|
SỐNG LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH HƯỚNG VỀ ĐẤNG TỐI CAO
SUY NIỆM PHÚC ÂM ( III A 54); ( 09.11.2008); ( Mt 25, 1-13) CHÚA NHẬT XXXII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM A
Giao su Tien si NGUYEN HOC TAP
Đoạn Phúc Âm dụ ngôn Mười Trinh Nữ Dự Tiệc Cưới ( Mt 25, 1-13), được các nhà chú giải Thánh Kinh gọi là " Bài Giảng Về Ngày Cánh Chung ", là một trong năm chủ đề cấu trúc của Phúc Âm Thánh Matthêu. Như tựa đề của bài vừa được đề cập, trong đoạn Phúc Âm hôm nay có một loạt các từ ngữ được dùng để ám chỉ những thực tại của ngày cánh chung. Các lời giảng dạy của Chúa Giêsu trong đoạn Phúc Âm được xếp đặt, liên kết thành dụ ngôn, để khuyến khích, cảnh tỉnh làm rung động tâm tình con người, nhằm vào một mục đích duy nhứt, đó là phải sống thế nào để hợp với ý muốn của Thiên Chúa hết sức có thể. Đoạn Phúc Âm được cấu trúc một cách đơn sơ khiến cho ai đọc cũng hiểu được. Câu giới thiệu mở đầu nói lên sự tương ứng với nhau giữa Nước Trời và quan cảnh được kể: - " Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể" ( Mt 25, 1). Và câu kết luận của câu chuyện vừa được kể là lời khuyên hãy cẩn thận, tỉnh thức vì bao giờ chuyện như vậy sẽ xảy ra trong cuộc đời, ngày giờ đó, chúng ta không biết trước được: - " Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào" ( Mt 25, 13). Giữa câu mở đầu và câu kết luận là hai phần chính của thân bài: - phần kể lại lúc chú rễ đến ( Mt 25, 2-6), - và những gì đã xảy ra sau đó ( Mt 25, 7-12). Quan cảnh của câu chuyện nói lên sự hiện diện của mười thiếu nữ, được phân biệt giữa năm cô khôn ngoan, biết tiền liệu, lo trước và năm cô hời hợt, bất cẩn, tạo thành hai nhóm, và thái độ của hai nhóm các cô cũng tiên báo cho biết kết quả của câu chuyện. Ý nghĩa thần học trung tâm điểm của dụ ngôn chính là chàng rễ, lúc đầu được đề cập đến một cách tổng quát chung chung: - " Bấy giờ, Nước Trời giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chàng rể" ( Mt 25, 1). Nhưng dần dần vai trò của chàng càng lúc càng trở nên quan trọng, - từ việc tiếp nhận các trinh nữ cẩn thận, sẵn sàng: " ...những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới" ( Mt 25, 10), - đến việc quyết định cuối cùng đối với những cô bất cẩn, trễ nải: " Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai " ( Mt 25, 12). Và ý nghĩa quan trọng của dụ ngôn là được vào tham dự tiệc cưới với chàng rễ, được nói lên trong lúc dụ ngôn được kể ra.
1 - " Nước Trời giống như..." Lời khởi đầu của dụ ngôn là " Nước Trời giống như...", cũng là từ ngữ được dùng mở đầu cho nhiều dụ ngôn khác, để nói lên cho chúng ta biết hãy hành xử cuộc sống hàng ngày đa diện chúng ta đang sống thành những cánh cửa mở ra để chúng ta có thể vào được Nước Trời. Mặc dầu dùng những hình ảnh thông thường quen thuộc, nhưng Chúa Giêsu không có ý nói lên ý nghĩa lời giảng dạy của Người theo thói khôn ngoan quen thuộc của con người, mà là truyền cho chúng ta biết những chân lý, tự sức con người chúng ta không thể thấu hiểu đươc. Lời giảng dạy của Chúa Giêsu được dùng để mở ra những chân trời mới, khám phá ra những thực thể mới, mà con người chưa bao giờ tự mình thấu triệt đủ. Dụ ngôn kể lại biến cố được diển ra nhân một buổi tiệc cưới, mà theo tục truyền Do Thái, đã được chuẩn bị khá phức tạp và lâu dài trước đó, từ lễ ra mắt, lễ hỏi, đính hôn..., để đi đến phần kết thúc là buổi tiệc cưới long trọng, là dịp chàng rể đến để rước dâu ( Do Thái, nissu^i^n), khi chàng rể đến nhà cha mẹ vợ, để đem nàng về nhà mình và cùng chung sống với mình. Thật ra nói lên buổi tiệc cưới long trọng chỉ là một diện cớ, bởi lẽ đoạn Phúc Âm không đề cập gì hơn về buổi lễ, cũng không nhắc lại tên của buổi tiệc trong cả diển biến. Các nhân vật liên quan đến buổi tiệc cưới là mười thiếu nữ hay trinh nữ, trong vai trò là những người tháp tùng, hộ tống đón rước chàng rể, làm cho buổi lễ thêm phần long trọng. Con số mười nói lên ý nghĩa là con số trọn vẹn, có ý ám chỉ là tất cả đông đảo mọi người đều được mời tham dự, không trừ ai, đến đón rước chú rể. Từ ngữ duy nhứt nêu lên đặc tính của mười thiếu nữ, ngoài ra tỉnh từ để nói lên thời xuân trẻ của các cô đó là tỉnh từ " trinh nữ", đó là " mang đèn " hay đuốc để làm sáng ban đêm: - " Quả vậy các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo" ( Mt 25, 3-4). Trong bối cảnh mà các cô có phận sự phục vụ, làm vinh quang cho chàng rể, đèn hay đuốc là yếu tố xác nhận địa vị và phận vụ của các cô trong việc tổ chức dạ tiệc và cũng là yếu tố làm phân biệt hai loại hạng người của các cô. Chỉ liền sau câu giới thiệu bối cảnh tiệc cưới sắp diển ra, Thánh Matthêu đã đưa ra lời xét đoán nghiêm khắc, khiến cho người đọc có thể đoán được những gì sẽ xảy ra trong tiến trình sắp đến: - " Trong mười cô đó, có năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan" ( Mt 25, 2). Thánh Matthêu tạm thời cho biết " có năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan". Tỉnh thừ khờ dại diển tả người đó là người điên khùng, không biết đọc, biết viết, biết tính toán; trong khi tỉnh từ khôn ngoan nói lên phẩm chất của con người biết toan tính, biết sống, biết toan liệu, phòng ngừa. Tuy vậy, khờ dại hay khôn ngoan cho đến lúc đó, lúc chàng rể chưa đến, chưa phải là tiêu chuẩn để phân chia, tách rời các cô ra thành nhóm, nhóm nầy tách biệt nhóm kia. Hôm đó cùng sống chung nhóm với nhau, như cỏ lùn cùng mọc lên và chung sống lẫn lội với lúa tốt ( Mt 13, 24-29). Câu ( Mt 25, 3) của đoạn Phúc Âm cho những ai tò mò muốn biết tại sao cho là họ khờ dại và khôn ngoan: - " Quả vậy, các cô khờ dại mang đèn mà không mang dầu theo". Như vậy, yếu tố tách biệt giữa hai nhóm là "không mang theo dầu " để dự trử, phòng ngừa bất trắc, thiếu hụt. Đèn muốn cháy sáng, hữu dụng ban đêm, cần phải có dầu. Đem đèn mà không mang dầu theo dự trử là làm cho đèn trở thành dụng cụ vô dụng. Dụ ngôn tường thuật theo thứ tự " các trinh nữ", " đèn" và " dầu ", cho thấy theo thứ tự kế tiếp yếu tố sau cùng là yếu tố quan trọng: không có dầu, đèn tắt và các trinh nữ sẽ không còn có thể là các cô phù rể, làm tăng thêm vinh hạnh cho chú rể. Hiểu như vậy, các cô trinh nữ hay bất cứ một ai khác cũng vậy, không có đèn được thấp sáng, các cô cũng là những kẻ " vô danh tiểu tốt ", người dưng kẻ lạ, không quan hệ gì đến cuôc đón rước chú rễ cho tiệc cưới. 2 - Khôn ngoan là nghĩ đến tương lai. Qua những gì vừa được đề cập, khôn ngoan là biết tiên liệu, nghĩ đến tương lai, nghĩ đến ngày mai, thoát ra khỏi cạm bẩy quay cuồng của cuộc sống hôm nay làm cho chúng ta mù tối, ngăn cản chúng ta nhìn về viễn ảnh tương lai. Những trinh nữ khôn ngoan là những cô biết tiên liệu, không để mình bị các biến cố bất ngờ bắt chợt, bởi vì các nàng luôn luôn được mục đích mình phải đạt đến soi sáng và hướng dẫn cho, ngay cả đối với các động tác hàng ngày hiện nay. Để đạt đến mục đích mình nhằm đến, các nàng khôn ngoan nghĩ đến những chướng ngại vật có thể bất thần xảy ra cản trở bước tiến của tiến trình hướng về mục đích và do đó phải tiên liệu. Hiểu như vậy các cô khôn ngoan phản ứng lại trước, bằng cách tiên liệu những gì cần thiết phải có để lướt thắng trở lực. Trong dụ ngôn, các nàng không phải có chiến thuật, chiến lược nào siêu đẳng, trổi vượt, chỉ cần mang theo những bình nhỏ đựng dầu dự trử. Chỉ cần có một ít dầu dự trử, nhưng phải để tâm suy nghĩ đến, các bình dầu nhỏ mới hiện ra trong óc: - " Còn các cô khôn thì vừa mang đèn, vừa mang chai dầu theo" ( Mt 25, 4). Câu kế đến của dụ ngôn ( Mt 25, 5) diển tả tình trạng xảy ra chung cho tất cả các cô. Vì chàng rể đến trể, các cô mệt, thiếp đi rồi ngủ quên đi. Cả mười cô đều cùng ở trong một tình trạng như nhau, cuộc sống thường nhật với các vấn đề, mệt nhọc, và sức người có hạn như nhau, không trừ ai : - " Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi rồi ngủ cả" ( Mt 25, 5). Nhều lúc sự khôn ngoan, cẩn trọng, tiên liệu chỉ cho thấy được kết quả, khi đến lúc phải đến. Giữa đêm tối, trong lúc mọi người thiếp đi, thì có tiếng báo thức, bắt chợt mọi người đang say ngủ, hình ảnh của cuộc sống trên đời và thời điểm quyết định để tham dự vào tiệc cưới, quyết định số phận của mỗi người đối với Nước Trời - " Nửa đêm, có tiếng hô lên rằng: " Chú rể kia rồi, ra đón đi" ( Mt 25, 6). Câu kế đến của dụ ngôn nói lên phản ứng tự nhiên của mười trinh nữ thức giấc: trước hết các nàng thức dậy, rồi chuẩn bị đèn đuốc. Trong lúc đó, cả hai nhóm vẫn còn ở trong một tình trạng như nhau. Người đọc chỉ biết được tình trạng mới, từ câu ( Mt 25, 8) trở đi, làm cho dụ ngôn được tường thuật lại với một tiến trình mau lẹ hơn: - " Các cô khờ dại nói với các cô khôn ngoan rằng: " Xin các chị cho tụi em một ít dầu, vì đèn của tụi em tắt mất rồi" ( Mt 25, 8). Giá trị sức mạnh của câu nói được diển tả bằng động từ ở thể mệnh lệnh tính trực tiếp: " Xin các chị cho tụi em ít dầu,vì đèn của tụi em tắt mất rồi ..", nói lên tình trạng,gấp rút, thảm đạm của nhóm các cô không biết tiền liệu, toan tính, dự đoán trước. Không có dầu, thời gian chờ đợi từ ban chiều đến giờ sẽ trở thành vô dụng, không được hân hạnh tham dự vào đoàn tùy tùng phù rễ, bao nhiêu y phục, trang điểm đã được chuẩn bị có thể từ không phải mới đây, đều được coi là vất đi. Mất giờ, mất công chờ đợi và mất của mua sắm y phục nữ trang thành vô ích. Lời cầu cứu giúp đở của các cô khờ dại cho thấy tình trạng nhu cầu cần thiết và khẩn trương, các cô đang gặp phải. Có một cái gì đó bất ổn trong chương trình chuẩn bị tham dự lễ của các cô. Các cô đang ở trong hoàn cảnh thua thiệt. Và như vậy người đọc Phúc Âm Thánh Matthêu có thể hiểu được lý do tại sao đoạn Phúc Âm dùng hai tỉnh từ " khờ dại " và " khôn ngoan " ở phần mở đầu ( Mt 25, 2). Dĩ nhiên lúc khởi đầu, chúng ta có thể mườn tượng được thái độ " khờ dại " của năm cô nàng không biết tiên liệu, lo xa, nhưng giờ đây chúng ta thấy được giá trị của phần dầu dự trử và tình trạng tồi tệ đổ vỡ do thái độ " khờ dại ", không tiên liệu gây ra. 3 - Câu trả lời thẳng thắng và rõ ràng. Câu trả lời của các nàng trinh nữ khôn ngoan là câu từ chối rõ ràng và dứt khoát, nói lên lý do và giúp thêm bằng lời gợi ý - " Các cô khôn ngoan đáp: Sợ không đủ cho tụi em và các chị đâu, các chị hãy ra hàng mà mua thì hơn" ( Mt 25, 9). Lý do của việc từ chối là số lượng dầu cần thiết: một phần dầu chia đôi có thể không đủ cho cả hai và cả hai lại gặp phải tình trạng khẩn trương thiệt thòi, đổ vỡ như nhau. Tư tưởng nói lên lời từ chối của các cô khôn ngoan không phải là do xấu bụng, ác ý, ích kỷ, được chứng minh bằng lời khuyên " các chị hãy ra hàng mua thì hơn". Nghe lời khuyên của các cô, các nàng khờ dại đi mua. Nhưng chính trong lúc đó chàng rễ lại đến và những gì xảy ra, không ai muốn thấy. Biến cố chàng rể đến là yếu tố quyết định, không phải quyết định cho thấy sự khác biệt giữa những cô biết tiên liệu, lo xa và các cô bất cẩn mà còn cho thấy sự khác biệt đó trở thành yếu tố chính yếu và vĩnh viễn. Chàng rể nhập đoàn với năm cô khôn ngoan có đèn được thắp sáng: - " Đang lúc các cô đi mua, thì chủ rể đến, và những cô đã sẵn sàng được đi với chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại" ( Mt 25, 10). Có lẽ chủ rể cũng không biết còn có các cô khác chưa đến kịp. Đối với chàng, không có ai khác, hay họ là những người đến không đúng chỗ, tới không phải lúc. Chỉ có vậy! Sau khi khách khứa, các cô khôn ngoan và chú rể vào phòng tiệc, " người ta đóng cửa lại", có nghĩa là cửa đóng then gài, để tránh mọi ngoại nhập bất thần và quấy rối và cũng có thể có ác ý, ý đồ bất chính của những kẻ cướp giựt chẳng hạn. Câu nói " rồi người ta đóng cửa lại ", nói lên tính cách quyết định cuối cùng, không tiếp nhân ai khác và có lẽ cửa khoá bằng ẩn số, nên không phải ai muốn mở và mở cho ai cũng được. Động từ " đóng " trong bản văn tiếng Hy Lạp được dùng ở thì aoriste, để chỉ một động tác quá khứ đã hoàn tất, kết thúc, quyết định. Không những chỉ có chàng rể mới có quyền mở và đóng cửa phòng tiệc để đón tiếp ai chàng muốn, mà được vào phòng tiệc cưới còn có ý nghĩa thân tình giao hữu với chàng, bởi đó câu Phúc Âm diển tả động tác của các cô khôn ngoan được chàng tiếp đón và đi vào phòng tiệc với chàng: - " ...và những cô đã sẵn sàng được đi với chú rể vào dự tiệc cưới . .." ( Mt 25, 10). Một thời gian sau, không biết bao lâu, năm cô đi mua dầu cũng đến và lên tiếng van xin chú rể mở cửa cho: - " Thưa Ngài, thưa Ngài! Mở cửa cho chúng tôi với " ( Mt 25, 11). Lời van xin của các cô cũng có giọng điệu thành thật đó, nhưng là những lời được thốt lên bên ngoài thời gian được ấn định. Bởi đó, từ bên trong vọng lên câu trả lời thật khắc nghiệt, làm nãn chí, có thể đáng kinh hoàng của chàng rể, nếu tiệc cưới hôm đó là Nước Trời: - " Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai " ( Mt 25, 12) Dạng thức tuyên bố " Tôi bảo thật,..." là hình thức khởi đầu cho một câu tuyên bố quan trọng. Nói cách khác, viết lên lời từ chối của chàng rể dưới hình thức đó, Thánh Matthêu có ý nói lên đó là một lời phán xét cuối cùng. Động từ " biết " thường đưọc dùng trong Thánh Kinh để nói lên mối liên quan giữa hai chủ thể với nhau, quen biết nhau và kể cả sống chung nhau, có thể liên hệ thể xác và tinh thần với nhau. Như vậy câu nói, " tôi không biết các cô là ai " là cách diển tả nói lên thái độ từ chối bất cứ một mối liên hệ nào, hay nói theo cách nói người Việt chúng ta: " Tôi không có gì phải liên hệ với anh". Đó là thái độ ngược lại với đón nhận và hiệp thông tâm tình vui mừng với năm cô khôn ngoan trước đó, " và các cô đã sẵn sàng được đi với chàng rể vào dự tiệc cưới".
4 - Anh em hãy canh thức! Câu kết luận cuối cùng cảnh tỉnh cách sống phải có để được vào Nước Trời, được coi như là câu kết luận áp dụng của dụ ngôn và là câu khuyến khích chung cách sống phải có cho mọi mọi người. Không phải là tỉnh thức thể lý suốt đêm, " trắng đêm không ngủ ", bởi lẽ ai cũng có nhu cầu thân xác cần được nuôi dưỡng và ngủ nghỉ. Tất cả mười cô trinh nữ trong dụ ngôn đều thiếp đi rồi ngủ cả. Như vậy tỉnh thức có nghĩa là nhìn qua bên kia lằn mức cuộc sống trần thế hiện tại, vượt lên trên những lằn mức chật hẹp thế tục hôm nay, để thoát mình ra khơi, ra khơi ngoài biển cả mênh mông của cuộc sống hạnh phúc viên mãn và bất tận trong tương lai, hướng mình vào cuộc gặp gỡ quyết định với nguồn hạnh phúc vô tận, mà khi chúng ta được sinh ra, Thiên Chúa đã đặt ước vọng đó vào tâm khảm mỗi người chúng ta, dựng nên chúng ta " giống hình ảnh Người" ( Gen 1, 27). Nói theo ngôn từ của dụ ngôn hôm nay, mục đích của các cô trinh nữ là được gặp chàng rể, để hưởng hạnh phúc tiệc cưới với chàng. Bởi đó, thời gian chuẩn bị và chờ đợi của các nàng là nhằm vào chàng rể và chờ đợi đến lúc được gặp chàng. Chàng rể là hình ảnh Chúa Ki Tô, được tất cả các Phúc Âm đều thuật lại. Chúa Ki Tô là Đấng mà mỗi người chúng ta phải nhằm và chờ đợi được gặp bằng cả các động tác trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, hành xử bằng cách tiên liệu để đến lúc được gặp Người. Cách sống đó không cần phải có hàng tá, hàng lố lời nói đẹp, lý lẽ khôn ngoan, cho bằng hành động và tiền liệu trong cuộc sống theo những gì Chúa Giêsu dạy bảo chúng ta, sống trong thực tại trần thế, nhằm mục đích đạt được Nước Trời, hay sống thực tại trần thế bằng tinh thần Phúc Âm, thánh hoá cả môi trường trần thế đang sống, kể cả các mối tương quan với anh em:
- " Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: " Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước Trời đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi,Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: " Lạy Chúa! lạy Chúa! nào chúng tôi đã chẳng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ qủy, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? Bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: " Ta chẳng hề biết cac ngươi; cút đi cho khuất mắt Ta, hởi bọn làm điều gian ác" ( Mt 7, 21-23).
Tỉnh thức là người sống hôm nay, hồi tưởng lại những gì đã thực hành trong quá khứ và quy hướng về tương lai và hành xử như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô thánh hoá trần thế mà mình đang sống, như phận vụ mà Thiên Chúa giao cho tổ phụ chúng ta:
- " Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn địa đàng để trồng trọt và canh coi đất đai" ( Gen 2, 15).
Tỉnh thức là những ai đi đón chàng rể với ngọn đèn thắp sáng bằng dầu bác ái, bằng ánh sáng được Chúa Thánh Thần ban cho và sống bằng tình thương phục vụ Chúa trong anh em mình, nhứt là trong các anh em bất hạnh đang cần mình giúp đở hơn hết về mọi lãnh vực.
Đức khôn ngoan mà Chúa Giêsu đòi buộc phải có để được đón nhận vào bàn tiệc Nước Trời là " sẵn sàng " với ngọn đèn thắp sáng, bằng gương sống tiên liệu và hành xử nhằm về Nước Trời : đó là ngọn đèn chiếu toả ánh sáng trước mặt mọi người, để mọi người thấy được và ngợi khen Cha trên trời ( Mt 5, 14-16). Người tín hữu Chúa Ki Tô không phải là người chỉ cả ngày " Lạy Chúa, lạy Chúa! là được vào Nước Trời ", - nhưng cũng không phải chỉ biết cả ngày " trồng trọt và trông coi đất đai ", và say mê hoa quả thu thập được, - mà quên đi ai là Đấng đã dựng nên mình có thân xác, ban cho mình có bấp thịt, sức mạnh, đôi cánh tay để làm việc, đôi chân để di chuyển, và trí khôn ngoan biết suy nghĩ ( Gen 2, 7) , khi mình được dựng nên " giống hình ảnh Thiên Chúa" ( Gen 1, 27), và được " đem đặt vào vườn địa đàng" ( Gen 2, 15). Người tín hữu Chúa Ki Tô phải biết - dùng sức mạnh thể xác, trí khôn ngoan Chúa ban cho để hành xử, chớ không phải ngồi há miệng chờ sung rụng, - cầu nguyện sống thân tình với Chúa, biết được thánh ý Chúa, - sống theo thánh ý Chúa, cầu nguyện và hành động để phục vụ Chúa trong anh em, phục vụ và bênh vực anh em, nhứt là những anh em yều kém, bất hạnh, " mới được vào Nước Trời mà thôi ".
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN HỌC TẬP
|