DIEN DAN CHINH TRI VIET NAMDau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
============== CHÚ THÍCH ĐẦU: LƯU TRỮ NHỮNG BÀI ================
Trong Phần Phổ Biến Mỗi Ngày hoặc trong mỗi số VietTUDAN hàng Tuần, có những Bài muốn giữ lại lâu hơn nữa trong DIỄN ĐÀN này, chúng tôi sẽ chuyển sang Phần Lưu Trữ Tổng Quát hoặc sang các Phần có những Chủ Đề dưới đây:
CSVN TÌM MỌI CÁCH KIỂM SOÁT ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ CỦA DÂN CHÚNG
Tin tổng hợp - Hãng thông tấn Pháp AFP trong một bài phân tích gửi đi từ Hà Nội hôm thứ Bảy, cho rằng trong mục đích duy trì quyền lực độc tôn, nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam vẫn đang tìm mọi cách để kiểm soát đời sống chính trị của dân chúng. Ðảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mạnh mẽ sự kiểm soát chặt chẽ trên đời sống chính trị của đất nước trong bối cảnh đảng này được 80 tuổi và đang bị nhiều thành phần khác nhau trong xã hội chỉ trích. Thứ ba vừa qua nhân dịp kỷ niệm 80 ngày thành lập đảng Cộng sản Ðông dương là tiền thân của đảng Cộng sản Việt Nam, báo chí trong nước đã đưa tin là Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh đã nhắc lại rằng Ðảng đã và tiếp tục là lực lượng tiên phong của giai cấp lao động, của dân tộc Việt Nam.
Lời phát biểu trên đây được đưa ra hai tuần lễ sau khi 4 người bất đồng chính kiến bị kết án từ 5 đến 16 năm tù giam vì tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền. Ðối với chính phủ Việt Nam, tội danh của bốn người này là bảo vệ sự đa đảng, có liên hệ với những tổ chức ở ngoài nước và âm mưu lật đổ chính phủ một cách bất bạo động bằng cách tuyên truyền trên Internet. Theo AFP, các nhà quan sát tình hình Việt Nam nghĩ rằng nhà cầm quyền nước này đã tăng cường chính sách đàn áp từ cuối năm 2006, sau khi hội nghị thượng đỉnh châu Á-Thái Bình Dương được tổ chức tại Hà Nội, và sau khi Việt Nam được kết nạp vào Tổ chức Thương mãi Thế giới. Từ 3 năm nay, ngành tư pháp Việt Nam đã đưa ra xét xử nhiều cá nhân dám chỉ trích chế độ. Họ đến từ nhiều tầng lớp khác nhau như là thành viên công đoàn, nhà báo, tu sĩ, luật sư ủng hộ dân chủ, nhà văn chủ trương đa đảng và chỉ trích quan hệ Việt-Trung.
Các nhà phân tích còn nhận thấy một điều mới lạ là kể từ nay chính sách đàn áp của Việt Nam còn nhắm vào những thanh niên đã được đào tạo ở nước ngoài bị tố cáo là đã bắt liên lạc với những tổ chức chính trị ở ngoài nước. Theo ông Ben Kerkvliet, thuộc trường Ðại học quốc gia Úc ở Canberra được AFP trích dẫn, có những dấu hiệu cho thấy là càng có nhiều người chỉ trích về đường lối chính trị và nằm trong một tổ chức thì chính quyền càng ra tay đàn áp. Ông Kerkvliet còn nhận thấy là đối với nhiều người vấn đề trầm trọng là tệ nạn tham nhũng bên trong đảng Cộng sản. AFP nhận thấy là nếu như các nhà phân tích gặp khó khăn để đưa ra những nguyên nhân chính xác của các đợt bắt bớ vừa qua, thì cũng có một số người nêu lên khả năng những đấu đá trong nội bộ vì sắp đến Ðại hội lần thứ 11 của đảng Cộng sản Việt Nam, sẽ được tổ chức vào tháng giêng năm 2011. Ông Stein Toennesson thuộc Viện nghiên cứu về hoà bình của Oslo Na Uy, đưa ra giả thuyết là trước Ðại hội, những thành phần bảo thủ nhất nắm phần chủ động và những người khác không dám chống lại vì sợ bị đánh giá là có thái độ không kiên định. Nhưng ông không loại trừ khả năng là những thành phần đổi mới muốn cải tổ đảng từ bên trong.
Trong khi đó ông Carl Thayer thuộc trường đại học New South Wales của Úc, thì nghĩ rằng đại đa số đảng viên không có cảm tưởng là Ðảng Cộng sản sẽ dễ dàng bị lật đổ, cho dù từ hai thập niên qua tính chính đáng của đảng này ngày càng bị phản bác.(SBTN)
Posted on 10 Feb 2010 FreeVietNews
HOAN HÔ GOOGLE
Hôm Thứ Tư tuần này, Google tuyên chiến với cầm quyền Bắc Kinh. Google tuyên bố là đã có những tấn công vào hệ thống Gmail cũng như hạ tầng cơ sở kỹ thuật phát xuất từ Trung Quốc. Do đó công ty quyết định từ nay sẽ không tuân thủ lệnh tự kiểm duyệt của cầm quyền Bắc Kinh nữa, và nếu không thể tiếp tục thì có thể đi đến quyết định rút lui khỏi thị trường Trung Quốc.
Nhưng tại sao Google, trong nhiều năm, cũng như các công ty kinh doanh Tây Phương khác, đã sẵn sàng theo đuổi kinh doanh bất kể lương tâm, bỗng nhiên thay đổi ý kiến.
Một phần nào giải thích thái độ của công ty, tờ New York Times kể lại câu chuyện của cô Tenzin Seldon, sinh viên 20 tuổi của Viện Ðại Học Stanford. Cô Seldon đột nhiên nhận được một thông điệp từ văn phòng viện yêu cầu cô liên lạc với Google vì Gmail của cô đã bị tin tặc tấn công. Tenzin, vốn gốc người Tây Tạng, là một trong nhóm tranh đấu cho nhân quyền tại quê cũ. Lập tức cô liên lạc với giám đốc Luật Pháp của Google, David Drummong.
Cô Seldon kể lại là ông David cho cô biết địa chỉ Gmail của cô đã bị một người ở Trung Quốc đột nhập khiến công ty rất lo ngại và yêu cầu cô cho mượn cái laptop của cô. Ngay lập tức cô thay password và cẩn thận hơn trong những gì cô viết qua email. Cô cũng cho phép Google mượn cái laptop. Chuyện này xảy ra cách đây hơn một tuần. Tuần này họ trả lại máy cho cô và nói là không tìm thấy virus hay là các chương trình xấu nhưng quả là địa chỉ Gmail của cô đã bị lén lút đột nhập. Google xác nhận câu chuyện của cô sinh viên gốc Tạng, nhưng không chịu cho biết là có bao nhiêu nhà tranh đấu đã là nạn nhân của các cuộc đột nhập như vậy.
Ðiều chắc chắn là một người bình thường ở Trung Quốc, dầu có tò mò đến đâu, cũng không “hack” vào email của một nhà tranh đấu cho người dân Tây Tạng. Kẻ chủ mưu vụ đột nhập này chắc chắn phải vô cùng lo ngại về hoạt động của những người chống đối ở Tây Tạng nên mới tìm cách đột nhập một địa chỉ email tư nhân như vậy.
Cho đến nay, mức độ của sự tấn công vào Google và vài chục công ty khác vẫn còn chưa rõ, nhưng tin này đã làm cho không phải chỉ các nhà kinh doanh mà ngay chính Washington cũng lo ngại. Chính phủ Hoa Kỳ, kể từ chính phủ Bush nay đến chính phủ Obama, đã bày tỏ quan ngại về an ninh trên hệ thống computer của thế giới và các cuộc tấn công xuyên qua Internet. Các nhà nghiên cứu độc lập về an ninh Internet cho là có ít nhất 34 công ty đã bị đột nhập bởi những cuộc tấn công phát xuất từ Trung Quốc. Theo các chuyên gia này, trong số các công ty đó có Adobe, Symantec, Yahoo và Dow Chemical, và mục tiêu là gián điệp kỹ nghệ.
Tờ Washington Post giải thích là mục tiêu các cuộc tấn công này có vẻ nhắm đến những kỹ nghệ chiến lược mà Trung Quốc đang còn thụt hậu. Các cuộc tấn công vào những công ty chuyên về kỹ nghệ quốc phòng là nhắm để tìm tin tức về các hệ thống vũ khí, trong khi các công ty kỹ thuật là để tìm mật mã gốc (source code) vốn là nền tảng của các chương trình điện toán.
Trên blog của mình, ông Drummond của Google giải thích là vào giữa Tháng Mười Hai năm rồi, Google đã tìm thấy “một cuộc tấn công tinh vi và có mục đích” vào hệ thống computer của công ty “phát xuất từ Trung Quốc.” Cộng thêm vào cuộc tấn công đó là những cuộc đột nhập Gmail của một số các nhà tranh đấu cho nhân quyền ở Hoa Kỳ, Âu Châu và tại chính Trung Quốc. Và theo ông Drummond, chuyện đột nhập Gmail này xảy ra khá thường xuyên. Chuyện này, cùng với sự gia tăng kiểm duyệt của cầm quyền đã làm cho Google thấy cần phải “nghiên cứu lại sự khả thi” của công việc làm ăn của họ tại Trung Quốc. Trong năm vừa qua, Google cũng đã có nhiều vụ đụng độ với Bắc Kinh. YouTube đã bị chặn khi cho phổ biến một đoạn phim cho thấy cảnh công an đánh các nhà sư Tây Tạng. Dịch vụ Blog của Google cũng gặp nhiều cản trở với hiện nay không làm sao vào được ở Bắc Kinh. Trong khi đó Twitter và Facebook đã bị chặn từ nhiều tháng nay.
Cũng có thể nói hành động của Google dựa trên quyền lợi hơn là vì lý tưởng. Ở Trung Quốc, tuy thị trường lớn thật, với trên 300 triệu người được coi là “công dân mạng,” Google chỉ chiếm được có 30% thị phần. Thật ra gần đây Google đã tăng được thêm 3% và hiện nay chiếm được 33% thị phần. Thành ra, rút lui ra khỏi Trung Quốc cũng không gây thiệt hại bao nhiêu cho công ty trong khi lại còn có thể giúp công ty có thể được ủng hộ từ những khách hàng ở Tây Phương.
Nhưng thật ra nhiều công ty Tây Phương cũng đang ở trong cái thế của Google. Tuyên bố trên thông tấn xã AFP, ông Duncan Clark, một nhà tư vấn, nhận xét là ngày càng có sự thiếu cân xứng giữa lập trường của các công ty Tây Phương và cầm quyền Bắc Kinh. “Ở đây (Trung Quốc) người ta nghĩ không ai có thể bỏ qua Trung Quốc, nhưng tôi nghĩ nay nhiều công ty đang nghĩ là không ai có thể làm ăn được với Trung Quốc”.
Và có lẽ chính vì vậy mà chính phủ Trung Quốc đã có vẻ giật mình. Cầm quyền đã tìm cách giấu nhẹm lý do tại sao Google tính chuyện rút lui khỏi Trung Quốc. Các địa chỉ Internet ở Trung Quốc tìm cách ém nhẹn tin này. Nhưng ở Trung Quốc cũng như trên toàn thế giới, các “công dân mạng” ngày nay có đủ khả năng để vượt qua tường lửa, dầu là “Vạn lý tường lửa” của Bắc Kinh. Ðã có nhiều lời khen Google được phổ biến trên các diễn đàn. Nhiều người còn mạnh dạn hơn. Họ đã đem hoa tới để trước cửa văn phòng của Google tại Bắc Kinh. Tờ New York Times nói có hai cô sinh viên đã còn mang cả rượu và nhang đến để làm lễ “cúng vọng” cho Google.
Trung Quốc đã được hưởng rất nhiều nhờ việc mở cửa kinh tế và nhờ toàn cầu hóa. Trung Quốc sẽ không hùng mạnh như ngày nay nếu không có toàn cầu hóa khiến thị trường Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu mở rộng cửa cho họ bán hàng. Nhưng Bắc Kinh vẫn chỉ nghĩ đến “mở cửa” hiểu theo nghĩa là “mở cửa có lợi cho họ”. Ở một khía cạnh khác, Bắc Kinh rất sợ “mở cửa.” Nhưng chính vì sợ mở cửa, Bắc Kinh rồi sẽ thấy là họ đang tự hại mình. Google đóng cửa văn phòng và hoạt động ở Trung Quốc không chỉ làm cho 700 nhân viên, đa số là các chuyên viên điện toán thượng thặng mất việc lương cao, mà sẽ làm cho Trung Quốc mất một cơ hội học hỏi thêm từ một trong những công ty sáng tạo nhất của Hoa Kỳ. Học lén làm sao bằng được học chính thức?
Thành ra trong cuộc chiến giữa Google và cầm quyền Trung Quốc chưa biết rồi ai sẽ thắng ai sẽ bại.
Nhưng dầu sao xin hoan hô Google. Không hiểu quí độc giả nghĩ sao chứ bản thân tôi sẽ rất bất mãn nếu thấy địa chỉ Gmail của mình bị ai đọc lén. Nếu Google sẵn sàng bảo vệ email của tôi thì tôi xin ủng hộ Google hết mình.
BEAUXITE VIỆT NAM QUYẾT SỐNG
Đăng bởi boxitvn on 11/01/2010 http://boxitvn. wordpress. com/2010/ 01/11/bauxite- viet-nam- quyet-song/ #more-8
Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Cù Huy Hà Vũ trong đêm đầu năm mới 2010.
Phải khẳng định rằng đối với Loài Người Văn Minh, thông tin chuyển tải trên Internet đã trở nên thiết yếu tới mức không có nó thì không thể tồn tại, như Oxy đối với Sự sống vậy. Cũng như thế, từ 8 tháng nay với 17 triệu rưỡi lượt truy cập – một con số kỷ lục – trang mạng Bauxite Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Nhà giáo Phạm Toàn và Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng khởi xướng, tập hợp trên 3 nghìn chữ ký của giới trí thức Việt Nam và các tầng lớp nhân dân ký vào Kiến nghị, quyết liệt phản đối Chính phủ cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên, bất chấp hậu họa cho môi trường và an ninh quốc gia, tiếp nối những bức tâm thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cùng vấn đề, đã thực sự trở thành “dinh dưỡng tinh thần” hàng ngày của tất cả những ai “con Lạc cháu Hồng” ứa máu với Hoàng Sa, đau đáu với Trường Sa, với sinh mệnh của Tổ quốc đang lâm nguy bởi “liên minh ma quỷ” giữa các thế lực tham nhũng trong nước và bành trướng phương Bắc. Cũng chính vì vậy, với Bauxite Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng sản, “xã hội dân sự” – thành phần quyết không thể thiếu của bất kỳ quốc gia Dân chủ và Pháp quyền nào – đã được thị phạm một cách vô cùng hoành tráng và sinh động!
Điều vô cùng nghiêm trọng là từ ngày 12 tháng 12 năm ngoái, 2009, Bauxite Việt Nam liên tục bị “tin tặc” đánh phá khốc liệt, mạng bị sập nhiều lần, thậm chí cả các hộp thư điện tử cá nhân của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Nhà giáo Phạm Toàn cũng bị chúng trộm cắp mật khẩu hoặc “nhái” địa chỉ để “chế” và phát tán một số thư mạo danh người này để đả kích, xúc phạm danh dự người nọ. Nếu như hành vi đầu cùa “tin tặc” dù là thô bạo và trắng trợn nhưng cũng chẳng làm nhụt được chí của ai thì hành vi sau của chúng quả vô cùng hiểm độc bởi không chỉ nhằm ly gián những người chủ trương Bauxite Việt Nam với nhau mà chính là còn nhằm ly gián những người ký Kiến nghị và ủng hộ trang mạng, hòng đẩy cả một phong trào yêu nước và dân chủ rầm rộ nhất từ trước đến nay đi đến chỗ tan rã.
Thế nhưng như mọi người đã thấy, những “mưu ma chước quỷ” nói trên ngay lập tức đã thất bại thảm hại với lời kết án “bọn lưu manh tin học” thật đanh thép và đầy khinh bỉ của Nhà giáo Phạm Toàn, với các thư “chế” sặc mùi mật thám tuốt tuột bị vụt vô sọt rác mà bằng chứng là không có bất cứ trang mạng nào dù trong hay ngoài nước đăng lại. Mặc dù vậy, để khôi phục một cách bền vững Bauxite Việt Nam, không thể không đặt câu hỏi: Ai là kẻ chủ mưu và làm cách nào để diệt trừ tận gốc những hành vi bỉ ổi và để tiện ấy ?!
Tất cả những ý kiến mà tôi nghe được cho đến nay đều cho rằng hỏi tức trả lời: Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo “xóa” Bauxite Việt Nam bởi run sợ trước ảnh hưởng xã hội ngày một lớn mà trang mạng có được bằng những phản biện quyết liệt mà rất khoa học và đúng pháp luật đối với quyết định cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên và các quyết định trái pháp luật khác của Chính phủ và Thủ tướng, bằng những phanh phui không khoan nhượng những bất cập, tha hóa và phản dân chủ của hệ thống chính trị hiện hành, cốt lành mạnh hóa hệ thống, và chỉ đạo này đã được “ẩn” dưới Công văn 8500/VPCP-TH do Thủ tướng ký đầu tháng 12/2009 giao Bộ Thông tin và Truyền thông tiến hành kiểm tra các trang mạng “có phép và không phép” và báo cáo Thủ tướng trước 15/12/2009! Nghĩa là, trang mạng nào làm ngứa “nhãn” Thủ tướng hay không theo “lề phải” thì cứ việc rút giấy phép, thu thẻ (nhà báo) khỏi cần nêu lý do đối với loại “có phép” (như đã làm đối với trang mạng của Tạp chí Tia sáng vào ngày 27/10/2009 sau khi trang này đăng bài “Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng” của Giáo sư Hoàng Tụy), còn đối với loại “không phép” thì dùng “tin tặc” thủ tiêu là tuyệt chiêu! Tóm lại, dưới góc nhìn của cư dân mạng có óc hài hước, Thủ tướng đã biến Bộ bốn T – tên gọi khác của Bộ Thông tin và Truyền thông – thành “Bộ Thu thẻ tùy tiện”, “Bộ Thực thi Tin tặc”, hay gọn lại, “Bộ Thu thẻ – Tin tặc”! Và không phải ngẫu nhiên, vẫn những ý kiến trên, mà Công văn 8500/VPCP-TH lại rất “đồng điệu” với Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24/7/2009 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng độc đoán cấm các tổ chức khoa học và công nghệ công khai “phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước” (thật kỳ quái, phản biện mà không công khai, tức không để công chúng biết để giám sát đối tượng được phản biện, thì đó là lối “góp ý”, “phê bình” áp dụng cho sinh hoạt nội bộ Đảng và chính quyền, không tiếp thu thì “ghế” cũng chẳng hề hấn gì miễn được “sếp” đỡ, chứ đâu phải là phản biện như một chế tài, không sửa sẽ bị dân loại bỏ, trừ phi chính quyền không “từ nhân dân mà ra”!), dẫn đến IDS, Viện Nghiên cứu Phát triển tư nhân đầu tiên của Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ độc lập với Chính phủ, phải tự giải thể vào trung tuần tháng 9 cùng năm.
Nói cách khác, việc đánh phá Bauxite Việt Nam và những người chủ trương trang mạng dứt khoát không phải là hành vi đơn lẻ hay nhất thời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhằm vô hiệu hóa những kẻ dám “chọc gậy bánh xe dự án bauxite” đang quay tít mà ngược lại, nằm trong cả một chiến dịch quy mô do Chính phủ tiến hành nhằm bóp nghẹt mọi phản ứng xã hội trước những “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” làm lén Quốc Dân Đại hội nói riêng, bịt miệng giới Trí thức Yêu nước chuộng Công lý và Dân chủ nói chung để “giữ vững ổn định chính trị”, tức giữ statuquo – nguyên trạng “chế độ xã hội chủ nghĩa”, nhất là trong bối cảnh Đại hội XI của Đảng đã cận kề…
Về logic hình thức, tức về hiện tượng mà nói thì những ý kiến trên là rất thuyết phục. Tuy nhiên với tư cách một người làm công tác pháp luật, tôi chưa vội kết luận, không chỉ vì chưa có chứng cứ cụ thể và trực tiếp – “bắt tận tay, day tận trán” như các cụ vẫn nói – mà còn vì những ý kiến trên quá chủ quan, đã đánh giá quá thấp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bởi dẫu có bất đồng chính kiến với Bauxite Việt Nam đến đâu, không đời nào Thủ tướng – người không ngớt hô hào xây dựng Nhà nước pháp quyền vì Dân – lại có thể hành xử phản pháp luật đến như vậy!
Thực thế, các hành vi phá hoại trên của “tin tặc” đã xâm phạm nghiêm trọng những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và Pháp luật bảo hộ và bị các Nhà lập pháp liệt vào danh sách tội phạm thể hiện tại các quy định pháp luật sau: - Điều 69 Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin…” - Điều 73 Hiến pháp: “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được đảm bảo an toàn, bí mật”. - Khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh bưu chính, viễn thông: “Nghiêm cấm thu trộm, nghe trộm thông tin trên mạng viễn thông, trộm cắp, sử dụng trái phép mật khẩu, khoá mật mã và thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác”. - Điều 125 Bộ Luật hình sự về “Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” quy định: “Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền bằng phương tiện viễn thông và máy tính, hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” với hình phạt “cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” trong trường hợp “có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, phạm tội nhiều lần, gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại các Điểm a, b, c, d Khoản 2 Điều này. - Điều 122 Bộ Luật hình sự về “Tội vu khống” quy định: “Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”với hình phạt “phạt tù từ một năm đến bảy năm” trong trường hợp “có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, đối với nhiều người, ” quy định tại các Điểm a, b, c Khoản 2 Điều này. Vậy để trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời gián tiếp chứng minh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “vô can” một cách có căn cứ pháp luật, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Nhà giáo Phạm Toàn với tư cách chủ nhân trang mạng Bauxite Việt Nam, chủ nhân của những hộp thư điện tử bị tin tặc trộm cắp mật khẩu, khoá mật mã hoặc “nhái” địa chỉ và chủ nhân của những thư điện tử bị tin tặc chiếm đoạt để mạo danh vu khống người khác, hoàn toàn có quyền yêu cầu Nhà nước “nhập cuộc” bằng cách căn cứ Điều 100 (Căn cứ khởi tố vụ án hình sự) và Điều 101 (Tố giác và tin báo về tội phạm) Bộ Luật tố tụng hình sự để làm đơn tố cáo hoặc tố giác gửi Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về các tội phạm trên của “tin tặc” và đề nghị khởi tố vụ án hình sự “Xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” theo Điều 125 và “Vu khống” theo Điều 122 Bộ Luật hình sự để truy tìm và đưa ra trước vành móng ngựa “bọn lưu manh tin học” và những kẻ chủ mưu.
Song song, hai ông có thể cậy tới sự giúp đỡ của Hiệp sĩ Công nghệ thông tin Nguyễn Tử Quảng, Giám đốc Trung tâm An ninh mạng BKIS thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội, người đã rất thành công trong việc tổ chức tấn công và chiếm quyền kiểm soát hai máy chủ ở Anh được cho là nguồn gốc điều khiển các cuộc tấn công vào các trang mạng của Hàn Quốc và Mỹ vào tháng 7 năm ngoái. Tôi tin Tử Quảng không hổ danh Hiệp sĩ và cũng là một người yêu nước chân chính, tiếp nối dũng khí của bố vợ là Nhà báo Đăng Ngọc, Phó Tổng biên tập báo Đại đoàn kết bị buộc thôi việc do ngày 6/11/2007 đã đăng bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp phản đối phá bỏ Hội trường Ba Đình để xây Nhà Quốc Hội, sẽ hết mình vì Bauxite Việt Nam!
“Quyết sống!”, đó là câu trả lời của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi gửi cá nhân tôi ngay khi Bauxite Việt Nam bị đánh sập. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là lời tuyên thệ long trọng của những người khởi xướng trang mạng, tiếp nối lời thề “Quyết Tử cho Tổ quốc quyết Sinh” của những bậc Anh hùng nước Việt Mùa Đông năm 1946. Hậu sinh Cù Huy Hà Vũ này chỉ có thể nghiêng mình và noi theo trước khí phách của các Ông – những Chu Văn An của “Thất trảm sớ” thời nay – với niềm tin chắc nịch rằng những Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng cùng hàng ngàn Nghĩa sĩ của Phong trào Kiến nghị 2009 đã và đang làm nên Lịch sử!
Hà Nội Mùa Đông 4/01/2010 – 9/01/2010 CHHV
THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LÀ HÁN CHỆT
Hòa Thuợng Thích Viên Định (GHPGVNTN)
Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thuờng gán tội “cấu kết với các thế lực thù địch âm muu lật đổ chính quyền” lên các thành viên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, các Giáo Hội độc lập của các tôn giáo, các thân hào, nhân sĩ, các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ, các sinh viên, học sinh biểu tình, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Tổ quốc Việt Nam.
Không một quốc gia văn minh, dân chủ nào trên thế giới có “các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền”, không luật pháp nuớc nào có tội danh đó.
- Tại sao Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản luôn có các “Thế lực thù địch”?
Năm 1975, Cộng sản Bắc Việt dùng vũ lực cuỡng chiếm miền Nam rồi duy trì sự cai trị độc tài, độc đảng suốt từ đó đến nay bằng súng đạn, quân đội, nhà tù, công an, khủng bố, bưng bít, lừa dối, tuyên truyền. Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam là một trong số rất ít những nhà cầm quyền còn sót lại trên thế giới đa cuớp chính quyền bằng bạo lực. Trong khi đó, toàn dân lại luôn mong muốn có một chính quyền đuợc bầu cử hợp pháp bằng lá phiếu của nguời dân một cách tự do, dân chủ, công bằng, một chính quyền thật sự của dân, do dân, và vì dân. Không do dân bầu, bất hợp pháp, nên Nhà cầm quyền độc tài cộng sản Việt Nam luôn ở trong tình trạng bất an, lúc nào cung cảm thấy có “các thế lực thù địch âm muu lật đổ chính quyền”.
Trong một chế độ dân chủ, đa nguyên, đa đảng, câc đảng phái, mặc dù đối lập nhau, nhung không địch thù, trái lại, hỗ tương, bổ khuyết nhau, rất cần cho sự cạnh tranh để phát triển đất nuớc. Trái lại, duới chế độ độc tài, độc đảng, thì bất cứ tổ chức, cá nhân nào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, đều bị xem là vi phạm luật pháp, là thù địch.
Mặc dù bị nhà cầm quyền độc tài bỏ tù, quản thúc, gán tội vi phạm luật này, luật nọ, những điều luật mơ hồ, phản tự do, phi dân chủ, chống nhân quyền, trái với Công uớc quốc tế… những nguời bị hãm hại này lại chính là những nguời mà Đức Cố Tăng Thống, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hoà thuợng Thích Huyền Quang gọi là những nguời “tù không tội”. Bởi vì vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, góp công với đất nuớc, sao gọi là tội ?
- Các “ thế lực thù địch” của Nhà cầm quyền cộng sản là ai?
“Thế lực thù địch” dễ biết nhất là cộng đồng nguời Việt tỵ nạn cộng sản ở nuớc ngoài, tiếp đến là các đảng phái chính trị không cộng sản trong và ngoài nuớc, và cuối cùng là 85 triệu nguời dân Việt trong nuớc ngày đêm mong muốn đuợc sống trong không khí Tự do, Dân chủ, Nhân quyền như các dân tộc văn minh khác trên thế giới. Ngoài ra, cũng phải kể đến một số tổ chức, hội đoàn và chính quyền các nuớc văn minh chống độc tài, độc đảng, yểm trợ các phong trào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, công bằng, phát triển tại Việt Nam.
- Có “âm muu lật đổ chính quyền” hay không?
Tất cả các đảng Cộng sản trên thế giới đều dùng bạo lực để cuớp chính quyền. Trái lại, các đảng phái chính trị, không cộng sản, của nguời Việt trong và ngoài nuớc, các cộng đồng nguời Việt tỵ nạn cộng sản, các nhà lãnh đạo tôn giáo, các bậc si phu, trí thức, văn nghệ si, sinh viên, học sinh và 85 triệu nguời dân trong nuớc, hiện nay, không có thành phần nào chủ truong dùng bạo lực để lật đổ chính quyền.
Theo trào luu dân chủ trên thế giới, nguời dân Việt Nam, ai cũng mong muốn có một cuộc bầu cử trong tự do, dân chủ, công bằng để bầu ra một chính quyền đích thực “của dân, do dân, và vì dân”. Đảng phái nào được dân ủng hộ, đắc cử, thì đứng ra lập chính quyền. Trong thế giới dân chủ, văn minh ngày nay không chấp nhận việc dùng bạo lực để cuớp chính quyền. Cung không chấp nhận việc dùng súng đạn, công an, nhà tù…để duy trì quyền lực.
Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản Việt Nam, theo chủ thuyết Mác-Lê, vừa sai lầm, vừa lạc hậu đa cản trở buớc tiến của dân tộc. Vì đặc quyền đặc lợi, muốn tiếp tục nắm giữ quyền hành, nhưng Nhà cầm quyền cộng sản lại không dám tranh cử công bằng với các đảng phái, cá nhân thuộc thành phần đối lập, nên cố tình gán cho các thành phần khác là “các thế lực thù địch” để dễ tuyên truyền, đàn áp, tiêu diệt. Việc ghép tội “âm muu lật đổ chính quyền” lên các cá nhân, đảng phái đối lập là hoàn toàn vu cáo.
Tình trạng độc tài đảng trị lâu ngày sinh ra các tệ nạn tham nhũng, hối lộ, cắt xén, mua bằng, bán chức…làm băng hoại xã hội, cản trở buớc tiến của dân tộc. Lo lắng truớc hiểm hoạ độc tài này, trong Thư Chúc Xuân gửi các bậc sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ năm Ất Dậu, 2005, Đại Lão Hoà thuợng Thích Quảng Độ, Viện truởng Viện Hoá Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã nói rằng, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trong cương vị Tăng sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị. Nhưng chúng tôi phải có "thái độ chính trị”. Hoà thuợng đa đề nghị giải pháp đa nguyên đa đảng, buớc đầu có thể là 3 đảng, “Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính luu”. Nhung Nhà cầm quyền cộng sản cứ khăng khăng cố giữ thể chế độc tài độc đảng, cho rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Điều 4 trong Hiến Pháp hiện nay, dành cho Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nuớc, giống như thời phong kiến, Thiên tử, con trời, đuợc độc quyền cai trị đất nuớc, không ai đuợc tranh giành.
Nghị quyết 1481, ngày 25.1.2006, Quốc Hội Âu châu đã lên án các Đảng cộng sản trên thế giới là phi nhân tính, là thảm hoạ dân tộc, là tội ác chống nhân loại. Hoa kỳ đa lập Đài tuởng niệm trên 100 triệu nạn nhân đã bị các chế độ cộng sản sát hại trên thế giới. Vậy mà Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn còn tiếp tục làm những việc trái luật pháp, phản dân chủ, bắt nguời, giam giữ mà không cho liên lạc với thế giới bên ngoài, không cho luật sư biện hộ, dùng những lời khai, đưa lên báo, đài để bôi nhọ, lăng nhục, trong khi Hiến Pháp, điều 72, xác nhận rằng : “ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đa có hiệu lực pháp luật”.
Không sao cả, có thể, nay một vài luật sư, mai vài ba bác sĩ, ngày mốt là các tu sĩ, bữa kia là công nhân, rồi tiếp đến là nông dân, thương gia, sinh viên, học sinh…các giới cùng bị đua lên báo, đai, với cùng tội danh, “chống nhà cầm quyền độc tài, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý”. Càng có nhiều nguời chống độc tài, nền dân chủ sẽ đến với dân tộc ngày càng gần hơn.
Mỗi nguời, tuỳ sức khoẻ cá nhân, tuỳ hoàn cảnh gia đinh, vợ dại, con thơ, cha già, mẹ yếu, có cách đối phó riêng trong cuộc chiến giành tự do rất gian khó này. Cần phải sống để giành cho đuợc Tự do, Độc lập cho dân tộc. Cái tội, “chống độc tài, yêu tự do”, ai lại không muốn lãnh ? Nếu những nguời vận động cho tự do, dân chủ, nhất thời có bị đàn áp, chỉ đưa tới sự thắng thế của bạo lực, không có gì phải tủi hỗ. Cuối cùng, Tự do, Dân chủ sẽ thắng !
Tuy chăm chú việc lên án các đảng phái chính trị và những nguời khác chính kiến là “thù địch”, nhung hiện nay Nhà cầm quyền cộng sản, luôn tránh né, không bao giờ đề cập, lên án tội “ Cấu kết với thế lực thù địch âm muu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam”, cái tội liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của tổ quốc và dân tộc mà các nhà lãnh đạo các tôn giáo, các đảng phái, các tổ chức, các sĩ phu, trí thức, sinh viên, học sinh và 85 triệu nguời dân đang rất quan tâm, hồi hộp, lo lắng từng ngày. Nếu gọi là thù địch thì giặc ngoại xâm mới thật sự là thù địch. Không nên điên đảo, nhìn kẻ cuớp nuớc là bạn, xem đồng bào ruột thịt là thù.
Cái “ Thế lực thù địch lâu đời” này mới đáng lo, nó không âm muu lật đổ chính quyền, mà nguy hại hon, “âm muu xâm chiếm Tổ quốc Việt Nam !” . Việc thay đổi chính quyền chỉ là chuyện nhỏ, chuyện nội bộ. Tổ quốc là của chung, không phải riêng ai. Các đảng phái thay nhau lập chính phủ chỉ là sự cạnh tranh, cần có, tránh sự trì trệ, để phát triển đất nuớc. Không thể một mình một chợ, một đội bóng một sân banh, mặc tình, tham nhung, hối lộ, cắt xén, làm đất nuớc suy yếu, nghèo đói, tụt hậu. Nay, đảng này lên, mai, đảng kia xuống, chỉ là những chuyện thuờng ngày trong các bản tin thời sự quốc tế, không có gì là quan trọng, ầm i hay thù địch. Tổ quốc bị xâm lăng mới là chuyện lớn, mới là chuyện thù địch.
- “Thế lực thù địch” của Dân tộc đang “âm muu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam” là ai?
Hỏi tức là trả lời. Toàn dân, già, trẻ, lớn, bé, ai cung biết, cái “thế lực thù địch” với Tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ xua đến nay chính là Bắc phuong! Việt Nam đang bị Hán hoá! Hoạ mất nuớc đa bắt đầu:
- Năm 1958, Nhà cầm quyền Trung cộng tuyên bố lãnh hải của Trung quốc bao gồm các hải đảo Hoàng sa, Truờng sa của Việt Nam. Năm 1974, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng sa. Năm 1979, Trung cộng đánh chiếm 6 tỉnh miền Bắc, khi rút về, dời cọc biên giới, lấy mất Ải Nam quan, Thác Bản Giốc. Năm 1988, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Truờng sa. Năm 2005, 2006, ngư dân Thanh Hóa ra đánh cá trong vùng lãnh hải Việt Nam quen thuộc, nhiều lần bị lính Trung cộng bắn chết, bắt nguời bị thương, cuớp ghe thuyền kéo về giam cầm tại đảo Hải Nam Trung quốc. Năm 2007, Trung cộng tuyên bố thiết lập Huyện Tam sa bao gồm các quần đảo Hoàng sa, Truờng sa của Việt Nam. Năm 2008, Trung cộng và nhà cầm quyền Hà nội hoàn thành việc cấm mốc biên giới phía Bắc lùi sâu vào địa phận lãnh thổ Việt Nam. Năm 2009, Trung cộng đuợc nhà cầm quyền Hà nội mời vào khai thác quặng Bô-xit ở Tây nguyên, gây nguy co an ninh quốc phòng noi vùng chiến luợc yết hầu của Việt nam và Đông dương do sự uy hiếp của hàng chục nghìn công nhân Trung quốc. Ngoài ra còn tàn phá môi truờng, thải ra hàng núi Bùn đỏ độc hại làm ô nhiễm môi truờng nghiêm trọng, lâu dài trong lòng đất, sông ngòi và khí hậu cho cả khu vực Nam Trung bộ và Miền nam Việt Nam. Nguy hại nhất là vị trí chiến luợc quốc phòng bị chiếm đóng. Năm 2009, Trung cộng cấm đánh cá 3 tháng trên Biển Đông, bắt tàu thuyền, ngu dân Việt Nam, đòi tiền chuộc…
Suốt 4 ngàn năm lịch sử, ông cha ta không làm mất một tấc đất, ngày nay, mới vài chục năm, tổ quốc đa bị xâm lấn từ biên giới phía Bắc đến hải đảo phía Đông, cả Tây nguyên cũng sắp mất.
Đã xác định đuợc “thế lực thù địch âm muu xâm lăng Tổ quốc” là “Trung cộng” thì cũng xác định đuợc:
- Ai là kẻ “cấu kết với thế lực thù địch âm muu xâm lăng Tổ quốc”?
Nhân dân Việt Nam, với truyền thống anh hùng, mấy nghìn năm chống “thế lực thù địch phuong Bắc”, tại sao ngày nay lại để quê huong tổ quốc, từng phần, rơi dần vào tay kẻ thù truyền kiếp một cách âm thầm như vậy?
Phải có sự cấu kết trong nuớc nên các cuộc biểu tình, lên tiếng chống Trung cộng của sinh viên, học sinh và đồng bào ta mới rụt rè, yếu ớt, mau tàn rụi vì bị hăm doạ, cản trở từ phía Nhà cầm quyền vào đến cảc truờng đại học bởi lý do : “không đuợc phép”.
Phải có sự cấu kết trong nuớc, Trung cộng mới vừa là kẻ xâm lăng vừa lại đuợc uu tiên trong việc đấu thầu các công trình khai thác ở Việt Nam.
Phải có sự cấu kết trong nuớc, Trung cộng mới dễ dàng xâm chiếm các hải đảo, lãnh hải, biên giới, đua dân tràn vào Việt nam một cách tự do, ào ạt, không cần chiếu khán. Đây là một cuộc xâm lăng kiểu mới, rất tinh vi, quân dân Trung cộng đang đổ bộ vào chiếm đóng nuớc ta một cách nhẹ nhàng, êm thắm, không tốn một viên đạn, không mất một giọt máu.
Quân đội và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh để bảo vệ tổ quốc trong các trận chiến đảo Hoàng sa năm 1974, đảo Truờng sa năm 1988, nhất là cuộc chiến rất ác liệt ở biên giới phái Bắc năm 1979, gần 40 nghìn quân đân Việt Nam đa bỏ mình vì tổ quốc, vậy mà hàng năm không thấy tổ chức kỷ niệm, nêu guong hy sinh bảo vệ tổ quốc cho con cháu noi theo. Trái lại, cứ mỗi lần Tết đến, Nhà cầm quyền lại tổ chức viếng lễ các nghia trang quân xâm lăng Trung cộng, đặt vòng hoa: “đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung quốc”.
Công Hàm ngày 14.9.1958, do Thủ tuớng Bắc Việt, Phạm văn Đồng, ký công nhận tuyên bố của Trung cộng, lãnh hải Trung quốc bao gồm đảo Hoàng sa và Truờng sa của Việt Nam, có phải là bằng chứng cấu kết với thế lực thù địch âm mưu xâm lăng tổ quốc ?
Phương châm 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, huớng tới tuong lai” và 4 tốt : “láng giềng tốt, hợp tác tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” có phải là bằng chứng của sự cấu kết ?
Đảng cộng sản Việt Nam theo chủ thuyết Mác-Lê với lý tuởng : “vô gia đinh, vô tổ quốc, vô tôn giáo”. Nếu hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung quốc đã: “ hợp tác toàn diện” theo lý tuởng “vô tổ quốc” trong tinh thần : “đồng chí tốt” thì còn gì là Dân tộc !, còn gì là non sông!
Hoạ mất nuớc đa đến, tái hiện cảnh : Ngàn năm làm nô lệ Bắc phuong!
Tổ quốc lâm nguy!!!
Thích Viên Định
NGHỊ VIỆN ÂU CHÂU RA NGHỊ QUYẾT KÊU GỌI HÀ NỘI THỰC THI NHÂN QUYỀN
Tags: Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Lê Thị Công Nhân, LM Nguyễn văn Lý, Nghị quyết nhân quyền, nghị viện Âu châu, Tu viện Bát Nhã
Hôm 26/11, Nghị viện Châu Âu (EP) đã thông qua một nghị quyết về nhân quyền Việt Nam, kêu gọi Hà Nội thả tất cả các nhà hoạt động nhân quyền, các tù nhân lương tâm và chính trị, trong đó có linh mục Nguyễn Văn Lý và luật sư Lê Thị Công Nhân
Nghị quyết của cơ quan lập pháp thuộc Liên minh Châu Âu cũng “lên án việc sử dụng bạo lực xua đuổi hơn 150 sư thầy và sư cô khỏi các tu viện, và kêu gọi chấm dứt việc đàn áp các nhà tu hành.”
Nghị quyết có đoạn: “Hôm 27/9/2009, hàng trăm tăng ni Phật giáo trẻ tuổi từ tu viện Bát Nhã bị tấn công và đánh đập một cách tàn bạo trong khi tu viện của họ bị phá hoại, nhưng giới hữu trách và cảnh sát làm ngơ trước lời kêu cứu của họ.”
Các nghị viên Châu Âu cũng yêu cầu Việt Nam “thả vô điều kiện” nhà tu hành bất đồng chính kiến Thích Quảng Độ và “tái lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất” hiện bị cấm hoạt động tại Việt Nam.
Ngoài ra, EP cũng kêu gọi chính phủ Việt Nam “hạn chế vi phạm tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do hội họp.”
Cơ quan lập pháp của Châu Âu này cũng đề nghị “đưa một điều khoản bắt buộc thực hiện và cụ thể về nhân quyền và dân chủ vào tiến trình đàm phán về Hiệp định Đối tác và Hợp tác mới với Việt Nam.”
Hôm 8/10, Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam nói rằng “không có cái gọi là Việt Nam ép 400 người theo pháp môn Làng Mai phải rời khỏi tu viện Bát Nhã.”
Bộ này cũng nói rằng thông tin về đụng độ giữa các sư thầy, sư cô tại tu viện này và chính quyền là “hoàn toàn sai sự thật.”
Hà Nội cũng từng khẳng định không bắt các tù nhân chính trị mà chỉ giam những người vi phạm pháp luật.
Cuối tháng mười, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ công bố “Phúc trình về Tự do Tôn giáo Quốc tế 2009,” trong đó nói rằng tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam “tiếp tục được cải thiện” nhưng “những vấn đề lớn vẫn còn tồn tại.”
Với hơn 700 nghị viên được bầu trực tiếp từ 27 nước thành viên của Liên minh Châu Âu, Nghị viện Châu Âu được coi là một trong những cơ quan lập pháp quyền lực nhất thế giới.
VOA/ Nguyễn Trung
TỰ DO BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM
Đỗ Hiếu, phóng viên RFA, Bangkok 2009-10-22 Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới RSF từ Paris vừa phổ biến bản xếp hạng về tự do báo chí trên toàn cầu năm 2009, trong đó Việt Nam xếp thứ 166/175 quốc gia.
Trang web của RSF thông báo bảng xếp hạng về tự do báo chí trên tòan cầu
Trên Thế giới
Trong số 10 quốc gia đứng cuối bản, bị xem là kẻ thù của truyền thông báo chí - internet, có 6 nước Châu Á, riêng Việt Nam thì xếp thứ 166 trên 175 quốc gia liệt kê trong danh sách.
Theo đánh gía của RSF, các quốc gia không có tự do báo chí, hạn chế quyền tự do ngôn luận, che dấu sự thật, ngăn cản nhà báo hành nghề, bỏ tù hay ám hại những người cầm bút, xét thấy bất lợi cho chế độ cầm quyền phi dân chủ, quân phiệt, độc đoán, gồm những nước thống trị bằng bạo lực, thường xuyên xảy ra xung đột quân sự, chiến tranh kéo dài, hay dung dưỡng tệ nạn tham nhũng, hậu quả hiển nhiên là ở những nước đó quyền làm người bị xâm phạm, chính quyền khóa miệng đối lập, bắt bớ, sách nhiễu những tiếng nói đấu tranh ôn hòa cho dân chủ và nhân quyền.
Trong bản xếp hạng vừa được phổ biến, “bộ ba” luôn đứng chót là Bắc Hàn, Miến Điện và Lào do những thành tích như kiểm duyệt báo chí gắt gao, không cho phép tư nhân hoạt động trong ngành truyền thông đại chúng, giam nhốt, ám hại bất cứ ai muốn nói lên sự thật một cách công khai.
Tại Việt Nam
Khi giải thích về việc Hà Nội xếp hạng 166 trên tổng số 175 quốc gia được khảo sát, năm nay, ông Vincent Brossel - Giám Đốc Điều Hành RSF đặc trách Châu Á, cho Đài RFA chúng tôi biết đại ý là gần đây nhà nước Việt Nam, một chế độ cầm quyền độc đảng, đã gia tăng bắt bớ, xử phạt tù nhiều nhà báo, bloggers, những nhà hoạt động cho dân chủ, những cây bút tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là những đối tượng công khai phê phán sự nhượng bộ mà Hà Nội dành cho Bắc Kinh về vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, khai thác bauxite…
Gần đây nhà nước Việt Nam, một chế độ cầm quyền độc đảng, đã gia tăng bắt bớ, xử phạt tù nhiều nhà báo, bloggers, những nhà hoạt động cho dân chủ, những cây bút tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là những đối tượng công khai phê phán sự nhượng bộ mà Hà Nội dành cho Bắc Kinh về vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, khai thác bauxite
Vẫn theo ông Vincent Brossel, nhà nước Việt Nam thường xuyên kiểm soát chặt chẽ mọi phương tiện truyền thông, bưng bít sự thật, lọc lựa các nguồn thông tin mà họ chỉ muốn cho người dân nghe - biết, không chấp nhận báo chí tư nhân độc lập, cắt xén những vần đề bén nhạy, ngại làm phật lòng làng giếng khổng lồ phía Bắc:
Kế đó, góp ý với RFA về thành tích của Việt Nam trong việc đối xử với nhà báo, blogger, người viết bài trên internet, các tiếng nói dân chủ, cô Dương Thị Xuân một cây bút độc lập ở Hà Nội nhấn mạnh:
Nhà báo tự do Dương Thị Xuân : Tôi là ký giả tự do. Nói về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam thì tất cả mọi người đều biết rằng là Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký chỉ thị là không có báo chí tư nhân, cho nên cái vấn đề báo chí tư nhân ở Việt Nam là không có, còn những ký giả tự do như chúng tôi thì chỉ là ký giả tự do thôi, còn nếu làm là đi hành nghề báo tự do thì sẽ được cơ quan an ninh hỏi thăm ngay: "Thẻ nhà báo đâu? Ai cho hành nghề?" Ấy, cho nên vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam là hoàn toàn không có. Thế hoạt động thế nào hả anh? Đúng không ạ? Bởi vì nói thật ra làm gì có tự do. Đây là tôi viết bài theo cái tâm tư của tôi thôi chứ còn nếu mà tôi hành nghề báo chí tại Việt Nam hiện nay thì sẽ được nhà cầm quyền bắt ngay.
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký chỉ thị là không có báo chí tư nhân, cho nên cái vấn đề báo chí tư nhân ở Việt Nam là không có, còn những ký giả tự do như chúng tôi thì chỉ là ký giả tự do thôi, còn nếu làm là đi hành nghề báo tự do thì sẽ được cơ quan an ninh hỏi thăm ngay
Trong một buổi phát thanh trước, qua câu chuyện với đài chúng tôi, từ Paris ông Benoit Hervieu cũng nhắc lại là qua đánh giá và đúc kết của RSF thì năm rồi Việt Nam cũng nằm trong danh sách 12 kẻ thù nguy hiểm nhất của internet. Trong bản xếp hạng tự do báo chí 2008 do RSF đúc kết, Hà Nội xếp thứ 168 trên 173 quốc gia được liệt kê
Được biết, các nước Châu Á xếp hạng cao và trung bình trong danh sách của RSF gồm có Nhật Bản thứ 17, Đài Loan hạng 59 và Nam Hàn thứ 69.
Sáu nước Châu Á xếp cuối bản là Campuchia, thứ 117, Việt Nam 166, Trung Quốc hạng 168, Lào 169, Miến Điện 171 và Bắc Hàn hạng 174.
Đỗ Hiếu, RFA Bangkok, Thailand.
NGHỊ QUYẾT 672 HOA KỲ VỀ INTERNET TẠI VIỆT NAM
Quốc Hội Hoa Kỳ Thông Qua Nghị Quyết 672 về Quyền Tự-Do Internet tại Việt Nam.
Nguyễn Trung 21/10/2009
Thưa quý vị, Hạ viện Hoa Kỳ hôm thứ Tư đã nhất trí thông qua với đa số phiếu thuận Nghị quyết HR 672 do dân biểu Loretta Sanchez đề xuất, kêu gọi Việt Nam ‘thả các blogger bị cầm tù và tôn trọng tự do Internet’. Đồng bảo trợ nghị quyết này còn có một số dân biểu khác quan tâm tới các vấn đề Việt Nam như Edward Royce, Frank Wolf, Zoe Lofgren và Cao Quang Ánh. Phát biểu tại Hạ viện, nữ dân biểu từ California cho rằng Hoa Kỳ ‘cần phải lên tiếng cho những ai không có tiếng nói ở Việt Nam’. Phóng viên Nguyễn Trung của Ban Việt Ngữ đài VOA đã theo dõi quá trình thảo luận cũng như bỏ phiếu và có bài tường thuật sau.
Dân biểu Loretta Sanchez cho rằng Internet là 'công cụ thực thi quyền tự do ngôn luận'.
Bảy ngày sau khi dân biểu Loretta Sanchez chủ trì một buổi thuyết trình về tình hình tự do Internet ở Việt Nam tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ, với sự tham gia của các diễn giả đại diện cho các tổ chức thúc đẩy nhân quyền quốc tế và hải ngoại, lưỡng đảng tại Hạ viện Hoa Kỳ đã nhất trí thông qua Nghị quyết HR 672 với đa số phiếu thuận.
Nghị quyết do bà Sanchez đề xuất viết rằng, Việt Nam đã ‘bỏ tù các blogger và nhiều nhà hoạt động dân chủ bày tỏ quan điểm ôn hòa trên Internet’, cũng như ‘dựng tường lửa chặn các trang thúc đẩy dân chủ và nhân quyền ở nước ngoài’ trong khi ‘Internet là công cụ thực thi quyền tự do ngôn luận, chia sẻ thông tin một cách tự do cũng như liên kết người Việt Nam ở cả trong nước lẫn quốc tế’.
Phát biểu tại Hạ viện hôm 21/10, nữ dân biểu này cho rằng Việt Nam đã ‘có biện pháp trái luật’ khi bắt giữ các bloggers trong thời gian qua. Bà nói: ‘Internet cũng đã trở thành một phương tiện chia sẻ thông tin một cách tự do, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và dân chủ. Tuy nhiên, trong những tháng vừa qua, chính phủ Việt Nam đã có những bước đi tôi cho là trái luật nhằm kiểm soát Internet’.
Cũng phát biểu ủng hộ Nghị quyết HR 672 tại Hạ viện còn có ông Ed Royce và Cao Quang Ánh, dân biểu gốc Việt đầu tiên trong Quốc hội Hoa Kỳ.
Nghị quyết HR 672 cũng cho rằng việc thành lập Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử hồi tháng 10/2008 và việc ra Thông tư 07 tháng 12/2008 ở Việt Nam đã ‘giới hạn tự do Internet, kiểm duyệt blog cá nhân cũng như buộc các công ty công nghệ hợp tác với chính phủ trong nỗ lực kiểm soát các thông tin cá nhân của người sử dụng mạng Internet’.
Hồi năm ngoái, trong buổi lễ ra mắt Cục này, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn từng nói với báo giới trong nước rằng sự ra đời của Cục này là ‘bước quan trọng trong quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử’.
Tuy nhiên, trong Nghị quyết HR 672, bà Sanchez cho rằng đây là một cơ quan ‘có mục đích duy nhất là giới hạn tự do Internet, kiểm duyệt blog cá nhân cũng như yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet cung cấp thông tin về những người sử dụng vi phạm các quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông của nước này’.
Trả lời VOA Việt Ngữ qua điện thoại, một giới chức không muốn nêu tên từ Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cho rằng nhận định trên ‘thiếu chính xác’, nhưng không giải thích cụ thể.
Nghị quyết cũng 'kêu gọi trả tự do' cho luật sư Lê Cộng Định và một số nhà hoạt động dân chủ khác.
Ngoài kêu gọi tự do Internet rộng rãi hơn ở Việt Nam, Nghị quyết cũng yêu cầu chính phủ Việt Nam phóng thích ‘tất cả các tù nhân chính trị’ trong số đó có một số người bị bắt trong thời gian qua như luật sư Lê Công Định, nhà giáo Vũ Hùng hay nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Tiến Trung.
HR 672 còn kêu gọi Hạ viện Hoa Kỳ ‘ủng hộ quyền tiếp cận website của người dân Việt Nam cũng như quyền tự do chia sẻ và công bố thông tin trên Internet’.
Tại Hạ viện, bà Sanchez cho rằng Washington ‘chưa có quan điểm cứng rắn trước tình trạng vi phạm quyền ở Việt Nam’. Bà nói: ‘Tôi tin rằng chúng ta, Hoa Kỳ, phải có quan điểm phản đối việc vi phạm nhân quyền rõ ràng của Việt Nam. Hoa Kỳ là nước dẫn đường về tự do và dân chủ, nên nhiệm vụ của chúng ta là phải lên tiếng thay cho những ai không có tiếng nói’.
Hà Nội chưa có phản ứng chính thức về việc Hạ viện Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết HR 672. Bộ Ngoại giao Việt Nam trước đây từng khẳng định ‘chính sách nhất quán’ về ‘quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, và quyền được thông tin cho mọi người dân’. Mới đây, trong một thông cáo hôm 14/10, Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội đã bày tỏ quan ngại về việc chín nhà hoạt động dân chủ bị kết án ở Việt Nam một tuần trước đó.
Sau đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng cho rằng Hoa Kỳ ‘can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam’.
TÒA ĐẠI SỨ HOA KỲ TỎ THÁI ĐỘ VỀ VỤ KẾT ÁN
Quan ngại sâu sắc' sau vụ kết án http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/10/091014_ usembassydisside nts.shtml
Trong một thông cáo báo chí ra hôm 14/10, Đại sứ quán của Hoa Kỳ ở Hà Nội bày tỏ ''quan ngại sâu sắc về việc 9 nhà hoạt động dân chủ bị kết án ở Việt Nam hồi tuần trước".'
Thông cáo viết: "Các nhà hoạt động đơn giản chỉ bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa và không tạo ra bất cứ mối đe dọa nào tới an ninh quốc gia của Việt Nam."
''Chúng tôi cũng quan ngại về việc bắt giữ nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, bà đã bị đánh đập và bắt giữ sau khi công khai bày tỏ sự ủng hộ đối với 9 nhà hoạt động dân chủ. Không nên có cá nhân nào bị đánh đập, bắt giữ, hoặc giam giữ vì thực hành quyền tự do ngôn luận,'' thông cáo viết tiếp. ''Các hành động này, cùng với việc cưỡng ép các sư sãi ra khỏi Tu viện Bát Nhã ở tỉnh Lâm Đồng và việc chính phủ đã không bảo vệ họ khỏi bị tấn công là trái với cam kết của chính Việt Nam đối với các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận về nhân quyền và nền pháp trị.''
Đại sứ quán Hoa Kỳ thúc giục: ''Chính phủ Việt Nam tôn trọng các cam kết nhân quyền quốc tế của mình, và thả ngay lập tức và vô điều kiện những người này cũng như các tù nhân khác bị giam giữ vì đã bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa.''
Xử hàng loạt
Tổng cộng đã có chín người phải ra tòa với cùng một tội danh. Tất cả số này đều bị bắt từ tháng Chín năm ngoái.
Họ bị buộc tội đã "lưu trữ, phát tán những tài liệu vu khống chế độ, sau đó chụp hình và phát tán lên mạng Internet".
Các nhà hoạt động đơn giản chỉ bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa.
Những người ra tòa ở Hải Phòng ngày 09/10 có các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, 60 tuổi; Nguyễn Văn Tính, 67 tuổi; Nguyễn Kim Nhàn, 60 tuổi; Nguyễn Văn Túc, 45 tuổi; Ngô Quỳnh, 25 tuổi và Nguyễn Mạnh Sơn, 66 tuổi.
Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa nhận án nặng nhất là 6 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia vì 'vai trò lãnh đạo'.
Họ bị cáo buộc là vào hồi tháng 8/2008 đã tổ chức treo biểu ngữ và rải truyền đơn với nội dung "chống chính quyền" tại cầu vượt Lạch Tray (Hải Phòng) và Lai Cách (Hải Dương) rồi chụp ảnh và viết bài đưa lên mạng Internet.
Các biểu ngữ mà ḥọ đã treo được nói có nội dung chống chính quyền, kêu gọi dân chủ, đa nguyên đa đảng, chỉ trích tình trạng lạm phát trong kinh tế và chính sách biển đảo.
Trên một biểu ngữ còn có dòng chữ về Khối 8406, một tập hợp đấu tranh dân chủ trong nước.
Hôm 08/10, ông Phạm Văn Trội, 37 tuổi, bị Tòa án Nhân dân Hà Nội xử 4 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia.
Trước đó, nhà giáo Vũ Hùng cũng lãnh 3 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Điều 88. Nhà thơ Trần Đức Thạch, 57 tuổi, Hội viên Hội Nhà văn Nghệ An, hôm 06/10 bị xử tù giam 3 năm và 3 năm quản chế
34 NĂM “GIẢI PHÓNG”, 33 NĂM TÙ ĐÀY !
Nguyễn Ngọc Quang Sài Gòn ngày 06/10/2009
Viết vì sư hối thúc của lương tâm, viết vì sự phẩn uất trước cái ác đê tiện và viết để đánh động lương tri. Lẽ ra tôi phải viết những dòng chữ này ngay từ ngày đầu tiên ra tù, nhưng không có phương tiện làm việc, đành phải ra mắt bạn đọc muộn vậy. Kính mong quý vị và anh Nguyễn Hữu Cầu lượng thứ.
Một số phận nghiệt ngã bị bách hại bởi một chế độ phi nhân, tàn độc mà có lẽ đến muôn nghìn kiếp sau tôi cũng không thể nghĩ được nó một thời hiện diện trên trái đất này : chế độ toàn trị Cộng Sản Việt Nam. Vâng ! tôi muốn kể cho quý độc giả nghe một trong bốn mươi hai câu chuyện thương tâm mà tôi (vô phúc bị) mắt thấy tai nghe. Tôi muốn kể cho quý vị nghe sư thật về anh Nguyễn Hữu Cầu – một cựu đại úy Địa Phương Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một trong 43 người bạn tù chính trị của tôi tại Khu Giam Riệng, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai.
Sau biến cố đau buồn 30/04/1975, anh Hữu Cầu bị cưỡng bách tập trung cải tạo như mọi quân nhân VNCH khác. Đến cuối năm 1981 thì được trả tự do. Sống được đúng 1 năm ở ngoài và gần cuối năm 1982 lại bị tù cho đến ngày hôm nay – 33 năm trong ngục tù Cộng Sản !
Anh Cầu quê ở Kiên Giang, là một trí thức có năng khiếu trong âm nhạc, thơ ca. Bức xúc trước những số phận nghiệt ngã của người dân và sự gian trá, giảo quyệt, thối nát đến tận cùng của Cộng Sản Việt Nam, anh đã sáng tác rất nhiếu bài thơ, bài ca và cả trường thi hơn 2000 câu (tôi không thể thuộc được). Sáng tác xong, anh thường đọc cho các bạn của mình là những bác sỹ, giáo viên ở Kiên Giang nghe, đồng thời ghi lại những tác phẩm đó trong một quyển sổ dày khoảng 500 trang. Linh tính về việc làm của mình có thể dẫn đến tù đày tiếp, anh Cầu đã ghi lại những tác phẩm của mình theo cách sau : Trang lẻ, anh Cầu ghi sáng tác của mình, còn trang chẵn (mặt sau của trang trước) anh Cầu ghi lại những tội ác tày đình một cách chi tiết của các quan chức tỉnh Kiên giang, anh và nhóm bạn mai phục, gặp gỡ, phỏng vấn nhân chứng mà có được. Anh Cầu làm việc này vì nghĩ rằng nếu bị bắt thu quyển nhạc, thì chúng không thể trưng ra bằng chứng đó trước tòa được, vì nó liên quan tới rất nhiều quan chức cấp cao của địa phương, kể cả phó chủ tịch tỉnh và Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang.
Ngày 09 tháng 10 năm 1982, anh Nguyễn Hữu Cầu bị bắt. Sau 5 tháng bị giam để điều tra, tòa án Kiên Giang mang anh Cầu ra xử với mức án tử hình với tội danh “Phá Hoại”. Thật may mắn, trong thời gian bị giam, anh Cầu được một người Công An điều tra xét hỏi cho biết là chính anh ta phải nhận nhiệm vụ giả chữ viết của anh Cầu để sao lại quyển sách của anh (mặt sau của các trang để trắng). Công việc được thực hiện trong 3 tháng mới hoàn tất. Và sau khi hoàn tất, anh sẽ bị xử chết ngay để bịt đầu mối. Biết được thông tin này, anh Cầu đã kiên quyết chối phăng đi và không thừa nhận quyển sách cùng những sáng tác của mình. Tuy vậy, anh Cầu vẫn bị xử tử hình. Một trong những người đã tham dự phiên tòa là ký giả độc lập Trương Minh Đức – đảng viên Đảng Vì Dân, người đã ở tù chung với tôi và hiện đang bị giam chung với anh Nguyễn Hữu Cầu. Sau đó, anh Cầu đã kháng án, và nhờ trợ giúp của người nhà, anh đã gặp được luật sư Trần Thời Vượng, một luật sư già sắp về hưu. Ông Vượng nói với anh Cầu là ông muốn làm một việc gì đó có ý nghĩa trước khi về hưu. Nhờ ông Vượng mà quyển sách được đem đi giám định hình sự tại Sài Gòn. Cơ Quan Giám Định Hình Sự bộ Nội Vụ kết luận : Quyển sách không phải do anh Nguyễn Hữu Cầu viết ra. Tuy thế, để binh vực lẫn nhau, tòa phúc thẩm Tp Hồ Chí Minh vẫn không xử anh được trắng án mà giảm xuống chung thân.
Tôi thật sự phẩn nộ khi được đọc bản Cáo Trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Kiên Giang sáng tác ra để buộc tội anh Nguyễn Hữu Cầu. Tôi không còn nhớ nguyên văn, nhưng tôi đoan chắc và hoàn toàn chịu trách nhiệm về một số nội dung trong bản Cáo Trang buộc tội anh Cầu mà tôi đã đọc được. Xin hỏi quý vị - đặc biệt là các Phật Tử, có ai không biết Đức A Nan và Ca Diếp đệ tử của Đức Thích Ca Mâu Ni lúc Ngài còn tại thế? Ấy vậy mà trong bản Cáo Trạng buộc tội anh Nguyễn Hữu Cầu, Viện Kiểm Sát Nhân Dân (lại Nhân Dân!) đã viết : Tên Nguyễn Hữu Cầu đã cấu kết với những tên A Nan và Ca Diếp để nhằm mục đích hoạt động phá hoại chế độ. Nay tên Ca Diếp đã vượt biên, còn tên A Nan đang trốn tại Khánh Hòa, khi nào truy nã được thì sẽ xét xử sau.
Nhân tiện đây tôi xin thưa với quý ông Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang thời đó (1982), và quý ông Cộng Sản thời nay. Tôi xin mách cho các ông biết nơi ẩn náu của hai “tên” Ca Diếp và A Nan để quý ông dể dàng bắt giữ mà khỏi mất công phải truy nã nữa, mệt lắm ! : họ đang ở tỉnh Cực Lạc, nước Niết Bàn. Muốn qua đó thì mời quý ông qua Tây Trúc mua vé nhé ! Hoặc có thể truy cập vào website sau để đăng ký, sẽ được công dân của nước Niết Bàn giao vé tới tận nhà : samhoitoiloideduocs ieuthoat. com
Tôi xin viết lại nguyên văn bài “Giọt Nước Mắt Chúa” do “tên” Nguyễn Hữu Cầu viết ca ngợi Đế Quốc Mỹ, mời quý Ki Tô hữu thưởng lãm : Lạy Cha chúng con ở trên Trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha chỉ đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sư dữ, A men!. Thật hết biết! Bài Kinh Lạy Cha để tôn vinh Đức Chúa Trời của tín đồ Ki Tô trên toàn thế giới, lại biến thành bài “Giọt Nước Mắt Chúa” trong Cáo Trạng buộc tội anh Cầu của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang. Cáo Trạng Viết : Tên Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác ra bài hát “Giọt Nước Mắt Chúa” với ý thức còn mơ tưởng đến sự trở lại của Đế Quốc Mỹ, tên Cầu đã ví Đế Quốc Mỹ như là cha để cầu xin bơ thừa sữa cặn, (xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày). Còn rất nhiều điều thực sự ngu dốt đến thương hại của một cái gọi là “Bản Cáo Trang” ấy, trong tinh thần của bài viết tôi không thể đưa ra. Nếu có thể được, quý độc giả sẽ tận mắt mục kích nó trong một ngày gần đây.
Trong thời gian ở trại tù Z30A, anh cầu đã được Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Giám Đốc Giòng Tên, cùng ở tù chung với anh Cầu, rửa tội để trở thành Kitô hữu - một trong những lý do không được giảm án hay ân xá. Đi theo lời kêu gọi của lương tâm và tinh thần của một Kitô hữu, anh cầu đã đấu tranh không khoan nhượng với những tội ác mà CSVN thông qua những bàn tay nhuốm máu của các cai tù, côn đồ, hành xử với tù nhân chính trị và tù nhân lương tâm. Cụ thể, trong thời gian 28 năm ở trại tù Z30A, anh Cầu đã làm gần 500 lá đơn tố cáo ban Giám Thị trại giam tổ chức mại dâm, buôn bán ma túy, dùng giang hồ khủng bố tù chính trị, sản xuất rượu và pháo lậu, quản giáo đánh đập và giết tù nhân, trại đã chủ trương giết tù nhân chính trị bằng cách cố tình cho lây nhiễm HIV - trại giam không cho sử dụng dụng cụ hớt tóc và dao cạo râu, mà do một tù hình sự, đến kỳ (một. tháng một lần) sẽ vào hớt tóc và cạo râu cho họ và chỉ được dùng duy nhất một lưỡi dao lam cũ, do tù nhân hình sự ấy đưa vào. Thông qua lưỡi dao này, trại giam đã truyền HIV vào tù nhân chính trị - Nhân chứng sống còn chưa chết (nhưng rồi sẽ phải chết), đã bị nhiễm HIV bằng con đường này là anh Đổ Văn Thái (nằm sát với tôi trong phòng giam), hiện đang bị giam tại Khu Giam Riêng, K2, trai giam Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai.
Vì sợ sự thật sẽ được phơi bày ra anh sáng công luận. Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam mà cụ thể là Trại giam Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai đã biệt giam anh Cầu hơn 3 năm (tôi không nhớ chính xác thời gian). Trong thời gian đó, anh Cầu không tiếp xúc được bất kỳ ai ngoài cán bộ quản giáo và người tù hình sự đưa cơm hằng ngày. Trong 3 năm ấy, may mắn sao anh không bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, nhưng đôi mắt anh đã bị mù. Đến cuối năm 2007 anh mới được đưa lên bện viện Chợ Rẫy trị mắt – nhưng chỉ được một con. Cách nhốt biệt giam một người tù như thế, nhằm mục đích để bệnh hoạn giết đi một cách gián tiếp. Tôi không thể tưởng tượng ra được, đâu đó trên trái đất này có ai hành xử với đồng loại như thế không ?.
Tội ác của Cộng Sản không sao kể xiết. Gia đình tôi là một trong hàng triệu triệu nạn nhân. Tôi đã biết nhiều qua chứng kiến, đọc, nghe mẹ và nhiều người kể. Ở đây tôi không muốn nhắc tới nữa, vì đã có quá nhiều người viết lên rồi. Tuy nhiên, tôi muốn nói cho những người Cộng Sản biết một sự thật hiển hiện rằng : Với tinh thần hòa hiếu, vị tha của tâm hồn Việt, phù hợp với trào lưu vươn tới Hòa Bình, Bác Ái và Sự Thánh Thiện trên khắp hoàn cầu ngày nay. Người dân Việt có thể tha thứ cho các tội ác mà quý vị đã gieo rắc, nhưng không bao giờ họ quên đi tội ác ấy. Chỉ có một cách duy nhất để làm phai mờ dần những ký ức về tội ác của quý vị trong tâm hồn Việt. Đó là hãy nhìn thẳng vào sự thật, vượt qua nỗi sợ hãi của chính mình mà trở về với Mẹ, sà vào lòng Mẹ mà ăn năn tội và xin Mẹ tha thứ - Mẹ Việt Nam muôn vàn thân yêu và đầy lòng bác ái của chúng ta.
Tôi đang giữ ĐƠN XIN BÁO CÁO BỔ SUNG của anh Nguyễn Hữu Cầu viết gởi ông chánh án Tòa Án Tối Cao. Xin mời quý độc giả ghé mắt :
Sở dĩ có khổ giấy dài như thế là vì trong tù, tù nhân chính trị không được sử dụng giấy và viết. Viết và giấy có được là do lượm lặt, cất giấu và dán lại mà có.
Điều đáng nói ở đây là một Đảng, một Nhà Nước đương đại trong thế hội nhập toàn cầu, đã từng đặt bút ký vào nhiều công ước, hiệp ước đầy tính nhân văn của Liên Hiệp Quốc. Ấy vậy mà đã hành xử tàn bạo đến man rợ như thế. Cộng Sản Việt Nam đã chà đạp lên lương tri Nhân Loại, coi thường Công Pháp Quốc Tế, Công Ước Liên Hiệp Quốc về Quyền Con Người, mà chính họ đã đặt bút ký vào. Cộng Sản Việt Nam đã không ngần ngại nhào nặn Lịch Sử, xuyên tạc sự thật và bức tử chính Hiến Pháp do họ soạn thảo ra để triệt tiêu bằng được tất cả những người Việt yêu nước chân chính.
Tôi khẩn cầu người Việt yêu nước trên toàn thế giới hãy lên tiếng. Mong các quốc gia dân chủ, Liên Hiệp Quốc và các tổ chức nhân quyền Quốc tế, có biện pháp hữu hiệu để buộc Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam thả anh Nguyễn Hữu Cầu và những người bất đồng chính kiến đang bị giam giữ trên toàn lãnh thổ Việt Nam vô điều kiện.
Nguyễn Ngọc Quang Sài Gòn ngày 06/10/2009
LIÊN HIỆP QUỐC: CHỐNG BẮT BỚ TRÁI PHÉP
Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ tố cáo Hà Nội bắt giam phi pháp những người phê phán chế độ
PARIS, ngày 7.9.2009 (QUÊ MẸ) - Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ, là cơ quan của LHQ theo dõi và quan sát các trường hợp bắt bớ trái phép tại các quốc gia thành viên trong thế giới, vừa nêu danh một số các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam bị giam giữ trái chống với các Công ước quốc tế về nhân quyền. Nhưng nạn nhân này gồm có : Nguyễn Hoàng Hải (Điếu Cày), Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Văn Trội, Phạm Thanh Nghiên, Vũ Hùng, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Túc, Trương Minh Đức, Nguyễn Văn Hải, và Nguyễn Việt Chiến.
Những nạn nhân trên đây đã bị kết án tù vì phê phán chính sách của nhà cầm quyền Hà Nội, đặc biệt là phê phán quan hệ với Trung quốc. Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ kêu gọi Việt Nam “dùng những biện pháp cần thiết để khắc phục tình trạng của những người này”, và yêu cầu trả tự do tức khắc cho ông Trương Minh Đức vì lý do sức khỏe.
Theo bản “Quan điểm 1/2009” được thông qua tại khóa họp lần thứ 54 của Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ tại Genève, tuyên cáo rằng hai ông Phạm Văn Trội, Nguyễn Xuân Nghĩa, cô Phạm Thanh Nghiên, và các ông Vũ Hùng, Ngô Quỳnh và Nguyễn Văn Túc, bị bắt vào tháng 9.2008 sau cuộc biểu tình ôn hòa chống lại yêu sách của Trung quốc xâm lấn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những người này vẫn chưa được đưa ra xét xử. Họ bị bắt giam tùy tiện trong khi hành động của họ “chỉ biểu tỏ ôn hòa các quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận và tự do báo chí”. Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ đặc biệt quan tâm tới trường hợp của nhà giáo Vũ Hùng bị sa thải khỏi chức vụ dạy học.
Trường hợp Blogger Nguyễn Hoàng Hải (Điếu Cày) bị tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh kết án 30 tháng tù hôm 10.9.2008 vì lý do “trốn thuế”, nhưng trong thực tế là ông đã đưa lên mạng Internet các bài chống đối yêu sách chiếm đóng của Trung quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như tham gia các cuộc biểu tình chống Trung quốc. Nhận định rằng tính chất “ôn hòa và chính đáng” của ông Hải thông qua các hành xử báo chí và chính trị, là những hành xử “không bị nhà cầm quyền Việt Nam phản bác”, Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ kết luận rằng việc giam giữ ông Hải là “hành động nhằm dập tắt sự hành xử các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp”
Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ nhận định trường hợp nhà báo tự do Trương Minh Đức là “một trường hợp đặc biệt nghiêm trọng về sự bắt bớ tùy tiện”. Ông Đức bị tố cáo tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước” (chiếu điều 258 trong Bộ luật Hình sự), và bị kết án 5 năm tù hôm 28.3.2008 tại Kiên Giang, vì lý do đã viết những bài tố cáo cán bộ nhà nước tham những. Nhận thấy án tù quá nặng cho một nhà báo mà “sức khỏe đang sa sút vì tình trạng giam cầm tồi tệ”, Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ yêu cầu trả tự do tức khắc cho ông Đức.
Còn trường hợp hai nhà báo Nguyễn Văn Hải (tuần báo Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (nhật báo Thanh Niên), bị kết án năm 2008 mỗi người 2 năm tù và 2 năm cải tạo vì tiết lộ các vụ tham nhũng tai tiếng của những viên chức cao cấp. Họ đã được trả tự do sau đó nhờ áp lực quốc tế. Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ tuyên cáo rằng việc kết án họ “lợi dụng chức vụ và quyền hạn” là tùy tiện. Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ cho rằng những hành xử của hai nhà báo nói trên “phù hợp với phạm vi thuộc các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” cũng như đã hành xử theo khả năng chuyên nghiệp của họ.
Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ cũng tố cáo Việt Nam sử dụng các điều khoản trong Bộ luật Hình sự, như dùng Điều 258 để kết tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước”. Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ cho rằng các điều khoản này “mâu thuẫn với bất cứ quyền hay tự do nào được LHQ bảo đảm trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và trong Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia ký kết”. Khi biết rằng điều 258 trong Bộ luật Hình sự Việt Nam kết án từ 7 năm tù trở lên.
Hồ sơ về các trường hợp kể trên đã được ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam, đệ nạp Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ trong thời gian qua. Theo thủ tục của Hội đồng Nhân quyền LHQ, thì tất cả các hồ sơ đệ nạp đều được cứu xét nghiêm chỉnh. Sau đó, hồ sơ được chuyển về cho Nhà cầm quyền Hà Nội hỏi ý kiến. Khi được Hà Nội phản hồi xác nhận hay bác bỏ, (xưa nay chưa hề có trường hợp nào được Hà Nội xác nhận), LHQ chuyển thư phản hồi ấy đến cơ quan tố cáo để yêu cầu bình luận. Cuối cùng hồ sơ kết thúc mới đưa ra khóa họp để thông qua hay bác bỏ.
Quan điểm 1/2009 về vấn đề Việt Nam đã được thông qua tại khóa họp lần thứ 54 của Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ ở Genève, và vừa được ông Miguel de la Lama, Tổng Thư ký Tổ Hành động Chống Bắt bớ tùy tiện của LHQ, gửi đến ông Võ Văn Ái thông báo. Nội dung được trình bày trên đây.
Quan điểm 1/2009 của LHQ về vấn đề Việt Nam đã đến đúng lúc vào thời điểm Hà Nội dăng mẻ lưới bắt bớ các nhà báo, blogger, nhà hoạt động dân chủ… chỉ vì những người này đòi hỏi nhân quyền, dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ trước sự kiện Trung quốc xâm lấn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam. Đó là trường hợp của các vị : Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Huy Đức, Bùi Thanh Hiếu, Phạm Đoan Trang, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, v.v…
BỊ BẮT VÌ THIẾU HỮU NGHỊ VỚI TRUNG QUỐC
Trân Văn, phóng viên đài RFA 2009-09-02
Sau hàng loạt thông tin liên quan đến vụ bắt giữ blogger Người Buôn Gió hôm 27 tháng 8, các diễn đàn điện tử, các blog và nhiều hãng thông tấn nước ngoài tiếp tục loan báo, lực lượng an ninh của Công an Việt Nam đã bắt giữ bà Phạm Đoan Trang, 31 tuổi, nữ phóng viên của báo điện tử VietNamNet, cơ quan ngôn luận thuộc Bộ Thông tin Truyền thông Việt Nam vì “xâm phạm an ninh quốc gia”. Trước đây, các cơ quan bảo vệ pháp luật của Việt Nam đã từng khởi tố, tạm giam, truy tố và kết án một số nhà báo ở Việt Nam vì một
Nữ phóng viên Phạm Đoan Trang. photo courtesy RFI
số tội khác nhau, đã được qui định trong bộ luật hình sự, song cô Phạm Đoan Trang có lẽ là nhà báo Việt Nam đầu tiên bị bắt giữ vì “xâm phạm an ninh quốc gia”... Cô Phạm Đoan Trang đã làm những gì? Mời qúy vị nghe Trân Văn tường trình...
Chỉ biết là... “xâm phạm an ninh quốc gia”
Tuy tin cô Phạm Đoan Trang, phóng viên báo điện tử VietNamNet, bị lực lượng an ninh quốc gia của Công an Việt Nam bắt giữ vì “xâm phạm an ninh quốc gia”, đã được khá nhiều diễn đàn điện tử, blog, cũng như hàng chục hãng thông tấn quốc tế loan báo, song đến nay, những chi tiết có liên quan đến vụ bắt giữ này chỉ ngừng lại ở mức độ đó.
Tuy tin cô Phạm Đoan Trang, phóng viên báo điện tử VietNamNet, bị lực lượng an ninh quốc gia của Công an Việt Nam bắt giữ vì “xâm phạm an ninh quốc gia”, đã được khá nhiều diễn đàn điện tử, blog, cũng như hàng chục hãng thông tấn quốc tế loan báo, song đến nay, những chi tiết có liên quan đến vụ bắt giữ này chỉ ngừng lại ở mức độ đó.
Trong một cuộc trao đổi ngắn với Đài Á Châu Tự Do vào tối 1 tháng 9, ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng Biên tập báo điện tử VietNamNet, bảo rằng, VietNamNet cũng chỉ được thông báo là cô Phạm Đoan Trang đã bị bắt vào tối 28 tháng 8, ở bên ngoài Toà soạn, do những hoạt động bên ngoài tờ báo chứ không liên quan đến những bài cô viết trên VietNamNet.
Cũng theo ông Nguyễn Anh Tuấn, cách nay vài năm, cô Phạm Đoan Trang từng làm việc cho bộ phận VietNamNet TV. Sau đó xin nghỉ việc và mới quay trở lại làm việc cho chuyên trang Tuần Việt Nam được hơn một năm. Ông Tuấn khẳng định rằng, sau khi tìm hiểu đủ thông tin, VietNamNet sẽ có thông tin chính thức liên quan đến việc cô Phạm Đoan Trang bị bắt.
Đã từng xúc phạm... Trung Quốc
Ngoài việc trò chuyện với ông Nguyễn Anh Tuấn, chúng tôi cũng đã tìm cách tiếp xúc với vài blogger được xem là thạo tin để tìm những thông tin có liên quan đến việc bắt giữ cô Phạm Đoan Trang. Theo một blogger có nickname là PoorLady thì: Lý do quan trọng nhất là cô này bị cáo buộc liên quan đến việc tiết lộ tin Tham tán Kinh tế - Thương mại Hồ Tỏa Cẩm lên lớp báo chí Việt Nam. Cô này đưa tin cho Người Buôn Gió và Người Buôn Gió đã viết một bài trên blog của anh.
Cũng có một nguồn tin cho biết là phóng viên Đoan Trang viết một bài liên quan tới Tham tán Kinh tế - Thương mại Hồ Tỏa Cẩm đề nghị phía Việt Nam kỷ luật những tờ báo cho đăng những phát biểu của bà Phạm Chi Lan và ông Nguyễn Minh Phong về hàng hoá Trung Quốckhông tốt mà tràn vào thị trường Việt Nam.
Bài này không đăng trên những tờ báo chính thức ở trong nước mà đăng trên blog. Có một lý do nữa là cô này viết một bài nói về những hiệp ước mà chính phủ Việt Nam đã ký với Trung Quốc, cho nên đã bỏ qua rất là nhiều cơ hội cho đất nước đi lên...
Cũng có một nguồn tin cho biết là phóng viên Đoan Trang viết một bài liên quan tới Tham tán Kinh tế - Thương mại Hồ Tỏa Cẩm đề nghị phía Việt Nam kỷ luật những tờ báo cho đăng những phát biểu của bà Phạm Chi Lan và ông Nguyễn Minh Phong về hàng hoá Trung Quốckhông tốt mà tràn vào thị trường Việt Nam.
Chúng tôi đã thử đối chiếu những thông tin do blogger PoorLady cung cấp với các dữ kiện khác.
Theo đó, đúng là blogger Người Buôn Gió đã từng đưa lên blog của ông một tin ngắn, độ dài khoảng 400 chữ, cho biết, trong cuộc gặp bà Quản Duy Ngân Hà – Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ Thông tin Truyền Thông Việt Nam, ông Hồ Tỏa Cẩm, Tham tán Kinh tế - Thương mại của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, đã yêu cầu Bộ Thông tin Truyền Thông Việt Nam cần phải rút kinh nghiệm và phải quản lý báo chí chặt chẽ hơn do báo chí Việt Nam đã để hai chuyên gia kinh tế lả bà Phạm Chi Lan và ông Nguyễn Minh Phong có những lời lẽ không hữu nghị với Trung Quốc.
Ít ngày sau, sự kiện mà blogger Người Buôn Gió loan báo trên blog của ông, đã được chi tiết hoá bằng bài viết “Sứ quán Trung Quốc đòi khuyến cáo, nhắc nhở VietNamNet”, có độ dài lên tới 2.200 chữ, trên Diễn đàn điện tử X-cafe.
Với bút danh N.T.D - tác giả bài viết “Sứ quán Trung Quốc đòi khuyến cáo, nhắc nhở VietNamNet” đã chọn lối tường thuật sự kiện theo kiểu “Biên bản cuộc họp”. Nội dung cuộc họp giữa Tham tán Kinh tế - Thương mại của Đại sứ quán Trung Quốc, với Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ Thông tin Truyền Thông Việt Nam đủ để khiến bất kỳ người Việt nào đọc bài viết này cũng cảm thấy ngán ngẩm cho quốc thể, âu lo cho chủ quyền quốc gia!
Trung Quốc theo đuổi chính sách đã làm gì thì làm tới cùng. Có khi họ không quan tâm nhiều hoặc bất chấp những điều thuộc về đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh: hàng xấu, hàng độc... Ngay cả đối với dân của họ, họ cũng không quan tâm, chẳng hạn trường hợp trẻ em Trung Quốc ngộ độc sữa...
Bà Phạm Chi Lan
Tại sao “Sứ quán Trung Quốc đòi khuyến cáo, nhắc nhở VietNamNet”? Ngày 16 tháng 6, chuyên trang Tuần Việt Nam của báo điện tử VietNamNet tổ chức một buổi tọa đàm, nhằm tìm giải pháp đối phó với hàng Trung Quốc chất lượng thấp, với sự tham gia của bà Phạm Chi Lan – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam và ông Nguyễn Minh Phong - Viện nghiên cứu Kinh tế Xã hội Hà Nội.
Tại buổi tọa đàm này, bà Phạm Chi Lan cho rằng, một trong những nguyên nhân giúp hàng Trung Quốc có giá bán rẻ là: Trung Quốc theo đuổi chính sách đã làm gì thì làm tới cùng. Có khi họ không quan tâm nhiều hoặc bất chấp những điều thuộc về đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh: hàng xấu, hàng độc... Ngay cả đối với dân của họ, họ cũng không quan tâm, chẳng hạn trường hợp trẻ em Trung Quốc ngộ độc sữa... Cho nên đối với người tiêu dùng nước khác, dại dột mua hàng kém chất lượng và bị hại, họ càng không coi đó là vấn đề của mình.
Ông Nguyễn Minh Phong tán thành điều đó và góp thêm: Người hàng xóm của chúng ta đã ‘hy sinh’ 750 triệu nông dân nước họ để có giá thành lao động cực thấp, thậm chí với 1USD một ngày họ cũng làm quần quật, chưa kể chi phí của lao động trẻ em, lao động tù nhân. Và như mọi người đều biết, trong nhiều trường hợp, họ bỏ qua những tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Đấy là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của họ. Nếu chúng ta bám được vào ý này, chúng ta sẽ tạo được những điểm mạnh cho chúng ta.
Người hàng xóm của chúng ta đã ‘hy sinh’ 750 triệu nông dân nước họ để có giá thành lao động cực thấp, thậm chí với 1USD một ngày họ cũng làm quần quật, chưa kể chi phí của lao động trẻ em, lao động tù nhân. Và như mọi người đều biết, trong nhiều trường hợp, họ bỏ qua những tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Ông Nguyễn Minh Phong
Nếu đối chiếu những nhận định của bà Phạm Chi Lan và ông Nguyễn Minh Phong với các ý kiến phân tích, đánh giá của nhiều chuyên gia, cũng như báo chí trên thế giới về chính sách kinh tế và hàng hoá Trung Quốc, ai cũng có thể thấy những nhận định này không mới.
Vậy thì tại sao một nhân viên ngoại giao, chỉ giữ vai trò tham tán kinh tế - thương mại trong đại sứ quán của một quốc gia, lại dám hành xử như vậy trên lãnh thổ của một quốc gia khác? Chưa kể trước yêu cầu như thế của một nhân viên ngoại giao nước ngoài, tại sao một viên chức cấp Vụ trưởng lại đi cám ơn và hứa "sẽ xem xét, báo cáo lại với các đồng chí có trách nhiệm”? Thậm chí còn mời Đoàn quản lý báo chí của Trung Quốc sang thăm Việt Nam để trao đổi về chính sách quản lý báo chí bằng chi phí của Việt Nam?
Đến này, ông Bùi Thanh Hiếu - blogger Người Buôn Gió đã bị giam năm ngày. Cô Phạm Đoan Trang đã bị giam bốn ngày nhưng cơ quan an ninh Việt Nam chưa tiết lộ cả hai chỉ bị tạm giữ hành chính hay đã bị khởi tố và đang tạm giam vì tội gì. Thân nhân cũng như nơi họ làm việc chỉ cho biết họ mất tự do vì “xâm phạm an ninh quốc gia”.
Tường thuật thông tin, trình bày suy nghĩ không có lợi cho quan hệ Việt – Trung theo đúng “phương châm 16 chữ vàng” và “tinh thần bốn tốt” là đủ để bị coi như “xâm phạm an ninh quốc gia”?
&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&& TU DAY THUOC VE NHUNG THOI KY TRUOC
TẠI SAO LUẬT SƯ ĐỊNH ?
Trần Khải
Tại sao Luật sư Lê Công Định bị bắt? Có thực là vì những nghiên cứu học thuật, hay vì hoạt động đảng phái, hay vì ảnh hưởng trên giới trí thức, hay để răn đe các tầng lớp khác? Hay là để trấn áp các tiếng nói quan tâm về dân chủ, nhân quyền, Bauxite Tây Nguyên và Biển Đông? Hay để nêu câu hỏỉ một cách khác: nếu thực sự rằng luật sư Lê Công Định "vi phạm điều 88 của Bộ Luật Hình sự" thì tại sao nhiều người khác cũng có các ngôn ngữ hay hành vi tương tự mà không bị bắt? Và tại sao nhà nứơc không để yên cho những người như luật sư Định nói, viết và hành động như nhiêù người khác để "trình diễn bộ mặt cởi mở đa dạng" của chế độ? Thí dụ, nói và viết để chỉ trích nhà nước CSVN thì có nhiều, và các tác giả đa số đều được để yên. Như tác giả các bài viết trên những báo ngoaì luồng như báo Tổ Quốc, nơi ban biên tập đa số đều liên hệ tới Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ở hải ngoại và nhóm trí thức Đà Lạt; hay như báo Tự Do Ngôn Luận, nơi ban biên tập đa số đều liên hệ tới Khối 8406 và nhóm linh mục Huế; hay như các trang nhà của một số nhà văn quốc nội, như trang của nhà văn Đào Hiếu hay blog của nhạc sĩ Tô Hải… Tất cả đều rực lửa dân chủ, đều tràn ngập những khát vọng nhân quyền và đều mơ ước về một chế độ dân chủ đa nguyên. Nhưng không ai bị bắt, mà chỉ bị công an làm phiền, gây rối. Thậm chí, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy viết nhiều bài nêu đích danh ông Hồ ra chỉ trích, và sau một thời gian ngồi tù cũng được cho ra và rồi bà vẫn viết tiếp. Công an biết rằng họ không thể bắt hết, giam hết. Cho nên, công an phải có lựa chọn. Làm sao để bắn một viên sỏi mà rớt nhiều con chim. Nơi đây, luật sư Lê Công Định là một lựa chọn mà công an tin là đúng thời điểm, đúng người. Bản tin trên báo VietnamNet, và báo Nhân Dân - kèm với 2 đoạn băng hình, trong đó băng hình trên VietnamNet là trích đoạn ngắn, nhưng trên báo Nhân Dân dài đầy đủ trọn cả bản văn "nhận tội vi phạm điều 88 Luật Hình Sự," cho thấy hình ảnh và giọng noí luật sư Lê Công Định trong này. Nếu nói về việc làm đảng phái, hay mang tính tổ chức (Khối 8406), thì từng có cụ Hoàng Minh Chính, cụ Trần Khuê, hay Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, LM Phan Văn Lợi, Đỗ Nam Hải, và cả ngàn người khác. Thực tế, nếu nói là vi phạm như thế, phải nói là hàng ngàn người vi phạm. Tại sao không bắt những người trong ban biên tập các báo ngoaì luồng và các trang web, blog nêu trên? Hay mời gọi ký tên đòi dân chủ… Thậm chí, những cuộc biểu tình của dân oan ba miền, bắt rồi thả về địa phương, hay "tuần hành cầu nguyện" của giaó dân Hà Nội vẫn được để thả lỏng? Như thế, tại sao bắt luật sư Lê Công Định? Tất nhiên, không phải thuần túy vì luật sư Lê Công Định đã biện hộ cho hai luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân cùng với nhà báo tự do Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, vì thế giới sẽ hàì lòng thấy hình ảnh một luật sư nhân quyền bào chữa cho các nhà hoạt động nhân quyền. Cũng không phảỉ thuần túy vì các bài viết đòi hỏi dân chủ đa nguyên của luật sư Lê Công Định trên đàì BBC hay các báo khắp thế giới, cũng không phaỉ góp ý về bản hiến pháp A hay B hay C nào hết, vì chuyện nghiên cứu học thuật tư tưởng là chuyện bình thường… Thế thì tại sao bắt luật sư Lê Công Định? Thực tế, dưới mắt Bộ Công An CSVN, luật sư Lê Công Định không có gì nguy hiểm trực tiếp. Hãy hình dung thế này, tới biểu tình hàng trăm ngàn người ở quảng trường Thiên An Môn trong nhiều tuần lễ cuối tháng 5 và đầu tháng 6 của năm 1989 vẫn không làm suy suyển chế độ CS Trung Quốc, thì cớ gì chế độ Hà Nội sợ một luật sư ở Sài Gòn? Tất nhiên là, luật sư Lê Công Định không nguy hiểm, theo cách nhìn này. Thứ nữa, dù có tạo ra biến động ở Sài Gòn, nơi luật sư Lê Công Định cư trú, thì cũng không bao giờ có tầm mức lớn như phong trào dân chủ Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Thế nên, nhìn dưới khía cạnh quân sự, hay về sức mạnh quần chúng… thì luật sư Lê Công Định không nguy hiểm gì. Thậm chí, giả như luật sư Lê Công Định có dọn văn phòng ra Hà Nội làm việc, để lâu dài móc nối thế lực, thì với giọng nói Miền Nam rặt, không bao giờ có thể tạo thế lực gì giữa cả mấy dòng họ nội ngoại của ông Hồ từ Nghệ An đang thao túng quyền lực ở Hà Nội, và khi truyền tới hoàng tử họ Nông thì các ghế quyền lực đã bắt rễ. Không thể nào có chuyện luồn sâu, trèo cao với chế độ này. Họ tuyển nhân sự để truyền ngôi từ khi còn thiếu niên. Do vậy, người cộng sản chỉ sợ nội bộ giết nhau. Vì phong traò có rộng lớn như Thiên An Môn cũng thua, dù biểu tình hàng trăm người như dân oan hay hàng ngàn người như Tháí Hà cũng vẫn vô ích. Chỉ có nội bộ cộng sản mới biến đổi chế độ của họ được, và họ chỉ sợ nhau mà thôi. Đó là lý do phong trào phản đối các dự án bauxite Tây Nguyên mang tính cách độc đáó trong các vận động dân chủ: đích thân Tướng Võ Nguyên Giáp gửi 3 lá thư và nhiều ngàn nhà trí thức ký tên đòi hỏi hủy bỏ dự án mở cửa bên hông nhà cho "dự kiến nhiều ngàn người" Trung Quốc vào cửa ngõ quan yếu. Một chữ ký của Tướng Giáp, chắc chắn có thể thuyết phục hàng chục hay hàng trăm tướng lãnh trong hàng ngũ quân đội và công an CSVN. Và chỉ cần vài trăm chiến binh đặc công, thí dụ như một tiểu đoàn quân đội nổi dậy, chiếm vài trụ sở chính phủ, vây bắt 15 người trong Bộ Chính Trị CSVN là xong. Do vậy, phong trào bauxite mang một thế lực mới, rất mới, với tiềm năng dễ dàng làm sụp đổ chính phủ CSVN. Đơn giản, chính nghĩa bảo vệ tổ quốc lúc nào cũng có sức thuyết phục. Nhưng, trong khi CSVN còn lúng túng với phong trào bauxite Tây Nguyên, thì tình hình nhà nứơc TQ cấm ngư dân Việt ra Biển Đông lưới cá ba tháng lại bồi thêm một đòn đau cho lý do chế độ tồn tại. Không bảo vệ nổi ngư dân, laị không dám lớn tiếng như nhà nứơc Phi Luật Tân, Indonesia… nhà nứơc Hà Nội đã bị đẩy vào đường cùng của tai tiếng bán đất, bán biển. Các tội này muôn đời không gột rửa được, và về mặt khẩn cấp, lại có thể làm chế độ sụp đổ. Thế nên, trong giây phút hoảng hốt đó, có phải công an đã gàì bẫy được luật sư Lê Công Định đi sâu vào các diễn tiến mới, hay có phải luật sư Lê Công Định vì nóng lòng đã tự lựa chọn một bước đi ra ngoài chức năng luật sư, để trở thành người hoạt động nhân quyền? Thí dụ, góp ý vào các sơ thảo Hiến Pháp - chuyện nghiên cứu tư tưởng là chuyện ở các đạị học vẫn làm, nhưng muốn lấy cớ bắt thì vẫn bắt. Thí dụ, nhận chức vụ ở một đảng phái (theo lời nói trên băng video) - việc này thì có các đảng và các tổ chức đang hoạt động, với nhiều vị trí thức minh danh như cụ Hoàng Minh Chính (đã quá cố), Trần Khuê, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung, Linh Mục Phan Văn Lợi, vân vân… vẫn chưa bị bắt, nhưng muốn lấy cớ bắt thì vẫn bắt. Thậm chí, thực tế, không cần lý cớ gì, vẫn có thể bắt quản thúc được, huống gì là đủ thứ cớ. Như thế, chúng ta có thể thấy chuyện công an bắt luật sư Lê Công Định thực ra là vì 3 lá thư của Tướng Võ Nguyên Giáp, vì hiệu lệnh của Tướng Giáp mới là tiềm năng làm sụp đổ chế độ? Chứ còn, một luật sư ở Sài Gòn thì làm được gì, nếu chúng ta so với tầm mức của Thiên An Môn ở Bắc Kinh? Một câu hỏi cũng nát óc khác: khi hai luật sư Nguyễn Văn Đàì và Lê Thị Công Nhân và nhà báo tự do Điếu Cày bị bắt, đã có luật sư Lê Công Định đứng ra bào chữa. Phong trào dân chủ thấy rõ rằng cần có một luật sư Lê Công Định hoạt động độc lập với mọi tổ chức, để duy trì hoạt động chuyên môn về luật... như thế sẽ giúp ích rất nhiều. Phong trào dân chủ, nói cho cùng không cần một ông Lê Công Định đi ném truyền đơn, hay đi họp mật hay lo bàn mưu tính kế để đấu trí với chính trị bộ CSVN. Bây giờ, ai sẽ đóng vai trò bào chữa cho các nhà hoạt động dân chủ? Chúng ta cần một luật sư Lê Công Định để nói lớn cho toàn dân và cho khắp thế giới biết rằng pháp luật của VN là bất toàn, và rằng cơ chế cần dân chủ hóa... Phong trào dân chủ VN không cần một anh Lê Công Định vào bất kỳ đảng nào. Tại sao anh từ chối vai trò luật sư để chọn một bí danh và một chức vụ, nếu cáo buộc của công an là sự thực và nếu lời anh nói trên video là không sai? Ai đã, hay hoàn cảnh nào, đã thuyết phục anh dấn thân thêm một bước để rời bỏ vai trò chuyên môn luật gia?
Thực tế, hiện thời, chúng ta không tìm được câu trả lời.
Đó chỉ là vài suy đoán từ vị trí hải ngoại, cùng với lời cầu nguyện cho luật sư Lê Công Định và cho tất cả những người quan tâm về dân chủ đều được bình an và sẽ thành công.
700 TỜ BÁO VỚI MỘT TỔNG BIÊN TẬP
“700 tờ báo và 1 Tổng Biên Tập” Thiện Giao, phóng viên RFA, Bangkok 2009-04-22
Dần dà, những gì liên quan đến Trung Quốc, hay nói đúng hơn, là liên quan đến người Trung Quốc và chủ quyền Việt Nam, ngày càng trở nên “nhạy cảm” hơn trong mắt chính quyền.
Phải chăng món ăn tinh thần cũng phải qua khâu kiểm tra "Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm"
Cái giá của sự thật bao giờ cũng lớn
Có vẻ như, những “lề phải” mà Bộ Thông Tin Truyền Thông đưa ra trước đây sẽ không bao giờ bao gồm các vấn đề có liên quan đến Trung Quốc.
Nói cách khác, mọi vấn đề như thế này thì đều nằm ở “lề trái.” Mà đã là “lề trái” thì nhất định sẽ phải chấm dứt.
Chuyện thứ nhất là vụ tờ báo Du Lịch bị đình bản trong 3 tháng. Và chuyện thứ nhì là vụ báo Tuổi Trẻ ngưng đăng loạt bài nói về tình trạng công nhân Trung Quốc tràn ngập các công trường bauxite tại Việt Nam.
Chỉ trong vài ngày, có đến 2 chuyện lề trái, trong đó báo chí Việt Nam gặp phải phản ứng mạnh của chính quyền.
Chuyện thứ nhất là vụ tờ báo Du Lịch bị đình bản trong 3 tháng. Và chuyện thứ nhì là vụ báo Tuổi Trẻ ngưng đăng loạt bài nói về tình trạng công nhân Trung Quốc tràn ngập các công trường bauxite tại Việt Nam. Chuyện xảy ra trước xin được nói trước.
Ngày 14 tháng Tư, Bộ Thông Tin – Truyền Thông ra quyết định tạm đình bản tờ báo Du Lịch trong 3 tháng. Lý do được đưa ra là để “củng cố, kiện toàn tổ chức và nhân sự lãnh đạo của tờ báo.”
Báo Thanh Niên viết rằng theo quyết định vừa nói, Báo Du Lịch thuộc Tổng Cục Du Lịch Bộ Văn Hoá –Thể Thao-Du Lịch, hiện chưa có bộ máy hoàn chỉnh; lãnh đạo báo không chấp hành sự chỉ đạo đối với các thông tin quan trọng, phức tạp, nhạy cảm; cho đăng những thông tin trên số báo Tết Kỷ Sửu 2009 mà Bộ TT-TT cho là vi phạm nghiêm trọng Luật báo chí.
Vậy thông tin nhạy cảm trên số báo xuân Kỷ Sửu 2009 mà tờ Du Lịch cho đăng tải là gì?
Số báo Xuân này có bài viết ca ngợi những sinh viên, thanh niên xuống đường biểu tình chống Trung Quốc hồi năm 2007. Ấn phẩm này cũng có cả bài viết nói về Ải Nam Quan, trong đó có trích đoạn từ kịch-thơ “Hận Nam Quan” của thi sĩ Hoàng Cầm.
Bài viết “Tản Mạn Cho Đảo Xa,” ký tên Trung Bảo, in trong giai phẩm Xuân Du Lịch có thể là yếu tố chính đưa đến việc tờ báo bị đình bản. “Tản Mạn Cho Đảo Xa” có đoạn nói về các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam. Xin trích một đoạn sau đây:
“…Dẫu rằng vì nhiều lý do, những lần xuống đường đó không được báo chí trong nước thông tin rộng rãi. Dẫu rằng những tấm lòng yêu nước trong sáng, sự hiên ngang khí phách kia không được ngợi ca công khai… nhưng người ta sẽ phải nhớ rằng tấm lòng nhiệt tình với đất nước của thanh niên trí thức trẻ sẽ không bao giờ thay đổi.”
Tác giả cũng viết rằng, “Nếu có “kẻ xấu” nào đó “kích động” người ta đi biểu tình vì yêu nước, ta nên tôn trọng những “kẻ xấu” này. Ngược lại, khi “người tốt” tìm cách ngăn cản sự biểu lộ đầy phẫn uất một cách chính đáng của người dân vì chứng kiến đất mẹ bị xâm phạm, thì hẳn những kẻ vẫn mạo xưng “người tốt” này cần phải được xem lại…”
Cho đến ngày 15 tháng Tư, tức là một ngày sau khi quyết định đình bản được công bố, thì trên một blog có tên Ginola có một bài viết mà giới blogger Việt Nam tin rằng tác giả chính là người đã viết bài “Tản Mạn Cho Đảo Xa” đăng trên báo Xuân Du Lịch.
Blogger Ginola dường như bị dằn vặt giữa cái “đúng” và cái “sai” trong hành động của mình; một hành động đưa đến việc đóng cửa tờ báo trong 3 tháng khiến “nhiều người đang phải chịu hậu quả do việc làm của mình.”
Tác giả cũng viết rằng, “Nếu có “kẻ xấu” nào đó “kích động” người ta đi biểu tình vì yêu nước, ta nên tôn trọng những “kẻ xấu” này. Ngược lại, khi “người tốt” tìm cách ngăn cản sự biểu lộ đầy phẫn uất một cách chính đáng của người dân thì hẳn những kẻ vẫn mạo xưng “người tốt” này cần phải được xem lại…”
Ginola viết:
“Giờ đây, suốt ngày hôm nay, tôi cứ tự hỏi mình mà chẳng đưa ra nổi câu trả lời, rằng: "Nếu ta làm đúng sao lại khiến nhiều người bị ảnh hưởng như vậy? Vậy là ta đã sai hay đúng?". Tôi ngây thơ chăng khi đưa ra câu hỏi này? Vẫn biết rằng, giá phải trả cho sự thật bao giờ cũng lớn nhưng giờ đây có nhiều người đang phải chịu hậu quả do việc làm của mình. Thật ân hận.”
Làm báo xin hãy “giám” đặt sự thật lên trên
Một số blog khác cũng đăng tải nhiều ý kiến liên quan đến hậu quả của bài viết “Tản Mạn Cho Đảo Xa” của Trung Bảo. Có ý kiến đồng ý, nói rằng Trung Bảo đã dũng cảm chấp nhận điều nguy hiểm. Nhưng cũng có ý kiến không đồng tình, nói rằng cuộc sống những người lao động khác bị ảnh hưởng do quyết định đình bản tờ báo.
Giới nhà báo nói chung, có người thở dài, rằng cứ mỗi lần một tờ báo nào bị kỷ luật, thì y như rằng giới phóng viên lại chia rẻ, tranh cãi. Trong một lần trả lời phỏng vấn với Đài chúng tôi, ông Nguyễn Quốc Thái, trợ lý phó tổng biên tập của báo Du Lịch, đã nói rằng tờ báo “chấp hành quyết định của Bộ Thông Tin – Truyền Thông nhưng không đồng ý với nội dung của quyết định đó.”
Ông Nguyễn Quốc Thái, trợ lý phó tổng biên tập của báo Du Lịch, đã nói rằng tờ báo “chấp hành quyết định của Bộ Thông Tin – Truyền Thông nhưng không đồng ý với nội dung của quyết định đó.”
Ông Nguyễn Quốc Thái cũng nói thẳng đến bài viết “Tản Mạn Cho Đảo Xa.”
“Bởi vì trong quyết định đó, Bộ TTTT nói để kiện toàn tổ chức, phần này chúng tôi không nói đến. Nói về những bài trong số báo Xuân, trong đó nêu ra bài ‘Tản mạn đảo xa’ của phóng viên Trung Bảo.
Đó là một bài viết thể hiện những bức xúc lo lắng và buồn phiền của một công dân một quốc gia bị nước khác xâm lấn phần đất quê cha đất tổ của mình. Một biểu lộ về lòng yêu nước như vậy, tôi nghĩ không nên bị kết án.”
Ba ngày sau khi quyết định đình bản tờ Du Lịch được công bố, thì một chuyện khác lại xảy ra cho tờ Tuổi Trẻ, là tờ nhật báo lớn nhất Việt Nam hiện nay.
Blogger Osin đưa chuyện này lên mạng, như sau: “Hoành tráng nguyên một trang 5, Tuổi Trẻ số ra ngày 16-4 mô tả lao động Trung Quốc “tràn ngập công trường” Việt Nam, sáng nay, tờ báo lớn nhất nước ấy đã phải “cáo lỗi cùng bạn đọc.”
Lỗi gì, và cáo lỗi ra sao? Xin tiếp tục theo dõi lời kể của Osin.
Ai làm tổng biên tập ở Việt Nam thì cũng phải đục bỏ bài khi có lệnh. Nhưng, ai đã là nhà báo thì cũng phải đặt sự trung thực lên trên.
“Hôm qua, Tuổi Trẻ đã rao với bạn đọc là, trong số tiếp theo, sẽ có phóng sự về tình trạng công nhân Trung Quốc tràn ngập công trường bauxite Tân Rai và Khí Điện Đạm Cà Mau. Sáng nay, bản báo lại xách mấy em osin Philippines ra thế mạng.
Ai làm tổng biên tập ở Việt Nam thì cũng phải đục bỏ bài khi có lệnh. Nhưng, ai đã là nhà báo thì cũng phải đặt sự trung thực lên trên. Anh giải thích “vì chưa hoàn tất bài viết”, thưa anh, là đánh lừa bạn đọc … Các đồng nghiệp biết rất rõ bài về công nhân Trung Quốc ở Tân Rai đã nằm trên bàn của anh từ hai tuần nay rồi chứ không phải là “chưa hoàn tất.”…”
Một số blog, nhân vụ báo Tuổi Trẻ “cáo lỗi,” đã đặt lại vấn đề “lỗi, phải” của nhà báo Trung Bảo, tác giả “Tản Mạn Cho Đảo Xa.”
Các blog này hỏi: nếu tờ Tuổi Trẻ bị đình bản, thì có bao nhiêu gia đình sẽ liên lụy? Bên cạnh đó, họ cũng đặt câu hỏi: nếu tất cả các báo đều đi đúng lề phải, không một tờ báo nào bị đình bản, thì liệu sẽ có bao nhiêu người chịu tác hại?
Không thể nói rằng Việt Nam không có tự do báo chí khi mà cả nước có đến hơn 700 tờ báo. Nhưng, cùng lúc ấy, có thể đặt câu hỏi liệu Việt Nam có tự do báo chí hay không, khi tất cả 700 tờ báo ấy chỉ có … một Tổng Biên Tập.
Ông Tổng biên tập
Cả hai trường hợp, của tờ Du Lịch và của tờ Tuổi Trẻ, đều phạm phải một “lỗi.” Đó là khai thác các thông tin “nhạy cảm.” Điều khó phân xử ở đây, là như thế nào thì gọi là nhạy cảm? nhạy cảm với ai? Lúc nào thì nhạy cảm? Và ai sẽ được phép nói điều nhạy cảm nếu thật sự có một điều gọi là … nhạy cảm?
Cách đây vài tháng, trong vụ các viên chức công ty PCI của Nhật Bản hối lộ quan chức Việt Nam, một thứ trưởng ngoại giao của Việt Nam đã công khai phát biểu, rằng “Việt Nam đã đề nghị phía Nhật Bản trong khi vụ việc đang được điều tra, chưa có kết luận cuối cùng thì các cơ quan truyền thông đại chúng của hai nước đều không nên đưa tin.”
Có phải, vụ hối lộ cũng là một thứ thông tin nhạy cảm? Nếu đúng là thế, liệu người Nhật có thấy đó là nhạy cảm hay không?
Một nhà báo tự do trong nước, là ông Trần Tiến Dũng, lúc ấy nhận định, rằng cách nói của ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam “tiết lộ nhiều điều thú vị về thực trạng báo chí Việt Nam.”
“Câu phát biểu của thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam về vụ Xa Lộ Đông – Tây phản ánh tập quán quen thuộc của người chỉ nhìn truyền thông như là người phát ngôn cho các cơ quan. Chưa bao giờ họ nhìn đầy đủ về chức năng đúng nghĩa của báo chí.”
Nói về thực trạng của báo chí Việt Nam, một diễn đàn trên Internet đưa ra nhận xét thú vị: không thể nói rằng Việt Nam không có tự do báo chí khi mà cả nước có đến hơn 700 tờ báo. Nhưng, cùng lúc ấy, có thể đặt câu hỏi liệu Việt Nam có tự do báo chí hay không, khi tất cả 700 tờ báo ấy chỉ có … một Tổng Biên Tập.
BẮC KINH VÀ HỒ SƠ NHÂN QUYỀN
TQ- Giới ly khai kêu gọi Mỹ gây sức ép với Bắc Kinh về hồ sơ nhân quyề Đức Tâm, RFI Bài đăng ngày 22/02/2009 Cập nhật lần cuối ngày 22/02/2009 15:18 TU
Nhà ly khai Giang Kỳ Sinh, cũng đang bị cấm rời khỏi nơi ở, cho biết ông thông cảm với lập trường công khai của Mỹ vì không muốn làm cho Bắc Kinh mất mặt, nhưng ông hy vọng là Washington vẫn đề cập đến hồ sơ nhân quyền trong các cuộc gặp kín song phương
Hôm nay, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton kết thúc chuyến công du Trung Quốc. Theo hãng tin AFP, sáng nay, ngoại trưởng Mỹ đã đến dự lễ cầu nguyện tại một nhà thờ ở phía tây Bắc Kinh. Sau đó, bà gặp các đại diện xã hội dân sự Trung Quốc.
Giới phân tích cho rằng qua hai lần xuất hiện trước công chúng, lãnh đạo ngành ngoại giao Mỹ muốn chứng minh rằng bà vẫn gắn bó, quan tâm tới các quyền dân sự và tự do tôn giáo, mà không hề làm cho chính quyền Bắc Kinh phật ý. Các động thái này diễn ra sau khi ngoại trưởng Mỹ bị chỉ trích là chỉ tập trung bàn với lãnh đạo Trung Quốc về hợp tác kinh tế, hồ sơ thay đổi khí hậu, khủng hoảng an ninh và đặt vấn đề nhân quyền xuống hàng thứ yếu.
Trước khi ngoại trưởng Mỹ tới Bắc Kinh, công an Trung Quốc đã phong tỏa nơi ở của nhiều nhà ly khai. Họ lấy làm tiếc về thái độ mềm yếu của ngoại trưởng Mỹ trong hồ sơ nhân quyền. Bà Tăng Kim Yên, vợ nhà ly khai nổi tiếng Hồ Giai nhấn mạnh là những người bảo vệ nhân quyền và đại diện xã hội dân sự sẽ phải chịu nhiều đau khổ nếu cộng đồng quốc tế không chú ý và gây sức ép đối với Trung Quốc.
Nhà ly khai Giang Kỳ Sinh, cũng bị cấm rời khỏi nơi ở, nói rằng ông thông cảm với lập trường công khai của Mỹ vì không muốn làm cho Bắc Kinh mất mặt, nhưng ông hy vọng là Washington vẫn đề cập đến hồ sơ nhân quyền trong các cuộc gặp kín song phương.
Hôm nay, ngoại trưởng Clinton cho biết đã thảo luận vấn đề nhân quyền với người đồng nhiệm Trung Quốc và nhắc lại với Bắc Kinh rằng việc phát triển nhân quyền là một nội dung cơ bản trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
KỀM CHẾ BLOG, NGUỒN SINH LỰC
CSVN kềm chế hệ thống blog đầy sinh lực trong nước
Tim Johnston, Washington Post, 18/01/09, Nguyễn Phương Nga lược dịch Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều quyết định trong những tháng gần đây để ngăn chặn việc xử dụng blog, vì con số những người dùng Internet đang tăng vọt trong đất nước cộng sản này.
Chiến dịch trên bắt đầu vào tháng 8, khi chính phủ công bố một nghị định cho phép công an có một quyền hạn rộng rãi để ra tay đối phó với thành phần chỉ trích nhà nước trên mạng, trong đó cả những người chống đối “nhà nước CHXHCN Việt Nam”, phá hoại an ninh quốc gia và trật tự xã hội.
Nghị định cũng cấm “khiêu dâm truỵ lạc … và phá huỷ phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc”, theo tin tức đăng tải trên tờ báo mạng của Bộ Thông tin Truyền thông.
Việt Nam là một quốc gia đến với thời đại Internet tương đối khá trễ, nhưng mức tăng trưởng kinh tế phi thường trong vài năm qua đã tạo ra một sự gia tăng mạnh mẽ tương tự trong những người xử dụng Internet. Nhiều ước lượng cho thấy khoảng 24 triệu trong tổng số dân 84 triệu người thường xuyên lên mạng. Các dịch vụ thì có đầy rẫy để cho những ai không thể sắm nổi máy tính, và nhiều cửa tiệm nhỏ bán các nhu liệu vi phạm bản quyền cho những người có máy.
Trong một môi trường mà thông tin bị kiểm soát nặng nề bởi truyền thông nhà nước, thì các blogger đã nhanh nhẩu tìm ra được nhiều khả năng mà thế giới Internet có thể cung cấp cho họ. Tin tức về đất nước, phần lớn là từ các cơ quan truyền thông nước ngoài, và những bài bình luận chính trị thường xuyên phê phán chỉ trích chính phủ đã trở thành một nhu cầu cần thiết hàng đầu. Do đó, những bàn cãi về tương lai chính trị của đất nước, dù có hoặc không có Ðảng Cộng sản, đã trở nên sôi nổi.
“Ðây là một môi trường trí tuệ không được đồng đều”, theo bà Kim Ninh, người đứng đầu tổ chức Asia Foundation ở Hà Nội, khi nói về hệ thống của các trang blog, Bà nói, “Có rất nhiều chuyện đánh bùn sang ao, nhưng ở bên dưới là cả một truyền thống trí tuệ có từ thời kỳ thực dân Pháp trong các thập niên 20s, 30s, và 40s đang tiếp tục tràn tới. Họ tiếp nhận các đề tài tranh luận chính trị rất nghiêm túc. Mọi người vào các trang blog để tìm những tin tức mà họ không thể lấy được từ truyền thông chính thức”.
Hành động của nhà nước đối với việc tham gia vào các blog đã khêu gợi nên một phản ứng gay gắt từ những người cổ xuý cho tự do ngôn luận, “Việt Nam là một trong vài nước mà người dân có thể bị bỏ tù vì các tội danh như ‘lợi dụng quyền tự do dân chủ’. Các nhà tài trợ cho Việt Nam nên tiếp tục đòi hỏi nhà nước phải chấm dứt hành động hình sự hóa việc bày tỏ tư tưởng một cách ôn hòa”, theo ông Brad Adams, giám đốc Á châu của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch cho biết trong một thông cáo báo chí hôm Thứ Năm.
Sau một thời gian tương đối được tự do, khi các nhà báo trên mạng và báo giấy thử đi vào những phạm vi mà họ có thể đăng tải được, thì nhà cầm quyền mới đây lại bắt đầu đàn áp.
Cuối năm ngoái, toà án áp đặt một bản án tù hai năm lên một nhà báo sau khi ông ta viết một loạt bài vạch trần tham nhũng, và một blogger nổi tiếng được biết qua biệt danh Ðiếu Cày, có tên thật là Nguyễn Văn Hải, bị kết án 2 năm tù vì tội trốn thuế trong một trường hợp được khắp nơi coi như một sự trừng phạt vì anh ta tham gia vào blog.
Peter Leech, một người Úc đã thành lập ra ở Việt Nam một trang web, Intellasia.net, nhằm thu thập các tin tức phổ biến, bắt đầu gặp nhiều khó khăn với nhà cầm quyền vào tháng 6/2007. Ông ta nói rằng công an thường xuyên lục soát văn phòng Intellasia, máy chủ đặt trang web ở Hoa Kỳ bị tấn công và cuối cùng ông buộc phải bỏ chạy khỏi Việt Nam.
“Họ đang trở nên cứng rắn hơn đối với mọi thứ -báo chí, internet, mọi thứ”. Ông Leech nói từ thành phố Perth ở nước Úc.
Ðại đa số các blogger ở Việt Nam dùng các bộ phận nền tạo lập ra các trang blog của Yahoo và Google, và nhà nước nói rằng họ sẽ tranh thủ để tìm sự trợ giúp của các công ty này trong việc giám sát mạng internet.
“Các nhà cung cấp dịch vụ sẵn lòng hợp tác với các cơ quan Việt Nam”, theo Ðỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ Thông tin Truyền thông cho biết tại một cuộc họp báo hồi cuối tháng trước. “Tôi nghĩ là các nhà cung cấp dịch vụ cũng mong muốn có một môi trường internet sạch sẽ, Tôi nghĩ nếu các cơ quan nhà nước Việt Nam yêu cầu hợp tác, thì Google hoặc Yahoo cũng sẽ sẵn lòng”.
Bộ phận nền (platform) tạo lập ra blog phổ biến nhất đối với giới blogger Viêt Nam là Yahoo 360. Công ty Yahoo cho biết trong tuần này rằng họ chưa được nhà nước Viêt Nam tiếp xúc về bất cứ sự kiểm soát nào.
“Như một chính sách chung, thì công ty Yahơo cũng như các công ty khác trên thế giới, được yêu cầu phải tuân hành theo các luật lệ do các chính phủ đòi hỏi khi công ty là đối tượng lệ thuộc vào luật pháp của nước đó”, Yahơo nói trong một thông cáo, chỉ rõ ra cho thấy rằng bộ phận nền Yahoo 360 được vận hành từ Singapore
Ðể xem coi nhà nước Việt Nam có thể kiểm soát thành công Internet như thế nào. Như Trung Quốc đã cho thấy, có kỹ thuật tồn tại để ngăn chận các nội dung mà nhà nước không muốn, ít nhất là từ những người xử dụng thất thường. Nhưng không giống như những người xử dụng Internet của Trung Quốc, là nơi chính phủ của họ kiểm duyệt Internet từ lúc ban đầu, còn những người xử dụng ở Việt Nam đã có 8 năm được hưởng sự truy cập vào Internet không bị ràng buộc, vốn là điều mà họ coi là một quyền tự do.
Ông Leech nói về các quan chức nhà nước, “Nếu họ làm một vài điều gì đó khắc nghiệt, thì không những nó chỉ là một bước đi lùi to lớn, mà nó còn làm mọi người rất giận dữ”.
GIỚI HẠN MỚI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN
Phóng viên của Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị kết tội lạm dụng quyền tự do dân chủ
Đuổi việc nhà báo, bỏ tù phóng viên và giới viết blog thay vì làm những việc đó đối với các quan chức tham nhũng sẽ khiến nhà chức trách Việt Nam chẳng có thêm bạn.
Đó là kết luận của bài báo có tựa “Làm người đưa tin im tiếng” (Muting the messengers) mà tạp chí The Economist của Anh ra ngày 15/01/2009.
Báo này nói trong khoảng 700 tờ báo mà toàn bộ do chính phủ kiểm soát, chỉ có một số báo tương đối mạnh dạn trong cách đưa tin.
Tuy nhiên, phóng viên của hai tờ báo hàng đầu tại Việt Nam viết bài liên quan tới vụ tham nhũng của quan chức tại một ban quản lý dự án thuộc Bộ giao thông vận tải đã phải ra tòa vì tội “lạm dụng quyền tự do dân chủ”.
Tổng biên tập của hai tờ này (Thanh Niên và Tuổi Trẻ) mới đây nhận quyết định không được tái bổ nhiệm vì điều mà The Econnomist mô tả là vì họ làm việc quá hiệu quả.
Hệ lụy của vụ này cũng như nỗ lực khống chế giới viết blog có nội dung nhạy cảm về chính trị có thể làm cụt hứng nỗ lực chống tham nhũng.
'Không bắt cá lớn'
Hai báo có phóng viên bị bắt ra bài kêu gọi thả nhân viên của họ "Mặc dù có một số thành công về chống tham nhũng nhưng dường như chính phủ đã và đang chặt chém báo chí trước khi cá lớn bị sa lưới."
Mọi việc xảy ra vào thời điểm chẳng may mắn gì cho Việt Nam khi nền kinh tế đang có các vết rạn nứt.
Lo ngại về khủng hoảng tiền tệ làm giới đầu tư mất lòng tin.
Xuất khẩu giảm, đầu tư nước ngoài ít đi và triển vọng tụt dốc kinh tế khiến The Economist dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chỉ đạt 3.2% trong năm 2009.
Lần gần nhất tạp chí được đông đảo giới học giả và chính khách quốc tế đọc đã viết bài về Việt Nam hồi tháng 6/2008, nhắc nhở Hà Nội về thực trạng lạm phát ngoài vòng kiểm soát làm người dân mất lòng tin.
Trong bài lần này, lời cảnh báo cho Hà Nội là với hàng ngàn người có nguy cơ mất việc làm trong năm này thì rủi ro về bất ổn xã hội chắc chắn sẽ gia tăng.
Băng keo dán miệng chưa đủ,kỳ này thêm cây kim và sợi chỉ nữa. PPT Việt Nam
The Economist đưa ra một nhận xét xác đáng. Những giới hạn tự do ngôn luận mà nhà nước Việt Nam đưa ra gần đây chỉ làm cho Đảng CS cầm quyền thêm thù mất bạn. Cái mất nguy hiểm nhất của nhà nước Việt Nam là hạ cấp giá trị báo chí chính thống thành cơ quan tuyên truyền, dẫn tới việc từ người bình dân ít quan tâm thời cuộc cũng cho rằng khi "nhà nước nói thế này tức là sự việc đã xảy ra thế khác". Cách hiểu này sẽ rất nguy hiểm cho chế độ. Xem ra ngăn cấm ngôn luận lúc này lợi bất cập hại.
CSVN XIẾT CHẶT CÁC TRANG BLOG
Trọng Nghĩa
Các nhà cung cấp dịch vụ Internet có nhiệm vụ thiết lập những cơ sở dữ liệu và phong tỏa, xoá bỏ mọi nội dung bị chính quyền Việt Nam đánh giá là bất hợp pháp
Theo một thông tư mới ban hành mà hãng tin Pháp AFP có được bản sao, thì kể từ nay các trang blogs chỉ được quyền loan tải các thông tin mang tính chất cá nhân, và nội dung không được quyền ''chống lại Nhà Nước'' hoặc ''phá rối trật tự xã hội''.
Ngoài ra các nhà cung cấp dịch vụ Internet có nhiệm vụ thiết lập những cơ sở dữ liệu và phong tỏa, xoá bỏ mọi nội dung bị chính quyền đánh giá là bất hợp pháp.
Theo hãng AFP, chính quyền đã áp đụng đối với các trang blog những quy định ban hành hồi tháng 8 vừa qua đối với Internet, vốn cấm đoán việc chống lại Nhà Nước, làm tổn hại an ninh quốc gia, trật tư công cộng và an toàn xã hội, phá hoại tình đoàn kết dân tộc. Mặt khác chính quyền cũng nghiêm cấm việc phát tán bí mật quốc gia trong cả lãnh vực quân sự lẫn kinh tế.
Ngày từ đầu tháng 12 vừa qua, thứ trưởng bộ Thông tin, ông Đỗ Qúy Doãn đã chuẩn bị dư luận về việc xiết chặt quyền kiểm soát các trang blog khi cho rằng chính quyền không muốn can thiệp vào chuyện riêng tư của những người viết blog, mà chỉ muốn giúp họ hiểu rõ phạm vi những hoạt động mà họ được phép tiến hành.
Trong phương án kiểm soát trang blog, theo báo Thanh Niên, chính quyền Việt Nam có ý định liên lạc với các tập đoàn Internet lớn như Yahoo và Google để các công ty này giúp đỡ chính quyền trong việc kiểm soát các trang blog.
Theo hãng AFP, trong thời gian qua, Internet đã giúp cho người Việt Nam phát biểu ý kiến một cách thoải mái hơn, một sự thông thoáng không thể có trên các phương tiện thông tin báo chí truyền thống bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ.
Trong những tháng gần đây, trên mạng đã xuất hiện vô số nhưng lời phê phán chính quyền về cách xử lý hồ sơ tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc. Trong lúc đó, trên mặt báo chính thức, hồ sơ nhạy cảm này hầu như không được đề cập đến.
Việt Nam siết chặt kiểm soát đối với các blogger VOA 24/12/2008
Theo tinh thần một bản Thông Tư Hướng Dẫn mới, đòi hỏi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phải cung cấp mọi thông tin liên quan tới người sử dụng, Việt Nam đã siết chặt thêm quyền kiểm soát đối với những chủ thể của các trang blog, thường được gọi là blogger, để ngăn cấm những quan điểm bị coi là chống đối nhà nước hoặc gây phương hại tới an ninh quốc gia.
Tin của AFP cho hay internet lâu nay vẫn cung cấp cho người Việt một diễn đàn để bày tỏ những quan điểm không thể tìm thấy trên các phương tiện truyền thông truyền thống bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ. Internet đã tạo ra một bầu không khí trang blog ngày càng trăm hoa đua nở, thế nhưng hồi đầu tháng, chính phủ cho biết là muốn có những luật lệ chặt chẽ hơn để kiểm soát những trang blog này.
Bản Thông Tư Hướng Dẫn mới xác định rõ là những trang blog chỉ được trình bày những nội dung có tính cách riêng tư và không bao giờ được cung cấp, truyền đi hoặc đặt đường liên kết trực tiếp đến những thông tin vi phạm các qui định của một nghị định được đưa ra hồi đầu năm nay.
Nghị định này cấm chỉ đưa lên các trang điện tử những thông tin chống đối nhà nước, gây phương hại tới an ninh quốc gia và trật tự xã hội, tạo ra những vụ đối đầu, hoặc tiết lộ những bí mật liên quan tới an ninh quốc gia, quân đội hoặc kinh tế.
Trong số ấn hành trước đây trong tháng này, nhật báo Thanh Niên cho biết giới hữu trách sẽ tiếp xúc với hai công ty Internet khổng lồ là Yahoo và Google để xin cộng tác trong việc tạo một mội trường lành mạnh và tốt đẹp hơn cho các bloggers.
Bản Thông Tư Hướng Dẫn mới yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến thiết lập hồ sơ dữ kiện liên quan tới những trang blog dưới sự giám sát của họ và cung cấp những thông tin này cho nhà chức trách khi được yêu cầu, cũng như để loại bỏ những nội dung vi phạm luật lệ.
Thông Tấn Xã Reuters cho hay Bản Thông Tư này không nói rõ những gì sẽ xảy ra đối với những trang blog được đăng tải trên mạng của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ của nước ngoài, như mạng Yahoo360 đang được nhiều người sử dụng.
Hội Nhà Báo Không Biên Giới chuyên theo dõi các hoạt động truyền thông, trụ sở đặt tại Paris, liệt kê Việt Nam vào danh sách các nước kẻ thù của internet vì đã có những hành động kiểm duyệt chặt chẽ tương tự như hành động của nước đàn anh Trung Quốc.
Tuy nhiên, theo AFP, dù phải đương đầu với những hành động kiểm duyệt như vậy, những lời chỉ trách nhà chức trách đã xuất hiện nhiều trên các trang điện tử trong năm qua, trong đó đáng kể nhất là những lời chỉ trích chính phủ về cách giải quyết cuộc tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh trong biển Đông.
Cả Việt Nam lẫn Trung Quốc cùng nhận có chủ quyền với các dãy đảo Trường Sa và Hoàng Sa, và cuộc tranh chấp này đã tạo ra những vụ biểu tình hiếm thấy tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh một năm trước đây. Đây là một vấn đề rất nhạy cảm về mặt chính trị, gây cản trở cho việc phát triển quan hệ thêm nữa giữa hai nước đồng minh cùng theo chủ nghĩa cộng sản và hiếm khi được báo chí tại Việt Nam đề cập tới, hoặc nếu có thì cũng chỉ bàn tới một cách ngắn gọn và đầy thận trọng.
Các tòa án tại Việt Nam đã bỏ tù một số người bày tỏ thái độ bất đồng chính kiến trên internet và hồi đầu tháng đã giữ nguyên bản án hai năm rưỡi tù dành cho một blogger được nhiều người biết tiếng.
Blogger Điếu Cày, tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, đã bị buộc tội trốn thuế, dù Hội Nhà Báo Không Biên Giới cho rằng thật ra ông này bị trừng phạt chỉ vì đã chỉ trích chính sách của Bắc Kinh trong vùng Biển Đông. Thông Tấn Xã DPA của Đức cho biết bản Thông Tư Hướng Dẫn mới này không nói rõ về việc trừng phạt những vụ vi phạm.
Cũng theo DPA, một vài người tỏ vẻ nghi ngờ về tác dụng của Bản Thông Tư Hướng Dẫn mới. Ông Lê Bạch Dương, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Phát Triển Xã Hội ở Hà Nội, nói rằng theo ông nghĩ, chính phủ không nên dùng các biện pháp kỹ thuật và hành chính để kiểm soát các trang blog, vì những biện pháp này khó mang lại hiệu quả.
Ngay trong ngày thứ Tư, một trang blog trên mạng Yahoo360 viết rằng chính phủ khó mà thi hành được những điều đề ra trong bản Thông Tư Hướng Dẫn.
Tin của Reuters cho hay hiện có khoảng 21 triệu người sử dụng internet tại Việt Nam. Năm ngoái, số người dùng internet tại Việt Nam là 17 triệu 700 ngàn người, và năm 2006 chỉ có 14 triệu 700 ngàn người.
BBC 24 Tháng 12 2008 - Cập nhật 08h39 GMT VN cấm blog 'chống đối nhà nước'
Việt Nam mới chính thức cấm các blogger truyền đi hoặc đặt đường link liên quan tới các nội dung ‘chống lại nhà nước, tiết lộ bí mật quốc gia, an ninh và kinh tế’.
Theo tin từ tờ Hà Nội Mới, hôm 23/12, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT – TT) Đỗ Quý Doãn đã ký thông tư, theo đó còn cấm các blog đưa thông tin “xuyên tạc, vu khống và gây rối”.
Bộ TT – TT nhận định, blog ‘giúp cá nhân mở rộng khả năng tương tác trên môi trường internet’ nhưng cần phải ‘phù hợp với thuần phong mỹ tục và pháp luật’ cũng như sử dụng ‘tiếng Việt trong sáng và lành mạnh’.
Thông tư này nhấn mạnh, các blogger ‘phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin cung cấp, lưu trữ, truyền đi trên blog của mình, bảo đảm không vi phạm quy định của pháp luật’.
Ngoài cá nhân blogger, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet cũng phải ‘có trách nhiệm’ kiểm soát hoạt động của các blog trên trang họ cung cấp.
Tuy nhiên, thông tư này không nói rõ hình thức xử lý đối với các blog sử dụng dịch vụ từ nước ngoài như Yahoo!360, vốn được phần đông các blogger Việt Nam ưa chuộng.
Thời gian qua, cộng đồng blogger cũng có nhiều ý kiến trái chiều về các biện pháp quản lý blog của nhà nước.
'Chiếm lĩnh môi trường mạng'
Một trong những nhiệm vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông là quản lý hoạt động Internet ở Việt Nam.
Theo thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam, hiện có hơn 21 triệu người sử dụng Internet ở Việt Nam.
Hồi đầu tháng này, tờ Thanh Niên đưa tin, Bộ TT – TT dự kiến sẽ liên hệ với hai công ty Yahoo và Google để yêu cầu hợp tác nhằm “tạo ra một môi trường tốt và lành mạnh nhất cho các blogger”.
Vài năm trở lại đây, blog là phương tiện được sử dụng nhiều để người dân trong nước nói lên tiếng nói về mọi vấn đề trong xã hội, trong đó có các chủ đề nhà nước coi là ‘nhạy cảm’ như vấn đề Trường Sa – Hoàng Sa hay nhân quyền.
Thống kê không chính thức nói hiện có khoảng hơn hai triệu blog ở Việt Nam, mà theo các nhà quan sát là đang ‘chiếm lĩnh môi trường mạng Việt Nam’.
Hồi tháng Tư, trả lời BBC Việt Ngữ, ông Vũ Minh Trí, Tổng Giám đốc Yahoo! tại Việt Nam, nói sẽ 'không tiết lộ thông tin khách hàng' cho bên thứ ba.
"Yahoo! không tiết lộ thông tin cho phía bên ngoài. Một trong những điều chúng tôi khẳng định là sẽ giữ đúng cam kết đó với khách hàng".
DÂN BIỂU ÂU CHÂU BỊ CẤM VÀO VIỆT NAM
Dân biểu Quốc hội Châu Âu Marco Pannella và Thượng nghị sĩ Quốc hội Ý Marco Perduca bị cấm vào Việt Nam – Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ nói lên nỗi xấu hổ vì người Cộng sản nói dối, lừa đảo, không giữ lời hứa
PARIS, ngày 23.12.2008 (QUÊ MẸ) - Sáng nay tin từ Nam Vang, thủ đô Campuchia, cho cơ sở Quê Mẹ biết rằng chuyến viếng thăm Việt Nam của ông Marco Pannella, Dân biểu Quốc hội Châu Âu, và ông Marco Perduca, Thượng Nghị sĩ Quốc hội Ý đã bị cấm vào Việt Nam, dù rằng Sứ quán Hà Nội tại Rome đã cấp chiếu khán cho hai ông và chấp thuận lộ trình rời Nam Vang trưa nay, thứ ba 23.12, đến Saigon lúc 13 giờ và sẽ lấy chuyến bay lúc 20 giờ tối từ Saigon đi Hà Nội để gặp gỡ các vị đồng viện Việt Nam tại Quốc hội CHXHCNVN.
Ông Marco Pannella thuộc Nhóm Liên minh Tự do, Dân chủ Âu châu (Alliance of Liberals and Democrates for Europe) tại Quốc hội Châu Âu đồng thời là Chủ tịch Đảng Cấp tiến Bất bạo động Liên quốc và Liên Đảng (Nonviolent Radical Party, Transnational and Transparty) ra đời tại Ý từ năm 1955. Ông không ngừng bênh vực cho nhân quyền và dân chủ trong thế giới cũng như Việt Nam tại Quốc hội Châu Âu mấy chục năm qua.
Hai vị Dân biểu và Thượng Nghị sĩ đến tiếp xúc với chính giới Campuchia tại thủ đô Nam Vang từ hôm 20.12 trước khi sang Việt Nam. Đột nhiên hôm qua, Đại sứ quán Ý tại Hà Nội nhận được thông báo của Bộ Ngoại giao Hà Nội cho biết rằng “Do có nhiều thư phản đối, nên Việt Nam không thể bảo vệ an ninh cho hai vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu và Thượng nghị sĩ Quốc hội Ý”.
Ý định đến Hà Nội tiếp xúc Quốc hội Việt Nam, là do lời mời của Phái đoàn Quốc hội Việt Nam hôm đến thăm và làm việc với Quốc hội Châu Âu tại trụ sở Strasbourg miền Đông bắc nước Pháp ngày thứ năm 18.12 vừa qua. Trong cuộc gặp gỡ này, nhiều Dân biểu Quốc hội Châu Âu phê phán những vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam. Nên Phái đoàn Hà Nội trách Quốc hội Châu Âu thiếu thông tin, nói sai lạc so với hoàn cảnh tại chỗ, vì chẳng hề có đàn áp nhân quyền. Do đó ngỏ ý mời các vị Dân biều Châu Âu về thăm Việt Nam.
Theo dự trù, hai ông Marco Pannella và Marco Perduca rời Nam Vang sáng nay, ghé Saigon vào buổi trưa để viếng thăm và trao đổi với Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tại Thanh Minh Thiền viện, trước khi ra Hà Nội bằng chuyến bay 20 giờ tối.
Nhưng sáng nay, hai nhà ngoại giao nhận được một bản Fax từ Việt Nam đánh sang thông báo rằng hai vị “không được phép đến Việt Nam”. Dân biểu Quốc hội Châu Âu Marcdo Pannella đã gọi điện thoại sang Paris cho ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam, để xin lỗi phải thất hẹn cuộc gặp gỡ ở Saigon do Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam sắp đặt. Ông Marco Pannella nói :
“Chúng tôi được cho biết rằng chuyến đi của chúng tôi làm cho nhiều người ở Việt Nam phản đối, vì họ xem chúng tôi là “những kẻ thù của Việt Nam” nên chính phủ Việt Nam lo ngại cho sự an ninh của chúng tôi. Có bao giờ anh nghĩ ra chuyện này không ? Chế độ Cộng sản hùng mạnh đến thế mà lại sợ cuộc gặp gỡ giữa hai thành viên bất bạo động của quốc hội với Hòa thượng Thích Quảng Độ, biểu tượng nổi danh khắp thế giới của phong trào đối kháng chống bạo quyền. Họ quá sợ hãi đến nỗi không thể bảo vệ an ninh cho hai chúng tôi. Làm sao có thể chấp nhận một chế độ bất lực như thế ! Tuy nhiên, tôi giữ quyết tâm viếng thăm Hòa thượng Thích Quảng Độ, không sớm thì muộn, kỳ cho đến khi đạt được ý nguyện”.
Tại trụ sở Quốc hội Châu Âu ở Brussels, Vương quốc Bỉ, Dân biểu Marco Cappato đã viết thư khẩn gửi Chủ tịch Liên Âu, Hans Poettering, nói lên nỗi quan ngại sâu xa về sự cấm đoán của Hà Nội “ngay vào lúc Liên Âu – Việt Nam chuẩn bị ký lại Hiệp ước hợp tác song phương”. Dân biểu Marco Cappato là tác giả của bản Quyết Nghị tố cáo Hà Nội đàn áp nhân quyền và tôn giáo được Quốc hội Châu Âu thông qua với đa số tuyệt đối tháng 10 vừa qua. Đặc biệt Quyết Nghị này yêu sách giải chế cho Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ và phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
DÂN CHỦ LÀ CÁCH SỐNG ỔN ĐỊNH
Ngô Nhân Dụng
Các chế độ cộng sản thường viện lẽ cần bảo vệ ổn định xã hội nên phải độc tài. Như thế nào gọi là ổn định? Nhìn vào cảnh những nông dân Việt Nam khiếu kiện về đất đai, những vụ đình công ngoài vòng pháp luật ở Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Hải Phòng, không thấy gì ổn định. Nhưng bên Trung Quốc gần đây các cuộc biểu tình ôn hòa đã biến thành bạo động nữa. Khẩu hiệu “xã hội hài hòa” của ông Hồ Cẩm Ðào không thể hiện được, khi nào xã hội còn đầy tham nhũng, bất công. Nhưng thiếu sót lớn nhất là không có những phương tiện bình thường, giản dị để người dân được lên tiếng nói.
Trong tỉnh Quảng Ðông phát triển nhanh nhất Trung Quốc, hàng ngàn công nhân thất nghiệp đã kéo nhau tới trước các hãng xưởng mới đóng cửa. Họ đến đòi chủ nhân phải trả hết số lương còn thiếu. Khi nhiều xí nghiệp quịt lương của nhân viên, mối liên hệ giữa con người với con người có được hài hòa hay không? Ở các nước tư bản thật sự, các chủ nhân không dám làm như vậy vì còn có pháp luật. Khi nhân viên ở một nước cộng sản mất việc mà không thể trông cậy vào hệ thống pháp luật để đòi tiền lương còn thiếu, khi họ phải tự mình kéo thành đám đông đi biểu tình đòi nợ, như vậy thì xã hội có sống trong nền nếp ổn định hay không? Ở Thẩm Quyến vào đầu Tháng Mười Một 2008, dân chúng biểu tình bạo động sau khi cảnh sát ở một trạm canh giết một thanh niên lái xe gắn máy cãi lệnh. Ở một thành phố khác cũng trong tỉnh Quảng Ðông, mười ngày sau lại xẩy ra một vụ tương tự, dân cũng biểu tình. Tại sao họ không đợi nhà chức trách điều tra những vụ giết người, mà phải biểu tình bạo động? Tại sao một vụ vi phạm luật giao thông mà cũng dẫn tới cảnh chết người? Nếu những chuyện như vậy năm thì mười họa mới xẩy ra thì hiểu được. Nhưng chỉ trong vòng 10 ngày trong cùng một tỉnh có tới hai vụ thì xã hội này có nếp sống đầy bạo lực!
Mỗi năm ở Trung Quốc có hàng trăm ngàn cuộc biểu tình với số lượng lớn từ hàng trăm người trở lên. Chính phủ Bắc Kinh đã mở cửa cho phép các báo, đài nhà nước loan tin về các cuộc biểu tình này, vì họ biết rằng không thể bịt miệng dân mãi được. Các mạng lưới điện tử đã đóng vai thúc đẩy đảng cộng sản phải nới lỏng chế độ kiểm duyệt tin tức. Vì họ biết nếu nhà nước không loan tin thì dân chúng sẽ được nghe các nguồn tin khác. Cho nên chính sách của đảng cộng sản hiện giờ là “kiểm duyệt tin bằng cách loan tin trước.”
Cho nên chúng ta mới biết ở thành phố Trùng Khánh, hàng trăm tài xế taxi đã biểu tình phản đối cảnh sát dung túng cho những chiếc xe taxi “lậu” cướp khách của họ. Chính quyền thành phố phải họp mặt với đại diện các tài xế suốt ba giờ. Ở nhiều nơi khác giới lái taxi cũng đình công hưởng ứng. Các người lái taxi phản đối nạn tham nhũng và sự thông đồng giữa nhà nước cộng sản và các chủ nhân cho thuê xe chạy taxi bóc lột giới tài xế. Nhiều chiếc xe taxi bị phá vì tài xế không tham dự cuộc đình công, cho thấy người ta sẵn sàng gây bạo động.
Ngày 8 tháng 11 ở Bắc Kinh, hơn 400 người biểu tình trước tòa thị chính để phản đối một cuộc “lạc quyên” lừa bịp. Tân Hoa Xã loan tin như vậy, chỉ khiến người đọc thắc mắc thêm. Tại sao bị kẻ gian lừa bịp mà lại đem nhau tới tòa đô chính phản đối? Ai lạc quyên? Họ nhân danh đảng và nhà nước ở cấp thành phố hay trung ương khi yêu cầu dân đóng góp? Ðể làm gì? Những ông lớn nào dính líu? Không ai biết.
Vụ biểu tình đang được cả thế giới chú ý là người dân ở thị xã Lũng Nam, tỉnh Cam Túc. Bản tin của nhà nước cộng sản cho biết hàng ngàn người đã biểu tình, và chỉ loan tin có 60 cảnh sát viên bị dân đánh. Nhưng những nguồn tin độc lập nêu lên con số mười ngàn người, với nhiều biến chuyển rõ hơn.
Vụ biểu tình ở Lũng Nam bắt đầu với 30 người dân “khiếu kiện về đất đai,” một lý do thông thường nhất, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay. Những người này đã nộp đơn khiếu oan từ năm 2006 vì chính quyền chiếm đất không bồi thường thỏa đáng; ngày Thứ Hai vừa qua họ lại “biểu tình hâm nóng” nỗi oan khuất để nhắc nhở nhà nước khỏi quên. Qua ngày hôm sau, có thêm khoảng 2,000 người dân khác tới dự biểu tình, và vấn đề được nêu lên đã thay đổi. Người ta phản đối chính quyền thị xã Lũng Nam đã quyết định đổi nơi thiết lập “trụ sở ủy ban nhân dân” sau trận động đất cũ. Người biểu tình đã đánh lại công an, cảnh sát bằng gậy sắt, xích sắt; ném đá, ném gạch, ném cả chậu cây kiểng vào đám công an; chiếm một xe cứu hỏa, đốt các xe hơi khác của công an, đốt cả xe đạp và xe gắn máy; dân cũng kéo tới đập vỡ cửa kính trụ sở nhà nước và chiếm cả một văn phòng trong một ngày. Số người biểu tình lên tới 10,000 người, theo nguồn tin của Asia News.
Cuộc biểu tình ở Lũng Nam đông người vì nông dân ở các làng mạc chung quanh cũng kéo về tham dự, mỗi nhóm người đến với những khẩu hiệu, những nỗi oan ức và yêu sách mới. Một người Trung Hoa nói với nhà báo: “Tôi trước là cán bộ nhà nước, nhưng nay tôi ủng hộ người dân.”
Ngày Thứ Tư, cuộc biểu tình đã bị đàn áp và chính quyền tuyên bố tình trạng giới nghiêm trong thành phố 2 triệu 6 dân và Tân Hoa Xã báo tin “tình hình đã ổn định!” Nhưng trong thành phố còn nhiều đám khói bốc lên.
Vì đâu một cuộc biểu tình “bình thường” của 30 người dân mất đất khiếu kiện (đã kéo dài từ 2 năm nay) bỗng nhiên biến thành vụ bạo động khiến hàng trăm người dân bị bắt? Nguyên nhân chính được nêu lên là dân chúng phản đối việc chính quyền đổi địa điểm trụ sở huyện Võ Ðô từ thị xã Lũng Nam tới một thành phố khác, trong kế hoạch xây dựng lại sau vụ động đất vào tháng Năm vừa qua.
Cuộc động đất ở Tứ Xuyên hồi Tháng Năm lan sang tới huyện Võ Ðô, tiếp theo lại một trận động đất vào ngày 21 tháng 6, tất cả khiến cho gần 2 triệu người trong huyện mất nhà cửa. Lấy lý do vùng này có thể bị động đất nữa, chi đảng cộng sản địa phương quyết định dời trụ sở ủy ban nhân dân huyện từ Lũng Nam đi nơi khác.
Tại sao dân chúng lại phản đối quyết định dời địa chỉ của trụ sở nhà nước? Lý do chắc không đơn giản. Cuộc biểu tình biến thành bạo động cho thấy phải có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn khác, nhiều nỗi phẫn uất được tích tụ từ bao năm, chỉ chờ dịp bùng nổ. Trên các mạng lưới nhiều người than thở rằng dân chúng huyện Võ Ðô đã khổ vì các cán bộ cộng sản tham nhũng cửa quyền, những vụ chiếm đất không bồi thường đầy đủ trong bao nhiêu năm qua. Cam Túc là một tỉnh vùng biên cương, tiếp giáp với vùng Tây Vực, có nhiều nhóm dân thiểu số bị người Hán cai trị; cũng là tỉnh đã diễn ra những cuộc biểu tình của người Tây Tạng trong Mùa Hè vừa qua.
Quyết định dời trụ sở huyện có thể đúng, có thể sai, người ngoài không biết được nguyên ủy. Nhưng khi những người dân bị ảnh hưởng của quyết định trên đã bầy tỏ ý kiến phản đối bằng cách bạo động, chúng ta thấy chắc các cán bộ đã quyết định đơn phương và bất ngờ, dân không được hỏi ý kiến. Cách cai trị của đảng cộng sản không bao giờ minh bạch, công khai. Mỗi chi bộ đảng cộng sản là một “hội kín,” họ quyết định gì cũng chỉ có họ biết với nhau, đó là nguyên nhân chính tạo ra những bất mãn chồng chất.
Người dân thì lúc nào cũng nghi ngờ cán bộ quyết định điều gì đều vì quyền lợi của chính họ. Mỗi quyết định lớn đều tạo ra cơ hội tham nhũng, việc dời trụ sở huyện Võ Ðô hay mở rộng thủ đô Hà Nội đều có những lý do chấm mút cả. Khi trụ sở huyện đổi chỗ, khi đất thành phố được quy hoạch lại, giá nhà ở nơi cũ sẽ xuống giá, địa điểm mới sẽ lên giá! Các quan chức nào được ăn nhiều trong các kế hoạch đó?
Khi cán bộ đảng ở Lũng Nam giải thích rằng họ phải đổi địa điểm cơ quan nhà nước vì Lũng Nam ở trong vùng động đất, người dân đã hỏi lại rằng nếu lo động đất thì tại sao không cho cả 2.6 triệu người dân đổi địa chỉ theo? Ðây là một câu hỏi cho thấy dân không tin tưởng vào bất cứ lời giải thích nào nữa. Một người dân Lũng Nam đã than với nhà báo rằng bà ta thuộc lớp người nghèo, trụ sở huyện thay đổi thì bà ta cũng không được, không mất gì cả. Nhưng, bà vẫn thấy, “Khi trụ sở huyện còn ở đây thì dù tôi không có việc làm cũng vẫn đi mót rác được, đủ cơm ăn. Bây giờ họ đổi trụ sở huyện đi nơi khác, tìm đâu ra rác nữa để mà mót?” Bà than: “Bây giờ còn có cơm ăn, mai mốt sẽ phải ăn bắp trừ cơm thôi!”
Cuộc biểu tình bạo động ở Lũng Nam chỉ là một trong hàng trăm ngàn cuộc phản đối của nhân dân Trung Hoa đối với chính quyền cộng sản. Một chế độ như thế không thể coi là ổn định được. Các nước cộng sản như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn đều là những thùng thuốc nổ chỉ lo sẽ có lúc bùng lên. Lý do chính là vì người dân không được hưởng những quyền tự do tối thiểu: Tự do báo chí để được phát biểu ý kiến bất đồng; tự do hội họp để cùng nêu lên những ý kiến chung. Tóm lại là chưa có tự do dân chủ.
Một đặc tính thiết yếu của chế độ dân chủ là người dân được góp ý kiến trong những quyết định liên can tới đời sống của họ, chuyện nhỏ cũng như chuyện lớn.
Người dân các nước như Pháp, Canada, Mỹ đều chấp nhận phải có một nhóm người cầm quyền bính và quyết định thay cho mình; về những công việc chung, như xây cầu, làm đường, tăng thuế hay giảm thuế. Không người dân nào đòi tự mình quyết định lấy tất cả mọi việc.
Nhưng nếu có người thấy chính quyền “làm bậy” thì sao? Thí dụ, nếu ông, bà thị trưởng phá bỏ một công viên để làm trường học, hoặc ông tổng thống định làm thêm hai hàng không mẫu hạm nữa, mà người dân không đồng ý thì sao? Ở một nước tự do dân chủ người ta có quyền nói: Chúng tôi chống dự án này. Có quyền kêu gọi những ai đồng ý với mình cùng lên tiếng nói, có khi lên tiếng với tư cách một đảng đối lập. Nói mãi mà chính quyền vẫn làm trái ý mình thì sao? Thì đến kỳ bầu cử tới mình sẽ bỏ phiếu chống, và hô hào mọi người chống bà thị trưởng hoặc ông tổng thống “ngu dốt” hoặc tham nhũng này.
Người ta không cần phải bạo động để bầy tỏ ý kiến. Ðó là đặc tính của thể chế dân chủ. Lý do là vì người ta biết có thể thay đổi chính quyền, thay đổi xã hội chung quanh mình bằng lá phiếu. Trong các nước dân chủ lâu lâu cũng xẩy ra những cuộc biểu tình bạo động. Nhưng đó là những biến cố họa hiếm, khi có những xúc động mạnh bị dồn nén lâu ngày cần bùng nổ ra, có lý do chính đáng hoặc không chính đáng.
Còn ở các nước độc tài thì những cuộc biểu tình bạo động xẩy ra rất nhiều. Chính vì những người dân ở đó không có cơ hội phát biểu các ý kiến trái ngược với ý nhà nước. Ðến khi người dân không chịu nổi sự áp bức nữa, thì chỉ còn cách là bạo động. Cho nên chính thể chế dân chủ tự do mới bảo đảm cho xã hội được ổn định, hòa bình trong lâu dài.
HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI AI VÀ CÁI GÌ ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Cách đây chừng hai năm, nhiều chính khách xu thời đã nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp. Nhìn thấy tính cách xu thời mong nhẩy bàn độc, nhiều Vị đã lên tiếng nói rõ rằng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là lá đơn van xin làm bồi cho CSVN vì chính CSVN không nêu ra vấn đề ấy và vì tâm địa cố hữu của CSVN là ngoan cố bấu víu chặt lấy quyền độc tài độc đảng. Chúng tôi cũng đã viết nhiều về vấn đề này.
Trong tuần vừa rồi, tôi đọc bài của Oâng NGUYỄN TƯỜNG LONG mang đầu đề HÒA GIẢI LÀ MỘT NHU CẦU CÓ THẬT. Tôi cũng có đọc những ý kiến của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH về Hòa Giải Hòa Hợp.
Đối với vấn đề này, lập trường của chúng tôi được bầy tỏ qua hai câu hỏi:
1) Ai hòa hợp hòa giải với ai ?
2) Hòa hợp hòa giải về cái gì ?
Nếu không trả lời chính xác cho hai câu hỏi ấy, thì vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tung ra để che đậy những mưu mô khác.
AI HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI ?
Khi nói hòa hợp hòa giải là nói đến hai lực lượng tranh đấu, dành dựt một cái gì mà dai dẳng không phân thắng bại để tổn thương nguy hại đến cả hai lực lượng. Vì vậy hai bên ngồi lại thảo luận với nhau để chia chác điều mà mình đang dằng co. Nếu chia phần cho đều, thì hai lực lượng tạm yên đánh nhau.
Nếu hiểu Hòa Giải Hòa Hợp là giữa Quốc gia và Cộng sản thì không trúng bởi lẽ người Quốc gia không dành dựt cái điều mà CSVN đang nắm giữ. Trở lại về nguyên thủy cuộc đấu tranh Quốc-Cộng, người Quốc gia đứng ở vị trí bảo vệ Tự do, Nhân quyền, còn người Cộng sản dùng võ lực đến chiếm quyền để đặt để Độc tài độc đảng, không cho Tự do và chà đạp Nhân quyền. Vì vậy người Quốc gia không đi dành dựt chiếm hữu, lấy cho mình cái quyền Độc tài, tiêu diệt Tự do, chà đạp Nhân quyền như Cộng sản. Một bên là tự vệ, một bên là xâm lăng ăn cướp. Vì vậy nói người Quốc gia đi Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN là không trúng
Trúng hơn là nên nói hòa hợp hòa giải giữa những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng và những người làm Chính trị phe chủ trương độc đảng về cái quyền lực cai trị. Nếu những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng muốn hòa hợp hòa giải với CSVN, thì cứ việc làm, nhưng đây là việc đấu tranh dành quyền lực giữa tầng lớp làm chính trị. Liệu CSVN có chia quyền hành cho những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng hay không, hay là CSVN xử dụng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để vẽ râu ria cho chế độ cố hữu của họ, xử dụng những người làm Chính trị phe đa đảng như bung xung lừa bịp Dân và Quốc tế.
Nếu hai phe Chính trị mà chỉ dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để chia ghế, chia quyền hành, thì Dân vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại cả hai phe thống trị.
HÒA HỢP HÒA GIẢI VỀ CÁI GÌ ?
Đối với người Dân, vấn đề tha thiết căn bản của họ là có TỰ DO, có việc tôn trọng NHÂN QUYỀN thực sự và những người cầm quyền đừng ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của họ. Trừ những người làm Chính trị cho quyền hành, hầu hết đồng bào Tỵ nạn Hải ngoại đứng về phía Dân chúng Việt Nam quốc nội đấu tranh cho TỰ DO, NHÂN QUYỀN và QUYỀN SINH SỐNG NUÔI THÂN XÁC. Ơû Hải ngoại, người Quốc gia Tỵ nạn đã có TỰ DO, có NHÂN QUYỀN và CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC. Họ đứng sau lưng Dân chúng Việt Nam để hỗ trợ cuộc đấu tranh của người Dân đòi CSVN cho TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN và đừng CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân chúng quốc nội.
Vậy thì việc Hòa Giải Hòa Hợp là giữa CSVN và DÂN CHÚNG VIỆT NAM tại Quốc nội, chứ không phải giữa CSVN và khối người Quốc gia tỵ nạn tại Hải ngoại. CSVN muốn Hòa Giải Hòa Hợp thì hãy làm công việc đó đối với Dân chúng Việt Nam tại Quốc nội. CSVN hãy trả lại TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN, đừng nắm Kinh tế ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân và phải hòan trả lại Dân những gì mà CSVN đã ăn cướp trong bao chục năm trường. Điều cuối cùng này rất quan trọng. Thực vậy, đừng dùng chiêu bài Hòa giải Hòa hợp để chuyển tài sản ăn cướp ra nước ngoài, rồi cho con cháu ra đây bảo lãnh mình ra sống vương giả trên của cải ăn cướp được.
Hãy Hoà Giải Hòa Hợp giữa CSVN và Dân chúng Quốc nội, chứ đừng đểu cán kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp với một số thành phần Chính trị ở việc chia ghế. CÁI GÌ (đối tượng) cho việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa CSVN và DÂN CHÚNG QUỐC NỘI là: (i) cho TỰ DO, (ii) tôn trọng NHÂN QUYỀN, (iii) đừng nắm độc quyền Kinh tế mà ĂN CƯỚP NHÀ ĐẤT VÀ CƠM ÁO của Dân, (iv) phải hoàn trả lại cho DÂN và ĐẤT NƯỚC những gì đã ăn cướp trước đây.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
QUỐC HỘI ÂU CHÂU TẨY CHAY BẮC KINH
Quốc Hội Âu Châu Bỏ Phiếu Tẩy Chay Thế Vận Hội Bắc Kinh
http://www.sbtn.net - Apr 11, 2008
Tin Brussels - Quốc Hội Âu châu ngày hôm qua đã thông qua với đa số tuyệt đối, một nghị quyết về Tây Tạng và kêu gọi các lãnh tụ thế giới tẩy chay buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội, nếu chính phủ Trung cộng không chịu ngồi lại để thương thuyết với người lãnh đạo Giáo hội Phật Giáo Tây Tạng và cũng là quốc vương của quốc gia này là đức Ðạt Lai Lạt Ma.
Nghị quyết không có giá trị bắt buộc nhưng cũng là một áp lực lên các lãnh tụ Liên Hiệp Âu Châu để có một thái độ mạnh mẽ hơn trước những vụ biểu tình chống đối khắp nơi về sự đàn áp của Trung cộng đối với Tây Tạng, và gây khó khăn cho Bắc Kinh là một quốc gia buôn bán lớn nhất đối với toàn cõi Âu châu. Nghị quyết này được sự ủng hộ của những tổ chức chính đảng trong Quốc Hội Âu châu, đã được bày tỏ qua kết quả là 580 phiếu thuận, chỉ có 24 phiếu chống và 54 phiếu trắng.
Chủ tịch Quốc Hội là ông Hans-Gert Poettering, một người bạn thân cận với nữ Thủ tướng Ðức Angela Merkel, nói rằng vào tháng trước đáng lý ra Âu châu đã phải xét lại việc tẩy chay hoàn toàn buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội, và mời đức Ðạt Lai Lạt Ma đến nói chuyện trước Quốc Hội. Phó Chủ tịch tổ chức này là ông Edward McMillan-Scott, một trong những người soạn thảo bản nghị quyết, đã tỏ ra vui mừng trước kết quả cuộc bỏ phiếu, và nói việc này sẽ đưa tới những áp lực đối với các chính trị gia tại Âu châu. Ông nói không chỉ những hình ảnh tàn nhẫn tại Tây Tạng và phong cách mà Trung cộng đã đối xử với người dân Tây Tạng trong nhiều năm qua, nhưng việc này còn đi xa hơn nữa đến những vấn đề như Darfur, Miến Ðiện, Việt Nam, và ngay cả tại Trung cộng là nơi người ta được biết hiện đang có khoảng 7 triệu người đang bị cầm giữ trong các trại cải tạo. Ông nhấn mạnh đây là một hệ thống đàn áp gần như không thể so sánh trong lịch sử thế giới. Và khi Thế Vận Hội được trao cho Trung cộng tổ chức vào năm 2001, ai cũng mong là sẽ thấy được những thay đổi từ quốc gia này, khi các lãnh tụ hứa hẹn là họ sẽ thay đổi. Thế nhưng họ đã không giữ lời hứa, và nay các chính trị gia trên thế giới đã tỉnh mộng trước những lời hứa hão huyền này.
Cho đến nay chủ tịch luân phiên Quốc Hội Âu châu là Slovenia và các viên chức cao cấp của Liên Âu đã lên án những hành động bạo động tại Tây Tạng, và kêu gọi Bắc Kinh hãy mở những cuộc đàm phán với nhân vật lãnh đạo Giáo hội Phật Giáo Tây Tạng, nhưng đã ngưng lại trước khi tuyên bố tẩy chay toàn bộ Thế Vận Hội. Văn phòng Thủ tướng Anh quốc là ông Gordon Brown hôm thứ tư tuyên bố ông sẽ không tham dự lễ khai mạc Thế Vận Hội, nhưng nhấn mạnh rằng đây không phải là một hành động chính trị vì ông Brown sẽ có mặt trong buổi lễ bế mạc, khi Trung cộng sẽ trao đuốc và cờ Thế Vận cho Anh quốc là nơi sẽ tổ chức Thế Vận Hội kế tiếp vào năm 2012.
Tổng thống Pháp là ông Nicolas Sarkozy, là quốc gia sẽ giữ chức chủ tịch luân phiên của Liên Âu khi Thế Vận Hội diễn ra vào tháng 8, cũng từng tuyên bố việc ông có tham dự lễ khai mạc Thế Vận hay không tùy vào việc Trung cộng có ngồi lại với đức Ðạt Lai Lạt Ma hay không.
Ông Graham Watson, Chủ tịch nhóm Tiến Bộ tại Quốc Hội Âu châu, nói ông hy vọng nghị quyết này sẽ làm cho chính phủ Trung cộng phải suy nghĩ lại về những ý kiến trên toàn thế giới. Ðây là một nghị quyết có tính cách đóng góp vào cộng đồng thế giới, và là một thông điệp mạnh mẽ trong thời gian này. Theo ông thì những người Trung Hoa nay đang hối hận vì đã đứng ra tổ chức Thế Vận Hội, trước khi họ sẵn sàng để thay đổi hệ thống chính trị ở quốc gia của mình.
Quốc Hội Âu châu được bầu trực tiếp bởi người dân và không có quyền can dự vào đường lối đối ngoại của những quốc gia thành viên, nhưng là nơi bày tỏ ý kiến của công chúng và đưa ra những áp lực về chính trị với các quốc gia trong toàn khối Âu châu. Quyết định cuối cùng của khối 27 quốc gia này sẽ nằm trong tay của Hội đồng Âu châu, sẽ họp vào tháng tới.
===================QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN======================
“Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình” (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982). (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)
==========================
===============PHONG TRAO DÂN CHỦ/ NHÂN QUYỀN================= ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM
========================
VĂN BÚT QUỐC TẾ PHẢN ĐỐI BẢN ÁN PHÚC THẨM
Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Văn Bút Quốc Tế phản đối bản án phúc thẩm, đòi phóng thích hai luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài và tất cả các nhà cầm bút dân chủ đối kháng ở Việt Nam
Ngày 4 tháng 12 năm 2007, trong một Kháng Nghị Thư phổ biến toàn cầu, Uỷ Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực Nhà Văn bị cầm tù tiếp tục phản đối án tù cộng sản áp đặt đối với hai nhà bảo vệ Nhân Quyền Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài. Dưới áp lực quốc tế, ngày 27 tháng 11 năm 2007, tòa phúc thẩm Hà Nội tuyên giảm một năm án tù. Dù vậy, luật sư Lê Thị Công Nhân vẫn còn bị phạt 3 năm tù kèm theo 3 năm quản chế và luật sư Nguyễn Văn Đài, 4 năm tù và 4 năm quản chế. Văn Bút Quốc Tế khẳng định rằng ông Nguyễn Văn Đài và bà Lê Thị Công Nhân bị giam cầm chỉ vì hành sử ôn hòa quyền tự do phát biểu. Một Quyền Tự Do vốn được bảo đảm bởi Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà Nhà nước cộng sản đã ký kết.
Nhắc lại, hai nhà trí thức bị công an bắt tại nhà riêng sáng ngày 6 tháng 3 năm 2007. Cả hai người bị buộc tội ‘tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCNVN’’ vì họ viết những bài công khai chỉ trích (chế độ độc tài tham nhũng), tham gia hoạt động với Khối 8406, một phong trào tranh đấu bảo vệ Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 11 tháng 5 năm 2007, bà Lê Thị Công Nhân và ông Nguyễn Văn Đài bị kết án 4 và 5 năm tù kèm theo 3 và 4 năm quản chế.
Luật sư Nguyễn Văn Đài, 38 tuổi, chủ bút tờ báo (bị cấm) Tự Do Dân Chủ, là thành viên lãnh đạo Khối 8406 và là một trong những người sáng lập Uỷ Ban Nhân Quyền Việt Nam. Năm 2007, ông được Đài Quan Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch) trao tặng Giải Tự do Phát biểu Lillian Hellman/Dashiell Hammet. Giải thưởng dành cho 45 nhà cầm bút bị đàn áp, ngược đãi trên khắp thế giới. Tám nhà văn, nhà báo và trí thức dân chủ đối kháng Việt Nam được tuyên dương : cùng với luật sư Nguyễn Văn Đài có nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nhà báo tù nhân Nguyễn Vũ Bình, nhà viết tiểu luận Đỗ Nam Hải, nhà bình luận Nguyễn Chính Kết, nhà báo cựu tù nhân Nguyễn Khắc Toàn, nhà viết quân sử CS cựu tù nhân Phạm Quế Dương và nhà luật học cựu tù nhân Lê Chí Quang. Ông Nguyễn Văn Đài đã viết và phổ biến nhiều tiểu luận cổ súy Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền trên các trang Web ở ngoại quốc và Web-log http://nguyenvandai.rsfblog.org (RSF : Phóng Viên Không Biên Giới).
Luật sư Lê Thị Công Nhân, 28 tuổi, hội viên Luật sư đoàn Hà Nội (2003) và Hiệp Hội Luật sư Quốc tế UIA (2005), từng giữ chức vụ Thư Ký đảm nhiệm Quan hệ Quốc tế của Hội Luật sư Hà Nội. Phát ngôn viên đảng Thăng Tiến, bà cũng là thành viên Khối 8406. Bà vừa được Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại nhận làm hội viên danh dự. Từ nhiều năm trước, bà Lê Thị Công Nhân đã viết và phổ biến đến các cơ quan truyền thông đại chúng quốc tế nhiều bài chỉ trích những sự lạm dụng quyền thế của đảng cộng sản cùng những biện pháp cai trị độc đoán, phi dân chủ của Nhà nước. Bà cũng viết bài tham luận, lên tiếng bênh vực quyền lợi của giới lao động không được Tổng công đoàn cộng sản bảo vệ. Và bà kêu gọi các tổ chức quốc tế hỗ trợ sự thành lập những Công đoàn độc lập cho công nhân Việt Nam. Bà trả lời phỏng vấn của báo chí và đài phát thanh ngoại quốc. Tháng 10 năm 2006, nữ luật sư bảo vệ Nhân Quyền được mời đến thuyết trình trước Hội Nghị Quốc Tế về Quyền Lao Động Việt Nam tổ chức tại trụ sở Thượng Viện Ba Lan hậu cộng sản. Nhưng bà Lê Thị Công Nhân bị công an ngăn chận lên phi cơ khoảng mười lăm phút trước giờ cất cánh để đi đến thủ đô Varsovie. Đước biết bà còn tích cực tổ chức các lớp học về Nhân Quyền tại văn phòng Luật sư Thiên Ân của đồng nghiệp Nguyễn Văn Đài.
Ngay từ năm 2006, hai luật sư Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài thường xuyên bị cơ quan an ninh cộng sản sách nhiễu. Trước khi bị bắt giam, cả hai nhà bảo vệ Nhân Quyền này từng bị mật vụ canh chừng nghiêm ngặt, bị câu lưu thẩm vấn suốt 48 giờ liên tục. Đêm 8 tháng 2 năm 2007, ông Nguyễn Văn Đài còn bị công an phường Bách Khoa Hà Nội đưa ra giữa cái gọi là ‘Hội nghị Nhân dân’ cho một đám đông khoảng 200 người dân bị bắt buộc ‘‘đấu tố’, nhục mạ và kết tội ông ‘’phản quốc’’.
Văn Bút Quốc Tế gởi Kháng Nghị Thư này đến chủ tịch, thủ tướng cùng bộ trưởng văn hóa và thông tin CHXHCNVN. Đồng thời, Văn Bút Quốc Tế yêu cầu các Trung tâm Văn Bút thành viên trên thế giới gởi Kháng Nghị Thư tương tự đến nhà cầm quyền Hà Nội, để - phản đối sự giam cầm bà Lê Thị Công Nhân và ông Nguyễn Văn Đài, hai nhà cầm bút tranh đấu cho Dân Chủ sử dụng Internet; - bày tỏ mối quan tâm sâu xa trước cuộc leo thang đàn áp những nhà cầm bút hoạt động hàng đầu trong phong trào tranh đấu cho Dân Chủ; - đòi phóng thích tức khắc và vô điều kiện tất cả các nhà cầm bút (dân chủ đối kháng) đang bị giam cầm độc đoán ở Việt Nam vì lẽ những hành động trấn áp như thế vi phạm Điều 19 Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà Việt Nam (cộng sản) đã ký kết.
(Nguồn tin : nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, hội viên Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại, Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại/ PEN Âu Châu. Tài liệu : LHNQVN-TS).
Ghi chú: Bản Tin kỳ tới sẽ đăng toàn văn Thông cáo của Phóng Viên Không Biên Giới và Đài Quan Sát Nhân Quyền phản đối và lên án việc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tiếp tục giam cầm hai luật sư bảo vệ Nhân Quyền Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài sau phiên tòa phúc thẩm. Genève ngày 4 tháng 12 năm 2007 Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
HỘI VIÊN DANH DỰ CỦA VĂN BÚT QUỐC TẾ
Chủ Nhật, ngày 25 tháng 11 năm 2007 LM Nguyễn Văn Lý, NV Trần Khải Thanh Thủy và LS Lê Thị Công Nhân, hội viên danh dự Văn Bút Quốc Tế. Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và luật sư Lê Thị Công Nhân, hội viên danh dự Văn Bút Quốc Tế.
Năm 2007 là năm mà nhà cầm quyền Việt cộng đã tiến hành một chiến dịch trấn áp nghiêm trọng nhứt từ 20 năm qua. Năm 2007 cũng là năm mà Uỷ Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nh à Văn bị đàn áp và cầm tù đã nhiều lần lên án và phản đối những vụ giam cầm độc đoán và tuyên phạt tù bất công, phi pháp đối với các nhà văn, luật gia và dân chủ đối kháng tranh đấu cho Nhân Quyền tại Việt Nam. Bản Quyết Nghị về Việt Nam được Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế ở Dakar-Sénégal đồng thanh thông qua phản ảnh đậm nét bản chất dối trá và tàn ác của một chế độ độc tài chuyên chính. Năm 2007 là năm mà nhiều phụ nữ Việt Nam dũng cảm đương đầu với bạo lực cường quyền. Dù đa số còn vô danh đối với truyền thông đại chúng quốc tế, cũng có vài người được nói đến, như bà Bùi Kim Thành, bà Trần Khải Thanh Thủy, bà Dương Thị Xuân, bà Lê Thị Công Nhân… Bà Trần Khải Thanh Thủy là một trong ba nhà văn nữ được Văn Bút Quốc Tế tuyên dương nhân Ngày Phụ Nữ Thế Giới. Cùng một tình cảnh với bà Trần Khải Thanh Thủy là nhà báo tranh đấu cho Nhân Quyền Umida Niyazo, nước Ouzbékistan, bị bắt ngày 22 tháng giêng năm 2007 và nhà báo Serkalem Fasil, nước Éthiopie, bị nhốt từ tháng 11 năm 2005 sau khi sinh một bé trai tháng 6 năm 2005 tại bệnh viện cảnh sát.
Năm 2007 cũng là năm mà ba tù nhân ngôn luận Việt Nam được công nhận là hội viên danh dự Hiệp Hội Nhà Văn Thế Giới. Sự việc đã diễn ra ngay sau khi nhà báo Nguyễn Vũ Bình rời trại tù nhờ áp lực quốc tế. Chiều thứ hai 11 tháng 6 năm 2007, văn hữu Derek Whitehead, thay mặt Uỷ ban Bênh vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù Văn Bút Sydney báo cho thi hữu Nguyên Hoàng Bảo Việt biết rằng linh mục Nguyễn Văn Lý vừa được bầu làm hội viên danh dự. Nhắc lại, bị kết án 8 năm tù và 5 năm quản chế ngày 30 tháng 3 năm 2007, linh mục Nguyễn Văn Lý đang bị nhốt ở trại K1, Ba Sao Nam Hà, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đến chiều thứ hai 10 tháng 9 năm 2007, Uỷ ban Bênh vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù từ Luân Đốn gởi điện thư báo tin nhà văn Trần Khải Thanh Thủy sẽ là hội viên danh dự Văn Bút Anh. Và Uỷ ban muốn hỏi ý kiến về việc sử dụng một địa chỉ chính xác để hy vọng bưu thư thông báo có thể tới được với tân hội viên danh dự đang bị cô lập trong vòng lao lý. Thật vậy, bà Trần Khải Thanh Thủy bị nhốt không xét xử ở trại B14, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội từ ngày 21 tháng 4 năm 2007. Tưởng nên nhắc rằng Hòa Thượng Thích Huyền Quang cũng là hội viên danh dự của Văn Bút Anh và ba Trung tâm Văn Bút Pháp, Đan Mạch và Sydney. Nữ văn hữu Lucy Popescu, Giám đốc mãn nhiệm Chương Trình Uỷ ban Bênh vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù là một bạn đồng nghiệp hết lòng ủng hộ chính nghĩa và cuộc tranh đấu của nhà văn Việt Nam. Tân Giám đốc, nhà văn nữ Ophelia Field cũng có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong lãnh vực nhân quyền và chú trọng về sự bảo vệ quyền tự do diễn đạt tư tưởng.
Rồi cuối tuần vừa qua, luật sư Lê Thị Công Nhân, phát ngôn viên đảng Thăng Tiến và thành viên Khối 8406, trở thành hội viên danh dự Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại vào Ngày Văn Bút Quốc Tế Đoàn Kết với Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù. Nhà trí thức trẻ tuổi dấn thân cho Tự Do Dân Chủ và Công Bình Xã Hội bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế ngày 11 tháng 5 năm 2007. Bà đang bị nhốt ở trại giam Cầu Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ở Thụy Sĩ, Ngày Văn Bút Quốc Tế Đoàn Kết với Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù đã được phối hợp luân phiên tổ chức tại thành phố Zurich (vùng Đức Thoại) hôm 14 tháng 11, tại Lugano (vùng Ý Thoại và Reto-romanche) hôm 15 tháng 11 và tại Genève (vùng Pháp Thoại) hôm 16 tháng 11 năm 2007. Riêng tại Genève, ngoài các văn hữu thuộc ba Trung tâm Thụy Sĩ còn có sự tham gia hỗ trợ của Hội Nhà Văn Genève và Thư viện thành phố. Theo chương trình buổi chiều ngày 16 tháng 11, nối tiếp phần thuyết trình của nhà văn Algérie Mohamed Benmebkhout, bút hiệu Hanid Skif, sống lưu vong tại nước Đức, nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã tường trình về tình trạng trấn áp nhà văn tại Việt Nam và đọc thư cám ơn bạn hữu Văn Bút Quốc Tế của nhà báo Nguyễn Vũ Bình, hội viên danh dự các Trung tâm Văn Bút Gia Nã Đại, Hoa Kỳ, Sydney và Thụy Sĩ Pháp Thoại. Sau đó, ông nói về trường hợp luật sư Lê Thị Công Nhân. Ông giới thiệu tiểu sử một người phụ nữ Việt Nam tài đức, vì thật lòng yêu đất nước thương đồng bào mà đã bị đày đọa nghiệt ngã bởi phán quyết của một thứ ‘’tòa án nhân dân’’ tồi tệ không kém hoặc hơn cả thời kỳ thực dân đô hộ (bị Phóng Viên Không Biên Giới tố cáo là những ‘’vụ án rập khuôn thời đại Staline’’). Theo đề nghị của nhà thơ Việt Nam tị nạn cộng sản, Ban Chấp hành Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại quyết định trao tặng bà Lê Thị Công Nhân danh hiệu hội viên danh dự. Quyết định này sẽ được gởi để thông tri bộ Ngoại Giao Thụy Sĩ cũng như Văn Bút Quốc Tế.
Genève ngày 23 tháng 11 năm 2007
Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ Ligue Vietnamienne des Droits de l'Homme en Suisse Vietnamese League for Human Rights in Switzerland.
DÂN BIỂU ED. ROYCE NÓI VỀ NHÂN QUYỀN VN
Lời Phát Biểu Dân Biểu Ed Royce "Những Quan Tâm Về Vấn Đề Nhân Quyền Tại Việt Na m" Ngày 6, Tháng 11, 2007
Tôi xin cám ơn ông Chủ Tịch Ủy Ban về việc ông đã đề cao tình trạng bi đát của vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Những người Việt Nam đã đứng lên đòi hỏi quyền tự do căn bản, như tự do về chính trị cũng như tôn giáo, đang bị đàn áp một cách thô bạọ Ngày hôm nay chúng ta sẽ nghe nhiều chi tiết về những đàn áp nàỵ Như vậy, Quốc Hội phải phản ứng như thế nàỏ
Hạ Viện Hoa Kỳ đã nhiều lần thông qua Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam. Dự luật này được bảo trợ bởi Dân Biểu Smith. Và tôi cũng đã tham gia vào việc soạn thảo dự luật nàỵ Tuy rằng dự luật này được Hạ Viên ủng hộ rất mạnh, nhưng một vài vị Thượng Nhị Sĩ đã ngăn cản nó trên Thượng Viện trong hai nhiệm kỳ trước của Quốc Hộị Tôi hy vọng rằng trong nhiệm kỳ này của Quốc Hội, kết quả sẽ khác đị
Đã từ lâu, tôi luôn ủng hộ Đài Á Châu Tự Do và tôi đã bảo trợ cho dự luật thành lập đài này được thông qua trong năm 1998. Đài Á Châu Tự Do là cơ quan ngôn luận nói lên tiếng nói trung thực và chuyển đi các tin tức mà không bị kiểm duyệt về Việt Nam. Những nguồn tin này giúp người Việt Nam hiểu rõ những thay đổi trong đất nước của họ, và các nguồn tin này được chuyển đạt bởi những người công dân Việt Nam như ho.. Nguồn tin tức trung thực này giúp đánh đỗ những đàn áp của nhà nước Việt Nam.
Chúng ta phải phản đối sự chà đạp nhân quyền tại Việt Nam bằng những tiếng nói mạnh dạng nhất của chúng tạ Tôi đã nói chuyện cùng rất nhiều nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam. Tôi đã tiếp xúc cùng Hòa Thượng Thích Quảng Độ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Cụ Lê Quang Liêm thuộc Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo, trong lúc họ đang bị quản thủ tại giạ Tôi rất thấu hiểu sự phản đối của Hoa Kỳ về việc chà đạp nhân quyền đã đem lại những ủng hộ tinh thần đáng kể. Những dự luật mà chúng ta đã thông qua trong quá khứ đã giúp rất nhiều, cũng như buổi gặp gỡ vào mùa Xuân vừa qua giữa Tổng Thống Bush với bốn vị công dân Mỹ gốc Việt đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam đã đưa ra một tín hiệu rất mạnh (về dân chủ và nhân quyền). Trong những người tham dự buổi hội đàm cùng Tổng Thống Bush là Ông Đỗ Hoàng Điềm, hiện cư ngụ tại Orange County, Californiạ
Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam có một trách vụ đặc biệt là quán quân cho vấn đề nhân quyền, nhưng thực ra, các vị đại sứ lại không có khả năng cao trong công tác nàỵ Tôi đơn cử một thí dụ, vị đại sứ phải là người cực lực phản đối Việt Nam khi họ phá sóng của Đài Á Châu Tự Dọ Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam giúp quân bình lại hành động phá sóng trên. Trong tháng qua, Dân Biểu Rohrabacher, Dân Biểu Sanchez và tôi đã gặp ông Đại Sứ mới của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong một cuộc hội thảo tại Orange Countỵ Đại Sứ Michalak có hứa sẽ đưa vấn đề nhân quyền tại Việt Nam thành một trong các ưu tiên hàng đầu trong nhiệm kỳ của ông tạ Nếu ông ta thi hành đúng trách vụ của ông thì vấn đề nhân quyền sẽ là một vấn đề nhức nhối trong mối quan hệ (giữa hai nước). Trong buổi hội luận này, tôi có nhắc nhở ông Đại Sứ quan điểm của một vị tiền nhiệm của ông.
Đại Sứ Pete Peterson đã nói: "Tôi không nghe thấy ai báo cáo có những vấn đề tại đâỵ Theo các tiêu chuẩn, Việt Nam phải được xem như là một sự thành công."
Hiển nhiên là lời phát biểu trên quá chênh lệch với sự thật. Từ lúc đó trở đi, chúng ta đã trở nên thực tế hơn, tuy rằng tôi vẫn không hiểu tại sao Việt Nam đã được rút ra khỏi danh sác "Các Quốc Gia Cần Phải Quan Tâm" (Country of Particular Concern). Nói một cách ngắn gọn, chúng ta mong muốn ông Đại Sứ của chúng ta phải mạnh mẽ lên tiếng bênh vực cho nhân quyền tại Việt Nam.
.
PHÂN TÍCH DỰ LUẬT NHÂN QUYỀN
Dự Luật Nhân Quyền TRẦN KHẢI . Việt Báo Thứ Ba, 7/24/2007, 12:02:00 AM
Vậy là Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam đã đệ trình, và đã nói rất rõ nơi đầu bản văn là: “H.R. 3096 Để Phát Huy Tự Do và Dân Chủ tại Việt Nam.”
Nghĩa là nhiều vị dân cử Hoa Kỳ không hề nói quanh co gì nữa, mà lần này là nói thẳng, nói thật rằng dự luật naỳ của Hạ Viện Mỹ đang chờ thủ tục để thông qua, và sẽ buộc Tổng Thống Bush tán trợ và tài trợ các vận động dân chủ tại VN. Nơi đây chúng ta sẽ lược các điểm chính của dự luật.
Trường hợp độc giả cần đọc toàn văn bản Anh ngữ của dự luật, có thể vào trang web của giaó sư Nguyễn Quốc Khải, nơi có thể tìm đọc thêm các dữ kiện liên hệ: http://www.vietnamreview.com
Dự luật đệ trình hôm 19-7-2007, bởi các dân biểu liên bang: ông SMITH (tiểu bang New Jersey), bà ROS-LEHTINEN, ông WOLF, ông ROYCE, bà ZOE LOFGREN, ông SALI, ông ROHRABACHER, bà LORETTA SANCHEZ (7 vị vừa kể là đaị diện ở California), ông AL GREEN (Texas), và ông TOM DAVIS (Virginia). Dự luật trình lên Ủy Ban Đối Ngoạị
Điều chúng ta có thể thấy ngay rằng chuyện này chỉ có thể xảy ra tại Hoa Kỳ, và cái gọi là Quốc Hội CSVN không bao giờ dám mở miệng bàn về các vấn đề đối ngoại, và cũng không bao giờ dám đưa dự luật nào để ép buộc Chủ Tịch Nước phải đổi chính sách ngoaị giao với bất kỳ nước nàọ Nói thể để thấy rằng, Quốc Hội CSVN không mang nổi các chức năng mà người dân có thể mong đợi, và hiển nhiên là không đại diện thực cho một ai, chỉ trừ đại diện cho đảng ủy và Ban Tổ Chức Đảng.
Dự luật nơi đoạn số 3 cho biết khi Mỹ đồng ý cho VN vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới năm 2006, thì có các bảo đảm rằng chính phủ CSVN phải cải thiện hồ sơ nhân quyền và sẽ tiếp tục như thế. Thực tế, nhà nứơc CSVN chỉ làm có nửa phần, nghĩa là trước khi TT Bush tới dự hội nghị APEC tháng 11-2006 thôi, còn sang năm 2007 là thành chuyện khác rồị
Nhóm 10 dân biểu Mỹ này cũng nêu rõ một thực tế nơi đoạn 6: rằng CSVN vẫn cấm công chúng thách thức tính chính đáng của nhà nước độc đảng, ngăn cấm các quyền tự do phát biểu, tự do báo chí, tự do lập hội, và hạn chế việc truyền thông Internet.
Đoạn 7 dự luật có nói là sau khi CSVN gia nhập WTO ngày 11-1-2007, công an liền bắt và tống giam nhiều nhà hoạt động dân chủ ôn hòa, trong đó có Linh Mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.
Đoạn 8 dự luật nêu rằng CSVN tiếp tục giam, quản chế, truy tố, hay hạn chế các bày tỏ ôn hòa về quan điểm chính trị hay tôn giáo, trong đó ghi rõ tên 34 nhà hoạt động. Trong này, chúng ta thấy rằng nữ luật sư Bùi Kim Thành đã được trả tự do ra khỏi nhà thương điên. Chúng ta tất nhiên không thấy tên anh Lê Trí Tuệ, vì không ai rõ tung tích anh hiện ở đây, tuy chỉ có thể suy đoán là anh khi xin tị nạn ở Cam Bốt đã bị công an sang tận Nam Vang bắt cóc về.
Trong Đoạn 3, nói về Mục Đích, dự luật viết một dòng khởi đầu rất minh bạch:
“Mục đích của Luật này là thúc đẩy sự phát triển tự do và dân chủ tại Việt Nam.” Nói như thế thì không còn gì minh bạch hơn nữa, và đó cũng là những gì mà nhà nứớc CSVN không bao giờ dám trưng cầu dân ý xem dân VN có thực sự khao khát tự do dân chủ hay không.
Trong phần đầu của Mục Đích thì nói là sẽ ngăn cấm các viện trợ ngoài mục đích nhân đạo đối với chính phủ VN. Thế này thực tế cũng là kẹt lắm, bởi vì viện trợ về nhân đạo phần lớn là giúp tài trợ các chiến dịch chống bệnh AIDS, chống cai nghiện ma túy, và một số tài trợ khác.
Nghĩa là, áp lực này sẽ nới ra nếu CSVN chịu nới các quyền căn bản. Nhưng chỗ này thực sự là khó lắm, Hà Nội đâu có chịu nhường.
Sang phần Title II, là Trợ Giúp Để Hỗ Trợ Dân Chủ Tại VN, trong đó phần (a) nói là Tổng Thống Mỹ được ủy quyền trợ giúp, xuyên qua tài trợ các hội phi chính phủ và qua Human Rights Defenders Fund (Quỹ Những Người Bảo Vệ Nhân Quyền), để tài trợ các cá nhân và hội đoàn được quốc tế công nhận có vai trò bảo vệ nhân quyền tại VN. Và đoạn (b) nói rằng tài trợ đó sẽ là 2 triệu đô la cho mỗi năm 2008 và 2009.
Chỗ này cần suy nghĩ. Nghĩa là, trong 2 năm Tổng thống Mỹ sẽ có ngân quỹ 4 triệu đô để cấp cho cá nhân và hội đoàn có tầm vóc quốc tế bảo vệ nhân quyền tại VN. Cá nhân nào, hội đoàn nàỏ Thực tế, nếu các hội đoàn có liên hệ tới tôn giaó thì laị nảy sinh vấn đề khác, vì nếu có vị sư nào, hay vị linh mục nào nhận tiền Mỹ để hoạt động nhân quyền thì lập tức có thể bị sứt mẻ uy tín và rạn nứt trong giaó hội của các vị này ngaỵ
Còn nếu hội đoàn ngoaì tôn giáỏ Thí dụ, Khối 8406? Hay Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, một người có uy tín qúôc tế? Nếu nhận tiền từ Hoa Kỳ để hoạt động dân chủ, bất kỳ ai cũng có thể bị truy tố về tội gián điệp. Vậy thì, không lẽ tiền này cấp cho các cá nhân và hội đoàn hải ngoạỉ
Nơi Đoạn 301 là nói về quỹ 9.1 triệu đô la cho năm 2008 và 1,1 triệu đô cho năm 2009 để Đài Á Châu Tự Do RFA phát thanh vượt qua mạng nhiễu sóng của CSVN.
Còn Đoạn 302 nói về thực hiện các chương trình trao đổi văn hóa và giáo dục giưã Hoa Kỳ và VN, có hướng tiến về “dân chủ và tự do tại VN bằng cách cung cấp các cơ hội cho công dân VN thuộc nhiều ngành nghề và quan điểm để hiển lộ được tự do và dân chủ qua hàng động...”
Cần suy nghĩ về Đoạn 302 này, bởi vì Luật Sư Lê Quốc Quân sau khi học một khóa về dân chủ và xây dựng xã hội dân sự thì 4 ngày sau khi đặt chân lại VN liền bị công an bắt luôn vài tháng. Vậy thì, ai sẽ đi học, và sẽ học cái gì? Rủi nhà nứơc CSVN đưa công an vào học các chương trình naỳ thì saỏ
Tất nhiên, dự luật còn tranh cãi, và sẽ còn sửa đổị Và chưa chắc đã lên trọn các thủ tục ở Thượng Viện và Hành Pháp. Nhưng ít nhất, các dân biểu đã cho biết là họ rất là bực bội về kiểu đàn áp nhân quyền taị VN. Thực tế, thêm một dự luật như thế, dù có bị sửa đổi tu chính gì đi nữa, phong traò dân chủ VN tất sẽ thêm một hỗ trợ lớn.
TRẦN KHẢI
.
DỰ LUẬT NHÂN QUYỀN HR 3096 CHO VIỆT NAM
Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam: Để Tránh Chế Tài, Việt Nam Phải Cải Thiện Hoa Thịnh Đốn, 19 tháng 7, 2007 Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam (CRFV)
Hôm nay Dân Biểu Christopher Smith đưa vào Hạ Viện Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam năm 2007, dưới mảsố HR 3096.
"Đây là một thành quả rất cụ thể của phái đoàn vận động nhân dịp Ông CT/CSVN Nguyễn Minh Triết hội kiến Tổng Thống Bush, trước tình hình nhân quyền ngày càng tồi tệ ở Việt Nam", LS Trần Thái Văn, Dân Biểu Tiểu Bang California, nhận định khi được tin nàỵ
Nếu được thông qua, dự luật này sẽ áp dụng biện pháp chế tài: cắt các khoản viện trợ không thuộc lảnh vực nhân đạo cho đến khi Việt Nam chứng minh thực tâm qua những tiến triển cụ thể: trả tự do cho tất cả các tù chính trị và tôn giáo, tôn trọng quyền sinh hoạt tôn giáo của các giáo hội, hoàn trả tất cả các tài sản đã tịch thu của các giáo hội, tạo thuận tiện cho người đủ điều kiện tham gia các chương trình tị nạn của Hoa Kỳ, tôn trọng nhân quyền của các dân tộc thiểu số, trừng trị những giới chức dính líu đến việc buôn ngườị
Trong ba ngày 19 - 21 tháng 6, một phái đoàn 15 người đến từ nhiều nơi đã tiếp xúc với DB Smith và nhiều vị dân biểu khác để vận động cho dự luật nàỵ Phái đoàn đã sử dụng bản tường trình của Nhóm Nghiên Cứu Việt Nam để làm căn bản cho cuộc vận đô.ng.
Theo TS Nguyẻn Đình Thắng, "những điều khoản trong dự luật phản ảnh bản Tường Trình Về Việt Nam, kể cả nhửng đề nghị về chính sách". Ông là thành viên của Nhóm Nghiên Cứu Việt Nam đã soạn bản tường trình này và cũng là người làm việc sát cánh với DB Smith trong việc soạn thảo ngôn ngữ của dự luật.
"Mục đích của bản tường trình là bổ túc cho bản phúc trình hàng năm của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, vốn nhiều khi phiến diện", Ông giải thích thêm về mục đích lâu dài của nhóm nghiên cứụ
Bản tường trình gồm 9 vấn đề từ quyền chính trị đến tự do tôn giáo, từ mậu dịch đến quyền lao động, và đưa ra những đề nghị cụ thể với mục tiêu rỏ rệt nhằm lượng định thực tâm của nhà nước Việt Nam.
Dự luật của DB Smith, trong phần nhận định, đã sử dụng các dử kiện từ bản tường trình, như danh sách dài về những nhà tranh đấu bị tống giam và tuyên án gần đây, hoặc những con số nói lên t?nh trạng kiểm soát tôn giáo vẫn còn tiếp diễn ở Việt Nam.
Qua sự lý giải của DB Văn, "Dự luật này hối thúc Bộ Ngoại Giao phải giải thích, nếu như không giải quyết được, các vấn đề và các vụ vi phạm nhân quyền ở Việt Nam". Đối với những dử kiện được ghi vào một dự luật, dù chưa trở thành đạo luật, thì Bộ Ngoại Giao không thể nào làm ngơ trong các bản phúc trình gởi Tổng Thống và Quốc Hội sau đó.
Để bảo đảm điều này, dự luật Nhân Quyền Cho Việt Nam đòi hỏi Bộ Ngoại Giao nộp bản phúc trình hàng năm về các diễn tiến ở Việt Nam đối chiếu với các mốc điểm cụ thể, phù hợp với lời đề nghị của phái đoàn.
Dự Luật HR 3096 còn dành ngân khoản hai triệu Mỹ kim để phát triển dân chủ ở Việt Nam, qua chương trình tài trợ cho các tổ chức dân sự và qua quỹ bảo vệ cho nhửng người đấu tranh cho nhân quyền. Dự luật dành cấp khoản trên 10 triệu Mỹ kim để phát triển chương tr?nh phát thanh Á Châu Tự Do để hổ trợ cho chủ trương phát triển dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, và xả hội dân sự ở Việt Nam.
Cũng trong chiều hướng này, dự luật đòi hỏi chính phủ Hoa Kỳ phải mời những nhân vật với tinh thần dân chủ tham gia các chương trình trao đổi văn hoá và học bổng của Hoa Kỳ, cũng như phải có những sinh hoạt nhắm vào việc mở rộng nhản quan về dân chủ và xả hội dân sự nơi các thành phần tham dự trong các chương trình trao đổi nàỵ
Đặc biệt, dự luật HR 3096 có điều khoản về chính sách tị nạn của Hoa Kỳ: giải quyết cho các cựu thuyền nhân đủ điều kiện nhưng bị loại trừ ra khỏi chương trình ROVR (Cơ Hội Định Cư Cho Thuyền Nhân Hồi Hương), cho các con lai còn kẹt ở Việt Nam, cho nhửng người bị từ chối bất công trong chương trình HO, U11 và V11 trước đâỵ Phần này phản ánh cuộc tranh đấu của Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển cho người tị nạn và con lai trong 20 năm quạ
Trong khi một bộ phận của phái đoàn bàn thảo kế hoạch cho dự luật này với DB Smith, một bộ phận khác do Dân Biểu Tiểu Bang Hubert Vỏ hướng dẫn đã làm một cuộc vận động chớp nhoáng với nữ Dân Biểu Sheila Jackson-Lee và Al Green. Cả hai vị dân biểu này cùng có vùng cử tri ở Houston, cũng là vùng cử tri của DB Hubert. Họ đều đồng ý đồng bảo trợ cho dự luật sau khi nghe tường trình từ phái đoàn.
LS Dina Nguyễn, Nghị Viên Thành Phố Garden Grove, là người trong phái đoàn đã nói lên tiếng nói cho các người Thượng đang bị đàn áp ở Việt Nam.
"Cộng đồng người Việt rất cảm kích trước hành động này của DB Smith. Ông rất am hiểu tình hình ở Việt Nam trong khi nhiều người tưởng rằng tình trạng nhân quyền ở Việt Nam đã cải thiện".
Theo cô, điển hình là các đồng bào Thượng bị đàn áp nặng nề; thế nhưng một giới chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sau chuyến viếng thăm vùng Tây Nguyên ngắn ngủi đã tuyên bố là các người Thượng bị hồi hương từ Cambốt đều sống trong an toàn.
Phụ hoạ với cô Dina, DB Hubert cho biết là "Rất là vui mừng khi thấy Lập Pháp Hoa Kỳ hiểu được tình trạng vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Điều này nói lên hiệu quả của nổ lực vận động của cộng đồng người Việt trong thời gian qua".
Trong ba ngày ở Hoa Thịnh Đốn, phái đoàn vận động cũng đã tiếp xúc với các thượng nghị sĩ, giới chức Bộ Ngoại Giao, giới chức Toà Bạch Ốc, và giới truyền thông.
Bà Ngô Thị Hiền, cũng trong phái đoàn vận động, kêu gọi: "Trong thời gian tới đây, vận động cho dự luật này là công việc thực tế nhất mà cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ có thể làm để hỗ trợ cho đồng bào trong nước". Bà đang phát động chiến dịch gây quỹ để mướn hai nhân viên chuyên vận động hành lang toàn thời cho các vấn đề liên quan đến Việt Nam.
Ghi chú: Toàn bộ bản tường trình của Nhóm Nghiên Cứu Việt Nam được đăng ở trang mạng Vietnam Review.
HỘI ĐỒNG ÂU CHÂU/ Nghị Viện Quốc Hội Nhu cầu kết án quốc tế về những tội phạm của những chế độ cộng sản toàn trị
NGHỊ QUYẾT 1481 (Năm 2006)
1. Nghị Viện Quốc Hội tham chiếu Nghị Quyết 1096 (Năm 1996) của mình về những biện pháp tháo bỏ cái di sản của những hệ thống cộng sản toàn trị đã qua.
2. Những chế độ cộng sản toàn trị đã cai trị ở Trung và Đông Aâu-châu trong thế kỷ vừa qua, và những chế độ ấy vẫn còn nắm quyền tại một số nước trên thế giới, hết thảy các chế độ ấy, không có ngoại lệ, đã bị xếp loại vào đặc tính là mang những vi phạm tập thể về nhân quyền. Những vi phạm này đã có những khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào nền văn hóa, vào quốc gia và vào giai đoạn lịch sử, và những vi phạm này đã bao gồm những vụ ám sát và xử tử cá nhân hay tập thể, bao gồm việc chết chóc trong các trại tập trung, bao gồm việc bỏ đói, lưu đầy, tra tấn, lao động nô dịch và bao gồm những hình thức khác như khủng bố thể xác hàng loạt, như bách hại dựa theo tiêu chuẩn chủng tộc hay tôn giáo, như vi phạm vào tự do của lương tâm, của tư tưởng và phát biểu, vi phạm vào tự do báo chí, và cũng như thiếu đa dạng chính trị.
3. Các tội ác đã được biện bạch nhân danh lý thuyết đấu tranh giai cấp và nhân danh nguyên tắc độc tài của giai cấp vô sản. Sự giải thích của hai nguyên tắc ấy đã hợp thức hóa việc “trừ khử“ những người bị xem là nguy hại tới việc xây dựng một xã hội mới và, như thế, những người này bị coi là những kẻ thù của các chế độ cộng sản toàn trị. Con số lớn rộng những nạn nhân trong mỗi quốc gia liên hệ đã là công dân thuộc chính quốc gia ấy. Đặc biệt đó là trường hợp của các dân tộc thuộc cựu Liên bang Xô Viết, vốn vượt rất xa các dân tộc khác về con số nạn nhân.
4. Nghị viện thừa nhận rằng, mặc dù các tội ác của các chế độ toàn trị, vài đảng cộng sản Aâu-châu cũng đã có những đóng góp vào việc đạt tới nền dân chủ.
5. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản toàn trị tại Trung và Đông Aâu-châu đã không được tiếp nối theo, trong mọi trường hợp, bởi một cuộc điều tra quốc tế về những tội ác vi phạm bởi các chế độ này. Hơn thế nữa, những thủ phạm gây ra tội ác đã không bị mang ra tòa xử án bởi cộng đồng quốc tế giống như trường hợp các tội ác khủng khiếp vi phạm bởi chế độ Quốc Xã đã bị mang ra xử.
6. Bởi thế, việc cảnh giác quần chúng về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị thực là rất được ít ỏi thực hiện. Đảng cộng sản còn hợp pháp và còn hoạt động tại một số quốc gia, ngay cả trong một số trường hợp chính những đảng này đã không xa ra cho lắm (rất gần) những tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị trong quá khứ.
7. Nghị viện xác tín rằng việc cảnh giác Lịch sử là một trong những tiền điều kiện để tránh những tội ác tương tự trong tương lai. Hơn thế nữa, việc thẩm định luân lý và việc kết án những tội ác đã vi phạm giữ một vai trò quan trọng việc giáo dục các thế hệ trẻ. Quan điểm minh bạch của cộng đồng quốc tế về quá khứ có thể là một điểm tham chiếu cho những hành động tương lai của họ.
8. Ngoài ra, Nghị viện tin rằng những nạn nhân của các tội ác vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị, mà những nạn nhân này còn đang sống hay gia đình của họ, đều xứng đáng nhận lòng trìu mến, sự thông cảm và sự thừa nhận về những nỗi thống khổ của họ.
9. Những chế độ cộng sản toàn trị còn hoạt động trong một số quốc gia trên thế giới và những tội ác còn tiếp tục vi phạm. Những quan tâm về quyền lợi quốc gia chớ nên ngăn cản các quốc gia ấy phê phán thích đáng về các chế độ cộng sản toàn trị hiện tại. Nghị viện kết án mạnh mẽ tất cả những vi phạm đó về nhân quyền.
10. Các cuộc tranh luận và lên án mà cho tới nay vẫn được tiến hành ở bình diện quốc gia tại một số nước thành viên của Hội Đồng Aâu Châu không thể miễn trừ cho cộng đồng quốc tế trong việc lấy một vị trí minh bạch về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị. Cộng đồng quốc tế có bổn phận luân lý phải làm như vậy mà không được trì hoãn lâu hơn nữa.
11. Hội Đồng Aâu-Châu có vị trí tốt cho một cuộc tranh luận như vậy ở bình diện quốc tế. Tất cả các quốc gia cộng sản cũ Aâu-châu, ngoại trừ Belarus, ngày nay là thành viên của Hội Đồng và việc bảo vệ nhân quyền cũng như quy tắc luật pháp đều là những giá trị nền tảng mà Hội Đồng chủ trương.
12. Vì thế, Nghị viện Quốc Hội mạnh mẽ kết án những vi phạm tập thể về nhân quyền do các chế độ cộng sản toàn trị gây ra và bầy tỏ lòng trìu mến, sự thông cảm và thừa nhận đối với những nạn nhân của các tội ác này.
13. Hơn nữa, Nghị viện Quốc Hội kêu gọi tất cả các đảng cộng sản hay hậu cộng sản trong những nước thành viên mà cho đến nay đã chẳng làm như thế để tái thẩm định lịch sử chủ nghĩa cộng sản và quá khứ riêng của mình, hãy tự tách rời mình ra một cách rõ rệt khỏi những tội ác đã vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị và hãy kết án những tội ác ấy không chút mơ hồ nào cả.
14. Nghị viện tin tưởng rằng quan điểm minh bạch này của cộng đồng quốc tế sẽ dọn đường cho sự hòa giải tương lai. Hơn nữa, hy vọng Nghị viện sẽ khuyến khích các sử gia khắp thế giới tiếp tục công cuộc khảo cứu của họ nhắm mục đích xác định và kiểm chứng khách quan về những gì đã xẩy ra.
=============
(1) Nghị viện tranh luận vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5)(xem Doc.10765, phúc trình của Uûy Ban Chính Trị Vụ,Người Phúc trình:Ông LINDBLAD). Văn bản được Nghị viện thông qua vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5).
NGHỊ QUYẾT 243 CỦA HẠ VIỆN HOA KỲ
NGHỊ QUYẾT 243 CỦA HẠ VIỆN HOA KỲ VỚI ĐA SỐ TUYỆT ĐỐI 404 LÀ LỜI KHẲNG ĐỊNH HÙNG HỒN RẰNG NHỮNG PHIÊN TÒA Ở VIỆT NAM LÀ ĐỘC ĐOÁN XỬ NHỮNG NGƯỜI VÔ TỘI.
Nguyễn Phúc Liên
Chúng tôi hết lòng hoan nghênh NGHỊ QUYẾT 243 của HẠ VIỆN Hoa kỳ với số Phiếu thượng đẳng TUYỆT ĐỐI 404/0, nghĩa là mọi Dân Biểu không ai chấp nhận việc làm man rợ rừng rú của CSVN phản lại Nhân Quyền. Con số 404 trên số 0 (KHÔNG) có nghĩa là không một ai chấp nhận việc CSVN dùng sức mạnh khủng bố, đàn áp, bắt tù những người Dân đang đòi hỏi bất bạo động những Quyền Làm Người của mình. Đây là sự trả lời đồng nhất cho những Phiên Tòa man rợ của CSVN ngày 30.03.2007 tại Huế và ngày 11.05.2007 sắp tới tại Hà Nội của nguỵ quyền độc tài CSVN.
NGHỊ QUYẾT 243 với số Phiếu thượng thặng TUYỆT ĐỐI 404/0 chứng tỏ rằng những Dân Biểu đã quyết định theo Nhân Quyền, Tình Người, chứ không theo khuynh hướng khác biệt Chính trị mà đa số Hạ Viện lần này là đảng Dân Chủ. Chúng ta ca ngợi những Dân Biểu Dân Chủ đã gạt ra một bên sự khác biệt Chính trị của hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ để chỉ lấy tiêu chuẩn trọng yếu nhất là Tình Người và Nhân Quyền. Không thể vì tranh chấp quyền hành Chính trị mà bỏ quên cái trọng yếu của tất cả mọi chế độ Chính trị là phải tôn trọng Nhân Phẩm, Nhân Quyền.
Đây cũng là bài học cho ngụy quyền CSVN chỉ độc đoán hành xử theo Chính trị mà đè bẹp Nhân Quyền, chà đạp Nhân Phẩm, Tình Người và Tình Dân Tộc. CSVN đã dùng tiểu xảo mưu mẹo ra được CPC về Tôn Giáo, vào được WTO về Thương mại nhờ Hoa kỳ. Việc khủng bố, đàn áp, bắt tù tội ngày hôm nay của CSVN càng cho thấy rõ những mưu mẹo xảo trá tính toán lừa đảo người khác. Cái hậu quả sẽ vận lại chính mình cho những ai thiếu thành thực và xảo trá. NGHỊ QUYẾT 243 này là một hậu quả nhãn tiền và sẽ dán lên mặt Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng khi tới Washington tháng 6 này. Nó cũng cảnh cáo cho những ai, kể cả Giám mục, đang làm tay sai cho CSVN trong Nghị Quyết 36 lừa đảo muốn thuần hóa những đồng bào tỵ nạn tại Hải ngoại.
Nguyễn Phúc Liên
Theo một thông cáo báo chí của Hạ Viện Hoa Kỳ, thì Nghị quyết HRes. 243 do Dân Biểu Chris Smith của đảng Cộng Hòa soạn thảo và đưa ra đệ trình tại Hạ Viện, đã được thông qua ngày 2/5/07 với một tỷ số 404 phiếu thuận và không có phiếu chống (404-0).
Xét rằng ngày 18-02-2007, công an Việt Nam đã tiến hành khám xét nhà xứ của linh mục Nguyễn Văn Lý và đã tịch thu nhiều máy vi tính, điện thoại, hơn 100 card điện thoại di động và hơn 200 kg tài liệu;
Xét rằng công an đã di chuyển linh mục Lý đến một nơi xa xôi hẻo lánh là Bến Củi, miền trung Việt Nam, và quản chế ông ở đó;
Xét rằng linh mục Lý là một cựu tù nhân lương tâm, đã trải qua tổng cộng hơn 13 năm tù từ 1983 vì ủng hộ tự do tôn giáo và dân chủ tại Việt Nam;
Xét rằng linh mục Lý là một cố vấn cho Khối 8406, một phong trào dân chủ đã khởi sự từ tháng 4-2006 khi hàng trăm người khắp cả Việt Nam công khai ký tên kêu gọi dân chủ và nhân quyền;
Xét rằng linh mục Lý cũng là một cố vấn cho một chính đảng mới, đảng Thăng Tiến Việt Nam, và là một trong những biên tập viên tiên khởi của bán nguyệt san Tự do Ngôn luận;
Xét rằng vào ngày 06-03-2007, công an Việt Nam đã bắt giữ một trong số ít luật sư hoạt động cho nhân quyền là Nguyễn Văn Đài, người đã bênh vực nhiều cá nhân bị bắt giữ vì các hoạt động nhân quyền và tôn giáo của họ, người đồng sáng lập Ủy ban Nhân quyền tại Việt Nam và là một trong những nhà tổ chức chính của phong trào dân chủ Khối 8406;
Xét rằng, vào ngày 06-03-2007, công an Việt Nam cũng đã bắt giữ Lê Thị Công Nhân, một luật sư nhân quyền, một thành viên Khối 8406, phát ngôn viên chính thức của đảng Thăng Tiến và là một sáng lập viên của Phong trào Công nhân Việt Nam;
Xét rằng linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã bị buộc tội phổ biến tài liệu tuyên truyền chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88 Bộ luật Hình sự của Việt Nam;
Xét rằng linh mục Lý đã bị xét xử, bị kết tội và bị tuyên án 8 năm tù ngày 30-3-2007;
Xét rằng nếu bị kết tội, các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân mỗi người có thể bị tuyên án tới 20 năm tù;
Xét rằng ông Lê Quốc Quân là một luật sư đã du hành sang Hoa Kỳ tháng 9-2006 để nghiên cứu việc phát triển xã hội dân sự trong tư cách người nhận học bổng Reagan-Fascell tại Quỹ Quốc gia vì Dân chủ (National Endowment for Democra-cy);
Xét rằng ông Lê Quốc Quân đã trở về Việt Nam đầu tháng 03-2007 và đã bị công an Hà Nội bắt giữ ngày 08-03-2007;
Xét rằng ông Lê Quốc Quân đã bị buộc tội theo Điều 79 Bộ luật Hình sự của Việt Nam, một điều khoản cấm các hoạt động nhằm mục đích lật đổ Chính quyền và tuyên những hạn tù hết sức khắt khe, thậm chí là án tử;
Xét rằng linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân hay Lê Quốc Quân đã chẳng có hoạt động nào ủng hộ hay lôi kéo bạo lực;
Xét rằng việc bắt giữ và kết tội linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân đã vi phạm Điều 69 Hiến pháp Việt Nam, vốn tuyên bố rằng “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”;
Xét rằng linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân đã bị bắt giữ và kết tội trái với các quyền được ghi trong Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam là một quốc gia thành viên, đặc biệt Điều 18 (tự do tôn giáo), Điều 19 (tự do ngôn luận) và Điều 22 (tự do lập hội);
Xét rằng Việt Nam vừa mới giam tù, bắt giữ, quản chế tại gia, hay mặt khác cấm cản nhiều nhà hoạt động hiếu hòa cho dân chủ và tôn giáo vì những lý do liên quan đến quan điểm chính trị hay tôn giáo của họ, gồm có Nguyễn Bình Thành, Nguyễn Phong, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Vũ Bình, Huỳnh Nguyên Đạo, Nguyễn Tấn Hoành, Trần Thị Lệ Hằng, Hoàng Huy Chương, Đoàn Văn Diên, Lê Bá Triết, Nguyễn Tuân, Bùi Kim Thành và Trần Quốc Hiền;
Xét rằng Quốc hội Hoa Kỳ đã đồng ý cho Việt Nam trở nên thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, với những bảo đảm rằng Nhà nước Việt Nam đã đều đặn cải thiện thành tích nhân quyền của mình và sẽ tiếp tục làm như vậy;
Xét rằng nhóm các quốc gia châu Á tại Liên Hiệp Quốc đã đề cử Việt Nam như ứng viên duy nhất cho ghế bất thường trực tại Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009, và theo Hiến chương LHQ, Việt Nam bị buộc hoàn thành các nghĩa vụ của mình hợp với các mục tiêu của LHQ, trong đó có chuyện xúc tiến và khuyến khích việc tôn trọng nhân quyền lẫn các tự do cơ bản cho mọi người; và
Xét rằng việc cầm tù tùy tiện và việc vi phạm các nhân quyền của công dân Việt Nam là nguồn gốc mối quan tâm liên tục và nghiêm trọng của Quốc hội, và việc bắt linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân là một phần trong xu hướng gia tăng việc đàn áp các người ủng hộ nhân quyền tại Việt Nam.
Chính vì thế quyết nghị rằng
(1) Hạ viện
(A) kết án và phản đối việc Chính quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN tùy tiện giam giữ linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân; kêu gọi phải thả họ ngay lập tức và vô điều kiện, ngưng mọi cáo buộc tội phạm, cũng như phải thả ngay lập tức và vô điều kiện mọi tù nhân chính trị và tôn giáo khác.
(B) kết án và phản đối việc xâm phạm các quyền tự do ngôn luận, tôn giáo, hội họp, lập hội và việc thiếu thủ tục pháp lý đúng đắn cho các cá nhân tại Việt Nam
(C) nghi ngờ các khả năng của VN trong việc trở nên một thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ, trừ phi Chính quyền Việt Nam lập tức khởi sự tôn trọng các nhân quyền và các tự do cơ bản của hết mọi người trong biên giới quốc gia; và
(D) mạnh mẽ thúc giục Chính quyền VN xem xét những hệ quả của hành vi mình đối với việc mở rộng bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam;
(2) cảm nghĩ chung của Hạ viện là Hoa Kỳ nên
(A) đặc biệt quan tâm đến việc thả tù lập tức, đến thân phận pháp lý và đến các nhu cầu nhân đạo của linh mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân.
(B) sử dụng nguồn tài chính từ Quỹ Bảo vệ Nhân quyền mới thành lập của Bộ Ngoại giao để trợ giúp việc bênh vực pháp lý cũng như những nhu cầu của các gia đình và thân thuộc của linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân;
(C) tiếp tục thúc đẩy Chính quyền VN tuân theo những tiêu chuẩn được quốc tế thừa nhận về các tự do và nhân quyền cơ bản;
(D) nói rõ cho Chính quyền VN rằng họ phải tuân thủ quy tắc luật pháp, phải tôn trọng tự do tôn giáo và tự do ngôn luận để nới rộng bang giao với Hoa Kỳ;
(E) nói rõ cho Chính quyền VN rằng việc giam giữ linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân và các tù nhân chính trị lẫn tù nhân lương tâm khác, cũng như các vi phạm nhân quyền khác đều không có lợi cho VN vì chúng tạo nên những chướng ngại cho mối quan hệ song phương đã cải thiện và cho việc hợp tác với Hoa Kỳ;
(F) nghiên cứu những vi phạm nhân quyền hiện tại của Chính quyền VN và xem xét việc tái áp đặt lên VN danh xưng “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) vốn đã được gỡ bỏ ngày 13-11-2006, căn cứ Đạo luật về Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 1998; và
(G) để thúc đẩy các tự do và nhân quyền đó cũng như để củng cố bang giao lâu dài giữa Hoa Kỳ và VN, Hoa Kỳ nên đưa ra những chương trình trợ giúp nước ngoài mới hầu đẩy mạnh các khả năng liên kết trong xã hội dân sự VN, bao gồm (i) những chương trình về quy tắc luật pháp để huấn luyện các luật sư nhân quyền, các thẩm phán, các giáo sư và các sinh viên về luật nhân quyền quốc tế; (ii) những sáng kiến ngoại giao công khai để thông tin và giáo dục các công dân Việt Nam về các chuẩn mực và trách nhiệm nhân quyền quốc tế; và (iii) những dự án hỗ trợ các tổ chức và hội đoàn cổ vũ tự do tôn giáo, ngôn luận, hội họp và lập hội.
.
NHỮNG ĐỀ TÀI KHAI TRIỂN TỪ NGHỊ QUYẾT 1481 (Năm 2006) NGHỊ VIỆN QUỐC HỘI ÂU CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Chúng tôi coi Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) như nền tảng của một Bản Cáo Trạng để xét xử những tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam.
Nghị Quyết ấy kêu gọi việc Xử án Quốc tế đối với những tội ác đã qua của các chế độ Cộng sản toàn trị, đồng thời kêu gọi phải phổ biến những tội ác lịch sử ấy: (i) cho những đảng phái chính trị hiện hành biết, hầu đi đến hòa giải; (ii) và cho việc giáo dục những thế hệ trẻ tương lai phải tránh những tội ác tương tự.
Dân tộc Việt Nam đã phải chịu đựng những tội ác ấy rất ghê tởm và rất lâu dài do đảng cộng sản Việt Nam chủ trương. Vì những tội ác ấy mà Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua hai cuộc Di cư Tỵ nạn liền sau 1954 và liền sau 1975 lớn nhất Thế giới.
Hiện nay, đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đó và vẫn chủ trương chế độ toàn trị mà Quốc Hội Aâu Châu lên án. Dân tộc Việt Nam đã phải sống trên 60 năm dài Lịch sử dưới những tội ác rất hung dữ của Cộng sản Việt Nam, tất nhiên phải đồng loạt trước hết là lật đổ chế độ toàn trị này và sau đó phải xử án những tội ác đó như một bài học Lịch sử cho tương lai hòa giải của Dân tộc và cho cuộc sống lành mạnh, nhân đạo của các thế hệ trẻ tương lai. Quốc Hội Việt Nam gồm những nghị viên hoàn toàn sinh ra và lớn lên trong chế độ đầy tội ác của cộng sản. (i) Một là họ ngu mê đần độn không còn biết thẩm định đâu là thiện, đâu là ác, mà chỉ như đàn khỉ được huấn luyện làm xiệc, chỉ đâu gật đó; (ii) Hai là họ biết phân biệt thiện ác, nhưng đã không đứng về phía Dân để lên tiếng bênh đỡ Dân đang đau khổ dưới những tội ác, mà đã đứng hẳn về phía đảng cộng sản Việt Nam để cùng đám tội phạm cộng sản này để cùng gây tội ác trên đầu Dân. Ngu đần như súc vật hoặc tích cực hợp tác với tội phạm, họ đều bị Dân kết án không bầu cho cái Quốc Hội đó nữa.
Hoà nhịp với cộng đồng quốc tế và nhìn tương lai của hạnh phúc Dân tộc, của phát triển Đất Nước, chúng tôi muốn đóng góp một số những khai triển từ Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) của Quốc Hội Aâu Châu, mong Dân mình thấy rõ Lập trường của nhân dân thuộc cộng đồng quốc tế và phế bỏ Quốc Hội bù nhìn cũng như đảng cộng sản Việt Nam.
Những đề tài khai triển như sau:
1) GIÁ TRỊ THẨM ĐỊNH CỦA NGHỊ VIỆN QUỐC HỘI ÂU CHÂU
Thẩm định về những tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị, Quốc Hội Aâu Châu có khả năng thẩm định cao hơn các Quốc Hội khác như Hoa kỳ chẳng hạn, bởi vì những nghị viên thẩm định đã sống sát liền hay chính trong lòng các chế độ cộng sản toàn trị ấy.
Việt Nam: vạch trần ra việc làm của Quốc Hội Việt Nam, không những không đứng về phía Dân với vai trò mà Dân trao phó, mà còn hợp tác với kẻ chủ trương tội ác là đảng cộng sản độc tài Việt Nam.
2) VI PHẠM TẬP THỂ VỀ NHÂN QUYỀN
Tính cách vi phạm TẬP THỂ được nhấn mạnh trong Nghị Quyết. Thực vậy, nếu có những đàn áp nhân quyền cho một cá nhân, thì việc đàn áp cá nhân này được đảng thực hiện như là một biện pháp nhằm khủng bố nhân quyền cho một Tập thể.
Việt Nam: Liệt kê những vi phạm Tập thể về nhân quyền và việc đàn áp, bắt tù tội cá nhân tại Việt Nam trong chủ trương khủng bố tinh thần Tập thể.
4) TỘI ÁC ÁM SÁT
Tại những nước dưới chế độ cộng sản toàn trị trước đây, việc ám sát đối lập hoặc tình nghi đối lập là chủ trương của những chế độ. Những sách viết về tội ác này tại Liên Xô và những nước Trung và Đông Aâu còn đó.
Việt Nam: Tội ác này do chính Hồ Chí Minh chủ trương từ thời Mặt trận Việt Minh, đến việc thanh trừng Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việc ám sát đã kéo dài tiếp theo từ Miền Bắc, rồi Miền Nam Việt Nam.
5) TỘI ÁC XỬ TỬ
Các chế độ cộng sản không thể phủ nhận những bản án xử tử, hoặc xử tử không cần kêu án tại Liên Xô, tại Trung Hoa (Cách Mạng Văn Hóa), tại những tiểu quốc chư hầu Trung và Đông Aâu (Hung gia lợi 1956 và Mùa Xuân Tiệp khắc 1968...)
Việt Nam: Điển hình nhất của tội ác này của đảng cộng sản Việt Nam là cuộc Cải Cách Điền Địa 1952-1956. Tội ác đã tái diễn trong dịp Tết Mậu Thân 1968 với những mồ chôn TẬP THỂ.
6) TỘI ÁC BẮT ĐI LƯU ĐẦY
Điển hình nhất về tội ác này là tại Liên Xô với việc lưu đầy tại Tây Bá Lợi Á. Hãy đọc sách viết của Soljenitsyne (Archipel du Goulag).
Việt Nam: Ơû Việt Nam, đây là tội ác của những Vùng Kinh tế mới và nhất là những Trại Cải Tạo.
7) TỘI ÁC ĐỂ CHẾT CHÓC, BỎ ĐÓI, TRA TẤN, LAO ĐỘNG NÔ DỊCH TRONG CÁC TRẠI TẬP TRUNG
Tại những nước Trung và Đông Aâu, các trại Tập trung đã được thiết lập với những tội ác liệt kê như trên. Những trại Tập trung khổng lồ nhất là tại Liên Xô.
Việt Nam: Những người đã phải giam cầm trong các trại Cải Tạo đều biết rõ những tội ác này.
8) TỘI ÁC BÁCH HẠI THEO TIÊU CHUẨN CHỦNG TỘC, TÔN GIÁO
Tại Trung và Đông Aâu, nhất là Liên Xô, việc bách hại tôn giáo kéo dài trong những năm trường vì cộng sản coi tôn giáo là thuốc phiện của dân chúng.
Việt Nam: Hãy nhìn tình trạng bách hại Tôn giáo trước năm 1975 tại Miền Bắc và sau đó tại Miền Nam liền những năm sau 1975. Hiện nay, Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo vẫn kềm kẹp Tôn giáo.
9) TỘI ÁC ĐỐI VỚI TỰ DO LƯƠNG TÂM, TỰ DO TƯ TƯỞNG
Đây là tội ác nhằm những cá nhân có tầm ảnh hưởng lãnh đạo Tập thể. Đàn áp những cá nhân này được đảng chủ trương như việc khủng bố tư tưởng và lương tâm Tập thể.
Việt Nam: Chính một số cựu đảng viên cũng đã chịu cảnh đàn áp, tù đầy này. Sống động nhất: hãy hỏi Hòa thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Mục sư Nguyễn Hồng Quang và những, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn... và những nhà đấu tranh cho Dân chủ hiện nay.
10) TỘI ÁC CẤM ĐOÁN TỰ DO PHÁT BIỂU, TỰ DO BÁO CHÍ
Đây là tội ác nhằm bưng bí sự thật và dành độc quyền nhồi sọ Dân chúng những lý thuyết và chủ trương của đảng cộng sản. Tội ác này cũng nhằm diệt tất cả những ý tưởng nào có thể gây nên một tập họp quần chúng khả dĩ chống lại việc độc tài tư tưởng của đảng.
Việt Nam: Cấm đoán ngay cả việc đọc Diễn đàn Internet. Không có một tờ báo viết nào mà không dưới quyền kiểm soát của đảng cộng sản Việt Nam.
11) TỘI ÁC KHÔNG CHO ĐA DẠNG CHÍNH TRỊ
Chủ trương một chế độ độc tài toàn trị, nên đảng cộng sản cấm tất cả mọi hình thức đa dạng chính trị. Việc này vẫn tồn tại ở Việt Nam ngày nay.
Việt Nam: Cuộc đấu tranh hiện hành đòi tối thiểu một Quốc Hội đa nguyên. Điều 4 của Hiến Pháp vẫn còn nằm chình ình ra đó.
12) CHE LẤP TỘI ÁC BẰNG LÝ THUYẾT ĐẤU TRANH GIAI CẤP
Từ ngụy biện về giá trị lao động, đến ngụy tạo về bóc lột giai cấp, cộng sản đẩy dân vào một cuộc đấu tranh giai cấp đến độ chém giết nhau. Lợi dụng việc thanh trừng giai cấp để đảng cộng sản chiếm quyền cai trị.
Việt Nam: Những tòa án nhân dân, nhất là trong vụ Cải Cách Điền Địa, dưới việc điều khiển của đảng, đẩy việc đấu tranh giai cấp đến tàn sát chính người Dân vô tội mà đảng nghi ngờ có thể chống lại quyền độc đoán của đảng.
13) CHE LẤP TỘI ÁC ĐỘC TÀI BẰNG TỰ NHẬN LÃNH ĐẠO GIAI CẤP VÔ SẢN
Nắm toàn quyền cai trị, đảng cộng sản, từ đấu tranh giai cấp, tiến đến tước hữu tài sản nhân dân ngay cả của giới lao động. Đảng cộng sản nhân danh Cách Mạng Vô Sản cho một Xã Hội mới, mặc dầu đã bao chục năm trường cũ rích, thâu tóm mọi quyền Chính trị, Kinh tế về cho đảng mình.
Việt Nam: Truất hữu tài sản, ruộng đất tại Miền Bắc. Sau 1975, truất hữu tài sản cá nhân, đoàn thể hay Tôn giáo tại Miền Nam. Điều 4 của Hiến Pháp VN còn đó. Nó tượng trưng cho việc nguỵ biện này để nắm quyền cho đảng cả về Chính trị lẫn Kinh tế.
14) LẤY CỚ ĐẤU TRANH GIAI CẤP, LÃNH ĐẠO VÔ SẢN ĐỂ TRỪ KHỬ NHỮNG AI KHÔNG ĐỒNG QUAN ĐIỂM.
Chúng tôi không nói đối lập mà chỉ nói đến không đồng quan điểm là đã bị trừ khử rồi. Che lấp tội ác bằng nguỵ biện Đấu tranh Giai cấp và Lãnh đạo Vô sản, đảng cộng sản đẩy những nguỵ biện ấy đến chỗ coi ai không đồng chính kiến là “kẻ thù“ của Cách Mạng để họ tiêu diệt ngay thân xác những người ấy.
Việt Nam: Đảng chỉ cần tung ra tiếng “ngụy“ đã đủ trừ khử những cá nhân hoặc tập thể mà họ muốn. Hai tiếng “nguỵ quyền“ đã tự cho phép họ giết tập thể năm Mậu Thân 1968. Hiện nay, tên ngợm giáo gian quốc doanh Nguyễn Tấn Khóa còn nói như con vẹt rằng “thế lực thù địch“ để hô hào giáo dân tách xa ra khỏi những Lãnh đạo Tôn giáo chân chính, để gán cho những ai dám can đảm đòi Tự do Tôn giáo.
15) NẠN NHÂN BỊ TRỪ KHỬ CHÍNH LÀ NHỮNG NGƯỜI DÂN CỦA QUỐC GIA
Nghị Quyết 1481 nêu rõ rằng những nạn nhân bị trừ khử lại chính là những người dân của quốc gia sống dưới chế độ toàn trị của cộng sản. Quyết Nghị nói rằng những nạn nhân này nhiều nhất là ở Liên Xô.
Việt Nam: Riêng Việt Nam, chúng ta chứng nhận những cuộc trừ khử đẫm máu này trên chính Dân tộc Việt Nam để phục vụ hai điều nguỵ biện trên đây mà Hồ Chí Minh nhập cảng vào từ nước ngoài.
16) ĐÒI HỎI CUỘC ĐIỀU TRA QUỐC TẾ VỀ NHỮNG TỘI ÁC
Nghị Quyết 1481 đòi hỏi phải có một cuộc điều tra quốc tế về tất cả những tội ác đã qua trên đây vi phạm bởi các đảng cộng sản toàn trị.
Việt Nam: Chúng ta yêu cầu việc điều tra quốc tế về chính những tội ác xẩy ra tại Việt Nam không những đã qua, mà còn đang diễn ra dưới chế độ hiện hành.
17) ĐÒI HỎI XỬ ÁN NHỮNG TỘI ÁC
Nghị Quyết 1481 nêu ra trường hợp quốc tế xử án những tội ác dưới chế độ Đức Quốc Xã và yêu cầu việc xử án những tội phạm dưới các chế độ cộng sản toàn trị.
Việt Nam: Trường hợp Việt Nam, tội phạm như Hồ Chí Minh không những không bị xét xử mà đảng cộng sản còn muốn tôn vinh trong cộng đồng quốc tế. Dân tộc Việt Nam phải lật đổ những tên tội phạm thuộc chế độ toàn trị công sản này và phải xử tội chúng theo công lý của nhân loại và Dân tộc về những tội ác mà chúng đã làm. Chúng tôi nhớ lại một việc làm rất ý nghĩa của Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa tại Thụy sĩ. Khi Võ Nguyên Giáp được đám theo đóm ăn tàn mời qua Thụy sĩ, Hội Cựu Quân Nhân VNCH đã viết cho Chính quyền Thụy sĩ đòi phải xử những tội ác của Võ Nguyên Giáp, khiến việc viếng thăm của ông ta với Chính quyền tại đây không được báo chí chụp hình. Với Nghị Quyết này của Quốc Hội Aâu Châu, khi có nhân vật nào của đảng CSVN qua Aâu-châu, các Phong trào người Việt Hải ngoại có thế để yêu cầu Chính quyền địa phương phải hỏi những nhân vật ấy về tội ác mà họ đã làm đối với Dân tộc Việt Nam.
18) CẢNH GIÁC QUẦN CHÚNG VỀ NHỮNG TỘI ÁC
Quyết Nghị 1481 thẩm định rằng việc cảnh quần chúng về những tội ác này đã rất ít được thực hiện trong những nước đã thoát ra khỏi những chế độ cộng sản toàn trị. Đây là việc thiếu sót.
Việt Nam: Tại Việt Nam, dân chúng dù có được cảnh giác, nhưng chế độ cộng sản toàn trị vẫn nắm quyền và khủng bố dân chúng không được phát biểu ra.
19) MỘT SỐ ĐẢNG CỘNG SẢN VẪN HỢP PHÁP VÀ HOẠT ĐỘNG
Nghị Quyết 1481 muốn nói đến những quốc gia như Trung quốc, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba, cũng như một số đảng vẫn tồn tại ở những nước mà chế độ cộng sản đã sụp đổ. Ơû những nước mà chế độ cộng sản còn tồn tại, thì những tội ác vẫn tiếp tục mặc dầu dưới hình thức khác. Tại những nước đã thoát khỏi chế độ, một số đảng cộng sản vẫn hợp pháp và hoạt động, nhưng đã không lìa xa cho đủ những vết tích tội phạm.
Việt Nam: Dân tộc Việt Nam vẫn chưa thoát ra được cái chế độ cộng sản toàn trị với những tội ác vẫn còn được chủ trương dù dưới hình dạng uyển chuyển vì áp lực kinh tế quốc tế.
20) CẦN VIỆC CẢNH GIÁC LỊCH SỬ ĐỂ TRÁNH TỘI ÁC TƯƠNG LAI
Nghị Quyết nhấn mạnh rằng việc cảnh giác Lịch sử về những tội ác đã vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị là điều cần thiết để tránh những tội ác này hoặc tương tự như vậy trong tương lai.
Việt Nam: Đảng cộng sản cố tình bóp méo Lịch sử không những tại Quốc nội mà còn rêu rao trên bình diện Quốc tế để mong tiếp tục những tội ác. Nghị Quyết 1481 của Quốc Hội Aâu Châu chặn đứng những xuyên tạc bóp méo Lịch sử này hầu ngăn chặn những tội ác tương lai của cộng sản.
21) THẨM ĐỊNH VÀ KẾT ÁN TỘI ÁC ĐỂ GIÁO DỤC TUỔI TRẺ
Việc thẩm định những tội ác này là một đòi buộc luân lý. Việc kết án những tội ác là một đòi buộc công lý. Tất cả mang giá trị giáo dục cho những thế hệ tương lai.
Việt Nam: Tại Việt Nam, ngược lại, tuổi trẻ còn đang bị giáo dục, “nhồi sọ“ với những lý thuyết đã gây ra những tội ác vô nhân đạo, phi luân lý. Ngay cả trong Tôn giáo, tại các Chủng viện Công giáo chẳng hạn, những lý thuyết cộng sản toàn trị vẫn được giảng dậy, nhồi sọ. Các Lãnh đạo Tôn giáo có thể ngồi yên để cộng sản tiếp tục nhồi sọ tuổi trẻ về một lý thuyết đã gây những tôi ác ghê tởm hay không ?
22) NHỮNG NẠN NHÂN CỦA CÁC TỘI ÁC ĐƯỢC THỪA NHẬN VỚI TRÌU MẾN
Đây là việc thừa nhận và trìu mến của cộng đồng quốc tế đối với các nạn nhân của các chế độ cộng sản toàn trị.
Việt Nam: Trong khi ấy, đảng cộng sản Việt Nam và một số những kẻ theo đóm ăn tàn, muốn nhẩy bàn độc... lên tiếng bất xứng đối với khối người Việt Nam tỵ nạn, nạn nhân của chế động cộng sản toàn trị. Nhớ đến việc một tướng Kỳ cục nào đó đã phản bội đồng đội, đã không biết hãnh diện rằng mình nhất quyết từ bỏ những kẻ tội phạm để đi tìm tự do. Tướng Kỳ cục còn ca ngợi chính đảng cộng sản toàn trị mà cộng đồng quốc tế khẳng khái kết án.
23) QUỐC HỘI ÂU CHÂU KẾT ÁN TẤT CẢ NHỮNG VI PHẠM NHÂN QUYỀN CỦA MỘT SỐ ĐẢNG CỘNG SẢN HIỆN HÀNH
Nói đến một số đảng cộng sản còn tồn tại hoặc còn nắm quyền trên một số quốc gia, Quốc hội Aâu châu tái khẳng định việc kết án tất cả những vi phạm nhân quyền còn tái diễn trên các quốc gia ấy. Một số nước không cộng sản, không thể viện cớ những quyền lợi riêng quốc gia mà ngăn cản hoặc lờ đi việc thẩm định và kết án những tội ác của những chế độ cộng sản toàn trị hiện tại.
Việt Nam: Đối với người Việt Nam, chỉ những kẻ nào vì lợi lộc cá nhân, muốn theo đóm ăn tàn... mới không dám động chạm tới những tội ác của đảng công sản Việt Nam đang tiếp tục trên Quê Hương. Yù nghĩa nào cho việc Lãnh đạo Tôn giáo yên tiếng ?
24) KÊU GỌI THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG ÂU CHÂU KẾT ÁN CỘNG SẢN
Mặc dầu ở bình diện thành viên của Hội Đồng Aâu Châu, có những tranh luận kết án các tội ác cộng sản ở bình diện quốc gia, nhưng Hội Đồng kêu gọi họ hãy lên tiếng kết án chung trong khuôn khổ cộng đồng quốc tế. Việc kết án quốc tế này là một bổn phận luân lý không thể trì hoãn.
Việt Nam: Khi những người Quốc gia tỵ nạn lên tiếng kết án cộng sản Việt Nam, một số người, theo tuyên truyền của cộng sản hay vì tư lợi nhỏ nhen, đã gọi chúng ta là những người cực đoan. Nghị Quyết 1481 của Quốc Hội Aâu châu không phải là việc thẩm định cực đoan mà là một bổn phận luân lý cần phải lên tiếng.
25) LẬP TRƯỜNG CỦA CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ LÀ ĐIỂM QUY CHIẾU CHO CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN
Việc bảo vệ nhân quyền và quy tắc luật pháp mà Hội Đồng Aâu châu chủ trường đưa đến việc thẩm định và kết án những tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị. Những giá trị mà Hội đồng chủ trương phải là điểm quy chiếu nền tảng cho những quốc gia thành viên của Hội Đồng. Đây là lời kêu gọi để các quốc gia thành viên đứng thành một khối nhất quyết lên án những tội ác của cộng sản.
Việt Nam: Những giá trị về bảo vệ nhân quyền và về quy tắc luật pháp của Quốc Hội Aâu châu không những là tiếng kêu gọi các quốc gia thành viên mà còn là việc đòi buộc chế độ cộng sản toàn trị Việt Nam tuân theo nếu Việt Nam muốn một sự trợ lực về Kinh tế. Dân Việt đồng thanh với lời kêu gọi này để yêu cầu việc chấm dứt chế độ của đảng cộng sản toàn trị tại Việt Nam.
26) KÊU GỌI NHỮNG ĐẢNG CỘNG SẢN HOẶC HẬU CỘNG SẢN TRONG NHỮNG NƯỚC THÀNH VIÊN TRÁNH XA TỘI ÁC VÀ KẾT ÁN KHÔNG MƠ HỒ
Trong những nước thành viên của Hội Đồng Aâu Châu, còn sót lại những đảng cộng sản hay những đảng hậu cộng sản. Hội đồng kêu gọi họ tránh xa những tội ác quá khứ của chế độ công sản toàn trị và lên tiếng kết án chúng không chút mơ hồ.
Việt Nam: Cùng với lời kêu gọi của Hội Đồng Aâu châu, Nhân dân Aâu châu, người Việt Nam không những thẳng thắn lên tiếng mà còn phải nhất quyết đấu tranh đòi buộc đảng cộng sản Việt phải từ bỏ tội ác hiện hành. Chúng ta kết án những tội ác ấy mà không chút ngờ vực nào cả. Những ai còn lưỡng lự vì quyền lợi cá nhân, hãy đọc kỹ Nghị Quyết 1481 của Nghị viện Quốc Hội Aâu Châu gồm những nghị viên đã từng sống sát cạnh hoặc chính trong lòng những chế độ cộng sản toàn trị ấy. Họ hoặc gia đình họ đã từng là những nạn nhân của chế độ. Không chút mơ hồ ! Tiếng nói đầy xác tín này không cho phép người Việt Nam, đã trải qua trên 70 năm Lịch sử đầy tội ác ghê tởm của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam, có thái độ lưỡng lự dưới chiêu bài Hoà Giải Hòa Hợp chẳng hạn để những tội ác phản nhân quyền, phi luân lý ấy còn tiếp diễn mãi trên Quê Hương.
Tuần tự, chúng tôi sẽ khai triển những Đề tài (26 Đề tài) nêu ra trên đây. Chúng tôi cũng xin thú nhận rằng vì xa Quê Hương Việt Nam đã 41 năm nay, thiếu những kinh nghiệm sống trong lòng của chế độ cộng sản toàn trị trên Đất Nước, nên những khai triển của chúng tôi chắc chắn có những thiếu sót. Tỉ dụ những năm Cải Cách Điền Địa, chúng tôi còn nhỏ tuổi, nên không thể nhận định như những bậc lão thành đã tham dự chính những Tòa án Nhân dân giết người theo lệnh của đảng. Cũng vậy, Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi đã ở bên Thụy sĩ này, nên không thể chứng kiến cảnh ghê rợn giết người và chôn tập thể tại Huế. Về tội ác tại những trại Cải Tạo, làm thế nào chúng tôi có thể tả ra những tội ác ấy bằng chính những Vị đã từng phải đói khổ, hành hạ, lao động nô dịch...trong chính những trại mà những Vị ấy đã phải sống. Viết bằng đọc lại sách không thể nào sống động với toàn thân như những Vị đã từng phải trải qua những trại Cải Tạo phi nhân phẩm và phi luân lý. Những Thuyền nhân lao mình xuống biển làm mồi cho cá, cho tất cả mọi nguy hiểm sống chết. Những Thuyền nhân này cảm thấu hơn chúng tôi nhiều về sự sống chết bên cạnh khi nhất quyết từ bỏ Việt Nam đi tìm Tự do. Những thuyền nhân này cảm thấu hơn chúng tôi nhiều về những tội ác của cộng sản đã làm họ liều chết.Trong khi đó chúng tôi chỉ xem hình ảnh để tả lại, nên không thể sống động và cảm thấu những điều ác nhân của cộng sản được.
Cố gắng khai triển những đề tài trên đây, nhưng vì thiếu kinh nghiệm sống thực những cảnh tội ác, nên chúng tôi tha thiết mong mỏi những Vị đã từng sống trong lòng chế độ với những tội ác ấy từ chế độ, hãy lên tiếng để viết không trì hoãn và không mơ hồ hầu kêu gọi chấm dứt chế độ cộng sản toàn trị tại Việt Nam và kết án những tội ác ấy để thế hệ tuổi trẻ tương lai nhìn rõ mà ghê tởm và tránh cho Dân tộc Việt Nam những tội ác tương tự.
Tương lai HÒA GIẢI HÒA HỢP Dân tộc chỉ có thể đạt được khi mà chế độ cộng sản toàn trị đầy tội ác này chấm dứt, và nhân danh công lý, những tội ác ấy phải bị kết án minh bạch. Không thể có Hòa Giải Hòa Hợp trong tình trạng mập mờ. Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) viết để kết luận: “Nghị viện tin tưởng rằng quan điểm minh bạch này của cộng đồng quốc tế sẽ dọn đường cho sự hòa giải tương lai. Hơn nữa, hy vọng Nghị viện sẽ khuyến khích các sử gia khắp thế giới tiếp tục công cuộc khảo cứu của họ nhắm mục đích xác định và kiểm chứng khách quan về những gì đã xẩy ra.“