*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.379/27.11.08
=>So/No.378/20.11.08
=>So/No.377/13.11.08
=>So/No.376/06.11.08
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


===============================================================
VietTUDAN ---------------------------------------------------------------KINH TE/ TAI CHANH
===============================================================


============== CHÚ THÍCH ĐẦU: LƯU TRỮ NHỮNG BÀI ================

Trong Phần Phổ Biến Mỗi Ngày hoặc trong mỗi số VietTUDAN hàng Tuần, có những Bài muốn giữ lại lâu hơn nữa trong DIỄN ĐÀN này, chúng tôi sẽ chuyển sang Phần Lưu Trữ Tổng Quát hoặc sang các Phần có những Chủ Đề dưới đây:
   
                      *   VietTUDAN -- chu de Ton Giao/ subject Religion :
                                                CONG SAN & TON GIAO   
                                                CSVN & TON GIAO                         
                                                NHUNG VU DAN AP  
                                                PHAP LENH TON GIAO                                              
                                                NGOM GIAO GIAN        
                      *   VietTUDAN -- chu de Kinh Te/ subject Economy                
                                                THAT BAI KINH TE CHI HUY   
                                                TUONG QUAN KT/CHINH TRI        
                                                DOC TAI & THAM NHUNG         
                                                KT. TU DO THI TRUONG     
                                                WTO & NGOAI THUONG   
                                                TU HUU & DAN CHU             
                                                CACH MANG VO SAN MOI     
                      *   VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics   
                                                SUP DO THE GIOI CS              
                                                KET AN CS TAN NHAN    
                                                HO CHI MINH & CSVN     
                                                HO SO TOI AC CSVN        
                                                CA NHAN & CHINH TRI           
                                                THE CHE TU DO/DAN CHU    
                                                DAN CHU PHAP TRI       
                      *   VietTUDAN -- luu tru/ archives    

                (Xin xem cuối trang để biết bài giữ lại được chuyển vào Phần nào)
 
===============================================================





GIẢI QUYẾT KINH TẾ TRẦM TRỆ

Nguyễn Đạt Thịnh



Đài tiếng nói Việt Nam (TNVN) của Việt Cộng nói về Hội Nghị 3-ngày vừa chấm dứt tại Hà Nội, "hội nghị lần này tập trung thảo luận và cho ý kiến về tình hình kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước năm 2008, cũng như dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2009".

Đài TNVN của nhà nước Việt Cộng đã nói như vậy thì "báo, đài", tất cả mọi tờ báo, mọi đài phát thanh, truyền hình khác trong nước, cũng của nhà nước Việt Cộng, sẽ nói như vậy; màng nhện những dối trá đan vào với nhau tạo thành một niềm lạc quan ảo và nguy hiểm.

Một thí dụ: Ngày 30 tháng Chín, 3 ngày trước cuộc hội thảo của đảng cộng sản Việt Nam, ngân hàng nhà nước đưa ra một báo cáo nói Ngân Hàng đã khảo cứu hơn 163.000 doanh nghiệp và kết quả cho thấy chỉ có 3,8% doanh nghiệp gặp khó khăn và khoảng 1,4% doanh nghiệp có khả năng cụt vốn, khánh tận.

Phân số 1.4% khác xa sự thật; và ông Cao Sĩ Kiêm Chủ Tịch Hiệp Hội Doanh Nghiệp "vừa-và-nhỏ" đã thẳng thắn phản bác.

Ông Kiêm từng là Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước và ông đã mạnh dạn phê bình cơ quan cũ của mình, là đưa ra con số không chính xác và thiếu trách nhiệm.

Trong số các ý kiến để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trước nguy cơ phá sản hàng loạt, ông Đỗ Tất Ngọc, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Ngân hàng Nông Nghiệp phát triển nông thôn nhìn nhận một thực tế là từ những tháng đầu năm, số doanh nghiệp nông dân vẫn còn hội đủ điều kiện để được ngân hàng chấp nhận cho vay vốn với lãi suất cao, chỉ còn khoảng 21%.

Ông Phạm Văn Minh, giám đốc công ty Phú An Sinh ở Sài Gòn, cho rằng lãi suất cho vay quá cao, trên dưới 20%, thì doanh nghiệp vay vốn sẽ phải tạo ra lợi nhuận ít nhất 30% sau khi đã trừ chi phí, ông Minh nói: "Điều này không đơn giản không dễ dàng với các doanh nghiệp vừa-và-nhỏ."

Nếu chính phủ hạ lãi suất cơ bản để tín dụng cho vay có thể giảm nhiều hơn nữa, thì sẽ đi ngược lại mục tiêu thắt chặt tín dụng chống lạm phát.
 
Bà Dương Thu Hương Tổng Thư Ký Hiệp Hội Ngân Hàng cho là việc một mặt  giúp vốn phục vụ doanh nghiệp mặt khác vẫn bảo đảm an toàn cho hoạt động ngân hàng là việc thiên nan, vạn nan. Nếu cho vay dưới tiêu chuẩn, ngân hàng sẽ phá sản, và tác hại sẽ rất lớn.

Ông Lý Đình Sơn Phó Chủ Tịch Hiệp Hội Doanh Nghiệp vừa-và-nhỏ  nhận định rằng, các doanh nghiệp vừa-và-nhỏ ở VN chịu tác động mạnh nhất đối với tình trạng lạm phát. Ông Sơn so sánh các doanh nghiệp vừa-và-nhỏ như những ngôi nhà yếu, ít được phòng bị nên khi cơn bão lạm phát ập đến đã bị tàn phá nặng nề.

Trong số hơn 60 ngàn doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, khoảng một nửa đã thực sự ngừng hoạt động hoặc chuyển hướng. 30 ngàn doanh nghiệp còn lại đang ở trong tình trạng đầy khó khăn chịu tác động lạm phát.

Con số 60,000 (trên 163,000) doanh nghiệp đang đứng bên bờ vực phá sản không gần tí nào với phân số 1.4% con số chính thức mà hội nghị 8  dùng làm căn bản thảo luận, tìm cách cứu nguy nền kinh tế Việt Nam; phân số thật là 36%, nhiều bằng 25 lần con số chính thức.

Căn cứ vào những "tin tức" đó đại hội 8 không thể nào phác thảo ra một kế hoạch đứng đắn để phát triển kinh tế trên những con số không đúng và nặng "thành tích".
Điều trớ trêu là Việt Cộng chủ trương nói dối dư luận, nhưng cuối cùng họ lại dựa vào những lời nói dối đó để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế ảo tưởng, không có nền móng vững chắc.

Thu nhập của Việt Nam dựa vào 3 nguồn tài lực chính: (1) đầu tư; (2) xuất cảng; và (3) kiều hối. Hai nguồn tiền tài trên  đang suy yếu trầm trọng, chỉ còn lại nguồn kiều hối là vô cùng vững chắc và đang mỗi ngày một tăng trưởng.

Điều nghịch lý là giải pháp làm tăng trưởng cả 3 nguồn tài lực này không nằm trên lãnh vực kinh tế, mà lại trên lãnh vực chính trị.

Việt Cộng chỉ cần dân chủ hóa chính sách đàn áp hiện nay, bỏ điều 4 hiến pháp, trả tự do cho những chiến sĩ dân chủ, thực sự tôn trọng nhân quyền, tái lập nền tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, là lập tức con số 10 tỉ kiều hối sẽ gia tăng qua việc người Việt hải ngoại trở về nước đầu tư, khai thác để sản xuất những món hàng hiện nay họ đang tiêu thụ tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới.

Những doanh gia Việt Nam hồi hương đó sẽ biết cách thỏa mãn khách hàng người Việt hải ngoại và thu hút thị trường sản phẩm Việt Nam hiện không được đồng bào hải ngoại có thiện cảm.

Nhưng hội nghị 8 sẽ không đi đến khám phá này, và mọi hội nghị khác của Việt Cộng cũng không bao giờ đạt tới ý thức là thay đổi chính sách sẽ đưa đến một tình trạng cực thịch kinh tế với số vốn không lồ về cả tài lực lẫn nhân lực của khối người Việt hải ngoại. Khối người này không chỉ giầu tiền tài, mà còn giầu cả về kiến thức nữa.

Nhưng Việt Cộng sẽ không thay đổi; nguyên nhân: không bao giờ họ bỏ điều 4, bỏ độc quyền lãnh tụ, vì họ không muốn tự sát.

Thà chấp nhận để dân tộc nghèo đói, chứ từ bỏ độc tài, độc đảng thì họ khăng khăng lắc đầu.

Nguyễn Đạt Thịnh

 






20% DOANH NGHIỆP NGUY CƠ PHÁ SẢN

21:03' 03/10/2008 (GMT+7)  
 

- Con số đầy quan ngại này được Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) công bố tại Diễn đàn "Doanh nghiệp - Ngân hàng - Chứng khoán" cùng tháo gỡ khó khăn trong thời kỳ lạm phát tổ chức ngày 3/10.

Đòn nặng nề

Theo ông Lý Đình Sơn, Phó Chủ tịch Hiệp Hội DNNVV, lạm phát tác động mạnh đến cả nền kinh tế và từng doanh nghiệp (DN), trong đó DNNVV bị tác động mạnh nhất. Nó cũng như trong tự nhiên, khi cơn bão ập đến những ngôi nhà nào yếu, ít được phòng bị thì bị tàn phán nhiều và nặng nề hơn. DNNVV đang ở trong hoàn cảnh như vậy.

Hiệp hội DNNVV đã chia ra 3 nhóm DN chịu tác động lạm phát. Trước hết là nhóm DN bị tác động mạnh, đang hết sức khó khăn bị phá sản hoặc đứng trước nguy cơ bị phá sản. Con số của nhóm này có thể lên tới 20% tổng số DN. 

Nói thêm về con số này, ông Cao Sỹ Kiêm - Chủ tịch Hiệp Hội DNNVV cũng cho biết,  gần nửa của số 20% DNNVV có nguy cơ phá sản ấy, tức 10% đã ngừng hoạt động hoặc họ có thể chuyển hướng. 10% còn lại bị tác động lạm phát, nếu chính sách tốt lên họ sẽ cải thiện tình hình tốt hơn.

Theo ông Kiêm, con số 20% được các chuyên gia tính toán và dự đoán trên diễn biến thực tế cũng như số liệu báo cáo của các địa phương, tổng hợp qua các cuộc hội thảo và theo dõi thường xuyên.

Nhóm thứ hai được tính đến là những DN bị lạm phát và khủng hoảng kinh tế tác động mạnh và hiện đang trong tình trạng khó khăn, sản xuất kinh doanh bị đình trệ. Số lượng nhóm này có thể lên đến 60%. Lạm phát và khủng hoảng đã khiến các DN này không kiểm soát được chi phí sản xuất, mất thị trường, không đủ vốn để duy trì sản xuất.

Nhóm thứ 3, là những DN ít bị tác động,  thậm chí vẫn tìm được cơ hội trong lạm phát để phát triển.

Sức ép lên lãi suất

Khó khăn lớn nhất đối với DNNVV hiện nay là thiếu vốn. Bản thân các DNNVV có tiềm lực tài chính hạn chế và rất cần đến vốn vay để kinh doanh. Tuy nhiên, trong điều kiện thắt chặt tiền tệ, việc khó vay vốn đã đẩy DN đứng trước nguy cơ phá sản.

Bên cạnh đó, cũng phải kể đến tình trạng, trải qua một giai đoạn phát triển "nóng", rất nhiều DN vay vốn đầu tư khá lớn để đẩy nhanh các dự án, mở rộng quy mô. Thậm chí không ít DN đầu tư quá sức của mình... Vì thế, vốn đang trở nên rất cấp thiết đối với DNNVV.

Ông Kiêm cho rằng, cơ hội tiếp cận vốn của DN trong điều kiện hiện nay khó hơn là tất nhiên. Tuy nhiên, lãi suất đã giảm mức 17- 18% cũng là khá thấp.

Tuy nhiên, ông Kiêm cũng chia sẻ, quan trọng nhất không phải là hạ lãi suất xuống bao nhiêu mà là lạm phát giảm đi bao nhiêu. Lạm phát giảm thì lãi suất đầu vào, đầu ra giảm xuống và DN có chịu đựng nối hay không là do yếu tố lạm phát.

Về vấn đề này, ông Đỗ Tất Ngọc, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Nông Nghiệp - Phát triển Nông thôn nói: khi dòng vốn đã đỡ căng thẳng thì nảy sinh vấn đề lãi suất và chi phí vốn vay.

Ông Ngọc cũng phân tích rằng trong những tháng đầu năm, mặc dù lãi suất cao song các DN vẫn chấp nhận vì còn tiềm lực. Mặt khác, với dự án, thương  vụ sắp hoàn thành, một lượng vốn nhất định với lãi suất cao là điều hoàn toàn có thể chấp nhận. Nhưng vào chu kỳ sản xuất mới hoặc vào dự án trung và dài hạn thì kể cả lãi suất cho vay thấp nhất 16%, không phải DN nào cũng chịu đựng được.

"Vấn đề nổi cộm hiện nay là các DN nhất loạt đòi giảm lãi suất vay, càng thấp càng tốt. Nhưng nếu giảm lãi suất cơ bản (mặc dù hiện vẫn còn thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng)  thì sẽ đi ngược với mục tiêu chống lạm phát"- ông Ngọc nói.

Bà Dương Thu Hương - Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho rằng, lúc này cần phải đặt ra câu hỏi làm thế nào phục vụ DN mà vẫn đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng. Nếu cho vay dưới chuẩn, ngân hàng đổ vỡ tác hại sẽ là rất lớn

"Xã hội phải thông cảm và đặt lợi ích DN và ngân hàng hài hòa với nhau. Ngân hàng Nhà nước vừa rồi đã có những bước đi rất hài hòa, rất mềm mỏng và linh hoạt, đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp đồng thời đảm bảo hoạt động của hệ thống ngân hàng. Đó cũng chính là tín hiệu tốt để ngân hàng và DN chia sẻ trong khó khăn"- bà Dương Thu Hương nhận định.

Phước Hà




NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP
CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
 


Đây là bài QUAN ĐIỂM thứ nhất trong loạt bài Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH chủ trương việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế.  Hiện nay, đảng CSVN, trước những Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh do việc đánh đĩ ấy tích luỹ đã hàng chục năm mà sinh ra, chỉ sơn phết qua loa hòng mỵ dân nhưng thực chất vẫn ngoan cố duy trì CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ xưa. Một số nhà Kinh tế cố vấn cho CSVN thừa biết những hậu quả của việc đánh đĩ này, nhưng vì quyền lợi riêng tư hoặc sợ sệt, đã tránh né không dám nói ra sự thật, thậm chí còn trở thành nịnh thần thay vì làm cố vấn.

Trước sự ngoan cố của CSVN và trước việc nịnh thần của một số những Kinh tế gia được gọi là cố vấn, chúng tôi muốn viết loạt bài này về Kinh tế gửi đến cho Dân nghèo, những người phải chịu hậu quả trực tiếp của việc đánh đĩ bất chính. Vì viết nhằm gửi đến Dân nghèo, Nông dân và Công nhân, nên chúng tôi xử dụng cách diễn tả bình dân, lấy những tỉ dụ cụ thể để Dân nghèo hiểu về Kinh tế. Chúng tôi cần Dân nghèo hiểu rõ về những hậu quả Kinh tế mà họ đang gánh chịu do việc đánh đĩ này bởi vì trước sự ngoan cố của CSVN và trước sự nịnh thần của những Trí thức cố vấn Kinh tế cho chế độ, chỉ có LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO mới có thể làm đột biến vứt bỏ hẳn CƠ CHẾ chứ không trì hoãn lẻo mép cải cách, thoa bóp cơ chế mà tiếp tục đánh lừa nữa.

Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất này mang đầu đề NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ được trình bầy qua những điểm sau đây:

=> Can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính trị
=> Tìm cách nuôi sống thân xác cá nhân: nền tảng xây dựng Kinh tế tự do
=> Nguyên tắc đòi hỏi bởi những ông tổ xây dựng nền Kinh tế Tự do và Thị trường
=> Không thể làm tréo cẳng ngỗng

Can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính trị

Với nền Kinh tế Tự do và Thị trường, Chính trị chỉ được coi là một Môi trường cho sự phát triển Kinh tế. Người làm Kinh tế nhìn thấy Môi trường thuận lợi mà quyết định cho sự làm ăn. Cái Môi trường Chính trị cũng giống những môi trường khác như Thiên nhiên, Khí hậu, Tập quán, Phong tục... Tỉ dụ: cách đây trên 10 năm, Tập đoàn CIBA-GEIZY của Thụy sĩ muốn trồng cây sản xuất thuốc tại Việt Nam. Loại cây đó có nguồn từ Ba-Tây và hợp với đất của những đồn điền cao xu ở vùng đất đỏ Miền Nam. Khi tôi đề nghị với Việt Nam, thì nhà nước CSVN nhất định yêu cầu phải trồng cây đó tại Miền Bắc vì muốn tập trung Kinh tế về Miền Bắc. CIBA-GEIZY đã bỏ cuộc. Khí hậu, đất đai là một môi trường thiên nhiên để người làm Kinh tế quyết định làm ăn.

Nền Kinh tế Tự do và Thị trường coi Chính trị-Luật pháp chỉ là Môi trường (Environnement Politico-Juridique). Vì vậy, không thể lấy Chính trị để quyết định cho những sinh hoạt Kinh tế. Yếu tố quyết định cho Kinh tế là Lợi nhuận tối đa, trong khi đó Chính trị nhằm chiếm đoạt và bảo vệ Quyền lực Cai trị.

Việc can thiệp của Quyền lực Chính trị vào quyết định đời sống Kinh tế của Tư nhân là điều phải tránh. Quyền lực Chính trị hãy giữ đúng chức năng của mình là tạo một Môi trường Chính tri-Luật pháp cho PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique ADEQUAT) với một hệ thống Kinh tế mà Dân lựa chọn, nhằm nâng đỡ sự phát triển Kinh tế Tự do và Độc lập, chứ không nhằm bắt Kinh tế phải phục vụ cho Chính trị, nhất là Chính trị độc tài.
Một số nhà Kinh tế phân biệt việc can thiệp TRỰC TIẾP và việc can thiệp GIÁN TIẾP. Sự phân biệt này được đặt ra vì trào lưu lớn mạnh trước đây của ý tưởng Xã hội tại những nước Tây phương. Đối với những nhà Kinh tế Tự do và Thị trường chính thống thì bất cứ sự can thiệp nào của Chính trị cũng đều mang đến những tốn kém xã hội. Nhưng trước trào lưu lớn lên của ý tưởng Xã hội, những nhà Kinh tế ấy có thể chấp nhận cho Nhà Nước đưa ra những Chỉ đạo Kinh tế tổng quát (Directives économiques générales). Đứng về mặt Kinh tế tổng thể (Macroéconomie), thì những nhà Kinh tế chính thống coi Nhà Nước cũng giống như những tác nhân Kinh tế khác (Un des Agents (Acteurs) économiques), nghĩa là có những ảnh hưởng trên Cung và Cầu ở Thị trường. Nhà Nước có những Thu nhập và có những Chi tiêu như mọi tác nhân Kinh tế khác. Việc ảnh hưởng lên Kinh tế qua Cung và Cầu của Thị trường được coi như là việc can thiệp GIÁN TIẾP. Nhà Nước có thể ảnh hưởng vào Kinh tế qua những biện pháp thuế khóa hoặc qua những chi tiêu xây dựng.

Tóm lại, việc can thiệp TRỰC TIẾP của Chính trị vào Kinh tế là tối kỵ trong hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Tuy nhiên nền Kinh tế cũng cho phép Chính trị đưa ra những Chỉ đạo Kinh tế tổng quát (Directives économiques générales) và cho phép việc can thiệp GIÁN TIẾP như vừa trình bầy trên đây.  

Tìm cách nuôi sống thân xác cá nhân:
nền tảng xây dựng Kinh tế tự do

Tại sao những sinh hoạt Kinh tế thuộc hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường lại chủ trương cấm cản việc can thiệp TRỰC TIẾP của Chính trị vào Kinh tế như trên đã trình bầy ? Phần này và phần tiếp nối sau đây trả lời cho câu hỏi vừa nêu ra.

Mọi sinh vật, thú vật, con người, khi chào đời, thì việc trước tiên là phải ăn uống để bảo tồn thân xác mình và lớn lên. Không có ăn uống thì thân xác đó chết. Thú vật cũng như con người phải tự kiếm ăn cho chính mình. Đây là bắt đầu của nguyên tắc kiếm sống tự do và cá nhân. Cá nhân mang thân xác riêng và có trách nhiệm với thân xác ấy nếu muốn sống. Khi mới sinh ra, chưa có khả năng tự kiếm sống, thì có cha mẹ bao cấp. Con vật mới sinh ra chưa mở mắt, trẻ con mới chào đời đã phải mang bản năng tìm ra cái vú của mẹ để bú mà sống. Nhưng cha mẹ không thể bao cấp cho cuộc sống như vậy suốt đời của mình vì chính cha mẹ cũng già yếu đi không còn đủ khả năng làm việc để bao cấp. Ngoài cha mẹ ra, nói rằng Xã hội (người khác) có thể bao cấp nuôi sống thân xác mình suốt đời, đó là điều không tưởng. Mỗi con vật, mỗi người phải lo tự làm ăn kiếm sống với mồ hôi nhễ nhãi cá nhân mới mong nuôi sống thân xác mình, nhất là khi về già, bệnh tật.

Việc mỗi cá nhân tìm cách nuôi sống thân xác riêng của mình là nền tảng cho hệ thống sinh hoạt Kinh tế TỰ DO. Việc kiếm sống cá nhân đòi hỏi phải có PHƯƠNG TIỆN làm ăn. Ở đây, chúng ta đặt ra vấn đề TƯ HỮU những phương tiện kiếm sống. Mỗi con vật, tùy thức ăn phù hợp cho thân xác, mà biến hóa, tạo ra những phương tiện kiếm ăn riêng của mình. Đây là tư hữu tự nhiên. Con chim hút nhụy hoa, cần có mỏ dài. Con sư tử dạng chân ra đái để báo hiệu vùng đất săn thuộc tư hữu của mình. Người nông dân có tư hữu cái liềm để cắt cỏ; anh ngư phủ có tư hữu tấm lưới để bắt cá. Không thể tước đoạt những tư hữu PHƯƠNG TIỆN kiếm sống cá nhân.

TƯ HỮU là nền tảng phát sinh hệ thống Kinh tế Tự do. Thực vậy, TƯ HỮU là điều tự nhiên. Mà khi những phương tiện kiếm sống thuộc TƯ HỮU, thì hệ luận trực tiếp là phải có TỰ DO xử dụng phương tiện, nếu không tư hữu không còn ý nghĩa.

Mỗi cá nhân tự kiếm sống nuôi thân xác mình là điều tự nhiên và bó buộc. Phương tiện kiếm sống là tư hữu, cách thế kiếm sống là do cá nhân quyết định trong một Môi trường sống chung (Environnement Politico-Juridique) đòi hỏi phải có TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ cho mỗi cá nhân. Nguyên tắc TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ là một điều tự nhiên, chứ không đến từ một cấu trúc lý thuyết, từ một ý thức hệ nào. Một ý thức hệ, cấu trúc từ suy tư của đầu óc, để bó buộc sự tự nhiên từ bản năng thân xác, đó là một điều không thể chấp nhận.

Khi Quyền lực Chính trị, nhất là quyền độc tài của một nhóm người, nhân danh một ý thức hệ, can thiệp TRỰC TIẾP vào tư hữu và vào quyết định kiếm sống cá nhân, đó là điều không thể chấp nhận. Dùng quyền lực Chính trị độc tài, dành độc quyền quản trị Kinh kế dù trực tiếp hay gián tiếp qua những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước, mà không bao cấp cho cuộc sống thân xác cá nhân, đó là việc vi phạm vào bản năng tự nhiên kiếm sống của từng người. Một CƠ CHẾ như vậy đối với Kinh tế là một CƠ CHẾ VÔ LƯƠNG. Chúng tôi nói VÔ LƯƠNG bởi vì nếu cơ chế còn bao cấp, thì còn có lương tâm. 

Nguyên tắc đòi hỏi bởi những ông tổ xây dựng
nền Kinh tế Tự do và Thị trường

Từ nền tảng cá nhân buộc phải kiếm sống cho thân xác mình, từ bản năng tự nhiên TƯ HỮU phương tiện kiếm sống, từ hệ luận trực tiếp là TỰ DO xử sụng phương tiện và từ tính cách ĐỘC LẬP quyết định sinh hoạt Kinh tế của mỗi cá nhân, những ông tổ Lý thuyết gia đã xây dựng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Nguyên tắc được các ông Tổ đó nhấn mạnh thiết yếu là KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ. Cái nguyên tắc thiết yếu này nhằm:

=> Bảo vệ sự TỰ DO và tính cách ĐỘC LẬP của cá nhân trong sinh hoạt Kinh tế kiếm sống cho chính thân xác của từng người (chứ không phải của ý niệm xã hội)
=> Phát huy sáng kiến kiếm sống cá nhân và đẩy mạnh hiệu năng sinh hoạt kinh tế
=> Tạo sự phát triển Kinh tế chung qua Thị trường Tự do trao đổi với sự cạnh tranh hiệu năng của những cá nhân tham dự Thị trường.

Từ nguyên tắc này, những Lý thuyết gia xây dựng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường đã đồng nhất về vị trí của Nhà Nước chỉ là Trung Lập hay Cảnh Sát (Etat Neutre ou Etat Gendarme).

Qua những Thế hệ, những Lý thuyết gia sau đây giữ vững Nguyên tắc không cho Chính trị can thiệp TRỰC TIẾP vào Kinh tế:

1) Thế hệ những Nhà Kinh tế Cổ điển Anh (les Classiques Anglais). Đây cũng là những Ông Tổ sáng lập nền Kinh tế Tự do và Thị trường: Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL (Thế kỷ 17)

2) Thế hệ những Nhà Kinh tế Tân Cổ điển (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20):Alfred MARSHALL, PARETTO, WALRAS

3) Nhà Toán học và Kinh tế gia lừng danh KEYNES sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-1930. Ông tổ của Economie du Marche lấy phía Cầu (Demande) hướng dẫn phía Cung (Offre).

4) Thế hệ học trò của KEYNES, hậu Keynes (Post-keynesiens): Paul SAMUELSON (Giải Nobel Kinh tế 1970), FRIEDMANN. Đây là nhưng Giáo sư Kinh tế và Cố vấn cho Hoa kỳ. Họ dậy tại Trường Kinh tế Harvard.

Không thể làm tréo cẳng ngỗng

Cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh hiện nay tại Việt Nam chỉ là hậu quả của việc làm tréo cẳng ngỗng của đảng CSVN: (i) một đàng vì hậu quả Chính trị, Kinh tế Việt Nam trở thành quá đói nghèo, nên CSVN buộc lòng phải đổi mới, mở cửa, chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường; (ii) mặt khác CSVN vì cố thủ giữ quyền hành độc đoán và độc đảng, nên không dám để cho dân chúng tự do làm kinh tế, nghĩa là chủ trương đem Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế. Cái tréo cẳng ngỗng là ở chỗ đó: chấp nhận một hệ thống Kinh tế  mà lại vi phạm cái nguyên tắc nền tảng của chính hệ thống Kinh tế mà mình chấp nhận.

Nếu đám Lãnh đạo Chính trị đảng CSVN có ngu muội mà làm tréo cẳng ngỗng như vậy, thì tối thiểu những Tiến sĩ, Thạc sĩ được mời làm Cố vấn Kinh tế cho chế độ cũng phải biết rõ tính cách tréo cẳng ngỗng này. Chúng tôi không tin những Tiến sĩ, Thạc sĩ này không biết NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ bởi lẽ nếu họ không biết thì ngay từ năm thứ nhất của Phân khoa Kinh tế, họ đã bị trượt rồi. Chúng tôi rất buồn để nói ra việc biết mà tránh né để trở thành nịnh thần cho chế độ vì quyền lợi cá nhân. Nhưng chúng tôi còn buồn hơn nhiều khi nhìn 75% dân chúng Việt Nam nghèo khổ đang phải chịu hoạn nạn vì việc tréo cẳng ngỗng này.

Nhưng đã có những vị can đảm nói lên việc tréo cẳng ngỗng cách đây một thập niên, tỉ dụ nhà Toán học PHAN ĐÌNH DIỆU. Oâng đã thẳng thắn lý luận rằng “nếu không mở rộng thêm tự do chính trị và tư hữu hoá, thì những cuộc biểu tình của nông dân và các khó khăn kinh tế khác có thể sẽ gia tăng gấp bội“. Lý luận vào thời điểm 1997 mang tính cách tiên tri cho ngày nay đã khiến Oâng bị khai trừ khỏi đảng CSVN.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế










THẤT BẠI CỦA HỆ THỐNG KINH TẾ
TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN VÀ CHỈ HUY

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html



Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất trong loạt bài Chủ đề này trình bầy hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mà TƯ HỮU được tôn trọng cho mỗi cá nhân và nguyên tắc KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP Chính trị vào Kinh tế được triệt để đòi hỏi. Bài QUAN ĐIỂM thứ hai này trình bầy hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy mà những người chủ trương phế bỏ TƯ HỮU cá nhân và cho phép Chính trị (thậm chí độc tài) nắm trọn mọi sinh hoạt Kinh tế.

Hai chủ trương của hai hệt thống Kinh tế đối chọi hẳn nhau. Kiểm nhận hậu quả của hai hệ thống, người ta xác nhận sự phát triển của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường và sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy.

Bài QUAN ĐIỂM thứ hai này được trình bầy qua những khía cạnh sau đây:

=> Vài nét lịch sử của chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy.
=> Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
=> Những lý do thất bại của Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
=> Trở lại chủ trương hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường

Vài nét lịch sử của chủ trương
Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy

TƯ HỮU trong hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường được coi là một sự tự nhiên dựa trên quyền tìm sống tối sơ của từng cá nhân và nguyên tắc Không Can Thiệp Chính trị, được các Lý thuyết gia đòi hỏi như điều kiện phát triển TỰ DO xử dụng TƯ HỮU làm phương tiện kiếm sống. Nếu việc xây dựng lý thuyết cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mang tính cách khai triển tự nhiên, thì việc cấu trúc chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã được thuyết lý dựa trên những quan niệm mang tính cách triết học.

Các lý thuyết gia của chủ trương này đã chạy ngược lên mãi thời Triết gia PLATON. Thực vậy, trong những cuốn “La République“, “Les Lois“, Platon đã nói đến “La Cité Communiste“ trong đó những người trách nhiệm làm Luật không được có gia đình và do đó không cần tư hữu cho con cháu.

Thời Trung Cổ Aâu châu, phía Thiên Chúa Giáo đã khai triển những Dòng Tu được coi là những Cộng đồng Cộng sản về Kinh tế.

Nhưng phải đợi đến đầu Thế kỷ thứ XVI, với Thomas MOORE (1477-1553), thì lý thuyết về một Chủ thuyết Xã Hội Kinh tế mới được phát triển có hệ thống. Thomas MOORE là người tôn sùng đạo Thiên Chúa. Được Vua HENRI VIII Anh quốc trọng dụng, nhưng vì cương trực phản đối lại Vua về vấn đề rắc rối vợ con, nên Oâng đã bị hành quyết. Năm 1516, cuốn sách Utopie ra đời và ông chủ trương Nhà Nước Utopie (Etat d’Utopie). Bắt đầu từ Thế kỷ XVI, Xã hội Tây phương có những xáo trộn về mọi phương diện: Tôn giáo, Tư duy, Nghệ thuật, Kinh tế, Xã hội... Oâng tìm kiếm một Thể chế có trật tự mà mẫu Cộng đồng trật tự nhất là các Dòng Tu. Giáo sư Sử học Kinh tế Jean-Marie VALARCHE đã viết: “Il (Thomas MOORE) prévoit un dirigisme absolu de l’Etat“ (Oâng (Thomas MOORE) dự trù một chủ thuyết Chỉ huy tuyệt đối của Nhà Nước).

Chúng tôi nhắc đến tác giả này vì muốn lấy ra những điểm mà Karl MARX đã chịu ảnh hưởng: ảnh hưởng của một Dòng Tu làm việc theo chỉ thị của người đứng đầu, cộng chung những sản phẩm, tiêu thụ theo nhu cầu từng người, chỉ có hệ thống phân phối giữa cung và cầu mà không có thương mại.
Từ đây, bắt đầu những cấu trúc Xã Hội Chủ Nghĩa qua những tác giả khác cho đến thời Karl MARX.

Karl Heinrich MARX sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 vùng Rhénanie, Đức, trong một gia đình gốc Do thái. Cha là Luật sư, nên Marx học Luật, sau chuyển sang Triết học theo HEGEL. Oâng chỉ làm quen và suy tư về những vấn đề Xã Hội, Kinh tế, Đấu tranh khi phải di chuyển sống ở nhiều nơi và viết báo. Sống ở một thời đại hậu bán Thế kỷ XIX có nhiều những cực đoan: Kỹ nghệ hóa vượt mức, Giới Tư sản nắm quyền hành, Cách xa Giới Chủ và Giới Thợ, Tình trạng thất nghiệp và đói nghèo, Cách Mạng 1848, những Ý tưởng Quốc gia cực đoan phát sinh. Trong sự hỗn loạn của những cực đoan ấy, Oâng lưu ý khai triển những vấn đề sau đây:

=>    Chủ thuyết Duy vật Lịch sử. Với Chủ thuyết này, Oâng nhấn mạnh đến sự vong thân tôn giáo để kết luận rằng:“Tôn giáo là cái bông ghê tởm mọc trên đống phân tư bản. Bởi vậy nếu hốt đống phân đi, thì hoa cũng tàn...“ Cũng trong Chủ thuyết này, tương quan Xã hội được chính yếu nhấn mạnh vào hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến thiết. Hạ tầng cơ sở gồm những tương quan sản xuất vật chất, thượng tầng kiến thiết gồm những phương diện Luật pháp, Chính trị quy định Xã hội.

=> Giai cấp Xã hội và Đấu tranh Giai cấp. Cái nguyên nhân tạo ra những Giai cấp Xã hội là sự đấu tranh chiếm hữu. Oâng nhìn thấy hiện tượng vô sản hóa Giai cấp Thợ thuyền. Xã hội phân chia ra hai Giai cấp chính: Giai cấp chiếm hữu và nắm quyền, Gai cấp Thợ thuyền bị khai thác và bị bóc lột. Oâng thuyết giải về tính cách Vong thân Lao động, nghĩa là một mặt đối với chính mình, người Lao động sản xuất, nhưng bị tước đoạt sản phẩm; mặt khác đối với tương giao xã hội trước người khác, người lao động biến thành cái máy làm theo quyết định của chủ bóc lột chứ không có sáng kiến tự mình.

=> Ảnh hưởng bởi Lý thuyết của David RICARDO về Giá trị sản phẩm được đo lường bằng chính Giá trị Lao động hàm ngụ trong sản phẩm. Tư sản cũng chỉ là sự tích lũy Giá trị sản phẩm từ Giá trị Lao động. Oâng chủ trương Đấu tranh Giai cấp và hệ luận là Giai cấp Lao động phải dành lấy quyền làm chủ sản phẩm của mình. Cần một cuộc nổi dậy Cách Mạng dù bằng bạo động và Giai cấp Vô sản phải nắm trọn quyền hành độc tài tổ chức Xã hội.

Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế
Trung ương Tập quyền và Chỉ huy

Nếu Karl MARX cấu trúc hệ thống mang đậm tính cách lý luận do ảnh hưởng Triết học và Lý tưởng xã hội đậm hình thức tổ chức Cộng đồng Dòng Tu theo kiểu Thomas MOORE, thì LENINE, một người Chính trị, đã lấy những ý tưởng của MARX để đấu tranh chiếm quyền hành và tổ chức cai trị xã hội.

LENINE sinh năm 1870 vùng Simbirsk, giữa Oural và Moscou. Người anh cả của Oâng thuộc một tổ chức Khủng bố, đã muốn ám sát Nga Hoàng, nhưng bị bại lộ và người anh này đã bị treo cổ. Lúc ấy Lénine mới có 17 tuổi và đã bị đi lưu đầy và sống lần lượt tại Anh, Thụy sĩ và Pháp. Năm 1905, sau khi Nga bại trận đối với Nhật, nhóm của Lénine đã phát động nổi dậy, nhưng thất bại.

Năm 1917, Nga lại thất trận đối với Đức. Nhờ tài hùng biện của Lénine và tài chiến thuật của TROTSKY, cuộc CÁCH MẠNG VÔ SẢN tháng 10 đã thành công. LENINE trở thành Nguyên Thủ Quốc gia cho đến năm 1924, năm Oâng chết.

Tổ chức cai trị Xã hội được tiếp tục và trở thành khuôn khổ độc đoán dưới thời STALINE.

Xã hội Cộng sản được tổ chức thực hiện những chủ trương của MARX:

=> Cuộc đấu tranh đẫm máu thanh trừng Giai cấp tiếp tục khắt khe và vô nhân đạo dưới thời Staline. Giai cấp Tôn giáo, Trí thức và Tư bản bị tiêu diệt.

=> Truất hữu toàn vẹn những tư hữu. Tất cả trở thành CÔNG HỮU;

=> Giai cấp VÔ SẢN nắm quyền độc tài, mà đại diện Giai cấp này là Đảng Cộng sản duy nhất, nghĩa là quyền hành cai trị Xã hội và quản trị CÔNG HỮU thuộc về Đảng Cộng sản lãnh đạo Giai cấp vô sản.

=> Vì những phương tiện sản xuất là CÔNG HỮU, nên chỉ có Nhà Nước (Đảng Cộng sản) có quyền điều hành để sản xuất Kinh tế. Không còn Kinh tế tư nhân nữa mà chỉ còn Kinh tế do Nhà Nước hoạch định qua những Kế Hoạch (Ngũ niên);

=> Thực hiện một Xã hội bình đảng, không giai cấp, nên cá nhân được bao cấp tiêu thụ theo nhu cầu;
 
=> Một cuộc Cải Cách Ruộng Đất được thực hiện. Không còn tư hữu đất đai. Những đất nông nghiệp được chia ra làm hai loại canh tác: Kolkhoz và Soukhoz. Dù canh tác thuộc loại nào chăng nữa, nông dân trở thành những Công nhân (Ouvriers agricoles)

=> Thương mại không những không được coi là sản xuất giá trị, mà còn bị coi là ăn bám sản xuất, nên bị bỏ đi. Thay vào đó, Nhà Nước tổ chức những Hợp tác xã để phân phối hàng hóa giữa sản xuất và tiêu thụ.

=> Dưới thời Staline, Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản được phát động để mang Cách Mạng Vô sản đến những nước khác. Theo đúng chủ trương đấu tranh giai cấp bằng bạo động của Karl Marx, Nga cung cấp vũ khí để làm bất ổn tại những Quốc gia khác để tạo cơ hội chiếm quyền hành.

Những lý do thất bại của
Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy

Năm 1989, Liên Xô và những nước chư hầu Cộng sản Đông Aâu lần lượt sụp đổ mà lý do chính yếu là đời sống Dân chúng quá đói nghèo, nghĩa là sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Thực vậy, sau khi bức tượng Bá Linh, tượng trưng phân cách giữa hai hệ thống Kinh tế, bị hạ xuống, chúng tôi đã có dịp sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến thực sự cảnh nghèo khổ của chính dân Thủ đô của Khối Cộng sản.  Nga phải mua những hộp đồ ăn đã hết hạn của những nước Tây phương. Ngôi Nhà Hàn Lâm Viện cho những Sinh viên ưu tú trống rỗng. Những Sinh viên Việt Nam sang du học đã phá tường của những phòng của Hàn Lâm Viện để mở quán chạp phô, mở quán phở, thậm chí mở quán bán thị chó. Tôi còn giữ những hình ảnh chụp cảnh làm ăn nghèo khổ này.

Hãy thử tìm hiểu những lý do thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy này.

=> Nỗ lực sản xuất Kinh tế không nhằm về phát triển Kinh tế, mà nhằm củng cố cho Đảng Cộng sản và Chính trị của Đảng. Khả năng phát triển Kinh tế Quốc gia đã bị tiêu dùng cho mục đích Chính trị. Trong suốt những năm sản xuất, Liên xô sản xuất vũ khí nhiều hơn việc sản xuất những hàng thường dùng của người lao động. Lấy một vài tỉ dụ hiện giờ : Trung Cộng tiêu tốn gần 50 tỉ Mỹ Kim cho sự vẻ vang Chế độ Chính trị của mình, hơn là phục vụ đời sống thực của Dân chúng; một số những xây cất ở Việt Nam cũng nhằm phục vụ cho Đảng và thể chế Chính trị, chứ không nhằm mục đích Kinh tế cho người Dân nghèo.

=> Khi Nhà Nước nắm giữ những chi tiêu và điều hành những Tập đoàn sản xuất công, thì việc chi tiêu chắc chắn không được căn cơ cho có hiệu lực. Câu nói “Chi tiêu tiền chùa“ hay “Cha chung không ai khóc“ cho thấy thực trạng lãng phí ắt phải xẩy ra, đó là chưa kể đến chủ tâm cắt xén của chung làm của riêng. Đây là một điều tự nhiên. Câu ngạn ngữ Kinh tế tư bản:“Làm ra tiền đã khó, nhưng chi tiêu tiền bạc còn khó hơn“. Đối với Kinh tế tư bản, khi chi tiêu, đã phải tính mình thu vào bao nhiêu lợi nhuận, nghĩa là tính cuyện làm sinh lời Kinh tế thực sự trước khi bỏ một đồng ra tiêu.  Chỉ có tiền tư hữu riêng của mỗi người, thì người đó mới căn cớ tính toán để chi tiêu cho đúng.

=> Nói về việc tiêu thụ, người lao động cũng dễ lười biếng khi thấy rằng mình cố gắng làm việc mà chỉ được hưởng đồng đều như người không chịu khó làm việc. Chính việc tư hữu những sản phẩm làm ra và được tiêu thụ là động lực kích thích sự chịu khó làm việc. Người ta nói rằng con gái Nga đẹp, nhưng thiếu nụ cười, bởi vì nụ cười của người con gái trong Kinh tế tự do có tư hữu được thưởng công, trong khi đó người con gái của Kinh tế chỉ huy có cười cả ngày cũng chỉ lĩnh được phần tiêu thụ đồng đều như người không cười. Vậy thì cười làm gì để trại quai hàm.
=> Về sản xuất tại những Soukhoz, Kolkhoz, chính hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy cũng đã phải sửa sai. Hiệu năng nông nghiệp của Soukhoz và Kolkhoz thấp xuống, Nhà Nước đã phải cấp cho mỗi Gia đình một khoảng đất tư để trồng trọt riêng cho Gia đình. Thửa đất tư có rau cỏ mọc tươi tốt, nhưng thửa ruộng công thì cây cỏ dễ khô héo. Cũng vậy con bò tư thì to béo và nhiều sữa, nhưng con bò nhà nước thì gầy còm, chỉ nhỏ giọt sữa.
=> Một tình trạng làm nản cố gắng sản xuất nữa, đó là những người cố gắng sản xuất, sản phẩm không những chỉ được bao cấp đồng đều mà còn bị chính cán bộ đảng không chân lấm tay bùn, có quyền chia cho mình phần lớn hơn để tiêu xài phung phí. Giảm cố gắng vì thấy người ngồi mát ăn bát vàng tham nhũng, hối lộ.
=> Những sinh hoạt Kinh tế quốc gia Cung, Cầu được hoạch định bằng những Kế Hoạch Ngũ Niên không được chính xác vì những người làm Kế hoạch thiên về Chính trị hơn là chuyên môn Kinh tế và vì sự phù hợp giữa Cung và Cầu có tính cách sinh động cập nhật ngắn hạn chứ không cứng nhắc dài hạn.

Trở lại chủ trương hệ thống Kinh tế
Tự do và Thị trường

Sự sụp đổ của Liên xô va các nước Cộng sản Đông Aâu vì lý do Dân chúng quá nghèo khổ là chứng minh hùng hồn cho sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Sụp đổ rồi, những nước này chọn hệ thống Kinh tế nào ?

Việc họ quay về hệ thống Kinh tế tự do và thị trường chứng thực một lần nữa cái uy thế phát triển Kinh tế của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường trong việc giải quyết đời sống dân chúng. Hai điều quan trọng làm nền tảng cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường là quyền TƯ HỮU và CHÍNH TRỊ KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP vào sinh hoạt Kinh tế. Đó là  nền tảng phát triển Kinh tế thực sự và lâu bền.

Chúng tôi xin trích lại chính quan điểm của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).

Câu nói của Marx phù hợp với hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường quan niệm rằng Chính trị chỉ được coi như Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) với sinh hoạt Kinh tế. Như vậy, khi chọn hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì không thể lấy độc đoán Chính trị để trấn át, bó buộc Hạ Tầng cơ sở Kinh tế phải tuân theo được.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế

 



KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
CHỈ LÀ BỊP BỢM VÔ LƯƠNG

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
 


Bài QUAN ĐIỂM thứ 3 này trong loạt 12 Bài dưới Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH viết về đời sống Kinh tế mà CSVN gọi là Kinh tế Vĩ Mô dưới danh xưng KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCH. Chúng tôi đã lục soát xem trong Lịch sử Kinh tế có những mẫu nào giống như ở Việt Nam hay không, nhưng đã không kiếm được.

Hai hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường và Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy có sự cấu trúc Lý luận riêng, nhưng Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCH của Việt Nam không thể gọi là hệ thống với nền tảng Lý luận, mà chỉ là một sự vá víu loang lổ để CSVN thủ lợi riêng.

Chúng tôi thường ví việc vá víu này như việc CSVN đi vá VÁY ĐỤP của những bà nhà quê Miền Bắc thời nghèo khó Pháp thuộc.  Marx-Lénine vẽ mẫu và may cho XHCH một chiếc VÁY lý tưởng bắt Dân mặc. Dân mặc không được vì chiếc váy không hợp, còn dầy vò thắt bụng dân đến đau đớn. Váy đã cũ kỹ không mặc được nữa. Dân Nga và Đông Aâu cởi phăng nó ra vất đi để tự mình đi kiếm may váy mới.

Tại Việt Nam, Cộng sản vẫn bắt Dân mặc chiếc váy cũ kỹ và rách ấy. Dân buộc phải mặc mà không được la lên. Nếu la lên than vãn thì Công an đế phang cho mấy dùi cui điện. Nhưng chính CSVN thấy đến chỗ cùng rồi bởi vì thấy dân mặc váy cũ rách nát để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài, nên đảng phải Mở Cửa để mong kiếm đo-la của Đế quốc Tư bản Mỹ, kẻ thù của Marx-Lénine-Staline. Cách đây 4 năm, từ Phan Văn  Khải đến Nông Đức Mạnh đồng loạt tuyên bố chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường cốt kiếm những miếng vải GIN mới toanh của Mỹ hoặc những nước Tự do khác để về vá chiếc váy nâu sồng bị rách để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài. Nhưng vì chiếc váy được vẽ mẫu bởi Marx-Lénine và còn đeo tòng teng nhãn hiệu Xã Hội Chủ Nghĩa, nên CSVN đã gọi chiếc VÁY ĐỤP ấy là Kinh tế Tự do Thị trường Định hướng XHCN.

Chúng tôi phân tích bài này dưới hình ảnh chiếc VÁY ĐỤP nâu sồng rách nát được vá bằng những miếng vải Tự do lòe loẹt còn mang nhãn hiệu XHCN.

Bài được trình bầy dưới những khía cạnh sau đây:

=> Nhắc lại Lý Luận nền tảng của hai hệ thống Kinh tế Tự do và Kinh tế Chỉ huy
=> Kinh tế Việt Nam: lấy vải Mỹ để gian lận vá Váy đụp XHCN
=> Dân phải can đảm xe bỏ chiếc váy đụp chứ đừng vá thêm nữa

Nhắc lại Lý Luận nền tảng của hai hệ thống
Kinh tế Tự do và Kinh tế Chỉ huy

Chúng tôi nhắc lại vắn tắt những Lý Luận nền tảng của hai hệ thống Kinh tế Tự do và Kinh tế Chĩ huy để độc giả dễ hiểu nơi chiếc VÁY ĐỤP đâu là miếng vải đã mục nát và đâu là miếng vải vá loang lổ còn mới toanh.

Hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường lập luận dựa trên việc kiếm sống tự nhiên nuôi thân xác của tất cả mọi loài vật. Con người chỉ là một loài vật có thêm bộ óc thông minh để biến báo những phương thức kiếm sống cho hữu hiệu.  Thân xác của loài vật hay của con người là TƯ HỮU đầu tiên và tự nhiên. Thân xác của tôi là của tôi, xin đừng động đến mà tôi đập cho bỏ mẹ bây giờ. Không có Tòa án nào xử người tự tử, nghĩa là người có quyền hủy hoại TƯ HỮU là thân xác của họ. Để kiếm sống—làm kinh tế—mỡi người có quyền TƯ HỮU những phương tiện làm ăn kiếm sống. Người nông dân có cái cuốc, ngư phủ có cái lưới. Cuốc và lưới là TƯ HỮU của họ và họ có quyền TỰ DO xử dụng trong việc kiếm sống. Chiếm TƯ HỮU nghĩa là cấm TỰ DO làm ăn. Tôn trọng TƯ HỮU, thì phải tôn trọng TỰ DO làm kinh tế kiếm sống, nếu không TƯ HỮU trở thành vô nghĩa. Đó là nền tảng xây dựng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường.

Lý luận của hệ thống Kinh tế Chỉ huy là phế bỏ TƯ HỮU. Tất cả là của chung, nghĩa là CÔNG HỮU. Mà nếu là CÔNG HỮU, thì cá nhân không được TỰ DO xử  dụng CÔNG HỮU nữa. Từ những phương tiện sản xuất đến những sản phẩm để tiêu thụ đều là CÔNG HỬU. Theo nguyên tắc CÔNG HỬU thuộc mọi người, thuộc toàn dân. Nhưng mọi người và toàn dân đông quá, nên phải có một nhóm người hạn hẹp để giữ và điều hành CÔNG HỮU. Đảng Cộng sản tự nhận là nhóm người đứng ra điều hành CÔNG HỮU ấy. Vì vậy trong hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy, không có quyền TỰ DO cá nhân quyết định làm ăn và tiêu thụ, mà phải theo những Kế hoạch (Plans) làm ăn và phân phối tiêu thụ của một nhóm người (Đảng Cộng sản). Việc BAO CẤP tiêu thụ chỉ là hệ luận tự nhiên của CÔNG HỮU, của việc mất quyền TỰ DO cá nhân kiếm sống. Xin chú thích ở đây rằng nếu hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyề và Chỉ huy mà không có BAO CẤP, thì đó là việc vô lương tâm vậy.

Hai hệ thống Kinh tế có những Lý luận của mình. Vậy việc vá VÁY ĐỤP KINH TẾ của Việt Nam nhặt nhạnh những gì từ hai hệ thống, nhất nữa không còn BAO CẤP ?

Kinh tế Việt Nam:
lấy vải Mỹ để gian lận vá Váy đụp XHCH

Hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã thất bại mà chúng tôi đã trình bầy những lý do trong Bài thứ 2 của loạt bài Chủ đề này. Cũng trong Bài thứ 2, chúng tôi trình bầy những nét Lịch sử về việc hình thành lý luận của Marx. Phải trở lại đầu Thế kỷ XVI, với Thomas MOORE (1477-1553),  chủ trương Cité d’Utopie. Thomas MOORE là người rất sùng Đạo Thiên Chúa và bị ảnh hưởng rất nhiều về Tổ chức Kinh tế của các Dòng Tu Công Giáo của thời Trung Cổ Aâu-châu: Phương tiện sản xuất là của chung, Tiêu thụ tùy theo nhu cầu của mỗi Thầy tu, Làm việc theo hoạch định (Plans) của Thầy Quản Lý, Đời sống có trật tự và có sự đồng đều giữa các Thầy dòng. Marx bị ảnh hưởng Tổ chức Kinh tế của Dòng Tu Trung Cổ qua việc trình bầy có hệ thống lý luận của Thomas MOORE.

Người ta nói rằng hệ thống Kinh tế mà Marx chủ trướng quá lý tưởng mà Lénine đã không thực hiện được. Thực vậy, mẫu Tổ chức Kinh tế của Dòng Tu thời Trung cổ Aâu châu phải đặt trên lòng TIN TÔN GIÁO: mỗi Thầy tu phải khấn hứa sự khó nghèo, phải độc thân, phải vâng lời bề trên, Phải cố gắng làm việc vì Thiên Chúa vô hình nhìn rõ sự lười biếng và nếu vi phạm những gì đã khấn hứa thì Thiên Chúa sẽ có hình phạt đời sau. Mẫu mực Tổ chức Kinh tế như vậy áp dụng cho Cộng Đồng Dòng Tu, nhưng trong Xã Hội ở Thế kỷ XX này, những đảng viên Công sản và những Công dân lại ham Tiền bạc, sống có gia đình hoặc ham sắc dục, muốn ngồi mát ăn bát vàng, rồi trở thành vô thần do chính Marx-Lénine chủ trương, không có đời sau để thưởng phạt..., vì vậy mà Tổ chức Kinh tế theo Dòng Tu Trung Cổ trở thành quá lý tưởng không thực hiện nổi. Chú thích ngay rằng nếu các đảng viên Cộng sản giữ đúng cuộc sống của các Thầy tu thời Trung cổ, thì tôi có thể chấp nhận hệ thống Kinh tế Trung ường Tập quyền và Chỉ huy để tha hồ lười biếng, nằm phơi rốn mà vẫn có BAO CẤP để sống. Tôi sẵn sàng nằm lười chảy chì mà ngày hai bữa vỗ bụng rau bình bịch cũng được. Hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã thất bại vì Marx-Lénine đã không thể nào có Dân chúng và các đảng viên Thế kỷ XX giống các Thầy tu thời Trung cổ. Hệ thống trở thành quá lý tưởng đến nỡi không thể nào thực hiện được, đã trở thành không tưởng (Utopique).

Hệ thống Kinh tế không tưởng đã thất bại và đã làm cho Thế giới Cộng sản Nga và Đông âu sụp đổ. Nga và Đông Aâu đã can đảm vứt bỏ cái VÁY hư hỏng theo mẩu của Marx-Lénine để nhất quyết chọn lựa hệ thống tự nhiên của Kinh tế Tự do và Thị trường. Nhưng Việt Nam vẫn bấu víu lấy cái VÁY kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa mục nát ấy, mà chỉ đi tìm những miếng vải của Kinh tế Tự do và Thị trường để gian lận vá víu loang lổ.

Chúng tôi đi tìm lý do của việc vá váy đụp như thế nào:

=> Lý do thứ nhất: Không giữ nổi Bao Cấp cho dân, nên đành Mở Cửa và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

Thất bại của Kinh tế Chỉ huy không thể nào cho phép Nhà Nước giữ được việc Bao Cấp cho dân. CSVN đành phải Mở Cửa để cứu đói và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường để mỗi người đi kiếm sống cho mình. Nhưng nếu hoàn toàn tuân theo nền tảng của hệ thống Kinh tế này, thì dân phải có TƯ HỮU và có TỰ DO cá nhân làm ăn. Nhưng nếu có TƯ HỮU và có TỰ DO, thì chính cái CÁ NHÂN TƯ HỮU và TỰ DO này phải đi đến nguyên tắc DÂN CHỦ để giải quyết những tranh chấp những quyền lợi cá nhân khi làm ăn chung đụng.

=> Lý do thứ hai: Lo sợ sự lớn mạnh của Kinh tế tư nhân dẫn đến thể chế phù hợp với nguyên tắc Dân chủ.

Theo học thuyết Marx-Lénine, CSVN không thể không biết quan điểm lý luận của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).

Với quan điểm này, thì khi Tư doanh giữ vững những quan hệ làm ăn theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì buộc lòng họ phải đòi hỏi thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp cho phù hợp, nghĩa là không được độc tài mà phải tôn trọng nguyên tắc Dân chủ mới giải quyết được quyền lợi Kinh tế cá nhân tự do.

Quan điểm của Marx phù hợp với Biện chứng cuộc sống của dân quê Việt Nam thường nói:“Nhất sĩ (Chính trị) nhì nông (Kinh tế), hết gạo chạy rông, thì nhất nông (Kinh tế) nhì sĩ (Chính trị)“.  Có lần tôi đã nói với một đảng viên cao cấp CSVN rằng Hà Nội cứ việc cố thủ lấy độc quyền Chính trị (Thủ đô Chính trị), nhưng hãy để cho Sài gòn tự do làm Kinh tế (Thủ đô Kinh tế), thì có ngày Thủ đô Chính trị Hà Nội phải xách bị vào quỳ gối ăn xin và lệ thuộc vào Thủ đô Kinh tế Sài gòn bởi vì lúc ấy là nhất nông nhì sĩ rồi. Hãy nhớ tại Aâu châu hàng Quý tộc đả phải bán tước hiệu quý tộc cho những người làm ăn (bourgeois) để có gì đỡ đói.

=> Lý do thứ ba: Giữ lấy nhãn hiệu XHCN (Xã Hội Chủ Nghĩa)

Đói quá, phải Mở Cửa và phải đắng cay tuyên bố theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mà CSVN đã chửi bới thậm tệ bao thế hệ là bóc lột, khai thác và còn đấu tố giết hại bao nhiêu người. Mà nếu cho TƯ HỮU, nghĩa là không còn CÔNG HỮU, thì làm thế nào đảng CSVN còn có lý do giữ lại Điều 4 Hiến Pháp. Chính vì vậy mà cần phải tìm cách giữ lại những tiếng Xã Hội Chủ Nghĩa để có cớ giữ Điều 4. Nhưng chẳng lẽ gọi nền Kinh tế là KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, thì thối tha ngược ngạo chịu không nổi bởi vì nền tảng lý luận của hai nền Kinh tế trái ngược nhau. Vì vậy mà Bộ Chính Trị mới thêm hai chữ ĐỊNH HƯỚNG như trò hề.

ĐỊNH HƯỚNG có nghĩa là sau này lại trở về với Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho cá nhân bỏ TƯ HỮU ra làm Kinh tế theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Sau khi tư nhân làm ăn thịnh vượng, có nhiều TƯ HỮU rồi, thì Nhà Nước lại truất hữu, biến TƯ HỮU làm CÔNG HỮU theo Xã Hội Chủ Nghĩa. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG XHCN có nghĩa như vậy. Sao mà ngu thế: bảo tư nhân làm ăn rồi sau đó tước đoạt tư hữu, thì bố đứa nào dám cố gắng bỏ tài sản ra làm ăn cho CSVN ăn cướp sau này theo ĐỊNH HƯỚNG XHCN.

=> Lý do thứ tư: Phải nhập nhoèn gian lận ngược ngạo 

CSVN cố thủ giữ lấy độc tài Chính trị, nhưng lại sợ chính quan điểm của Marx về Infrastructure économique (Hạ tầng cơ sở kinh tế) sẽ quyết định Superstructure Politique et Juridique (Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp), nghĩa là CSVN sẽ mất quyền độc tài. Nhưng vì đói ăn do hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy, nên đành phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nguồn đưa đến lật đổ độc tài của Superstructure Politique et Juridique.

CSVN sống trong lo lắng, nên đành phải nhập nhoèn gian lận vá víu (vá VÁY ĐỤP) để biện minh cối chầy về lý thuyết. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG và chắp nối che đậy việc nhập nhoèn gian lận trái ngược về Chính trị và Kinh tế. Tiếng Tây gọi là Les Magouilles politiques et économiques contradictoires :

* Nhà Nước kêu gọi Tư nhân bỏ vốn làm ăn theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng lại dành những ưu tiên làm ăn miếng ngon cho con cháu đảng hoặc những ai đút lót tiền tham nhũng. Đây là việc vi phạm tự do của Thị trường. 

* Nhà Nước dùng Tiền bạc của chung để lập hệ thống Tổng Công ty, Công ty quốc doanh với những đặc quyền Kinh tế, Thương mại mà những Tư doanh phải chịu lụy những đặc quyền quốc doanh này mới có thể làm ăn. Hệ thống đặc quyền này buộc phải có bởi lẽ những lãnh đạo Chính trị, ngoài liên hệ gia đình, còn phải lệ thuộc giới làm ăn của đảng vì giới này lại có quyền chế tài về chính trị theo hệ thống đảng.

* Tư nhân kinh doanh phải chịu hệ thống hành chánh rất nặng nề và chậm chạp. Đây là tệ nạn mà CSVN không thể nào cải thiện. Đảng CSVN thu nhiều đảng viên. Đảng phải bầy vẽ ra hệ thống hành chánh phức tạp để có chỗ làm việc cho đảng viên, nếu không thì họ bỏ đảng. Hệ thống hành chánh là nguồn của chậm trễ kinh tế và nguồn của ăn bẩn, đút lót tiền bạc

* Tài nguyên quốc gia bị khai thác, bán tháo trong đặc quyền của những người liên hệ của đảng: con cháu đảng viên cao cấp, trung ương và địa phương...

* Nhân lực Việt Nam, Lao động do Nhà Nước quyết định để bán cho tư bản ngoại lai làm ăn tại chỗ hoặc xuất cảng. Một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường phải có những Nghiệp đoàn Lao động hay những Nghiệp đoàn chuyên nghiệp độc lập để bảo vệ tư hữu hiển nhiên nhất là nhân lực và chất xám.

* Nguồn vốn đầu tư nước ngoài được hướng dẫn cho hệ thống liên doanh với những Công ty quốc doanh liên hệ với đảng.

* Những dự án xây dựng hạ tầng cơ sở được quyết định bừa bãi theo tiêu chuẩn liên hệ Chính trị, thậm chí được coi như việc thưởng công cho những đảng viên đã có công với đảng.

* Nhà Nước, từ Trung ương đến Địa phương nắm giữ quyền trưng dụng và cấp phát Đất đai dưới những chiêu bài như Khu chế xuất, Công nghệ hóa...

* Tài chánh, Tiền tệ, Ngân Hàng nằm trong tay đảng. Những lạm phát tiền tệ là do sự quyết định độc đoán của Chính trị đảng. Người dân không thấy, nhưng chịu hậu quả về lạm phát tiền tệ này.

Dầu tuyên bố long trọng là theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng Chính trị độc tài đã can thiệp trực tiếp vào sinh hoạt Kinh tế.

Dân phải can đảm xé bỏ
chiếc váy đụp chứ đừng vá thêm nữa

CSVN cố thủ giữ lấy chiếc váy đụp và tìm cách gian lận vá víu chiếc váy ấy để bắt dân mặc với hai chủ đích:
=> Giữ lại quyền Chính trị độc tài độc đảng theo Điều 4 của Hiến Pháp
=> Gian lận nắm lấy Kinh tế cho đảng và cho con cháu của đảng.

Nhà Nước luôn luôn kêu gọi TRẬT TỰ dưới chiêu bài Phát triển Kinh tế bền vững và vĩ mô. Nhân danh hai chữ TRẬT TỰ, Nhà Nước cho quyền mình được đàn áp tất cả những ai lên tiếng than vãn những nhập nhoèn gian lận vá víu để đảng duy trì hai chủ đích nêu trên đây. Theo quan điểm của Marx, một Hạ tầng cơ sở Kinh tế gồm những nhập nhoèn gian lận như vậy không thể nào cho phát sinh một Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp sáng sủa công minh được.

Dân phải dứt khoát vứt bỏ chiếc váy đụp ấy để từ đó mới có thể phát triển bền vững được.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế

 




SÓNG GIÓ KINH TẾ
GÂY HIỂM NGHÈO CHO CSVN

Roger Mitton, Asia Sentinel 4/8/08, Khánh Đăng lược dịch


Lạm phát, lao động bất ổn và nhiều rắc rối khác đe dọa thủ tướng
Cách đây một năm, vào tháng 8/2007, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng rất tự tin phát biểu trước một cử tọa gồm các doanh nhân trong khu vực tại một "Diễn đàn 100 nhà doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á'' (ASEAN 100 Leadership Forum) ở Khách sạn Merlin tại Hà Nội.

Ông ta đọc một bài diễn văn có đặc tính là rất hùng hồn về việc Việt Nam đánh giá tư cách thành viên Hiệp hội Các Quốc gia Ðông Nam Á của mình như thế nào, việc Việt Nam đã tăng cường hội nhập vào kinh tế toàn cầu ra sao sau khi được thu nạp vào  Tổ chức Mậu dịch Thế giới, và quan trọng nhất là việc kinh tế Việt Nam đang bận rộn đi tới một cách tốt đẹp liên tục với các tỷ lệ tăng trưởng và đầu tư cao.

Cuối cùng, sau khi trả lời vài câu hỏi dễ dãi, ông Dũng ngừng lại, nhìn xuống hàng cử tọa đang ngưỡng mộ, và nói: "Một điều tôi có thể bảo đảm với quý vị là sự ổn định chính trị".

Các cử tọa quyền cao chức trọng cùng nhau vỗ tay hoan nghênh om sòm, cứ như là họ đang vui mừng cổ vũ một thị trường chứng khoán nhộn nhịp, chứ không phải hoan nghênh một thủ tướng không do dân chúng bầu lên của một chế độ cộng sản phi dân chủ.

Chẳng có gì đặc biệt bất thường về chuyện đó, vì lẽ dĩ nhiên là doanh nhân khắp nơi trên thế giới thích sự ổn định và chắc chắn của các chế độ độc tài như Việt Nam, Trung Quốc và Tân Gia Ba.

Thật là một sự khác biệt mà một năm có thể tạo ra.  Trong những ngày này giới mặc com-lê thắt cà vạt không còn quá mức hớn hở cổ vũ các thành tích của Việt Nam, và ông thủ tướng tịt ngòi của Việt Nam không còn có được một nửa sự tự tin như trước. Kể từ khi ông Dũng phát biểu hồi tháng Tám năm ngoái, không phải chỉ có nền kinh tế Việt Nam ngừng lại những tiếng reo mừng, mà ngay cả sự ổn định chính trị cũng không còn được bảo đảm. Và vì thế, ngay vị trí của chính cá nhân ông thủ tướng cũng không được an toàn như hồi đó.

Nói một cách chính xác ngắn gọn thì nền kinh tế Việt Nam đã xụp đổ và chính phủ của ông Dũng đã thất bại trong việc sửa chữa các tác động của sự xụp đổ đó trên quần chúng, và hậu quả là càng có thêm nhiều người vỡ mộng về khả năng lãnh đạo của ÐCSVN.

Từ quan điểm kinh tế, sự biểu lộ mang tính chất đe dọa liên tục nhất của những ảo tưởng bị tan vỡ đó là các cuộc đình công càng ngày càng gia tăng trên toàn quốc. Ở lần đếm được gần đây nhất, đã có khoảng 400 vụ bãi công kể từ đầu năm, phần lớn là ở các cơ xưởng chế tạo sản xuất do các nhà đầu tư nước ngoài làm chủ. 

Tuần trước, trong một vụ đình công điển hình, 14 ngàn công nhân ở một xí nghiệp sản xuất giày dép của Nam Hàn gần TPHCM,  đã dẹp bỏ đồ nghề để phản đối ban giám đốc không tăng cho họ một mức lương thoả đáng.  Các công nhân muốn được trả thêm 18 đô la một tháng, nhưng công ty chỉ cho họ được tăng thêm 12 Mỹ kim. Nghe thì không có vẻ gì khác biệt nhiều, nhưng khi mức lương của công nhân khoảng từ 50 đến 60 đô la một tháng, và phải đối diện với tỷ lệ lạm phát khoảng 30%, thì mức lương được tăng thêm cùng quan trọng.  Ðại diện của các nước có nguồn đầu tư hàng đầu ở Việt Nam từ Nam Hàn, Ðài Loan, Tân Gia Ba, và Nhật Bản đã bảo ông Dũng phải làm một cái gì đó để chặn đứng tình trạng bất ổn lao động đang gia tăng trước khi các công ty của họ giảm bớt đầu tư hoặc thậm chí bắt đầu rút ra khỏi Việt Nam.

Hồi tháng trước, ông Theodore Huang, người đứng đầu Hội Kỹ nghệ Thương mãi Quốc gia Trung hoa của Ðài Loan đã than phiền tại một cuộc hội thảo kinh doanh rằng sự lan rộng của các cuộc đình công đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc là khía cạnh quan trọng nhất của sự đi xuống của kinh tế Việt Nam hiện nay.  Bối cảnh của tình hình lao động sôi sục đang bắt đầu có tác động tiêu cực đến việc đầu tư. Mặc dù nền kinh tế bị suy sụp mới đây, Hà Nội vẫn chính thức tuyên bố rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài --được báo cáo cho đến nay là hơn 30 tỷ đô la trong năm nay -- vẫn tiếp tục đổ vào.   
 
Nhưng thực tế ở một mức nào đó thì khác xa bởi vì con số chính thức chỉ biểu hiện cho các nguồn đầu tư được đăng ký hoặc dự định, và có thể là sẽ không thành hiện thực. Khi nói đến các ngân khoản đầu tư thực sự, thì giá trị chỉ có 5 tỷ Mỹ kim – và đó là tổng số được cam kết trước khi nền kinh tế bị đổ vỡ. Hiện thời có những dấu hiệu là nhiều công ty đang ngập ngừng trước khi đầu tư thêm.

Nhưng đối với nhà nước Việt Nam, vấn đề trước mắt là làm thế nào để thoả mãn giới công nhân đang bồn chồn khó chịu cùng các nông dân ở nông thôn đang bất mãn, và một số nhỏ nhưng đang gia tăng tầng lớp trung lưu có uy thế ở thành thị, trong khi vẫn duy trì tình trạng ổn định về chính trị và xã hội. Ðiều này sẽ không dễ dàng. Những cuộc khảo sát nội bộ do chính đảng cộng sản thực hiện đã cho thấy rằng một con số vô cùng ngạc nhiên 80% dân số bây giờ nghĩ rằng ÐCSVN không còn phục vụ cho nhu cầu của người dân nữa. 

Có lẽ con số trên không có gì là quá ngạc nhiên. Bởi vì kể từ khi có bài phát biểu của ông thủ tướng cách nay một năm, lạm phát đã gia tăng từng tháng, lên đến 27% hồi tháng Bảy, là một con số kỹ lục ghi nhận được từ năm 1991. Giá cả thực phẩm tăng 73%, xăng dầu và khí đốt tăng 46%, tiền thuê mướn nhà cửa tăng 25%.

Nguồn cung cấp loại mực tẩy trắng White–Out đang hiếm hoi đã trở thành một câu chuyện tiếu lâm thường ngày ở Việt Nam vì các quán cà phê phải thay đổi các con số giá tiền trên thực đơn mỗi ngày.  Chủ nhà thì bảo người thuê rằng tiền mướn sẽ được tăng gấp đôi hoặc gấp ba, ngay giữa kỳ hạn của hợp đồng, chấp nhận hoặc dọn đi chỗ khác.  Số xe đạp bán ra đã gia tăng vì giới công nhân không thể nào trả nổi tiền xăng dùng cho xe gắn máy của họ. 

Và mọi thứ chắc chắn sẽ tồi tệ hơn trước khi trở nên tốt hơn. Hồi tháng trước, chính phủ của ông Dũng, đối diện với một sự suy sụp nguy hiểm về mức dự trữ của Ngân hàng Nhà nước, phải dỡ bỏ sự trợ giá xăng dầu hơn 30% vì làm cạn kiệt ngân quỹ của ngân hàng. Việc đó quá muộn màng, nhưng một biện pháp chính trị nhậy cảm sẽ hầu như chắc chắn bảo đảm rằng nạn lạm phát trong tháng này sẽ vượt qua khỏi mức 30% và khích động thêm giới công nhân và nông dân --vốn là nền tảng ủng hộ truyền thống của đảng.

Mặc dù có nguồn cung cấp dầu lửa và khí đốt rộng rãi cùng với lượng gạo, rau cải và trái cây thu hoạch phong phú, sự láo khoét về tình trạng ổn định chính trị xã hội đang bắt đầu nhìn thấy vẻ mỏng manh trước nạn lạm phát. Và ông Dũng cùng với các đồng chí lãnh đạo đảng biết rõ điều đó. Ðó là lý do tại sao giới lãnh đạo đảng triệu tập một hội nghị bất thường của uỷ ban trung ương đảng gồm 161 đảng viên hồi tháng trước. Một đề tài chủ yếu được đưa ra bàn cãi là làm thế nào để lấy lại sự tin tưởng và ủng hộ của các tầng lớp thanh niên, trí thức và nông dân –là 3 nhóm đã trở nên đặc biệt bất mãn với khả năng, đường lối của đảng trong thời gian qua.

Uỷ ban trung ương đảng cũng tranh cãi về tình trạng kinh tế suy sụp trong 6 tháng đầu năm nay và cố gắng hết sức để đưa ra những biện pháp chữa trị có thể được thi hành trong 6 tháng sắp tới.
 
Nhiều đảng viên kỳ cựu đã bày tỏ thái độ không hài lòng về việc trước đây  chính phủ cứ ngoan cố  liên tục thúc đẩy cho một tỷ lệ tăng trưởng cao, mãi sau khi đã trở nên rõ ràng là việc chống lại nạn lạm phát nên nắm phần ưu tiên. Họ chỉ ra cho thấy rằng mặc dù sự thật là nạn lạm phát tăng lên đến mức 2 con số như trở ngược lại hồi tháng 11 năm ngoái, thì chính phủ của ông Dũng vẫn tiếp tục khẳng định rằng họ có thể duy trì một mức tăng trưởng hàng năm là 9%, trong khi cũng áp đặt các biện pháp thắt lưng buộc bụng để giảm bớt lạm phát.

Chỉ đến khi tháng Ba năm nay, lúc thị trường chứng khoán đi xuống, một mức thâm thủng mậu dịch gia tăng nhanh chóng cùng với các cuộc đình công lan rộng gây ra nhiều lo ngại về một nền kinh tế bị xụp đổ hoàn toàn, thì lập trường đó mới được đóng ngăn xếp xó và mục tiêu tăng trưởng cho năm nay được giảm xuống còn 7%, nhiều đề án lớn cuả nhà nước bị huỷ bỏ.  Không mấy ai nghĩ là sẽ đạt được ngay cả với mục tiêu tăng trưởng thấp như vậy –Ngân hàng Phát triển Á Châu hiện thời đang tiên đoán là mức tăng trưởng sẽ lui xuống 6.5% cho năm nay. Các nhà phân tích tư nhân thì cho rằng mức tăng trưởng có thể rơi xuống đến một mức thấp như 5%.

Vào đầu tháng Tư, bộ chính trị là cơ quan đầu não của đảng, đã đưa ra một lời khuyến cáo công khai cho chính phủ của ông Dũng, chỉ thị phải thực hiện ngay thêm việc thắt lưng buộc bụng, hạn chế thêm thanh khoản và nâng cao lãi suất. Rồi đến hồi tháng trước hội nghị bất thường của uỷ ban trung ương đảng, đã đề ra đường hướng phải chấm dứt những điều thối nát  –nhưng không có sự nhất trí về việc làm thế nào để thực hiện nó.

Thực ra, có nhiều sự phân hoá sâu xa tận gốc rễ trong giới lãnh đạo về vấn đề làm sao để tiến hành.

Các nguồn tin trong đảng cho biết có nhiều chia rẽ trong Bộ chính trị giữa thành phần ủng hộ chính sách tiếp cận với quốc tế của ông Dũng, và những kẻ muốn có một đường lối thiên về quốc gia hơn như Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh và cựu bộ trưởng tài chánh Nguyễn Sinh Hùng.

Sự bế tắc càng trầm trọng hơn bởi một thực tế rằng những cội rễ gây ra sự xáo trộn kinh tế là có hệ thống.

Một số các nhà phân tích đã chỉ ra rằng, việc đưa ra các quyết định dưới chế độ cộng sản Hà Nội, đặc biệt là trong phạm vi kinh tế, thì rời rạc cho đến độ như tê liệt. Không một ai trong thành phần bảo thủ, cấp tiến hoặc bất cứ kẻ nào khác đang nắm quyền lực sẵn sàng muốn thay đổi hệ thống vì điều đó có nghĩa là phá bỏ ưu quyền tuyệt đối của đảng.

Cho nên, trong thời gian sắp tới, một trong hai điều sẽ xảy ra: đảng sẽ đoàn kết lại và cố đẩy lui cơn bão tố, hoặc sẽ hy sinh vài đảng viên cao cấp để phô trương rằng đảng sẵn sàng hành động vì lợi ích của nhân dân. Vì chưa có cái đầu nào bị rơi tại hội nghị trung ương đảng mới đây –ngoại trừ, một cách trớ trêu, một trong những tay chân thân cận trung thành của chính ông Dũng ở quê quán ông ta tại Cà Mau –thì bằng chứng có vẻ là chiêu bài đoàn kết được ưa thích nhất hiện nay.

Nhưng nếu mọi sự tiếp tục theo chiều hướng đi lên, thì nhiều cái đầu có thể rơi. Và trong khi những nhân vật như thống đốc ngân hàng nhà nước, bộ trưởng tài chánh hoặc bộ trưởng kế hoạch và đầu tư có khả năng là những ứng viên, thì cảnh tàn sát có thể cuối cùng kéo đến cho chính bản thân ông Dũng. Kiểu cách cá nhân của ông thủ tướng đư