*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.438/11.03.10
=>So/No.437/04.03.10
=>So/No.436/25.02.10
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>So/No.435/18.02.10
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


===============================================================
VietTUDAN ---------------------------------------------------------------KINH TE/ TAI CHANH
===============================================================


============== CHÚ THÍCH ĐẦU: LƯU TRỮ NHỮNG BÀI ================

Trong Phần Phổ Biến Mỗi Ngày hoặc trong mỗi số VietTUDAN hàng Tuần, có những Bài muốn giữ lại lâu hơn nữa trong DIỄN ĐÀN này, chúng tôi sẽ chuyển sang Phần Lưu Trữ Tổng Quát hoặc sang các Phần có những Chủ Đề dưới đây:
   
                      *   VietTUDAN -- chu de Ton Giao/ subject Religion :
                                                CONG SAN & TON GIAO   
                                                CSVN & TON GIAO                         
                                                NHUNG VU DAN AP  
                                                PHAP LENH TON GIAO                                              
                                                NGOM GIAO GIAN        
                      *   VietTUDAN -- chu de Kinh Te/ subject Economy                
                                                THAT BAI KINH TE CHI HUY   
                                                TUONG QUAN KT/CHINH TRI        
                                                DOC TAI & THAM NHUNG         
                                                KT. TU DO THI TRUONG     
                                                WTO & NGOAI THUONG   
                                                TU HUU & DAN CHU             
                                                CACH MANG VO SAN MOI     
                      *   VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics   
                                                SUP DO THE GIOI CS              
                                                KET AN CS TAN NHAN    
                                                HO CHI MINH & CSVN     
                                                HO SO TOI AC CSVN        
                                                CA NHAN & CHINH TRI           
                                                THE CHE TU DO/DAN CHU    
                                                DAN CHU PHAP TRI       
                      *   VietTUDAN -- luu tru/ archives    

                (Xin xem cuối trang để biết bài giữ lại được chuyển vào Phần nào)
 
===============================================================




                            JAMES S.CHANOS DỰ ĐÓAN HIỆN TÌNH
                                         KINH TẾ TRUNG CỘNG

                                                    ĐÀO NHƯ


Theo báo New York Times hôm 8/1/2010, James S Chanos, năm nay 51 tuổi, một trong những người Mỹ đầu tư tại Trung cộng. Chanos sở hữu một tài khoản đồ sộ 6 tỷ Mỹ kim, và ông có thể sử dụng đầu tư bất cứ nơi nào trên đất nước Trung cộng. Do đó ông là người có cái nhìn thấu đáo vào tận những gốc khuất của nền kinh tế TC, những ưu cũng như khuyết điểm của nó. James S. Chanos tuần vừa rồi  đưa ra lời báo  động các nhà đầu tư thế giới phải hiểu rằng nền kinh tế TC hiện nay đang có những rủi ro to lớn có thể đưa đến một cuộc khủng hoảng kinh tế mới ngay cả sư sụp đổ của nền kinh tế của đất nước này.
  
Theo Chanos, trong hiện tại không ai chối cải được sức hút như khối nam châm khổng lồ của nền kinh tế TC vì các nhà đầu tư thế giới bị ‘mà mắt’ bởi những dữ kiện của thống kê về chỉ số Stock nội địa của TC.

Nguy cơ của nền kinh tế Trung cộng hiện nay được tạo nên do gói kích cầu $586 tỷ usd. Thoạt tiên gói kích cầu này có mục đích rõ ràng, ngoài mục đích củng cố và nâng cao xuất khẩu, nó còn dùng để kích thích tiêu dùng của người dân. Người dân TC có tiền vay từ ngân hàng với lãi xuất thắp, họ mua sắm, tậu nhà cửa, xây dựng doanh nghiệp mới. Bằng cách này thì thị trường tín dụng sẽ phục hồi nhanh, và thị trường địa ốc cũng sẽ vận hành tốt trở lại.

Chính phủ Trung công hy vọng nhờ thế họ chấn hưng nền kinh tế TC và đẩy mạnh tiến trình phục hưng kinh tế thế giới. Nhưng gói kích cầu của những năm 2008-09 quá lớn và các nguồn tiền này đựợc lùa vào Wall Street, thị trường địa ốc, tạo ra tình trạng cho vay và mua nhà với những điều kiện quá dễ dàng và nhiều quá vượt mức kiểm soát. Hơn nữa thấy thị trường địa ốc TC ăn nên làm ra, các nhà đầu tư thế giới lao vào bỏ ra số vốn rất lớn đầu cơ vào thị trường này. Do đó thị trường địa ốc và tín dụng của TC tăng nhanh, phình lớn, cổ phiếu ở Wall Street tăng mạnh, tạo ra tình trạng “bong bóng kinh tế”. Có lần xuất hiện trong chương trình CNBC, Chanos cảnh cáo:

“Hiện tượng bong bóng tín dụng là thấy rõ nhất tại thị trường tín dụng TC…Không đâu có bong bóng tín dụng phình đại như TC hôm nay” Bubbles are best identified by credit excesses, not evaluation excesses…And there’s no credit bigger than credit excess in China”

Thị trường tín dụng, và địa ốc đang phì đại một cách nguy hiểm vì cả hai thị trường này đang vận hành không đúng theo qui luật, tăng trưởng vượt kiểm soát. Hơn thế nữa, trong cuộc phỏng vấn với tờ báo Politico hồi tháng 11-2009, Chanos còn cảnh cáo là hiện tại TC sản xuất một khối lượng lớn các mặt hàng họ không thể bán ra được. Số hàng này đang tồn kho chờ ngày quá date. Jim Grant, người bạn lâu năm của Chanos, chủ biên tập san tài chánh Grant’s Interest Rate Observer, cũng cảnh cáo, nền kinh tế Trung cộng bị quấy nhiễu và phiền toái rất nhiều trong mấy chục năm qua bởi điều mà ông ta gọi là Quyền Lực Thứ Ba, và Thứ Tư họ lợi dụng gói kích cầu. Hiện nay tại các ngân hàng TC, mức độ bad loans đã là 20% và sau gói kích cầu có thể cao hơn thế nữa. Trong tương lai gần, xem chừng nền kinh tế tài chánh TQ có thể sẽ đi vào con đường mòn của nền kinh tế Hoa Kỳ đã kinh qua vào những năm 2007-2008: thị trường tín dụng phì đại và vỡ, thị trường địa ốc, Freddie Mac, Fannie Mae sụp đổ lôi theo nhiều ngân hàng lớn khác khiến chánh phủ Hoa Kỳ phải kịp thời ra tay chống đỡ.

Sở dĩ những việc tiên đoán của James S. Chanos về hiện tượng bong bóng hiện tại của nền kinh tế TC có sức thuyết phục đối với một số nhà kinh tế phương Tây và các nhà đầu tư thế giới là vì trong quá khứ Chanos đã tiên đoán đúng với nhiều bằng chứng xác thực về sự sụp đổ của tập đoàn Enron và sau đó là Tyco International, Boston Market restaurant chain, Home builders và nhiều ngân hàng lớn của thế giới…

Chanos cảnh cáo nhiều lần các nhà đầu tư hải ngoại trên thế giới khị bỏ tiền vào đầu tư ở TC, họ chỉ dựa vào, hầu như “tuân theo” những dữ kiện về chỉ số Stock nội địa của TC. Nhưng với Chanos, không bao giờ bị“mà mắt” vì những dữ kiện hời hợt dó, ông đầu tư theo phương hướng, chính sách của ông. Nghiên cứu đầu tư của ông tại TC bao giờ cũng tập trung vào sự tìm hiểu tường tận về khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyên viên kỹ thuật, phối trí nhân lực, nhân công, giao thông vận tải, khả năng phát triển công nghệ sản xuất cement, than, sắt, thép và các nguồn quặng khoáng chất. Theo Chanos, khả năng phát triển công nghệ này và đào tạo nhân công ở Trung cộng  còn rất yếu, thiếu sáng tạo.

Trong khi đó Jim Rodgers, sáng lập viên của Quantum Fund với George Soros, đang sống tại Singapore, thì cho rằng những dự đoán của Chanos về hiện tượng bong bóng của nền kinh tế TC hôm nay cần phải xét lại vì Jim Rodgers cho rằng những dự đoán của Chanos thiếu cơ sở, và sự quan hệ của Chanos với nền kinh tế TC chưa đủ bề dày để cho phép Chanos đưa ra những dự đoán trên. Theo Jim Rodgers thì hiện tại thị trường tín dụng và địa ốc của TC chưa bao giờ có hiện tượng bong bóng. Nhiều đồng nghiệp và bạn bè của Chanos cũng công nhận là Chanos mới bắt đầu tìm hiểu đi sâu vào nền kinh tế TC trong một vài năm gần đây. Chanos hiện vẫn thường email tham khảo học hỏi ý kiến của những người sành về kinh tế TC. Chanos và nhóm bạn bè của ông cũng đang đối mặt với các nhà đầu tư tên tuổi trên thế giới: Warren Buffet, Will Beer L.. Ross Jr...họ không mấy tin tưởng vào lập luận của nhóm Chanos.

Trong lúc đó, có một nhóm chuyên gia kinh tế người Hoa công nhận hiện tượng bong bóng trên nền kinh tế của TC đang mỗi ngày một hiện rõ hơn. Xa hơn nữa, năm 2001 Gordon G. Chang, chuyên viên kinh tế tại Hoa Kỳ, đã từng tiên đoán về nền kinh tế TC sẽ đi vào khủng hoảng trầm trọng.

James S Chanos, một trong ba người con trai của một gia đình làm nghề giặt ủi tại Milwaukee . Chanos tốt nghiệp Yale như là một sinh viên PreMed. Nhưng sau đó Chanos chuyển sang kinh tế lý do là Chanos có nhiều đam mê và khuynh hướng về nghiên cứu kinh tế. Chanos khởi đầu sư nghiệp gia nhập thị trường chứng khoán- phố Wall-Wall Street . Tại Wall Street ông học hỏi rất nhiều về điều hành Stock và sự quan hệ giữa đầu tư và Stock. Chính Wall Street là con đường đưa James S. Chanos đến sự thành công hôm nay.

Chính những năm làm việc tại đây ông đã đưa ra sự tiên đoán chính xác về sư sụp đổ của tập đoàn Enron và sau đó là Tyco International, Boston Market restaurant chain, Freddie Mac, Fannie Mae và nhiều financial disasters khác, nhất là những ngân hàng tầm cỡ của thế giới. Chanos sẽ có buổi thuyết trình với đề tài “Contrarian Investor Sees Economic Crash in China ” tại viện đại học Oxford - Anh quốc cuối tháng Jan này.

Chúng ta thử chờ xem và theo dõi kết quả của buổi thuyết trình này nhất là phản ứng của của Trung cộng, của thế giới và của viện Đại học Oxford đối với quan điểm của James S Chanos. Từ đó hy vọng chúng ta có cái nhìn chính xác hơn về những dự đoán của Chanos về nền kinh tế Trung cộng hôm nay./.

Đào Như
Bs Đào Trong Thể
10/Jan/2010
Oak park , Ill. USA

  







                                   TƯ NHÂN HÓA, GIA ĐÌNH HÓA
                                        HAY TRUNG QUỐC HÓA 
                                        TÀI SẢN QUỐC GIA VN

 
                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                           Geneva, 28.01.2010
                                 UNICODE: http://VietTUDAN.net

 

Kinh tế Trung quốc và Kinh tế Việt Nam thóat thai từ Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Chủ trương Kinh tế này còn mang một khía cạnh nhân đạo, đó là Bao Cấp và đồng hưởng Xã hội. Để có thể thực hiện Chủ trương Kinh tế ấy, thì Nhà Nước tập trung quyền lực Chính trị độc tài về mình, đồng thời giữ luôn độc quyền phác họa những kế họach Kinh tế gồm Sản xuất và phân phối Tiêu thụ.


Kinh tế nhóm đảng Mafia:
Một người làm quan, cả họ được nhờ

Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy và Bao cấp Xã hội đã thất bại vì tiền bạc chung bị thất thóat và bao cấp xã hội làm người ta lười biếng. Do đó, Trung quốc cũng như Việt Nam tuyên bố chuyển mình sang Chủ trương Kinh tế Tự và Thị trường. Nhưng Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường THỰC SỰ đòi hỏi phải có một Môi trường Chính trị-Pháp lý phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat): Tư hữu những phương tiện sản xuất và tiêu thụ, Tự do tư doanh, Tự do thương lượng và ký kết giao kèo, Luật pháp bảo đảm những quyền sinh họat Kinh tế phải do những cá nhân đồng quyết định (Dân chủ).

Trung quốc và Việt Nam nói rằng chấp nhận Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường cho mọi tác nhân Kinh tế, nhưng đã đặt hệ thống Kinh tế trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp cũ của Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy: độc đảng giữ trọn quyết định trên những phương tiện sản xuất, độc đảng nắm đất đai và tài nguyên quốc gia, độc đảng giữ trọn những sinh họat kinh tế/ thương mại qua những Công ty quốc doanh, Luật pháp liên quan đến sinh họat Kinh tế do độc đảng thiết lập và cá nhân phải tuân phục. Đảng đã thêm vào cái đuôi “định hướng XHCN“ để lấy cớ giữ trọn cái Mội trường Chính trị-Pháp lý bảo đảm cho độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế, đồng thời làm một việc bất nhân nữa là không nhận trách nhiệm bao cấp và đồng hưởng xã hội.

Đó chính là bóc lột của nhóm đảng Mafia mà kết quả là nhóm đảng Mafia trở thành giầu nứt khố và đại đa số dân chúng bị bóc lột đến nghèo kiết xác. Không có CÔNG LÝ ở một lọai Kinh tế như vậy, tất nhiên cũng không thể có HÒA BÌNH xã hội.

Sự phản kháng của đại đa số Dân chúng tại Trung quốc cũng như tại Việt Nam đang lên mạnh để đòi hỏi CÔNG LÝ và do đó HÒA BÌNH cho cá nhân và xã hội. Trước sự phản kháng lên mạnh này, nhóm đảng Mafia đã trở thành giầu có sau những chục năm bóc lột, cảm thấy rằng không thể ngồi yên thụ hưởng, nên dường như đang tìm cách cất giấu tiền bạc dưới một chiêu bài nào đó.

Việc chuyển tài sản ra nước ngòai để cất giấu là sự tất nhiên. Giới Ngân Hàng Thụ sĩ nói nhỏ với nhau rằng họ sẽ nhận được việc chuyển từ Trung quốc sang Thụy sĩ số tài sản tới USD.180 tỉ. Chúng tôi cũng đọc tin thấy rằng Việt Nam đang định “tư nhân hóa“ một số Công ty quốc doanh lớn. Đây cũng là chiêu bài để nhóm đảng Mafia cất giấu tài sản tại chính quốc nội.

Không phải chỉ nguyên chúng tôi nhận định về Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam. Có nhiều người đã viết. Chúng tôi xin trích đăng một số tỉ dụ.
 

Nhà phân tích Bill Hayton nói về
Kinh tế Mafia gia đình tại Việt Nam

Việt Nam sẽ đi về đâu? Chắc chắn là sẽ không bình yên. Báo Foreign Policy (foreignpolicy. com) hôm 21-1-2010 có bài viết nhan đề “Vietnam’s New Money” (Đồng Tiền Mới của VN) cho thấy một viễn ảnh u ám của kinh tế và xã hội VN, và dịch tóm tắt như sau.

Nhà  phân tích Bill Hayton mở đầu bài viết bằng hình ảnh ngày 16-11-2008, kể về đám cưới của 2 doanh nhân tại khách sạn sang trọng Caravelle ở Sài Gòn: Chú rể là Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, quản trị công ty đầu tư IDG Ventures Vietnam, và cô dân là Nguyễn Thanh Phượng, 27 tuổi, chủ tịch quỹ đầu tư VietCapital. Hai công ty của cô dâu chú rể kết hợp quản trị 150 triệu đô la các khoản đầu tư ở VN.

Cô Phượng là con gái Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Chú rể là Việt kiều công dân Mỹ, con của một gia đình chạy khỏi VN năm 1975 để trốn chế độ CS, bây giờ trở về để cưới con của một trong những người quyền lực nhất nước.

Đám cưới này biểu hiện cho thấy Đảng CSVN vẫn khống chế cả khu vực công lẫn tư. Nhiều hãng tư thực ra nguyên là hãng quốc doanh cũ (SOE) hay vẫn còn thuôc quyền nhà nước quản lý, và hầu hết vẫn điều hành bởi các đảng viên.

Hầu hết những người chỉ huy kinh tế tư doanh hiện này là do đảng chỉ định, hay gia đình họ, hay bạn bè của họ. Giới thượng lưu CSVN đang biến chủ nghĩa tư bản VN trở thành một kinh doanh gia đình. Và nếu phiên tòa xử 4 nhà dân chủ tuần này về tội lật đổ chính phủ có dấu hiệu nào, thì tình hình củng cố quyền lực đảng là diễn biến kinh sợ cho tương lai VN.

Có nhìều điển hình về mối quan hệ gia tộc  và tiền bạc, quyền lực tại VN: một trong những người giàu nhất VN là Trương Gia Bình, chủ tịch công ty tin học lớn nhất VN, hãng FPT. Bình cùng là ngưòi duy nhất tại VN thường được nhắc với nhãn hiệu “cựu phò mã” bởi vì Bình từng kết hôn với con gaí cuả tướng Võ Nguyên Giáp.

Một thí dụ khác là Đinh Thị Hoa, người VN đầu tiên tốt nghiệp MBA, cao học kinh doanh, tại Đaị Học Harvard. Khi về VN, Hoa  lập công ty có tên là Galaxy. Trông thì đúng là mô hình kinh tế tư doanh. Nhưng Galaxy là một trong nhiều công ty thuộc sở hữu của con cái các lãnh tụ đảng. Khi WB cấp học bổng cho Hoa, cha của Hoa là Thứ Trưởng Ngoaị Giao.

Việc kết hợp tài sản của cả nước vào tay các gia đình quyền thế tại VN đang bóp méo nền kinh tế này: kinh tế sẽ  đi theo ý muốn của một số ít người, chứ không đi theo nhu cầu của đa số dân. Và mạng lưới chủ nghĩa xã hội bè cánh chia chác kinh tế đang trở thành một đe dọa cho ổn định tương lai VN. VN có cơ nguy gặp số phận của nhiều đứa con cưng trước kia của WB -- bùng nổ kinh tế, rồi sẽ sụp đổ.

Các hãng quốc doanh lớn nhất được hưởng nguồn tài trợ tiền không minh bạch cho các dự án tài chánh với rất ít hợp lý về kinh tế. Vào tháng 6-2008, tới 28 hãng quốc doanh xài 1.5 tỉ đô để thiết lập hay mua cổ phần trong các công ty quản lý tiền đầu tư, các hãng chứng khoán, các ngân hàng thương mại và các hãng bảo hiểm. Có 3/4 công ty tài chánh VN hiện sở hữu của các hãng quốc doanh lớn nhất (còn gọi là tổng công ty).

Với tiền dễ dàng xài như thế, nên mới xảy ra hiện tượng các hãng quốc doanh phải hối lộ khách hàng, cán bộ và thanh tra để nhắm mắt cho vi phạm luật. Câu hỏi là, vào thời khoảng khủng hoảng, Đảng CSVN có thể trừng phạt chính các đảng viên của họ không để  đưa kinh tế đen naỳ trở lại vòng kiểm soát. Nhưng bao lâu nữa mới có thể làm thế?

Vụ kết án các nhà dân chủ tuần này có phaỉ là dấu hiệu cho thấy mạng lưới tham nhũng của đảng, của quyền lực và của đặc quyền hiện đã ra ngoaì vòng kiểm soát?
 

Tim JOHNSTON viết về tư nhân hóa
các Tổng Công ty Việt Nam

Ngày 06.01.2010, từ Bangkok, Ký giả Tim JOHNSTON, dưới đề mục TƯ NHÂN HÓA (PRIVATISATION) đăng trên FINANCIAL TIMES trang 15, đã viết về việc Nguyễn Tấn Dũng sắp cho tư nhân hóa hai Tổng Công ty lớn của Nhà Nước, đó là PETROLIMEX và VIETNAM STEEL CORP.

Petrolimex, trước đây gọi là Vietnam National Petroleum Corp., chính yếu nhập cảng dầu lửa cho cả nước. Hiện Petrolimex có tất cả 6'000 trạm phân phối xăng dầu trên tòan quốc.

Vietnam Steel Corp. là Tổng Công ty sản xuất và cung ứng sắt thép cho Việt Nam.

Phải chăng đây là tiến trình tư nhân hóa Kinh tế hay chỉ vì những lý do sau đây:

=>     Tổng Công ty Nhà Nước lãng phí, thua lỗ mà Ngân qũy Nhà Nước thiếu hụt không còn sức bù thêm tài chánh nữa.

=>     Một chiêu bài để con cháu đảng giầu có mua lại Công ty nhà nước làm tư hữu và giấu tài sản. Đây có thể gọi là gia đình hóa, hay nhóm đảng hóa tài sản quốc gia.

=>     Trung quốc có nhiều tiền muốn chuyển ra nước ngòai. Nếu Trung quốc mua lại đa số phần hùn Petrolimex, thì họ giữ quyền kiểm sóat xăng nhớt tại Việt Nam. Đây sẽ nằm trong chương trình xâm lăng Kinh tế vậy.

=>     Cũng vậy, nếu Trung quốc mua đa số phần hùn trong Tổng Công ty Sắt Thép Việt Nam, họ có thể biến Tổng Công ty này thành một chi nhánh Sắt Thép của họ đã khá mạnh trên Thế giới.

Tác giả Tim Johnston nhận định rằng: “The appetite for investment in Vietnam is quite low!“ (Sự ham muốn đầu tư vào Việt Nam còn hòan tòan thấp). Bỏ vốn đầu tư vào một Tổng Công ty vẫn lệ thuộc ở một hệ thống Luật pháp độc tài, độc đảng, đó là liều lĩnh.

Chúng tôi cũng nghĩ rằng giới Việt kiều có thể về thăm Quê Hương, giúp vốn cho người nhà làm ăn nhỏ, nhưng chưa dám bỏ số vốn lớn để hùn vào Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp.

Đại đa số dân chúng thì nghèo khổ, làm sao có tiền hùn vốn mua Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp. Chỉ có nhóm đảng Mafia, đã cướp bóc được nhiều tiền, cánh nhóm đảng Mafia Trung quốc, có thể bỏ vốn mua để cất giấu tài sản.
 

Jamil ANDERLINI viết về những Công ty của
con Thủ tướng ÔN GIA BẢO
và con Chủ tịch HỒ CẨM ĐÀO

Một sự trùng hợp hy hữu. Cũng trong thời gian này, Tác giả Tim ANDERLINI từ Bắc Kinh, cũng dưới đề mục tài sản tư, viết đăng trên tờ FINANCIAL TIMES ngày hôm qua 27.01.2010, trang 17,  một bài về những Công ty của con trai Thủ tướng Oâng Gia Bảo và của con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, thì tại Trung quốc, con trai Thủ tướng Oân Gia Bảo và con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, cũng dựa quyền thế sinh sát độc đóan của đảng mà làm ăn thâu tóm tài sản.

ÔN YUNSONG, cũng gọi là Winston ÔN, con trai của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, có Công ty tư nhân về tài chánh NEW HORIZON có thể đầu tư tiền tỷ Đo-la. Chúng tôi xin dịch một đọan viết của Tác giả Jamil ANDERLINI:

“Một Tập đòan Tài chánh được thành lập bởi con trai của Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc, đã cùng với một số nhà đầu tư nước ngòai sắp đầu tư số lượng USD.1 tỷ vào lục địa Trung quốc.“

“ÔN Yunsong, cũng được gọi là Winston ÔN, là con trai độc nhất của Thủ tướng Trung quốc, có Tập đòan Tài chánh NEW HORIZON với vốn lúc đầu USD.750 triệu và sắp tăng lên USD.1 tỷ trong những tuần tới.“

Về những bí mật làm việc của những con cái các Lãnh đạo của đảng Cộng sản, Tác giả Jamil ANDERLINI viết: “The children of  China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON  and Winston WEN were blocked in China yesterday.“ (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).

Về riêng con trai của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Tác giả Jamil ANDERLINI cũng viết như sau: “In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17). 
 

Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam đang tìm cách giấu cất tài sản bằng tư nhân hóa hay gia đình hóa những Công ty quốc doanh vậy.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 28.01.2010



                             QUỐC TẾ ÁP LỰC LÊN TRUNG QUỐC 
                                           VỀ TỶ GIÁ TIỀN TỆ 


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                           Geneva, 21.01.2010
                                 UNICODE: http://VietTUDAN.net



Trong suốt những năm phát triển Kinh tế, Trung quốc đã cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan thấp gắn liền với Đo-la, phương tiện thanh tóan thương mại Quốc tế. Trung quốc cố tình xử dụng quyền lực độc đóan Chính trị để giữ tỷ giá đồng Yuan thấp hơn bình thường trong mục đích hạ giá hàng hóa để cạnh tranh xuất cảng. Thời Tổng thống BUSH đã có nhiều những thảo luận và áp lực lên Trung quốc để nâng cao tỷ giá đồng Yuân tới mức độ bình thường, nhưng Trung quốc vẫn tìm cách ngụy biện mà không thực hiện.

Những đòi hỏi Quốc tế hiện nay

Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 430 tuần trước, 14.01.2010, chúng tôi đã viết về việc Quốc tế trở nên bực tức đối với những gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đến nỗi phải nghĩ đến những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures du Protectionnisme). Một trong những tức bực nhất của Quốc tế là vấn đề Trung quốc chai lỳ cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan.

Ngày 28.12.2009, từ Bắc Kinh, Geoff BYER đã đăng một bài trên tờ FINANCIAL TIMES với đầu đề CHINA DISMISSES CURRENCY PRESSURE (Trung quốc từ chối không kể đến áp lực tiền tệ). Tác giả thuật lại trong một bài phỏng vấn của Tân Hoa xã hôm qua, Oâng Gia Bảo đã nói rõ: “Chúng tôi sẽ không thỏa mãn cho những áp lực dưới bất cứ hình thức nào ép buộc chúng tôi phải nâng tỷ giá tiền tệ. Như tôi đã nói với một số bạn hữu ngọai quốc: một mặt các ông đòi hỏi chúng tôi tăng tỷ giá tiền tệ, một mặt các ông lại đưa ra mọi biện pháp Che chở Kinh tế (Protectionnisme)!“ (trang 14)

Cùng ngày 28.12.2009, trong tờ THE WALL STREET JOURNAL, hai Tác giả James T. AREDDY và Shen HONG cũng viết rằng Oân Gia Bảo cũng đã từ chối những công kích của ngọai quốc về chính sách tiền tệ của Trung quốc, áp lực chúng tôi phải nâng tỷ giá đồng Yuan (trang 3).

Đầu năm 2010, những Quốc gia chính trong khối ASEAN, vì lý do Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan hạ, nên yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.

Ngày 06.01.2010, Tác giả Julie DESNE từ Thượng Hải, viết trên tờ FIGARO rõ ràng về áp lực của Hoa kỳ và Liên Aâu đối với Trung quốc, rằng: “Washington et Bruxelles n’ont de cesse de dénoncer un yuan sous-évalue qui maintient les exportations chinoises anormalement bon marché, aggravant les déficits américain et européen face à la Chine.“ (Hoa Thịnh Đốn và Bruxelles không ngừng tố cáo tỷ giá đồng Yuan cố ý giữ hạ để giữ những xuất cảng của Trung quốc với giá hàng thấp không bình thường, khiến những cán cân thương mại Mỹ và Liên Aâu thua lỗ đối với Trung quốc) (trang 24)

Nâng tỷ giá đồng Yuan lên bao nhiêu ? Oâng Zhang BIN, một trong những Kinh tế gia Trung quốc làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội (CASS) của Nhà Nước Trung quốc, đã công khai đề nghị rằng Bác Kinh nên nâng tỷ giá đồng Yuan lên 10% (FIGARO 06.01.2010, trang 24). Nhà Nước Trung quốc có nghe theo lời khuyến cáo này không, đó là chuyện khác.

Cắt nghĩa ảnh hưởng tỷ giá tiền tệ
trên giá cả hàng hóa xuất cảng

Chúng tôi sẽ có dịp viết chi tiết và dài về “Chiến tranh Tiền tệ“ mà Trung quốc đã nêu ra nhân việc xuống giá của đồng Đo-la trong khi ấy Trung quốc cũng như một số Quốc gia đang phát triển giữ khối Đo-la Dự trữ lớn. Thống đốc Ngân Hàng Trung Quốc thậm chí công khai kêu gọi thay đồng Đo-la bằng một lọai tiền tệ khác.

Trong phạm vị bài QUAN ĐIỂM này, chúng tôi chỉ cắt nghĩa những liên hệ trực tiếp tỷ giá tiền tệ đến giá cả hàng xuất cảng.

=> Từ Hội Nghị Tiền tệ Thế giới tại Bretton Woods năm 1944, Hệ thống Tiền tệ được bảo đảm dựa trên trung gian đồng Đo-la bởi vì Aâu châu đã mất hết vàng trong Thế Chiến II khả dĩ bảo đảm cho giá trị đồng tiền mỗi nước, trong khi ấy chỉ còn Đo-la có vàng làm bảo chứng giá trị. Hội nghị Bretton Woods chấp nhận Régime Etalon-Devise ($)-Or.  Đồng Đo-la trở thành phương tiện thanh tóan Thương mại tòan cầu và là qũy Dự trữ trong các Ngân Hàng. Như vậy, khi xuất cảng hàng hóa, các nhà xuất cảng mỗi nước đều yêu cầu người mua phải thanh tóan bằng đồng Đo-la.

=> Aâu châu được tái thiết và Kinh tế phát triển. Xuất cảng hàng hóa, các nước Aâu châu đòi trả tiền bằng Đo-la. Khối sản xuất Dầu lửa cũng đòi việc thanh tóan bằng Đo-la. Nhật bản, Đài Loan tiến mạnh và xuất cảng, cũng thu Đo-la vào. Nhưng mỗi nước Aâu châu, Trung đông và Viễn đông lại có tiền riêng của mỗi nước để làm phương tiện thương mại trong nội địa: đồng Bảng Anh, đồng Quan Pháp, đồng Mark Đức, đồng Yen... Vì vậy mà tỷ giá giữa đồng tiền mỗi nước và đồng Đo-la phải được thiết lập. Tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai nước cũng được thiết lập qua trung gian đồng Đo-la. Tỉ dụ FF.1 (Franc Pháp) tương đương với  USD.0.25 cents và DM.1 (Mark Đức) tương đương với USD.0.50 cents. Nhờ qua trung gian đồng Đo-la, người ta thiết lập tỷ giá giữa Mark Đức và Franc Pháp: DM.1 = (USD.0.50 cents/ USD.0.25 cents) = FF.2.

=> Khi mà Đồng Đo-la lan tràn trên Thế giới, thì lượng vàng làm căn bản định nghĩa bảo chứng Đo-la không được bảo đảm. Bỏ Régime Etalon-Devise-Or, hệ thống Tiền tệ chỉ được bảo đảm dựa trên Khả năng Kinh tế của mỗi nước trong hệ thống gọi là Régime du Pouvoir d’Achat của đồng tiền. Kinh tế Hoa kỳ vẫn giữ sức mạnh quán quân Thế giới và đồng Đo-la vẫn được chấp nhận như phương tiện thanh tóan Thương mại Thế giới. Khi đồng tiền không được bảo đảm theo định nghĩa dựa trên lượng vàng nữa, mà chỉ dựa trên sức mạnh Kinh tế, thì tỷ giá giữa mỗi đồng tiền đối với Đo- và tỷ giá giữa các đồng tiên quốc gia đối với nhau có những thay đổi tùy theo sức mạnh Kinh tế mỗi quốc gia.

=> Ở đọan trên, chúng tôi nói đến Khả năng Kinh tế quốc gia dựa trên đó một đồng tiền quốc gia được thẩm định giá trị và do đó tạo lý do thứ nhất cho sự thay đổi (Flexibilité) của tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và Đo-la và giữa các đồng tiền quốc gia với nhau. Trong đọan này, chúng tôi nói đến lý do thứ hai của sự thay đổi tỷ giá đối với một ngọai tệ (Đo-la) dựa trên CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ giữa đồng tiền quốc gia và ngọai tệ ở một nước. Tại một quốc gia, có việc nhập ngọai tệ do xuất cảng và việc xuất ngọai tệ do nhập cảng. Cụ thể là phương tiện thanh tóan xuất nhập cảng là đồng Đo-la. Như vậy có Thị trường trao đổi giữa đồng tiền quốc gia với ngọai tệ Đo-la do Xuất Nhập cảng làm thay đổi CUNG và CẦU đo-la và đồng tiền quốc gia trên Thị trường. Khi CUNG và CẦU thay đổi ở Thị trường Tiền tệ, thì tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và đồng Đo-la có có những bấp bênh  thay đổi (Flexible et Flottant).  Đây là lý do thứ hai làm thay đổi tỷ giá giữa ngọai tệ và tiền quốc gia.

=> Thị trường Tiền tệ mỗi quốc gia như nói trên đây tùy thuộc cán cân Thương mại mỗi nước, nghĩa là thặng dư Xuất-Nhập cảng hay thiếu hụt Xuất-Nhập cảng. Nói thặng dư Xuất-Nhập cảng nghĩa là Xuất cảng lớn hơn Nhập cảng và ngược lại thiếu hụt Xuất-Nhập cảng nghĩa là Nhập cảng cao hơn xuất cảng. Xuất cảng cao hơn Nhập cảng tức là quốc gia thu vào nhiều Đo-la (ngọai tệ chính thanh tóan Xuất-Nhập cảng). Nhập cảng cao hơn Xuất cảng tức là quốc gia cho ra ngòai nhiều Đo-la. Chi tiêu trong nước bằng tiền quốc gia. Vì vậy khi Xuất cảng nhiều và thu vào nhiều Đo-la, thì những nhà xuất cảng phải đổi Đo-la ra để chi tiêu trong nước, tức là phía CẦU đồng tiền quốc nội phải tăng. Khi tăng CẦU tiền quốc nội, thì giá trị tiền quốc nội trở thành mắc giá sánh với Đo-la. Tỷ giá giữa đồng tiền quốc nội sánh với Đo-la phải tăng. Nhưng nếu Nhập cảng nhiều hơn Xuất cảng, thì phía CẦU Đo-la tăng, vì vậy Đo-la mắc giá hơn tiền quốc nội. 

=> Theo nguyên tắc CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ quốc nội trên đây, Trung quốc Xuất cảng nhiều hơn Nhập cảng, thì họ thu vào nhiều Đo-la hơn là chi tiêu Đo-la ra nước ngòai. Các nhà Xuất cảng phải đổi Đo-la ra đồng Yuan, tiền quốc gia, để chi tiêu trong nước. Phía CẦU đồng Yuan phải tăng, nghĩa là đồng Yuan phải lên giá sánh với Đo-la. Đó là tỷ giá tự nhiên giữa đồng Yuan và đồng Đo-la. Trong bao nhiêu năm Xuất cảng hàng hóa, Trung quốc thu vào số lượng lớn Đo-la và phải chi tiêu trong nước bằng đồng Yuan, tiền quốc gia. Những nhà Xuất cảng hàng Trung quốc tăng phía CẦU đồng Yuan để chi tiêu ở Trung quốc. Tỷ giá đồng Yuan phải lên cao. Đó là tỷ giá được gọi là tự nhiên theo luật CUNG và CẦU của đồng tiền quốc nội ở Thị trường Tiền tệ nếu có tự do.

=> Nhưng khuynh hướng tăng tỷ giá giữa đồng Yuan và Đo-la tại Trung quốc đã bị sự ngăn chặn bởi quyền lực Chính trị.  Người ta gọi đây là sự can thiệp Nhà Nước độc đóan vào Luật CUNG và CẦU ở một Thị trường. Khi khuynh hướng tự nhiên là tỷ giá giữa đồng Yuan và đồng Đo-la phải cao hơn, thì Nhà Nước ấn định một tỷ giá thấp hơn. Đây là việc đặt “Giá trần nhà“ (Prix plafond) để ngăn chặn khuynh hướng tăng giá. Việc ngăn chặn với “giá trần nhà“ này luôn luôn tạo ra Chợ Đen và là nguồn gốc của sự ăn bẩn, hối lộ, đặc quyền.

=> Tại sao Nhà Nước Trung quốc làm công việc đặt “Giá trần nhà“ để ngăn chặn khuynh hướng tăng tỷ giá tự nhiên giữa dồng Yuan và đồng Đo-la ? Lý do là để làm hạ giá hàng hóa Trung quốc xuất cảng. Thực vậy, ở Thị trường Thương mại hàng hóa, phương tiện cạnh tranh chính yếu là giá cả hàng hóa. Mục đích của họat động Kinh tế là thu vào Lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận là độ lớn giữa Giá bán và Giá thành. Ơû Thị trường cạnh tranh gay gắt, người ta rất khó tăng Giá bán, nhưng có thể hạ Giá thành để làm tăng độ lớn của Lợi nhuận. Kinh tế gia Paul SAMUELSON nói ra như một định luật:“Trên thị trường cạnh tranh dài hạn, Lợi nhuận có khuynh hướng triệt tiêu“. Nhưng có những Xí nghiệp vẫn sống vì thu được Lợi nhuận vì họ biết quản trị Giá thành thấp.  Hàng hóa Trung quốc thuộc chính yếu những hàng hóa xử dụng thường ngày cho đại đa số quần chúng nghèo, không cần phẩm chất cao. Sản xuất những hàng hóa này không cần phải chi tiêu thiết bị Kỹ thuật đắt giá, mà chỉ xử dụng chính yếu Nhân lực. Trung quốc xử dụng độc đóan Chính trị để khai thác khối Nhân lực lớn với tiền lương rẻ mạt. Đồng thời, một cách hạ giá thành sản xuất nữa là tăng số lượng sản xuất, điều mà Trung quốc có thể làm.

=> Khi xử dụng quyền Chính trị Nhà Nước để giữ tỷ giá đồng Yuan hạ dối với Đo-la, đó là việc họ hạ thêm giá hàng xuất cảng để quyến rũ những nhà mua hàng từ nước ngòai có đựơc đồng Yuân hạ để mua hàng, chi tiêu tại Trung quốc. Đây cũng là việc hấp dẫn những Xí nghiệp Liên quốc gia (Multinationales) xử dụng vốn Đo-la, mua được đồng Yuan với giá rẻ để sản xuất hoặc xuất cảng ra nước ngòai bán thu vào Đo-la mắc giá. Mức độ Lợi nhuận tăng rộng từ giá hạ sản xuất tại Trung quốc với chi tiêu đồng Yuan rẻ, đến giá xuất cảng thương mại với giá Đo-la cao.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 21.01.2010

 



                                       GIAN GIẢO KINH TẾ TQ
                         LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP


                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                          Geneva, 14.01.2010
                                UNICODE: http://VietTUDAN.net

 

Những gian lận Kinh tế/ Thương mại của Trung quốc dần dần xuất hiện. Trong tình trạng phát triển Kinh tế bình thường hoặc hồ hởi, người ta dễ bỏ qua những gian lận ấy. Nhưng ngày nay, sau việc khó khăn phục hồi Kinh tế hậu Khủng hỏang, nhất là tình trạng thất nghiệp tăng mạnh khắp nơi, những gian lận ấy được phanh phui ra và những biện pháp chế tài gian lận sẽ được đặt ra và áp dụng.


Những gian lận Kinh tế/ Thương mại Trung quốc

Trong Hội Nghị Copenhague vừa qua, người ta thấy thái độ quá lì lợm của Trung quốc làm nguyên nhân chính cho bế tắc những đàm phán của Hội Nghị. Thái độ khăng khăng của Trung quốc gồm hai điểm: (i) thứ nhất là Trung quốc nhất định bám sát Ký kết Kyoto theo đó thì các nước đã kỹ nghệ hóa phải tài trợ cho những nước chưa phát triển để giảm thiểu thải khí độc trong đó có Trung quốc là nước được hưởng tài trợ này; (ii) thứ hai là Trung quốc nhất định không cho phép bất cứ những thanh tra, kiểm điểm nào đến từ nước ngòai hay một tổ chức nào gồm một số nước được trao trách nhiệm kiểm sóat, thanh tra thực hiện việc giảm thiểu khí độc.

Trung quốc nại ra vấn đề Chủ quyền Quốc gia để nhất định không nhượng bộ điểm thứ hai trên đây. Hoa kỳ, qua Ngọai trưởng Hilary CLINTON, đã nhấn mạnh đòi hỏi thanh tra này bởi lẽ Trung quốc đứng đầu trong việc thải khí độc, mà nếu không có kiểm điểm việc thực hiện, thì những cố gắng gỉam thiểu khí của các nước khác trở thành vô ích.

Thái độ cố thủ của Trung quốc đã cho các nước khác dự đóan một sự gian lận nào đó mà Trung quốc không muốn cho ai biết.

Thực ra sự nghi ngờ về lòng ngay thẳng của Trung quốc ở lãnh vực Kinh tế/ Thương mại đã có một số biểu lộ với chứng cớ từ đã một số năm nay. Hình ảnh về gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn qua những sự việc sau đây:

1)      Thương hiệu MADE IN CHINA mỗi ngày mỗi giảm xuống qua những kiểm chứng có tính cách khoa học đối với một số những hàng hóa Trung quốc:    

*        Thực phẩm, sữa, bánh kẹo mang nhiều lượng mélanine có hại cho sức khỏe. Một số những thực phẩm được sản xuất thiếu những điều kiện vệ sinh đòi hỏi.

*        Hàng nông nghiệp mang dấu vết tồn tại của những chất sát trùng hoặc những hóa chất nguy hại.

*        Những đồ chơi cho trẻ con mang nước sơn có thể sinh bệnh, nhất là khi trẻ con cho vào miệng ngậm.

*        Hàng công nghệ đẹp mã, với giá rẻ, nhưng chất liệu xử dụng không tốt và dễ hư hỏng trong một thời gian rất ngắn.

*        Những thuốc giả đem bán tại những nước nghèo, nhất là tại Phi châu, không những không chữa được bệnh mà có thể gây thêm những bệnh khác.

*        Một số những vật liệu xây cất cũng được sản xuất với chất liệu kém, khiến những công trình xây cất nhằm dài hạn bị hư hỏng trước hạn kỳ dự trù.

2)      Những xí nghiệp, những nhà máy sản xuất nhằm sản xuất cấp thời để xuất cảng hàng hóa thâu tiền mau chóng. Việc tổ chức nhà máy đã không tôn trọng những những đòi hỏi thiết lập những phương tiện bảo vệ môi trường. Kỹ nghệ Trung quốc đã làm ô uế và phá họai môi trường mà dân chúng phải hứng chịu. Có lẽ đây là lý do mà Trung quốc cố thủ không cho một kiểm sóat, thanh tra nào từ nước ngòai để có thể tố giác những gian lận công nghệ hóa của đảng CSTQ, nhóm Mafia làm Kinh tế riêng cho nhóm. 

3)      Ai cũng biết việc xử dụng có tính cách bóc lột nhân lực tại Trung quốc.  Nhân công bị khai thác không tương xứng với đồng lương. Một số những nhà luân lý, nhậy cảm về nhân quyền đã lên tiếng kêu gọi từ chối việc xử dụng hàng Trung quốc.

4)      Trung quốc đã xử dụng vốn dự trữ để khai thác tài nguyên, nhất là nguyên vật liệu như quặng, khí đốt thiên nhiên, dầu lửa... từ nhưng nước nghèo, có thể qua những hối lộ cho những chính quyền những nước này:

*        USD.25 tỉ cho vùng Trung Á. Tại vùng này, có những va chạm quyền lợi với Nga. Nga không dễ dàng gì mà để Trung quốc yên lành khai thác chính trong vùng đang mang nhiều liên hệ có tính cách lịch sử với Nga.

*        USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.

*        USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.

Việc khai thác nguyên vật liệu cũng đồng thời nằm trong chủ trương xuất cảng sang những vùng nghèo trên đây:

->      Những thiết bị cũ của Trung quốc

->      Những vật liệu xây cất sản xuất rẻ tiền từ Trung quốc

->      Khối nhân công rẻ tiền của Trung quốc. Hiện tại Phi châu có chừng trên 100'000 nhân công Trung quốc..

Trung quốc muốn trở thành chủ nợ cũng như họ đã là chủ nợ của CSVN để dễ dàng bắt ép con nợ phải nhận những nhượng quyền về Kinh tế/Thương mại. Những phản ứng của dân chúng Việt Nam về Beauxite cắt nghĩa những phản ứng sẽ xẩy ra ở những xứ nghèo con nợ khác.

5)      Việc cố thủ xử dụng tỉ giá đồng Yuan thấp sánh với Mỹ-kim nhằm nâng đỡ xuất cảng đã từ lâu gây bực tức cho Mỹ, Liên Aâu và một số lớn những nước Á châu. Một trong những lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.

Báo Philippine Star trong tháng 12/2009 có bài cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỉ giá đồng nhân dân tệ như hiện nay khiến hàng xuất khẩu của Asean chịu thiệt hại nặng.

Kinh tế gia Zhang BIN, làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội tại chính Trung quốc, đã lên tiếng khuyến cáo Trung quốc phải nâng tỉ giá đồng Yuan lên 10% sánh với Mỹ-kim.

6)      Hoa kỳ đang có những nghi ngờ về liên hệ giữa Iran và Trung quốc khiến Trung quốc có thái độ lừng khừng đối với việc chế tài chương trình Nguyên tử của Iran. Trung quốc cần dầu lửa và có quyền Veto ở Liên Hiệp Quốc.

Sự gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đã và sẽ tạo ra những phản ứng thất lợi cho chính Trung quốc. Không thể lừa người khác lâu dài được.
 

Chính sách Kinh tế Trung quốc
làm tổn hại đến mọi Quốc gia

Đó là khẳng định của Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010

(http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html) (Người dịch: Đoàn Hưng Quốc):

“Nền kinh tế của Trung Quốc rất thành công trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển vượt bực nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát  triển.

Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.

Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại  khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.

Sau khi thả nổi đồng Quan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.

Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.

Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.

Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.

Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Quan của Bắc Kinh.

Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.

 

Những biện pháp Che Chở Mậu Dịch

Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).

Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch  Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Oâng LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).

Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.

Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 14.01.2010

 



                                                     NĂM 2010:
                               NHẬN ĐỊNH CHUNG TÌNH HÌNH KINH TẾ

 
                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                               Geneva, 07.01.2010
                                     UNICODE: http://VietTUDAN.net

 

Tóm tắt nội dung Bài này đã được Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn và ghi âm hôm qua, 06.01.2009. Hôm nay 07.01.2010, bài phỏng vấn sẽ được phát thanh về Việt Nam.

Nhật Báo Anh FINANCIAL TIMES thứ Hai 04.01.2010 đăng ở trang 19 bài phỏng vấn một số những nhà Quản trị xí nghiệp lớn Quốc tế dưới đầu đề SỰ NGHIÊM KHẮC LÀ TIẾNG NÓI CHÌA KHÓA KHI NHỮNG NHÀ QUẢN TRỊ ĐẶT CHƯƠNG TRÌNH CHO NĂM TỚI (Austeriry the Key word as Business Leaders plan for the coming year). Cũng Vậy, Nhật Báo LE MONDE thứ Ba 05.01.2010 đăng ở trang 13 bài phỏng vấn 5 nhà Quản trị xí nghiệp lớn của Pháp với đầu đề là HỒI PHỤC KINH TẾ NÀO CHO 2010 ? DỰ ĐÓAN CỦA 5 CHỦ XÍ NGHIỆP (Quelle eprise en 2010 ? Le Pronostic de cinq Patrons). Năm nhà Quản trị này thuộc những ngành họat động khác nhau : Phân phối Hàng hóa, Sản xuất Xe Hơi, Bưu điện, Xây Cất và Chuyên Chở.


Nhận định của những
Nhà Quản trị như thế nào ?

=>     Theo Nhật Báo FINANCIAL TIMES

Oâng Michael O’LEARY, Chủ tịch Công ty Hãng Máy Bay hạ giá RYANAIR đã tóm tắt thái độ của các Xí nghiệp Tây phương bằng những chữ « Phải nghiêm khắc về Chi tiêu ». Oâng đã gọi năm 2010 là năm rất bảo thủ (“2010 is a year to be very conservative“)

Ong Alan MIDDLETON, Giám đốc Điều Hành của Công ty PA Tư Vấn của Anh quốc, cảnh cáo rằng các Xí nghiệp phải lo tạo dựng vững chắc Qũy lưu hành thường xuyên (Liquidité permanente) họat động, chứ không đầu tư xả láng và phiêu lưu.

Oâng Feike SIJBESMA, đứng đầu Tập đòan DSM của Đức nói : »Qũy lưu hành thường xuyên và canh chừng chi tiêu là hai ưu tiên trong suốt năm 2010 ».

Oâng Michel DEMARE, Giám đốc Tài chánh của Tập đòan Điện ABB của Thụy sĩ, cho rằng mối quan tâm của những Xí nghiệp Liên quốc gia là di chuyển một số đơn vị sản xuất sang những nước bắt đầu phát triển để giảm chi tiêu.

Một Phúc trình của Ngân Hàng UBS cho rằng trong năm một số những Xí nghiệp yếu sẽ bị mua và biến mất.

=>     Theo Nhật Báo LE MONDE

Oâng Michel-Edouard LECLERC, Chủ tịch Tập đòan Phân Phối Hàng Hóa LECLERC tuyên bố rằng năm nay 2010, Tiêu thụ vẫn còn giảm sút. Năm ngóai, thụt giá từ 4% tới 0%. Nếu giảm giá vẫn tiếp tục, thì đây là sự ngưng họat động của một số nhà phân phối.

Oâng Patrick PELATA, Tổng Giám đốc Hãng Renault, đưa ra ba yếu tố đình trệ: thứ nhất là Khả năng tài chánh tiêu thụ, thứ hai là sự Tin tưởng của giới tiêu thụ vào Kinh tế (như vậy mới dám tin tưởng lấy Tín dụng tiêu thụ), thứ ba là sự Già đi của sản xuất Xe Hơi.

Oâng Jean-Paul BAILLY, Chủ tịch Bưu Điện, nhận xét rằng việc Phục hồi Kinh tế rất khác nhau tùy theo từng Châu lục và việc Phục hồi ấy khá chậm chạp cho Aâu châu, nhất là Pháp.

Oâng Pierre-André De CHALANDAR, Tổng Giám đốc Tập đòan Xây Cất Saint-Gobain, nhận xét rằng năm 2009, họat động xuống rất thấp và ông rất thận trọng cho năm 2010 vì chưa thấy dấu hiệu phục hồi nào.  Trong hệ thống liên đới sản xuất, Oâng lo ngại cho những khó khăn của những Công ty nhỏ và Trung bình hợp tác làm việc xây cất với Tập đòan lớn của Oâng. 

Oâng Patrick MOLIS, Chủ tịch Hãng Chuyên chở Quốc gia, tuyên bố : »Năm 2010 sẽ rất bình lặng ở Pháp và Aâu châu, không có phục hồi mạnh. Thất nghiệp tăng là vấn đề chính yếu. Nó ảnh hưởng tới phía Cầu tiêu thụ. Mặt khác, đừng quá trông chờ vào đà phát triển của Trung quốc. Mức Tiêu thụ của 1.3 tỉ người Trung quốc chỉ tương đương với 15% mức Tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ. Chính Aâu châu và Hoa kỳ mới kéo theo Đầu tầu Tiêu thụ của Thế giới. Tại Trung quốc, việc phục hồi mang tính cách giả tạo. Họ đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vào khả năng sản xuất, nhưng không có lối thóat tiêu thụ. Tại Aâu châu và đặc biệt tại Pháp, khuynh hướng tổng quát là thắt chặt đồng lương và giảm nhân viên.... Những Công ty nhỏ và trung bình, nếu có khả năng tài chánh, phải đầu tư để tạo công ăn việc làm. Những Xí nghiệp lớn thì tìm cách chuyển một số đơn vị sản xuất đi nơi khác, vì vậy giảm nhân viên tại Pháp và tại Aâu châu. »
 

Cắt nghĩa những nhận định
bi quan cho năm 2010

Tổng quát mà nói, tình trạng đình trệ những họat động Kinh tế tùy thuộc vào phía CẦU tiêu thụ đúng như nghiên cứu của Kinh tế gia John M. KEYNES, ông tổ của nền Kinh tế Tiêu thụ (Economie de Consommation). Chính Tiêu thụ kéo theo Sản xuất (La Consommation mène la Production). Khi phía CẦU hàng hóa tăng, thì phía CUNG đầu tư để sản xuất. Phía Ngân Hàng, Tài chánh tin tưởng và dễ dàng cho Tín dụng.

=>     Aûnh hưởng tâm lý của cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế 2008/2009

Năm 2010 chưa quên Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh năm 2008 và Khủng hỏang Kinh tế năm 2009. Thực vậy, cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh đi từ lý do quá dễ dãi của phía giữ vốn. Giới Ngân Hàng/Tài chánh tạo ra những sản phẩm tài chánh riêng của họ để cấp Tín dụng và buôn bán những sản phẩm Tài chánh ấy để ăn lời cao và nhanh chóng trong Kỹ nghệ Tài chánh riêng của họ (Industries Financìeres). Họ khuyến khích giới Tiêu thụ nhắm mát chi tiêu dựa trên Tín dụng dễ dãi, nghĩa là dựa trên ngưỡng vọng thu nhập tương lai. Giới sản xuất cũng dễ dàng có vốn đầu tư để sản xuất quá nhiều hàng hóa. Tiêu thụ và Sản xuất Kinh tế được thổi phồng lên như bong bóng mà những tác nhân Kinh tế như quên rằng đến một lúc nào đó bong bóng quá căng sẽ nổ. Thực vậy, khi giới Tiêu thụ, phía CẦU, ý thức về tiêu thụ quá lố, hoặc cảm thấy những hiệu quả thỏa mãn (Effets de Saturation), hoặc việc thu nhập tương lai không như ý hướng khả dĩ hòan Tín dụng, thì họ ngưng Tiêu thụ, giảm hẳn phía CẦU. Phía Ngân Hàng/Tài chánh không thâu hồi được Tín dụng và vỡ nợ hoặc thắt chặt lại việc cho vay cho cả phía CẦU và phía CUNG. Nền Kinh tế ngưng trệ, Khủng hỏang diễn ra.

=>     Giữ thế thủ Tài chánh/ Kinh tế

Hình ảnh Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh và Kinh tế của những năm 2008/2009 vẫn còn sống trong đầu óc những nhà Quản trị Xí nghiệp khiến họ phải giữ những thận trọng cho năm 2010 như những phát biểu ở trên đây từ những Nhà Quản trị. Sự thận trọng bao gồm những điểm sau đây :

1)      Giữ số vốn lưu hành chắc chắn để bảo đảm việc xoay sở những họat động của Xí nghiệp (Solvabilité).

2)      Chắt bóp và căn cơ việc chi tiêu để có thể làm cho lợi nhuận tăng và do đó có tiền cho vào Qũy lưu hành (Liquidité) và Qũy dự trữ (Réserves). Không thể chi tiêu xả láng như trước với Tín dụng được dễ dàng cho bởi phía Ngân Hàng và Tài chánh.

3)      Khi Kinh tế đi lên, các Xí nghiệp lạc quan và chi tiêu cho sản xuất. Khi Kinh tế đi xuống, thì các Xí nghiệp lo lắng về quản trị Chi tiêu ( Gestion des Dépenses, des Couts). Ở giai đọan khó khăn về tiền bạc, thì phải thắt lưng buộc bụng khi tiêu xài.  Theo Paul SAMUELSON, ở một Thế giới cạnh tranh Kinh tế/Thương mại, khỏang cách lợi nhuận có khuynh hướng triệt tiêu, nên việc sống còn của Xí nghiệp tùy thuộc vào Quản trị Chi tiêu.

4)      Chính vì lo lắng về quản trị Chi tiêu, mà các Xí nghiệp hướng về việc tái xử dụng những phương tiện sản xuất sẵn có. Trước khi đi mua cây bút chì mới, thì lục sóat trong ngăn kéo xem mình còn nửa cây bút chì gẫy chưa dùng hay không.

5)      Cũng chính vì mối quan tâm quản trị Chi tiêu mà các Xí nghiệp chưa vội mướn thêm nhân công, đồng thời tìm cách chuyển những đơn vị sản xuất đến những nước có nhân công rẻ. Đây là lý do làm tăng thất nghiệp tại các nước đã Kỹ nghệ hóa : Hoa kỳ, Aâu châu, Pháp mà các nhà Quản trị trên đây đã đề cập tới.

6)      Khi số thất nghiệp tăng, thì Kinh tế lại đi vào vòng luẩn quẩn. Tăng thất nghiệp có nghĩa là Thu nhập của giới Tiêu thụ giảm. Thu nhập giảm, thì phía CẦU giảm tác hại lên chính phía CUNG. Henry FORD đã áp dụng một chính sách lương bổng nâng đỡ phía CẦU khi Oâng nói:“Tôi trả lương hậu cho thợ để họ có tiền mua xe hơi mà tôi sản xuất“. Việc tăng thất nghiệp hiện nay, nhất là giới trẻ, làm giảm phía CÂU, sẽ tác hại lên chính phía sản xuất.

7)      Một lý do nữa là giảm phía CẦU từ phía Nhà Nước. Các Nhà Nước của những Quốc gia đã Kỹ nghệ hóa đều thâm lạm Ngân Sách có tính dài hạn. Việc thâm lạm này là để cứu giới Ngân Hàng/Tài chánh. Chi tiêu Nhà Nước (Dépenses Publiques) chiếm vai trò khá quan trọng cho phía CẦU. Nhưng khi Ngân sách thâm lạm, thì tất nhiên Nhà Nước không thể chi tiêu, do đó làm giảm thên phía CẦU.

=>     Thử nghĩ đến một vài đề nghị tích cực

1)      Đầu tư vào những Công ty nhỏ và trung bình

Những nhận định bi quan trên đây đến từ những nhà Quản trị những Xí nghiệp lớn Liên quốc gia (Multinationales). Lời khuyên của Oâng Patrick MOLIS, Chủ tịch Tập đòan Chuyên chở Quốc gia Pháp là một trong những giải pháp cho tình trạng đình trệ và luẩn quẩn hiện nay. Đó là những Công ty Nhỏ và Trung bình đầu tư tạo công ăn việc làm. Chúng ta đã có kinh nghiệm của nước Ý cách đây 30 năm trước. Thực vậy, cách đây 30 năm, Kinh tế Ý dựa trên những Tập đòan lớn và hậu quả là dân thất nghiệp đình công. Từ những đại Xí nghiệp, Kinh tế Ý đã chuyển sang tiểu Xí nghiệp Gia đình để cứu vãn tình hình.

2)      Đầu tư vào phương diện sáng tạo Kỹ thuật. Đây là ý tưởng của Oâng Jean-Paul BAILLY, Chủ tịch Bưu Điện Pháp. Oâng tuyên bố:“La crise des années 2008 et 2009 accélérera les innovations et les mutations technologiques, ce qui permettra une meilleure compétitivité des entreprises“ (LE MONDE 05.01.2010, page 13) (Khủng hỏang những năm 2008 và 2009 sẽ làm tăng tốc độ những sáng chế và những hóan chuyển kỹ thuật, điều cho phép tính cạnh tranh tốt nhất của những xí nghiệp). Thực vậy, những sáng chế thường phát xuất từ những trường hợp khó khăn, bế tắc mà người ta phải cố gắng tìm lối thóat.
 

Không thể quá tin tưởng
vào đà phát triển Trung quốc

 Đây là ý kiến của Oâng Patrick MOLIS. Thực vậy, cái nhìn của Thế giới vào Kinh tế Trung quốc là theo nhãn quan của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Thế giới làm Kinh tế trong khung cảnh một Xã Hội Dân chủ, nghĩa là Kinh tế thuộc về Dân. Trong khi đó, những họat động Kinh tế của Trung quốc thuộc về một nhóm đảng giữ quyền độc tài. Đây là Kinh tế của một nhóm Mafia hòan tòan giữ quyền quyết định độc tài. Thế giới nhìn vào Kinh tế Trung quốc và vẫn tưởng rằng đó là phát triển Kinh tế giống như ở Xã hội Dân chủ Tây phương.

Nền Kinh tế Mafia với quyền Chính trị độc tài mang những đặc tính sau đây:

1)      Nhà Nước độc tài hòan tòan nắm vốn đầu tư. Những Xí nghiệp lớn nắm 90% sinh họat Kinh tế và do Nhà Nước cấp vốn. Nếu có 10% do vốn tư nhân, thì những công ty nhỏ tư nhân này cũng lệ thuộc vào những quyết định của những đại công ty Quốc doanh làm việc cho đảng.

2)      Sinh họat Kinh tế của Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng để thu nhập nhanh cho Nhà Nước. Ông Patrick MOLIS nói rất đúng, mức tiêu thụ của 1.3 tỉ dân Trung quốc chỉ bằng 15% mức tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ. Khi mà Âu châu và Hoa kỳ, vì khó khăn Kinh tế, giảm thiểu tiêu thụ, thì ảnh hưởng trực tiếp là làm giảm xuất cảng của Trung quốc.

3)      Với độc tài Chính trị, 90% Công ty Nhà Nước đã khai thác nhân lực Trung quốc như những nô lệ sản xuất để phục vụ thu nhập xuất cảng cho nhóm Mafia đảng Cộng sản Trung quốc. Những thu nhập cho đảng và cho túi riêng của đảng viên là giá mồ hôi nước mắt của khối dân không lồ Trung quốc bị Chính trị độc tài bắt ép làm việc với đồng lương rẻ mạt.

4)      Nền Kinh tế Trung quốc ăn xổi ở thì, thu nhập mau, nhưng không quan tâm đến những ô uế môi trường. Dân chúng vừa bị khai thác nhân lực, vừa phải chịu những ô uế môi trường trong lâu dài. Tại Hội Nghị Copenhague, nếu có ai ngạc nhiên thấy thái độ khăng khăng của Trung quốc không muốn ai nhòm ngó, kiểm sóat việc phóng khí độc, thì phải hiểu rằng đây là một hệ thống sản xuất mà nhóm đảng Mafia cố thủ giấu kín. Ai chết mặc ai, miễn là đảng thu nhập nhanh chóng. Tỉ dụ mới đây nhất là ống dẫn dầu bị vỡ và dầu chảy loang làm ô uế sông Hòang Hà. Nhà Nước và Báo đài giấu diếm.

5)      Những Chương trình kích cầu kinh tế không nhằm khối dân tiêu thụ Trung quốc. Ông Patrick MOLIS gọi đây là những Chương trình có tính cách giả tạo:

*        Chi tiêu vào Hạ tầng cơ sở. Với xứ sở mênh mông, hạ tầng cơ sở không thể xây dựng nhanh chóng với số vốn bỏ ra tương đối nhỏ bé. Đảng Mafia chỉ lo những thành phố ven biển và xây cất nhà cửa giống như Dubai để làm vẻ vang cho đảng, chứ không phải cho dân.

*        Canh tân một số những cơ sở sản xuất bởi vì thiết bị sản xuất lúc đầu là những máy móc “second hand” mua lại rẻ từ Tây phương, nhưng Ông Patrick MOLIS nhận xét luôn rằng sản xuất mà Trung quốc không có ngõ ra tiêu thụ (capacités de production, mais sans débouchés). Tiêu thụ Hoa kỳ và Âu châu giảm xuống, tiêu thụ nội địa Trung quốc thì không được đầu tư, do đó không có lối thóat tiêu thụ (sans débouchés).

*        Kinh tế Trung quốc thuộc về nhóm Mafia đảng, mà đảng muốn giữ quyền độc tài và không muốn chuyển Kinh tế sang tay Dân. Đầu tư tăng khả năng tiêu thụ cho Dân, đó là sự chuyển hướng Kinh tế về Dân, điều mà nhóm Mafia đảng không muốn vậy. Muốn giữ độc tài Chính trị, thì phải giữ vững độc quyền Kinh tế. Khối Dân Trung quốc gồm 1.3 tỉ người. Đảng CSTQ nắm số vốn lớn do sự bóc lột sức lao động của khối Dân ấy mà có. Nhưng đảng không muốn bỏ vốn nâng cấp Khả năng Tiêu thụ (Pouvoir d’Achat) cho khối Dân đó để Kinh tế Trung quốc trở thành độc lập, không lệ thuộc vào lo lắng giảm sút đặt hàng từ nước ngòai. Đảng biết rằng khi nâng cấp khả năng Tiêu thụ cho Dân chúng, tức là bắt đầu Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế. Dân chủ hóa Kinh tế là bước chắc chắn nhất để phế bỏ độc tài Chính trị. Khi Dân nắm vững Kinh tế trong tay, thì họ có thể tuyên bố:”Trước đây thì nhất sĩ (Chính trị), nhì nông (Kinh tế), nhưng hết gạo chạy rông, thì nhất nông (Kinh tế) nhì sĩ (Chính trị)”. Dân chủ hóa Kinh tế là một sự nhượng quyền Chính trị (đảng) bó buộc vậy.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




                                                      NĂM 2010:
                          HÕAN TỰ DO MẬU DỊCH TRUNG QUỐC-ASEAN

 
2010 mở đầu Tự do Mậu dịch với TQ,
nhưng ASEAN muốn hõan?

Trang web tiếng Trung và Anh về Khu vực Tự do Mậu dịch với Asean. Chỉ vài ngày sau khi Khu vực Tự do Mậu dịch Trung Quốc-Asean khai trương, Indonesia đã đề nghị hoãn lại việc thực hiện trong lúc giới doanh nghiệp Thái Lan, Philippines cũng nói hiệp định có hại cho họ.

Theo báo Jakarta Post hôm nay 5/1/2010, Bộ trưởng Thương mại Indonesia vừa đưa ra đề nghị hoãn việc áp dụng chế độ cắt giảm thuế nhập khẩu trong khuôn khổ hiệp định tự do thương mại với Trung Quốc, gọi tắt là AC-FTA hoặc CAFTA. Theo các thỏa thuận đã ký từ trước, năm 2010 mở ra một khu vực tự do mậu dịch giữa Trung Quốc và sáu nước chủ chốt của Asean là Singapore, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Brunei. Những nước kém phát triển hơn về kinh tế trong Asean gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện dự kiến sẽ tham gia khu vực tự do mậu dịch vào 2015.

Nhưng nay, Bộ trưởng Mohamad Suleman Hidayat của Indonesia thông báo chính phủ nước ông đã gửi lên ban lãnh đạo khối Asean đề nghị hoãn lại việc cắt giảm thuế nhập đồng thời muốn "đàm phán lại".

Chính Trung Quốc cũng hiểu rằng tự do hóa thị trường một cách toàn diện có thể tác động xấu đến Asean.

Từ mấy tuần qua, báo chí các nước trong vùng đã nói Bấm Khu vực Tự do Mậu dịch với Trung Quốc "gây hại cho doanh nghiệp và xuất khẩu" của Asean.

Báo Philippine Star trong tháng 12/2009 có bài cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỉ giá đồng nhân dân tệ như hiện nay khiến hàng xuất khẩu của Asean chịu thiệt hại nặng.

Nay, doanh nghiệp các nước khác trong Asean cũng lên tiếng.

Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Hoa kiều Malaysia (ACCCIM), ông Tan Sri William Cheng nói với báo chí nước này rằng chính Trung Quốc "cũng hiểu rằng tự do hóa thị trường một cách toàn diện có thể tác động xấu đến Asean".

Theo báo Indonesia, thỏa thuận AC-FTA, mức thuế quan không phần trăm đươc áp dụng cho 17 khu vực kinh tế nước này, gồm 12 trong ngành sản xuất, năm trong ngành nông nghiệp, khai khoáng và cả hải sản.


Thiệt nhiều hơn lợi?

Điều Asean lo ngại là hàng rẻ nhập từ Trung Quốc. Bộ trưởng Công nghiệp Indonesia Mohamad Suleman Hidayat nói rằng cần đàm phán lại để "hàng hóa nhập khẩu rẻ không tràn vào làm lụt thị trường mà không bị ngăn chặn".

Còn ông Tan Sri William Cheng tin rằng nếu các vấn đề không được giải quyết thì Khu vực Tự do Mậu dịch sẽ "có nhiều điểm cản trở hơn là thuận lợi".

Dù ngoại giao với Bắc Kinh tiến triển, doanh nghiệp Malaysia lo bị thiệt vì hàng Trung Quốc. Ông cũng nói ngoài ngành xe hơi được chính phủ Malaysia bảo vệ chặt chẽ, các ngành công nghiệp khác sẽ gặp khó khăn khi thuế nhập hàng từ Trung Quốc xuống không phần trăm.

Dù chính giới Indonesia tiết lộ rằng các bên đã "trao đổi không chính thức" và họ sẽ tìm cách "đàm phán lại vào cuối năm nay", phía Trung Quốc chưa thấy nói gì về việc áp dụng FTA với Asean. Cho tới nay, Trung Quốc chỉ cam kết bỏ ra 10 tỉ USD vào các dự án xây cất đường xá và cơ sở hạ tầng tại Asean, với mục tiêu nâng cao hiệu năng của trao đổi thương mại.

Bấm Việt Nam, nước chủ tịch Asean năm 2010, đã tự có động thái là phá giá đồng tiền của mình để "tự vệ" và kích thích hàng xuất khẩu.

Hiện chưa thấy Việt Nam lên tiếng trước các phát biểu của lãnh đạo và doanh nghiệp Asean trong việc tìm đối sách với Trung Quốc khi AC-FTA có hiệu lực.

Giới trí thức người Việt tuy thế đã lên tiếng cảnh báo về việc áp dụng các quy chế tự do mậu dịch với Trung Quốc.

Theo Giáo sư Trần Văn Thọ từ Đại học Waseda, Nhật Bản thì năm 2008 xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ bằng 29% kim ngạch nhập khẩu từ nước này và riêng nhập siêu với Trung Quốc chiếm 60% tổng nhập siêu của Việt Nam, một yếu tố gây bất ổn định kinh tế vĩ mô từ nhiều năm nay.

Bấm Trong bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ông cho rằng theo Hiệp định thương mại tự do (FTA) đến năm 2015 Việt Nam sẽ bãi bỏ thuế quan đối với hàng từ Trung Quốc, lúc đó tác động của kinh tế Trung Quốc đối với Việt Nam còn mạnh mẽ hơn hiện nay.

Nguy cơ cho Việt Nam, theo chuyên gia Việt kiều này chính là "cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do, trong đó các nước đi sau không nỗ lực cải cách và có chiến lược phát triển thích hợp sẽ sa vào bẫy làm cố định cơ cấu kinh tế và ngoại thương hiện tại, và do đó có khả năng không thể công nghiệp hóa".




                                                COPENHAGUE:
                         ĐỤNG TỚI TIỀN, CÁC NƯỚC HẾT LÝ TƯỞNG


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva, 30.12.2009


Obama, Giải Nobel Hòa Bình, có thương người nghèo đến mấy, nhưng lấy tiền đâu ra mà giúp trong viễn tượng Ngân sác Hoa kỳ thâm lạm trầm trọng. Kinh tế Mafia Tầu ăn xổi ở thì,  chỉ nghĩ vơ vét cho nhanh, bất chấp môi trường ô uế thì làm chịu bỏ tiền ra chi tiêu giảm thiểu khí độc. Mỗi nước Aâu châu đang lo nạn thất nghiệp, mặc dầu Sarkozy chạy ngược xuôi nói về lý tưởng hợp tác chung cứu Thế giới.


NHẬN XÉT TRƯỚC VỀ HỘI NGHỊ COPENHAGUE
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.11.2009

Cuộc Họp tại Copenhague đã là vấn đề Thời sự lớn từ mấy tuần nay. Những cuộc vận động thành Nhóm các nước để có lập trường chung của Nhóm trở thành nhộn nhịp. Cuộc Họp tại Saint Andrews Anh quốc, ngày 7-8.11.2009 ở cấp Bộ trưởng, được triệu tập để thăm dò quan điểm. APEC cũng đã bầy tỏ ý kiến trong chuyến đi Á châu của TT.Obama. Mức độ tham dự cụ thể của Hoa kỳ và Trung quốc cũng đã là đầu đề tham khảo giữa Obama và Hồ Cẩm Đào trong cuộc gặp gỡ tại Trung quốc trong tuần vừa rồi.

Quyết định của cuộc Họp Copenhague có tầm ảnh hưởng cho Thế kỷ. Các nước giầu đã kỹ nghệ hóa và các nước lớn bắt đầu phát triển vội vã thải ra nhiều nhất CO2 hâm nóng khí quyển đang nhìn những quyết định cụ thể của nhau trong việc giảm CO2 và đóng góp Tài chánh giúp đỡ những nước nghèo phải chịu hậu quả tàn phá thiên nhiên.

Nội dung bài này đã được phỏng vấn và truyền thanh về Việt Nam ngày 25.11.2009

Tổng quát

Tại Copenhague, Thủ đô của Đan Mạch, từ 7-18/12/2009 sẽ diễn ra cuộc họp gồm 192 Quốc gia để lấy những quyết định cụ thể cho vấn đề Khí thải CO2 và việc Hâm nóng Khí hậu. Vấn đề này đã được ký kết sơ bộ tại Kyoto năm 1997. TT Clinton đã ký kết, nhưng Thượng viện Hoa kỳ đã không phê chuẩn. Sau đó, chính quyền TT.Bush giữ yên lặng.

Với cuộc Họp tại Copenhague sắp tới, Đại diện trách nhiệm của Liên Hiệp quốc, ông Yvo De Boer, nêu ra rõ rệt ba mục đích của cuộc Họp:

1) Những nước giầu thực hiện việc giảm thiểu khí phế thải kỹ nghệ làm ham nóng bầu không khí;

2) Những nước bắt đầu phát triển chính yếu như Trung quốc, Ấn độ, Brésil… chẳng hạn trình bầy cho minh bạch tình trạng làm ô uế khí quyển như thế nào;

3) Những nước giầu tài trợ cho những nước nghèo để ngăn chặn những tại hại thiên nhiên hậu quả của việc hâm nóng khí hậu.

Liên Âu, tăng cường bởi Brésil, muốn cuộc Họp có những kết quả cụ thể mang tính cách một một bản Ký kết quốc tế có tính cách bó buộc. Cuộc Họp APEC vừa qua tại Á châu thì cho rằng chưa có thể có những Ký kết quốc tế mang tính cách bó buộc ngay tại Hội nghị được, phải đợi đến cuộc Họp tiếp theo tại Bonn (Đức) dự trù vào giữa năm 2010 theo đề nghị của Thủ tướng Dan Mạch, ông Rasmussen. TT.Obama Hoa kỳ và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào Trung quốc thì vẩn giữ thái độ không rõ rệt.

Những khó khăn của vấn đề Tài trợ
giúp đỡ những nước nghèo

Có hai vấn đề được nêu ra ở đây để chúng ta nhìn những khó khăn trong vấn đề Tài trợ ở những điểm nào.

Thứ nhất: Nguồn Tài chánh đóng góp từ những nước giầu

Tất nhiên, nguồn Tài chánh phải đến từ những nước đã kỹ nghệ hóa, giầu có và trách nhiệm việc thải những uế khí làm hâm nóng bầu khí. Liên Âu, để làm gương và để bó buộc những nước giầu khác đến tham dự cuộc họp tại Copenhague, đã nêu ra con số 100 tỉ Euro hàng năm tài trợ cho những nước nghèo trong thời gian 2013 đến 2020. Tuy nhiên, những nước giầu chính yếu của Liên Âu như Đức, Pháp và Ý nêu ra ý kiến là họ muốn xem những nước lớn khác phản ứng như thế nào trong cuộc Họp.

Về vấn đề Tài trợ này, người ta lưu ý đến cuộc Họp G20-Tài chánh được mời đến Saint Andrews Anh quốc trong hai ngày 7-8/11.2009 để tham khảo ý kiến trước khi họp tại Copenhague. Kết quả của cuộc Họp G20-Tài chánh này không đi đến đâu. Bản Công bố chung chỉ nói rằng:”Hãy làm việc tiếp để đi đến một Ký Kết nay tham vọng của Copenhague”

Cái khó khăn khi nói đến vấn đề đóng góp Tài chánh chung, nhất là để giúp đỡ những nước nghèo như sau:

=> Lịch sử đóng góp vào một Qũy chung như Qũy Tiền Tệ Quốc tế đã gặp những khó khăn từ những thành viên, mặc dù Qũy chung này lúc đầu là để hỗ trợ cho chính những thành viên đóng góp.

=> Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế mới đây làm kiệt quê ngân sách mỗi nước. Liên Âu kêu gọi hợp lại để đóng gópTài chánh Kích cầu chung cho Kinh tế Liên Âu, nhưng không thành công bởi vì mỗi nước nghĩ đến Kinh tế nước mình trước đã.

=> G20 được triệu tập ngay từ thời TT.Bush với mục đích là các nước G20 cùng chung nỗ lực kích cầu Kinh tế Thế giới. Nhưng khi nói đến việc đóng góp Tài chánh chung, thì mỗi nước nói ra lý do riêng của nước mình mà thóai thác. Tỉ dụ cuộc Họp G20 tại Luôn Đôn, những hứa hẹn đóng góp cho Qũy Tiến Tệ Quốc tế chỉ là những hứa hẹn cho đẹp mà cho đến nay không nước nào thực hiện cụ thể.

=> Kinh nghiệm về đóng góp của những nước giầu giúp những nước nghèo đói ăn như sau: những cuộc họp của FAO, Tổ chức Lương thực Thế giới, kêu gọi những nước giầu đóng góp giúp đỡ những nước nghèo đang chết đói, nhưng việc đóng góp rất nhỏ nhoi. Cuộc Họp FAO tại Roma tháng 11/2009 mới đây nói lên rằng hơn một tỉ người đói ăn trên Thế giới, nhưng không một nước giầu nào trong G8 đến tham dự, trừ nước Ý đến vì họp trên nước họ.

=> Nếu nhìn vào ngân sách các nước lớn giầu lúc này, không một nước nào không có thiếu hutï ngân sác trầm trọng. Làm thế nào họ bỏ tiền ra giúp những nước nghèo, nhất là quyết định giúp những món tiền lớn phải thông qua Quốc Hội.

=> Trong Lịch sử đóng góp chung, phải nói là Hoa kỳ đóng góp rộng lượng. Nhưng sau cuộc Khủng hỏang Tài chánh 2008 và dưới thời TT.Obama, ngân sách Hoa kỳ thiếu hụt trầm trọng và Quốc Hội Hoa kỳ đang lo lắng những thiếu hụt, nợ nần trong thập niên tới.

=> Ngòai việc khó khăn đóng góp với những lý do khách quan trên đây, phải kể đến cái ngầm ý không nói ra của mỗi nước khi đóng góp giúp đỡ những nước nghèo. Việc những nước giầu giúp đỡ những nước nghèo luôn luôn được tính tóan xem những nước giầu thâu vào nguồn lợi gì từ những nước nghèo như tài nguyên, thương mại… Không có sự giúp đỡ hòan tòan vô vị lợi.

Thứ hai: Xử dụng Tài chánh tại những nước nghèo

Mục đích của nguồn Tài chánh đóng góp là phải được xử dụng đứng đắn tại những nước nghèo vào đúng mục đích mà những nước giầu mong muốn. Mục đích mà cuộc Họp Copenhague đặt ra là ngăn chặn những tại hại thiên nhiên hậu quả của việc hâm nóng khí hậu, tái trồng lại rừng đã bị phá hủy đê ngăn chặn lụt lội, cấm cản việc tàn phá thiên nhiên thêm nữa, xử dụng những nguồn năng lượng không ô nhiễm, phát triển công nghệ trong trật tự không làm hại môi trường.

Người ta nhận thấy những lý do sau đây cho thấy việc xử dụng vốn tài trợ không đứng đắn:

=> Thiếu những Dự án, Quy họach dài hạn.

Những mục đích của xử dụng vốn tài trợ trên đây đòi hỏi những nước nghèo phải có những Dự án, những Quy họach dài hạn. Nhưng tại những nước nghèo, việc làm Kinh tế là ăn xổi ở thì, làm giầu trong ngắn hạn. Khai thác tài nguyên dưới đất để bán thu tiền ngay mà không nghĩ đến hậu quả. Đào tài nguyên bán tháo đi là làm cạn kiệt đất đai cho những thế hệ tương lai (L’extraction minérale épuise la terre). Những đồ nhựa thay thế những đồ gỗ để tránh phá rừng.  Khuynh hướng công kỹ nghệ hiện giờ là xử dụng những vật liệu có thể tái xử dụng (recyclable).

=> Tình trạng bớt xén vốn tài trợ

Nếu giúp đỡ vốn mà không kiểm sóat việc xử dụng vốn, thì thế nào cũng xẩy ra tình trạng cắt xén vốn và tham nhũng. Những nước giầu giúp đỡ vốn gặp phải hai vấn đề sau đây:

* Không đủ khả năng kiểm sóat tòan diện những chi tiêu xử dụng vốn tại chỗ mà những người trách nhiệm dự án đã phải cho hối lộ để được làm chủ dự án tại những nước nghèo. Họ được che chở bởi quyền lực địa phương để che dấu thông tin.

* Nếu những nước giầu tổ chức nhiều nhân viên kiểm sóat tại chỗ, thì đây là việc tốn kém làm giảm số vốn cung cấp.

Cả hai vấn đề trên đây thâm lạm vào số nguồn tài chánh giúp đỡ những nước nghèo. Ngay cả đối với những qũy từ thiện, những chi phí cho những nhân viên thi hành từ thiện chiếm tối  1/3 số tiền đóng góp.

=> Những chính quyền độc tài và tham những

Tại một những nước nghèo, một số nhà nước vẫn độc tài. Một số khác, dù dưới danh nghĩa dân chủ, nhưng có những biện pháp thi hành quyền lực độc tài tại địa phương. Những nhà nước như vậy chắc chắn sẽ tìm đủ mọi cách thâm lạm vào số vốn tài trợ, chiếm cho riêng cá nhân mình. Nhưng người nắm quyền còn mang tâm lý sợ sệt việc mất quyền trong ngắn hạn. Đây là lý do khiến họ thâm lạm số vốn một cách cấp bách cho cuộc sống họ một khi bị mất quyền.

Trung quốc tìm cách tránh né, gian lận

Trung quốc hiện nay là một chủ nợ quan trọng của Hoa kỳ. Nếu nói về số dự trữ Đo-la, thì Trung quốc là nước giầu.

Chính Trung quốc đang xử dụng một số tiền tỉ đo-la để mua chuộc những nước nghèo cho họ khai thác tài nguyên tại những nước thuộc Phi châu và Á châu. Đây là chính sách  mà những nước giầu Âu châu gọi là Tân thuộc địa củaTrung quốc.

Ngọai trưởng Dương Khiết Trì vào tháng tư 2009 đã tuyên bố dành tổng cộng 25 tỉ đo-la để đầu tư vào những dự án khai thác tài nguyên và tổ chức thương mại tại những nuớc trong khối Đông Nam Á.

Trong một cuộc họp với một số Đại diện Phi châu tại Ai cập vào tháng 11/2009, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nhắc đến việc bỏ thêm 10 tỉ đo-la cho Phi châu, nghĩa là tổng công cho đến nay là 41 tỉ đo-la. Tờ báo Anh Financial Times ngày 9.11.2009 viết:

”Trung quốc chống lại những cáo buộc rằng đó là việc “cướp bóc” dầu lửa và khóang sản trong vùng vì đã có những dư luận lâu rồi cho rằng Trung quốc đã tới Phi châu đê cướp bóc những tài nguyên và thực hành chủ trương thực dân mới”
 
Việc khai thác tài nguyên thô của Phi châu được thực hiện một cách bừa bãi, không tôn trọng môi trường.

Ngay chính trong nội địa Trung quốc, những Kỹ nghệ mọc lên vội vã để ăn xổi ở thì, những khai thác hầm mỏ cũng được thực hiện bừa bãi, mà tất cả đều không quan tâm đến môi trường. Tình trạng làm ô uế môi trường đã bị Quốc tế kết án.

Là một nước có dự trữ vốn đô la lớn nhất Thế giới, nhưng trước vấn đề thải khí ô nhiễm và hâm nóng khí hậu, Trung quốc đã không muốn Quốc tế cho mình là nước giầu để phải đóng góp tài chánh giúp những nước nghèo, mà muốn Quốc tế xếp mình vào những nước đang phát triển để mong nhận được thêm vốn giúp đỡ từ những nước giầu khác.

Từ Tân Gia Ba, ngày 15.11.2009 (Reuters), Caren BOHAN viết rằng Chủ tịch Hồ Câm Đào kêu gọi các nước giầu giảm khí CO2, “trong khi ấy mỗi nước đang phát triển (như Trung quốc) cố gắng thực hiện theo những khả năng có được của mình.”


VIỄN TƯỢNG THẤT BẠICỦA HỘI NGHỊ COPENHAGUE
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 17.12.2009

Ngày 25.11.2009, 12 ngày trước khi khai mặc Hội nghị Copenhague từ 07.12 đến 18.12.2009 về Hâm nóng Khí hậu, Đài RFI phỏng vấn chúng tôi về những dấu hiệu, nhất là về khía cạnh Tài chánh, xem mức độ thành công của Hội nghị như thế nào.

Ý chí của Liên Âu, nhất là của TT.Pháp SARKOZY, là vận động hết lòng để đi đến một Thỏa Thuận mang tính cách bó buộc được ký kết tại Copenhague về 3 điểm chính được đặt ra như sau:

1) Những nước giầu thực hiện việc giảm thiểu khí phế thải kỹ nghệ làm ham nóng bầu không khí;

2) Những nước bắt đầu phát triển chính yếu như Trung quốc, Ấn độ, Brésil… chẳng hạn trình bầy cho minh bạch tình trạng làm ô uế khí quyển như thế nào;

3) Những nước giầu tài trợ cho những nước nghèo để ngăn chặn những tại hại thiên nhiên hậu quả của việc hâm nóng khí hậu.

Ý chí thì mạnh, nhưng nhìn vấn đề ở khía cạnh Tài chánh, nhất ở hòan cảnh   mà cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế còn đang đe dọa, cho việc thực hiện ý chí khống chế đe dọa hâm nóng khí hậu, chúng tôi có những cái nhìn bi quan về sự thành công của Hội nghị Copenhague.

Hội nghị khai mạc ngày 07.12.2009 và suốt trong tuần vừa rồi, đó là thương thảo giữa những chuyên viên đại diện 190 quốc gia. Bắt đầu tuần này, 14.12.2009, những trao đổi, thương thảo được nâng lên cấp Bộ trưởng để sửa sọan cho việc ký kết cuối cùng ngày thứ Sáu 18.12.2009. Có tất cả 120 Nguyên thủ Quốc gia hay Thủ tướng Chính phủ đã tuyên bố đến Hội nghị ở giai đọan thương nghị chót và ký kết.

Chỉ còn một ngày nữa là Hội nghị kết thúc, nhưng người ta thấy chưa giải quyết dứt khóat những vấn đề then chốt đối chọi giữa những nước lớn như Hoa kỳ—Trung quốc hay giữa những Nhóm quốc gia như Nhóm những nước giầu đã kỹ nghệ hóa, Nhóm những nước nghèo cần được tài trợ, và Nhóm những nước bắt đầu phát triển thải nhiều khí độc nhất. Khi những vấn đề then chốt chưa được giải quyết, thì việc ký kết ngày mai, thứ Sáu 18.12.2009, chỉ gồm một số nguyên tắc tổng quát và hõan lại những vấn đề then chốt cho Hội nghị Mexico năm 2010. Như vậy là Hội nghị Copenhague thất bại, không đạt được 3 chỉ tiêu đặt ra lúc ban đầu.

Những tuyên bố cho thấy viễn tượng thất bại 

=> Buổi sáng thứ Hai 14.12.2009, Nhóm quốc gia G77 gồm Trung quốc, một số những nước bắt đầu phát triển và những nước nghèo Phi châu ngưng những cuộc thảo luận để phản đối việc các nước giầu không đưa ra một chương trình tài trợ dài hạn dể giúp những nước nghèo bảo vệ rừng và xây dựng những cơ sở năng lượng không ô nhiễm. Theo nhật báo WALL STREET JOURNAL, thứ Ba 15.12.2009, việc ngưng thảo luận để phản đối này xoay quanh vấn đề tài chánh. Nhưng cuối ngày, với cố gắng dàn xếp của Bộ trưởng Đan Mạch Chủ tịch Hội nghị, những nước này tái thảo luận. Ông Carlgren, Bộ trưởng Thụy Điển nói: “Các nước này tái làm việc, nhưng vấn đề nêu ra không thể giải quyết được.” Tờ báo cũng trích lời nói của Ông Sergio Serra, Đại sứ Ba-Tây:”Có lẽ kết quả từ hội nghị không như ngưỡng vọng, nhưng thà có hơn không”.

=> Hôm qua, thứ Tư 16.12.2009, nhật báo Financial Times thuật lại câu nói như thất vọng của Ông Ban Ki-Moon, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc:”Vấn đề Chương trình Tài chánh dài hạn giúp những nước nghèo là nan giải. Vì vậy, hậu quả của nó đưa Hội nghị Copenhague đến kết luận không mang nhiều ý nghĩa.”

=> Sau khi Nhóm G77 ngưng thảo luận, Bà Connie Hedegaard, Bộ trưởng Đan Mạch về Khí hậu, Chủ tịch Hội Nghị, đã trình bầy trước Hội nghị một Dự thảo về Văn Bản ký kết, nhưng theo Báo Figaro ngày thứ Tư 16.12.2009, Bà Bộ trưởng đã phát biểu bi quan:”Tôi phải thú nhận với qúy vị rằng chúng ta có thể thất bại. Nếu muốn thành công, chúng ta phải thay đổi tốc độ”.

=> Nhìn thấy viễn tượng thất bại của Hội nghị Copenhague, báo Figaro 16.12.2009 thuật lại rằng TT.Sarkozy đã cấp thời vận động hai phía:

* Điện đàm với TT.Obama, với Thủ tướng Anh Brown, với Thủ tướng Đức Merkel để cố gắng đưa ra những con số tài trợ.

* Gặp Thủ tướng Zenawi của Ethiopie, đại diện cho Nhóm những quốc gia Phi châu, để làm cân bằng ảnh hưởng của những nước giầu trước việc đâm thọc của Trung quốc vào những nước nghèo Phi châu này để chống lại những nước giầu.

Những tuyên bố bi quan của những nhân vật trách nhiệm trên đây dựa theo những lập trường, những công kích đối nghịch khó lòng giải quyết được.


Những lập trường, công kích đối nghịch

=> Căng thẳng giữa Hoa kỳ—Trung quốc

Theo Ký Kết Kyoto, thì những nước đã kỹ nghệ hóa, nhất là Hoa kỳ, mang hai trách nhiệm:

* Thứ Nhất: những nước này đã thải CO2 làm hâm nóng Khí quyển nên bay giờ phải thực hiện việc giảm thiểu thải khí độc trước những nước khác.

* Thứ hai: việc hâm nóng Khí hậu gây ảnh hưởng thiệt hại đến những nước nghèo và những nước bắt đầu phát triển, nên những nước giầu phải có trách nhiệm tài trợ những nước nghèo.

Nhưng Thượng viện Mỹ đã không chấp nhận Ký kết Kyoto, nghĩa là phủ nhận hai trách nhiệm trên đây.

Trong khi đó, Hoa kỳ cũng như những nước giầù công kích Trung quốc là Quốc gia thải khí hâm nóng nhiều nhất Thế giới, nên Trung quốc phải giảm thiểu CO2 trước tiên. Theo xếp hạng, thì Trung quốc năm 2007 đã thải khỏang 6.1 tỉ tấn khí CO2, đứng đầu thế giới.

Trung quốc phản công lại bằng xếp hạng thải CO2 tính theo đầu người. Xếp hạng theo đầu người, thì Trung quốc xuống hạng chót và Hoa kỳ lên hạng đầu về việc thải khí CO2.

=> Kéo vây cánh

Dựa trên Ký kết Kyoto, Trung quốc kéo vây cánh cho lập trường của mình bằng đứng vào Nhóm G77 gồm những nước bắt đầu phát triển và những nước nghèo Phi châu để đòi hỏi những nước giầu phải tài trợ với Chương trình Tài chánh dài hạn.

Hoa kỳ đứng đầu G8 gồm những nước giầu đã kỹ nghệ hóa. Khi những nước này đang trong Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, thì một Chương trình tài trợ dài hạn cho Nhóm G77, trong đó có Trung quốc, khó có thể thiết lập được. Khi thực hiện giảm thiểu CO2 tại chính nước mình, những nước giầu cũng phải bỏ ra số tiền tốn kém.

Tờ báo Financial Times ngày 15.12.2009 đã trích câu nói của Todd Stern, chuyên viên đặc biệt của Hoa kỳ được gửi đến Copenhague đầu tuần này: “Tôi chắc chắn không dự định gửi tiền thuế của dân chúng Mỹ cho Trung quốc. Mục đích của tôi sang đây là để tỏ sự cứng rắn đối với Trung quốc”. Cũng trong tờ báo này, hai Ký giả Harvey và Crooks đã viết một bài dài nói về những nước giầu tăng cường làm áp lực lên Bắc Kinh (Rich Nations step up pressure on Beijing, Financial Times, 15.12.2009, page 6).

Trước những đối nghịch trên đây, Nhóm những Quốc gia G27 đứng đầu bởi Nhật, gồm những nước đứng yên lặng để chờ đợi, nhất là chờ đợi quyết định dứt khóat của Hoa kỳ và Trung quốc.

=> Kiểm sóat thực hiện giảm thiểu CO2

Cho dù những con số hứa hẹn giảm thiểu CO2 được đưa ra, nhưng vấn đề kiểm sóat việc thực hiện giảm thiểu ấy chưa được thảo luận kỹ lưỡng. Những hứa hẹn mà không có kiểm sóat có thể chỉ là những hứa hẹn suông.

Tờ Figaro ngày 16.12.2009, trang 6, đã viết rõ rệt về lập trường của Trung quốc về vấn đề này:”Trung quốc từ chối bất cứ huấn lệnh nào nếu những thực hiện không được hưởng những hỗ trợ tài chánh từ ngòai. Đây là vấn đề chủ quyền” (La Chine refuse toute instruction si les actions menées ne bénéficient pas d’un soutien financier extérieur. Question de souveraineté)

Chỉ còn một ngày nữa là phải Ký Thỏa Thuận Copenhague. Những lập trường đối chọi trên đây, cho dù tăng tốc độ cao để chạy, thì cũng khó lòng được giải quyết thỏa đáng.

Nhìn như vậy, Tờ Tribune de Geneve thứ Tư 16.12.2009 lập lại những câu kết luận của Tổng thư ký Liên Hiệp quốc và của Thủ tướng Thụy Điển. Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc than thở : »Những thảo luận đi vào điểm tử » (Le négociations sont au point mort), và Thủ tướng Thụy điển rất bi quan : »Không có gì chắc chắn người ta đi tới một Thỏa thuận thứ Sáu này » (Il n’est pas sur qu’on aboutisse à un accord vendredi).


Có thể vá víu giờ chót hay không ?

Tình hình cuối ngày thứ Tư 16.12.2009 đưa đến cảnh hỗn lọan, một mặt vì những bế tắc không giải quyết được như đã trình bầy trên đây, một mặt các Phái đòan tham dự Hội Nghị phải bận chờ đón việc đổ bộ lên Thủ đô Đan Mạch 120 Nguyên thủ Quốc gia hay Thủ tướng mà đòan tháp tùng cho mỗi vị có từ 20 đến 50 người. Những Phái đòan đàm phán phải đợi những quyết định vào phút chót của Nguyên thủ hay Thủ tướng của mình.

Cuối ngày 16.12.2009, Bà Connie Hedegaard, Chủ tịch Hội Nghị xin từ chức để nhường vị trí điều hành Hội Nghị cho Thủ tướng Đan Mạch Lokke Rasmussen cho tương xứng vì lý do là các Nguyên thủ và Thủ tướng các Quốc gia đến Hội Nghị.

Một số ý kiến cho rằng, khi đến Hội Nghị, các Nguyên thủ và Thủ tướng cố gắng vá víu cho một giải quyết nào đó, chẳng lẽ bỏ ra về tay không. Đối với những Nguyễn thủ chủ trương độc tài, thì họ có thể lấy quyết định một mình tại Hội Nghị để vá víu. Nhưng đối với những Quốc gia theo Thể chế Dân chủ, phần lớn gồm những nước giầu, thì các Nguyên thủ không thể tự mình lấy những quyết định cấp thời để vá víu, nhất là đối với vấn đề liên hệ đến Tài chánh.

Báo Figaro sáng thứ Năm 17.12.2009, trang 6, cho biết tình trạng dân chúng Mỹ được hỏi tới, đã trả lời là ít quan tâm hoặc không quan tâm gì đến vấn đề này (khí hậu) (Près de la moitíe des sondés (49%) se sentent peu ou pas concernés). Ngân sách Hoa kỳ đã thiếu hụt trầm trọng, tình hình dân Mỹ ít quan tâm đến vấn đề khí hậu, thì liệu TT.Obama có thể lấy quyết định tài trợ nhiều và dài hạn những nước nghèo về khí hậu hay không ?

Sau cuộc gặp giữa TT.Sarkozy và  Thủ tướng Ethiopie, Meles Zenawi, Ông này đã cho các Phái đòan Phi châu một lời hứa là sau khi tài trợ ngắn hạn đến 2012, Âu châu sẽ tăng tài trợ cho những nước đang mở mang. Dầu sao đây chỉ là lời hứa, nhưng lời hứa này hy vọng làm giảm vấn đề đòi hỏi căng thẳng giữa Nhóm G77 đối với những nước giầu. Tờ báo LE TEMPS, sáng thứ Năm 17.12.2009, trang 5, viết : “Le premier ministre éthiopien, Meles Zanawi, a assuré que le Vieux Continent allait augmenter son aide financìere aux pays en développement après 2012.” (Thủ tướng Ethiopie, Meles Zanawi, đã bảo đảm rằng Lục địa Cũ (Aâu châu) sẽ tăng tài trợ cho những nuớc đang mở mang sau năm 2012.)

Có thể có những vá víu vào phút chót với những lời hứa hẹn để các Nguyên thủ có một bản Ký kết khi rời Thủ đô Đan Mạch. Nhưng báo Figaro 17.12.2009, trang 6,  đã trích ra một số ý kiến của những chuyên viên đàm phán tại Hội nghị : « Mieux vaut pas d’accord qu’un mauvais accord » (Tốt hơn là đừng có thỏa thuận ký kết còn hơn là có một thỏa thuận xấu), hoặc « Attention au trop bel accord qui ne serait jamais appliqué » (Ý tứ đối với một thỏa thuận ký kết quá đẹp để rồi nó sẽ không bao giờ được thực hiện.)


XÁC NHẬN HỘI NGHỊ COPENHAGUE THẤT BẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.12.2009

Chúng tôi viết ba bài về Hội Nghị Copenhague. Một Hội Nghị quy tụ 193 Đại diện Quốc gia và 120 Nguyên thủ hay Thủ tướng các nước cho thấy tầm quan trọng của nó.

Ngày 25.11.2009, chúng tôi viết chính yếu về vấn đề Tài chánh và từ đó nhìn thấy những khó khăn khó vượt qua của các nước.

Ngày 17.12.2009, một ngày trước khi kết thúc Hội Nghị, chúng tôi viết về viễn tượng thất bại của Hội Nghị này.

Và hôm nay, ngày 24.12.2009, chúng tôi chỉ muốn trích dẫn ra những xác nhận về sự thất bại của cuộc Hội Nghị. Các Phái đòan, các Nguyên Thủ Quốc gia lên máy bay trở về nhà với lòng chua chát trong cơn bão tuyết lạnh ngắt thổi từ Bắc cực xuống Aâu châu và Miền Đông Bắc Mỹ.

TT.Obama hứa ẩu USD.30 tỉ, rồi USD.100 tỉ giúp những nước nghèo. Thượng Nghị sĩ Jon KYL (Arizona) nói với ABC News rằng:“Cả Tổng thống lẫn Bộ trưởng Ngọai giao không thể đi Copenhague mà hứa như vậy được... mà không có sự đồng ý của Thượng Viện !“ (THE WALL STREET JOURNAL, 21.12.2009, p.5) 

Các Ký giả Fiona HARVEY, Ed CROOKS và Andrew WARD đã viết:“Sự thất bại của Hội Nghị Copenhague về hâm nóng Khí hậu làm tăng thêm những nghi ngờ về khả năng của Liên Hiệp Quốc trong việc giải quyết những vấn đề khó khăn và cấp bách của Thế giới“ (FINANCIAL TIMES, 21.12.2009, p.5)

Giới theo rõi những biến chuyển của 10 ngày đàm phán tại Copenhague đã quy cái lỗi chính làm thất bại Hội Nghị vào Trung quốc. Trung quốc là nước đã thải khí độc nhiều nhất Thế giới. Kinh tế của Trung quốc dựa trên ăn xổi ở thì mà không săn sóc tới môi trường. Họ muốn thâu vào thật nhanh tiền bạc mà ít chi tiêu cho môi trường lâu dài. Bây giờ nếu Trung quốc phải giảm thiểu thải khí độc, thì đó là việc làm họ phải chi ra những món tiền khổng lồ. Trung quốc có thể hứa với Thế giới về chương trình giảm thiểu thải khí độc, nhưng họ không muốn có ai nhòm ngó, kiểm sóat việc thực hiện đến mức nào của họ. Họ nại ra vấn đề Chủ quyền Quốc gia để từ chối tất cả những nhòm ngó kiểm sóat từ Quốc tế vào nước họ. Oâng Xie ZHENHUA, trưởng Phái đòan đàm phán Trung quốc  đã tuyên bố: “Đối với chúng tôi, đó là Chủ quyền của chúng tôi và quyền lợi quốc gia của chúng tôi.“ LE FIGARO, 21.12.2009, p.4). Thái độ này đã làm cho Mỹ và Liên Aâu nghi ngờ sự dối trá của Trung Cộng. Hoa kỳ và Liên Aâu đòi phải có sự trong sáng kiểm sóat được. Tình hình trở nên căng thẳng và không đi đến những đàm phán tích cực, do đó thất bại.


OBAMA THẤT VỌNG VỀ HỘI NGHỊ COPENHAGUE
TT Obama: Thất vọng về kết quả hội nghị Copenhagen là chính đáng 
24/12/2009
 
Tổng thống Obama nói các nước đã không có những bước tiến cần thiết để chống lại tác động của nạn khí hậu biến đổi
 
Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama nói rằng việc công chúng cảm thấy thất vọng trước những kết quả của hội nghị thượng đỉnh khí hậu của Liên Hiệp Quốc ở Copenhagen hồi tuần trước là một việc chính đáng.

Trong cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình PBS ngày hôm qua, ông Obama nói rằng các nước đã không có những bước tiến cần thiết để chống lại tác động của nạn khí hậu biến đổi.

Hội nghị Copenhagen kết thúc hồi tuần trước với một hiệp định không có tính chất ràng buộc, theo đó các nước gây ô nhiễm nhiều nhất được yêu cầu phải cắt giảm nhiều hơn nữa số lượng khí thải.

Ông Obama cho biết cuộc điều đình suýt bị đổ vỡ sau khi các đại biểu của Trung Quốc không đến dự các cuộc họp và Thủ tướng của Ấn Ðộ đe dọa rời khỏi hội nghị.

Ông Obama nói rằng thỏa hiệp đã đạt được tốt hơn là không làm gì cả.

Cuộc phỏng vấn hôm qua là một trong nhiều cuộc phỏng vấn mà nhà lãnh đạo Hoa Kỳ thực hiện sau khi ông quyết định hoãn chuyến đi Hawaii để nghỉ lễ Giáng sinh cho tới khi Thượng viện tiến hành cuộc biểu quyết chung cuộc về dự luật cải cách y tế vào ngày thứ năm.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 30.12.2009




TƯƠNG LAI ẢM ĐẠM CỦA NGÀNH DU LỊCH VN

Ngày 07-12-2009, giờ 20:35
Tương lai của ngành du lịch Việt Nam sẽ rất ảm đạm vì vấn đề vệ sinh, môi trường và giá cả. Nếu không có Việt Kiều thì chắc càng thê thảm hơn .


(Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Úc) *. Theo một thống kê thăm dò ý kiến những du khách đến Việt Nam thì có đến trên 70% những người hỏi trả lời rằng họ sẽ không quay lại Việt Nam một lần nữa. Tôi gọi đó là hiện tượng “một đi không trở lại”. Một câu hỏi vẫn ám ảnh tôi là tại sao có hiện tượng này, trong khi đất nước này có nhiều cảnh đẹp và con người nói chung là hiếu khách và cũng dễ mến. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình đi du lịch ở trong nước, vì đơn giản là mỗi lần về Việt Nam là một chuyến về quê thăm nhà và bà con. Nhưng có cơ hội đi đây đi đó, Tôi cũng quan sát được đôi điều thú vị, ít ra là có thể trả lời cho câu hỏi tại sao có hiện tượng “một đi không trở lại”.

Vấn đề sản phẩm du lịch Việt Nam có nhiều cảnh đẹp, nhưng chúng ta chưa biết tận dụng thế mạnh này. Chúng ta còn nhiều bãi biển có thể nói là đẹp chẳng thua bãi biển nào trên thế giới.

Chẳng hạn như bãi biển Nha Trang, chỉ có thể mô tả là quá đẹp và lại rất dài (khoảng 9 km). Phú Quốc cũng có một số bãi biển đẹp hoang sơ đến mê hồn. Hôm tôi ghé khu Mũi Dương (Phú Quốc), với những hàng dương thẳng tắp và cát trắng đó là một nơi hết sức lý tưởng để nghỉ mát và tắm biển. So với các nơi khác trên thế giới mà tôi đã từng đi qua, những bãi biển của ta có thể nói là đẹp hơn nhiều. Chẳng hạn như bãi biển Gold Coast nổi tiếng của Úc chẳng là cái thá gì của bãi biển Nha Trang! Thế những Gold Coast được quảng cáo rất hay, và được gìn giữ rất cẩn thận nên không có ô nhiễm như các bãi biển ở nước ta. Điều đáng buồn nhất là hầu hết những thắng cảnh nước ta đang bị ô nhiễm trầm trọng, và đây có thể là một “downfall” của Việt Nam.

Ở Nha Trang, đi trên cáp treo nhìn xuống biển mà thấy đau nhói vì rác rưởi mênh mông. Ở Phú Quốc ở những bãi biển đẹp tuyệt vời mà nhìn thì mắt bị đau vì những bãi rác khổng lồ. Có những nơi mang tiếng là khu di tích lịch sử cấp nhà nước mà việc bảo tồn thì chẳng ra gì. Tháp Bánh Ít (xây từ thời cuối thế kỉ 11 ở Qui Nhơn), được công nhận di tích lịch sử quốc gia tháng 12/1982 mà rác vỏ cam quít ngập đầy trong tháp! Nhìn vào cách trùng tu tháp này Tôi chỉ biết lắc đầu dơ tay lên trời cho sự dốt nát của người làm công việc trùng tu. Thuở đời nay, bên cạnh những viên gạch có độ tuổi hàng ngàn năm được hun đúc và xây rất nghệ thuật, người ta trát vào đó những viên gạch dỏm và… xi măng. Trông nó thô kệch làm sao. Tôi thật không hiểu nổi tại sao lại có cách làm vô văn hóa như thế, và tại sao mấy ông quan văn hóa lại để tình trạng này xảy ra.

Còn ở dinh Độc Lập (nay là dinh Thống Nhất) thì bị xuống cấp nghiêm trọng. Phòng ốc loang lổ, dơ bẩn, rồi lại có những cái lô-cốt có lẽ tồn tại từ thời bao cấp của những người Bộ-đội từ Bắc mới vào Nam xây để trồng rau để “cải thiện đời sống” vẫn còn chình ình phía sau dinh, trông rất phản cảm. Còn phía trong, những toilet (ôi thoi ! những toilet) ở đây không được tu sửa nên bước vào phòng là mùi hôi thối nồng nặc. Ấy thế mà người ta tổ chức hội nghị khoa học quốc tế ở đây mới chết người chứ ! Ở những nơi này, người ta đều thu phí vào nhưng chẳng biết số tiền đó được sử dụng cho việc gì, chắc chắn không phải cho việc bảo trì rồi.

Đó là chưa kể đến đội quân chèo kéo du khách lúc nào cũng bu quanh họ làm họ hết hồn hết vía Thật ra, chẳng đâu xa, ngay phía ngoài những khách sạn 5 sao sang trọng, mỗi khi khách bước ra là bị đội quân này vây đến nỗi có khách dơ tay lắc đầu than trời. Những người buôn gánh bán bưng này không còn thi vị như trước nữa, mà họ đã trở thành một lực lượng hung-hãn có thể bóp méo hình ảnh một nước Việt Nam thân-thiện. Thật ra, phần lớn lực lượng chèo kéo này là người từ “miền ngoài”(Thanh Hóa, Nghệ An Hà Tĩnh, v.v…) vào, chứ không hẳn là người miền Nam. Nhìn thấy những cảnh này, Tôi – một người Việt- thấy rất xấu hổ cho cái văn hóa đặc thù đó. Tôi sẽ không trách các du khách đó nếu họ nói “Tôi sẽ không bao giờ quay lại xứ sở này”.

Dịch vụ nghèo nàn và kém.

Dịch vụ du lịch ở Việt Nam nếu đem so với Thái Lan thì còn kém quá xa. Ngoại trừ một số công ti du lịch lớn, đại đa số các công ti du-lịch trung và nhỏ thì chưa cónhững hướng dẫn viên chuyên nghiệp,am hiểu lịch sử và tình hình đại phương để thuyết-phục khách du lịch Ở những nơi có nhiều thắng cảnh như Phú Quốc, còn thiếu rất nhiều nhân viên du-lịch có khả năng hướng dẫn du khách.. Nhiều khi tôi hỏi những em làm hướng dẫn ở địa phương,các em ấy chỉ nói “không biết và kèm theo một…Nụ cười!

Hôm ở Qui Nhơn, Tôi ghé thăm khu bảo tàng Quang Trung và nghe một cô hướng dẫn thuyết trình về những trận đánh gắn liền với tên tuổi của vua Quang Trung mà không biết nên cười hay khóc..

Tôi nghĩ Em nhầm lẫn giữa tuyên truyền và hướng dẫn du khách, nên những lời nói và cách nói của em biến em thành một cái loa tuyên truyền rất… khôi hài.

Một vấn đề nổi cộm ở Việt Nam là vệ sinh.

Ghé qua bất cứ khu du lịch nào, dù là những khu nổi tiếng “danh lam thắng cảnh”, cái nỗi kinh hoàng nhất với du-khách là nhà vệ sinh. Hình sau đây cho thấy giữa một khu bảo tàng Quang Trung được xây khá hoành tráng mà nhà vệ sinh thì kinh-khủng và Tôi dám chắc rằng chẳng có du khách nào dám vào đó. Thật ra, chẳng cần đi đâu xa, du khách chỉ cần ghé qua cái toilet của nhà ga sân bay Phú Bài (Huế) hay sân bay Cam Ranh (Nha Trang), thậm chí nhà ga sân bay nội địa Tân Sơn Nhất thì sẽ thấy ngay người Việt Nam nói chung không quan tâm đến vệ sinh cá nhân. Ở những nơi (hãy tạm cho) là “văn minh” này, Tôi thấy những cái toilet cũ kĩ, dơ bẩn, nhếch nhúa, và có khi được thiết kế một cách rất… ngu xuẩn. Ngu xuẩn như thế nào? Chẳng hạn như ở nhà ga sân bay Phú Bài, người ta thiết kế cái toilet đi tiểu chắc là cho những người đàn ông cao 2 m trở lên, hay như cái cầu toilet mà nếu đóng cửa thì người ngoài vẫn có thể nhìn vào thấy mồn một ! Hay như ở nhà ga sân bay nội địa Tân Sơn Nhất, nơi tập trung nhiều chuyến bay hàng ngày, mà chỉ có một toilet, đến nỗi khi mỗi chuyến bay là có một hàng người dài chờ đi toilet! Thật khó mà tưởng tượng nổi tại sao một đất nước đang đổi mới lại có những người thiết kế những thứ toilet quái đản như thế hay những cái đầu quản lí với một cái toilet! Nói đến vệ sinh cá nhân làm Tôi nhớ đến chuyện…giấy.

Những ngày lưu lại thành phố Qui Nhơn tôi ở trong khách sạn Hải Âu….Theo quảng cáo và chứng nhận của Tổng cục Du lịch thì khách sạn này có hạng 4 sao tức là thuộc vào hạng khách sạn cao cấp. Khách sạn được xây gần bờ biển, và người thiết kế khách sạn phải nói là giỏi, vì ở bất cứ phòng nào, khách vẫn có thể nhìn ra biển, đều có thể mụch kích cảnh núi rừng hùng vĩ, và đều có thể nhìn xuống thấy toàn bộ cảnh quan của thành phố. Phòng ốc cũng sạch sẽ, hiện đại, được trang bị hệ thống internet và wifi tuyệt vời, chắc chắn là hơn những khách sạn 5 sao mà Tôi từng ở Hà Nội và Sài Gòn, hay các thành phố lớn như Montréal, Los Angeles, San Francisco , New York, Florence,

Nhưng nếu có một khách sạn nào mà du khách không muốn quay lại ở thì Hải Âu là một khách sạn như thế. Phòng ốc tuy rất tuyệt vời, nhưng phần lớn đều… hôi thối. Nói chính xác hơn là hôi thối mùi thuốc lá. Có lẽ vì khách sạn cho phép khách hút thuốc lá trong phòng, nên vào phòng nào cũng hôi mùi thuốc lá không chịu được. Chỉ trong vòng vài phút mà Tôi phải thay đổi đến 4 phòng để có một phòng có thể tạm sống được. Tôi góp ý cho mấy người làm quản lí, nhưng nhìn qua thái độ của họ tôi không hi vọng gì họ sẽ thay đổi.

Điều đáng nói nữa là khách sạn 4 sao nhưng trong phòng không có đến một cái cơ bản nhất của khách: đó là giấy serviette. Tôi hỏi thì người ta trả lời là khách sạn không có chính sách cung cấp hộp giấy trong phòng; muốn thì phải mua. Trời! mới nghe qua, Tôi tưởng mình nghe lầm. Khách sạn 4 sao gì mà không có giấy ??? Họ cho biết nếu cung cấp hộp giấy trong phòng thì khách sẽ ăn cắp hết. À, thì ra họ sợ khách ăn cắp giấy, nên làm khổ du khách.

Đây có lẽ là một lối suy nghĩ nhỏ mọn, chỉ vì tiết kiệm vài ba ngàn đồng mà họ bỏ qua cái lớn hơn : đó là thu hút khách. |Thực khách ở những nhà hàng Việt Nam đều quen với tình trạng không có giấy serviette.

Buồn cười nhất và có lẽ tục-tĩu nhất là trong các nhà hàng hạng trung, người ta sử dụng giấy đi cầu để … lau miệng và lau tay. Còn những nhà hàng hạng “bình dân”, người ta cắt những mảnh giấy báo thành những mảnh vuông nhỏ khoảng 3 x 3 cm để làm giấy…Có nơi thì cung cấp những cái khăn lạnh (và dĩ nhiên là tính tiền), nhưng những ai có kinh nghiệm thì không dám sử dụng mấy cái khăn này vì chúng hàm chứa hàng triệu vi khuẩn gây bệnh trong đó.

Theo báo chí phản ảnh thì mấy khăn lạnh này được “tái sinh” bằng một công nghệ kinh khủng: sau khi dùng xong, người ta tẩy và thấm nước qua loa rồi xịt vào đó những loại dầu thơm rẻ tiền của Trung Quốc, và vô bao rồi đem đi giao cho các nhà hàng. Do đó, Tôi không ngạc nhiên chút nào khi mở ra thì thấy khăn vẫn còn những vết dơ bẩn hiển hiện trong khăn! Thật là kinh khủng! Người ta chỉ vì lợi nhuận mà làm bất cứ chuyện gì, kể cả chuyện lây bệnh

Cái gì cũng giả…

Nạn làm giả ở VN đã và đang làm cho hình ảnh nước ta đã méo mó càng xấu xí hơn. Có thể nói ở Việt Nam bây giờ cái gì cũng có đồ giả, đồ dỏm. Quần áo, đồng hồ, máy móc, vật dụng gia đình, rượu bia, thức ăn,v.v…đều có thể giả, và du khách có khi phải trả cái giá đắt cho sự giả tạo này. Chẳng riêng gì du khách, ngay cả người dân trong nước cũng thiếu tin tưởng vào hàng hóa “Made in Vietnam”. Nạn làm đồ giả ở nước ta đang trở thành một Quốc Nạn.

Kinh nghiệm cá nhân của Tôi có lẽ là một bài học ? Trên đường từ Kiên Giang về TPHCM, Tôi và anh bạn ghé vào một quán ăn vừa giải lao vừa nhâm nhi, Tôi kêu hai chai bia “Ken”, thì thằng Em dơ tay ngăn lại ngay. Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao thì nó giải thích: coi chừng bia giả. Trời, bia mà giả à ? Nó giải thích rằng trong thời gian gần đây bia Heineken do bán quá chạy nên bị giả nhiều, nhất là bia chai vì chai dễ giả hơn là bia lon. Hễ bất cứ cái gì có vẻ nổi tiếng trên thị trường thì có đồ giả hay đồ nhái ngay.

Hôm ở Qui Nhơn, hai lần đi mua bin để vào máy chụp hình là hai lần bị bin giả. Pin cũng được đóng hộp và bao bì rất “xịn”, nhưng chụp chưa đầy 5 tấm hình thì … hết pin. Tôi đã phải trả 30.000 đồng cho 8 cục pin như thế. Tiền thì tốn chẳng bao nhiêu, nhưng giận nhất là đứng trước một cảnh đẹp, ưng ý mình, mà đành bó tay vì máy nói “Battery Empty” (hết pin) để ghi lại. Có khi Tôi muốn thốt lên lời chửi thề cho hả dạ, nhưng nghĩ lại thì biết chửi ai đây ? Chửi cái văn hóa dỏm, cái văn hóa lường gạt của dân mình ư ? Đành phải ngậm miệng và bấm bụng chịu đau thôi.. Giá cả quá đắt…Tôi đã nói qua những dịch vụ kém cỏi của du lịch Việt Nam, nhưng có cái làm chùng bước du khách nhất là giá cả quá đắt đỏ. Khách sạn ở Việt Nam bây giờ, dù là khách sạn không sao, giá vẫn 40-50 USD/phòng. Khách sạn 3 sao trở lên thì giá tuy còn quá rẻ so với các khách sạn cùng hạng ở Tây phương, nhưng lại khá đắt so với các khách sạn trong vùng Đông Nam Á. Với những dịch vụ nghèo nàn như ở nước ta thì Tôi nghĩ sẽ không khó cho du khách khi họ chọn đi Thái Lan và Mã Lai vì ở những nơi này giá cả còn rẻ (hơn Việt Nam) mà dịch vụ thì lại tốt hơn gấp mấy lần..

Có một hiện tượng ở những tỉnh lẻ là người ta hay “chém” du khách và Việt kiều. Một hôm, Tôi và một người bà con vào quán Bảy Mẫu trên đường Xuân Diệu, Thành-Phố Qui Nhơn…Quán ăn thuộc loại bình dân, chứ chẳng phải sang trọng gì, nhưng vì nằm gần biển nên Tôi muốn ngồi đó mà ngắm biển cho vui mắt. Tôi gọi 1 con cá lớn bằng gang tay, nửa con gà luộc, và 4 lon bia “Ken”. Đến khi gọi tính tiền, Tôi thấy con số tròn trĩnh 300.000 đồng. Nhìn qua thì tôi biết mình bị “chém”, nhưng Tôi làm bộ hỏi: con số 300 ngàn tròn quá hả em ? Người tính tiền là một em bé trai khoảng 19 tuổi gì đó cười mà không nói gì trước câu bình phẩm của Tôi. Nhưng Tôi vẫn vui vẻ trả, cho dù người bà con muốn cãi cọ và “kiếm chuyện” vì anh ấy là dân địa phương và thấy giá bất hợp lí. Tưởng bị chém ở quán là xong, ai dè lên xe taxi lại bị chém tiếp. Từ quán Bảy Mẫu đến Khách sạn Hải Âu chỉ khoảng 2 hay cao lắm là 3 cây số, và vì đêm đó (28/12, khoảng 10 pm) Việt Nam thắng Thái Lan nên để an toàn kêu taxi đi về khách sạn. Chiếc taxi của hãng Mai Linh (rất tiếc là tôi quên số) đi đến đường Nguyễn Tất Thành thì không đi thêm được nữa vì quá đông người và xe gắn máy. Tôi đành bảo anh tài xế cho Tôi xuống xe cuốc bộ khoảng 500 thước gì đó.

Nhìn đồng hồ tôi thấy 30 ngàn đồng! Tôi biết mình bị chém, vì quãng đường đó chỉ tốn 15 ngàn là cùng. Thôi thì đêm nay vui nên mình có thể cho anh ta thêm chục ngàn cũng chẳng sao. Nghĩ thế Tôi vui vẻ trả tiền…Nhưng vì ban đêm và Tôi tin anh ta, nên cầm tiền thối, tôi không để ý là anh ta lấy bao nhiêu ? Đến khi về khách sạn thì thấy anh ta lấy đến 50 ngàn đồng! Thế là bị chém đến 3 lần…Cũng là một chuyến đi đáng nhớ đời.

Có khi họ “chém” trước mặt mình chứ chẳng lén lút gì. Chẳng hạn như hôm đi thăm khu du lịch sinh thái Hàm-Hô (Bình Định). Ông anh Tôi (người địa phương) vào mua vé, mỗi vé giá 12 ngàn đồng. Nhưng đến khi cầm vé thì thấy trên giấy ghi là 10 ngàn đồng, anh Tôi bèn hỏi tại sao thêm 2 ngàn đồng ? Người bán vé thản nhiên nói vì phải thêm phần bảo hiểm ! Hỏi bảo hiểm gì thì anh chàng bán vé không trả lời được và bắt đầu nói ngọng. Tôi nói với ông anh “Thôi, cãi cọ làm gì với 2 ngàn đồng, mình bỏ qua cho chuyến đi được vui”. Ông anh Tôi còn ấm ức nói : Làm ăn kiểu này thì mai mốt ai dám vô đây ? Đúng, Tôi cũng nghĩ như anh, với cách làm tiền trắng trợn như thế thì du-khách có thể mỉm cười cho ăn, nhưng Họ sẽ không quay lại một lần nữa.

Cuối năm 2008 ngành du lịch đang than vản vì du khách đến Việt Nam giảm so với năm ngoái. Thật vậy, nhiều khách sạn Tôi ở qua đều than trời về tình trạng phòng trống, không có người thuê. Cũng may mà có khách Việt kiều về thăm quê, chứ nếu nguồn khách này giảm nữa thì quả là một thất bại. Nói gì thì nói, tình trạng “một đi không trở lại” là một xu hướng hết sức đáng ngại. Các giới chức đang bàn kế hoạch để thu hút du khách trở lại Việt Nam. Theo Tôi có lẽ hơi muộn. Nhưng muộn còn hơn không. Tôi nghĩ du khách có thể quay lại Việt Nam nếu ngành du lịch chấn chỉnh lại dịch vụ, xóa bỏ nạn chèo kéo du-khách, điều chỉnh giá cả cho hợp lí, và một điều không thể thiếu được : Đó là Vệ-Sinh.

Sydney Australia .

 





KINH TẾ MỸ ĐI NGƯỢC GIÓ


Phát biểu trước Câu lạc bộ Kinh tế Washington ngày 7/12, Chủ tịch FED, Ben Bernanke, cho rằng đà phục hồi của kinh tế Mỹ nói riêng và kinh tế thế giới nói chung vẫn chưa được đảm bảo một cách chắc chắn.

Theo ông Bernanke, kinh tế Mỹ vẫn đang trong giai đoạn khó khăn dù đã vượt qua suy thoái. Thị trường lao động vẫn ở trong tình trạng ốm yếu, nhu cầu tiêu dùng chưa được cải thiện trong điều kiện tín dụng thắt chặt là những tác nhân chính khiến kinh tế Mỹ phải "đi ngược gió" ở thời điểm hiện tại.

Dư nợ tín dụng tiêu dùng tại Mỹ đạt 3,51 tỷ USD trong tháng 10 vừa qua, mức thấp nhất trong vòng 9 tháng liên tiếp. Con số này cho thấy sức tiêu dùng của người dân chưa thực sự được cải thiện. Theo dự báo, mức sụt giảm tín dụng tại Mỹ có thể đạt 9,3% trong năm 2009.

Tiếp tục thận trọng với quá trình phục hồi kinh tế, ông Bernanke cho rằng vẫn còn quá sớm để tăng lãi suất cơ bản và FED tiếp tục giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục 0,25% một năm. Lý giải cho quyết định chưa tăng lãi suất, Chủ tịch FED cho rằng lạm phát tại Mỹ vẫn đang trong tầm kiểm soát và khó có khả năng tăng cao trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn ốm yếu. Ông Bernanke cũng dẫn ra một vài dự báo của các nhà phân tích cho rằng quá trình phục hồi có thể bị đình lại vào cuối năm 2010 khi các chương trình hỗ trợ của Chính phủ Mỹ kết thúc.

Trao đổi với hãng tin AP, người đứng đầu thể chế tài chính lớn nhất tại Mỹ cho rằng việc FED giữ đồng USD ở trạng thái yếu như hiện tại là do sức hấp dẫn của đồng tiền này hiện đã kém đi do mức lãi suất cơ bản thấp. Đồng đôla yếu cũng mang đến cơ hội cho thị trường chứng khoán cũng như giúp các công ty Mỹ có nhiều lợi nhuận hơn từ xuất khẩu.








ĐÁNH GIÁ MỚI CỦA QUỐC TẾ
VỀ KINH TẾ VIỆT NAM

Huy Phương, 26/10/2009
 
Nhân dịp các tổ chức quốc tế công bố bản đánh giá thường kỳ về tình hình kinh tế của các quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ Trần Lê Anh, giáo sư Đại học Lasell, bang Massachusetts đã dành cho ban Việt ngữ buổi trao đổi về những điểm mà Việt Nam cần lưu ý qua các bản đánh giá này.

VOA: Nền kinh tế của Việt Nam đã bị ảnh hưởng như thế nào trước sự suy thoái của kinh tế thế giới trong năm qua?

TS ANH: Với một nền kinh tế khá mở và một đất nước đang hội nhập thì Việt Nam đã chịu một số ảnh hưởng tiêu cực.

Theo số liệu gần đây của Tổng cục Thống kê Việt Nam, thì vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 9 tháng đầu của năm nay giảm gần 80% so với với cùng kỳ năm trước.

Lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng giảm 16% và cũng đã có dự báo là lượng kiều hối có thể giảm gần tới 20%, so với 7,2 tỉ đôla trong năm 2008.

Nhưng có lẽ ảnh hưởng trực tiếp khá mạnh là kim ngạch xuất khẩu giảm trên 14% trong 9 tháng vừa qua. Những ảnh hưởng này nhìn chung tác động đến nguồn thu ngoại tệ, doanh thu của doanh nghiệp và công ăn việc làm của người dân.

VOA: Trước sự khó khăn đầu ra của hàng hóa sản xuất trong nước do xuất khẩu giảm thì Việt Nam gần đây có phát động phong trào “người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”. Tiến sĩ có nhận xét gì về giải pháp này?

TS ANH: Tôi nghĩ đây là một định hướng đúng. Với dân số tương đối khá trẻ và khoảng 87 triệu dân thì thị trường Việt Nam không phải là nhỏ. Tuy nhiên, đây cần phải là chiến lược lâu dài chứ không phải là giải pháp tình thế.

Muốn vậy, các doanh nghiệp cần giải quyết tốt vấn đề chất lượng cũng như các kênh phân phối hàng hóa, và phía chính phủ Việt Nam cần cân nhắc các công cụ pháp lý để đẩy lui các mặt hàng nhập khẩu bất hợp pháp.

Chúng ta thấy hàng Trung Quốc tràn lan thị trường Việt Nam, đa số các mặt hàng này trong nước có thể sản xuất được nhưng doanh nghiệp trong nước cạnh tranh không lại, do giá hàng Trung Quốc quá rẻ, rẻ một cách bất bình thường.

Với tình trạng này, theo tôi, Việt Nam có cơ sở để cho mở cuộc điều tra chống bán phá giá và trợ giá.

Bên cạnh đó cũng phải giải quyết vấn đề hàng nhập lậu và loan báo rộng rãi đến người tiêu dùng để tránh những mặt hàng ngoại nhập kém chất lượng. Được như vậy mới hy vọng người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước đến với nhau nhiều hơn.

VOA: Trong bối kinh tế thế giới vẫn còn tương đối khó khăn hiện tại thì triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm nay và năm tới là như thế nào?

TS ANH: Việt Nam đề ra chỉ tiêu tăng trưởng cho năm 2009 là khoảng 5%, con số thấp nhất kể từ năm 2000.

Trong 3 quý vừa qua, mức tăng trưởng trung bình là 4,6% so với cùng kỳ năm ngoái, với mức tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước. Với đà này, bây giờ Việt Nam dự báo tăng trưởng cho toàn năm là 5,2%, mặc dù dự báo mới đây của một số tổ chức tài chính quốc tế đều dưới 5%.

Qua năm 2010 Việt Nam đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là 6,5%. Con số này cao hơn nhiều so với dự đoán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 5,3%. Theo tôi nghĩ, 6,5% là hơi lạc quan.

VOA: Xin cho biết nhận xét của tiến sĩ về những chính sách của Việt Nam để chống suy thoái để tiếp tục giữ được con số tăng trưởng dương trong năm nay?

TS ANH: Bắt đầu từ đầu năm nay, Việt Nam đã triển khai gói kích thích kinh tế khoảng 8 tỉ đôla thông qua các biện pháp như hỗ trợ lãi xuất, giảm và giãn thuế.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng hạ lãi suất cơ bản xuống còn 7% từ đầu năm nay. Đây là mức cắt giảm rất mạnh so với mức 14% của tháng 10 năm 2008. Mục đích là để kích thích các hoạt động vay vốn và đầu tư của các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng gia tăng rất mạnh các khoản chi tiêu của chính phủ để thúc đẩy các hoạt động kinh tế nhằm ngăn chận suy thoái.

VOA: Những biện pháp mà Việt Nam sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có để lại hệ quả gì không?

TS ANH: Chúng ta có thể thấy một số vấn đề.

Thứ nhất, do việc nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua biện pháp cắt giảm và hỗ trợ lãi suất, nên tín dụng đã tăng nhanh, dẫn đến khả năng tăng lạm phát trong năm tới.

Hơn nữa, việc tăng trưởng các khoản cho vay tương đối dễ dãi sẽ đặt mầm mống cho nợ xấu gia tăng, có khả năng gây bất ổn tài chính. Các tổ chức đánh giá rủi ro quốc tế như S & P hoặc Moody dự báo nợ xấu sẽ gia tăng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam trong tương lai gần.

Bên cạnh đó, do các khoản chi của chính phủ tăng mạnh nên đã dẫn đến bội chi ngân sách cao. Bội chi ngân sách cũng là một yếu tố làm tăng lạm phát và chi tiêu ồ ạt không có hiệu quả cao làm méo mó việc phân bổ nguồn lực.

VOA: Triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong trung hạn và dài hạn phụ thuộc vào những yếu tố nào?

TS ANH: Một số tổ chức phân tích kinh tế quốc tế đều cho rằng đẩy mạnh quá trình cải cách là rất quan trọng. Quá trình này bao gồm những vấn đề như cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính và pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động.

Nhưng tôi nghĩ quan trọng nhất vẫn là giải quyết vấn đề tham nhũng. Nó là mấu chốt của những vấn đề như lãng phí tài nguyên, làm mất niềm tin của nhà đầu tư, và giảm khả năng nâng cao hiệu suất của nền kinh tế nói chung. Giảm thiểu được tham nhũng sẽ tạo được sức bật mới cho nền kinh tế.

VOA: Có một số chuyên gia cảnh báo rằng mặc dù Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong nhiều năm qua nhưng chất lượng của tăng trưởng thì chưa cao. Tiến sĩ nghĩ sao về về cảnh báo này?

TS ANH: Tăng trưởng kinh tế chỉ đơn giản là sự tăng lên của lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế. Nhưng nếu đốn thêm rừng để gia tăng xuất khẩu gỗ hoặc khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên bất chấp vấn đề môi trường thì cũng đem lại tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng rõ ràng tăng trưởng kiểu đó là có vấn đề, cho nên mới nói đến vấn đề chất lượng tăng trưởng.

Ở phương diện cơ bản nhất, tăng trưởng có chất lượng là tăng trưởng có tính bền vững, vừa duy trì được tốc độ tăng trưởng lâu dài, vừa không gây ra những hệ quả tiêu cực.

Việt Nam, dù có tốc độ tăng trưởng tương đối cao nhưng đã bộc lộ những tác động tiêu cực lên môi trường; chẳng hạn như ô nhiễm sông ngòi. Trong những năm gần đây, tăng trưởng dựa rất nhiều vào sự gia tăng của tổng đầu tư, chẳng hạn như năm nay gần bằng 43% GDP, nhưng hiệu quả của đầu tư ngày càng giảm đi, thể hiện qua hệ số ICOR ngày càng tăng.
Hậu quả là tài nguyên kinh tế bị lãng phí, cho nên muốn có tăng trưởng có chất lượng thì Việt Nam trước mắt phải giải quyết các vấn đề về hệ quả đầu tư, hạn chế tác động tiêu cực của tăng trưởng lên môi trường, cũng như phải bình ổn kinh tế vĩ mô để giảm bớt những xáo động mạnh trong đời sống của dân chúng.

Huy Phương, 26/10/2009

 


HỢP TÁC KINH TẾ VỚI KẺ CƯỚP
LÀ TÒNG PHẠM VỚI VI PHẠM NHÂN QUYỀN

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
UNICODE: http://viettudan.net
Geneva, 19.11.2009



Chúng tôi thấy một số Truyền thông ca tụng TT.Obama đã nói về Tự do Internet với Sinh viên ở Thượng Hải, rồi đã yêu cầu đối thọai giữa Trung Cộng và Đức ĐẠT LAI LẠT MA Tây Tạng. Những lời nói của TT.Obama chỉ nhắc lại những từ chương mà trong nhiều chục năm trường nhiều người đã viết với tất cả tâm hồn để rồi có những người phải ngồi tù vì đã kêu gọi những điều mà TT.Obama đọc sách của họ để nói ra. Chẳng có gì phải ca tụng khi thấy rằng có lẽ chính Hồ Cẩm Đào cho phép Obama nói cho thêm mầu mè mà che đậy cho những việc vi phạm nhân quyền tầy đình của Trung Cộng. Thực vậy, báo chí quốc tế đã nhắc lại rằng những điều Obama nói với sinh viên Thượng Hải đã không được phổ biến trên Truyền Hình Trung quốc mà chỉ hạn hẹp ở trong một phòng nhỏ. Báo chí cũng nói rằng tại sao Obama đã nhát đảm, sợ sệt Hồ Cẩm Đào trước đó khi Obama từ chối không gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Mỹ vì sợ bóng sợ gió Trung quốc. Dân chúng Trung quốc trông đợi ở Obama những biện pháp đòi bạo quyền Trung quốc tôn trọng nhân quyền, chứ không phải chỉ nhắc lại suông những từ chương về nhân quyền mà nhiều đã viết. 

Chính vì vậy, những nhà đấu tranh cho Trung quốc có Tự do, Dân chủ, đã thất vọng đối với chuyến đi này của TT.Barack Obama.

Nhắc lại ít điều từ chương rồi, TT.Barack Obama lại xả láng ca tụng sự hợp tác Kinh tế giữa Trung quốc và Hoa kỳ như G2 lãnh đạo giải quyết việc cứu nguy và phát triển Kinh tế Thế giới. Chính việc tuyên bố hợp tác này chứng tỏ Obama đã, một là quá hạn hẹp nhân quyền ở vài cái râu ria vẽ vời, hai là không hiểu cái nhân quyền trọng yếu với khối dân chúng nằm ở chỗ nào, ba là chính mình muối lương tâm tòng phạm với kẻ cướp để bóc lột đời sống của đại đa số dân chúng, nhất là dân chúng nghèo khổ bần cùng.

Làm Kinh tế, hay nói nôm na là kiếm ra đồng tiền, cũng phải có cái luân lý của nó. Mọi người đều tranh đấu làm Kinh tế, nghĩa là kiếm ra đồng tiền để tối thiểu nuôi thân xác mình sống. Vì mọi người cùng làm Kinh tế, nên phải có những nguyên tắc phải tôn trọng trong việc phân chia quyền lợi cho công bằng. Không thể kiếm đồng tiền bằng bóp cổ họng người khác để cướp lấy tiền bạc.

Quyền sống thân xác cá nhân là điều
hệ trọng nhất của Nhân quyền

Hãy hỏi một người trong đại đa số quần chúng phải ngày đêm làm lụng kiếm bữa cơm bữa cháo để sống. Hãy hỏi họ xem giữa quyền tự do vào Internet để đọc tin tức thỏa mãn tinh thần và quyền lựa chọn một phương tiện làm ăn để có miếng cơm cho dạ dầy đỡ đói, họ sẽ dành việc ưu tiên chọn gì ? Chắc chắn họ sẽ nói ưu tiên chọn lựa là phương tiện kiếm sống, còn Internet thì hạ hồi phân giải. Hãy hỏi một công nhân xem quyền tự do họp lại với nhau để cùng có một tiếng nói cho mạnh bảo vệ đồng lương tương xứng với sức lao động cung cấp là ưu tiên hay quyền tự do họp lại để thảo luận văn hóa, chính trị, xã hội là ưu tiên. Công nhân sẽ chọn việc bảo vệ  đồng lương tương xứng là điều ưu tiên.  Hãy hỏi những nghệ sĩ, những người chơi thể thao... cố gắng trở thành anh hùng của Lý tưởng Xã Hội Chủ nghĩa với những Huy chương đeo đầy ngực là quan trọng hay đánh giá bằng tiền bạc việc cố gắng để cho tiền họ sống là quan trọng hơn. Họ sẽ chọn lấy tiền bạc trước đã. Hãy hỏi chính những Lãnh tụ Cộng sản xem danh dự quyền lực là quan trọng hay qua việc nắm quyền để có dịp thâu được nhiều tiền bạc là quan trọng.

Tóm lại, đối với quần chúng ở những Quốc gia nghèo, cái quyền làm Kinh tế nuôi sống thân xác là NHÂN QUYỀN ưu tiên nhất.   

Hai nền Kinh tế khác nhau giữa
Hoa kỳ và Trung Cộng

Nền Kinh tế Hoa kỳ đặt trọng tâm vào việc cá nhân kiếm sống cho mình, lấy tư hữu làm nền tảng xây dựng tự do kinh doanh Kinh tế. Cá nhân có quyền tự do thụ hưởng những kết quả kinh doanh của mình. Khi những cá nhân trách nhiệm kiếm sống, thì chính họ quyết định với nhau những Luật lệ phân định và bảo vệ quyền lợi làm ăn cho công bằng. Nhà Nước đứng bảo đảm việc thi hành đứng đắn những Luật lệ làm ăn do chính những tác nhân Kinh tế đã đồng thuận. Đó là một nền Kinh tế Tư doanh và Tự do Cạnh tranh. Đây là nền Kinh tế quần chúng tôn trọng trước tiên quyền kiếm sống của từng cá nhân.

Nền Kinh tế mà Trung quốc đang thực hiện là nền Kinh tế của riêng một nhóm đảng. Đảng Cộng sản Trung quốc có quyền độc tài Chính trị và nắm trọn độc quyền làm Kinh tế qua hệ thống những Công ty quốc doanh nắm những chủ chốt sinh họat Kinh tế. Đây là hệ thống Kinh tế Mafia. Người ta nói Trung quốc thu và tích lũy được một số vốn lớn, nghĩa là giầu có, nhưng đã không nói rõ rằng số vốn lớn này nằm trong tay quyết định chi dùng của nhóm đảng Mafia Cộng sản Trung quốc, chứ không được phân phối cho những quyết định xử dụng của những cá nhân thuộc đại đa số nhân dân. Đảng Mafia Cộng sản Trung quốc có số vốn lớn trong khi ấy đại đa số quần chúng Trung quốc nghèo khổ. Đảng Mafia Cộng sản Trung quốc, trong những năm trường, đã bóc lột, bán rẻ sức lao động của quần chúng để làm giầu cho nhóm đảng mình.  Một số những Công ty Liên quốc gia nước ngòai đã tòng phạm với chủ trương bóc lộc lao động này để khai thác nhân công rẻ.

Nếu nền Kinh tế Hoa kỳ tôn trọng nhân quyền ưu tiên, nghĩa là quyền tự do kiếm sống cá nhân, thì nền Kinh tế Mafia Trung Cộng là nền Kinh tế bóc lột quyền kiếm sống cá nhân để làm giầu cho một nhóm người.

Hợp tác Kinh tế Hoa kỳ và Trung quốc
có tôn trọng Nhân quyền hay không ?

Hai Chủ trương làm Kinh tế Hoa kỳ và Trung Cộng khác biệt nhau từ bản chất về phương diện tôn trọng Nhân quyền mà quyền cá nhân kiếm sống là ưu tiên. TT.Barack Obama nói tại Trung quốc trong chuyến Á du vừa rồi, chỉ là nói tới một số điểm vẽ vời râu ria về nhân quyền, mà không đề cập chính yếu đến một hệ thống tước đọat chính quyền tự do kiếm sống, một điểm ưu tiên của nhân quyền cho đại đa số quần chúng. TT.Barack Obama lớn tiếng kêu gọi việc hợp tác giữa Trung quốc (nhóm Mafia CSTQ) và Hoa kỳ trong những quyết định Kinh tế ảnh hưởng tới Thế giới. Việc hợp tác này là việc cổ võ tòng phạm với nhóm đảng Mafia trong việc đề bẹp quyền kiếm sống của cá nhân tự do. Hợp tác để nhóm đảng Mafia CSTQ tiếp tục bóc lột dân chúng nữa, đó là việc tôn trọng nhân quyền hay là việc tòng phạm vi phạm nhân quyền mà TT.Barack Obama đã lớn tiếng ca tụng việc làm tội lỗi này ?

Nếu TT.Barack Obama nghĩ rộng hơn nữa về chủ trương của nhóm Mafia CSTQ đang tìm mọi cách xử dụng hối lộ tiền bạc để thực hiện chính sách Tân Thuộc địa tại những nước nghèo Á châu và Phi châu, thì việc hợp tác của Hoa kỳ còn là việc tiếp tay phổ biến tội ác Kinh tế của Trung Cộng khắp Thế giới.

Nói chính đến hậu quả của việc hợp tác Kinh tế trên nước Mỹ. Việc tự do mậu dịch với hàng rẻ tiền Trung quốc tràn lan tại Hoa kỳ sẽ làm một số xí nghiệp nhỏ tại Mỹ đóng cửavà làm tăng thất nghiệp cho chính người Mỹ.

Việc hợp tác với kẻ cướp để bóc lột là việc tòng phạm với tội ác. Hãy nói NHÂN QUYỀN ở điểm thiết yếu này.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 19.11.2009

 

 







KINH TẾ CŨNG LÀ CHÍNH TRỊ

Nguyễn Xuân Nghĩa

Bom nguyên tử và thế liên hoàn kinh tế
Ðòi ép Iran, Tổng Thống Obama lại lùi vào vách...


Sau ba tháng chờ đợi qua chín lần hội họp, tối Thứ Ba, Tổng Thống Barack Obama mới công bố quyết định về chiến trường Afghanistan. Người ta đợi xem ông sẽ đưa thêm bao nhiêu quân vào đấy - và để làm gì. Ðể làm gì thì ông đã nói: “hoàn tất nhiệm vụ” (hàm ý là “...mà ông Bush bỏ dở”) chứ không để chiến thắng. Việc Nghị sĩ John Kerry kịp thời tung ra báo cáo do ông yêu cầu phe mình điều tra (“chính quyền trước để hụt mất Osama bin Laden tại Tora Bora”) nằm trong đòn đổ lỗi ấy.

Nhưng làm sao hoàn tất nhiệm vụ - finish the mission - tại Afghanistan là chuyện sách lược thì không ai rõ là gì.

Mục tiêu của ông Obama chỉ là trì hoãn sự phán xét của cử tri nên ông không thể rút quân như đa số trong phe Dân Chủ đòi hỏi hoặc tăng quân như các tướng lãnh đề nghị. Nhưng ông vẫn phải có quyết định để chứng minh là mình có quyết định, và không tháo chạy. Ông sẽ trì hoãn như thế nào thì sau này ta mới biết được, có khi qua những tiết lộ sau về việc giã từ A Phú Hãn.
Một việc mà ông không thể trì hoãn là phải có thái độ trước sự thách thức của Iran.

***

Từ Tháng Tư đến nay, Hoa Kỳ đã ra nhiều tối hậu thư cho lãnh đạo Iran mà vô hiệu. Tuần qua, Tehran còn thông báo sẽ xây thêm 10 lò tăng cường chất uranium. Trước áp lực của nhóm P5+1 - năm hội viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Tầu) cộng thêm nước Ðức - và sự bất lực của Nguyên Tử Lực cuộc IAEA, Iran vẫn tỏ ra là không e sợ một đòn trả đũa, hay một quyết định cấm vận kinh tế. Nếu chính quyền Obama không làm gì thì Iran thắng lớn trong toàn khu vực Trung Ðông và sẽ thành vấn đề cho Hoa Kỳ trong thế giới Hồi Giáo. Nếu ông Obama có phản ứng quyết liệt thì sẽ có một cuộc chiến thứ ba trên bàn và trong lý lịch, sau chuyện Iraq và Afghanistan.

Ông chỉ có một thế lách, là cho lãnh đạo Iran thấy sự lợi hại của đòn phong toả kinh tế. Chúng ta trở lại chuyện treo chuông cổ mèo trong bài “Phong Toả Ba Tư” trên cột báo này vào đầu Tháng Chín vừa qua (ngày 8 Tháng Chín).

Ba tháng sau, mình có thể nhìn vào chuỗi xích liên hoàn nhằm bao vây Iran, và những mắt xích yếu nhất, hoặc mở to.

Mở ra toang hoác là trường hợp Trung Quốc và Liên Bang Nga. Hai xứ này không có nhu cầu gỡ bí cho Hoa Kỳ để siết chặt vòng đai kinh tế chống Iran. Nước Mỹ càng vướng bận với các hồ sơ đối ngoại thì hai xứ này càng dễ đối phó với Mỹ trên các hồ sơ khác. Quả nhiên, hôm Thứ Hai 30, Liên Bang Nga ký với Iran một lúc bốn hợp đồng về dầu hỏa, khí đốt và viễn thông. Và Nguyên Tử Lực Cuộc của Iran thông báo Nga sẽ được ưu tiên trong các dự án năng lượng sau này.

Chuyện ấy khiến hai đồng minh cứng rắn nhất của Mỹ bỗng thấy thốn dạ.

Đó là Anh và Pháp. Họ có thể ủng hộ quyết định cấm vận - như tập trung vào việc sinh tử nhất là phong toả xăng dầu vào Iran vì xứ này cần nhập cảng tới 35% của nhu cầu. Nhưng họ cũng hiểu quy luật “bít lỗ hà ra lỗ hổng.” Ngoài Nga và Trung Quốc, nhiều xứ khác hoặc nhiều tổ hợp dầu khí quốc tế - khác với BP hay Total - sẽ trục lợi. Thất thâu oan uổng!

Đồng minh then chốt nhất của Mỹ trong vụ này là nước Đức thì lại nhìn qua nơi khác...

Hôm Thứ Hai 30, vì mắc bệnh, Thủ Tướng Israel là Benyamin Netanyahu đã điện thoại thay vì qua tận Berlin để gặp Thủ Tướng Angela Merkel. Đôi bên đã chuẩn bị một phiên họp nội các hỗn hợp để bàn về quan hệ giữa Israel với Palestine và nhất là về hồ sơ Iran. Israel không tin vào khả năng thuyết phục của Hoa Kỳ với Tehran và khó chịu với áp lực của chính quyền Obama nên xoay trở theo hướng khác, với Liên Bang Nga, Pháp và nay là Đức. Thủ Tướng Merkel sẵn sàng chiều lòng để tăng cường tư thế của nước Ðức - và nhân tiện cho Obama một bài học.

Trong các nước Âu Châu, Đức có nhiều quan hệ kinh tế nhất với Iran và Tháng Sáu năm ngoái còn trù tính một số dự án xây dựng hạ tầng năng lượng cho xứ này. Các tổ hợp tài chánh Đức cũng kinh doanh mạnh trong việc bảo hiểm cho các tầu dầu ra vào Iran, tức là bị thiệt nhất nếu xăng dầu vào xứ này bị phong toả.

Đức lại có nhu cầu mua khí đốt của Nga và muốn có một đối sách khác với Liên Bang Nga, để giữ thế mạnh trong khối Liên Hiệp Âu Châu. Có khi còn... kiếm ra tiền khi Nga muốn tư nhân hóa một số tổ hợp quốc doanh. Thủ Tướng Valimir Putin càng tỏ vẻ gay gắt với Hoa Kỳ chừng nào lại càng chiều chuộng Thủ Tướng Merkel chừng đó. Vì vậy, bà Merkel sốt sắng nói chuyện với cả Israel và Nga, về cùng một hồ sơ đang gây nhức đầu cho Hoa Kỳ là chuyện Iran.

Bà Merkel càng muốn dùng đòn bẩy này để lại quả chính quyền Obama vì một cái gai khác: tổ hợp xe hơi General Motors.

Khi tổ hợp này vỡ nợ và được chính quyền Obama cấp cứu, một chi nhánh Đức của GM là Opel bị đe dọa và có thể phải thải người trong số 25,000 nhân viên, ngay trước khi Đức có tổng tuyển cử. Khi ấy, Merkel trực tiếp kêu gọi Obama quan tâm đến mảnh vụn Opel của GM vì sẽ gây thêm thất nghiệp và bất ổn xã hội tại Đức sau vụ khủng hoảng tài chánh bùng nổ tại Mỹ. Câu trả lời từ phía Hoa Kỳ là “đèn nhà nào nhà ấy rạng, mạng người nào người ấy giữ!”

Chính quyền Merkel đành ráo riết tìm giải pháp khai thông ngay trước bầu cử.

Một trong nhiều giải pháp đưa ra và được chọn lựa là chính phủ Đức cho Opel vay một tín khoản 4,5 tỷ Euro để cấp cứu và dàn xếp việc bán Opel cho hãng chế tạo phụ tùng xe hơi Magna của Canada, với nguồn tài trợ của ngân hàng quốc doanh lớn nhất của... Nga (Sberbank). Điều kiện là Opel không sa thải nhân viên trong dự án cải tổ. Khi ấy, tổ hợp GM đồng ý với quyết định này.

Kết quả thì đảng của bà Merkel thắng cử và liên minh với một đảng mạnh hơn bên cánh hữu, nhưng kinh tế Ðức vẫn chưa hoàn toàn phục hồi. Trong khi ấy, GM cũng tạm qua cơn sóng gió nhờ bán xe thay hàng đồng nát - cash for clunkers - và tới đầu Tháng Mười Một vừa rồi thì... đổi ý. Hội đồng Quản trị GM quyết định không bán Opel nữa, nhưng sẽ chấn chỉnh tổ chức! Ngày 25 vừa qua thì GM thông báo biện pháp cụ thể là sẽ sa thải 9,000 công nhân Đức.

Nhìn lại cho sâu - vì kinh tế cũng là chính trị - chính quyền Obama không muốn Liên Bang Nga tiến hợp tác quá sâu với Đức và doanh nghiệp Nga học được kỹ thuật chế tạo xe hơi loại rẻ, bền và ít hao xăng để có thể sau này sẽ cạnh tranh với xe hơi Mỹ trên thị trường Âu châu. Hãng GM cũng không muốn Magna của Canada sẽ chế tạo loại xe ấy và tung vào... thị trường Bắc Mỹ.

Cũng rất hợp lý.

Nhưng thủ tướng Đức biết rất rõ là hãng GM đang có trong túi 13 tỷ Mỹ kim của chính quyền Mỹ mà không chi một xu cho hãng Opel, lại đòi chính quyền Đức cáng đáng lấy vì Merkel đã lỡ hẹn bốn tỷ rưỡi Euro cho hãng Opel vay trong dự án Magna/Sberbank. Đồng minh với nhau mà tráo trở như vậy thì đáng được một bài học... tại Iran.

Đâm ra xe hơi đã tông vào quan hệ vốn dĩ kém nồng thắm giữa Tổng Thống Obama với Thủ Tướng Merkel. Vụ tông xe ấy có khi làm lở bức tường ông Obama muốn xây chung quanh Iran.

Trong khi ấy, dù ở rất xa hóa ra rất gần là xứ Brazil cũng nhảy vào vòng liên hoàn kinh tế, để đòi gỡ thêm một mắt xích của Obama.

Thứ Ba tuần trước, Tổng Thống Mahmoud Ahmadinejad vừa hoàn tất chuyến công du Brazil trên đường thăm viếng Mỹ Châu La Tinh. Trong khi Israel lật đật đưa Tổng Thống Shimon Peres bay qua gặp Tổng Thống Luiz Innacio Lula da Silva để chặn đầu thì ông da Silva lững lờ lên tiếng: Brazil chống lại mọi biện pháp cấm vận Iran!

Xứ Brazil là cường quốc Nam Mỹ và lời nói của da Silva có trọng lượng hơn Tổng Thống Hugo Chavez khật khùng của xứ Venezuela mục nát.

Chavez đã bắn tiếng là nếu Iran bị phong tỏa thì Venezuela sẽ gửi xăng dầu qua tiếp tế. Chuyện ấy không làm Hoa Kỳ giật mình vì thật ra vượt quá tầm nước miếng của ông Chavez lắm lời và đa sự. Nhưng Brazil lại khác. Xứ này có thực lực riêng, lệ thuộc rất ít vào xuất cảng (có 13% tổng sản lượng GDP - và mua bán rất ít với Hoa Kỳ - chỉ có 3% GDP - nên không e ngại một sự trả đòn, dù Quốc Hội Mỹ đã hăm là sẽ ngăn cấm Ngân Hàng Xuất Nhập Cảng EximBank của Mỹ tài trợ cho các dự án năng lượng của Brazil.

Ngoài ra, Brazil còn có một khách sộp đang chờ ngoài cửa để mua nguyên nhiên vật liệu và vượt qua Mỹ về chuyện làm ăn buôn bán. Đó là Trung Quốc! Vì vậy, Tổng Thống Lula da Silva có thể ỡm ờ lên tiếng chống Mỹ và bênh vực Iran để lấy tiếng ở nhà và trong khối Mỹ Châu La Tinh mà không bị lỗ lã gì nhiều!

Người ta không tin là Brazil có thể cứu được Iran - nhất là khi Tehran còn có nhiều đồng minh khác ở gần hơn - nhưng việc một quốc gia có vẻ vô can như xứ Brazil mà cũng nhảy vào buông lời chống Mỹ tất nhiên sẽ khiến nhiều xứ khác nhìn lại cái thế và lực của Hoa Kỳ. Kẻ thù thì không sợ mà đồng minh lại chẳng tin thì tội gì mà đứng bên nước Mỹ. Lợi ích kinh tế chưa thấy đâu thì lại bị mang tiếng là tay sai của Mỹ, và bị bỏ rơi giữa dòng như nhiều xứ khác đã bị...

Hơn cả Anh, Pháp hay Đức, thái độ kỳ lạ của Brazil mới khiến người ta thấy ra sự cô đơn của ông Obama, khi càng đấu lực với Iran lại càng lùi tới chân tường!

NGUYỄN XUÂN NGHĨA

 





ĐÁNH GIÁ MỚI CỦA QUỐC TẾ
VỀ KINH TẾ VIỆT NAM

Huy Phương, 26/10/2009
 

Nhân dịp các tổ chức quốc tế công bố bản đánh giá thường kỳ về tình hình kinh tế của các quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ Trần Lê Anh, giáo sư Đại học Lasell, bang Massachusetts đã dành cho ban Việt ngữ buổi trao đổi về những điểm mà Việt Nam cần lưu ý qua các bản đánh giá này.

VOA: Nền kinh tế của Việt Nam đã bị ảnh hưởng như thế nào trước sự suy thoái của kinh tế thế giới trong năm qua?

TS ANH: Với một nền kinh tế khá mở và một đất nước đang hội nhập thì Việt Nam đã chịu một số ảnh hưởng tiêu cực.

Theo số liệu gần đây của Tổng cục Thống kê Việt Nam, thì vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 9 tháng đầu của năm nay giảm gần 80% so với với cùng kỳ năm trước.

Lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng giảm 16% và cũng đã có dự báo là lượng kiều hối có thể giảm gần tới 20%, so với 7,2 tỉ đôla trong năm 2008.

Nhưng có lẽ ảnh hưởng trực tiếp khá mạnh là kim ngạch xuất khẩu giảm trên 14% trong 9 tháng vừa qua. Những ảnh hưởng này nhìn chung tác động đến nguồn thu ngoại tệ, doanh thu của doanh nghiệp và công ăn việc làm của người dân.

VOA: Trước sự khó khăn đầu ra của hàng hóa sản xuất trong nước do xuất khẩu giảm thì Việt Nam gần đây có phát động phong trào “người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”. Tiến sĩ có nhận xét gì về giải pháp này?

TS ANH: Tôi nghĩ đây là một định hướng đúng. Với dân số tương đối khá trẻ và khoảng 87 triệu dân thì thị trường Việt Nam không phải là nhỏ. Tuy nhiên, đây cần phải là chiến lược lâu dài chứ không phải là giải pháp tình thế.

Muốn vậy, các doanh nghiệp cần giải quyết tốt vấn đề chất lượng cũng như các kênh phân phối hàng hóa, và phía chính phủ Việt Nam cần cân nhắc các công cụ pháp lý để đẩy lui các mặt hàng nhập khẩu bất hợp pháp.

Chúng ta thấy hàng Trung Quốc tràn lan thị trường Việt Nam, đa số các mặt hàng này trong nước có thể sản xuất được nhưng doanh nghiệp trong nước cạnh tranh không lại, do giá hàng Trung Quốc quá rẻ, rẻ một cách bất bình thường.

Với tình trạng này, theo tôi, Việt Nam có cơ sở để cho mở cuộc điều tra chống bán phá giá và trợ giá.

Bên cạnh đó cũng phải giải quyết vấn đề hàng nhập lậu và loan báo rộng rãi đến người tiêu dùng để tránh những mặt hàng ngoại nhập kém chất lượng. Được như vậy mới hy vọng người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước đến với nhau nhiều hơn.

VOA: Trong bối kinh tế thế giới vẫn còn tương đối khó khăn hiện tại thì triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm nay và năm tới là như thế nào?

TS ANH: Việt Nam đề ra chỉ tiêu tăng trưởng cho năm 2009 là khoảng 5%, con số thấp nhất kể từ năm 2000.

Trong 3 quý vừa qua, mức tăng trưởng trung bình là 4,6% so với cùng kỳ năm ngoái, với mức tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước. Với đà này, bây giờ Việt Nam dự báo tăng trưởng cho toàn năm là 5,2%, mặc dù dự báo mới đây của một số tổ chức tài chính quốc tế đều dưới 5%.

Qua năm 2010 Việt Nam đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là 6,5%. Con số này cao hơn nhiều so với dự đoán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 5,3%. Theo tôi nghĩ, 6,5% là hơi lạc quan.

VOA: Xin cho biết nhận xét của tiến sĩ về những chính sách của Việt Nam để chống suy thoái để tiếp tục giữ được con số tăng trưởng dương trong năm nay?

TS ANH: Bắt đầu từ đầu năm nay, Việt Nam đã triển khai gói kích thích kinh tế khoảng 8 tỉ đôla thông qua các biện pháp như hỗ trợ lãi xuất, giảm và giãn thuế.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng hạ lãi suất cơ bản xuống còn 7% từ đầu năm nay. Đây là mức cắt giảm rất mạnh so với mức 14% của tháng 10 năm 2008. Mục đích là để kích thích các hoạt động vay vốn và đầu tư của các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng gia tăng rất mạnh các khoản chi tiêu của chính phủ để thúc đẩy các hoạt động kinh tế nhằm ngăn chận suy thoái.

VOA: Những biện pháp mà Việt Nam sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có để lại hệ quả gì không?

TS ANH: Chúng ta có thể thấy một số vấn đề.

Thứ nhất, do việc nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua biện pháp cắt giảm và hỗ trợ lãi suất, nên tín dụng đã tăng nhanh, dẫn đến khả năng tăng lạm phát trong năm tới.

Hơn nữa, việc tăng trưởng các khoản cho vay tương đối dễ dãi sẽ đặt mầm mống cho nợ xấu gia tăng, có khả năng gây bất ổn tài chính. Các tổ chức đánh giá rủi ro quốc tế như S & P hoặc Moody dự báo nợ xấu sẽ gia tăng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam trong tương lai gần.

Bên cạnh đó, do các khoản chi của chính phủ tăng mạnh nên đã dẫn đến bội chi ngân sách cao. Bội chi ngân sách cũng là một yếu tố làm tăng lạm phát và chi tiêu ồ ạt không có hiệu quả cao làm méo mó việc phân bổ nguồn lực.

VOA: Triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong trung hạn và dài hạn phụ thuộc vào những yếu tố nào?

TS ANH: Một số tổ chức phân tích kinh tế quốc tế đều cho rằng đẩy mạnh quá trình cải cách là rất quan trọng. Quá trình này bao gồm những vấn đề như cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính và pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động.

Nhưng tôi nghĩ quan trọng nhất vẫn là giải quyết vấn đề tham nhũng. Nó là mấu chốt của những vấn đề như lãng phí tài nguyên, làm mất niềm tin của nhà đầu tư, và giảm khả năng nâng cao hiệu suất của nền kinh tế nói chung. Giảm thiểu được tham nhũng sẽ tạo được sức bật mới cho nền kinh tế.

VOA: Có một số chuyên gia cảnh báo rằng mặc dù Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong nhiều năm qua nhưng chất lượng của tăng trưởng thì chưa cao. Tiến sĩ nghĩ sao về về cảnh báo này?

TS ANH: Tăng trưởng kinh tế chỉ đơn giản là sự tăng lên của lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế. Nhưng nếu đốn thêm rừng để gia tăng xuất khẩu gỗ hoặc khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên bất chấp vấn đề môi trường thì cũng đem lại tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng rõ ràng tăng trưởng kiểu đó là có vấn đề, cho nên mới nói đến vấn đề chất lượng tăng trưởng.

Ở phương diện cơ bản nhất, tăng trưởng có chất lượng là tăng trưởng có tính bền vững, vừa duy trì được tốc độ tăng trưởng lâu dài, vừa không gây ra những hệ quả tiêu cực.

Việt Nam, dù có tốc độ tăng trưởng tương đối cao nhưng đã bộc lộ những tác động tiêu cực lên môi trường; chẳng hạn như ô nhiễm sông ngòi. Trong những năm gần đây, tăng trưởng dựa rất nhiều vào sự gia tăng của tổng đầu tư, chẳng hạn như năm nay gần bằng 43% GDP, nhưng hiệu quả của đầu tư ngày càng giảm đi, thể hiện qua hệ số ICOR ngày càng tăng.
Hậu quả là tài nguyên kinh tế bị lãng phí, cho nên muốn có tăng trưởng có chất lượng thì Việt Nam trước mắt phải giải quyết các vấn đề về hệ quả đầu tư, hạn chế tác động tiêu cực của tăng trưởng lên môi trường, cũng như phải bình ổn kinh tế vĩ mô để giảm bớt những xáo động mạnh trong đời sống của dân chúng.

Huy Phương, 26/10/2009











HÀNG XUẤT CẢNG VN
VẤP RÀO CẢN MỸ & LIÊN ÂU

  Trọng Nghĩa
Bài đăng ngày 19/10/2009 Cập nhật lần cuối ngày  19/10/2009

Vào năm 2010, hàng thủy sản Việt Nam nhập vào Châu Âu sẽ phải tuân thủ quy định IUU, yêu cầu chứng nhận là sản phẩm được đánh bắt và khai thác hợp pháp. Cùng lúc, hàng may mặc Việt Nam vào Mỹ (và một số sản phẩm khác) cũng phải đạt chuẩn mực do đạo luật CPSIA quy định. Các rào cản kỹ thuật này đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại.

Trong tuần qua, một công văn của Ủy ban Châu Âu được báo chí tiết lộ cho biết là định chế này sẽ đề nghị Liên Hiệp Châu Âu kéo dài thêm 15 tháng thời hạn áp thuế chống phá giá lên giày da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc. Áp dụng từ năm 2006, mức thuế đối với sản phẩm Việt Nam là 10%.

Việc áp đặt thuế chống phá giá này là một trong những khó khăn mà ngành xuất khẩu Việt Nam đang gặp phải trong bối cảnh các nước nhập khẩu hàng hoá ngày càng dựng thêm các rào cản để bảo vệ nền sản xuất nội địa. Vấn đề lại càng hệ trọng đối với Việt Nam khi mà các chướng ngại vật này lại được các thị trường chủ yếu của hàng Việt dựng lên, như tại Châu Âu hay Hoa Kỳ.

Quy định của Châu Âu về nguồn gốc hợp pháp của thủy sản

Tại Châu Âu chẳng hạn, trong lúc mặt hàng giày da dự trù sẽ tiếp tục bị áp thuế chống phá giá, thì kể từ tháng giêng năm 2010, đến lượt thủy sản bắt đầu gặp khó khăn về mặt thủ tục khi nhập vào thị trường Liên Hiệp Châu Âu. Vào lúc ấy, Châu Âu bắt đầu áp dụng những quy định gọi tắt là IUU (Illegal, Unreported and Unregulated Fishing) nhằm chống các hoạt động khai thác và đánh bắt thủy sản trái phép trên toàn thế giới.

Cá tra và cá ba sa xuất khẩu phải lọc đi toàn bộ phần mỡ.
 
Theo các quy định này, thì tất cả các lô hải sản từ Việt Nam xuất qua châu Âu đều phải được chứng nhận về tính hợp pháp, có tên tàu đánh bắt, vùng biển khai thác vân vân, những vấn đề khó đáp ứng do phương thức đánh cá còn cá thể, manh múm và thủ công của ngư dân Việt Nam.

Chuẩn mực mới về an toàn do Hoa Kỳ áp dụng

Khó khăn cũng có thể đến từ Mỹ, thị trường quan trọng nhất của ngành xuất khẩu Việt Nam. Trên nguyên tắc, kể từ tháng 2/2010, chính quyền Mỹ sẽ áp dụng đạo luật có tên là Consumer Product Safety Improvment Act (CPSIA), tạm dịch là Luật Cải thiện An Toàn Sản phẩm Tiêu dùng. Theo đó luật này, các mặt hàng nhập vào thị trường Hoa Kỳ phải hội đủ các tiêu chuẩn an toàn nghiêm ngặt.

Báo Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh vào thứ hai tuần trước đã nêu bật một ví dụ liên quan đến hàng may mặc, theo đó nhà sản xuất phải cung cấp nhiều loại giấy tờ như giấy kiểm tra về tính an toàn của vải khi bị cháy, kèm theo hàm lượng chì trên vải chẳng hạn. Đạo luật CPSIA đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại vì đã đặt ra nhiều loại tiêu chuẩn cao về chất lượng và tính an toàn, buộc giới sản xuất tại Việt Nam phải cố gắng rất nhiều mới thỏa mãn được.

Để tìm hiểu thêm về rào cản kỹ thuật mới mà đạo luật Cải thiện An Toàn Sản phẩm Tiêu dùng CSPIA tại Hoa Kỳ đặt ra cho hàng nhập khẩu vào Mỹ, đặc biệt là đối với hàng Việt Nam, RFI đã phỏng vấn chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California (Hoa Kỳ). Theo anh Nguyễn Xuân Nghĩa, tình hình không đáng phải lo ngại quá mức căn cứ vào cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào Mỹ, và tinh thần của đạo luật Cải thiện An Toàn Sản phẩm Tiêu dùng CPSIA sẽ có hiệu lực từ tháng 2 năm 2010.

Trả lời phỏng vấn của RFI, chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa trước hết nêu bật chiều hướng trao đổi thương mại ngày càng gia tăng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, với lợi thế hiện đang thiên về Việt Nam.

Trước hết, về luồng giao dịch ngoại thương của Việt Nam với Hoa Kỳ thì 15 năm trước, khi Mỹ bắt đầu bãi bỏ cấm vận với Việt Nam, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước mới chỉ khoảng hơn 220 triệu đô la, chủ yếu là Mỹ bán cho Việt Nam hơn 170 triệu và mua hàng của có 50 triệu đô la mà thôi. Bước đột phá bắt đầu từ năm 2001, khi luồng giao dịch tăng vọt lên hơn một tỷ 400 triệu đô la với Việt Nam đạt xuất siêu hơn 600 triệu vì bán nhiều hơn mua với Hoa Kỳ.

Qua năm 2002 thì hai nước gia tăng buôn bán hơn gấp đôi sau khi Hoa Kỳ cho Việt Nam hưởng quy chế mậu dịch bình thường, trước đó gọi là quy chế tối huệ quốc, nhờ ký kết Hiệp định Thương mại Song phương vào cuối năm 2001. Kể từ đấy, luồng giao dịch bành trướng mạnh và năm ngoái đã lên tới hơn 15 tỷ đô la, trong đó, Việt Nam bán được gần 13 tỷ và mua vào 2,6 tỷ, đạt xuất siêu gần 10 tỷ đô la.

- Một chi tiết nhỏ là Việt Nam được xuất siêu chừng nào khi mua bán với Mỹ thì lại bị nhập siêu chừng đó - là quãng 10 tỷ đô la - với Trung Quốc. Tức là được lợi chừng nào với Mỹ thì lại nộp chừng ấy tiền cho Trung Quốc! Riêng trong năm tháng đầu năm nay thì tình hình mua bán với Mỹ có sút kém vì Việt Nam chỉ bán được có gần năm tỷ và đạt xuất siêu có bốn tỷ sáu thôi, so với năm tháng đầu của năm ngoái, kim ngạch giao dịch có giảm 3%.

- Nói về cơ cấu hàng hóa thì Việt Nam chủ yếu bán cho Mỹ áo quần, đồ gỗ, giày dép, thủy sản, một chút sản phẩm dầu khí, máy móc điện cơ, và sau cùng là cà phê và hạt điều. Ngược lại, Việt Nam mua của Mỹ xe hơi, thiết bị máy móc, thịt bò, bông vải, nhựa, sắt thép và máy điện cơ.

Việt Nam bị vạ lây từ phản ứng của Mỹ chống hàng Trung Quốc

Về đạo luật CSPIA tăng cường kiểm soát an toàn trên một số mặt hàng mà Hoa Kỳ sắp áp dụng, anh Nguyễn Xuân Nghĩa xác định :

- Đây lại là một trường hợp khác mà Việt Nam bị họa lây vì Trung Quốc! Số là năm 2007, dân Mỹ phát giác là nhiều mặt hàng của Trung Quốc bán vào Mỹ có quá nhiều độc chất nguy hại, nhất là đồ chơi cho trẻ em. Vì vậy, Hạ viện rồi Thượng viện Mỹ đã theo nhau biểu quyết hai dự luật tăng cường kiểm soát mức độ an toàn trên một số mặt hàng nói chung, kể cả các mặt hàng nhập cảng, nhưng thật ra không có chủ đích tập trung vào hàng nhập cảng.

- Ngày 14/08/2008, Tổng thống George Bush mới ban hành đạo luật này, gọi là Consumer Product Safety Improvement Act, CPSIA, theo đó, trước tiên là Hội đồng Kiểm soát An toàn được tăng ngân sách để tuyển thêm người lo việc kiểm tra song song cùng hai cơ chế hiện hành là Cơ quan Lương thực và Dược phẩm FDA và Bộ Canh nông là cơ chế có thẩm quyền về các loại nông sản. Sau khi đạo luật được ban hành, các cơ quan hữu trách tại Hoa Kỳ mới nghiên cứu việc áp dụng trong thực tế, thí dụ như đào tạo nhân viên và đặt ra tiêu chuẩn thử nghiệm mà các doanh nghiệp phải tôn trọng.

- Một điều cần chú ý là đạo luật này chủ yếu tập trung vào các sản phẩm bán cho trẻ em, theo định nghĩa là từ 12 tuổi trở xuống, trong đó có đồ chơi và cả áo khoác. Ngoài ra, còn có loại xe giải trí có thể chạy chơi trên mọi loại địa hình, cũng lọt vào vòng phải kiểm soát.

Về lý do vì sao các doanh nghiệp Việt Nam lại có vẻ hốt hoảng về đạo luật CSPIA, chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa giải thích :

- Đạo luật này được tung ra để bảo vệ an toàn cho giới tiêu thụ - nhất là trẻ em - và doanh nghiệp nào của Mỹ cũng bị chi phối vì các tiêu chuẩn an toàn đó nếu sản xuất hay phân phối cho khách hàng Mỹ. Tuy nhiên, vì đa số các sản phẩm bị tăng cường kiểm soát lại là hàng tiêu dùng cho thiếu nhi và là hàng nhập khẩu nên các nhà sản xuất ở xứ khác mà muốn bán vào Mỹ thì sẽ phải thận trọng hơn. Một cách cụ thể là đồ chơi cho trẻ em sẽ bị kiểm soát kỹ để giảm dần chất chì trong nước sơn theo một lịch trình ngày càng khắt khe hơn từ nay đến năm 2011. Một thí dụ khác có thể liên hệ đến Việt Nam là áo quần cho trẻ em là mặt hàng mà nếu muốn sản xuất để bán qua Mỹ thì phải kiểm soát kỹ lưỡng từ cái khóa kéo đến các hợp chất của vải, nhựa, v.v...

Đối với anh Nguyễn Xuân Nghĩa, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm hiểu trước về các tiêu chuẩn cần chú ý để thi hành, đừng để xẩy ra tính trạng hàng qua đến Mỹ rồi bị trả về.

Thật ra, cơ quan hữu trách của Hoa Kỳ là Hội đồng Kiểm soát gọi tắt là CPSC đang nghiên cứu điều lệ áp dụng và khi bắt đầu thi hành thì các tùy viên kinh tế hay thương mại của các Sứ quán Hoa Kỳ ở ngoại quốc và các Phòng Thương mại Mỹ phải được biết để phổ biến rộng rãi. Giới sản xuất tại Việt Nam cần biết rõ như vậy để hỏi kỹ từ trước.

Một điều khoản cụ thể của đạo luật là nhà sản xuất các mặt hàng bị coi là đối tượng cần gia tăng kiểm soát an toàn phải có được "Giấy Chứng nhận" về mức độ phù hợp căn cứ trên việc thử nghiệm. Nghĩa là một số hàng mẫu phải được thử nghiệm từ gốc để xác định là hợp tiêu chuẩn và giấy chứng nhận phải viết bằng Anh ngữ, đi kèm món hàng từ khi sản xuất qua ngần ấy chặng phân phối xỉ và lẻ cho tới tay người tiêu thụ sau cùng.

Ngoài ra, cũng cần chú ý là đạo luật này triệt để bảo vệ người tố giác - có thể là công nhân viên ngay trong hãng sản xuất nếu họ thấy có sự gian lận. Vì vậy, các doanh nghiệp rất khó luồn lách để vượt qua luật lệ. Và hình phạt ở đây là cả hình lẩn hộ, cả án tù lẫn tiền phạt và thu hồi sản phẩm theo thủ tục do Hội đồng Kiểm soát quyết định chứ không có chuyện thương thảo hoặc dàn xếp.

Sau khi đạo luật được ban hành, cơ chế độc lập của Quốc hội chuyên về kiểm tra Chính phủ gọi là Government Accountability Office (GAO) đã nghiên cứu việc áp dụng cho các mặt hàng nhập khẩu và công bố phúc trình của họ hồi giữa tháng Tám. Sau đó, hôm 07/10 vừa qua họ trình bày trước Hội đồng Kiểm soát kết quả nghiên cứu và những đề nghị. Căn cứ trên báo cáo này thì ta thấy Hội đồng Kiểm soát có trách nhiệm nặng nề hơn mà lại thiếu nhiều phương tiện, kể cả nhân sự, và cần phối hợp với các cơ quan khác, như Quan thuế và Biên phòng. Trước hết là việc lập ra danh sách những độc chất cần loại trừ và thủ tục kiểm phẩm, thử nghiệm, cấp giấy chứng nhận để thông báo trước kỳ hạn tháng 2/2010.

Một giải pháp nên lập tức thi hành là yêu cầu viện trợ kỹ thuật để mình học hỏi ngay những hậu quả hay đòi hỏi của luật lệ mới và công khai phổ biến cho mọi người cùng biết rõ vì đạo luật này đòi chính nhà sản xuất ở nước ngoài thi hành việc thử nghiệm đó, chứ không phải đợi tới khi hàng cập bến vào Mỹ mới được nhà chức trách Mỹ thử nghiệm rồi gửi trả nếu không hợp tiêu chuẩn. 






KINH TẾ MỸ CÓ THỂ
TÁI KHỦNG HỎANG ?

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 07.10.2009, cập nhật 19.11.2009



Chúng tôi đã theo rõi cuộc Khủng Hỏang Tài chánh/Kinh tế tại Hoa kỳ từ năm 2007, bắt đầu bằng sự ung thối của những Tín dụng Địa ốc Suprime (Mortgage Subprime Credits). Những Ngân Hàng mất tiền bạc, Thị trường Chứng khóan tụt dốc. Từ Tài chánh, cuộc Khủng hỏang lan sang Lãnh vực Kinh tế thực. Những Chương trình Bailouts, rồi những Chương trình Stimulus được quyết định. Chúng tôi đã xuất bản những bài viết liên tục theo rõi này thành cuốn sách tựa đề là TÀI CHÁNH/ KINH TẾ THẾ GIỚI: KHỦNG HỎANG 2007/2008 VÀ HẬU QUẢ CHO VIỆT NAM, dầy 425 trang, do Nhà Xuất Bản DAY & NGIHT, Ventura, CA., năm 2009.

Tất nhiên chúng tôi theo rõi tiếp xem bao giờ cuộc Khủng Hỏang chấm dứt mà mọi tác nhân Kinh tế có thể vững tin được.

Ngày 07.10.2007, chúng tôi viết một bài hòai nghi về lời tuyên bố của Thống đốc Ben BERNANKE rằng cuộc Khủng hỏang coi như chấm dứt, trong khi đó tình trạng Thất nghiệp vẫn tăng đều. Chúng tôi lại bổ túc cho sự hòai nghi khi Cựu Thống đốc GREENSPAN tuyên bố về sự nguy hiểm cho nền Kinh tế khi chỉ số Thất nghiệp tăng mạnh.

Hôm nay, chúng tôi cập nhật bài viết lần thứ ba khi chính Tổng Thống OBAMA, sau chuyến Á du, nhất sang Tầu, tuyên bố rằng Oâng lo sợ cho việc tái Khủng hỏang Kinh tế. Xin qúy độc giả đọc ở đọan cuối cập nhật hôm nay 19.11.2009.
 

Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế
Theo nhận định của Oâng Ben BERNANKE
 
Tuyên bố của Ông BERNANKE: Chấm dứt  Khủng hỏang tại Hoa kỳ

Tôi luôn luôn phân biệt hai lãnh vực: Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh và Lãnh vực Kinh tế thực. Trong thập niên qua, Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh trở thành một kỹ nghệ tạo ra những sản phẩm vốn để ăn lời quá đáng. Mà vốn này hầu hết thuộc về tương lai chưa làm ra hiện thực (Virtual Capital). Họ xả láng cho những Credits để cổ võ tiêu thụ cá nhân, để những Công ty sản xuất hàng hóa bừa bãi không không quan tâm đến khả năng tiêu thụ thực của quần chúng. Đó là cái nguyên cớ đưa đến Khủng hỏang Tài chánh. Khủng hỏang Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực khiến Thất nghiệp tăng.

Những Chương trình BAILOUTS cứu vãn Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh làm cho Lãnh vực này tạm yên. Rồi Chỉ số của Thị trường Chứng khóan lên. Điều này chưa hẳn là Kinh tế thực đã lấy lại sức mạnh. Thường sau những cuộc Khủng hỏang Thị trường Chứng khóan, có những cuộc Buy-Back của những nhà đầu tư. Có thể lúc này, Chỉ số Thị trường Chứng khóan lên, một phần là vì những nhà tài phiệt bỏ vốn ra mua những Giá trị chứng khóan với giá đang hạ để sau này bán lại kiếm lời. Đó là vấn đề thương mại ở Thị trường chứng khóan và chưa hẳn là việc phục hồi Kinh tế thực. Chính vì nghĩ như vậy, nên một số người nói rằng lời tuyên bố của Ông BERNANKE là hơi vội, và có phần phiến diện nếu chỉ căn cứ ở sự tăng lên của Chỉ số Chứng khóan.

Có thể việc tuyên bố của Ông BERNANKE mang yếu tố tâm lý cổ võ cho việc Chi tiêu để làm tăng phía CẦU của Lãnh vực Kinh tế thực. Tôi cũng đồng ý với ý kiến này, nghĩa là lời tuyên bố lạc quan của Ông BERNANKE mang yếu tố tâm lý làm phấn khởi cho Tiêu thụ, tăng phía CẦU.

Cùng ngày 16.09.2009, hai Ký giả Peter A.McKay & Geoffrey Rogow viết trong THE WALL STREET JOURNAL, trang 20, rằng: “Stocks pushed higher Tuesday, helped by Federal Reserve Chairman Ben Bernanke’s declaration the U.S. recession had lkely ended. Mr.Bernanke said that from a technical point.” (Giá trị chứng khóan tăng cao hơn hôm thứ Ba, được cổ võ bởi lời tuyên bố của Chủ tịch FED Bernanke rằng cuộc Khủng hỏang Mỹ dường như đã chấm dứt. Ông Bernanke đã nói điều đó từ một khía cạnh kỹ thuật).


Oâng GREENSPAN nhấn mạnh đến
THẤT NGHIỆP của Khủng hỏang Kinh tế

Ông Greenspan tuyên bố thất nghiệp sẽ vượt qua mức 10%, và không cần đến kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai (Cali Today News, Trần Thị Sông Dinh, Oct 04, 2009)

Cali Today News – Ông Greenspan – Cựu chủ tịch Qũy Dự Trữ Liên Bang (DTLB) Hoa Kỳ, nay đã nghỉ hưu, vừa tuyên bố hôm chủ nhật là mức thất nghiệp sẽ vượt qua 10%, rồi sẽ dừng ở đó một thời gian, và chương trình kích thích kinh tế hiện nay chưa cần đến.

Ngoài ra, ông ta cũng phát biểu thuận lợi cho việc gia hạn trợ cấp thất nghiệp, khấu trừ thuế cho tiền bảo hiểm y tế – đó chính là chương trình mà chính quyền của ông Obama đang xem xét để giúp đỡ những người bị thất nghiệp trong đợt suy thoái lần này. Hiện nay, có tới 15 triệu người Mỹ thất nghiệp, và mức thất nghiệp hiện nay đang ở mức 9.8%, mức cao nhất trong vòng 26 năm qua.

Ông cũng cho rằng đây là một giai đoạn thật đặc biệt và một số hành động tạm thời cần được áp dụng. Phát biểu trên ABC’s trong mục “This Week”, ông nói: “Tôi thật sự không xem xét các loại chương trình kích thích kinh tế, tôi nghĩ một cách căn bản đó là những chương trình giúp đỡ cho người dân, nhất là một phần đối với tiêu chuẩn sống của họ. Tôi cho rằng nó sẽ có hiệu quả kích thích, nhưng đó là điểm chính của tôi.”

Ông ta gọi bản tường trình công việc được công bố vào thứ sáu rồi là “khá tệ”, và ông Greenspan đặc biệt quan tâm về những con số thống kê cho thấy số người mất việc làm trong 6 tháng qua hoặc hơn đã đến con số 5 triệu người, sau khi đã gia tăng đáng kể trong tháng qua.

Ông nói thêm: “Những người bị mất việc cho một thời gian dài sẽ thật sự mất đi tay nghề của họ. Những điều tạo ra một nền kinh tế vĩ đại là sự kết hợp giữa tài sản vốn của nền kinh tế và nhân sự điều hành tài sản này. Và nếu bạn mất đi những năng khiếu con người, thì thật sự có một sự mất mát thật sự và không tìm lại được.”

Nhìn về trước trong bức tranh toàn cảnh của tình trạng thất nghiệp, ông ta nói rằng nó sẽ vượt qua mức 10%, và ở đó một thời gian, trước khi rơi xuống trở lại.

Ông Greenspan nói rằng ông đề nghị TT Obama tập trung đưa nền kinh tế đi lên, nhưng đừng thúc đẩy nhiều quá đến nỗi mà nó sẽ tạo ra phản tác dụng. Với mức phát triển của qúy 3 là 3% hay cao hơn, Greenspan cho biết là ông ta đề nghị không cần kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai. Ông ta nói rằng cần chờ đợi và quan sát xem cái động lực đang thúc đẩy nền kinh tế đi lên sẽ tiến triển ra sao.

Ông Greenspan cũng tỏ ra quan tâm về sự gia tăng mức thâm thủng ngân sách và nợ của quốc gia.


NHÂN LỰC là một trong hai Yếu tố chính
Của Sản Xuất Kinh tế thực

Phương trình Lượng Sản Xuất cho mọi nước như sau:

Q   =   f(K, L, t)

Q là Lượng sản xuất. Trong Phương trình này, K (Vốn) và L (Nhân Lực) là hai yếu tố sản xuất chính yếu. “t“ đứng trong Phương trình để chỉ Technology. Technology không đứng độc lập với Vốn (K) và Nhân Lực (L). Người ta gọi “t” là Incorporated Technology, nghĩa là phải có hai yếu tố K và L trước đã thì Technology mới Incorporated vào được. Có Vốn, thì mới mua được Technology. Và Technology được incorporated vào Nhân Lực để làm tăng hiệu lực cho Nhân lực. Trong Lãnh vực Kinh tế thực hiện đại, giữa Nhân lực và Technology đang có sự đố kỵ. Tăng Kỹ thuật để thải nhân lực !

Ở những nước chưa mở mang, chưa có Kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân, nhưng nông dân vẫn sản xuất nhờ Vốn mua ruộng, hạt giống, phân đạm và nhờ bắp thị cứng rắn (Nhân lực). Điều đó có nghĩa là việc sản xuất của nông dân ở những nước nghèo này chưa có Technology can thiệp vào, mà chỉ nhờ VỐN (K) và NHÂN LỰC (L) là những yếu tố chính yếu của sản xuất.

Với Công thứ tồng quát  Q=f(K,L,t), tôi có thể áp dụng cho mọi nước, từ những nước nghèo nhất chưa có tiền mua Technology. Technology phải từ từ incorporated vào K và L khi người ta có VỐN để mua Technology và khi NHÂN LỰC được huấn luyện kiến thức nghề nghiệp về Technology.

Khi NHÂN LỰC là một trong hai Yếu tố chính sản xuất cho Lãnh vực Kinh tế thực, thì THẤT NGHIỆP là một Chỉ số quan trọng để những Nhà Kinh tế nói về Khủng Hỏang. Đối với những người nắm quyền Chính trị, thì Chỉ số THẤT NGHIỆP thực sự trở thành quan trọng vì từ khối người Thất nghiệp, tình trạng căng thẳng Xã hội nẩy sinh và có thể đưa đến xáo trộn Xã hội và ĐỘT BIẾN Chính trị.

Oâng GREENSPAN chú trọng đến Chỉ số Thất nghiệp. Sau khi Oâng BERNANKE tuyên bố lạc quan dựa trên Chỉ số Chứng khóan, thì OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đưa ra ngay Chỉ số Thất nghiệp để cho thấy tình trạng Khủng hỏang. Ký giả Gabriele PARUSSINI viết ra quan điểm của Ông Angel CURRIA, Tổng Thư ký của OECD  gồm 30 quốc gia, viết Bài báo, với tựa đề là OECD SAYS JOBS CRISIS HAS REPLACED CREDIT CRISIS, được đăng trên THE WALL STREET JOURNAL ngày thứ Năm, 17.09.2009, trang 2.

Ký giả Gabriele PARUSSINI và OECD đứng theo quan điểm THẤT NGHIỆP để nói về Khủng hỏang Kinh tế thực, chứ không riêng Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh như Ông Bernanke.


Chưa có thể nói đơn giản là
Cuộc Khủng Hỏang Tài chánh/Kinh tế đã chấm dứt

Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới bắt đầu từ những Tín Dụng Địa Oác (Mortgage Credit). Những Subprime Mortgage Credits bị ung thối rồi lan sang các Tin dụng khác làm cho giới Ngân Hàng/ Tài chánh co rúm lại, mất giá. Thị trường Subprime Mortgage Credits không phải chỉ tác dụng riêng cho giới Ngân Hàng/ Tài chánh Hoa-kỳ, mà cho các Ngân Hàng lớn khắp Thế giới. Đây không phải chỉ lỗi riêng của Hoa kỳ, mà còn là việc tham dự Tín dụng của các Ngân Hàng/ Tài chánh lớn Thế giới vào Thị trường Hoa kỳ để chia phần lợi nhuận. Cùng chia phần lợi nhuận để sau đó các Ngân Hàng/ Tài chánh lớn của các nước khác cùng bị hậu quả của sự ung thối Subprime Mortgage Credits, thì bây giờ không thể óan trách riêng Hoa kỳ.

Chính quyền Hoa kỳ, ngay cuối thời TT.BUSH đã chỉ chú tâm vào việc cứu vãn giới Ngân Hàng và các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh bằng những Chương trình BAILOUTS. Chính quyền TT.OBAMA tiếp tục những Chương trình BAILOUTS cho giới Ngân Hàng và những Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh.

Nhưng lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh bắt đầu lan sang lãnh vực KINH THẾ thực làm đình trệ sản xuất và do đó nạn THẤT NGHIỆP  bán phần (chomage au temps partiel) rồi tòan phần (chomage à plein temps) tăng lên. Ngành nghiệp KINH TẾ bị khủng hỏang trầm trọng là Kỹ nghệ Xe Hơi. Kỹ nghệ Thiết bị, Kỹ nghệ những Sản phẩm xa hoa.

Không những chỉ Chính quyền Hoa kỳ, mà các Chính quyền của các nước đã Kỹ nghệ hóa đưa ra những Chương trình Kích cầu (STIMULUS plans) để nâng cao phía CẦU của Dân chúng đang bị co rúm lại và từ đó làm cho các Kỹ nghệ có thể sản xuất mà tăng phía CUNG. 

Cuộc Khủng hỏang bắt đầu từ năm 2007, qua suốt 2008, rồi hiện nay là tháng 9/2009.

Đọc Tờ THE WALL STREET JOURNAL ngày 16.09.2009, trang 3, tôi thấy bài của hai Ký giả Sara MURRAY và Ann ZIMMERMAN viết chiếm trọn 5 cột với đầu đề “BERNANKE DECLARES END TO RESESSION IN THE U.S.” (BERNANKE TUYÊN BỐ CHẤM DỨT KHỦNG HỎANG TẠI HOA KỲ). Tôi mừng cho nước Mỹ, mừng cho những đồng hương của tôi sẽ bắt đầu sống sung sướng sung túc như trước đây.

Những thành phần tham dự vào Thị trường Chứng khóan là những Tỉ phú, Triệu phú, là những Ngân Hàng, những Tổ chức Bảo Hiểm, Tài chánh. Khi Chỉ số Thị trường Chứng khóan xuống, họ mất, nhưng tài sản của họ vẫn còn mức độ căn bản làm họ tiếp tục sống vương giả. Những nhân viên làm việc cho các Triệu phú, Tỉ phú, các Ngân Hàng, các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh, dù bị thất nghiệp, nhưng trước đó họ đã thu vào những khả năng Tiền bạc để bảo đảm tình trạng thất nghiệp lúc này.

Nếu những Chương trình BAILOUTS khổng lồ cứu vãn giới Tài chánh (Giới có Tiền bạc kho đụn), thì những Chương trình STIMULUS cho Kinh tế với những chi tiêu khổng lồ xả láng mà hiệu quả còn mù mờ chưa cho phép nói là Khủng hỏang đã chấm dứt. Thậm chí chúng ta có thể nói Khủng hỏang Kinh tế còn đang tăng nếu nhìn Chỉ số THẤT NGHIỆP là mối quan tâm chính yếu cho Lãnh vực Khủng hỏang Kinh tế thực.

Cứu đổ vỡ cho Ngân Hàng, Triệu phú ở Thị trường Chứng khóan hay cứu Dân nghèo THẤT NGHIỆP ?

Khi các Chính quyền cứu vớt các Ngân Hàng, các Tổ chứ Bảo Hiểm/Tài chánh là nhằm hai mục đích: (i) Để họ không chết; (ii) Để họ có vốn tăng lên mà cho Lãnh vực Kinh tế thực vay. Khi các Ngân Hàng Trung Ương hạ lãi suất chỉ đạo xuống gần số không, đó là hạ giá vốn để các Xí nghiệp có thể vay được vốn với giá hạ trong lúc túng quẫn. Mục đích tối hậu của những Chương trình BAILOUTS cứu vớt giới Ngân Hàng/ Tài chánh là để giới này cùng với các Xí nghiệp tạo công ăn việc làm cho Dân chúng. Cũng vậy mục đích hạ lãi suất chỉ đạo cũng nhằm tạo công ăn việc làm qua các Xí nghiệp. Mục đích tạo công ăn việc làm là hòan tòan chính đáng và là công bằng xã hội bởi lẽ những số tiền khổng lồ cho những Chương trình BAILOUTS và những Chương trình STIMULUS là do sự dóng thuế của tòan Dân, chứ không phải đến từ giới Triệu phú, Tỉ phú hoặc Ngân Hàng.

Nhưng tại sao những số tiền khổng lồ BAILOUTS và STIMULUS đi vào đâu mà không tạo hiệu quả làm giảm thất nghiệp theo mục đích của các Chính quyền?

Nếu những Chương trình BAILOUTS chỉ giúp các Tỉ phú, Triệu phú, các Ngân Hàng, các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh đổ số tiền giúp đỡ ấy vào việc chơi ở Thị trường Chứng khóan để làm cho Chỉ số Chứng khóan tăng lên, đó là việc những người giầu này làm tăng sự giầu có của họ do thuế Dân đóng vào, chứ không phải là tạo công ăn việc làm cho chính người Dân nghèo đóng thuế. 

Đối với những Xí nghiệp sản xuất, Ngân Hàng Trung ương hạ lãi suất, rồi Dân đóng thuế cho những Chi tiêu khổng lồ trong những Chương trình STIMULUS, cố ý tăng Sản xuất của những Xí nghiệp và do đó tạo công ăn việc làm. Nhưng tại sao THẤT NGHIỆP càng tăng? Có ba cách cắt nghĩa:

=> Các Xí nghiệp đang trong thời kỳ thế thủ với cuộc khủng hỏang hiện nay. Họ xử dụng vốn rẻ để củng cố sự vững chắc cho Xí nghiệp họ hơn là tăng sản xuất để có thể đi vào phiêu lưu trong thời gian bấp bênh tới chưa lường được.

=> Việc sản xuất tùy thuộc hai yếu tố  Q = f (K, L,t). Q là lượng sản xuất, K là xử dụng Vốn, L là xử dụng Nhân lực. K tượng trưng cho những phương tiện sản xuất Kỹ thuật, Máy móc. Các Xí nghiệp nếu có tăng lượng sản xuất Q, thì họ thiên về việc xử dụng Vốn cho những phương tiện Kỹ thuật, Máy móc hơn là thu nhập thêm Nhân công vốn dĩ mang nhiều phức tạp. Trong thời gian qua, các Xí nghiệp phải chịu tình trạng Kỹ thuật, Máy móc ngưng chạy (thất nghiệp máy móc), nên lúc này họ cho Máy móc chạy lại đúng mức độ để sản xuất hơn là thu nhận thêm Nhân công.

=> Những Xí nghiệp Sản xuất luôn luôn gặp những phức tạp khi phải sa thải nhân công vì các Nghiệp Đòan Thợ thuyền đứng đó để sẵn sàng tranh đấu. Trong hai Yếu tố Sản xuất chính K (Vốn), L (Nhân lực), những Nhà Quản trị Xí nghiệp dễ điều khiển Vốn hơn là Nhân công. Tại những nước tiền tiến, những Nhà Quản trị dễ tìm dịp thay thế Vốn vào chỗ Nhân công. Mỗi mức Tiến triển Khoa học Kỹ thuật là mỗi bước sa thải Nhân lực. “La Technologie chasse les Ouvriers“ (Kỹ thuật đuổi Thợ thuyền). Sa thải Nhân công thì dễ, mà nhận lại mới khó. Vì vậy, cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế này có lẽ là dịp may cho một số Xí nghiệp để có cớ sa thải Nhân công. Tình trạng Thất nghiệp sẽ kéo dài vậy.

Các Chương trình BAILOUTS và STIMULUS là do thuế của Dân đóng vào, trong đó có cả những người THẤT NGHIỆP, chứ không phải chỉ nguyên những Ngân hàng gia hay những Tỉ phú chơi Chứng khóan. Người Dân đóng thuế là mong những Chương trình BAILOUTS và STIMULUS lo cho Dân có công ăn việc làm. Khi THẤT NGHIỆP vẫn tăng, thì đó có nghĩa là các Chương trình BAILOUTS và STIMULUS chưa đạt được mục đích mà chính Dân đóng thuế mong ước.

Không thể chỉ lấy nguyên Chỉ số Chứng khóan để nói rằng Khủng hỏang chấm dứt. Phải theo Chỉ số THẤT NGHIỆP mà nói rằng Khủng hỏang đã chấm dứt hay chưa.


TT. OBAMA tuyên bố lo sợ cho
Cuộc Tái Khủng Hỏang Kinh tế


Nhật báo Pháp LE FIGARO, Thứ Năm ngày 19.11.2009, viết như sau: “L’économie américaine n’est pas à l’abri d’une rechute dans la récession. Sur le chemin de retour de son voyage de huit jours en Asie, Barack Obama a confíé à la chaine de télévision Fox News que “si l’on continue d’alourdir la dette (publique), les gens pourraient perdre confiance dans l’économie américaine, conduisant à la rechute dans la récession“ (double dip, soit une double récession figurée par un W). (Kinh tế Mỹ khó tránh khỏi việc tái khủng hỏang. Trên đường về sau khi Á du 8 ngày, Barack Obama đã nói với hệ thống Truyền hình Fox News  rằng “nếu tiếp tục làm trầm trọng thêm nợ nần ngân sách, người ta có thể mất tin tưởng vào kinh tế Mỹ, dẫn đến tái khủng hỏang (hai lần khủng hỏang theo chữ W).

Trên đường từ Á du về, nhất là sau khi gặp thượng đỉnh với Hồ Cẩm Đào mà không có kết quả nào cụ thể như việc chính yếu là yêu cầu Trung quốc nâng Tỷ số Hối đóai mà không những Mỹ mà và những Quốc gia Á châu khác muốn chính Obama làm áp lực với Hồ Cẩm Đào để tu chỉnh. Không đạt được kết quả, Mỹ còn bị chính Trung quốc công kích mạnh về những Biện pháp Che Chở Mậu dịch (Protectionism).

Tại chính nước Mỹ, dân chúng càng ngày càng mất tin tưởng vào chính những biện pháp cứu nguy Kinh tế của Obama. Dân chúng lo sợ tình trạng nợ nần ngân sách đã đạt tới USD.1'200 tỉ. Chính Thống đốc Ben BERNANKE cũng bắt đầu hòai nghi cho sự phục hồi Kinh tế và đã quyết định chậm lại việc tăng lãi suất chỉ đạo.

 châu cũng bắt đầu thấy Barack Obama nói lý thuyết trôi chảy, nhưng chưa có thực hiện cụ thể nào. Những điều làm cho Aâu châu bất bình là:

=> Barack Obama chần chừ không dứt khóat quyết định đối với Afghanistan
=> Barack Obama nói hăng hái về vụ CO2, nhưng bây giờ như thối lui. Lula (Brésil) và Sarkozy (Pháp) tỏ ra rất bất bình về vụ này.
=> Barack Obama đã quá nịnh Trung quốc và tuyên bố như hai nước Mỹ-Trung quốc lập G2 lãnh đạo những vấn đề Thế giới, trong khi ấy coi nhẹ Liên Aâu và G8, nhất là G20.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 07.10.2009, cập nhật 19.11.2009






CÁC NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC
BÊN BỜ SỤP ĐỔ

Các ngân hàng Trung Quốc đang bên bờ của sự sụp đổ"
Nguồn tin: Theo Tạp chí Manager


Nền kinh tế Trung Quốc có đang đứng trước một cuộc khủng hoảng lớn? Hay sự bùng nổ - vừa khớp với các lễ hội ăn mừng 60 năm quốc khánh nước cộng hòa nhân dân - sẽ tiếp tục? Nhà nghiên cứu tương lai người Mỹ George Friedman đã có câu trả lời khá rõ ràng.

Người đứng đầu công ty thông tin tư nhân Stratfor, trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí manager (mm.de) đã khẳng định: cuộc khủng hoảng tiếp theo của châu Á đang dần lớn lên.
 
George Friedman là người sáng lập và lãnh đạo công ty thông tin tư nhân Stratfor. Ông đã viết nhiều sách và bài báo về các chủ đề chính sách an ninh, truyền thông và công nghệ. Tác phẩm mới nhất là cuốn "The Next 100 Years: A Forecast for the 21st Century".
 
mm.de: Thưa ông Friedman, trong số mới của tạp chí manager (số 10/2009) đề cập tới hiện tượng phát triển quá nóng của nền kinh tế Trung Quốc, mang đầy đủ các biểu hiện của một bong bóng. Vẫn còn có nhiều doanh nhân và kinh tế gia phương Tây đặt nhiều hy vọng vào sự năng động của Trung Quốc, có phải vậy không?

Friedman: Tốt hơn là không nên vậy - tốc độ tăng trưởng không nói lên được nhiều về hiện trạng của một nền kinh tế.

mm.de: Vậy thì nền kinh tế Trung Quốc (TQ) đang như thế nào?

Friedman: Đứng trên đôi chân đất sét. Các doanh nghiệp chủ yếu do các ngân hàng tài trợ. Bởi vậy họ không lưu tâm lắm đến kiếm lời thông qua tạo nguồn thu để trả nợ. Thay vì vậy, họ cố bán càng nhanh càng nhiều. Rất thành công - như các con số đề thặng dư xuất khẩu đã chỉ ra.

mm.de: Điều đó có gì tệ đâu?

Friedman: Ở TQ không có cơ chế thị trường để phân bổ vốn. Người TQ chỉ có thể gửi tiền vào các ngân hàng nhà nước với lãi suất thấp. Các ngân hàng này lại cho các doanh nghiệp quốc doanh hoặc chịu ảnh hưởng của nhà nước vay lại - nặng về quan hệ và ý chí hơn là quan tâm tới lợi nhuận.

mm.de: Đó không phải là kinh tế thị trường thuần túy. Nhưng mà cho tới giờ hệ thống đó vẫn hoạt động thành công...

Friedman: Chỉ khi nào các doanh nghiệp còn phát triển. Nếu tăng trưởng giảm sút - như bây giờ qua khủng hoảng của các nước mua hàng - sẽ xuất xảy ra tình trạng vỡ nợ hàng loạt. Hệ thống tài chính sẽ sụp đổ một cách chậm chạp, nhưng chắc chắn - giống như trong cuộc khủng hoảng chấu Á lần thứ nhất ở Nhật Bản. Khi đó, tỷ lệ tín dụng so với tổng thu nội địa ở mức 17% đã bị coi là xấu. Hiện tại ở TQ tỷ lệ này là 30 tới 40 phần trăm. Giống như Nhật Bản ở vận tốc lớn hơn.

mm.de: Nhưng TQ có các nguồn lực khổng lồ - chỉ riêng dự trữ ngoại tệ đã hơn 2000 tỷ đô la, phần lớn là các trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ. Tại sao nền kinh tế đó không hấp thu được các khoản vỡ nợ?

Friedman: Dự trữ đô la lớn là một dấu hiệu rất xấu. Nó có nghĩa là trong nước không có cơ hội đầu tư thích đáng cho các khoản tiền. Thay vì đầu tư ở TQ người TQ lại thích đầu tư và các hầm mỏ ở châu Phi hay Cục Dự trữ Hoa Kỳ..

mm.de: Vậy thì tại sao các doanh nghiệp châu Âu và Hoa kỳ lại nóng lòng đầu tư vào TQ?

Friedman: Bởi họ đánh hơi thấy các cơ hội thị trường khổng lồ. Họ nhìn thấy số dân tới 1 tỷ 3 con người. Họ thấy những tỷ phú ở các thành phố duyên hải đang sắm xe Mercedes và Maserati cho mình.

mm.de: Điều đó có vẻ rất lạc quan?

Friedman: Họ không để ý thấy có hơn 1 tỷ người TQ chỉ kiếm được chưa đầy 2000 đô la. Mức thu nhập này nằm ở mức của Châu phi khu vực xích đạo. Hoàn cảnh của những con người này cần phải cải thiện nếu không sẽ xuất hiện các bất ổn xã hội, điều mà các nhà đầu tư ngoại quốc luôn né tránh.

mm.de: 30 năm qua tình hình TQ đã cải thiện liên tục. Tại sao điều đó không tiếp tục trong thời gian tới?

Friedman: Để làm dịu tình hình nghèo khổ, TQ phải tiếp tục tăng trưởng. Các doanh nghiệp khém hiệu quả hiện đang được duy trì giả tạo bằng các hợp đồng và nhiều khoản vay của nhà nước hơn thông qua chương trình kích thích. Tuy vậy toàn bộ số tiền mà TQ kiếm được nhờ những năm bùng nổ xuất khẩu cũng không đủ để kéo dài việc ổn định hệ thống.

mm.de: Liệu có con đường nào khác không?

Friedman: Tôi e rằng không. Tự TQ không kiểm soát được nền kinh tế của mình. Sự thần kỳ trong phát triển của vùng duyên hải không hơn gì sự bành trướng của Wal-Mart. Công nghiệp TQ không có khách hàng ở ngay nội địa vì ở đó con người sống theo kiểu tự cung tự cấp. Kinh tế TQ sống nhờ khách hàng ở Mỹ và châu Âu. Và các quốc gia này cũng quyết định liệu TQ có phát triển tiếp hay không - và có vẻ không phải là như vậy.

mm.de: Chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng của châu Á?

Friedman: Chúng ta đã sa vào cuộc khủng hoảng lần 3 của châu Á. Các doanh nghiệp TQ nợ quá nhiều rồi. Các ngân hàng đang đứng bên bờ sụp đổ.

mm.de: Ngài có nói quá không? Các chỉ số của các ngân hàng TQ xem ra có vẻ chắc chắn hơn các ngân hàng phương Tây.

Friedman: Ồ không, các báo cáo không nói hết sự thật. Nhà nước đã đảm nhận các khoản nợ xấu và chia cho các Công ty quản lý tài sản.  Và các công ty này đã tồn tại từ lâu. Thêm tăng trưởng không có lợi nhuận chẳng đưa đến đâu cả - nó chỉ thổi phồng cái bong bóng TQ thêm mà thôi.

Lê Đông Phương (lược dịch)
 

 







KINH TẾ ẤN ĐỘ SẼ VƯỢT TRUNG QUỐC

Kinh tế Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc?
Paranjoy Guha Thakurta
Nhà phân tích kinh tế Ấn Độ

 

World Bank nói các nước đang phát triển đóng vai trò phục hồi kinh tế toàn cầu

Con voi ì ạch có thể vượt qua con rồng năng động hay không? Điều được coi là không thể xảy ra trong nhiều thập niên, nếu không muốn nói là hơn nửa thế kỷ thực sự có thể sớm xảy ra, và có lẽ sẽ diễn ra vào năm tới.

Trong năm 2010, nền kinh tế Ấn Độ có thể tăng trưởng nhanh hơn Trung Quốc.

Các chuyên gia cho rằng Nam Á thậm chí có thể có kinh tế tăng tốc nhanh hơn khu vực Đông Á.

Trong khi không hiếm người tin rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế lớn khác trên toàn cầu trong tương lai gần, lại có những người khác cho rằng sẽ có thể có thay đổi trong xu hướng tốc độ tăng trưởng của hai quốc gia đông dân nhất và rằng Ấn Độ có thể nhích hơn Trung Quốc một chút.

Nền kinh tế của Ấn Độ bắt đầu tăng tốc từ những năm 1990 trở đi khi Delhi nới lỏng kiểm soát trong ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Trung Quốc và Ấn Độ, chiếm khoảng 40% trong tổng số 6.5 tỷ dân trên hành tinh, không chỉ đơn thuần là hai đang phát triển nền kinh tế nhanh nhất trên thế giới hiện nay mà còn nằm trong số vài quốc gia tăng trưởng dương trong khi hầu hết các nước bị tăng trưởng âm.

Vào đầu thập niên 1950, xét về thu nhập bình quân đầu người và mức độ phát triển kinh tế, Trung Quốc và Ấn Độ không khác nhau là bao. Một nửa số dân của cả hai nước đều trong cảnh nghèo đói, trong trường hợp của Ấn Độ là vì nhiều thế kỷ bị đô hộ.

Từ những năm 1970, nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh, trong khi Ấn Độ đã tăng trưởng ở mức chậm 3,5%.

Khi Trung Quốc tăng trưởng ở mức hai chữ số trong gần 40 năm, giới kinh tế gia cho rằng thế nào cũng sẽ bị hiện tượng “nổ bong bóng”. Tuy nhiên con rồng Bắc Kinh cứ lớn mạnh theo năm tháng bất chấp mọi sự mong đợi và dự đoán.

Nền kinh tế của Ấn Độ bắt đầu tăng tốc từ những năm 1990 trở đi khi Delhi nới lỏng kiểm soát trong ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

World Bank dự kiến kinh tế Ấn độ tăng trưởng 8% trong năm 2010

Vào giữa những năm 1990, lần đầu tiên kể từ khi Ấn Độ giành độc lập vào tháng 8 năm 1947, nền kinh tế của họ tăng trưởng trung bình hàng năm hơn 9% trong bốn năm liên tục, và chỉ giảm tốc khi kinh tế thế giới suy thoái.
Các nhà kinh tế cho rằng một trong những lý do khiến kinh tế của Ấn Độ phát triển nhanh hơn của Trung Quốc trong tương lai gần chỉ đơn giản là là dựa vào sự khác biệt về cơ cấu trong nền kinh tế giữa hai nước..

Nền kinh tế của Trung Quốc có kích cỡ gấp 3.5 lần kinh tế Ấn độ.

GDP của Trung Quốc trong năm 2008 là 4.2 ngàn tỷ USD và GDP của Ấn độ là 1.2 tỷ USD.

Có một lý do quan trọng khiến nền kinh tế Ấn Độ bị thiệt hại tương đối ít hơn do suy thoái kinh tế thế giới so với Trung Quốc, nước có sự tăng trưởng chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong nhiều thập niên qua.

Xuất khẩu và nhập khẩu tính gộp chiếm khoảng phân nửa GDP của Ấn Độ trong khi đó tỷ lệ này của Trung Quốc là trên 80%.

Sửa dự báo

Cách đây hai năm, Trung Quốc vượt qua Mỹ như là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ.

Theo dự kiến kinh tế Đông Á sẽ tăng trưởng chậm hơn Nam Á

Cuối tháng Sáu, Ngân hàng Thế giới trong báo cáo Phát triển Tài chính Toàn cầu 2009 dự kiến trong năm 2010, tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế của Ấn Độ đạt 8% trong khi theo dự kiến Trung Quốc sẽ tăng trưởng kinh tế ở mức 7,7%.

Trong năm 2009 Ngân hàng Thế giới sửa lại dự báo cho cả Trung Quốc (từ 6,5% đến 7,2%) và Ấn Độ (từ 4% đến 5,1%), là mức thấp hơn dự báo từ chính phủ hai nước.

Chính phủ Trung Quốc nói sẽ có mức tăng trưởng gần 8% cho năm 2009, trong khi các cơ quan khác nhau của chính phủ Ấn Độ nói kinh tế của họ tăng trong khoảng giữa 6,5% và 7%.

Báo cáo Ngân hàng Thế giới nói:"Khi không gộp cả Trung Quốc và Ấn Độ vào thì tổng GDP tại các nước đang phát triển sẽ giảm 1,6%, tức là sẽ có thêm người thất nghiệp và nghèo đói”.

Justin Lin, kinh tế gia trưởng của ngân hàng, được trích dẫn khi nói rằng các nước đang phát triển “trở thành một động lực quan trọng" trong phục hồi nền kinh tế của thế giới với điều kiện “đầu tư nội địa tiếp tục tăng với sự hỗ trợ quốc tế bao gồm tái tục các nguồn tín dụng từ quốc tế".

Ông Lin không phải là người duy nhất có quan điểm này. Phát biểu tại một hội thảo gần đây ở Delhi, Ajay Chibber, Trợ lý Tổng thư ký của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, cho biết cho đến gần đây người ta vẫn không thể tưởng tượng rằng Ấn Độ có thể có mức tăng trưởng nhanh hơn Trung Quốc.

"Tôi chưa bao giờ nghĩ tôi sẽ chứng kiến trong đời tôi ngày mà Nam Á có thể tăng trưởng nhanh hơn so với khu vực Đông Á", ông nhận xét.

Kalpana Kochhar, Phó Giám đốc bộ phận Châu Á Thái Bình Dương của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, nói với tôi rằng hoàn toàn có thể xảy ra khả năng Ấn Độ có thể tăng trưởng nhanh hơn so với Trung Quốc hay Nam Á sẽ tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn Đông và Đông Nam Á.
Bà nói: "Tôi thấy có nhiều khả năng xảy ra điều này”.

 











ASEAN CÀNG NGÀY CÀNG NGHI NGỜ TQ

 (Tổng hợp từ nguyệt san Bình luận phòng vệ Hán Hòa, “Bình luận Trung Quốc” số tháng 9/2009, tờ Đại công báo và Đông phương Nhật báo của Hồng Kông số ra gần đây)


Thời gian gần đây, việc quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan có xu thế hòa hoãn cũng như thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông (biển Nam Trung Hoa) đã dẫn đến sự nghi ngờ phổ biến và ngày càng gia tăng của các nước ASEAN đối với Trung Quốc. Hơn thế, mối nghi ngờ này có chiều hướng được công khai hóa, thậm chí dẫn đến sự chuẩn bị cao độ trên phương diện quân sự của một số nước ASEAN hữu quan.

1 – Biểu hiện cụ thể

Hồi tháng 4/2009, tại Lễ duyệt binh trên biển của lực lượng Hải quân Trung Quốc, trong số các nước ASEAN, ngoài Xinhgapo, đã không có nước nào điều động tàu hải quân đến tham dự. Các nhà phân tích quốc tế cho rằng đây là một bằng chứng chứng minh cho sự nghi ngờ và cảnh giác của các nước ASEAN đối với Trung Quốc. Còn Hải quân Xinhgapo sở dĩ điều động tàu hải quân tham gia Lễ duyệt binh này của Trung quốc, chủ yếu là do trước đây, trong thời gian diễn ra “Triển lãm và Hội thảo Hải quân quốc tế lần thứ 2” (IMDEX) tại Xinhgapo, Trung Quốc đã điều động tàu hải quân đến thăm Xinhgapo.

Bên cạnh đó, tình trạng các nước ASEAN không mua sắm trang bị vũ khí quân sự của Trung Quốc đã bộc lộ rõ. Trong những năm gần đây, Trung Quốc ngoài “viện trợ” vũ khí cho Chính quyền quân sự Mianma, không bán được cho các nước ASEAN bất kỳ một loại trang bị vũ khí nào. Ngoài ra, gần đây còn xuất hiện động thái các nước ASEAN tiến hành liên kết cùng đối phó với Trung Quốc, hoặc dựa vào phương Tây để cân bằng với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền tại khu vực Biển Đông. Việt Nam và Malaixia là điển hình của phương thức này.

2 – Lý do khiến ASEAN nghi ngờ Trung Quốc

Trung Quốc tiến hành các hoạt động quân sự quy mô lớn tại khu vực Biển Đông, như xây dựng mở rộng căn cứ hải quân quy mô lớn cho tàu ngầm hạt nhân và tàu mặt nước (thậm chí cả tàu sân bay trong tương lai) tại đảo Hải Nam; bố trí tàu đổ bộ cỡ lớn “071” tại Biển Đông; tiến hành các cuộc diễn tập quân sự liên hợp trên biển quy mô lớn, v.v. Vấn đề khiến các nước ASEAN lo ngại là ý đồ của Trung Quốc trong việc xây dựng căn cứ lớn cho tàu ngầm hạt nhân và tàu mặt nước tại đảo Hải Nam cũng như ý đồ của Trung Quốc bố trí tàu đổ bộ cỡ lớn “071” tại Biển Đông. Rõ ràng, nhìn từ góc độ các nước ASEAN, hành động này của Trung Quốc đã chứng minh: Trung Quốc bắt đầu đi theo phương hướng chuẩn bị quân sự cụ thể cho biện pháp giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

Thái độ Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển Đông tỏ ra cứng rắn hơn cũng như Trung Quốc có động thái bố trí nhiều hơn tàu ngầm thông thường và tàu ngầm hạt nhân tại căn cứ ở đảo Hải Nam. Quan chức Hải quân Trung Quốc từng tuyên bố có đủ năng lực bảo vệ Biển Đông, thậm chí hô hào Trung Quốc cần “tiên lễ hậu binh” (ngoại giao trước, quân sự sau) trước các hành động gọi bằng “khiêu khích” Trung Quốc của các nước xung quanh Biển Đông. Điều này khiến giới quân sự ASEAN lo ngại không hiểu quan chức hải quân Trung Quốc tuyên bố có đủ năng lực bảo vệ biển Nam Trung Hoa là có ý gì.

Hải quân Trung Quốc đưa ra khái niệm “biên giới lợi ích” và tuyên bố “biên giới lợi ích” của Trung Quốc tới đâu, sứ mệnh của hải quân cần bảo vệ tới đó. Hầu hết các nước ASEAN cho rằng nếu nói “biên giới lợi ích”, các nước đều có, không chỉ mình Trung Quốc có “biên giới lợi ích”. Tuy nhiên, điều khiến các nước ASEAN càng nghi ngờ Trung Quốc hơn là không hiểu rốt cuộc Trung Quốc sẽ bảo vệ cái gọi là “biên giới lợi ích” như thế nào. Giới quân sự các nước ASEAN bày tỏ cách nói “biên giới lợi ích” của Trung Quốc là không thuận, không phù hợp cũng như không có luật quốc tế làm căn cứ. Trong khi đó, phía Trung Quốc đưa ra giải thích chung chung: “biên giới lợi ích” mà Trung Quốc đề cập là xuất phát từ nguyên tắc công bằng, bảo đảm chắc chắn phân chia khu vực trách nhiệm chống cướp biển.

Trung Quốc thừa nhận đang nghiên cứu đóng tàu sân bay, tuy nhiên Trung Quốc chưa từng công khai tiến trình và kết quả cụ thể, khiến mối nghi ngờ của các nước ASEAN đối với Trung Quốc ngày càng tăng. Phía Trung Quốc cho biết hiện nay, nước này đang trong quá trình nghiên cứu đóng tàu sân bay, đợi đến khi có kết quả cụ thể sẽ công bố công khai. Ngoài ra, Trung Quốc luôn nhấn mạnh hải dương hài hòa, nhưng gần đây lại có những hành động ngăn chặn tàu của Mỹ thực hiện nhiệm vụ khảo sát, thăm dò ở vùng biển quốc tế thuộc khu vực Biển Đông. Điều này cho thấy “hình tượng quốc tế” của Trung Quốc đang có vấn đề. “Sách Trắng quốc phòng” mà Ôxtrâylia công bố gần đây đã nêu rõ cần cảnh giác cao độ với thái độ của Trung Quốc.

Quan hệ hai bờ Eo biển Đài Loan có xu thế hòa hoãn, Trung Quốc có điều kiện tập trung sức mạnh quân sự tại Biển Đông, điều này đã dẫn đến sự nghi ngờ phổ biến của các nước ASEAN đối với Trung Quốc và mối nghi ngờ này dường như đã công khai hóa.

3 – Hệ quả

Các nước ASEAN liên kết với nhau, thậm chí dựa vào cường quốc phương Tây đối phó với Trung Quốc. Ví như hồi cuối tháng Tư đầu tháng Năm, trong vấn đề vạch đường ranh giới phân chia khu vực ngoài thềm lục địa 200 hải lý, Việt Nam đã cùng với Malaixia đưa ra phương án phân chia chung tại Biển Đông. Đa số các nước ASEAN không chỉ bắt đầu nghi ngờ Trung Quốc trong vấn đề “biên giới lợi ích”, mà còn đưa ra vấn đề trước hiện tượng gần đây hải quân Trung Quốc liên tiếp bày tỏ thái độ cứng rắn trong vấn đề biển Nam Trung Hoa. Tư lệnh hải quân Malaixia từng công khai nhấn mạnh nếu như những tàu ngư chính của Trung Quốc xâm nhập vùng biển Malaixia, Hải quân Malaixia có quyền xua đuổi.

Những hành động của Trung Quốc đã gây ra phản ứng chính trị ở tầng nấc tối cao. Hồi đầu tháng 3/2009, đích thân Thủ tướng Malaixia Abdullah Badawi tới thăm đảo Layang (đảo Hoa Lau) thuộc quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa), hòn đảo mà Trung Quốc cho rằng còn tồn tại tranh cãi chủ quyền. Tiếp sau đó, Tổng thống Philippin Gloria Arroyo đã ký “Dự luật đường lãnh hải cơ sở”. Việt Nam bổ nhiệm quan chức hành chính quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, v.v. Rõ ràng cấp phản ứng chính trị của các nước ASEAN đối với Trung Quốc ngày càng nâng cao, thậm chí lên đến cấp cao nhất.

Nỗ lực xuất khẩu kỹ thuật, trang bị vũ khí sang thị trường các nước ASEAN là bằng không. Tại IMDEX – 2007, công ty tàu thuyền Trung Quốc đã tham gia triển lãm, giới thiệu với Thái Lan và Malaixia tàu đổ bộ cỡ lớn “071”. Còn IMDEX – 2009 (từ ngày 12 – 14/5/2009, tại Xinhgapo), không có công ty tàu thuyền nào của Trung Quốc tham dự triển lãm vì cho rằng không có hiệu quả. Hải quân Malaixia đã tuyên bố rõ ràng với Trung Quốc: Hải quân Malaixia đang xem xét mua tàu đổ bộ của nước khác ngoài Trung Quốc. Hãng DAMEN của Hà Lan thừa nhận đã hai năm liền giới thiệu bán cho Malaixia tàu đổ bộ ENFORCER 13.000 tấn. Ngoài ra, quan chức phụ trách thị trường của Công ty ThyssenKrupp (Đức) xác nhận Malaixia đang nhờ ThyssenKrupp tư vấn mua tàu đổ bộ cỡ lớn MHD – 200 trọng tải từ 17.000 – 20.000 tấn. Tính đến nay, trang bị quân sự mà Trung Quốc giới thiệu bán cho Malaixia, chưa có thương vụ nào thành công. Chứng tỏ Malaixia đã đưa ra phương châm mua sắm vũ khí cơ bản: không trực tiếp nhập khẩu vũ khí từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, nỗ lực của Trung Quốc tham gia đầu thầu đóng tàu đổ bộ cho Hải quân Thái Lan cũng không có kết quả. Tháng 11/2008, Hải quân Thái Lan đã cùng với hãng ST Marine của Xinhgapo chính thức ký kết hợp đồng trị giá 200 triệu USD. Theo đó, Thái Lan sẽ nhập khẩu 1 tàu LPD lớp 8.000 tấn, 2 tàu LCM Mic-23, 2 tàu LCVP Mic 13 của Xinhgapo. Quan chức phụ trách chương trình thị trường của ST Marine cho biết tháng 7/2009, ST Marine đã bắt đầu đóng thân tàu LDP, năm 2012 sẽ giao hàng cho Hải quân Thái Lan. Nguồn tin từ Hải quân Thái Lan cho biết hiện Thái Lan không lựa chọn mua tàu đổ bộ cỡ lớn “071” của Trung Quốc là do kết quả đấu thầu. Nhưng trên thực tế, vấn đề mua sắm tàu thuyền do Trung Quốc sản xuất là vấn đề gây tranh cãi nhất ở Thái Lan. Bởi vì hai tàu hộ vệ tên lửa 3.000 tấn Thái Lan mua của Trung Quốc trước đây, hiện nay hệ thống rađa và hệ thống điện liên tiếp bị trục trặc, hơn thế sửa chữa mất rất nhiều thời gian. Hải quân Thái Lan dự tính trong điều kiện có kinh phí, sẽ mua hệ thống Atlas Elektronik của Đức để thay thế cho hệ thống điện trên tàu mua của Trung Quốc. Ngoài ra, hệ thống trợ đáp của hai máy bay trực thăng OPV mà Thái Lan mua của Trung Quốc gần đây nhất, trên phương diện chỉnh thăng bằng cũng nhiều lần xuất hiện vấn đề.

Các nước ASEAN nhấn mạnh năng lực tác chiến chống ngầm trong xây dựng lực lượng hải quân và không quân. Cụ thể, tại khu vực Biển Đông, các nước ASEAN phổ biến lấy nâng cao năng lực tác chiến chống ngầm làm đối sách cụ thể ưu tiên phát triển hải quân. Trong năm nay, Malaixia sẽ tiếp nhận chiếc tàu ngầm chạy đầu Scorpenne đầu tiên do Pháp sản xuất và Hải quân Malaixia sẽ phân chia thành hai khu vực tác chiến chống ngầm. Việt Nam chuẩn bị nhập khẩu tàu ngầm KILO – 636M của Nga. Báo chí Nga đưa tin Việt Nam đặt mua của Nga 6 tàu ngầm lớp KILO-636, tổng trị giá lên đến 1,8 tỷ USD, đồng thời còn theo đuổi dự án mua 8 máy bay chiến đấu đa năng Su30MK2 của Nga, tổng giá trị là 500 triệu USD. Báo chí Nga còn cho biết hồi tháng 1/2009, hai bên đã ký kết hợp đồng, nhưng thông tin này hiện nay vẫn chưa được Chính phủ Việt Nam và Nga thừa nhận. Việt Nam nêu rõ cần có tàu ngầm để bảo vệ lãnh hải của Việt Nam. Giới công nghiệp quân sự của Nga tại Xinhgapo xác nhận thị trường tàu ngầm của Việt Nam là mở cửa đối với Nga.

Cùng với xu thế quyết liệt hóa trong vấn đề tranh chấp các đảo bãi trên Biển Đông, các nước ASEAN đang phổ biến trang bị tàu đổ bộ cỡ lớn. Hải quân Inđônêxia bắt đầu tự thiết kế tàu đổ bộ mang theo máy bay trực thăng cỡ lớn 35.000 tấn. Ngoài ra, Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào tranh chấp tại Biển Đông. Cuộc diễn tập liên hợp trên biển hàng năm mang tên “Carat” giữa Mỹ với một số nước xung quanh Biển Đông, quy mô ngày càng lớn, màu sắc nhằm vào “một nước lớn nào đó” của “Carats” cũng rõ ràng hơn. Chưa hết, gần đây “Sách trắng quốc phòng” của Ôxtrâylia bày tỏ rõ Biển Đông là tuyến đường an ninh trên biển mà Ôxtrâylia quan tâm.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: ASEAN, Hải quân |

Nguồn: anhbasam on 06/10/2009
http://bauxitevietn am.info/c/ 12691.html



















THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM
TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC  

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
UNICODE: http://viettudan.net
Geneva, 24.09.2009



Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?

Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.

Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại  Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ  giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.


Việt Nam con nợ của Tầu

Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.

CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.

Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.


Tầu là chủ nợ cho Việt Nam

Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.

Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:
=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.
=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.
=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.


Tương quan Chủ nợ—Con nợ

Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 
****************************************************************************************************



KINH TẾ ẤN ĐỘ SẼ VƯỢT TRUNG QUỐC

Kinh tế Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc?
Paranjoy Guha Thakurta
Nhà phân tích kinh tế Ấn Độ

 

World Bank nói các nước đang phát triển đóng vai trò phục hồi kinh tế toàn cầu

Con voi ì ạch có thể vượt qua con rồng năng động hay không? Điều được coi là không thể xảy ra trong nhiều thập niên, nếu không muốn nói là hơn nửa thế kỷ thực sự có thể sớm xảy ra, và có lẽ sẽ diễn ra vào năm tới.

Trong năm 2010, nền kinh tế Ấn Độ có thể tăng trưởng nhanh hơn Trung Quốc.

Các chuyên gia cho rằng Nam Á thậm chí có thể có kinh tế tăng tốc nhanh hơn khu vực Đông Á.

Trong khi không hiếm người tin rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế lớn khác trên toàn cầu trong tương lai gần, lại có những người khác cho rằng sẽ có thể có thay đổi trong xu hướng tốc độ tăng trưởng của hai quốc gia đông dân nhất và rằng Ấn Độ có thể nhích hơn Trung Quốc một chút.

Nền kinh tế của Ấn Độ bắt đầu tăng tốc từ những năm 1990 trở đi khi Delhi nới lỏng kiểm soát trong ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Trung Quốc và Ấn Độ, chiếm khoảng 40% trong tổng số 6.5 tỷ dân trên hành tinh, không chỉ đơn thuần là hai đang phát triển nền kinh tế nhanh nhất trên thế giới hiện nay mà còn nằm trong số vài quốc gia tăng trưởng dương trong khi hầu hết các nước bị tăng trưởng âm.

Vào đầu thập niên 1950, xét về thu nhập bình quân đầu người và mức độ phát triển kinh tế, Trung Quốc và Ấn Độ không khác nhau là bao. Một nửa số dân của cả hai nước đều trong cảnh nghèo đói, trong trường hợp của Ấn Độ là vì nhiều thế kỷ bị đô hộ.

Từ những năm 1970, nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh, trong khi Ấn Độ đã tăng trưởng ở mức chậm 3,5%.

Khi Trung Quốc tăng trưởng ở mức hai chữ số trong gần 40 năm, giới kinh tế gia cho rằng thế nào cũng sẽ bị hiện tượng “nổ bong bóng”. Tuy nhiên con rồng Bắc Kinh cứ lớn mạnh theo năm tháng bất chấp mọi sự mong đợi và dự đoán.

Nền kinh tế của Ấn Độ bắt đầu tăng tốc từ những năm 1990 trở đi khi Delhi nới lỏng kiểm soát trong ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

World Bank dự kiến kinh tế Ấn độ tăng trưởng 8% trong năm 2010

Vào giữa những năm 1990, lần đầu tiên kể từ khi Ấn Độ giành độc lập vào tháng 8 năm 1947, nền kinh tế của họ tăng trưởng trung bình hàng năm hơn 9% trong bốn năm liên tục, và chỉ giảm tốc khi kinh tế thế giới suy thoái.
Các nhà kinh tế cho rằng một trong những lý do khiến kinh tế của Ấn Độ phát triển nhanh hơn của Trung Quốc trong tương lai gần chỉ đơn giản là là dựa vào sự khác biệt về cơ cấu trong nền kinh tế giữa hai nước..

Nền kinh tế của Trung Quốc có kích cỡ gấp 3.5 lần kinh tế Ấn độ.

GDP của Trung Quốc trong năm 2008 là 4.2 ngàn tỷ USD và GDP của Ấn độ là 1.2 tỷ USD.

Có một lý do quan trọng khiến nền kinh tế Ấn Độ bị thiệt hại tương đối ít hơn do suy thoái kinh tế thế giới so với Trung Quốc, nước có sự tăng trưởng chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong nhiều thập niên qua.

Xuất khẩu và nhập khẩu tính gộp chiếm khoảng phân nửa GDP của Ấn Độ trong khi đó tỷ lệ này của Trung Quốc là trên 80%.

Sửa dự báo

Cách đây hai năm, Trung Quốc vượt qua Mỹ như là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ.

Theo dự kiến kinh tế Đông Á sẽ tăng trưởng chậm hơn Nam Á

Cuối tháng Sáu, Ngân hàng Thế giới trong báo cáo Phát triển Tài chính Toàn cầu 2009 dự kiến trong năm 2010, tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế của Ấn Độ đạt 8% trong khi theo dự kiến Trung Quốc sẽ tăng trưởng kinh tế ở mức 7,7%.

Trong năm 2009 Ngân hàng Thế giới sửa lại dự báo cho cả Trung Quốc (từ 6,5% đến 7,2%) và Ấn Độ (từ 4% đến 5,1%), là mức thấp hơn dự báo từ chính phủ hai nước.

Chính phủ Trung Quốc nói sẽ có mức tăng trưởng gần 8% cho năm 2009, trong khi các cơ quan khác nhau của chính phủ Ấn Độ nói kinh tế của họ tăng trong khoảng giữa 6,5% và 7%.

Báo cáo Ngân hàng Thế giới nói:"Khi không gộp cả Trung Quốc và Ấn Độ vào thì tổng GDP tại các nước đang phát triển sẽ giảm 1,6%, tức là sẽ có thêm người thất nghiệp và nghèo đói”.

Justin Lin, kinh tế gia trưởng của ngân hàng, được trích dẫn khi nói rằng các nước đang phát triển “trở thành một động lực quan trọng" trong phục hồi nền kinh tế của thế giới với điều kiện “đầu tư nội địa tiếp tục tăng với sự hỗ trợ quốc tế bao gồm tái tục các nguồn tín dụng từ quốc tế".

Ông Lin không phải là người duy nhất có quan điểm này. Phát biểu tại một hội thảo gần đây ở Delhi, Ajay Chibber, Trợ lý Tổng thư ký của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, cho biết cho đến gần đây người ta vẫn không thể tưởng tượng rằng Ấn Độ có thể có mức tăng trưởng nhanh hơn Trung Quốc.

"Tôi chưa bao giờ nghĩ tôi sẽ chứng kiến trong đời tôi ngày mà Nam Á có thể tăng trưởng nhanh hơn so với khu vực Đông Á", ông nhận xét.

Kalpana Kochhar, Phó Giám đốc bộ phận Châu Á Thái Bình Dương của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, nói với tôi rằng hoàn toàn có thể xảy ra khả năng Ấn Độ có thể tăng trưởng nhanh hơn so với Trung Quốc hay Nam Á sẽ tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn Đông và Đông Nam Á.
Bà nói: "Tôi thấy có nhiều khả năng xảy ra điều này”.

 










ASEAN CÀNG NGÀY CÀNG NGHI NGỜ TQ

 (Tổng hợp từ nguyệt san Bình luận phòng vệ Hán Hòa, “Bình luận Trung Quốc” số tháng 9/2009, tờ Đại công báo và Đông phương Nhật báo của Hồng Kông số ra gần đây)
Thời gian gần đây, việc quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan có xu thế hòa hoãn cũng như thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông (biển Nam Trung Hoa) đã dẫn đến sự nghi ngờ phổ biến và ngày càng gia tăng của các nước ASEAN đối với Trung Quốc. Hơn thế, mối nghi ngờ này có chiều hướng được công khai hóa, thậm chí dẫn đến sự chuẩn bị cao độ trên phương diện quân sự của một số nước ASEAN hữu quan.

1 – Biểu hiện cụ thể

Hồi tháng 4/2009, tại Lễ duyệt binh trên biển của lực lượng Hải quân Trung Quốc, trong số các nước ASEAN, ngoài Xinhgapo, đã không có nước nào điều động tàu hải quân đến tham dự. Các nhà phân tích quốc tế cho rằng đây là một bằng chứng chứng minh cho sự nghi ngờ và cảnh giác của các nước ASEAN đối với Trung Quốc. Còn Hải quân Xinhgapo sở dĩ điều động tàu hải quân tham gia Lễ duyệt binh này của Trung quốc, chủ yếu là do trước đây, trong thời gian diễn ra “Triển lãm và Hội thảo Hải quân quốc tế lần thứ 2” (IMDEX) tại Xinhgapo, Trung Quốc đã điều động tàu hải quân đến thăm Xinhgapo.

Bên cạnh đó, tình trạng các nước ASEAN không mua sắm trang bị vũ khí quân sự của Trung Quốc đã bộc lộ rõ. Trong những năm gần đây, Trung Quốc ngoài “viện trợ” vũ khí cho Chính quyền quân sự Mianma, không bán được cho các nước ASEAN bất kỳ một loại trang bị vũ khí nào. Ngoài ra, gần đây còn xuất hiện động thái các nước ASEAN tiến hành liên kết cùng đối phó với Trung Quốc, hoặc dựa vào phương Tây để cân bằng với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền tại khu vực Biển Đông. Việt Nam và Malaixia là điển hình của phương thức này.

2 – Lý do khiến ASEAN nghi ngờ Trung Quốc

Trung Quốc tiến hành các hoạt động quân sự quy mô lớn tại khu vực Biển Đông, như xây dựng mở rộng căn cứ hải quân quy mô lớn cho tàu ngầm hạt nhân và tàu mặt nước (thậm chí cả tàu sân bay trong tương lai) tại đảo Hải Nam; bố trí tàu đổ bộ cỡ lớn “071” tại Biển Đông; tiến hành các cuộc diễn tập quân sự liên hợp trên biển quy mô lớn, v.v. Vấn đề khiến các nước ASEAN lo ngại là ý đồ của Trung Quốc trong việc xây dựng căn cứ lớn cho tàu ngầm hạt nhân và tàu mặt nước tại đảo Hải Nam cũng như ý đồ của Trung Quốc bố trí tàu đổ bộ cỡ lớn “071” tại Biển Đông. Rõ ràng, nhìn từ góc độ các nước ASEAN, hành động này của Trung Quốc đã chứng minh: Trung Quốc bắt đầu đi theo phương hướng chuẩn bị quân sự cụ thể cho biện pháp giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

Thái độ Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển Đông tỏ ra cứng rắn hơn cũng như Trung Quốc có động thái bố trí nhiều hơn tàu ngầm thông thường và tàu ngầm hạt nhân tại căn cứ ở đảo Hải Nam. Quan chức Hải quân Trung Quốc từng tuyên bố có đủ năng lực bảo vệ Biển Đông, thậm chí hô hào Trung Quốc cần “tiên lễ hậu binh” (ngoại giao trước, quân sự sau) trước các hành động gọi bằng “khiêu khích” Trung Quốc của các nước xung quanh Biển Đông. Điều này khiến giới quân sự ASEAN lo ngại không hiểu quan chức hải quân Trung Quốc tuyên bố có đủ năng lực bảo vệ biển Nam Trung Hoa là có ý gì.

Hải quân Trung Quốc đưa ra khái niệm “biên giới lợi ích” và tuyên bố “biên giới lợi ích” của Trung Quốc tới đâu, sứ mệnh của hải quân cần bảo vệ tới đó. Hầu hết các nước ASEAN cho rằng nếu nói “biên giới lợi ích”, các nước đều có, không chỉ mình Trung Quốc có “biên giới lợi ích”. Tuy nhiên, điều khiến các nước ASEAN càng nghi ngờ Trung Quốc hơn là không hiểu rốt cuộc Trung Quốc sẽ bảo vệ cái gọi là “biên giới lợi ích” như thế nào. Giới quân sự các nước ASEAN bày tỏ cách nói “biên giới lợi ích” của Trung Quốc là không thuận, không phù hợp cũng như không có luật quốc tế làm căn cứ. Trong khi đó, phía Trung Quốc đưa ra giải thích chung chung: “biên giới lợi ích” mà Trung Quốc đề cập là xuất phát từ nguyên tắc công bằng, bảo đảm chắc chắn phân chia khu vực trách nhiệm chống cướp biển.

Trung Quốc thừa nhận đang nghiên cứu đóng tàu sân bay, tuy nhiên Trung Quốc chưa từng công khai tiến trình và kết quả cụ thể, khiến mối nghi ngờ của các nước ASEAN đối với Trung Quốc ngày càng tăng. Phía Trung Quốc cho biết hiện nay, nước này đang trong quá trình nghiên cứu đóng tàu sân bay, đợi đến khi có kết quả cụ thể sẽ công bố công khai. Ngoài ra, Trung Quốc luôn nhấn mạnh hải dương hài hòa, nhưng gần đây lại có những hành động ngăn chặn tàu của Mỹ thực hiện nhiệm vụ khảo sát, thăm dò ở vùng biển quốc tế thuộc khu vực Biển Đông. Điều này cho thấy “hình tượng quốc tế” của Trung Quốc đang có vấn đề. “Sách Trắng quốc phòng” mà Ôxtrâylia công bố gần đây đã nêu rõ cần cảnh giác cao độ với thái độ của Trung Quốc.

Quan hệ hai bờ Eo biển Đài Loan có xu thế hòa hoãn, Trung Quốc có điều kiện tập trung sức mạnh quân sự tại Biển Đông, điều này đã dẫn đến sự nghi ngờ phổ biến của các nước ASEAN đối với Trung Quốc và mối nghi ngờ này dường như đã công khai hóa.

3 – Hệ quả

Các nước ASEAN liên kết với nhau, thậm chí dựa vào cường quốc phương Tây đối phó với Trung Quốc. Ví như hồi cuối tháng Tư đầu tháng Năm, trong vấn đề vạch đường ranh giới phân chia khu vực ngoài thềm lục địa 200 hải lý, Việt Nam đã cùng với Malaixia đưa ra phương án phân chia chung tại Biển Đông. Đa số các nước ASEAN không chỉ bắt đầu nghi ngờ Trung Quốc trong vấn đề “biên giới lợi ích”, mà còn đưa ra vấn đề trước hiện tượng gần đây hải quân Trung Quốc liên tiếp bày tỏ thái độ cứng rắn trong vấn đề biển Nam Trung Hoa. Tư lệnh hải quân Malaixia từng công khai nhấn mạnh nếu như những tàu ngư chính của Trung Quốc xâm nhập vùng biển Malaixia, Hải quân Malaixia có quyền xua đuổi.

Những hành động của Trung Quốc đã gây ra phản ứng chính trị ở tầng nấc tối cao. Hồi đầu tháng 3/2009, đích thân Thủ tướng Malaixia Abdullah Badawi tới thăm đảo Layang (đảo Hoa Lau) thuộc quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa), hòn đảo mà Trung Quốc cho rằng còn tồn tại tranh cãi chủ quyền. Tiếp sau đó, Tổng thống Philippin Gloria Arroyo đã ký “Dự luật đường lãnh hải cơ sở”. Việt Nam bổ nhiệm quan chức hành chính quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, v.v. Rõ ràng cấp phản ứng chính trị của các nước ASEAN đối với Trung Quốc ngày càng nâng cao, thậm chí lên đến cấp cao nhất.

Nỗ lực xuất khẩu kỹ thuật, trang bị vũ khí sang thị trường các nước ASEAN là bằng không. Tại IMDEX – 2007, công ty tàu thuyền Trung Quốc đã tham gia triển lãm, giới thiệu với Thái Lan và Malaixia tàu đổ bộ cỡ lớn “071”. Còn IMDEX – 2009 (từ ngày 12 – 14/5/2009, tại Xinhgapo), không có công ty tàu thuyền nào của Trung Quốc tham dự triển lãm vì cho rằng không có hiệu quả. Hải quân Malaixia đã tuyên bố rõ ràng với Trung Quốc: Hải quân Malaixia đang xem xét mua tàu đổ bộ của nước khác ngoài Trung Quốc. Hãng DAMEN của Hà Lan thừa nhận đã hai năm liền giới thiệu bán cho Malaixia tàu đổ bộ ENFORCER 13.000 tấn. Ngoài ra, quan chức phụ trách thị trường của Công ty ThyssenKrupp (Đức) xác nhận Malaixia đang nhờ ThyssenKrupp tư vấn mua tàu đổ bộ cỡ lớn MHD – 200 trọng tải từ 17.000 – 20.000 tấn. Tính đến nay, trang bị quân sự mà Trung Quốc giới thiệu bán cho Malaixia, chưa có thương vụ nào thành công. Chứng tỏ Malaixia đã đưa ra phương châm mua sắm vũ khí cơ bản: không trực tiếp nhập khẩu vũ khí từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, nỗ lực của Trung Quốc tham gia đầu thầu đóng tàu đổ bộ cho Hải quân Thái Lan cũng không có kết quả. Tháng 11/2008, Hải quân Thái Lan đã cùng với hãng ST Marine của Xinhgapo chính thức ký kết hợp đồng trị giá 200 triệu USD. Theo đó, Thái Lan sẽ nhập khẩu 1 tàu LPD lớp 8.000 tấn, 2 tàu LCM Mic-23, 2 tàu LCVP Mic 13 của Xinhgapo. Quan chức phụ trách chương trình thị trường của ST Marine cho biết tháng 7/2009, ST Marine đã bắt đầu đóng thân tàu LDP, năm 2012 sẽ giao hàng cho Hải quân Thái Lan. Nguồn tin từ Hải quân Thái Lan cho biết hiện Thái Lan không lựa chọn mua tàu đổ bộ cỡ lớn “071” của Trung Quốc là do kết quả đấu thầu. Nhưng trên thực tế, vấn đề mua sắm tàu thuyền do Trung Quốc sản xuất là vấn đề gây tranh cãi nhất ở Thái Lan. Bởi vì hai tàu hộ vệ tên lửa 3.000 tấn Thái Lan mua của Trung Quốc trước đây, hiện nay hệ thống rađa và hệ thống điện liên tiếp bị trục trặc, hơn thế sửa chữa mất rất nhiều thời gian. Hải quân Thái Lan dự tính trong điều kiện có kinh phí, sẽ mua hệ thống Atlas Elektronik của Đức để thay thế cho hệ thống điện trên tàu mua của Trung Quốc. Ngoài ra, hệ thống trợ đáp của hai máy bay trực thăng OPV mà Thái Lan mua của Trung Quốc gần đây nhất, trên phương diện chỉnh thăng bằng cũng nhiều lần xuất hiện vấn đề.

Các nước ASEAN nhấn mạnh năng lực tác chiến chống ngầm trong xây dựng lực lượng hải quân và không quân. Cụ thể, tại khu vực Biển Đông, các nước ASEAN phổ biến lấy nâng cao năng lực tác chiến chống ngầm làm đối sách cụ thể ưu tiên phát triển hải quân. Trong năm nay, Malaixia sẽ tiếp nhận chiếc tàu ngầm chạy đầu Scorpenne đầu tiên do Pháp sản xuất và Hải quân Malaixia sẽ phân chia thành hai khu vực tác chiến chống ngầm. Việt Nam chuẩn bị nhập khẩu tàu ngầm KILO – 636M của Nga. Báo chí Nga đưa tin Việt Nam đặt mua của Nga 6 tàu ngầm lớp KILO-636, tổng trị giá lên đến 1,8 tỷ USD, đồng thời còn theo đuổi dự án mua 8 máy bay chiến đấu đa năng Su30MK2 của Nga, tổng giá trị là 500 triệu USD. Báo chí Nga còn cho biết hồi tháng 1/2009, hai bên đã ký kết hợp đồng, nhưng thông tin này hiện nay vẫn chưa được Chính phủ Việt Nam và Nga thừa nhận. Việt Nam nêu rõ cần có tàu ngầm để bảo vệ lãnh hải của Việt Nam. Giới công nghiệp quân sự của Nga tại Xinhgapo xác nhận thị trường tàu ngầm của Việt Nam là mở cửa đối với Nga.

Cùng với xu thế quyết liệt hóa trong vấn đề tranh chấp các đảo bãi trên Biển Đông, các nước ASEAN đang phổ biến trang bị tàu đổ bộ cỡ lớn. Hải quân Inđônêxia bắt đầu tự thiết kế tàu đổ bộ mang theo máy bay trực thăng cỡ lớn 35.000 tấn. Ngoài ra, Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào tranh chấp tại Biển Đông. Cuộc diễn tập liên hợp trên biển hàng năm mang tên “Carat” giữa Mỹ với một số nước xung quanh Biển Đông, quy mô ngày càng lớn, màu sắc nhằm vào “một nước lớn nào đó” của “Carats” cũng rõ ràng hơn. Chưa hết, gần đây “Sách trắng quốc phòng” của Ôxtrâylia bày tỏ rõ Biển Đông là tuyến đường an ninh trên biển mà Ôxtrâylia quan tâm.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: ASEAN, Hải quân |

Nguồn: anhbasam on 06/10/2009
http://bauxitevietn am.info/c/ 12691.html

 



THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM
TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC  

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.09.2009

 

Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?

Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.

Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại  Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ  giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.

Việt Nam con nợ của Tầu

Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.

CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.

Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.

Tầu là chủ nợ cho Việt Nam

Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.

Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:

=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.

=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.

=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.


Tương quan Chủ nợ—Con nợ

Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 







TQ XỬ DỤNG VŨ KHÍ MẠNH NHẤT
ĐỂ XÂM LĂNG VIỆT NAM  

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
UNICODE: http://viettudan.net
Geneva, 01.10.2009


Trong cuộc tranh đấu người với người, VŨ KHÍ là phương tiện được xử dụng để thắng địch, để giết đối phương. Câu tục ngữ Việt Nam sau đây cho thấy việc xử dụng vũ khí :”Lấy lửa thử vàng; lấy vàng thử đàn bà; lấy đàn bà thử đàn ông !”

Con người có hai phần: THÂN XÁC và TÂM LINH. Có những vũ khí chỉ giết được thân xác, nhưng không giết được tâm linh. Có những vũ khí nhằm giết tâm linh và bắt thân xác phải phục tùng.

Câu tục ngữ trên đây cũng nói về hai bình diện. Khi nói lấy lửa thử vàng, đó là nói hòan tòan về thể chất (Physique). Nhưng khi nói lấy vàng thử đàn bà và lấy đàn bà thử đàn ông là nói về bình diện tâm linh (Esprit). Nếu đọc thêm câu tục ngữ nữa:”Có tiền mua tiên cũng được”,  thì đối với đàn ông ham đàn bà đẹp (tiên), thì vàng trở thành khí giới chính để thử họ bởi vì họ dùng vàng mua đàn bà mà họ ham. Vì vậy câu tục ngữ ở đầu bài có thể thu gọn lại: “Lấy lửa thử vàng; Lấy vàng thử cả đàn bà và đàn ông !”

Chạy đua vũ khí giết thân xác

Lịch sử Chiến tranh là Lịch sử sáng chế Vũ khí nhằm chính yếu giết thân xác. Từ thanh kiếm đến cái chùy, đó là vũ khí giết thân xác. Súng ống bắn từ xa. Trái nổ ra từng mảnh. Bom cháy. Bom nguyên tử. Thậm chí bom vi trùng, bom hóa chất.

Thế giới chạy đua sản xuất những vũ khí đó là nhằm giết thân xác con người chứ không nhằm giết tâm linh con người.

Vũ khí giết tâm linh

Thứ vũ khí giết tâm linh con người chưa hẳn là gươm giáo, súng ống, bom nguyên tử hay chất hóa học. Vũ khí ấy được câu tục ngữ Việt Nam nói tới: “Lấy lửa thử vàng; LẤY VÀNG THỬ CẢ ĐÀN BÀ VÀ ĐÀN ÔNG !”. Vàng có nghĩa là Tiền bạc. Lấy tiền bạc làm vũ khí thì có thể giết được TÂM LINH và từ đó khắc phục luôn cả THÂN XÁC.

Trong Lịch sử Thiên Chúa Giáo, ngay lúc sinh thời, Chúa Giêsu, Vị sáng lập, đã cho thấy cái vũ khí nguy hại nhất này có khả năng giết TÂM LINH. Thực vậy, Giuda, một Môn đệ của Chúa Giêsu, chỉ vì 30 đồng bạc, mà Tâm Linh của ông bị giết để trở thành kẻ phản bội lại Thầy mình, đưa đối phương đến bắt chính Chúa Giêsu nộp cho đối phương kết án chết trên Thập tự giá. Vũ khí Tiền bạc được xử dụng để giết Tâm Linh vậy.

Trong Thế giới hiện đại, người ta thường nói đến Mafia xử dụng vũ khí Tiền bạc. Người ta cũng nói tới những nhóm Tài phiệt Do Thái xử dụng Tiền bạc để ảnh hưởng lên những quyết định của những Chính quyền đầy quyền lực.

Người Tầu thiện nghệ về Vũ khí Tiền bạc

Người Việt Nam đều biết trước đây, những gian thương Chợ Lớn đã dùng vũ khí tiền bạc để khuynh đảo Chính quyền. Chúng ta biết Pháp Trường Cát của Nguyễn Cao Kỳ. Gian thương Tạ-Vinh bị kết án tử hình và bị đưa ra xử tại Pháp Trường Cát, nhưng vũ khí Tiền bạc đã giết Tâm Linh kẻ kết án hắn. Người ta xử tử một người khác để tên Tạ-Vinh trốn ra khỏi Việt Nam và sống phây phây.

Trung quốc hiện nay bỏ ra 25 tỉ đo-la làm vũ khí giết tâm linh để xâm lăng Kinh tế những nước nghèo Á-châu.

Tại Việt Nam, vũ khí Tiền bạc đã và đang giết Tâm linh những Lãnh đạo CSVN cho tận đến Tỉnh, Quận. Khi Tâm linh Lãnh đạo đảng CSVN bị vũ khí Tiền bạc giết rồi, thì thân xác họ chỉ còn là cái xác không hồn, cắm đầu làm theo những mệnh lệnh của Tầu chủ trương xâm lăng Việt Nam.

Tội bán nước, Trời không tha và Đất không dung. Nhưng khi Tâm linh của đám CSVN đã bị vũ khí Tiền bạc giết chết, thì chúng còn biết đâu là cái tội tầy đình ấy. Chúng chỉ còn cắm đầu mang thân xác làm bồi Tầu để phản bội lại Dân Tộc.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT-TRUNG
ĐỂ XÂM LĂNG


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
02.07.2009


Chúng tôi đọc những lời khuyên cáo của Hồ Tỏa Cẩm, Tham tán Kinh tế - Thương Mại tại Sứ quán Trung Quốc Hà Nội, nhằm công kích những Chuyên gia Kinh tế Việt Nam nhận định về sự lan tràn hàng hóa Trung quốc tại Việt Nam. Những Chuyên gia này noi len một thực trạng hòan tòan trong lãnh vực Kinh tế, Thương mại. Trong khi đó, những lời công kích, khuyến cáo của Hồ Tỏa Cẩm chỉ nói đến những gì ngòai lãnh vực Kinh tế, Thương mại như Tình Hữu Nghị Việt-Trung, Tình anh em gắn bó lâu năm trong Xã Hội Chủ nghĩa, Việt Nam phải quản lý Báo chí, cụ thể Việt Nam để VietNamNet đụng chạm đến Chủ trương Kinh tế, Thương mại của Chính phủ Trung quốc.

Những lới công kích ngòai phạm vi Kinh tế, Thương mại này của Hồ Tỏa Cẩm chứng tỏ ông không phải là một Tham Tán Kinh tế-Thương mại, mà chỉ là một Tham tán Chính trị Thiên Triều muốn Nhà Nước Thái thú Việt Nam trừng phạt những Chuyên gia Kinh tế-Thương mại, thậm chí phải khóa miệng những Báo chí dám đụng đến Thiên Triều.


Sứ Quán Trung Quốc Đòi
“Khuyến Cáo, Nhắc Nhở VietNamNet”
Linh Thủy

Sau khi Tuần Việt Nam thực hiện bàn tròn trực tuyến "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp" theo yêu cầu của đông đảo độc giả, Đại sứ quán Trung Quốc đã có một số phản hồi về cuộc thảo luận này.

Công kích các Chuyên gia Kinh tế VN
không tôn trọng tình hữu nghị.
 
Tham tán Kinh tế - Thương Mại Hồ Tỏa Cẩm đã có buổi trao đổi với Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Thông tin & Truyền Thông, Quản Duy Ngân Hà.

Ông Hồ Tỏa Cẩm nói mình đã có 12 năm gắn bó với VN.

Bắt đầu phần trình bày, ông Cẩm nói bằng tiếng Hoa, để một người phiên dịch dịch lại qua tiếng Việt. Nhưng sau đó ít phút, ông đã trực tiếp nói bằng tiếng Việt.

Tham tán Kinh tế - Thương Mại Hồ Tỏa Cẩm: "Tuần Việt Nam – VietNamNet đã có những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc"

Ông Hồ Tỏa Cẩm nói được sự ủy quyền của ngài Đại sứ, thay mặt Đại sứ quán Trung Quốc, nói về buổi tọa đàm bàn tròn trên VietNamNet:

Trong ngày 16/6, Tuần Việt Nam – báo VietNamNet đã phát biểu những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc trong bài: "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp".

Trong bài này có chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Bà ấy tôi cũng biết, trước là phó chủ tịch VCCI. Có Nguyễn Minh Phong – học giả về kinh tế. Hai ông bà này là có tên tuổi, nhất là bà Phạm Chi Lan, chúng tôi cũng có tiếp xúc nhiều lần. Lần này, bà ấy phát biểu những lời không hữu nghị.

Bào chữa cho chủ trương
xâm lấn Kinh tế của Trung quốc

Chúng tôi chấp nhận là hàng hóa Trung Quốc bây giờ vào VN rất nhiều, thông qua hai con đường chính ngạch và tiểu ngạch. Có hàng giả hàng nhái.

Do chủ yếu không phải chính phủ Trung Quốc làm thế nào, mà theo cơ chế thị trường. Bên này có người mua, có người nhận, bên kia có người giúp.

Nhưng trong đó, trong buổi tọa đàm này, bà Phạm Chi Lan gọi hàng Trung Quốc là “lũ quét”. Chúng tôi không thể chấp nhận được. "Lũ quét" là gì, là một cái gì rất có hại, tai hại. Mạnh hơn lũ lụt. Không phải.

Thực ra, chính phủ VN vẫn luôn hoan nghênh hàng TQ vào VN.

Tôi chỉ ra là nêu hàng TQ là lũ quét là không đúng. Không phù hợp. Không nên như vậy. Lần này, trọng tâm là tôi nói về bà Phạm Chi Lan nói sâu vào chính phủ Trung Quốc.

Nếu mà chúng tôi, chính phủ TQ là như vậy, thế thì thôi, thì chúng tôi chấp nhận. Nhưng thật ra là mà không phải vậy. Không phải là chính phủ Trung Quốc là chính phủ không có lương tâm.

Còn chuyên gia Nguyễn Minh Phong cũng có lời nói TQ đã hi sinh 750 triệu người nông dân của họ để có giá thành lao động cực thấp. Thực ra là không phải.

Cơ quan báo chí coi người Phạm Chi Lan, Nguyễn Minh Phong này là chuyên gia – coi là chuyên gia rất là hiểu Trung Quốc. Thực ra tôi không biết bà ấy đi Trung Quốc mấy lần. Tôi đoán là bà ấy không hiểu Trung Quốc.

Lại khẳng định "tình anh em"

Sau khi nêu các ý không tán đồng các ý kiến của chuyên gia VN đưa ra, ông Hồ Tỏa Cẩm khẳng định:

"Hiện giờ chúng ta có quan hệ gọi là đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Trung Quốc với các nước khác là không có quan hệ này. Việt Nam cũng như vậy. Hai nước ta là Xã hội Chủ nghĩa. Đều coi trong đời sống dân sinh, không phải coi thường dân sinh. Cho nên giới báo chí phải làm theo lời, thỏa thuận của 2 chính phủ, 2 nhà nước."

"Xuất phát từ quan điểm này, tôi thấy VietNamNet chưa làm đúng thỏa thuận của hai nước." – Ông Cẩm nhắc lại.

“Đối với những người ấy, phát biểu không đúng sự thực. Tôi sẵn sàng trao đổi với ông bà ấy về Trung Quốc. Hai người này được coi là chuyên gia Trung Quốc. Nhưng cũng có cả phóng viên Nguyễn Quang Thiều. Mấy ông này là theo dõi Trung Quốc từ nhiều năm, ở Đông Âu hay là Liên Xô cũ. Trung Quốc không phải cửa quan như vậy đâu.”

“Mong muốn khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị" VietNamNet

Ông Hồ Tỏa Cẩm đã nhắc lại không dưới 3 lần, mong muốn các cơ quan VN phải "khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị" báo VietNamNet.

"Bài này đăng trên mạng VietNamNet, có nhiều nơi kể cả ở Trung Quốc cũng biết. Bây giờ, về internet truyền bá rất nhanh, kể cả nước ngoài. Chính phủ VN cho phép đăng những bài này, làm cho chúng tôi thấy là ngạc nhiên." - Người từng có "12 năm gắn bó với VN" nói.

“Lần này chúng tôi chỉ mong muốn là Bộ TT&TT nhắc nhở, đề xuất, cảnh thị với những người có liên quan, những cơ quan thông tấn báo chí, cụ thể là VietNamNet, nếu làm về hàng Trung Quốc, cứ làm thôi, không có vấn đề gì, nhưng làm trước hết phải đúng sự thực.

Thứ hai là đăng những bài vừa phải, TQ cũng như VN, mình phải nghĩ đến chính sách báo chí của nhà nước.

Tôi làm báo chí lâu năm tại Tân Hoa Xã, trong đó có 2 năm thường trú tại VN. Tôi rất là biết báo chí VN. Bây giờ giới báo chí 2 nước rất hay trao đổi với nhau. Hai nước có quan hệ rất là tốt. Tại sao lại có vấn đề như vậy?

Sứ quán chúng tôi mong là những cơ quan có liên quan kiểm điểm công việc này. Không để việc này tổn hại, thương hại cho dân chúng TQ, thương nhân TQ, chính phủ TQ.”

"Nhắc nhở quản lý" Báo chí và
"khẳng định tình thân" Việt-Trung

Ngay sau những lời khẳng định của bà Quản Duy Ngân Hà: “việc đăng những bài ấy là chuyện của tòa soạn.”, ông Cẩm nói lại: "Với những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, chính trị, bộ phận nội bộ, không nên tung ra bên ngoài mà không có quản lý. Lần này tôi muốn nghe khẳng định lại, mong cơ quan quản lý báo chí VN, nếu báo chí nào đăng những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, có liên quan đến vấn đề nhạy cảm, thì theo tôi cũng quản lý được. Nếu trước kia quản lý chưa kĩ, thì sau này – tôi gọi là có thể quản lý được, can thiệp được."

Sau đó, ông Cẩm lại tiếp tục nói về tình thân của mình đối với Việt Nam và tình cảm hai nước Việt - Trung:

"Chúng tôi rất vui mừng chừng kiến sự phát triển của VN. Rất vui là VN cùng TQ là 2 nước anh em cùng phát triển. Tôi rất là mong muốn sau này chúng ta gặp nhau, chúc mừng những thành quả mà 2 nước đã đạt được."

Không thể nhân danh Tình thương
mà ăn cướp tiền bạc của nhau

Tình yêu thương, tình Hữu nghị là trừu tượng và người ta có thể nhân danh những tiếng đó để cướp dựt tiền bạc của nhau. Tiêu chuẩn để nói về Kinh tế-Thương mại là sự công bằng quyền lợi vật chất, tiền bạc. Nhưng Chuyên gia Kinh tế Việt Nam đã nhận định theo đúng tiêu chuẩn Kinh tế-Thương mại. Còn Hồ Tỏa Cẩm lấy tiêu chuẩn tình thương, tình hữu nghị mà nói về Kinh tế-Thương mại. Điều đó chứng tỏ rằng : một là ông ngu dốt không xứng đáng mang danh Tham Tán Kinh tế-Thương mại, hai là ông giả hình lấy điều nhân nghĩa để che đậy một sự cướp dựt trắng trợn.

Chúng tôi đưa ra đây ba tỉ dụ để cho Hồ Tỏa Câm thấy rằng về lãnh vực Kinh tế-Thương mại, phải lấy tiêu chuẩn công bằng quyền lợi vật chất, tiền bạc mà thảo luận và quyết định.

Tỉ dụ thứ nhất : Vợ chồng ký giấy tách rời tài sản, tiền bạc

Tình thương yêu Vợ Chồng còn cao hơn gấp bội tình Hữu Nghị. Hai người thanh niên nam nữ yêu nhau thắm thiết, thậm chí chàng thanh niên còn tuyên bố sẵn sàng chết vì nàng. Thế rồi hai người xỏ nhẫn cho nhau thề sống suốt đời với nhau trong tình nghĩa Vợ Chồng. Không tình cảm nào, như tình Hữu nghị chẳng hạn, có thể cao hơn tình yêu Vợ Chồng. Thế mà liền sau khi ký Giấy Cưới nhau, hai người ký Bản Giao Kèo Tách rời Tài sản (Séparation des Biens). Tài sản thuộc lãnh vực vật chất, Kinh tế, Tiền bạc, không thể lấy Tình yêu, hoặc tình Hữu nghị, mà giải quyết.

Tỉ dụ thứ hai : Thỏa thuận Đền bù Thương mại giữa hai nước (Effets compensatoires bilatéraux)

Stuart MILL, một trong những ông tổ của giao dịch thương mại quốc tế cùng với Adam SMITH, David RICARDO, đã nêu ra vấn đề Thỏa thuận Đền bù trong những Hợp Đồng Thương mại tay đôi giữa hai Quốc gia. Thực vậy, khi hai Quốc gia thảo luận và ký kết tay đôi thương mại về một mặt hàng trao đổi, nếu vì những điều kiện thực tế bất khả kháng mà một nước mất chút quyền lợi về mặt hàng đó, thì nước mất chút quyền lợi này có quyền đòi hỏi nước kia phải dành quyền lợi lớn hơn trong Hợp Đồng về mặt hàng khác để đền bù. Đó là sự công bằng trong giao dịch thương mại, chứ không phải vì tình thương yêu hay hữu nghị. Kinh tế, Thương mại lấy sự đền bù quyền lợi vật chất cho công bằng.

Tỉ dụ thứ ba : WTO/OMC và Điều khỏan Quốc gia Ưu đãi.

WTO/OMC luôn luôn khuyên hai Quốc gia khi ký những Hợp Đồng Thương mại tay đôi (Contrat Commercial Bilatéral), nên cho vào Hợp Đồng Điều khỏan tuyên bố nước kia là Quốc gia ưu đãi (Clause de la Nation la plus favorisée). Đây là câu tuyên bố Tình yêu giữa hai nước. Câu tuyên bố này khiến hai Quốc gia ký kết có quyền tự động áp dụng những quyền lợi nếu Quốc gia ký kết dành cho một nước thứ ba trong tương lai. Không phải Tổng thống, Thủ tướng một Quốc gia có thể ký kết Điều khỏan này một cách dễ dàng bởi vì đây là quyền lợi Kinh tế, Thương mại của một Quốc gia. Hồ Tỏa Cẩm không thể chỉ nói suông tình hữu nghị, tình am em, mà lấy quyền lợi Kinh tế, Thương mại cho Trung quốc. Những chuyên gia Kinh tế, Thương mại Việt Nam nhìn trước hết vấn đề công bằng quyền lợi trong lãnh vực này. Những Chuyên gia KT/TM Việt Nam không thể vì tình hữu nghị, tình am em XHCN mà yên tiếng khi thấy cán cân Thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam hòan tòan thất lợi cho Việt Nam : «10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008»

Chủ trương Trung quốc xâm chiếm
Kinh tế Á châu đã được Quốc tế nhìn rõ

Hồ Tỏa Cẩm muốn nêu cao sự đứng đắn của Trung quốc trong lãnh vực Kinh tế/Thương mại để công kích các Chuyên gia Việt Nam nói sai sự thật về Trung quốc. Ý đồ xâm lăng Kinh tế Trung quốc sang các nước nghèo Á châu, trong đó có Việt Nam mà Trung quốc coi như chư hầu, đã được quốc tế phân tích và nhìn rõ.

Hồ Tỏa Cẩm hay đọc lại Bản tin sau đây của Tân Hoa Xã tháng tư vừa rồi :

Bản Tin: «Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 14-4 cho biết, quỹ đầu tư trên sẽ thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nối Trung Quốc với 10 nước thành viên ASEAN, trong khi các khoản cho vay sẽ có thời hạn từ 3 đến 5 năm.

Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực.

Theo ông Dương Khiết Trì, những đề nghị này nhằm phản ánh quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự hợp tác với ASEAN ».

Cũng trong tháng tư, chúng tôi đã viết hai bài về ý đồ này của Trung Quốc. Chúng tôi đăng kèm dưới đây. Trung quốc không bỏ ra USD.25 tỉ để cứu nhân độ thế đâu như lời ca tụng của Hồ Tỏa Cẩm.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 08.07.2009




TUYÊN CHIẾN
VỚI HÀNG TRUNG QUỐC XÂM LĂNG


Tuyên chiến với cuộc tấn công của hàng ngoại chất lượng thấp
18/06/2009 09:37 (GMT + 7)

(TuanVietNam)- "Dù tất cả đã có nhưng lực lượng hải quan, lực lượng kiểm tra thị trường, nói chính xác hơn là con người mà bị thủng thì phòng tuyến ngăn chặn hàng giá rẻ, chất lượng thấp vào thị trường Việt Nam cũng sẽ bị thủng..."- TS. Nguyễn Minh Phong nói.

Chất lượng công quyền

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Không rõ có chính xác hay không, nhưng tôi cảm giác Nhà nước mình như một ông chủ đội bóng, bỏ tiền ra mua đội bóng đó, đầu tư cho đội bóng nhưng lại giữ chân huấn luyện viên. Theo tôi hiểu, huấn luyện viên là một chuyên môn khác, đẳng cấp khác, còn việc của người quản lý đương nhiên là một công việc khác hoàn toàn.

TS. Nguyễn Minh Phong: Xin được quay trở lại câu chuyện còn đang dở, chúng ta vừa nói đến hàng may mặc Trung Quốc, nhưng giờ chúng ta phải nói đến tất cả các hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc, bởi có những thứ kém chất lượng, độc hại mà cơ quan kiểm định đã công bố, và thế giới cũng đều biết, đang có mặt nhan nhản ở thị trường Việt Nam.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Rõ ràng, chúng ta có những phòng tuyến chặn cửa như hải quan, các cơ quan kiểm thị trường, kiểm dịch, công an, quân đội và cả thuế vụ nữa… nhưng tại sao hàng ngoại chất lượng thấp lưu hành trên thị trường tiêu dùng vẫn không hề giảm đi, thậm chí có phần ồ ạt tiến vào vào thị trường Việt Nam. Liệu có hay không phòng tuyến nào bị hổng, hay tất cả đều bị hổng, thưa TS. Nguyễn Minh Phong?

TS. Nguyễn Minh Phong: Tôi cho rằng có 3 điểm cần lưu ý. Thứ nhất, chúng ta phải học tập Nhật và Trung Quốc, nghĩa là hàng tốt của Việt Nam phải bán cho người Việt Nam, chứ không phải hàng tốt thì mang hết ra nước ngoài, còn hàng bán ở Việt Nam toàn hàng xấu, tự nhiên người tiêu dùng trong nước bị ấn tượng hàng Việt Nam là hàng xấu.

Thứ hai, những chế tài và những quy định pháp lý, đặc biệt là những chế tài quy định liên quan đến hàng rào kỹ thuật cần phải được tăng cường hơn. Lâu nay, chúng ta sử dụng nặng công cụ thuế, còn công cụ hàng rào kỹ thuật lại xem rất nhẹ, thậm chí còn không biết làm như thế nào vì tiêu chuẩn chưa định hình, cái đã định hình thường thấp hơn rất nhiều so với thế giới. Do vậy, những hàng rào kỹ thuật, những tiêu chuẩn hoá về kỹ thuật cần sớm được quốc tế hoá, được xác lập và triển khai trên thực tế một cách hiệu quả.

Thứ ba, rất quan trọng. Dù tất cả những tiêu chuẩn đó đã có nhưng nếu lực lượng hải quan, lực lượng kiểm tra, hay nói gọn hơn là con người mà bị thủng thì phòng tuyến đương nhiên sẽ bị thủng... Cái thủng của con người là cái thủng lớn nhất. Chúng ta đã có rất nhiều bài học như vụ án hàng lậu Tân Thanh. Một khi quan chức liên tỉnh bắt tay dằng dây sẽ vô hiệu hóa tất cả những hàng rào kĩ thuật khác.

Bà Phạm Chi Lan: Về lỗ thủng chất lượng đội ngũ tôi đồng ý với anh Phong. Nhưng chúng ta nhìn nó rộng ra hơn một chút là cơ chế có thể tạo nên những con người như vậy, muốn có đội ngũ công chức thật tốt như chúng ta mong muốn thì phải có hệ thống cơ chế trong đó bao gồm cả thể chế cả chính sách, cả tiêu chuẩn cán bộ như thế nào, cách để chọn vào ra như thế nào, tất cả đều phải nghiêm chứ đừng chỉ đứng hô hào chung chung.

Bản thân Nhà nước phải rất nghiêm với chính mình về hàng rào kĩ thuật này, đã đặt ra phải xử lí, chỗ nào chưa có phải làm. Không phải bây giờ khi cả xã hội kêu lên là hàng chất lượng thấp thì bộ nọ, bộ kia lại chưa có căn cứ, chưa có tiêu chuẩn để kết luận đó là xấu, ngăn chặn không cho họ vào hoặc phản ứng lại với họ. Đó là cách trả lời vô cùng thiếu trách nhiệm. Lỗ thủng về trách nhiệm ở đây cũng là rất lớn, chứ không phải chỉ là vấn đề về tư cách con người hay về tham nhũng không thôi.

Chiến lược thực tế

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa bà Phạm Chi Lan, tôi đã từng nghe một số nhà nghiên cứu nói rằng Trung Quốc đã có một hồ sơ kĩ lưỡng về chiến lược hàng Trung Quốc đối với Việt Nam. Nghĩa là Trung Quốc có những chiến lược cụ thể, có đường lối rõ ràng cho từng khu vực, từng nước, từng mọi mặt hàng, từng mọi vấn đề của họ. Chính vì thế họ tạo sự đồng nhất trên toàn cầu. Vậy thưa bà chúng ta đã có một bộ hồ sơ cho nền kinh tế chúng ta, cho ngành nghề nào đó chưa với một khu vực hay với từng giai đoạn như vậy của chúng ta chưa hay ta vẫn chỉ là một sự ngẫu hứng, một sự chuyển động rời rã của chân con rết?

Bà Phạm Chi Lan: Đó là điều rất đáng tiếc về phía chúng ta. Việc làm sao chống được sự xâm lấn của hàng bên ngoài thì yếu tố quan trọng hàng đầu vẫn là sức mạnh của chính mình.

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung cho giai đoạn từ 2001 đến 2010, có đưa ra một số ý tưởng đối với một số ngành mà Nhà nước coi là có tầm quan trọng, chiến lược phải được đặt vào trong chiến lược chung đó để phát triển. Nhưng còn cụ thể đối với các ngành thông thường chúng ta vẫn thiếu các chiến lược và ngay cả khi có chiến lược thì vẫn rất thiếu tính cụ thể cần thiết, thiếu những công cụ, biện pháp đi cùng để có thể thực hiện được.

Theo tôi, đã là chiến lược phát triển phải rất cụ thể và rất tường tận. Đi cùng hàng loạt các công cụ về chính sách, những nhân tố vật chất về nguồn lực về con người để thực hiện, chứ không phải cứ vẽ ra cho vui, lấy oai cho ngành này ngành khác.

Bệnh thành tích

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Những điều mà bà Phạm Chi Lan nói về chiến lược xuất khẩu ô tô, hoặc chúng ta sản xuất máy bay đã được thực tế chứng minh về tính khả thi. Dự án ô tô Mê kông là một sự thất bại to lớn. Lịch sử đã chứng minh người Việt rất cần cù, rất chịu khó, sáng tạo, khéo tay, quả cảm…, nhưng đôi khi chúng ta cũng rất ảo tưởng.. Với chúng ta, tôi nghĩ rằng chúng ta đang hão huyền sinh ra bệnh thành tích. Ngày xưa ông cha ta căn cơ, chính xác, gọn ghẽ đâu ra đấy. Nhưng chủ nghĩa thành tích đã sinh ra sự hão huyền, chạy theo thành tích sẽ thế này thế kia… chúng ta phải rời bỏ điều đó, phải trở lại hiện thực và làm một bát phở thật ngon, hãy may một cái áo thật đẹp… Tôi những tưởng mây tre Việt Nam sẽ nhất thế giới, nhưng sau này đi ra thế giới tôi thấy chúng ta bại trận hoàn toàn. Chúng tôi đau đớn khi mua những đồ thủ công mỹ nghệ bằng cói, tre từ Nhật, Hàn Quốc trở về. Thưa Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, ông suy nghĩ gì về điều đó, về chủ nghĩa thành tích vẫn đeo bám chúng ta, ăn sâu vào ta, khiến ta sẽ còn gặp nhiều khó khăn?

TS. Nguyễn Minh Phong: Nói một cách chính xác đến nay không phải chỉ là dư âm thành tích. Thành tích chỉ là bề nổi của cơ chế chúng ta đang sử dụng, đó là cơ chế điều hành quản lý mang tính chất quân sự, trận đánh. Cả một chuỗi quá trình như vậy cho đến nay vẫn quán tính như vậy. Quán tính này đi vào kinh tế thể hiện ở chỗ những phong trào thi đua, chiến dịch thành tích báo cáo. Rõ ràng chúng ta đang tự mình làm con tin, tự mình là nạn nhân của chính mình trong vấn đề cơ chế như vậy.

Đã đến lúc chúng ta phải bỏ qua tất cả những hình thức phù phiếm, tất cả những khẩu hiệu sáo rỗng, bánh vẽ giá trị ảo để trở về cuộc sống thực tế, giá trị thực để đáp ứng nhu cầu.

Giải pháp khả thi

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa bà Phạm Chi Lan cơn lũ hàng nhập ngoại xấu, kém chất lượng, độc hại đang tràn vào Việt Nam đã lên đỉnh điểm chưa, hay sẽ tiếp tục, hoặc giảm xuống?
 
Bà Phạm Chi Lan: Nó như thế nào phụ thuộc vào thái độ của chính chúng ta. Nếu chúng ta bỏ lơ, coi thường chuyện đó, các cơ quan Nhà nước vẫn cảm thấy dửng dưng không ý thức ngăn chặn, bảo vệ cho đồng bào mình thì làm sao cơn lũ này chấm dứt được.

Hoặc truyền thông của chúng ta không dấy lên được tiếng nói mạnh mẽ để cổ động cho hàng Việt Nam, biểu dương cho những doanh nghiệp hàng tốt như May 10, và rất nhiều những doanh nghiệp khác, trân trọng người tiêu dùng trong nước thì làm sao ngăn nổi cơn lũ này.

Nếu không cùng nhau làm việc đó như một tính chất cả hệ thống thì cơn lũ đó chưa tới đỉnh điểm đâu, sẽ tiếp tục đổ vào, tiếp tục tràn vào dữ dội hơn. Người ta đã có hẳn một kế hoạch lớn, chiến lược lớn để làm điều đó, họ sẽ không dừng lại trừ khi chúng ta biết tự vạch hướng đi cho mình, tự bảo vệ cho mình, đẩy làn sóng đó ngược trở lại trả về phía bên họ.

Quả thực tôi lo lắng cơn lũ này chưa đến đỉnh điểm, mà còn có thể tệ hại hơn nữa bởi vì chúng ta vẫn chưa làm được gì nhiều để ngăn chặn.

Tôi nói vui với các doanh nghiệp là bây giờ biên mậu đã diễn ra ở tận thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải biên mậu ở Lào Cai, Lạng Sơn nữa.

Thực tế, người ta đã vào tận thành phố Hồ Chí Minh để làm rồi, gần như tất cả các giao dịch diễn ra ngay tại đó. Chỉ cần nhấc một cú điện thoại lên thôi là hàng hóa đâu vào đó. Không khó để bắt gặp từng đoàn xe mang biển số của một quốc gia láng giềng có thể vào đất Việt Nam đàng hoàng, thậm chí người nước họ cũng ra vào làm việc ở đây tự do. Nếu chúng ta vẫn dễ dãi như vậy thì cơn lũ hàng giá rẻ, chất lượng thấp còn tiếp tục dấn tới.

Tôi vừa từ Lục Ngạn (Bắc Giang) về. Tôi đã chứng kiến một đoàn 65 thương gia Trung Quốc đang ở đó, tại những cứ điểm để thu mua vải quả, và họ là người quyết định giá cả.

Chúng ta đã để đến mức như vậy thì việc không tự bảo vệ được mình là do chính mình, mình vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân của việc đó, chứ không thể đổ hoàn toàn cho chính sách của nước khác được. Mình không biết tự mình bảo vệ mình thì nói được gì nữa. Nếu ta không có hành động từ cao nhất, làm quyết liệt thì các doanh nghiệp phần nào phải bó tay.

TS Nguyễn Minh Phong: Tôi cho rằng, hàng may mặc, hàng điện tử là một ví du, tất cả những hàng đơn lẻ đó là một ví dụ và trong tương lai nó sẽ thành dòng thác lũ.

Tôi đồng ý với chị Chi Lan nếu như chúng ta vẫn bình chân như vại, cơ chế trách nhiệm vẫn như hiện nay, các bộ phận doanh nghiệp rời rạc thiếu gắn kết quyện hòa, cơ chế bảo vệ không rõ ràng sẽ tiếp tục tạo ra lỗ hổng để cho hàng ngoài vào tự do, gây thiệt hại cho chính những người trong nước, cho nền kinh tế quốc gia.

Đã đến lúc Nhà nước phải suy nghĩ nghiêm túc hơn về bàn tay của nhà nước để tạo ra chất kết dính. Mỗi doanh nghiệp có sức mạnh của riêng họ, có trách nhiệm, yếu điểm và cái lí của mình. Để bảo vệ một cộng đồng dân tộc nói chung thì phải bằng bàn tay Nhà nước, chứ một May 10 cũng không làm được, một cá nhân không làm được. Bàn tay Nhà nước ở đây rất cụ thể, của Chính phủ, của bộ, ngành và của từng vị trí công quyền.

Phải tạo ra sức mạnh cộng hưởng như vậy, chúng ta mới có hy vọng đẩy lùi được cơn lũ hàng ngoại giá rẻ kém chất lượng.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Các doanh nghiệp ta đang trong tình trạng số phận là tự bơi lấy một mình. Chúng ta không thiếu trí tuệ, không thiếu chuyên gia kinh tế, giáo dục, khoa học. Chúng ta đang sở hữu họ, nhưng không sử dụng họ điều này rất nguy hiểm.

Và chúng ta cũng đang thiếu một điều là tính hệ thống để tập hợp tất cả tạo thành một nguồn lực sức mạnh lớn nhất.
Trong cuộc bàn tròn hôm nay, tôi xác định rõ kẻ thù đối với thị trường của chúng ta, nhưng ngày mai bước ra đường đến một cửa hiệu, tôi lại dày vò chọn lựa hàng này của Việt Nam hay hàng kia của nước ngoài.
Những gì được đặt ra tại bàn tròn hôm nay đã phần nào động chạm tới những điều cơ bản và chi tiết, chúng ta cũng đã nói ra tất cả những điều mang tính hệ thống, chiến lược. Nếu biết lắng nghe, biết sửa mình thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn, còn nếu vẫn chỉ là trách nhiệm, là lợi ích cá nhân thì e rằng 50 năm nữa chúng ta lại ngồi lại đây, nói lại những điều phiền muộn này.
Xin cám ơn chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, anh Thân Đức Việt, và cám ơn tất cả các quí vị độc giả của Tuần Việt Nam/Vietnamnet.
Chúng ta hi vọng rằng có thể trong lúc trước mặt chúng ta còn quá nhiều chân trời mờ mịt, nhưng chúng ta phải đi tìm, không cách nào khác là phải lên tiếng. Nói một lần, hai lần, nói ngày lẫn đêm và cả trong giấc ngủ để một ngày nào đó chúng ta nhận ra rằng lòng tự trọng dân tộc thật lớn.
Một lần nữa, xin cảm ơn các quý khách đến dự hôm nay, và tôi tin rằng bạn đọc sẽ gửi những phản hồi nhiều chia sẻ, đồng tình lên tiếng cùng chúng ta về một vấn đề đang nhức nhối để từng bước tiến đến một dân tộc hùng mạnh.
Tôi nhớ lại cách đây 5 năm, khi cùng một Giáo sư Mỹ đến siêu thị ở Boston và ông ta kêu lên trong siêu thị khiến tất cả mọi người kinh ngạc: “Thiều quay lại đây” và chỉ cho tôi một chiếc quần kaki Made in VietNam. Một lần nữa, xin cảm ơn tất cả quý vị! 

 Tuần Việt Nam












HÀNG TRUNG QUỐC GIẾT
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM


Doanh nghiệp thua đau bởi hàng Trung Quốc giá rẻ 
16/06/2009 05:34 (GMT + 7)


(TuanVietNam) - “Tôi rất lo sợ do chúng ta thiếu sự chuẩn bị thì có thể trong cuộc chơi mới, chúng ta háo hức hòa nhập với mong muốn chiến thắng, nhưng lại thua trong quá trình hội nhập ở mặt này hay mặt khác, kể cả trên sân nhà”, bà Phạm Chi Lan. 

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Kính thưa bạn đọc Tuần Việt Nam/VietNamNet, kính thưa các vị khách mời, chủ đề của bàn tròn trực tuyến hôm nay là: Giải pháp với hàng TQ chất lượng thấp.

Câu hỏi đầu tiên xin được dành cho bà Phạm Chi Lan: Khi nhận được lời mời tham dự bàn tròn trực tuyến với chủ đề “Giải pháp với hàng TQ chất lượng thấp”, cảm giác của bà như thế nào?

Bà Phạm Chi Lan: Những ngày gần đây, tôi thực sự thấy rất bứt rứt, sốt ruột và đau lòng vô cùng về hàng chất lượng thấp của nước ngoài, đặc biệt là của TQ tràn vào VN. Không những nó làm hại cho người tiêu dùng mà còn làm hại cho nền sản xuất VN ở mức độ rất to lớn.

Do vậy, khi được Tuần Việt Nam/Vietnamnet mời tham dự cuộc trò chuyện hôm nay tôi đã nhận lời ngay lập tức vì cũng muốn chia sẻ một số những điều mà mình đang bức xúc trong lòng với bạn đọc.

Tôi cũng muốn thông qua đây có một thông điệp nho nhỏ đến bạn đọc, đến những người tiêu dùng, các nhà sản xuất và cả với Nhà nước để chúng ta có thể cùng nhau chặn được cơn lũ quét này, bảo vệ cho sự an toàn của đất nước, của người dân VN và đấy cũng là điều tôi mong muốn.

Chưa chuẩn bị chu đáo

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Trong tư duy và phân tích của bà, bà đã biết được nguy cơ hàng nhập ngoại kém chất lượng ồ ạt vào VN, nhất là hàng hóa chất lượng thấp có xuất xứ từ TQ đối với nền kinh tế VN từ lúc nào? Ngay cả bây giờ, một bộ phận người tiêu dùng vẫn tiếp tục bị hàng hóa giá rẻ của TQ quyến rũ, 1 năm? 5 năm? hay 10 năm? Theo bà, vì sao người ta vẫn không ý thức được điều đó để đến nay, chúng ta phải đối mặt với cấp báo động cao nhất về tình trạng này?

Bà Phạm Chi Lan: Mối lo của tôi có lẽ xuất hiện rõ rệt nhất là vào khoảng cách đây 10 năm, năm 1999.

Khi đó tôi được Chính phủ chỉ định là một trong hai người Việt Nam cùng với ông Nguyễn Quang Thái bây giờ là Tổng Thư ký của Hiệp hội Kinh tế VN tham gia vào nhóm gọi là Tầm nhìn Đông Á. Theo đó, mỗi nước cử hai người trong 10 nước Asian, cộng với 3 nước là Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản để bàn về một cơ chế hợp tác mở rộng thị trường trong khu vực và hợp tác giữa khối Asian với 3 nước đó theo hướng sẽ mở cửa dần thị trường.

10 nước này sẽ trao đổi với nhau trên nguyên tắc tương tự như với Asian, nghĩa là thuế sẽ giảm từ 0-5%, tiến dần đến 0%, tất cả các hàng rào khác phi thuế sẽ dần được gỡ bỏ. Tuy nhiên, cái còn lại mà các nước có thể giữ lại là hàng rào kỹ thuật, để bảo vệ chính đáng cho hàng hóa của mình, người tiêu dùng của mình.

Điều mà tôi lo lắng khi ấy là trong không khí thảo luận như vậy, khi VN đang chuẩn bị tham gia WTO, dấy lên mọi nỗ lực, hào hứng để gia nhập công cuộc mở rộng hợp tác đó nhưng không có sự chuẩn bị đầy đủ để tạo nên thế lực, hàng rào chắn cho mình để tránh khỏi những áp lực xấu.

Khi ta mở cửa ra, sẽ có những làn gió tốt lành thổi vào nhưng phải biết là cũng sẽ có ruồi muỗi bay vào và phải có cách để phòng chống. Nhưng chúng ta dường như rất ít để ý đến sự phòng chống đó.

Trong toàn bộ công cuộc đàm phán với nước ngoài, ta đã đưa ra rất nhiều những cam kết khác nhau để mở cửa thị trường, nhưng chúng ta lại rất ít tham vấn DN, ít thông báo cho người dân là những người sẽ chịu tác động những yếu tố này, để họ có tinh thần chuẩn bị đối phó.

Điều này rất khác với TQ trong toàn bộ quá trình chuẩn bị mở cửa, họ thông báo tối đa đến người dân và DN, giúp người ta chuẩn bị sẵn sàng lực lượng để đối phó với sự cạnh tranh mới.

Còn ở VN, tôi rất lo sợ do chúng ta thiếu sự chuẩn bị thì có thể trong cuộc chơi mới, chúng ta háo hức hòa nhập với mong muốn chiến thắng, nhưng lại thua trong quá trình hội nhập ở mặt này hay mặt khác, kể cả trên sân nhà.


Tấn công có chủ định

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa TS. Nguyễn Minh Phong, ông là một nhà nghiên cứu kinh tế-xã hội, chắc chắn ông đã có một phác thảo về tiến trình xâm nhập của hàng ngoại vào VN, đặc biệt là hàng TQ, đặc biệt hơn nữa là hàng TQ chất lượng thấp. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, thẩm mĩ, kinh tế của người dân VN. Vậy ông có thể đưa ra một cách nhìn, hay phác thảo về một lộ trình của hàng hóa TQ vào VN trong 5 năm trở lại đây như thế nào? Nó đang tiến lên, nguy cơ hơn, thống trị hơn? hay là sự hợp tác thương mại tốt đẹp?

TS. Nguyễn Minh Phong: Tôi xin đẩy thời gian lùi xa một chút, cách đây 20 năm. Năm 1996, tôi làm nghiên cứu sinh ở Nga và đó là thời kỳ hậu Xô Viết, tiền tư bản, thời kỳ mà hàng TQ bắt đầu có mặt ở nước Nga.

Lúc đó, hàng VN cũng cùng sang Nga với hàng TQ. Chúng tôi đã chứng kiến thời kỳ "cơn lốc áo gió" của VN sang Liên Xô và áp đảo hàng TQ, mang lại rất nhiều lợi nhuận và công ăn việc làm cho người VN. Đó là thời điểm huy hoàng của người Việt. Nhưng thời kỳ đó kết thúc rất nhanh, chỉ trên dưới 1 năm và hàng TQ tăng dần mặt trận và trở nên thống trị.

Tại sao cùng một thời điểm, cùng một điều kiện như nhau, mà TQ lại thắng được VN ở Liên Xô, sau đó là thắng ở những nước khác nữa, và sau đó là thắng ở cả trên sân của VN?

Năm năm trở lại đây, hàng nhập của TQ vào VN ngày càng tăng, riêng năm ngoái chúng ta đã nhập siêu 11 tỷ USD, và sẽ còn tăng nữa trong thời gian tới.

Nếu với tình hình hiện nay, với sự phòng ngự bị động, thậm chí là không phòng ngự gì cả, và với tính chất tấn công có chủ định rất nhịp nhàng, bài bản, có chủ đích của TQ thì xu hướng này sẽ còn gia tăng.


Rẻ nhờ 4 lý do

Hàng TQ vào VN ngày càng tăng, riêng năm ngoái chúng ta đã nhập siêu 11 tỷ USD, và sẽ còn tăng nữa trong thời gian tới.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Có một hiện thực mà tôi quan sát được là nhiều khi có những mặt hàng TQ rẻ đến mức bất ngờ, mà tôi nghĩ rằng đó là trò ảo thuật hay pháp thuật vì tôi không lý giải được vì sao lại rẻ như thế.

Cứ mỗi dịp tết về, cuồn cuộn từng đợt người, kể cả công chức, trí thức cũng ùn lên phía bắc để mua hàng TQ vì nó quá rẻ. Vậy trong cách nhìn của các vị khách mời, tại sao TQ lại có thể làm hàng rẻ được đến thế? Không phải chỉ một lần, một đợt, mà ở nhiều mặt hàng và bền bỉ trong rất nhiều năm nay?

Bà Phạm Chi Lan: Theo tôi, người TQ có thể làm được hàng rẻ có mấy lý do:

Thứ nhất, họ có quy mô thị trường rất lớn, và họ đã tận dụng được lợi thế quy mô. Trong quy luật phát triển ngành hàng của các nước trên thế giới thì quy luật về quy mô cũng rất quan trọng.

Chính Paul Krugman người đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế năm ngoái cũng là một trong những người đưa ra rất sớm về chiến lược phát triển theo quy mô như vậy.

Với lợi thế về qui mô, mỗi đơn hàng của TQ có thể có hàng triệu sản phẩm, và họ có thể tiêu thụ sản phẩm cho một tỷ người, thậm chí trong một triệu sản phẩm thử nghiệm đầu tiên có bị lỗi, hỏng thì vẫn có đủ người chấp nhận sử dụng thành phẩm đó với giá rẻ hơn.

Đến triệu sản phẩm thứ hai, nếu vẫn tiếp tục còn lỗi thì vẫn còn những người tiêu dùng ở nông thôn chấp nhận sử dụng, tiêu dùng được... Cho đến khi sản phẩm đủ hoàn thiện, thì họ có thể tung hàng triệu sản phẩm như vậy ra thị trường và được tiêu thụ nhanh chóng, trong khi số sản phẩm hàng lỗi cũng vẫn được tiêu thụ ở thị trường thấp hơn.

Thứ hai, vì qui mô kinh tế lớn nên họ xây dựng được cả một hệ thống ngành hàng hoàn chỉnh. Họ có đủ các nguyên phụ liệu từ A - Z để sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm, do đó giá thành sản phẩm cũng rẻ hơn so với những nước phải đi nhập khẩu nguyên phụ liệu.

Chưa kể họ có được sự liên kết giữa các ngành với nhau, tạo ra một lợi thế giá rẻ hơn cho sản phẩm của TQ.

Thứ ba, sự hỗ trợ của Chính phủ. Phải nói rằng CP TQ đã hỗ trợ được rất nhiều cho các ngành nghề sản xuất của TQ. Họ hỗ trợ về luật, về chính sách đã đành, nhưng một trong những điều rất cụ thể là: Chi phí hạ tầng. Chi phí hạ tầng của TQ rẻ hơn rất nhiều so với VN.

Cách đây mấy năm, Ngân hàng thế giới đã đưa ra số liệu chứng minh DN VN phải chịu chi phí hạ tầng đắt đỏ hơn 1,5 lần so với TQ trong vận chuyển đường bộ. Lợi thế này giúp DN TQ giảm được giá thành của sản phẩm rất đáng kể.

Đối với DN VN, vận chuyển đường bộ hay đường biển trong nước và ra ngoài quốc tế đều đắt đỏ hơn so với DN TQ. Khi CP TQ hỗ trợ chi phí hạ tầng cho các DN TQ thì các nước phương Tây cũng khó có thể tố cáo TQ bán phá giá bởi vì đây là việc làm mang tính phúc lợi cho cả xã hội, chứ không phải cho mỗi DN.

Ví dụ: Một container của TQ chở hàng sang châu Âu rẻ bằng một nửa so với chi phí phải dùng ở VN.

Thứ tư, TQ theo đuổi chính sách làm cái gì thì làm tới cùng cho được. Có khi họ không cần quan tâm nhiều hoặc bất chấp những cái thuộc về đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh: hàng xấu, hàng độc... Ngay cả đối với người dân của họ, họ còn không quan tâm (như trẻ em của họ phải uống sữa độc hại họ còn không quan tâm) cho nên đối với người tiêu dùng nước khác dại dột mua hàng kém chất lượng và bị hại thì họ càng không coi đó là vấn đề của mình.

Điều này cũng góp phần rất lớn trong việc khiến hàng hoá TQ rẻ hơn so với các nước khác.


Chơi vơi trên sân nhà

"Ngân hàng thế giới đã đưa ra số liệu chứng minh DN VN phải chịu chi phí hạ tầng đắt đỏ hơn 1,5 lần so với TQ trong vận chuyển đường bộ. Lợi thế này giúp DN TQ giảm được giá thành của sản phẩm rất đáng kể."
 
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Vừa rồi, bà Phạm Chi Lan và TS. Nguyễn Minh Phong đã nói đến một hiện thực đang xảy ra trên thị trường của chúng ta. Tôi mong muốn một câu trả lời cụ thể hơn cho câu hỏi: Tại sao người TQ có thể làm vậy mà người VN thì không? Tôi rất mơ hồ vì cảm thấy rất nhiều DN VN đơn độc, mơ hồ, không biết dựa vào đâu. Tôi muốn hỏi ông Thân Đức Việt, là có bao giờ những người quan trọng nhất trong DN của ông ngồi lại để báo động rằng hàng TQ đang tràn vào, đè bẹp hàng hóa của ta? Các ông đánh giá hàng may mặc của TQ đối với thị trường may mặc VN nói chung, và May 10 nói riêng như thế nào? Dù rằng thương hiệu May 10 vẫn đang tiến lên, nhưng đó là những bước nhích rất khó khăn, nặng nhọc và tương lai xán lạn chưa thực sự mở ra. Vậy ông đánh giá thế nào về cuộc "xâm lăng" của hàng TQ kém chất lượng, nhưng vẫn thắng thế trên thị trường VN?

Ông Thân Đức Việt: Xuất khẩu hàng hóa sang 3 thị trường lớn trên thế giới là Mỹ, EU và Nhật Bản, chúng tôi đều vấp phải sự cạnh tranh rất lớn từ hàng hóa của TQ với tư cách là đối thủ cạnh tranh.

Xét trên góc độ hàng xuất khẩu của TQ vào VN thì chúng ta thường đánh giá là hàng hóa chất lượng thấp, nhưng khi xuất khẩu sang các nước khác thì phải đánh giá lại. Ở TQ có một lợi thế mà DN VN không có, đó là tính chuyên môn hóa rất cao, tính hiệp hội cũng rất cao.

Tôi từng sang Hàng Châu TQ, tại đó, có tới 4.000 DN dệt, mỗi DN chỉ chuyên môn vào một chủng loại vải nào đó. Với cách làm như vậy, tập đoàn dệt may ở VN chúng tôi có muốn đầu tư cũng không thể nào cạnh tranh nổi về giá cũng như về chất lượng.

Tính hợp tác giữa các DN dệt của TQ cũng rất mạnh. Tất cả các công ty thương mại của TQ tập trung vào một chỗ, và khi chúng tôi mua thì họ có thể đáp ứng với mức giá rất rẻ. Đó là lý do mà chúng ta rất khó cạnh tranh được với hàng TQ về mặt xuất khẩu.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Đứng riêng về lĩnh vực may mặc, nếu bây giờ tất cả các mặt hàng may mặc Trung Quốc vẫn tăng lên thì làm cách nào để may mặc nói riêng và các doanh nghiệp khác nói chung thoát khỏi sự thống trị này. Và nếu tiếp tục như vậy thì tương lai của hàng may mặc Việt Nam đứng trước hàng may mặc Trung Quốc sẽ như thế nào?

Ông Thân Đức Việt: Thực ra không chỉ riêng ngành may mặc đâu, mà chúng tôi còn lo cho các ngành khác nữa.

Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi rất muốn tham gia vào những chuỗi bán lẻ, cũng rất muốn những nhà phân phối mạnh giúp chúng tôi. Nhưng chúng tôi có cảm giác gì đó rất không yên lòng. Một khi chính sách của Nhà nước chưa đến nơi thì làm sao bán lẻ phát triển được. Mà bán lẻ không phát triển được thì những nhà sản xuất cung cấp cho bán lẻ cũng làm sao phát triển được. Làm gì cũng phải có thị trường, và thị trường phải có nơi có chốn, có hiệp hội này nọ.

Chúng tôi rất mong Nhà nước không chỉ ủng hộ những doanh nghiệp sản xuất mà còn nên ủng hộ những chuỗi cung ứng để cung cấp và đưa những sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất đưa ra thị trường. Đó là cái mà thực sự doanh nghiệp chúng tôi mong muốn.

Trong trường hợp chưa nhận được sự hỗ trợ từ các hiệp hội, từ các các cơ quan ban ngành thì chúng tôi vẫn phải tự cứu lấy chúng tôi, loay hoay làm thế nào để chiếm lĩnh thị phần càng lớn càng tốt. Nhưng rõ ràng nếu không có sự ra tay hỗ trợ kịp thời, doanh nghiệp chúng tôi sẽ khó khăn vô cùng trước cơn lốc hàng ngoại giá rẻ.

Tuần Việt Nam




ĐƯƠNG ĐẦU VỚI TỔNG TẤN CÔNG HÀNG TQ


Đương đầu với cuộc “tổng tấn công” của hàng Trung Quốc 
09/06/2009 15:31 (GMT + 7)


(TuanVietNam)- Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các DN ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.
 

Từ góc nhìn của một doanh nghiệp Việt…

Anh Đào Xuân Anh là giám đốc một công ty kinh doanh hóa mỹ phẩm ở Hà Nội. Đăng ký chức năng hoạt động là sản xuất và phân phối (bán lẻ) các loại hóa mỹ phẩm chăm sóc tóc, nhưng 4-5 năm nay, công ty của anh chỉ tập trung nguồn lực vào nhập hàng từ Trung Quốc về bán. Lý do rất đơn giản: Nhập hàng Trung Quốc có lợi hơn.

Cái lợi ở đây, anh giải thích, gồm nhiều mặt: Chi phí nhập khẩu (tính cả mua hàng lẫn vận chuyển) rẻ hơn là tự sản xuất, quy trình làm việc đơn giản và ít phải suy nghĩ hơn. “Nếu tôi mở xưởng chẳng hạn, sẽ có muôn vàn thứ phải tính: địa điểm, nhân lực, thuế má, và vô số loại chi phí không tiện nêu tên nữa.

Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc

Trong các ngành khác thì không biết thế nào, chứ trong ngành này, tất cả các sản phẩm - từ thuốc nhuộm, tới dầu xả, dầu dưỡng v.v. - nhập từ Trung Quốc về đều rẻ hơn và giản tiện hơn tự sản xuất. Danh mục này chỉ trừ dầu gội đầu, nhưng ngay cả sản xuất dầu gội thì cũng có một số nguyên liệu phải nhập từ Trung Quốc”.

Anh nói thêm: “Đấy là tôi còn chưa kể, làm việc với phía Trung Quốc cũng khá thoải mái. Sản phẩm của họ chất lượng tốt, giá lại rẻ, mua càng nhiều càng rẻ. Họ giữ chữ tín và chiều chuộng đối tác - ít ra cho đến lúc này tôi vẫn thấy như vậy. Ở ta thì làm giám đốc doanh nghiệp nhỏ, như tôi, phải đương đầu với quá nhiều chuyện: thuế vụ, đại lý o ép, đối tác không đáng tin cậy v.v.”.

Chiến lược kinh doanh của anh Đào Xuân Anh tỏ ra hoàn toàn đúng đắn, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, chi phí sản xuất tiếp tục tăng cao. Trong khi đó, giá hàng Trung Quốc vẫn được duy trì ở mức thấp, chất lượng vẫn đảm bảo (hoặc nếu không đảm bảo thì cũng chẳng ai biết).

Và như vậy, với một công ty quy mô nhỏ, không đầy một chục người, giải pháp khôn ngoan nhất là: Cả sếp và nhân viên cùng kéo nhau sang Trung Quốc xách hàng về bán.


… tới con số nhập siêu kỷ lục của nền kinh tế

10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008.

Kết quả là con số thâm hụt thương mại kỷ lục của Việt Nam trước Trung Quốc: hơn 11 tỷ đô-la. Điều đáng sợ là không có dấu hiệu nào cho thấy con số này sẽ giảm đi.

Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Thương mại, Trung Quốc là thị trường trọng điểm của Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội vô cùng to lớn tại đất nước hơn 1 tỷ dân này.

Từ năm 2004, lãnh đạo hai nước đã xác định: Với lợi thế địa lý số 1 - có chung đường biên giới trên bộ dài đến hàng trăm km - với hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy tương đối thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa, hoạt động buôn bán qua biên giới giữa hai nước là một bộ phận cấu thành của quan hệ kinh tế.

Trên thực tế, có cơ sở để tin rằng thị trường hơn 1 tỷ dân của Trung Quốc là một mảnh đất màu mỡ, luôn “khát hàng”; và trên thực tế, Trung Quốc đã “qua mặt Mỹ để trở thành người tiêu dùng lớn nhất thế giới ở một số mặt hàng then chốt”. (*)

Riêng trong quan hệ thương mại với Việt Nam, Trung Quốc có nhu cầu cao đối với nhiều mặt hàng mà chúng ta có thế mạnh như: rau quả, thủy sản, cao su, đồ gỗ, than đá…

Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc, doanh nghiệp ta vẫn lép vế thảm hại ngay trên sân nhà, và khủng hoảng kinh tế càng kéo dài thì ta càng “thua trắng bụng”. Vì đâu?


Tầm nhìn chiến lược của người Trung Quốc

Nhìn vào những chính sách và quy định pháp luật của Trung Quốc về mậu dịch với các nước có chung đường biên giới, trong đó có Việt Nam, mới thấy không khỏi giật mình.

Theo TS Phạm Trí Hùng (Viện Marketing và Quản trị Việt Nam), từ năm 1978, Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa nền kinh tế, đã xác định “mở cửa toàn diện, nhiều hình thức, nhiều tầng”, trong đó có mở cửa ven biên giới đất liền.

“Phương châm của chiến lược mở cửa ven biên giới là: lấy mậu dịch biên giới dẫn đường, coi hợp tác kinh tế - kỹ thuật là trọng điểm, lấy khu vực lục địa làm chỗ dựa, coi việc khai thác thị trường các nước xung quanh là mục tiêu”.

TS Hùng cho biết, riêng trong cơ cấu thị trường, ngay từ cuối những năm 80, Trung Quốc đã coi mậu dịch biên giới là “đột phá khẩu” và có những chính sách quản lý rất rõ ràng, thống nhất, hướng vào việc đẩy mạnh mậu dịch biên giới, nhằm cải thiện đời sống của cư dân vùng biên giới, phát triển kinh tế vùng biên.

Chẳng hạn, Trung Quốc thực hiện những chính sách ưu đãi như: xóa bỏ mọi sự hạn chế về hình thức sở hữu đối với các thành phần tham gia mậu dịch biên giới; xóa bỏ mọi sự hạn chế, ràng buộc của chính quyền địa phương sở tại đối với mậu dịch biên giới; xóa bỏ sự hạn chế về kim ngạch, đảm bảo các giao dịch của mậu dịch biên giới qua một cửa; thực hiện việc miễn thuế, giấy phép xuất nhập khẩu đối với những hàng hóa bình thường....

Bắc Kinh còn giao quyền cho chính quyền địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu theo nguyên tắc: mức thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương; cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương, còn các cửa khẩu quốc tế do hải quan thu và nộp về ngân sách trung ương.

Trung Quốc cũng đầu tư làm tốt công tác kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu vào nước mình, bởi họ xác định đó là “vấn đề quan trọng, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và nhân dân, trực tiếp liên quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước”.

Những gì Bắc Kinh thực hiện cho thấy một chiến lược lâu dài, bài bản của chính phủ nhằm hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp lớn nhỏ, thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó đặc biệt ưu tiên mậu dịch biên giới. Nó cũng chứng tỏ rằng, trong việc xuất khẩu hàng hóa, chiếm lĩnh thị trường nước khác, doanh nghiệp không thể đơn lẻ.


Đừng để doanh nghiệp Việt Nam đơn độc

Ở đây phải nhấn mạnh, Nhà nước không thể đứng ngoài công cuộc hỗ trợ cho doanh nghiệp (“hỗ trợ” chứ không phải “quản lý”).

Một khi Việt Nam đã gia nhập WTO, những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp quá trực tiếp, “lộ liễu” không còn được chấp nhận nữa vì có thể vi phạm điều lệ. Nhưng vẫn có những việc Chính phủ có thể làm – và làm tốt – để giúp doanh nghiệp nội đương đầu với hàng ngoại.

Ví dụ như cung cấp thông tin về thị trường Trung Quốc và các chính sách của Bắc Kinh đối với các thị trường láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam. Sao cho không còn những vụ như vụ dưa hấu Việt Nam bị ách ở cửa khẩu Tân Thanh vì doanh nghiệp không cập nhật được những thay đổi trong luật kiểm dịch của Trung Quốc.

Bên cạnh đó là việc thực thi pháp luật để tiêu diệt vấn nạn hàng lậu. Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh “than” hộ doanh nghiệp: “Đã đành là tự do cạnh tranh, doanh nghiệp làm ăn yếu kém, không hiệu quả, thì phải chịu, Chính phủ không cứu được. Nhưng buôn lậu là cái có thể ngăn chặn được chứ đâu phải vô phương chống đỡ? Vấn đề là hình như chúng ta không làm gì cả”.

Về ý kiến cho rằng vì cơ cấu xuất khẩu của ta có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc nên khó xác định được những ngành có lợi thế cạnh tranh, ông Bùi Trinh nhận xét: “Thực ra từ trước đến giờ Việt Nam chưa có chính sách xác định cụ thể một ngành nào là cần ưu tiên. Đúng hơn là ta có xác định, nhưng đều chỉ một thời gian lại thay đổi: nào dệt may, nào mía đường, nào thép… Tôi thấy cứ như thể chúng ta chưa thực sự quan tâm tới ngành nào cả”.


Doanh nghiệp VN: Phải tự cứu mình

Trước làn sóng hàng Trung Quốc, không còn thời gian để mỗi doanh nghiệp Việt Nam trong ngành có liên quan bình tâm chờ đợi một chiến lược hay vài chính sách “hỗ trợ” từ phía Nhà nước. Cải tiến thiết kế, đẩy mạnh hoạt động marketing, chủ động tìm kiếm khách hàng, là những việc doanh nghiệp ta có thể thực hiện ngay trên thị trường nội địa.

“Rõ ràng là thị trường trong nước không cung cấp đủ hàng hóa, dân có nhu cầu thì họ mua của Trung Quốc là phải” – chuyên gia kinh tế Bùi Trinh nói.

Sự chủ động, xông pha thị trường với tinh thần sáng tạo, “sẵn sàng tự do cạnh tranh”, xem ra không phải tố chất có thừa ở các doanh nghiệp Việt Nam. Cũng ông Bùi Trinh cho biết, từ ngày có chủ trương kích cầu, “nhiều công ty đang dồn nỗ lực vào việc kiếm được một khoản tiền hỗ trợ Nhà nước rót. Có công ty còn đem tiền ấy cho vay lại, kiếm lãi, thay vì tập trung vào đầu tư, sản xuất”.

Còn trong việc xuất khẩu hàng theo hướng… ngược lại, sang Trung Quốc, hơn ai hết, doanh nghiệp phải cập nhật thường xuyên thông tin về thị trường nhập khẩu, chủ động xúc tiến thương mại, nâng cao khả năng cạnh tranh. Một số chuyên gia khuyến cáo: Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn coi nhẹ vấn đề kiểm dịch, nên hay bị phía đối tác Trung Quốc lợi dụng ép giá. Đây cũng là điều các nhà xuất khẩu phải lưu tâm.

Trong sự thảm bại của hàng Việt Nam trên sân nhà, có lẽ người tiêu dùng là ít đáng trách nhất. Bởi ở Việt Nam, thu nhập đầu người thấp, hàng hóa nội địa yếu cả về số lượng và chất lượng, người tiêu dùng quay sang hàng Trung Quốc là điều dễ hiểu. Chúng ta có thể hô hào kêu gọi tinh thần dân tộc và lòng yêu nước ở mỗi con người. Tuy nhiên, điều đó lại thuộc về một câu chuyện khác rồi

Đoan Trang

 

 






WTO & TẦU CHỆT :
MỒ CHÔN CƠ CHẾ CSVN

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


CHÚ THÍCH :

Bài này được viết từ những tháng cuối năm 2006 khi mà Nhà Nước CSVN hứng khởi gia nhập WTO/OMC như gà mắc đẻ và mơ mộng đem những Công ty Nhà Nước đi khắp thiên hạ để vơ tiền về cho đảng. Nhưng ba năm sau, 2009, những Chuyên gia Kinh tế làm việc cho CSVN đã phải lớn tiếng la lên rằng Kinh tế Việt Nam đang bị Tầu chệt xâm lăng trong khung cảnh WTO/OMC. Từ năm 2006, chúng tôi đã nói rằng vào WTO/OMC trong Cơ chế cho phép Độc tài Chính trị nắm  Độc quyền Kinh tế sẽ là Mồ chôn CSVN. Thực vậy, lúc này, trong cảnh Kinh tế bị Tầu Chệt giết chết, Dân chúng đói khổ, thì họ sẽ đào Mồ để chôn CSVN, mặc dù Cơ chế này vẩn còn chai lỳ dùng võ lực để cứu vớt.

Xin quý Độc giả vào Web sau đây để đọc thêm những bài khác :
APEC & WTO   :  http://VietTUDAN. net/176201. html


Chúng tôi đã phân tích tỉ mỉ, khi vào WTO, những CÁI NGUY HẠI PHẢI CHỐNG ĐỠ như Bài đăng dưới đây. Qua những phân tích hoàn toàn trong phạm vi Kinh tế, Thương mại, chúng tôi muốn rút ra những KẾT LUẬN cho bài này về khía cạnh Chính trị làm môi trường cho việc CHỐNG ĐỠ NHỮNG CÁI NGUY HẠI hay làm điều kiện cho việc THU VÀO NHỮNG CÁI LỢI. Chúng tôi đề cập đến những điểm sau đây:

=> Tóm tắt những cái nguy hại đưa đến Thuộc địa Kinh tế

=> Vào WTO, những Điều kiện tăng Cạnh tranh hữu hiệu


TÓM TẮT NHỮNG CÁI NGUY HẠI
ĐƯA ĐẾN THUỘC ĐỊA KINH TẾ

Không phải chỉ riêng những phân tích của chúng tôi về những cái nguy hại, mà chính những nhà Kinh tế quốc tế hoặc thuộc chế độ CSVN đã xác nhận.

Những nguy hại từ hai bài phân tích của chúng tôi.

Đó là những nguy hại mà chính chúng tôi liệt kê tóm tắt như sau:

=> Hàng hóa nước ngoài, nhất là từ những nước chung quanh đã tiến trước, cạnh tranh và tiêu diệt, ở chính trên lãnh thổ mình, những hàng hóa thuộc công nghệ Việt Nam mới ở giai đoạn phát sinh (les Industries naissantes). Việt Nam dễ trở thành thuộc địa Kinh tế của Trung cộng về hàng công nghệ chẳng hạn.

=> Trong chế độ độc tài độc đảng hiện nay, tham nhũng cấu kết với tài phiệt ngoại lai để bóc lột lao động.

=> Thiệt hại nặng hơn cả là việc giết chế nông nghiệp và ngư nghiệp, nguồn phát triển sống còn của nước mình.

=> CSVN hồ hởi vào WTO nhằm mục đích chính yếu là cũng cố quyền lực Chính trị độc tài hơn là những đắn đo về Kinh tế.

Xác nhận những nguy hại từ những nhà Kinh tế

Những nhà Kinh tế quốc tế cũng như quốc nội (CSVN) đều nhìn thấy những nguy hại của việc vào WTO với tình trạng Kinh tế cũng như Chính trị hiện hành:

=> Tiến sĩ Carl THAYER, Giám đốc Diễn đàn Nghiên cứu Quốc phòng của Đại học New South Wales, đã nêu ra 6 cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO.

=> Ngày 7/11/06, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề "Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế". Theo đó cho biết, 92% doanh nghiệp kinh doanh bình thường và kém. Chính CSVN xác nhận sự yếu kém của mình về cả sản xuất cụ thể lẫn kiến thức về doanh nghiệp. WTO không phải là nơi đại hội tưng bừng đến đó để chia phần bánh, mà là một đấu trường kẻ mạnh diệt kẻ yếu không thương tiếc. Đây là nơi đấu tranh về tiền bạc.
 

VÀO WTO,
NHỮNG ĐIỀU KIỆN TĂNG CẠNH TRANH HỮU HIỆU

WTO là Tổ chức Thương mại Thị trường Tự do mà Tư hữu và Cá nhân là chủ động, không có sự can thiệp trắng trợn của quyền lực Chính trị. Vào Tổ chức, không thể quen thói gian lận, bịp bợm của một thể chế Chính trị độc tài độc đảng với hệ thống Công ty quốc doanh, hệ thống làm ăn Mafia gia đình, Mafia đảng.


Vào WTO, phải phế bỏ Cơ Chế VN hiện hành

Đây không phải là sự đòi buộc mang tính cách đấu tranh Chính trị để chiếm quyền lực mà là sự đòi buộc cho tương lai phát triển Kinh tế Việt Nam. Cái Cơ chế hiện hành đã đưa Việt Nam đến tình trạng Kinh tế lúc này trước khi vào WTO với những nguy hại mà chúng tôi đã phân tích trên đây và được xác nhận bởi những nhà Kinh tế quốc tế và quốc nội. Nếu chúng ta vẫn duy trì cơ chế độc tài độc đảng hiện hành, thì về mặt cụ thể, Việt Nam dễ trở thành một thuộc địa Kinh tế, và về mặt lý thuyết, không có sự phù hợp giữa Kinh tế / Thương mại Tự do Thị trường và cơ chế độc tài độc đảng luôn áp chế Chính trị độc đoán vào sinh hoạt Kinh tế Tư nhân tự do.


Vào WTO, phải tôn trọng Tư Hữu và
quyền Tự do Sinh hoạt Kinh tế Tư doanh
 
Không thể dùng lời khuyên, khích lệ, cổ võ tinh thần mà diệt được Tham nhũng, kẻ thù của phát triển Kinh tế Tự do Thị trường. Đối lập quyền lực và Chính trị là biện pháp chính để ngăn chặn Tham nhũng. Những quy luật của Tổ chức Mậu dịch Quốc tế được thiết lập trên căn bản của nền Kinh tế Tự do Thị trường của những sinh hoạt Kinh tế tư nhân,  phạm vi có Năng Suất tối đa và do đó có khả năng Cạnh tranh hữu hiệu trên Thị trường Tự do. Cần diệt Tham nhũng từ một Cơ Chế làm phát sinh và nuôi dưỡng và cần theo quy luật WTO đặt căn bản trên Tự do Cạnh tranh, thì phải có một Thể Chế lấy giải quyết những tranh chấp Kinh tế/ Thương mại theo nguyên tắc DÂN CHỦ giữa những tác nhân Kinh tế/ Thương mại.


Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp
phải do chính những Tác nhân Kinh tế lập nên

Một nền Kinh tế Tự do và Thi trường không được đặt trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phép tập trung những quyết định Kinh tế vào một quyền lực Chính trị độc tài. Đó là Môi trường tréo cẳng ngỗng. Phải có một Môi trường Chính trị-Luật pháp tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦtrong những quyết định liên hệ đến Kinh tế/ Thương mại.
 
Khi những điều kiện trên đây được tôn trọng, thì những Tác nhân Kinh tế/ Thương mại tự động thiết lập lên Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phù hợp. Chúng tôi ít khi nói đến một nền Chính trị Dân Chủ đa nguyên như một sự họp lại của giới làm Chính trị (đa Đảng) để định đoạt cho giới Tư doanh. Chúng tôi càng không nói tới một thứ Dân Chủ do một đảng độc tài ban phát ra cho Dân.

Chúng tôi quan niệm rằng một Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường là kết quả của một Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế đem đến Dân chủ hóa Chính trị.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






                                            HÀNG NƯỚC NGÒAI
                                 DIỆT KINH TẾ VN TRÊN SÂN NHÀ


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


CHÚ THÍCH:
 
Bài này đã được viết từ lâu nhân dịp Việt Nam vào WTO/OMC và nhân Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale) về việc Hội nhập WTO/OMC này của Việt Nam. Chúng tôi đã cảnh cáo ngay thời đó rằng có những cái hại cạnh tranh mà Việt Nam chưa sửa sọan và khó chống lại việc tràn vào của những hàng nước ngòai, nhất là hàng Trung quốc. Chúng tôi cho đăng lại Bài này vì đúng ngày nay, hàng hóa Trung quốc đang lan tràn vào Việt Nam và diệt Kinh tế nước mình. Đây là một trong lọat Bài viết về Hội nhập WTO/OMC của Việt Nam. Qúy độc giả có thể đọc những bài khác trong Web sau đây:
APEC & WTO   :  http://VietTUDAN. net/176201. html


Bài này viết về những cái hại tổng quát. Khi viết loạt bài này và có thể những loạt bài kết tiếp để khai triển thêm những chi tiết, tôi muốn cho thấy rằng chính những đòi hỏi Phát triển Kinh tế tương lai bắt buộc phải phế bỏ chế độ độc tài CSVN hiện nay. Khi tôi nói là phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành, đó không phải là việc tôi đòi hỏi hoặc “làm chính trị“. Đó chỉ là đòi hỏi của những điều kiện phát triển thuần túy Kinh tế mà thôi.

Bài thứ Nhất nói về khi nhậpWTO, cơ hội phát triển Kinh tế, trước hết có NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Bài này sẽ đề cập đến hai phần như sau:

=> Những cái hại gặp phải khi vào WTO/OMC

=> Những biện pháp chống lại những cái hại.

 

NHỮNG CÁI HẠI GẶP PHẢI
KHI VÀO WTO/OMC

Vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC), nghĩa là Việt Nam nhập vào Cạnh tranh của Thị trường tự do. Nói đến Cạnh tranh, việc trước hết là phải biết mình có khả năng có thể cạnh tranh với người khác hay không, nếu không người khác sẽ đánh cho mình chết trong trứng nước hoặc lụn bại luôn. Việc cạnh tranh là ở chính trên nước mình, chứ không phải là Thị trường quốc tế tại những nưỡng nước khác. Dường như CSVN sống trong mơ mộng rằng vào WTO/OMC là đi hốt bạc tại những nước khác, mà quên đi rằng những nước khác có quyền vào chính nước mình để thu bạc đem ra.


Khả năng cạnh tranh của Việt Nam

Yêu cầu chế độ đừng ngông nghênh kiêu ngạo tự khen mình, coi mình như nhất nhì thiên hạ. Tôi còn nhớ câu chuyện một Tùy viên Quân sự của Sứ quán Việt Cộng bên cạnh Liên Hiệp Quốc nói với tôi rằng: “Thế Giới có 5 Tướng tài, Việt Nam chiếm 3“. Tôi nhịn cười không được bởi vì thấy ông ấy nói thành thực và ngây ngô chứ không phải là nói diễu chơi cho vui. Vấn đề vào WTO/OMC không còn phải là tự khoe mình ngông nghênh, tuyên truyền cho chế độ nữa. Vào WTO/OMC là vấn đề tiền bạc thực tiễn: cạnh tranh không nổi thì mất tiền, cạnh tranh thắng thì có tiền. Còn nếu chỉ nhằm khoe khoang, mơ mộng, thì chết đói. Đó là thực tiễn, chứ không dỡn chơi.

Nếu xét về việc tiến triển phần nào Kinh tế hiện hành, đó là nhờ sự đấu tranh Kinh tế của khối tư doanh và nhờ chính yếu nguồn ngoại tệ từ phía Việt kiều. Một số người nhìn sự tiến triển ấy, đã lầm lẫn hoặc cố ý nịnh đầm, đã cho rằng đó là công của CSVN. Nói như vậy là không hiểu gì về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Dân làm Kinh tế và phát triển Kinh tế, chứ không phải quyền lực Chính trị. Khối Cộng sản đã chủ trương làm Kinh tế để bao cấp Dân và họ đã hoàn toàn thất bại đến chỗ Dân đòi lại quyền làm chủ Đất Nước để nắm trong tay quyền làm ăn phát triển Kinh tế.

Tại Việt Nam, Dân nghèo phải làm ăn để có đủ sống. Họ nhờ nguồn tài trợ từ khối người Tỵ nạn thương gia đình còn ở lại. Khi phải tự mình kiếm sống, họ phải tìm đủ mọi cách tránh né sự áp chế, dành quyền kinh tế từ những Công ty quốc doanh. Khi phải tự mình kiếm sống, họ đã phải cay đắng cho CSVN ăn bẩn, ăn thỉu để có thể có việc làm, có cơ hội doanh thương tự họ. Khi phải tự mình kiếm sống, người Dân đã phải cay đắng nhận những đồng lương bóc lột mà CSVN bán họ cho nước ngoài và ăn hớt tiền trên sức lao động của họ. Nhìn như vậy, xin hãy nói cho đúng rằng nếu có những tiến triển kinh tế hiện nay, thì đó là từ  sự cố gắng vượt mực của Dân. Chính CSVN đã cản mũi kỳ đà sức cố gắng phát triển này của người Dân. Những ai há mõm khen CSVN làm cho Kinh tế phát triển một phần hiện nay, đó là những người nói ngu xuẩn, thiếu học về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Tôi thẳng thắn nói vậy và sẵn sàng trả lời những ai ngu xuẩn khen tặng CSVN một cách nịnh đầm vô lương tâm và hèn hạ.

Sự phát triển kinh tế một phần hiện nay chưa cho phép Việt Nam tự hào rằng mình đã có đủ lực cạnh tranh trên Thị trường quốc tế. Vào WTO/OMC phải cấp tốc đẩy mạnh những gì đã có một phần phát triển. Việc đẩy mạnh này thiết yếu đòi phải dành quyền cho Dân bởi những phát triển kia là từ sức cố gắng của Dân, chứ không phải từ quyền lực CSVN, một quyền lực cản mũi kỳ đà cho phát triển.

Hàng hóa quốc tế diệt hàng hóa Việt Nam
tại chính nước mình

Trên đây, chúng tôi nói tổng quát đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong đoạn này, chúng tôi nhìn xem những hàng hóa nước ngoài diệt chính hàng hóa Việt Nam tại quốc nội như thế nào. Trong đoạn tiếp theo, chúng tôi quan sát khả năng cạnh tranh của những hàng hóa Việt Nam bên cạnh những hàng hóa nước ngoài trên Thị trường quốc tế.


=> HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP

Chúng tôi đã nhiều lần nói đến sự cạnh tranh chính yếu đến từ Thái Lan. Nguồn sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp (Conditions géographiques—Ressources naturelles) giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam. Nhân lực làm việc (Conditions démographiques) về những ngành này cũng không khác gì nhau. Nhưng có sự khác biệt rất rõ rệt về điều kiện Chính trị—Pháp lý (Conditions Politico-Juridiques): một đàng (Thái Lan) dành phần khai thác cho Tư nhân, một đàng (Việt Nam) dành cho quốc doanh (người của độc đảng) những quyền khai thác, bóc lột ưu tiên. Ai cũngt biết rằng khi việc khai thác nằm trong tay quyền lực Chính trị, thì không thể không có lãng phí và tham nhũng được bao che, và do đó năng xuất khai thác không thể nào được phát triển như trong Điều kiên Chính trị—Pháp lý Dân chủ.

Trong việc khai thác, hai yếu tố chính sản xuất là Vốn và Nhân lực (K: Capital, L:Labour). Nếu nhân lực sản xuất giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam, thì có sự chênh lệch rất rõ rệt việc đầu tư Vốn vào hai ngành nông nghiệp va ngư nghiệp giữa hai nước: Thái Lan đầu tư vốn 8 lần hơn Việt Nam vào hai ngành này.

Hiện nay, mặc dầu chưa vào WTO, mà hàng nông nghiệp và ngư nghiệp của Thái Lan đã cạnh rất ưu thế tại chính Việt Nam. Những hàng nông nghiệp của Thái Lan như gạo, trái cây... được coi là hàng sang và đã lan tràn ở Việt Nam. Dân Việt mua gạo Thái để ăn, mua trái cây của Thái để cúng vái, để ăn những dịp lễ. Những hàng gia vị của Thái cũng đang lan tràn tại chính quốc nội.


=> HÀNG KỸ NGHỆ BIẾN CHẾ NÔNG PHẨM VÀ NGƯ PHẨM

Việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ biến chế những sản phẩm này tại chỗ. Không có Kỹ nghệ này tại chỗ, thì rất khó phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp. Những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm nhằm nối dài thời gian xử dụng trong tương lai (thời gian) và mở rộng địa vực xử dụng đến những nơi không có những hàng nông nghiệp và ngư nghiệp (không gian). Tỉ dụ, nước Ý có kỹ nghệ làm Cà Chua Hộp để nâng đỡ việc trồng Cà Chua, nếu không Cà Chua dễ thối.

Kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tại Việt Nam, xứ có nguồn dồi dào về ngư nghiệp và nông nghiệp, lại thua kém hẳn Thái Lan, Tân Gia Ba và Đài Loan. Như vậy, những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tràn vào Việt Nam và cạnh tranh trong phần thắng.


=> HÀNG CÔNG NGHỆ THÔNG DỤNG HÀNG NGÀY

Đây là những hàng công nghệ thường dùng hàng ngày. Những hàng này không thuộc loại hàng hóa phức tạp (Produits sophistiqués) cần phải có một trình độ kỹ thuật cao. Tỉ dụ như bát đĩa, xoong chảo, nồi cơm điện, xe hai bánh, quạt máy, phích nước..., đó là những đồ công nghệ thông dụng hàng ngày.

Hiện nay, ngay chưa nhập WTO, những hàng này đang diệt những hàng tương tự sản xuất tại Việt Nam. Nhà Nước Việt Nam mới tuyên bố rằng khi vào WTO, những hàng này của Trung Cộng còn được giảm xuống 16% nữa cho thuế nhập cảng. Như vậy khả năng những hàng này cũa Tầu diệt hàng Việt Nam càng tăng lên hơn nữa.

Tại sao Trung Cộng có khả năng cạnh tranh cao về những hàng công nghệ này ? Trong sản xuất, việc cạnh tranh là giá thành của hàng hóa. Muốn hạ giá thành, thì phải tăng số lượng sản xuất. Trung Cộng có khả năng tăng lượng sản xuất vì họ có khối lượng dân số 1 tỉ rưỡi. Hàng sản xuất không sợ ứ đọng vì đã có khối dân không lồ bảo đảm việc tiêu thụ hết hàng hóa.


=> HÀNG KỸ NGHỆ MÁY MÓC CAO & PHỨC TẠP 

Những hàng Kỹ nghệ Máy móc cao và phức tạp (Produits sophistiqués) hầu như chưa phát sinh tại Việt Nam, nên chưa nói đến việc cạnh tranh được. Việt Nam mới bắt đầu sản xuất thuê những linh kiện (pìeces détachées) cho những Công ty nước ngoài, chứ chưa ở mức độ sản xuất những máy móc phức tạp (Produits sophistiqués) như sản phẩm cuối cùng sẵn sàng cho tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).

Việc cạnh tranh những hàng hóa này là việc cạnh tranh xử dụng Kỹ thuật tân tiến và cao (Haute Technologie moderne). Muốn có những Kỹ thuật tân tiến và cao, thì phải đầu tư những số Vốn lớn. Việt Nam chưa có khả năng Vốn lớn đầu tư, vì vậy hàng hóa trong phạm vi này không thể có khả năng cạnh tranh, thậm chí chưa sinh ra.

Những máy móc cao và phức tạp của những nước chung quanh sẽ tràn vào và diệt hàng Việt Nam trong trứng (chưa sinh ra). Những nước này là: Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, ngay cả Thái Lan và Mã Lai.


=> NHỮNG DỊCH VỤ (SERVICES)

Dịch vụ đầu tiên là Dịch vụ Phân phối hàng hóa (Thương mại). Khi vào WTO, những Tổ chức phân phối đa quốc gia (Chaines de Distribution Multinationales) có quyền mở rộng Thị trường phân phối tại Việt Nam. Nếu không vào WTO, những Tiểu thương hoặc những Nhà phân phối quốc nội được che chở phần nào trước sức mạnh của những Tổ chức phân phối đa quốc gia. Khi vào WTO, những Tổ chức này dễ dàng bóp chết hệ thống phân phối quốc nội vì những Tổ chức đa quốc gia này có số vốn khổng lồ để che chở việc cạnh tranh bán hàng hóa.

Ngoài Dịch vụ Phân phối hàng hóa, còn nhưng Dịch vụ độc lập khác như Kiểm Toán, Bảo Hiểm, Nha sĩ, Bác sĩ... Nếu những Dịch vụ này hiện diện ở Việt Nam vì phải tôn trọng Tự do lưu thông hàng hóa và dịch vụ khi vào WTO, thì sự cạnh tranh rất là gay gắt cho những dịch vụ từ người Việt tại quốc nội. Dân Việt chọn lựa những Dịch vụ từ người nước ngoài vì có nhiều những tin tưởng hơn (!). Tỉ dụ chọn Kiểm toán nước ngoài hơn là Kiểm toán quốc nội; chọn Bảo Hiểm ngoại quốc có nhiều tin tưởng hơn...


Hàng hoá Việt Nam thua kém cạnh tranh
trên Thị trường quốc tế

Ở đoạn trên, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh quan trọng nhất, đó là những hàng hóa nước ngoài  cạnh tranh với những hàng hoá Việt Nam hoặc diệt chính những hàng hóa Việt Nam trên lãnh thổ của Quê Hương mình.

Trong đoạn này, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi đứng bên cạnh hàng hóa các nước khác trên Thị trướng quốc tế:

=> Hàng nông nghiệp và ngư nghiệp

Nói ngay đến khối người Việt tỵ nạn, họ đã phải tiêu thụ hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Thái Lan trong 30 năm rồi. Trong thị trường quốc tế về hàng nông nghiệp và ngư nghiệp, còn phải kể đến những nước cạnh tranh khác: Nam Mỹ, các nước Đông Aâu, Aân độ, Nam Dương.

=> Hàng kỹ nghệ chế biến nông phẩm và ngư phẩm

Việt Nam chưa sánh được ngay cả với những nước trong vùng như Đài Loan, Tân Gia Ba, Thái Lan, Mã Lai..., huống chi nói đến những nước đã mở mang trên Thế Giới. Những nước nông nghiệp, chăn nuôi như Nam Mỹ, đang mở mang mạnh kỹ nghệ chế biến thực phẩm. Đông Aâu đang mở mang mạnh về những kỹ nghệ biến chế thực phẩm này. Những nước tân tiến như Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha...cần mở mang những kỹ nghệ biến chế nông phẩm này để nâng đỡ phát triển nông nghiệp của họ.

=> Hàng công nghệ thường dùng

Hàng Trung Cộng đang tràn lan. Việt Nam khó cạnh tranh với Trung Cộng về những hàng hóa thông dụng hàng ngày này.

=> Những máy móc cao và phức tạp

Không thể có, lúc này, sự cạnh tranh của Việt Nam ở Thị trường quốc tế về những máy móc. Tôi chưa thấy có chiếc Ti-Vi “made in Vietnam“ bán ở Thị trường Thụy sĩ.

=> Những Dịch vụ (Services)

Đến bao giờ mới có Dịch vụ Kiểm toán Việt Cộng ở Thị trường Pháp, Đức... ?


NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG LẠI
NHỮNG CÁI HẠI

Phần trên đây phân tích về những điểm yếu, những cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO/OMC. Phần này nói đến những biện pháp nào để mong tránh hoặc ngăn chặn những cái nguy hại có thể xẩy ra.

Mặc dầu vào WTO rồi, nghĩa là phải thi hành Tự do Giao thương, nhưng có biện pháp nào tránh né cái Tự do đó hay không trong việc cạnh tranh? Đó là biện pháp tiêu cực.

Nhưng chúng ta phải nghĩ đến những biện pháp tích cực nhằm tăng cường cho chính khả năng cạnh tranh của mình.


Quyền che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh

Mặc dầu vào WTO, một Tổ chức luôn cổ võ Tự do Mậu dịch, cổ võ việc dành cho nhau Điều khoản “Quốc gia tối ưu đãi“ (Clause de la nation la plus favorisée), nghĩa là tuyên bố tình yêu với nhau, quyền Che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh vẫn được tôn trọng.

Đứng về mặt nguyên tắc và lý thuyết, Tự do Mậu dịch (Le Libre Echange) vẫn không khai trừ nguyên tắc Che Chở cho Kỹ nghệ đang phát sinh (Le Protectionnisme des Industries naissantes). Về nguyên tắc này, chúng tôi đã mới nói trong cuộc Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale).

Nhân sự va chạm giữa CNUCED và WORLD BANK trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc qua cuộc Hội Nghị nhận định về sự phát triển của những nước nghèo hoặc đang mở mang, ngày 13.09.2006, Đài RADIO FRANCE INTERNATIONALE (RFI) phỏng vấn tôi về 4 câu hỏi:

1) Tại sao Trung Cộng có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Quốc tế ? CNUCED coi đây là một sự thành công mà các nước kém mở mang có thể học đòi theo, đồng thời công kích Ngân Hàng Thế Giới đã trợ lực tài chánh cho các nước nghèo mà hiệu quả không gặt hái được cụ thể.

2) Vậy các nước nghèo có thể áp dụng được chính sách xuất cảng hàng hóa mà Trung Cộng đã áp dụng hay không ?

3) Tại sao chính sách hỗ trợ tài chánh cho những nước nghèo mà Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) chủ trương trong nhiều năm nay lại không đưa đến những kết quả tốt cụ thể?

4) Nhận xét về hậu quả như thế nào khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) ?

Tôi đã trả lời về 4 vấn đề này và Đài RFI đã phát thanh về Việt Nam ngày Thứ Năm 14.09.2006, trong chương trình từ 15g-16g (giờ Paris). Xin vào RFI để nghe:

     http://www.rfi.fr/langues/statiques/rfi_vietnamien.asp   

Tôi đã trả lời về 4 vấn đề nêu ra trên đây. Câu hỏi thứ tư liên hệ đến Việt Nam khi vào WTO. Chúng tôi đã khai triển câu hỏi này trong phần trên đây, vì vậy chúng tôi không nhắc lại trong phần này nữa mà chỉ nhấn mạnh đến cái Quyền Che chở Kỹ nghệ đang phát sinh mặc dầu Việt Nam vào WTO với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) để chúng ta tìm cách che chở những cái thiệt hại cho nước mình khi mình thiếu khả năng cạnh tranh.   

=> Trả lời cho câu hỏi 1

Nếu CNUCED coi đây là một Mô hình Kinh tế sáng kiến bởi Trung Cộng, thì đó là không đúng. Đây chỉ là một Chính sách Thương mại quốc tế mà những nước kém mở mang có quyền Bảo vệ những ngành Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Chủ trương này không phải là sự phát minh của Trung Cô.ng. Việc chủ trương bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này đã có trong Lịch sử Thương mại của những nước tư bản. Sau Cách mạng Kỹ nghệ của Anh quốc, nước này trở thành mạnh nhất Thế giới (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20) và muốn chiếm Thị trường quốc tế, đã kêu gọi và cực lực thuyết minh cho Chính sách Tự do Mậu dịch (Libre Echange) dựa trên những Thuyết lý Kinh tế của Adam SMITH, David RICARDO và Stuart MILL. Chính thời này, Hoa kỳ và Đức, còn trong thời kỳ gây dựng cho những Kỹ nghệ đang phát sinh, đã chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này (Protectionnisme des Industries naissantes) chống lại hàng hóa của Anh quốc. Lý thuyết gia Frederic LIST đã hùng hồn thuyết minh cho chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Ngày nay, Hoa kỳ và Đức đã trưởng thành về những Kỹ nghệ này, nên lại cực lực thuyết minh cho Tự do Mậu dịch (Libre Echange), thậm chỉ kêu gào cho Toàn cầu hóa (Globalisation). Vậy thì Tự do Mậu dịch (Libre Echange) hay Bảo vệ Mậu dịch (Protectionnisme) chỉ là tương đối tùy theo sức mạnh Kinh tế của nước đứng ra kêu gọị

Việc Trung Cộng bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh của mình là việc có quyền của những nước đang phát triển. Tự do Mậu dịch là một điều lý tưởng, những phải giả thiết rằng mọi Nước tham dự phải có sức mạnh Kinh tế đồng đềụ Điều này rất khó thực hiện trên Thế giới và luôn luôn là nguồn tranh cãi không lối thoát giữa đa số những nước nghèo và thiểu số những nước giầu qua những Vòng Thương Nghị (Tokyo Round, Kennedy Roung, Uruguay Round...) trong khuôn khổ GATT (tiền thân của WTO/OMC).

Việc Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh khác với việc xử dụng quyền lực độc đoán bóc lột nhân công để có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Thế giớị Chấp nhận trên nguyên tắc rằng những nước đang mở mang có quyền bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh, nhưng không thể chấp nhận việc hai nước Trung Cộng và Việt Cộng xử dụng quyền độc tài để bóc lột lương nhân công và để hạ giá thành hàng hóa, từ đó bán phá giá trên Thị trường quốc tế.

=> Trả lời cho câu hỏi 2
  
Các Nước nghèo hoặc đang trên đà phát triển có quyền BẢO VỆ NHỮNG KỸ NGHỆ ĐANG PHÁT SINH, nhưng CNUCED không thể khuyên họ hãy  trở tha `nh một nước Cộng sản chủ trương chế độ độc tài  để bóc lột sức lao động của nhân công như Trung Cộng và Việt Cộng đang làm. CNUCED muốn lấy khôn lỏi của Kinh tế để đè bẹp Nhân quyền hay sao?

=> Trả lời cho câu hỏi 3

Chủ trương của Ngân Hàng Thế Giới muốn trợ lực tài chánh cho những Nước nghèo là rất đúng bởi vì với chủ trương Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa từ G8 hiện nay đồng thời cũng là việc Tập trung hóa Tài chánh về những nước giầu, thì hố sâu giầu nghèo giữa các nước sẽ khơi rô.ng. 

   Globalisation des Marchandises == Centralisation Financiere 

Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đã chủ trương việc tái phân phối tài chánh đến những nước  nghèọ Đây là chủ trương rất nhân đạọ Nhưng tại sao chủ trương này không mang đến những hiệu quả tốt cụ thể. Tôi đã trả lời rất rõ rệt rằng sở dĩ không đạt được những hiệu quả tốt cụ thể là vì hai điều:

=> Việc tài trợ này qua các Chính phủ tại những nước kém mở mang. Những Chính phủ này có đầy tham nhũng lãng phí tài chánh làm thất toát số vốn tài trơ..

=> Ngân Hàng Thế Giới, một là thiếu phương tiện kiểm soát, hai là không đủ khả năng kiểm soát chặt chẽ về tài chánh đối với quyền lực chính trị của những nước ấỵ


Những Biện pháp không giá biểu

Tất cả những Đàm phán về Thương mại Song phương (Bilatéral: tỉ dụ Hoa kỳ—Việt Nam), từng Vùng (Régional: tỉ dụ Union Eropéenne) hay Thế Giới (Mondial: tỉ dụ WTO/OMC) đều mong đưa đến một Hợp Đồng về giá biểu. Những giá biểu này gọi là Giá Biểu Hợp Đồng cho Quan Thuế (Tarifs douaniers contractuels).

Khi nói đến Giá Biểu Hợp Đồng, thì hai nước, hoặc những nước cùng Vùng hoặc tất cả mọi nước trên Thế Giới coi nhau đồng đều và phải áp dụng những Giá Biểu đã kỳ kết.

Nhưng trên thực tế, có nước mạnh, nước yếu không đồng đều. Chính vì vậy, mặc dầu những Giá Biểu Hợp Đồng được ký kết  mà mỗi nước tùy theo sức lực riêng, điều kiện cạnh tranh riêng, có thể áp dụng những Biện Pháp không Giá Biểu. Ngay cả trong phần Lý thuyết về Tự do Mậu dịch, những lý thuyết gia cũng biện minh cho những Biện Pháp không Giá Biểu gọi là “Les Mesures non-tarifaires“, như:

=> Biện Pháp Hạn chế Lượng (Contingentement/ Quotas)
=> Biện Pháp Kiểm soát Hối đoái (Controle de Change)
=> Biện Pháp Kỹ thuật (Mesure Technique)
=> Biện Pháp Hành chánh (Mesure Administrative)

Tất cả những Biện Pháp này là những “hiểu ngầm thông cảm hữu lý“ cho những nước quá bị thiệt thòi khi áp dụng đúng theo nhữn Giá Biểu Quan Thuế theo Hợp Đồng (Tarifs Douaniers Contractuels)


Đường lối nâng cao khả năng cạnh tranh

Hai Cách thế trình bầy trên đây: (1) Che Chở cho những Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes); và (2)  Những biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) là hai Cách thế mang tính cách tiêu cực trong những quan hệ Thương mại quốc tế khi mà những nước ký với nhau trong Hợp Đồng không có sức mạnh cạnh tranh đồng đều như nhau.

Đường lối nỗ lực tự mình nâng cao khả năng cạnh tranh là Chính sách luôn luôn được khuyến khích. Đường lối này phải đến từ sức mạnh Kinh tế Tự do và Thị trường  đích thực mà người Dân làm chủ Kinh tế, Nhà Nước không can thiệp trực tiếp vào đời sống Kinh tế bằng quyền lực. Chúng tôi sẽ bàn về điểm này trong Bài thứ Ba để đòi buộc phải phế bỏ chế độc CSVN hiện hành.

Trả lời Phỏng vấn của RFI, tôi đã lưu ý đến việc nâng cao cạnh tranh của Trung Cộng và Việt Cộng một cách bất chính và vi phạm Nhân quyền. Thực vậy, đây không phải là việc nâng cao cạnh tranh một cách lành mạnh trong ý nghĩa chính đáng Kinh tế. Trung Cộng và Việt Cộng đã dùng bạo quyền bóc lột sức lao động của công nhân, ép buộc công nhân phải chấp nhận đồng lương rẻ mạt, như vậy Nhà Nước mới hạ được giá thành của hàng hóa và có khả năng bất chính cạnh tranh. Không những bất chính trên Thị trường quốc tế, mà Trung Cộng và Việt Cộng còn dùng bạo quyền đàn áp Nhân quyền, bóc lột sứ lao động của Dân cho quyền lợi của cá nhân mình qua việc tham nhũng, lấy tiền thưởng của nước ngoài khi họ vào Việt mua sức lao động rẻ mạt mà Công nhân “không dám than vãn“ lên nghiệp đoàn Công nhân do chính đảng CSVN nắm giữ. 

Quốc tế công kích và tăng thuế nhập cảng về hàng da từ Trung Cộng và Việt Cộng là vì tính cách bóc lột công nhân của hai nước này vậy. 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế







&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&
TU DAY THUOC VE NHUNG THOI KY TRUOC





KHÔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VN
NẾU CƠ CHẾ CSVN CÒN ĐÓ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.02.2009



Chúng tôi theo rõi cuộc Đại Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế bắt đầu từ năm 2007 và đang diễn ra mạnh lúc này. Có những nước mang hậu quả trầm trọng của cuộc Khủng hỏang, có những nước chịu hảnh hưởng nhẹ hơn.

Kinh tế Việt Nam tụt dốc không phải chỉ nguyên từ ảnh hưởng chung của cuộc Đại khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới, mà còn từ những lý nội tại của nước mình dưới quyền quyết định độc tài của đảng CSVN. Chủ đích của chúng tôi không phải nhìn việc tụt dốc Kinh tế như chấp nhận một sự đau thương không thể tránh từ hậu quả chung Thế giới, nhưng là tìm cách đòi hỏi những ĐIỀU KIỆN để nhằm khắc phục họan nạn để từ đó phát triển BỀN VỮNG Kinh tế của Quê Hương Việt Nam.

Nhằm chủ đích viết bài này như vậy, chúng tôi xin đề cập đến những khía cạnh sau đây:

=> Kinh tế không lấy quyền sống làm mục đích
=> Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới và hậu quả lên Kinh tế Việt Nam
=> Điều kiện tiên quyết cho việc Khôi phục và Phát triển bền vững Kinh tế Việt Nam


Kinh tế không lấy quyền sống làm mục đích

Nên nhắc lại sự thất bại của chế độ Cộng sản trong lãnh vực Kinh tế. Ngòai việc chủ trương nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy gồm truất hữu và bỏ tự do cá nhân làm Kinh tế khiến những tác nhân Kinh tế không còn kích thích làm việc, nền Kinh tế của Cộng sản còn coi Kinh tế là để phục vụ cho Chế độ Chính trị của mình, tức là những tác nhân Kinh tế làm việc không phải là cho quyền sống của mình, mà phục vụ cho quyền sống của một Chế độ Chính trị. Những quyết định Kinh tế là do quyền lực Chính trị định đọat.

Kinh tế Cộng sản đã thất bại tòan diện để bụng đói của người Dân đòi hỏi chấm dứt Chế độ Cộng sản tại Nga và những nước Đông Âu. Xin nhắc lại rằng chính cái quyền Dạ Dầy của người Dân của những nước này đã là động lực chính đòi buộc chấm dứt Chế độ Cộng sản, chứ không phải là những ý niệm trừu tương Dân chủ, Nhân quyền.

Tại Việt Nam, chế độ Cộng sản không ra ngòai luật chung thất bại Kinh tế tòan diện. Dân chúng nghèo đói. Một quốc gia sản xuất gạo, tôm cá sông và biển, mà Dân phải ăn bo bo. Đó là cái hậu quả của một thể chế xử dụng sức lao động kiếm cơm của người dân để phục vụ cho mục đích Chính trị của đảng CSVN. Chính chế độ đã phải kêu gào van xin Thế giới “Cứu đó, Giảm nghèo !” Những đồng bằng Việt Nam cung cấp dư thừa luau gạo vẫn còn đó. Những sông chằng chịt, biển dài 1600 cây số là nguồn dồi dào cung cấp thức ăn. Tại sao Dân nghèo đói? Đó chỉ là vì không cho Dân tự do làm Kinh tế để phục vụ cho chính cái Dạ Dầy của họ, mà là để phục vụ cho độc tài đảng trị theo ý thức hệ rỗng tuếch Mác-Lê đã bị ném vào sọt rác.

Vì tình trạng đói nghèo của Dân chúng, thất bại của Kinh tế Cộng sản, mà chế độ buộc lòng phải MỞ CỬA, ĐỔI MỚI.

Qua những lời tuyên bố của các Lãnh đạo đảng CSVN, thì việc đổi mới là chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường và thêm cái đuôi là định hướng XHCN. Trên thực tế, nền Kinh tế Việt Nam vẫn bị xử dụng vào mục đích phục vụ cho quyền lực Chính trị độc đảng CSVN và tệ hơn nữa là phục vụ cho túi tham cá nhân của tầng lớp nắm quyền Chính trị. Đảng CSVN vẫn chủ trương một CƠ CHẾ cho quyền độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế. Khía cạnh Tự do và Thị trường trong cái CƠ CHẾ này là việc chuyển Kinh tế của Trung ương Tập quyền sang Kinh tế của những đảng viên và những liên hệ gia đình với đảng. Nếu nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy hòan tòan để phục vụ Chính trị đảng, thì nền Kinh tế mở cửa và đổi mới Tự do và Thị trường không những để phục vụ Chính trị đảng mà còn để phục vụ cá nhân những đảng viên.

Nếu phải so sánh, chúng ta thấy nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy còn mang tính cách nhân đạo hơn nền Kinh tế mệnh danh Tự do và Thị trường định hướng XHCN dưới CƠ CHẾ hiện hành. Thực vậy, nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy còn nhận trách nhiệm BAO CẤP dân chúng, nhưng nền Kinh tế mệnh danh Tự do và Thị trường dưới CƠ CHẾ hiện hành một đàng phủ nhận BAO CẤP, một đàng lợi dụng nguồn lực kinh tế quốc gia phục vụ quyền lực đảng và cho sự giầu có vơ vét cá nhân của đảng viên. Đời sống dân chúng luôn luôn bị bỏ rơi.

Trước khi xẩy ra cuộc Đại Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới, CƠ CHẾ hiện hành đã khai thác những nguồn lực kinh tế quốc gia như:

=> Cấu kết với tài phiệt nước ngòai để khai thác triệt để sức lao động của dân Việt Nam nhằm sản xuất những hàng hóa để xuất cảng. Đây không phải là việc phát triển Kinh tế mà là việc bán rẻ sức lao động Việt Nam cho tài phiệt nước ngòai.
=> Tài nguyên thiên nhiên của quốc gia bị khai thác và bán thô cho nước ngòai
=> Bán mặt bằng cho nước ngòai, thậm chí tịch thu những đất đai nông nghiệp để nhường cho tài phiệt nước ngòai khai thác.
=> Cho những Tập đòan Kinh tế Nhà Nước thực hiện những Dự án to lớn nhằm làm vẻ vang chế độ. Những Tập đòan này tham nhũng, ăn hối lộ và chi tiêu lãng phí ngân qũy.
=> Kinh tế VN có ưu thế tự nhiên và lịch sử là nông nghiệp và ngư nghiệp. Nhưng CƠ CHẾ hiện hành đã bỏ ra một bên vì lý do rất đơn giản là việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp không cho phép đảng và những cá nhân đảng viên ăn tham nhũng mau chóng làm giầu cho mình.

Những họat động gọi là Kinh tế trên đây không phải là việc phát triển Kinh tế Đất nước phục vụ cho đời sống dân chúng, mà là nhằm ăn xổi ở thì cho đảng và cho túi tham của cá nhân thuộc đảng.

Nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy đã thất bại và nền Kinh tế gọi là Tự do và Thị trường định hướng XHCN dưới CƠ CHẾ hiện hành không thể nào gọi là vĩ mô phát triển bền vững được. CƠ CHẾ hiện hành chỉ tạo cái hố sâu Giầu-Nghèo trong Xã hội Việt Nam. Một thiểu số thuộc đảng và liên hệ đã trở thành rất giầu có. Đại đa số Dân chúng trở thành nghèo khổ cùng cực.

Cái chứng cớ hiển nhiên của việc không có vĩ mô và không bền vững là sự tụt dốc hiện nay khi va chạm với Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới lúc này.


Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới
và hậu quả lên Kinh tế Việt Nam

Chính nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng ăn xổi ở thì cũng đang chịu hậu quả khốc liệt của Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới, huống chi là Kinh tế Việt được xây dựng èo ọt với tham nhũng lan tràn phát sinh và được nuôi dưỡng bởi CƠ CHẾ.

Nói về tình trạng tụt dốc Kinh tế hiện nay, thì chúng ta thấy nhan nhản những thông tin từ báo chí trong nước về: đình công, đóng cửa công ty, chủ công ty nước ngòai bỏ trốn qụyt long, thất nghiệp tăng vọt, lao động du mục trở về miền quê với hai bàn tay trắng…

Chúng tôi chỉ xin trích ra đây những nhận xét của World Bank:

“World Bank khuyến cáo Việt Nam phải cải tổ
Ngân hàng Thế giới tức World Bank nói người Việt Nam còn thua về thu nhập cá nhân tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Báo cáo 'Vietnam Development Report 2009' ra 4-5/12 tại Hà Nội đánh giá các lĩnh vực kinh tế, cơ cấu vốn, mô hình phát triển của Việt Nam trong hơn 10 năm qua và nói nước này vẫn "cạnh tranh kém".
 
Báo cáo Phát triển Việt Nam 2009 cho biết hầu hết các tiêu chí cạnh tranh trong kinh doanh của Việt Nam đều dưới trung bình, không vượt quá năm điểm.

Nhưng dù có chịu tác động bên ngoài, tương lai Việt Nam những năm tới tùy thuộc hoàn toàn vào "các quyết định về chính sách kinh tế".

Không cải thiện gì
Báo cáo trích ý kiến của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nói ba năm qua gần như không có cải thiện trong việc thực hiện năm tiêu chí: vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng.

Ngân hàng Thế giới tin rằng Cải cách hành chính công nếu thành công sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm được từ 800 triệu đến 1.3 tỉ USD.
 
Tương lai Việt Nam những năm tới tuỳ thuộc vào các quyết định về chính sách kinh tế

World Bank
Giới cấp viện cũng thừa nhận rằng việc đánh giá tác dụng của viện trợ nước ngoài cho Việt Nam là "khó khăn", nhất là trong các dự án cụ thể.

Điều không thuận lợi cho Việt Nam, tính từ cuối