|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN --------------------------------------------------------------------------QUAN DIEM =============================================================== |
| | CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 04:
CẢNH CÁO TỘI HÌNH CSVN: ĐỪNG LÀM LẠM PHÁT TIỀN TỆ ĂN CƯỚP NỮA
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 09.10.2008
Trên bất cứ tờ giấy bạc nào của Thụy sĩ, đều đề rõ rệt câu sau đây:”Les Billets de Banque sont protégés par le Droit Pénal” (Những giấy bạc Ngân Hàng được che chở bởi Hình Luật). Nếu Nhà Nước bắt được ai in bạc giả, người đó bị xử theo Hình Luật tới án tử hình.
Chính theo tinh thần này mà chúng tôi viết lời Cảnh Cáo Nhà nước CSVN. Dân có quyền đòi hỏi xử án Nhà Nước nếu Nhà Nước tự động in giấy bạc mới không có bảo chứng Kinh tế để pha trộn với giấy bạc đã được bảo chứng bằng sức làm việc của người Dân.
Chúng tôi đã viết bài về Lạm phát Tiền tệ in kèm dưới đây. Trong tình hình Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện giờ và trong tình trạng thiếu vốn của Kinh tế Việt Nam lúc này, Nhà Nước có thể tự động quyết định in thêm giấy bạc chưa được bảo chứng để xử dụng, pha trộn với giấy bạc đã mang giá trị tiêu dùng (Billets portant du Pouvoir d’Achat). Giấy bạc mới in ra, chưa qua hệ thống bảo đảm Kinh tế, chỉ là mảnh giấy không có giá trị mua bán (Sans Pouvoir d’Achat). Việc tung những giấy bạc này vào khối tiền đang lưu hành là hành động ăn cướp mồ hôi nước mắt Dân.
Chúng tôi viết lời Cảnh Cáo vì thấy rằng hoàn cảnh đang đẩy Nhà Nước Việt Nam độc tài vào con đường ăn cướp, bất công này với phương tiện phát hành Tiền tệ từ quyết định Chính trị độc đoán nằm trong tay mình. Những ý do như sau:
1) Trong tình trạng Lạm phát, Nhà Nước coi như khối Tiền lưu hành quá nhiều, nên muốn thâu và thắt chặt khối tiền về. Khối tiền lưu hành trước đây quá lớn theo nhận định của Nhà Nước, nhưng sự tăng phồng đó, một phần là do số ngoại tệ, nhưng một phần cũng là do Nhà Nước đã làm Lạm phát Tiền tệ do việc in giấy bạc chưa bảo chứng tung ra.
2) Nhà Nước quyết định tăng Lãi suất lên cao quá độ. Việc đánh lên Lãi suất như vậy có hai hậu quả: (i) Nhà Nước muốn dụ Dân tăng Tiết kiệm để gửi Tiền vào Ngân Hàng; (ii) Nhưng việc tăng Lãi suất cao như vậy lại làm cho Thị trường thiếu vốn vì giá thuê vốn lên quá cao. Phương diện thứ hai này đang tàn phá các Doanh Nghiệp (trừ doanh nghiệp Nhà Nước lấy vốn chùa do Nhà Nước cung cấp). Các doanh nghiệp thiếu vốn và đang đi đến phá sản. Đây là tình trạng mà chính Nhà Nước công nhận.
3) Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay mang đến cho Việt Nam hai hậu quả:
a) Vì Khủng hoảng, Hoa kỳ và Liên Aâu cũng như những nước Á châu sẽ giảm tiêu thụ, giảm mua hàng từ Việt Nam. Xin lưu ý rằng hoạt động Kinh tế của Việt Nam là nhằm xuất cảng (70%) ra nước ngoài, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Vì vậy hoạt động của những Xí nghiệp sản xuất sẽ giàm hẳn xuống.
b) Việc phát triển Kinh tế Việt Nam dựa chính yếu trên vốn đầu tư nước ngoài. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đang làm khan hiếm vốn tại chính nước ngoài: Hoa kỳ, Liên Aâu hay những nước trong vùng. Như vậy việc khan hiếm vốn nội địa do quá tăng Lãi suất cộng thêm với việc khan hiếm vốn nước ngoài do Khủng hoảng Tài chánh sẽ làm cho Kinh tế Việt Nam hoàn toàn thiếu vốn.
Chúng tôi trích ra đây lời nhận xét của Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)
Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng.
Nhận xét này rất giống cho tình trạng ở Việt Nam. Vốn nước ngoài đã đổ vào Việt Nam làm việc. Kinh tế Việt Nam làm việc 70% cho xuất cảng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng Tài chánh hiện nay làm cho Việt Nam thiếu vốn và làm giảm xuất cảng hàng ra nước ngoài. Các Xí nghiệp phá sản vì thiếu vốn và thiếu khách đặt mua hàng. Nhân công từ các vùng quê kéo về thành thị để làm việc trong các xí nghiệp. Bây giờ sa thải họ và phải đẩy họ trở lại những vùng quê nghèo nàn. Việc xáo trộn xã hội không thể tránh được.
Tình trạng thiếu vốn nước ngoài, khan hiếm (mắc mỏ) vốn nội địa và giảm sút đặt mua hàng của nước ngoài sẽ đưa đến phá sản những xí nghiệp. Kinh tế suy thoái sẽ đưa đến tình trạng thiếu hụt số thu cho Nhà Nước. Cộng thêm vào đó, lại có tình trạng mất cân bằng cán cân thương mại do nhập siêu quá nhiều. Đồng thời Nhà Nước đang phải gánh vác số chi khổng lồ cho những lãng phí từ các Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ đợi sự cung cấp vốn từ Nhà Nước.
Ngân sách của Nhà Nước tất nhiên thiếu hụt. Nhà Nước bị đẩy đến tình trạng phải tìm đủ mọi cách để có đủ Ngân sách chi tiêu. Nhà Nước trong những năm trường đã mang những món nợ lớn đối với nước ngoài, nên việc vay mượn thêm không phải là dễ dàng.
Với tình trạng như vậy, Nhà Nước độc tài nghĩ đến việc phát hành Tiền tệ mới để tiêu dùng. Đây là việc Lạm phát Tiền tệ mà chúng tôi đã viết dài đính kèm dưới đây.
Chúng tôi xin nhắc lại đây lời của Giáo sư Florin AFTALION, người đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2) (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Chúng tôi viết bài Cảnh Cáo Nhà Nước CSVN vì thấy tình trạng chung Kinh tế và Tài chánh đang đẩy CSVN độc tài đến việc phạm cái TỘI LỖI Lạm phát Tiền tệ này. Tội này phải được xử theo Hình Luật.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH: Bài 05:
LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE) CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 02.10.2008
Vào tháng 10 năm ngoái 2007, khi viết về những triệu chứng Lạm phát trong những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi đã dựa trên những bài viết của những Nhà Kinh tế chuyên nghiệp, những Giáo sư Kinh tế như Alain FAUJAS, Florin AFTALION đăng trong nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với những đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm Phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển); (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER (Lạm Phát phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả khi Chính trị có thể chuộng nó); (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh hoạn vì vật giá tăng).
Kinh tế gia Alain FAUJAS đã khẳng định như sau:”Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois ou vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit de plein fouet des prix arbitraires” (LE MONDE, Mercredi 31.10.2007, page 13) (Khi có xâm lấn chính trị (các đảng Cộng sản Trung quốc hay Việt Nam) vào thương mại, tài chánh và kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng tay những giá cả độc đoán).
Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2) (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Sau khi viết xong loạt bài này, thì đầu năm 2008, tình hình Lạm phát bùng nổ ở Việt Nam với mức cao đặc biệt. Vật giá tăng vọt và Dân nghèo khổ cực. Nhà nước ồn ào đưa ra những biện pháp chống Lạm phát. Thế rồi sau hồi ồn ào với những biện pháp để mỵ dân, Dân nghèo vẫn tiếp tục sống trong khổ cực vì vật giá, nhưng Nhà nước yên tiếng không và người ta không biết kết quả của những biện pháp chống Lạm phát ra sao.
Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế tại Việt Nam bùng nổ từ đầu năm 2008. Rồi ngày nay, cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế đang diễn ra trầm trọng từ Hoa kỳ, Liên Aâu và toàn Thế giới, chắc chắn mang ảnh hưởng tàn phá thêm đến Tài chánh/Kinh tế Việt Nam.
Bài QUAN ĐIỂM thứ 5 trong loạt bài Chủ đề này chỉ hạn hẹp vào Lạm phát ở phương diện Tiền tệ. Chúng tôi bàn tới những khía cạnh sau đây:
=> Tình trạng Lạm phát là như thế nào
=> Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ và Đời sống Kinh tế thực
=> Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) ở Việt Nam
=> Lạm phát Tiền tệ được che chở ở một Nhà Nước dộc tài nắm Độc quyền Kinh tế
Tình trạng Lạm phát là như thế nào
Tình trạng Lạm phát có thể được định nghĩa theo những góc nhìn khác nhau. Giáo sư Joseph DEISS là cựu Bộ trưởng Kinh tế và cựu Tổng Thống Thụy sĩ. Chúng tôi đưa ra những định nghĩa của Gs Joseph DEISS vì cũng là đồng nghiệp của chúng tôi (Trích trong cuốn ANALYSE ECONOMIQUE DE LA SUISSE, Collection Vie et Economie, Edition Fragnìeres Suisse 1982).
Đứng về Thị trường tiêu thụ thực của Sản phẩm, thì “L’inflation est une situation de déséquilibre: il y a inadaptation entre l’offre et la demande de biens et de services“ (Lạm phát là tình trạng mất thăng bằng: một việc không cân xứng giữa cung và cầu cũa hàng hóa và dịch vụ).
Đứng về liên quan đến Tiền tệ, thì “L’inflation est un processus de hausse des prix. La monnaie se déprécie par rapport aux marchandises et elle perd une partie de son pouvoir d’achat. (Lạm phát là một tiến trình tăng giá cả. Tiền tự mất giá so với hàng hóa et đồng tiền mất một phần khả năng mua bán hàng của nó.)
Như đầu đề của Bài đã hạn định, chúng tôi chỉ quan tâm đến câu định nghĩa thứ hai về Lạm phát trong tương quan giữa Tiền tệ và Hàng hóa Kinh tế thực. Chính mối tương quan này mà chúng ta phải tìm hiểu Lạm phát Tiền tệ đã dự phần vào Lạm phát tổng quát ở Việt Nam như thế nào.
Chúng tôi muốn lấy một tỉ dụ nôm na cho dễ hiểu tình trạng Lạm phát liên quan đến Tiền tệ. Người Công nhân lĩnh lương được 150'000 đồng. Anh dành ra 40'000 đồng để mỗi sáng đi ăn phở. Đầu năm, giá tô phở là 2'000 đồng. Như vậy là anh có thể ăn được 20 tô phở. Phở là hàng hóa thực của Kinh tế. Đến giữa năm, giá mỗi tô phở là 4'000 đồng. Lương của anh vẫn giữ nguyên 150'000 đồng/ tháng và anh vẫn chỉ có thể dành ra 40'000 đồng để ăn phở Như vậy lúc này, anh chỉ có thể mua được có 10 tô phở. Nếu việc sản xuất phở giảm lượng đi, thì đó là Lạm phát của đời sống Kinh tế thực. Nhưng nếu việc sản xuất lượng phở vẫn như cũ, thì việc Lạm phát này có hai lý do: một là người bán phở tăng giá vì tình trạng Kinh tế chung hoặc là do đầu cơ; hai là số Tiền 40'000 đồng anh đang cầm đã mất giá, nghĩa là không còn khả năng mua phở như đầu năm.
Chính ở khía cạnh mất giá đồng tiền này mà chúng tôi đi tìm những lý do cho Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire). Cái việc mất giá đồng tiền này không phải là do anh làm. Vậy thì do ai ?
Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ và Đời sống Kinh tế thực
Có hai giai đoạn đưa ra những Lý thuyết cắt nhgĩa tương quan giữa đồng Tiền (tờ giấy 1'000 đồng chẳng hạn) và Đời sống Kinh tế với hàng hóa thực (tô phở chẳng hạn). Không ai nhai tờ giấy 1'000 đồng để bụng khỏi đói. Nhưng ăn tô phở thì bụng hết đói. Việc hết đói là đời sống kinh tế thực, trong khi ấy tờ giấy 1'000 đồng chỉ là phương tiện mua tô phở. Vì vậy, người ta phân biệt ra hai Lãnh vực: Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực và Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh. Hai Lãnh vực có những liên hệ như thế nào ?
=> Lý thuyết Định Lượng Tiền bạc (Théorie Quantitative de la Monnaie)
Đây là Lý thuyết đơn giản và tiên khởi cắt nghĩa tương quan giữa Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh và Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực. Lý thuyết được đưa ra đầu tiên ở Thế kỷ XVIII bởi David HUME và Richard CANTILLON. Theo hai tác giả này, thì nếu tăng gấp đôi lượng tiền cho một cộng đồng Kinh tế, thì tức khắc vật giá sẽ tăng lên gấp đôi. Nhưng phải đợi đến cuối Thế kỷ XIX và đầu Thế kỷ XX, thì Irving FISHER mới đưa ra Công thức sau đây:
M.V -------- = P T
M : Lượng Tiền thả ra cho cộng đồng Kinh tế; V : Tốc độ lựong Tiền lưu hành; T: Những sản phẩm thực Kinh tế lưu hành trong Cộng đồng; P: Mức tổng quát giá cả.
Cứ theo Công thức của FISHER, thì nếu lượng tiền lưu hành (M.V) không thay đổi, mà Lượng hàng hóa lưu hành (T) sút kém, thì Vật giá tổng quát (P) tăng lên. Đây là Lạm phát thực. Nhưng nếu mức sản xuất và lưu hành hàng hóa giữ nguyên, mà vì lý do nào đó Lượng Tiền lưu hành tăng lên, thì Vật giá tổng quát (P) cũng tăng lên. Đây là Lạm phát về phía Tiền tệ. Việc tăng Lượng Tiền có thể do việc tung ra cộng đồng một số Tiền mới in, hoặc do việc tăng tốc độ lưu hành Tiền tệ (V). Tỉ dụ bình thường Công nhân lĩnh lương tháng. Nhưng nếu áp dụng việc trả Lương tuần (như bên Mỹ), thì tốc độ lưu hành Tiền sẽ được nhân tăng lên.
=> Lý thuyết Hội nhập Tiền tệ (Théorie de l’Intégration Monétaire)
Từ J.M.KEYNES, nhất là Milton FRIEDMAN, trường phái Chicago, thì Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh không đứng ngoài Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực như khách bàng quan. Phải có một sự Hội nhập Tiền tế, Tài chánhä vào Lãnh vực Đời sống Kinh tế để lượng tiền mới mang một giá trị mua bán. Chu trình Hội nhập như sau:
Đồng Tiền mới in ra từ Ngân Hàng Phát Hành (Trung ương) chưa mang giá trị mua bán. Đó chỉ là một mảnh giấy không hơn không kém. Đồng Tiền ấy phải qua hệ thống sản xuất dưới dạng trả lương cho Công nhân chẳng hạn. Công nhân nhận được đồng Tiền. Đây là đồng Tiền bắt đầu có giá trị mua bán. Khi hàng hóa sản xuất thực được đưa ra Chợ, Công nhân mang đồng Tiền đến mua hàng hóa, thì có sự tương đương của đồng Tiền với Hàng hóa. Khi có sự tương đương như vậy, thì đây là đồng Tiền thực, có giá trị mua bán.
Chính đời sờng sản xuất Kinh tế thực đã mang lại cho tờ giấy Tiền lúc ban đầu có một giá trị (Pouvoir d’Achat).
Bây giờ nếu vì một lý do nào đó, Ngân Hàng Phát Hành in ra một lượng Tiền mới tinh mà không cho lượng tiền mới ấy vào Chu trình Hội nhập, thì lượng Tiền mới này củng chỉ là mớ giấy chưa có giá trị mua bán (Pouvoir d’Achat). Nếu Nhà Nước đem số Tiền mới in này thả đại vào Lượng Tiền đang lưu hành, thì đó là hành động lưu manh đánh lận con đen pha lộn Tiền thực (đã Hội nhập) và Tiền chưa có khà năng Kinh tế (chưa Hội nhập). Đây là hành động ăn ướp giá trị Tiền thực của Công nhân... Khối Tiền đã Hội nhập cộng chung với Khối Tiền chưa Hội nhập làm cho Vật giá tăng lên, nghĩa là Tiền mất giá. Đây là hành động ăn cướp Tiền tệ phải xử tử hình theo Luật Tiền tệ.
Một Nhà Nước tự động tăng lượng Tiền mới chưa Hội nhập Kinh tế là Nhà Nước đáng phải chịu tội tử hình này.
Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) ở Việt Nam
Theo những lý luận trên đây, nhất là việc Hội nhập Tiền tệ, chúng ta xem đâu là cái phần Lạm phát Tiền tệ làm cho tình trạng Lạm phát ở Việt Nam trở thành trầm trọng. Cái phần này làm cho đồng Tiền Việt Nam mất giá. Trước khi nói đến tình trạng Lạm phát Tiền tệ ở Việt Nam, chúng tôi đưa ra những tỉ dụ lạm phát có tính cách Lịch sử.
Xin nhắc lại lời khẳng định của Giáo sư Florin AFTALION về những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:
”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Vào những thập niên 1980, tình trạng Lạm phát Tiền tệ lan tràn tại Phi Châu và Nam Mỹ. Lạm phát Tiền tệ ở Ba Tây lên tới mức 1000% vào thập niên 1980.
Tỉ dụ một Sĩ quan cấp Tá từ trong rừng tại Phi châu, dẫn quân về Thủ đô làm Đảo chánh (Cách Mạng). Trong tình trạng chiến tranh dành quyền hành, nền Kinh tế thực không tăng mà còn tụt dốc, nghĩa là số lượng hàng hóa(T) giảm hẳn. Nhưng Oâng Tá ấy lên làm Nguyên Thủ Quốc gia, bây giờ phải nuôi quân sĩ và nuôi công chức. Làm thế nào để trả lương hàng tháng. Oâng đến Ngân Hàng Phát Hành và yêu cầu Thống Đốc in cho 10 tỉ đơn vị tiền hiện hành. Oâng Thống Đốc thấy đây là trái nguyên tắc phát hành Tiền tệ. Nhưng Oâng Tá Nguyên Thủ Quốc kề súng lục vào màng tai Thống Đốc. Thế là 10 tỉ tiền mới được in ra để Oâng Tá trả ương lính và công chức. Tỉ dụ khối Tiền đã hội nhập (M.V) và có giá trị mua bán hiện giờ là 5 tỉ và lượng hàng hóa sản xuất và lưu hành (T) là 20'000'000 đơn vị. Vật giá tổng quát (P) được tính hiện hành với khối tiền đã hội nhập kinh tế như sau:
M.V 5'000'000'000 đơn vị tiền --------- = P = ---------------------------------- = Giá = 250 T 20'000'000 đơn vi hàng
Nhưng vì tình trạng chiến tranh, Đảo Chánh, Cách Mạng, nên số lượng hàng sản xuất và lưu hành giảm xuống chỉ còn 10'000'000 đơn vị. Đồng thời Oâng Tá thả trực tiếp (không Hội nhập Kinh tế) số tiền mới in 10 tỉ vào cộng đồng Kinh tế qua ngả trả lương trực tiếp cho lính và công chức. Giá tổng quát của Thị trường sẽ lạm phát như sau:
M.V 15'000'000'000 đơn vị tiền --------- = P = ---------------------------------- = Giá = ’500 T 10'000'000 đơn vi hàng
Lạm phát tổng quát tăng 500%. Nếu không tăng lượng tiền mới in ra và nếu chỉ có giảm lượng hàng, thì lạm phát chỉ tăng 200%. Như vậy trong 500% Lạm phát tổng quát, Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) là 300%. Cái Lạm phát 200% là do yếm kém Kinh tế.
Qua tỉ dụ tính toán trên đây, chúng ta có thể nói rằng tình trạng Lạm phát ở Việt Nam đặc biệt cao hơn các Quốc gia trong vùng mặc dầu cùng ở trong hoàn cảnh Kinh tế chung như nhau. Việc lạm phát cao trội đặc biệt này ở Việt Nam đến từ hai phía:
* Về sản xuất Kinh tế thực sự: yếu kém từ những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ lo tham nhũng, lãng phí mà không lo tăng năng suất hoạt động trong ngành nghiệp. Các Tập đoàn này làm những việc bên lề như dùng vốn chơi chứng khoán chẳng hạn.
* Về phía Tiền tệ: đó là sự phát hành không Hội nhập Kinh tế những phương tiện Tiền tệ:
=> Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam theo lệnh của quyền lực Chính trị độc tài, cho in Tiền mới ra (chưa Hội nhập Kinh tế) để thả vào Lượng Tiền thực đã Hội nhập. Đây là việc làm cướp bóc Tiền thực của người dân đã kiếm được qua Hội nhập Kinh tế (Tiền lương). Hành động này là hành động ăn cướp đáng tội tử hình. Nếu chúng ta lưu ý đến những vụ đổi Tiền ở Việt Nam, thì đây cũng là dịp để ăn cướp Tiền thực có giá trị mua bán hàng hóa.
=> Hệ thống Ngân Hàng Thương mại không phát hành Tiền công khai (Billets de Banque) như Ngân Hàng Nhà Nước, nhưng lại phát hành Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) như Credit Cards, Cheques, Letter of Credit, Promissory Notes, Bank Guarantees, Standby Letter of Credit. Đây là những phương tiện mua bán giống như Tiền tệ. Khi các Ngân Hàng Thương Mại phát hành bừa bãi Tiền tệ tương lai (Virtual Money) chưa có hiện thực để tiêu dùng cho hàng hóa hiện tại như vậy, thì đó là nguồn làm tăng Khối Tiền đang lưu hành và do đó làm Lạm phát Tiền tệ. Việc phát hành này còn tệ hơn nữa khi mà những Ngân Hàng Thương mại lại thiếu phần tiền cọc tối thiểu bảo chứng. Tôi xin kể ra tỉ dụ cụ thể: cách đây 5 năm, tôi nhận được một tờ Bảo Lãnh Ngân Hàng (Bank Guarantee) phát hành bởi Ngân Hàng Hàng Hải Việt Nam. Tờ Bảo Lãnh trị giá tiền mặt (Face Value) là USD.300'000'000.-, trong khi đó tôi biết vốn của Ngân Hàng này chưa tới USD.10'000'000.- Tờ Bảo Lãnh được chuyển qua Texas cho một Công ty Mỹ gốc Việt, rồi chuyển qua California. Từ California, tờ Bảo Lãnh được chuyển về Tân Đề Li cho một Công ty Tài chánh Aán độ. Công ty này chuyển sang Geneva cho tôi để nhờ tôi lo liệu đầu tư vào Chương Trình Lợi Nhuận Cao. Việc phát hành này làm tăng Khối Tiền và tất nhiên đưa đến Lạm phát Tiền tệ, nếu chúng ta xử dụng mua bán trong Lãnh vực Kinh tế thực sự.
Lạm phát Tiền tệ được toàn quyền áp dụng trong CƠ CHẾ Chính trị độc tài nắm Độc quyền Kinh tế
Như trong phần trên, chúng ta đã thấy việc Lạm phát Tiền tệ do quyết định dộc đoán của một Oâng Tá nắm quyền là hành động ăn cướp Tiền bạc của giới làm Kinh tế lương thiện, nhất của giới lao động bán sức lực mình đổi lấy đồng Tiền thực.
Việc cướp bóc qua Lạm phát Tiền tệ như vậy rất khó thấy cho Dân chúng. Làm thế nào Dân cầm Tiền đã Hội nhập Kinh tế phân biệt được với đồng Tiền mới in ra trái phép do Nhà Nước tung ra. Việc này khó thấy ngay trong một Thề chế có Dân chủ, cho Tự do Báo chí.
Nếu trong một CƠ CHẾ do Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế, lại không cho Tự do Báo Chí, thì làm thế nào mà Dân chúng nhìn thấy những cuộc ăn cướp khổng lồ qua Lạm phát Tiền tệ. Không thể tin lời hứa CSVN không làm Lạm phát Tiền tệ.
Lãnh vực Tiền tệ là Lãnh vực không thể làm việc với lòng tin tưởng. Trai gái yêu nhau, thề nguyền chung sống như hình với bóng, thậm chí thề hứa chết cho nhau. Nhưng khi cưới nhau, thì phải ký giấy Tiền anh, anh tiêu và Tiền em, em tiêu (Séparation des biens) không còn tin nhau nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài MỞ ĐẦU:
CHO THUỐC CHỮA TRỊ ĐÚNG CĂN BỆNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Liên quan đến Khủng Hoảng Kinh tế/Tài chánh, chúng tôi đã viết hai loạt bài Chủ đề sau đây:
=> Chủ đề: Sụp đổ Chế độ từ Khủng Hoảng Tài chánh
Viết từ 01.11.2007 gồm 12 Bài liên tiếp dựa vào những dữ kiện của cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu 1997 và vào những triệu chứng bấp bênh của phát triển Kinh tế tại những nước bắt đầu phát triển trong đó có Việt Nam.
=> Chủ đề: Dân diệt trừ căn bệnh Khủng Hoảng KT/TC
Viết từ 10.04.2008 gồm 10 Bài liên tiếp nhằm mục đích tìm căn nguyên của bệnh Khủng Hoảng KT/TC đã được công khai tuyên bố vào cuối tháng Hai, đầu tháng Ba năm 2008
Đây là loạt Bài Chủ đề thứ ba:
=> Chủ đề: Phải Dứt bỏ chứ không chỉ Cải cách CƠ CHẾ hiện hành
Viết từ ngày hôm nay, 24.07.2008. Căn bệnh chính yếu cho tình trạng Lạm phát, Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế hiện nay là CƠ CHẾ cho phép gắn liền Độc tài Chính trị với Độc quyền Kinh tế. Tìm ra căn bệnh chính yếu như vậy, chúng tôi chủ trương DỨT BỎ cái CƠ CHẾ ấy, chứ không thể chỉ CẢI CÁCH. Nếu chỉ cải cách, có nghĩa là vẫn giữ những điểm chính của CƠ CHẾ, thì con vi trùng tạo ra Khủng hoảng vẫn nằm đó và trong tương lai, bệnh Khủng hoảng lại tái diễn cũng như trong từng chục năm nay, con vi trùng đã làm bùng nổ Khủng Hoảng ngày nay.
PHÍA NHÀ NƯỚC CSVN TUYÊN TRUYỀN ĐỂ AN DÂN HAY CHỈ TÌM THUỐC THOA BÓP NGOÀI DA.
Nguyễn Tấn Dũng đã hốt hoảng trước những xuất hiện Khủng hoảng: Lạm phát vượt mức, Ngân Hàng nguy cơ phá sản, Nhập siêu làm thiếu hụt cán cân Thương Mại, Thị trường Chứng Khoán tụt dốc không phanh, Các Công ty Quốc doanh thua lỗ nặng mà Nhà Nước phải gồng mình bỏ công quỹ ra để cứu vớt.
Nguyễn Tấn Dũng, các trách nhiệm Bộ Sở, một số những chuyên viên Kinh tế của chế độ đã cố tình đổ lỗi cuộc Khủng Hoảng cho tình trạng chung của Thế Giới, nhất là của Hoa kỳ. Nhưng những chuyên viên Kinh tế/ Tài chánh Quốc tế thuộc World Bank, IMF, Ngân Hàng Phát Triển Á châu, Poor’s & Mood... đã cảnh báo Việt Nam rằng có những lý do chính thuộc riêng của Việt Nam.
Những biện pháp chữa chạy đã được nêu ra. Thậm chí Nguyễn Tấn Dũng còn đi hỏi chính Oâng Allen GREENPAN.
Việc đi tìm thuốc chữa này mang yếu tố tuyên truyền để an Dân hoặc chỉ là thoa bóp ngoài da mong cho êm phần nào con bệnh. Họ không thực tình chữa trị cái căn nguyên đích thực của bệnh bởi vì CSVN vẫn muốn duy trì cái CƠ CHẾ Độc tài Chính trị nắm lấy Độc quyền Kinh tế. Một số những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế cố vấn cho Nhà Nước, cũng vì địa vị và nồi cơm, đã trở thành nịnh thần, chứ không có can đảm nói lên sự thực của căn bệnh, mặc dầu họ biết rõ. Họ chỉ nằm ở phạm vi Cải Cách CƠ CHẾ mà thôi, nếu ai can đảm đề nghị.
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VN: PHẢI CHỮA ĐÚNG CĂN BỆNH Ký giả ĐỖ HIẾU của Đài Á châu Tự do đã hai lần đặt câu hỏi cho chúng tôi về phương diện này. Lần đầu tiên Ký giả hỏi xem những biện pháp hiện nay của Nhà Nước có thể chữa trị được Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh hay không. Tôi đã trả lời rằng không thể chữa được nếu vẫn giữ CƠ CHẾ hiện nay.
Lần thứ hai, Thứ Tư 16.07.2008, Ký giả ĐỖ HIẾU gọi qua Điện thoại Di động, phỏng vấn chúng tôi với một câu hỏi duy nhất: "KINH TẾ VIỆT NAM BỊ BỆNH, PHẢI CHỮA TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?" Chúng tôi trả lời không cần phải suy nghĩ nhiều vì đây là sự xác tín của chúng tôi rồi.
Khi qua Hoa kỳ, Nguyễn Tấn Dũng đã xin gặp Ông Allen GREENSPAN, cựu Thống Đốc Ngân Hàng Trung ương Mỹ, về những biện pháp chữa trị lạm phát. Thực ra việc gặp hỏi này chỉ là tuyên truyền. Nguyễn Tấn Dũng cũng như mọi người đều biết căn nguyên của Bệnh và biết phải chữa trị như thế nào, nhưng lẩn tránh không nói ra sự thực mà thôi. Nguyễn Tấn Dũng cũng vừa tuyên bố quyết định mời gọi những chuyên gia Kinh tế/Tài chánh nước ngoài cố vấn cho những vấn đề Kinh tế/Tài chánh VN, ngay cả cho các Công ty quốc doanh. Diễn Đàn VnEXPRESS tuần này viết lên đầu đề lớn: "Kinh tế VN như người ốm cần kê đúng đơn thuốc".
Trong khung cảnh nhà cầm quyền Việt Nam đi tìm danh y chữa bệnh như tuyên truyền, chúng tôi đã trả lời câu hỏi của Ký giả ĐỖ HIẾU một cách vắn gọn với hình ảnh bình dân cho dễ hiểu như sau:
Muốn chữa bệnh, phải nói đúng căn bệnh là gì. Nếu không thì cho toa thuốc trật lấc. Ai cũng biết cái căn bệnh đích thực, nhưng ngại nói toạc móng heo ra cái căn bệnh ấy vì ngại sợ con bệnh (CSVN) mắc cỡ cho bệnh. Riêng tôi, tôi xin nói toặc móng heo ra rằng đó là bệnh TIÊM LA CÙ ĐINH do việc đánh đĩ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Hai thứ đó cộng chung, đánh đĩ với nhau "thiếu vệ sinh" mà nảy sinh ra trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, bệnh Tiêm La Cù Đinh. Đây không phải là ngứa ngáy ngoài da, chỉ cần thoa dầu cù là. Cái bệnh Tiêm La Cù Đinh này đã ăn ngầm từ hàng chục năm nay, bây giờ chịu không nổi, nên phát hiện. Nếu chỉ thoa dầu cù là như để dịu ngứa ngáy mà không dứt điểm chữa trị, thì bệnh Tiêm La Cù Đinh vẫn tiếp tục ăn ruỗng thân xác Kinh tế/Tài chánh Việt Nam trong tương lai nữa.
Căn bệnh này thuộc CƠ CHẾ, đó là cho phép ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ đánh đĩ "thiếu vệ sinh" với ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Tham nhũng, Lãng phí ở đây không phải là từ luân lý cá nhân, nhưng thuộc vào CƠ CHẾ cho phép đánh đĩ giữa hai quyền lực.
Ông Allen GREENSPAN biết cái căn bệnh CƠ CHẾ đánh đĩ này, nhưng tế nhị không nói huỵch toẹt ra vì sợ CSVN xấu hổ. Những cố vấn Kinh tế/Tài chánh ở Việt Nam cũng biết rõ rệt cái căn bệnh CƠ CHẾ này, nhưng trước cường quyền và nghĩ đến nồi cơm, nên tránh né không nói huỵch toẹt ra, dễ trở nịnh thần thay vì là cố vấn.
Biết đích thực căn bệnh Tiêm La Cù Đinh như vậy, thì Toa Thuốc đầu tiên để chữa trị là phải TÁCH RỜI hai lãnh vực ra, đừng để chúng ăn nằm đánh đĩ "thiếu vệ sinh" với nhau. Dứt điểm không thể để ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ ngủ chung với ĐỘC QUYỀN KINH TẾ.
Việc tách rời này là Toa Thuốc cơ bản tiên khởi. Sau khi tách rời rồi, chúng ta mới thêm những thứ thuốc phục sức cho Kinh tế lành mạnh và Chính trị lành mạnh.
Tôi đã đưa ra hai tỉ dụ: 1) Một Thánh nhân từ trời xuống, nếu nhốt chung phòng tối tăm với mỹ nhân, thì Thánh nhân và Mỹ nhân trước sau cũng tò tò sán lại thiếu vệ sinh, thiếu ngay thẳng.
2) Chính tôi, Nguyễn Phúc Liên, nếu ngồi bên cạnh đống vàng, cũng dễ tìm cách lượm ít thỏi vàng bỏ túi riêng mình, nhất nữa khi ngồi bên đống vàng mà tôi lại có toàn quyền chính tri. Tôi biển thủ vàng bỏ vào túi riêng. Nếu ai mở miệng phản đối, thì tôi dùng toàn quyền chính trị để khoá miệng hoặc bỏ tù người đó. Việc biển thủ này không phải là vấn đề luân lý của Nguyễn Phúc Liên, mà là cái CƠ CHẾ cho Nguyễn Phúc Liên có hai quyền lực cùng một lúc.
Sự xác tín về căn nguyên chính yếu cho căn bệnh không phải là xác tín có tính cách cá nhân. Đây là sự xác tín đi từ một NGUYÊN TẮC của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường đã được luôn luôn đòi hỏi bởi những Thế hệ Kinh tế gia lừng danh: 1) Thế hệ những Nhà Kinh tế Cổ điển Anh (les Classiques Anglais). Đây cũng là những Ông Tổ sáng lập nền Kinh tế Tự do và Thị trường: Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL (Thế kỷ 17)
2) Thế hệ những Nhà Kinh tế Tân Cổ điển (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20):Alfred MARSHALL, PARETTO, WALRAS
3) Nhà Toán học và Kinh tế gia lừng danh KEYNES sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-1930. Ông tổ của Economie du Marche lấy phía Cầu (Demande) hướng dẫn phía Cung (Offre).
4) Thế hệ học trò của KEYNES, hậu Keynes (Post-keynesiens): Paul SAMUELSON (Giải Nobel Kinh tế 1970), FRIEDMANN. Đây là nhưng Giáo sư Kinh tế và Cố vấn cho Hoa kỳ. Họ dậy tại Trường Kinh tế Harvard.
Thế mà những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế Cố vấn cho Việt Nam không nhắc gì đến căn bệnh ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm lấy ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Họ có phải là Cố vấn để nói lên sự thật hay không, hay chỉ là những Nịnh thần. Việc nịnh thần này mang hậu quả đến 75% dân số Việt Nam phải đau khổ vì Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh.
Nếu những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế này không biết đến nguyên tắc mà các Thế hệ Kinh tế gia lừng danh luôn luôn chủ trương, thì những những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế Cố vấn này bị rớt Đại học Kinh tế ngay từ năm Thứ Nhất của của Phân khoa Kinh tế.
KHAI TRIỂN CHỦ ĐỀ
Chúng tôi lần lượt khai triển Chủ đề với những Bài sau đây:
Bài 01: Nguyên tắc không can thiệp trực tiếp Chính trị vào Kinh tế Bài 02: Sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy và Bao cấp Bài 03: Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCN chỉ là bịp bợm vô lương Bài 04: Tham nhũng Lãng phí là hậu quả của việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế. Bài 05: Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) của một Nhà Nước độc tài Bài 06: Sự yếu kém Năng suất (Faible Productivité) của những Công ty Quốc doanh Bài 07: Tất cả mọi can thiệp Nhà Nước (interventions Etatiques) làm phát sinh Đầu cơ, Chợ đen và Chi phí tốn kém Xã hội Bài 08: Năng suất cao (Productivité élevée) của nền Kinh tế Tư doanh Bài 09: Thị trường là Yếu tố Điều Hợp của nền Kinh tế (Marché, Facteur régularisateur de l’Economie) Bài 10: Chính trị và Luật pháp chỉ là Môi trường cho Phát triển Kinh tế (Environnement Politico-Juridique adéquat) Bài 11: Yêu cầu những Biện pháp cụ thể tiến đến Dứt bỏ CƠ CHẾ hiện hành Bài 12: Dân chủ hóa Kinh tế dẫn đến Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Economique ==> Démocratisation Politique)
Cái căn bản lý luận liên tục của 12 bài này là như sau:
1) Chúng tôi trình bầy đầu tiên cái NGUYÊN TẮC tách rời quyền lực Chính trị ra khỏi lãnh vực hoạt động Kinh tế trong một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Nguyên tắc này đã được đặt ra bởi những Nhà Kinh tế quốc tế thuộc nhiều thế hệ trước đây. Những lý do đòi hỏi việc tách rời này là: một đàng tránh cho quyền lực Chính trị (nhất là độc tài) lạm dụng Kinh tế để thủ lợi; một đàng tư doanh mới thiết thân đến tiền bạc của mình (không phải tiền chùa) để căn cơ chi tiêu, đồng thời đêm ngày cố gắng đạt được lợi nhuận tối đa.
2) Tiếp đến, chúng tôi lấy tỉ dụ sự thất bại toàn diện của hệ thống Kinh tế Tập quyền Chỉ huy của Khối Cộng sản. Sự thất bại này đã đưa đến sụp đổ Khối Cộng sản Nga và Đông Aâu. Một số nước, vì tình trạng đói nghèo của Dân chúng, buộc phải hội nhập hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, tuy nhiên vẫn còn bấu víu lấy Chính trị độc tài Cộng sản, nên phải thêm cái đuôi tuyên truyền định hướng XHCN để làm cuộc đánh đĩ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Cuộc Khủng Hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là hậu quả của việc đánh đĩ này, nghĩa là họ không tôn trọng NGUYÊN TẮC tách rời hai lạnh vực mà các Kinh tế gia quốc tế đã đòi hỏi.
3) Từ NGUYÊN TẮC tách rời hai lãnh vực và từ nhưng tỉ dụ việc vi phạm nguyên tắc với hậu quả tàn phá Kinh tế, chúng tôi đi vào cắt nghĩa những chi tiết về năng suất sản suất, về quản trị tài chánh, tiền tệ dẫn đến Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh mà cụ thể là Kinh tế VN hiện nay.
4) Từ những căn bản lý luận và nhận định thực tế trên đây, cái hệ luận trực tiếp rút ra là PHẢI DỨT KHOÁT TÁCH RỜI ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ RA KHỎI ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Khủng hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là do việc gắn liền hai quyền lực này tích lũy đã nhiều chục năm. Nếu không dứt khoát tách rời hai lãnh vực, mà chỉ đưa ra những biện pháp tuyên truyền mỵ dân, thì nền Kinh tế vẫn bệnh hoạn trong tương lai.
5) Chúng tôi thêm bài cuối cùng về tương quan giữa nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự với nguyên tắc DÂN CHỦ cho Chính trị. Nhìn tỉ dụ Hoa kỳ và Thụy sĩ, hai quốc gia có nền Chính trị Dân chủ cao. Dân chúng hai quốc gia này khởi đầu bằng việc tìm tòi kiếm sống cho cá nhân. Ý thức Kinh tế cá nhân phát triển trước ý thức Chính trị tập thể. Tổ chức Chính trị và Luật pháp (Environnement Politico-Juridique adequat) chỉ là bảo đảm cho sự phát triển Kinh tế cá nhân. Dân chủ Kinh tế đưa đến Dân chủ Chính trị.
ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI KINH TẾ VỚI NHỮNG CHUYÊN GIA KINH TẾ NHÀ NƯỚC CSVN
Theo rõi những phát biểu nhận định của những Chuyên viên Kinh tế về cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay tại Việt Nam, chúng tôi có những cái nhìn như sau:
1) Những Chuyên gia Kinh tế hiện nay, cả trong nước lẫn ngoài nước, đều được học hỏi trong hệ thống của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Những Chuyên gia ấy không thể không biết những NGUYÊN TẮC căn bản nền tảng cho nền Kinh tế. Đây là cái mẫu số chung để việc đối thoại đi đến chấp nhận những gì phải thực hiện hữu ích cho việc Phát triển Kinh tế Việt Nam. Sự khác biệt trong khi phát biểu chỉ là do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của Chính trị mà thôi. Chúng ta không đối thoại Chính trị với CSVN vì họ nhất thiết chủ trương độc tài, nhưng chúng ta đối thoại Kinh tế với những Chuyên gia Kinh tế dựa trên những NGUYÊN TẮC Kinh tế có tính cách Khoa học.
2) Một số những Chuyên gia Kinh tế hiện góp ý cho Nhà Nước CSVN như Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A, Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH... chắc chắn biết sự thật của căn bệnh Khủng Hoảng hiện nay, nhưng vì hoàn cảnh ở Việt Nam, nên chưa nói hết sự thực.
3) Những Chuyên gia hoặc Bình luận gia viết về cuộc Khủng Hoảng như Oâng NGÔ NHÂN DỤNG, Oâng LÝ ĐẠI NGUYÊN, Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, Kinh tế gia NGUYỄN XUÂN NGHĨA... không ngần ngại đi thẳng vào căn nguyên thực của bệnh Khủng Hoảng. Chúng tôi xin mạo muội liên lạc với những Chuyên gia hoặc Bình luận gia đã thẳng thắn nói sự thật thuộc CƠ CHẾ hiện hành với chủ trương phải hủy bỏ CƠ CHẾ để chữa trị dứt điểm và lâu dài cho bệnh Khủng hoảng của Kinh tế Việt Nam. Việc liên lạc này nhằm hai mục đích:
=> Tiến tới một ỦY BAN TƯ VẤN KINH TẾ ĐỘC LẬP không bị ảnh hưởng Chính trị, mà chỉ vì những những nguyên tắc thuần túy Kinh để yêu cầu những biện pháp thi hành.
=> Sẵn sàng ĐỐI THOẠI với những Chuyên gia Kinh tế Cố vấn cho Nhà Nước CSVN. Mẫu số chung đã có. Cuộc đối thoại nhằm cổ võ những Chuyên gia thoát ra tầm ảnh hưởng của Chính trị để nói lên sự thật nhân danh sự Phát triển Kinh tế bền vững cho Quê Hương Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
Chú thích 01 cho Bài MỞ ĐẦU:
DÂN NGHÈO BUỘC LÒNG PHẢI ĐỨNG LÊN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Tuần vừa rồi, khi viết Bài MỞ ĐẦU giới thiệu cho loạt Bài CHỦ ĐỀ, chúng tôi nhận được một số những ý kiến xây dựng: Oâng CU DAI LONG và Oâng TRAN TU. Đây là những ý kiến mà khi bắt đầu viết những bài trong Chu đề, chúng tôi phải lưu tâm nghĩ đến. Oâng CU DAI LONG góp nhiều ý kiến căn bản trong việc chấm dứt CƠ CHẾ CSVN hiện nay, đặc biệt Oâng lưu ý đến PNB; Oâng TRAN TU lưu ý chúng tôi về ý chí chấm dứt CHẾ ĐỘ CSVN đã có từ lâu rồi.
Chúng tôi xin đăng lại đây những hồi âm vắn gọn đã gửi đến hai Oâng. Việc hồi âm vắn gọn này được coi như chú thích cho Bài MỞ ĐẦU, làm sáng tỏ thêm sự xác tín của chúng tôi vào việc chấm dứt CƠ CHẾ đến như một ĐỊNH MỆNH từ cuộc Khủng Hoảng Kinh tế/Tài chánh đang diễn ra tại Việt Nam.
=> Trọng kính Ông CU DAI LONG (cudailong@yahoo.com)
Tôi xin ghi nhận ý kiến của Ông và chân thành cảm ơn Ông.
Tôi không tin lực lượng nước ngoài có thể lật lại CƠ CHẾ hiện nay. Tôi chỉ tin ở LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO QUỐC NỘI đứng lên đòi miếng ăn cho dạ dầy (Quyền DẠ DẦY, Stomach Right) của chính họ. Tôi cũng ít tin vào lực lượng Trí thức Dân chủ trừu tươ.ng.
Khi Ông nói đến PNB, thì đó cũng là ý kiến của tôi. Dân Nghèo không đấu tranh cho PNB được phân phối hữu lý đến nỗi họ phải chịu đói khổ, mà họ không đứng lên đòi hỏi, thì CSVN vẫn đè đầu bóp họng họ, thì họ ráng mà chịu nhục và đoi. Chúng ta ở nước ngoài cũng khó lòng trợ lực.
Trọng kính Ông, Nguyễn Phúc Liên
=> Trọng kính Ông TU TRAN (trantu60@yahoo.com ),
Tôi rời Việt Nam năm 1965, rồi học, dậy học và về hưu tại Thụy sĩ này.
Từ năm 1975, tôi tham dự, hoạt động với những Phong trào nhằm lật đổ CSVN. Tôi có ít nhận định sau đây:
1) Từ nước ngoài, không thể mang Cách Mạng về giải phóng Quê Hương bằng quân sự; 2) Đã có những Phong trào thành lập Chính phủ lưu vong lưu bị cho đẹp ở những xa lông; 3) Đã có những vận động các Chính phủ nước ngoài để mong họ lật đổ dùm CSVN, nhưng than ôi, họ hứa cho đẹp, nhưng họ tính toán quyền lợi Kinh tế, Quốc phòng cho nước họ. 4) Tôi chỉ tin tưởng ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI lật đổ CSVN để cứu lấy chính mình. Tuy nhiên, tôi ít tin ở Phong trào Trí thức Dân chủ, Nhân quyền trừu tưựng. Tôi chỉ tin và xác tín vào khả năng của một lực lượng duy nhất, đó là LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO, gồm 75% dân số, đứng lên lật đổ CSVN để có miếng ăn cho chính bụng đói của mình: quyền DẠ DẦY (Stmach Right) chứ không phãi Nhân quyền trừu tươ.ng.
Cuộc Khủng Hoảng Kinh tế hiện nay chính là lúc Lực Lượng Dân Nghèo đứng lên. Nếu họ không đứng lên đòi miếng ăn cho chính mình, thì chúng ta khó lòng trợ lực họ.
Trọng kính Ông, Nguyễn Phúc Liên
Điều mà chúng tôi nhắc lại trong hai hồi âm trên đây, đó là việc DÂN NGHÈO đứng lên đấu tranh cho chính DẠ DẦY rỗng của họ. Chính họ phải thiết thân đến họ trước những người khác. Nếu không, họ vẫn chịu cảnh CSVN khai thác bóc lột họ mà họ không nên than vãn kêu gọi sự bố thí, thương hại của người khác.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
Chú thích 02 cho Bài MỞ ĐẦU:
ĐỐI THOẠI KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Trong bài MỞ ĐẦU, chúng tôi đề nghị ĐỐI THOẠI KINH TẾ để tìm ra những điểm hữu ích cho việc phát triển Kinh tế Việt Nam trong bền vững và đồng đều mà Dân Nghèo đang trông đợi. Chúng tôi không ĐỐI THOẠI CHÍNH TRỊ với CSVN vì đây là bọn cối chầy, mặt dầy mày dạn đã bao chục năm rồi. Chúng chỉ tìm đối thọi, vu khống chính trị, chứ không bao giờ có thiện chí đối thoại. ĐỐI THOẠI KINH TẾ có thể làm được vì những Nhà Kinh tế, dù thuộc đảng CSVN, nhưng vẩn phải biết những nguyên tắc căn bản làm nền tảng cho một hệ thống Kinh tế. Khi đã lựa chọn một hệ thống, thì phải chấp nhận những nguyên tắc ấy chứ không thể cối chầy được.
CĂN BẢN LÝ LUẬN CỦA 12 BÀI CHỦ ĐỀ
Chính lẽ hôm nay, chúng tôi bắt đầu viết Bài 01 trong loạt 12 bài. Nhưng có hai lý do để chúng tôi chưa bắt đầu: lý do thứ nhất là tính cách liên tục của lý luận tiếp nối của 12 bài mà chúng tôi không muốn có sự dán đoạn lâu; lý do thứ hai làtrong tháng Tám mùa hè này, chúng tôi ngưng 2 tuần sau số báo này để đi vắng xa không thể viết, nên có sự dán đoạn.
Cái căn bản lý luận liên tục của 12 bài này là như sau:
1) Chúng tôi trình bầy đầu tiên cái NGUYÊN TẮC tách rời quyền lực Chính trị ra khỏi lãnh vực hoạt động Kinh tế trong một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Nguyên tắc này đã được đặt ra bởi những Nhà Kinh tế quốc tế thuộc nhiều thế hệ trước đây. Những lý do đòi hỏi việc tách rời này là: một đàng tránh cho quyền lực Chính trị (nhất là độc tài) lạm dụng Kinh tế để thủ lợi; một đàng tư doanh mới thiết thân đến tiền bạc của mình (không phải tiền chùa) để căn cơ chi tiêu, đồng thời đêm ngày cố gắng đạt được lợi nhuận tối đa.
2) Tiếp đến, chúng tôi lấy tỉ dụ sự thất bại toàn diện của hệ thống Kinh tế Tập quyền Chỉ huy của Khối Cộng sản. Sự thất bại này đã đưa đến sụp đổ Khối Cộng sản Nga và Đông Aâu. Một số nước, vì tình trạng đói nghèo của Dân chúng, buộc phải hội nhập hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, tuy nhiên vẫn còn bấu víu lấy Chính trị độc tài Cộng sản, nên phải thêm cái đuôi tuyên truyền định hướng XHCN để làm cuộc đánh đĩ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Cuộc Khủng Hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là hậu quả của việc đánh đĩ này, nghĩa là họ không tôn trọng NGUYÊN TẮC tách rời hai lạnh vực mà các Kinh tế gia quốc tế đã đòi hỏi.
3) Từ NGUYÊN TẮC tách rời hai lãnh vực và từ nhưng tỉ dụ việc vi phạm nguyên tắc với hậu quả tàn phá Kinh tế, chúng tôi đi vào cắt nghĩa những chi tiết về năng suất sản suất, về quản trị tài chánh, tiền tệ dẫn đến Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh mà cụ thể là Kinh tế VN hiện nay.
4) Từ những căn bản lý luận và nhận định thực tế trên đây, cái hệ luận trực tiếp rút ra là PHẢI DỨT KHOÁT TÁCH RỜI ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ RA KHỎI ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Khủng hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là do việc gắn liền hai quyền lực này tích lũy đã nhiều chục năm. Nếu không dứt khoát tách rời hai lãnh vực, mà chỉ đưa ra những biện pháp tuyên truyền mỵ dân, thì nền Kinh tế vẫn bệnh hoạn trong tương lai.
5) Chúng tôi thêm bài cuối cùng về tương quan giữa nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự với nguyên tắc DÂN CHỦ cho Chính trị. Nhìn tỉ dụ Hoa kỳ và Thụy sĩ, hai quốc gia có nền Chính trị Dân chủ cao. Dân chúng hai quốc gia này khởi đầu bằng việc tìm tòi kiếm sống cho cá nhân. Ý thức Kinh tế cá nhân phát triển trước ý thức Chính trị tập thể. Tổ chức Chính trị và Luật pháp (Environnement Politico-Juridique adequat) chỉ là bảo đảm cho sự phát triển Kinh tế cá nhân. Dân chủ Kinh tế đưa đến Dân chủ Chính trị.
ĐỐI THOẠI KINH TẾ: TỈ DỤ VỚI TS LÊ ĐĂNG DOANH
Chúng tôi sẵn sàng đối thoại về Kinh tế dựa trên căn bản lý luận của loạt bài Chủ đề vửa tóm lược trên đây. Thành thực mà nói, NGUYÊN TẮC tách rời hai Lãnh vực Kinh tế, Chính trị mang tính cách hiển nhiên. Việc đối thoại như mang tính cách cùng nhau nói lên một sự thực.
Chúng tôi đọc lời phát biểu của Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH trả lời cho Phóng viên NAM NGUYÊN của đài Á châu Tự do. Tiến sĩ nói giới tư doanh Việt Nam sẽ phá sản từng loạt, nhưng lại thêm rằng đây là sự tàn phá sáng tạo (creative destruction) theo Kinh tế gia Hoa kỳ gốc Aùo Joseph Alois SCHUMPETER. Sự tàn phá sáng tạo này là tại Hoa kỳ chứ không thể áp dụng cho Việt Nam, nơi mà ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm chặt lấy ĐỘC QUYỀN KINH TẾ, đè bẹp sáng tạo TƯ DOANH, thì làm thế nào mà có ’creative destruction’. Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH phải yêu cầu CSVN đừng trói buộc Kinh tế Tư doanh nữa.
Chúng tôi rất mong đối thoại với Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH về điểm này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
| | | |
| CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 10:
LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO: ĐỊNH MỆNH TỰ GIẢI THỂ CƠ CHẾ CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Bài QUAN ĐIỂM tuần trước, VietTUDAN số 359/12.06.2008, kêu gọi việc hợp sức với Lực Lượng Dân Nghèo đứng lên lật đổ CƠ CHẾ CSVN để cứu chữa cho Khủng hoảng Kinh tế hiện hành và xây dựng phát triển bền vững cho tương lai. Với bài QUAN ĐIỂM tuần này, chúng tôi nhìn Lực Lượng Dân Nghèo như một định mệnh nội tại tự hủy diệt CƠ CHẾ CSVN.
Việc tự giải thể của CƠ CHẾ Cộng sản xẩy ra như Định mệnh
Chúng tôi lược tóm lý do chính yếu của việc tự giải thể của những chế độ Cộng sản Liên xô, các nước Đông Aâu và thử nhìn con đường đang dẫn đến việc tự giải thể của chế độ Cộng sản Việt-Nam.
=> Chúng tôi gọi là tự giải thể có nghĩa rằng từ trong lòng chế độ, gồm Đảng, Nhà Nước và khối Dân đang bị khống chế, phát sinh một động lực nổ bùng ra phá tan chế độ (Implosion). Thực vậy, không có hiện tượng một lực lượng ngoại tại đối diện đánh vào để dẹp chế độ. Chúng ta chỉ ghi nhận hai trường hợp mà lực lượng ngoại tại đập tan Cộng sản khi mà những người này đang ở giai đoạn tiến đến chiếm chính quyền để thiết lập chính thức chế độ chuyên chế của họ, nghĩa là ở lúc mà Cộng sảng chưa chiếm trọn quyền hành. Đó là trường hợp của Nam Dương và của Chí Lợi. Soekarno tại Nam Dương đã thẳng tay trừng trị Cộng sản khi cái đầu của nó mới đập vỡ vỏ trứng và định chui ra hoành hành. Pinochet tại Chí Lợi đã cứng rắn diệt Allende và đồng bọn khi đám này muốn đặt chế độ Cộng sản tại nước này. Ngoài hai trường hợp ấy, các chế độ Cộng sản khi đã được thiết lập, dù coi là vững chắc, sau một thời gian đã dần dần đi đến tự giải thể vì cái Định mệnh Chính trị—Kinh tế (Fatalité Politico-Economique).
=> Cái động lực cơ bản đưa đến việc tự giải thể, đó là việc không thể giải quyết vấn đề Kinh tế cho Dân hoặc Dân hết tin vào Kinh tế Nhà Nước mà phải tự động quyết định tìm kiếm miếng ăn. Động lực ấy là cái quyền Dạ dầy (Stomach Right) của Dân. Người ta sống không phải chỉ nguyên vì cơm gạo, nhưng không có cơm gạo, thì người ta chết và hết sống để nghĩ đến những quyền khác. Cộng sản đã dùng Kinh tế để phục vụ Chính trị đảng phái hoặc đổ vào túi riêng, nên dân đói và chết. Bụng đói và trước khi chết, thì Dân khùng lên, đạp tan những cùm kẹp chính trị của Đảng.
Trung Cộng và Việt Cộng nhìn rõ cái tàn nhẫn của Định mệnh Chính trị—Kinh tế ấy, buộc lòng phải đổi mới, mở cửa, nhưng vẫn muốn giữ những từ như ’’định hướng XHCN’’,’’đang quá độ tiến lên XHCN’’... Đó là những xảo ngữ. Hai nước này phải tìm giải quyết quyền Dạ dầy ở con đường Kinh tế Tự do và Thị trường. Không tìm con đường này, cái Định mệnh Chính trị—Kinh tế cũ sẽ đập tan chế độ của họ tức khắc như ở Nga và Đông Aâu. Nhưng với chủ trương độc tài Chính trị, họ nắm luôn độc quyền Kinh tế. Việc thâu tóm hai cái quyền này trong tay tất nhiên làm phát sinh THAM NHŨNG và LÃNG PHÍ. Kinh tế Tự do và Thị trường như một giải quyết, nhưng đã trở thành một cơ hội để đảng thủ lợi, để những cá nhân thuộc đảng vơ vét. Đó là nền Kinh tế Mafia gia đình, phe nhóm. Cái CƠ CHẾ đã không giải quyết được Kinh tế cho Dân. Lực Lượng DÂN NGHÈO trong chế độ Cộng sản hay trá hình “định hướng XHCN“ tự phát sinh trong lòng CƠ CHẾ và cuộc đấu tranh xẩy ra dành quyền sống là một Định Mệnh tự giải thể của chính CƠ CHẾ. Tóm tắt lại một cách đơn giản: Dân bị cùm kẹp trong chế độ Cộng sản hay trá hình định hướng XHCN, trước khi chết đói, thì bùng dậy đập tan chế độ. Đó là Định mệnh Chính trị--Kinh tê (Fatalité Politico-Economique).
Tỉ dụ tự giải thể vĩ đại của Cộng sản Liên Xô và Đông Âu Lý do chính yếu của việc tự giải thể này là vấn đề quyền dạ dầy (stomach right). Thực vậy, cuộc ’’Cách Mạng vô sản Cộng sản’’ chỉ lả việc dùng một lời hứa’’Thiên đàng Cộng sản’’ để lừa Dân đang lầm than vào cuộc đấu tranh giai cấp giết người tàn bạo mà mục đích là chiếm độc quyền quyền thống trị cho nhóm Hội kín ăn cướp quyền hành cho mình của Lénine. Mục đích của nhóm này là Chính trị. Nhưng ngưỡng vọng của Dân chúng lầm than là cái quyền dạ dầy, nghĩa là bụng không đói. Ý thức hệ Cộng sản đưa đến đích điểm là’’Thiên đàng Trần thế’’. Nhưng Dân chúng chờ hoài và cảm thấy rằng Thiên đàng ấy chỉ là lời hứa ảo tưởng (Promesse utopique), trong khi ấy dạ dầy mỗi người Dân cần phải có gì cho vào. Không thực hiện được lời hứa đối với Dân, thì chế độ Cộng sản dùng những chiêu bài tinh thần như ’’Aønh hùng sản xuất! Chiến sĩ lao động! Mẹ Cách Mạng! ...’’. Nhưng khi bụng đói, thì những chiêu bài ấy không đủ sức đẩy Dân tuân theo chỉ thị Chính trị của Đảng Cộng sản. Đảng không dùng chiêu bài cổ võ tinh thần nữa, mà dùng đến sức mạnh để khủng bố bắt ép Dân phải làm theo mình. Hệ thống khủng bố Công an của Cộng sản trở thành phương pháp thống trị. Nhưng bụng Dân vẫn đói, đói đến gần chết! Khi đói gần chết, thì Dân hết sợ đám khủng bố Công an. Đàng nào cũng chết, nên Dân nổi dậy. Yù thức hệ Cộng sản chết, những Chế độ Cộng sản Liên xô và Đông Aâu tự giải thế vì lý do bụng đói của Nhân dân.
Tại Việt Nam: Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Dân Nghèo đã bắt đầu
Thực vậy, THAM NHŨNG và LÃNG PHÍ tạo những bất công Kinh tế đã từng những chục năm nay. Dân Nghèo đã đứng lên từ năm ngoái.
=> Tiền Giang nổi sóng: Dân Nghèo Tiền Giang mất nhà đất đã kéo về Trụ sở Quốc Hội II Sài gòn được coi là đột biến đấu tranh đầu tiên có tính cách tập thể. Mặc dầu bị đàn áp, nhưng cuộc đấu tranh tiếp tục và lan rộng ra Hà Nội và các Tỉnh. Cũng từ năm ngoái, các cuộc Đình Công của công nhân thường xuyên xẩy ra
=> Từ đầu năm nay 2008, vật giá tăng vọt, tình trạng Lạm phát trầm trọng, Dân chúng nghèo trở thành nạn nhân của Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế. Trong tình trạng khốn cùng do Lạm phát và Khủng hỏa Kinh tế/ Tài chánh, Dân nghèo công khai xỉ vả Nhà Nước. Công Nhân đình công mặc dầu có Nghị định cấm đình công.
=> Một thái độ rất quan trọng của Dân chúng được ghi nhận trong thời gian cách đây hai tuần, đó là Dân chúng hết tin vào những Lệnh và những biện pháp Kinh tế của CSVN. Dân chúng tự động lấy quyết định về Kinh tế. Những biện pháp Kinh tế mà Nhà Nước đưa ra, một là không đi vào việc chữa trị chính căn bệnh, hai là Dân chúng không còn tin tưởng nữa. Hãy lấy tỉ dụ sau đây.
Tình trạng Kinh tế Việt Nam lâm vào Khủng Hoảng: * Lạm phát lên gần 30% * Thị trường Chứng khoán tụt dốc không phanh * Một số lớn Ngân Hàng lo lắng nguy cơ phá sản * Đồng tiền Việt Nam mất giá không ngừng: một Mỹ kim, từ 16'000 đồng VN nay đã lên tới 21'000 đồng, nghĩa là mất giá trên 31% trong khoảng thời gian rất ngắn. * Các con buôn, nhất là quốc doanh, đục nước béo cò, đầu cơ không kiểm soát được. Nhà Nước đưa ra những Chỉ thị chống đỡ. Một số những chỉ thị này không thể áp dụng được ở Việt Nam. Thực vậy, một số Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế/Tài chánh mới học ở những nước tiền tiến trở về, đem áp dụng những nguyên tắc Kinh tế/Tài chánh của những nước tiền tiến cho Việt Nam. Nhưng khốn thay, nước Việt Nam không phải là Mỹ, là Pháp, là Anh, là Úc..., nơi mà họ đã học những nguyên tắc Kinh tế/Tài chánh đó. Nền Kinh tế ở Việt Nam lạc loài trong một thể chế Chính trị cũng lạc loài luôn.
Tỉ dụ, Ngân Hàng Nhà Nước tăng lãi suất lên 12%, rồi mấy ngày sau lên tới 14%. Theo nguyên tắc, thì tăng lãi xuất để mong những người tiết kiệm mang tiền vào gửi Ngân Hàng. Nhưng Ngân Hàng VN phải ở dưới chế độ độc tài, tăng bớt lãi suất là do Chính trị quyết định. Nay tăng mai bớt, làm sao tin được. Thậm chí Ngân Hàng có thể được lệnh giữ lại tiền mà người tiết kiệm đã gửi vào Ngân Hàng.
Phản ứng của Dân chúng sau đây chứng tỏ việc hết tin tưởng vào Nhà Nước, ngay cả những nguyên tắc Kinh tế do Nhà Nước đề ra: * Thay vì mang tiền gửi Ngân Hàng, họ đến Ngân Hàng để rút tiền ra; * Rút tiền ra để mua Vàng và mua Dola cho vững chắc.
Dân không tin đồng tiền có hình Hồ Chí Minh nữa. Mà khi hình Hồ rẻ như bùn, như giấy lộn, thì Dân sẽ vất CSVN vào thùng rác luôn. CSVN chỉ thị Kinh tế/Tài chánh đi hướng này, thì Dân chúng lẳng lặng đi hướng khác cho chắc chắn.
Chống lại Định Mệnh tự hủy diệt CƠ CHẾ là một trọng tội
CSVN chủ trương một CƠ CHẾ đã làm phát sinh Khủng hoảng do Tham nhũng, Lãng phí và đã tạo ra Lực Lượng Nghèo Đói chính trong lòng CƠ CHẾ. Hiện nay, nếu cố chấp mà không hủy bỏ CƠ CHẾ tội lỗi ấy, đó là một trọng tội đối với Xã hội hiện nay và đối với tương lai phát triển Kinh tế Việt Nam.
Chúng tôi muốn nói thêm đến những chủ trương giúp CSVN duy trì hay kéo dài trọng tội này:
* Đám giáo gian quốc doanh do đặc ân đặc lợi mà ca tụng CƠ CHẾ đã cho Tự do Tôn giáo. Việc nịnh thần này góp phần vào duy trì cái CƠ CHẾ làm cho Dân nghèo khổ.
* Những Cố vấn Kinh tế/ Tài chánh, cũng vì miếng ăn, địa vị mà không có can đảm nói lên nguyên do thật của Khủng hoảng mà chỉ tìm những biện pháp nhất thời cho Nhà Nước cũng như Dân hy vọng. Đó cũng là hành động cấu kết duy trì trọng tội của CSVN.
* Những người đấu tranh Chính trị thời cơ, cũng vì những miếng bánh rơi rụng, chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp để đứng chung với một CƠ CHẾ tội lỗi. Đó cũng là hợp tác với trọng tội đối với Dân nghèo và tương lai phát triển Đất Nước.
Con đường của Định Mệnh là phải vứt bỏ cái CƠ CHẾ hiện hành. Không thể đi khác được. Khi Ký giả ĐỖ HIẾU đài Á Châu Tự Do hỏi tôi xem có chữa được tình trạng Khủng hoảng hiện nay hay không. Tôi khẳng định rằng không thể vá víu mà chữa được bởi lẽ CƠ CHẾ vẫn nằm đó. Việc nổi dậy của Dân Nghèo được coi như Định Mệnh. Mà Định Mệnh thì cứ lù lù tiền tới trừ trường hợp CƠ CHẾ tự hủy diệt. Vá víu cưỡng Định Mệnh chỉ kéo dài thêm đau khổ cho mọi người và cho chính mình. Bệnh Ung Thư như một định mệnh, không thể thoa bóp dầu cù là, mà phải cắt bỏ đi bộ phận bị bệnh. Dùng thuốc an thần chỉ làm dịu cơn đau. Cái chết vẫn lù lù tiến tới như Định Mệnh của bệnh.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | |
|
|
|