*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.441/01.04.10
=>So/No.440/25.03.10
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>So/No.439/18.03.10
=>So/No.438/11.03.10
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


===============================================================
VietTUDAN ------------------------------------------------------PHONG TRAO DAU TRANH
===============================================================


============== CHÚ THÍCH ĐẦU: LƯU TRỮ NHỮNG BÀI ================

Trong Phần Phổ Biến Mỗi Ngày hoặc trong mỗi số VietTUDAN hàng Tuần, có những Bài muốn giữ lại lâu hơn nữa trong DIỄN ĐÀN này, chúng tôi sẽ chuyển sang Phần Lưu Trữ Tổng Quát hoặc sang các Phần có những Chủ Đề dưới đây:
   
                      *   VietTUDAN -- chu de Ton Giao/ subject Religion :
                                                CONG SAN & TON GIAO   
                                                CSVN & TON GIAO                         
                                                NHUNG VU DAN AP  
                                                PHAP LENH TON GIAO                                              
                                                NGOM GIAO GIAN        
                      *   VietTUDAN -- chu de Kinh Te/ subject Economy                
                                                THAT BAI KINH TE CHI HUY   
                                                TUONG QUAN KT/CHINH TRI        
                                                DOC TAI & THAM NHUNG         
                                                KT. TU DO THI TRUONG     
                                                WTO & NGOAI THUONG   
                                                TU HUU & DAN CHU             
                                                CACH MANG VO SAN MOI     
                      *   VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics   
                                                SUP DO THE GIOI CS              
                                                KET AN CS TAN NHAN    
                                                HO CHI MINH & CSVN     
                                                HO SO TOI AC CSVN        
                                                CA NHAN & CHINH TRI           
                                                THE CHE TU DO/DAN CHU    
                                                DAN CHU PHAP TRI       
                      *   VietTUDAN -- luu tru/ archives    

                (Xin xem cuối trang để biết bài giữ lại được chuyển vào Phần nào)
 
===============================================================




                                          TÒAN CẢNH NỔI DẬY
                                                 ĐÒI CÔNG LÝ


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                    UNICODE: http://viettudan.net
                                            Geneva, 11.02.2009

 

 Ngày 06.01.2010, CSVN phạm thánh đối với Công Giáo, không phải chỉ đối với Đồng Chiêm, mà còn đối với Giáo Hội Công Giáo VN, đối với Giáo Hội Công Giáo Hòan vũ và đối với tất cả các Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Tin Lành, Chính Thống Giáo và Anh Giáo. Tất cả các Giáo Hội này lấy THÁNH GIÁ làm biểu tượng hữu hình cho ĐỨC TIN vào ơn cứu rỗi mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể nhận lấy tội trần gian trên Thánh Giá. Chính trên cây Thánh Giá, Philatô cho ghi INRI (Giêsu Nazaret, Vua Dân Do Thái), nhận Vương Quyền của Chúa Giêsu.

Từ ngày CSVN phá cây THÁNH GIÁ tại Đồng Chiêm cho đến nay, tôi không viết một bài bình luận nào, mà chi đăng tải những Thông Tin về việc phạm thánh này.

Tôi muốn nhìn Đồng Chiêm không như một vụ việc riêng lẻ, mà đặt nó trong TÒAN CẢNH chín mùi đổ vỡ của Cơ Chế CSVN hiện hành mà Lực Lượng Công Giáo VN giữ phần chủ động quan trọng. 

Chúng tôi xin đề cập những khía cạnh sau đây:

=>     Đối với Dân: Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN

=>     Đối với ngọai bang: Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế làm cớ cho xâm lăng Quân sự

=>     Hình thành và lớn mạnh của Lực Lượng Công Giáo VN với Tinh thần Đồng Chiêm
 

Đối với Dân:
Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị
đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN

Qua kỷ niệm sụp đổ của Bức tường Bá Linh năm 1989, chúng tôi có dịp ghi nhận những bài học cụ thể dẫn đến sụp đổ cả một đế quốc được coi như một bộ máy cai trị đàn áp khắt khe đối với Dân chúng.

Có nhiều bài học. Chúng tôi muốn nhắc lại trong đọan này bài học Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã buộc lòng Mikhail GORBATCHEV phải đưa ra chủ trương GLASNOST và PERESTROIKA. Thực ra, những tha hóa và giao động Xã hội bắt nguồn từ những bất công Kinh tế và từ đó hệ thống Chính trị lung lay và sụp đổ cho dù bộ máy đàn áp được tăng cường với chiêu bài ổn định Xã hội.

Hãy nhìn tình trạng Kinh tế, Xã hội và Chính trị thời năm 1985, khi Mikhail GORBATCHEV lên nắm quyền.

Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết về  tình trạng tại Nga năm 1985 là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.

Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.

Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các  cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.

Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.

Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.

Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)

Tình trạng thê thảm Kinh tế này càng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.

Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.

Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.

Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA

GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.

Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.

Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):

1)      Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.

2)      Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.

3)      Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.

4)      Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.

5)      Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.

Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.

PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu  xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.

Nền Kinh tế Việt Nam cũng như Trung quốc lúc này chỉ là nền Kinh tế của nhóm đảng Mafia cướp bóc, chứ không phải là Kinh tế của quần chúng.

Nhóm đảng Mafia đưa ra những con số hào nhóang che đậy những họat động kinh tế bất công, tham nhũng, hối lộ mà chính nhóm đảng Mafia ấy biết rõ và đang tìm cách cất giấu tiền bạc riêng của mình phòng khi Kinh tế sụp đổ và mất quyền Chính trị.

Chúng tôi đã viết nhiều về tình trạng kinh tế bóc lột của nhóm đảng Mafia này. Có người nghĩ rằng vì chúng tôi chống CSVN, nên viết những điều tiêu cực. Vì vậy, để nói về tình trạng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam, chúng tôi muốn mượn lời của chính một người của đảng CSVN, Luật sư TRẦN LÂM. Nhìn tình trạng ấy, Luật sư đã phải kết luận rằng sự thay đổi đã đến gần. Luật sư viết như sau:

“Khi mở cửa, khi đón đầu tư nước ngoài, ai cũng nghĩ rằng: ta sẽ học, ta sẽ làm, ta sẽ có tất cả như các nước, ta tiến bộ, ta thừa sức theo kịp thiên hạ…Lúc đầu ta bàn nhiều đến cái thiếu sót, cái thua thiệt, coi đó là học phí với sự an ủi thầm kín. Đến nay, cũng đã nhiều năm: hãng Sony ra đi, ta không thấy nói gì đến ngành điện tử, ta có bao nhiêu hãng ô tô mà nay không thấy cái gì gọi là ô tô Việt Nam…Hóa ra xét tiến bộ đầu tư nước ngoài lấy số tiền đầu tư để đánh giá, còn nền công nghiệp của ta là một việc khác. Kết quả: mất đất, mất môi trường, sức lao động bị bán rẻ. Trong khi ấy, đồng ruộng cần  máy móc nông nghiệp, phân bón; học sinh cần máy tính, người lớn cần điện thoại di động…thì tất cả của nước ngoài. 

Những cái cũ ta có: gạo, café, cao su, bao nhiêu năm nay không giải quyết được ổn thỏa việc thu mua, chế biến, tồn trữ cứ vẫn như xưa. Cái ta có ưu thế tuyệt đối thì cũng không ổn định.

Những cái có mới, không ít, có thể chia ra hai loại: loại làm ra vì mục đích chính trị, nhằm khoa trương, kèm theo câu “nhất Đông Nam Á” như đường Trường Sơn, đường dây 500KV, hay như điện nguyên tử đến nay chưa có số lượng nhân lực ban đầu…Có cái khác thì thấy ai có thì học theo như Hà Nội bên Sông Hồng và Hà Nội rộng gấp 4 lần…; Loại thứ hai là thiếu hiểu biết kỹ thuật, bỏ ngoài tai ý kiến của các nhà khoa học, tự cho “chính trị là thống soái”, rồi chống cả trời đất như việc quản lí đô thị: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội: nạn ngập lụt người ta cảnh báo bao nhiêu năm, đã thấm đòn ở thành phố Hồ Chí Minh, đến nay lại xảy ra ở khu Mỹ Đình, nơi đỉnh cao của kiến trúc đô thị Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà không đi từ nông nghiệp, không công nghiệp hoá nông nghiệp, quy hoạch đô thị thì “Treo”, không có luật nhập cư, công nghiệp hoá, xuất khẩu lao động thì bỏ rơi đào tạo nghề…các việc này người ta làm ở Châu âu từ thời kỳ Napoléon – Cái “Đảng  bao giờ cũng sáng suốt”, “Tập thể bao giờ cũng đúng” đi đâu mất rồi? Thế mà cứ bô bô “Năm này, năm kia ta sẽ hiện đại hóa, công nghiệp hóa!”

Còn một điều vô cùng nhức nhối: làm gì cũng nói sẽ vay vốn ODA, cứ vay rồi ai trả? Kinh tế thị trường mà không có vốn. Số nợ này là bao nhiêu? Ai biết?

Nếu chỉ có như trên thì đi một lẽ, nó lại có cái lẽ thứ hai, như rắn thêm chân :

Ở ta thì những người thân quen, con cháu người cầm quyền từ TW đến cấp tỉnh đều núp bóng cha anh để làm ăn. Dân chỉ rõ công ty này là của ai? Công ty kia là của ai? Rồi những người có quyền chức ủng hộ cái này,diệt cái kia vì hối lộ…nền sản xuất bị chết từ trong trứng.

Chưa hết, hiện nay Trung Quốc thâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam, thâm nhập bằng cả quyền lực chính trị. Nếu như họ lại có trong tay các nhóm lợi ích hay là các nhóm lợi ích hai bên kết hợp với nhau thì có lẽ nền kinh tế Việt Nam đi đứt.

Việc phân tách kinh tế Việt Nam với các mô thức, chỉ số, công thức xin dành cho các kinh tế gia, chưa chắc các kinh tế gia đã làm được vì lẽ tình hình bị che dấu.

Thiếu nhìn xa trông rộng, không có quy hoạch, thiếu kiến thức, thiếu óc phân tích, không có các biện pháp phù hợp là một phía. Phía khác là nạn tham nhũng tràn lan, cùng với ý thức có quyền hành thì cứ làm, rồi che dấu, xuyên tạc, có thể là nguyên nhân của các nguyên nhân.“ 
 

Đối với ngọai bang:
Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế
làm cớ cho xâm lăng Quân sự

Tòan cảnh nổi dậy tại Quốc nội: Dân đòi CÔNG BẰNG Kinh tế để phát triển Đất Nước bền vững và lâu dài.

Nhìn kỹ về những cuộc nổi dậy trước đây ở Đông Aâu từ 1953 đến 1989/91, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.

Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc.  Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh  cho thấy điều đó. Erich Konecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.

Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.

Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.

=>     Đòi NỢ Việt Nam

Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.

Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.

=>     Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam

Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam.  Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.

=>     Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam

Chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.

Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy. 
 

Hình thành và lớn mạnh
của Lực Lượng Công Giáo VN
với Tinh thần Đồng Chiêm

Khi mà tình trạng Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã chín mùi cần phải thay đổi, thì một là do chính giới Lãnh đạo Nước hiện hành tự ý thức hay là do một Lực Lượng nhân dân nổi dậy buộc giới Lãnh đạo Chính trị phải thay đổi. Tại Việt Nam, đảng CSVN, lãnh đạo Chính trị và Kinh tế quốc gia, một mặt thì như bất lực trong việc quyết định thay đổi, một mặt thì tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi cho tốt hơn.

=>     Bất lực trong việc quyết định thay đổi

Những lý do đưa đến bất lực quyết định thay đổi như sau:

*        Cố thủ giữ lấy quyền hành mặc dầu ý thức tình trạng tụt dốc Kinh tế, bất công Xã hội và bếp bênh Chính trị;

*        Cậy nhờ vào Trung quốc để che chở Chính trị và bây giờ quyền lực che chở của Trung cộng trở thành quá lớn đến chỗ Trung cộng nắm quyền cho phép thay đổi hay không. Những Cố vấn Trung cộng trở thành những người đặt để quyền hành lãnh đạo Việt Nam.

*        Các lãnh đạo Chính trị đã đi quá sâu vào vơ vét Kinh tế cho chính mình hay cho họ hàng, thân nhân, nên nếu thay đổi thì lo sợ mất những tài sản riêng đã cướp bóc, ăn hối lộ, tham nhũng mà có.    

=>     Tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi

Trong tình trạng Kinh tế bóc lột, bất công Xã hội và độc tài Chính trị mà Lãnh đạo Nhà nước bất lực không thay đổi như vừa nói trên đây, thì dân phải lên tiếng bầy tỏ thiện ý thay đổi. Phản ứng của lãnh đạo Nhà Nước là tăng cường đàn áp dưới chiêu bài “ổn định xã hội“, “đòan kết dân tộc“, “chống lại công quyền“, “mưu mô lật đổ nhà nước“, “tay sai thế lực thù địch ngọai lai“.

Lực Lượng Công giáo đã hình thành và lớn mạnh song hành với những tăng cường đàn áp của nhà nước CSVN. Có thể nói rằng mỗi lần CSVN tăng đàn áp là mỗi lần Lực Lượng Công giáo được tăng cường về hiệp thông và ý chí.

An Truyền, với Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ, đã thắp lên ngọn lửa phản kháng đòi CÔNG LÝ.  Ngọn lửa ấy lan ra sâu rộng trong giới Công giáo Hải ngọai.

Ngày nay, Lực Lượng Công giáo Quốc nội đã lớn mạnh qua những vụ đàn áp tại Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý. Chính những xuyên tạc của Báo Đài CSVN đã quảng cáo và làm tầm ảnh hưởng của Lực Lượng Công giáo càng lan rộng. Có thể nói rằng Lực Lượng Công giáo đã đứng lên tòan diện tại các Giáo phận Miền Bắc Việt Nam.

Điều quan trọng ở đây là những vụ Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý không còn mang tính cách riêng lẻ nữa mà đã đứng chung lại thành một khối mang những đặc tính chung sau đây:

*        Sự can đảm không ngại sợ đàn áp ở mọi nơi giống nhau

*        Sự hiệp thông hỗ trợ trở thành tự động và tức khắc khi có một nơi nào bị đàn áp

*        Tính cách THƯỜNG XUYÊN phản kháng của cả một khối người

*        Thông tin tại Quốc nội đến mọi nơi rất nhanh chóng nhờ dòng Chúa Cứu Thế

Với những đặc tính trên đây, khối Công giáo Quốc nội đã trở thành một LỰC LƯỢNG thực sự với đòan ngũ chặt chẽ, được điều hành bởi các Linh mục và các Nữ tu sống cùng Giáo dân tại hiện trường.

Chúng tôi nhấn mạnh đến tính các THƯỜNG XUYÊN đấu tranh. Mỗi Nhà Thờ, không phải chỉ là nơi cầu nguyện, mà là nơi gặp gỡ, trao đổi thông tin, góp thêm ý kiến và nung nấu ý chí. Về điểm này, các Nhà Thờ nên áp dụng bài học Tôn giáo từ Bức tường Bá Linh qua hai Nhà Thờ đã đóng góp hữu hiệu về sự sụp đổ của Bức tường Cộng sản này.

Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS.  Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.

Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.

Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.

Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.

Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.

=>     Đồng Chiêm: CSVN vấp phạm ngu xuẩn làm Dân không còn sợ chết

Tại Tòa Khâm sứ, tại Xứ Thái Hà, CSVN có thể lấy ra vấn đề Đất đai để hạ thấp ý tưởng đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Tại Tam Tòa, CSVN cũng nại ra vấn đề di tích Chiến tranh. Nhưng tại Đồng Chiêm, không có vấn đề đất đai hay di tích chiến tranh mà CSVN đã bạo hành đánh đập Giáo dân, nhất là đàn bà.

 Tại Đồng Chiêm, CSVN đã phạm một sai lầm rất lớn, đó là động chạm đến THÁNH GIÁ, biểu tượng hữu hình của ĐỨC TIN THIÊN CHÚA GIÁO. Thực vậy, trung tâm điểm của Đức Tin Thiên Chúa Giáo là cây Thánh Giá.

Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể và đã chịu chết trên cây THÁNH GIÁ để cứu Nhân lọai. Đó là trung tâm của Đức Tin vào sự Cứu Rỗi mà mọi người theo Thiên Chúa Giáo nhìn vào đó để hành đạo. Thập tự giá thời Đế quốc La Mã là một hình phạt cho những người bị kết án tử hình. Chúa Giêsu đã biến thập tự giá hình phạt mà ai cũng sợ hãi thời La Mã thành cây THÁNH GIÁ biểu tượng tình Thương yêu cứu rỗi Nhân Lọai. Cây THÁNH GIÁ được kính trọng bởi mọi Tín đồ Thiên Chúa Giáo: Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành cũng như Anh Giáo.

Ngòai việc cây THÁNH GIÁ biểu tượng hữu hình cho Đức Tin, cây THÁNH GIÁ còn là phương tiện mà Chúa Giêsu thiết lập Vương quyền. Năm 1925, Đức Giáo Hòang PIO XI đã tuyên bố LỄ CHÚA GIÊSU VUA, Vương quyền trên THÁNH GIÁ. Thánh Bộ Phụng Tự đã trích Phúc Aâm Thánh Gioan (Jn 18, 33-37), theo đó Vương quyền của Ngài được tuyên xưng trong mùa Phục Sinh và kết thúc trên cây THÁNH GIÁ. Philato đã cho viết tấm bảng INRI (Giêsu Nazaret, Vua dân Do Thái) đóng trên cây THÁNH GIÁ.

Phạm đến cây THÁNH GIÁ là phạm vào sự thánh, vào ĐỨC TIN GIÁO DÂN, vào VƯƠNG QUYỀN CHÚA GIÊSU. Ngay thời Vua, Chúa cấm đạo, các Vua, Chúa cũng đã hiểu ý nghĩa phạm sự thánh này. Các Vua Chúa chỉ yêu cầu Tín hữu bước qua cây THÁNH GIÁ, là được tha chết. Giáo dân biết rằng bước qua cây THÁNH GIÁ là chối bỏ ĐỨC TIN.

Tại Dồng Chiêm, CSVN đập phá cây THÁNH GIÁ, tức là mạ lỵ chính ĐỨC TIN người Thiên Chúa Giáo. Biến cố Đồng Chiêm càng làm tăng LỰC LƯỢNG đấu tranh của khối Công Giáo đến chỗ không còn sợ tra tấn đánh đập, thậm chí không sợ chết để theo gương các Thánh Tử Đạo trong quá khứ.

CSVN leo thang những đàn áp, tăng những kết án tù tội và đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm một cách mù quáng. Đây chỉ là phản ứng của những kẻ sợ sệt trước viễn tượng nổi dậy tòan diện của Dân để chấm dứt một CƠ CHẾ đầy BẤT CÔNG đã đến lúc chín mùi phải chấm dứt. Việc đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm chứng tỏ sự sợ hãi đến mù quáng trước Lực Lượng càng ngày càng lớn mạnh của Công Giáo.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 11.02.2010



                                TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH


                                           PHONG TRÀO TỰ-DÂN

                      22 Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland.
                  Tel. : 0041 22 731 82 66. E-Mail : viettudan@yahoo.com

 
TỰ-DÂN, thành lập từ 1964, gồm những thành phần Thanh niên, Sinh viên, Học sinh đấu tranh cho nền TỰ DO, DÂN CHỦ tại Miền Nam Việt Nam, chống lại chủ nghĩa độc tài Cộng sản Miền Bắc.
 
Sau 1975, những thành viên TỰ-DÂN di tản ra nước ngòai đã hợp lại với nhau , cùng giữ vững lập trường đấu tranh cũ, dưới danh xưng Việt TỰ-DÂN.
 
Kể từ năm 2001, Việt TỰ-DÂN đã tích cực tái nhập cuộc đấu tranh ở Hải ngọai nhằm hỗ trợ cho Lực Lượng đấu tranh chính yếu đang nổi dậy tại Quốc nội.
 
Nhận thấy các Phong trào đấu tranh tại Hải ngọai cần có chung một tiếng nói, đi chung một đường lối mới tạo được sức mạnh triệt để, giúp cho cuộc nổi dậy tại Quốc nội sớm thành công, PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 đã đứng ra kêu gọi và chính thức mời Việt TỰ-DÂN tham gia cuộc họp mở rộng của Phong Trào Hiến Chương 2000, ngày 28-29.11.2009 tại Toronto, Canada, nhằm vạch ra những phương thức hành động cụ thể, nhân dịp kỷ niệm 9 năm ra mắt Phong Trào.
 
Sau khi tham khảo nội bộ, Việt TỰ-DÂN nhận lời tham dự và long trọng tuyên bố cùng hợp tác đấu tranh song song với Phong Trào Hiến Chương 2000, như sau :

1) Mục đích chung tối hậu của việc hợp tác là hỗ trợ Lực Lượng nổi dậy tại Quốc nội nhằm dứt bỏ Cơ Chế Cộng sản Việt Nam hiện hành để Dân tộc cùng chung bảo vệ Tổ Quốc, chống ngọai xâm và phát triển Kinh tế trong Công lý và Hòa Bình.

2) Những lãnh vực đấu tranh cụ thể  như  sau:

a. Hỗ trợ các Lực lượng Dân Oan vàTôn giáo đang bị Cơ chế CSVN tham nhũng cướp bóc đất đai, nhà cửa một cách bất chính. Hỗ trợ khối Công nhân bị bóc lột dã man sức lao động, hiện đang bị triệt để khai thác hay bán đứng cho nước ngòai mà không được họp thành Nghiệp đòan để bảo vệ quyền lợi của mình.

b. Đối với những phần Lãnh thổ và Lãnh hải của Tổ Quốc đã bị CSVN dâng cúng cho Trung Cộng để được che chở mà bám lấy quyền hành Chính trị độc tài của họ, chúng ta cùng hợp tác một lòng với tòan dân, đấu tranh để dành lại và bảo tòan Đất, Biển của Tổ Quốc.

c. Chống lại việc để cho hàng hóa của Trung Cộng tràn sang Việt Nam, và chống lại việc để cho Trung Cộng khai thác tài nguyên của Đất Nước. Với hai sự kiện trên, CSVN đang tiếp tay cho Trung Cộng làm cuộc xâm lăng Kinh tế trên Tổ Quốc Việt Nam.
 
Trên căn bản độc lập về phương diện tổ chức, Việt TỰ-DÂN công khai khẳng định cùng hợp tác đấu tranh với PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000, ở mục đích tối hậu và ở những lãnh vực cụ thể nêu ra trên đây.


                    Làm tại GENEVA, Thụy sĩ, ngày 28 tháng 11 năm 2009
                                           Đại diện Việt TỰ-DÂN

                                     Ký tên: NGUYỄN PHÚC LIÊN



                                  ĐÃ ĐẾN LÚC ÁP DỤNG HAI BÀI HỌC
                                    BỨC TƯỜNG BÁ LINH CHO CSVN


                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                              Geneva, 10.12.2009


Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.

Chúng tôi thấy hai Bài học sau đây rất đúng cho Việt Nam ở thời điểm này:

=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO

Thái độ tích cực yểm trợ của Giáo Hòang Gioan-Phalô II cho CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tại Ba Lan được coi là yếu tố tiên phong gián tiếp cho tranh đấu đánh sập Bức tường Bá Linh. Hai Nhà Thờ tại Đông Bá Linh là nơi quy tụ cầu nguyện đấu tranh trực tiếp cho sụp đổ Bức tường năm 1989.

Tại Việt Nam lúc này, cao trào đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH đã đứng lên mạnh tại Hà Nội (Tòa Khâm sứ và Xứ Thái Hà), tại Vinh (Tam Tòa). CSVN đang sợ hãi sự lớn mạnh này.

=> Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI

Tình trạng Kinh tế tồi tệ đưa đến Tha hóa Xã hội tại Nga vào những năm 1985 khi GORBATCHEV lên nắm quyền đã đến lúc chín mùi, là một định mệnh cho sụp đổ của Chế độ Cộng sản. Tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA của GORBATCHEV như cải cách mong níu lại hình thức một chế độ đã đưa đến hậu quả Kinh tế tồi tệ và Xã hội tha hóa cực điểm cũng không thể tránh được sụp đổ đến như một định mệnh. Nga không còn đủ sức can thiệp vào những nổi dậy của các nước Đông Aâu nữa và đây là chìa khóa cho sụp đổ Bức tường Bá Linh cũng như các nước Đông Aâu chỉ trong vòng hơn một năm.

Tại Việt Nam, trong thời điểm này, Luật sư TRẦN LÂM, , nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”  Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam  giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.


Bài học 1:
BÀI HỌC TÔN GIÁO
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 12.11.2009

Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.

Cuộc đấu tranh của
Công đòan ĐÒAN KẾT Ba-Lan


Hai khách mời quan trọng hơn cả trong Lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Bá Linh là GORBATCHEV và WALESA, luôn luôn cùng đi bên cạnh với Bà MERKEL. Oâng Lech WALESA được coi là tiên phong đóng góp làm sụp đổ chế độ Cộng sản. Chính vì vậy cuộc Lễ Kỷ Niệm đã dành cho Oâng vinh dự đẩy Domino đầu tiên làm sụp đổ Bức tường tượng trưng bằng 1'000 chiếc Dominos. Oâng và Công đòan ĐÒAN KẾT mang một Đức Tin Công giáo vững mạnh luôn được cổ võ công khai bởi chính Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang thẳng thắn khuyên mọi người:“Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 đã bình luận:“Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh). Ngày 22.01.2002, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, qua 26 Giám Mục Việt Nam trước mặt Ngài tại Vatican, đã gửi cũng những lời cổ võ “đừng sợ hãi nữa“, “hãy can đảm đứng lên tiến ra khơi“ đến tất cả các Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và tòan Giáo dân Việt Nam. Đây là lời cổ võ chính đáng cho sự thiện.  Nếu lúc này, vì những mưu mô xảo quyệt trao đổi ngọai giao trần thế của CSVN, mà Đức Giáo Hòang đương kim hay một Hồng Y nào ở Vatican tìm cách làm nhụt chí đấu tranh của Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và Giáo dân Việt Nam, thì đó là việc làm giảm Đức Tin Tôn Giáo và đánh lạc hướng Lương tâm của Tín hữu, nếu không muốn kết luận rằng đây là việc chủ mưu tòng phạm với quân Pharisiêu CSVN nhằm tiếp tục gây tội ác không những cho Giáo dân VN nói riêng mà còn cả cho Dân tộc VN nói chung.

Tinh thần Tôn Giáo nơi GORBATCHEV

Trong thời gian học Đại học Luật tại Mạc Tư Khoa, Gorbatchev luôn luôn chơi thân với một người bạn đến học từ Prague, tên là MLYNAR, cùng học Luật. Vợ của người bạn này là bạn gái cùng phòng với RAISSA. Chính vì mối quan hệ này mà RAISSA trở thành vợ của GORBATCHEV. Khi học xong tại Mạc Tư Khoa, MLYNAR trở về Prague và vào được Bộ Chính trị. Nhưng sau này Oâng theo Phong trào Mùa Xuân Prague và bị mất chức. MLYNAR đã viết về tinh thần Tôn giáo (Chính thống giáo) của Gia đình Gorbatchev. Oâng nội và cha của Gorbatchev âm thầm sùng đạo, mặc dầu cũng là những người theo STALINE. Thời Staline rất khắt khe và nguy hiểm về Tôn giáo. Nhưng theo tiết lộ của Gorbatchev cho bạn của mình, thì Gia đình đã dấu Hình Đức Mẹ ở đàng sau hình của Staline để lén lút cầu nguyện. Tinh thần Tôn giáo của Gia đình đã ảnh hưởng lên tinh thần của Gorbatchev. (Tài liệu: MIKHAIL S.GORBATCHEV by David Kings, Xuất bản Time Incorporated N.York 1988).

Hai Nhà Thờ tại Bá Linh:
Nơi tụ họp thường xuyên đấu tranh

Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS.  Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.

Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.

Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.

Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.

Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.

Tại Việt Nam ngày nay, chúng ta nghĩ đến những cuộc tụ họp cầu nguyện tại Khuôn viên Tòa Khâm sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa. Những Tín hữu đến cầu nguyện bị đe dọa, bị thâu hình, bị đàn áp bằng võ lực thực sự của Công an. Nhưng Tín hữu đã không sợ hãi, kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Phong trào Hiệp Thông cầu nguyện mỗi ngày mỗi lan rộng. Đây là những cuộc tụ họp đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH rất chính đáng. Hồng Y Quốc Vụ Khanh từ Vatican đã một lần can thiệp và bị quân Pharisiêu CSVN phản bội. Đây là một việc can thiệp lỗi lầm. Quân Pharisiêu CSVN còn đang muốn gian giảo tìm cách trao đổi ngọai giao trần thế với Vatican để nhằm phá đổ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM cho sự thiện của Công giáo Việt Nam. Vatican không thể để mình bị lừa gạt nữa.


Bài học 2:
TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ
ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 19.11.2009

Khi nói lý do KINH TẾ là ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản Nga, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:

* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.

* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.

Tình trạng Kinh tế tồi tàn của Nga
Khi GORBATCHEV lên nắm quyền

Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết bài học này là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.

Gorbatchev sinh ngày 02 tháng 3 năm 1931 tại làng nhỏ Privolnoie thuộc vùng Stavropol, một vùng nông nghiệp phía Nam Liên xô. Học hành thời nhỏ không có gì xuất sắc, nhưng nhờ tận tâm họat động trong đòan Thanh niên Cộng sản, nên ông được khen thưởng và được giới thiệu lên Mạc Tư Khoa học Đại học. Oâng muốn học ngành Kỷ thuật Vật lý, nhưng vì yếu môn Tóan, nên buộc phải được chỉ định học Đại học Luật. Đây là Đại học ít Sinh viên nhất vì Luật pháp dưới thời Staline không có ý nghĩa gì. Xong Đại học Luật, Oâng trở về tỉnh và trở thành Bí thư đảng của tỉnh. Sau 20 năm chỉ ở tỉnh đồng quê canh nông này, tên ông được lưu ý đến và được gọi về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Việc thăng tiến tới chức vụ lớn nhất trong đảng Cộng sản Nga cũng không phải là do công lao của ông, mà chỉ là sự run rủi ngẫu nhiên của thời thế mà chính ông không chủ động. Thực vậy, thuộc Tỉnh ông, có những suối nước nóng, nơi mà các Lãnh tụ già yếu, mang phong thấp đau mình nhức xương của đảng đến vùng đó tắm chữa bệnh. Từ đó, những Lãnh tụ già yếu này biết đến tên ông và sau này nhớ lại sự chăm sóc chữa bệnh của ông mà gọi ông về Mạc Tư Khoa.

Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.

Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các  cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.

Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.

Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.

Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)

Tình trạng thê thảm Kinh tế này cảng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.

Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.

Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.


Tuyên bố Cải Cách của GORBATCHEV

Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA

GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.

Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.

Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):

1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.

2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.

3)  Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.

4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.

5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.

Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.

PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu  xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 10.12.2009




                                               HỢP SỨC ĐẤU TRANH:
                         DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN & CHỐNG TẦU XÂM LĂNG


                               Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                           UNICODE: http://viettudan.net
                                                  Geneva, 03.12.2009


Lực lượng Quốc nội đang đứng lên. Hải ngọai hợp sức hỗ trợ cho Lực lượng Quốc nội. Cuộc đấu tranh của Quốc nội và sự hỗ trợ từ Hải ngọai nhằm dứt bỏ Cơ Chế CSVN tham nhũng để phát triển Đất Nước và chống lại việc xâm lăng của Trung quốc từ việc họ chiếm Đất, Biển của Tổ Tiên đến việc ho cho tràn lan hàng hóa giết chết Kinh tế của Quê Hương.

Nhìn vấn đề đấu tranh hiện nay như vậy, ngày 26.10.2009, chúng tôi đã đề nghị một QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH để cùng thảo luận; và ngày 28.11.2009, chúng tôi, nhân danh Phong trào Việt TỰ-DÂN, ra bản TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH, nhân cuộc Họp Kỷ Niệm 9 năm PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 tổ chức tại Toronto, Canada. 


MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH

Tham Luận cho cuộc họp mở rộng ngày 28-29/11/2009
 của Phong Trào Hiến Chương 2000:
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 26.10.2009
 
Bài này đi từ nhận định tình hình xã hội tại VN dưới quyền cai trị của độc đảng CSVN để đi tới dự phóng một quan điểm đấu tranh.


Nhận định Tình hình
 
Từ khi đảng CSVN đặt ách thống trị trên tòan lãnh thổ Việt Nam 1975, tình hình đấu tranh đã chuyển biến rất nhiều từ những năm đầu sánh với ngày naỵ
 
Cho đến ngày sụp đổ
của Đế quốc Cộng sản Nga và Đông Âu
 
Cuộc đấu tranh đặt nặng ở phía người Việt Hải ngọai, trong khi ấy tại Quốc nội, Dân chúng sống trong sợ sệt dưới quyền cai trị hòan tòan khắt khe và đàn áp của đảng CSVN. Cuộc đấu tranh của người Việt Hải ngọai đặt chính yếu vào giải pháp quân sự nhằm giải phóng Quê Hương. Có những xâm nhập từ ngòai vào, nhưng dân chúng Việt Nam vẫn đang bàng hòang về cuộc chiến mới đây, nhất là đang sống dưới cùm kẹp khát máu của CSVN, nên những xâm nhập này không đủ sức dấy động một cuộc nổi dậy của quần chúng.
 
Giai đọan CSVN
buộc lòng phải mở cửa và "đổi mới"
 
Khi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, đảng và Nhà Nước CSVN hòan tòan ở trong thế bí về ngân sách vì không còn sự giúp đỡ của Nga và Đông Aâu nữạ Dân chúng đã phải ăn bo bo trước đây, bây giờ rơi vào tình trạng đói ăn thực sư.. Biết rằng phá hàng rào tre khép kín Chế độ là nguy hiểm, nhưng đảng và Nhà Nước CSVN bắt buộc phải mở cửa chơi với phía Thế giới Tự do vì bí miếng ăn. Người ngọai quốc và Việt kiều có thể vào Việt Nam và giao tiếp với dân chúng quốc nộị Qua những giao tiếp này, người quốc nội biết đến ý chí đấu tranh của khối người Việt tỵ nạn. Cũng trong thời kỳ này, việc đấu tranh, vẫn chính yếu từ Hải ngọai, nhưng chuyển hướng sang đấu tranh cho ý thức Chính trị, Nhân quyền, hơn là giải pháp quân sự như thời gian trước đâỵ
 
Cuộc đấu tranh của Lm.NGUYỄN VĂN LÝ:
một ngọn lửa công khai đốt lên
 
Những giao tiếp với nước ngòai và với Việt kiều cho dân quốc nội biết đến ý chí đấu tranh tại Hải ngọai, nhưng giới biết tin vẫn còn dè dặt chưa lên tiếng. Chính trong tình hình dè dặt này mà cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ được coi là tiên phong thắp lên NGỌN LỬA đấu tranh . Cuộc đấu tranh của Linh mục tuy bị đàn áp, nhưng việc làm này đã mang lại hiệu quả tác động tâm lý, nói lên ý nghĩa phải can đảm đứng lên từ quốc nội thì mới hy vọng thay đổi được Cơ Chế đàn áp của CSVN. Điều quan trọng ở đây là phải đặt tầm quyết định ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI tự giải phóng mình. Ý chí đấu tranh giải phóng Quê Hương của Hải ngọai trở thành ý chí HỖ TRỢ cho Quốc Nộị
 
Tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường
để sửa sọan vào WTO hội nhập với Thế giới
 
Cách đây 7 năm, đảng và Nhà Nước CSVN đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Họ thêm cái đuôi "định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa". Thực ra, một là để chữa thẹn, hai là một cái vỏ bọc cho một CƠ CHẾ vẫn giữ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Với Cơ Chế này việc tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường là tréo cẳng ngỗng.
 
Nhờ sự giúp đỡ của Hoa kỳ, Việt Nam đã vào được WTỌ Khi giúp đỡ như vậy, TT.BUSH đồng thời cũng mong mỏi một Tiến Trình Dân Chủ hóa Việt Nam.
 
Cuộc đấu tranh tại Quốc nội cũng như Hải ngọai khởi sắc lên như trông đợi ở áp lực của Hoa kỳ và Tây phương. Tại Quốc nội một Phong trào gọi là những Nhà Dân chủ đã công khai ra mặt. Tại Hải ngọai, một số nhóm Chính trị, nào thành lập những Chính phủ lưu vong, nào là hé cho thấy chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp. Họ có lẽ hy vọng vào áp lực của Hoa kỳ để được về Việt Nam cùng với CSVN thực hiện Tiến Trình Dân Chủ Hóạ
 
Nếu có hứa với TT.BUSH để được ra khỏi danh sách Những Nước Bị Quan Tâm Đặc Biệt vì vi phạm Tự do Tôn giáo, rồi vào WTO, vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, thì ngày nay CSVN đã phản bội lại lời hứa Tiến Trình Dân chủ hóạ
 
Sa lầy với Trung Cộng và
việc đứng lên mạnh mẽ tại Quốc nội
 
"Đi với Mỹ thì mất đảng; Đi với Tầu thì mất nước", đó là câu mà dân Hà Nội thường nói với nhaụ CSVN không muốn mất đảng, thà là mất nước. Đảng và Nhà Nước CSVN ngày nay đã hòan tòan chọn lựa đi với Trung Cộng để mất nước. CSVN đã thẳng tay đàn áp các Phong trào Dân Chủ, đàn áp tất cả những ai động chạm đến cuộc xâm lăng Lãnh Thổ, Lãnh Hải và Kinh tế của Trung Cô.ng.
 
Chính những cuộc đàn áp không chính đáng này đã tạo lên làn sóng phản kháng từ mọi giới tại Việt Nam:
 
1)  Dân Oan mất Nhà, Đất đã công khai kéo về Sài Gòn và Hà Nộị Cuộc đàn áp mà không giải quyết cho có Công lý càng làm tăng thên uất ức sẵn sàng bùng nổ nơi Dân Oan.
 
2)  Công nhân đã làm những cuộc đình công. Ngày nay hậu quả của Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới và việc nhân công Trung quốc ồ ạt vào VN càng làm công nhân VN thất nghiệp. Nguồn phản kháng này mỗi ngày một nhen nhúm, đe dọa nổ lớn.
 
3)  Những vụ Tòa Khâm sứ Hà Nội, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý làm hàng Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân Công giáo đòan kết quyết tâm đấu tranh cho CÔNG LÝ.
 
4)  Việc Trung Cộng cấm đóan Ngư dân miền Trung đánh cá trong vùng Biển VN, rồi đánh đập, cướp bóc Ngư dân lánh nạn bão số 9 vừa qua đang tạo phẫn nộ từ dân chúng đối với Nhà Nước CSVN hèn yếụ
 
5)  Vụ Bôxít Tây Nguyên đã dấy động lên phong trào phản đối công khai của giới Trí thức và ngay cả phía quân độị
 
6)  Từ vụ Bôxit đến hàng hóa Trung quốc tràn ngập Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi tòan dân cứu nguy Đất Nước, không xài hàng Trung quốc.
 
7)  Trước nạn xâm lăng Kinh tế của Trung quốc, giới chuyên gia Kinh tế VN đã công khai lên tiếng phản đối và kêu gọi cứu nguy Đất Nước. Vietnamnet ngày 15.06.2009 đã viết: "Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, "quét" sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các doanh nghiệp VN đang "thua trắng bụng". Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc."
 
8)  Theo lệnh của Trung quốc, qua Tùy viên Thương mại Hồ Tỏa Cẩm, Nguyễn Tấn Dũng ra Quyết Định 97 ngày 24.07.2009 cấm đóan giới Trí thức phản biện đụng chạm đến Tầụ Tổ chức IDS tự giải tán vì lý do Quyết Định bịt miệng nàỵ
 
9)  Một cuộc Thảo Luận công khai được tổ chức ngày 22.09.2009 gồm những Giáo sư Đại học về Kinh tế đã nói lên tính cách tréo cẳng ngỗng của mô hình Kinh tế Tự do Thị trường "định hướng XHCN", nghĩa là một CƠ CHẾ vẫn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Giáo sư Tiến sĩ TRẦN NGỌC HIÊN phát biểu: "Sự phát triển của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính tri.. Về mặt chính trị, sự phát triển kinh tế thị trường trở thành bước ngoặc kết thúc các chế độ chuyên chế và hình thành chế độ dân chủ. "Không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến. Không thể coi là đã có nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn phổ biến". Câu nói cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự phải dẫn đến DÂN CHỦ.
 
Tình hình qua 9 điểm kể ra trên đây cho thấy rằng Quốc Nội đang đứng lên dắu tranh, từ giới đại đa số là Dân nghèo, đến giới Trí thức và Lực lượng các Tôn giáọ Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Quốc nội mỗi ngày mỗi tăng. Đảng và Nhà Nước CSVN càng đàn áp bao nhiêu, thì càng đi vào chỗ bí vì dựa vào lý do bất chính và càng làm cho dân chúng phẫn nộ vì biết rõ đây là hành động cả vú lấp miệng em mà thôị
 

Một Quan Điểm Đấu Tranh để tham luận
 
Trong khí thế đấu tranh đang lên mạnh của tòan dân gồm mọi giới, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một quan điểm đấu tranh gồm những điểm sau đây:
 
1)  Mục đích tối hậu đi tới của đấu tranh: 
 DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
 
Mục đích này hòan tòan mang tính cách Kinh tế. Chúng ta nhằm vào việc phát triển Kinh tế Đất Nước. Nhân danh việc phát triển này, chúng ta không thể để việc độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cái CƠ CHẾ chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là nguồn gốc những tham nhũng, hối lộ, bất công. Không thể phát triển Kinh tế chỉ cho một nhóm ngườị Thực vậy, chính CƠ CHẾ này đang tạo Kinh tế Mafia: nhóm người tham nhũng hối lộ giầu nứt khố và dân lam lũ làm ăn nghèo kiết xác.
 
Chúng ta lấy lý do dấu tranh là Kinh tế, đó là xây dựng và không phải là phạm điều 88 mà CSVN cố ngụy biện gán cho những ai không đồng ý với những cướp bóc của ho..
 
Chính sự phát triển Kinh tế Tự do này đặt nền tảng để những tác nhân Kinh tế (mọi người) thiết lập ra nguyên tắc DÂN CHỦ trước hết để giải quyết những tranh chấp quyền lợi, sau đó cùng nhau chấp nhận hệ thống Pháp Luật cho cuộc sống chung đụng xã hội cho CÔNG BẰNG.
 
DÂN CHỦ là nguyên tắc hệ quả của việc phát triển Kinh tế Tự dọ Nhắc hai chữ Dân chủ, CSVN ngụy biện nói chúng ta phạm điều 88. Chúng ta chỉ nói Phát triển Kinh tế Tự dọ
 
2)  Những điểm cụ thể đấu tranh
 
Chúng ta phải đấu tranh với một Nhà Nước độc tài và ngụy biện, xử dụng vũ lực và nhà tù để đàn áp. Vì vậy, trước khi đấu tranh, chúng ta phải nghĩ đến chống đỡ cho điểm mình đấu tranh. Chúng tôi nêu ra những điểm đấu tranh sau đây:
 
a.  Đấu tranh đòi CÔNG LÝ
 
Khi đòi CÔNG LÝ, chúng ta được sự ủng hộ của khối Dân Oan và Lực lượng các Tôn giáọ Dân Oan và Tôn giáo đang đòi Công lý.
 
b.  Đấu tranh bênh vực nghề nghiệp cho Công nhân và Ngư dân
 
Công nhân mỗi ngày mỗi mất việc vì nhân công Trung quốc tràn vàọ Ngư dân mất nơi đánh cá do Tầu chiếm Biển và Hải đảọ
 
c.  Đấu tranh chống khai thác Bôxit Tây Nguyên và việc Tầu xâm lăng Hòang/Trường Sa
 
Đây là việc dấy động giới Trẻ Sinh viên Học sinh và giới Trí thức, cũng như nhiều giới khác, nghĩ đến Tiền đồ Đất Nước.
 
d.  Đấu tranh chống xâm lăng Kinh tế Trung quốc
 
Hàng Trung quốc, nhất là hàng độc, lan tràn Việt Nam và giết Kinh tế Việt Nam. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Mỗi Dự án hàm ngụ việc xuất cảng thiết bị và công nhân Tầu sang Việt Nam. Mỗi Dự án là việc nhận nợ mà Thế hệ tương lai phải oằn lưng trả nơ.. Dây là khía cạnh dấy động tòan dân, đặc biệt giới doanh nhân.
 
e. Triệt để chống Tham nhũng, Lãng phí
 
Đây không phải là cá nhân, mà chính là CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng vi trùng Tham nhũng, Lãng phí ăn ruỗng đời sống Kinh tế của tòan dân. Chống Tham nhũng, Lãng phí là chống chính cái CƠ CHẾ hiện hành vậỵ CSVN không thể nói việc chống tham nhũng là phạm điều 88.
 
f.  Đấu tranh cho Tự do phản biện xây dựng Kinh tế
 
Nếu CSVN ngụy biện cấm phản biện đối với khía cạnh Chính trị, thì chúng ta tối thiểu đòi Tự do phản biện để XÂY DỰNG KINH TẾ, phát triển Đất nước.
 
Chúng tôi ao ước rằng những điểm ĐỀ NGHỊ ĐẤU TRANH trên đây trở thành PHONG TRÀO, nghĩa là các Nhóm đấu tranh CÙNG NHAU nói lên MỘT tiếng nói cho ma.nh.
 

TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH

PHONG TRÀO TỰ-DÂN
22 Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland.
Tel. : 0041 22 731 82 66. E-Mail : viettudan@yahoo.com

 
TỰ-DÂN, thành lập từ 1964, gồm những thành phần Thanh niên, Sinh viên, Học sinh đấu tranh cho nền TỰ DO, DÂN CHỦ tại Miền Nam Việt Nam, chống lại chủ nghĩa độc tài Cộng sản Miền Bắc.
 
Sau 1975, những thành viên TỰ-DÂN di tản ra nước ngòai đã hợp lại với nhau , cùng giữ vững lập trường đấu tranh cũ, dưới danh xưng Việt TỰ-DÂN.
 
Kể từ năm 2001, Việt TỰ-DÂN đã tích cực tái nhập cuộc đấu tranh ở Hải ngọai nhằm hỗ trợ cho Lực Lượng đấu tranh chính yếu đang nổi dậy tại Quốc nội.
 
Nhận thấy các Phong trào đấu tranh tại Hải ngọai cần có chung một tiếng nói, đi chung một đường lối mới tạo được sức mạnh triệt để, giúp cho cuộc nổi dậy tại Quốc nội sớm thành công, PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 đã đứng ra kêu gọi và chính thức mời Việt TỰ-DÂN tham gia cuộc họp mở rộng của Phong Trào Hiến Chương 2000, ngày 28-29.11.2009 tại Toronto, Canada, nhằm vạch ra những phương thức hành động cụ thể, nhân dịp kỷ niệm 9 năm ra mắt Phong Trào.
 
Sau khi tham khảo nội bộ, Việt TỰ-DÂN nhận lời tham dự và long trọng tuyên bố cùng hợp tác đấu tranh song song với Phong Trào Hiến Chương 2000, như sau :

1) Mục đích chung tối hậu của việc hợp tác là hỗ trợ Lực Lượng nổi dậy tại Quốc nội nhằm dứt bỏ Cơ Chế Cộng sản Việt Nam hiện hành để Dân tộc cùng chung bảo vệ Tổ Quốc, chống ngọai xâm và phát triển Kinh tế trong Công lý và Hòa Bình.

2) Những lãnh vực đấu tranh cụ thể  như  sau:

a. Hỗ trợ các Lực lượng Dân Oan vàTôn giáo đang bị Cơ chế CSVN tham nhũng cướp bóc đất đai, nhà cửa một cách bất chính. Hỗ trợ khối Công nhân bị bóc lột dã man sức lao động, hiện đang bị triệt để khai thác hay bán đứng cho nước ngòai mà không được họp thành Nghiệp đòan để bảo vệ quyền lợi của mình.

b. Đối với những phần Lãnh thổ và Lãnh hải của Tổ Quốc đã bị CSVN dâng cúng cho Trung Cộng để được che chở mà bám lấy quyền hành Chính trị độc tài của họ, chúng ta cùng hợp tác một lòng với tòan dân, đấu tranh để dành lại và bảo tòan Đất, Biển của Tổ Quốc.

c. Chống lại việc để cho hàng hóa của Trung Cộng tràn sang Việt Nam, và chống lại việc để cho Trung Cộng khai thác tài nguyên của Đất Nước. Với hai sự kiện trên, CSVN đang tiếp tay cho Trung Cộng làm cuộc xâm lăng Kinh tế trên Tổ Quốc Việt Nam.
 
Trên căn bản độc lập về phương diện tổ chức, Việt TỰ-DÂN công khai khẳng định cùng hợp tác đấu tranh với PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000, ở mục đích tối hậu và ở những lãnh vực cụ thể nêu ra trên đây.

Làm tại GENEVA, Thụy sĩ, ngày 28 tháng 11 năm 2009

Đại diện Việt TỰ-DÂN
Ký tên
NGUYỄN PHÚC LIÊN



Khi Đất Nước lâm nguy trước cảnh xâm lăng hiện nay do CSVN rước giặc vào Nhà, phải có một Hội Nghị DIÊN HỒNG để đồng tâm cứu nước. Nếu chưa có được một Hội Nghị DIÊN HỒNG của tòan dân, thì chúng ta hãy bắt đầu bằng hai, bằng ba... người tìm gặp đến nhau để cấu kết khởi sự ở những lãnh vực đấu tranh cụ thể nhất để tiến lên.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế





                         KỶ NIỆM 20 NĂM ĐÁNH SẬP BỨC TƯỜNG BÁ LINH:

                                         Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO 


                              Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                 Geneva, 12.11.2009



Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.

=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
=> Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN
=> Bài học 3: NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH KIÊN CƯỜNG TẠI ĐÔNG ÂU
=> Bài học 4: TẠI SAO CHƯA THÀNH CÔNG TẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC ?

Chúng tôi lần lượt viết về 4 Bài học trên đây, bắt đầu bằng Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO.

Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.

Cuộc đấu tranh của
Công đòan ĐÒAN KẾT Ba-Lan

Hai khách mời quan trọng hơn cả trong Lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Bá Linh là GORBATCHEV và WALESA, luôn luôn cùng đi bên cạnh với Bà MERKEL. Oâng Lech WALESA được coi là tiên phong đóng góp làm sụp đổ chế độ Cộng sản. Chính vì vậy cuộc Lễ Kỷ Niệm đã dành cho Oâng vinh dự đẩy Domino đầu tiên làm sụp đổ Bức tường tượng trưng bằng 1'000 chiếc Dominos. Oâng và Công đòan ĐÒAN KẾT mang một Đức Tin Công giáo vững mạnh luôn được cổ võ công khai bởi chính Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang thẳng thắn khuyên mọi người:“Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 đã bình luận:“Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh). Ngày 22.01.2002, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, qua 26 Giám Mục Việt Nam trước mặt Ngài tại Vatican, đã gửi cũng những lời cổ võ “đừng sợ hãi nữa“, “hãy can đảm đứng lên tiến ra khơi“ đến tất cả các Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và tòan Giáo dân Việt Nam. Đây là lời cổ võ chính đáng cho sự thiện.  Nếu lúc này, vì những mưu mô xảo quyệt trao đổi ngọai giao trần thế của CSVN, mà Đức Giáo Hòang đương kim hay một Hồng Y nào ở Vatican tìm cách làm nhụt chí đấu tranh của Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và Giáo dân Việt Nam, thì đó là việc làm giảm Đức Tin Tôn Giáo và đánh lạc hướng Lương tâm của Tín hữu, nếu không muốn kết luận rằng đây là việc chủ mưu tòng phạm với quân Pharisiêu CSVN nhằm tiếp tục gây tội ác không những cho Giáo dân VN nói riêng mà còn cả cho Dân tộc VN nói chung.

Tinh thần Tôn Giáo nơi GORBATCHEV

Trong thời gian học Đại học Luật tại Mạc Tư Khoa, Gorbatchev luôn luôn chơi thân với một người bạn đến học từ Prague, tên là MLYNAR, cùng học Luật. Vợ của người bạn này là bạn gái cùng phòng với RAISSA. Chính vì mối quan hệ này mà RAISSA trở thành vợ của GORBATCHEV. Khi học xong tại Mạc Tư Khoa, MLYNAR trở về Prague và vào được Bộ Chính trị. Nhưng sau này Oâng theo Phong trào Mùa Xuân Prague và bị mất chức. MLYNAR đã viết về tinh thần Tôn giáo (Chính thống giáo) của Gia đình Gorbatchev. Oâng nội và cha của Gorbatchev âm thầm sùng đạo, mặc dầu cũng là những người theo STALINE. Thời Staline rất khắt khe và nguy hiểm về Tôn giáo. Nhưng theo tiết lộ của Gorbatchev cho bạn của mình, thì Gia đình đã dấu Hình Đức Mẹ ở đàng sau hình của Staline để lén lút cầu nguyện. Tinh thần Tôn giáo của Gia đình đã ảnh hưởng lên tinh thần của Gorbatchev. (Tài liệu: MIKHAIL S.GORBATCHEV by David Kings, Xuất bản Time Incorporated N.York 1988).

Hai Nhà Thờ tại Bá Linh:
Nơi tụ họp thường xuyên đấu tranh

Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS.  Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.

Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.

Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.

Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.

Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.

Tại Việt Nam ngày nay, chúng ta nghĩ đến những cuộc tụ họp cầu nguyện tại Khuôn viên Tòa Khâm sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa. Những Tín hữu đến cầu nguyện bị đe dọa, bị thâu hình, bị đàn áp bằng võ lực thực sự của Công an. Nhưng Tín hữu đã không sợ hãi, kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Phong trào Hiệp Thông cầu nguyện mỗi ngày mỗi lan rộng. Đây là những cuộc tụ họp đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH rất chính đáng. Hồng Y Quốc Vụ Khanh từ Vatican đã một lần can thiệp và bị quân Pharisiêu CSVN phản bội. Đây là một việc can thiệp lỗi lầm. Quân Pharisiêu CSVN còn đang muốn gian giảo tìm cách trao đổi ngọai giao trần thế với Vatican để nhằm phá đổ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM cho sự thiện của Công giáo Việt Nam. Vatican không thể để mình bị lừa gạt nữa.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 









                        KỶ NIỆM 20 NĂM ĐÁNH SẬP BỨC TƯỜNG BÁ LINH:

                                                        Bài học 2:
                             KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN


                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                  Geneva, 19.11.2009


Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.

=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
=> Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN
=> Bài học 3: NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH KIÊN CƯỜNG TẠI ĐÔNG ÂU
=> Bài học 4: TẠI SAO CHƯA THÀNH CÔNG TẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC?

Chúng tôi đã viết Bài học 1 về TÔN GIÁO. Hôm nay là Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN.

Khi nói lý do KINH TẾ là ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản Nga, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:

* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.

* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.


Tình trạng Kinh tế tồi tàn của Nga
Khi GORBATCHEV lên nắm quyền

Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết bài học này là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.

Gorbatchev sinh ngày 02 tháng 3 năm 1931 tại làng nhỏ Privolnoie thuộc vùng Stavropol, một vùng nông nghiệp phía Nam Liên xô. Học hành thời nhỏ không có gì xuất sắc, nhưng nhờ tận tâm họat động trong đòan Thanh niên Cộng sản, nên ông được khen thưởng và được giới thiệu lên Mạc Tư Khoa học Đại học. Oâng muốn học ngành Kỷ thuật Vật lý, nhưng vì yếu môn Tóan, nên buộc phải được chỉ định học Đại học Luật. Đây là Đại học ít Sinh viên nhất vì Luật pháp dưới thời Staline không có ý nghĩa gì. Xong Đại học Luật, Oâng trở về tỉnh và trở thành Bí thư đảng của tỉnh. Sau 20 năm chỉ ở tỉnh đồng quê canh nông này, tên ông được lưu ý đến và được gọi về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Việc thăng tiến tới chức vụ lớn nhất trong đảng Cộng sản Nga cũng không phải là do công lao của ông, mà chỉ là sự run rủi ngẫu nhiên của thời thế mà chính ông không chủ động. Thực vậy, thuộc Tỉnh ông, có những suối nước nóng, nơi mà các Lãnh tụ già yếu, mang phong thấp đau mình nhức xương của đảng đến vùng đó tắm chữa bệnh. Từ đó, những Lãnh tụ già yếu này biết đến tên ông và sau này nhớ lại sự chăm sóc chữa bệnh của ông mà gọi ông về Mạc Tư Khoa.

Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.

Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các  cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.

Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.

Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.

Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)

Tình trạng thê thảm Kinh tế này cảng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.

Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.

Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.


Tuyên bố Cải Cách của GORBATCHEV

Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA

GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.

Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.

Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):

1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.

2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.

3)  Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.

4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.

5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.

Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.

PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu  xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


 


********************************* MẶT TRẬN DIỆT TRỪ ************************************ 
                                               THAM NHŨNG
                                               VÀ LÃNG PHÍ

************************************************************************************************




                                         DIỆT THAM NHŨNG LÀ
                               DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH


                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                      Web: http://VietTUDAN.net
                                           Geneva, 24.09.2009


Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản.

Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG.

Trung Quốc:
không thể kinh doanh mà không hối lộ
Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009

Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.

“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.

“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”,
ông kể.

Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,

Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.

Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.

Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng.

Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.

Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.

Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.

Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng.
Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông.

A. L.
BVN dịch


Việt Nam:
Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam
Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn,

Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358.

Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào?

Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa.

Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy.

Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ.

Thân mến,
PGS TS Vũ Triều Minh,
Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia


Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.09.2009

Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.

Tham nhũng Lãng phí là
thói tật trong mọi xã hội

Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.

Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.

Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.

Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.

Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.

Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.

CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa
Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế

Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.

Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính. 

Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.

Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại.  Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.

Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị  được ĐỘC QUYỀN Kinh tế  tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.

CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.

Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ
giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế

Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.

Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.

Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.

Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.

Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’

Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
Geneva, 24.09.2009



KINH DOANH QUYỀN CHỨC
TRONG CƠ CHẾ CSVN



"Kinh doanh" quyền chức - Một hiện tượng đáng lo ngại
Mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.

LTS: Chuyện "chạy chức chạy quyền" xảy ra lâu nay ở một số nơi đã khiến không ít nhà lãnh đạo cũng như người dân quan tâm, lo lắng, thậm chí trở thành đề tài chất vấn tại Diễn đàn Quốc hội. Đây là một hiện tượng không phổ biến song rất đáng lo ngại và cần được đấu tranh loại trừ.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều bày tỏ góc nhìn riêng về hiện tượng này.

Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi.

Không phải ngẫu nhiên mà dân gian xì xào với nhau, "kinh doanh" quyền chức là thứ kinh doanh mau lãi nhất.

Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn đề gây đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn đề này.

Ai cũng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.

Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.

Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...

Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?

Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?

Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...

Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.

Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.

Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.

Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.

Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.

Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.

Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.

Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.

Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?



VIỆT NAM:
KINH DOANH QUYỀN CHỨC LÃI NHẤT

http://danluan. org/node/ 3773
 


Bài viết này được đăng trên Tuần Việt Nam, nhưng sau đó đã bị gỡ xuống...

Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam.
 
Không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức... Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi.
 
Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.

Ai cùng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.

Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.

Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...

Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?

Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?

Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...

Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.

Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.

Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.

Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.

Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.

Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.

Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.

Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.

Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?

Theo TVNN




CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH:
MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
UNICODE: http://viettudan.net
Geneva, 17.12.2009


Chúng tôi luôn luôn viết rằng diệt THAM NHŨNG không phải là đi tìm diệt cá nhân, nhưng là lọai trừ những hòan cảnh để cái mầm tham nhũng sẵn có ở trong mỗi người có cơ hội phát triển. Chúng tôi ví tham nhũng là một trứng trùng nằm sẵn trong mỗi người. Ở trong hòan cảnh không thuận lợi thì trứng không nở ra và lớn lên. Nhưng khi gặp hòan cảnh thuận tiện, thì nó nở thành trùng và lớn lên. Vì vậy, diệt THAM NHŨNG là lọai bỏ cái môi trường thuận lợi để trứng sinh ra trùng và lớn lên được.

Hiện nay, ai cũng than phiền rằng THAM NHŨNG nhan nhản, nghĩa là trứng trùng tham nhũng đã nở thành con và lớn lên, sinh thêm con cái từng đàn nhung nhúc. Chính vì vậy mà Nguyễn Tấn Dũng mới hô hào diệt tham nhũng. Cách diệt tham nhũng là đi bắt từng con trùng trong khi ấy để yên lành cái hòan cảnh, cái khỏang đất tốt để trùng ẩn tránh, để trứng tham nhũng vẫn sinh ra thêm trùng và lớn lên.

Tham nhũng đầy đàn

Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”

Phóng viên Hải Châu, ngày thứ Tư 16.12.2009, đã tả những nguy hiểm của người tố cáo tham nhũng như những trường hợp sau đây:

=> Người tố cáo tham nhũng thường phải chấp nhận cuộc đối đầu không cân sức với kẻ tham nhũng và các thế lực chìm, nổi - nhận định của Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng Lê Mạnh Luân.

=> “Tôi là người trực tiếp tố cáo vụ việc tiêu cực nhưng thấy quá đơn độc". Đó là lời bộc bạch của ông Lê Phước Cẩm (xã Quế Trung, huyện Quế Sơn, Quảng Nam) tại hội nghị biểu dương 29 cá nhân ở các ngành, địa phương trong cả nước có thành tích phòng chống tham nhũng do Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng tổ chức ngày 15/12 tại Đà Nẵng.

=> Ông Cẩm kể, từ khi ông lên tiếng tố cáo vụ phá rừng Khe Diên, không đêm nào ông ngủ yên. "Trùm phá rừng Sáu Ngọc và bọn tiêu cực, tham nhũng dọa giết tôi cùng người thân, trong khi gia đình tôi nghèo, vợ đau cột sống, con bị chất độc da cam nằm một chỗ. Tôi được biết từ ngày 14/12, vụ án được xét xử sơ thẩm lại lần 2. Tôi mong muốn tòa án làm rõ ai cho chủ trương, ai phá rừng, ai tiếp tay, tại sao chính quyền biết mà vẫn làm ngơ”.

=> Theo ông Lê Mạnh Luân, Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo, thực tế cho thấy, người tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có vị thế xã hội cao, quan hệ xã hội rộng rãi, có tiềm lực vật chất và có nhiều thủ đoạn từ né tránh, đánh chìm sự việc đến tổ chức lực lượng chống trả tinh vi, quyết liệt và các thủ đoạn chạy tội, chạy án. Đặc biệt, hình thức trả thù của những kẻ tham nhũng cũng rất tinh vi, không phải chỉ trước mắt mà còn lâu dài.

Không thể diệt Tham nhũng
bằng bắt từng con trùng

Khi trứng trùng Tham nhũng gặp đất tốt nở thành con và lớn lên sinh thêm con cháu đầy đàn, thì việc chống tham nhũng không còn là việc đi bới tìm từng con trùng nữa. Người đi bới trùng có thể bị đàn trùng quá đông xúm vào cắn chết. Ngay tại các Phòng chống Tham nhũng, những người điều hành có thể chính là những con trùng tham nhũng rồi. Ai dám tin tưởng mà hợp tác với họ để tìm trùng tham nhũng.

Đám trùng tham nhũng đông nhung nhúc ! Làm thế nào bắt từng con được.

Vị Giáo sư người Nhật đã tả rất đúng khi so sánh Cơ chế CSVN là một cái bộ máy gồm bánh xe lớn, bánh xe nhỏ, đinh ốc lớn, đinh ốc nhỏ chằng chịt. Bánh xe, Đinh ốc lớn nhỏ đều phải có dầu nhớt, thì Bộ máy mới có thể chạy được. Chúng tôi thì ví cái Cơ chế CSVN này là một cái vườn phì nhiêu làm điều kiện cho trứng trùng tham nhũng nở thành con, lớn lên và sinh con cháu đầy đàn. Có thể ví cái Cơ chế CSVN như một đống phân để trứng ruồi mới có thể nở thành giòi, thành ruồi... rồi đẻ trứng thêm.

Diệt tham nhũng ở đây không còn là đi sửa từng bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ của cái máy, cũng không không phải là đi bắt từng con trùng ở cái vườn quá tốt cho chúng sinh thêm, cũng không phải là đi nhặt ra giết từng con giòi của đống phân.

Diệt Tham nhũng là thiêu hủy cả cái Máy,
là đốt cái Vườn làm cơ hội sinh đầy trùng,
là hốt đống Phân là chỗ sinh đầy giòi

Cái Cơ chế CSVN đã tạo một vùng đất tốt để làm hòan cảnh sinh nở ra đầy tràn trùng tham nhũng. Không thể bắt từng con, không thể chỉ đi tìm những cá nhân tham nhũng, mà phải phá hủy cái vùng đất làm hòan cảnh cho cá nhân trở thành trùng tham nhũng. Không có cách nào hơn.

Một Thánh nhân, dù có tu luyện diệt dục lâu năm, mà chưa trở thành họan quan, thì cái mầm dục vẫn nằm trong bụng vị Thánh nhân ấy. Nếu nhốt chung Thánh nhân trong một phòng tối tăm với một mỹ nữ khỏa thân, thì cái mầm dục có thể được hòan cảnh mà lớn lên đến lúc Thánh nhân cầm không được. Một cá nhân để ngồi cạnh đống vàng. Cá nhân đó lại có tòan quyền dộc tài bịt miệng mọi người, thì cá nhân ấy có hòan cảnh nhặt những thỏi vàng bỏ vào túi mình làm của riêng.

Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Máy mà những bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ đều cần dầu nhớt hàng ngày để khỏi bị cháy. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Khu Vườn tốt đã làm hòan cảnh sinh đầy trùng tham nhũng. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là bãi Phân mà giòi tham nhũng đang lúc nhúc đục khóet.

Đúng vậy, Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành  chủ trương cho ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm trọn ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Đó là định nghĩa đích thực của Cơ Chế. ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ cho phép người tham nhũng bịt miệng, nhốt tù tất cả những ai dám đi chỉ điểm những con trùng tham nhũng sinh ra từ Cơ Chế. ĐỘC QUYỀN KINH KẾ là cho phép những người nắm độc tài Chính trị giữ đống Vàng của Quốc gia.

Nắm giữ hai quyền như vậy, thì làm thế nào không có tham nhũng phát sinh được. Nhặt đi từng tên tham nhũng mà Cơ Chế hiện hành vẫn nằm đó, thì trứng trùng tham nhũng vẫn nở thành con, rồi sinh ra từng đàn tham nhũng nữa.

Phải tận diệt cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành đã tạo điều kiện phát sinh tham nhũng từ trên xuống dưới lúc này và nếu CƠ CHẾ vẫn tồn tại thì Kinh tế Việt Nam sẽ khó lòng phát triển vì bầy trùng tham nhũng vẫn tiếp tục nẩy sinh để gậm nhấm ruỗng nền Kinh tế. 
Đây không phải là đòi hỏi Chính trị mà là đòi hỏi cho phát triển Kinh tế Việt Nam.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế









NHẬP SIÊU TĂNG DÙ NGÂN SÁCH THIẾU HỤT,
QUYẾT ĐỊNH DỰ ÁN DÙVỠ NỢ NGUY NGẬP

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
UNICODE: http://viettudan.net
Geneva, 17.12.2009


Bài ngắn gọn này đi liền với bài CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH: MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP mà chúng tôi đăng lại liền dưới đây.

Trong khi cán cân thương mại mất cân bằng, ngân sách thiếu hụt trầm trọng mà những Tổng Công ty Nhà Nước cứ tăng ào ào nhập siêu. Cũng vậy, thẩm định Quốc tế xếp Việt Nam vào nước có nguy cơ vỡ nợ lớn, thế mà những Dự án Công nghệ và Xây cất cứ được quyết định liên tục và dễ dàng.

Giới Chuyên gia Kinh tế tại Việt Nam đồng thanh lên tiếng rằng 75% dân chúng sống về nông nghiệp, ngư nghiệp lại không được vốn đầu tư của Nhà Nước để ý tới. Nhà Nước giữ quyền chính yếu xuất cảng gạo mà không lưu ý đầu tư để nông dân mất mát khỏang 30% những thu họach mùa màng. Đồng thời những Tổng Công ty vật tư Nông Nghiệp lại giữ “quotas” quan trọng và nhập cảng phân đạm. Nhà Nước cũng không dự trù những Ngân khỏan để hỗ trợ giá cả nông sản khiến nông dân dễ bị ém giá gạo mỗi khi được mùa. Tệ hơn nữa, người ta còn thấy tại các tỉnh, đất đai trồng cấy của nông dân còn bị trưng dụng để làm khu chế xuất cho ngọai quốc thuê hay làm những sân golf, khu giải trí ăn chơi phục vụ khách nước ngòai.

Lý do nào làm động lực cho những tình trạng vừa kể ra trên đây ?

Lý do chính yếu để cắt nghĩa là những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước chỉ lưu ý đến những sinh họat Kinh tế mà họ có thể làm THAM NHŨNG dễ dàng và mau chóng được. Thực vậy:

=> Đối với ngành Nông nghiệp và Ngư nghiệp, những người giữ quyền của Nhà Nước khó lòng ăn tham nhũng đối với nông dân và ngư dân, nên những Dự án đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp ít được để ý tới. Trừ trường hợp nhập cảng phân đạm, thì những Tổng Công ty Nhà Nước dành giữ lấy quotas để mua với giá cao và được những Công ty bán phân đạm nước ngòai trích ra một phần trên giá cao ấy thưởng công cho người mua. Chính tôi còn giữ hồ sơ về tham nhũng của Tổng giám đốc Khánh của Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp tại Hà Nội khi ông ăn cánh với Công ty SINGA UNIVERSAL Singapore để tăng giá mua phân đạm Urea N.46%.

=> Khi mua hàng từ nước ngòai, thì đây là dịp có thể tham nhũng. Chính vì vậy dù Việt Nam thiếu Ngân sách, mất cân bằng trầm trọng về cán cân mậu dịch, mà nhập siêu vẫn tăng đều đều. Phải có nhập siêu, thì mới có dịp tham nhũng. Tôi thường nhắc lại câu nói của Phạm Văn Đồng:”Những gì nước khác không làm được, thì nước ta làm được”. Về Kinh tế tại các nước khác, người bán muốn bán giá cao và người mua nài nỉ giá thấp. Nhưng đối với Việt Nam, người mua làm ngược lại, đó là người mua lại muốn mua giá cao.

=> Tại Việt Nam, những Dự án từ trung ương đến các tỉnh được đưa ra ào ào. Có những người chỉ biết số vốn tiếng Anh, cũng có thể làm nghề viết Dự án kiếm ăn được. Trong thời gian làm Đại diện cho một Tập đòan Tài chánh Hoa kỳ, trụ sở tại Zurich, tôi đã nhận được không biết bao nhiêu Dự án. Có cả Dự án nuôi đà điểu tại Đồng bằng Sông Cửu Long để lấy thịt. Người viết Dự án có lẽ tưởng đà điểu giống như con vịt, nên cho nó xuống đồng bằng sông Cửu Long để lội nước hoặc lội bùn lầy. Có Dự án nuôi hươu lấy sừng tại Nghệ An. Có Dự án nuôi Kangourou do một Kiều bào ở Uùc mách nước cho tỉnh Bình Tuy. Phải có Dự án và dùng sự quen thân trong đảng để quyết định. Không có Dự án, thì làm thế nào ăn bẩn được. Một lần, tôi đã nói với Tiến sĩ Phùng Khắc Kế, hồi ấy là Giám đốc Tín dụng tại Ngân Hàng Nhà Nước, rằng nếu Ngân Hàng Nhà Nước cứ làm tái Bảo Lãnh cho các Ngân Hàng khác, thì Ngân Hàng Nhà Nước sẽ vỡ nợ. Oâng nói:”Người Chủ Dự án đến chỉ thẳng vào mặt tôi và nói rằng ông ta đã là đồng đội đánh trận sống chế cùng với bố của tôi”. Nhà Nước biết sẽ có cắt xén tham nhũng, nhưng Nhà Nước chấp nhận Dự án để thưởng công bằng tham nhũng. Tham nhũng trở thành một chủ trương của Nhà Nước CSVN.

=> Ngày nay, những Dự án lại được dâng cho Trung Cộng. Trung Cộng chủ trương mua những Dự án để xuất cảng thiết bị cũ, vật liêu xây dựng và nhân công của họ sang Việt Nam cũng như các nước khác, nhất là những nước Phi châu. Họ cho đồng tiền hối lộ đi trước để mua Dự án.

Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành, với độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế, là một Cơ Chế cho phép THAM NHŨNG. Những đảng viên lấy vốn của Nhà Nước gọi là để làm Kinh tế, nhưng trước tiên là nghĩ kế cắt xén vốn đó cho túi riêng của mình . Không thể phát triển Kinh tế thực sự với Cơ chế này được.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 17.12.2009


“Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” (Khẳng định từ một Giáo sư người Nhật)




                                           DIỆT THAM NHŨNG LÀ

                                DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH 
 

                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                      Web: http://VietTUDAN.net
                                             Geneva, 24.09.2009 

  

Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản. 

Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG. 

  
Trung Quốc:
không thể kinh doanh mà không hối lộ

Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009 

Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn. 

“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ. 

“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể. 

Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc, 

Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc. 

Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện. 

Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng. 

Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó. 

Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm. 

Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng. 

Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng. 

Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông. 

A. L.
BVN dịch 

 

Việt Nam:
Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam

Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn, 

Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358. 

Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào? 

Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa. 

Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy. 

Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ. 

Thân mến,
PGS TS Vũ Triều Minh,
Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia 

  


Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.09.2009 

Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN. 

  
Tham nhũng Lãng phí là
thói tật trong mọi xã hội 

Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay. 

Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh. 

Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. 

Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi. 

Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ. 

Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người. 

CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa
Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế 

Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này. 

Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.  

Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy. 

Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại.  Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng. 

Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị  được ĐỘC QUYỀN Kinh tế  tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG. 

CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy. 

  
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ
giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế 

Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy. 

Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng. 

Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn. 

Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này. 

Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’ 

Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí. 

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
Geneva, 22.09.2009 



CÒN VŨ KHÍ NÀO HẠN CHẾ THAM NHŨNG ?
Bạn đọc góp ý: Còn vũ khí nào để hạn chế tham nhũng?


Bất chấp những “nỗ lực” của Nhà nước, trong vài chục năm trở lại đây, tham nhũng tại Việt Nam vẫn được xem là nghiêm trọng hàng đầu trên thế giới – một thực trạng đáng coi là nhục nhã ở một quốc gia đang hướng tới xã hội chủ nghĩa, xem “cán bộ là công bộc của nhân dân” như nước ta.

Căn cứ vào mô hình chính trị của đất nước và kinh nghiệm tổ chức của các quốc gia khác trên thế giới, tôi nghĩ rằng nhân dân Việt Nam có thể tạo ra một cú đột phá lớn giúp cán bộ công chức chúng ta thanh liêm hơn nếu áp dụng một số quan điểm tổ chức và hành động sau đây:

1. Thành lập Cơ quan điều tra hành chính trực thuộc cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

“Khách hàng” của cơ quan này sẽ là các cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể có hưởng lương/sử dụng ngân sách Nhà nước và cán bộ viên chức của những cơ quan đó.

Thực tế thì hiện nay chúng ta cũng có cơ quan giám sát cán bộ công chức là Thanh tra Nhà nước và cơ quan Công an.

Tuy nhiên, Thanh tra chỉ là đơn vị giám sát nội bộ của cơ quan hành chính và họ chỉ chịu sức ép quản lý nội bộ từ chính cơ quan hành chính. Mức độ hành động của họ ra sao hầu như vượt ngoài tầm kiểm soát của dân chúng cũng như các cơ quan dân cử.

Tương tự như vậy, cơ quan công an cũng là một tổ chức trực thuộc cơ quan hành chính.

Trong khi đó, quyền sử dụng vốn ngân sách hiện nay nằm trong tay cơ quan hành chính. Do vậy, nếu cơ quan hành chính có sai phạm thì rất ít khi các cơ quan giám sát của chính mình như thanh tra hay công an dám làm thẳng tay và quyết liệt. Ví dụ, giả sử Phó Thủ tướng, Thủ tướng làm sai thì 2 anh lính cấp dưới là Thanh tra và Công an có dám quyết liệt làm tới hay không?

Câu trả lời đã rất rõ ràng, tiêu cực của ngành Cảnh sát giao thông như ung nhọt trong nhiều năm qua nhưng chính bản than ngành công an vẫn làm ngơ.

Trên thực tế, thỉnh thoảng cũng có trường hợp cán bộ công chức bị thanh tra hay điều tra nhưng hầu như là dưới sức ép dữ dội của dân chúng, công luận chứ không phải các cơ quan nói trên chủ động tiến hành vì lợi ích chung của nhân dân. Và hậu quả xử lý sau đó cũng thường rất nhẹ nhàng. Cảnh sát giao thông sử dụng quyền lực để “cướp” tiền từ lái xe dầu đến mức tiền tỉ thì cũng chỉ bị chuyển từ địa bàn này sang đại bàn khác mà thôi. Trong khi dân thường ăn trộm 1 triệu đã phải vào tù…

Việc thành lập cơ quan điều tra hành chính trực thuộc Quốc hội sẽ hạn chế được đáng kể sự thờ ơ của cơ quan Thanh tra và Công an. Khi một sự việc phạm pháp hay chướng tai gai mắt nào đó của cán bộ công chức mà nhân dân cảm thấy nhờ Thanh tra hay Công an đều không ổn thì có thể nhờ cơ quan điều tra hành chính trực thuộc Quốc hội ra tay.

Xin lưu ý rằng, tại Việt Nam hiện nay thì Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất. Do vậy, khi thành lập cơ quan điều tra này phải cho họ được có quyền hành tuyệt đối, không phải thông qua cơ quan Đảng hay Chính phủ. Người họ phải báo cáo duy nhất đó là Quốc hội.

Tuy thế, chúng ta cũng không nên sợ cơ quan này lạm dụng quyền lực, vì song song với họ vẫn có sự hiện diện của cơ quan Công an, Viện kiểm sát. Nếu cơ quan điều tra hành chính thuộc Quốc hội lạm quyền thì cơ quan Công an và Viện kiểm sát sẽ giám sát họ.

Cơ chế hoạt động của cơ quan này chỉ thuần túy là điều tra và đưa ra kết luận sơ bộ. Cơ quan này sẽ không có thẩm quyền xét xử mà chức năng truy tố vẫn thuộc Viện Kiểm sát, xét xử vẫn thuộc Tòa án.

Nếu có sự hiện diện của cơ quan này thì chúng ta có thể tin rằng, tình trạng cảnh sát giao thông làm luật triền miên nhiều chục năm qua, dân kêu cơ quan công an không thấu, sẽ giảm, bởi có thể gọi cơ quan này vào cuộc.

2. Có cơ chế xem tất cả những ai đang hưởng lương từ ngân sách là người của công chúng.

Thực tế thì dân chúng là ông chủ của cán bộ công chức nên nhân dân hoàn toàn có quyền biết mọi sự tình cuộc sống của cán bộ công chức như thế nào.

Ví dụ như gia đình của cán bộ có bao nhiêu người, làm nghề gì, thu nhập làm sao, tài sản gia đình hiện nay ra sao v.v. Tất cả những thông số này phải công bố công khai trên mạng cho từng người dân nắm.

Việc đó các nước phát triển đã làm từ xưa rồi, và cũng không có gì gọi là xâm phạm tự do riêng tư cả.

Bởi lẽ, anh không thích làm công chức thì thôi, muốn làm thì anh phải tuân thủ luật của tôi đặt ra.
Và dựa trên cơ sở đó thì từng người dân cũng như báo chí có toàn quyền đi tìm hiểu về cuộc sống riêng tư của cán bộ công chức để công bố rộng rãi ra xã hội cho dân chúng được biết.
Nếu cán bộ công chức của chúng ta trong sạch thì không việc gì phải e sợ cả, chúng ta cứ công khai.

3. Minh bạch thông tin.

Tham nhũng và tiêu cực cũng một phần từ cái sự bưng bít thông tin mà ra.

Nếu mọi việc Nhà nước làm đều công khai rành rành ra thì làm gì mà tham nhũng hay tiêu cực nổi.

Ví dụ như hiện nay tại TP HCM, người dân mù tịt về cái Chương trình đạo tạo 300 Thạc sĩ, Tiến sỹ. Tiêu chuẩn lựa chọn ra sao là điều “bí mật”. Thế nên mới có thông tin râm ran chạy chọt, có thông tin con cái cán bộ cao cấp học dốt nhất lớp vẫn được xem là “ngôi sao” và cấp học bổng du học để sau này “thành tài” trở về phụng sự đất nước.

Hoặc như cái nạn ăn hối lộ của cảnh sát giao thông, chỉ cần thay đổi quy trình làm việc của họ, thay đổi quy trình giám sát thì sẽ hạn chế được rất nhiều nhưng không ai muốn làm cả, cứ để tù mà tù mù llà cơ hội cho giới CSGT lộng hành.

Riêng ở mảng này thì tôi muốn góp ý với ngành Công an ra quy định như sau:

- Khi dừng xe lưu thông thì người điều khiển xe phải ngồi yên một chỗ và tắt máy xe. Cảnh sát sẽ chủ động đi tới tận nơi kiểm tra người điều khiển xe. Nếu là xe khách thì bắt buộc cảnh sát phải mở cửa xe và lên xe kiểm tra số lượng khách. Hiện nay cứ thấy CSGT chặn xe khách nhưng chẳng thèm kiểm tra, cứ đứng một chỗ đợi tài xế chạy tới dúi “một xấp giấy” rồi lại khoát tay cho xe chạy đi…

- Bắt buộc mỗi lần dừng xe thì CSGT thì phải ghi vào Sổ Nhật ký mang theo. Trong sổ phải ghi rõ biển số xe, tên người điều khiển, lý do nghi vấn dẫn tới dừng xe, kết quả kiểm tra về giấy tờ, hành khách… và kết quả xử lý của CSGT. Kết quả phải ghi rõ xử lý như thế nào, có phạt hay không phạt, hay du di cho qua, lí do du di… Cuối mỗi trang như vậy yêu cầu cả CSGT và người điều khiển phương tiện phải ký tên xác nhận. Căn cứ vào quy định này thì lực lương giám sát chéo rất dễ dàng biết được CSGT có vi phạm hay không. Chứ cứ để như hiện nay thì rất không ổn. CSGT chặn xe vô tội vạ nhưng cấp trên cũng không ai có thể biết CSGT làm việc trong ca trực thực tế như thế nào. Người bị chặn thì cứ nhanh như cắt, đến “chấp hành luật” xong là chạy biến đi dù đôi khi số khách trên xe gấp 3 lần con số cho phép…

Đôi điều tôi muốn góp ý với Nhà nước. Rất mong Bauxite Việt Nam gửi giúp tới các bạn đọc khác và cơ quan có thẩm quyền

Xin cảm ơn nhiều
Ngô Mai
(TP HCM)
http://bauxitevietn am.info/c/ 10842.html





                                           DIỆT THAM NHŨNG LÀ

                                DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH 
 

                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                      Web: http://VietTUDAN.net
                                             Geneva, 24.09.2009 

  

Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản. 

Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG. 

  
Trung Quốc:
không thể kinh doanh mà không hối lộ

Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009 

Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn. 

“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ. 

“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể. 

Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc, 

Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc. 

Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện. 

Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng. 

Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó. 

Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm. 

Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng. 

Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng. 

Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông. 

A. L.
BVN dịch 

 

Việt Nam:
Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam

Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn, 

Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358. 

Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào? 

Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa. 

Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy. 

Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ. 

Thân mến,
PGS TS Vũ Triều Minh,
Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia 

  


Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.09.2009 

Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN. 

  
Tham nhũng Lãng phí là
thói tật trong mọi xã hội 

Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay. 

Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh. 

Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. 

Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi. 

Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ. 

Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người. 

CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa
Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế 

Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này. 

Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.  

Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy. 

Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại.  Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng. 

Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị  được ĐỘC QUYỀN Kinh tế  tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG. 

CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy. 

  
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ
giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế 

Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy. 

Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng. 

Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn. 

Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này. 

Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’ 

Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí. 

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
Geneva, 22.09.2009 



CƠ CHẾ HIỆN HÀNH TẠI TQ VÀ VN:
CHỐNG THAM NHŨNG CHỈ LÀ TIẾNG HÔ SUÔNG


Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra nhiều chiến dịch chống tham nhũng nhưng kết quả vẫn chỉ là nửa vời
  Anh Vũ,RFI

Bài đăng ngày 04/09/2009 Cập nhật lần cuối ngày  04/09/2009 17:01 TU

 
Chủ tịch Hồ Cẩm Đào (trái), cựu chủ tịch Giang Trạch Dân (giữa) và thủ tướng Ôn Gia Bảo (Reuters)

Tham nhũng và chống tham nhũng ở Trung Quốc giờ đây không còn phải là chuyện mới mẻ. Tờ Le Monde hôm nay đề cập trở lại đến khía cạnh hiệu qủa vì nhận thấy đảng cộng sản vẫn cứ liên tiếp tung ra nhiều chiến dịch chống tham nhũng, bề ngoài có vẻ rất quyết liệt nhưng không có kết qủa

Le Monde nhận thấy trước ngày 60 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa một tháng, chính quyền của ông Hồ Cẩm Đào đã đưa ra một bản báo cáo về cuộc đấu tranh chống tham những rất màu mè. Trong vài tháng gần đây thôi, hàng lọat các nhân vật lãnh đạo cấp vùng đã bị kết án vì tội tham nhũng.

Gần đây nhất là hôm 1 tháng 9, phó chủ tịch khu tự trị Quảng Tây bị kết án 18 năm tù vì biển thủ hàng triệu nhân dân tệ. Trước đó người ta cũng thấy nào là Thị trưởng thành phố Thẩm Quyến, phó chủ tịch Tòa án Tối cao hay ông chủ của ngành hạt nhân Trung Quốc cũng phải ra hầu tòa vì tham nhũng.

Le Monde đưa ra một thí dụ điển hình, mới đây trong một chiến dịch chống mafia tại Trùng Khánh người ta đã phát hiện ra có rất nhiều nhân vật cao cấp trong công an và tư pháp đã bảo kê cho các thành viên hội Tam hoàng và  một số thương gia.
 
Le Monde cho biết là tổ chức Minh bạch Quốc tế Transparency Internationnal dù xếp Trung Quốc đứng hàng thứ 72 thế giới về tham nhũng vào năm ngoái, cũng có ghi nhận gần đây Trung Quốc đã có những cố gắng trong cuộc chiến với quốc nạn của họ.

Trước tình hình nạn tham nhũng lan tràn, Trung Quốc cũng đã có nhiều cơ quan từ cấp trung ương chuyên trách về phòng chống tham nhũng. Nhưng Le Monde cũng nhận thấy dù các ủy ban phòng chống tham nhũng đã có mặt ở trong mọi cấp trong chính quyền nhưng họat động của nó thường bị trói buộc bởi các cấp ủy đảng.
Các chuyên gia lo ngại rằng việc họat động thiếu độc lập và các cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng đã làm cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Trung Quốc không còn được tin cậy nữa.

Tờ báo trích lời của nhận định của ông Ren, một điều phối viên của tổ chức Minh bạch Quốc tế cho rằng  ở Trung Quốc «không có một cơ quan trung ương thực sự nào để chống tham nhũng, việc chống tham nhũng vẫn thường bị bẻ theo các cuộc đấu đá chính trị nhiều hơn là xử theo luật. Vì thế mà kết qủa không bao giờ đựoc như ý muốn. Mặc dù đã có 20 năm chống tham nhũng nhưng không thể nói ngừoi ta đã ngăn chặn được nạn tham nhũng ở đây».

Còn giáo sư đại học người Mỹ gốc Hoa Pei Minxin, từng có những nghiên cứu về tham nhũng ở Trung Quốc thì giải  thích cho Le Monde rằng những chiến dịch chống tham nhũng của nhà nước không có gì là mới cả.

Vấn đề là ở chỗ nó không rõ ràng. Chính quyền để ra hàng lọat những cơ quan để chống tham nhũng nhưng thực chất thì các cơ quan đó lại bị lệ thuộc vào đảng, vì thế mà quyết định của nó bao giờ cũng mang tính chính trị.

Cũng vẫn chuyên gia trên nhận thấy rằng trung bình chỉ có 3% quan chức tham nhũng ở Trung Quốc có nguy cơ phải ngồi tù. Vì thế mà tham những ở Trung Quốc vẫn là «một họat động rất sinh lợi và ít rủi ro».

Và để kết luận chuyên gia này nhận định : "Với báo chí tự do hơn và một hệ thống tư pháp độc lập hơn, các bạn (Trung Quốc) sẽ có trong tay công cụ rất mạnh để làm giảm nạn tham nhũng. Nhưng đó là con dao hai lưỡi, vì những công cụ đó sẽ đe dọa quyền lực tuyệt đối của đảng" 



**************************** MẶT TRẬN KINH TẾ-TÀI CHÁNH *******************************
                            NÔNG DÂN, CÔNG NHÂN VÀ TƯ DOANH
                                    ĐẤU TRANH CHO QUYỀN SỐNG
****************************************************************************************************
Thể chế CSVN độc tài toàn trị đầy tham nhũng hiện nay đưa Kinh tế Việt Nam đến thụt lùi. Công nhân và Nông dân ngày càng nghèo. Những cuộc Đình Công đòi hỏi thành lập Nghiệp đoàn Độc lập, nghĩa là đảng CSVN đừng chính trị hóa lao động để phục vụ cho chủ trương Chính trị riêng của đảng, nhất là để dễ dàng bóc lột sức lao động của dân nghèo, mà hãy để cho giới nghèo được tự do tìm phương tiện nuôi sống cho chính họ. Tư doanh bị kềm chế bởi Quốc doanh phục vụ cho đảng và cho túi riêng con cái đảng.



                                  CĂNG THẲNG XÃ HỘI GIẦU-NGHÈO

                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Đây là Bài dưới CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Trong tài liệu viết về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997, Bà Francoise NICOLAS nhắc đến Trung Cộng như một yếu tố hiện hành  mang nhiều nguy hiểm bất ổn của vùng trong tương lai . Một trong những nguy hiểm chính là căng thẳng xã hội (tensions sociales) không những gây khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh, mà còn kéo theo, tất nhiên, khủng hoảng Chính trị. Một tỉ dụ điển hình là những căng thẳng xã hội trong cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 đã đưa đến sụp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm.

Cũng vậy, khi viết loạt bài đăng trong LE MONDE ngày 30.10.2007 về những quốc gia bắt đầu phát triển, các tác giả như Aalin FAUJAS, Florin AFTALION, Giáo sư Tài chánh và Chuyên viên nghiên cứu về Tương quan Kinh tế và Cách mạng, cũng đã nhấn mạnh đến nguy hiểm căng thẳng xã hội phát sinh từ vật giá tăng vọt, từ việc dân thiếu khả năng tiêu thụ, từ sự chênh lệch quá xa giầu nghèo.

Không cần phải trích dẫn những tác  giả đó ra để hiểu sự căng thẳng xã hội đến từ việc phân phối không đồng đều làm chênh lệc giầu nghèo, mà chúng ta chỉ cần nghĩ đến cái lý thông thường của cuộc sống hàng ngày trong việc kiếm ăn nuôi sống thân xác mình.

Bài này đề cập đến những điểm sau đây:
=> Sự sợ hãi của những chính quyền thuộc những nước bắt đầu phát triển
=> Cái lý đơn giản thông thường trong cuộc kiếm ăn nuôi thân xác
=> Tình trạng căng thẳng xã hội tại Việt Nam

Sự sợ hãi của những chính quyền
thuộc những nước bắt đầu phát triển

Những tác giả của loạt bài đăng trong LE MONDE ngày 30.10.2007 nói đến việc hồ hởi của những quốc gia bắt đầu phát triển như Trung Cộng, Việt Nam trong việc ca tụng đà phát triển Kinh tế tăng từ 8-12% hàng năm. Nhưng Chính quyền những nước ấy lại hết sức lo ngại việc tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm như đồ ăn, tăng lên tới 20%. Những người cầm quyền lo lắng không phải do vật giá tăng vọt bởi vì họ dư đủ khả năng tiêu thụ để chấp nhật vật giá tăng, nhưng lo lắng vì khi vật giá tăng vọt, quần chúng thiếu khả năng tiêu thụ, nên cách biệt giầu nghèo gia tăng rõ rệt để tạo ra tình trạng căng thẳng xã hội mà hậu quả là quần chúng quá đói nghèo đứng lên lật đổ quyền lực Chính trị của họ.

Một trong những lý do làm tăng vật giá là sự can thiệp của quyền lực Chính trị vào những sinh hoạt Kinh tế. Tác giả Alain FAUJAS viết:“Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois et vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit à plein fouet des prix arbitraires.“ (Le Monde 30.10.2007) ( Khi mà sự lấn quyền chính trị (những đảng cộng sản Trung quốc và Việt Nam) bành trướng sang Thương mại, Tài chánh và Kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng thừng những giá cả độc đoán). Đây là lý do đầu cơ do chính quyền lực chính trị.

Lý do thứ hai là ở khía cạnh lạm phát tiền tệ. Giáo sư Tài chánh Florin AFTALION đã lấy lại tỉ dụ điển hình thời Cách Mạng Pháp: “La crise inflationniste est née de la situation catastrophique des finances publiques. Pour remplir les caisses de l’Etat et honorer le paiement des dettes de l’Ancien Régime, les députés de l’Assemblée décidèrent la création massive de papier-monnaie. Les paysans étaient payes dans une monnaie qui se dépréciait. La population des villes a commencé à être affamée. (Le Monde 30.10.2007) (Cuộc khủng vật giá tăng vọt đã phát sinh từ tình trạng thảm khốc của tài chánh quốc gia. Để làm đầy két Nhà Nước và để hoàn trả những món nợ của Chế độ Cũ, những dân biểu quốc hội quyết định phát hành hàng loạt những tiền giấy (không bảo chứng). Nông dân được trả với đồng tiền đã mất giá. Dân chúng thành thị bắt đầu đói ăn.) Đây là hiện tượng lạm phát tiền tệ mà chúng tôi đã có dịp viết về trường hợp Việt Nam hiện nay.

Tác giả Florin AFTALION cũng nói đến tình trạng rất khó giải quyết tại Trung Cộng cho vấn đề vật giá tăng vọt này:“Le cas de la Chine illustre la difficulté à traiter le mal inflationniste“ (Trường hợp Trung quốc chứng tỏ sự khó khăn giải quyết điều xấu tăng vật giá này). Oâng nói cái khó khăn đó là sự cách biệt giầu nghèo giữa dân của những thành phố ven biển và dân trong nội địa (le pouvoir d’achat des côtiers).

Một tài liệu nghiên cứu của một số Đại học cho thấy rằng hầu hết những triệu phú tại Trung Cộng là thuộc đảng và 9/10 dân số trong nội địa vẫn nghèo khổ. Sự căng thẳng xã hội là dân nghèo nội địa tràn ra những thành phố ven biển và sẽ xẩy ra vấn đề tranh chấp giữa dân nội địa và dân ven biển. Chúng tôi sẽ nói ở phần sau về trường hợp Việt Nam.

Cái lý đơn giản thông thường
trong cuộc kiếm ăn nuôi thân xác

Thực vậy, lấy cái lý đơn giản thông thường hàng ngày kiếm ăn, chúng ta cũng hiểu rằng khi mà miếng đỉnh chung không được phân phối đồng đều, thì trâu buộc ghét trâu ăn, nhất là ăn hớt, ăn bất công. Khi đã bị ăn hớt rồi, mà mình than vãn, còn bị kẻ ăn trên ngồi trốc khóa miệng, đàn áp, thì sự căng thẳng muốn uấn lộn tất nhiên không thể tránh.

Ngay anh em ruột trong gia đình, cha mẹ không chia tài sản đồng đều, cũng sinh bất hòa, hận thù.

Tôi cũng có dịp xem những phim cao bồi ăn cướp ngân hàng hay xe lửa chở vàng. Khi chưa ăn cướp được, thì mọi người đoàn kết nhất trí. Nhưng họ bắt đầu phản bội nhau, bắn nhau là ở lúc chia tiền, chia vàng đã ăn cướp được.

Khi nói đến Lý tưởng trong ý niệm trừu tượng, người ta có thể đối thoại, nhân nhượng, chín bỏ làm mười. Nhưng khi nói đến tiền bạc, phương tiện nuôi thân xác, thì không có đối thoại nhân nhượng mà phải CÔNG BẰNG dứt khoát. Khi nói về Tự do, thì có thể gia giảm ít nhiều, nhưng khi nói về chia phần phương tiện sống cụ thể, thì phải phân minh dứt khoát.

Vì vậy, những căng thẳng xã hội chính yếu phát sinh từ những phấn phối không CÔNG BẰNG về phương tiện sinh sống nuôi thân xác. Đây là điểm trọng yếu mà mọi chế độ chính trị phải chú tâm giải quyết. Hãy lấy hai tỉ dụ: chế độ công hữu của Cộng sản và chế độ tư hữu của Tư bản. Điểm chung của hai chế độ là tìm cách phân phối kinh tế cho đồng đều. 

Chế độ công hữu Cộng sản chủ trương truất hữu, thâu tóm quyền sở hữu về Nhà Nước mà đảng Cộng sản là duy nhất chỉ huy Nhà Nước. Đảng chỉ huy mọi người làm Kinh tế và chính đảng giữ toàn quyền phân phối đồng đều những thu nhập từ Kinh tế. Đây là chủ trương học được theo đúng khuôn khổ tổ chức làm ăn và phân phối phương tiện sống giống một dòng tu Công giáo thời Trung Cổ Aâu châu. Nhưng chủ trương này đã gặp những thất bại mà những lý do như sau:

=> Sự khác biệt khả năng trí tuệ và thể xác giữa những cá nhân làm kinh tế trong hệ thống chỉ huy bởi Nhà Nước. Những khác biệt không thể tránh được này khiến hiệu quả kinh tế khác nhau. Vì vậy việc phân phối đồng đều hiệu quả kinh tế khiến cho những cá nhân: (i) một là cảm thấy một sự bất công; (ii) hai là làm cho những cá nhân có khả năng hơn bị thiếu những kích thích khi làm việc. Kết quả của chủ trương này đưa đến tình trạng kém năng suất.

=> Những người nắm quyền lực chính trị độc đoán lại là những người làm chủ những tài sản. Khi có quyền và ngồi bên cạnh đống vàng, thì nẩy sinh lòng ham dành tài sản cho riêng mình, hay cho gia đình mình, cho những người thân thuộc mình hơn, nghĩa là việc phân phối không đồng đều nữa.

=> Những dòng tu Công giáo thời Trung Cổ có thể thực hiện được chủ trương này vì họ có lòng tin Tôn Giáo, tin vào một Đấng có thể thưởng phạt họ khi họ bất công. Trong khi ấy đảng Cộng sản không có lòng tin Tôn giáo để thưởng phát, mà còn chủ trương Duy vật chủ nghĩa, nên không thể thực hiện được việc cộng chung tài sản.

Đối với chế độ tư hữu của Tư bản, Chính quyền cũng phải lo lắng giải quyết vấn đề phân phối Kinh tế cho tương đối đồng đều để tránh cách biệt quá xa giữa giầu nghèo, nghĩa là tránh căng thẳng xã hội có thể đi đến lật đổ quyền lực chính trị. Chế độ tư hữu Tư bản nhằm những điểm sau đây:

=> Để cho những cá nhân tự do sinh hoạt kinh tế. Mỗi người có tự do xử dụng khả năng trí tuệ và thân xác của mình để làm ăn, gặt hái những hiệu năng tối đa. Chính vì vậy mà năng suất kinh tế của chế độ này cao hơn. Tuy nhiên, sự chênh lệch khả năng trí tuệ và thân xác khiến cho có sự chênh lệch về hiệu quả kinh tế gặt hái được của mỗi cá nhân.

=> Sự chênh lệc quá xa trong chế độ này giữa giầu và nghèo có thể đưa đến căng thẳng xã hội. Vì vậy chế độ tìm cách giảm đi sự chênh lệch bằng cách Tái phân phối Thu nhập (Redistribution des Revenus). Đó là lấy Thuê nặng nơi những cá nhân có thu nhập cao để xử dụng những thuế thu được ấy làm những công trình xã hội cho quần chúng có thu nhập thấp, trợ giúp xã hội cho những người nghèo. Nhiều chính quyền còn khuyến khích những tư nhân có thu nhập cao trực tiếp làm những việc xã hội.

Tình trạng căng thẳng xã hội tại Việt Nam

Trong hai phần trên, chúng tôi nói đến tình trạng tăng vọt vật giá hiện nay tại những quốc gia bắt đầu phát triển và những lo lắng của các chính quyền hiện hành về việc tăng vọt vật giá này, lo lắng việc giảm khả năng tiêu thụ khiến nẩy sinh căng thẳng xã hội khả dĩ lật đổ chính quyền; chúng tôi cũng đề cập đến nguyên tắc phải phân phối đồng đều hiệu quả kinh tế để tránh hố quá sâu giữa giầu nghèo, yếu tố cụ thể làm phát sinh căng thẳng xã hội.

Phần này nói cụ thể đến Việt Nam hiện nay với ba câu hỏi: (i) vật giá ở Việt Nam tăng như thế nào ? (ii) Việc phân phối độ phát triển kinh tế có đồng đều hay không ? (iii) Hố cách biệt giầu nghèo sẽ mang đến căng thẳng xã hội ra sao ?

(i) vật giá ở Việt Nam tăng như thế nào ?

Trước Tết: (Việt Báo Thứ Ba, 1/29/2008, 12:02:00 AM)

“Từ các siêu thị cho tới các chợ khắp nứơc Việt Nam đều đang gặp nỗi lo lạm phát. Tính riêng trong tháng 12-2007 vừa qua, lạm phát đã lên tới 12.6%, thúc đẩy bởi tình hình tăng giá lương thực, xăng dầu và vật liệu xây dựng. Đây là mức lạm phát cao nhất trong một thập niên qua ở Việt Nam, và cao hơn cả mức trung bình lạm phát ở các nứơc Châu Á đang phát triển khác.

Tại các chợ, giá các loại thịt đã tăng 10-20% so với tháng trước, giá thủy hải sản cũng tăng gần 10%, dầu ăn tăng khoảng 5%. Giá các mặt hàng rau, củ, quả và các mặt hàng đồ khô như măng, miến, nấm hương cũng tăng đáng kể.

So với hai tuần trước, giá các loại rượu, bia đã cao hơn khoảng 20,000-40,000đồng/thùng và tiếp tục tăng theo từng ngày, do giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh. Giá bán mặt hàng này tại các siêu thị cũng có sự chênh lệch khá lớn, điển hình là một thùng bia Hà Nội tại siêu thị FiviMart được bán với giá là 20,600 đồng, tại Intimex là 187,200 đồng và tại đại lý là 165,000 đồng.

Bốn doanh nghiệp lớn của Hà Nội đã dự trữ khoảng 1,000 tấn thịt heo, gà và giò, hơn 410 tấn nem, 22 tấn dầu ăn và gần 2 tấn trứng gà. Các doanh nghiệp Sài Gòn cũng đã được thành phố hỗ trợ 400 tỷ đồng để dự trữ hàng hóa thực phẩm thiết yếu.

Dự báo giá cả các mặt hàng sẽ tiếp tục tăng nhanh cho đến ngày 30 Tết (ngày 6 tháng 2) và dừng lại ở mức cao trong những ngày sau Tết. Đặc biệt, các mặt hàng hoa tươi, thực phẩm tươi sống, gạo, đỗ, chè và rau quả sẽ tăng giá mạnh vào dịp này.

Sau Tết: (Hà Nội 11-2 (TH)

“Mùng 5 Tết, các chợ đã họp khá đông. Mặt hàng nào cũng có, từ thịt, cá, rau quả đến hải sản nhưng các bà nội trợ sững sờ bởi thực phẩm nào cũng tăng giá gấp 3-4 lần so với ngày thường.” Báo điện tử Vietnamnet ngày Thứ Hai 11 tháng 2, 2008 viết.

“Sợ quá. Rau đắt hơn cả thịt cá. Loại rau nào cũng tăng gấp 3-4 lần so với trước Tết. Một mớ rau cải cúc giá 2,000 đồng, ngải cứu 3,000 đồng, cải xoong 5,000 đồng, rau cần 10,000 đồng. Bắp cải 10,000 đồng/kg... Không mua nhanh không chắc đã còn mà mua'' - chị Mai Hằng ở khu tập thể Kim Liên than vãn.

Theo báo Vietnamnet, “Tại chợ Thành Công, mặt hàng nào cũng có nhưng giá lên rất cao. Chị Thanh, ở B5 Thành Công, khi mua đậu phụ về ăn lẩu tưởng mình nghe nhầm, khi được chị bán hàng báo giá 2,000 đồng/bìa. Chị bán hàng cho biết, chị lấy vào đắt thì đành bán đắt. Cả thùng đậu, chị bán chỉ còn vài bìa, không mua nhanh là hết. Chị Thanh lo rằng từ nay đến Rằm Tháng Giêng, giá cả chắc còn lên nữa.”

Tờ báo đưa ra một cuộc khảo sát để độc giả hình dung ra vật giá gia tăng thế nào:

“Theo khảo sát của PV VietNamNet, sau Tết thịt, cá tăng giá gấp rưỡi, gấp đôi trước Tết, rau xanh tăng gấp 3-4 lần. Trước Tết, xương ống có giá 40,000 đồng/kg, nay lên 60,000 đồng/kg, xương sườn tăng từ 60,000 đồng/kg lên 90,000 đồng/kg; ngao biển tăng thêm 5,000-10,000 đồng/cân, cá chắm ngày thường 30,000-35,000 đồng/kg nay cũng lên tới 65,000-70.000 đồng/kg, gà ta mổ sẵn trước Tết 80,000 đồng/kg nay là 110,000-120,000đồng/kg, tôm sú loại vừa lên tới 170,000-180,000 đồng/kg.

Không chỉ giá thực phẩm mà bất cứ dịch vụ nào cũng tăng giá. Theo quy định của UBND thành phố Hà Nội, giá giữ xe đạp là 1,000 đồng/xe, xe máy 2,000 đồng/xe (ban ngày) nhưng tại nhiều khu vui chơi giải trí cũng như các điểm giữ xe ở các khu đình, chùa, ngay từ đêm 30 Tết đều đã bán vé với giá ‘cắt cổ’. Giá thấp nhất cũng phải 5,000 đồng/xe máy, thậm chí lên tới 15,000-20,000 đồng/xe. Tuy nhiên, do nhu cầu du xuân nên nhiều gia đình chấp nhận bị ‘móc túi’.

Tác giả Alain FAUJAS đã viết cái lý do thứ nhất của việc vật giá tăng trong một hệ thống Kinh tế mà Nhà Nước can thiệp :“Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois et vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit à plein fouet des prix arbitraires.“ (Le Monde 30.10.2007) ( Khi mà sự lấn quyền chính trị (những đảng cộng sản Trung quốc và Việt Nam) bành trướng sang Thương mại, Tài chánh và Kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng thừng những giá cả độc đoán).

Lý do thứ hai là đồng tiền Việt Nam mất giá do lạm phát tiền tệ. Tác giả Florin AFTALION trong phần đầu của bài này, đã lấy tỉ dụ thời lạm phát tiền tệ Cách Mạng Pháp. Chúng tôi cũng đã viết một bài riêng về lạm phát tiền tệ do Nhà Nước. Viết về lý do này, Oâng VŨ QUANG VIỆT đã viết trong một bài đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :

“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Nếu như nhà nước phát hành trái phiếu và bán cho dân để mượn tiền tiêu thì không có vấn đề. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“

(ii) Việc phân phối độ phát triển kinh tế có đồng đều hay không ?

Nhà Nước Việt Nam từng huênh hoang độ tăng trưởng Kinh tế là 8.5%. Nhưng điều quan trọng là việc phân phối độ tăng này có đồng đều hay không, nghĩa là 85 triệu dân chúng Việt Nam có được hưởng tương đối độ tăng này hay không, hay chỉ một thiểu số người được hưởng.

=> Trước hết Nông dân chiếm 70% dân số rất ít được hưởng độ tăng trưởng này vì số đầu tư vảo nông thôn rất ít ỏi. Ông NGUYỄN QUỐC CƯỜNG, chủ tịch Hội Nông dân VN, cho biết:

“Đại bộ phận dân cư vẫn ở khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp nhất. Bên cạnh đó, giá cả cứ "leo thang" chóng mặt. Dù đến cuối năm nay chỉ số tăng giá tiêu dùng dừng ở mức 8%, nhưng so với mức tăng trưởng thấp ở khu vực nông thôn mới thấy đời sống nông dân cực kỳ khó khăn.

Chúng tôi đề nghị Nhà nước tăng đầu tư cho khu vực nông thôn. Cụ thể là tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông nông thôn và thủy lợi. Nếu hai khoản này được Nhà nước đầu tư tốt thì có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển. Kinh tế - xã hội phát triển tức là điều kiện sản xuất phát triển thì đời sống nông dân mới hi vọng được cải thiện. Ngoài ra Nhà nước cũng phải hết sức tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ tư vấn, hướng dẫn cho nông dân, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, dịch vụ vay vốn, tín chấp với ngân hàng để nông dân được vay vốn sản xuất.“ 

=> Sau đó, độ tăng trưởng 8.5% mà 8 triệu Công Nhân đã đóng góp sản xuất trong các ngành công nghệ, nhưng lương Công Nhân tăng lên rất ít hàng năm, nghĩa là độ tăng 8.5% này được phân phối cho công nhân rất ít ỏi. Trong một bài viết gần đây, Tiến sĩ ÂU DƯƠNG THỆ đã nói về việc Công Nhân đình công đòi tăng lương như sau:
“Thật vậy, ngay những người cầm đầu Công đoàn Lao động VN, một tổ chức của ĐCS dựng lên để kiểm soát giai cấp lao động thay vì bảo vệ quyền lợi của họ, cũng đã phải xác nhận là, trong năm 2007 đã có tới 541 cuộc đình công với sự tham gia của 350.000 công nhân, trong đó phần lớn là các cuộc đình công bộc phát, tức “bất hợp pháp”.

Nói về đời sống Công nhân, Tiến sĩ tiếp:

“Không chỉ phải chịu ngược đãi của chủ nhân trong các bữa cơm quá khắc khổ, vì đồng lương không đủ sống nên hàng trăm ngàn công nhân VN và con cái của họ phải sống chui rúc trong các nhà ổ chuột, phòng trọ của họ như các “chuồng gà”, nhưng vẫn phải thuê với giá cao. Chính báo chí của chế độ cũng đã phải nhìn nhận:  
         
Bước vào nhà trọ của công nhân (CN) Trương Thị Đan Huyền, chúng tôi thật sự bàng hoàng! Thoạt nhìn, phòng trọ giống như một dãy “chuồng gà”. Dòng kênh nước đen nhờ nhờ rác sau nhà lắm khi tràn lên ngập mắt cá chân. Mỗi phòng rộng 1,2m, dài 1,6m, đủ rộng để đặt hai cái gối nằm và đủ dài để người cao phải ngủ co chân. Quần áo được treo bên vách. Còn mọi đồ dùng cá nhân đều phải đặt lên kệ. Vách và nền phòng đều được ghép bằng loại ván ép cũ, dán giấy loang lổ.“

Tệ hại hơn nữa là Nguyễn Tấn Dũng vừa ký hai Nghị Định 11 và 12 ngày 30.01.2008 cấm đình công. Đây là những Nghị Định bóc lột sức lao động của Công Nhân.

=> Thành phần được hưởng hầu hết độ tăng trưởng Kinh tế 8.5% là một thiểu số người chừng 5%. Thành phần này gồm:

* Lớp ngoại lai đầu tư vào Việt Nam với mục đích duy nhất là khai thác Nhân Lực ở một quốc gia dưới chế độ độc đảng và độc tài. Nghi Định 11 & 12/2008 nhằm phục vụ cho lớp ngoại lai khai thác nhân lực Việt Nam.
* Lớp quốc doanh thuộc đảng CSVN cũng khai thác nhân lực Việt Nam và còn được hỗ trợ cả về quyền lực đàn áp nhân công và vốn đầu tư từ ngân quỹ quốc gia
* Lớp giữ quyền lực cai trị, tuy không làm Kinh tế, nhưng được chia phần vào độ tăng trưởng 8.5% qua những tham nhũng.

(iii) Hố cách biệt giầu nghèo sẽ mang đến căng thẳng xã hội ra sao ?

Lớp thiểu số 5% được hưởng hầu hết độ tăng Kinh tế 8.5% mỗi ngày mỗi tích trữ của cải giầu thêm. Đối với lớp người này việc vật giá tăng vọt, nhất là nhu yếu phẩm và đồ ăn, không có ảnh hưởng gì lên họ.

Trong khi ấy 90% dân số gồm hầu hết là Nông Dân, Công Nhân được hưởng rất ít ỏi về độ tăng Kinh tế 8.5% chắc chắn là nạn nhân của việc tăng vọt vật giá. Nếu Nông dân và Công nhân không cảm thấy sự bất công của việc phân phối không đồng đều độ tăng Kinh tế, thì việc vật giá tăng hàng ngày làm cho họ thấy mỗi ngày mỗi mất khả năng tiêu thụ (perte du pouvoir d’achat), nghĩa là mỗi ngày ra chợ mua đồ ăn là mỗi ngày họ thấy tỏ tường mình nghèo đi. Đây là cái nghèo trông thấy, sờ thấy (pauvreté tangible, touchable)

Sự căng thẳng xã hội càng tăng thêm khi mà 90% dân số nhìn thấy trước mắt những kẻ bóc lột họ đang tiêu xài tiền như nước.

Họ đọc lên những câu thơ của NGUYỄN CUNG THƯƠNG:

    Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ
    Nên biết rõ từng tên đại ác
    Trên bàn tiệc máu xương dân tộc
    Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu
    Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh!
    Chúng ta sẽ tỉa từng thằng
    Đất nước cần nhiều "quốc táng"
    Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào
    Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này
    Còn có chút sáng láng hơn


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 




DÂN BỨC XÚC VỀ
NHỮNG VỤ THAM NHŨNG

“Dân bức xúc chủ yếu với các vụ tham nhũng nhỏ”

 

Tại cuộc họp triển khai công việc năm mới, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương, ông Vũ Tiến Chiến, dẫn ra một số vụ tham nhũng quy mô nhỏ, như trưởng thôn biển thủ 80kg ngô giống, người khác tư túi 90 triệu đồng tiền công đức... Ông đi tới kết luận: “Dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ. Chủ yếu là quan hệ của cán bộ với dân”.

Mới nghe qua phát biểu này thì người ta có thể nghĩ, như vậy nước ta cũng ít vụ tham nhũng lớn, không có nhiều vụ nghiêm trọng tới mức dân phải bức xúc. Tuy nhiên, nghĩ kỹ thì có thể thấy điều bất ổn: Tại sao người dân lại không bức xúc với các vụ tham nhũng quy mô lớn?

Tất nhiên, dân chúng sẽ bất bình với những trường hợp “ăn nhỏ”, “ăn vặt” mà họ chứng kiến hàng ngày ở nơi họ ở, hay tại cơ quan họ làm việc, tại công sở mà họ bị “hành”. Nhưng như thế không có nghĩa là họ bỏ qua những vụ tham nhũng lớn tầm quốc gia, ảnh hưởng đến lợi ích chung của đất nước, thậm chí đến quốc thể, đến các thế hệ tương lai. Nói cho đúng là, do nhiều khi thông tin “nhạy cảm” bị giữ kín, người dân không được biết tới nội tình các vụ tham nhũng quy mô lớn.

Nếu tham nhũng nhỏ có thể chỉ là một hành vi sai phạm, thì tham nhũng lớn phải bị coi là tội ác cần tiêu diệt. Nếu “dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ”, thì chứng tỏ họ không được biết tới các vụ việc lớn, và sự minh bạch thông tin của xã hội chúng ta “có vấn đề”. Quan chức nên lấy thực tế đó làm điều lo ngại.

 


NÔNG DÂN NGHÈO KHỔ

Bao giờ người nông dân hết nghèo
Thanh Quang, phóng viên RFA 2009-12-25

Trong lãnh vực nông nghiệp của Việt Nam, tình trạng khó khăn, thiệt thòi của người trồng lúa hẳn là một trong những đề tài gây nhiều chú ý – và cũng gây nhiều bàn cãi về nguyên nhân của vấn đề.

Lỗi tại ai

Trong thời gian gần đây, xem chừng như ngày càng có nhiều ý kiến đề cập tới tình cảnh khó khăn gần như triền miên của đại đa số nông dân VN, nhất là tại vùng ĐBSCL, mà một trong những nguyên nhân chủ chốt là người làm ra hạt lúa thường xuyên gặp thiệt thòi vì bị thương lái ép giá, như một chuyên gia Miền Tây mô tả:

“Tại vùng ĐBSCL, hầu hết nông dân tiêu dùng mọi thứ bằng lúa. Họ thu họach lúa xong rồi mới bán lúa để trang trải nợ nần, chi phí phân bón, tiền nước mắm, dầu lửa...đủ thứ hết. Rồi tới thời vụ bị thương lái ép giá. Nhưng bây giờ nhà nước có chủ trương này đỡ cho nông dân lắm, đó là hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp. Thí dụ như doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng nhà nước, nhà nước hỗ trợ phần lãi suất đó để giúp các doanh nghiệp mua lúa của dân trữ lại. Chớ để tới thời vụ, lúa ứ đọng nhiều quá doanh nghiệp không chịu mua, rồi khi mua họ bắt đầu ép giá lúa của dân.”

Nói chung vấn đề thương lái ép giá lúa cũng có, nhưng đó không phải là vấn đề phổ biến, ảnh hưởng nặng lắm đâu. Tại vì hiện giờ hệ thống thương lái vẫn là hệ thống tích cực trong việc thu mua lúa, giải quyết vấn đề bán lúa của nông dân. Trong những trường hợp nhất định, nông dân nóng lòng bán lúa sớm, rồi sau đó giá lúa lên khiến họ cảm thấy bị ép giá.

Nhưng cũng có quan điểm ngược lại, cho rằng thiệt thòi của nông dân không phải phát xuất từ tình trạng bị thương lái ép giá, mà vì người trồng lúa bán nông sản của mình không đúng lúc. Thạc sĩ Phạm Văn Quỳnh, Phó giám đốc Sở Nông Nghiệp Cần Thơ thuộc trong những người có quan điểm như vậy, như ông nhận xét sau đây:

“Nói chung vấn đề thương lái ép giá lúa cũng có, nhưng đó không phải là vấn đề phổ biến, ảnh hưởng nặng lắm đâu. Tại vì hiện giờ hệ thống thương lái vẫn là hệ thống tích cực trong việc thu mua lúa, giải quyết vấn đề bán lúa của nông dân. Trong những trường hợp nhất định, nông dân nóng lòng bán lúa sớm, rồi sau đó giá lúa lên khiến họ cảm thấy bị ép giá. Thực tế, đó chỉ là cơ chế thị trường thôi, theo giá lên giá xuống. Vấn đề là nông dân bán lúa không đúng thời điểm. Thương lái cũng có vai trò tích cực trong một hệ thống, chớ không phải tiêu cực đâu, nhất là họ phải đi luồn lách từng ngõ ngách để thu gom lúa về cho công ty.”

Về vấn đề nông dân bán lúa không đúng thời điểm cũng được một nông dân ở An Giang mô tả thêm:

“Lúa em mần ở bên đây, mới mần xong đem vô mình chưa có hay biết giá cả. Thí dụ giá lúa hôm qua 5 ngàn/1 ký, rồi bữa nay nó lên nữa mình đâu có hay. Nên mình bán theo giá hôm qua thì người ta mua liền. Tới khi hay lúa lên giá thì mình đã bán cho người ta rồi. Ép giá lá ép như vậy đó.”

Tại nhiều hội thảo về nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua, rất nhiều người có trách nhiệm đã đặt ra vấn đề định hướng, quy họach vùng sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nghề; doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nông sản cho nông dân...Thế nhưng, nhìn chung, trên thực tế, ở rất nhiều nơi, nông dân vẫn phải ‘tự bơi’ trong cơ chế thị trường

Kế hoạch và thực tế

Theo TS Phạm Văn Quỳnh, thì vật giá nói chung gia tăng – trong khuôn khổ cơ chế thị trường – góp thêm phần bất lợi cho mức sống nông dân:

“Đây là vấn đề nan giải cho bài tóan kinh tế VN. Tại vì số diện tích của từng nông hộ thường thì nhỏ. Do đó điều kiện giá cả nói chung tăng khiến thu nhập của họ chưa đáp ứng hết được nhu cầu cuộc sống, nên tình trạng nông dân không được khá thôi. Rồi giá cả vật tư nông nghiệp tăng khi giá lúa tăng. Trong bối cảnh giá cả nói chung của các mặt gia tăng khiến nông dân không trang trải hết chi phí nỗi, cho nên họ chưa khá giả được. Tuy nhiên, vấn đề giá cả tăng như vậy là theo cơ chế thị trường thôi, chớ không phải vấn đề ép nông dân gì hết.”

Dù thế nào đi nữa thì người trồng lúa nói chung vẫn gặp khó khăn.. Câu hỏi được nêu lên là giới hữu trách, và cả những chuyên gia nông nghiệp, có biện pháp nào để trợ giúp nông dân không. TS Phạm Văn Quỳnh giải thích:

“Đó là hướng nhà nước phát triển theo cơ chế, tức là làm thế nào để doanh nghiệp gắn bó, khắng khít với nông dân, trong khi các nhà khoa học cũng tham gia chuyển giao được những tiến bộ khoa học tốt nhất để cho sản xuất nông nghiệp có hiệu quả, đồng thời giúp giảm thiểu tình trạng thất thoát, lãng phí lượng nông sản thu họach của nông dân, để bảo đảm nguồn thu nhập của nông dân. Đây là xu hướng mà VN đang đẩy mạnh, và chứng tỏ đang mang lại kết quả tốt.”

Vẫn theo TS Phạm Văn Quỳnh thì hiện VN bắt đầu chú trọng tới nông thôn nhiều hơn:

“Hiện chính phủ đang tăng cường đầu tư cho nông thôn tương đối toàn diện, từ đường xá, trường học, tới các trạm y tế địa phương...Thứ hai là nhà nước cũng có hỗ trợ nông dân về lãi suất trong vốn vay để đáp ứng sản xuất. Nói chung là trong chiều hướng chú trọng tới nông thôn, tập trung đầu tư vào nông thôn nhiều hơn trước.”

Có lẽ câu hỏi cần được nêu lên ở đây là những kế họach tốt đẹp của nhà nước dành cho nông nghiệp, nông thôn và nhất là nông dân được thực hiện cụ thể ra sao ? Báo điện tử Cần Thơ cách nay ít lâu có bài tựa đề “Khi Nông Dân Lên Tiếng” nhận xét rằng “Tại nhiều hội thảo về nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua, rất nhiều người có trách nhiệm đã đặt ra vấn đề định hướng, quy họach vùng sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nghề; doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nông sản cho nông dân...Thế nhưng, nhìn chung, trên thực tế, ở rất nhiều nơi, nông dân vẫn phải ‘tự bơi’ trong cơ chế thị trường, trong làn sóng hội nhập-cạnh tranh ngày càng khốc liệt”.

 







DÂN BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI CÔNG AN DÃ MAN

Hàng nghìn người dân biểu tình trước trụ sở UBND xã Bom Bo. (VietNamNet)

 
BÌNH PHƯỚC (TH) - Hàng trăm người đã kéo đến vây trụ sở xã để phản đối một vụ bắt người để điều tra nhưng người này lại chết khi bị giam giữ.

Theo bản tin VietNamNet ngày Thứ Năm 24 Tháng Mười Hai 2009 “Anh Long được áp giải lên UBND xã Bom Bo để điều tra vì nghi có liên quan tới một vụ gây rối. Qua ngày hôm sau, người ta thấy anh chết trong UBND xã.”

Nguồn tin tường thuật theo lời kể của bà Trần Thị Sang - vợ nạn nhân Nguyễn Văn Long (41 tuổi ngụ tại ấp 10 xã Bom Bo, huyện Bù Ðăng, tỉnh Bình Phước) thì “Ngày 22 Tháng Mười Hai, vào lúc 15 giờ chồng tôi đang ở nhà thì thấy 8 công an xã và dân phòng đi trên 4 xe máy đến đề nghị lên UBND xã để thẩm vấn; sau đó nhốt vào phòng kín.”

Nguồn tin kể tiếp, tới buổi tối, bà Sang mang cơm cho chồng ăn thì “thấy anh kêu đau và bảo vì bị đánh dữ quá. Anh Long còn nói vợ về nhà lấy thuốc cho anh uống”.

VietNamNet cho hay, sáng hôm sau (23 Tháng Mười Hai), khi bà Sang vào thăm chồng thì được công an xã thông báo “chồng chị chết rồi” và nguyên nhân là “do nó tự tử...”

“Tôi không hiểu chồng bị công an xã Bom Bo triệu tập lên UBND xã vì lý do gì mà lại nhốt trong phòng kín rồi bảo ‘nó chết rồi... ’ ’” - bà Sang bức xúc nói với VietNamNet.

Vì cái chết không bình thường của anh Long, hàng trăm người dân đã đến vây chặt UBND xã “khiến cơ quan này không làm việc được”. VietNamNet nói “UBND huyện Bù Ðăng phải điều hàng chục cảnh sát đến bảo vệ hiện trường”.

Ðã nhiều lần công an đánh chết người khi giam giữ rồi sau đổ tội cho nạn nhân tự tử hoặc một lý do nào khác. Tất cả các vụ này đều bị cho chìm xuồng. Mấy năm trước, người dân ở tỉnh Phú Yên đã biểu tình đập phá xe công an vì công an đánh chết người khi giam giữ.






NGƯỜI NGHÈO:
NẠN NHÂN BẤT ĐẮC DĨ CỦA HÀNG ĐỘC TQ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
UNICODE: http://viettudan.net
Geneva, 26.11.2009


Đối với những hàng độc hại Trung quốc, những nước giầu đã có những Biện pháp ngăn chặn. Trong Mậu dịch Quốc tế, mặc dầu đối với những Quốc gia đã gia nhập WTO, những nước muốn ngăn chặn có thể dùng những Biện pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để chế tài. Biện pháp Vệ sinh được nại ra để kiểm sóat những đồ ăn, đồ chơi cho trẻ em và những hàng may mặc nguy hại cho thân thể. Những Biện pháp kiểm sóat ngăn chặn này đang được thi hành ở Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu cũng như tại một số nước giầu Á châu.

Đồng tiền đi trước, hàng độc đến sau
tại những nước nghèo Á châu và Phi châu 

Đối với những nước nghèo Á châu, nhất là Phi châu, không phải là những Chính quyền không biết đến phân biệt hàng độc hại và những hàng khác của Trung Cộng. Nhưng Chính quyền những nước này dễ bị đồng tiền hối lộ đi trước để làm ngơ việc nhập nội những hàng độc hại từ Trung quốc. Không phải chỉ nguyên những lọai hàng đề cập đến trên đây, mà ngay cả những dược phẩm trực tiếp làm hại sức khỏe cũng được làm ngơ cho nhập vào. Nhận tiền hối lộ, cho nhập hàng độc vào, dân nghèo xử dụng và bệnh tật thì ráng chịu. Thực vậy, những người ăn hối lộ, có tiền mua dùng những hàng khác.

Lấy một tỉ dụ được đăng trên báo Le Nouvel Observateur: “Nhân vật trọng tâm của mạng lưới mà Jean Luc phát hiện, tên Wajee Abu Odeh, một người Jordanie, đến ở Trung Quốc, chính xác hơn là ở Thẩm Quyến. Ở Cận Đông, mạng lưới của nhân vật này cung cấp thuốc giả cho từ Jordanie, Ai Cập đến Syrie v.v...Tại Ai Cập chẳng hạn, họ cung cấp đến 50 % thuốc chữa trị ung thư. Không kể các loại thuốc giả chết người này tràn lan ở những khu vực ngoại ô nghèo, những vùng nông thôn, mà qua nhiều môi giới, nó cũng đã đến một số nhà thuốc tây, hay bệnh viện có uy tín ở thủ đô.“


Tại Việt Nam, Hàng độc lan tràn,
CSVN sợ Tầu và không có biện pháp

Những chuyên viên Kinh tế, Thương mại đã báo động về việc lan tràn hàng độc và phế thải từ Trung quốc. Nhưng Nhà Nước, không phải chỉ nguyên “Đồng tiền đi trước, hàng độc theo sau”, mà còn vì lệ thuộc Chính trị để cố thủ giữ quyền hành, đã không có những Biện pháp ngăn chặn nào. Dân chết, miễn là đảng ăn hối lộ có tiền, mua hàng tốt để dùng là được rồi.

Lê Khả Phiêu biết rõ ngay cả rau cỏ cũng mang chất độc hại, nên đã bỏ tiền 25’000 đô-la để làm khu vườn riêng trồng rau ăn tránh chất độc. Khu vườn này được chính Lê Khả Phiêu giới thiệu cho báo chí đến thăm nhà của mình.


Dân nghèo: nạn nhân bất đắc dĩ

Không phải là người nghèo không biết phân biệt hàng độc hại và hàng tốt, không độc hại, nhưng cái khó bó cái khôn. Điều đau đớn là họ ý thức đó là hàng độc hại mà vẫn phải dùng. Tôi xin kể ra hai tỉ dụ:

Tỉ dụ 1: Có Việt kiều về Việt Nam, đi ăn ở hàng quán và kể rằng họ rất ngượng ngùng khi thấy người ăn mày ngồi chờ họ vất cục xương xuống đất để nhặt lấy gặm hoặc chờ xin bát nước cặn còn thừa để húp. Người ăn mày đó đói quá, đành phải làm vậy, chứ không phải là không biết.

Tỉ dụ 2: Sau năm Bức tường Bá Linh sụp đổ, tôi sang Mạc Tư Khoa. Một thương gia Nga muốn nhờ tôi môi giới để mua những đồ hộp đã hết hạn cho rẻ. Tôi nói rằng khi hết hạn, đồ hộp có thể độc hại. Oâng trả lời tôi liền: “Oâng không biết dạ dầy Cộng sản hay sao. Nếu có đau bụng, chỉ cần một ly Vodka là xong !”

Dân nghèo Phi châu cũng như Á châu ý thức về sự độc hại của hàng Trung quốc. Những Phong trào kêu gọi bài trừ hàng Trung quốc. Nhưng vì nghèo quá, không có tiền, đành nhắm mắt xử dụng hàng độc từ Trung quốc bán rẻ mạt. Khi dạ dầy rỗng, thì đồ ăn có thiếu vệ sinh, vẫn phải ăn cho đỡ đói.

Cuộc Họp tại Copenhague bàn về khí độc mang hậu quả tàn phá thiên nhiên. Tại sao không nói đến hàng độc hại Trung quốc đang tràn lan để phá họai chính sức khỏe của thân xác con người ?


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


 



550 DÂN OAN BIỂU TÌNH TẠI SÀI GÒN
NGÀY 07.10.2009

vietland
Điều Hành   Join Date: Jun 2008
Posts: 996
550 người biểu tình tại số 210 Đường Võ Thị Sáu Sài Gòn
Ngày 08-10-2009, giờ 01:44

 
Hôm nay lúc 11 giờ VN ngày 07 /10.2009 Một đoàn Biểu tình 550 người gồm có 300 người từ Tinh An Giang và 250 người từ Tinh Kiên Giang Cuộc biễu tình xãy ra trước Nhà Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ số 210 Đường Võ Thị Sáu Đây là cuộc Biểu tình lớn nhất trong năm 2009

Đoàn người biểu tình mang những khẩu hiệu đòi nhà nước Cộng Sãn việt Nam trả đất ruộng Dân oan đã bị các Quan Chức Địa phương lạm dụng quyền lực cuớp đất ruộng của Nông Dân có hệ thống . Mãnh ruộng đất nào mặt tiền hay mầu mở các Quan chức lừa dối là cần mãnh đất ruộng đó để làm những công trình công ích và đền bù vời giá rẽ mạt . Sau đó các Quan chức Địa phương sang tay cho các Đầu nậu Địa ốc xây dựng những khu giải trí , du lịch , sân Golf hay biến thành tài sãn riêng cho chính mình .

Đây là lý do xãy ra nhiều cuộc biểu tình từ trước đến nay của Dân các Tỉnh An Giang và Kiên Giang và các Tỉnh khác ..
http://nhabaovanhai.multiply.com/journal/item/638/638










NGƯ DÂN CAY ĐẮNG PHÁ BỎ TÀU


Tin tổng hợp - Tin tức từ Việt Nam cho biết cơn bão số 9 vừa qua đã làm cho gần 80 tàu thuyền của ngư dân Quảng Ngãi bị mắc cạn trên đồng ruộng, rừng cây, nhiều tàu bể nát không thể khôi phục. Hàng trăm ngư dân đang tự tay mình tháo dỡ từng con tàu trong tâm trạng xót xa. Mặc dù bão đi qua khá lâu nhưng nhiều người vẫn không lấy lại được tinh thần. Họ đã tích góp, vay mượn ngân hàng, bà con lên đến hàng trăm triệu để đóng chiếc tàu đi biển. Một ngư dân cho biết khi nghe tin có bão, cả gia đình cùng bạn biển neo tàu cẩn thận tại bến Cù Lao thuộc cửa Sa Cần.
 
Thế nhưng do bão quá mạnh đã cuốn trôi con tàu nặng 61 tấn từ xã Bình Chánh lên tận cánh đồng Min thuộc xã Bình Dương xa tới hơn 8 cây số. Sau bão cả gia đình đã nỗ lực đi nhờ các nhóm cứu cấp để trục vớt nhưng cho đến nay vẫn chưa thể đưa tàu về. Ða số không mua bảo hiểm hoặc chỉ mua một phần, nên bảo hiểm chỉ trả rất ít. Do vậy nếu đưa được con tàu về bến thì chỉ tốn kinh phí trục vớt, còn nếu không đưa được tàu về thì chỉ còn cách duy nhất là tháo ván, phá bỏ tàu, thiệt hại rất nặng nề.
 
Một người khác ở thôn Sơn Trà, xã Bình Ðông, Bình Sơn cùng anh em bạn biển đang tự tay tháo dỡ những bộ phận còn lại của con tàu trong ngậm ngùi, lo lắng. Bão quá mạnh đã đẩy tàu lên bờ mắc cạn và con tàu trị giá hơn 300 triệu đồng là tài sản mưu sinh duy nhất giờ chỉ còn là đống gõ nất. Ðau xót hơn là tàu không mua bảo hiểm nên đành mất trắng. Hiện nay hàng ngàn ngư dân rơi vào cảnh thất nghiệp, khó khăn chồng chất. Bão số 9 đã phá nát gần 60 tàu thuyền, 17 tàu thuyền bị mắc cạn trên các cánh đồng cao, qua nhiều cánh rừng, thôn xóm cản trở nên không thể đưa tàu ra biển.
 
Không còn cách nào khác dân phải tự tay tháo ván, phá dỡ tàu, thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Nhà nước thì đã không giúp đỡ gì hết đối với những ngư dân này, họ chỉ đành ngậm ngùi nuốt nước mắt tìm cách khác để sinh sống mà thôi.(SBTN)

Posted on 24 Oct 2009








BAO GIỜ HẾT
KHỦNG HỎANG KINH TẾ MỸ VÀ THẾ GIỚI ?

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 07.10.2009


KINH TẾ Dân nghèo: nguồn ĐỘT BIẾN Cách Mạng

Nhập và viết trên các Diễn Đàn từ gần 10 năm nay vì ngưỡng mộ cái DŨNG của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ đã bất khuất đấu tranh ở trong lòng một Cơ Chế đàn áp mọi đối lập. Trong một số năm đầu, tôi không viết gì về Kinh tế, mà chỉ viết về Tự do Tín ngưỡng, Tự do Dân chủ, Nhân quyền.

Nhưng từ khi Phong trào DÂN OAN nổi dậy mạnh tại Sài Gòn và Hà Nội, rồi những đợt ĐÌNH CÔNG của Công nhân, tôi bắt đầu chuyển hướng đấu tranh. Mục đích là phải DỨT BỎ cái Cơ Chế CSVN hiện hành. Đâu là LỰC LƯỢNG khả dĩ lật được Cơ Chế CSVN ? Phải chăng là Phong trào DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN ? Phong trào đối chọi với CSVN qua những phạm trù trừu tượng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền… Nhưng CSVN cối chầy, ngụy biện ngay đối với những phạm trù trừu tượng này.

Tôi bắt đầu thấy rằng chỉ có Dân Nghèo (Dân Oan, Nông dân, Công nhân) chiếm đa số quần chúng mới có thể đứng lên làm cuộc ĐỘT BIẾN lật đổ Cơ Chế CSVN.

Nhìn lại Lịch sử những cuộc Cách Mạng, đó cũng là từ đại đa số Dân Nghèo. Cuộc đại Cách Mạng Pháp 1789, không phải là những nhà Trí thức như Danton làm nên, nhưng là từ tiếng thanh la của một cô gái đói bụng, la lên đòi đồ ăn để khỏi chết đói. Tiếng la đói ấy có sức lôi cuốn cả quần chúng Pháp làm Cách Mạng. Cũng vậy, cuộc Cách Mạng 1917 của Cộng sản cũng dựa trên lớp vô sản Nông dân và Công nhân.

Người nghèo Nông dân và Công nhân Việt Nam quan tâm đến cái quyền đầu tiên, đó là quyền DẠ DẦY, chứ không phải là những phạm trừ trừu tượng Nhân quyền tổng quát. Mà quyền DẠ DẦY có nghĩa là Kinh tế căn bản để kiếm sống. Tôi cũng thấy rằng sự can đảm sống chết của Dân nghèo đến từ cái DẠ DẦY bị đói quá. Đa số (75%) Dân Việt càng bị bóc lột bao nhiêu, càng nghèo kiết xác bao nhiêu, thì càng tiến dần đến ĐỘT BIẾN để lật đổ cái Cơ Chế CSVN đầy tham nhũng bóc lột.

Chính vì cái quyền DẠ DẦY của đại đa số Dân nghèo này, mà tôi bỏ không viết nữa về những phạm trù trừu tượng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền tổng quát. Tôi chỉ chú tâm viết về quyền DẠ DẦY, nghĩa là Kinh tế, cho đại đa số Dân nghèo.

Tôi bắt đầu bằng lọat bài Tương quan Kinh tế—Chính trị giữa lúc CSVN tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do/Thị trường mà vẫn giữ độc tài Chính trị một các tréo cẳng ngỗng.

Tiếp theo đó, tôi viết về cuộc Khủng Hỏang Tài chánh Á-châu 1997 để tìm xem những yếu tố nào tương tự đang dẫn đến cuộc Khủng hỏang tại Việt Nam về Tài chánh và Kinh tế.

Liền sau lọat bài này, thì cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới xẩy ra. Tôi phân tích về cuộc Khủng hỏang Thế giới này.

Hiện nay, tôi chú trọng đến những biến chuyển Tài chánh/Kinh tế của 3 Quốc gia: Hoa kỳ, Trung quốc và Việt Nam. Trong những tương quan dây chuyền Tài chánh/Kinh tế giữa ba nước này, tôi đã chọn ra một Chủ đề: CHỐNG LẠI XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC TẠI VIỆT NAM. Tôi nhận thấy rằng Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng qua Hoa kỳ và Liên Âu. Trung quốc rất lo sợ Khủng hỏang tiếp tục tại Hoa kỳ và Liên Âu. Trung quốc quay về xuất cảng và chiếm cứ Kinh tế tại các nước nghèo Á-châu, nhất là Việt Nam.

Viết những điều trên đây, tôi muốn cắt nghĩa tại sao tôi chú tâm viết những bài về Kinh tế, nhất là Kinh tế Hoa-kỳ, Liên Aâu và Thế giới. Nhiều khi trước cảnh dân nghèo Việt Nam bị Cơ Chế CSVN bóc lột đến cùng cực, tôi mong Kinh tế Mỹ, Liên Aâu và Thế giới đổ vỡ để Dân nghèo VN đi đến chỗ quá nghèo mà nổi dậy làm ĐỘT BIẾN chấm dứt Cơ Chế CSVN ăn cướp. Dĩ độc trị độc vậy.

Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế
Theo nhận định của Oâng Ben BERNANKE
 
Tuyên bố của Ông BERNANKE: Chấm dứt  Khủng hỏang tại Hoa kỳ

Tôi luôn luôn phân biệt hai lãnh vực: Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh và Lãnh vực Kinh tế thực. Trong thập niên qua, Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh trở thành một kỹ nghệ tạo ra những sản phẩm vốn để ăn lời quá đáng. Mà vốn này hầu hết thuộc về tương lai chưa làm ra hiện thực (Virtual Capital). Họ xả láng cho những Credits để cổ võ tiêu thụ cá nhân, để những Công ty sản xuất hàng hóa bừa bãi không không quan tâm đến khả năng tiêu thụ thực của quần chúng. Đó là cái nguyên cớ đưa đến Khủng hỏang Tài chánh. Khủng hỏang Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực khiến Thất nghiệp tăng.

Những Chương trình BAILOUTS cứu vãn Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh làm cho Lãnh vực này tạm yên. Rồi Chỉ số của Thị trường Chứng khóan lên. Điều này chưa hẳn là Kinh tế thực đã lấy lại sức mạnh. Thường sau những cuộc Khủng hỏang Thị trường Chứng khóan, có những cuộc Buy-Back của những nhà đầu tư. Có thể lúc này, Chỉ số Thị trường Chứng khóan lên, một phần là vì những nhà tài phiệt bỏ vốn ra mua những Giá trị chứng khóan với giá đang hạ để sau này bán lại kiếm lời. Đó là vấn đề thương mại ở Thị trường chứng khóan và chưa hẳn là việc phục hồi Kinh tế thực. Chính vì nghĩ như vậy, nên một số người nói rằng lời tuyên bố của Ông BERNANKE là hơi vội, và có phần phiến diện nếu chỉ căn cứ ở sự tăng lên của Chỉ số Chứng khóan.

Có thể việc tuyên bố của Ông BERNANKE mang yếu tố tâm lý cổ võ cho việc Chi tiêu để làm tăng phía CẦU của Lãnh vực Kinh tế thực. Tôi cũng đồng ý với ý kiến này, nghĩa là lời tuyên bố lạc quan của Ông BERNANKE mang yếu tố tâm lý làm phấn khởi cho Tiêu thụ, tăng phía CẦU.

Cùng ngày 16.09.2009, hai Ký giả Peter A.McKay & Geoffrey Rogow viết trong THE WALL STREET JOURNAL, trang 20, rằng: “Stocks pushed higher Tuesday, helped by Federal Reserve Chairman Ben Bernanke’s declaration the U.S. recession had lkely ended. Mr.Bernanke said that from a technical point.” (Giá trị chứng khóan tăng cao hơn hôm thứ Ba, được cổ võ bởi lời tuyên bố của Chủ tịch FED Bernanke rằng cuộc Khủng hỏang Mỹ dường như đã chấm dứt. Ông Bernanke đã nói điều đó từ một khía cạnh kỹ thuật).

Oâng GREENSPAN nhấn mạnh đến
THẤT NGHIỆP của Khủng hỏang Kinh tế

Ông Greenspan tuyên bố thất nghiệp sẽ vượt qua mức 10%, và không cần đến kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai (Cali Today News, Trần Thị Sông Dinh, Oct 04, 2009)

Cali Today News – Ông Greenspan – Cựu chủ tịch Qũy Dự Trữ Liên Bang (DTLB) Hoa Kỳ, nay đã nghỉ hưu, vừa tuyên bố hôm chủ nhật là mức thất nghiệp sẽ vượt qua 10%, rồi sẽ dừng ở đó một thời gian, và chương trình kích thích kinh tế hiện nay chưa cần đến.

Ngoài ra, ông ta cũng phát biểu thuận lợi cho việc gia hạn trợ cấp thất nghiệp, khấu trừ thuế cho tiền bảo hiểm y tế – đó chính là chương trình mà chính quyền của ông Obama đang xem xét để giúp đỡ những người bị thất nghiệp trong đợt suy thoái lần này. Hiện nay, có tới 15 triệu người Mỹ thất nghiệp, và mức thất nghiệp hiện nay đang ở mức 9.8%, mức cao nhất trong vòng 26 năm qua.

Ông cũng cho rằng đây là một giai đoạn thật đặc biệt và một số hành động tạm thời cần được áp dụng. Phát biểu trên ABC’s trong mục “This Week”, ông nói: “Tôi thật sự không xem xét các loại chương trình kích thích kinh tế, tôi nghĩ một cách căn bản đó là những chương trình giúp đỡ cho người dân, nhất là một phần đối với tiêu chuẩn sống của họ. Tôi cho rằng nó sẽ có hiệu quả kích thích, nhưng đó là điểm chính của tôi.”

Ông ta gọi bản tường trình công việc được công bố vào thứ sáu rồi là “khá tệ”, và ông Greenspan đặc biệt quan tâm về những con số thống kê cho thấy số người mất việc làm trong 6 tháng qua hoặc hơn đã đến con số 5 triệu người, sau khi đã gia tăng đáng kể trong tháng qua.

Ông nói thêm: “Những người bị mất việc cho một thời gian dài sẽ thật sự mất đi tay nghề của họ. Những điều tạo ra một nền kinh tế vĩ đại là sự kết hợp giữa tài sản vốn của nền kinh tế và nhân sự điều hành tài sản này. Và nếu bạn mất đi những năng khiếu con người, thì thật sự có một sự mất mát thật sự và không tìm lại được.”

Nhìn về trước trong bức tranh toàn cảnh của tình trạng thất nghiệp, ông ta nói rằng nó sẽ vượt qua mức 10%, và ở đó một thời gian, trước khi rơi xuống trở lại.

Ông Greenspan nói rằng ông đề nghị TT Obama tập trung đưa nền kinh tế đi lên, nhưng đừng thúc đẩy nhiều quá đến nỗi mà nó sẽ tạo ra phản tác dụng. Với mức phát triển của qúy 3 là 3% hay cao hơn, Greenspan cho biết là ông ta đề nghị không cần kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai. Ông ta nói rằng cần chờ đợi và quan sát xem cái động lực đang thúc đẩy nền kinh tế đi lên sẽ tiến triển ra sao.

Ông Greenspan cũng tỏ ra quan tâm về sự gia tăng mức thâm thủng ngân sách và nợ của quốc gia.

NHÂN LỰC là một trong hai Yếu tố chính
Của Sản Xuất Kinh tế thực

Phương trình Lượng Sản Xuất cho mọi nước như sau:

Q   =   f(K, L, t)

Q là Lượng sản xuất. Trong Phương trình này, K (Vốn) và L (Nhân Lực) là hai yếu tố sản xuất chính yếu. “t“ đứng trong Phương trình để chỉ Technology. Technology không đứng độc lập với Vốn (K) và Nhân Lực (L). Người ta gọi “t” là Incorporated Technology, nghĩa là phải có hai yếu tố K và L trước đã thì Technology mới Incorporated vào được. Có Vốn, thì mới mua được Technology. Và Technology được incorporated vào Nhân Lực để làm tăng hiệu lực cho Nhân lực. Trong Lãnh vực Kinh tế thực hiện đại, giữa Nhân lực và Technology đang có sự đố kỵ. Tăng Kỹ thuật để thải nhân lực !

Ở những nước chưa mở mang, chưa có Kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân, nhưng nông dân vẫn sản xuất nhờ Vốn mua ruộng, hạt giống, phân đạm và nhờ bắp thị cứng rắn (Nhân lực). Điều đó có nghĩa là việc sản xuất của nông dân ở những nước nghèo này chưa có Technology can thiệp vào, mà chỉ nhờ VỐN (K) và NHÂN LỰC (L) là những yếu tố chính yếu của sản xuất.

Với Công thứ tồng quát  Q=f(K,L,t), tôi có thể áp dụng cho mọi nước, từ những nước nghèo nhất chưa có tiền mua Technology. Technology phải từ từ incorporated vào K và L khi người ta có VỐN để mua Technology và khi NHÂN LỰC được huấn luyện kiến thức nghề nghiệp về Technology.

Khi NHÂN LỰC là một trong hai Yếu tố chính sản xuất cho Lãnh vực Kinh tế thực, thì THẤT NGHIỆP là một Chỉ số quan trọng để những Nhà Kinh tế nói về Khủng Hỏang. Đối với những người nắm quyền Chính trị, thì Chỉ số THẤT NGHIỆP thực sự trở thành quan trọng vì từ khối người Thất nghiệp, tình trạng căng thẳng Xã hội nẩy sinh và có thể đưa đến xáo trộn Xã hội và ĐỘT BIẾN Chính trị.

Oâng GREENSPAN chú trọng đến Chỉ số Thất nghiệp. Sau khi Oâng BERNANKE tuyên bố lạc quan dựa trên Chỉ số Chứng khóan, thì OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đưa ra ngay Chỉ số Thất nghiệp để cho thấy tình trạng Khủng hỏang. Ký giả Gabriele PARUSSINI viết ra quan điểm của Ông Angel CURRIA, Tổng Thư ký của OECD  gồm 30 quốc gia, viết Bài báo, với tựa đề là OECD SAYS JOBS CRISIS HAS REPLACED CREDIT CRISIS, được đăng trên THE WALL STREET JOURNAL ngày thứ Năm, 17.09.2009, trang 2.

Ký giả Gabriele PARUSSINI và OECD đứng theo quan điểm THẤT NGHIỆP để nói về Khủng hỏang Kinh tế thực, chứ không riêng Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh như Ông Bernanke.

Chưa có thể nói đơn giản là
Cuộc Khủng Hỏang Tài chánh/Kinh tế đã chấm dứt

Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới bắt đầu từ những Tín Dụng Địa Oác (Mortgage Credit). Những Subprime Mortgage Credits bị ung thối rồi lan sang các Tin dụng khác làm cho giới Ngân Hàng/ Tài chánh co rúm lại, mất giá. Thị trường Subprime Mortgage Credits không phải chỉ tác dụng riêng cho giới Ngân Hàng/ Tài chánh Hoa-kỳ, mà cho các Ngân Hàng lớn khắp Thế giới. Đây không phải chỉ lỗi riêng của Hoa kỳ, mà còn là việc tham dự Tín dụng của các Ngân Hàng/ Tài chánh lớn Thế giới vào Thị trường Hoa kỳ để chia phần lợi nhuận. Cùng chia phần lợi nhuận để sau đó các Ngân Hàng/ Tài chánh lớn của các nước khác cùng bị hậu quả của sự ung thối Subprime Mortgage Credits, thì bây giờ không thể óan trách riêng Hoa kỳ.

Chính quyền Hoa kỳ, ngay cuối thời TT.BUSH đã chỉ chú tâm vào việc cứu vãn giới Ngân Hàng và các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh bằng những Chương trình BAILOUTS. Chính quyền TT.OBAMA tiếp tục những Chương trình BAILOUTS cho giới Ngân Hàng và những Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh.

Nhưng lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh bắt đầu lan sang lãnh vực KINH THẾ thực làm đình trệ sản xuất và do đó nạn THẤT NGHIỆP  bán phần (chomage au temps partiel) rồi tòan phần (chomage à plein temps) tăng lên. Ngành nghiệp KINH TẾ bị khủng hỏang trầm trọng là Kỹ nghệ Xe Hơi. Kỹ nghệ Thiết bị, Kỹ nghệ những Sản phẩm xa hoa.

Không những chỉ Chính quyền Hoa kỳ, mà các Chính quyền của các nước đã Kỹ nghệ hóa đưa ra những Chương trình Kích cầu (STIMULUS plans) để nâng cao phía CẦU của Dân chúng đang bị co rúm lại và từ đó làm cho các Kỹ nghệ có thể sản xuất mà tăng phía CUNG. 

Cuộc Khủng hỏang bắt đầu từ năm 2007, qua suốt 2008, rồi hiện nay là tháng 9/2009.

Đọc Tờ THE WALL STREET JOURNAL ngày 16.09.2009, trang 3, tôi thấy bài của hai Ký giả Sara MURRAY và Ann ZIMMERMAN viết chiếm trọn 5 cột với đầu đề “BERNANKE DECLARES END TO RESESSION IN THE U.S.” (BERNANKE TUYÊN BỐ CHẤM DỨT KHỦNG HỎANG TẠI HOA KỲ). Tôi mừng cho nước Mỹ, mừng cho những đồng hương của tôi sẽ bắt đầu sống sung sướng sung túc như trước đây.

Những thành phần tham dự vào Thị trường Chứng khóan là những Tỉ phú, Triệu phú, là những Ngân Hàng, những Tổ chức Bảo Hiểm, Tài chánh. Khi Chỉ số Thị trường Chứng khóan xuống, họ mất, nhưng tài sản của họ vẫn còn mức độ căn bản làm họ tiếp tục sống vương giả. Những nhân viên làm việc cho các Triệu phú, Tỉ phú, các Ngân Hàng, các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh, dù bị thất nghiệp, nhưng trước đó họ đã thu vào những khả năng Tiền bạc để bảo đảm tình trạng thất nghiệp lúc này.

Nếu những Chương trình BAILOUTS khổng lồ cứu vãn giới Tài chánh (Giới có Tiền bạc kho đụn), thì những Chương trình STIMULUS cho Kinh tế với những chi tiêu khổng lồ xả láng mà hiệu quả còn mù mờ chưa cho phép nói là Khủng hỏang đã chấm dứt. Thậm chí chúng ta có thể nói Khủng hỏang Kinh tế còn đang tăng nếu nhìn Chỉ số THẤT NGHIỆP là mối quan tâm chính yếu cho Lãnh vực Khủng hỏang Kinh tế thực.

Cứu đổ vỡ cho Ngân Hàng, Triệu phú ở Thị trường Chứng khóan hay cứu Dân nghèo THẤT NGHIỆP ?

Khi các Chính quyền cứu vớt các Ngân Hàng, các Tổ chứ Bảo Hiểm/Tài chánh là nhằm hai mục đích: (i) Để họ không chết; (ii) Để họ có vốn tăng lên mà cho Lãnh vực Kinh tế thực vay. Khi các Ngân Hàng Trung Ương hạ lãi suất chỉ đạo xuống gần số không, đó là hạ giá vốn để các Xí nghiệp có thể vay được vốn với giá hạ trong lúc túng quẫn. Mục đích tối hậu của những Chương trình BAILOUTS cứu vớt giới Ngân Hàng/ Tài chánh là để giới này cùng với các Xí nghiệp tạo công ăn việc làm cho Dân chúng. Cũng vậy mục đích hạ lãi suất chỉ đạo cũng nhằm tạo công ăn việc làm qua các Xí nghiệp. Mục đích tạo công ăn việc làm là hòan tòan chính đáng và là công bằng xã hội bởi lẽ những số tiền khổng lồ cho những Chương trình BAILOUTS và những Chương trình STIMULUS là do sự dóng thuế của tòan Dân, chứ không phải đến từ giới Triệu phú, Tỉ phú hoặc Ngân Hàng.

Nhưng tại sao những số tiền khổng lồ BAILOUTS và STIMULUS đi vào đâu mà không tạo hiệu quả làm giảm thất nghiệp theo mục đích của các Chính quyền?

Nếu những Chương trình BAILOUTS chỉ giúp các Tỉ phú, Triệu phú, các Ngân Hàng, các Tổ chức Bảo Hiểm/ Tài chánh đổ số tiền giúp đỡ ấy vào việc chơi ở Thị trường Chứng khóan để làm cho Chỉ số Chứng khóan tăng lên, đó là việc những người giầu này làm tăng sự giầu có của họ do thuế Dân đóng vào, chứ không phải là tạo công ăn việc làm cho chính người Dân nghèo đóng thuế. 

Đối với những Xí nghiệp sản xuất, Ngân Hàng Trung ương hạ lãi suất, rồi Dân đóng thuế cho những Chi tiêu khổng lồ trong những Chương trình STIMULUS, cố ý tăng Sản xuất của những Xí nghiệp và do đó tạo công ăn việc làm. Nhưng tại sao THẤT NGHIỆP càng tăng? Có ba cách cắt nghĩa:

=> Các Xí nghiệp đang trong thời kỳ thế thủ với cuộc khủng hỏang hiện nay. Họ xử dụng vốn rẻ để củng cố sự vững chắc cho Xí nghiệp họ hơn là tăng sản xuất để có thể đi vào phiêu lưu trong thời gian bấp bênh tới chưa lường được.

=> Việc sản xuất tùy thuộc hai yếu tố  Q = f (K, L,t). Q là lượng sản xuất, K là xử dụng Vốn, L là xử dụng Nhân lực. K tượng trưng cho những phương tiện sản xuất Kỹ thuật, Máy móc. Các Xí nghiệp nếu có tăng lượng sản xuất Q, thì họ thiên về việc xử dụng Vốn cho những phương tiện Kỹ thuật, Máy móc hơn là thu nhập thêm Nhân công vốn dĩ mang nhiều phức tạp. Trong thời gian qua, các Xí nghiệp phải chịu tình trạng Kỹ thuật, Máy móc ngưng chạy (thất nghiệp máy móc), nên lúc này họ cho Máy móc chạy lại đúng mức độ để sản xuất hơn là thu nhận thêm Nhân công.

=> Những Xí nghiệp Sản xuất luôn luôn gặp những phức tạp khi phải sa thải nhân công vì các Nghiệp Đòan Thợ thuyền đứng đó để sẵn sàng tranh đấu. Trong hai Yếu tố Sản xuất chính K (Vốn), L (Nhân lực), những Nhà Quản trị Xí nghiệp dễ điều khiển Vốn hơn là Nhân công. Tại những nước tiền tiến, những Nhà Quản trị dễ tìm dịp thay thế Vốn vào chỗ Nhân công. Mỗi mức Tiến triển Khoa học Kỹ thuật là mỗi bước sa thải Nhân lực. “La Technologie chasse les Ouvriers“ (Kỹ thuật đuổi Thợ thuyền). Sa thải Nhân công thì dễ, mà nhận lại mới khó. Vì vậy, cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế này có lẽ là dịp may cho một số Xí nghiệp để có cớ sa thải Nhân công. Tình trạng Thất nghiệp sẽ kéo dài vậy.


Các Chương trình BAILOUTS và STIMULUS là do thuế của Dân đóng vào, trong đó có cả những người THẤT NGHIỆP, chứ không phải chỉ nguyên những Ngân hàng gia hay những Tỉ phú chơi Chứng khóan. Người Dân đóng thuế là mong những Chương trình BAILOUTS và STIMULUS lo cho Dân có công ăn việc làm. Khi THẤT NGHIỆP vẫn tăng, thì đó có nghĩa là các Chương trình BAILOUTS và STIMULUS chưa đạt được mục đích mà chính Dân đóng thuế mong ước.

Không thể chỉ lấy nguyên Chỉ số Chứng khóan để nói rằng Khủng hỏang chấm dứt. Phải theo Chỉ số THẤT NGHIỆP mà nói rằng Khủng hỏang đã chấm dứt hay chưa.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 07.10.2009






BÁN HÀNG VÀ MUA HÀNG VÌ YÊU NƯỚC

http://www.thanhnie n.com.vn/ News/Pages/ 200938/200909180 05045.aspx  
18/09/2009 0:50 



Một chương trình lớn nhằm bán hàng và mua hàng vì tình yêu Tổ quốc và đồng bào vùng biển đảo đã được phát động bởi Hiệp hội Dệt may VN (Vitas), Tập đoàn Dệt may VN (Vinatex), Báo Nhân Dân, Quân chủng Hải quân VN và một số đơn vị khác mang tên "Đồng hành cùng doanh nghiệp Dệt may Việt Nam vì đồng bào biển đảo của Tổ quốc" đã chính thức khởi hành từ hôm nay tới hết năm 2010.

Cứ trong mỗi 1.000.000 đồng doanh số hàng dệt may được bán, sẽ có 2.500 đồng được đưa vào quỹ "Vì đồng bào biển đảo của Tổ quốc". Dự kiến, trong năm 2009 có thể thu được 25 tỉ đồng cho quỹ này để trợ giúp đồng bào trong đời sống cũng như hỗ trợ phát triển kinh tế và văn hóa những vùng biển đảo.

Đây có thể coi là một chương trình bán hàng dệt may đặc biệt, vì các doanh nghiệp dệt may tham gia chương trình này ngoài mục tiêu quảng bá thương hiệu, tiêu thụ được hàng dệt may tại thị trường nội địa, còn kết nối được với khách hàng là đồng bào Việt Nam mình trong một tình yêu cháy bỏng vì biển đảo quê hương. Mục đích đẹp ấy đòi hỏi một kế hoạch thực hiện mang tính khả thi cao và một tình yêu Tổ quốc thực sự. Bởi muốn đưa được hàng dệt may nội địa tới với tất cả khách hàng nội địa Việt Nam thì việc đầu tiên là phải nâng cao được chất lượng hàng hóa, giảm giá thành tới mức có thể cạnh tranh ngang ngửa với hàng dệt may ngoại nhập.

Lâu nay, do mải mê chinh phục những thị trường tiêu thụ hàng dệt may trên thế giới, mà nhiều lúc, ngành dệt may VN như xao lãng thị trường nội địa - một thị trường rộng lớn không chỉ đầy tiềm năng mà còn đầy khả năng tiêu thụ. Sự xao lãng ấy đã phải trả giá đắt một khi có khủng hoảng kinh tế thế giới, và nhất là khi thị trường nội địa bị tràn ngập bởi hàng dệt may ngoại nhập từ giá cao tới giá rẻ và "siêu rẻ".

Nay thì tình yêu Tổ quốc, yêu đồng bào mình nơi những vùng biển đảo đầy sóng gió nguy tai đã thức tỉnh chính những doanh nghiệp dệt may Việt Nam hướng thẳng vào thị trường nội địa, quyết bán hàng không chỉ với mục đích lợi nhuận mà còn với mục đích chia sẻ, đồng hành cùng đồng bào biển đảo. Và tôi nghĩ, tại sao lại không, thị trường tiêu thụ hàng dệt may trên toàn cõi Việt Nam trong một ngày gần đây sẽ xuất hiện những chiếc áo in bản đồ VN có đầy đủ những vùng biển đảo, những địa danh "Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam" được in trên áo phông sẽ khiến hàng triệu khách hàng Việt Nam náo nức đón mua. Khi người bán hàng bán sản phẩm của mình với lòng yêu nước, thì người mua hàng cũng sẽ mua những sản phẩm ấy với lòng yêu nước. Chỉ như thế, thì chương trình tuyệt vời này mới có những cơ hội thực tế để thành công!

Thanh Thảo 

 








DOANH NHÂN THẤM NHỤC

Vài dòng của một doanh nhân
Kính gởi Ban Biên Tập Bauxitevietnam,



Tôi cũng là một trong số những độc giả hàng ngày vào thăm trang mạng của Quý vị, ngày nào tôi vì lý do nào đó bận công việc mà không đọc Bauxitevietnam thì ngày đó tôi cảm thấy như thiếu thiếu cái gì đó. Thật ra tôi là một doanh nhân bình thường như các doanh nhân khác, chỉ làm kinh tế mà ít quan tâm đến chính trị. Nhưng từ khi có trang Bauxite này tôi lại theo dõi hàng ngày, xem tất cả các tin tức và ý kiến của mọi người, và ngày càng thật sự xấu hổ cho bản thân.
Nhân đọc bài Tiếng nói của tuổi trẻ: thư ngỏ gởi Mẹ Nấm, chị Đoan Trang và anh Thanh Hiếu của bạn trẻ Duy Hải, tôi thấy mình như quá ích kỷ khi là một người dân Việt nam. Có thể BBT sẽ không đăng những dòng suy nghĩ này, nói thật ra tôi thì không biết văn chương mấy, chỉ lo tính toán làm kinh tế, chỉ biết làm sao kiếm lãi, bây giờ tôi mới biết mình đã quá ích kỷ khi mà hiểu được mối quan tâm của mọi người đến vấn đề môi sinh, đến an ninh của đất nước. Các bạn trẻ đã dám nói thật tiếng nói của lòng mình, và các bạn như: Mẹ Nấm, Đoan Trang, Thanh Hiếu… đã dám công khai bộc lộ những suy nghĩ chính đáng của mình, dám nói lên sự thật, dù biết rằng những gì mình nói sẽ đem lại hậu quả cho chính mình, nhưng họ vẫn cứ nói. Điều đó thật là hành động dũng cảm, tôi thật sự khâm phục họ.

Về phía tôi là doanh nhân, tuy biết nhưng không dám thổ lộ vì tôi nói riêng và các doanh nhân khác nói chung vẫn sợ ảnh hưởng đến việc kinh doanh cũa mình, nên không dám lên tiếng công khai, chỉ biết ngồi với nhau phù phiếm thôi. Nhưng nói thật là tự trong đáy lòng tôi vẫn có lòng yêu nước dâng trào đấy, khi đọc một sự kiện gì ví dụ như vấn đề khai thác Bauxite hiện nay, tôi luôn ủng hộ quý vị chống dự án khai thác thứ quặng có thể gây hiểm họa khôn lường cho đất nước về nhiều mặt ấy, hoặc vấn đề Biển Đông, hay những ý kiến phản biện các chính sách bất ổn của chế độ… thì máu trong người tôi sôi sục.

Cho nên không phải tất cả giới doanh nhân trên đất nước này đều thờ ơ trước hiện tình đất nước. Vì miếng cơm manh áo của họ và những người lao động cho họ nên họ không dám nói, nhưng tôi biết được trong họ cũng sôi sục máu yêu nước như tôi. Có đôi khi đọc các bài viết trên mạng Bauxitevietnam tôi cũng muốn có ý kiến lắm nhưng tôi đắn đo mãi không biết nên nói hay không và phải viết như thế nào, rồi cũng sợ liên lụy nữa, nhưng bây giờ tôi đã dám viết vài dòng này thổ lộ tâm tư cho vơi đi ức chế trong lòng.

Tôi biết rằng đất nước mình có rất nhiều nhân tài, sẵn sàng cống hiến cho Tổ quốc , nhung vì sống trong bối cảnh của chế độ hiện nay, nên không ai dám cống hiến gì cả, mà chỉ lo toan tính miếng cơm hàng ngày. Tôi cũng không ngạc nhiên khi các nhà trí thức của IDS tự giải thể, nó cũng không ngoài dự đoán của tôi. Trong một thể chế như hiện nay, anh không thể nào chống lại các chủ trương chính sách [sai trái] của Đảng và Nhà nước được trừ phi tất cả trí thức cùng đồng lòng, đoàn kết chống lại thì may ra, hoặc trừ phi… , đó là câu chuyện nhạy cảm và cũng là hy hữu. Có những vấn đề cũng có thể tích cực theo đuổi, chẳng hạn dùng luật của Nhà nước phản biện lại Nhà nước, tuy không đem lại kết quả như ý nhưng ảnh hưởng rất lớn và có ý nghĩa, tôi ví dụ như việc Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hiện nay đối với nhiều người, ông Cù Huy Hà Vũ là một người dũng cảm dám đi một bước táo bạo, tạo được một nét điển hình mới trong công tác phản biện bằng hành động đúng Luật.

Theo tôi nghĩ, một hành động gây tiếng vang trong dân chúng bình thường, đến tai được quần chúng rộng rãi thì sẽ có tác động lớn, chứ thật tình, chỉ phản biện bằng ngôn từ không thôi thì chỉ mới ảnhh hưởng ở một tầng lớp nào đấy, có khi rất mạnh mẽ sâu sắc, nhưng chưa thấu đến tai người dân thường được, vì tất cả mọi người dân không thể ai cũng tiếp cận được thông tin. Tôi tin Ông Hà Vũ sẽ thắng kiện. Không biết suy nghĩ của tôi có đụng chạm ai không, nếu có mong thứ lỗi vì đó chỉ là suy nghĩ của tôi

Kết thúc lá thư, tôi mong rằng trang Bauxitevietnam luôn sống mãi để còn có những ý kiến, tin tức thật sự bổ ích cho người xem. Tôi mong rằng trang này đừng bị xóa bỏ như các trang báo hay blog khác khi dám nói tiếng nói thật của mình, và thật buồn khi không còn cách gì tiếp cận với SỰ THẬT, khi cứ phải đọc những tờ báo “lề phải” chán ngắt của Bộ 4T.

NTQ
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập.
http://bauxitevietn am.info/c/ 10475.html



NÔNG DÂN VIỆT NAM
ĐANG BỊ BẦN CÙNG HÓA

Nam Nguyên, đài RFA

 

Như một sự kiện chưa từng có, một nhà khoa học nổi tiếng đang sống ở trong nước đã công khai nhận định trên báo điện tử VietNamNet rằng, nông nghiệp nông thôn Việt Nam kém phát triển hoàn toàn là do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo. Ðó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa.

Tạo công ăn việc làm ở nông thôn đồng thời cũng giúp giải quyết được tình trạng người lao động nhập cư đổ về các thành phố lớn để kiếm sống.

Nhân vật này là Giáo Sư Viện Sĩ Ðào Thế Tuấn 78 tuổi, từng là viện trưởng Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam, ông xuất thân từ một gia đình khoa bảng, thân phụ là học giả sử gia Ðào Duy Anh. Sự kiện nổi bật gần đây nhất, ngày 25 Tháng Sáu 2009 đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, đã thay mặt chính phủ Pháp, trao tặng GSVS Ðào Thế Tuấn Huân Chương Nông Nghiệp Ðệ Nhất Hạng, là huân chương vinh danh những cá nhân có cống hiến lớn lao cho nông nghiệp.

Bài phỏng vấn do nhà báo Ðoan Trang thực hiện cho chuyên mục Tuần Việt Nam thuộc VietNamNet. Bài theo dạng hỏi đáp dài hơn 2,600 từ chứa đựng những ý kiến phê bình thẳng thắn, GSVS Ðào Thế Tuấn đã không ngần ngại nói thẳng rằng nông dân Việt Nam đang bị bần cùng hóa. Chúng tôi trích đọc nguyên văn lời ông nói:

“Nhìn từ góc độ chính trị-xã hội, nông dân Việt Nam là những người ít được hưởng lợi từ đổi mới nhất. Nông dân còn quá nghèo, ít được hưởng phúc lợi xã hội như giáo dục, y tế... thiếu việc làm ở nông thôn và buộc phải di cư ra thành phố làm thuê với giá lao động rẻ mạt.

Nông dân đang bị bần cùng hóa, và đó là nguy cơ gây bất ổn xã hội. Như ở Trung Quốc bây giờ, bạo loạn ở nông thôn xảy ra nhiều lắm, ấy là hậu quả của sự bần cùng hóa nông dân.”

Tái diễn kịch bản của Trung Quốc và Nga

Ðáp các câu hỏi khác của VietNam Net, GSVS Ðào Thế Tuấn cho rằng nước Việt Nam đang diễn lại đúng kịch bản ở Trung Quốc và Liên Xô trước kia. Theo lời ông, thế kỷ 20, Liên Xô sau khi tiến hành Cách Mạng Tháng Mười, không có nguồn lực để công nghiệp hóa nên họ buộc phải dùng nông nghiệp để làm công nghiệp. Trung Quốc từ thời Mao Trạch Ðông cũng vậy, bóc lột nông dân, vắt kiệt nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp. Và Việt Nam bây giờ đang diễn lại đúng kịch bản đó.

Nhà báo đặt ngược vấn đề là nhà nước Việt Nam không có một chủ trương nào nói rằng phải dùng nông nghiệp để nuôi công nghiệp. GSVS Ðào Thế Tuấn nhìn nhận là tuy không có chủ trương, nhưng thực tế đang cho thấy đúng như vậy. Tất cả những khẩu hiệu đẹp đẽ liên quan tới nông dân được GSVS Ðào Thế Tuấn mô tả là mị dân, đại loại những câu ‘nông dân là lực lượng cách mạng’, ‘phải biết ơn nông dân’, ‘phải ưu tiên phát triển hợp lý nông nghiệp’.

GSVS Ðào Thế Tuấn nhấn mạnh, trên thực tế nông nghiệp đang bị lép vế, nông dân thua thiệt đủ bề. Ðó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa. Nói cách khác, việc nông thôn, nông nghiệp Việt Nam bây giờ kém phát triển hoàn toàn do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo mà thôi.

Chúng tôi nêu câu hỏi này với T.S. Ðặng Kim Sơn, viện trưởng Viện Chính Sách và Chiến Lược Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn. Từ Hà Nội ông nhận định:

“Quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam có phải là một quá trình bóc lột nông dân hay không, thì tôi nghĩ là không phải như thế. Thực ra mà nói, nếu không có sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn vừa qua, thì không những không thể nào phát triển công nghiệp hóa được và quá trình đổi mới ở Việt Nam không diễn ra một cách tốt đẹp như thế này. Trong thời gian vừa qua tỷ lệ đói nghèo ở nông thôn giảm xuống hơn ba lần và thu nhập của cư dân nông thôn tăng lên khoảng ba lần. Ðây là mức thay đổi mà ít có nước nào trên thế giới có thể đạt được trừ Trung Quốc. Thế thì có thể nói đây là một thành tựu, nếu nói là Việt Nam trong thời gian ba mươi năm đổi mới vừa qua cái gì là nổi bật, thì phải nói là nông nghiệp phát triển là thành tựu, một trong những thành tựu nhiều nhất là trước khi đổi mới Việt Nam nhập mỗi năm từ 0.8 tới hơn 1 triệu tấn lương thực, thì đến nay Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Năm nay thậm chí xuất kỷ lục có thể xuất 6 triệu tấn gạo. Thế thì đây là cái thành tựu không thể chối cãi được, hay là tỷ lệ giảm đói nghèo mỗi năm 2% là một mức độ rất kỳ diệu. Vì thế không thể nói rằng nông nghiệp nông thôn bị bóc lột hay là nông dân bị bần cùng hóa.”

Thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm

Ngoài những nhận định có thể gây sốc cho các giới chức nhà nước, GSVS Ðào Thế Tuấn lại không đi theo trào lưu đề cao tăng hạn điền hoặc tái lập quyền tư hữu đất đai. Ông cho rằng mất đất nông nghiệp là do quản lý tồi, tăng hạn điền chỉ tạo điều kiện cho đầu cơ phát triển thêm, trong khi nhiều chuyên gia kinh tế cũng như nông nghiệp kêu gọi có cải cách về sở hữu ruộng đất.

Trở lại bài báo trên VietNamNet, GSVS Ðào Thế Tuấn cho rằng, vấn đề lớn của nông dân Việt Nam hiện nay là thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm. Khoảng cách thu nhập, chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị là rất lớn. Nông dân ở nông thôn không được tiếp cận rộng rãi với giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, không có tích lũy. Nhà có người ốm đi viện một lần là của cải mất hết, trắng tay. Thêm một đứa con đi học xa, học lên cao là cả nhà lao đao.

Ðối với vấn đề vừa nêu, T.S. Ðặng Kim Sơn đưa ra nhận định của ông:

“Chuyện nông nghiệp và nông thôn bị bần cùng hóa đã diễn ra ở các nước ngay cả các nước công nghiệp phát triển ở Âu Mỹ trong giai đoạn công nghiệp hóa đẩy mạnh, nhưng tình hình đó không diễn ra ở nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên phải nói rằng cái mà nông dân được hưởng, nông nghiệp được đầu tư chưa tương xứng với mức độ đóng góp của người nông dân, mức độ phấn đấu hy sinh của người nông dân cũng như thành tích mà nông nghiệp đem lại. Ðầu tư công cho nông nghiệp là thấp, đầu tư của toàn xã hội cho nông nghiệp là thấp. Mức tăng trưởng đời sống của nông dân rất cao, nhưng so với mức tăng trưởng của đời sống của người dân ở đô thị thì hiện nay khoảng cách của thu nhập trung bình của cư dân nông thôn chỉ bằng một nửa của đô thị. Tất nhiên so với nhiều quốc gia kể cả Trung Quốc thì đây là một thành tích đáng tự hào, nhưng rõ ràng là người Việt Nam không phấn khởi với mức chênh lệch này. Thế thì điều có thể nói là chúng ta phải tiếp tục thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn với đô thị, phải tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cho phát triển nông nghiệp. Nói như thế thì hợp lý hơn, chứ còn nói thời gian vừa qua là bóc lột, là bần cùng hóa nông thôn nông nghiệp thì chúng tôi nghĩ rằng nói như thế là không công bằng.”

Phần cuối cuộc phỏng vấn trên VietNamNet, GSVS Ðào Thế Tuấn kết luận rằng, điều quan trọng cần làm ngay ở nông thôn bây giờ là xây dựng xã hội dân sự. Theo ông, ngày xưa ở Việt Nam đã có cộng đồng làng xã, thôn xóm, đại diện là những lý trưởng xã trưởng. Bây giờ thì chỉ còn mấy ông bà cán bộ, ông bí thư, chủ tịch xã, bà tổ trưởng phụ nữ. Người dân chẳng được tham gia gì cả. Theo GSVS Ðào Thế Tuấn, cần phải hướng dẫn, phải tạo cơ chế để giúp nông dân tổ chức lại được với nhau, xây dựng các doanh nghiệp xã hội. Nhà nước không thu thuế đối với họ, dĩ nhiên họ cũng có một mức lãi nào đó. Nhưng về bản chất, họ là một hệ thống các tổ chức chăm lo phát triển xã hội. Hệ thống đó là một phần của xã hội dân sự.





***************************** TOÀN DÂN DIỆT LŨ BÁN NƯỚC,*********************************
                                           ĐUỔI QUÂN XÂM LĂNG
*******************************************************************************************************


                                           NHÌN GƯƠNG TỔ TIÊN


NHỮNG LỜI NHẮN GỬI CON CHÁU

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :

“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: 
"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". 
Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“

(Trần Nhân Tôn)

Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN đã viết để cảnh cáo những người có trách nhiệm mà phản bội cần phải loại trừ

“Nay các ngươi... trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức,...Chẳng những ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mải.“

CSVN hầu giặc Tầu mà không biết tức, không biết hổ thẹn sao ?

Lời của vua Lê Thánh Tôn đã nói như sau:

..  Một thước núi, một tấc đất của ta lẽ nào lại tự liệu vất bỏ được !  Kẻ nào dám đem một thước núi, một tấc đất của Tổ Tiên giống nòi để làm mồi cho giặc thì kẻ đó phải bị trừng trị nặng !.
VUA LE THANH TON 1460-1497
 
Phải trừng trị nặng đảng CSVN bán nước


TỔ TIÊN ĐÃ ĐỀ PHÒNG LAO ĐỘNG TRUNG QUỐC

Đăng ngày: 22:18 28-04-2009 BAUXITE VIỆT NAM

Gần đây, dư luận xã hội và báo chí rất bức xúc và lo ngại trước tình hình người lao động Trung Quốc tràn vào Việt Nam ngày một nhiều, nhất là tại các công trường khai thác bauxite tại Tây Nguyên.

Xem trong sử sách, thấy rằng đây cũng là một vấn đề mà cha ông chúng ta đã từng vấp phải. 300 năm trước, lo ngại việc lao động Trung Quốc ào ạt tràn sang, đe doạ đến sự an nguy của đất nước, triều đình nhà Lê đã thể hiện trách nhiệm cao trước tổ tiên và trăm họ, đã tìm được cách xử trí khôn khéo và cương quyết, dần đưa vào ổn định.

Toàn văn tài liệu cho biết việc này như sau:

Tháng 12 [năm Đinh Dậu, niên hiệu Vĩnh Thịnh 2 (1706) đời vua Lê Dụ Tông] định thể lệ hạn chế số lao động (nước ngoài) trên các công trường khai mỏ tại các trấn.
Lúc ấy, các mỏ vàng, bạc, đồng, thiếc ở các trần phần nhiều mộ người nhà Thanh (Trung Quốc) khai quật để lấy, phu mỏ quần tụ mỗi ngày một nhiều. Triều đình e rằng sẽ sinh sự biến động, bèn định thể lệ: Số phu mỏ nhiều nhất 300 người, thứ đến 200 người và ít nhất là 100 người, không mỏ nào được dung quá số quy định.
 
Từ đấy, số phu (người Trung Quốc) làm ở các công trường khai mỏ mới có hạn chế”.

Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
Nguồn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Chính biên, XXXV, 21.
(Bản dịch của Viện Sử học. Nxb, Giáo dục, Hà Nội, 1998, Tập II, tr. 410).




                                            NGĂN CHẶN TỨC KHẮC
                              TIẾN TRÌNH CSVN GIAO NƯỚC CHO TẦU


                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                       UNICODE: http://viettudan.net
                                              Geneva, 18.02.2009

 

Như trong Bài Mở Đầu cho CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ chúng tôi đã cắt nghĩa, điều kiện để có thể bắt đầu phát triển Kinh tế Đất Nước là phải dứt bỏ CƠ CHẾ CSVN hiện hành, một cơ chế cấu kết giữa dộc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế.

Khi đã dứt bỏ được cái CƠ CHẾ hiện hành để có thể bắt đầu phát triển, chúng tôi muốn khai triển những điều kiện để việc phát triển Kinh tế được bền vững và lâu dài: Dân chủ hóa Kinh tế trong một Môi trường Chính trị—Luật pháp Xã hội phù hợp (Environnement Politico—Juridique Social adéquat).

Một nền Kinh tế phát triển bền vững và lâu dài là nền Kinh tế cho một Quốc gia Việt Nam Độc lập. Nước Việt Nam đang đi đến mất Chủ quyền, thậm chí đảng CSVN, vì tham lam tiền bạc cho mỗi cá nhân đảng viên, đang đưa Đất Nước đến chỗ bị Trung quốc xâm lăng chính Lãnh Thổ và Lãnh hải. Vì vậy, nếu dứt bỏ được CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có điều kiện bắt đầu phát triển, mà Đất Nước chúng ta lại bị xâm lăng bởi Trung quốc, thì không thể nào có thể nói là phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho Quê Hương mình được. Phải ngăn chặn tức khắc Tiến trình CSVN đang giao Nước cho Tầu xâm lăng vậy.   


Từ tháng 9.2009, khi thấy một đàng chủ trương của Trung quốc là dùng tiền bạc để xâm lăng không những tại Việt Nam, mà còn các nước nghèo khác tại Phi Châu, Á Châu, Trung Á, một đàng Nhà Nước Việt Nam kiệt quệ về Ngân Sách nên đói ăn vụng túng làm liều đưa lãnh thổ Việt Nam dần dần dâng hiến cho xâm lăng Trung quốc, chúng tôi đã viết một bài tương quan Chủ Nợ—Con Nợ để cho thấy CSVN mất chủ quyền, không dám hé họng khi ngư dân VN bị Tầu hà hiếp ở Biển Đông chính trong vùng biển thuộc Việt Nam. Tệ hại hơn nữa, khi nhận nợ của Trung quốc đến ngập họng rồi và khi không trả nợ được, thì Trung quốc đòi bắt cả vợ và con gái, thì CSVN cũng phải giao cho Chệt dầy vò.

Thấy tình trạng mỗi ngày mỗi lệ thuộc Trung Cộng về tiền bạc như vậy, chúng tôi lại viết một bài thứ hai gần đây cho thấy rằng trong tương lai Tầu sẽ viện cớ Kinh tế trước Thế Giới để ngang nhiên mang quân đội vào Việt Nam để bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ và những người Tầu đã lập làng mạc và những Khu Thương Mại và Công Nghệ trên lãnh thổ Việt Nam.

Những phân tích và những lo ngại của chúng tôi trên đây không phải là không có bằng chứng. Thực vậy, tại Quốc nội, hai Tướng CS ĐỒNG SỸ NGUYÊN và NGUYỄN TRỌNG VĨNH đã viết rõ về nguy hại mất nước bởi lẽ CSVN đã cho Trung Quốc thuê dài hạn những khu đất đầu nguồn để Tầu mang người sang canh tác và sinh sống. Tại Hải ngọai, Oâng BÙI TÍN, một người cũng đã từ đảng CSVN, đã phân tích thêm tình trạng nguy hiểm mất nước này.

Nếu trước đây, vì quyền hành mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng viết Công Hàm nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, Hỏang Sa và Trường Sa, thì ngày nay, cả đảng CSVN chỉ vì đồng tiền đút túi làm của riêng đã mang tài sản VN đi bán, mang Lãnh thổ VN giao cho Tầu, mời gọi tư bản nước ngòai vào VN để khai thác nhân lực, xuất cảng đàn bà con gái đi phục vụ tình dục. Tất cả chì vi tiền bạc muốn vơ vét đầy túi riêng.

Chúng tôi cho đăng lại những bài dưới đây để cho thấy CSVN đang thực hiện một tiến trình giao nước cho Tầu chỉ vì tiền bạc :

=> THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC
     (Nguyễn Phúc Liên)

=> BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN
     (Nguyễn Phúc Liên)

=> CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI
     (Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh)

=> HAI TƯỚNG CS CHỈ RA NGUY HIỂM
     (Bùi Tín)


THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM
TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.09.2009

Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?

Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.

Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại  Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ  giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.


Việt Nam con nợ của Tầu

Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.

CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.

Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.


Tầu là chủ nợ cho Việt Nam

Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.

Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:

=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.

=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.

=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.


Tương quan Chủ nợ—Con nợ

Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?

                                                  Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                  Geneva, 24.09.2009

 

BIỆN MINH CỦA TQ
KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 04.02.2010

Trong VietTUDAN số 432 tuần trước, chúng tôi đã viết hai bài có sự liên hệ với nhau. Với bài phân tích về những cuộc nổi dậy trước đây ở Dông Aâu, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.

Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc.  Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh  cho thấy điều đó. Erich Knonecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.

Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.

Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.


1) Đòi NỢ Việt Nam

Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.

Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.


2) Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam

Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam.  Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.


3) Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam

Trong tuần trước, chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.

Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.

                                                     Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                     Geneva, 04.02.2010



CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI
CSVN cho người ngoại quốc thuê rừng là tự sát và làm hại cho đất nước.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
 

Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Theo chỉ  thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ  trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?


Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước.
 
Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá  hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có  biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.

Chúng tôi  đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị  đầu:

1.  Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.

2.  Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán  rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.

Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái  định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?

Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.

                                                               Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
                                                               và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

 

HAI TƯỚNG CS CHỈ RA HIỂM HỌA
Bùi Tín 
Paris  đêm 30 Tết Canh Dần   (13-2-2010)  
 

Ngày cuối năm âm lịch, mở mạng Bauxite-info, bên những bông hoa mai vàng và lời chúc Tết đẹp là một bài viết rất "nóng" của 2  tướng ở trong nước.

Đó là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.

Bài viết được mạng Bauxite.info giới thiệu một cách trang trọng.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là phó tổng tham mưu trưởng, từ 1967 đến 1975 là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn dọc đường "mòn" Hồ Chí Minh, là một binh đoàn tương đương 5 sư đoàn, ngang với 2 quân đoàn, có quân số 42 ngàn quân, gồm vận tải cơ giới, công binh, phòng không, thông tin, ra-đa, bộ binh, cao xạ, kho tàng, ống dẫn dầu, giao liên, thanh niên xung phong ... rải dài hơn 1 ngàn kilômét. Sau chiến tranh ông là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giao thông vận tải, là uỷ viên bộ chính trị trung ương đảng trước khi về hưu năm 1988.

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vốn là uỷ viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Thanh hoá, là đại sứ VN tại Trung quốc suốt 15 năm, từ 1974 đến 1989 (trong cuộc chiến Trung-Việt) về hưu năm 1990.

Đặc điểm của 2 tướng này là uy tín lớn trong Quân đội nhân dân, có ảnh hưởng sâu rộng trong cựu chiến binh, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 200 ngàn binh sỹ từng dưới quyền, vẫn còn quan hệ với nhau trong "hội " cựu binh Trường Sơn; tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nổi tiếng về tính bộc trực ngay thẳng, hiện là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt nam, có hàng triệu hội viên rải khắp nước.

Cần nói thêm 2 tướng này năm 2009 vừa qua đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối, ngăn chặn chủ trương khai thác bôxít ở Tây Nguyên của bộ chính trị hiện tại, cũng cùng lên tiếng qua mạng Bauxite.info do nhà văn hoá Nguyễn Huệ Chi chủ trương, nay lại cùng chung bài viết đề ngày 22-1-2010, nhưng chỉ xuất hiện sáng ngày 12-2-2010 trên mạng Bauxite đang bị đánh phá dữ dội. Sự chậm trễ 20 ngày cho thấy bài báo đã bị các báo lớn nhất từ chối, tẩy chay do tệ độc quyền báo chí chà đạp Hiến pháp của bộ chính trị đương quyền.

Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, từ năm 2004, cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng bộ chính trị do ông Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.

Trong bài viết mới này, 2 ông tướng đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết với 10 doanh nghiệp Trung quốc đóng tại Trung quốc, Hồng kông và Đài Loan, những thoả thuận cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài.

Danh sách các tỉnh đó là : Lạng sơn, Quảng ninh, Cao bằng, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng nam, Bình định, Kon tum và Bình dương.

Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn,   các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) .

Các thoả thuận đều có giá trị trong thời gian 50 năm, và sẽ kéo dài hơn sau đó. 
Hai viên tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, 94 tuổi.

Hai viên tướng báo động : họ sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, mội trường sẽ bị huỷ hoại.

Hai viên tướng kết luận : đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước. 

2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đề nghị với đảng, nhà nước và nhân dân :  - với những thỏa thuận đã lỡ (!) ký rồi, hãy thuyết phục các công ty nước ngoài khoán cho đồng bào ta ở tại chỗ khai thác đất rừng, đề phòng họ sẽ đưa lao động dân nước họ vào lập thành những làng Trung hoa, làng Hồng kông, làng Đại hàn trên đất nước ta .
-  với  những thoả thuận đang thương lượng thì đình ngay lại !

Cuối cùng 2 ông yêu cầu đảng và nhà nước thực hiện ngay và rộng khắp việc giao khoán đất rừng cho từng hộ đồng bào ta là dân địa phương tại chỗ.

Tiết lộ và ý kiến của 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là hết sức khẩn cấp và nghiêm trọng.

Vì ông Đồng Sỹ Nguyên khi còn là Phó thủ tướng đã chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình 327 của chính phủ là Chương trình Quốc gia Phủ xanh đồi trọc và Bảo vệ rừng.

Bài viết của 2 ông tướng này còn cực nóng vì phơi bày một loạt việc làm chui, khuất tất, ám muội, mang tính hại nước hại dân, có thể xếp vào tội phản quốc, do chính quyền và đảng uỷ các tỉnh, huyện thực hiện thông đồng với các công ty của thế lực bành trướng với các khoản đút lót, hối lộ béo bở, được một số quan chức trong chính phủ, một số bộ trưởng lớn nhất, có thể trong cả bộ chính trị đỡ đầu, yểm trợ để kiếm phần siêu lợi khổng lồ. Họ sẽ thâm thù 2 ông tướng.

Anh Nguyễn Huệ Chi linh cảm rõ điều ấy. Anh nghĩ họ có thể bóp cho mạng của anh nghẹt thở hẳn do tin tày trời mang bí mật quốc gia cực kỳ nhạy cảm này. Anh thề sẽ hiến cho sự thật, cho nhân dân đến gịot máu cuối cùng của anh, để mạng bauxite ngang nhiên sống khỏe.

Chính vì vậy mà ngày cuối năm 30 Tết tôi cặm cụi gõ bài này và gửi lời chúc chân thành nhất đến nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng cùng hơn 4.000 anh chị trí thức đã ký kiến nghị Bôxit, cũng như đông đảo bạn yêu nước, yêu tự do trong số gần 20 triệu độc giả quen thuộc của mạng này.

                                                           Bùi Tín 
                                                           Paris  đêm 30 Tết Canh Dần   (13-2-2010) 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 18.02.2010



TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
DƯỚI NHẬN ĐỊNH CỦA BÁO NEW YORK TIMES



Tin New York - Báo New York Times là tờ nhật báo có số phát hành hàng ngày lớn thứ 3 tại Hoa Kỳ, trong số ra ngày 5 tháng 2 có dành phân nửa trang A9 để nói về cuộc tranh chấp tại Biển Ðông giữa Việt Nam và Trung Cộng. Bài báo nhắc lại báo chí tại Việt Nam trong năm qua đưa tin Trung Cộng đã bắt giữ 17 ngư thuyền và 210 ngư phủ Việt Nam và nhận định rằng Việt Nam rất khó thành công trong chiến thuật quốc tế hóa tranh chấp Biển Ðông, lôi kéo nhiều nước khác vào cuộc để tạo thêm vây cánh cho Việt Nam. Trung Cộng mặc nhiên coi Hoàng Sa và Trường Sa là của họ, không đặt ra vấn đề tranh chấp chủ quyền với Việt Nam mà họ sẽ có thể cứu xét việc cho phép Việt Nam tham gia vào việc khai thác tài nguyên Biển Ðông mà thôi.
 
Bài báo này khiến cho mọi người Việt Nam yêu nước thương nòi đều đau lòng trước việc nhà nước Cộng sản Việt Nam chỉ vì muốn giữ vững chế độ độc tài tai hại của mình, bỗng dưng dâng tặng cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc cơ hội ngàn vàng chiếm giữ được nhiều vùng đất vùng biển của giang sơn gấm vóc cho ông cha để lại. Thay vì đoàn kết toàn dân chung sức chung lòng đối phó với hiểm họa Trung Cộng như các nước Ấn Ðộ, Nhật Bản, Ðài Loan, Nam Hàn thì Trung Cộng khó bề bắt nạt được, nhà nước Cộng sản Việt Nam chỉ biết đàn áp các tôn giáo và dập tắt các tiếng nói ái quốc trung thực để rồi chỉ biết ngấm ngầm đi cầu cạnh các nước chung quanh như Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân lên tiếng bênh vực cho quyền lợi cho Việt Nam, mà bài báo kết luận rằng đây là một việc hoàn toàn vô ích.(SBTN)

Posted on 10 Feb 2010
FreeVietNews


 


TRUNG QUỐC CẢ VÚ LẤP MIỆNG EM
HAY MIỆNG EM BỊ CẤM KHẨU


Tỉnh ủy Hải Nam tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa
hoàn toàn thuộc Trung quốc

Tôn Quốc Tường, Ðại sứ Trung quốc tại Hà Nội hôm 6.1 đưa ra lời tuyên bố Trung quốc và Việt Nam nên tạm gác vấn đề tranh chấp biển Ðông, dành ưu tiên cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội hai nước. Trong cuộc họp báo tại Hà Nội sáng nay, họ Tôn khuyến khích Việt Nam với khẩu hiệu Hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại. Họ Tôn nói vấn đề tồn tại giữa hai nước chỉ còn vấn đề trên biển, hai bên cần nhắm vào đại cuộc, gác lại những tranh chấp, chờ thời cơ chín muồi sẽ giải quyết, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường thuận lợi giữa hai nước.

Tuy nhiên trong khi đó Tỉnh uỷ Hải Nam của Trung quốc Vệ Lưu Thành xác định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chỉ cho phát triển du lịch, mở mang kinh tế và ổn định xã hội trong phạm vi lãnh thổ và lãnh hải của họ, không gây ảnh hưởng gì đến các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh rằng Bắc Kinh sẽ không gây phương hại đến quyền lợi của những đối tác khác khi tiến hành những chương trình du lịch tại Hoàng Sa.

Mặc dù Hà Nội đã phản đối nhưng Bắc Kinh đã bác bỏ và nói hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những khu vực do Trung quốc làm chủ và nằm trong phạm vi kiểm soát của họ và không có điều gì sai trái trong việc này.

 Trung Quốc gia tăng áp lực kiểm soát biển Đông

Ngày 29/12, hai tàu tuần tra trên biển của Trung Quốc biên chế cho đảo Hải Nam với số hiệu 183 và 1823 đã chính thức nhận nhiệm vụ quản lý kiểm tra an toàn trên khu vực biển Đông của Việt Nam Đây là những tầu được trang bị rất mạnh, có hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến. Tầu “1823” có chiều dài 61,2m vận tốc tối đa 21,5 hải lý; tầu “183” có chiều dài 33,2m tốc độ tối đa 22 hải lý.

Người phát ngôn cục hải sự Hải Nam - Ông Trương Tiệp ngang nhiên tuyên bố "Việc đưa hai tàu hải tuần số hiệu 183 và 1823 vào phục vụ sẽ là một điều kiện thuận lợi để tăng cường khả năng kiểm tra trên biển tại khu vực biển Đông. Việc 2 tàu này đi vào phục vụ sẽ góp phần khắc phục hạn chế đồng thời tạo thuận lợi để Trung Quốc duy trì quyền lợi trên biển, tăng cương công tác đảm bảo an ninh cho tàu bè Trung Quốc đi lại trên vùng biển này.

Việc Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm và đang chiếm giữ bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa, và nhiều đảo khác của Việt Nam; nay Trung Quốc lại đang tiến hành những biện pháp nhằm hợp pháp hóa và khống chế hầu như toàn bộ vùng biển Đông, là nơi làm ăn sinh sống của ngư dân Việt Nam từ hàng ngàn năm nay là những hành động xâm lấn có suy tính và bất chấp luật pháp quốc tế, không như những cái gọi là „ láng giềng hữu hảo“ với CS Việt Nam.

Số Vụ Hàng Giả Tăng Vọt

Theo thống kê của Chi cục Quản lý thị trường trong nước, số vụ hàng giả phát hiện được trong năm 2009 là 201, gấp ba lần so với năm 2008. Hầu hết hàng giả là hàng tiêu dùng thông dụng, một số ít là loại công nghệ cao. Hàng giả nhãn hiệu trong nước thường là gas loại 12 ký, nón an toàn, rượu, thực phẩm đóng gói và phân bón. Hàng giả nhãn hiệu ngoại quốc thường là đồng hồ, thắt lưng, túi xách, giày dép, mắt kính, mỹ phẩm, rượu, mực in, quần áo.

Phần lớn hàng giả có xuất xứ từ Trung quốc, trong đó có cả hàng được sản xuất theo đơn đặt hàng từ trong nước. Hầu hết các vụ vi phạm chỉ được phát hiện và giải quyết một cách lẻ tẻ. Trong khi đó báo chí cũng viết nhiều về tình trạng buôn lậu đang gia tăng ở những khu vực biên giới như Lào Cai, Tuyên Quang, Bắc Giang. Những hàng hóa được những phu cữu vạn chuyển qua biên giới cả ngày lẫn đêm, sau đó được đưa về các thành phố để sửa soạn tiêu thụ cho mùa Tết Nguyên Ðán.

Tại miền Nam hang lậu cũng được chuyền từ Cam Bốt và Thái Lan sang, mà nhà nước CSVN không thể làm gì để ngăn cản cho dù báo chí đã nêu lên việc này. Những người hiểu chuyện cho biết lý do chính là vì chính những cán bộ cao cấp đã điều hành những đường dây buôn lậu này, nên có phát giác đi nữa thì cũng đành làm ngơ vì bứt giây động rừng, sẽ đụng tới những cán bộ cao cấp nhất trong Chính Trị Bộ mà thôi.

Trung Quốc cho Anh quốc vào khai thác dầu khí tại biển Đông

Tập đoàn Dầu khí Quốc gia của Trung Quốc (CNOOC) đã ký kết hợp đồng phân chia sản phẩm với công ty BG International (BG Group) của Anh quốc để thăm dò và khai thác dầu khí tại lô 63/16 thuộc bồn địa Quỳnh Đông Nam ở khu vực biển Đông.

Theo bản đồ dầu khí, lô 63/16 nằm đối diện với lô 113 của Việt Nam ở cửa vịnh Bắc Bộ. Lô 63/16 có diện tích rộng khoảng 2623 km2, nằm ở vùng nước sâu từ 90 – 165m.

Theo quy định của hợp đồng, công ty BG Group sẽ chịu trách nhiệm cho toàn bộ chi phí trong quá trình tiến hành khảo sát địa chấn 3 chiều (3D) và khoan thăm dò. Tập đoàn CNOOC của Trung quốc sẽ có 51% lợi nhuận khi khai thác được sản phẩm tại lô này.

Hồi đầu tháng 12/2009, CNOOC cũng đã hợp tác với tập đoàn Husky Oil China để khảo sát khí gas vùng nước sâu tại khu mỏ mà Trung quốc gọi là LiuHua (LH) 34-2 trên biển Đông. LH 34-2 là mỏ khí gas nước sâu thứ hai (sau mỏ Liwan 3-1) được phát hiện tại bồn địa Pearl River Mouth nằm ở phía tây biển Đông.

Trong quá trình khoan thử nghiệm, giếng khí gas thuộc khu mỏ LH 34-2 được đánh giá là có tiềm năng lớn và có thể đạt tới 55 triệu m3 khí gas. Theo kế hoạch, tập đoàn Husky sẽ khoan giếng đầu tiên vào đầu năm 2010 và Tập đoàn dầu khí của Trung quốc sẽ có 51% lợi nhuận đối với bất kỳ sản phẩm nào được khai thác tại lô 29/26 thuộc khu mỏ 34-2 này.

Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Chẳng những việc khai thác dầu khí tại đây là bất hợp pháp, mà việc khai thác này còn có thể gây ra ô nhiễm mà người dân Việt Nam phải hứng chịu.

Phía nhà nước CS Việt Nam hiện chưa có phản ứng gì về sự việc này.

 










THÔNG ĐIỆP SỨ TẦU CHO THÁI THÚ HÀ NỘI

              
Mới đây, trong buổi họp báo đầu năm 2010 tại Hà Nội vào ngày 6/1, trước đám đông cử tọa là phóng viên báo chí “lề phải” của Việt Nam và Trung Quốc, Sứ Tàu Tôn Quốc Tường đã lên tiếng dạy dỗ Việt Nam cách hành xử đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Đây là cuộc họp báo của Sứ Tàu nằm trong khuôn khổ chuẩn bị cho “Năm Hữu Nghị Việt - Trung 2010”, đánh dấu 60 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước cộng sản anh em này.

Mặc dầu có rất nhiều phóng viên đại diện các báo chí “lề phải” trong nước có mặt tại cuộc họp báo này nhưng chỉ có tờ VietNamNet là tường thuật tương đối đầy đủ các câu hỏi và trả lời, trong khi tờ Tuổi Trẻ và website của Đài Tiếng Nói VN thì cắt xén hoặc chỉ vắn tắt phần tường thuật xoay quanh các câu hỏi về mối quan hệ kinh tế giữa hai nước.

Theo VietNamNet, có tất cả 6 câu hỏi được đại diện các tờ báo VN nêu ra, đó là Tuổi Trẻ, VietNamNet, Tiền Phong, Nhân Dân và Đài Tiếng Nói VN. Trong khi những câu hỏi của phóng viên các tờ Tuổi Trẻ, VietNamNet, Tiền Phong có liên quan đến vấn đề biên giới thì các câu hỏi của phóng viên tờ Nhân Dân và Đài Tiếng Nói VN chỉ nhắc đến quan hệ thương mãi và các cuộc viếng thăm của lãnh đạo giữa hai nước.

“Gác lại tranh chấp, hai bên cùng nhau khai thác”
 
Đáng nói hơn cả là trong phần trả lời câu hỏi của phóng viên Tuổi Trẻ về “tranh chấp Biển Đông với VN”, tên Sứ Tàu này đã bảo ban Việt Nam phải “tạm gác lại tranh chấp Biển Đông, chờ điều kiện chín muồi giải quyết, trong khi ưu tiên cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở hai nước”. Đưa củ cà-rốt “hợp tác phát triển kinh tế” ra, tên Sứ Tàu còn đe nẹt rằng “Hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại”.

Đây là ngôn từ của một đại sứ hay là của một Thái Thú? Tôn Quốc Tường chỉ là một đại sứ mà lại có lời ngạo mạn đến thế ư? Lời lẽ trịch nhĩ như vậy mà nghe lọt tai được sao? Tại sao các phóng viên báo chí “lề phải” có mặt tại buổi họp báo đó không bắt chước người phóng viên Iraq lột chiếc giầy mà ném vào mặt tên Sứ Tàu này, hoặc ngay lập tức lên tiếng chất vấn để hắn biết tinh thần bất khuất của người Việt Nam, hoặc chí ít cũng thể hiện sự nhạy bén trong đối đáp của người phóng viên.

Nói đến “điều kiện chín muồi”, không biết Sứ Tàu muốn ám chỉ là khi nào đây? Có phải là sau khi Trung Quốc chiếm trọn Trường Sa, hoàn tất việc xác định chủ quyền của Trung Quốc trong vùng “lưỡi bò” chăng?

Tương tự, để trả lời câu hỏi của phóng viên VietNamNet về cách giải quyết tranh chấp Biển Đông, Sứ Tàu cho rằng cả hai phía nên “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” là một “sáng kiến mang tính xây dựng” của lãnh đạo Trung Quốc, “bởi vì đó là lợi ích hai bên cùng có lợi và cùng chia sẻ”. Không biết ông đại sứ muốn bảo VN nên “gác lại tranh chấp” trong xó xỉnh nào của cái nhà bếp, để được hun khói theo thời gian? Rồi bảo “hai bên cùng nhau khai thác” là thế nào đây? Đúng là giọng điệu của kẻ cướp đòi chia của với chủ nhà.

Cách đối xử với ngư dân Việt Nam trên Biển Đông

Khi trả lời câu hỏi của phóng viên báo Tiền Phong về cách hành xử của hải quân Trung Quốc đối với ngư dân VN trên Biển Đông, Sứ Tàu Tôn Quốc Tường cho rằng “thông tin đăng trên báo chí có một số là sự thật, một số không phải là sự thật”. Đã là sự thật rành rành mà tên Sứ Tàu này vẫn chối leo lẻo, còn chỉ trích các báo chí “lề phải” của Việt Nam đưa tin bịa đặt về vụ này. Vậy mà chẳng có ông bà phóng viên nào dám lên tiếng đối đáp lại tên Sứ Tàu này.
Bình thường báo Hà Nội Mới rất chanh chua, rất giỏi nghề viết bài chửi bới dân oan, giáo dân công giáo và các tôn giáo, vậy mà sao hôm nay xếp vó im re, còn tường thuật thì lại cắt xén đầu đuôi, chỉ còn lại những gì có lợi cho hai đảng cộng sản anh em.

Chưa hết, tên Sứ Tàu này còn quay sang vu khống ngư dân Việt Nam trong vụ ngư dân Việt Nam xin trú bão tại Hoàng Sa tháng 10 vừa qua. Hắn nói rằng những ngư phủ này đã được hải quân Trung Quốc “đối xử nhân đạo, tạo điều kiện thuận lợi để cập cảng”, nhưng ngay sau đó quay lại nói Trung Quốc không đối xử nhân đạo, cho nên đã “làm đau lòng các cơ quan hữu trách của Trung Quốc” (sic!). Đúng là lời xảo ngôn của kẻ cướp!

Ngoài ra Sứ Tàu còn khuyến cáo báo chí Việt Nam “không nên đưa tin những việc xấu như thế này”, bởi vì “báo chí Trung Quốc ít khi nào đưa tin tranh chấp trên biển, tranh chấp về nghề cá,... tuy rằng phía Trung Quốc có lý nhưng chúng tôi thấy cũng không nên đưa tin”. Hợm hĩnh làm sao, vừa ăn cướp vừa la làng mà vẫn bảo là mình “có lý”.

Bảo rằng phía Trung Quốc không đưa tin tranh chấp nghề cá hay trên Biển Đông là hoàn toàn láo xược, bởi vì phía nhà nước Trung Quốc đã từng rầm rộ đưa lên báo đài, chụp hình ảnh các ngư dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc bắt giữ, với lời chú thích là “hải tặc”, hoặc là “ngư phủ nước ngoài xâm phạm hải phận Trung Quốc”,... Mà nếu phía Trung Quốc không đưa tin thì cũng phải thôi, chứ ai đời lại đưa tin mình đi đánh cướp, trấn lột người ta bao giờ.

CSVN nói gì sau bài phát biểu của Sứ Tàu?

Tuy lời nói của Sứ Tàu hỗn xược, đi ra ngoài khuôn khổ ngoại giao mà lẽ ra phải bị tống xuất về nước, hoặc chí ít là phải bị triệu hồi để phản đối, nhưng tính cho đến hôm nay đã được hơn 4 ngày, mà tuyệt nhiên phía Hà Nội không có động thái gì để đáp trả lại, trong khi cả Bộ Chính Trị đều im lặng một cách khó hiểu.

Nếu đem so sánh cách hành xử của nhà cầm quyền CSVN đối với người dân VN qua các vụ đàn áp các tôn giáo gần đây, với cách ứng xử ngoại giao trước thái độ ngạo mạn kiêu căng của Sứ Tàu thì mới thấm thía được nỗi đâu của dân tộc Việt Nam vì kẻ cầm quyền một mặt thì quá nhu nhược trước kẻ ác, mặt khác thì lại nhẫn tâm ra tay, không từ nan bất kể thủ đoạn nào đối với người dân lành.

Mới đây nhất, chỉ vì muốn triệt hạ một cây thánh giá, biểu tượng của Công giáo tại Giáo xứ Đồng Chiêm Hà Nội, vào 2 giờ sáng ngày 6 tháng 1, nhà cầm quyền đã huy động một lực lượng hùng hậu “có đến 500-600 công an với dùi cui điện, hơi cay, lá chắn, chó nghiệp vụ…” (lời thuật của Linh mục Nguyễn Văn Hữu, chánh xứ Đồng Chiêm) chỉ để triệt hạ cây Thánh giá trên Núi Chẻ của Giáo xứ Đồng Chiêm Hà Nội.

Trong khi đó báo chí trong nước cho biết rằng tàu bè của Trung Quốc liên tục xâm phạm lãnh hải VN đánh bắt trộm, thậm chí cả một đoàn tàu hơn chục chiếc vào sâu tận bở biển VN, chỉ cách Đà Nẵng 35 hải lý, hoặc chỉ cách cảng Thuận An (Huế) 24 hải lý. Đúng ra những kẻ xâm phạm hải phận này phải bị câu lưu, giam giữ và phạt tiền, nhưng nhưng biên phòng VN (tuần duyên) chỉ có được vài lần chạy ra lấy lệ để ... “giáo dục, giải thích” ngư phủ Trung Quốc không xâm phạm lãnh hải nữa.

Khốn nạn thay, một chế độ luôn luôn vỗ ngực là tạo dựng một chính quyền của dân và vì dân, lại là một chế độ phản dân hại nước và khiếp nhược ngoại bang nhất trong lịch sử Việt Nam. Bởi thế nên có chuyện mới đầu năm mà Sứ Tàu đã nhắn gởi thông điệp “phải biết sợ” đến người Cộng sản Việt Nam “anh em” thì mới có thể cùng người anh cộng sản láng giềng “hợp tác phát triển lâu dài” được.

Theo như lời đúc kết của TS.Nguyễn Hưng Quốc, năm 2009 là “Năm hoành hành của những 'kẻ lạ'“, thì có lẽ năm 2010 là “Năm phải biết Sợ 'kẻ lạ'“.

Úc Châu, ngày 10/01/2010
Lê Minh 




THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LÀ HÁN CHỆT

Hòa Thuợng Thích Viên Định (GHPGVNTN)


Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thuờng gán tội “cấu kết với các thế lực thù địch âm muu lật đổ chính quyền” lên các thành viên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, các Giáo Hội độc lập của các tôn giáo, các thân hào, nhân sĩ, các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ, các sinh viên, học sinh biểu tình, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Tổ quốc Việt Nam.

Không một quốc gia văn minh, dân chủ nào trên thế giới có “các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền”, không luật pháp nuớc nào có tội danh đó.

- Tại sao Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản luôn có các “Thế lực thù địch”?

Năm 1975, Cộng sản Bắc Việt dùng vũ lực cuỡng chiếm miền Nam rồi duy trì sự cai trị độc tài, độc đảng suốt từ đó đến nay bằng súng đạn, quân đội, nhà tù, công an, khủng bố, bưng bít, lừa dối, tuyên truyền. Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam là một trong số rất ít những nhà cầm quyền còn sót lại trên thế giới đa cuớp chính quyền bằng bạo lực. Trong khi đó, toàn dân lại luôn mong muốn có một chính quyền đuợc bầu cử hợp pháp bằng lá phiếu của nguời dân một cách tự do, dân chủ, công bằng, một chính quyền thật sự của dân, do dân, và vì dân. Không do dân bầu, bất hợp pháp, nên Nhà cầm quyền độc tài cộng sản Việt Nam luôn ở trong tình trạng bất an, lúc nào cung cảm thấy có “các thế lực thù địch âm muu lật đổ chính quyền”.

Trong một chế độ dân chủ, đa nguyên, đa đảng, câc đảng phái, mặc dù đối lập nhau, nhung không  địch thù, trái lại, hỗ tương, bổ khuyết nhau, rất cần cho sự cạnh tranh để phát triển đất nuớc. Trái lại, duới chế độ độc tài, độc đảng, thì bất cứ tổ chức, cá nhân nào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, đều bị xem là vi phạm luật pháp, là thù địch.

Mặc dù bị nhà cầm quyền độc tài bỏ tù, quản thúc, gán tội vi phạm luật này, luật nọ, những điều luật mơ hồ, phản tự do, phi dân chủ, chống nhân quyền, trái với Công uớc quốc tế… những nguời bị hãm hại này lại chính là những nguời mà Đức Cố Tăng Thống, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hoà thuợng Thích Huyền Quang gọi là những nguời “tù không tội”. Bởi vì vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, góp công với đất nuớc, sao gọi là tội ?

- Các “ thế lực thù địch” của Nhà cầm quyền cộng sản là ai?

“Thế lực thù địch” dễ biết nhất là cộng đồng nguời Việt tỵ nạn cộng sản ở nuớc ngoài, tiếp đến là các đảng phái chính trị không cộng sản trong và ngoài nuớc, và cuối cùng là 85 triệu nguời dân Việt trong nuớc ngày đêm mong muốn đuợc sống trong không khí Tự do, Dân chủ, Nhân quyền như các dân tộc văn minh khác trên thế giới. Ngoài ra, cũng phải kể đến một số tổ chức, hội đoàn và chính quyền các nuớc văn minh chống độc tài, độc đảng, yểm trợ các phong trào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, công bằng, phát triển tại Việt Nam.

- Có “âm muu lật đổ chính quyền” hay không?

Tất cả các đảng Cộng sản trên thế giới đều dùng bạo lực để cuớp chính quyền. Trái lại, các đảng phái chính trị, không cộng sản, của nguời Việt trong và ngoài nuớc, các cộng đồng nguời Việt tỵ nạn cộng sản, các nhà lãnh đạo tôn giáo, các bậc si phu, trí thức, văn nghệ si, sinh viên, học sinh và 85 triệu nguời dân trong nuớc, hiện nay, không có thành phần nào chủ truong dùng bạo lực để lật đổ chính quyền.

Theo trào luu dân chủ trên thế giới, nguời dân Việt Nam, ai cũng mong muốn có một cuộc bầu cử trong tự do, dân chủ, công bằng để bầu ra một chính quyền đích thực “của dân, do dân, và vì dân”. Đảng phái nào được dân ủng hộ, đắc cử, thì đứng ra lập chính quyền. Trong thế giới dân chủ, văn minh ngày nay không chấp nhận việc dùng bạo lực để cuớp chính quyền. Cung không chấp nhận việc dùng súng đạn, công an, nhà tù…để duy trì quyền lực.

Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản Việt Nam, theo chủ thuyết Mác-Lê, vừa sai lầm, vừa lạc hậu đa cản trở buớc tiến của dân tộc. Vì đặc quyền đặc lợi, muốn tiếp tục nắm giữ quyền hành, nhưng Nhà cầm quyền cộng sản lại không dám tranh cử công bằng với các đảng phái, cá nhân thuộc thành phần đối lập, nên cố tình gán cho các thành phần khác là “các thế lực thù địch” để dễ tuyên truyền, đàn áp, tiêu diệt. Việc ghép tội “âm muu lật đổ chính quyền” lên các cá nhân, đảng phái đối lập là hoàn toàn vu cáo.

Tình trạng độc tài đảng trị lâu ngày sinh ra các tệ nạn tham nhũng, hối lộ, cắt xén, mua bằng, bán chức…làm băng hoại xã hội, cản trở buớc tiến của dân tộc. Lo lắng truớc hiểm hoạ độc tài này, trong Thư Chúc Xuân gửi các bậc sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ năm Ất Dậu, 2005, Đại Lão Hoà thuợng Thích Quảng Độ, Viện truởng Viện Hoá Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã nói rằng, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trong cương vị Tăng sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị. Nhưng chúng tôi phải có "thái độ chính trị”. Hoà thuợng đa đề nghị giải pháp đa nguyên đa đảng, buớc đầu có thể là 3 đảng, “Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính luu”. Nhung Nhà cầm quyền cộng sản cứ khăng khăng cố giữ thể chế độc tài độc đảng, cho rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Điều 4 trong Hiến Pháp hiện nay, dành cho Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nuớc, giống như thời phong kiến, Thiên tử, con trời, đuợc độc quyền cai trị đất nuớc, không ai đuợc tranh giành.

Nghị quyết 1481, ngày 25.1.2006, Quốc Hội Âu châu đã lên án các Đảng cộng sản trên thế giới là phi nhân tính, là thảm hoạ dân tộc, là tội ác chống nhân loại. Hoa kỳ đa lập Đài tuởng niệm trên 100 triệu nạn nhân đã bị các chế độ cộng sản sát hại trên thế giới. Vậy mà Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn còn tiếp tục làm những việc trái luật pháp, phản dân chủ, bắt nguời, giam giữ mà không cho liên lạc với thế giới bên ngoài, không cho luật sư biện hộ, dùng những lời khai, đưa lên báo, đài để bôi nhọ, lăng nhục, trong khi Hiến Pháp, điều 72, xác nhận rằng : “ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đa có hiệu lực pháp luật”.

Không sao cả, có thể, nay một vài luật sư, mai vài ba bác sĩ, ngày mốt là các tu sĩ, bữa kia là công nhân, rồi tiếp đến là nông dân, thương gia, sinh viên, học sinh…các giới cùng bị đua lên báo, đai, với cùng tội danh, “chống nhà cầm quyền độc tài, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý”. Càng có nhiều nguời chống độc tài, nền dân chủ sẽ đến với dân tộc ngày càng gần hơn.

Mỗi nguời, tuỳ sức khoẻ cá nhân, tuỳ hoàn cảnh gia đinh, vợ dại, con thơ, cha già, mẹ yếu, có cách đối phó riêng trong cuộc chiến giành tự do rất gian khó này. Cần phải sống để giành cho đuợc Tự do, Độc lập cho dân tộc. Cái tội, “chống độc tài, yêu tự do”, ai lại không muốn lãnh ? Nếu những nguời vận động cho tự do, dân chủ, nhất thời có bị đàn áp, chỉ đưa tới sự thắng thế của bạo lực, không có gì phải tủi hỗ. Cuối cùng, Tự do, Dân chủ sẽ thắng !

Tuy chăm chú việc lên án các đảng phái chính trị và những nguời khác chính kiến là “thù địch”, nhung hiện nay Nhà cầm quyền cộng sản, luôn tránh né, không bao giờ đề cập, lên án tội “ Cấu kết với thế lực thù địch âm muu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam”, cái tội liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của tổ quốc và dân tộc mà các nhà lãnh đạo các tôn giáo, các đảng phái, các tổ chức, các sĩ phu, trí thức, sinh viên, học sinh và 85 triệu nguời dân đang rất quan tâm, hồi hộp, lo lắng từng ngày. Nếu gọi là thù địch thì giặc ngoại xâm mới thật sự là thù địch. Không nên điên đảo, nhìn kẻ cuớp nuớc là bạn, xem đồng bào ruột thịt là thù.

Cái “ Thế lực thù địch lâu đời” này mới đáng lo, nó không âm muu lật đổ chính quyền, mà nguy hại hon, “âm muu xâm chiếm Tổ quốc Việt Nam !” . Việc thay đổi chính quyền chỉ là chuyện nhỏ, chuyện nội bộ. Tổ quốc là của chung, không phải riêng ai. Các đảng phái thay nhau lập chính phủ chỉ là sự cạnh tranh, cần có, tránh sự trì trệ, để phát triển đất nuớc. Không thể một mình một chợ, một đội bóng một sân banh, mặc tình, tham nhung, hối lộ, cắt xén, làm đất nuớc suy yếu, nghèo đói, tụt hậu. Nay, đảng này lên, mai, đảng kia xuống, chỉ là những chuyện thuờng ngày trong các bản tin thời sự quốc tế, không có gì là quan trọng, ầm i hay thù địch. Tổ quốc bị xâm lăng mới là chuyện lớn, mới là chuyện thù địch.

- “Thế lực thù địch” của Dân tộc đang “âm muu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam” là ai?

Hỏi tức là trả lời. Toàn dân, già, trẻ, lớn, bé, ai cung biết, cái “thế lực thù địch” với Tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ xua đến nay chính là Bắc phuong! Việt Nam đang bị Hán hoá! Hoạ mất nuớc đa bắt đầu:

- Năm 1958, Nhà cầm quyền Trung cộng tuyên bố lãnh hải của Trung quốc bao gồm các hải đảo Hoàng sa, Truờng sa của Việt Nam. Năm 1974, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng sa. Năm 1979, Trung cộng đánh chiếm 6 tỉnh miền Bắc, khi rút về, dời cọc biên giới, lấy mất Ải Nam quan, Thác Bản Giốc. Năm 1988, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Truờng sa. Năm 2005, 2006, ngư dân Thanh Hóa ra đánh cá trong vùng lãnh hải Việt Nam quen thuộc, nhiều lần bị lính Trung cộng bắn chết, bắt nguời bị thương, cuớp ghe thuyền kéo về giam cầm tại đảo Hải Nam Trung quốc. Năm 2007, Trung cộng tuyên bố thiết lập Huyện Tam sa bao gồm các quần đảo Hoàng sa, Truờng sa của Việt Nam. Năm 2008, Trung cộng và nhà cầm quyền Hà nội hoàn thành việc cấm mốc biên giới phía Bắc lùi sâu vào địa phận lãnh thổ Việt Nam. Năm 2009, Trung cộng đuợc nhà cầm quyền Hà nội mời vào khai thác quặng Bô-xit ở Tây nguyên, gây nguy co an ninh quốc phòng noi vùng chiến luợc yết hầu của Việt nam và Đông dương do sự uy hiếp của hàng chục nghìn công nhân Trung quốc. Ngoài ra còn tàn phá môi truờng, thải ra hàng núi Bùn đỏ độc hại làm ô nhiễm môi truờng nghiêm trọng, lâu dài trong lòng đất, sông ngòi và khí hậu cho cả khu vực Nam Trung bộ và Miền nam Việt Nam. Nguy hại nhất là vị trí chiến luợc quốc phòng bị chiếm đóng. Năm 2009, Trung cộng cấm đánh cá 3 tháng trên Biển Đông, bắt tàu thuyền, ngu dân Việt Nam, đòi tiền chuộc…

Suốt 4 ngàn năm lịch sử, ông cha ta không làm mất một tấc đất, ngày nay, mới vài chục năm, tổ quốc đa bị xâm lấn từ biên giới phía Bắc đến hải đảo phía Đông, cả Tây nguyên cũng sắp mất.

Đã xác định đuợc “thế lực thù địch âm muu xâm lăng Tổ quốc” là “Trung cộng” thì cũng xác định đuợc:

- Ai là kẻ “cấu kết với thế lực thù địch âm muu xâm lăng Tổ quốc”?

Nhân dân Việt Nam, với truyền thống anh hùng, mấy nghìn năm chống “thế lực thù địch phuong Bắc”, tại sao ngày nay lại để quê huong tổ quốc, từng phần, rơi dần vào tay kẻ thù truyền kiếp một cách âm thầm như vậy?

Phải có sự cấu kết trong nuớc nên các cuộc biểu tình, lên tiếng chống Trung cộng của sinh viên, học sinh và đồng bào ta mới rụt rè, yếu ớt, mau tàn rụi vì bị hăm doạ, cản trở từ phía Nhà cầm quyền vào đến cảc truờng đại học bởi lý do : “không đuợc phép”.

Phải có sự cấu kết trong nuớc, Trung cộng mới vừa là kẻ xâm lăng vừa lại đuợc uu tiên trong việc đấu thầu các công trình khai thác ở Việt Nam.

Phải có sự cấu kết trong nuớc, Trung cộng mới dễ dàng xâm chiếm các hải đảo, lãnh hải, biên giới, đua dân tràn vào Việt nam một cách tự do, ào ạt, không cần chiếu khán. Đây là một cuộc xâm lăng kiểu mới, rất tinh vi, quân dân Trung cộng đang đổ bộ vào chiếm đóng nuớc ta một cách nhẹ nhàng, êm thắm, không tốn một viên đạn, không mất một giọt máu.

Quân đội và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh để bảo vệ tổ quốc trong các trận chiến đảo Hoàng sa năm 1974, đảo Truờng sa năm 1988, nhất là cuộc chiến rất ác liệt ở biên giới phái Bắc năm 1979, gần 40 nghìn quân đân Việt Nam đa bỏ mình vì tổ quốc, vậy mà hàng năm không thấy tổ chức kỷ niệm, nêu guong hy sinh bảo vệ tổ quốc cho con cháu noi theo. Trái lại, cứ mỗi lần Tết đến, Nhà cầm quyền lại tổ chức viếng lễ các nghia trang quân xâm lăng Trung cộng, đặt vòng hoa: “đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung quốc”.

Công Hàm ngày 14.9.1958, do Thủ tuớng Bắc Việt, Phạm văn Đồng, ký công nhận tuyên bố của Trung cộng, lãnh hải Trung quốc bao gồm đảo Hoàng sa và Truờng sa của Việt Nam, có phải là bằng chứng cấu kết với thế lực thù địch âm mưu xâm lăng tổ quốc ?

Phương châm 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, huớng tới tuong lai” và 4 tốt : “láng giềng tốt, hợp tác tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” có phải là bằng chứng của sự cấu kết ?

Đảng cộng sản Việt Nam theo chủ thuyết Mác-Lê với lý tuởng : “vô gia đinh, vô tổ quốc, vô tôn giáo”. Nếu hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung quốc đã: “ hợp tác toàn diện” theo lý tuởng “vô tổ quốc” trong tinh thần : “đồng chí tốt” thì còn gì là Dân tộc !, còn gì là non sông!

Hoạ mất nuớc đa đến, tái hiện cảnh : Ngàn năm làm nô lệ Bắc phuong!

Tổ quốc lâm nguy!!!

Thích Viên Định


 


VÌ HÒANG/TRUỜNG SA:
5 NGƯỜI YÊU NƯỚC BỊ BẮT, ĐÁNH ĐẬP,
TỊCH THU TÀI SẢN


Kính thưa quý độc giả, kính thưa toàn thể đồng bào Việt nam trong nước và hải ngoại,

Sáng ngày 27/11/2009 hàng chục an ninh các cấp từ Bộ, Thành phố, Quận Hai Bà Trưng và công an phường Bách khoa đã ập đến khu vực phố Tạ Quang Bửu, đối diện hiệu sách Minh Châu để bắt giữ 5 người buôn bán quán nước chè chén tại đây.

Lý do của vụ bắt bờ này là vì từ ngày 9/11 cả 2 quán bán chè chén này đã chăng khẩu hiệu “Hoàng sa, Trường sa là của Việt Nam” tại đây và không chịu dỡ bỏ. An ninh đã thu tại đây 2 khẩu hiệu được cuộn lại , treo trên tường và để khi mưa nắng thì chăng ra. (xem ảnh)

Những người bị bắt gồm ông Võ Đức Toàn- 40 tuổi, bà Trương Thị Lan – 33 tuổi, Bà Nguyễn Thị Thêm – 65 tuổi, ông Trương văn Phòng- 30 tuổi, ông Trương văn Thành- 32 tuổi. Toàn bộ số người dân trên bị bắt giữ tại công an phường Bách khoa đến 24h đêm ngày 27/11 mới được thả ra về nhà và sẽ phải liên tục bị triệu tập , an ninh đe doạ sẽ bắt đi tù nhiều năm. Phó đồn công an Bách khoa tên là Vân đe doạ, thề độc sẽ bắt đi tù cho bằng được, nếu không bắt được thì chính y sẽ mút d… cho con trai những người bị bắt. Toàn bộ tài sản của hai quán bán nước bị tịch thu hết bao gồm bàn ghế, chén bát, xe đẩy, hàng hoá…trị giá gần 5 triệu đồng.

Ông Trương Văn Phòng bị an ninh đánh đập dã man khi đem tấm bạt có khẩu hiệu về công an phường. Bà Nguyễn Thị Thêm bị an ninh ập đến nơi thuê trọ tại phường Phương Mai khám nhà và bắt chủ nhà trọ đuổi ngay bà Thêm ra khỏi nhà, hiện bà Thêm không nơi ở phải đi nhờ bà con mỗi người một tối. Gia đình ông Võ Đức Toàn bị hàng chục an ninh xông vào lục soát và lấy đi nhiều hiện vật. Ông Võ Đức Toàn tự nhận một mình là người đã cắt giấy, sơn phun…làm ra 2 tấm khẩu hiệu nêu trên , có chữ “ Hoàng sa, Trường sa là của Việt nam”. Ông Toàn, bà Lan có 2 con còn nhỏ , cháu gái 6 tuổi, cháu trai 3 tuổi, hiện gia đình ông bị đuổi không cho bán chè chén, không có việc làm lại bị tịch thu hết tài sản, cuộc sông rất khó khăn và có nguy cơ đi tù dài hạn chỉ vì bày tỏ lòng yêu nước.

Chúng tôi cực lực lên án hành vi của an ninh cộng sản đối với nhứng người yêu nước trên và khẩn thiết yêu cầu các cơ quan truyền thông, các cá nhân trong và ngoài nước lên án sự đàn áp dã man này cũng như giúp đỡ những người dân yêu nước qua cơn hoạn nạn dưới chế độ độc tài cộng sản. Liên hệ ông Võ Đức Toàn +84956791436. Email : nguyendinhthang2009 @gmail.com .
Hà nội , 28/11/2009.

Nhóm PV DCNQ.

 











DÂN QUÂN TỰ VỆ BIỂN

Phan Đông Quân
November 25, 2009


Sự kiện línhTrung Cộng có hành vi bạo ngược đối với 200 ngư dân VN ngay trên vùng biển đảo của VN trong trận bão số 9 vừa qua ,cũng như  trong suốt mấy năm trước đó, đã khiến cho nhân dân VN ở cả trong và ngoài nước vô cùng căm phẫn, vừa đối với Tầu, vừa đối với thái độ Hà nội làm lơ cho tới khi không thể không lên tiếng.

Để chữa cháy,  một số lãnh đạo  CSVN đã đưa ra giải pháp trang bị vũ khí cho ngư dân để họ tự vệ khi đánh bắt cá trên biển.   Đề nghị  này khởi đầu chỉ như là một phản ứng, được đưa ra bởi giới lãnh đạo bộ Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn và hội Nghề Cá  hồi trung tuần thàng 10/2009. Tiềp theo đó, theo đài Á Châu Tự Do ngày 2/11/2009, trung tướng Nguyễn văn Hiến, tư lệnh Quân Chủng Hải quân CSVN khi tiềp xúc với báo giới ở Hà Nội, đã khẳng định:" muốn tiến ra biển ,cả, bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh tế,bảo vệ ngư dân yên ổn sinh sống,việc làm trước mắt và tất yếu là phải trang bị cho lực lượng Hải quân VN.", Cũng  theo đài Á châu Tự do,  hai ngày sau tướng Lê quang Bình, chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng-An ninh Quốc hội đã tuyên bố bên lế kỳ họp quốc hội vừa qua là:"VN nên thành lập các đội dân quân bảo vệ biển",  vì "bằng  Luật Dân quân tự vệ,VN sẽ phát triển tốt hơn lực lượng dân quân tự vệ biển, làm nòng cốt bảo vệ người dân trên biển, cũnh như giúp họ xác định tốt hơn đâu là vùng biển của VN,đâu là vùng biển của nước ngoài."

Nhìn từ xa, có vẻ như đảng và nhà nước VC đã quan tâm đặc biệt đến vấn đề bảo vệ ngư dân. Nhưng đón nhận của dân thế nào thì phải nghe chính những người dân phát biểu. Phóng viên Trần Văn của đài Á châu Tự do đã có buổi phỏng vấn thuyền trưởng  Trương Minh Quang của  tầu QNg90078,và phát thanh vào ngày 3/11/2009 :

--Nếu nhà nước giao súng cho Anh để anh tự bảo vệ,anh có cầm không?
--Em không cầm đâu.Nói chung là ở ngoài biển, có súng, nó bắn chết cha. Có súng,nó bắn mình luôn.Nó giết mình ở ngoài đó. 

Nghe thoáng qua thì có vẻ như ngư phủ này hơi nhát gan. Nhưng nghĩ thêm một chút thì phải thấy rằng súng nhỏ trang bị cho thuyền đánh cá, cao lắm là trung li&