ngân Hàng Trung ương hạ lãi suất, rồi Dân đóng thuế cho những Chi tiêu khổng lồ trong những Chương trình STIMULUS, cố ý tăng Sản xuất của những Xí nghiệp và do đó tạo công ăn việc làm. Nhưng tại sao THẤT NGHIỆP càng tăng? Có ba cách cắt nghĩa:
=> Các Xí nghiệp đang trong thời kỳ thế thủ với cuộc khủng hỏang hiện nay. Họ xử dụng vốn rẻ để củng cố sự vững chắc cho Xí nghiệp họ hơn là tăng sản xuất để có thể đi vào phiêu lưu trong thời gian bấp bênh tới chưa lường được.
=> Việc sản xuất tùy thuộc hai yếu tố Q = f (K, L,t). Q là lượng sản xuất, K là xử dụng Vốn, L là xử dụng Nhân lực. K tượng trưng cho những phương tiện sản xuất Kỹ thuật, Máy móc. Các Xí nghiệp nếu có tăng lượng sản xuất Q, thì họ thiên về việc xử dụng Vốn cho những phương tiện Kỹ thuật, Máy móc hơn là thu nhập thêm Nhân công vốn dĩ mang nhiều phức tạp. Trong thời gian qua, các Xí nghiệp phải chịu tình trạng Kỹ thuật, Máy móc ngưng chạy (thất nghiệp máy móc), nên lúc này họ cho Máy móc chạy lại đúng mức độ để sản xuất hơn là thu nhận thêm Nhân công.
=> Những Xí nghiệp Sản xuất luôn luôn gặp những phức tạp khi phải sa thải nhân công vì các Nghiệp Đòan Thợ thuyền đứng đó để sẵn sàng tranh đấu. Trong hai Yếu tố Sản xuất chính K (Vốn), L (Nhân lực), những Nhà Quản trị Xí nghiệp dễ điều khiển Vốn hơn là Nhân công. Tại những nước tiền tiến, những Nhà Quản trị dễ tìm dịp thay thế Vốn vào chỗ Nhân công. Mỗi mức Tiến triển Khoa học Kỹ thuật là mỗi bước sa thải Nhân lực. “La Technologie chasse les Ouvriers“ (Kỹ thuật đuổi Thợ thuyền). Sa thải Nhân công thì dễ, mà nhận lại mới khó. Vì vậy, cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế này có lẽ là dịp may cho một số Xí nghiệp để có cớ sa thải Nhân công. Tình trạng Thất nghiệp sẽ kéo dài vậy.
Các Chương trình BAILOUTS và STIMULUS là do thuế của Dân đóng vào, trong đó có cả những người THẤT NGHIỆP, chứ không phải chỉ nguyên những Ngân hàng gia hay những Tỉ phú chơi Chứng khóan. Người Dân đóng thuế là mong những Chương trình BAILOUTS và STIMULUS lo cho Dân có công ăn việc làm. Khi THẤT NGHIỆP vẫn tăng, thì đó có nghĩa là các Chương trình BAILOUTS và STIMULUS chưa đạt được mục đích mà chính Dân đóng thuế mong ước.
Không thể chỉ lấy nguyên Chỉ số Chứng khóan để nói rằng Khủng hỏang chấm dứt. Phải theo Chỉ số THẤT NGHIỆP mà nói rằng Khủng hỏang đã chấm dứt hay chưa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.10.2009
| | | |
BÁN HÀNG VÀ MUA HÀNG VÌ YÊU NƯỚC
http://www.thanhnie n.com.vn/ News/Pages/ 200938/200909180 05045.aspx 18/09/2009 0:50
Một chương trình lớn nhằm bán hàng và mua hàng vì tình yêu Tổ quốc và đồng bào vùng biển đảo đã được phát động bởi Hiệp hội Dệt may VN (Vitas), Tập đoàn Dệt may VN (Vinatex), Báo Nhân Dân, Quân chủng Hải quân VN và một số đơn vị khác mang tên "Đồng hành cùng doanh nghiệp Dệt may Việt Nam vì đồng bào biển đảo của Tổ quốc" đã chính thức khởi hành từ hôm nay tới hết năm 2010.
Cứ trong mỗi 1.000.000 đồng doanh số hàng dệt may được bán, sẽ có 2.500 đồng được đưa vào quỹ "Vì đồng bào biển đảo của Tổ quốc". Dự kiến, trong năm 2009 có thể thu được 25 tỉ đồng cho quỹ này để trợ giúp đồng bào trong đời sống cũng như hỗ trợ phát triển kinh tế và văn hóa những vùng biển đảo.
Đây có thể coi là một chương trình bán hàng dệt may đặc biệt, vì các doanh nghiệp dệt may tham gia chương trình này ngoài mục tiêu quảng bá thương hiệu, tiêu thụ được hàng dệt may tại thị trường nội địa, còn kết nối được với khách hàng là đồng bào Việt Nam mình trong một tình yêu cháy bỏng vì biển đảo quê hương. Mục đích đẹp ấy đòi hỏi một kế hoạch thực hiện mang tính khả thi cao và một tình yêu Tổ quốc thực sự. Bởi muốn đưa được hàng dệt may nội địa tới với tất cả khách hàng nội địa Việt Nam thì việc đầu tiên là phải nâng cao được chất lượng hàng hóa, giảm giá thành tới mức có thể cạnh tranh ngang ngửa với hàng dệt may ngoại nhập.
Lâu nay, do mải mê chinh phục những thị trường tiêu thụ hàng dệt may trên thế giới, mà nhiều lúc, ngành dệt may VN như xao lãng thị trường nội địa - một thị trường rộng lớn không chỉ đầy tiềm năng mà còn đầy khả năng tiêu thụ. Sự xao lãng ấy đã phải trả giá đắt một khi có khủng hoảng kinh tế thế giới, và nhất là khi thị trường nội địa bị tràn ngập bởi hàng dệt may ngoại nhập từ giá cao tới giá rẻ và "siêu rẻ".
Nay thì tình yêu Tổ quốc, yêu đồng bào mình nơi những vùng biển đảo đầy sóng gió nguy tai đã thức tỉnh chính những doanh nghiệp dệt may Việt Nam hướng thẳng vào thị trường nội địa, quyết bán hàng không chỉ với mục đích lợi nhuận mà còn với mục đích chia sẻ, đồng hành cùng đồng bào biển đảo. Và tôi nghĩ, tại sao lại không, thị trường tiêu thụ hàng dệt may trên toàn cõi Việt Nam trong một ngày gần đây sẽ xuất hiện những chiếc áo in bản đồ VN có đầy đủ những vùng biển đảo, những địa danh "Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam" được in trên áo phông sẽ khiến hàng triệu khách hàng Việt Nam náo nức đón mua. Khi người bán hàng bán sản phẩm của mình với lòng yêu nước, thì người mua hàng cũng sẽ mua những sản phẩm ấy với lòng yêu nước. Chỉ như thế, thì chương trình tuyệt vời này mới có những cơ hội thực tế để thành công!
Thanh Thảo
DOANH NHÂN THẤM NHỤC
Vài dòng của một doanh nhân Kính gởi Ban Biên Tập Bauxitevietnam,
Tôi cũng là một trong số những độc giả hàng ngày vào thăm trang mạng của Quý vị, ngày nào tôi vì lý do nào đó bận công việc mà không đọc Bauxitevietnam thì ngày đó tôi cảm thấy như thiếu thiếu cái gì đó. Thật ra tôi là một doanh nhân bình thường như các doanh nhân khác, chỉ làm kinh tế mà ít quan tâm đến chính trị. Nhưng từ khi có trang Bauxite này tôi lại theo dõi hàng ngày, xem tất cả các tin tức và ý kiến của mọi người, và ngày càng thật sự xấu hổ cho bản thân. Nhân đọc bài Tiếng nói của tuổi trẻ: thư ngỏ gởi Mẹ Nấm, chị Đoan Trang và anh Thanh Hiếu của bạn trẻ Duy Hải, tôi thấy mình như quá ích kỷ khi là một người dân Việt nam. Có thể BBT sẽ không đăng những dòng suy nghĩ này, nói thật ra tôi thì không biết văn chương mấy, chỉ lo tính toán làm kinh tế, chỉ biết làm sao kiếm lãi, bây giờ tôi mới biết mình đã quá ích kỷ khi mà hiểu được mối quan tâm của mọi người đến vấn đề môi sinh, đến an ninh của đất nước. Các bạn trẻ đã dám nói thật tiếng nói của lòng mình, và các bạn như: Mẹ Nấm, Đoan Trang, Thanh Hiếu… đã dám công khai bộc lộ những suy nghĩ chính đáng của mình, dám nói lên sự thật, dù biết rằng những gì mình nói sẽ đem lại hậu quả cho chính mình, nhưng họ vẫn cứ nói. Điều đó thật là hành động dũng cảm, tôi thật sự khâm phục họ.
Về phía tôi là doanh nhân, tuy biết nhưng không dám thổ lộ vì tôi nói riêng và các doanh nhân khác nói chung vẫn sợ ảnh hưởng đến việc kinh doanh cũa mình, nên không dám lên tiếng công khai, chỉ biết ngồi với nhau phù phiếm thôi. Nhưng nói thật là tự trong đáy lòng tôi vẫn có lòng yêu nước dâng trào đấy, khi đọc một sự kiện gì ví dụ như vấn đề khai thác Bauxite hiện nay, tôi luôn ủng hộ quý vị chống dự án khai thác thứ quặng có thể gây hiểm họa khôn lường cho đất nước về nhiều mặt ấy, hoặc vấn đề Biển Đông, hay những ý kiến phản biện các chính sách bất ổn của chế độ… thì máu trong người tôi sôi sục.
Cho nên không phải tất cả giới doanh nhân trên đất nước này đều thờ ơ trước hiện tình đất nước. Vì miếng cơm manh áo của họ và những người lao động cho họ nên họ không dám nói, nhưng tôi biết được trong họ cũng sôi sục máu yêu nước như tôi. Có đôi khi đọc các bài viết trên mạng Bauxitevietnam tôi cũng muốn có ý kiến lắm nhưng tôi đắn đo mãi không biết nên nói hay không và phải viết như thế nào, rồi cũng sợ liên lụy nữa, nhưng bây giờ tôi đã dám viết vài dòng này thổ lộ tâm tư cho vơi đi ức chế trong lòng.
Tôi biết rằng đất nước mình có rất nhiều nhân tài, sẵn sàng cống hiến cho Tổ quốc , nhung vì sống trong bối cảnh của chế độ hiện nay, nên không ai dám cống hiến gì cả, mà chỉ lo toan tính miếng cơm hàng ngày. Tôi cũng không ngạc nhiên khi các nhà trí thức của IDS tự giải thể, nó cũng không ngoài dự đoán của tôi. Trong một thể chế như hiện nay, anh không thể nào chống lại các chủ trương chính sách [sai trái] của Đảng và Nhà nước được trừ phi tất cả trí thức cùng đồng lòng, đoàn kết chống lại thì may ra, hoặc trừ phi… , đó là câu chuyện nhạy cảm và cũng là hy hữu. Có những vấn đề cũng có thể tích cực theo đuổi, chẳng hạn dùng luật của Nhà nước phản biện lại Nhà nước, tuy không đem lại kết quả như ý nhưng ảnh hưởng rất lớn và có ý nghĩa, tôi ví dụ như việc Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hiện nay đối với nhiều người, ông Cù Huy Hà Vũ là một người dũng cảm dám đi một bước táo bạo, tạo được một nét điển hình mới trong công tác phản biện bằng hành động đúng Luật.
Theo tôi nghĩ, một hành động gây tiếng vang trong dân chúng bình thường, đến tai được quần chúng rộng rãi thì sẽ có tác động lớn, chứ thật tình, chỉ phản biện bằng ngôn từ không thôi thì chỉ mới ảnhh hưởng ở một tầng lớp nào đấy, có khi rất mạnh mẽ sâu sắc, nhưng chưa thấu đến tai người dân thường được, vì tất cả mọi người dân không thể ai cũng tiếp cận được thông tin. Tôi tin Ông Hà Vũ sẽ thắng kiện. Không biết suy nghĩ của tôi có đụng chạm ai không, nếu có mong thứ lỗi vì đó chỉ là suy nghĩ của tôi
Kết thúc lá thư, tôi mong rằng trang Bauxitevietnam luôn sống mãi để còn có những ý kiến, tin tức thật sự bổ ích cho người xem. Tôi mong rằng trang này đừng bị xóa bỏ như các trang báo hay blog khác khi dám nói tiếng nói thật của mình, và thật buồn khi không còn cách gì tiếp cận với SỰ THẬT, khi cứ phải đọc những tờ báo “lề phải” chán ngắt của Bộ 4T. NTQ HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập. http://bauxitevietn am.info/c/ 10475.html
| | | |
NÔNG DÂN VIỆT NAM ĐANG BỊ BẦN CÙNG HÓA
Nam Nguyên, đài RFA
Như một sự kiện chưa từng có, một nhà khoa học nổi tiếng đang sống ở trong nước đã công khai nhận định trên báo điện tử VietNamNet rằng, nông nghiệp nông thôn Việt Nam kém phát triển hoàn toàn là do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo. Ðó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa.
Tạo công ăn việc làm ở nông thôn đồng thời cũng giúp giải quyết được tình trạng người lao động nhập cư đổ về các thành phố lớn để kiếm sống.
Nhân vật này là Giáo Sư Viện Sĩ Ðào Thế Tuấn 78 tuổi, từng là viện trưởng Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam, ông xuất thân từ một gia đình khoa bảng, thân phụ là học giả sử gia Ðào Duy Anh. Sự kiện nổi bật gần đây nhất, ngày 25 Tháng Sáu 2009 đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, đã thay mặt chính phủ Pháp, trao tặng GSVS Ðào Thế Tuấn Huân Chương Nông Nghiệp Ðệ Nhất Hạng, là huân chương vinh danh những cá nhân có cống hiến lớn lao cho nông nghiệp.
Bài phỏng vấn do nhà báo Ðoan Trang thực hiện cho chuyên mục Tuần Việt Nam thuộc VietNamNet. Bài theo dạng hỏi đáp dài hơn 2,600 từ chứa đựng những ý kiến phê bình thẳng thắn, GSVS Ðào Thế Tuấn đã không ngần ngại nói thẳng rằng nông dân Việt Nam đang bị bần cùng hóa. Chúng tôi trích đọc nguyên văn lời ông nói:
“Nhìn từ góc độ chính trị-xã hội, nông dân Việt Nam là những người ít được hưởng lợi từ đổi mới nhất. Nông dân còn quá nghèo, ít được hưởng phúc lợi xã hội như giáo dục, y tế... thiếu việc làm ở nông thôn và buộc phải di cư ra thành phố làm thuê với giá lao động rẻ mạt.
Nông dân đang bị bần cùng hóa, và đó là nguy cơ gây bất ổn xã hội. Như ở Trung Quốc bây giờ, bạo loạn ở nông thôn xảy ra nhiều lắm, ấy là hậu quả của sự bần cùng hóa nông dân.”
Tái diễn kịch bản của Trung Quốc và Nga
Ðáp các câu hỏi khác của VietNam Net, GSVS Ðào Thế Tuấn cho rằng nước Việt Nam đang diễn lại đúng kịch bản ở Trung Quốc và Liên Xô trước kia. Theo lời ông, thế kỷ 20, Liên Xô sau khi tiến hành Cách Mạng Tháng Mười, không có nguồn lực để công nghiệp hóa nên họ buộc phải dùng nông nghiệp để làm công nghiệp. Trung Quốc từ thời Mao Trạch Ðông cũng vậy, bóc lột nông dân, vắt kiệt nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp. Và Việt Nam bây giờ đang diễn lại đúng kịch bản đó.
Nhà báo đặt ngược vấn đề là nhà nước Việt Nam không có một chủ trương nào nói rằng phải dùng nông nghiệp để nuôi công nghiệp. GSVS Ðào Thế Tuấn nhìn nhận là tuy không có chủ trương, nhưng thực tế đang cho thấy đúng như vậy. Tất cả những khẩu hiệu đẹp đẽ liên quan tới nông dân được GSVS Ðào Thế Tuấn mô tả là mị dân, đại loại những câu ‘nông dân là lực lượng cách mạng’, ‘phải biết ơn nông dân’, ‘phải ưu tiên phát triển hợp lý nông nghiệp’.
GSVS Ðào Thế Tuấn nhấn mạnh, trên thực tế nông nghiệp đang bị lép vế, nông dân thua thiệt đủ bề. Ðó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa. Nói cách khác, việc nông thôn, nông nghiệp Việt Nam bây giờ kém phát triển hoàn toàn do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo mà thôi.
Chúng tôi nêu câu hỏi này với T.S. Ðặng Kim Sơn, viện trưởng Viện Chính Sách và Chiến Lược Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn. Từ Hà Nội ông nhận định:
“Quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam có phải là một quá trình bóc lột nông dân hay không, thì tôi nghĩ là không phải như thế. Thực ra mà nói, nếu không có sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn vừa qua, thì không những không thể nào phát triển công nghiệp hóa được và quá trình đổi mới ở Việt Nam không diễn ra một cách tốt đẹp như thế này. Trong thời gian vừa qua tỷ lệ đói nghèo ở nông thôn giảm xuống hơn ba lần và thu nhập của cư dân nông thôn tăng lên khoảng ba lần. Ðây là mức thay đổi mà ít có nước nào trên thế giới có thể đạt được trừ Trung Quốc. Thế thì có thể nói đây là một thành tựu, nếu nói là Việt Nam trong thời gian ba mươi năm đổi mới vừa qua cái gì là nổi bật, thì phải nói là nông nghiệp phát triển là thành tựu, một trong những thành tựu nhiều nhất là trước khi đổi mới Việt Nam nhập mỗi năm từ 0.8 tới hơn 1 triệu tấn lương thực, thì đến nay Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Năm nay thậm chí xuất kỷ lục có thể xuất 6 triệu tấn gạo. Thế thì đây là cái thành tựu không thể chối cãi được, hay là tỷ lệ giảm đói nghèo mỗi năm 2% là một mức độ rất kỳ diệu. Vì thế không thể nói rằng nông nghiệp nông thôn bị bóc lột hay là nông dân bị bần cùng hóa.”
Thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm
Ngoài những nhận định có thể gây sốc cho các giới chức nhà nước, GSVS Ðào Thế Tuấn lại không đi theo trào lưu đề cao tăng hạn điền hoặc tái lập quyền tư hữu đất đai. Ông cho rằng mất đất nông nghiệp là do quản lý tồi, tăng hạn điền chỉ tạo điều kiện cho đầu cơ phát triển thêm, trong khi nhiều chuyên gia kinh tế cũng như nông nghiệp kêu gọi có cải cách về sở hữu ruộng đất.
Trở lại bài báo trên VietNamNet, GSVS Ðào Thế Tuấn cho rằng, vấn đề lớn của nông dân Việt Nam hiện nay là thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm. Khoảng cách thu nhập, chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị là rất lớn. Nông dân ở nông thôn không được tiếp cận rộng rãi với giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, không có tích lũy. Nhà có người ốm đi viện một lần là của cải mất hết, trắng tay. Thêm một đứa con đi học xa, học lên cao là cả nhà lao đao.
Ðối với vấn đề vừa nêu, T.S. Ðặng Kim Sơn đưa ra nhận định của ông:
“Chuyện nông nghiệp và nông thôn bị bần cùng hóa đã diễn ra ở các nước ngay cả các nước công nghiệp phát triển ở Âu Mỹ trong giai đoạn công nghiệp hóa đẩy mạnh, nhưng tình hình đó không diễn ra ở nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên phải nói rằng cái mà nông dân được hưởng, nông nghiệp được đầu tư chưa tương xứng với mức độ đóng góp của người nông dân, mức độ phấn đấu hy sinh của người nông dân cũng như thành tích mà nông nghiệp đem lại. Ðầu tư công cho nông nghiệp là thấp, đầu tư của toàn xã hội cho nông nghiệp là thấp. Mức tăng trưởng đời sống của nông dân rất cao, nhưng so với mức tăng trưởng của đời sống của người dân ở đô thị thì hiện nay khoảng cách của thu nhập trung bình của cư dân nông thôn chỉ bằng một nửa của đô thị. Tất nhiên so với nhiều quốc gia kể cả Trung Quốc thì đây là một thành tích đáng tự hào, nhưng rõ ràng là người Việt Nam không phấn khởi với mức chênh lệch này. Thế thì điều có thể nói là chúng ta phải tiếp tục thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn với đô thị, phải tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cho phát triển nông nghiệp. Nói như thế thì hợp lý hơn, chứ còn nói thời gian vừa qua là bóc lột, là bần cùng hóa nông thôn nông nghiệp thì chúng tôi nghĩ rằng nói như thế là không công bằng.”
Phần cuối cuộc phỏng vấn trên VietNamNet, GSVS Ðào Thế Tuấn kết luận rằng, điều quan trọng cần làm ngay ở nông thôn bây giờ là xây dựng xã hội dân sự. Theo ông, ngày xưa ở Việt Nam đã có cộng đồng làng xã, thôn xóm, đại diện là những lý trưởng xã trưởng. Bây giờ thì chỉ còn mấy ông bà cán bộ, ông bí thư, chủ tịch xã, bà tổ trưởng phụ nữ. Người dân chẳng được tham gia gì cả. Theo GSVS Ðào Thế Tuấn, cần phải hướng dẫn, phải tạo cơ chế để giúp nông dân tổ chức lại được với nhau, xây dựng các doanh nghiệp xã hội. Nhà nước không thu thuế đối với họ, dĩ nhiên họ cũng có một mức lãi nào đó. Nhưng về bản chất, họ là một hệ thống các tổ chức chăm lo phát triển xã hội. Hệ thống đó là một phần của xã hội dân sự.
| | | |
**************************************** TOÀN DÂN ********************************************* DIỆT LŨ BÁN NƯỚC, ĐUỔI QUÂN XÂM LĂNG
NGHE LỜI TỔ TIÊN
Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :
“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“
(Trần Nhân Tôn)
Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN đã viết để cảnh cáo những người có trách nhiệm mà phản bội cần phải loại trừ
“Nay các ngươi... trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức,...Chẳng những ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mải.“
CSVN hầu giặc Tầu mà không biết tức, không biết hổ thẹn sao ?
Lời của vua Lê Thánh Tôn đã nói như sau:
.. Một thước núi, một tấc đất của ta lẽ nào lại tự liệu vất bỏ được ! Kẻ nào dám đem một thước núi, một tấc đất của Tổ Tiên giống nòi để làm mồi cho giặc thì kẻ đó phải bị trừng trị nặng !.
VUA LE THANH TON 1460-1497 Phải trừng trị nặng đảng CSVN bán nước
TỔ TIÊN ĐÃ ĐỀ PHÒNG LAO ĐỘNG TRUNG QUỐC
Đăng ngày: 22:18 28-04-2009 BAUXITE VIỆT NAM
Gần đây, dư luận xã hội và báo chí rất bức xúc và lo ngại trước tình hình người lao động Trung Quốc tràn vào Việt Nam ngày một nhiều, nhất là tại các công trường khai thác bauxite tại Tây Nguyên.
Xem trong sử sách, thấy rằng đây cũng là một vấn đề mà cha ông chúng ta đã từng vấp phải. 300 năm trước, lo ngại việc lao động Trung Quốc ào ạt tràn sang, đe doạ đến sự an nguy của đất nước, triều đình nhà Lê đã thể hiện trách nhiệm cao trước tổ tiên và trăm họ, đã tìm được cách xử trí khôn khéo và cương quyết, dần đưa vào ổn định.
Toàn văn tài liệu cho biết việc này như sau:
Tháng 12 [năm Đinh Dậu, niên hiệu Vĩnh Thịnh 2 (1706) đời vua Lê Dụ Tông] định thể lệ hạn chế số lao động (nước ngoài) trên các công trường khai mỏ tại các trấn. Lúc ấy, các mỏ vàng, bạc, đồng, thiếc ở các trần phần nhiều mộ người nhà Thanh (Trung Quốc) khai quật để lấy, phu mỏ quần tụ mỗi ngày một nhiều. Triều đình e rằng sẽ sinh sự biến động, bèn định thể lệ: Số phu mỏ nhiều nhất 300 người, thứ đến 200 người và ít nhất là 100 người, không mỏ nào được dung quá số quy định. Từ đấy, số phu (người Trung Quốc) làm ở các công trường khai mỏ mới có hạn chế”.
Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Nguồn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Ch&ia |
|
|
|