|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN --------------------------------------------------------------THOI SU/ THONG TIN =============================================================== |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ CHỮA BỆNH VÔ HẠN ĐỊNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.03.2010
Trả lời Phỏng vấn của Ký giả ĐỖ HIẾU, Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ nói rõ bệnh tình của Ngài như sau:
“Tôi đã bị tai biến mạch máu não 3 lần. Lần thứ nhất là vào tháng 5-2009, lần thứ hai vào tháng 7 và lần thứ ba vào tháng 11. Ba lần thì mỗi lần lại nặng thêm, riêng lần thứ ba này thì người ta đưa lên trên Hà Nội, vào Bệnh Viện 198 của Bộ Công An. Tại đây người ta xét nghiệm thì người ta thấy có hai đoạn mạch cảnh hai bên cổ thì bị xơ vữa nhiều chỗ, nhiều tụ huyết, nhưng mà cái quan trọng hơn là ở trên hậu chẩm của não bên trái đã có một khối u rộng khoảng 2 centimet và người ta hồ nghi rằng chính vì cái khối u này nó chèn ép một số thần kinh thành ra chân phải và tay phải bị liệt.”
“Sau 4 tháng điều trị thì hiện giờ chân phải có bớt đôi chút nhưng mà vẫn chưa cử động bình thường, còn riêng tay phải thì đã có thể cầm được thìa để ăn cơm nhưng chưa cầm bàn chải đánh răng và chưa cầm bút được, nhưng vẫn có thể đưa tay lên đưa tay xuống để tập thể dục cũng được. Phục hồi lần sau thì chậm hơn lần trước, thành ra lần này đã 4 tháng rồi mà mức độ phục hồi thì nó không bằng lần thứ hai. Riêng về khối u trên não trái thì người ta cũng không nói cho mình biết u đó là u ác tính hay lành tính, và người ta cũng không muốn đụng vào để điều trị vì sợ có khi tai biến gì nguy hiểm, cho nên họ muốn để cho gia đình và Giáo Hội trách nhiệm điều trị chuyện này thì hay hơn.”
Vì bệnh tình như vậy, nên chính CSVN buộc lòng phải đưa Cha LÝ về Huế để Gia đình và Giáo Hội lo lắng chữa trị.
Tôi có một số nhận xét sau đây:
1) CSVN quyết định đưa Cha LÝ về Nhà Hưu Dưỡng Huế để Giáo Hội lo chữa trị. Đây không phải là do lòng nhân đạo mà CSVN thường rêu rao. Đây chỉ là việc tính tóan cho cái lợi của mình mà thôi. Thực vậy, chính Cha LÝ đã nói: ”người ta cũng không muốn đụng vào để điều trị vì sợ có khi tai biến gì nguy hiểm”. CSVN biết rõ rằng Lm NGUYỄN VĂN LY đã được cả Thế giới lưu tâm phản đối việc CSVN kết án tù Ngài và nhất là Lực Lượng Giáo dân Công Giáo đang lên mạnh và hòan tòan ủng hộ sự can đảm đấu tranh của Ngài. CSVN sợ rằng nếu Bệnh viện của Cộng sản chữa trị và nếu Ngài bị chết hay hòan tòan tê liệt, thì Thế giới, nhất là Lực Lượng Công Giáo sẽ đứng lên kết án CSVN đã giết Ngài như trường hợp Đức Cha NGUYỄN KIM ĐIỀN. Vì vậy chính Bác sĩ Cộng sản tại Bệnh Viện Hà Nội không dám đụng đến u máu trên đầu Ngài. CSVN sợ bị kết án là đã giết Cha LÝ. Đó là lý do tính tóan của CSVN chứ không phải là lòng nhân đạo gì cả. Nếu bệnh tình của Ngài không thuyên giảm hoặc còn gia tăng, thì CSVN sẽ nói rằng đó là trách nhiệm của Giáo Hội chữa trị.
2) Khi Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ vào tù, thì Ngài vẫn khỏe mạnh. Ngài cũng không phải là một phạm nhân, mà chỉ bị nhốt tù do sự độc ác độc tài của CSVN mà thôi. Bệnh mạch máu não mỗi ngày mỗi nặng là do việc tù tội mà phát sinh. Trách nhiệm chữa trị phải là từ phía những người tàn ác đã nhốt tù Ngài, chứ không phải là trách nhiệm từ Gia đình hay từ Giáo Hội. Trách nhiệm săn sóc sức khỏe tù nhân và chữa trị là do Nhà Nước độc tài CSVN. Vì vậy, lúc này, dù cư ngụ tại Nhà Hưu Dưỡng, nhưng phi tổn chữa trị cho bệnh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ phải do Nhà Nước CSVN chịu. Bắt nhốt tù người ta, làm cho người ta bệnh, thì phí tổn chữa bệnh cũng phải do Nhà Nước chịu. Nhà Nước không chịu trả phí tổn chữa bệnh, mà dào cho Gia đình và Giáo Hội, đó là trò khôn lỏi, bất công. Có thể kiện Nhà Nước CSVN về trò bất công, khôn lỏi này.
3) Nhà nước CSVN nói rằng đây là việc đình chỉ ngồi tù trong 12 tháng để chữa bệnh. CSVN không dám chữa bệnh cho Lm NGUYỄN VĂN LÝ, không dám đụng tới u máu ở đầu của Ngài vì sợ nguy hiểm đến tính mạnh, thì làm sao CSVN dám quả quyết rằng chỉ chữa trong vòng 12 tháng là khỏi bệnh để rồi bắt Ngài vào tù. Về việc quyết định bệnh đã khỏi hẳn hay chưa phải là do Bác sĩ chữa trị quyết định. Nếu Bác sĩ nói rằng sau 12 tháng, bệnh của Ngài vẫn còn và dù có thuyên giảm nhưng cần tĩnh dưỡng 6 tháng hay một năm nữa, thì CSVN không có quyền bắt con bệnh vào tù. Sự quyết định về bệnh của con bệnh là do Bác sĩ chữa trị. Nếu Bác sĩ thấy rằng hai hay ba năm mà bệnh của Cha LÝ vẫn phải săn sóc, thì Công an không có quyền bắt con bệnh vào tù. Bệnh máu não của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ có thể kéo dài 5 hay 7 năm hoặc vô hạn định. Bác sĩ chữa trị mới có thẩm quyền quyết định về thời gian chữa trị.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.03.2010
| | | |
HẢI NGỌAI CẤM VẬN NGỌAI TỆ ĐỐI VỚI MAFIA CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010
HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:
=> Tạm ngưng du lịch Việt Nam
=> Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết
=> Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.
Đấu tranh chống lại CSVN, chúng tôi luôn luôn đứng ở lãnh vực Kinh tế. Lực lượng đấu tranh chính yếu là tại Quốc nội. Hải ngọai yểm trợ cho Quốc nội. Có hai Mặt Trận mà Hải ngọai có thể đóng góp hữu hiệu, đó là Mặt Trận Thông Tin về Quốc nội và Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế chống lại Mafia CSVN cướp bóc Dân chúng.
Đối với Mặt Trận Thông Tin về Việt Nam, Hải ngọai phải tăng cường luôn luôn vì chúng ta có phương tiện và vì Truyền Thông hiện nay là từ trời rơi xuống mà CSVN khó lòng ngăn chặn. Đối với Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế, chúng ta phân biệt những điểm tế nhị. Chúng ta tránh những gì có thể làm hại đến đời sống làm ăn kiếm sống vất vả của Dân chúng, nhưng đối riêng với Mafia CSVN cướp bóc, thì chúng ta kêu gọi trừ diệt không thương tiếc.
Từ khi CSVN tuyên bố phá giá nội tệ, chúng tôi thấy đây là dịp mà Hải ngọai phải nắm lấy để tấn công nhóm đảng Mafia CSVN mà không ngại sợ liên hệ đến cuộc sống làm ăn vất vả của Dân chúng. Việc buộc lòng phá giá đồng bạc Việt Nam cho thấy một tình trạng khan hiếm ngọai tệ có thể đưa Cơ Chế đến phá sản. Chúng tôi muốn kêu gọi Hải ngọai đòan kết, cứng rắn xử dụng mọi biện pháp CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Cơ Chế Mafia CSVN cướp bóc.
CSVN khan hiếm ngọai tệ trầm trọng
Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế cho đến nay, CSVN đang rơi vào tình trạng khan hiếm ngọai tệ như sau:
=> Đầu tư nước ngòai giảm 82% vì chính nước ngòai cũng đang trải qua Khủng hỏang. Ngày nay, không Nhà Nước Tây phương nào, Liên Aâu và Mỹ, không thiếu hụt Ngân sách. Tình trạng khủng hỏang đang diễn ra nguy hiểm tại một số nước Liên Aâu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Liên Aâu đang khó khăn trong việc cứu vớt những nước này, nên khó lòng nghĩ đến đầu tư vào Việt Nam xa xôi nguy hiểm. Trung Đông cũng phải quan tâm đến vấn đề Dubai.
=> Aâu, Mỹ du lịch Việt Nam giảm 70%. Xuất cảng của Việt Nam sang Liên Aâu và Hoa kỳ giảm 62%, đó là chưa kể những hàng hóa bị cấm đóan vì độc hại và những hàng bị tăng thuế nhập cảng như tôm cá vào Mỹ, đồ may mặc, da giầy vào Liên Aâu. Khi du lịch giảm, hàng xuất cảng giảm, thì làm sao có thể tăng ngọai tệ được.
=> Trong khi ấy, những hàng nhập siêu cho Việt Nam lại tăng mạnh và quá mức. Cán cân thương mại nhập/xuất mất thăng bằng. Nhập siêu tức là ngọai tệ đi ra.
Đình trệ chung về Mậu dịch Quốc tế
Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày hôm nay 25.02.2010, trang 17, đăng những lời tuyên bố của chính Oâng Pascal LAMY, Tổng Giám đốc WTO:
“Le commerce international enregistré l’an dernier un recul sans précédent depuis la Seconde Guerre Mondiale en raison de crise 12%, et l’année 2010 s’annonce médiocre avec déjà des signes inquíetants pour la reprise économique espérée. Le commerce mondial a été victime de la crise et s’est contracté de 12% en volume en 2009”. (Thương mại quốc tế ghi nhận năm vừa rồi một sự lùi lại chưa bao giờ xẩy ra từ Thế Chiến Thứ Hai với 12% giảm, và năm 2010 báo hiệu xấu với những dấu hiệu đáng lo ngại cho việc phục hồi kinh tế như ao ước. Thương mại hòan cầu đã là nạn nhân của khủng hỏang và đã lùi 12% tính về lượng giao dịch trong năm 2009.)
Oâng nói thêm về những lý do của việc lùi chưa từng có này:
“Selon OIT, le nombre de chomeurs a atteint un niveau sans précédent de 200 millions de personnes, par conséquent le manque du pouvoir d’achat. La chute brutale des échanges commerciaux s’explique principalement par un repli de la demande des plus grandes économies, ainsi que par une raréfaction des prêts bancaires pour financer les transactions commerciales.” (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số thất nghiệp đã đạt tới mức chưa từng có là 200 triệu người. Việc tụt dốc tàn nhẫn của những trao đổi thương mại được giải thích chính yếu bởi việc cắt đi việc đặt mua hàng từ những nền kinh tế lớn nhất, cũng như bởi việc khan hiếm những món cho vay ngân hàng để tài trợ cho những thương vụ thương mại.)
Những tuyên bố trên đây của Oâng Tổng Giám đốc WTO chứng tỏ rằng những con số ca tụng tăng trưởng cũng như xuất cảng từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam là những khóac lác tuyên truyền mà thôi.
Phá giá đồng bạc Việt Nam là hậu quả tất nhiên
Trong bài viết dài về TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này, chúng tôi đã cắt nghĩa một cách giáo khoa rằng đồng nội tệ của một quốc gia mạnh hay yếu là do Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ, do Cán Cân Chuyển Vốn vào. Chúng tôi đã viết và cắt nghĩa như sau:
Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.
Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh hay yếu?
Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.
Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giûam giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.
Tại Việt Nam, ngọai tệ không những không vào mà còn thất thóat ra ngòai nhiều. Người trong nước tăng Cầu ngọai tệ, nên tỷ giá ngọai tệ tăng. Phía Cung nội tệ tăng để mua ngọai tệ phục vụ nhập siêu. Cung nội tệ tăng, thì tỷ giá nội tệ sánh với ngọai tệ bị mất giá.
Tình trạng khan hiếm ngọai tệ và Đình trệ xuất cảng càng kéo dài bao nhiêu, thì đồng bạc Việt Nam càng phá giá bấy nhiêu. Lần phá gia trước Tết (11.02.2010) chưa phải là lần cuối, mà việc phá giá còn tiếp tục.
Bản Tin Reuters do John Ruwitch, đánh đi từ Hà Nội như sau:
“HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.
Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.
Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.
“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.
“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”
Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả. “
Hải ngọai hãy cứng rắn dồn sức CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Mafia CSVN
Đã bao chục năm trường, mỗi năm Hải ngọai chúng ta đã chuyển về Việt Nam cho Gia đình trung bình USD.4-6 tỉ. CSVN không biết ơn mà vẫn luôn luôn coi chúng ta là thù địch, vẫn tàn nhẫn bóc lột đàn áp Dân chúng hay những người trong Gia đình của chúng ta. Đây là dịp mà chúng ta phải dặn bảo nhau, mở Phong trào Hải ngọai CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với đám nhóm đảng Mafia CSVN tàn bạo, cướp bóc.
Lạm phát bắt đầu tăng. Với lạm phát tăng và đồng bạc phá giá, Dân chúng sẽ đứng lên !
HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:
=> Tạm ngưng du lịch Việt Nam
=> Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết
=> Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010
| | | |
TỪ LẠM PHÁT, TIỀN MẤT GIÁ ĐẾN DÂN NGHÈO NỔI DẬY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 04.03.2009
Tuần trước, chúng tôi viết bài về phá giá đồng bạc Việt Nam theo tỷ giá đối với Đo-la liên quan đến tình trạng thiếu ngọai tệ của Nhà Nước CSVN. Việc tuyên bố phá giá nội tệ ngày 11.02.2010 do Ngân Hàng Nhà Nước quyết định và có thể liên tiếp những quyết định phá giá nữa là do chính những nhà Kinh tế, Tài chánh trong nước phân tích chứ không phải chúng tôi từ Hải ngọai nhận định để CSVN chống chữa với Dân rằng đó là do tuyên truyền chống Cơ Chế hiện hành bởi “thế lực thù địch” ngọai lai. Chúng tôi dựa trên tình trạng mỗi ngày nhóm Mafia CSVN càng thiếu hụt ngọai tệ để nội tệ mỗi ngày mỗi mất giá trị, nghĩa là phá giá liên tiếp.
Phá giá đồng nội tệ đi song hành với tình trạng LẠM PHÁT tăng nhanh ở Việt Nam. Viết về tình trạng tăng nhanh lạm phát, chúng tôi cũng trích dẫn chính những phân tích và nhận định của những nhà Kinh doanh, những Ngân Hàng gia, những Giáo sư Kinh tế/Tài chánh từ Quốc nội để đám Mafia CSVN không chống chế, lừa gạt được Dân chúng bằng cách cố hữu nói trên báo đài độc chiều rằng đó là do “thế lực thù địch” hải ngọai vu khống.
Tình trạng lốc xóay phá giá nội tệ và lốc xóay lạm phát, vật giá nhẩy vọt sẽ làm cho đại đa số dân nghèo, cho những nông dân, ngư dân, công nhân và công chức có thu nhập không thay đổi trở thành thiếu thốn chi tiêu, thậm chí đói ăn. Chịu đựng không nổi cảnh đã nghèo khổ lại phải đói ăn thêm vì lốc xóay phá giá nội tệ và lạm phát, vật giá tăng vọt, đại đa số Dân chúng sẽ nổi dậy chấm dứt đám Mafia CSVN cướp bóc dân và bán nước.
Chúng tôi viết những điểm sau đây:
=> Nhận định từ Quốc nội về tình trạng Lạm phát
=> Phân tích những lý do chính của Lạm phát
=> Không chịu nổi hậu quả Lạm phát, Dân chúng nghèo đói nổi dậy
Nhận định từ Quốc nội về tình trạng Lạm phát
Một số Phóng viên, Ký giả đã phỏng vấn những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh tại quốc nội về tình trạng Lạm phát hiện này.
Bài đăng trên Vietnamnet do Phước Hà thực hiện Cập nhật lúc 18:37, Thứ Năm, 28/02/2008 (GMT+7)
Chỉ số tăng giá tiêu dùng hai tháng đầu năm lên đến 6,02%, đã đi được 2/3 so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra, trong khi vẫn còn 10 tháng ở phía trước. Các chuyên gia kinh tế tỏ ra không có nhiều bất ngờ và cho rằng cần có các giải pháp đồng bộ hơn để chặn đứng lạm phát.
=> Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam:
Tốc độ tăng giá 2 tháng đầu năm lên tới 6,02% là quá cao. Đặc biệt, có những nguyên nhân chủ quan, trong đó có một nguyên nhân chính là ngân hàng đã bỏ lượng tiền lớn ra mua USD chưa thu về hết được, đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên.
=> Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính:
Con số 6,02% tăng cao quá. Nhìn cả một quá trình, đây là tăng cao nhất trong hơn 10 năm lại đây. Đây là một cảnh báo đối với nền kinh tế. Những tháng tới, nếu có tăng 0,5% thôi như dự báo tháng 3 của Tổ điều hành thị trường, thì cả năm cũng không thể thực hiện nghị quyết Quốc hội đề ra.
Biện pháp tiền tệ đã được thực hiện. Giá cả đang lao nhanh như thế thì những biện pháp ra chỉ có tính ngăn chặn thôi. Trong kiềm chế lạm phát, giải pháp tài chính tiền tệ có ý nghĩa quan trọng, trong đó giải pháp tiền tệ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Lạm pháp do tiền tệ !
Các ngân hàng thương mại hiện dư nợ quá lớn nên buộc phải huy động vốn, đua nhau tăng lãi suất để hút vốn về khiến cho thị trường những ngày gần đây hỗn loạn. Khi tăng lãi suất huy động lên thì cũng có tác dụng phụ là cho vay cao dẫn đến ảnh hưởng tăng trưởng. Lãi suất cao thì chi phí cao, giá thành cao thì cũng tác động đến lạm pháp.
Các ngân hàng đưa lãi suất lên cao, trong khi hoạt động của ngân hàng nước ta nguồn thu chủ yếu từ chênh lệch vay và cho vay chiếm đến 70% làm cho chi phí các ngân hàng tăng lên, năng lực tài chính yếu đi năng lực cạnh tranh giảm. Ngân hàng Nhà nước Phát hành tín phiếu với 20.300 tỷ đồng với lãi suất 7,8%, mỗi tháng lo trả 100 tỷ đồng lãi và đồng thời tăng dự trữ bắt buộc cũng phải trả thêm 100 tỷ nữa. Giải pháp tiền tệ như con dao hai lưỡi.
Chính sách tài chính phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.
=> Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam
Việc chống lạm phát năm 2008 này phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu, hơn cả mục tiêu tăng trưởng. Vì suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá, đội giá thành sản phẩm lên cao, tăng thêm dự án treo, còn đời sống người dân bị ảnh hưởng nặng.
Như vậy, về phương diện đối nội, phân phối nguồn lực đã bị lệch và tác động đến đời sống.
Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình. Nếu môi trường VN vẫn bất ổn, lòng tin của nhà đầu tư sẽ giảm đi, ảnh hưởng đến cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư bỏ đi cũng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn.
Lạm phát ảnh hưởng cũng sẽ làm cho sức cạnh tranh trong nước giảm đáng kể.
NHNN cũng đã vừa sử dụng kết hợp cả hai loại biện pháp dài hạn và tức thì. Biện pháp hành chính như bán 20.300 tín phiếu.
Ngay sau đó NHNN lại bơm ra 39.000 tỷ đồng. Điều này khiến sự vận động của dòng tiền thành bất thường, gây hiệu ứng tiêu cực.
Bài trên RFA do Mặc Lâm thực hiện 2010-03-01
Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra thông báo tỏ ý lo ngại cho việc lạm phát tiếp theo sau suy thoái kinh tế của nhiều nước khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam là một trong các nước được đánh giá là sẽ có tình trạng lạm phát có thể lên tới hai con số trong năm nay.
=> GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, chia sẻ them về vấn đề này:
Ngân Hàng Nhà Nước quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng USD và tiền đồng VN tăng thêm 603 đồng tương đương với 3,3%. Tôi cho rằng việc này cũng coi như một sự phá giá của đồng VN, tức là cái tình trạng nhập siêu của Việt Nam ngày nay lại càng gia tăng. Mà hiện nay, nếu theo tỷ giá này thì nó càng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu, điều đó là điều hiển nhiên rồi.
Tôi cho rằng điều này cũng không thể nào khác được bởi vì trong tình trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tất cả các mặt hàng nhập ngoại đều khan hiếm cả, quỹ ngoại tệ trong nước thì cũng không có nhiều, thế thì bây giờ đành phải theo chiều hướng như đã biết.
Theo tôi thì con đường mà hiện nay Việt Nam có thể làm được là vẫn tăng tỷ giá lên để có thể găm được một ít ngoại tệ ở trong nước, và có thể có một điều kiện là làm thế nào đó cho tình trạng ngoại tệ bớt đi ra nước ngoài hơn để tăng ngoại tệ.
Chứ bây giờ mà trả nợ cho nước ngoài thì như anh biết đấy, tức là cái thực lực về tiền tệ của dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện nay cũng không phải là nhiều mà còn dùng cho nhiều mục tiêu, do đó mà việc tăng vốn ngoại tệ trong nước để mà trả nợ nước ngoài thì rất hạn chế.
Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Tôi nghĩ là bây giờ tình trạng lạm phát thì ai cũng đã nhìn thấy rõ mà cái này thì các nhà khoa học và kinh tế cũng đã cảnh báo cho chính phủ, không phải là từ bây giờ mà từ năm ngoái rồi. Đương nhiên là về tình trạng của nền kinh tế thì những khoản chi bất đắc dĩ thì nhà nước vẫn phải chi thôi.
Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Cái thứ hai nữa là có thể trong thời gian tới nhà nước cũng có thể phải phát hành thêm trái phiếu, có thể là công trái trong đợt tới để giảm bớt số tiền trong lưu thông. Tôi nghĩ là hai nguồn đó ở trong nước thì trong tầm tay, thế còn bây giờ như anh biết đấy, tức là các nguồn ODA hoặc FDI vào thì nhiều khi nó được sử dụng không hiệu quả lắm, mà chủ yếu là dành cho các khoản chi công nghiệp chế biến.
Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả. Đồng thời phải suy nghĩ đến việc phát hành công trái phiếu trong đợt tới.
Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ.
Mới đây Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra nhận định là trong năm nay Việt Nam sẽ phải đối phó với lạm phát lên đến hai con số. Tôi nghĩ là lạm phát hiện nay nó đúng trong thực tại mà chưa thống kê hết thôi, chứ còn nếu thống kê hết thì nó có thể đến 2 con số trong hiện nay rồi, bởi vì bắt đầu từ đầu tháng 3 giá điện tăng. Trước đó thì chúng ta thấy giá dầu tăng liên tục, từ đầu năm tới giờ mới được 2 tháng mà tăng 2 lần. Thế thì tình trạng lạm phát lên đến 2 con số thì tôi cho là hiện thực và nó cũng đúng tầm, đúng với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay.
Phân tích những lý do chính của Lạm phát
Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, phát biểu một câu làm chúng tôi lưu ý đặc biệt: “Suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá. Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“
Từ câu nói, chúng tôi rút ra ba điểm sau đây:
* Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá;
* Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%;
* Việt Nam khác với những nước trong khu vực về Cơ Chế Chính trị-Kinh tế
Phân tích của chúng tôi dựa trên ba điểm trên đây với trích dẫn từ những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh của chính Cơ Chế CSVN.
Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá
Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài dài có tính cách giáo khoa “TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ”. Trong bài này, chúng tôi đã định nghĩa rằng đồng Tiền chỉ là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises).
Trong Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG (Régime du Pouvoir d’Achat), cái GIÁ TRỊ của một đơn vị Tiền bạc mà một người đang cầm là TƯƠNG ĐƯƠNG HÀNG HÓA HAY DỊCH VỤ mà người đó nhận được khi chuyển đồng tiền sang tay người khác. Nếu 100 Đồng VN năm 2008 mua được hai hột vịt lộn, nhưng năm 2009 chỉ được 1 hột vịt lộn, thì ta nói rằng Vật giá hay Lạm phát tăng 50%, có nghĩa Đồng Tiền VN mất giá 50%.
Lý thuyết đơn giản về chuyển biến tương quan giữa đồng tiền và tương đương hàng hàng hóa được tóm tắt trong Công thức của FISHER:
M.V ------ = P T
M : Khối lượng tiền cho vào Kinh tế; V: Tốc độ chạy nhanh chậm của đồng tiền; T: Tổng cộng Hàng hóa và Dịch vụ trong một hạn kỳ nhất định; P: Khả năng chuyên chở của đồng tiền tương đương Hàng hóa, Dịch vụ.
Công thức ấy tóm tắt cho chúng ta hai lý do chính của việc mất giá của đồng tiền hay thay đổi tương đương Hàng hóa, Dịch vụ mà người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá tăng.
Lý do thứ nhất đến từ Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng hay giảm. Lý do do này thuộc lãnh vực Tiền bạc.
Lý do thứ hai đến từ việc sản xuất Kinh tế thực (T) giảm hay tăng, có hiệu lực hay không.
Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng mà sản xuất Kinh tế thực (T) đứng yên, thì có Lạm phát. Lạm phát còn mạnh hơn nữa khi nền sản xuất Kinh tế còn giảm xuống. Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) đứng yên, mà nền sản xuất Kinh tế thực (T) giảm, chúng ta cũng có lạm phát.
Chính sự tương đương Hàng hóa, Dịch vụ này mà các Lý thuyết gia về Tiền tệ nói đến tính cách Hội nhập Tiền tệ vào Lãnh vực Kinh tế thực. Với quan điểm Hội nhập Tiền tệ này mà người ta phân biệt Đồng Tiền thực và Đồng Tiền giả. Đồng Tiền mới được Ngân Hàng Trung Ương in ra chỉ là một tờ giấy không hơn không kém, chưa có Giá trị. Đồng Tiền đã Hội nhập, nghĩa là qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, mới có Giá trị. Không phải Đồng Tiền mới in ra, thả vào xã hội mà không qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, tự nhiên có Giá trị như Đồng Tiền thực đã được Hội nhập mà người Dân đang giữ trong tay. Việc in Tiền mới thả bừa vào Xã hội để đánh lận con đen giữa hai Đồng Tiền thực (đã Hội nhập) và Đồng Tiền giả (mới in ra chưa Hội nhập) là hành động ăn cướp của quyền lực Chính trị và quyền lực Tiền bạc đối với Dân.
Vào những thập niên 1980, việc đánh lận con đen này đã làm Lạm phát tới hàng 1000% tại một số nước Phi châu và Nam Mỹ. Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết về những trường hợp gian lận này:
“L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).
Với hai lý do chính có tính các giáo khoa thuộc lãnh vực Tiền Tệ và lãnh vực sản xuất Kinh tế thực, chúng tôi phân tích cho trường hợp Lạm phát tại Việt Nam cùng với những xác nhận trong phần trên từ những Giáo sư, Cố vấn Khinh tế/Tài chánh thuộc Cơ Chế CSVN.
Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%
Theo Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trong 4 năm, đồng Tiền VN mất giá 40%. Điều này có nghĩa là việc mất giá của đồng tiền VN không phải là có tính cách nhất thời, giai đọan với những lý do bất thường mà Nhà Nước CSVN thường nêu ra để cắt nghĩa cho dân chúng để chữa lỗi. Lý do mất giá đồng Tiền Việt Nam mang tính cách thường xuyên và trường kỳ.
Dưới chủ trương Kinh tế tập quyền chỉ huy, chúng tôi không nói đến làm gì vì nền Kinh tế này thất bại hòan tòan. Nhưng hãy kể từ 10 năm nay, từ thời đổi mới, mở cửa và tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì đồng Tiền VN có thể nói là mất giá 100%, nghĩa là lạm phát, vật giá tăng 100%.
=> Lãnh vực Vốn, Tiền tệ (M.V)
Những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước làm việc với vốn, Tiền của quốc gia. Vốn, Tiền của quốc gia được thả lỏng cho những Công ty Nhà Nước. Những dự án thi nhau trình lên Nhà Nước để lấy vốn. Có ba lọai dự án chính:
* Những dự án thuộc ngành nghiệp chuyên môn
* Những dự án thuộc hệ thống Bộ
* Những dự án thuộc vùng, mỗi Tỉnh
Thời kỳ đầu của đổi mới, mở cửa, những dự án của những Công ty quốc doanh được coi như việc thưởng công chiến tranh. Dần dần sau này, những dự án dễ dàng được cấp vốn thường là do những con ông cháu cha có quyền trong đảng.
Việc cấp vốn là theo tiêu chuẩn liên hệ quyền hành trong đảng, chứ không tất nhiên theo tieo tiêu chuẩn cần thiết và hiệu quả Kinh tế. Ví tính cách liên hệ quyền lực trong đảng, nên việc kiểm sóat xử dụng vốn cũng không thể xiết chặt giữa các quyền lực trong đảng được bởi lẽ cùng ăn bẩn như nhau thì bỏ qua những bẩn thỉu của nhau. Những chủ dự án nếu làm ăn không thành công hay thua lỗ, thì đã có vốn nhà nước cấp phát thêm.
Đối với mỗi dự án từ vốn nhà nước, trước hết chủ dự án phải nghĩ đến cắt xén cho túi riêng mình. Sau đó việc chi tiêu trong Công ty hay Tổng Công ty cũng không được người Trách nhiệm kiểm sóat chặt chẽ bởi lẽ nếu người Trách nhiệm khắt khe kiểm sóat, thì những người dưới kiểm sóat ngược lại khắt khe với mình. Đây là cả hệ thống lãng phí vốn quốc gia.
@ Chúng tôi xin trích bài viết của Bloger Người Buôn Gió :
“Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ? Người Buôn Gió
Mấy chữ “tư duy nhiệm kỳ” nghe mà phát ghét. Ở đó bao hàm tất cả những cái gì là hủ bại nhất trong tính cách dân tộc, nhất là cái tính cách ăn xổi ở thì. Ăn xổi ở thì thì làm bất kỳ việc nào cũng cốt qua loa cho xong đi, để mà còn nặng túi trở về với gia đình, chăm sóc cái tổ ấm vốn đã lo đâu vào đấy trong khi đang tại chức. Cho nên mọi việc anh làm, tiếng là vì dân, nhân danh thật to tát, cuối cùng chỉ là đổ vỏ ra đấy để cho kẻ đến sau đi hót. Và chu trình cứ thế lặp đi lặp lại, trở thành một đại họa cho dân. Một thành phố Hà Nội mà càng cải tạo lại càng nhếch nhác chẳng phải vì thế thì còn gì. Nghe đâu ngài đương kim trọng thần của nhiệm kỳ này đang cố tranh thủ một mảnh đất nào đấy ở Hồ Mây, cái đích ngài cố ngắm cho trúng, chứ đâu phải là nghĩ suy về những quy hoạch tổng thể cho Hà Nội ngàn năm “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như cụ Hồ nói. Trách gì mới vài năm trước khi nước mưa biến cả thành phố thành sông thì có vị quan to đã có ngay một câu thật nổi tiếng: Dân Hà Nội bây giờ quen dựa dẫm vào Nhà nước mất rồi. Thì chính là vì dựa dẫm vào Nhà nước mà dân chúng Thủ đô chúng tôi cứ tưởng rồi sẽ có đường phố khang trang, đi lại thông thoáng hơn, nào hay bây giờ ra đường đã thấy ngay những con đường do Nhà nước cải tạo đã đang tắc ứ. Còn các khu Hà Nội mới mở từ khi Thủ đô ta giải phóng đến nay nhất là từ khi có đồng vốn vay nước ngoài để làm kinh tế thị trường, thì nhiều nơi lại còn ngõ ngách chật hẹp, chen chúc, lúc nhúc còn hơn cả Hà Nội 36 phố phường thuở xưa. Những nơi ấy xe cộ tha hồ mà tắc.”
Những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế cho Cơ Chế CSVN, không ai không nhắc đến lý do thiếu kiểm sóat chặt chẽ Tiền, Vốn của Nhà Nước.
@ Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam nói đến “đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên.”
@ Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh “Chính sách tài chính phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.”
@ GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, nói thẳng đến các Dự án và chi tiêu của Chính phủ: ”Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả.
Khi lượng Tiền, Vốn bỏ ra, thả lỏng cho những Dự án chuyên môn, cho những Dự án Bộ hay những Dự án Địa phương (Tỉnh), mà hiệu quả Kinh tế không đạt được, thì đồng Tiền không Hội nhập đầy đủ, nghĩa là không có tương đương Hàng hóa hay Dịch vụ bảo đảm Giá trị của đồng Tiền. Đồng Tiền mất giá, lạm phát đã nhiều năm trường là do sự thả lỏng này. Nhà Nước lấy Tiền, Vốn đâu mà thả lỏng ra như vậy ? Tại sao không có thể nghĩ rằng trong suốt những năm trường, Nhà Nước độc tài đã ra lệnh cho Ngân Hàng Nhà Nước in tiền mới (chưa Hội nhập Kinh tế), thả vào nền Kinh tế để đánh lận với đồng Tiền thực (đã Hội nhập Kinh tế) mà dân chúng đang giữ.
=> Lãnh vực Thực hiện hiệu quả Kinh tế (T)
Người làm Kinh tế có câu nói: “Làm ra Tiền đã khó, mà tiêu Tiền còn khó hơn”. Thực vậy, tiêu Tiền không phải là vất Tiền ra cửa sổ. Tiêu Tiền theo ý nghĩa Kinh tế là phải làm thế nào để một đồng chi ra, phải thu vào tối thiểu hơn một đồng, nghĩa là nếu không có lợi nhuận, thì thà đừng tiêu. Việt Nam cũng có câu: ”Tiêu Tiền Chùa”, nghĩa là tiêu Tiền của chung thì dễ dàng phung phí, không cần nghĩ đến hiêu quả. Phải nghĩ đến hiệu quả trước khi quyết định chi tiêu.
Những Công ty, Tổng Công ty quốc doanh không làm ăn cho có hiệu quả tương xứng vì những lý do sau đây:
* Đây là Công ty Nhà Nước, lợi nhuận làm ra do cố gắng làm việc hữu hiệu, cũng thuộc về Nha Nước. Vì vậy không cần cố gắng nhiều.
* Người đứng trách nhiệm Công ty nghĩ đến cắt xén thưởng công cho mình trước khi làm Kinh tế thực sự để sinh lợi nhuận.
* Những sản phẩm công nghệ ngày nay là sự chắp nối những linh kiện rời trong hệ thống sản xuất từng phần (sous-traitance). Những Công ty Nhà Nước khó lòng phân công với nhau để sản xuất từng phần trong mục đích giảm giá thành sản phẩm cuối cùng. Những Công ty công nghệ Nhà nước chọn những dễ dãi là nhập siêu những thành phần từ nước ngòai để đem về ráp nối chặng chót. Vì vậy sản phẩm chặng chót có giá thành cao lên vì nhập siêu những linh kiện.
* Mỗi lần nhập siêu linh kiện là mỗi lần những chủ Công ty nhà nước lại có dịp thông đồng kín đáo với người bán từ nước ngòai để tăng giá mua, cắt xén cho vào túi riêng của mình.
* Cuối cùng, nếu Công ty không làm việc cho có hiệu lực, thua lỗ, thì đã có Tiền, Vốn quốc gia bù thêm vào.
Theo Công thức tóm tắt của FISHER mà chúng tôi đưa ra trên đây, thì khi nền Kinh tế không có hiệu quả, số sản phảm (T) giảm, thì Khối Tiền lưu hành (M.V) không có Hàng hóa và Dịch vụ tương xứng. Đồng Tiền mất giá, lạm phát, đồng tiền mua được ít hàng, nghĩa là vật giá tăng.
@ Bloger Người Buôn Gió viết rất đúng về thái độ làm việc của những người trách nhiệm các Công ty Nhà Nước:” Các kế hoạch xây dựng càng xây càng hỏng, nào hầm Thủ Thiêm, đường hầm Kim Liên…; có nhà máy như Dung Quất tưởng đã vận hành từ lâu thì nay lại phát hiện thêm 100 lỗi trong khi thi công nên phải tạm ngưng, không biết sẽ còn ngưng đến bao giờ. Các đại tập đoàn đứng sau Nhà nước, tưởng lập ra là cốt tăng thêm GDP, giúp cho an sinh được cải thiện, dân đỡ khổ hơn, nào hay anh nào cũng dài mồm than lỗ, mới ra Tết mọi thứ sản phẩm của họ đã tăng giá vùn vụt, nghĩa là họ chỉ góp phần vào bĩ cực mà chẳng thấy có thái lai.”
@ Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh như một hiệu lệnh: “Đầu tư phải hiệu quả”.
@ GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, cũng nhất thiết khuyến cáo: “Phải nâng cao hiệu quả”.
Việt Nam khác với những nước trong khu vực về Cơ Chế Chính trị—Kinh tế
Xin nhắc lại lời của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nói: “Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“. Có lẽ Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, không dám nói ra một điều làm Việt Nam khác với các nước trong khu vực vì ngại sợ rằng Công an CSVN lại mời ông lên làm việc, rồi truy tố ông ra tòa theo Điều 88 Bộ Hình Luật. Riêng tôi, tôi đã nói từ lâu rằng cái Cơ Chế CSVN làm Kinh tế, gọi là nền Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCN, khác hẳn với việc làm Kinh tế Tự do và Thị trường ở những nước trong khu vực. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường của những nước trong khu vực tôn trọng Môi trường Chính trị—Luật pháp dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique démocratique adéquat), trong khi ấy Việt Nam cố thủ chủ trương Chính trị độc tài nắm trọn độc quyền Kinh tế. Cái khác là ở chỗ đó và chính cái khác này làm cho Lạm phát và đồng Tiền mất giá cao hơn nhiều sánh với những nước trong khu vực.
Kinh tế Việt Nam là Kinh tế nhóm đảng Mafia CSVN độc tài cướp bóc của cải dân chúng và quốc gia cho riêng mình, chứ không phải nền Kinh tế do Dân và cho Dân. Vì nắm giữ cả hai quyền, nên Tiền, Vốn nhà nước bỏ lỏng ra để Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng theo ý đảng và họat động Kinh tế không cần hiệu quả để không đủ sản phẩm tương xứng (T) bảo đảm cho giá trị đồng Tiền. Lạm phát, Phá giá đồng Tiền là như vậy.
Không chịu nổi hậu quả Lạm phát, Dân chúng nghèo đói nổi dậy
Khi viết về cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á-châu năm 1997 làm đồng tiền một số lớn những nước Á châu mất giá, Bà Francoise NICOLAS đã đưa ra tỉ dụ tình trạng lạm phát đã làm dân chúng đói nghèo nổi dậy đạp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm cai trị.
Thực vậy khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mà họ tiết kiệm mất giá, những người lãnh lương như công nhân, công chức thì không được tăng lương là bao nhiêu, đa số rơi vào cảnh nghèo đói. Những người giữ quyền hành Chính trị, đặc quyền làm ăn bóc lột thì giầu có, vẫn tiêu pha, nhập siêu. Việc nổi dậy của đại đa số dân chúng nghèo đói không đến từ một thế lực ngọai lai nào khuyến dụ mà từ BỤNG ĐÓI của Dạ Dầy. Sức mạnh nổi dậy trước khi bị chết đói làm họ không sợ chết nữa. Nếu họ biết rằng việc mất giá Tiền tiết kiệm và Tiền lương của họ là do sự gian lận in tiền mới ra để lừa đảo đánh lận con đen với Tiền thực của họ, thì cuộc nổi dậy còn tăng thêm thù hận đến giết lát nữa.
Chúng tôi xin trích một đọan của bài viết của Oâng VŨ QUANG VIỆT đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“
Để kết, chúng tôi xin lấy lời nhận định của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO, tuyên bố với báo Financial Times: ”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.” (Nếu giá cả tiếp tục tăng, thì tôi không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những nổi dậy vì đói khổ) (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010 | | | |
TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 11.03.2010
Đầu tuần này, 08.03.2010, giới Tài chánh có những ngạc nhiên và nghi ngờ về thái độ của Trung quốc trước áp lực Tiền tệ và Thương mại Quốc tế, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn chúng tôi ngay chiều 08.03.2010 về thái độ này của Trung quốc. Thực vậy, trong cuộc Họp báo thứ Bẩy 06.03.2010, những lời tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, về khả năng tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ (Yuan)/Đo-la không đi theo những tuyên bố cứng nhắc của Thủ tướng Oân Gia Bảo trước đó rằng Trung quốc không nhượng bộ đối với bất cứ áp lực nào từ nước ngòai về tỷ giá Yuan/Đo-la. Trong khi ấy, cũng trong cuộc Họp báo ngày hôm sau, Chúa nhật 07.03.210, Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc, nhắc ra những căng thẳng hiện nay giữa Hoa kỳ và Trung quốc với những vụ như : (i) Hoa kỳ bán vũ khí cho Đài Loan mà Trung cộng vẫn coi là một Tỉnh của mình, (ii) Hoa kỳ gặp Đức Đạt Lai Lạ Ma mà Trung quốc luôn luôn coi là người khuấy động mọi nơi nhằm tách Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc, (iii) Trung quốc chủ trương không trừng phạt về nguyên tử đối với Iran, một nước cung cấp dầu lửa, đứng hàng thứ ba, cho Trung quốc.
Đài RFI hỏi tôi câu cuối cùng là nếu Trung quốc chỉ hứa lần hồi, có thể để đánh lừa, thì liệu có thể xẩy ra một cuộc Chiến tranh Thương mại hay không ? Hỏi bất ngờ như vậy, tôi không dám khẳng định liền.
Hôm nay, trước khi viết bài này, tôi đọc thêm một số bài mà chính tôi đã viết trước đây về thái độ sợ sệt của Trung quốc đối với việc Che Chở Mậu dịch ngay trong những lần họp Davos, trong những dịp nhóm lại G20 và nhất là kiểm điểm lại 66 biện pháp Che Chở Mậu dịch mà các nước đã đưa ra, rồi nhớ rõ lại lời báo động gần đây nhất của ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO, rằng lượng Mậu dịch Thế giới trong năm 2009 giảm 12%, một việc tụt dốc chưa từng có kể từ 20 năm nay.
Đọc lại những phân tích về tình trạng tụt dốc Mậu dịch Thế giới, tôi hiểu rằng nếu Trung quốc vẩn ương ngạnh tính tóan lừa đảo Thế giới, thì một cuộc Chiến tranh Thương mại rất có thể xẩy ra mà Trung quốc sẽ là nạn nhân. Có thể viễn tượng Chiến tranh Thương mại này đã làm cho Trung quốc phải tuyên bố như cuối tuần vừa rồi.
Chúng tôi đề cập những khía cạnh sau đây:
=> Những gian giảo Thương mại của TQ làm Thế giới bực mình và có biện pháp
=> Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn
=> Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc
=> Trung cộng là nạn nhân của Chiến tranh Thương mại
Những gian giảo Thương mại của TQ làm Thế giới bực mình và có biện pháp
Việc gian giảo trong phẩm chất hàng hóa đã làm thương hiệu MADE IN CHINA giảm xuống khiến Trung quốc phải dùng Tài chánh trợ lực để bán hàng hóa tại những nước nghèo. Những hàng độc hại sẽ mang ảnh hưởng xấu cho sức khỏe dân nghèo trong dài hạn.
Trong nội địa Trung quốc
Nhà Nước Trung quốc đã áp dụng việc khai thác nhân công từ nông thôn một cách phi nhân bản. Những nhân công du mục này bị bóc lột. Chế độ hộ khẩu đã tước đọat quyền cư ngụ của những nhân công du mục không được trở thành những người thuộc thành thị để có thể được hưởng những quyền lợi khi đến các thành thị làm việc. Kinh tế Trung quốc tập trung vào những thành thị ven biển. Những nông dân từ nội địa ra thành thị làm công nhân và bị bóc lột sức lao động, không có những quyền lợi được hưởng của người cư ngụ tại thành thị. Những hiệu quả Kinh tế/Thương mại dành cho nhóm đảng Mafia Cộng sản và những dân thành thị được ưu đãi.
Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).
Những người tiêu thụ tại những nước giầu bắt đầu ngượng ngùng và khó chịu khi tiêu thụ hững hàng này từ sự bóc lột vô nhân bản.
Tại những nước trong vùng Á châu
Ngòai việc bóc lột nhân công như trên vừa nói, Trung quốc còn xử dụng tỷ giá hối đoái thấp của đồng Yuan để làm cho hàng hóa rẻ thêm nữa nhằm tăng cường xuất cảng. Những nước nghèo Á châu cũng làm việc cho xuất cảng và sản xuất những hàng hóa tương tự như Trung quốc. Việc tràn lan những hàng hóa rẻ tiền Trung quốc sang các nước nghèo Á châu giết chết sản xuất của những nước nghèo này. Đồng thời tỷ giá thấp đối với đồng Đo-la còn làm tăng thêm cạnh tranh của hàng Trung quốc đối với những nước nghèo chung quanh khi xuất cảng hàng hóa sang Tây phương liên hệ đến thanh khỏan Đo-la. Việc Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá hạ đồng Yuan là lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010. Ngòai ra Trung quốc còn xử dụng USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông để thiết lập những cơ sở phân phối hàng, thậm chí cho hối lộ để đầu cơ. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.
Tại những nước Phi châu
Trung quốc xử dụng USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.
Trung quốc dễ xử dụng khí giới tiền bạc để hối lộ những chính phủ để lấy nhượng địa, tài nguyên cũng như mở những đầu cầu xuất cảng hàng hóa rẻ tiền, độc hại. Tình trạng hối lộ đã bị quốc tế công kích. Thực vậy, chính trong cuộc họp báo Chúa nhật ngày 07.03.2010 tại Bắc kinh, Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), Ngọai trưởng Trung quốc, đã phải lên tiếng chống đỡ đối với những công kích quốc tế. Ký giả Geoff DYER từ Bắc kinh viết: “Mr.Yang also rejected criticism that China’s economic ties with Africa were encouraging more corruption and hurting labour conditions. Some people are not happy to see the development of China-Africa relations“. (Oâng Dương chối bỏ lời công kích rằng sự kết nối kinh tế của Trung quốc với Phi châu đã cổ võ tham nhũng và làm thiệt hại những điều kiện lao động. Một số người không hài lòng về việc mở rộng những liên hệ Trung quốc—Phi châu) (Financial Times 08.03.2010, p.2).
Thị trường Liên Aâu và Hoa kỳ
Đây là hai Thị trường tiêu thụ chính yếu. Từ năm 2001, khi Trung quốc nhập WTO, hàng Trung quốc, nhất là hàng may mặc, hàng da dầy, đồ chơi trẻ em, thực phẩm... lan tràn hai Thị trường này.
Trước khi xẩy ra cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, Liên Aâu và Hoa kỳ, vì hy vọng bán máy móc, những thiết bị kỹ nghệ cho Trung quốc, nên có những thả lỏng. Nhưng dần dần, nhất là trong cuộc Khủng hỏang, Liên Aâu và Hoa kỳ bắt đầu thắt chặt việc nhập cảng từ Trung quốc, cụ thể là những hàng hóa sau đây:
=> Kiểm sóat chặt chẽ và từ chối những hàng mang độc hại
=> Liên Aâu tăng thuế nhập đối với hàng may mặc và da dầy
=> Mỹ tăng thuế nhập lốp xe hơi
=> Những nước Đông Aâu và một số nước vùng Địa Trung hải bị canh tranh rất thiệt hại bởi hàng Trung quốc, nhất là hàng tiểu công nghệ.
Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn
Từ thời TT.BUSH, vấn đề Trung quốc cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan làm lợi khí cạnh tranh thương mại đã được Hoa kỳ yêu cầu Trung quốc hủy bỏ.
Nếu trong chuyến viếng thăm Trung quốc của TT.OBAMA, thái độ của Hoa kỳ chỉ dừng ở lới khuyên nhẹ nhàng, thì trong những thời gian gần đây, Chính quyền Obama đã công khai bầy tỏ thái độ cứng rắn.
Các Ký giả Andrew BATSON, Terence POON, Shai OSTER, đã viết: “Mr.Obama told Democratic Senators earlier this year that he will “get much tougher” with China on trade issues, including the currency. The US Treasury in April called China a “currency manipulator” (Oâng Obama đã nói với những Thượng nghị sĩ Dân chủ, dịp đầu năm nay, rằng ông sẽ “cứng rắn thực sự” đối với Trung quốc về những vấn đề thương mại, gồm cả vấn đề tiền tệ. Bộ trưởng Ngân khố, tháng tư vừa rồi, đã gọi Trung quốc là người “mưu mẹo xử dụng tiền tệ”. (The Wall Street Journal 08.03.2010, p.10).
Thái độ cứng rắn này còn được tỏ lộ trong những quyết định sau đây:
=> Quyết định bán khí giới trị giá USD.6 tỉ cho Đài Loan mà Trung quốc coi là việc vi phạm chủ quyền của mình. Trung quốc vẫn coi Đài Loan là một Tỉnh thuộc chủ quyền Trung quốc.
=> TT.Obama quyết định gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma mà Trung quốc coi là người phản lọan muốn tách rời Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc. Hoa kỳ đã tiếp đón người thù địch của Trung quốc.
=> Đối với vấn đề nguyên tử Iran, Hoa kỳ nhất quyết đặt những trừng phạt. Những trừng phạt này động chạm đến quyền lợi dầu lửa của Trung quốc. Iran là nước quan trọng thứ ba về việc cung cấp dầu lửa cho Trung quốc.
Những sự việc trên đây cho thấy sự căng thẳng giữa hai nước Mỹ và Trung quốc. Những căng thẳng này có thể dược đàm phán dàn hòa. Nhưng điều tối quan hệ đối với Trung quốc là vấn đề làm ăn Kinh tế. Sự căng thẳng này có thể dẫn tới tình trạng Che chở Mậu dịch gay gắt mà Trung quốc đã ngại sợ từ lâu: từ những cuộc họp Davos, từ những nhóm lại của G20 mà Trung quốc luôn luôn kêu gọi tự do mậu dịch. Che Chở Kinh tế/Thương mại đã trở thành như con ma ám ảnh trong đầu óc của Trung quốc.
Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010 đã phác họa cái viễn tượng con ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại đang rình rập mà nếu Trung quốc cứ ngoan cố, nó sẽ hiện ra (http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html):
“Nền kinh tế của Trung Quốc có kết quả trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát triển.
Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.
Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.
Sau khi thả nổi đồng Yuan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.
Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.
Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.
Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.
Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Yuan của Bắc Kinh.
Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.
Ngày 14.01.2010, dưới đầu đề GIAN GIẢO KINH TẾ/THƯƠNG MAI TQ LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP, sau khi liệt kê ra những tính tóan gian trá Kinh tế/Thương mại, chúng tôi đã viết đọan kết luận như sau:
Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).
Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Ong LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).
Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.
Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.
Khi ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO báo cho Thế giới biết là Lượng Mậu dịch Thế giới giảm 12%, chưa từng có từ 20 năm nay, thì lời cảnh cáo này chắc chắn phải làm cho Trung quốc sợ hãi.
Là người Việt Nam, chúng ta dễ hiểu cái lo sợ nhất của Trung quốc. Đó là miếng ăn. Người Trung quốc gặp nhau, họ chào nhau là “Nị ăn cơm chưa ? “ chứ không nói là “Nị có khỏe không ?“. Họ lo lắng miếng ăn trước tiên. Đụng đến thiệt hại miếng ăn họ mới sợ, chứ còn mắng chửi họ, họ cũng chỉ cười hề hề cho qua chuyện.
Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc
Khi trả lời câu hỏi đầu tiên của Đài RFI về tại sao lúc này, qua những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, Trung cộng tỏ ra xuống nước về tỷ giá giữa đồng Nhân Dân Tệ và Đo-la, tôi trả lời liền rằng với thái độ công khai tỏ ra cứng rắn của Hoa kỳ, Trung cộng sợ nó biến thành những quyết định Che Chở Mậu dịch dứt khóat, hay một tình trạng Chiến Tranh Thương Mại bắt đầu từ Quan thuế, rồi những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), đến những Biện pháp trả thù (Mesures de Représailles).
Thực vậy, trước những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, người ta vẫn nhớ những lời tuyên bố ngạo mạn, đầy khinh miệt các nước khác thóat từ miệng Thủ tướng Oân Gia Bảo khi những nước khác muốn áp lực để Trung quốc tăng tỷ giá đồng Yuan: “We will not yield to any pressure... forcing us to appreciate (Yuan)” (Chúng tôi sẽ không nhượng bộ đối với mọi áp lực nào... buộc chúng tôi phải tăng tỷ giá (Nhân Dân Tệ) (Financial Times 08.03.2010, p.2).
Nhưng thứ Sáu 05.03.2010, chính Thủ tướng Oân Gia Bảo sửa lại thái độ cứng nhắc, ngạo mạn trên đây. Ký giả Andrew BATSON viết: “On Friday, Premier Wen Jiabao reaffirmed that China will continue to keep the Yuan “basically stable””. (Ngày thứ Sáu, Thủ tướng Oân Gia Bảo tái khẳng định rằng Trung quốc sẽ tiếp tục giữ đồng Yuan “ổn định một cách căn bản”. Nhưng thế nào là “ổn định một cách căn bản”? Đây là câu nói trống, nhưng dầu sao cũng để cho thấy khả năng thay đổi khi mà những quyền lực liên hệ đến đồng Yuan quyết định việc thay đổi như thế nào.
Thái độ của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc cũng đã thay đổi đối với đồng Đo-la. Chính ông đại diện Trung quốc, lớn tiếng kêu gọi Thế giới hãy truất ngôi Đo-la và thay thế vào đó bằng một Đơn vị Tiền tệ khác. Ngày 23.03.2009, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :
”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).
Nhưng thái độ của Chu Tiểu Xuyên đã thay đổi kể từ cuộc Phát biểu ngày thứ Bẩy 06.03.2010. Đồng Yuan vẫn bám chặt lấy đồng Đo-la va có thể trở lại trạng thái thay đổi tỷ giá bình thường theo chuyển biến của Đo-la. Bản tin của Reuters đáng đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):
“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)
Qua những lời tuyên bố này, những quan sát viên tài chánh/thương mại quốc tế thấy Chu Tiểu Xuyên tìm cách chữa nhẹ đi những chủ trương gian giảo của Trung quốc, như:
* Oâng nói rằng đây là những chính sách “đặc biệt” được quyết định để chống khủng hỏang. Thực ra đây là những chính sách thường xuyên, nhất là chính sách giữ tỷ giá đồng Yuan thấp, nhằm cạnh tranh xuất cảng đã được áp dụng từ lâu, chứ không phải chỉ đặc biệt trong thời khủng hỏang.
* Oâng cũng cố tình nói rằng những chính sách này không những có lợi cho kinh tế Trung quốc mà cho cả kinh tế thế giới nữa. Thực ra đây là những chính sách không những hòan tòan có lợi cho Trung quốc, mà còn nhằm giết những kinh tế các nước khác nữa.
Những lời tuyên bố sẽ rút lại những chính sách “đặc biệt” và bất thường để trở lại những nguyên tắc kinh tế bình thường chỉ là muốn tung ra một hy vọng, nhưng người ta không biết việc rút lại những chính sách ấy ở thời điểm nào.
Đặc biệt chính sách tiền tệ, người ta không biết sẽ tăng tỷ giá đồng Yuan khi nào và tăng bao nhiêu.
Trước những áp lực cấp bách của Thế giới, Trung quốc chỉ tung ra lời hứa như một hy vọng trống trải bởi vì không cho biết tầm mức quan trọng thay đổi như thế nào và bao giờ mới thay đổi.
Ngòai ra, đây chỉ là những lời tuyên bố của Thống đốc Ngân Hàng, còn việc quyết định thay đổi chính sách phải tùy thuộc Chính phủ, tùy thuộc những Bộ liên hệ mà chính yếu là Bộ Thương Mại. Thực vậy ông Chen Deming, Bộ trưởng Thương mại đã cho biết rằng để có thể lấy lại mức xuất cảng như trước cuộc Khủng hỏang, cần tối thiểu 3 năm nữa. Như vậy việc bỏ tỷ giá đồng Yuan thấp thiết cần để nâng đỡ xuất cảng, chưa có thể xẩy ra trong tương lai gần được.
Thế giới, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu, không thể chỉ vì một hy vọng thay đổi trống trải, không định thời điểm, không cho thấy tầm vóc, mà cứ ngồi đợi Trung quốc, hứng chịu những hậu quả thiệt thòi về thương mai hay sao.
Người ta cũng có thể hiểu rằng những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên chỉ vì sự đe dọa Che Chở Kinh tế/Thương mại mà phải nói ra để làm giảm sự căng thẳng mậu dịch quốc tế, nhất là trước thái độ công khai cứng rắn của Hoa kỳ và Liên Aâu.
Trung cộng là nạn nhân của Chiến tranh Thương mại
Obama có thể nói “Buy America” mà không ngại sợ. Nhưng Hồ Cẩm Đào không dám nói ra câu “Buy China” vì ông luôn luôn sợ hãi Con Ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại. Nếu những lời tuyên bố thay đổi trên đây của Trung quốc chỉ là một mưu kế làm giảm căng thẳng để rồi Trung quốc vẫn tiếp tục những chính sách thương mại thủ lợi cho mình, đồng thời làm hại cho những nước khác, thì liệu Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc vùng Kinh tế Thái Bình Dương có ngồi yên hay phải tuyên bố những biện pháp Che Chơ Kinh tế/Thương mại. Dù ý chí của Trung quốc có thành thực thay đổi đi nữa, thì một số nhà Tài chánh nhận thấy rằng Trung quốc rất khó lòng đưa ra một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan của mình vì hai lý do chính yếu sau đây:
* Kinh tế Trung quốc dồn tòan lực vào xuất cảng. Việc tăng tỷ giá đồng Yuan ảnh hưởng trực tiếp đến tụt dốc xuất cảng, nhất là ở thời kỳ mà Hoa kỷ cũng như Liên Aâu giảm nhập cảng.
* Lý do thứ hai thuộc phạm vi tài chánh. Một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan sẽ làm cho vốn nước ngòai ào vào Trung quốc để thu lợi do việc tăng tỷ giá đồng Yuan. Sự chênh lệch tỷ giá giữa hai thời điểm đủ cho vốn lưu động đầu tư nước ngòai ào vào để chia lợi do chênh lệch tỷ giá đồng tiền. Việc vốn nước ngòai ào vào này còn tạo ra tình trạng lạm phát mà Trung quốc rất sợ hãi.
Như vậy việc tăng tỷ giá đồng Yuan có tính cách khó khăn khách quan đứng về mặt tài chánh. Nếu vẫn khư khư giữ tỷ giá thấp, thì cái nguy hiểm là tạo một tình trạng căng thẳng quốc tế dẫn đến Che Chở Kinh tế/Thương mại. Còn nếu quyết định thực sự tăng tỷ giá, tạo hướng tăng đồng Yuan, thì vốn đầu cơ nước ngòai dồn vào để chia phần chênh lệch tỷ giá.
Dầu sao Con Ma Che Chở Kinh tế/Thương mại đã hiện ra và Oâng LAMY, Tổng Giám đốc WTO đã công bố việc tụt dốc 12% về lương mậu dịch thế giới như chúng tôi đã trình bầy trên đây. Tình trạng căng thẳng hiện nay giữa Trung quốc và Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc Khối Thái Bình Dương có thể đưa đến những Biện pháp khắt khe không giá biểu (Mesures non-tarifaires) và những Biện pháp trả đũa thương mại (Mesures de Représailles commerciales bilatérales). Đây là tình trạng Chiến tranh Thương mại. Khi mà biên giới quan thuế đóng lại, thì nạn nhân của cuộc Chiến tranh này là Trung quốc bởi lẽ Dân chúng Trung quốc thiếu Khả năng Tiêu thụ, không đủ khả năng mua tất cả những hàng hóa do chính Trung quốc sản xuất ra. Nên lưu ý rằng Khả năng tiêu thụ của 1’300 triệu dân Trung quốc chỉ tương đương với 16% số Tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ.
Không có tiêu thụ, thì sản xuất chết !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.03.2010
| | | |
ẤN ĐỘ: CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI Á-CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.03.2010
Viết bài NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ hôm nay về khả năng phát triển Kinh tế Aán Độ, chúng tôi dựa trên những bài báo cũng hòan tòan có tính cách thời sự :
* Le Monde 09.03.2010:UNE LECON INDIENNE par Martin WOLF
* The Wall Street Journal 10.03.2010: INDIA’S MICROLENDERS TO SHARE DATA by Eric BELLMAN
* Financial Times 10.03.2010: SUGAR SUFFERS AS INDIA RAISES OUTPUT ESTIMATE by Chris BLOOD
* Financial Times 11.03.2010: PUTIN SEEKS TO BOLSTER LINK WITH NEW DELHI by James LAMONT
* The Wall Street Journal 11.03.2010: INDIA: WOMEN AND DEMOCRATY
* Le Monde 11.03.2010: EN INDE, GUERRES DES TERRES ENTRE PAYSANS ET INDUSTRIELS par Julien BOUISSOU
* Le Monde 11.03.2010: LES DEPUTES INDIENS VOTENT L’INSTAURATION D’UN QUOTA DE FEMMES AU PARLEMENT par Julien BOUISSOU
Chúng tôi chỉ viết một bài ngắn nêu lên những điểm chính yếu làm nền tảng cho khả năng phát triển Kinh tế Aán Độ. Chúng tôi sẽ viết một bài phân tích dài làm bài QUAN ĐIỂM theo Chủ đề hiện hành của chúng tôi là DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Thực vậy, Aán Độ lấy dân làm gốc cho phát triển và hiệu quả của phát triển là cho dân. Nền Kinh tế Aán Độ phát triển song hành với xây dựng Dân chủ. Đó là bài học qúy giá cho Chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ của chúng tôi áp dụng cho Việt Nam.
Chính Kinh tế gia Martin WOLF cũng lấy tựa đề bài viết của Oâng trong Le Monde 09.03.2010 là “UNE LECON INDIENNE“ (BÀI HỌC ẤN ĐỘ). Vào thập niên 1970, Kinh tế gia Martin WOLF là người Trách Nhiệm chính của Ngân Hàng Thế Giới tại Aán Độ. Oâng là bạn thân từ 39 năm nay của Kinh tế gia Montek Singh AHLUWALIA, Phó Chủ tịch ỦY BAN KẾ HỌACH KINH TẾ ẤN ĐỘ, đứng sau Thủ tướng MANMOHAN SINGH.
Để có thể hiểu những điểm đặc thù của Kinh tế Aán Độ, chúng tôi xin trích ra đây đọan tóm tắt rất gọn và xác thực về Kinh tế Trung quốc để độc giả so sánh:
“It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay). (Financial Times 09.03.2010, p.10)
Đó là nền Kinh tế sản xuất những “gadgets” để mau chóng xuất cảng mua vui cho những người tiêu thụ tại những xứ khác, do một nhóm đảng tổ chức thu tiền nhanh vào cho mình và rồi chuyển những tiền ấy ra đặt tại những xứ giầu Tây phương. Người dân chỉ được hưởng một phần rất nhỏ hiệu quả Kinh tế qua đồng lương bóc lột. Đó là Kinh tế Trung quốc.
Qua những bài báo liệt kê trên đây liên quan đến Phát triển Kinh tế Aán Độ, nhất là bài của Kinh tế gia Martin WOLF, chúng tôi ghi nhận những điểm như sau.
Người dân và tính tình
Dân Aán Độ ít ồn ào hơn dân Trung quốc. Người ta thường nói rằng người Aán Độ thuộc lọai người suy tư đầu óc, chiêm ngưỡng (contemplatifs). Con số bí hiểm 0 (zéro) được phát sinh từ Aán Độ chứ không phải từ A-rập. Người ta không hiểu “zéro“ là gì, mặc dầu nó hiện hữu. Có người cắt nghĩa đó là ý niệm Niết Bàn. Phật Giáo được phát sinh từ Aán Độ, một Tôn giáo lấy giải thóat cá nhân và tự mình giải thóat làm trọng. Tính chiêm ngưỡng (contemplatif) và ảnh hưởng Tôn giáo là nền tảng tính tình dân Aán Độ. Ngày nay, người ta thường nhận thấy dân Aán Độ rất giỏi về ngành điện tử.
Nền tảng Dân chủ
Dân chủ chỉ là một Nguyên Tắc giải quyết tương đối những tranh chấp khi mà những cá nhân sống chung với nhau thành một cộng đồng. Như vậy CÁ NHÂN CHỦ là nền tảng để từ đó mới xây dựng nguyên tắc dân chủ. Một xã hội nào biết tôn trọng cá nhân, thì tự động họ xây dựng nguyên tắc DÂN CHỦ. Tôn giáo tại Aán Độ đã un đúc cho dân tinh thần phải tôn trọng CÁ NHÂN CHỦ. Chúng tôi không bao giờ chấp nhận ngụy biện của Cộng sản cho rằng dân trí còn ngu nên không thể cho Dân Chủ. Thực vậy, Dân Chủ không phải là kết quả của Dân trí mà là nguyên tắc thực tiễn giải quyết giữa những cá nhân chủ khi có va chạm.
Cái tinh thần tôn trọng cá nhân luôn luôn đòi hỏi việc xây dựng hệ thống quản trị Xã hội theo nguyên tắc Dân chủ:
=> Phân quyền, tránh tập trung quyền hành để dễ dẫn đến độc tài. Aán Độ theo hệ thống phân quyền dưới thể chế Liên Bang.
=> Khi quyền hành được tản ra, thì những tranh chấp chính trị cũng đỡ hẳn tính cách gay gắt, ác độc. Một chủ trương tập quyền như Cộng sản chẳng hạn, thì đó là nguồn gốc tranh chấp, thậm chí đến thanh trừng nội bộ một các tàn nhẫn.
Xã hội Aán Độ được xây dựng, phát triển theo những nguyên tắc Dân chủ. Nó khác với Xã hội Trung quốc hiện nay.
Phát triển Kinh tế bởi cá nhân và cho cá nhân
Chính cá nhân là tác nhân Kinh tế chính và cá nhân làm kinh tế trước tiên là phục vụ cho chính mình chứ không phải hy sinh cả cuộc đời để phục vụ cho một Lý thuyết trừu tượng, một Chủ nghĩa Xã hội để những người nhân danh Chủ nghĩa mà bóc lột cá nhân. Cá nhân có sống, thì Chủ nghĩa mới có. Cá nhân chết, thì Chủ nghĩa trở thành trống rỗng. Ai cũng lo lắng đến cái bụng đói của mình trước tiên. Và rất hiếm người lo đến cái bụng đói của người khác trước khi nghĩ đến cái bụng của mình. Vậy hãy để cho mỗi cá nhân làm ăn để lo lắng trước tiên đến việc nuôi sống thân xác mình.
Một xã hội mà nền Kinh tế được tản ra cho từng cá nhân, nền kinh tế ấy mới có nhiều sáng kiến và sự thăng bằng phát triển mới bền vững và lâu dài. Nền Kinh tế được đặt trên nền tảng cá nhân, những công ty gia đình, những công ty nhóm nhỏ... mà tiến lên là nền Kinh tế phát triển có nhiều sáng kiến và bền vững nhất.
Tôn trọng cá nhân, lấy cá nhân trách nhiệm, phát triển những nguyên tắc dân chủ để giải quyến, nền Kinh tế Aán Đo,ä dù không ồn ào, yên lặng tiệm tiến, sẽ phát triển trong bền vững và lâu dài.
Một tỉ dụ điển hình mà chúng tôi thường lấy ra làm tỉ dụ, đó là sự đổi hướng của Kinh tế Ý cách đây 30 năm. Thời ấy, nền Kinh tế Ý dựa trên những đại Công ty. Tình trạng đình công xẩy ra như cơm bữa làm Kinh tế Ý tê liệt. Người Ý mang tinh thần tôn trọng gia đình cao nhất Aâu châu. Từ nền Kinh tế Đại Công ty bị tê liệt, dân Ý đã chuyển Kinh tế về hệ thống Gia đình. Mọi người trong Gia đình phải tuân theo MAMA mà làm việc, không được đình công, nếu không MAMA không cho ăn Spaghetti nữa. Nền Kinh tế đặt nền tảng trên Gia đình đã dần dần phát triển lớn mạnh đến ngày nay.
Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ
Theo tinh thần trên đây lấy cá nhân làm tác nhân kinh tế chính, một Chương trình phát triển Kinh tế đã được họach định cho cả nước. Kinh tế gia Martin WOLF đã tóm tắt Chương trình ấy ở những điểm sau đây: “Les Infrastructures, l’Agriculture, la Reglementation du Travail, le Secteur Bancaire, l’Energie, l’Education et le Commerce de détail“ (Những hạ tầng cơ sở, NÔNG NGHIỆP, LUẬT LỆ LAO ĐỘNG, Lãnh vực Ngân Hàng, Năng lượng, Giáo dục và THƯƠNG MẠI NHỎ) (Le Monde 09.03.2010, p.2)
Việc xây dựng hạ tần cơ sở là lãnh vực của Nhà Nước. Chúng tôi viết chữ hoa cho một số lãnh vực để độc giả lưu ý rằng Kế họach Kinh tế này đặt trọng tâm vào người nghèo và những đơn vị Kinh tế nhỏ làm căn bản:
=> NÔNG NGHIỆP : đó là lãnh vực ưu tiên đầu tiên của Kế họach. Việc phát triển nông nghiệp là tạo cho đa số dân nghèo có đủ miếng ăn, rồi sau đó tạo cho dân nghèo có khả năng tiêu thụ để mới có thể sản xuất công kỹ nghệ phục vụ cho chính trong nội địa. Đó cũng là tạo độc lập về Kinh tế. Kinh tế Trung quốc hiện giờ không có độc lập vì nó lệ thuộc vào xuất cảng phục vụ ngọai quốc.
=> LUẬT LỆ LAO ĐỘNG: đây cũng là sự lo lắng cho khối người nghèo phải đi bán sức lao động của mình để nuôi thân. Phải có những luật lệ cho công bằng, tránh những tình trạng bóc lột lao động.
=> THƯƠNG MẠI NHỎ: đây cũng là chủ trương đi từ những đơn vị nhỏ thương mại mà tiến lên. Từ tiểu thương, rồi tiến dần lên đại thương. Săn sóc, hỗ trợ những Thương mại nhỏ để phân phối các nơi.
Hãy nhìn Kinh tế Việt Nam để thấy khác biệt giữa hai chủ trương. Trong bao chục năm trường, Nhà Nước Việt Nam bỏ rơi Nông Nghiệp, một lãnh vực mà chúng ta có cả khả năng thiên nhiên để phát triển cho 75% dân số nghèo tại nông thôn. Nhà Nước Việt Nam chỉ nhằm bán Lao động cho tài phiệt nước ngòai, rồi xuất khẩu Lao động phục vụ ngọai quốc mà không lo phát triển những Luật lệ bảo vệ công bằng cho giới Lao động. Về thương mại, mỗi thành phố chỉ chuyên lo khuếch trương Siêu thị mà ít nâng đỡ những Tiểu thương, thậm chí còn tàn nhẫn đi hốt những người nghèo buôn thúng bán mẹt ở những góc phố. Tìm cách nâng đỡ họ. Họ là những Tiểu thương đấy, để họ có chỗ buôn bán độ thân và tiến dần lên Trung thương hoặc có thể là Đại thương sau này.
Nhà nước VN chỉ lo sản xuất những “gadgets“ như quan thầy Trung quốc !
Hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“
Trong những năm làm Tài chánh cho những Dự án, chúng tôi thường đưa ra một số tỉ dụ để công kích chính những Ngân Hàng lớn. Tỉ dụ sau đây thường được đưa ra khi phải chạm trán với Ngân Hàng:
Một sinh viên trẻ mới học xong. Anh đang mang cả bầu nhiệt huyết để thực hiện Dự án mà trong suốt thời gian học anh mơ mộng. Anh viết Dự án. Xử dụng môn học Phân tích Chi tiêu Xí nghiệp (Analyse des Charges Industrielles) để tính tóan rất kỹ. Xử dụng môn Marketing và Ước lượng Thu nhập để cho thấy rằng Lợi nhuận từ mỗi chặng thực hiện Dự án là bao nhiêu. Đọc Dự án, tôi cảm phục anh sinh viên nghèo mới ra trường này.
Nhưng phải có VỐN thì mới thực hiện được Dự án. Anh can đảm đến Ngân Hàng để trình bầy Dự án với những Chi—Thu đã tính tóan kỹ.
Anh xin Ngân Hàng cho vay vốn để thực hiện Dự án của mình. Anh chấp nhận mọi kiểm sóat của Ngân Hàng. Ngân Hàng khen anh, nhưng trả lời rằng:“Vậy Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit của anh đâu để làm Collateral cho vốn vay ?“.
Anh sinh viên nghèo chua chát ra đi và nghĩ: thực là ngược ngạo ! Để lấy được Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit, thì anh phải có tiền đặt trong Ngân Hàng làm Deposit. Mà nếu anh đã có tiền rồi để làm Deposit, thì anh cần gì phải đến Ngân Hàng kia để xin vay. Có lẽ anh phải đi làm vất vả trong 10 năm để có tiền làm Deposit. Nhưng 10 năm sau, thì sức lực anh đã giảm, anh không muốn theo đuổi Dự án như lúc mới ra trường.
Tôi rất khâm phục ý tưởng đặc biệt của Aán Độ đã thiết lập hệ thống Microfinance, nghĩa là cho những người nghèo, những cá nhân muốn làm ăn vay. Hệ thống này đã trở thành thời danh mà vị sáng lập đã được khen tặng giải Nobel Hòa Bình.
Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ đặt trọng tâm vào những người nghèo muốn làm việc: Nông dân, Lao động và Tiểu thương. Cùng với Chương trình nghĩ đến người nghèo như vậy, Aán Độ đã có sáng kiến tổ chức hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“ để giúp phương tiện làm ăn cho dân nghèo thiếu vốn như anh sinh viên trên kia. Đó là hai ngả giúp hữu hiệu cho phát triển Kinh tế từ nền tảng. Xin lưu ý: thống kê cho thấy rằng dân nghèo vay nợ làm ăn là dân hòan vốn rất chu đáo “Bon payeur“ !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.03.2010
| | | |
NGĂN CHẶN TỨC KHẮC TIẾN TRÌNH CSVN GIAO NƯỚC CHO TẦU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 18.02.2009
Như trong Bài Mở Đầu cho CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ chúng tôi đã cắt nghĩa, điều kiện để có thể bắt đầu phát triển Kinh tế Đất Nước là phải dứt bỏ CƠ CHẾ CSVN hiện hành, một cơ chế cấu kết giữa dộc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế.
Khi đã dứt bỏ được cái CƠ CHẾ hiện hành để có thể bắt đầu phát triển, chúng tôi muốn khai triển những điều kiện để việc phát triển Kinh tế được bền vững và lâu dài: Dân chủ hóa Kinh tế trong một Môi trường Chính trị—Luật pháp Xã hội phù hợp (Environnement Politico—Juridique Social adéquat).
Một nền Kinh tế phát triển bền vững và lâu dài là nền Kinh tế cho một Quốc gia Việt Nam Độc lập. Nước Việt Nam đang đi đến mất Chủ quyền, thậm chí đảng CSVN, vì tham lam tiền bạc cho mỗi cá nhân đảng viên, đang đưa Đất Nước đến chỗ bị Trung quốc xâm lăng chính Lãnh Thổ và Lãnh hải. Vì vậy, nếu dứt bỏ được CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có điều kiện bắt đầu phát triển, mà Đất Nước chúng ta lại bị xâm lăng bởi Trung quốc, thì không thể nào có thể nói là phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho Quê Hương mình được. Phải ngăn chặn tức khắc Tiến trình CSVN đang giao Nước cho Tầu xâm lăng vậy.
Từ tháng 9.2009, khi thấy một đàng chủ trương của Trung quốc là dùng tiền bạc để xâm lăng không những tại Việt Nam, mà còn các nước nghèo khác tại Phi Châu, Á Châu, Trung Á, một đàng Nhà Nước Việt Nam kiệt quệ về Ngân Sách nên đói ăn vụng túng làm liều đưa lãnh thổ Việt Nam dần dần dâng hiến cho xâm lăng Trung quốc, chúng tôi đã viết một bài tương quan Chủ Nợ—Con Nợ để cho thấy CSVN mất chủ quyền, không dám hé họng khi ngư dân VN bị Tầu hà hiếp ở Biển Đông chính trong vùng biển thuộc Việt Nam. Tệ hại hơn nữa, khi nhận nợ của Trung quốc đến ngập họng rồi và khi không trả nợ được, thì Trung quốc đòi bắt cả vợ và con gái, thì CSVN cũng phải giao cho Chệt dầy vò.
Thấy tình trạng mỗi ngày mỗi lệ thuộc Trung Cộng về tiền bạc như vậy, chúng tôi lại viết một bài thứ hai gần đây cho thấy rằng trong tương lai Tầu sẽ viện cớ Kinh tế trước Thế Giới để ngang nhiên mang quân đội vào Việt Nam để bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ và những người Tầu đã lập làng mạc và những Khu Thương Mại và Công Nghệ trên lãnh thổ Việt Nam.
Những phân tích và những lo ngại của chúng tôi trên đây không phải là không có bằng chứng. Thực vậy, tại Quốc nội, hai Tướng CS ĐỒNG SỸ NGUYÊN và NGUYỄN TRỌNG VĨNH đã viết rõ về nguy hại mất nước bởi lẽ CSVN đã cho Trung Quốc thuê dài hạn những khu đất đầu nguồn để Tầu mang người sang canh tác và sinh sống. Tại Hải ngọai, Oâng BÙI TÍN, một người cũng đã từ đảng CSVN, đã phân tích thêm tình trạng nguy hiểm mất nước này.
Nếu trước đây, vì quyền hành mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng viết Công Hàm nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, Hỏang Sa và Trường Sa, thì ngày nay, cả đảng CSVN chỉ vì đồng tiền đút túi làm của riêng đã mang tài sản VN đi bán, mang Lãnh thổ VN giao cho Tầu, mời gọi tư bản nước ngòai vào VN để khai thác nhân lực, xuất cảng đàn bà con gái đi phục vụ tình dục. Tất cả chì vi tiền bạc muốn vơ vét đầy túi riêng.
Chúng tôi cho đăng lại những bài dưới đây để cho thấy CSVN đang thực hiện một tiến trình giao nước cho Tầu chỉ vì tiền bạc :
=> THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC (Nguyễn Phúc Liên)
=> BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN (Nguyễn Phúc Liên)
=> CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI (Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh)
=> HAI TƯỚNG CS CHỈ RA NGUY HIỂM (Bùi Tín)
THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?
Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.
Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.
Việt Nam con nợ của Tầu
Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.
CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.
Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.
Tầu là chủ nợ cho Việt Nam
Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.
Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:
=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.
=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.
=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.
Tương quan Chủ nợ—Con nợ
Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
Trong VietTUDAN số 432 tuần trước, chúng tôi đã viết hai bài có sự liên hệ với nhau. Với bài phân tích về những cuộc nổi dậy trước đây ở Dông Aâu, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.
Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc. Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh cho thấy điều đó. Erich Knonecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.
Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.
Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.
1) Đòi NỢ Việt Nam
Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.
Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.
2) Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam
Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam. Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.
3) Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam
Trong tuần trước, chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.
Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI CSVN cho người ngoại quốc thuê rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Theo chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?
Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.
Chúng tôi đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị đầu:
1. Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.
2. Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.
Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?
Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
HAI TƯỚNG CS CHỈ RA HIỂM HỌA Bùi Tín Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
Ngày cuối năm âm lịch, mở mạng Bauxite-info, bên những bông hoa mai vàng và lời chúc Tết đẹp là một bài viết rất "nóng" của 2 tướng ở trong nước.
Đó là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.
Bài viết được mạng Bauxite.info giới thiệu một cách trang trọng.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là phó tổng tham mưu trưởng, từ 1967 đến 1975 là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn dọc đường "mòn" Hồ Chí Minh, là một binh đoàn tương đương 5 sư đoàn, ngang với 2 quân đoàn, có quân số 42 ngàn quân, gồm vận tải cơ giới, công binh, phòng không, thông tin, ra-đa, bộ binh, cao xạ, kho tàng, ống dẫn dầu, giao liên, thanh niên xung phong ... rải dài hơn 1 ngàn kilômét. Sau chiến tranh ông là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giao thông vận tải, là uỷ viên bộ chính trị trung ương đảng trước khi về hưu năm 1988.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vốn là uỷ viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Thanh hoá, là đại sứ VN tại Trung quốc suốt 15 năm, từ 1974 đến 1989 (trong cuộc chiến Trung-Việt) về hưu năm 1990.
Đặc điểm của 2 tướng này là uy tín lớn trong Quân đội nhân dân, có ảnh hưởng sâu rộng trong cựu chiến binh, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 200 ngàn binh sỹ từng dưới quyền, vẫn còn quan hệ với nhau trong "hội " cựu binh Trường Sơn; tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nổi tiếng về tính bộc trực ngay thẳng, hiện là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt nam, có hàng triệu hội viên rải khắp nước.
Cần nói thêm 2 tướng này năm 2009 vừa qua đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối, ngăn chặn chủ trương khai thác bôxít ở Tây Nguyên của bộ chính trị hiện tại, cũng cùng lên tiếng qua mạng Bauxite.info do nhà văn hoá Nguyễn Huệ Chi chủ trương, nay lại cùng chung bài viết đề ngày 22-1-2010, nhưng chỉ xuất hiện sáng ngày 12-2-2010 trên mạng Bauxite đang bị đánh phá dữ dội. Sự chậm trễ 20 ngày cho thấy bài báo đã bị các báo lớn nhất từ chối, tẩy chay do tệ độc quyền báo chí chà đạp Hiến pháp của bộ chính trị đương quyền.
Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, từ năm 2004, cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng bộ chính trị do ông Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.
Trong bài viết mới này, 2 ông tướng đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết với 10 doanh nghiệp Trung quốc đóng tại Trung quốc, Hồng kông và Đài Loan, những thoả thuận cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài.
Danh sách các tỉnh đó là : Lạng sơn, Quảng ninh, Cao bằng, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng nam, Bình định, Kon tum và Bình dương.
Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) .
Các thoả thuận đều có giá trị trong thời gian 50 năm, và sẽ kéo dài hơn sau đó. Hai viên tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, 94 tuổi.
Hai viên tướng báo động : họ sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, mội trường sẽ bị huỷ hoại.
Hai viên tướng kết luận : đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước.
2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đề nghị với đảng, nhà nước và nhân dân : - với những thỏa thuận đã lỡ (!) ký rồi, hãy thuyết phục các công ty nước ngoài khoán cho đồng bào ta ở tại chỗ khai thác đất rừng, đề phòng họ sẽ đưa lao động dân nước họ vào lập thành những làng Trung hoa, làng Hồng kông, làng Đại hàn trên đất nước ta . - với những thoả thuận đang thương lượng thì đình ngay lại !
Cuối cùng 2 ông yêu cầu đảng và nhà nước thực hiện ngay và rộng khắp việc giao khoán đất rừng cho từng hộ đồng bào ta là dân địa phương tại chỗ.
Tiết lộ và ý kiến của 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là hết sức khẩn cấp và nghiêm trọng.
Vì ông Đồng Sỹ Nguyên khi còn là Phó thủ tướng đã chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình 327 của chính phủ là Chương trình Quốc gia Phủ xanh đồi trọc và Bảo vệ rừng.
Bài viết của 2 ông tướng này còn cực nóng vì phơi bày một loạt việc làm chui, khuất tất, ám muội, mang tính hại nước hại dân, có thể xếp vào tội phản quốc, do chính quyền và đảng uỷ các tỉnh, huyện thực hiện thông đồng với các công ty của thế lực bành trướng với các khoản đút lót, hối lộ béo bở, được một số quan chức trong chính phủ, một số bộ trưởng lớn nhất, có thể trong cả bộ chính trị đỡ đầu, yểm trợ để kiếm phần siêu lợi khổng lồ. Họ sẽ thâm thù 2 ông tướng.
Anh Nguyễn Huệ Chi linh cảm rõ điều ấy. Anh nghĩ họ có thể bóp cho mạng của anh nghẹt thở hẳn do tin tày trời mang bí mật quốc gia cực kỳ nhạy cảm này. Anh thề sẽ hiến cho sự thật, cho nhân dân đến gịot máu cuối cùng của anh, để mạng bauxite ngang nhiên sống khỏe.
Chính vì vậy mà ngày cuối năm 30 Tết tôi cặm cụi gõ bài này và gửi lời chúc chân thành nhất đến nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng cùng hơn 4.000 anh chị trí thức đã ký kiến nghị Bôxit, cũng như đông đảo bạn yêu nước, yêu tự do trong số gần 20 triệu độc giả quen thuộc của mạng này.
Bùi Tín Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.02.2010
| | | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
CHỦ ĐỀ: GIÁO DÂN ĐỐI THỌAI VỚI HY.MẪN: CỐ TÌNH CẮT NGHĨA SAI HUẤN DỤ CỦA ĐỨC GIÁO HÒANG GIOAN-PHAOLÔ II
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.02.2010
Chúng tôi viết lại HUẤN DỤ CỦA ĐỨC GIÁO HÒANG GIOAN-PHAOLÔ II ở đây để cho Giáo dân thấy rằng HY.PHẠM MINH MẪN đã cố tình cắt nghĩa sai Huấn dụ của Đức Thánh Cha để đánh lừa Giáo dân rằng Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II chủ trương kiểu ĐỐI THỌAI làm lợi cho Cộng sản như Hồng y hay một vài Giám mục khác đang tiếp tay cho CSVN trong việc dẹp Phong trào Giáo dân đang đứng lên lúc này theo Đức Tin và Lương Tâm của mình.
Ngày 22.01.2002, các hãng Thông Tấn ZENIT cũng như FIDES từ Vatican đã loan tin về Huấn Dụ của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, người đã đã sống và đã hiểu những mưu mô qủy quyệt của Cộng sản, trong dịp gặp trực tiếp giữa Ngài và hàng Giám Mục Việt Nam gồm 26 Vị Giám Mục tới Vatican. Đức Thánh Cha trả lời từng điểm cho một THỈNH NGUYỆN THƯ đồng ký bởi 158 Linh mục và 24'601 Giáo dân nhân cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ. Ngài khuyên giải mọi người hãy can đảm đấu tranh về từng điểm một như sau:
1) Mẹ Giáo Hội VN có 6 triệu người con chưa được hưởng những quyền thiết cần cho Tự do Tôn Giáo.
Đức Thánh Cha tỏ sự vui mừng khi nghe Mẹ Giáo Hội VN có 6 triệu người con, đó là chưa kể những người cùng dòng máu Việt đang tản mác khắp nơi trên 70 nước. Đức Thánh Cha đã nghe trực tiếp lời khẳng định của Đức Cha NGUYỄN VĂN HÒA :“Giáo Hội VN hiện nay không được hưởng những quyền tự do thiết cần.“ Đức Thánh Cha mủi lòng và thương 6 triệu người con. Ngài đã nguyện xin trao phó Mẹ Việt Nam với 6 triệu người con ấy trong cánh tay can thiệp của Đức Mẹ LA VANG.
2) Giáo Hội không phải bị ràng buộc vào bất cứ một hệ thống Chính trị nào.
Trích dẫn Công Đồng Vatican II, Đức Thánh Cha đã tái khẳng định nguyên tắc căn bản rằng Giáo Hội, vì nhu cầu tôn giáo chính đáng riêng của mình, không thể pha trộn lẫn lộn với với bất cứ một tập thể chính trị nào dù bằng sự viện lẽ bất cứ lý do nào đi chăng nữa.
3) Sự thiện rất qúy báu của Tự do Tôn Giáo
Đức Thánh Cha đi vào chi tiết hơn và hòan tòan ca ngợi rằng điều tốt đẹp vô cùng qúy giá là quyền Tự do Tôn giáo. Quyền Tự do Tôn giáo này được đặc biệt quan tâm tới bởi Công Đồng Vatican II, bởi những Tuyên Ngôn và bởi những Khế Ước quốc tế, không phải chỉ cho những cá nhân mà đồng thời phải cho những Tập Thể Tôn Giáo. Đối với những cá nhân, quyền Tự do Tôn giáo này bảo đảm quyền tuyên xưng Đức Tin và quyền Hành Đạo. Đối với những Tập Thể Tôn Giáo, quyền Tự do Tôn Giáo hàm ngụ việc bảo đảm những quyền căn bản như quyền điều hành tự trị, quyền cử hành việc thờ phụng công cộng mà không bị hạn chế, quyền dậy dỗ công khai lòng tin và quyền làm chứng đức tin bằng lời nói hay bằng bản viết, quyền khai triển sức mạnh đơn thuần của học thuyết xã hội của Tập Thể, quyền cổ võ những sáng kiến trong những lãnh vực giáo dục, văn hóa, bác ái và xã hội.
4) Đức Giáo Hòang cầu nguyện và cổ võ cho lòng can đảm
Đức Giáo Hòang đã kêu gọi tất cả Cộng Đồng Công Giáo VN hãy “TIẾN RA KHƠI“ với một sức mạnh mới. “RA KHƠI“ ở đây theo ý nghĩa của Huấn Dụ là phải can đảm dứt bỏ cảnh ao tù hiện hành để cương quyết tìm một hướng đi mới không bị kềm chế, nhưng thóang đạt, thênh thang như biển khơi cho Giáo Hội. Ngài tha thiết nhờ cậy các Giám mục Việt Nam một điều:“Khi anh em (các Giám mục) trở lại Quê Hương trọng qúy của anh em, thì hãy nói cho các Linh mục, các Tu sĩ Nam, Nữ, cho những người dẫn dậy Giáo lý, cho tất cả Giáo dân và đặc biệt cho những người Trẻ rằng Tôi đang cầu nguyện cho họ và đang cổ võ họ hãy CAN ĐẢM thắng vượt những trở ngại, hãy lấy gương các Thánh và các Vị Tử Đạo đã tiên phong trước họ trên đường ĐỨC TIN và máu của những Vị ấy đang hiện diện như hạt giống của một ĐỜI SỐNG MỚI cho tòan thể qúy Quê Hương của Anh em.“
Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô nói rằng nếu Nga cho quân đội tràn vào Ba-Lan để đàn áp, thì Ngài cởi áo Giáo Hòang để về Ba-Lan cùng CHIẾN ĐẤU với Dân của Ngài. Ngài không nói là về Ba-Lan để ĐỐI THỌAI với Cộng sản Nga bởi vì Ngài đã quá biết sự giả dối của Cộng sản.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.02.2010
NHỮNG ĐIỂM THỜI SỰ QUAN TRỌNG ĐÁNG GHI LẠI ĐỂ NHẬN ĐỊNH
NGUYỄN PHÚC LIÊN
* Trung quốc mất ăn mất ngủ vì món tiền Hoa kỳ nợ (China losing appetite for US debt) (CNN 17.02.2010; Le Monde 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32)
* Trung quốc muốn chuyển sản xuất một số hàng sang Aán độ để dễ xuất cảng (Financial Times 17.02.2010, p.14)
* Những khó khăn Chính trị và Kinh tế Trung quốc (Financial Times 17.02.2010, p.9; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.9)
* Những triệu chứng nguy hiểm cho việc tái khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế (Le Monde 17.02.2010, p.12)
* Hoa kỳ tỏ ra cứng rắn trong vấn đề trừng phạt Iran (Le Temps 17.02.2010, p.1, p.5; The Wall Street Journal 17.02.2010, p.10)
* Bruxelles đặt những điều kiện khắt khe đối với Athens (Fiancial Times 16.02.2010, p.1; Le Monde 16.02.2010, p.15; Le Temps 16.02.2010, p.1)
* Mặc dầu bị tấn công mọi phía, một cuộc thăm dò dư luận cho thấy rằng 62% dân Thụy sĩ (68% giới trẻ) sẵn sàng bầu phiếu chủ trương Bí Mật Ngân Hàng. (Le Figaro 15.02.2010, p.22)
* Khủng hỏang Hy-lạp lan sang Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Liệu có ảnh hưởng sang Mỹ hay không ? “It began in Athens. It is spreading to Lisbon and Madrid. And America ?” (Financial Times 11.02.2010, p.9)
* Bernanke làm thế nào đưa FED ra khỏi chiến lược kích thích tài chánh. (Financial Times 10.02.2010, p.3; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.6; Financial Times 11.02.2010, p.4)
* Đồng Euro và Khủng hỏang Tài chánh Liên Aâu. Những công kích đồng Euro. (Le Monde 10.02.2010, p.1, p.8)
* Cứu vớt phá sản Hy-lạp: Bộ trưởng Tài chánh G7 họp. Thượng đỉnh Liên Aâu họp bất thường để lấy quyết định. Những nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng lo sợ như Hy-lạp. (The Wall Street Journal 08.02.2010, p.5; Le Figaro 08.02.2010, p.22; Financial Times 09.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 09.02.2010, p.4; Le Monde Economie 09.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.1; Financial Times 10.02.2010, p.1, p.16; Le Monde 11.02.2010, p.1, p.8; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.1; TSR1, France 2, TF1 11.02.2010)
* Nạn sữa độc Melamine Trung quốc vẫn hòanh hành (The Wall Street Journal 09.02.2010, p.10)
* Ý-đại-lợi (Thành phố Tuscan) xiết chặt thợ may dệt Trung quốc tràn sang: ”Enough is enough !” (Financial Times 09.02.2010, p.2)
* Trung quốc lợi dụng vụ Nguyên tử Iran để tăng cường thương mại với nước này (Financial Times 09.02.2010, p.2)
* Nguyên tử Iran làm Tây phương nóng đầu và tìm cách trừng phạt. (Le Figaro 08.02.2010, p.1; Le Monde 09.02.2010, p.1; Le Monde 10.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.12; Financial Times 10.02.2010, p.6)
* Tiền Thụy sĩ trở thành Tiền tỵ nạn Lịch sử cho Tài chánh (Le Temps 08.02.2010, p.1)
* Trung Cộng: Con cái những lãnh tụ lớn được thăng quan tiến chức, nhất là trong cấp bậc về Kinh tế để sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2012. (Le Temps 08.02.2010, p.5)
* So sánh việc thóat Khủng hỏang Kinh tế giữa Hoa kỳ và Liên Âu (Le Monde 04.02.2010, p.1, p.6, p.13)
* Thượng viện Hoa kỳ và Chương trình Volcker về Kiểm sóat Ngân Hàng (Financial Times 04.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 03.02.2010, p.1; Financial Times 03.02.2010, p.3)
* Thái độ của Hoa kỳ qua những vụ: Google, Bán Vũ khí cho Đài Loan và Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng. (Le Monde 03.02.2010, p.4; Financial Times 03.02.2010, p.1; Le Monde 02.02.2010, p.6; Financial Times 01.02.2010, p.1, p.6; Le Figaro 01.02.2010, p.6)
* Thụy sĩ nhất quyết cho hai người Duy-ngô-nhĩ Tân Cương ra tù từ Guantanamo, mặc dầu Trung quốc cực lực phản đối. Tính các Độc lập của Dân Thụy sĩ khi quyết định không xây Tháp Hội đườn Hồi Giáo trên Lãnh thổ họ, mặc dầu cả Thế giới Hồi Giáo phản đối và đòi kiện ra Tòa án La Haye. (Le Temps 03.02.2010, p.9; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.7)
* Vai trò Kinh tế Đài Loan được Hoa kỳ nâng đỡ để làm giảm cao ngạo của Trung quốc Lục địa. (Financial Times 02.02.2010, p.12; Le Temps 02.02.2010, p.2, p.4)
* Thái độ của Davos 2010 dối với những công kích Tài chánh Tư bản của TT.Sarkozy (Fiancial Times 02.02.2010, p.13; Le Monde 02.02.2010, p.1)
* Davos 2010 nhận định về những Quốc gia bắt đầu phát triển, những đe dọa cho Tây phương. (Le Monde 02.02.2010, p.2; Le Figaro 01.02.2010, p.24)
* Thụy sĩ tháo gỡ những công kích về những người trốn thuế gửi tiển tại Thụy sĩ. Nhưng những người có tiền triệu, tiền tỉ tự hỏi: vậy thì cất tiền ở đâu cho vững ? (Le Temps 02.02.2010, p.8; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.1,p.3; Financial Times 01.02.2010, p.4; Le Temps 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.23;)
* Ngân Sách Hoa kỳ và $1’600 tỉ nợ năm 2011. (Le Monde 02.02.2010, p.15; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.8)
* IMF phát biểu tại Davos 2010: Kiểm sóat Ngân Hàng phải được phối hợp chung, chứ không thể từng vùng. (The Wall Street Journal 01.02.2010, p.5)
* Davos 2010 không hồ hởi cho lắm về khả năng thóat khủng hỏang Kinh tế Thế giới. Vấn đề chính yếu vẫn còn quanh quẩn ở nợ nần ngân sách các quốc gia và điều chỉnh các Ngân Hàng. (Le Temps 01.02.2010, p.22)
* Trung quốc hờ hững việc trừng phạt nguyên tử Iran (The Wall Street Journal 01.02.2010, p.9)
* Hoa kỳ tăng cường quân sự trong vùng Vịnh Trung Đông vì Iran và Khủng bố (Le Figaro 01.02.2010, p.8)
* Nông dân Trung quốc nổi dậy ủng hộ việc chống lại tham nhũng (Le Monde 28.01.2010, p.7)
* Diễn văn của Sarkozy tại Davos muốn cải cách Tư bản chủ nghĩa. Đòi kiểm sóat Ngân Hàng, nhưng làm sao kiểm sóat được Ngân Hàng Trung quốc. Phản ứng của giới Ngân Hàng gia tại Davos. (Le Temps 28.01.2010, p.15; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.1; Financial Times 28.01.2010, p.4)
* Tây phương đã quá thổi phồng Kinh tế Trung quốc. Thực tế thì khác. (Financial Times 28.01.2010, p.11)
NGUYỄN PHÚC LIÊN
| | | |
HÃY CÙNG ĐỨNG LÊN ĐẢM TRÁCH SỰ CỨU KHỔ TRỪ NGUY LÝ ĐẠI NGUYÊN
Trong Thông Điệp Xuân Canh Dần 2010 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Tống, kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đã đưa ra lời kêu gọi bức thiết đối với hàng giáo phẩm Tăng, Ni, Phật Tử trong và ngoài nước là: “hãy cùng đứng lên đảm trách sự cứu khổ trừ nguy mà Đức Phật đã trao truyền”. Ngài nhận định rằng: “Nhân dân Viêt nam, trong đó có Phật tử, phải được sống trong an lạc và tự do để phát triển. Phát triển đời sống vật chất, cũng như đời sống văn hóa và tâm linh. Vì vậy Giáo Hội phải nói lên ngưỡng vọng của 85 triệu người đòi hỏi cuộc sống nhân quyền và dân chủ để phát triển. Hơn nữa, hiện nay chủ quyền dân tộc bị uy hiếp bằng những “quyền lực cương, hay quyền lực nhu” của các manh tâm nước lớn. Phật tử là người hiểu thời thông biến, nên không thể nhắm mắt quay lưng trước các ý đồ mãi quốc. Nước mất thì đạo suỵ Cho nên giữ nước là con đường dân tộc hai nghìn năm cứu mình, cứu người, đưa quê hương thoát ly xâm lăng, nô lệ và cuồng tín”.
Ngài xác định vị thế của người Phật tử Viê.tnam trong một thế kỷ rưỡi qua là vị thế của những người dân bị trị, trong một nước lệ thuộc ngoại bang, do đó đã tạo thành cuộc vận động trường kỳ đòi tự do tôn giáo, tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự chủ dân tộc và an bình thế giớị Nên, vị thế của Giáo Hội Phật Giáo Viê.tnam Thống Nhất ngày nay là vị thế của một Tôn Giáo đối với chính sách sai lầm của nhà đương quyền Cô.ngsản Viê.tnam về con người, dân tộc và nhân loại, theo sứ mạng và trách nhiệm của một tôn giáo, chứ không theo cương vị chính trị của quyền lực cai trị hoặc đảng phái tranh quyền. Thông điệp viết tiếp “Tâm tư của người Phật tử ngày nay là tâm tư của kẻ bị dầy xéo từ một thế kỷ rưỡi qua, vì những thế lực ngoại lai muốn biến Viê.tnam thành chiến trường, thị trường, thay vì đạo trường. Tâm tư ấy biến thành cuộc vận động không ngưng nghỉ của Phật giáo suốt thế kỷ XX cho đến nay để phục vụ dân tộc, tổ quốc, nhân loại theo sứ mệnh tôn giáo, chứ không theo cương vị chính tri.. Vì vậy mà thái độ của Giáo hội đối với nhà đương quyền Xã Hội Chủ Nghĩa là thái độ của tôn giáo đối với những chính sách sai lầm, những khuynh loát chính trị, những lạm dụng đất nước và quần chúng”.
“Cụ thể của chính sách sai lầm, khuynh loát chính trị, lạm dụng đất nước và quần chúng vừa được một lần nữa thấy rõ trong những ngày vừa quạ Khi nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa đưa ra tòa án giả trá những phần tử ưu tú tương lai của đất nước. Những người tay không tấc sắt với tấm lòng ưu tư trước nạn ngoại xâm và đời sống không có nhân quyền dân chủ, mà nhà nước và đảng chẳng đoái hoàị Giáng xuống họ những bản án giam tù và quản thúc nặng nề, khiến dư luận trong ngoài nước công phẫn khinh miệt. Đây là bản án của chế độ Thực Dân đầu thế kỷ XX đang được tái hồi cho toàn thể dân tộc vào đầu thiên niên kỷ thứ ba”. Hơn ai hết, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và Giáo Hội Phật Giáo Viê.tnam Thống Nhất đã, đang là người tù lương tâm, là Giáo Hội bị đặt ngoài vòng luật pháp, là nạn nhân trực tiếp của chế độ bạo trị, độc đảng, độc tài, độc ác, và thứ toà án giả trá phi pháp, cũng giống như những người ưu tú tương lai của đất nước, vì đòi hỏi dân chủ hóa chế độ, và ưu tư trước nạn ngoại xâm vừa bị án tù. Chính vị vậy, mà lời kêu gọi “Hãy cùng đứng lên đảm trách sự cứu khổ, trừ nguy” đúng là tiếng kêu trầm thống của cả một dân tộc đang vọng ra từ ngục tù Viêt cộng, buộc mọi người chúng ta phải đáp ứng.
Khi đảng và nhà cầm quyền Viêt cộng, chỉ biết tới quyền lợi của đảng trên lợi ích của dân, của nước, cộng với quán tính tàn bạo man rợ vô thiên, vô luân, vô pháp, tùy tiện của họ thì không chỉ coi người dân là đối tượng khống chế, đàn áp, bóc lột, bán buôn, mà còn coi nước là một món hàng trao đổi lấy quyền lực, quyền lợi với ngoại nhân nữạ Khi nhà cầm quyền và dân chúng nhìn nhau là đối tượng phải đối phó, thì nhà cầm quyền thường có khuynh hướng dựa vào thế lực ngoại bang, nhằm củng cố quyền hành và đàn áp dân để tồn tạị Đồng thời tìm mọi cách bưng bít thông tin đối với dân chúng và dối gạt thế giớị Nhưng thời đại thông tin điện tử cực bén của thế giới hôm nay đã theo sát những sinh hoạt của các chính quyền, nhất là đối với các chế độ nổi tiếng bưng bít thông tin, tuyên truyền méo mó như chế độ Vìêt công. Nên những bản án mà Viêt cộng kết cho những người đấu tranh dân chủ và chống Trungcộng xâm lăng vừa qua, đã làm cho dư luận thế giới đánh giá về tình trạng luật pháp và tòa án Viê.tcộng là một nền tư pháp man rợ, lạc hậu, tồi tệ nhất thế giới hiện nay, khiến cho dư luận trong, ngoài nước công phẫn, khinh miệt. Chính vì vậy mà vai trò ngoại giao của Viê.tnam trên trường quốc tế bị xem rẻ. Đúng như Ngài Quảng Độ đã nhắc trong Thông Điệp.
Giới cầm quyền Viê.tcộng không phải không biết thế. Nhưng bản chất chế độ đã là như vậy rồị Nếu không thay cả cái chế độ gọi là Mác-Lê-Hô ` chết tiệt đó đi, thì dù dân chúng có oán ghét, thế giới có khinh khi cách mấy thì cũng đành chịu thôị Không dám Dân Chủ Hóa Chế Độ thì không thể thóat khỏi cái chế độ lừa bịp, dối trá, tham ô, và bán nước, để hòng huy động sự hậu thuẫn của toàn dân và dư luận quốc tế và công cuộc dựng nuớc và cứu nước. Việc dựng nước thì Viê.tcộng đã tỏ ra hoàn toàn bất lực. Vì họ đã chọn sai đường. Từ tiến lên chủ nghiã xã hội mơ hồ, đã rơi tuột xuống chủ nghĩa tư bản man rơ.. Vì không có con đường nào đưa nhân loại tới được thứ chủ nghĩa xã hội hoang tưởng của Marx-Engels. Nên Liên xô và thế giới Công sản đã xụp đổ. Trung cộng và Viêt cộng biến chất thành thứ tư bản quái đản không giống ai. Nhưng Trung cộng là một nước lớn, lại được Hoa kỳ ráng sức thổi lên thành hàng cường quốc kinh tế, để thành con ‘ngáo ộp’ hù thiên ha.. Sẵn đà đó, Trung cộng khơi lại truyền thống Đế Quốc Đại Hán nơi tinh thần của người dân Trung hoa, mở ra hy vọng Bành Trướng khắp vùng, khiến cho người dân Trung hoa quên đi cảnh bị đảng khống chế bóc lột.
Nhưng Viêt nam lại ở thế nước nhỏ, mà Viêt cộng vốn cam tâm làm đàn em cho Trung cộng, từng dâng đất, biển, đảo, quyền khai thác tài nguyên và cho Trung cộng đem người vào khai thác. Đồng thời bỏ ngỏ thị trường cho hàng hóa Trung cộng tràn vào bóp chết nền kinh tế non yểu của người Việt. Nguy hiểm hơn nữa theo sự tố cáo của 2 viên tướng về hưu của Viêt cộng là Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh thì 10 tỉnh đầu nguồn Viêt nam như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kontum, Bình Dương đã cho 10 doanh nghiệp Trung cộng, Hồng Kông, Đài Loan thuê dài hạn 50 năm để trồng rừng nguyên liệu, rồi có thể ai cấm được họ cho lập làng Trung hoa khai khẩn ở đây lâu dài, biến đất Việt thành đất Hoạ Theo 2 tướng Nguyên, Vĩnh thì “Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan tới an ninh nhiều mặt của quốc giạ Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của còn làm lại được. còn mất đất là mất hẳn”. Như vậy mà toàn dân trong, ngoài nước không “cùng đứng lên cứu khổ, trừ nguy” thì đợi đến bao giờ?
Little Saigon ngày 16/02/2010.
VIỆT NAM PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC
VN phá giá đồng bạc vào ngày 28 Tết Thứ Tư, 10 tháng 2 2010
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày 11/2/2010 là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ.
Hôm thứ Tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam loan báo định giá lại đồng tiền lần thứ nhì kể từ tháng 11, giảm giá tiền đồng thêm hơn 3% nhằm giữ cân đối trên thị trường ngoại hối và kiểm soát thâm hụt thương mại.
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày thứ Năm, 11 tháng 2, tức 28 Tết, sẽ là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ, tức là giảm giá 3,25% theo cách tính của IMF. Trước đó, 1 đôla Mỹ chỉ đổi được 17.941 đồng.
Thông báo của ngân hàng này cho biết mục đích của việc điều chỉnh tỷ giá là nhằm “cân đối hài hoà cung - cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.”
Ngoài ra, cũng kể từ ngày 11 tháng 2, lãi suất tiền gửi tối đa bằng đôla Mỹ của tổ chức kinh tế, ngoại trừ tổ chức tín dụng, tại tổ chức tín dụng sẽ có mức tối đa là 1% một năm.
Theo tin Reuters, các biện pháp này nhằm đưa thêm đôla ra ngoài thị trường.
Ðồng bạc Việt Nam đã chịu áp lực từ nhiều tháng qua, một phần là do thiếu đôla, một phần vì sự thiếu tin tưởng vào đồng bạc Việt Nam, do thâm hụt thương mại và có thể lạm phát. Việt Nam ước lượng thâm hụt thương mại trong tháng 1 là 1,3 tỉ đôla và lạm phát là 7,62%.
Việc điều chỉnh tỷ giá xảy ra vào giáp Tết, khi có nhiều nhu cầu về tiền mặt và thanh khoản ngân hàng.
Hôm thứ Hai, ngân hàng HSBC báo cáo áp lực đối với tiền đồng sẽ kéo dài nếu không có hành động.
Nguồn: Wall Street Journal, Reuters, http://www.sbv. gov.vn/vn/ home/tintuc. jsp
ÔM BÁM HỆ THỐNG ĐỘC QUYỀN
Ngô Nhân Dụng
Việt Nam mới giảm giá đồng tiền so với đô la Mỹ, lần thứ hai kể từ tháng 11 năm ngoái. Kể từ tháng 6, năm 2008, thì đây là lần thứ tư đồng bạc Việt Nam bị phá giá. Đồng tiền bị áp lực của thị trường chợ đen đẩy xuống, trong khi hối suất chính thức là 17,941 đồng lấy một đô la thì chợ đen trả gần 19,250 đồng. Chính quyền cộng sản muốn thu đô la vào hệ thống ngân hàng; tăng giá Mỹ kim để những người có đô la đem tiền Mỹ tới đổi cho các ngân hàng thương mại, thay vì đem đổi chợ đen được giá lời hơn. Sau khi bị phá giá hai lần trong ba tháng, bây giờ ở các ngân hàng giá chính thức đồng đô la cũng lên tới 19,100 đồng.
Nhưng liệu đảng Cộng Sản có đạt được mục đích gom đô la vào trong các ngân hàng hay không? Tổng giám đốc Ngân hàng Sacombank cho biết trong năm 2009 đã chuyển gần một tỷ đô la (850 triệu) tiền do người Việt ở nước ngoài gửi về, nhưng chỉ có 10% số tiền đó được những người nhận tiền bán lại cho ngân hàng này - tức là 90% những đồng đô la gửi về Việt Nam ra đi theo con đường tìm về chợ đen. Nhà nước cộng sản hoàn toàn bất lực không thể ngăn cấm chợ đen. Không thể đem công an ra đứng chỉ đường bắt đô la Mỹ phải đi theo chỉ đạo của đảng. Những người tổ chức chợ đen mạnh hơn cả công an, họ có thể chính là công an cùng với những kẻ nắm đầu công an!
Việc tăng hối suất của đồng đô la cho bằng giá chợ đen khó thu tiền Mỹ về cho các ngân hàng. Vì khi có những người cần đi mua đô la ở chợ đen vì những lý do riêng, họ sẽ sẵn sàng trả giá cao, thì sẽ có người bán đô la ở chợ đen. Những lý do riêng đó là gì? Có hàng ngàn lý do khác nhau trong một nền kinh tế mờ mờ ảo ảo, đa số những người kiếm nhiều tiền nhất không phải vì họ làm ăn, kinh doanh giỏi, thành công, mà vì những lý do khác! Những người đó có đủ lý do để che giấu những đồng tiền kiếm được, mà một cách giấu rất tiện là đổi lấy đô la Mỹ rồi đem chuyển dần dần ra nước ngoài mà không phải đi qua hệ thống ngân hàng chính thức.
Người ta càng ngần ngại đem tiền Mỹ đến gửi tại ngân hàng, vì lãi suất cho tiền đô la ký thác chỉ có 1%. Khi còn nhu cầu đổi tiền chợ đen thì rất nhiều người sẽ sẵn sàng đóng vai “ngân hàng đen,” tức là giữ đồng đô la, để chờ ngày đem ra đổi, biết thế nào giá cũng sẽ tăng lên. Họ chỉ cần nhìn vào cung cách quản lý nền kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam là đoán được rằng giá đồng đô la sẽ còn tăng nữa.
Có nhiều lý do khiến đồng bạc Việt Nam xuống giá. Khi mối đe dọa lạm phát vẫn còn treo trên đầu mọi người, thì đứng trước viễn ảnh giá sinh hoạt sẽ tăng tâm lý chung của người dân là có đồng nào đem tiêu xài ngay, kẻo mai mốt tiền sẽ mất giá. Riêng tâm lý lo sợ đó cũng khiến lạm phát trở thành sự thật; vì khi mọi người thi đua đi mua sắm thì giá cả tất phải tăng lên! Hàng nhập cảng vào Việt Nam, dù hàng tiêu thụ hay các nguyên liệu dùng vào việc sản xuất, hầu hết phải trả bằng đô la Mỹ. Dù giá các món hàng đó không thay đổi trong thị trường quốc tế, nhưng khi đô la Mỹ lên giá đối với tiền Việt Nam thì tự nhiên đối với những người dân tiêu dùng tiền Việt các món hàng nhập cảng đều tăng giá hết. Khi nhà nước tăng giá đô la Mỹ, người dân sẽ thấy là mối lo lạm phát của mình có cơ sở vững chắc, họ càng tin tưởng thế nào lạm phát cũng còn lên nữa. Lạm phát ở Việt Nam năm 2007 có lúc đã lên tới 60% một năm, năm 2008 giảm xuống còn 23%; năm ngoái đã giảm được xuống dưới 7%, nhưng các nhà kinh tế tiên đoán năm nay lạm phát sẽ lên trên 7%.
Như vậy thì giảm giá đồng bạc Việt Nam đối với đô la Mỹ để làm gì nếu số đô la thu vào các ngân hàng chưa chắc đã tăng mà mối lo lạm phát càng thêm nặng? Chúng ta khó biết những động cơ nào đưa tới các quyết định kinh tế của một nhà nước cộng sản. Họ thường quyết định trong vòng bí mật, với những lý do bí mật.
Có một hồi ở bên Nga người ta làm luật cấm không cho dùng xe với bánh lái bên tay phải (Chỉ ở những nước luật đi đường bắt lái xe phía bên trái, như ở Anh Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, thì bánh lái mới đặt bên tay phải; còn ở Việt Nam, Pháp, Mỹ, Nga, vân vân, dân lái xe đi bên phải thì bánh lái đặt bên trái). Sau khi đã làm luật cấm các loại xe bánh lái bên phải một thời gian, thì chính phủ Nga lại đổi luật, cho phép những chiếc xe nhập cảng từ Nhật Bản, Anh Quốc được lưu hành!
Tại sao họ quyết định cấm, rồi lại quyết định tha? Chỉ có thể giải thích rằng có một ông quan nào đó ra lệnh cấm để tất cả những chiếc xe cũ mua từ Nhật Bản đem về bị mất giá. Khi các xe đó xuống giá, ông và đồng đảng đi mua các loại xe đó cất đi. Bao giờ mua đủ, các ông đổi luật, giá xe tăng lên trở lại, một vốn bốn lời trong mấy tháng!
Rất khó tiên đoán được kinh tế các nước cộng sản, vì những quyết định của quan chức không căn cứ vào các quy luật thông thường. Quy luật quan trọng nhất của họ là chỉ quyết định điều gì khi chính bản thân mình, gia đình mình, và các đồng đảng ăn chia đều hưởng lợi.
Tham nhũng bằng cách ép người ta đưa tiền cho mình là loại tham nhũng tép riu, dành cho các chú công an, cảnh sát đứng đầu đường. Đưa tiền trong bao thư ở văn phòng như trong vụ xa lộ xuyên Sài Gòn cũng là chuyện nhỏ. Hành động tham nhũng làm ra tiền nhiều nhất và chắc chắn nhất là thay đổi thủ tục, luật lệ và đưa ra các quyết định chính sách kinh tế. Ăn tiền kiểu đó hoàn toàn hợp pháp, mà lại chứng tỏ chính quyền “năng động” điều chính chính sách luôn luôn!
Nhưng thay đổi các chính sách nhỏ giọt theo lối cò con đó có ích lợi gì trong việc quản lý kinh tế nước ta hay không? Ông Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng Kế Hoạch Đầu Tư mới nói với tờ Thời Báo Kinh Tế rằng nhà nước cộng sản phải thay đổi toàn diện, vì “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp.” Ông Giá nhận xét, “GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,...” Tình trạng phí phạm, mất mát đó là do hệ thống cai trị độc quyền của đảng Cộng Sản, không thể nào sửa được vì sửa là đụng tới toàn thể hệ thống cai trị.
Một mô hình được chế độ cộng sản áp dụng từ thời Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt tới nay, là tập trung tài nguyên quốc dân cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng, với những tổng công ty và các tập đoàn kinh tế mà các đảng viên cộng sản nắm giữ. Đó là công cụ để đảng Cộng Sản chiếm độc quyền kinh tế thời xưa, nay vẫn còn giữ lại và củng cố cho lớn hơn. Những đại công ty này chỉ tạo được công ăn việc làm cho dưới 20% tổng số người lao động, nhưng được các ngân hàng của nhà nước trao cho 40% đến 45% tổng số vốn cho vay! Còn các xí nghiệp tư nhân, tạo công việc làm cho 80% người lao động thì bị ép khi cần vay vốn. Những người sử dụng vốn kém nhất thì lại được ưu đãi cho vay vốn; còn những người có khả năng, biết đem tiền đầu tư tạo ra nhiều của cải hơn thì phải đúng bên lề. Vì vậy, năng suất của cả nền kinh tế rất thấp, so với các nước khác.
Một chỉ số do năng suất chung của một nền kinh tế là tỷ lệ giữa số tiền cần đầu tư để tạo ra một đơn vị của cải mới. Nếu muốn tạo ra thêm một đồng trong Tổng Sản lượng Nội Địa mà anh cần 50 xu đầu tư, thì hiệu năng của anh thấp hơn một người chỉ dùng 10 xu cũng tạo thêm được một đồng trong GDP. Chỉ số 50% hay 10% trên đây gọi tên là ICOR (Incremental Capital Output Ratio); chỉ số này càng thấp chứng tỏ nền kinh tế càng có hiệu năng cao.
Chỉ số ICOR của Việt Nam rất cao, trung bình là 5.2, tức là cần 5.2 xu đầu tư mới tạo thêm được một đồng của cải mới trong GDP. Nam Hàn, vào các thập niên 1960, 70 có chỉ số ICOR là 3, chỉ cần 3 xu đầu tư cũng tăng thêm được một đồng của cải mới. Trong thời gian đó, kinh tế Nam Hàn tăng lên với tỷ số 7, 9% một năm, còn Việt Nam mấy năm nay chỉ tăng với tốc độ 7.7%. Thái Lan trong giai đoạn kinh tế đang lên như vậy cũng tăng nhanh hơn, 8.1% một năm, mà chỉ số ICOR cũng tốt hơn Việt Nam, chỉ có 4.1.
Tại sao kinh tế Việt Nam hiệu năng yếu kém như vậy? Không phải vì người Việt Nam làm việc kém thông mình hay là vốn tính lười biếng. Lý do chính là hệ thống kinh tế độc quyền của đảng Cộng Sản chỉ ăn bám vào nền kinh tế chứ không đóng góp cho Tổng Sản Lượng Nội Địa bằng số tài nguyên mà họ rút ra dùng.
Trước đây các nước Nga và Đông Âu sụp đổ cũng vì tình trạng đó. Nhưng nay đảng Cộng Sản Việt Nam không lo, dù kinh tế yếu kém, các cán bộ và lãnh tụ vẫn ăn no và làm giầu. Ai muốn xin cho dân được hưởng thêm chút quyền dân chủ tự do thì bắt bỏ tù!
Ngoài ra, bọn tham quan ô lại khiến cho các nhà kinh doanh tư ai cũng phải đóng thêm những thứ thuế ngoài lề, tức là tiền hối lộ. Tham nhũng, hối lộ là những cản trở nặng nề cho sự phát triển kinh tế.
Tại sao đảng Cộng Sản cứ bám lấy các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ hệ thống thư lại tham nhũng rút ruột kinh tế cả nước? Bởi vì họ không biết một đường nào khác ngoài hệ thống cai trị từ thời Hồ Chí Minh để lại. Rời bỏ hệ thống cai trị độc quyền thì không những các lãnh tụ cộng sản sợ bị mất tiền, mất quyền, mà còn lo mất mạng và con cháu bị mang họa nữa. Cho nên ngay bây giờ đã có phong trào chuyển của cải ra nước ngoài, chuyển cả gia đình, con cháu sang các nước Âu, Mỹ, Úc. Những người Việt làm ăn lương thiện có chút tiền nhìn vào cảnh đó cũng lo đi sang các nước Âu, Mỹ sinh sống. Làm sao chuyển tiền bạc từ Việt Nam ra ngoài? Phải đổi lấy đô la Mỹ. Đó là lý do chợ đen đô la không thể nào biến mất được. Nó đáp ứng nhu cầu của một chế độ vào lúc xế chiều ai cũng muốn chuyển tiền đi!
NGÔ NHÂN DỤNG
| | | |
NHẬP SIÊU TỪ TẦU CHIẾM 90% HÀNG NHẬP
CS Việt Nam vẫn bất lực trước trình trạng nhập siêu từ Trung Cộng Thanh Phương Bài đăng ngày 08/02/2010 Cập nhật lần cuối ngày 08/02/2010 15:53 TU
Nền kinh tế Việt Nam còn hai nguy cơ lớn : lạm phát có thể tăng trở lại và nhập siêu vẫn ở mức cao. Với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa. Phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A.
Xưởng may hàng xuất khẩu của Việt Nam
Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố vào cuối năm ngoái, nhập siêu, tức là thâm thủng mậu dịch, của Việt Nam trong năm 2009 đã lên tới hơn 12 tỷ đôla, tuy thấp hơn so với mức 18 tỷ đôla của năm 2008, nhưng vẫn là vượt quá chỉ tiêu đề ra. Điều đáng nói hơn hết đó là trong năm qua, nhập siêu từ Trung Quốc nay đã chiếm tỷ lệ tới gần 90% tổng nhập siêu của Việt Nam.
Như vậy là kể từ năm 2001, mức nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng đều đặn mà Việt Nam vẫn chưa có giải pháp nào khả dĩ hạn chế được mức nhập siêu đó.
Về những nguyên nhân khiến nhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng, tác giả Mạnh Quân trong một bài báo đăng trên trang web của tờ Sài Gòn Tiếp Thị ngày 1/2 cho biết : trước hết, hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc thường là những mặt hàng mà Trung Quốc dư khả năng sản xuất, nên khó mà cạnh tranh nổi. Các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như than, dầu thô, thì lại đang có xu hướng giảm.
Cũng theo tác giả Mạnh Quân, về nhập khẩu, một số mặt hàng từ Trung Quốc là những mặt hàng mà Việt Nam chưa sản xuất được. Hàng Trung Quốc lại rẻ và gần Việt Nam, nên nhiều doanh nghiệp thích mua hàng từ đây.
Tác giả bài báo trích dẫn một số chuyên gia của Hiệp hội Cơ khí cho biết là trong tổng lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, các mặt hàng cơ khí, máy móc chiếm tỷ lệ rất lớn. Cho nên, một trong những giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc có thể là phải đầu tư thêm cho việc sản xuất hàng cơ khí, máy móc nộI địa để thay thế hàng nhập khẩu.
Trong vấn đề này, không chỉ có trách nhiệm của chính phủ mà của cả doanh nghiệp Việt Nam, như nhận định chung của tiến sĩ Nguyễn Quang A. Trả lời phỏng vấn qua điện thoại từ Sài Gòn vào thứ 5 tuần trước, ông Nguyễn Quang A trước hết cho rằng với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa :
Nhưng ở trên, chúng tôi chỉ mới đề cập chủ yếu tình trạng nhập siêu qua giao thương chính ngạch, còn trên thực tế, có thể nói là hiện nay hàng hoá Trung Quốc tràn ngập Việt Nam bằng con đường tiểu ngạch và đáng ngại hơn cả là hàng lậu, giả của Trung Quốc chiếm chủ yếu trong số hàng lậu, hàng giả đi vào thị trường Việt Nam.
Tờ báo trên mạng vnexpress ngày 21 tháng 1 vừa qua trích lời Phó Chi cục Quản lý thị trường Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Xuân Đài cho biết là các mặt hàng Trung Quốc, chủ yếu là vải, quần áo, đồ chơi trẻ em, điện thoại di động, đồ điện gia dụng, phụ tùng xe các loại,... , tràn lan trên thị trường thành phố. Các hàng hoá này được phân phối qua một hệ thống rất chặt chẻ từ Trung Quốc, qua các tỉnh biên giới, rồi đến Sài Gòn.
Bên cạnh đó, dư luận ở Việt Nam trong thời gian gần đây còn được báo động liên tục về những hàng giả đặc biệt gây độc hại như trà sữa trân châu polymer, hoa quả chứa chất bảo quản gây ung thư, sữa nhiễm melamine, v.v. . . Nhưng hết mặt hàng độc hại này thì lại xuất hiện mặt hàng độc hại made in China khác, không bao giờ dứt. Việt Nam có một biên giới khá dài với Trung Quốc, nên rất khó mà ngăn chận sự xâm nhập của những thứ độc hại này.
Hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc-ASEAN đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Riêng bốn nước nghèo nhất khu vực là Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Miến Điện, thì đến 2015 mới áp dụng hiệp định, tức là kể từ thời điểm đó, 90% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có thuế suất từ 0 đến 5%.
Như vậy là trong 5 năm nữa, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối đầu với sự cạnh tranh khốc liệt hơn của hàng hóa Trung Quốc. Liệu trong thời gian 5 năm đó, họ có nâng cao được năng lực cạnh tranh hay không, điều đó dĩ nhiên tùy thuộc một phần vào chính họ, nhưng chủ yếu vẫn là phải tạo ra được một môi trường thuận lợi cho giới doanh nghiệp, với sự hỗ trợ tích cực của chính phủ, như phía Trung Quốc đã làm từ nhiều năm qua. Mặt khác, Việt Nam hãy còn thiếu hàng rào kỹ thuật để bảo vệ thị trường nội địa khỏi những hàng giả, hàng độc hại từ phía Trung Quốc.
Trong vấn đề này, có lẽ cũng nên khơi dậy tinh thần dân tộc, không phải là khuyến khích chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng phải làm cho mọi người thức tỉnh về nguy cơ hàng hóa nội địa bị hàng Trung Quốc đè bẹp, phải nỗ lực vận động người Việt Nam phải dùng hàng Việt Nam. Nhưng bản thân hàng Việt Nam cũng phải được sản xuất đàng hoàng, đúng tiêu chuẩn, giá phải chăng, thì mới hy vọng thu hút được người tiêu dùng trong nước.
| | | |
KINH TẾ VN: ”CÀNG TĂNG TRƯỞNG CÀNG NGHÈO”!
http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml
Lối tăng trưởng chạy theo con số, theo ông Trần Xuân Giá, sẽ 'chỉ làm cho VN nghèo đi.'
Ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu tư, tỏ ý quan ngại về cách điều hành kinh tế tại Việt Nam.
Trên bài phỏng vấn đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, cựu quan chức chính phủ, từng điều hành một trong những bộ quan trọng nhất nước, nhận định: “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp."
“Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa,” ông Trần Xuân Giá nói.
“Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.”
Một số trí thức trong nước đã từng quan tâm đến chủ đề này. Ông Nguyễn Trần Bạt, Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư InvestConsult cho hay nhiều năm trước ông đã quan ngại đến cách làm kinh tế tại Việt Nam.
"Tôi đã nói điều này cách đây 10 năm. Trong một số bài báo, tôi cảnh báo tâm lý tăng trưởng bằng mọi giá. Tôi viết từ rất sớm. Hiện nay nó đẻ ra một cái thực tế mà (cựu) bộ trưởng phải lên tiếng. Chúng tôi, với tư cách là người trí thức bình thường, đã từng lên tiếng trước đó, cảnh báo trước đó, không chỉ cho Việt Nam. Mà cho tất cả các quốc gia kiểu Việt Nam.”
Trong bài phỏng vấn đăng trên tuần báo kinh tế có uy tín từ Hà Nội, ông Trần Xuân Giá tự xếp mình vào nhóm những người bi quan về kinh tế Việt Nam.
Bi quan
Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa
Bên cạnh thừa nhận một số thành tích như, “năm 2009 không rơi vào suy thoái, ngăn chặn được nguy cơ phá sản ở nhiều doanh nghiệp, kiểm soát được lạm phát ở mức 6,88%,” vân vân, cựu quan chức chính phủ nói đến một số lĩnh vực Việt Nam đang phải trả giá.
Đó là “sự phục hồi của kinh tế Việt Nam diễn ra không đồng đều, chưa vững chắc, tạo nên bức tranh sáng tối lẫn lộn.”
Các khó khăn đang tiềm ẩn trong kinh tế Việt Nam, theo ông Trần Xuân Giá, là tỷ giá hối đoái, và lạm phát; chi tiêu công gia tăng; nhập siêu sẽ tăng do giá nguyên liệu trên thế giới tăng, môi trường bị phá hoại nặng nề.
Trước một số ý kiến nhắc đến cuộc khủng hoảng tài chính thế giới như là nguyên nhân khiến cho kinh tế Việt Nam chao đảo trong năm 2008, ông Trần Xuân Giá chỉ ra, ngay cả trước thời kỳ khủng hoảng (2007 cho đến trước quý 3/2008) Việt Nam đã bộc lộ nhiều khó khăn.
“Nguyên nhân suy giảm của kinh tế Việt Nam không chỉ đến từ bên ngoài. Quan trọng nhất là những nguyên nhân nội tại. Nền kinh tế Việt Nam khi ấy gặp không ít khó khăn.
“Lạm phát cao, nhập siêu lớn. Những yếu kém cơ bản đó nằm ngay trong cả cơ cấu lẫn cơ chế kinh tế của Việt Nam.”
Cựu bộ trưởng, hiện tham gia điều hành hội đồng quản trị của ngân hàng ACB, sau đó liệt kê những thiếu sót cơ bản của kinh tế trong nước.
“GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,
"Công nghệ chậm đổi mới, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu chưa thoát khỏi lạc hậu, thị trường trong nước kém phát triển, kinh tế vĩ mô còn nhiều yếu tố bấp bênh, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, môi trường cạnh tranh chưa bình đẳng, lành mạnh.”
Ông Nguyễn Trần Bạt từ công ty InvestConsult lo ngại lối tăng trưởng kiểu “sùng bái con số’’ sẽ đưa Việt Nam đến một kết cục không hay.
“Ăn kẹo mãi thì sẽ bội thực đường. Giấy kẹo nó rơi xuống chân mình nó cao đến mức nó làm tắc thở cái người ngồi, hoặc đứng ăn kẹo.
“Cho nên là tăng trưởng theo kiểu như thế này chính là một trong những biện pháp giết chết một cách chắn chắn nhất tương lai, không chỉ tương lai kinh tế, mà nhiều tương lai khác của Việt Nam.”
http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml
VIỆT NAM BỊ ĐÁNH THUẾ TÔM NHẬP KHẨU MỸ
Việt Nam kiện Hoa Kỳ trước Tổ chức Thương mại Thế giới về thuế đánh trên tôm nhập khẩu Trên nguyên tắc, Hoa Kỳ và Việt Nam có 60 ngày để đàm phán song phương nhằm tìm giải pháp cho vụ tranh chấp. Nếu không đạt thỏa hiệp, lúc đó Việt Nam có thể yêu cầu Tổ chức Thương mại Thế giới thành lập một ủy ban để phán quyết trên hồ sơ thuế đánh trên tôm nhập khẩu.
Theo hãng tin Anh Reuters, chính quyền Việt Nam đã khởi kiện Mỹ tại WTO về những biện pháp đánh thêm thuế chống bán phá giá mà Hoa Kỳ áp dụng đối với tôm nhập khẩu từ Việt Nam. Đây là vụ tranh tụng đầu tiên của Việt Nam trước Tổ chức Thương mại Thế giới từ khi được kết nạp vào định chế này cách nay ba năm.
Theo hãng Reuters, khi quyết định kiện Hoa Kỳ, Việt Nam muốn bảo vệ một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của mình. Theo số liệu chính thức, tôm đông lạnh đã mang về cho Việt Nam khoảng 1,67 tỷ đô la trong năm vừa qua, tăng gần 10 % về khối lượng và 3% về trị giá so vớI 2008. Lượng xuất khẩu của Việt Nam có thể còn cao hơn thế nữa nếu không bị mức thuế chống phá giá do Hoa Kỳ áp đặt, lên đến 26%.
Đối với hãng Reuters, đơn kiện của Việt Nam sẽ đối kháng chính quyền Hà Nội với một số đông người Mỹ gốc Việt là chủ trại nuôi tôm ở Hoa Kỳ, tại các tiểu bang ven biển phía Nam từ Texas, Louisiana, Mississipi, cho đến Alabama, Georgia và Florida. Phái bộ Việt Nam bên cạnh Tổ chức Thương mại Thế giới ở Genève (Thụy Sĩ) chưa có bình luận gì về nguồn tin do Reuters đưa ra, và những chi tiết cụ thể liên quan đến vụ tranh tụng chưa được công bố.
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của Reuters, Việt Nam hiện đang thực hiện bước đầu tiên của tiến trình, tức là yêu cầu Hoa Kỳ đàm phán song phương trên vấn đề này. Một phát ngôn viên của Văn phòng Đại Diện Thương mại Mỹ xác nhận là đang xem xét đề nghị thương thảo của Việt Nam, nhưng cũng không cho biết thêm chi tiết.
Trên nguyên tắc, hai bên có 60 ngày để đàm phán song phương nhằm tìm giải pháp cho vụ tranh chấp. Nếu không đạt thỏa hiệp, lúc đó Việt Nam có thể yêu cầu Tổ chức Thương mại Thế giới thành lập một ủy ban để phán quyết trên hồ sơ này.
CATFISH NHẬP TỪ VIỆT NAM CÓ NHIỄM THUỐC TRỪ SÂU VÀ TRỤ SINH
Tin Hoa Thịnh Ðốn - Báo Washington Post cho hay cơ quan Quản Trị Thuốc và Thực phẩm FDA Hoa Kỳ vừa đưa ra một quan ngại về vấn đề an toàn thực phẩm, theo đó họ khám phá thấy có những độc chất cấm lưu hành như thuốc trừ sâu và trụ sinh bên trong cơ thể của một số cá catfish nhập cảng từ Việt Nam. Tuy nhiên, ghi nhận cho thấy chưa có ai thiệt mạng do ăn phải những cá này. Một bản thảo về qui định cho thấy Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ USDA quyết định rằng loài cá này của Việt Nam nên được thêm vào trong chương trình mới, quyết định mà có nhiều khả năng sẽ bị các nhà nhập cảng chống đối quyết liệt. Bản thảo này cũng nói rằng chương trình điều phối catfish có thể cứu được 36 sinh mạng hằng năm. Nếu qui định này được công bố như dự tính trong tháng này, các nhà sản xuất catfish nước ngoài tiên liệu sẽ có nổ lớn.(SBTN)
Posted on 17 Feb 2010
| | | |
THAM VỌNG TQ VỀ BIỂN ĐÔNG LÀM CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG LO NGẠI
Tham vọng của Trung Quốc giành chủ quyền trên biển Đông khiến các nước láng giềng lo ngại Anh Vũ Bài đăng ngày 24/01/2010 Cập nhật lần cuối ngày 24/01/2010 17:02 TU
Tuần báo The Economist có bài viết về thái độ của Trung Quốc áp đặt chủ quyền trên biển. Theo tờ báo, Trung Quốc gọi vùng biển tiếp giáp với họ là vùng "Biển bình yên", nhưng trên thực tế, các vụ tranh chấp lãnh thổ của họ với các láng giềng đang làm vùng biển yên bình đó đang dậy sóng.
Những tranh chấp chủ quyền trên biển giữa Trung Quốc với một số nước láng giềng của họ vẫn tồn tại từ lâu nay mà chưa tìm được hướng giải quyết. Thời gian gần đây, Trung Quốc lại làm dấy lên các tranh cãi bằng những hành động quả quyết về chủ quyền của mình ở những khu vực có tranh chấp trên biển.
Tuần báo The Economist tuần này có bài viết về thái độ khăng khăng áp đặt chủ quyền trên biển của nước lớn này. Theo tờ báo, Trung Quốc gọi vùng biển tiếp giáp với họ là vùng "Biển bình yên", thế nhưng thực tế, các vụ tranh chấp lãnh thổ của họ với các láng giềng đang làm vùng biển yên bình đó đang dậy sóng.
Từ nhiều tuần qua, Nhật Bản và Việt Nam đã lên tiếng phản đối những hành động xâm lấn trên biển của Trung Quốc ở những khu vực đang còn tranh cãi. Điều khiến nước có tiếp giáp biển với Trung Quốc phải lo ngại là Bắc Kinh đang càng ngày càng tỏ ra ngang ngược đòi khẳng định chủ quyền của mình trên những khu vực đang tranh chấp. Nguyên nhân khiến các cuộc tranh chấp càng trở nên gay gắt hơn đó là nguồn tài nguyên dầu mỏ, khí đốt đang nằm sâu dưới đáy các vùng biển đó.
Tờ báo nhận thấy, cách đây hai năm, sau những tranh cãi dài dài, Trung Quốc và Nhật Bản cũng đã đi đến ký kết một thỏa thuận về một khu vực đang tranh cãi trên vùng biển Hoa Đông. Người ta có cảm giác như cuộc đấu khẩu dài hơi về các tranh chấp trên vùng biển này giữa hai nước đã có thể chấm dứt được rồi. Thế nhưng giờ đây cuộc tranh cãi giữa hai nước lại trở lại như mới.
Báo chí Nhật Bản đã đưa tin, hôm 17 tháng giêng vừa rồi Ngọai trưởng Nhật Katsuya Okada trong một cuộc gặp người đồng sự Trung Quốc Dương Khiết Trì đã cảnh báo rằng Nhật Bản sẽ có « biện pháp » nếu như Trung Quốc tự ý đơn phương cho khai thác mỏ khí đốt Xuân Hiểu mà tiếng Nhật gọi là Shirakaba.
The Economist Xuân Hiểu nằm ở trong khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trên biển Hoa Đông nhưng Nhật cho rằng khu vực này nằm giữa đường phân chia hai nước, cũng chỉ cách khu đặc quyền kinh tế của Nhật có 4 cây số. Nhật lo ngại việc khai thác khí đốt ở Xuân Hiểu sẽ hút khí đốt trên phần khai thác của mình. Hiệp định ký năm 2008 giữa hai nước quy định đây là khu vực cùng khai thác chung.
Hôm 19 tháng giêng vừa qua, bô Ngọai giao Trung Quốc đã ra tuyên bố có nhắc lại thời kỳ lạnh nhạt trong quan hệ hai nước và đồng thời cho rằng những đòi hỏi của Nhật Bản là có ý đồ chính trị nhằm làm mất ổn định trong khu vực.
Một khu vực khác trên biển Đông cũng đang được Trung Quốc đòi áp đặt chủ quyền. Bài báo đề cập đến quần đảo Hòang Sa. Nơi từ lâu nay đang là khu vực tranh chấp với Việt Nam.
Tháng 12 năm ngóai bất chấp sự phản đối của Việt Nam, Trung Quốc lại đưa ra kế họach thúc đẩy phát triển du lịch tại quần đảo Hoàng Sa, đã được Bắc Kinh cho sát nhập vào huyện đảo Hải Nam.
Tờ báo nhận thấy trước những tham vọng của Bắc Kinh những lo ngại của các nước có tiếp giáp biển với Trung Quốc lại càng lên cao khi có vụ va chạm giữa tàu hải quân và Trung Quốc với tàu chiến Mỹ trên biển Đông. Hôm 13 tháng giêng vừa qua, chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đã báo cáo trước Quốc Hội nước này rằng hải quân Trung Quốc đang tăng cừong đáng kể các cuộc tuần tra trên biển Đông và đang tỏ rõ quyết tâm chiếm lấy những hòn đảo đang có tranh chấp ở đây.
OBAMA QUYẾT ĐỊNH GẶP ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
(Tuệ Giang dịch) Tòa Bạch Ốc: Tổng thống Obama sẽ hội kiến với Đức Đạt Lai Lạt Ma bất chấp sự phản đối của Trung cộng
Washington/Beijing, Feb 3 (PTI)
Bác bỏ sự phản đối mạnh mẽ của Trung Cộng, tổng thống Barack Obama sẽ gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tòa Bạch Ốc cho biết như trên khi đề cập mối lo ngại về ảnh hưởng của nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng có thể đe dọa sự tổn hại quan hệ Trung-Mỹ vốn đã bị căng thẳng bởi thương vụ bán vũ khí cho Đài Loan.
Ông Bill Burton, tùy viên báo chí của Toà Bạch Ốc nói rằng: "Tổng thống đã nói với các nhà lãnh đạo Trung Cộng trong chuyến đi thăm của ông năm ngoái rằng ông sẽ gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, và ông đã dự định như vậy ."
"Đức Đạt Lai Lạt Ma là một vị lãnh đạo tôn giáo, văn hóa được cả thế giới kính trọng và tổng thống sẽ gặp Ngài trong tinh thần đó" Ông nói thêm: " Tuy nhiên, Toà Bạch Ốc chưa công bố ngày giờ cho cuộc gặp gỡ đầu tiên.
Đức Đạt Lai Lạt Ma, năm nay 74 tuổi, vị lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, sẽ đến Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm 10 ngày vào cuối tháng này và Ngài sẽ lưu lại Hoa Thịnh Đốn từ ngày 17 cho tới 19.
Phản ứng lời tuyên bố của Toà Bạch Ốc, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Cộng, Ma Zhaoxu cho biết: " Bắc Kinh cực lực phản đối bất cứ cuộc gặp gỡ nào giữa Đạt Lai Lạt Ma và tổng thống Obama".
Ông tuyên bố: "Trung Quốc cũng phản đối mạnh mẽ về chuyến viếng thăm Hoa Kỳ và sự liên hệ giữa các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Đại Lạt Ma dưới bất kỳ hình thức nào. Lập trường của chúng tôi trước sau như một".
Ông nói thêm: "Chúng tôi yêu cầu Hoa Kỳ nhận ra tính nhạy cảm của các vấn đề liên quan đến Tây Tạng và xử lý thận trọng các vấn đề đó để bảo vệ mối quan hệ Trung-Mỹ khỏi bị suy yếu thêm. Người phát ngôn Trung Cộng nhấn mạnh điều đó trong cuộc viếng thăm của tổng thống tại Trung Quốc vào tháng 11 qua.
Chủ tịch Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào, nhấn mạnh lập trường phản đối bất cứ cuộc họp nào từ phía Bộ Ngoại Giao hay các viên chức chính phủ với Đạt Lai Lạt Ma. Bên cạnh đó, Hồ yêu cầu trong những điều khoản rõ ràng với tổng thống Obama là không nên xu theo các phe nhóm ly khai hoạt động ủng hộ sự độc lập của Tây Tang ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ.
Quyết định gặp gỡ giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và tổng thống Obama diễn ra song song với những cuộc đàm phán vô hiệu quả giữa các nhà lãnh đạo Trung Cộng và phái đoàn của Đức Dalai Lama, đây là lần thứ chín kể từ năm 2002 và là lần đầu tiên sau hơn một năm.
Bắc Kinh thừa nhận rằng các cuộc đàm phán đã không mang lại tiến triển nào về vấn đề nóng bỏng của Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt, người trốn chạy sang Ấn Độ vào năm 1959 sau cuộc nổi dậy thất bại chống Trung Cộng cai trị tại Tây Tạng nói rằng, ông chỉ đòi hỏi các quyền lợi cho người Tây Tạng, nhưng Bắc Kinh cáo buộc ông về tư tưởng ly khai.
Trước đó Trung Cộng đã đe doạ cắt đứt các quan hệ quân sự và trừng phạt các công ty Hoa Kỳ về thương vụ bán vũ khí cho Đài Loan, gồm tên lửa Patriot và những quân dụng khác. Bắc Kinh coi Đài Loan như là một tỉnh phản loạn và bắt buộc phải sát nhập với Hoa Lục thậm chí bằng vũ lực. Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn còn đang lục đục về việc kiểm duyệt Google search engine tiếng Trung Hoa.
Posted by Giao Trinh Room Dieu Phap at 1:34 AM 0 comments
TẠI SAO HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC SẼ ĐỤNG ĐỘ ? Ngày 08-02-2010, giờ 01:37
Đó là câu hỏi mà ký mục gia Gideon Rachman của tờ Financial Times đưa ra khi nhận xét về việc Google quyết định đối đầu với Bắc Kinh và nói là sẽ sẵn sàng rút lui nếu chính quyền không chịu giảm thiểu việc kiểm duyệt.
Ông Rachman không lạ gì với Á Châu. Trước khi tham gia làm ký mục gia cho tờ Financial Times, ông đã từng là phóng viên thường trú của tờ The Economist ở Bangkok . Hơn thế, sau đó ông về làm chủ biên Á Châu của tờ tạp chí kinh tế nổi tiếng của Anh Quốc này. Ông cũng từng là phóng viên thường trú của tờ The Economist tạiWashington và Brussels . Là một người hiểu rõ cả Ðông lẫn Tây, cả Âu lẫn Á, cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc, những nhận xét của ông đáng để chúng ta chú ý.
Theo ông, cuộc đụng độ giữa Google và Trung Quốc không phải chỉ là về số phận của một công ty, dầu cho đó là một công ty vô cùng hùng mạnh. Việc công ty quyết định rút ra khỏi Trung Quốc, trừ phi chính phủ thay đổi chính sách về kiểm duyệt, là dấu hiệu cho sự việc là liên hệ Mỹ-Trung sẽ ngày càng đi vào cơn sóng gió.
Theo ông, vụ này còn đáng chú ý hơn nữa vì nó cho thấy những giả định trên đó tất cả chính sách Hoa Kỳ đối với Trung Quốc được đặt nền tảng kể từ sau cuộc thảm sát Thiên An Môn năm 1989 là đã hoàn toàn sai. Hoa Kỳ đã chấp nhận, và ngay cả chào đón, sự hình thành của một Trung Quốc như là một cường quốc kinh tế bởi vì các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ tin là cởi mở kinh tế rồi sẽ dẫn đến cởi mở chính trị tại Trung Quốc.
Nếu định đề đó thay đổi, chính sách của Hoa Kỳ với Trung Quốc cũng sẽ phải thay đổi. Chào đón một cường quốc đang lên tại Á Châu mà rồi sẽ trở thành một nền dân chủ tự do là một điều có thể chấp nhận được. Bảo trợ cho sự lớn mạnh của một chế độ Leninist độc đảng, mà có thể trở thành đối thủ địa lý chính trị duy nhất của Hoa Kỳ, lại là điều khác hẳn. Kết hợp việc này với sự thất vọng chính trị của một nền kinh tế đang chịu thất nghiệp đến hai con số vốn hiện đang đổ cho là vì chính sách dìm giá tiền tệ của Trung Quốc thì chúng ta rõ ràng có một công thức cho một phong trào bài Trung Quốc.
Cả hai tổng thống Bill Clinton và George Bush đều tin tưởng là mậu dịch tự do, đặc biệt trong thời đại Internet, sẽ làm cho Trung Quốc đương nhiên có thay đổi chính trị. Khi đến thăm Trung Quốc năm 1998, ông Clinton tuyên bố “Trong thời đại tin học, khi thành công kinh tế dựa trên tư tưởng, tự do cá nhân là điều căn bản cho sự vĩ đại của bất cứ một quốc gia nào.” Một năm sau, ông Bush cũng đưa ra cùng một luận điệu “Tự do kinh tế tạo thói quen tự do. Và thói quen tự do tạo trông đợi dân chủ... Buôn bán tự do với Trung Quốc thì rồi thời gian sẽ thuộc về chúng ta.” Ngay cả các cố vấn của hai vị tổng thống cũng nghĩ vậy. Ông Robert Wright, một trong những nhà tư tưởng được ông Clinton rất mê, đã lý luận là nếu Trung Quốc ngăn chặn tự do tiếp cận Internet, “cái giá phải trả sẽ là thất bại kinh tế thảm hại”.
Nhưng cho đến nay thực tế cho thấy sự tin tưởng đó là không tưởng. Trung Quốc tiếp tục kiểm duyệt cả truyền thông cũ lẫn mới, và mặc dầu vậy họ nào có bị “thảm bại kinh tế” đâu. Ngược lại, Trung Quốc nay là nền kinh tế lớn thứ nhì trên thế giới và là quốc gia xuất cảng lớn nhất thế giới, với một dự trữ ngoại tên lên đến trên 2,000 tỷ đô la. Nhưng tất cả những sự tăng trưởng kinh tế này không cho thấy có dấu hiệu gì thúc đẩy thay đổi chính trị mà ông Bush và ông Clinton trông đợi. Ngược lại, chính phủ Bắc Kinh còn có vẻ siết chặt hơn nữa. Ngoài những vụ đàn áp các nhà dân chủ như vụ bỏ tù 11 năm ông Lưu Hiểu Ba, người mà tội duy nhất là tìm cách phổ biến một hiến chương kêu gọi dân chủ đa nguyên, Bắc Kinh đã ngang nhiên lập một bức tường lửa “vạn lý trường thành” để bao vậy dân chúng của họ ra khỏi mạng Internet toàn cầu.
Trong hoàn cảnh đó, ông Rachman tin là việc Google có quyết định đối đầu với chính phủ Trung Quốc là một báo động sớm là Hoa Kỳ đã bắt đầu chán phải đối phó với Trung Quốc độc tài. Nhưng áp lực lớn nhất sẽ không phải từ các nhà kinh doanh. Google là một trường hợp khá đặc thù, hoạt động trong một ngành kinh doanh rất chính trị hóa. Nếu Google quyết định thực sự rút khỏi Trung Quốc, sẽ không có hàng đoàn các đại công ty Hoa Kỳ đùng đùng rút theo. Ngược lại các nhà kinh doanh rồi đây sẽ là những người cố gắng vận động để duy trì liên hệ với Bắc Kinh, bởi thị trường Trung Quốc quá lớn để có thể bị bỏ qua được.
Áp lực rút lui sẽ là từ các nghiệp đoàn, các vị diều hâu trong ngành an ninh, các chính trị gia, đặc biệt là tại Quốc Hội. Cho đến nay, chính sách Trung Quốc của chính phủ Obama đã dựa trên truyền thống của hai chính phủ tiền nhiệm. Ngay đến bài diễn văn chính của tổng thống trong chuyến công du vừa qua cũng lập lại luận điệu cố hữu, kể cả lời nói nay đã thành tập tục, đó là Hoa Kỳ chào đón sự thăng tiến của Trung Quốc. Nhưng sau khi bài diễn văn của ông tại Thượng Hải bị kiểm duyệt và sau khi ông bị một viên chức cấp thứ trưởng lên tiếng dạy bảo ở Hội Nghị Copenhagen, hẳn ông Obama ngày nay sẽ không cảm thấy nồng nhiệt bao nhiêu với Bắc Kinh.
Và bàn diễn văn hôm thứ năm của Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã cho ta thấy sự đổi ý đó. Với một giọng điệu phỏng theo bài diễn văn nổi tiếng của cố Thủ Tướng Winston Churchill của Anh, bà ngoại trưởng nói “Một bức màn sắt thông tin mới đang hạ xuống trên hầu khắp thế giới.” Ðó là luận điệu của ông Churchill khi ông nói đến bức màn sắt của Liên Xô đổ xuống Âu Châu. Bà Clinton khẳng định “Chúng tôi bảo vệ một Internet độc nhất nơi toàn thể nhân loại được đồng đều tiếp cận kiến thức và tư tưởng.” Những lời kêu gọi phải cứng rắn hơn với Trung Quốc sẽ lan ra từ các nghiệp đoàn đến các ngành an ninh, qua Quốc Hội trong năm bầu cử, khiến chủ thuyết bảo hộ mậu dịch nay đang trở thành ngày một phổ biến và được ưa chuộng. Bắc Kinh nên bắt đầu lo là vừa.
Một cuộc chiến tranh mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là một điều có thể đưa thế giới trở lại cuộc khủng hoảng chính trị và đẩy thế giới vào một giai đoạn căng thẳng mới. Nếu nó có xảy ra thì cả hai bên đều chịu một phần lỗi. Hoa Kỳ, vì đã quá ngây thơ về liên hệ giữa tự do mậu dịch và dân chủ. Nhưng Trung Quốc còn phần lỗi hơn khi đã khiêu khích về chính sách tiền tệ và về nhân quyền.
Ông Rachman kết luận “Nếu họ (Trung Quốc) muốn tránh một cuộc đụng độ trầy vi tróc vảy với Hoa Kỳ thì họ nên thay đổi chính sách.” Có điều ông Rachman không nói đến là việc thay đổi chính sách cũng khó lắm thay. Bắc Kinh cho đến nay vẫn tin chắc là chế độ của họ không thể tồn tại nếu cho người dân tự do. Thành ra, cuộc đụng độ, mà có lẽ cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều không muốn, không thể nào tránh nổi.
Lê Phan
OBAMA VÀ TRUNG QUỐC
Lê Văn
Song song với các biến cố mới xảy ra như Hoa Kỳ -HK- vừa quyết định bán hơn 6.4 tỉ đô la võ khi tối tân cho Đài Loan thì tiếp ngay sau đó Tổng thống HK Obama tuyên bố sẽ tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng vào cuối tháng 2 sắp tới đang gây nên các căng thẳng nghiêm trọng với Trung quốc -TQ.
Mặc dầu TQ lớn tiếng phản đối, ngoại trưởng Hillary Clinton cho rằng việc bán vũ khí hiện đại cho Đài loan không có gì đi ngược lại quan điểm “Một Nước Trung Quốc” như chủ trương của chính phủ Mỹ và chính phủ TQ bấy lâu naỵ Theo ngoại trưởng Clinton, thì việc tăng cường vũ khí cho Đài Loan nhầm củng cố cho Đài loan trong việc nói chuyện với TQ được thuận tiện hơn, dễ dàng hơn.
TQ cảnh cáo nếu ông Obama tiếp Đức Datlai Lama thì sẽ gây tổn thương cho quan hệ song phương giữa Mỹ-Trung. Liền sau đó Tòa Bạch Ốc cho hay là Tổng thống Obama dứt khoác sẽ có buổi họp với Đức DaLai-Lama bất chấp lời cảnh cáo của TQ. Một viên chức Hoa kỳ, ông Bill Bulton nói rằng Tổng thống Obama đã nói với các lãnh đạo Bắc kinh là sau chuyến thăm TQ, Tổng thống Obama sẽ có buổi tiếp xúc với Đức ĐaLai Lamạ Trong khi đó các giới chức Hoa kỳ nói rằng điều quan trọng là duy trì quan hệ tốt đẹp cả TQ lẫn Chính Phủ Lưu vong Tây Tạng. Nghĩa là đối với Hoa kỳ, Đức Datlai Lama và Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào có tầm vóc quan trọng ngang nhau.
Các quyết định đó được coi như là sự tái khẳng định một chính sách mới của HK tại Á châu, một chính sách đối đầu đa dạng từ thương mại đến nhân quyền và cả chính trị lẫn quân sư..
Một điểm đáng chú ý khác là Hội đồng Đối Ngoại Hoa Kỳ - Council on Foreign Relations (CFR) tại New York- một tổ chức có ảnh hưởng lớn mạnh đối với chính sách đối ngoại của Mỹ vừa cảnh báo rằng ..."Nền tảng chính trị tại IRAN đang tiến gần đến sự thay đổi sâu xắc & triệt để chưa từng thấy từ khi chế độ Sa Hoàng bị lật đổ cách đây hơn 30 năm" ... "Iran may be closer to profound political change than at any time since the revolution that ousted the shah 30 years agọ" và kết luận là... không những chỉ có thế lực cứng rắn Tân Bảo Thủ tại Hoa Thịnh Đốn kiên quyết chủ trương thay đổi chế độ tại Tehran ("regime change" in Tehran) mà nay các thế lực thực tiễn cũng phải thừa nhận rằng đây là một cơ hội không thể cho vuột xẩy được ("Even a realist should recognize that it's an opportunity not to be missed,"
Ông Richard Haass, chủ tịch Council on Foreign Relations - tổ chức được biết qui tụ các thế lực tài phiệt của Mỹ & Do Thái, một người được coi như là có quan điểm thực tiễn (realists) giống như cựu cố vấn An Ninh Quốc Gia Brent Scowcroft hay cựu Bộ trưởng Ngoại giao Colin Powell, qua nhận định trên nay được coi như đã thay đổi quan điểm rất triệt để về đối sách của HK với IRAN (Haass' change of heart) .
Đi sâu hơn, ông Robert Kagan thuộc tổ chức Carnegie Endowment for International Peace ở Hoa Thịnh Đốn đã nhiệt liệt cỗ võ và không dấu giếm gì khi viết trên tờ Washington Post rằng thực hiện việc đổi chế độ tại Tehran ... chính là cơ may một lần trong đời mà Tổng thống Obama có được, trong vài tháng tới đây để làm cho thế giới nầy được thực sự an toàn hơn ("President Obama has a once-in-a-generatio n opportunity over the next few months to help make the world a dramatically safer placẹ")
Từ lập trường hầu như đồng nhứt của hai thế lực lớn nầy, chúng ta có thể trông đợi những biến cố mới sẽ xảy ra tại Iran trong những ngày sắp tớị
Tại Paris hôm 29/1/10, trong buổi họp bàn về kế hoạch và biện pháp chế tài Iran, Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố không úp mở: “ …Trung quốc sẽ bị cô lập về ngoại giao và có thể bất ổn về kinh tế nếu Trung Quốc không nhất trí với thế giới những biện pháp trừng phạt mới gay gắt hơn chống lại Iran trong việc ngăn ngừa xứ này chế tạo và phát triển vũ khí nguyên tử..” Một động thái đáng chú ý khác là tỉ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ đang ở trên mức 10% và chưa thấy có chiều hướng suy giảm trong tương lai gần, nạn thâm thủng ngân sách ở mức kỷ lục , tiết kiệm cá nhân ngày càng giảm, mức cầu theo đó mà yếu đi, do đó ngân sách cho các chương trình kích thích kinh tế bị giới hạn... để phá vở vòng lẩn quẩn nầy các biện pháp đầu tiên là phải hạn chế nhập khẩu ( bảo vệ hàng nội địa) và tăng xuất khẩu (tạo việc làm) mà mấu chốt của vấn đề là tăng thuế nhập khẩu và điều chỉnh tỉ xuất hối đoái tiền tệ (giá thành sản xuất.)
Hôm thứ Tư ngày 4/2/2010, Tổng thống Obama đề ra chính sách kinh tế mới của Hoa kỳ, tăng cường xuất khẩu, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới theo đúng qui luật của WTO, chống lại chế độ bảo hộ mậu dịch. Và Tổng Obama nói thẳng với TQ và các nước khác là chính phủ TQ và chính phủ các nước khác phải mở rộng thị trường đón nhận nhiều hơn hàng xuất khẩu của của các nước khác, nhất là hàng xuất khẩu của Hoa kỳ cũng như Hoa kỳ đã và đang mở rông nhập khẩu các mặt hàng xuất khẩu của TQ cũng như của các nước khác. Cũng trong ngày thứ Tư vừa qua, Tổng thống Obama kêu gọi các quốc gia trên thế giới phải xét lại tỉ giá đồng tiền của họ với đồng Dollar của Hoa kỳ. Tổng thống Obama than phiền có một số quốc gia xử trì không công bằng với đồng Dollar của Chính phủ Hoa kỳ, họ kiềm hãm tỉ giá đồng tiền của họ một cách vô lý và phản lại qui luật mậu dịch, họ cố tình làm cho các mặt hàng nhập khẩu đất nước họ, nhất là hàng xuất khẩu của Hoa kỳ, gặp nhiều khó khăn không bán được vì giá quá caọ Mặc dầu Tổng thống Obama không chỉ mặt đặt tên, nhưng thế giới ai cũng biết Trung Quốc là một trong những quốc gia đó.
Các căng thẳng thương mại đang nổ ra giữa HK và TQ, bán võ khí tối tân cho Đài Loan, coi Đức ĐaLai Lama như một nguyên thủ quốc gia cùng lúc đó một kế hoạch tấn công Bắc Hàn do hai chuyên gia về Bắc hàn Bruce Bennett thuộc Rand Corporation và Jennifer Lind của Dartmouth College cùng phác họa mới đây (Rand: 400,000 troops needed to secure N. Korea and its 'loose nukes' By Donald Kirk Monday, January 25, 2010) là phải cần đến ít nhứt 400,000 quân Mỹ-Hàn để đánh chiếm Bắc Hàn trong trường hợp nước cộng sản nầy bất ngờ xụp đổ nhằm chiếm giữa các cơ sơ nguyên tử và giải giới toàn bộ bộ đội cộng sản Bắc hàn. Bộ trưởng Quốc phòng Kim Tae-young mới đây tuyên bố là Nam hàn sẽ ra tay trước đánh phủ đầu Bắc hàn nếu có chỉ dấu rõ ràng là Bắc hàn chuẩn bị tấn công bằng vũ khí hạt nhân. (if we detected that it has a clear intention to attack with nuclear weapons".). Hai chuyên gia trên nhấn mạnh rằng nhiều chỉ dấu cho thấy hầu như đã chắc là các thang điểm chỉ dấu sự đỗ vỡ đã đến vì đang có sự khủng hoảng lảnh đạo và nền kinh tế Bắc hàn đang đến hồi kiệt quệ
Các viễn ảnh có thể xảy ra:
Một là các quốc gia nằm trong vòng ảnh hưởng trực tiếp của HK và TQ ngày càng phải chịu áp lực nặng nề hơn từ cả hai phía trong mọi lảnh vực từ thương mại đến quân sự lẫn chính trị đặc biệt là Việt Nam một quốc gia cộng sản chỉ còn chỗ dựa ở Trung cộng để tồn tại, chánh quyền thì mục ruỗng thối nát, dùng quyền cai trị để trục lợi, can tội bán nước quì lụy giặc ngoại xâm chỉ còn biết dùng bạo lực trấn áp để tồn tại đang bị nhân dân chán ghét cực độ, nội bộ chia rẽ tranh chấp chỉ chờ ngày bùng nổ ... sự đối đầu giữa HK và TQ đang là các chất xúc tác cực mạnh, những tác động tất yếu thúc đẩy làm biến thể chế độ vô phương cứu vãn.
Hai là TQ biết rõ ràng là sự xụp đổ của Bắc hàn không thể tránh khỏi nhưng không muốn thấy sự sụp đổ đó sẽ gây ra các nguy hiểm cho TQ và một điều mà TQ lo âu nhứt có lẽ là hậu quả sự xụp đổ của Bắc hàn sẽ châm ngòi cho cuộc trổi dậy toàn diện của dân tộc Tân cương và Tây Tạng đó cũng chính là nguồn cảm hứng vô tận, cơ hội ngàn năm đang đến cho chính nhân dân TQ, Việt Nam, Miến Điện, Lào, Cambodia cùng đứng lên giành lại tự do dân chủ cho chính mình ...
Lê Văn
| | | |
ÂU CHÂU BẤT TRẮC
Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA
... khủng hoảng Hy Lạp có thể lan ra toàn khối Euro và chấn động cho cả Liên hiệp Âu Châu...
Vừa bước vào năm mới, kinh tế thế giới đã có đầy dấu hiệu bất trắc. Đầu máy kinh tế mạnh nhất là Hoa Kỳ thì thất nghiệp còn cao, lại bị bội chi quá nặng nên liệu tăng thuế có giải quyết nổi vấn đề không? Kinh tế Nhật Bản thì chưa ra khỏi suy trầm, Trung Quốc lại đang có triệu chứng nóng máy tương tự như mươi năm về trước. Nhưng, bất trắc nhất là hoàn cảnh Âu Châu với vụ khủng hoảng Hy Lạp có thể lan ra toàn khối Euro và gây chấn động cho cả Liên hiệp Âu Châu. Những bất trắc ấy khiến các thị trường chứng khoán thế giới đều tuột giá nặng. Vì vậy, Diễn đàn Kinh tế Đài RFA xin tìm hiểu riêng về hoàn cảnh nguy ngập của Âu Châu, mà mắt bão là các nước miền Nam. Phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa về đề tài này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa.Thưa ông, đáng lẽ ra, trong một chương trình chào đón Xuân Canh Dần, chúng ta có thể đề cập tới một vài tiết mục tươi vui. Nhưng như ông hay nói, kinh tế vốn là một "khoa học u ám" và tình hình bất trắc của các nền kinh tế mạnh nhất thế giới lại đang gây lo âu cho những người phải quyết định về chính sách, cho nên, chúng tôi đành phải đề cập tới đề tài này.
Trong những bất trắc nổi bất nhất, thì ngoài trường hợp của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc, thế giới đang chú ý đến Âu Châu, gồm có 27 nước Liên hiệp Âu Châu, 16 nước trong khối tiền tệ thống nhất của đồng Euro và bốn nước tại miền Nam Âu Châu, trong đó có Hy Lạp ở mép bờ khủng hoảng và có thể vỡ nợ. Chúng tôi đề nghị là ta sẽ đặc biệt nói về sự nguy ngập này của Âu Châu. Ông nghĩ sao về việc đó?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta rất nên tìm hiểu tình hình Âu Châu vì có thể rút tỉa nhiều bài học cho Á Châu và cả Việt Nam. Nói về Âu Châu thì ta có thể đi từ trong ra ngoài, từ tình hình của Hy Lạp tới các nước miền Nam và cả khối Euro rồi Liên hiệp Âu Châu, trong đó có đầu máy mạnh nhất là quốc gia đang gánh nhiều trách nhiệm nhất là nước Đức. Hoặc ngược lại, ta đi từ bối cảnh chung của toàn khối Liên Âu trước khi tiến vào trung tâm của mắt bão tại miền Nam và khả năng cứu vãn của nước Đức, với hậu quả vừa kinh tế vừa chính trị cho cả lục địa này.
Việt Long: Theo thông lệ thì xin đề nghị ông trình bày bối cảnh sâu xa, trước khi nói về trường hợp Hy Lạp. Lý do là theo như ông vừa trình bày, khủng hoảng Hy Lạp không là hiện tượng đơn lẻ và các giải pháp cứu vãn có thể ảnh hưởng đến cả khối Euro, đến đồng Euro, và toàn thể cơ chế Liên hiệp Âu Châu...
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin được nói rằng đây là một đề tài nhức đầu nên cần xin lỗi trước quý thính giả khi phải tổng hợp lại cho ngắn gọn trong thời lượng của chương trình.
- Trước hết, Âu Châu phạm sai lầm khi tưởng rằng mình bị lây khủng hoảng từ Hoa Kỳ vào năm 2008. Vụ khủng hoảng tài chính tại Mỹ là cái duyên đã mở bung cái nhân là sự bất trắc tích lũy từ đã lâu trong cơ chế kinh tế Âu Châu. Như một người bị thương hàn mà cứ đổ lỗi cho một cơn lạnh đến từ bên ngoài. Tôi xin giải thích chuyện ấy:
- Tự thân thì kinh tế và hệ thống tài chính ngân hàng của Âu Châu đã có nhiều chứng tật như Hoa Kỳ, mà còn nguy ngập hơn. Cụ thể là cũng có bong bóng đầu tư về địa ốc, có nạn tín dụng thứ cấp đầy rủi ro. Quan trọng hơn cả là sự bất cẩn của các ngân hàng khi cấp phát tín dụng và còn đi vay với phân lời rẻ để đầu tư vào nơi có triển vọng sinh lời cao hơn.
- Có hai lý do của sự bất cẩn là thứ nhất tinh thần lạc quan của Tây Âu khi tiến vào phát triển Đông Âu vừa mới được giải phóng sau khi Liên Xô tan rã. Lý do thứ hai tinh thần ỷ lại của nhiều nước trong khối tiền tệ thống nhất là khối Euro nhờ sức mạnh kinh tế và giá trị đồng bạc của nước Đức, trở thành xương sống cho đồng Euro. Các ngân hàng Tây Âu phía Bắc thì đầu tư vào ba nước Cộng hoà Baltic ở mạn Bắc. Các ngân hàng Tây Âu ở phía Nam thì đầu tư vào Đông Âu và khu vực Balkan tại miền Nam.
Việt Long: Câu chuyện quả là rắc rối và có nguyên ủy từ lâu rồi.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, nhưng đó mới chỉ là bối cảnh chung khiến hệ thống ngân hàng Tây Âu đã trải mỏng phương tiện vào nhiều khu vực rủi ro. Vấn đề còn phức tạp hơn thế vì cơ chế điều tiết lại gặp mâu thuẫn là Ngân hàng Trung ương Âu châu chỉ có thể quyết định về chính sách tiền tệ và tín dụng khi có sự đồng ý của tất cả 27 hội viên; trong đó lại có 16 thành viên đã thống nhất tiền tệ là khối Euro. Mâu thuẫn thứ hai về cơ chế là thỏa ước Maastricht năm 1992 lại không cho phép, tôi xin nói lại, là không cho phép xứ nào tung tiền cấp cứu xứ khác, cụ thể là nước Đức giàu mạnh không thể tiếp tục trợ cấp các nước kia như Đức đã làm khi chuộc lại Đông Đức và nâng đỡ các nước kém phát triển để họ tiến vào việc thống nhất tiền tệ.
- Nói cho gọn thì nhiều xứ nghèo yếu đã kiếm lời nhờ sự bảo trợ đã trở thành thói quen của Đức. Bây giờ, mấy xứ bất cẩn đó có thể vỡ nợ khi các ngân hàng bị phá sản, là trường hợp đã xảy ra cho xứ Ireland ở miền Bắc và nay là bốn nước ở miền Nam quanh Địa trung hải được gọi chung dưới hỗn danh "Club Med", là hệ thống du lịch lấy tên từ biển Địa trung hải, Mediterranean Sea! Bốn xứ đó là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi và Hy Lạp. Đà khủng hoảng còn đe dọa các xứ khác, kể cả Pháp và Bỉ. Cùng với Đức, tất cả đều nằm trong khối Euro và đấy mới là vấn đề.
Việt Long: Bức tranh toàn cảnh mới khiến người ta thấy tầm nghiêm trọng của vấn đề. Nhưng vì sao các quốc gia trên lại có thể bất cẩn trong đầu tư và chi thu đến như vậy? Vì ỷ vào sức yểm trợ của kinh tế Đức hay sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, các nước Âu châu có tinh thần gọi là "xã hội chủ nghĩa" khi ban phát phúc lợi xã hội cho dân chúng, thực chất là chủ trương bao cấp, còn mạnh hơn Hoa Kỳ cho tới khi có Chính quyền Barack Obama. Một số quốc gia thì còn tăng chi quá đáng. Thí dụ như năm 2008, ngân sách Hy Lạp mất gần 20% của Tổng sản lượng GDP chỉ riêng cho các khoản chi xã hội ấy, là kết quả của 10 năm tăng chi liên tục. Của Pháp thì tỷ lệ này lên tới 17,5%, của Ý là 17,7%. Đấy là các quốc gia có mức công chi và bội chi cao nhất Âu Châu vì mục tiêu xã hội của họ. Khi tăng chi quá số thu và bị bội chi thì Nhà nước phải đi vay, càng muốn vay nhiều thì càng phải trả phân lời cao.
- Nhưng vay ai bây giờ, và với phân lời nào thì đủ cho giới đầu tư thấy an toàn mà tiếp tục mua công khố phiếu của họ? Vì vậy, trị giá trái phiếu của các xứ này mà bị đánh sụt là giới đầu tư hốt hoảng, là chuyện xảy ra từ cuối năm ngoái cho Hy Lạp. Xứ này lại còn cạo sửa thống kê để hạ thấp số bội chi cho phù hợp với tiêu chuẩn của Liên Âu nên càng mất tín nhiệm trên thị trường vay mượn. Lồng vào đó là tình trạng sổ sách bấp bênh của các ngân hàng đã đầu tư quá mạnh vào khu vực Balkan và bị lỗ quá nặng.
- Kết cuộc thì thế giới đang tự hỏi xem quốc gia này có bị vỡ nợ hay chăng? Nghĩa là sẽ lại như xứ Iceland năm ngoái đã chính thức thông báo là xin tạm hoãn trả nợ quốc trái. Cuối năm ngoái, dân Hy Lạp biểu tình vì đòi phúc lợi nên chính quyền thuộc đảng trung hữu bị đổ. Đảng trung tả lên thay càng hết dám giảm chi mà chỉ nghĩ đến giải pháp tăng thuế, làm sản xuất càng dễ suy sụp. Thành thử, Hy Lạp bị ép ở hai mặt là động loạn xã hội bên trong, khi các chủ nợ gõ cửa đòi nợ ở bên ngoài, nên chưa biết sẽ xoay trở ra sao. Tình trạng này mà kéo dài thì các nước kia sẽ bị vạ lây.
Việt Long: Nói riêng về Hy Lạp thì xứ này có những giải pháp thoát hiểm nào, chứ chẳng lẽ cứ ngồi chờ chết sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Họ có giải pháp tôi xin ví von là "chuyển bại thành liệt" vì tinh thần vô trách nhiệm của chính quyền và tính ỷ lại của dân chúng. Nói ngắn gọn thì Hy Lạp sẽ trông chờ quốc tế và tự đánh mất chủ quyền. Về các giải pháp thì thứ nhất, Hy Lạp có thể hạ quyết tâm chấn chỉnh chi thu. Cụ thể là giảm chi ít ra phân nửa với hậu quả là thất nghiệp tăng gấp đôi, tới hơn 20%, và các chính phủ sẽ nối nhau rụng như sung. Vì vậy, chẳng chính quyền nào dám làm cách mạng như thế, nhất là chính quyền trung tả hiện nay. Giải pháp thứ hai, là tự bước ra khỏi khối Euro để có toàn quyền in bạc trả nợ với hậu quả là lạm phát phi mã, các khoản công trái sụt giá. Tiền Hy Lạp mà mất giá thì cũng có lợi cho xuất cảng và trước khi gia nhập khối Euro nhiều xứ khác cũng đã áp dụng biện pháp đó. Nhưng bây giờ thì khó vì khi ấy ai dám cho xứ này vay tiền nữa, với phân lời bao nhiêu mới đủ? Giải pháp thứ ba là chính phủ đành tuyên bố vỡ nợ và sẽ không tìm ra chủ nợ mới, mà cũng chẳng thể buôn bán ngay với các nước trong khối Âu Châu vì chẳng xứ nào muốn bán hàng cho Hy Lạp để thu về giấy lộn vô giá trị. Hy Lạp coi như sẽ tiêu diệt nền kinh tế của mình.
Việt Long: Xin hỏi ngay ông một câu rất thời sự là tình trạng tăng chi rồi đi vay cũng là hoàn cảnh bất trắc của Hoa Kỳ ngày nay. Vụ Hy Lạp không làm nước Mỹ và dân Mỹ suy nghĩ sao? Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi còn nhớ lời phát biểu rất chính đáng của một kinh tế gia nổi tiếng Hoa Kỳ là ông Larry Summers. Rằng "không thể là siêu cường khi là một xứ ngập nợ!" Nhưng ông ta nói vậy trước khi làm Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia cho Tổng thống Obama! Thực tế thì Hoa Kỳ có ưu thế mà xứ khác cho là bất công, là vai trò ngoại tệ dự trữ của đồng Mỹ kim. Nghịch lý là khi Mỹ bị khủng hoảng rồi tăng chi vô trách nhiệm năm ngoái thì vẫn tiếp tục có người mua công khố phiếu Hoa Kỳ nhiều hơn, vì dù lời ít thì vẫn an toàn hơn công khố phiếu của nhiều xứ khác! Dù sao, vụ Hy Lạp cũng là một hồi chuông cảnh báo có lợi cho chính trường và dư luận Hoa Kỳ. - Trở lại chuyện Hy Lạp thì khi xứ này cân nhắc ba giải pháp cùng tự sát như vậy, các nước Âu Châu cũng phải suy nghĩ hơn thiệt và bàn tính về giải pháp tung tiền cấp cứu. Lý do là nếu phân lời trái phiếu Hy Lạp vọt lên trời thì lần lượt các nước khác - theo thứ tự về mức độ nguy kịch là Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi và Pháp - đều mắc cạn vì lãi suất sẽ tăng và họ sẽ lại gặp bài toán kiểu Hy Lạp. Vì vậy, người ta chỉ còn giải pháp thứ tư là cấp cứu quốc tế. Việt Long: Có phải là giải pháp ấy nghĩa là các nước khác đưa tiền cho Hy Lạp chuộc nợ với điều kiện là từ nay xứ này sẽ phải chấn chỉnh chi thu hay không? Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thật ra, giải pháp này cũng không đơn giản. - Xưa kia, khi Mexico hay Argentina bị khủng hoảng và gặp nguy cơ phá sản thì Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Hoa Kỳ đã tung tiền và phối hợp cấp cứu. Ngày nay, Hoa Kỳ ưu tiên lo chuyện nhà, lại trong một năm có bầu cử nên nhiều phần sẽ bó tay. Điển hình là Tổng thống Obama từ chối không tham dự hội nghị thượng đỉnh giữa Âu Châu và Hoa Kỳ tại Madrid vào tháng Năm này. Còn lại thì Quỹ Tiền tệ IMF cũng khó là giải pháp vì hai lý do. Thứ nhất, cơ chế này sẽ đặt điều kiện chẩn chỉnh rất khắt khe và càng dễ gây ra khủng hoảng chính trị như đã xảy ra cho Indonesia năm 1989. Thứ hai, nhiều hội viên ngoài Âu Châu ngồi trong Hội đồng Thống đốc để quyết định về chín sách của IMF chưa chắc đã đồng ý với việc cấp cứu một thành viên của khối Euro sau này sẽ cạnh tranh với họ.
Việt Long: Như vậy, suy đi tính lại thì có lẽ chỉ còn cường quốc kinh tế Âu Châu cuối cùng là nước Đức mà thôi? Có phải vậy không? Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là nhiều phần sẽ như vậy sau khi nước Đức đã một mình chuộc lại Đông Đức, và yểm trợ nhiều xứ khác. Lần này, chắc chắn là Đức sẽ phải có điều kiện rõ ràng hơn về luật lệ và dù sao sẽ tăng cường vai trò quốc tế của mình, là điều chúng ta sẽ tìm hiểu sau khi ăn Tết mà chúng tôi xin cầu chúc là thật vui vẻ, an lành tới toàn thể quý thính giả.
Việt Long: Xin cám ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.
| | | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
BẦU DÂN BIỂU MỸ GỐC VIỆT ĐỂ LÀM VIỆC CHO QUYỀN LỢI MỸ HAY VIỆT ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010
Trong gần một tháng nay, vấn đề bầu người Mỹ gốc Việt vào Quốc Hội Liên Bang mang tính cách thời sự: (i) DB TRẦN THÁI VĂN ra ứng cử cùng một đơn vị với Bà DB Liên Bang Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh đã cùng chúng ta đấu tranh cụ thể cho Dân chủ, Nhân quyền tại Quê Hương Việt Nam; (ii) DB Liên Bang CAO QUANG ÁNH về Việt Nam và tuyên bố những câu làm một số người Việt Quốc nội cũng như Hải ngọai không hài lòng cho lắm.
Không muốn bàn về những vấn đề có tính cách nội bộ của những khu vực Người Việt tại Hoa kỳ, nhưng chúng tôi đã viết hai bài về trường hợp DB Trần Thái Văn chỉ vì Dân Biểu quyết định ra tranh cử nhằm lọai Bà Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh chống CSVN đang cai trị tại Quê Hương VN. Mà Quê Hương Việt Nam liên hệ đến cuộc đấu tranh của cả khối người Việt Hải ngọai trên Thế giới, chứ không riêng cho vùng Nam Cali.
Hai bài mà chúng tôi đã viết hoặc những bài khác mà chúng tôi sẽ viết về vấn đề này chính yếu xoay quanh câu hỏi: BẦU DÂN BIỂU MỸ GỐC VIỆT ĐỂ LÀM VIỆC CHO QUYỀN LỢI MỸ HAY VIỆT ? Trả lời câu hỏi ấy, cử tri mới nhìn rõ quyết định lựa chọn.
Dân Biểu Mỹ làm việc cho Chính trị Mỹ
Nếu những cử tri Mỹ gốc Việt thấy rằng mình đã QUÊN Việt Nam và kể Hoa kỳ là Quốc gia chính yếu cho quyền lợi của mình lúc này tại nước Mỹ, thì việc lựa chọn Dân biểu là theo tiêu chuẩn khả năng làm việc cho quyền lợi nước Mỹ. Quyền lợi nước Mỹ theo Chính trị Mỹ hiện nay đối với CSVN có thể sẽ đi ngược lại quyền lợi của 85 triệu Dân Việt Nam. Nếu vì quyền lợi Mỹ, Kinh tế hay Quốc phòng chẳng hạn, mà Chính trị Mỹ là bắt tay với đảng CSVN, thì Chính trị ấy có thể coi là tòng phạm với quyền lực độc tài để đàn áp Dân chúng Việt Nam. Trong trường hợp này, nếu cử tri Mỹ gốc Việt chỉ nhằm quyền lợi Mỹ mà chọn người, thì không những cử tri ấy đã quên gốc Việt của mình mà còn là tòng phạm với CSVN để tiếp tục gây tội ác trên Dân tộc.
Lấy tỉ dụ cụ thể trường hợp của Dân Biểu Liên Bang Cao Quang Aùnh với những lời tuyên bố trong dịp Oâng về Việt Nam vừa rồi. Đối với biến cố phá đập Thánh Giá tại Đồng Chiêm, Oâng tuyên bố: “Tôi nghĩ đây không phải là việc làm của chính quyền, mà của một trong những người cấp nhỏ.” Câu nói có thể là vì làm theo Chính trị Mỹ, Oâng muốn tránh va chạm làm mích lòng chính quyền Trung ương CSVN. Oâng Aùnh còn tuyên bố thêm: "Dù còn bất đồng ý kiến trong một số vấn đề, nhưng tôi hy vọng hai bên sẽ hiểu nhau hơn và cùng làm việc cho tương lai của hai nước“. Câu nói này cũng theo Chính trị Mỹ là muốn hợp tác với CSVN được coi như “nước Việt Nam“. Đứng về phía Chính trị Mỹ, thì chúng ta không trách Oâng Joseph Cao vì Oâng đã là Mỹ và làm việc cho quyền lợi Mỹ, mà quên cái gốc Việt mang lòng ray rứt trước những khổ đau của 85 triệu dân quốc nội.
Dân Biểu Mỹ gốc Việt làm việc chính yếu cho Việt Nam
Đây là trường hợp mặc dầu là Dân Biểu Mỹ, nhưng mượn vị trí Mỹ mà làm việc chính yếu cho quyền lợi Việt Nam. Quyền lợi Việt Nam ở đây cũng được hiểu theo hai khía cạnh: (i) quyền lợi của những người gốc Việt Nam thuộc đơn vị đã bầu cho mình tại Mỹ; hay (ii) quyền lợi của khối Dân tộc Việt Nam tại Quốc nội.
(i) Quyền lợi Việt Nam tại Mỹ
Nếu vị Dân Biểu Mỹ gốc Việt quên khối Dân 85 triệu tại Quốc nội, mà chỉ làm việc cho những người Mỹ gốc Việt tại một đơn vị ở Mỹ, thì chúng tôi cũng không có quyền trách móc gì. Có lẽ chúng ta chỉ than rằng vị đó sớm quên Quê Hương hoặc vì những quyền lợi riêng tư gì đó mà cố tình quên Quê Hương, tránh va chạm với bạo quyền CSVN hiện hành có thể làm họ mất quyền lợi riêng tư cho chính họ hoặc gia đình họ liên quan đến Việt Nam.
(ii) Quyền lợi Việt Nam tại Quốc nội
Quyền lợi Việt Nam tại Quốc nội là việc đấu tranh cho khối Dân 85 triệu được hưởng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, cho khối người nghèo khỏi bị bóc lột thêm nữa bởi nhóm Mafia CSVN tham nhũng vơ vét tài sản, cho Lãnh thổ và Lãnh hải Việt Nam khỏi bị bán từng phần cho Trung quốc. Những cử tri Mỹ gốc Việt, nếu còn nghĩ đến khối dân Việt Nam 85 triệu đang đau khổ, Đất Nước đang bị xâm chiếm, thì chọn Dân Biểu theo tiêu chuẩn này.
Chính vì việc đấu tranh cho khối Dân 85 triệu tại Quốc nội, cho Đất Nước được tòan vẹn, mà khi viết hai bài về trường hợp đơn vị 47 Nam Cali, chúng tôi thấy rằng việc chọn Bà Loretta SANCHEZ là đúng lý. Bà đã là một chiến hữu can đảm và lâu năm đấu tranh cho quyền lợi của 85 triệu người Dân Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010
| | | |
VỤ XỬ 4 NHÀ DÂN CHỦ TẠI SÀI GÒN
Kim Ha Lúc 9:15 sáng ngày 20/1/2010 giờ Việt Nam
Bất kể các thủ thuật răn đe của công an và không khí căng thẳng bao trùm, hiện nay chúng tôi đã thấy một vài nhóm bạn hữu kéo đến ủng hộ các anh Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long, tức 4 nhà dân chủ bị đem ra tuyên án hôm nay.
Thật trái ngược với tuyên bố của tòa án rằng đây là buổi xử công khai, đủ loại công an sắc phục và thường phục được huy động để bao vây toàn bộ khu vực và kiểm soát từ xa. Các xe lớn bị xét hỏi từ khi còn cách tòa án khoảng 1km. Các xe nhỏ hơn không được đến gần hơn 500m. Ngay bên ngoài cổng tòa án tại số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa nhiều toán công an đứng rải rác và một số khác được dấu trong các xe tải lớn quanh đó.
Chúng tôi cũng được biết công an đã phải thực tập trấn áp đám đông từ vài ngày trước. Các phóng viên ngoại quốc cũng bị răn đe không được chụp hình. Điều này đã khiến nhiều ký giả phản đối. Và có lẽ để cố gắng tạo tối đa khó khăn cho các ký giả ngoại quốc và các đại diện sứ quán nước ngoài vào giờ chót, các thông cáo chung của nhà cầm quyền chỉ ghi đây là “phiên tòa xét xử TRẦN HUỲNH DUY THỨC & ĐỒNG PHẠM bị truy tố tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Tên của các anh Nguyễn Tiến Trung và Lê Công Định, hai người mà thế giới biết đến nhiều nhất, không được viết ra.
Chúng tôi đã kiểm chứng được chỉ có chị Ngọc Khánh và thân mẫu của chị là 2 người thân duy nhất của luật sư Lê Công Định được vào dự phiên tòa. Chị Ngọc Khánh đã có mặt từ sáng sớm với ước mong được nói với chồng vài câu trước giờ xử nhưng hoàn toàn bị cách ly.
Đài Chân Trời Mới sẽ tiếp tục cập nhật các diễn biến và tường trình tại trang blog http://radiochantro imoi.wordpress. com
XỬ NHỮNG NHÀ DÂN CHỦ
Đàn áp không phải là Công lý Việt Long, phóng viên RFA 2010-01-19
Ngày 20 và 21 tháng 1 năm 2010, chính quyền VN sẽ xét xử nhiều nhà tranh đấu vì nhân quyền như LS Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa… Luật sư Trần Thanh Hiệp đưa ra nhận định trước các phiên tòa. Tòa án nhân Hà Nội vừa mới xử lại và giữ nguyên bản án sơ thẩm phạt 4 năm tù giam, kỹ sư Phạm Văn Trội, 3 năm tù giam đối với nhà văn Trần Đức Thạch và nhà giáo Vũ Hùng về tội tuyên truyền chống Nhà nước.
Ngày 20-01-2010 tòa án nhân dân cấp sơ thẩm thành phố Sài Gòn sẽ xử vụ các nhận vật trí thức trong đó có Luật sư Lê Công Định, kỹ sư Nguyễn Tiến Trung bị truy tố về tội âm mưu lật đổ chính quyền.
Và ngày 21-01-2010 tòa án nhân dân Hải Phòng cũng mở phiên xử phúc thẩm để xử lại vụ 6 nhân vật khác về tội tuyên truyền chống Nhà nước, trong đó nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị coi là chủ mưu, được yêu cầu cho biết nhận xét của ông về những phiên xử hàng loạt nói trên.
Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, trụ sở đặt tại Paris, nói rằng ông rất quan tâm trước bước leo thang đàn áp rất đáng quan ngại hiện nay của bộ máy cầm quyền Hà Nội.
Sau đây xin mời quý vị theo dõi cuộc trao đổi giữa Việt Long của đài Á Châu Tự Do và Luật sư Hiệp.
Leo thang đàn áp
Cơ quan điều tra khởi đầu đã làm tình làm tội để ép buộc các bị can nhận tội trước báo chí là đã phạm vào điều 88 Bô luật hình sự. Nhưng phút chót các cơ quan này lại đổi tội danh.
Việt Long: Trong những phiên xử tại Việt Nam như vừa được trình bày, có lẽ công luận đang chờ theo dõi diễn tiến vụ xử 4 nhân vật được quốc tế biết đến nhiều, mà hồ sơ tội trạng đã được thiết lập chiếu điều 79 Bộ luật hình sự xử lý tội âm mưu lật đổ chính quyền. Cảm tưởng của luật sư ra sao về các mặt nhân quyền, công lý ở Việt Nam trước những phiên xử dồn dập như vậy?
LS Trần Thanh Hiệp: Quang cảnh náo nhiệt trong sinh hoạt tư pháp vừa được nêu lên đó mang nhiều ý nghĩa vừa đã rất rõ vừa lại chưa rõ. Theo tôi, có một điều đã rất rõ đó là tình trạng căng thẳng này trong xã hội bắt nguồn từ sự chống đối đường lối cai trị của nhà cầm quyền ngày càng gia tăng và càng tỏ ra không còn là việc nhỏ nữa, không thể bỏ qua hay giải quyết bằng biện pháp hành chánh được mà phải nhờ đến tòa án. Nếu luật pháp mà tốt nghĩa là thuận lòng người và tòa án là trọng tài vô tư thì mức độ căng thẳng sẽ sút giảm vì công lý được thực hiện.
Nhưng việc tòa phúc thẩm Hà Nội trong vụ Phạm Văn Trội-Trần Đức Thạch vẫn giữ nguyên những mức hình phạt của tòa dưới mặc dù các đương sự đã kháng cáo cho thấy là công lý vẫn chưa xuất hiện. Tất nhiên còn phải đợi thêm kết quả của hai vụ sắp xử thì mới rút ra được những kết luận đầy đủ. Vậy trong khi chờ đợi thì tôi có thể nói rằng công lý vẫn ở đằng trước và cho đến phiên xử vừa qua của tòa phúc thẩm Hà Nội thì cuộc đàn áp đối lập ở Việt Nam vẫn tiếp tục qua những bước leo thang mới.
Việt Long: Tòa trên chỉ y án tòa dưới thì luật sư cũng cho là leo thang sao?
LS Trần Thanh Hiệp: Tuy tôi đã thận trọng để nói rằng có những bước leo thang đàn áp mới nhưng thật ra cũng đã có leo thang trong vụ án Phạm Văn Trội-Trần Đức Thạch. Tòa phúc thẩm không leo lên một bậc mới nhưng đã đứng ở bậc cũ mà tòa dưới đã leo, tức là tòa này đã bướcthêm một bước leo thang đàn áp đối với những người dân hoạt động dân chủ ôn hòa. Tôi sẽ xin bàn sau nếu có cơ hội, về vụ án Nguyễn Xuân Nghĩa sắp xử trong những ngày tới.
Nhưng trong vụ Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Hùynh Duy Thức tuy chưa xử nhưng đã có leo thang đàn áp rồi. Cơ quan điều tra khởi đầu đã làm tình làm tội để ép buộc các bị can nhận tội trước báo chí là đã phạm vào điều 88 Bô luật hình sự.
Nhưng phút chót các cơ quan này lại đổi tội danh từ nhẹ là tội tuyên truyền chống Nhà nước sang tội nặng hơn là âm mưu lật đổ chính quyền mà hình phạt tối đa là tử hình. Đổi mà không giải thích được, như mọi người đã thấy trong phiên xử ông Trần Anh Kim, vì sao đã phải đổi tội như thế. Vậy thì chỉ còn là vì muốn leo thang mượn điều 79 này để hù dọa mà khủng bố dân.
Ngoài ra lại còn bao vây bao chí cấm không cho những cơ quan truyền thông đại chúng được sử dụng các dụng cụ truyền thanh, truyền hình để theo dõi và tường thuật phiên xử. Rõ ràng la một bước leo thang để hòng lên tới đỉnh cao thời toàn trị Xit TaLin, Mao Trạch Đông v.v…
Âm mưu lật đổ chính quyền?
Việt Long: Liệu Nhà nước Việt Nam có thể nói rằng vì điều 79 liên quan tới một tội phạm rất nghiêm trọng nên cần phải xử kín không?
LS Trần Thanh Hiệp: Trên nguyên tắc thì tòa án có quyền lấy quyết định xử kín, nhưng một khi đã cho công chúng tham dự thì tình trạng nửa kín nửa hở là điều không biện minh được. Nhưng Luật leo thang không phải chỉ vì cách xử nửa kín nửa hở này mà là vì ngay chính điều 79 Bộ luật hình sự. Tôi cần đi sâu một chút về luật học để nói cho rõ về điều khoản này.
Việt Long: Mời luật sư nêu ý kiến.
LS Trần Thanh Hiệp: Đúng là ở trong các bộ luật hình sự của hầu hết quốc gia trên thế giới đều có ghi tội danh âm mưu lật đổ chính quyền. Nhưng để xét xử thông qua tội danh ấy thì phải căn cứ vào nội dung của nó chứ không thể chỉ dựa vào danh xưng mà thôi.
Và ở trong nội dung này phải định nghĩa thế nào là “âm mưu”, là “lật đổ”, là “chính quyền”. Chứ không phải bất cứ một hành vi nào hoặc là ý nghĩ, quan điểm hoặc là tinh cảm không ưa hay ngay cả muốn thay đổi chính quyền tại chức cũng có thể bị ghép vao tội âm mưu lật đổ chính quyền được.
Nói chung các bộ luật ấy đều xác định rằng chỉ là âm mưu lật đổ chính quyền những hành vi nào mang tính bạo lực trực tiếp xâm phạm đến lãnh thổ, an ninh đối nội, đối ngoại, đến sự tồn vong của chính thể, của chế độ thì mới có thể coi là âm mưu lật đổ chính quyền.
Bộ luật hình sự đương hành ở Việt Nam trái lại nơi điều 79 cực kỳ mơ hồ về cách định nghĩa tội danh lật đổ chính quyền. Vì chỉ thấy nói rằng: ”Người nào hoạt động hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau….”, tuyệt nhiên không xác định thế nào là lật đổ chẳng lẽ một đề nghị bằng lời phát biểu hay bằng bài viêt thay đổi để chế độ xấu trở thành tốt cũng bị coi là lật đổ chính quyền hay sao?
Việt Long: Dù coi đó là một điều khoản mơ hồ chăng nữa thì luật sư căn cứ vào đâu để khẳng định rằng tự bản thân sự mơ hồ đó là một bước leo thang?
LS Trần Thanh Hiệp: Bộ luật hình sự năm 2000 hiện đang áp dụng dưới chế độ đương hành ở Việt Nam là một kiến trúc hính luật thoát thai từ bộ luật hình sự năm 1995 là con đẻ của chế độ chuyên chính vô sản toàn trị được thiết lập năm 1980. Trong khung cảnh chính trị đó thì người ta hiểu được vì sao không một ai nếu không phải là Đảng Cộn sản Việt Nam có quyền thay đổi chế độ và loại tôi phạm lật đổ mơ hồ kiểu điều 79 có cơ sở ý thức hệ để biện minh.
Nhưng cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, cả hệ thống độc tài toàn trị cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô cũ sụp đổ, Đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam năm 1992 và 2001 đã phải sửa đổi hiến pháp để đổi mới, từ bỏ chuyên chê để di vào dân chủ và hội nhập vào cộng dồng thế giới.
Điều 3 của Hiến pháp, văn bản sửa đổi và bổ sung năm 2001 đã ghi rằng “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc…”
Điều 3 này từ tinh thần đến văn tự đã long trọng và công khai dưới hình thức thành văn công nhận cho bất cứ một người dân nào với tư cách là một thành tố của người chủ tập thể đất nước cũng có quyền tự do suy nghĩ, đề xuất đường lối thực hiện một xã hội văn minh, dân chủ.
Luật sư Lê Công Định trên cơ sở những kiến thức hiện đại về luật học cũng như về chính trị học của ông nếu có đưa ra những đề xuất sửa đổi hiến pháp hay soạn thảo mộ hiến pháp mới hoàn bị hơn thì ông chỉ hành sử mộ “quyền chính trị” hợp pháp vì đã được đạo luật tối cao của quốc gia công nhân.
Thanh niên Nguyễn Tiến Trung gia nhập một chính đảng Đảng Dân Chủ có thành tích tham gia tử những ngày đầu của cuộc cách mạng dân chủ năm 1945 để cổ võ cho sự phát huy của sinh hoạt dân chủ cho phù hợp với xu thế của thời đại không thể coi là lật đổ chính quyền được nhất là chính quyền ấy đã cam kết và bảo đảm thực thi dân chủ.
Như vậy, bình thường ra nhà cầm quyền Hà Nội không có cơ sở pháp lý xác đáng và vững chắc để truy tố dưới tội danh lật đổ chính quyền những nhà tranh đấu dân chủ ôn hòa và tiến bộ như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức.
Nhưng nếu cứ truy tố bừa bãi rồi bỏ tù họ, như đã xảy ra trong vụ xử Trần Anh Kim thì rõ ràng là một vụ leo thang đàn áp chứ không phải là một vụ xét xử công bằng để thực hiện công lý
Việt Long: Vậy theo luật sư, thế nào là xét xử công bằng để thực hiện công lý?
LS Trần Thanh Hiệp: Theo tôi, phải chấm dứt ngay chính sách đàn áp có hệ thống và quy mô mà nhà cầm quyền Hà Nội đang muốn đi tới cùng. Để giữ cho xã hội có trật tự và ổn định, phải áp dụng nghiêm chỉnh pháp luật.
Muốn vậy phải sửa đổi càng sớm càng tốt hệ thống pháp luậ công cụ đàn áp để thay thế bằng một hệ thống pháp tôn trọng và bảo vệ nhân quyền. Tôi tin rằng nếu chọn hướng đi mới này nhà cầm quyền Hà Nội sẽ nhận được sự trợ lực rộng lớn ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Việt Long: Xin cảm ơn luật sư Trần Thanh Hiệp và xin được nhắc lại, rằng ý kiến của luật sư Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của đài Á Châu Tự Do.
Bình thường hay bất thường? Trân Văn, phóng viên RFA 2010-01-20
Sáng 20 tháng 1, Toà án TP.HCM đã đưa các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định và Lê Thăng Long, cùng bị truy tố về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” ra xét xử sơ thẩm.
Chưa điều tra đã bảo có tội!
Phiên xử sơ thẩm này là diễn biến mới nhất của một vụ án chính trị mà Công an Việt Nam từng khởi tố hồi tháng 6 năm ngoái và từ đó đến nay, vụ án này đã thu hút sự chú ý của cả công luận lẫn dư luận ở trong lẫn ngoài Việt Nam.
Tháng 6 năm ngoái, Cơ quan An ninh Điều tra của Bộ Công an Việt Nam lần lượt khởi tố và tạm giam các ông: Trần Huỳnh Duy Thức (kỹ sư Công nghệ thông tin, Tổng Giám đốc Công ty Một kết nối tại TP.HCM), Lê Thăng Long (kỹ sư Điện tử Viễn thông, Giám đốc Công ty Phát triển và Đầu tư Công nghệ Innotech tại Hà Nội), Lê Công Định (luật sư) và sang tháng 7, khởi tố thêm các ông Nguyễn Tiến Trung (kỹ sư Công nghệ thông tin), Trần Anh Kim (cựu trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam), cùng về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”.
Vào lúc đó, cho dù chỉ mới bắt đầu tiến trình điều tra và dù điều 72 của Hiến pháp Việt Nam minh định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”, song Công an Việt Nam vẫn tổ chức nhiều cuộc họp báo, cung cấp nhiều thông tin, hình ảnh để hệ thống truyền thông ở Việt Nam đồng loạt xác định, cả năm bị can cùng phạm tội “tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”.
Từ “tuyên truyền” thành “lật đổ?
Việc khởi tố, tạm giam các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, đã bị nhiều chính phủ, tổ chức phi chính phủ, diễn đàn điện tử, blog chỉ trích mạnh mẽ và khiến chính quyền Việt Nam lúng túng đến mức phải “đính chính”.
Chẳng hạn, trong hai cuộc họp báo được tổ chức ngay sau khi thực hiện thủ tục “bắt khẩn cấp” luật sư Lê Công Định hôm 13 tháng 6 năm ngoái, tướng Vũ Hải Triều và tướng Hoàng Kông Tư của Công an Việt Nam tuyên bố, luật sư Lê Công Định bị bắt là vì đã chỉ trích chủ trương, chính sách, chưa kể ông Định còn tham gia bào chữa cho các đối tượng chống đối Đảng và Nhà nước.
Những tuyên bố của hai viên tướng thuộc lực lượng an ninh của Công an Việt Nam là lý do để Liên minh Báo chí Đông Nam Á, được thành lập với mục đích bảo vệ và thúc đẩy tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Đông Nam Á lên tiếng bày tỏ sự lo ngại trước viễn cảnh Việt Nam sẽ trở thành chủ tịch ASEAN, vì “trong lúc cộng đồng ASEAN đang tìm cách xây dựng uy tín và động lực để hình thành một Ủy hội Nhân quyền thì việc Chủ tịch khối ASEAN khi ấy không tôn trọng quyền công dân của họ trước tòa, đâu sẽ là cơ hội cho Ủy hội nhân quyền ASEAN bảo vệ quyền con người trong khối?”.
Cùng thời điểm ấy, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phát hành một thông cáo nhấn mạnh: “Không thể bắt bất kỳ cá nhân nào vì bày tỏ quyền tự do ngôn luận và không thể trừng phạt bất kỳ luật sư nào vì thân chủ mà họ chọn bào chữa”...
Những phản ứng như thế buộc ông Lê Dũng, khi ấy là người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam phải tuyên bố: “Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do chính kiến của công dân, khuyến khích người dân đóng góp ý kiến và tham gia tích cực vào mọi mặt đời sống của đất nước.”
Hai ngày sau tuyên bố của ông Lê Dũng, hôm 19 tháng 6 năm 2009, Thông tấn xã Việt Nam loan báo, đại diện Tổng cục An ninh của Bộ Công an Việt Nam đã khẳng định với Phó Đại sứ Hoa Kỳ: “Việc Bộ Công an bắt xử lý Lê Công Định là do những hoạt động vi phạm pháp luật, không phải do Định đã tham gia bào chữa cho một số bị cáo như thông tin của Hoa Kỳ và một số tổ chức khác ở nước ngoài”.
Ông Vũ Quý Hạo Nhiên, Tổng thư ký tờ Người Việt ở Nam California, Hoa Kỳ, nêu nhận xét của ông về những tuyên bố của các viên chức chính quyền Việt Nam:
“Có sự khác nhau giữa những điều mà hai ông tướng nêu ra với những điều mà ông Lê Dũng nói. Ông Lê Dũng là phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao cho nên biết rằng không thể dùng những điều các ông tướng đã nói để thuyết phục những nước tôn trọng tự do ngôn luận.
Ví dụ như mấy ông tướng thì nói rằng luật sư Lê Công Định vi phạm pháp luật Việt Nam vì biên soạn hàng chục tài liệu đăng tải ở nước ngoài, kêu gọi lập chế độ đa đảng, lợi dụng các vấn đề xã hội để kích động chống Đảng – Nhà nước, lợi dụng vấn đề Tây Nguyên, lợi dụng vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa để chống đối nhà nước...
Hai ông tướng nói được tất cả những điều đó vì họ là Công an. Đó là ý của họ. Họ bắt ông Định vì những lý do đó. Thế nhưng nói như vậy với ngoại quốc thì họ biết tỏng là không tôn trọng tự do ngôn luận, thành ra khi phát ngôn với báo chí ngoại quốc, ông Lê Dũng nói tránh đi. Không nhắc đến chuyện nào trong những chuyện hai ông tướng đã nêu ra mà chỉ nói là ông Lê Công Định cấu kết với thế lực bên ngoài.
Như vậy những lời tuyên bố của mấy ông tướng có giá trị gì không? Nó rất có giá trị ở chỗ nó cho biết lý do thật mà nhà nước bắt ông Định. Tự do ngôn luận, chuyện tôn trọng hiến pháp hoàn toàn là không đáng gì cả!”
Sau đó ít lâu, người ta thấy hệ thống truyền hình Việt Nam phát các đoạn băng ghi cảnh ông Trần Huỳnh Duy Thức, ông Nguyễn Tiến Trung, ông Lê Công Định, ông Trần Anh Kim thừa nhận mình có tội.
Tháng 11 năm ngoái, người ta được biết thêm là cơ quan điều tra đã “Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can”, chuyển tội danh của cả năm ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, từ “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” (mức hình phạt cao nhất là 20 năm), thành “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (mức hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình).
Tuy cùng là bị can trong một vụ án nhưng cuối tháng trước, ông Trần Anh Kim được đưa ra xét xử riêng. Dù hội đồng xét xử nhận định rằng, ông Kim “cấu kết chặt chẽ giữa các cá nhân và tổ chức chống đối, có sự móc nối với bọn phản động người Việt lưu vong thù địch ở nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và dù ông Kim bị truy tố theo khoản 1 điều 79, vốn có khung hình phạt “từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” nhưng họ chỉ phạt ông Kim 5 năm 6 tháng tù.
Phần còn lại của vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” thì sao? Trong bài viết tới, chúng tôi sẽ tiếp tục tổng hợp và tường trình những vấn đề có liên quan đến các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Lê Thăng Long.
VIETNAM JAILS 4 ACTIVISTS
SETH MYDANS Published: January 20, 2010
BANGKOK — Four pro-democracy advocates in Vietnam were convicted in a closely-watched trial Wednesday of trying to overthrow the state, part of campaign against dissent that has led to dozens of arrests in recent months.
The sentences ranged from 5 years in prison for the most prominent defendant, Le Cong Dinh, 41, an American-educated human rights lawyer, to 16 years for a well-known Internet entrepreneur and blogger, Tran Huynh Duy Thuc, 43.
Another pro-democracy advocate, Nguyen Tien Trung, received a seven-year sentence while Le Thanh Long, who worked with Mr. Thuc, the blogger, was sentenced to five years in prison.
All but Mr. Thuc had been charged with the crime of subversion, an unusually severe charge that can carry the death penalty. Foreign analysts said the charge was intended as a warning and an assertion of the limits of political discourse in advance of the nation’s Communist Party congress next year. Some of the dissidents admit to pushing for multi-party democracy, which does not exist under Vietnam’s one-party Communist state.
Last month a fifth dissident, Tran Anh Kim, 60, a former army officer, was sentenced to five and a half years in prison, also on the charge of subversion. In October, nine other people were sentenced to prison terms ranging from two to six years for hanging banners that called for multiparty democracy.
Foreign governments and human rights groups have spoken out over the continuing crackdown, which has included tighter limits on press freedom and on Internet discussion sites, including political blogs. Access to Facebook has recently been restricted.
During the one-day trial in Ho Chi Minh City, Mr. Dinh, 41, agreed that he had broken the law by meeting with foreign groups and by advocating multi-party democracy in Vietnam. His remarks and details of the court proceedings were reported by journalists and foreign diplomats who were permitted to observe the courtroom on closed-circuit television.
“From the bottom of my heart, I myself and these three other defendants had no intention to overthrow the government,” he said, according to news reports. He added: “During my studies overseas, I was influenced by Western attitudes toward democracy, freedom and human rights.”
The charges against Mr. Dinh reflect a concern, periodically repeated in the official press, about the destabilizing influence of contacts with the West.
Mr. Dinh acknowledged that he had attended a three-day training course in Thailand on non-violent political change, sponsored by an overseas Vietnamese political group, Viet Tan.
Mr. Thuc, the blogger, denied the charges, saying he had only been campaigning against corruption and attempting to improve the political system. He acknowledged organizing a study group that prosecutors said was dedicated to undermining the government; he said the group was intended only to study issues and make constructive suggestions.
The United States has condemned the arrests and repeated its concern following the verdict.
“We would like to reiterate our deep concern over the arrest and conviction of persons for the peaceful expression of their beliefs, political or otherwise, by the government of Vietnam,” said Ken Fairfax, the United States consul general in Ho Chi Minh City.
Last month, the army newspaper Quan Doi Nhan Dan said the arrests “are totally legal in Vietnamese law and compatible with international law.” It asserted that the government guarantees free expression but “strictly punishes those who take advantage of this freedom to act against the national interest.”
Prosecutors on Wednesday said that three of the defendants had violated Article 79 of Vietnam’s criminal code, which prohibits “carrying out activities aimed at overthrowing the people’s administration” and can be punishable by death.
Mr. Dinh, who was arrested in June and made a public confession on television in August, told the court: “My actions were in violation of Article 79, specifically participating in the Democratic Party of Vietnam, whose purpose was to call for a multiparty system, pluralism and a new state.”
The Democratic party, like all independent parties, is banned in Vietnam’s one-party state and has become a focus of dissident activity and a target in the continuing crackdown.
Mr. Dinh, who studied law at Tulane University in Louisiana, is a former vice chairman of the Ho Chi Minh City bar association and once represented the government in a legal dispute with the United States over exports of Vietnamese catfish.
More recently he had defended human rights advocates in court, where he spoke strongly in defense of free speech, and had published essays about democracy on the Internet.
His words in a court appearance in 2007 contrasted with his admission of guilt on Wednesday.
“Talking about democracy and human rights cannot be seen as antigovernment unless the government is against democracy,” he said then.
| | | |
ĐỒNG CHIÊM: TÒA TỔNG GIÁM MỤC THÔNG BÁO HIỆN TÌNH
Tòa Giám Mục Hà Nội thông báo về diễn tiến tình hình giáo xứ Đồng Chiêm VietCatholic News (20 Jan 2010 11:29)
VĂN PHÒNG TÒA TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI
Hà Nội ngày 20 tháng 1 năm 2010
Kính gửi: Quí Cha Quí Tu sĩ nam nữ, Chủng sinh và toàn thể Anh chị em giáo dân trong Tổng Giáo Phận Hà Nội.
Văn Phòng Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội xin thông báo về diễn tiến tình hình giáo xứ Đồng Chiêm (Xã An Phú, Huyện Mỹ Đức, Hà Nội) như sau:
Sau khi đã triệt hạ và đập phá Thánh Giá trên Núi Thờ của giáo xứ rạng sáng ngày 6/1/2010, chính quyền địa phương tiếp tục khủng bố tinh thần giáo dân Đồng Chiêm bằng cách dùng loa phóng thanh công suất lớn liên tục phát đi những bài lên án, lăng mạ và vu khống cha xứ, cha phó và giáo dân Đồng Chiêm, đồng thời huy động hàng trăm cảnh sát cơ động, lực lượng vũ trang và công an chìm phong tỏa và ngăn chặn mọi lối vào giáo xứ Đồng Chiêm. Ngoài ra:
- Ngày 17/01/2010 công an đã bắt giam bà Đinh Thị Hường và ông Nguyễn Văn Đãng, tới nay vẫn chưa được thả. Cháu Bạch Thị Ái, học sinh lớp 10, con của bà Hường cũng bị công an đánh đập dã man.
- Ngày 18/01/2010 các bà Phạm Thị Heo, Đinh Thị Dậu và Trần Thị Thu đang lúc đi chợ bị công an bắt và tạm giam 24 giờ.
- Trong hai ngày 19 và 20/01/2010 các bà Đinh Thị Huyền, Bạch Thị Hà và Bạch Thị Quyên bị công an huyện Mỹ Đức triệu tập để xét hỏi từ sáng đến tối.
- Nghiêm trọng hơn là vụ đánh đập tàn nhẫn ông Nguyễn Hữu Vinh ngày 11/01/2010 tại trạm gác công an ở làng Đồng Chiêm và đánh bất tỉnh thày Nguyễn Văn Tặng, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, ngày 20/01/2010 trên đường vào Đồng Chiêm.
- Riêng cha xứ Đồng Chiêm Giuse Nguyễn Văn Hữu và cha phó Giuse Nguyễn Văn Liên thì bị công an nhiều lần gửi giấy gọi lên điều tra xét hỏi.
Ngày 20/01/2010 Đồng Chiêm hoàn toàn bị bao vây cô lập, bất cứ ai đến từ bên ngoài đều bị công an tại các trạm kiểm soát ngăn chặn không cho vào. Các linh mục của giáo hạt Hà Nội vào thăm giáo xứ Đồng Chiêm đã bị lực lượng công an chặn lại ở Cầu Xây, cách Đồng Chiêm 500 m, không được vào.
Trước tình hình mỗi lúc một thêm căng thẳng, xin toàn thể gia đình Tổng Giáo Phận tiếp tục cầu nguyện tha thiết cho cha xứ, cha phó và giáo dân xứ Đồng Chiêm nhất là những anh chị em bị đánh đập, giam cầm, được giữ vững niềm tin giữa muôn vàn thử thách, sẵn sàng chia sẻ thập giá Chúa Kitô. Đồng thời xin cho các quyền cơ bản của con người được tôn trọng để đất nước có được nền hòa bình, công lý, dân chủ và văn minh thật sự.
Trân trọng thông báo
Linh mục Gioan Lê Trọng Cung Chánh Văn Phòng
N.B. Thông báo này được đọc trong tất cả các nhà thờ từ hôm nay cho đến hết Chúa Nhật 24/01/2010. Sau mỗi thánh lễ, các cộng đoàn sẽ hát “Kinh Hòa Bình” và “Cầu Cho Giáo Phận” để cầu nguyện cho giáo xứ Đồng Chiêm. LM Gioan Lê Trọng Cung
ĐỒNG CHIÊM: 16 GIÁO DÂN BỊ BẮT
Đồng Chiêm 19-1: Tổng cộng 16 giáo dân đã bị Việt Cộng bắt giữ, giáo sĩ bị triệu tập. VietCatholic News (19 Jan 2010 11:22)
HÀ NỘI - Hôm nay 19/1/2010 Công an Hà Nội tiếp tục khủng bố thôn Đồng Chiêm.
Hai nhân viên công an huyện là ông Bang và ông Thân, vào làm việc với cha xứ “về việc dựng lại thánh giá”. Kết cục là hai bên vẫn chưa tìm được tiếng nói chung.
Buổi chiều công an bắt giữ thêm 2 người là Bạch Văn Bốn và Bạch Thị Hà. Như vậy cho đến nay công an đã bắt giữ tổng cộng 16 người.
Trong số 16 người bị bắt giữ trên đây, có 2 người đã được trả tự do sau 24 h tạm giữ là ông Tĩnh ở Thái Hà và ông Tiến ở Hàng Bột.
Một người cho biết ông Công thuộc xứ Hàm Long bị bắt và bị đánh chiều ngày 11/2 vừa được gia đình bảo lãnh cho tại ngoại.
Trong khi đó, tại làng Đồng Chiêm, các lực lượng vũ trang vẫn bám trụ ở trong thôn, dùng vật chất để mua chuộc và bạo lực để trấn áp và bắt giữ những người có uy tín trong dân.
Các loa phóng thanh trong thôn không ngừng tăng giờ phát và tăng công suất để uy hiếp giáo dân và giáo sĩ.
Không khí bắt bớ, dò xét và trấn áp trong làng làm hoảng loạn trẻ em, khiến nhiều em không còn thiết đến trường, phụ nữ và người già không còn thiết làm việc.
Chiều nay lúc 18 h 30, công an huyện Mỹ Đức gửi giấy triệu tập cha Giuse Nguyễn Văn Hữu và cha Giuse Nguyễn Văn Liên về việc dựng thánh giá trên Núi Thờ. Giấy yêu cầu các ngài sáng mai 20/1/2010 ra công an huyện Mỹ Đức để làm việc.
Tuy nhiên các cha Giuse Nguyễn Văn Hữu nói ngài đã không nhận giấy triệu tập. Lý do: Cây thánh giá ngài dựng, chính quyền đã dùng bạo lực để xúc phạm, triệt hạ và đập phá trong đêm 6.1. (Nguồn: chuacuuthe.com) Lạc Việt
GÍAO XỨ HÀM LONG HIỆP THÔNG VỚI ĐỒNG CHIÊM
Giáo xứ Hàm Long dâng thánh lễ và thắp nến cầu nguyện cho giáo xứ Đồng Chiêm
Hà Nội, Việt Nam (17/01/2010) - Thánh lễ 19 h chủ nhật 17//1/2010, tại nhà thờ Hàm Long, một thánh lễ đồng tế cầu nguyện cho Ðồng Chiêm đã được cử hành.
Thánh lễ do cha Giacôbê Nguyễn Văn Lý, Quản hạt Hà Nội, chủ tế. Ðồng tế với ngài có các cha: Phạm Bá Quế, Ðinh Tiến Ðức, Phạm Minh Triệu, Nguyễn Huy Trình, Ðinh Văn Trung.
Tham dự với cộng đoàn Hàm Long còn có bà Ðinh Thị Song và bà Quách Thị Phòng, 2 nạn nhân bị đánh đập dã man ngày 6/1/2010 ở Ðồng Chiêm.
Hai bà đến tham dự thánh lễ tạ ơn Chúa, cám ơn các cha để mai trở về Ðồng Chiêm, sau thời gian điều trị.
Hiện vết thương ở mặt và ở đầu của hai bà đã được cắt chỉ. Hai bà vẫn còn đau, nhưng các sinh hoạt đã đảm đương được. Cuối thánh lễ cha Quản hạt Hà Nội đã lên án hành động tàn phá thánh giá dã man, xúc phạm đến niềm tin của người Kitô hữu, lên án các hành động đánh đập, bắt bớ, ngăn sông cấm chợ của Công an Hà Nội mà giáo xứ Hàm Long do ngài phụ trách cũng là nạn nhân.
Kết thúc thánh lễ, cả nhà thờ đã cử hành nghi thức suy tôn thánh giá và thăp nến cầu nguyện cho Ðồng Chiêm. Thăng Long
CSVN ĐÒI PHẠT TGM NGÔ QUANG KIỆT
Công an đòi phạt TGM Ngô Quang Kiệt 'vi phạm luật tạm trú'
VIỆT NAM - Tại đan viện Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình, thuộc tổng giáo phận Hà Nội, nơi các linh mục, tu sĩ thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội thường chọn làm nơi tĩnh tâm, đọc sách và viết sách, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt liên tục bị công an huyện tìm gặp mà không nói lý do gì. Sau vài lần bị từ chối, công an huyện thành lập tổ kiểm tra hành chính để kiểm tra thủ tục tạm trú, họ đòi lập biên bản phạt hành chính Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt “vi phạm luật tạm trú, tạm vắng.”
Chuyện Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt bị lập biên bản chỉ xảy ra mới cách đây hai ngày, tức là vào ngày 15 Tháng Giêng, 2010.
Hiện nay, tại Ðồng Chiêm và nhiều địa phận của Công Giáo tại Hà Nội, công an cũng lục soát nhà dân, nhà thờ, nhà xứ, dòng tu với lý do “kiểm tra nhân khẩu, tạm trú, tạm vắng.”
Việc thi hành luật khai báo, tạm trú, tạm vắng có nhiều bất cập, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt và làm ăn của người dân. Ðến nay, nhiều địa phương hầu như chỉ “làm lấy lệ.” Luật không tụ tập quá 5 người cũng vậy, “bất cập” không kém. Những điều luật này, sở dĩ tồn tại, là do chính quyền thấy cần sử dụng để hạn chế quyền tự do đi lại, tự do hội họp của người dân.
Giới quan sát cho rằng, hành động đòi xét thủ tục tạm trú với một lãnh tụ tôn giáo lớn ở Việt Nam đồng nghĩa với việc chính quyền công khai bày tỏ thái độ thiếu thiện chí với người Công Giáo.
Bất chấp sự thực hiển nhiên được chứng kiến của hàng ngàn người, báo chí nhà nước Việt Nam ngày hôm qua vẫn thản nhiên chối bỏ sự việc xảy ra tại Ðồng Chiêm. Ðồng thời còn vu cáo hãng thông tấn của Vatican “đưa tin sai và có ý đồ kích động.”
Cho dầu chính quyền Việt Nam đã có những bước đi được hiểu là “mong muốn cải thiện quan hệ với Vatican,” hành động đập phá biểu tượng Thánh Giá và đánh đập giáo dân, hành hung ký giả, cùng nhiều biện pháp khác nhau để trấn áp tinh thần, cô lập người Công Giáo bị coi là “ngạo mạn và xem thường cộng đồng quốc tế.”
Trong một chuỗi các sự kiện liên quan đến quan hệ căng thẳng của chính quyền Việt Nam với người Công Giáo những năm qua, vụ đập phá Thánh Giá ở Ðồng Chiêm là minh chứng đỉnh điểm cho thấy rõ thái độ của chính quyền đối với Công Giáo nói riêng và tôn giáo nói chung.
Giáo xứ Ðồng Chiêm vốn ở nơi yên tĩnh, khuất nẻo. Cây Thánh Giá trên đỉnh núi Thờ của giáo xứ này hoàn toàn vô hại với bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cộng đồng nào. Cứ để yên Thánh Giá cũng chẳng ai biết đến, năm tháng cùng với vị trí heo hút, cây Thánh Giá ở Ðồng Chiêm cũng chỉ khiêm tốn trong giáo xứ nhỏ nhoi này. Nhưng bỗng dưng chính quyền quyết tâm triệt phá, và phải triệt phá bằng được. Triệt phá bằng hành động quyết liệt, huy động ầm ĩ nhiều lực lượng vũ trang. Phải chăng họ thị uy hay muốn nổ phát súng đầy vũ lực để cảnh báo với thế giới, rằng họ sẵn sàng trở thành những kẻ phá tượng Phật như Taliban? Câu hỏi là, những bước tiếp theo là gì?
Trong con mắt các nước trên thế giới, hành động của chính quyền Việt Nam khi chà đạp lên biểu tượng Thánh Giá của người Công Giáo là không thể chấp nhận. Chỉ duy nhất một vài nước có cùng hệ thống chính trị với Việt Nam là hài lòng. Một trong những nước đó là Trung Quốc, nước chắc chắn sẽ ngầm ủng hộ và cổ vũ cho hành động của Việt Nam đương đầu với truyền thống đạo lý lâu đời ở các nước văn minh trên thế giới.
Dường như nhà nước Việt Nam chưa bao giờ có bản lĩnh tự chủ để giải quyết vận mệnh đất nước. Ngày hôm nay, chính quyền này phá Thánh Giá, gây ảnh hưởng không tốt tới quan hệ với các nước phương Tây, nơi cộng đồng Thiên Chúa Giáo tập trung nhiều nhất. Vậy, họ làm điều này để làm vừa lòng ai?
Không lẽ để được lòng một “cường quốc nào đó,” để được nâng đỡ, duy trì quyền lực, mà bán rẻ tài nguyên, rồi lại nhường biển đảo? Ðến giờ lại lấy luôn niềm tin tín ngưỡng của người dân để mặc cả!
Lịch sử chứng minh rằng, chỉ có công bằng, bác ái mới tồn tại lâu dài. Tàn bạo là hành động đi ngược chiều với bánh xe công lý.
SAU BÁT NHÃ, CHÙA LINH PHỔ LÂM ĐỒNG
Sau Bát Nhã, lại thêm một cuộc đàn áp cơ sở Phật giáo tại tỉnh Lâm Đồng, chùa Linh Phổ, chính thức bị bị tấn công Jan 18, 2010 Ông Phan Xuân Tịnh chủ tịch UBND xã Hiệp Thạnh trực tiếp chỉ đạo cuộc tấn công chùa Linh Phổ . ĐĐ Thích Hoằng Tín trú trì chùa Linh Phổ bị đánh và bị xé rách quần áo
Nhiều cụ già Phật tử của chùa cũng bị tấn công trong đó có một người bị đánh ngất xỉu, công an khiêng ra xe chở đi đâu không biết .
Như tin chúng tôi đã đưa, chùa Linh Phổ huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng đang phải đối đầu với sự bạo hành của chính quyền Việt Nam. Đúng theo kế hoạch mà một cán bộ “ có lương tấm” đã báo trước cho chùa để chuẩn bị đối phó trước cuộc đàn áp tấn công không khoang nhượng của chính quyền hòng cưỡng đoạt 10.439 m2 đất của chùa hiện hữu trên 42 năm qua (chúng tôi đã cảnh báo trong bản tin tối hôm qua).
Đúng 6 giờ 30 sáng hôm nay thứ hai 18/01/2010 đích thân ông Phan Xuân Tịnh, chủ tịch UBND xã Hiệp Thạnh – Đức Trọng đã trực tiếp có mặt tại chùa Linh Phổ để chỉ đạo cuộc tấn công đàn áp chư tăng và phật tử chùa Linh Phổ. Bên cạnh ông chủ tịch xã Hiệp Thạnh chúng tôi còn thấy có các ông: Nguyễn Minh Khang - phó chủ tịch xã, ông Lê Liên - trưởng công an xã, ông Phạm Ngọc Thảo - trưởng ban tư pháp xã, ông Nguyễn Quang Mười - thôn trưởng, ông Nguyễn Văn Phận - bí thư chi bộ thôn, ông Trần Cự, ông Lộc - công an thôn, bà Nguyễn Thị Liễu - chi hội phụ nữ cùng rất nhiều cán bộ chính quyền. Chư tăng và phật tử chùa linh phổ biểu tình trước cổng văn phòng tỉnh ủy Lâm đồng
Tất cả đang hùng hổ khua tay múa chân, chỉ huy hàng trăm công an nhân viên, dân phòng và người lạ mặt v.v… tấn công đánh đập các cụ già là Phật tử đáng tuổi cha mẹ ông bà của mình chỉ vì cái tội họ dám “ đấu tranh bảo vệ luân thường đạo lý, bảo vệ công bằng lẽ phải, bảo vệ đất chùa mà họ đã dày công khai phá xây dựng trên 42 năm nay.
7 giờ 00, sau khi hội ý trước sân chùa, nhóm người lạ mặt xông vào giựt cờ Phật giáo, cờ CSVN (đang được chùa cắm trên các trụ rào để bảo vệ quan điểm và xác định ranh mốc của đất chùa). Trong khi đó thì nhóm người khác la lên: “đốt đống cờ đó đi (trong đó có cờ của CSVN) – ai ngăn cản đánh thấy mẹ nó luôn – không tu hành gì cả.
Lúc này ĐĐ Thích Hoằng Tín trú trì chùa Linh Phổ cùng bà con Phật tử bước ra can ngăn và yêu cầu ông Phan Xuân Tình – chủ tịch xã cùng lực lượng cán bộ xã đang đập phá hàng rào chùa phải xuất trình lệnh cưỡng chế và các giấy tờ liên quan theo đúng qui định của pháp luật Việt Nam.
Đuối lý ông chủ tịch xã điên tiết ra lệnh bắt và đánh tất cả những ai dám chống người thi hành công vụ và thế là hàng trăm người xông vào giựt biễu ngữ của Phật tử đang cằm có nội dung: “Chư tăng và quần chúng Phật tử phản đối hành vi áp đặt đối với cơ sở tôn giáo là chùa Linh Phổ” hay “chúng tôi yêu cầu UBND xã Hiệp Thạnh phải làm việc theo đúng hiến chương và pháp luật” hay “chỉ thị 1940/CT- TTg của thủ tướng chính phủ phải được tôn trọng và nghiêm túc thực hiện”. Băng rôn biểu ngữ chùa Linh Phổ phản đối đàn áp tôn giáo
Một nhóm khác xông vào đánh và xé áo ĐĐ Thích Hoằng Tín - trú trì chùa Linh Phổ, nhiều cụ già là Phật tử của chùa cũng bị tấn công, đánh đập lôi kéo rách áo quần. Một phật tử bị đánh ngất xỉu té xuống đất liền được ông Nguyễn Minh Khang - phó chủ tịch xã - ra lệnh cho công an thôn khiên ra xe, trong lúc đó một nhóm khác đã áp tải 4 Phật tử quăng lên xe u oát chở đi. Tiếng kêu cứu la khóc của các cụ già trong nỗi tuyệt vọng vang cả khắp thôn làng .
10 giờ 45 phút anh thanh niên Phật tử bị bắt được thả về sau khi phải ngồi làm bảng tường trình theo mẫu đã được soạn sẵn theo ý của ông Lê Liên trưởng công an xã Hiệp Thạnh .
11 giờ 15 phút ĐĐ Thích Hoằng Tín và phật tử của chùa đã đến công an xã Hiệp Thạnh phản đối việc công an bắt, đành người vô cớ , trái với pháp luật .
14 giờ 00 chiều chư tăng và Phật tử đến tại văn phòng tỉnh ủy (TP Đà Lạt) xin gặp lãnh đạo tỉnh trình đơn tố cáo việc chính quyền xã Hiệp Thạnh lạm dụng quyền hành đưa lực lượng công an, cán bộ đàn áp, đánh đập chức sắc tôn giáo và bà con Phật tử và làm nhiều điều trái với qui định pháp luật. Nhưng tất cả đã bị công an bảo vệ chặn ở cổng bên ngoài và cử người ra nhận đơn với lý do lãnh đạo đi vắng!? Nhiều phật tử bị đánh
Cũng xin nói thêm rằng trong lúc sự việc đang xãy ra rất căng thẳng tại chùa Linh Phổ thì nhiều Phật tử đã gọi điện kêu cứu ban trị sự và hội đồng trị sự trung ương thì được trả lời “chư tôn đức đang dự hội nghị thường niên tại văn phòng II trung ương tại Sài Gòn”.
Như vậy chưa đầy một tháng sau vụ đàn áp, bức bách 400 tu sỹ là người Việt Nam tu theo pháp môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã và chùa Phước Huệ thị xã Bảo Lộc, một lần nữa máu, nước mắt cùng lòng căm phẩn tủi hờn của tăng ni Phật tử tỉnh Lâm Đồng lại tuôn rơi trước sự bạo hành tàn độc của chính quyền Lâm Đồng và trước sự thờ ơ, nhu nhược của giáo hội phật giáo Việt Nam, không dám lên tiếng bênh vực bảo vệ lẽ phải, bảo vệ đàn hậu học những mần non của đạo pháp trước nanh vuốt của loài sói lang vô đạo ….
Nhiều máy hình, quay phim ghi lại sự việc sáng nay tại chùa Linh Phổ đã bị công an truy đuổi đập phá. May mắn lắm chúng tôi mới thoát thân và lưu giữ được vài hình ảnh quí giá này để minh chứng tố cáo tội ác của chính quyền Việt Nam. Với kẻ thù (Trung Quốc) thì họ nhu nhược khúm núm còn với đồng bào ruột thịt của mình thì tàn ác dã man.
Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi sự kiện này và sẽ gởi đến quí vị nhiều hình ảnh trung thực của cuộc đàn áp sáng hôm nay tại chùa Linh Phổ huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng sau khi phục hồi sửa chữa lại hai máy quay phim và chụp hình đã bị công an đập phá hư hỏng mà chúng tôi may mắn thu dấu lại được vào bản tin kế tiếp .
Sau sự kiện sáng nay trước khi rút về chính quyền đã tuyên bố là sáng ngày 20/01/2010 sẽ tiếp tục cho người vào xây hàng rào cấm vận chùa. Rất mong quí cơ quan thông tấn báo chí, quí cơ quan nhân quyền hãy lên tiếng ngăn chận sự bạo hành của chính quyền Việt Nam đang ra sức đàn áp khủng bố các cơ sở tôn giáo. Nếu cần liên hệ để tìm hiểu sự thật của vấn đề xin liên hệ với:
ĐĐ Thích Hoằng Tín - Trú trì chùa Linh Phổ: 0983620148 HT Thích Pháp Chiếu - Trưởng ban trị sự phật giáo Lâm Đồng: 0918853607 HT Thích Toàn Đức - Phó ban trị sự: 0902184717 Ông Hồ Ngọc Thắng - Trưởng ban mặt trận tổ quốc Lâm Đồng: 0913934718 Ông Nguyễn Văn Hiệp - Phó giám đốc công an LÂM Đồng: 0913865218 Cư sĩ Quốc Thái tường thuật trực tiếp từ chùa Linh Phổ
| | | |
ĐỒNG CHIÊM, CÁI BẪY SẬP Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất Tháng 01-2007, sau khi Nguyễn Tấn Dũng sang Roma gặp Đức Giáo Hoàng về, thì xẩy ra vụ tượng Đức Mẹ Pieta tại giáo xứ Đồng Đinh, Phát Diệm, bị đập phá. Tháng 9-2009, cũng Nguyễn Tấn Dũng, đi Âu Châu để vận động đầu tư, tuyên bố tuyệt đối không trả lại các tài sản, đất đai lại cho Giáo Hội Công Giáo VN, khi trở về, thì ngôi trường học của giáo xứ Loan Lý tại Huế bị chiếm đoạt bằng bạo lực. Tháng 12-2009, sau khi Nguyễn Minh Triết đi Roma yết kiến Đức Giáo Hoàng trở về chưa đầy một tháng, thì có việc nhà cầm quyền địa phương đưa công an lên Núi Thờ của giáo xứ Đồng Chiêm, gần Hànội, để chỉ triệt hạ cây Thánh Giá dựng trên đó. Điểm đáng ghi nhận là sự kiện này xẩy ra trùng hợp khít khao với lịch trình viếng thăm VN của một phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ, trong đó có dân biểu Cao Quang Ánh, một người VN tỵ nạn CS là thành viên. Điều lạ lùng là DB Ánh đang khi còn ở VN, đã không biết việc xẩy ra, nên không nói gì. Mãi cho tới khi trở lại Hoa Kỳ rồi, ông mới lên tiếng: “Tôi nghĩ đây không phải là việc làm của chính quyền, mà của một trong những người cấp nhỏ.” Chuyện quan trọng xẩy ra, tại sao DB Cao Quang Ánh đã không biết để lên tiếng kịp thời. Tại sao về Mỹ ông mới lên tiếng, và còn lên tiếng để chạy tội cho bọn đầu lãnh Hànội như thế. Hành động đập phá Thánh Giá tại Đồng Chiêm là chủ trương của ban lãnh đạo trung ương đảng và nhà nước VGCS hay chỉ là việc làm tùy tiện của các cấp thừa hành tại địa phương như DB Cao Quang Ánh nhận định? Đây là vấn đề thật sự quan trọng, liên quan đến đường lối, chính sách của đảng VGCS chứ không phải chuyện tầm thường. Chỉ một chút hiểu biết về VGCS thôi, thì sẽ thấy rằng chúng giăng ra cái bẫy và đã mau chóng tóm gọn được con mồi. Đồng Chiêm Trong Ngày Về Của Một Người Tỵ Nạn Thành Công Chuyện xẩy ra tại giáo xứ Đồng Chiêm được báo chí tường thuật như sau: “Vào lúc 2 giờ sáng ngày 6 tháng 1 năm 2010, các lực lượng vũ trang của nhà cầm quyền Việt Nam vào khoảng 600 cho đến 1.000 người gồm dân quân tự vệ, công an, và cảnh sát cơ động với súng ống, chó nghiệp vụ, dùi cui, lựu đạn cay đã phong tỏa các giáo xứ Nghĩa Ải, Tụy Hiền, Đồng Chiêm, chặn lại tất cả các lối đi và khu vực Núi Thờ. Họ bắt đầu triệt hạ và đập phá Thánh Giá bằng bê tông trên núi này. Trước hành động phạm thánh như vậy, giáo dân Đồng Chiêm đã kêu gọi họ ngừng ngay những hành vi xúc phạm đó. Thế nhưng giáo dân đã bị cảnh sát ném lựu đạn cay và một số đã bị đánh đập tàn nhẫn trong đó có hai người bị thương nặng hiện đang còn phải nằm bệnh viện để điều trị.” (VietCatholic News 15-01-2010) Trong nhiều ngày sau khi đã triệt hạ cây Thánh Giá, bọn công an côn đồ còn áp dụng nhiều hình thức đàn áp khác nhắm vào các linh mục, tu sĩ, và giáo dân liên quan đến vấn đề giáo xứ Đồng Chiêm, như bắt người, đánh đập linh mục và ký giả, đổ đá trục lộ giao thông để phong tỏa lối vào Đồng Chiêm, lục xoát nhiều nữ tu viện tại Hànội v.v. Với tất cả các hành vi đạo tặc và côn đồ trên được đem ra áp dụng, VGCS nhắm đến lợi lộc gì. Và đây là câu trả lời: “Giáo xứ Đồng Chiêm, một xứ đạo nghèo, riêng cái tên Đồng Chiêm đã nói lên sự đói nghèo ở mảnh đất ngập lụt này. Giáo dân đàn ông ở đây phải đi làm ăn xa xôi để nuôi sống gia đình. Việc đi làm ăn xa xôi, cô đơn và nhiều vất vả đã mang về giáo xứ này nhiều căn bệnh nguy hiểm. Có lẽ không nơi nào, một giáo xứ nhỏ, lại có nhiều người nhiễm HIV như ở đây. Ở đó không có tài sản để tranh chấp với ai, nhà nước và giáo xứ không có tranh chấp nào với Núi Thờ là nghĩa trang của giáo xứ cả hơn trăm năm nay. Ở đó cũng không có công trình quốc phòng, quân sự hay bất cứ dự án nào của quốc gia để ảnh hưởng….” (VietCatholic News 14-1-2010: Không thể là chuyện tranh chấp và không thể không lên tiếng - Song Hà) Trong những vụ đàn áp khác trước đây tại Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Tam Tòa, Loan Lý và nhiều nơi khác, VGCS nhắm đến cái lợi trước mắt là tiền bạc, và cái lợi khác là gián tiếp triệt hạ ảnh hưởng của tôn giáo. Những mảnh đất hay cơ sở cướp được có thể đem bán thu về tiền tươi hàng triệu dollars, hoặc biến thành nơi kinh doanh kiếm lợi. Yên trí hơn, tôn giáo không còn phương tiện để sinh hoạt chống lại CS nữa. Dưới chân ngọn núi Chẽ (hay Núi Thờ) là một nghĩa trang lâu đời, có hàng trăm năm, của giáo dân Đồng Chiêm, với hàng ngàn ngôi mộ. Như thế bọn VGCS ban đêm kéo đến đập phá cây Thánh Giá trên đỉnh núi để ăn cái giải gì? Tìm kiếm lợi lộc gì ở đấy? Cây Thánh Giá dựng trên núi đã hàng mấy chúc năm, nếu cho là xây cất bất hợp pháp, thì tại sao không cấm ngay từ khi bắt đầu xây? Lại nữa, dưới chân Thánh Giá là khu nghĩa trang, mồ mả cũng xây thì có là bất hợp pháp không? Những người chết trong các ngôi mộ kia, họ nằm đấy hợp pháp hay bất hợp pháp? Những ngôi mộ có sổ đen sổ đỏ hay giấy tờ gì chứng minh là hợp pháp không? Người chết là tín hữu, và cây Thánh Giá là biểu tượng của Đấng mà họ tôn thờ. VGCS triệt hạ cây Thánh Giá, sao không triệt phá luôn cả các mồ mả là hai thực tại liên hệ với nhau và luôn luôn đi đôi với nhau. Nghĩa trang riêng của người công giáo có cái dấu hiệu là cây Thánh Giá. Đó là điều ai cũng biết. Tại sao bọn Việt gian côn đồ chỉ bứng cây Thánh Giá. Đó là sự vô lý của vấn đề. Điều đó cho thấy, VGCS chủ tâm hủy diệt biểu tượng tôn giáo, nói cách khác là “triệt phá đạo”. Đó là kết luận duy nhất hợp lý cho vấn đề. Sự kiện Đồng Chiên xẩy ra đúng vào lúc một phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam, trong đó có DB Cao Quang Ánh là một người VN tỵ nạn CS. Ngay khi DB Ánh còn đang công tác tại Việt Nam, tôi đã có viết một bài về chuyến đi của ông, nhan đề “Cậu Ánh Đi Sứ”. Bài này viết dưới dạng văn phiếm mục đích là tránh nặng nề và để cho dễ đọc. BD Ánh là một nhà tu xuất mới buớc vào làm chính trị đã thành công lớn liền, đắc cử làm dân biểu Quốc Hội Liên Bang. Tôi có cái nhìn về ông Ánh cũng giống như vói GS Nguyễn Chánh Kết, hai nhà tu xuất làm chính trị. Cả hai đều lương thiện, thành thật, có tâm hồn, nhưng lại ngây thơ, một đức tính rất dễ thương của con nít, và nếu có nữa thì chỉ nên có ở một nhà tu hành, nhưng người làm chính trị không nên và không bao giờ được có. Trong bài Cậu Ánh Đi Sứ, tôi kể câu chuyện rất xưa của nước Tầu thời Chiến Quốc, tể tướng Án Anh nước Tề đi sứ sang Tấn, hy vọng quí độc giả, đặc biệt DB Cao Quang Ánh, nếu muốn, có thể học hỏi được một cái gì hay trong đó chăng. Án Anh mặc áo rách, đi ngựa gầy, ngồi xe cà rịch cà tàng đi vào đền vua nước Tấn, nhưng đã làm cho vua tôi nước Tấn nể phục. Mặc dù ông thân hình nhỏ bé, nhưng cái tài lương đống của ông đã làm cho nước Tề trở nên cường thịnh. DB Cao Quang Ánh đi sứ VGCS, mặc dù là một người tỵ nạn, nhưng đã không gây rắc rối, mà còn củng cố thêm sự giao hảo giữa chánh quyền Mỹ và VGCS, được báo chí trong nước ca tụng là một chỉ dấu cho thấy. Đó là một thành công xét theo lập trường chính trị “Tôi ngay thờ Chúa, gái thờ chồng”. Nhưng trên quan điểm chống cộng của người tỵ nạn, tôi đã nói rất rõ, ông Cao Quang Ánh là một Dân Biểu Hoa Kỳ, ông được người dân Hoa Kỳ bầu lên và làm việc cho nước Mỹ, chứ không phải cho nước VNCH. Tôi còn nhấn mạnh, quyền lợi của dân tộc VN và của Hoa Kỳ chưa bao giờ đi song song và cùng chiều. Cho nên, người Việt tỵ nạn không nên kỳ vọng quá đáng vào đường lối của ông Ánh. Khi nói: “Dù còn bất đồng ý kiến trong một số vấn đề, nhưng tôi hy vọng hai bên sẽ hiểu nhau hơn và cùng làm việc cho tương lai của hai nước”, DB Cao Quang Ánh trên cương vị một Dân Biểu Mỹ không có gì đáng trách. Nhưng trên cương vị là một người VN tỵ nạn, ông Cao Quang Ánh đã không còn giữ quan điểm của người tỵ nạn nữa, và đã để mất đi phần nào cảm tình đồng hương dành cho ông. Lời tuyên bố trên cho thấy ông Ánh đi theo con đường mà chính quyền Mỹ luôn cổ võ và đẩy người tỵ nạn đi vào, là trở về phục tùng VGCS. Đồng Chiêm Dưới Con Mắt Của DB Cao Quang Ánh Cũng bởi DB Cao Quang Ánh là một con người thành thật như nhận xét của chúng tôi ở trên, nên mọi việc trong chuyến đi cũng như quan điểm và lập trường của ông liên quan đến các hoạt động trong chuyến đi đều được ông tuôn ra hết. Vì thế mà chúng ta mới biết được, trước các diễn biến nóng bỏng tại VN, ông suy nghĩ và hành động ra sao. Trước hết nói đến mục đích của chuyến đi của ông, ông nói để nghiên cứu giải quyết vấn đề mìn bẫy mà quân đội Hoa Kỳ còn để lại sau chiến tranh. Nhưng đồng thời ông lại còn nói là để tìm hiểu những thay đổi tại VN. Vậy cái nào mới là mục đích chính. Nếu là để tìm hiểu thì ông tìm hiểu được những gì khi bị trói buộc bởi những điều kiện mà ông đã phải cam kết với kẻ cấp chiếu khán cho ông? Ông không được phép tiếp xúc với những nhà bất đồng chính kiến, không được thăm gặp các tù nhân lương tâm. Như thế thì ông hy vọng biết được cái gì? Chỉ tiếp xúc với các quan chức CS và thân nhân của ông thôi, sự hiểu biết của ông về những thay đổi tại VN được đánh giá như thế nào. Những tòa nhà cao tầng sang trọng, những cơ sở làm ăn khang trang cho ông thấy VN có phát triển, nhưng những cái đó thực sự nằm trong tay ai thì chắc chắn ông ông thể biết được. Chỉ hội họp, tiệc tùng trong những ngôi lầu son gác tía, tham quan, du ngoạn những chỗ xa hoa đài các, DB Ánh biết được cái gì. Chắc chắn ông không nhìn thấy hàng ngàn, hàng vạn những đứa trẻ thơ bị ném ra ngoài lề đường, không biết được người con gái VN phải bán thân làm đĩ tại khắp nơi trên thế giới, VN đứng đầu thế giới về nạn phá thai, ông cũng không thể hay rằng có nhiều sinh viên đại học phải bán đi một trái thận trong người để tiếp tục đèn sách v.v. Đấy là những nét thay đổi lớn tại VN. Nói chung VN có thay đổi thật, nhưng thay đổi theo chiều hướng đi xuống, căn cứ theo cái mốc khởi đầu là chế độ mà thân phụ của DB Cao Quang Ánh là một sĩ quan phục vụ. DB Cao Quang Ánh đến Hànội ngày 5-01 thì ngay ngày hôm sau xẩy ra biến cố Đồng Chiêm. Một biến cố quan trọng như thế cả thế giới hay tin ngay sau đó. Không lý tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hànội không biết? Nếu tòa đại sứ biết, không thể nào họ không thông báo tin tức cho các vị dân cử của họ có mặt tại chỗ hay. DB Ánh không được thông báo, điều đó thậm vô lý. Khi được báo chí hỏi, DB Ánh trả lời là cho mãi tới khi ông qua Cam Bốt hay Lào mới biết được. Điều tệ hại hơn nữa là ông không nhớ nổi chắc chắn lúc biết sự kiện Đồng Chiêm, ông đang ở Cam Bốt hay ở Lào. Có thể nghi ngờ rằng DB Ánh đang tìm cách dấu quanh, nhưng câu trả lời của ông đã tố cáo ông. Không biết DB Cao Quang Ánh đã nhìn ra chưa, VGCS lưu manh đã giương bẫy để triệt ông. Ông là một vị dân cử công giáo, có tinh thần chống cộng. Điều đó ai cũng thấy và tất nhiên VGCS rất sợ. Ông trở về quê hương, chúng bầy ra trò triệt hạ cây Thánh Giá ở Đồng Chiêm, nhưng lại ra điều kiện không cho ông lên tiếng, không cho họp báo để bịt miệng ông. Vấn đề đáng lý phải lên tiếng cấp thời, thì ông đã không được phép mở miệng. Hệ quả là ông trở nên một người xa lạ đối với đồng bào của ông. Họ hết còn tin tưởng và ủng hộ ông nữa. VGCS chỉ muốn có thế, và chúng đã thành công. Một điểm khác nữa là trong thái độ xử trí công việc, DB Cao Quang Ánh đã tỏ ra là một con người thiếu bản lãnh của một nhà chính trị. Bà DB Loretta Sanchez trước đây có lần sang VN về vấn đề nhân quyền, nhưng bà đã không chấp nhận các điều kiện của VGCS đòi hỏi để được nhập cảnh. Bà Sanchez tuy là một dân biểu nhưng bà đi với tư cách cá nhân, còn DB Cao Quang Ánh đi trong phái đoàn chính thức của Hạ Viện Mỹ. Hai tư cách đó khác nhau xa lắm. Ông Ánh là người VN. Bà Sanchez không phải là người Việt, mà còn là một phụ nữ. Ông là một đấng mày râu VN, nhưng tỏ ra hèn và nhát hơn một vị nữ lưu gốc Spanish. Trong lãnh vực hoạt động cho quyền lợi của VN, xem ra DB Cao Quang Ánh thua xa bà Loretta Sanchez. Điểm sau cùng và cũng là điểm quan trọng. Trong cuộc họp báo sau khi trở về Hoa Kỳ, DB Cao Quang Ánh đã tuyên bố một câu hết sức ngớ ngẩn. Ông nói: “Tôi nghĩ đây không phải là việc làm của chính quyền, mà của một trong những người cấp nhỏ.” Bị bưng bít như thế nên chẳng biết được cái gì tại chỗ khi ở Hànội, thế mà DB Ánh dám tuyên bố, triệt hạ cây Thánh Giá Đồng Chiêm là việc làm của cấp dưới, chứ không phải của nhà cầm quyền trung ương. Kể cũng ẩu thật. Ông căn cứ vào đâu để đưa ra lời nhận định hồ đồ đó? Hồi năm 1956 (?), sau khi giết hại hàng vạn đồng bào bị qui tội địa chủ, Hồ Chí Minh ra trước công chúng nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu, tuyên bố, đấy là việc làm sai lầm của địa phương chứ “bác” và trung ương không muốn thế. Thế là huề dzốn. Lũ dân đen khốn khổ lại nhắm mắt tin tưởng và yêu “bác” như xưa. Khi đi tù về, một người bạn kể lại với tôi, thân nhân của anh là một địa chủ sống sót từ ngoài Bắc vô thăm. Ông ta rưng rưng nước mắt nói với bạn tôi: “May mà nhờ có bác biết kịp thời và can thiệp, chứ không thì chúng tôi chết cả nhà rồi.” Cứ coi như một chuyện tiếu lâm. Mánh lới lừa bịp của VGCS siêu như vậy đấy. Vài giọt nước mắt, một câu nói của Hồ đủ sức rửa sạch hết mọi tội lỗi của hắn và lấy lại được lòng tin của quần chúng. Câu hỏi đặt ra là việc bách hại giáo dân Đồng Chiêm thật sự là việc làm của cấp dưới, hay là chủ trương của trung ương đảng và nhà nước VGCS? Tự hỏi, nếu đó chỉ là việc làm của cấp dưới thì các vụ đập tượng Đức Mẹ Pieta, vụ cướp trường học Loan Lý, và rất nhiều vụ khác nữa, cũng đều là việc làm của cấp dưới cả sao? Thật là vô lý, cấp dưới làm ăn bậy bạ như thế mà không đứa nào bị xử phạt. Nhiều trường hợo liên tiếp xẩy ra như thế mà không hề bị ngăn chặn và sửa sai. Trái lại, bọn cầm quyền trung ương còn lấp liếm, bao che, dung dưỡng thuộc cấp, đổ tội trên đầu các nạn nhân và bao giờ cũng dành lẽ phải về phần mình. Như vậy, thì chuyện trung ương chủ trương hay cấp dưới làm bậy đã rõ ràng. Như thế mà DB Cao Quang Ánh không nhìn ra. Lời tuyên bố của ông thật sự là sự chạy tội cho bọn VGCS đầu sỏ tại Hànội. Ông vô tình hay cố ý, muốn biết cũng đòi hỏi phải có chút ít thời gian. Kết Luận Vừa qua, trang Web Take2Tango có đưa ra một bảng thăm dò (poll) bằng cách kêu gọi người đọc vote cho một trong hai ý kiến sau đây: Câu 1 - Chúng ta cần “khẩn trương” gây quĩ để giúp DB Cao Quang Ánh tái đắc cử. Câu 2 - Chúng ta “tẩy chay toàn diện” mọi sinh hoạt liên quan đến DB Cao Quang Ánh.
Kết quả bạn đọc vote cho câu 1 là 26%, cho câu 2 là 73%. Vì không hiểu biết về kỹ thuật làm thăm dò, đàng khác nhận thấy cách đặt câu hỏi có vẻ gượng ép, không mấy thích hợp, chúng tôi thật sự không hoàn toàn tin tưởng việc thăm dò trên trang Web Take2Tango. Tuy nhiên kết quả thăm dò cũng cho thấy một chỉ dấu là DB Cao Quang đã mất đi phần nào sự tin tưởng và cảm tình mà đồng hương tỵ nạn dành cho ông. Những người trẻ trong cộng đồng tỵ nạn chúng ta như DB Cao Quang Ánh nên hiểu rằng khi dấn thân đi vào chính trường Mỹ, một đàng họ phải hành sử trách nhiệm dân cử theo con đường “tôi ngay thờ chúa, gái thờ chồng”, nhưng đàng khác, họ cũng nên giữ lấy cái nếp sống VN, nên thở hơi thở VN, và nên có trái tim đập theo nhịp sống của dân tộc VN. Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
| | | |
Ý KIẾN CỦA MỘT NGƯỜI DÂN TRONG NƯỚC VỀ DÂN BIỂU MỸ GỐC VIỆT CAO QUANG ÁNH
Xin được nhắc lại một lần nữa rằng tôi chỉ là một người dân Việt Nam, không ở Mỹ nên tôi không hề biết về nền chính trị cũng như sinh hoạt chính trị bên đó, tôi chỉ phát biểu những gì tôi thấy, tôi nghĩ về mục đích chuyến đi, cách viếng thăm và người dân Việt có biết gì đến ông Cao Quang Ánh hay không.
A/ Mục đích chuyến đi của ông Ánh là đến Việt Nam tìm hiểu tình hình kinh tế Việt Nam, giúp Việt Nam xây dựng một hệ thống giáo dục tiên tiến như Mỹ đang có hầu mong tạo nền tảng vững chắc thúc đẩy tiến trình dân chủ, tự do và nhân quyền ở Việt Nam. Trong khi đó Chính phủ Việt Nam rất ao ước, mong sớm được giúp đỡ. Thưa ông Ánh như vậy có đúng ý định của ông không ạ ?
Vậy tôi xin hỏi ông câu thứ nhất rằng :
I/ XIN ÔNG HÃY CHỨNG MINH CHO TÔI THẤY LUẬN ĐỀ KHOA HỌC LÀ : KHI HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM PHÁT TRIỂN THÌ KÉO THEO NỀN TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN SẼ ĐƯỢC PHÁT TRIỂN THEO. XIN ÔNG NÊU LÊN CÁC MỐI LIÊN KẾT CHẶT CHẼ GIỮA NỀN GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN VÀ DÂN CHỦ, TỰ DO, NHÂN QUYỀN ?
Trong khi chờ đợi câu trả lời của ông tôi xin nêu ý kiến của tôi như sau :
NẾU ÔNG LÀM NHƯ TRÊN THÌ ÔNG ĐÃ BƯỚC VÀO BẨY CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN RỒI ĐÓ.
Theo tôi nhìn thấy HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ MỐI LIÊN HỆ BIỆN CHỨNG NÀO GIỮA HAI VẾ CỦA MỆNH ĐỀ : GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN KÉO THEO NHÂN QUYỀN CẢI THIỆN.
Thưa ông Ánh mệnh đề trên tôi đã từng nghe người bà con với tôi – đã từng sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam Cộng Hòa nói với tôi rồi, cách đây gần 20 năm lận, khoảng năm 1990. Ông ấy nói với tôi rằng : “ Rồi đây ở Việt Nam, CỘNG SẢN CON SẼ ĐÁNH CỘNG SẢN CHA.”
Tôi không hiểu gì cả nên hỏi lại ông : Cậu giải thích giùm con – CỘNG SẢN CON SẼ ĐÁNH CỘNG SẢN CHA là sao con không hiểu ?
Ông ấy nói rằng khi các thế hệ trẻ được đi du học nước ngoài về, họ sẽ mang theo kiến thức quản lý tiến bộ của phương tây áp dụng Việt Nam làm tan rã lý thuyết Cộng sản.
Lúc đó tôi còn trẻ, chưa có nhiều kiến thức, chưa đọc nhiều tài liệu do hải ngoại đăng tải nên gật gù khen hay, quá đúng.
Nhưng than ôi, ngày nay 20 năm sau nghe lại mục đích chuyến đi của ông cũng giống như lời nói của Cậu tôi năm xưa, đối chiếu lại tình hình thực tế Việt Nam tôi nhận ra mình quá ư là ấu trĩ, quá ư ngu ngốc khi tin là sẽ có CỘNG SẢN CON SẼ ĐÁNH CỘNG SẢN CHA.
Tôi xin chứng minh sự ngu ngốc của tôi cũng như của những ai tin là GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN KÉO THEO NHÂN QUYỀN CẢI THIỆN.
Đã hơn 10 năm qua, các chương trình học bổng của Chính phủ Mỹ nổi tiếng ở Việt Nam như FULBRIGHT, VEF (VIETNAM EDUCATION FOUNDATION) . . . . . . . .đào tạo thạc sĩ. Ở Canada, Anh, Úc, Nhật hay Pháp cũng có. Tôi chỉ biết là Chương trình Fulbright mỗi năm cả nước Việt Nam được Đại Sứ quán Mỹ tuyển 25 học viên xuất sắc được sang Mỹ đào tạo thạc sĩ khoảng 2 năm 6 tháng. Như vậy khoảng 10 năm nay riêng chương trình Fulbright đã đào tạo được khoảng 250 học viên xuất sắc trở về Việt Nam làm việc, tôi tạm tính các chương trình học bổng khác cũng khoảng 750 học viên trong 10 năm qua. Vị chi khoảng 1000 học viên được hưởng đạo tạo thạc sĩ từ ngân sách chính phủ Mỹ, Pháp, Úc, Nhật . . .. . . còn chưa biết số lượng học viên đi du học tự túc là bao nhiêu, nhưng đã là rất nhiều ở Việt Nam rồi.
Vậy sau khi trở về Việt Nam họ đã làm gì được cho NỀN DÂN CHỦ, TỰ DO, NHÂN QUYỀN cho nhân dân Việt Nam. Tôi thấy hầu như BẰNG KHÔNG. May thay có vài người vừa lóe lên như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung . . . . . vừa mới viết được vài bài báo, thì bị bắt ngay.
Còn lại hàng ngàn người tốt nghiệp ở nước ngoài hiện đang ở đâu không thấy trong phong trào đòi tự do nhân quyền cho nhân dân, phải chăng họ đang được trọng dụng trong các Cơ quan quản lý nhà nước để từng bước cải tổ dần nên chính trị Việt Nam. Xin thưa với ông là KHÔNG CÓ AI TRONG ĐÓ CẢ ĐÂU, đừng hy vọng hảo huyền ông Ánh ạ.
Cả phía chính quyền CS và du sinh trở về đều không thể chấp nhận nhau được.
Phía bộ máy CS được hình thành từ những tên học hành lem nhem – kiến thức Mác Lê Nin giẻ rách không dùng được, đăng ký học các khóa tại chức bằng GIẢ – bằng ĐỂU tràn lan, Chúng chỉ ngoi lên được nhờ tài luồn cúi và chạy chọt. Vậy bọn này có bao giờ chấp nhận chịu sự điều hành của người giỏi hơn nó đâu. Vậy là bọn chúng cô lập, bè phái tẩy chay người du học, một thời gian họ chán nản buộc phải ra đi. Hơn nữa những du sinh không thể chấp nhận lối làm việc quan liệu của bộ máy CS, lương ít lậu nhiều, mánh khóe chơi nhau . . . . . . Trong khi đó ngoài hệ thống nhà nước thì các Công ty nước ngoài đang đầu tư, Văn phòng của các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam đang chào đón họ với mức lương cao, cung cách làm việc chuyên nghiệp, vậy là họ sà vào hết tất cả 2 loại hình này. Với tư cách là một Dân Biểu ông có thể làm cuộc khảo sát để công bố cho Chính Phủ Mỹ và nhân dân được biết hiệu quả của chương trình giáo dục Mỹ dành cho Việt Nam.
Còn nhân dân Việt Nam được hưởng cái dân chủ, tự do nào hơn không ? Sau hơn 10 năm họ không được thêm gì cả. Vậy ai là người hưởng lợi từ những chương trình giáo dục này. Tôi xin trả lời chính xác là chính những du sinh là người hưởng lợi nhất. Họ được đi học không phải vì tự do nhân quyền cho nhân dân Việt Nam, mà bọn này đi học vì cá nhân họ, vì miếng cơm manh áo của gia đình họ, nên họ quên ngay những gì đã được hưởng trong mấy năm trời học ở nước ngoài. Về Việt Nam, việc đầu tiên là tìm ngày các văn phòng phi chính phủ, công ty nước ngoài nộp đơn xin việc. Với tấm bằng danh giá từ nước ngoài về họ dễ dàng được tuyển dụng với mức lương cao ở Việt Nam, thấp nhất cũng 600-700USD/ tháng, cao thì cũng 1,200-1,500 USD/ tháng. Họ hãnh diện với bạn bè, bà con hàng xóm với mức lương này, không hề biết đến cuộc đấu tranh dân chủ ở hải ngoại ra sao, ở Việt Nam như thế nào. Khi những du sinh này gặp nhau mối quan tâm của bọn chúng chỉ là cá nhân họ mà thôi : Mày xây nhà chưa ? Đã mua xe hơi chưa ? Hết mối quan tâm. Tôi đã quen vài thằng đã tốt nghiệp Mỹ về là như thế đó, những “ hạt nhận tốt” như vậy đó, kết quả của chương trính GIÁO DỤC mà ông đang ủng hộ cho Việt Nam là vậy đó ông Ánh ạ.
Tôi khuyên ông nên tìm đọc bài viết của giáo sư Hoàng Tụy “ Giáo dục Việt Nam – xin cho tôi nói thẳng” Đọc ổng sẽ thấy sự bệ rạc, thối nát và te tua của một hệ thống giáo dục CS xây dựng từ năm 1954 đến nay ở VN. Chỉ vì đăng bài này mà tờ báo điện tử tiasang.com bị đóng. Một bài viết chỉ nêu sơ sài thôi mà còn bị khóa miệng ngay tức thì, một tờ báo của bọn CS mà chúng còn thẳng tay không thương tiếc huống hồ ông hy vọng làm việc gãi ngứa cho CS để chúng cho dân Việt Nam hưởng tự do nhân quyền ư.
Không có cái ngớ ngẩn nào như cái ngớ ngẩn này ông Ánh ạ.
Để hiểu được nền giáo dục Việt Nam mà ông định kêu gọi giúp đỡ, tôi nghĩ ông nên tìm hiểu từ cái CĂN BẢN NHẤT. Một trong cái căn bản nhất tôi nêu đây không biết ông đã biết chưa – đó là bằng cấp. Hiện nay nói đến chuyện bằng cấp ở Việt Nam có 3 từ : BẰNG THẬT, BẰNG GIẢ VÀ BẰNG ĐỄU. Với 2 từ đầu tiên chắc ông hiểu nghĩa rồi, còn từ thứ 3 : Bằng đễu – ông có biết nó có nghĩa là gì không ? Nó là bằng giả những lại là bằng thật, nó là bằng thật nhưng lại là giả đấy ông ạ. Nói tóm lại nó KHÔNG PHẢI THẬT, CŨNG KHÔNG PHẢI GIẢ. Tôi xin giải thích để ông rõ như sau :
Quy trình để có được tấm bằng thật là :
1/ Thi tuyển vào đạt thì đăng ký học
2/ Trong quá trình học phải hoàn thành tất cả các bài kiểm tra, bài luận, bài thí nghiệm . . . . đạt điểm tối thiểu điểm 5 ( trong thang điểm Việt Nam là 10)
3/ Phải vượt qua được bài thi tốt nghiệp hay luận văn tốt nghiệp.
Và như vậy được cấp BẰNG THẬT.
Ông có biết rằng lâu nay, các quan chức Việt Nam muốn lên lương, muốn tiến thân thì phải có bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ hay Đại Học. Nếu không có được thì bọn chúng sẽ bị “ dậm chân tại chỗ” tức là không tiến hoặc không lùi trong con đường sự nghiệp, hoặc tệ hơn nếu không có bằng cấp thì chúng sẽ bị sa thải – đây là điều chúng sợ nhất. Vì nếu bị sa thải, với học vấn kém cỏi thì chúng sẽ bị đói, không ai tuyển dụng, không làm nên trò trống gì. Bám vào hệ thống công quyền chúng sẽ được tồn tại bằng cách hưởng lương thấp, nhưng mánh mung cực kỳ dễ nên sống khỏe, tách ra khỏi hệ thống này chúng được xem như người chết rồi.
Muốn tồn tại chúng phải có bằng, muốn có bằng thật chúng phải đi học, mà đi học là việc chúng không thể học được vì nhiều lý do lắm : trình độ kém làm sao tiếp thu kiến thức mới, lâu nay quen nhậu nhẹt mánh mung rồi giờ đầu óc chúng chai sạn rồi, không thể nạp kiến thức nữa. Muốn tồn tại chúng phải bằng mọi giá có tấm bằng. Vậy là chúng làm bằng 2 cách sau để có được tấm bằng nộp cho cấp trên như sau:
1/ Mua bằng giả : tức là bằng được in như thật nhưng không hề có lưu chiểu tại trường cấp nên dễ dàng bị phát hiện.
Đã có nhiều tên mua bằng kiểu này bị lật tẩy nên bọn khác thấy sợ không dám áp dụng nữa, vậy là chúng sáng tạo ra một cách độc đáo khác là không đi học vẫn có bằng.
2/ Lấy Bằng Đễu :
Chúng sẽ tìm thuê một sinh viên chính quy, đăng ký thi tuyển vào một lớp tại chức nào đó, nhưng tên người đăng ký là tên của thằng cán bộ, không phải tên của sinh viên học thay.
Trong suốt quá trình học, người sinh viên này đều có mặt đầy đủ, dự thi tất cả các bài thi đầy đủ kể cả thì tốt nghiệp ra trường, nhưng tất cả đều phải đứng tên thằng cán bộ này, người sinh viên chỉ đóng vai diễn thôi. Cuối cùng trường sẽ cấp BẰNG THẬT cho thằng cán bộ đó – dù hắn không một ngày đi học.
Đáp lại sự học thế của người sinh viên- thằng cán bộ phải trả “ lương” đóng vai trong suốt mấy năm học. Mà tiền thì chúng tham nhũng vô tư.
Vậy là chúng vẫn được tăng lương, được thăng chức, thêm nhiều bổng lộc hơn.
B/ VỀ VIỆC CẤP VISA NHẬP CẢNH CHO ÔNG ANH :
Tôi nghe ông kể rằng trước đây chính quyền CS đã không cấp Visa cho ông, nhưng sau đó họ đưa ra hai điều kiện nếu ông chấp nhận thì cấp Visa và ông đã chấp nhận, điều kiện 1 thì tôi không nghe rõ là điều kiện gì, tôi chỉ nghe rõ điều kiện 2 là không được tổ chức họp báo ( PRESS CONFERENCE).
Thưa ông, ông chấp nhận điều kiện hai có nghĩa là ông chấp nhận cho chính quyền CS BỊT MIỆNG ÔNG, như chúng đã bịt miệng Cha Lý tại phiên tòa ô nhục. Bức ảnh chụp đó chắc ông đã xem nhiều lần, vì nó đã được truyền đi khắp thế giới, hình ảnh biểu trưng cho vấn nạn của nhân dân Việt Nam ngày nay.
Tôi coi hành động này là bước đầu ông đã đầu hàng CS rồi.
Ông nói ông yêu nước, yêu dân Việt vậy khi đến Việt Nam ông phải được quyền nói cho dân Việt ông đến Việt Nam để giúp cải thiện nhân quyền, nhưng CS đã bịt miệng ông rồi thì cả 86 triệu người dân Việt đâu biết đến ông, đâu biết ông gặp ai làm gì.
Nhưng ông đến Việt Nam không phải vì lý do cá nhân, không phải cá nhân ông tự đến, mà ông đến với tư cách DÂN BIỂU LIÊN BANG HOA KỲ, thật đáng tự hào làm sao. Vậy thì bọn CS phải tôn trọng ông – tôn trong vai trò Dân Biểu của ông – và cũng chính là tôn trọng nước Mỹ. Đáng ra, với tư cách đó ông có toàn quyền đi bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam để thăm và tìm hiểu, được gặp bất cứ công dân Việt nào mà ông muốn gặp để trao đổi về tình hình nhân quyền tại Việt Nam như Hòa Thượng Thích Quảng Độ đang bị quản thúc trong chùa, Linh Mục Lý đang bị giam tù, bà Trần Khải Thanh Thủy cũng vậy, kể cả nhóm sắp bị đem ra xét xử như ông Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Huỳnh Duy Thức . .. . . . . . và cả ông Trần Anh Kim vừa mới bị kết án 5 năm 6 tháng tù vì lên án chế độ. Rồi một cô gái thuộc hàng LIỆT NỮ đang bị giam cầm là LÊ THỊ CÔNG NHÂN, để ông thông báo cho họ biết rằng họ không đơn độc, mà ngoài nhà tù này nhiều người vẫn nhớ tới và ủng hộ họ tiếp tục đấu tranh anh dũng. Ngược lại ông sẽ thông báo cho người Việt hải ngoại và dân Việt trong nước biết tình hình sức khỏe, quan trong là tinh thần bất khuất của họ trong tù.
Một Dân Biểu Liên Bang của Hoa Kỳ vừa đặt chân đến sân bay Nội Bài đã đưa cái mặt cho bọn CS DÁN TẤM BĂNG KEO KHÓA MIỆNG, thì thử hỏi ông làm sao hiểu được tình hình Việt Nam mà kêu gọi đồng bào hải ngoại giúp ông ủng hộ chương trình giúp Việt Nam xây dựng hệ thống giáo dục hiện đại.
Ông đến với tư cách một Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ, đến để trợ giúp cho Việt Nam về tài chính, kiến thức, cách thức quản lý và cơ sở vật chất cho hệ thống giáo dục Việt Nam, chứ ông đâu đến Việt Nam để ăn bám bọn CS mà ông lại chấp nhận ở thế hèn hạ là phải bị BỊT MIỆNG rồi mới nhập cảnh Việt Nam.
Đáng ra bọn CS phải trải thảm đỏ, nâng niu ông, tạo mọi điều kiện để ông có thể tìm hiểu VN –
Ông phải được họp báo, được truyền hình trực tiếp các buổi nói chuyện của ông với quan chức CS, được các báo CS đăng bài, phỏng vấn và thông báo cho toàn dân VN biết.
đằng này chúng canh giữ ông như một tội phạm, cho ông gặp những người chúng muốn, gặp vài quan chức CS bàn chuyện chúng cần (cần tiền để xây dựng hệ thống giáo dục), chứ tôi không hề nghe ông kể chuyện dân muốn, và lời hứa của các quan chức CS sẽ làm cho dân là gì ….. tuyệt nhiên không hề có một chút gì giá trị đối với dân cả.
Ông thấy không, có cái chế độ nào hành xử quái đản như chế độ Hà Nội không ?
Chúng tiếp ông với cương vị là thượng khách, nhưng chúng lại dán băng keo lên miệng vị thượng khách này.
Người dân Việt Nam bị mang tiếng là đối tượng hưởng lợi từ các chương trình của Mỹ, nhưng họ không hề hay biết một chút gì cả về chuyến đi, mục đích hay kế hoạch của ông cả. Mà người hưởng lợi do chương trình trợ giúp của Mỹ đối với Việt Nam đó là :
1/ Đối tượng hưởng lợi thứ nhất là LIÊN MINH MA QUỸ giữa quan chức và bọn Mafia nhà thầu xây dựng trường học, nhà cung cấp thiết bị trường học, .. . . . . . . thông qua đấu thầu ma, chúng siêu hạng về khoản này. Chúng sẽ giao cho một nhóm quản lý trường học, thư viện, phòng thí nghiệm, ký túc xá ….. một đống công trình kém chất lượng chỉ sử tối đa 2 đến 3 năm sau đã xuống cấp trấm trọng, chúng lại kêu ca vòi vĩnh Mỹ cho tiền tu bổ, sửa sang. Được cho tiền chúng lại ăn tiếp. Cái vòng lặp là vậy đó..
2/ Con cái những tên quan tham nhũng sẽ được vào học những trường tiêu chuẩn quốc tế mở ở VN – vì họ mới có tiền đóng học phí – bọn này học xong, dùng kiến thức học được sẽ kết hợp với quyền lực của cha hắn – đẻ ra những công ty cổ phần Mafia có vốn lớn, khống chế thị trường VN – bóc lột lại người dân Việt này – tôi liên liệu rằng sẽ có những công ty hàng không, Viễn thông, dầu khí tư nhân ra đời mà vốn đầu tư sẽ là nguồn tài trợ của Chính phủ Mỹ cho chương trình giáo dục VN đấy ông Ánh ạ. Chớ dại mà chui vào rọ CS.
Con em người dân thấp cổ bé họng chỉ được hưởng một quyền duy nhất là : CHẠY XE ĐẾN CỔNG TRƯỜNG QUỐC TẾ XÂY BẰNG TIỀN CHÍNH PHỦ MỸ, ĐỨNG NGOÀI CỔNG NHÌN MÀ THÈM RỒI . . . . . . RA VỀ.
Thưa ông Ánh, ngồi ở Việt Nam nghe lại ông trả lời các câu hỏi của đài hải ngoại, ông nói rằng sẽ giúp Việt Nam mà tôi thấy ông lơ mơ chẳng khác mấy ông Dân Biểu gốc Mỹ đã từng làm, toàn nói viễn vông trên trời, rồi viện trợ tiền cho CS ăn sạch, dân chẳng biết đến cái đặc ân đó chứ đừng nói được hưởng. Tôi nhớ hình như thời Tổng Thống Geogre Bush (con) trước khi hết nhiệm kỳ thứ 2 ông ấy có ký một khoản viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam để trợ giúp công tác phòng ngừa và chữa trị bệnh HIV ở Việt Nam.. Gói tài trợ trị giá khoảng 1 tỷ đô la. Hiện nay có ai báo cho dân Mỹ biết 1 tỷ đô la đó được CS VN dùng vào việc gì ? hết bao nhiêu ? Người bị HIV được hưởng bao nhiêu. Vô túi bọn quan chức CS bao nhiêu ?
Một việc làm phí phạm tiền của dân Mỹ để nuôi mập bọn CS mà thôi.
Ông hãy thay đổi cách làm cũ đi.. Phải đi vào chi tiết cụ thể, đừng viễn vông nữa ông Ánh à.
Tôi xin hiến kế cho ông cách mà người dân sẽ hưỡng thụ trực tiếp từ chương trình giáo dục mà ông đang dự định làm như sau :
Chính quyền CS luôn muốn có một hệ thống giáo dục hiện đại – OK Mỹ hứa sẽ giúp.
NHƯNG ông hãy yêu cầu Chính quyền CS phải thể hiện thiện chí trước khi bàn chuyện giúp bằng cách :
TỔNG BÍ TƯ NÔNG ĐỨC MẠNH HAY ÔNG CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN MINH TRIẾT PHẢI: TUYÊN BỐ HỦY BỎ NHỮNG BÀI HỌC : TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN, KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊ ,TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH , LỊCH SỬ ĐẢNG VIỆT NAM. TRONG HỆ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG TẠI VIỆT NAM NGÀY NAY.
Vì hệ giáo dục Mỹ không hề chấp nhận hệ tư tưởng CS nhồi sọ cho sinh viên. Nên không thể nhồi nhét – vô bổ nữa, kêu gọi nhà cầm quyền hãy có lương tâm, thương xót cho cả triệu sinh viên phải đọc, học và trả lời đúng như sách viết, dù loại sách này họ biết nó không còn giá trị nữa.
Cả triệu sinh viên chán ngán phải nhai cái giẻ rách lý luận này, họ ước ao vứt vào sọt rác để có thêm thời gian học sâu chuyên môn của mình. Nhưng bọn lãnh đạo dốt muốn cho sinh viên phải dốt theo, bằng cách ép buộc học những thứ ngu xuẩn đó để không thể giỏi hơn chúng được.
Nếu ông vận động làm được điều này thì cả triệu sinh viên Việt Nam cảm ơn ông lắm lắm. Rồi các thế hệ trẻ sau này cũng sẽ được hưởng lợi tiếp theo. Làm được như vậy ông đã giải phóng được một phần sự áp chế của CS.
Nhưng tôi cho rằng khi ông nêu vấn đề này thì bọn chúng sẽ “giãy nảy” lên mà xem. Chúng sẽ không chấp nhận đâu. Nếu vậy thì ông sẽ làm gì. Theo tôi nếu một yêu cầu chính đáng này mà chúng từ chối thì ông cũng đừng nên tiếp tục chương trình làm gì, dân vẫn khổ, quan chức thêm giàu mà thôi.
Thư đã dài, hy vọng ông đọc được những dòng này xuất phát từ tâm trí trong sang của một người dân trong nước.
Tôi mong sẽ được lắng nghe ý kiến phản hồi của ông sau khi đọc được lá thư này của tôi.
HÒAN TÒAN ỦNG HỘ BÀ LORETTA SANCHEZ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 22.12.2009
Có người cho đây là việc tại Tiểu Bang California, nhất là vùng Nam Cali, không cần động chạm tới.
Nếu chỉ có việc ông TRẦN THÁI VĂN ra tranh cử ở vùng Nam Cali, thì chúng tôi không động chạm tới làm gì bởi lẽ chúng tôi không biết Ông Trần Thái Văn là ai, rồi Nam Cali cũng xa Thụy sĩ. Nhưng chúng tôi muốn lên tiếng về việc tranh cử này chỉ vì Bà Loretta SACHEZ đã trở thành một chiến hữu đầy nhiệt huyết cùng đồng hành đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam để có TỰ DO, DÂN CHỦ và CÔNG LÝ. Chiến hữu Loretta SANHCEZ không những chỉ được biết đến ở California, mà còn khắp các Tiểu Bang khác và khắp các Cộng đồng Việt Nam trên Thế giới từ Canada, Âu châu và Úc châu. Tại Lưỡng viện Liên Bang Hoa kỳ, ai cũng biết Bà xả thân bênh vực cho Tự do, Dân chủ và Công lý tại Việt Nam. Những nhà Dân chủ đang nằm trong tù tại Việt Nam cũng phải nhớ ơn sự tận tâm lên tiếng bênh đỡ của Bà.
Bài phân tích của Ông TRẦN BÌNH NAM dưới đây rất khách quan và với tâm tình tha thiết đến cuộc đấu tranh tại Quê Hương Việt Nam mà Bà Loretta SANCHEZ là một chiến hữu thực tâm và xả thân đồng hành với chúng ta.
Ông Trần Thái Văn ra cùng một đơn vị nhằm hạ một chiến hữu đang xả thân đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam. Nếu Ông Trần Thái Văn hạ được Bà Loretta SANCHEZ, có thể CSVN hài lòng bởi lẽ CSVN ngại sợ những nhân vật đồng minh gốc nước ngòai cùng đấu tranh với người Việt. Hạ Bà Loretta SANCHEZ, một đồng minh gốc nước ngòai đang cùng mình đấu tranh, đó là việc làm đáng tiếc. Bà Loretta SANCHEZ mang trái tim Việt Nam, Ông Trần Thái Văn mang trái tim Việt Nam, nhưng tiếng nói của Ông tại Quốc Hội Liên Bang yếu hơn tiếng nói của Bà Loretta SANCHEZ bởi lẽ những Dân Biểu Liên Bang có thể nghĩ rằng Dân Biểu Trần Thái Văn gốc người Việt tỵ nạn Cộng sản, nên bây giờ lên tiếng. CSVN cũng có thể ngụy biện cắt nghĩa rằng việc lên tiếng của Dân Biểu Trần Thái Văn chỉ là thái độ “quá khích” chống chế độ VN hiện hành từ những người tỵ nạn. Nhưng nếu việc lên tiếng tại Quốc Hội Liên Bang do Bà Loretta SANCHEZ, thì những Dân Biểu khác không thể nghĩ giống như nghĩ về Dân Biểu Trần Thái Văn và CSVN cũng không thể ngụy biện cắt nghĩa như cắt nghĩa về Dân Biểu Trần Thái Văn.
Vấn đề sang chính Việt Nam để trực diện đối chọi với Cộng sản, cũng có những khác biệt giữa Bà Loretta SANCHEZ và Ông Trần Thái Văn. Bà Loretta SANCHEZ đã không ngại sợ vấn đề an ninh, đã can đảm về tận Việt Nam để trực diện đối chọi. Trong khi đó, vì nghĩ đến an ninh mà Ông Trần Thái Văn gốc Việt Nam, liệu Ông có đủ can đảm về tận Việt Nam để trực diện đối chọi hay không. Ông Trần Thái Văn gốc Việt Nam và CSVN có nhiều mưu chước ngụy tạo lắm. Ông Trần Thái Văn không có đủ can đảm như Bà Loretta SANCHEZ gốc nước ngòai đâu.
Nếu vì quyền lợi đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam, thì chúng ta chọn Bà Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh gốc nước ngòai, đã tận tụy đồng hành với chúng ta.
Theo thiển kiến, chúng tôi nghĩ rằng Ông Trần Thái Văn chỉ nghĩ đến việc lợi dụng số đông người Việt tại Nam Cali mà thăng quan tiến chức cho cá nhân của Ông ta, chứ không phải vì cuộc đấu tranh cam go hiện giờ cho Quê Hương Việt Nam. Nếu vì việc lợi dụng này mà tính tóan thăng quan tiến chức cho cá nhân, đồng thời mong hạ bệ Bà Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh đang đấu tranh cho Việt Nam, thì Ông Trần Thái Văn đã tính tóan lầm. Một tính tóan lầm có thể sẽ mang họa cho chính cái danh của Ông sau này, nghĩa là việc thăng quan tiến chức của Ông thất bại và ngưng tại đó.
Bà Loretta SANCHEZ không phải là người riêng của vùng Nam Cali nữa. Bà đã trở thành một chiến hữu mà các Cộng đồng người Việt khắp nơi ngưỡng mộ:
=> Các Cộng đồng thuộc các Tiểu Bang khác tại Hoa kỳ => Các Cộng đồng thuộc Canada, Liên Âu và Úc châu
Nếu chỉ vì nhằm lợi dụng số đông người Việt tại Nam Cali mà Ông Trần Thái Văn lấy quyết định tranh cử cùng đơn vị nhằm hạ Bà Loretta SANCHEZ để thăng quan tiến chức cho cá nhân mình, thì đây là việc tính tóan sai lầm có thể làm Ông bị danh liệt vì tính tóan sai lầm này.
Các Tiểu Bang khác tại Hoa kỳ sẽ lên tiếng phản đối Ông. Chúng tôi tại các nước cũng lên tiếng phản đối việc tính tóan thăng quan tiến chức cá nhân của Ông mà làm hại cho cuộc đấu tranh chung cho Quê Hương Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 22.12.2009
| | | |
NHÂN VỤ DB TRẦN THÁI VĂN TRANH CỬ, THỬ NHÌN QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH HẢI NGOẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 31.12.2009
Chúng tôi chưa được nghe chính DB TRẦN THÁI VĂN tuyên bố, nhưng khi vào Trang Nhà của Oâng TRẦN BÌNH NAM http://www.tranbinhnam.com/ , chúng tôi được đọc bài của Oâng NGUYỄN TẤN THỌ, Tổng Điều Hợp Ban Vận Động Tranh Cử cho DB Trần Thái Văn.
Khi Oâng TRẦN BÌNH NAM viết ngày 04.12.2009 một bài phân tích rất khách quan và với tấm lòng tha thiết rằng DB Trần Thái Văn nên ra ở một Đơn Vị tranh cử khác với DB Liên Bang Loretta SANCHEZ để tránh việc đối thủ với một Chiến hữu đồng minh nước ngoài đã lâu năm xả thân đấu tranh vì TỰ DO, DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN cho Quê Hương Việt Nam, chúng tôi cũng đã lên tiếng ngày 22.12.2009 với lời kêu gọi HOÀN TOÀN ỦNG HỘ DÂN BIỂU LORETTA SANCHEZ vì cuộc đấu tranh rất cam go tại Quốc nội ở thời điểm này.
Khi đọc bài của Oâng NGUYỄN TẤN THỌ phản biện lại bài của Oâng TRẦN BÌNH NAM, chúng tôi hiểu có sự khác biệt về Quan Điểm đấu tranh: (i) Đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam thoát ách độc tài, hay (ii) Đấu tranh cho thăng tiến địa vị cá nhân tại Hải ngoại. Một đàng nhằm chính yếu Quan điểm Đấu tranh thứ nhất (i), một đàng nhằm chính yếu ở Quan điểm Đấu tranh thứ hai (ii).
Chúng tôi không công kích Quan điểm Đấu tranh thứ hai (ii) nhằm thăng tiến địa vị cá nhân của DB TRẦN THÁI VĂN tại Hải ngoại mà Oâng NGUYỄN TẤN THỌ, Tổng Điều Hợp Ban Vận Động Tranh Cử cho DB Trần Thái Văn, đã trình bầy rất rõ trong bài viết của Oâng. Chúng tôi coi đây là tiếng nói chính thức đại diện cho DB Trần Thái Văn. Trong khi đó, chúng tôi đứng ở Quan điểm Đấu tranh thứ nhất (i) để phân tích và do đó chúng tôi hoàn toàn ủng hộ DB Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh nước ngoài đã cùng đồng hành với chúng ta trong nhiều năm cho Quê Hương Việt Nam.
Chúng tôi phân tích những khía cạnh sau đây:
=> Oâng Nguyễn Tấn Thọ phản ánh Lập trường của DB Trần Thái Văn như thế nào ?
=> Có phải đây là Quan điểm Đấu tranh của đa số người Việt tỵ nạn ở Hải ngoại ?
=> Cái lỗi của DB Trần Thái Văn là ở chỗ nào ?
=> Trách nhiệm Nam Cali, Thủ đô người Việt Hải ngoại
Oâng Nguyễn Tấn Thọ phản ánh Lập trường của DB Trần Thái Văn như thế nào ?
Bài phản biện của Oâng Nguyễn Tấn Thọ, ngoài việc phản bác những phân tích của Oâng Trần Bình Nam, điều mà chúng tôi không muốn nhắc tới trong nội dung bài này, chúng tôi chỉ đưa ra những lý do để Oâng Nguyễn Tấn Thọ kêu gọi Người Việt hãy lấy số đông tại đơn vị 47 (Nam Cali) đánh bại Bà Loretta SANCHEZ:
1) Tăng cường uy thế của người Việt tại Quốc Hội Hoa kỳ
Oâng Nguyễn Tấn Thọ coi việc đấu tranh cho vị trí của những cá nhân người Việt ở Hoa kỳ là quan trọng bắt đầu từ lúc này hay cụ thể là lời tuyên bố để biện minh gượng gạo cho việc cá nhân DB Trần Thái Văn muốn lợi dụng số đông người Việt tại Nam Cali để thăng tiến địa vị của riêng Oâng tại xã hội Mỹ, chứ ý hướng đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam chỉ là thứ yếu đới DB Trần Thái Văn.
Oâng Nguyễn Tấn Thọ viết: “Đã đến lúc chúng ta phải gầy dựng nội lực, uy thế của cộng đồng bằng cách đưa được thêm nhiều tiếng nói trực tiếp - không vay mượn - của chính thành viên trong cộng đồng Việt vào Quốc Hội Hoa Kỳ.“
2) Những hoạt động của DB Trần Thái Văn
Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã liệt kê ra những hoạt động của DB Trần Thái Văn điển hình như: (i) “Thời còn là sinh viên, Dân Biểu Văn đã lãnh đạo phong trào "Project Ngọc" dấn thân cứu người Việt tỵ nạn CS tại các trại Đông Nam Á“; (ii) “Năm 2000, trở thành nghị viên Thành Phố Garden Grove, Dân Biểu Văn đã mở đường, trợ giúp cho giới trẻ mạnh dạn bước vào dòng chính“; (iii) “Năm 2003, cùng với những luật sư trẻ khác, Dân Biểu Văn đã chủ xướng phong trào vinh danh cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại Westminster và Garden Grove“; (iv) “Năm 2007, DB Văn đã tình nguyện đi Thái Lan 2 lần để can thiệp cho chiến sĩ Lý Tống“.
Xem như vậy, thì DB Trần Thái Văn chưa bao giờ có những đấu tranh trực tiếp liên hệ đến những vấn đề của Dân chúng tại Quốc nội như Dân Oan chẳng hạn, chưa bao giờ lên tiếng về Tự do Tôn giáo tại Việt Nam, chưa bao giờ đứng lên bênh đỡ cho những Chiến sĩ đấu tranh và bị đàn áp và bị kết án tại Việt Nam như trường hợp Lm NGUYỄN VĂN LÝ, Ls LÊ THỊ CÔNG NHÂN, Ls NGUYỄN VĂN ĐÀI…, các Nhà Dân vhủ bị bắt và bị đưa ra Tòa, nhất là chưa bao giờ về tại Quê Hương để trực diện đối choiï với ngụy quyền Việt Nam, thậm chí tại nước ngoài Oâng cũng chỉ quanh quẩn tại Tiểu Bang California chứ chưa đấu tranh tại những Tiểu Bang khác. (Trường hợp ra khỏi Hoa kỳ lại là sang Thái Lan cho vấn đề thứ yếu Lý Tống).
Trong khi ấy, Bà Loretta SANCHEZ đã can đảm, xả thân làm việc cho những vấn đề gai góc này tại chính Quê Hương VN mà dường như DB Trần Thái Văn muốn tránh né hoặc không đủ can đảm trực diện đối chọi với CSVN. Lãnh vực đấu tranh của DB Trần Thái Văn là tại nước ngoài, không có những nguy hiểm về an ninh và thuộc về những vấn đề thứ yếu chẳng hạn như vấn đề Lý Tống, trong khi ấy Lãnh vực đấu tranh của Bà Loretta SANCHEZ là chính trên lãnh thổ mà địch có toàn quyền độc đoán về an ninh và gồm những vấn đề đấu tranh hoàn toàn thiết yếu cho đời sống Dân chúng Quốc nội.
3) Hình ảnh người Mỹ gốc Nhật để khuyên và làm gương cho DB Trần Thái Văn
Oâng Nguyễn Tấn Thọ đưa ra gương của Oâng Norman MINETA, một người Mỹ gốc Nhật, như hình ảnh mà DB Trần Thái Văn phải cố gắng đấu tranh như vậy. Oâng Norman MINETA đã làm được gì cho nước Nhật của Oâng hay chỉ tạo được cho mình một địa vị cá nhân trên đất Mỹ. DB Trần Thái Văn theo hình ảnh ông Norman MINETA là đủ chứ không cần phải bận tâm đến những đau khổ mà Quê Hương Việt Nam đang phải chịu dưới độc tài CSVN hay sao ?
Oâng Nguyễn Tấn Thọ viết: “chúng ta hãy cùng nhau suy gẫm lời tâm sự, nhắn nhủ của ông Norman Mineta, một người Mỹ gốc Nhật Bản, cựu Dân Biểu Liên Bang, Bộ Trưởng Thương Mại thời Tổng Thống Clinton và Bộ Trưởng Giao Thông thời Tổng Thống George W. Bush, dành cho Dân Biểu Trần Thái Văn…“
4) Kêu gọi Người Việt Nam Cali lấy số đông hạ Bà Loretta SANCHEZ
Sau khi đưa ra lý do phải gây uy thế người Việt tại Quốc Hội Hoa kỳ và kể ra những hoạt động của DB Trần Thái Văn, Oâng Nguyễn Tấn Thọ, Tổng Điều Hợp Ban Vận Động Tranh Cử cho DB Trần Thái Văn, đã kêu gọi vùng Nam Cali, với số đông người Việt, hãy “lấy thịt đè người“ dồn phiếu cho DB Trần Thái Văn mà hạ bệ Bà Loretta SANCHEZ, nghĩa là hãy chọn quan điểm đấu tranh chính yếu cho khối người Việt Hải ngoại mà để quan điểm đấu tranh cho Quê Hương thành thứ yếu hoặc không cần biết tới.
Ong Nguyễn Tấn Thọ viết: “ Trong tinh thần ấy, chúng tôi tha thiết kêu gọi quý vị lãnh đạo trong cộng đồng, quý đồng hương và nhất là quý cử tri gốc Việt tại địa hạt 47, vì quyền lợi tối thượng của cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại Hoa Kỳ, xin hãy tích cực ủng hộ phương tiện và dồn phiếu cho Dân Biểu Trần Thái Văn trong cuộc bầu cử dân biểu liên bang năm 2010 sắp đến.“
Có phải đây là Quan điểm Đấu tranh của đa số người Việt tỵ nạn ở Hải ngoại ?
Khi chúng tôi viết bài HOÀN TOÀN ỦNG HỘ DB LORETTA SANCHEZ và phổ biến trên các Diễn Đàn Internet, thì phản ứng số đông từ các nơi, từ các Tiểu Bang khác của Hoa kỳ, từ Canada, Liên Aâu, Uùc châu… cho thấy rằng Quan điểm Đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam là quan trọng và do đó họ ủng hộ Bà Loretta SANCHEZ.
Trước hết, chúng tôi xin nói đến tâm tình của cá nhân chúng tôi đối với Quê Hương Việt Nam. Rời khỏi Việt Nam từ năm 1965, nghĩa là đã sống ở nước ngoài 45 năm rồi, chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng mình không còn nghĩ đến Việt Nam nữa và chỉ mong thăng tiến địa vị cá nhân tại nước ngoài, nơi mình cư ngụ. Cách đây 35 năm, sau năm 1975, Đài Truyền Hình Thụy sĩ phỏng vấn một nhóm người Việt tỵ nạn. Nghe giọng nói kiểu Chợ Lớn, chúng tôi hiểu rằng đây là nhóm người mang danh là Việt Nam nhưng gốc Tầu Chợ Lớn. Phóng viên hỏi xem cảm tưởng của họ thế nào khi sang đến Thụy sĩ. Họ trả lời liền rằng họ sung sướng lắm và cảm ơn rối rít Thụy sĩ. Chúngh tôi, người Việt chính hiệu, cảm thấy buồn về thái độ mừng rỡ rối rít này. Phóng viên lại hỏi tiếp xem họ còn mang tâm tình nào đối với Việt Nam. Họ cũng trả lời đơn giản rằng họ sang đến Thụy sĩ sung sướng rồi và lúc này họ đã quên Việt Nam. Thật là câu trả lời của những kẻ ăn cháo đái bát. Không một người Việt chính hiệu nào có quyền trả lời như vậy.
Nhập cuộc đấu tranh tại Hải ngoại, chúng tôi luôn đặt mục đích của đấu tranh là cho Dân tộc và Đất nước Việt Nam. Làm thế nào cho Dân tộc thoát khỏi ngụy quyền độc tài CSVN và làm thế nào cho Đất nước được phát triển. Chúng tôi chưa bao giờ đấu tranh nhằm tạo vị thế cho người Việt sống tại Hải ngoại, được thăng tiến tại xã hội nơi cư ngụ ở nước ngoài.
Chúng tôi nghĩ rằngnhững người Việt tỵ nạn tại những Tiểu Bang khác ở Hoa kỳ cũng chưa quên Việt Nam và chỉ dồn sức vào đấu tranh để vị trí của người Việt được thăng tiến trong xã hội Mỹ.
Chúng tôi cũng không nghĩ rằng những người Việt tỵ nạn tại Canada, Liên Aâu, Uùc châu đã vội quên không đấu tranh cho Quê Hương nữa mà chỉ dồn sức đấu tranh chiếm vị thế của mình tại nước mình cư ngụ.
Quan điểm đấu tranh mà Oâng Nguyễn Tấn Thọ và DB Trần Thái Văn kêu gọi làm lý do biện minh cho việc xử dụng số đông người Việt tại Nam Cali để thăng tiến địa vị cá nhân tại Mỹ không phải là Quan điểm đấu tranh chung của khối người Việt Hải ngoại. Khối người Việt tỵ nạn Hải ngoại luôn luôn nghĩ đến Quê Hương đau thương và đặt mục đích cố gắngh đấu tranh của họ là cho Quốc nội.
Cái lỗi của DB Trần Thái Văn là ở chỗ nào ?
Ở hai Đoạn trên, chúng tôi đã trình bầy hai Quan điểm Đấu tranh. Đâu là những điểm mà chúng ta không có quyền trách DB Trần Thái Văn và Oâng Nguyễn Tấn Thọ, và đâu là những điểm mà chúng ta có thể lên tiếng chê trách hai Ong ?
Chúng tôi không đứng ở phương diện cảm tính như nhớ ơn sự cố gắng đấu tranh của Bà Loretta SANCHEZ để phân tích vấn đề, mà chỉ đứng ở khía cạnh lợi ích khách quan của sự việc mà thẩm định. Trong bài phản biện của Oâng Nguyễn Tấn Thọ, Oâng đã dài dòng phản đối Oâng Trần Bình Nam về vấn đề nhớ ơn nhửng tận tâm đấu tranh cho Việt Nam của Bà Loretta để cố gắng gượng gạo biện minh cho việc đối đầu tranh cử của DB Trần Thái Văn ở cùng Đơn Vị 47 nhằm lợi dụng số đông người gốc Việt mà hất cẳng Bà Loretta SANCHEZ.
=> Những điểm mà chúng ta không có quyền trách DB Trần Thái Văn
Chúng ta không có quyền trách DB Trần Thái Văn và Oâng Nguyễn Tấn Thọ về việc chủ trương Đấu tranh chỉ nhằm thăng quan tiến chức tại Hoa kỳ, nơi hai Oâng đã trở thành công dân của xứ sở mới này. Các Oâng có quyền tự do đấu tranh cho vị trí xã hội của mình.
Mặc dầu hai Oâng đã là gốc Việt Nam, nhưng chúng ta không có quyền đòi buộc hai Oâng phải đấu tranh cứu vớt 85 triệu dân Việt Nam khỏi ách độc tài CSVN, Các Oâng có thể lạnh lùng nói với 85 triệu dân Quốc nội rằng “đời cua, cua máy; đời cáy, cáy đào“, nghĩa là dân Quốc nội hãy ráng mà đấu tranh chính mình để sống, còn hai Oâng đã thoát ra sống sung sướng ở Mỹ rồi nên không ai có quyền đòi buộc hai Oâng phải đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam nữa,
Thậm chí hai Oâng có thể công khai nói với những phóng viên phỏng vấn như trường hợp phóng viên Đài truyền hình Thụy sĩ phỏng vấn nhóm mang Quốc tịch Việt Nam mà nói giọng chệt Chợ Lớn như chúng tôi đã kể ra trong Đoạn trên đây, rằng hai Oâng hiện nay đang sống sdung sướng an toàn tại xứ Mỹ, nên đã quên hẳn những đau khổ tại Việt Nam rồi và không còn nghĩ đến xứ đó nữa, và do đó không còn phải bận tâm thương xót cái dân xứ ấy nữa. Đới với lời tuyên bố như vậy của hai Oâng, chúng ta cũng không có quyền trách móc gì cho thái độ “qua sông đấm cò vào sóng“ của DB Trần Thái Văn và của Oâng Tổng Điều Hợp Ban Vận Động Tranh Cử Nguyễn Tấn Thọ.
=> Những điểm mà chúng ta chê trách DB Trần Thái Văn
Chúng tôi chê trách hai Oâng Trần Thái Văn và Nguyễn Tấn Thọ về hai điểm, đó là: (i) Cố tình đánh lừa dư luận để lợi dụng số đông người gốc Việt mà hạ bệ đối thủ là Bà Loretta SANCHEZ; (ii) Chủ trương hạ bệ người đang tận tình đấu tranh chống CSVN tại Quê Hương Việt Nam.
(i) Cố tình đánh lừa dư luận để lợi dụng số đông người gốc Việt mà hạ bệ đối thủ
Đọc bài phản biện của Oâng Nguyễn Tấn Thọ, chúng tôi thấy rằng Oâng cố tình giấu cái đầu, nhưng lại để hở cái đuôi ra cho người ta thấy. Oâng sợ cái quá khứ tận tình đấu tranh của Bà Loretta SANCHEZ, nên đã gượng gạo nêu những ý chí đấu tranh của DB Trần Thái Văn ra; Oâng sợ cái Quan điểm Đấu tranh cho Quốc nội mà hầu hết khối người Việt tỵ nạn còn chủ trương, nên cố tình nêu chủ trương củng cố địa vị người Việt, nhất là giới trẻ, tại xứ người để lấy phiếu của giới trẻ và giới làm ăn tại Nam Cali.
Khối người Việt tỵ nạn khắp nơi, từ các Tiểu Bang Hoa kỳ đến các nước khác như Canada, Aâu châu, Uùc châu, đều công nhận rằng Bà Loretta SANCHEZ đã tận tình đấu tranh trong nhiều năm trường cho Quê Hương Việt Nam. Chính Bà đã xả thân, không quản ngại hiểm nguy, về tận Việt Nam nhiều lần để trực diện đấu tranh với CSVN độc tài. Chính vì ngại sợ cái quá khứ tận tình đấu tranh ấy, nên Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã cố tình viết giảm thiểu những hiệu quả của Bà Loretta SANCHEZ cho những vấn đề đấu tranh quan trọng, đồng thời cố moi móc đưa ra ca tụng những đấu tranh của DB Trần Thái Văn tại Tiểu Bang California cho những vấn đề ít liên hệ trực tiếp đến Quê Hương Việt Nam, thậm chí ca tụng cả việc DB Trần Thái Văn sang Thái Lan 2 lần cho vấn đề nhỏ của Oâng Lý Tống.
Không thể so sánh hai bình diện đấu tranh của hai người được, nhưng Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã cố tình hoặc không ngay thẳng giảm thiểu Bà Loretta SANCHEZ về những đấu tranh quan trọng cho Quốc nội, đồng thời ca tụng tâng cao những đấu tranh của DB Trần Thái Văn về những điểm thuộc California không trực tiếp quan trọng cho Quê Hương Việt Nam.
Oâng Nguyễn Tấn Thọ cũng ráng làm cân bằng phần nào cho sự chênh lệc giữa hai người bằng cách đưa ra ý chí đấu tranh của DB Trần Thái Văn trong tương lai nếu Oâng được vào Quốcv Hội Hoa kỳ. Cái ý chí đấu tranh trong tương lai của DB Trần Thái Văn không thể đem ra làm cân bằng với cái đã thực hiện đấu tranh trong quá khứ của Bà Loretta SANCHEZ được. Cái ý chí của DB Trần Thái Văn cũng còn phải chịu điều kiện, nghĩa là nếu Oâng được bầu vào Quốc Hội. Chúng ta tin ở quá khứ thực hiện hay tin ở ý chí tương lai với điều kiện ?
Trong bài viết ngày 22.12.2009, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng ngay cả trong tương lai đấu tranh của hai người:
* Tại Quốc Hội Hoa kỳ, tiếng nói đấu tranh cho Việt Nam của Bà Loretta SANCHEZ, một người không phải gốc Việt Nam, dễ được các Dân Biểu khác ủng hộ hơn là tiếng nói của DB Trần Thái Văn, gốc tỵ nạn Cộng sản từ Việt Nam;
* Cũng vậy, tại Việt Nam, Cộng sản ngại sợ việc lên tiếng đấu tranh của Bà Loretta SANCHEZ, đồng minh chiến đấu thuộc nước ngoài, hơn là việc lên tiếng của DB Trần Thái Văn mà CSVN sẽ cắt nghĩa đây là thái độ “quá khích“ chống Cộng của một người Việt Nam tỵ nạn.
* Điều quan trọng hơn cả là vấn đề về tại Việt Nam để trực diện đối đầu với độc tài CSVN. Bà Loretta SANCHEZ, người nước ngoài, không ngại sợ về vấn đề an ninh. Nhưng DB Trần Thái Văn, gốc Việt Nam, mang trong mình những yếu tố ngại sợ về an ninh trước những mưu kế ác độc của CSVN. Những yếu tố thiếu an ninh này cũng có thể là nguồn lo lắng cho chính những thánh phần Gia đình của DB Trần Thái Văn khi những thành phần này về thăm Quê Hương. Những yếu tố thiếu an ninh sẽ làm giảm ý chí đấu tranh của DB Trần Thái Văn vì Oâng và Gia đìnnh Oâng lệ thuộc vào việc về thăm Quê Hương Việt Nam. Người ta thường nói rằng muốn có Lập trường chống CSVN mạnh mẽ và dứt khoát thì phải quyết định không trở về Việt thăm Quê Hương khi CSVN còn nắm quyền.
Cũng trong bài phản biện viết ngày 22.12.2009, Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã cố tình đánh lạc hướng đấu tranh của khối người gốc Việt tại Nam Cali, nhất là giới trẻ và giới kinh doanh tại chỗ. Oâng Nguyễn Tấn Thọ và Dân Biểu Trần Thái Văn biết rõ rệt rằng đại đa số khối người Việt tỵ nạn trên nước Mỹ và khắp 5 châu vẫn còn coi Quan Điểm đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam là quan trọng chính yếu. Các Oâng cũng biết rõ rằnng 85 triệu người dân Quốc nội mong khối người Việt tỵ nạn chưa quên Đất Nước và đấu tranh chính yếu cho Quê Hương, chứ không phải chỉ ngày đêm tìm kiếm cách thế củng cố địa vị cá nhân và tiền bạc tại xứ người. Biết rõ như vậy, nhưng hai Oâng vì tham vọng địa vị cá nhân, đã cố tình ngụy biện đặt nhẹ vấn đề đấu tranh cho Quê Hương và chỉ hoàn toàn nhấn mạnh đến việc củng cố địa vị và tiền tại xứ người. Hai người đã chuyển hướng Quan điểm Đấu tranh. Họ nhằm vào số phiếu của giới trẻ và giới kinh doanh mang nhiều quyền lợi sống tại xứ người.
Vì cố tình lấy phiếu của giới trẻ và giới kinh doanh, Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã ngụy biện chuyển hướng đấu tranh nhằm công danh tại Hải ngoại. Việc ngụy biện chuyển hướng này tạo một trọng tội đối với giới trẻ và giới kinh doanh, đó là làm cho họ quên Đất Nước và Dân tộc 85 triêu người Việt Nam, làm cho họ chỉ nghĩ đến địa vị và làm ăn tại nước ngoài, làm cho giới trẻ và giới kinh doanh giảm hẳng Lập trường chống độc tài CSVN, thậm chí khuyến khích họ về hợp tác với CSVN. Về phương diện này, có thể nói là Oâng Nguyễn Tấn Thọ và DB Trần Thái Văn hữu ý hay vô tình, ví quá ham địa vị cá nhân, mà đổi hướng đấu tranh giống như kế hoạch của Nghị Quyết 36.
(ii) Chủ trương hạ bệ người đang tận tình đấu tranh chống CSVN tại Quê Hương Việt Nam.
Khối người Việt tỵ nạn tại khắp 5 Châu hướng chính yếu cuộc đấu tranh vào việc giải phóng Quê Hương khỏi tay ngụy quyền độc tài CSVN. Với chủ trương đấu tranh như vậy, khối người Việt tỵ nạn có những đồng minh nước ngoài đồng hành đấu tranh với mình cùng trong một chủ trương.
Về mặt chủ trương, DB Trần Thái Văn và Oâng Nguyễn Tần Thọ đã chuyển hướng đấu tranh, cố tình tuyên truyền để người Việt Hải ngoại quên dần cuộc đấu tranh cho Đất Nước. Đây là cái lỗi cố tình phản bội lại Chủ trương đấu tranh của cà Khối người Việt tỵ nạn.
Về mặt thực tiễn trên đường đấu tranh, Khối người Việt tỵ nạn và 85 triệu Dân Quốc nội phải có nhiệm vụ bảo vệ tất cả những ai là đồng minh chiến hữu trong mục đích đấu tranh của mình. Hạ bệ Bà Loretta SANCHEZ, tức là hạ bệ một đồng minh nước ngoài đã tận tình đồng hành với những người chống CSVN. Khối người Việt tỵ nạn chống Cộng có bổn phận bảo vệ Bà Loretta SANCHEZ, một đồng minh chiến hữu cùng đồng hành. Oâng Nguyễn Tấn Thọ và Ban Vận Động Tranh Cử đã phạm một lỗi lầm là đã đưa DB Trần Thái Văn ra cùng một Đơn Vị 47 nhằm triệt hạ Bà Loretta SANCHEZ, một người chống CSVN triệt để và là chiến hữu tận tình cùng đồng hành với chúng ta.
Đây là cái lỗi lầm hiển nhiên là có dụng mưu hạ sát một chiến hữu cùng đồng hành đấu tranh. Đây là tội phản bội chiến hữu.
Trách nhiệm Nam Cali, Thủ đô người Việt Hải ngoại
Những người Việt tỵ nạn khắp Thế giới đều coi Nam Cali với Little SAIGON là Thủ Đô của người Việt Hải ngoại. Dân chúng Quốc nội 85 triệu và chúng tôi, những người Việt ở xa Thủ đô tỵ nạn ấy, trông ngóng quyết định của khối người Việt tại Thủ đô. Họ có theo lời nguỵ biện của DB Trần Thái Văn và Oâng Nguyễn Tấn Thọ, vì tham vọng thăng quan tiến chức cá nhân, mà quyết định bằng lá phiếu:
=> Coi nhẹ hay quên đi mục đích đấu tranh chống độc tài CSVN để giải phóng Quê Hương, để chỉ chú tâm đấu tranh củng cố địa vị và tiền tài tại xứ người.
=> Làm cho giới trẻ và giới kinh doanh quên đi bổn phận và trách nhiệm đối với Quê Hương VN đau khổ, thậm chí còn hợp tác với CSVN theo chủ trương của Nghị Quyết 36.
=> Làm công việc phản bội lại những chiến hữu đồng minh nước ngoài cùng đồng hành trong công cuộc giải phóng Quê Hương.
Khối người Việt tỵ nạn Hải ngoại và 85 triệu Dân Quốc nội nhìn vào quyết định của người Việt ở tại Nam Cali, Thủ đô người Việt Hải ngoại.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
KINH DOANH QUYỀN CHỨC TRONG CƠ CHẾ CSVN
"Kinh doanh" quyền chức - Một hiện tượng đáng lo ngại
Mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.
LTS: Chuyện "chạy chức chạy quyền" xảy ra lâu nay ở một số nơi đã khiến không ít nhà lãnh đạo cũng như người dân quan tâm, lo lắng, thậm chí trở thành đề tài chất vấn tại Diễn đàn Quốc hội. Đây là một hiện tượng không phổ biến song rất đáng lo ngại và cần được đấu tranh loại trừ.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều bày tỏ góc nhìn riêng về hiện tượng này.
Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi.
Không phải ngẫu nhiên mà dân gian xì xào với nhau, "kinh doanh" quyền chức là thứ kinh doanh mau lãi nhất.
Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn đề gây đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn đề này.
Ai cũng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.
Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.
Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...
Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?
Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?
Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...
Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.
Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.
Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.
Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.
Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.
Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.
Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.
Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.
Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?
HOAN HÔ GOOGLE
Hôm Thứ Tư tuần này, Google tuyên chiến với cầm quyền Bắc Kinh. Google tuyên bố là đã có những tấn công vào hệ thống Gmail cũng như hạ tầng cơ sở kỹ thuật phát xuất từ Trung Quốc. Do đó công ty quyết định từ nay sẽ không tuân thủ lệnh tự kiểm duyệt của cầm quyền Bắc Kinh nữa, và nếu không thể tiếp tục thì có thể đi đến quyết định rút lui khỏi thị trường Trung Quốc.
Nhưng tại sao Google, trong nhiều năm, cũng như các công ty kinh doanh Tây Phương khác, đã sẵn sàng theo đuổi kinh doanh bất kể lương tâm, bỗng nhiên thay đổi ý kiến.
Một phần nào giải thích thái độ của công ty, tờ New York Times kể lại câu chuyện của cô Tenzin Seldon, sinh viên 20 tuổi của Viện Ðại Học Stanford. Cô Seldon đột nhiên nhận được một thông điệp từ văn phòng viện yêu cầu cô liên lạc với Google vì Gmail của cô đã bị tin tặc tấn công. Tenzin, vốn gốc người Tây Tạng, là một trong nhóm tranh đấu cho nhân quyền tại quê cũ. Lập tức cô liên lạc với giám đốc Luật Pháp của Google, David Drummong.
Cô Seldon kể lại là ông David cho cô biết địa chỉ Gmail của cô đã bị một người ở Trung Quốc đột nhập khiến công ty rất lo ngại và yêu cầu cô cho mượn cái laptop của cô. Ngay lập tức cô thay password và cẩn thận hơn trong những gì cô viết qua email. Cô cũng cho phép Google mượn cái laptop. Chuyện này xảy ra cách đây hơn một tuần. Tuần này họ trả lại máy cho cô và nói là không tìm thấy virus hay là các chương trình xấu nhưng quả là địa chỉ Gmail của cô đã bị lén lút đột nhập. Google xác nhận câu chuyện của cô sinh viên gốc Tạng, nhưng không chịu cho biết là có bao nhiêu nhà tranh đấu đã là nạn nhân của các cuộc đột nhập như vậy.
Ðiều chắc chắn là một người bình thường ở Trung Quốc, dầu có tò mò đến đâu, cũng không “hack” vào email của một nhà tranh đấu cho người dân Tây Tạng. Kẻ chủ mưu vụ đột nhập này chắc chắn phải vô cùng lo ngại về hoạt động của những người chống đối ở Tây Tạng nên mới tìm cách đột nhập một địa chỉ email tư nhân như vậy.
Cho đến nay, mức độ của sự tấn công vào Google và vài chục công ty khác vẫn còn chưa rõ, nhưng tin này đã làm cho không phải chỉ các nhà kinh doanh mà ngay chính Washington cũng lo ngại. Chính phủ Hoa Kỳ, kể từ chính phủ Bush nay đến chính phủ Obama, đã bày tỏ quan ngại về an ninh trên hệ thống computer của thế giới và các cuộc tấn công xuyên qua Internet. Các nhà nghiên cứu độc lập về an ninh Internet cho là có ít nhất 34 công ty đã bị đột nhập bởi những cuộc tấn công phát xuất từ Trung Quốc. Theo các chuyên gia này, trong số các công ty đó có Adobe, Symantec, Yahoo và Dow Chemical, và mục tiêu là gián điệp kỹ nghệ.
Tờ Washington Post giải thích là mục tiêu các cuộc tấn công này có vẻ nhắm đến những kỹ nghệ chiến lược mà Trung Quốc đang còn thụt hậu. Các cuộc tấn công vào những công ty chuyên về kỹ nghệ quốc phòng là nhắm để tìm tin tức về các hệ thống vũ khí, trong khi các công ty kỹ thuật là để tìm mật mã gốc (source code) vốn là nền tảng của các chương trình điện toán.
Trên blog của mình, ông Drummond của Google giải thích là vào giữa Tháng Mười Hai năm rồi, Google đã tìm thấy “một cuộc tấn công tinh vi và có mục đích” vào hệ thống computer của công ty “phát xuất từ Trung Quốc.” Cộng thêm vào cuộc tấn công đó là những cuộc đột nhập Gmail của một số các nhà tranh đấu cho nhân quyền ở Hoa Kỳ, Âu Châu và tại chính Trung Quốc. Và theo ông Drummond, chuyện đột nhập Gmail này xảy ra khá thường xuyên. Chuyện này, cùng với sự gia tăng kiểm duyệt của cầm quyền đã làm cho Google thấy cần phải “nghiên cứu lại sự khả thi” của công việc làm ăn của họ tại Trung Quốc. Trong năm vừa qua, Google cũng đã có nhiều vụ đụng độ với Bắc Kinh. YouTube đã bị chặn khi cho phổ biến một đoạn phim cho thấy cảnh công an đánh các nhà sư Tây Tạng. Dịch vụ Blog của Google cũng gặp nhiều cản trở với hiện nay không làm sao vào được ở Bắc Kinh. Trong khi đó Twitter và Facebook đã bị chặn từ nhiều tháng nay.
Cũng có thể nói hành động của Google dựa trên quyền lợi hơn là vì lý tưởng. Ở Trung Quốc, tuy thị trường lớn thật, với trên 300 triệu người được coi là “công dân mạng,” Google chỉ chiếm được có 30% thị phần. Thật ra gần đây Google đã tăng được thêm 3% và hiện nay chiếm được 33% thị phần. Thành ra, rút lui ra khỏi Trung Quốc cũng không gây thiệt hại bao nhiêu cho công ty trong khi lại còn có thể giúp công ty có thể được ủng hộ từ những khách hàng ở Tây Phương.
Nhưng thật ra nhiều công ty Tây Phương cũng đang ở trong cái thế của Google. Tuyên bố trên thông tấn xã AFP, ông Duncan Clark, một nhà tư vấn, nhận xét là ngày càng có sự thiếu cân xứng giữa lập trường của các công ty Tây Phương và cầm quyền Bắc Kinh. “Ở đây (Trung Quốc) người ta nghĩ không ai có thể bỏ qua Trung Quốc, nhưng tôi nghĩ nay nhiều công ty đang nghĩ là không ai c&oa |
|
|
|