*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.441/01.04.10
=>So/No.440/25.03.10
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>So/No.439/18.03.10
=>So/No.438/11.03.10
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================

                           

===============================================================
VietTUDAN --------------------------------------------------------------THOI SU/THONG TIN
===============================================================


============== CHÚ THÍCH ĐẦU: LƯU TRỮ NHỮNG BÀI ================

Trong Phần Phổ Biến Mỗi Ngày hoặc trong mỗi số VietTUDAN hàng Tuần, có những Bài muốn giữ lại lâu hơn nữa trong DIỄN ĐÀN này, chúng tôi sẽ chuyển sang Phần Lưu Trữ Tổng Quát hoặc sang các Phần có những Chủ Đề dưới đây:
   
                      *   VietTUDAN -- chu de Ton Giao/ subject Religion :
                                                CONG SAN & TON GIAO   
                                                CSVN & TON GIAO                         
                                                NHUNG VU DAN AP  
                                                PHAP LENH TON GIAO                                              
                                                NGOM GIAO GIAN        
                      *   VietTUDAN -- chu de Kinh Te/ subject Economy                
                                                THAT BAI KINH TE CHI HUY   
                                                TUONG QUAN KT/CHINH TRI        
                                                DOC TAI & THAM NHUNG         
                                                KT. TU DO THI TRUONG     
                                                WTO & NGOAI THUONG   
                                                TU HUU & DAN CHU             
                                                CACH MANG VO SAN MOI     
                      *   VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics   
                                                SUP DO THE GIOI CS              
                                                KET AN CS TAN NHAN    
                                                HO CHI MINH & CSVN     
                                                HO SO TOI AC CSVN        
                                                CA NHAN & CHINH TRI           
                                                THE CHE TU DO/DAN CHU    
                                                DAN CHU PHAP TRI       
                      *   VietTUDAN -- luu tru/ archives    

                (Xin xem cuối trang để biết bài giữ lại được chuyển vào Phần nào)
 
===============================================================



                                NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:

                                               CŨNG CHỈ TẠI VISA
                                            VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG

 
                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                               Geneva, 25.03.2010
 

Tôi muốn viết bài này rất ngắn dưới hình thức đưa ra những tỉ dụ cụ thể. Xuyên qua những tỉ dụ ấy người ta thấy ngay rằng cái lý do khiến lập trường chống Cộng của ngay một số người đã từng chống Cộng lâu năm trở thành yếu hơn chỉ vì họ ngại sợ cái VISA về thăm Quê Hương. Nghị Quyết 36 không có gì là thần thánh làm suy yếu ý chí chống Cộng của người Việt tỵ nạn ở Hải ngọai. Cái bí quyết làm suy yếu nằm chính trong bụng những người Việt tỵ nạn vì thương nhớ Quê Hương và muốn về thăm mà cái chìa khóa là cái VISA.
 

Xin rút khỏi danh sách gửi báo.

Tôi ra tuần báo VietTUDAN. Tôi có những người bạn đã từng quyết liệt chống CSVN từ lâu. Tôi có địa chỉ E-Mail của những người bạn này và tôi cho vào danh sách gửi báo. Tất nhiên lập trường chống Cộng của VietTUDAN là dứt khóat lọai bỏ Cơ Chế CSVN hiện hành. Sau một ít số báo gửi đến bạn bè, thấy có những người bạn gọi điện thọai đến nói lòng vòng, thậm chí còn góp ý kiến với tôi rằng bây giờ mình phải xử dụng Hòa Giải Hòa Hợp với CSVN như một chiến thuật giai đọan. Tôi hiểu lập trường của người bạn đã từng cương quyết chống Cộng với tôi trước đây. Tôi trả lời cho bạn tôi rằng tôi hiểu chiến thuật Hòa Giải Hòa Hợp và tôi nói ngay với bạn tôi rằng thôi nếu ngại sợ lập trường cứng rắn của tôi, thì tôi lấy dùm tên anh ta ra khỏi danh sách gửi báo. Thế là anh mừng húm và hết nhắc đến chiến thuật Hòa Giải Hòa Hợp. Đó chỉ là vì cái VISA mà làm cho bạn chống Cộng của tôi phải nát óc nghĩ ra những mưu kế lòng vòng che đậy để xin tôi bỏ tên ra khỏi danh sách gửi báo.
 

Những bạn Linh mục không dám
treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ 

Tôi có những người bạn trước đây cùng học ở Chủng viện và nay làm Linh mục quản xứ tại Hải ngọai. Có người nói cho biết rằng trong những sinh họat của Cộng đồng Giáo dân tại xứ, Linh mục ấy đề nghị không treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Linh mục cắt nghĩa cho Giáo dân rằng Tôn Giáo không làm Chính trị. Tôi biết rõ lòng chống Cộng của Linh mục bạn ấy.  Tôi gọi điện thọai đến và muốn biện luận với Linh mục về quan điểm Tôn Giáo không làm Chính trị. Linh mục không dám biện luận quan điểm ấy mà chỉ nói: “Liên, cậu hiểu tôi !”. Tôi cười nói: “Tôi hiểu. Có phải Cha sợ không được cái VISA về thăm Việt Nam vì treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Thôi, xin Cha đừng nói lòng vòng Tôn Giáo không làm Chính trị để che đậy !”
 

Dân biểu Mỹ gốc Việt có thể phát biểu
không quyết liệt về Lập trường chống Cộng

Trong thời gian hiện giờ, khi bàn về Lập trường chống Cộng trong tương lai của một vài ứng cử viên Quốc hội tại Mỹ, tôi thường nhắc tới cái VISA trong tương lai có thể làm ứng cử viên này dè dặt khi phải tuyên bố Lập trường chống Cộng. Ở thời gian tranh cử, có thể ứng cử viên hứa nhất quyết chống Cộng quyết liệt để lấy phiếu của cử tri Mỹ gốc Việt. Nhưng khi đã đắc cử rồi, vị dân biểu sẽ tìm những lý do bên lề để tránh né việc phải tuyên bố quyết liệt Lập trường chống Cộng. Mỗi lần thấy ông tuyên bố chống Cộng “nửa nạc nửa mỡ”, thì hãy hỏi thẳng vào cái tim đen của ông: “Có phải ông dành kẽ hở để mong dễ dàng có cái VISA về thăm Quê Hương phải không.”
 

VISA xuất ngọai

Trong những tỉ dụ trên, chúng tôi nói đến cái VISA về thăm Quê Hương.  Đối với những người tại Quốc nội, giấy phép xuất ngọai cũng là lý do chính để một số người phải né tránh không dám phát biểu lên sự thật khi chính mình phải mang trách nhiệm nói lên sự thật ấy. Chúng tôi nhớ lại cách đây gần hai năm, có phong trào những vị Lãnh đạo Tôn Giáo xuất ngọai xin tiền. Tại Hoa kỳ, Giáo dân đã dùng “lá bùa” để hù những vị Lãnh đạo Tôn Giáo ấy, đó là mang Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để xin chụp hình kỷ niệm với những Vị Lãnh đạo Tôn Giáo. Đứng chụp hình chung kỷ niệm với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để rồi Giáo dân đưa lên các Diễn Đàn Internet tòan cầu, đó là điều các Vị ngại sợ. Không phải các Vị ấy sợ chính Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mà các Vị ngại sợ vì những tấm hình ấy làm cho các Vị không được VISA xuất ngọai trong tương lai nữa.
 

Qua những tỉ dụ trên đây, chúng ta có thể kết luận rằng nếu ai ở nước ngòai muốn bầy tỏ LẬP TRƯỜNG DỨT KHÓAT LỌAI BỎ CSVN, thì phải dứt khóat với chính mình là CHỈ VỀ VIỆT NAM KHI CƠ CHẾ CSVN BIẾN KHỎI LÃNH THỔ VN.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.03.2010
 





                                                   HẢI NGỌAI

                                           CẤM VẬN NGỌAI TỆ
                                          ĐỐI VỚI MAFIA CSVN


                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                            Geneva, 25.02.2010

 

HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Đấu tranh chống lại CSVN, chúng tôi luôn luôn đứng ở lãnh vực Kinh tế. Lực lượng đấu tranh chính yếu là tại Quốc nội. Hải ngọai yểm trợ cho Quốc nội. Có hai Mặt Trận mà Hải ngọai có thể đóng góp hữu hiệu, đó là Mặt Trận Thông Tin về Quốc nội và Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế chống lại Mafia CSVN cướp bóc Dân chúng.

Đối với Mặt Trận Thông Tin về Việt Nam, Hải ngọai phải tăng cường luôn luôn vì chúng ta có phương tiện và vì Truyền Thông hiện nay là từ trời rơi xuống mà CSVN khó lòng ngăn chặn. Đối với Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế, chúng ta phân biệt những điểm tế nhị. Chúng ta tránh những gì có thể làm hại đến đời sống làm ăn kiếm sống vất vả của Dân chúng, nhưng đối riêng với Mafia CSVN cướp bóc, thì chúng ta kêu gọi trừ diệt không thương tiếc.

Từ khi CSVN tuyên bố phá giá nội tệ, chúng tôi thấy đây là dịp mà Hải ngọai phải nắm lấy để tấn công nhóm đảng Mafia CSVN mà không ngại sợ liên hệ đến cuộc sống làm ăn vất vả của Dân chúng. Việc buộc lòng phá giá đồng bạc Việt Nam cho thấy một tình trạng khan hiếm ngọai tệ có thể đưa Cơ Chế đến phá sản. Chúng tôi muốn kêu gọi Hải ngọai đòan kết, cứng rắn xử dụng mọi biện pháp CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Cơ Chế Mafia CSVN cướp bóc.
 

CSVN khan hiếm ngọai tệ trầm trọng

Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế cho đến nay, CSVN đang rơi vào tình trạng khan hiếm ngọai tệ như sau:

=>     Đầu tư nước ngòai giảm 82% vì chính nước ngòai cũng đang trải qua Khủng hỏang. Ngày nay, không Nhà Nước Tây phương nào, Liên Aâu và Mỹ, không thiếu hụt Ngân sách. Tình trạng khủng hỏang đang diễn ra nguy hiểm tại một số nước Liên Aâu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Liên Aâu đang khó khăn trong việc cứu vớt những nước này, nên khó lòng nghĩ đến đầu tư vào Việt Nam xa xôi nguy hiểm. Trung Đông cũng phải quan tâm đến vấn đề Dubai.

=>     Aâu, Mỹ du lịch Việt Nam giảm 70%. Xuất cảng của Việt Nam sang Liên Aâu và Hoa kỳ giảm 62%, đó là chưa kể những hàng hóa bị cấm đóan vì độc hại và những hàng bị tăng thuế nhập cảng như tôm cá vào Mỹ, đồ may mặc, da giầy vào Liên Aâu. Khi du lịch giảm, hàng xuất cảng giảm, thì làm sao có thể tăng ngọai tệ được.

=>     Trong khi ấy, những hàng nhập siêu cho Việt Nam lại tăng mạnh và quá mức. Cán cân thương mại nhập/xuất mất thăng bằng. Nhập siêu tức là ngọai tệ đi ra.
 

Đình trệ chung về Mậu dịch Quốc tế

Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày hôm nay 25.02.2010, trang 17, đăng những lời tuyên bố của chính Oâng Pascal LAMY, Tổng Giám đốc WTO:

“Le commerce international enregistré l’an dernier un recul sans précédent depuis la Seconde Guerre Mondiale en raison de crise 12%, et l’année 2010 s’annonce médiocre avec déjà des signes inquíetants pour la reprise économique espérée. Le commerce mondial a été victime de la crise et s’est contracté de 12% en volume en 2009”. (Thương mại quốc tế ghi nhận năm vừa rồi một sự lùi lại chưa bao giờ xẩy ra từ Thế Chiến Thứ Hai với 12% giảm, và năm 2010 báo hiệu xấu với những dấu hiệu đáng lo ngại cho việc phục hồi kinh tế như ao ước. Thương mại hòan cầu đã là nạn nhân của khủng hỏang và đã lùi 12% tính về lượng giao dịch trong năm 2009.)

Oâng nói thêm về những lý do của việc lùi chưa từng có này:

“Selon OIT, le nombre de chomeurs a atteint un niveau sans précédent de 200 millions de personnes, par conséquent le manque du pouvoir d’achat. La chute brutale des échanges commerciaux s’explique principalement par un repli de la demande des plus grandes économies, ainsi que par une raréfaction des prêts bancaires pour financer les transactions commerciales.” (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số thất nghiệp đã đạt tới mức chưa từng có là 200 triệu người. Việc tụt dốc tàn nhẫn của những trao đổi thương mại được giải thích chính yếu bởi việc cắt đi việc đặt mua hàng từ những nền kinh tế lớn nhất, cũng như bởi việc khan hiếm những món cho vay ngân hàng để tài trợ cho những thương vụ thương mại.)

Những tuyên bố trên đây của Oâng Tổng Giám đốc WTO chứng tỏ rằng những con số ca tụng tăng trưởng cũng như xuất cảng từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam là những khóac lác tuyên truyền mà thôi.
 

Phá giá đồng bạc Việt Nam là hậu quả tất nhiên

Trong bài viết dài về TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này, chúng tôi đã cắt nghĩa một cách giáo khoa rằng đồng nội tệ của một quốc gia mạnh hay yếu là do Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ, do Cán Cân Chuyển Vốn vào. Chúng tôi đã viết và cắt nghĩa như sau:

Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.

Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh hay yếu?

Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.

Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giûam giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.

Tại Việt Nam, ngọai tệ không những không vào mà còn thất thóat ra ngòai nhiều.  Người trong nước tăng Cầu ngọai tệ, nên tỷ giá ngọai tệ tăng. Phía Cung nội tệ tăng để mua ngọai tệ phục vụ nhập siêu. Cung nội tệ tăng, thì tỷ giá nội tệ sánh với ngọai tệ bị mất giá.

Tình trạng khan hiếm ngọai tệ và Đình trệ xuất cảng càng kéo dài bao nhiêu, thì đồng bạc Việt Nam càng phá giá bấy nhiêu. Lần phá gia trước Tết (11.02.2010) chưa phải là lần cuối, mà việc phá giá còn tiếp tục.

Bản Tin Reuters do John Ruwitch, đánh đi từ Hà Nội như sau:

“HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.

Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.

Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.

Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.

“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.

“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”

Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.


Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả. “
 

Hải ngọai hãy cứng rắn dồn sức
CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Mafia CSVN

Đã bao chục năm trường, mỗi năm Hải ngọai chúng ta đã chuyển về Việt Nam cho Gia đình trung bình USD.4-6 tỉ. CSVN không biết ơn mà vẫn luôn luôn coi chúng ta là thù địch, vẫn tàn nhẫn bóc lột đàn áp Dân chúng hay những người trong Gia đình của chúng ta. Đây là dịp mà chúng ta phải dặn bảo nhau, mở Phong trào Hải ngọai CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với đám nhóm đảng Mafia CSVN tàn bạo, cướp bóc.

Lạm phát bắt đầu tăng. Với lạm phát tăng và đồng bạc phá giá, Dân chúng sẽ đứng lên !


HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.02.2010





                               NHỮNG ĐIỂM THỜI SỰ QUAN TRỌNG

                                    ĐÁNG GHI LẠI ĐỂ NHẬN ĐỊNH

 
                                           NGUYỄN PHÚC LIÊN

 
*        Vấn để giữ tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp đối với Đo-la đã có từ lâu, nhưng Mỹ và Thế giới đã không có những áp lực mạnh đối với Trung quốc. Nhưng ngày nay, với cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, Mỹ và Thế giới thấy rằng mình thiệt hại quá nhiều. Việc Trung quốc cứ tiếp tục giữ tỷ giá đồng Yuan thấp sẽ mất cân bằng chính nền Kinh tế tòan cầu. Mỹ quyết định tăng cường áp lực và có thể đi đến Chiến tranh Thương mại đối với Trung quốc. Đây là vấn đề quan trọng và chúng tôi đã viết 3 bài liên tiếp. Chúng tôi liệt kê ra đây những bài liên hệ để độc giả tiện tham khảo:

-        Le Figaro 15.03.2010, trang 18 :

         PEKIN REJETTE LES CRITIQUES AMERICAINES

-        Financial Times 15.03.2010, trang 1 :

CHINA PREMIER BRANDS PRESSURE OVER RENMINBI PROTECTIONISM

-        The Wall Street Journal 15.03.2010, trang 1:

         CHINA TAKES AIM AT U.S. OVER ECONOMY

-        Le Monde 16.03.2010, trang 16:

CHINE: LE PREMIER MINISTRE RECONNAIT L’AGGRAVATION DES INEGALITES SOCIALES

-        The Wall Street Journal 16.03.2010, trang 23 :

         BEIJING IS STILL THE TOP HOLDER OF U.S.DEBT

-        Financial Times 16.03.2010, trang 1:

         CONGRESS LETTER URGES ACTION ON RENMINBI

-        Fiancial Times 17.03.2010, trang 3:

         BEIJING ON OFFENSIVE OVER RENMINBI

-        The Wall Street Journal 17.03.2010, trang 1 & 3:

         CHINA ATTACKS QUALITY OF FOREIGN GOODS

-        Web Alternatives Economiques par Jacques ADDA, Article Web 17.03.2010:

         LA DOUBLE FACE DU YUAN

-        Le Monde 18.03.2010, trang 16:

         TAUX DE CHANGE DU YUAN: PUGILAT AMERICANO-CHINOIS

-        Financial Times 18.03.2010, trang 2 :

         WORLD BANK OPTIMISTIC ON CHINA ?

-        The Wall Street Journal 18.03.2010, trang 14:

MULTINATIONAL COMPANIES SOUR ON THEIR DEALINGS WITH CHINA.

-        Financial Times 22.03.2010, trang 6:

         CHINA’S US TRADE ALLIES LOSING FIGHT WITH HAWKS

-        Le Figaro 22.03.2010, trang 25:

         COMMERCE: LA CHINE DEFIE LES OCCIDENTAUX

-        The Wall Street Journal 23.03.2010, trang 10 :

         WEN MEETS WITH BUSINESS

-        The Wall Street Journal 24.03.2010, trang 9:

         RARE CHINA DEFICIT COULD BACK POLICY

-        Financial Times 24.03.2010, trang 8:

         ARBITRARY CHINA

 *       Việc phát triển Kinh tế Aán độ không ồn ào và đi những bước chắc chắn. Đó là sự phát triển theo một Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế. Nếu Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, thì Kinh tế Trung quốc mất tính Độc lập. Người ta gọi đây là Kinh tế hướng ngọai. Trong khi ấy, Kinh tế Aán độ tản quyền và hướng nội, nghĩa là tạo một mãi lực lâu dài cho Dân chúng quốc nội. Nền Kinh tế như vậy giữ được tính các Độc lập của Kinh tế Quốc gia. Một số Chuyên gia Kinh tế nhìn ở sự phát triển của Aán độ lên một Cường quốc Kinh tế Á châu. Chúng tôi thấy đây là mẫu mực phát triển Kinh tế nên áp dụng cho Việt Nam. Vì tính cách quan trọng của sự phát triển Kinh tế Aán độ, nên chúng tôi liệt kê những bài liên hệ để độc giả tiện tham khảo:

-        Le Monde 09.03.2010 :

         UNE LECON INDIENNE par Martin WOLF       

-        The Wall Street Journal 10.03.2010:

         INDIA’S MICROLENDERS TO SHARE DATA by Eric BELLMAN

-        Financial Times 10.03.2010:

SUGAR SUFFERS AS INDIA RAISES OUTPUT ESTIMATE by Chris BLOOD

-        Financial Times 11.03.2010:

PUTIN SEEKS TO BOLSTER LINK WITH NEW DELHI by James LAMONT

-        The Wall Street Journal 11.03.2010:

         INDIA: WOMEN AND DEMOCRATY

-        Le Monde 11.03.2010:

EN INDE, GUERRES DES TERRES ENTRE PAYSANS ET INDUSTRIELS par Julien BOUISSOU

-        Le Monde 11.03.2010:

LES DEPUTES INDIENS VOTENT L’INSTAURATION D’UN QUOTA DE FEMMES AU PARLEMENT par Julien BOUISSOU

 

*       EMF/FME: Qũy Tiền Tệ Liên Âu với vai trò như IMF/FMI

(Financial Times 09.03.2010, p.1, p.4; The Wall Street Journal 09.03.2010, p.36)

*       Hậu quả những Biện pháp Che Chở Mậu dịch của nhóm G20. Lượng mậu dịch Thế giới giảm 12%.

         (Financial Times 09.03.2010, p.6)

*       Thu thập Kinh tế Trung quốc không phải cho Dân của nước này

         (Financial Times 09.03.2010, p.10)     

*       Trung quốc xuống nước. Sự ương ngạnh, gian giảo, tính tóan thủ lợi có thể dẫn đến Chiến tranh Thương mại mà Trung quốc là nạn nhận

(Financial Times 09.03.2010, p.2; The Wall Street Journal, 08.03.2010, p.10; Financial Times 08.03.2010, p.2; REUTERS, Pékin 08.03.2010)

*       Những khó khăn Chính trị và Kinh tế Trung quốc

(Financial Times 17.02.2010, p.9; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.9)

*       Những triệu chứng nguy hiểm cho việc tái khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế

         (Le Monde 17.02.2010, p.12)

*       Bruxelles đặt những điều kiện khắt khe đối với Athens

(Fiancial Times 16.02.2010, p.1; Le Monde 16.02.2010, p.15; Le Temps 16.02.2010, p.1)

*       Khủng hỏang Hy-lạp lan sang Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Liệu có ảnh hưởng sang Mỹ hay không ? “It began in Athens. It is spreading to Lisbon and Madrid. And America ?”

         (Financial Times 11.02.2010, p.9)

*       Đồng Euro và Khủng hỏang Tài chánh Liên Aâu. Những công kích đồng Euro.

         (Le Monde 10.02.2010, p.1, p.8)

*       Bernanke làm thế nào đưa FED ra khỏi chiến lược kích thích tài chánh.

(Financial Times 10.02.2010, p.3; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.6; Financial Times 11.02.2010, p.4)

*       Nạn sữa độc Melamine Trung quốc vẫn hòanh hành

         (The Wall Street Journal 09.02.2010, p.10)

*       Ý-đại-lợi (Thành phố Tuscan) xiết chặt thợ may dệt Trung quốc tràn sang:”Enough is enough !”

         (Financial Times 09.02.2010, p.2)

*       Trung quốc lợi dụng vụ Nguyên tử Iran để tăng cường thương mại với nước này

         (Financial Times 09.02.2010, p.2)

*       Nguyên tử Iran làm Tây phương nóng đầu và tìm cách trừng phạt.

(Le Figaro 08.02.2010, p.1; Le Monde 09.02.2010, p.1; Le Monde 10.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.12; Financial Times 10.02.2010, p.6)

*       Tiền Thụy sĩ trở thành Tiền tỵ nạn Lịch sử cho Tài chánh

         (Le Temps 08.02.2010, p.1)

*       Trung Cộng: Con cái những lãnh tụ lớn được thăng quan tiến chức, nhất là trong cấp bậc về Kinh tế để sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2012.

         (Le Temps 08.02.2010, p.5)

*       So sánh việc thóat Khủng hỏang Kinh tế giữa Hoa kỳ và Liên Âu

         (Le Monde 04.02.2010, p.1, p.6, p.13)

*       Thái độ của Hoa kỳ qua những vụ: Google, Bán Vũ khí cho Đài Loan và Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.

(Le Monde 03.02.2010, p.4; Financial Times 03.02.2010, p.1; Le Monde 02.02.2010, p.6; Financial Times 01.02.2010, p.1, p.6; Le Figaro 01.02.2010, p.6)

*       Vai trò Kinh tế Đài Loan được Hoa kỳ nâng đỡ để làm giảm cao ngạo của Trung quốc Lục địa.    

         (Financial Times 02.02.2010, p.12; Le Temps 02.02.2010, p.2, p.4)

*       Thái độ của Davos 2010 dối với những công kích Tài chánh Tư bản của TT.Sarkozy

         (Fiancial Times 02.02.2010, p.13; Le Monde 02.02.2010, p.1)

*       Thụy sĩ tháo gỡ những công kích về những người trốn thuế gửi tiển tại Thụy sĩ. Nhưng những người có tiền triệu, tiền tỉ tự hỏi: vậy thì cất tiền ở đâu cho vững ?

(Le Temps 02.02.2010, p.8; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.1,p.3; Financial Times 01.02.2010, p.4; Le Temps 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.23;)

*       Nông dân Trung quốc nổi dậy ủng hộ việc chống lại tham nhũng

         (Le Monde 28.01.2010, p.7)

*       Tây phương đã quá thổi phồng Kinh tế Trung quốc. Thực tế thì khác.

         (Financial Times 28.01.2010, p.11)

 NGUYỄN PHÚC LIÊN
Geneva 27.03.2010


CUỘC GẶP Ở VIỆT NAM CỦA
LM.NGUYÊN VĂN LÝ VÁ PHÓ ĐẠI SỨ HOA KỲ

Bản tin ngày 24-03-2010




            Vào lúc 13g15 ngày hôm qua, 23-03-2010, Bà phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Virginia E. Palmer, cùng với một thông dịch viên tên Đức đã đến thăm gặp linh mục Nguyễn Văn Lý, đang được tạm tha để điều trị tại Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế, 64 Phan Đình Phùng, Huế. Đưa hai vị này tới là hai nhân viên sở ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên Huế và hai nhân viên công an.

            Sau khi chào hỏi, cha Lý mời bà phó đại sứ và thông dịch viên vào phòng. Hai nhân viên ngoại vụ ra ngồi chờ ngoài sân còn hai nhân viên công an đứng bên ngoài phòng linh mục, sát cửa để nghe lén (và có thể là ghi âm lén. xem hình 1).

            Bà phó đại sứ cho biết mục đích thăm viếng: vấn an sức khỏe của linh mục Lý và hỏi cho biết tòa đại sứ lẫn chính phủ Hoa Kỳ có thể giúp linh mục như thế nào trong lúc này?

            1- Về tình trạng sức khỏe, cha Lý mô tả tương đối rõ ràng: cao huyết áp, tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch cảnh, xuất hiện khối u sau ót… Cha còn nói thêm: Xin quý vị hoàn toàn yên tâm là nhà cầm quyền Việt Nam không dám đưa tôi vào lại trại giam sau 12 tháng tạm tha này, vì sau lúc bị tai biến lần 3 (15-11-2009) , khi đang trong quá trình cấp cứu, tôi đã tuyên bố với họ rằng nếu tôi bị tai biến lần 4 thì sẽ khước từ cấp cứu và điều trị. Cho nên sang năm, nếu họ lại muốn đưa tôi vào trại giam, tôi sẵn sàng vào, nhưng họ phải biết rằng tôi sẽ khước từ điều trị và cấp cứu nếu bị tai biến lại.

            Tiếp đó linh mục Lý xin cảm ơn tòa đại sứ, tòa lãnh sự, chính phủ, quốc hội, bộ ngoại giao Hoa Kỳ cùng một số chính khách Mỹ như thượng nghị sĩ Sam Brownback, dân biểu Chris Smith, dân biểu Loretta Sanchez…. vì đã quan tâm đến hoàn cảnh của linh mục và đã vận động cho linh mục trong thời gian qua. Cha Lý cho biết tiếp: nay thì có một số chính khách quốc tế, một số tòa đại sứ, một số tổ chức ở nước ngoài đã ngỏ ý đưa tôi ra ngoại quốc chữa bệnh rồi sẽ đưa về. Điều này phù hợp với ý định của nhà cầm quyền Việt Nam. Vì biết tôi còn 5 năm tù giam và 5 năm quản chế nữa, nên họ (nhà cầm quyền) đã khuyên tôi cứ chấp thuận ra ngoại quốc điều trị cho khỏe hẳn, để khoảng 80 tuổi rồi hãy trở về (chú thích: Lm Lý hiện nay được 64 tuổi). Xin cảm ơn tất cả Quý vị vì hảo ý đó, nhưng như thế là vô tình đi vào kế hoạch của nhà cầm quyền Cộng sản (Bà phó đại sứ cười). Nay giáo phận Huế và gia đình muốn tôi điều trị tại chỗ (tòa TGM Huế).

            2- Về những việc gì mà chính phủ và tòa đại sứ Hoa Kỳ muốn giúp linh mục Lý hiện giờ, thì cha cho biết:

a-   Quý vị cố gắng tập trung giúp UNESCO, Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế biết rõ sự thật về ông Hồ Chí Minh (chú thích: linh mục Lý từng gọi HCM là tay gian ác, tên lừa bịp siêu cao thủ). Đừng úp mở chuyện này mà kéo dài sự sai lầm rất tai hại cho dân tộc tôi. Tôi thấy mình có nhiệm vụ trả lại sự thật nguyên vẹn về ông Hồ cho đồng bào Việt Nam (chú thích: đây cũng là điều mà một linh mục khác là cha Nguyễn Hữu Lễ đã làm qua cuốn phim tài liệu “Sự thật về HCM” và cũng là một trong ba tôn chỉ của bán nguyệt san Tự do Ngôn luận mà linh mục Lý là đồng sáng lập: vạch trần mặt thật HCM).

b-   Quý vị vận động làm sao để chúng tôi có tự do ngôn luận. Quý vị cần nói to, nói rõ, nói ngắn, nói chính xác giữa Liên Hiệp quốc rằng Việt Nam chưa có thứ tự do này. Đây là điều rất quan trọng. Chúng tôi muốn các tờ báo của chúng tôi như Tổ quốc, Tự do Dân chủ, Tự do Ngôn luận được bày bán công khai (chú thích: ban biên tập báo Tổ Quốc thời gian gần đây bị sách nhiễu và hăm dọa, đặc biệt là tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang và bác sĩ Phạm Hồng Sơn). Nếu chưa được thế thì ít nhất quý vị hãy nói với nhà nước Việt Nam rằng đừng bắt những ai đọc các tài liệu như vậy. Chúng tôi thấy có nhiệm vụ trước mắt là làm sao cho người dân được tiếp cận các loại thông tin trung thực về tự do dân chủ mà không bị bắt bớ, không bị quấy nhiễu. Quý vị hãy nói to trước các diễn đàn quốc tế là Việt Nam lạc hậu vô cùng về tự do ngôn luận, thua thời Các Mác tại Anh cách đây 160 năm, thua thời nhóm Nguyễn Ái Quốc tại Paris cách đây gần 100 năm, thua thời cụ Huỳnh Thúc Kháng tại An Nam cách đây hơn 80 năm. Tất cả họ đều làm báo phê phán chế độ đương thời mà không hề bị bắt!

           Trước câu lưu ý của bà phó đại sứ (“Hàng năm, bản báo cáo của chúng tôi về nhân quyền tại Việt Nam đều có đề cập đến chuyện ấy”), linh mục Lý trả lời: Nói dài, nói nhiều có khi không hữu ích và hiệu quả bằng nói ngắn và nói rõ giữa các diễn đàn toàn cầu: Tự do ngôn luận tại Việt Nam thua cộng đồng quốc tế cả hàng trăm năm!

c-   Quý vị cố gắng giúp chúng tôi tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội cộng sản năm 2011 cho thật hiệu quả. Đây là một hình thức dân chủ giả hiệu và áp đặt, hoàn toàn không giống như các cuộc bầu cử Quốc hội ở những nước dân chủ tự do. Giúp như thế là quý vị giúp tôi chữa lành khối u sau ót tôi đây này ! Phần Khối 8406 của chúng tôi thì cũng sẽ lên kế hoạch tẩy chay nó cách quyết liệt. (Chú thích: trước cuộc bầu cử Quốc hội năm 2007, Khối 8406 và nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền đã có nhiều văn thư kêu gọi tẩy chay nó cũng như nhiều thành viên đã thực sự tẩy chay nó trong chính ngày nó được tổ chức, 20-05-2007).

            3- Linh mục Lý cũng nhân cơ hội trình bày cho bà phó đại sứ rõ nguyên tắc đấu tranh bất bạo động của các chiến sĩ hòa bình dân chủ tại Việt Nam: Một chiến sĩ hòa bình dân chủ nếu biết cách đấu tranh bất bạo động thì sẽ mạnh gấp nhiều quân đoàn. Cộng sản hiện nay không còn dám cắt lưỡi các nhà đấu tranh bất bạo động như thời linh mục Jerzy Popieluszko bên Ba Lan hồi 1984 vì CS sợ họ. Chiến sĩ hòa bình nói, đối phương cũng sợ; viết, đối phương cũng sợ; khóc, đối phương cũng sợ; cười, đối phương cũng sợ; im lặng, đối phương cũng sợ; sau cùng chết thì đối phương càng sợ (Bà phó đại sứ ngắt lời: Không chết đâu! không chết đâu!). Trên đấu trường, hai đấu sĩ nhìn nhau. Các chiến sĩ hòa bình dân chủ nhìn thẳng đối phương là hàng chục triệu cán bộ, hằng mấy triệu đảng viên với tấm lòng không sợ hãi thì đối phương phải hãi sợ họ. Tại sao người chiến sĩ dân chủ không sợ? Vì họ không đi tìm gì cả ngoài tình thương, sự thật và lẽ phải! Tình thương, sự thật và lẽ phải này như lửa. Nhà tù với số lượng bao nhiêu và với tường dày bao nhiêu cũng chỉ là giấy, không gói được lửa! Trong trại giam lửa vẫn bừng cháy, ra ngoài lại càng bừng cháy. Một bạo quyền độc đoán thì phải thua ngọn lửa ấy mà thôi!

            Người chiến sĩ hòa bình dân chủ phải vô úy (không sợ hãi), vô cầu (không xin xỏ), vô thủ (không cần đề phòng, vì đấu tranh công khai, quang minh chính đại, ai rình nghe cũng mặc), vô ngã (không tìm cái lợi cho mình), vô biệt (không phân biệt quốc gia hay cộng sản, da trắng hay da vàng, Phật giáo hay Công giáo, ai đứng về phía lẽ phải và sự thật đều là đồng minh của mình). Khi có ngũ vô này rồi thì tức khắc có đệ lục vô, không nhắm nhưng sẽ phải đến, đó là vô địch! (Bà phó đại sứ cười vang khoái chí). Tôi chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng tôi biết mình vô địch vì nơi tôi không có hận thù. Đời tôi đã 64 tuổi nhưng tôi chưa ghét một người nào cả. Mấy lần bị cán bộ CS bắt giam, tôi đều nói: Các anh sợ mà bắt giam tôi thôi, nhưng đố các anh ghét tôi được! Tôi có làm chi phương hại, xúc phạm hay nguyền rủa các anh đâu mà các anh ghét. Trái lại tôi chỉ đọc kinh cầu nguyện cho các anh.

            Tôi đi tù như vậy là 5 lần, riêng dưới chế độ này là 4 lần. Mỗi lần vừa vào tù, tôi đều quỳ cúi xuống hôn đất mà thầm nói: “Con xin nhận nhiệm sở mới” Nhiệm sở mới này không phải đức Giám mục bổ nhiệm tôi đến mà là Chúa Giêsu Kitô. Vì thế tôi coi ban giám thị, cán bộ trại và mọi tù nhân trong trại đều là giáo hữu mà tôi có bổn phận cầu nguyện và rao giảng Tin Mừng cho. (Chú thích: trong một lần tâm sự trước đây, linh mục Lý có cho biết ở trong tù cha luôn cầu nguyện cho các tay đồ tể của nhân loại như Lênin, Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pôn Pốt, Saddam Hussein, Bin Laden… Họ cần lời cầu nguyện vì họ bị nhân loại quên lãng do căm thù)… Đêm đầu tiên ở trại giam tôi ngủ bình thản như ở nhà, vì tôi coi trại là văn phòng, là nhiệm sở của tôi, tôi phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ ở đó cho tốt. Sang năm, nếu họ đưa tôi vào lại trại thì tôi thoải mái, sẵn sàng (Bà Phó đại sứ cười). Như mọi chiến sĩ dân chủ hòa bình, tôi có tình thương, sự thật và lẽ phải nên không sợ. Nhưng đằng sau lưng tôi là cả Triều thần Thiên quốc, có Thiên Chúa, có Đức Mẹ, có các thánh, rồi có hàng triệu các thai nhi bị trục giết mỗi năm mà tôi luôn bênh vực (chú thích: trong các lần linh mục gặp gỡ cán bộ công an hay viết kiểm điểm về… chế độ). Các em ủng hộ tôi, chuyển cầu cho tôi thì đảng CS làm chi tôi được!!!         

Kết thúc, bà phó đại sứ Hoa Kỳ nói: “Tôi từng mong ước gặp được linh mục. Nay thấy linh mục trẻ trung, vui vẻ, ăn nói rất mạnh mẽ và rõ ràng. Rất hân hạnh. Xin hết lòng cảm ơn!”

            Cuộc gặp gỡ kết thúc vào lúc 14g30 cùng ngày.
            Nhóm Phóng viên FNA. 

 









LS.LÊ THỊ CÔNG NHÂN HÃY ĐẤU TRANH
CỤ THỂ CÙNG VỚI DÂN OAN


Ls.CÔNG NHÂN nói: "Tôi là luật sư, trước đây khi giúp đỡ những người dân oan, chúng tôi gọi nhau là chiến sĩ. Sau đó, tôi bị bắt oan, bị án oan và tù oan thì trở thành dân oan Lê Thị Công Nhân, vì vậy xin chia sẻ với các dân oan ở đây và toàn thể giáo dân, cộng đoàn những vất vả đã phải chịu thời gian qua".


Kính gửi  L.S Lê Thi Công Nhân-
 
Chúng tôi là những người ở Miền Tây xa xôi , thiếu thông tin, biết tin muộn, Các Anh Chị ở Hải Ngoại ký tên thăm hỏi và đồng hành cùng Luật sư LTCN.

Chúng tôi dẫu muộn màng, xin được gởi đến LS lời chào mừng trở lại với Mái Ấm Gia Đình trong tình thương của Đồng Bào trong và Ngoài nước và Tập thể Dân Oan chúng tôi đã rất vui mừng khi nghe được Tiếng Nói và Hình Ảnh của LS ..
                         
Luật sư thân mến,

Mặc dù Niềm Tin và hoàn cảnh cuộc sống có khác biệt vì chúng tôi là những Phật Tử ,Tín Hữu Cao Đài ,Hòa Hảo ,Tin Lành, Ki Tô Hữu.., Nhưng cũng giống như LS vì cùng là Nạn Nhân khổ đau của lòng tham không đáy ,của sự xấu ác do bạo quyền CS gây ra !, hầu hết người dân ở chế độ X H C N này - trừ bọn C A-Cán Bộ, Đảng Viên CS !!! - trực tiếp hay gián tiếp đều là NẠN NHÂN của Tập Đoàn lãnh đạo Vô Thần!, phi đạo đức, không Tôn giáo!!!, vì không có Đức Tin Tôn Giáo, nên bọn lãnh đạo C.S mặc sức ra tay tàn ác, chà đạp Nhân quyền, tước mất của cải Ruộng Đất của chúng tôi, đó là Mồ Hôi Nước Mắt - Một Nắng Hai Sương - của Cha Ông chúng tôi để lại, chúng tôi đã cố gắng tằn tiện giữ gìn, mong muốn  truyền lại cho Con Cháu!

  Nhưng nhà cầm quyền CS, từ Trung Ương, đến Địa Phương Xã Ấp, đã rập khuôn hùa nhau, ra mưu thâm-kế độc, bưng bít dư luân trong và ngoài nước, núp dưới chiêu bài gọi là " độc lập "chủ quyền nọ kia, không cho Thế Giới và các Nước Yêu chuộng Tự Do, can thiệp vào nội bộ của XHCN_v.c ( ! ) do đó tập đoàn CS mặc sức "đẻ" ra những Lề Luật hết sức phi nhân, hà khắc đè đầu cưỡi cổ Người Dân ..!

Không ít những Bà Con Dân Oan chúng tôi, đã bỏ Mạng trên bước đường đeo đuổi Khiếu Nại, chúng tôi đã Khóc nhau, những giọt Nước Mắt tủi nhục, cay đắng trước sự vô cảm của Cán Bộ CS.
 
Bà con Dân Oan  chúng tôi đã vô cùng Tuyệt Vọng, và phẫn nộ khi nhìn chúng hớn hở, khi thấy Bà con chúng tôi Mất đi Người Thân,
Chúng tôi đã hết sức bất ngờ : Trước sự hèn hạ của tập đoàn Lãnh Đạo CS khi đối diện trước vấn nạn Quốc Gia, trước kẻ thù Phương Bắc, đối với lãnh hải và Đất Đai của Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tập đoàn lãnh đảo CS vn chẳng những không chống đỡ lại còn cam tâm dâng nạp thêm Đất Rừng Tây Nguyên mặc sức cho Tàu cộng, mướn Đất, khai thác Quặng Mỏ Bô Xít... Gây ảnh hưởng Ngiêm Trọng đến tài sản Quốc Gia, cũng như đòi sống Đồng Bào sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
 
Nếu thạt sự chúng là Đại Diện của nhân dân VN, thì cũng KHÔNG có quyền yêu nước một cách độc quyền như thế. và chúng đã KHÔNG tàn ác với trên dưới 80 triệu Dân Đen như thế này, mà điển hình là tập thể Dân Oan Miền Tây - nói riêng - và Đồng Bào Dan Oan miền Bắc, nói chung đều là nạn nhân của Bạo Quyền CS!, bọn chúng đã thẳng tay vơ vét cướp lấy những Ruộng Vườn Nhà Cửa Đất Đai, dồn Người Dân đến bước... đường cùng!, làm cho Con Em chúng tôi  thất học.. lang thang đầu đường xó chợ .. trong khi đó thì con em của chúng nhờ vào số tài sản mà Cha Ông của chúng cướp được, đã ra Nước Ngoài Du Học, Ăn Chơi, phè phỡn du hý, nhờ vào số Tài Sản kếch xù của cha ông chúng đang gửi ở những Nhà Băng Hải Ngoại

Thử hỏi lương cán bộ "Đày Tớ" bao nhiêu ...một năm?!, mà con em của chúng ra Nước Ngoài "đốt" Tiền như vậy !!!
 
Trong câu hỏi đã sẵn CÓ ..."câu trả lòi"     
  
Bọn chúng đã thụ hưởng trên sự đau khổ của Dân Oan trên toàn Đất Nước VN

Xin LS trong các cuộc tiếp xúc với Báo Đài thay mặt nhóm Dân Oan mất nhà cửa Ruộng Đất ở VN, nhờ LS góp tiếng bênh vực cho chúng tôi đang khốn khổ ở Quê Hương, mòn mỏi đi khiếu kiện trước nhà cầm quyền vô cảm CS
 
Vì họ đã trí trá, ngụy biện kéo dài thời gian, làm cho chúng tôi kiệt sức, đã có Gia Đình có Người CHẾT đang khi đeo đuổi cuôc khiếu kiện vô vọng với tập đoàn CSVN
 
Nhưng nếu may ra có được những vị LS nào, nhà Đấu Tranh Dân Chủ nào, Quí Mục-Sư, Linh Mục và Hòa Thượng nào "dám" bênh vực lên Tiếng Nói giúp chúng tôi, đều dã trở thành Nạn Nhân của Tập Đoàn Quân Phiệt CS
 
Chúng tôi rất Biết Ơn cuộc tranh đấu của nữ LS LÊ THỊ CÔNG NHÂN. Nay xin được Đồng Hành cùng các Anh Chị Thiện Tri Thức, Các Hội Đoàn Tôn Giáo trong Nước cũng như Hải Ngoại thúc đẩy nhà cầm quyền CS sớm từ bỏ tham vọng độc quyền cai trị, cần thiết phải có cuộc Bầu Cử Tự Do - dưới sự giám sát của LHQ - để Người Dân được quyền chọn lựa các Đảng Phái thích hợp, biết chăm lo đời sống Người Dân, để chúng tôi Cảm Nhận được Quyền Sống tối thiểu của Con Người vì chúng tôi không còn chút Niềm Tin nào  với "Đảng CSVN!!!
 
Xin chân thành Cám Ơn & Chúc sức khỏe L.S
  
                                       
Kính Thư
                                                       
Thay mặt nhóm Dân Oan Kiên Giang

- Trần Thị Lùn( Hon-Dat )
- 4 Vinh & nhóm TQ.Hai ( Cần Thơ )
- 7 Luong & Danh(Mỹ Xuyen-AnGiang )
- Lai.M-Hiếu & Nhóm 3 Trinh-5 Nhuần( Tiền Giang)
- 7Hoa-3 Tiem,Thong,Lai. , Manh&Duyen(Bến Tre)
- Nhóm 5 Ro^,7 ca'hấp &Bà Con Dân Oan Phan Thiết
- Nhóm Bảo,Khánh,Hoàng- Hoa,Tuyết-Đào-Nhung (Bình Thạnh)   - và Bà con Dân Oan Tân Hiệp -Tỉnh Long An

 








THỦ TƯỚNG HÕAN BINH

Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ
gửi cho BBC từ Hà Nội


Kính thưa Quí vị,

Một tên biểu sao nghe vậy của đảng ta, hắn đâu giám làm gì sai trái khi tập thể lãnh đạo, cá nhân trách nhiệm. Sự kiện này đã chứng tỏ cái gian trá của đảng CSVN, khi đảng này đã tuân thủ theo lệnh từ Bắc Kinh để bán đất và bán dân tộc làm nô lệ cho phương Bắc. Đảng CSVN chính là TRần Ích Tắc ngày xưa.

Thủ tướng "hoãn binh"?

Ngày 9/3/2010 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có công văn số 405/TTg-KTN về việc “rà soát kiểm tra việc triển khai thực hiện các dự án nước ngoài đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản”.

Công văn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thông tin và Truyền thông và tất cả các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương; được đưa ra hơn một tháng sau khi hai Tướng Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh cảnh báo trên trang mạng Bauxite Việt Nam của giới trí thức Việt Nam yêu nước về “hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia”, xuất phát từ việc 10 tỉnh của Việt Nam trong có có các tỉnh giáp giới Trung Quốc cho người Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê trên 264 nghìn ha đất rừng đầu nguồn.

Công văn nêu rõ: “có nơi đã cho thuê cả diện tích đất có rừng tự nhiên; quy hoạch cho các dự án thuê đất vào những vùng nhạy cảm đã phải thu hồi lại".

"Trước tình hình trên, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ ngành liên quan lập đoàn công tác tiến hành rà soát kiểm tra, đánh giá và báo cáo Thủ tướng về việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản".

"Trong thời gian thực hiện việc rà soát kiểm tra, đánh giá, UBND các tỉnh không được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong phạm vi các lĩnh vực nêu trên”.

Phải nói động thái này của người đứng đầu Chính phủ đã làm cho hai vị Tướng và nhiều người trong và ngoài nước cho dù vẫn còn dè dặt tin rằng đây là sự khởi đầu tích cực cho việc chấm dứt hiểm họa đối với an ninh và quốc phòng của Việt Nam.

Tuy nhiên người viết bài này lại có quan điểm ngược lại, cho rằng đây chỉ là “kế hoãn binh” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tức việc ban hành công văn trên cốt “hạ nhiệt” chủ nghĩa yêu nước hay chủ nghĩa dân tộc của người Việt - thế lực duy nhất có thể cuốn phăng Chính phủ nói riêng, chế độ chính trị hiện hành nói chung, chứ không nhằm giải quyết những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sinh mệnh của quốc gia như mọi người trông đợi.

Quyết định không có tính chế tài

Có nhiều căn cứ để khẳng định điều này.

Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chỉ có hai loại văn bản do Thủ tướng ký: Nghị định nhân danh Chính phủ và Quyết định nhân danh cá nhân Thủ tướng. Nghĩa là ngoài hai văn bản này ra thì các văn bản khác, trong đó có công văn, do Thủ tướng ký không có tính chế tài thi hành.

Để nói, nếu thực sự Thủ tướng Dũng muốn xử lý vụ bê bối siêu nghiêm trọng này thì chí ít phải ban hành Quyết định, điều mà ông này đã không làm.

Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh có liên quan, nói gì đến Bộ Quốc phòng, đã không hề được lãnh đạo tỉnh tham khảo và tất nhiên càng không được mời thẩm định các dự án cho thuê rừng.

Thứ hai, công văn không hề ấn định thời điểm mà các bộ có liên quan phải “bắt tay vào cuộc” cũng như thời điểm kết thúc việc rà soát, kiểm tra, đánh giá việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Điều này cho thấy không có việc Thủ tướng Dũng buộc các tỉnh dừng ngay tức khắc việc cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và ký hợp đồng cho thuê đối với người nước ngoài.

Thm nữa, trong Công văn không có những thuật ngữ như “xung yếu”, “an ninh quốc gia”, “quốc phòng” được đề cập trong thư của các Tướng Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh” nên về hình thức công văn của Thủ tướng Dũng không nhằm giải quyết lo ngại chính của hai vị lão Tướng là lo ngại về an ninh, quốc phòng.

Cứ cho những “vùng nhạy cảm” được sử dụng trong Công văn ám chỉ những vùng xung yếu về an ninh, quốc phòng thì thành phần rà soát các dự án cho người nước ngoài thuê rừng đương nhiên không thể thiếu Bộ Quốc phòng. Thế nhưng, như chúng ta đã thấy, trong địa chỉ đến của Công văn không có Bộ Quốc Phòng.

Cuối cùng, đây mới là bản chất của vấn đề: chính Chính phủ đã gián tiếp “bật đèn xanh” cho người Trung Quốc và gốc Hoa thuê rừng đầu nguồn của Việt Nam như trên đã đề cập.

Thực vậy, Khoản 2 Điều 11 Luật Quốc phòng quy định việc quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và khu vực trọng điểm về quốc phòng phải được Bộ Quốc phòng và cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ phối hợp thẩm định thế nhưng trên thực tế, Bộ Quốc phòng đã bị gạt ra rìa quy trình cấp phép cho các dự án cho thuê rừng.

Bằng chứng là ngay các Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh có liên quan, nói gì đến Bộ Quốc phòng, đã không hề được lãnh đạo tỉnh tham khảo và tất nhiên càng không được mời thẩm định các dự án cho thuê rừng.

Cái “giật mình” kèm theo khẳng định của đại tá Hoàng Công Hàm, Phó chỉ huy trưởng, Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn trước báo chí vào ngày 15/3 vừa qua:“Họ chưa qua một cấp nào của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh thẩm định cấp dự án nhất là về rừng dọc biên giới. Tất cả các dự án lớn như thế thì chắc chắn phải báo cáo Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Chúng tôi không được báo cáo thì làm sao chúng tôi tham mưu được. Dự án trồng rừng 50 năm có người nước ngoài là ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng rồi”hẳn không cần thêm lời bình.

Điều 3 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ hướng dẫn Luật bảo vệ và phát triển rừng quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thay mặt Chính phủ lập và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để trồng rừng. Vậy không lẽ với tư cách là người lập và quản lý hồ sơ rừng mà Chính phủ lại không hề hay biết hàng trăm nghìn ha rừng đầu nguồn đã được cho người Trung Quốc và gốc Hoa khác thuê, không những thế với thời hạn đến 50 năm?

“Con voi" – hàng trăm nghìn ha rừng đầu nguồn, mà tuyệt đại đa số ở những khu vực trọng điểm về quốc phòng, khó có thể “chui lọt lỗ kim – cấp phép” nếu không được Chính phủ mà trước hết là Thủ tướng Dũng chấp thuận, trực tiếp hoặc gián tiếp!

Suy cho cùng, nếu không có việc chuẩn bị Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 11 họp vào đầu năm sau, 2011, thì “kế hoãn binh” này không chắc được thi hành.

Ngay cả trong trường hợp cực chẳng đã Thủ tướng Dũng phải biến “hoãn binh” thành “động tác thật” nhằm mục đích tranh cử thì sau Đại hội 11 Đảng cộng sản Việt Nam, nếu ông Dũng vẫn còn ở vị trí quyền lực, không có gì đảm bảo rằng mọi chuyện rồi lại không y như cũ; nghĩa là lại đặt Việt Nam ở tình thế cực kỳ nguy hiểm về an ninh, quốc phòng bằng việc cho phép các tỉnh tiếp tục cho người Trung Quốc và gốc Hoa khác thuê rừng đầu nguồn ở những khu vực xung yếu về quốc phòng.
Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ
gửi cho BBC từ Hà Nội

 



                                            MỸ—HOA DÀN TRẬN


                                              Nguyễn Xuân Nghĩa


...Yếu tố kinh tế trong trận đấu...


Mở đầu cho loạt bài về những mâu thuẫn thậm chí xung đột sắp tới giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, chúng ta cần nhìn lại quan hệ của hai nước trên đại thế.

Người ta thường cho là Hoa Kỳ chi tiêu bừa phứa, lại còn mắc nợ nặng nề sau vụ khủng hoảng tài chánh năm 2008 và nạn suy trầm kinh tế năm 2008-2009. Trong khi đó, Trung Quốc tiết kiệm tối đa và làm chủ một lượng dự trữ ngoại tệ tương đương với 2.400 tỷ Mỹ kim mà đa số được lưu giữ dưới dạng đầu tư vào thị trường Mỹ. Vì vậy, Hoa Kỳ thành quốc gia khách nợ và Trung Quốc là quốc gia chủ nợ, cho nên hai nước đều cần nhau, với thế thượng phong thuộc về chủ nợ.

Nhận xét ấy thật ra phiến diện và không phản ảnh đúng sự thể, nhưng cứ được nhiều "học giả" Mỹ lưu truyền, với sự hoan hỉ của Bắc Kinh và sự sốt sắng phiên dịch của truyền thông Việt ngữ.
Trước hết, như tại nhiều quốc gia khác trên địa cầu từ khi có tự do giao dịch kinh tế, Hoa Kỳ có gặp chu kỳ suy trầm từ cuối năm 2007 và bị khủng hoảng tài chánh năm 2008 sau vụ bể bóng đầu tư trên thị trường gia cư từ năm 2006. Vụ khủng hoảng ấy lan rộng khiến nước Mỹ bị coi là thủ phạm của mọi tai họa kinh tế ở nơi khác. Điều ấy không chính xác nếu ta thấy là Âu Châu chưa ra khỏi suy trầm và đang mấp mé khủng hoảng tài chánh vì những chứng tật riêng. Lại càng không chính xác khi ta nhìn qua đầu máy kinh tế thứ nhì là Nhật Bản, bị suy trầm và khủng hoảng từ hai chục năm trước sau vu bể bóng gia cư địa ốc và cổ phiếu năm 1990.

Chẳng những điều ấy không chính xác mà lại không đầy đủ: Trung Quốc có góp phần cho vụ khủng hoảng năm 2008 tại Mỹ, là điều thiên hạ ít biết vì không quan tâm đến kinh tế quốc tế.

Nhắc lại thì Hoa Kỳ có trách nhiệm trong sự bất cẩn vì tinh thần hồ hởi sảng truyền thống của nước Mỹ, nên nhập cảng ào ạt và vay mượn lung tung. Bên kia Thái bình dương, Trung Quốc là nơi mà dân chúng có tâm lý bất an cũng truyền thống nên thắt lưng buộc bụng và tiết kiệm rất cao. Họ còn bị nhà nước thắt lưng buộc bụng để xuất cảng bằng mọi giá cho nhà nước thu về ngoại tệ, lập ra một kho tài sản tung hoành trên thế giới.

Đáng lẽ, kho tài sản ấy đã có thể được đầu tư vào bên trong để nâng cao mức sống toàn dân. Hoặc nhà nước Bắc Kinh đã có thể nâng cao hối suất đồng bạc của mình (đồng Nguyên, hay Nhân dân tệ) để nâng lợi tức người dân. Nhưng lãnh đạo Bắc Kinh không tính như thế. Họ giữ hối suất thấp - nôm na là giàng giá đồng Nhân dân tệ vào đồng Mỹ kim theo tỷ giá cố định và giả tạo - để chiếm ưu thế nhờ xuất cảng với giá rẻ. Rồi có ngoại tệ trong tay, họ đầu tư ngược vào Mỹ để kiếm lời trên một thị trường an toàn hơn là... thị trường Hoa Lục.

Kết quả, đúng hơn, phải nói là hậu quả, là Trung Quốc tạo ra một nguồn tiền lưu hoạt cực lớn, tới cả ngàn tỷ Mỹ kim, được chảy vào thị trường Mỹ.

Nguồn tiền ấy có góp phần làm giảm lãi suất tại Mỹ và thổi lên bong bóng đầu tư. Lãi suất càng hạ, dân Mỹ càng phóng tay chi tiêu nên càng bị nhập siêu về ngoại thương và càng đưa ngoại tệ vào tay Bắc Kinh để lại thổi qua Mỹ. Nói ví von thì dân Mỹ lạc quan như trẻ thơ thích chơi ma túy, Bắc Kinh là người cung cấp!

Sau khi bị Mỹ phàn nàn về việc định giá đồng bạc quá thấp, Bắc Kinh sợ bị trả đũa nên từ tháng Bảy năm 2005 đến tháng Bảy năm 2008, đã tiệm tiến nâng tỷ giá đồng Nguyên khoảng 20% - ghi cho dễ nhớ, thực tế là gần 21%. Thế rồi khi thấy kinh tế thế giới bị suy trầm, từ tháng Bảy năm 2008, Bắc Kinh lại ấn định đồng bạc theo hối suất thấp, rồi tung kế hoạch kích thích kinh tế và khuyến khích xuất cảng bằng trợ giá.

Để tiếp thục thu thêm ngoại tệ về làm dự trữ.

Nói vắn tắt, Bắc Kinh có góp phần gây ra khủng hoảng tài chánh toàn cầu vì tiếp tục bơm tiền.  Và nay còn đình chỉ khả năng điều chỉnh của thế giới - của Mỹ và các nước công nghiệp khác.
Chuyện điều chỉnh ấy là như thế nào?

Là Trung Quốc không nên tiếp tục cạnh tranh nhờ tiền rẻ để xuất cảng ra ngoài mà phải nâng cao khả năng tiêu thụ nội địa - nâng cao lượng nhập cảng - bằng cách tăng hối suất đồng bạc. Tức là phải cho người dân được hưởng công lao sản xuất của mình và nhập cảng nhiều hơn từ các xứ khác hầu quân bình lại cán cân ngoại thương của thế giới. Việc điều chỉnh ấy là cần thiết cho thế giới và cho chính Trung Quốc. Nhưng dù lãnh đạo Bắc Kinh có muốn như vậy từ lâu, họ vẫn không làm được vì những chứng tật ngay trong cơ chế kinh tế chính trị của Trung Quốc.

Trong khi ấy, Bắc Kinh thực tế dựa vào khối ngoại tệ dự trữ làm đảm bảo cho hệ thống tiền tệ và ngân hàng của Trung Quốc! Nếu không, xứ này sẽ bị khủng hoảng. Khi nhìn lại toàn cảnh như vậy, ta thấy Bắc Kinh cũng cần Hoa Kỳ và mong là dân Mỹ sớm ra khỏi suy trầm để tiếp tục cấp cứu kinh tế Hoa Lục bằng cách lại tiêu xài như Mỹ và nhập cảng tưng bừng!

Vì không hiểu điều ấy, hoặc vì gian ý - từ các cơ sở đầu tư có quan hệ với thị trường Hoa Lục và các học giả hay chính khách Mỹ được Trung Quốc viện trợ, hà hơi tiếp sức - người ta mới lưu truyền lý luận rằng Hoa Kỳ là khách nợ nên không thể cưỡng chống Trung Quốc hoặc lớn tiếng đả kích Bắc Kinh về chuyện hối suất đồng Nguyên. Nhiều người còn uyên bác cảnh báo là nếu Mỹ tiếp tục tăng chi vô trách nhiệm hoặc tiêu xài phóng túng thì đồng Mỹ kim sẽ mất ưu thế của một ngoại tệ dự trữ. Bắc Kinh cũng nương theo đó mà từ năm 2008 bắn tiếng dọa nạt là họ sẽ đánh gục đồng đô la hoặc sẽ đưa đồng Nguyên lên hàng "ngoại tệ dự trữ".

Một nét khôi hài phản ảnh sự mù lòa kinh tế hoặc gian manh chính trị. Lý do là muốn thành một ngoại tệ dự trữ có khả năng lưu hành toàn cầu thì đồng Nhân dân tệ phải được thả nổi đã! Là chuyện Bắc Kinh chưa thể làm được!

Trên đây là vài điểm khái quát về tình hình đôi bên, về "tương quan lực lượng" giữa hai cường quốc. Nó không đơn giản như nhiều người nghĩ. Và sẽ còn trở thành phức tạp hơn khi Tổng thống Barack Obama và Lưỡng viện Quốc hội đều khẳng định nhu cầu gia tăng xuất cảng để tạo thêm việc làm - và còn nêu đích danh thủ phạm là Trung Quốc khi lũng đoạn thị trường bằng đồng Nguyên.

Vì vậy mà hai nước đang dàn trận cho một cuộc đấu trí toàn diện, nhưng đều mong là không đi tới đấu lực.
 
Trong vụ đấu trí, Trung Quốc có một ưu điểm... tiền kiếp. Đó là lời khuyên trong Binh pháp Tôn tử "Không đánh mà khuất phục được người mới là sáng suốt nhất". Cả một nền văn hóa về mưu lược chính trị đã thấm nhuần triết lý đó. Muốn thế, phải dụng mưu - kể cả làm chuyện dối trá - phải đánh đòn ngoại giao để tranh thủ người này, ly gián người kia, chứ dụng binh rồi đánh thành mới lả dở nhất. Từ đó, và cho đến ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn có "chiến lược kỳ biến" là gây ra nhận thức giả tạo về ta (Trung Quốc) và về địch (Hoa Kỳ trong trường hợp này) và cả mưu "gây ấn tượng" (tốt về ta và xấu về địch) ngay trong hàng ngũ địch. Đấy là phần vụ của tuyên truyền và nghệ thuật "lobby" rất phổ biến trong xã hội Hoa Kỳ, có khi còn nhắm vào thành phần có trách nhiệm về tình báo, ngoại giao và chính sách ứng phó với Bắc Kinh.

Ngược lại, Hoa Kỳ cũng có ưu điểm của một xã hội trẻ, cởi mở và đa nguyên, nơi mọi chuyện đều đưọc tranh luận công khai, mọi thông tin đều trình bày minh bạch. Và quan trọng nhất là ưu thế tự do kinh tế khiến mọi chuyện trái phải, lợi hại đều thường xuyên được thẩm xét và thay đổi.

Nhưng đấy là chuyện văn hoá chính trị lâu dài.

Chuyện trước mắt là thực lực kinh tế và trí tuệ của hai hình thái xã hội khác nhau. Một thí dụ thời sự là Hoa Kỳ mắc nợ ngập đầu làm các chính trị gia tranh luận thường xuyên nhưng chẳng vì vậy mà chính quyền tan rã. Trong khi ấy, và đây cũng là một tiết mục thời sự, Trung Quốc đang mất dần ưu thế xuất siêu vì thặng dư về xuất nhập cảng bị thu hẹp. Tức là xuất cảng không tăng kịp đà nhập cảng.

Hôm 22 vừa qua, nước Mỹ mải tranh luận chuyện cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế nên không chú ý đến lời báo động của Bộ trưởng Thương Mại Bắc Kinh là Trần Đức Minh, rằng số thặng dư mậu dịch giảm 22 tỷ trong hai tháng đầu năm nay. Sau hai năm bơm tiền kích thích kinh tế và khuyến khích xuất cảng, ưu thế ngoại thương của Trung Quốc đang sụt vì nhập cảng tăng hơn 63% mà xuất cảng chỉ thêm có 31,4%. Hoa Kỳ vốn dĩ đã quen với chuyện ấy nên không thấy là lãnh đạo Bắc Kinh đang rất lúng túng vì ảnh hưởng chính trị sẽ lên tới trung ương. Mà do tình hình kinh tế chưa khả quan, số nhập cảng Âu-Mỹ-Nhật chưa tăng, chiều hướng bất lợi này còn tiếp tục và Bắc Kinh không có đất lùi. Mâu thuẫn Mỹ-Hoa vì vậy càng dễ bùng nổ.

Trong khi đó, khi nhìn lại toàn cục thì bong bóng đầu tư tại Mỹ là hiện tượng tự phát, khiến nhiều người có lợi và nhiều nhà đầu tư phá sản khi bóng bể. Tại Trung Quốc, bong bóng đầu tư là kết quả của chánh sách quản lý kinh tế quốc dân và đem lại mối lời lớn cho đảng viên cán bộ hay tay chân thân tộc. Ngày bóng bể thì dân nghèo lại bị thiệt hại hơn cả và tiền tiết kiệm gửi ngân hàng có khi là giấy lộn. Vì vậy, khi Trung Quốc đang ngồi lên một bong bóng đầu tư vĩ đại, lãnh đạo Bắc Kinh không thể không lo sợ.

Kết cuộc là trong trận đấu trí này, Trung Quốc không chiếm thế thượng phong.

Và nếu, theo giả thuyết giả tưởng của kịch bản "do âm mưu của Mỹ", nếu bong bóng Hoa Lục cứ tiếp tục căng phồng như thế này, Trung Quốc sẽ lại gặp tai họa như Nhật Bản hai chục năm trước. Với kết quả chính trị kinh hoàng hơn nhiều. Vì xứ này không có dân chủ!

NGUYỄN XUÂN NGHĨA

 


                                             TỶ GIÁ ĐỒNG YUAN VÀ
                                         CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI 
                                                       MỸ VÀ TẦU

 
                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                        UNICODE: http://viettudan.net
                                                 Geneva, 18.03.2009

 
Trước đây người Pháp dùng cái tên IndoChine để chỉ khu vực địa lý giữa Aán độ và Tầu, trong đó có Việt Nam. Tuần vừa rồi, chúng tôi viết bài nhận định theo dòng thời sự: ẤN ĐỘ, MỘT CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI Á CHÂU và chúng tôi định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay với những phân tích về hướng phát triển của Kinh tế Aán độ trong phạm vi chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ.

Chúng ta ở giữa hai nước đông dân số, Trung quốc và Aán độ, cả hai được xếp vào những nước bắt đầu phát triển (Pays émergents).  Kinh tế Trung quốc tập trung những phát triển dưới quyền lực độc tài độc đảng, chú tâm vào xuất cảng, nghĩa là hướng ngọai. Kinh tế Aán độ tản những họat động phát triển tới dân chúng trong nước, nghĩa là hướng nội, dưới chủ trương tản quyền kinh tế hay cũng gọi là dân chủ hóa kinh tế.

Định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay về Ấn độ như một tỉ dụ cho chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Nhưng tình hình căng thẳng về vấn đề Tiền tệ và Mậu dịch giữa Hoa-kỳ và Trung quốc trở thành gay gắt sau cuộc Họp báo Chúa Nhật vừa rồi, 14.03.2010, của Thủ tướng  Oân Gia Bảo tại Bắc Kinh. Oâng công kích mạnh Hoa kỳ và coi Hoa kỳ đang đi đến Che Chở Mậu Dịch (Protectionnism). Đồng thời từ Hoa Thịnh Đốn, 130 Nghị viên Quốc Hội và một số Thương Nghị sĩ viết thư yêu cầu Obama phải làm mạnh với Trung quốc về tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ, thậm chí yêu cầu xử dụng quan thuế để chế tài Trung quốc nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh.

Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài QUAN ĐIỂM về phạm vi này với đầu đề: TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI. Chúng tôi nói Trung quốc xuống nước theo những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, và của Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc. Nhưng tuần này, Thủ tướng Oân Gia Bảo lại lên nước cứng nhắc, khiến chúng tôi tạm để một bên về Kinh tế Aán độ và viết tiếp về sự căng thẳng đấu đá giữa Trung quốc và Hoa kỳ về Tiền tệ và Thương mại.

Trong bốn ngày gần đây, thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm hôm nay, nhiều bài viết về vấn đề căng thẳng đấu đá này trên các Nhật Báo lớn quốc tế. Nguyên xem những đầu đề viết, chúng ta đã thấy tầm căng thẳng đã lên cao như thế nào và những căng thẳng này không thể giải quyết một sớm một chiều mà yên. Nó còn kéo dài. Chính vì vậy mà chúng tôi xin liệt kê những đầu đề đó để qúy độc giả thấy tầm quan trọng của căng thẳng và cũng để qúy độc giả tiện vào đọc những bài sau đây để nhận định thêm :

*        Le Figaro 15.03.2010, trang 18 :

         PEKIN REJETTE LES CRITIQUES AMERICAINES

*        Financial Times 15.03.2010, trang 1 :

         CHINA PREMIER BRANDS PRESSURE OVER RENMINBI PROTECTIONISM

*        The Wall Street Journal 15.03.2010, trang 1:

         CHINA TAKES AIM AT U.S. OVER ECONOMY

*        Le Monde 16.03.2010, trang 16:

         CHINE: LE PREMIER MINISTRE RECONNAIT L’AGGRAVATION
         DES  INEGALITES SOCIALES

*        The Wall Street Journal 16.03.2010, trang 23 :

         BEIJING IS STILL THE TOP HOLDER OF U.S.DEBT

*        Financial Times 16.03.2010, trang 1:

         CONGRESS LETTER URGES ACTION ON RENMINBI

*        Fiancial Times 17.03.2010, trang 3:

         BEIJING ON OFFENSIVE OVER RENMINBI

*        The Wall Street Journal 17.03.2010, trang 1 & 3:

         CHINA ATTACKS QUALITY OF FOREIGN GOODS

*        Le Monde 18.03.2010, trang 16:

         TAUX DE CHANGE DU YUAN: PUGILAT AMERICANO-CHINOIS

*        Financial Times 18.03.2010, trang 2 :

         WORLD BANK OPTIMISTIC ON CHINA ?

*        The Wall Street Journal 18.03.2010, trang 14:

          MULTINATIONAL COMPANIES SOUR ON THEIR DEALINGS WITH CHINA.

 

Chỉ nguyên đọc những đầu đề trên đây, chúng ta đã mường tượng ra tầm quan trọng của đấu đá giữa Hoa kỳ và Trung quốc và những vấn đề phức tạp chạm đến nồi cơm của mỗi nước. Chúng tôi không thể đi vào những chi tiết của những bài trên đây với phạm vi một bài QUAN ĐIỂM hôm nay. Phải cần những bài QUAN ĐIỂM tiếp theo nữa để đi vào chi tiết và nhất là theo rõi công việc đấu đá cho nồi cơm mỗi nước sẽ đi về đâu, sẽ có những trừng phạt quan thuế hay không (Sanctions par Taxes douanìeres), mỗi nước đưa ra những biện pháp không giá biểu như thế nào (Mesures non-tarifaires) và những biện pháp trả thù ra sao (Mesures de représailles).

Vì vậy bài QUAN ĐIỂM hôm nay chỉ nêu ra những điểm chính căng thẳng về Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ và những dự phóng xử dụng trừng phạt quan thuế về Thương mại từ hai phía Trung quốc và Hoa kỳ.
 

Thái độ từ phía Trung quốc

Chúng tôi nghĩ rằng những công kích từ phía Trung quốc về vụ việc Google, về việc Hoa kỳ bán võ khí cho Đài Loan, về việc Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma... dần dần rồi cũng quên đi. Nhưng vấn đề gai góc tạo căng thẳng là Trung quốc coi việc giữ Tỷ giá thấp của đồng Yuan như một chính sách Tiền tệ chung cho phát triển Kinh tế Trung quốc. Trung quốc làm việc cho xuất cảng. Nếu xuất cảng tụt dốc, thì sản xuất kinh tế Trung quốc chết. Chính sách giữ Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la là nhằm cạnh tranh tăng xuất cảng, nghĩa là đồng thời nuôi dưỡng sản xuất. Chính vì vậy đối với Trung quốc, khi nói đến Tiền tệ, thì cũng phải nói đến tình trạng kinh tế chung của nước này.

Một số báo chí đã thổi phồng Kinh tế Trung quốc khi chỉ nhìn những thành phố ven biển, khi thấy những “gadgets” Made in China tràn ngập ở các Siêu thị bên này, khi nghĩ rằng chế độ chính trị Trung quốc cũng giống những chế độ dân chủ Tây phương.

Chúng tôi xin lập lại đây hình ảnh tóm tắt rất xác thực về Kinh tế Mafia độc đảng Trung Cộng với tất cả những tính tóan cho quyền lợi cá nhân của độc đảng cầm quyền:

Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).

Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung cộng, ở trong lòng nền Kinh tế như trên vừa tóm tắt, “ở trong chăn”, nên biết rõ tỏ tường chăn có rận rệp như thế nào. Vì vậy trong bài diễn văn nhân Mùa Xuân kết thúc Khóa họp Quốc Hội Nhân Dân ở Bắc Kinh, Chúa Nhật 14.03.2010, ông đã nhấn mạnh đến hai điểm chính: (i) Tình hình Kinh tế có những đe dọa để dẫn đến bất ổn xã hội; (ii) Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.

Tình hình Kinh tế có những đe dọa
dẫn đến bất ổn xã hội, chính trị

Bình thường, thì những Lãnh đạo chính trị độc tài bưng bít không dám nói ra những khuyết điểm. Nhưng lần này, một Thủ tướng đành phải thú nhận những đe dọa cho Kinh tế Trung quốc có thể dẫn đến những bất ổn Xã hội và Chính trị. Oân Gia Bảo nói rõ rệt như sau:

“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement” (Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16)

Tại sao Thủ tướng Oân Gia Bảo phải thú nhận như vậy. Một số những nhà quan sát cho rằng việc thú nhận này có lẽ được xử dụng làm cái cớ để Trung quốc nhất thiết duy trì Tỷ giá thấp đồng Yuan mong cứu nền kinh tế đang chao đảo.

=>     Lạm phát (Inflation)

Trung quốc đang lo sợ lạm phát. Tháng hai vừa rồi lạm phát tăng 2.7% và Nhà nước đang lo sợ rằng lạm phát tòan năm có thể lên 2 con số. Chính Oân Gia Bảo đã nhắc lại rằng năm 1989, vụ đẫm máu tại Thiên An Môn là do lạm phát tăng lên hai con số.

=>     Sự phân phối không đồng đều những thu nhập
         (Redistribution inéquitable des revenus)

Đúng theo hình ảnh Kinh tế Trung quốc mà Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, đã tóm tắt như trên đây. Đó là Kinh tế Mafia đảng CSTQ, bóc lột nhân lực đại đa số dân Trung quốc mà không cho họ hưởng tương xứng với thu nhập, đám Mafia đảng trở thành giầu sụ và tiền thu nhập lại chuyển ra nước ngòai đầu tư chứ không đầu tư trong nước để đa số dân nghèo có thể được hưởng. Đồng Nhân Dân Tệ là tiền của Tầu mà chính đám Mafia giầu có lại sợ giữ tiền Tầu, nên mua đồng Đo-la để trữ. Tờ Le Monde ngày 16.03.2010, trang 16 viết: “La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.” (Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)

Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16)

=>     Tham nhũng (Corruption)

Tham nhũng mọi cấp tràn lan. Không cho hối lộ, thì công việc không chạy. Đó là lời nhận xét của một doanh nhân nước ngòai làm việc với Trung quốc. Ký giả Jamil ANDERLINI từ Bắc kinh đã viết trên tờ FINANCIAL TIMES ngày 27.01.2010, trang 17, viết về con trai của Oân Gia Bảo, Oân Yunsong, và con trai của Hồ Cẩm Đào, Hồ  Heifeng:

“The children of  China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON and Winston WEN were blocked in China yesterday. In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN (On Yunsong) đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc. Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc).

Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, lại thêm môi giới quyền lực ăn hối lộ.

=>     Tác hại đến ổn định Xã hội, ngay cả ổn định Nhà nước
         (Affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement)

Oân Gia Bảo đã nói trước Quốc Hội Nhân Dân rằng những sự việc trên đây đang diễn ra trong nền Kinh tế Trung quốc và sẽ đưa tới sự bất ổn Xã Hội và Chính trị. Sự nổi dậy của khối dân nghèo nếu có lạm phát làm họ thiếu ăn. Những bóc lột sức lao động đã làm giầu có cá nhân thuộc đảng CSTQ đến một lúc sẽ làm nhân công không thể chịu đựng được và nổi dậy. Sự tị hiểm, uất hận sẽ tăng lên trong giới trẻ và trí thức khi nhìn những tệ đoan, bất công trên đây. Hình ảnh nổi dậy Thiên An Môn là một tỉ dụ cụ thể lịch sử.

Thú nhận những điểm như trên đây rồi, Oâng Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên: “Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne” Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16)

Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la
là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.

Sau khi thú nhận những nguy hiểm của  Kinh tế Trung quốc như trên, Thủ tướng Oân Gia Bảo nhất quyết bảo vệ chính sách Tiền tệ của Trung quốc nhằm bảo vệ xuất cảng và do đó sản xuất kinh tế trong nước. Có thể việc thú nhận này là để làm bối cảnh cho ông khẳng định cứng nhắc về chính sách Tiền tệ của Trung quốc.

Trước cuộc Họp báo ngày thứ Bẩy 06.03.2010, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã mạnh mẽ kêu gọi việc phế bỏ Đo-la để chọn một đơn vị Tiền tệ khác. Nhưng trong cuộc Họp báo này, ông đã xuống nước. Bản tin của Reuters đánh đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):

“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)

Nhưng trong bài diễn văn của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, Chúa Nhật 14.03.2010, ông khẳng định nhất quyết không để những nước khác chỉ tay áp lực bắt Trung quốc phải nâng tỷ giá tiền tệ:

“We oppose all countries engaging in mutual finger-pointing or taking strong measures to force other nations to appreciate their currencies. (Chúng tôi chống lại tất cả những nước chỉ tay ra lệnh hay lấy những biện pháp mạnh để buộc những nước khác phải nâng tỷ giá tiền tệ của họ) (Financial Times 15.03.2010, trang 1).

Đồng thời Oân Gia Bảo cũng tuyên bố ngược lại lời khẳng định của Thống đốc Ngân Hàng Chu Tiểu Xuyên cho rằng đồng Yuan đã có tỷ giá thấp sánh với Đo-la. Oân Gia Bảo nói:

“The Chinese currency is not undervalued” (Đồng tiền Trung quốc không đánh giá thấp xuống). (Financial Times 15.03.2010, trang 1).

Chối bỏ rằng đồng Yuan không bị đánh thấp giá xuống, Oân Gia Bảo chuyển sang thế tấn công Hoa kỳ:

“What I don’t understand is depreciating one’s own currency, and attempting to pressure other to appreciate, for the purpose of increasing exports. In my view, that is protectionism !” (Điều mà tôi không hiểu nổi là một đàng hạ tỷ giá đồng tiền của mình, và một đàng làm áp lực để bắt người khác nâng tỷ giá tiền của họ, chỉ vì mục đích làm tăng xuất cảng của mình. Theo quan điểm của tôi, đó là Che Chở Kinh tế !) ((Financial Times 15.03.2010, p.1).

Theo như việc trình bầy những nguy hiểm của nền Kinh tế Trung quốc như Oân Gia Bảo nói trong đọan trên, thì việc cứng nhắc giữ chính sách Tỷ giả Tiền tệ của Trung quốc là điều bó buộc bởi những lý do sau đây:

=>     Trung quốc bị cắt giảm việc đặt mua hàng từ Hoa kỳ và Liên Aâu. Nếu bây giờ tăng Tỷ giá đồng Yuan nữa, thì Trung quốc mất thêm xuất cảng nữa.

=>     Việc tăng tỷ giá đồng Yuan cũng là việc làm giảm cạnh tranh của hàng hóa Trung quốc tại những nước nghèo và đối với hàng hóa của những nước bắt đầu phát triển cùng sản xuất những hàng hóa giống như Trung quốc.

=>     Một nguy hiểm nữa:  những nhà Tài chánh đầu cơ khi biết đồng Yuan có khuynh hướng tăng tỷ giá, họ thẩy vốn vào Trung quốc để hưởng lợi khi đồng Yuan tăng giá lên.

=>     Khi những vốn đầu cơ này vào Trung quốc, tình trạng lạm phát càng trở thành nguy cơ và tác hại đến ổn định xã hội và chính trị. Đây là điều mà Nhà Nước độc tài CSTQ sợ hãi nhất. Đảng CSTQ sẽ không chịu đựng được sức nổi dậy của 4/5 dân số nghèo Trung quốc.
 

Thái độ cứng rắn từ phía Hoa-kỳ

Phía Hoa kỳ cũng có những lý do phải cứng rắn đối với việc giữ tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp đối với Đo-la. Tỷ giá thấp ấy đã giúp Trung quốc tăng cạnh tranh hàng hóa, nghĩa là tăng xuất cảng. Trung quốc tăng xuất cảng không phải chỉ cạnh tranh với hàng Hoa kỳ tại chính đất Mỹ, mà còn đối với những vùng Kinh tế khác nữa, như Liên Aâu, Khu vực Thái Bình Dương, Trung Đông và Nam Mỹ. Lý do thúc đẩy quyết định mạnh hơn cả và trực tiếp cho Chính quyền Obama là:

=>     Tình trạng thất nghiệp ở Mỹ tăng gần 10%

=>     Lương bổng theo chiều hạ xuống tại Mỹ

=>     Những Công ty Liên quốc gia (Multinationales) chuyển sản xuất sang Tầu để có giá thành hạ xuống. Việc này càng làm tăng thất nghiệp tại Mỹ.

Những lý do này buộc Hoa kỳ phải cứng rắn:

=>     Yêu cầu Trung quốc phải tăng tỷ giá đồng Yuan, một yếu tố chính của cạnh tranh Trung quốc.

=>     Nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh giữ cứng nhắc tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp để thủ lợi, thì Hoa kỳ phải dùng những biện pháp mạnh (Mesures fortes) như tăng thuế quan nhập khẩu, xử dụng những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) hay những Biện pháp trả đũa (Mesures de représailles.

Đây là nội dung của Lá thư của các Nghị sĩ và một số Thượng nghị sĩ yêu cầu TT.Obama phải thi hành.

Ký giả Daniel DOMBEY từ Hoa Thịnh Đốn đã viết trên tờ Financial Times ngày 16.03.2010, trang 1, như sau:

“More than 100 memebers of the US Congress yesterday called on the Obama administration to label China a currency manipulator, in a move that highlighted the pressure on Washington to take a more confrontational stance towards Beijing

 (Trên 100 thành viên của Quốc Hội Hoa kỳ đã yêu cầu Chính quyền Obama phải kêu Trung quốc là người xử dụng biến hóa tiền tệ, trong một phong trào nhấn mạnh áp lực lên Washington để lấy vị trì chạm trán mạnh hơn với Bắc Kinh)

Hai Thượng nghị sĩ Chuck SCHUMER, Dân chủ New York, và Lindsey GRAHAM, Cộng hòa South Carolina, cũng lên tiếng tố cáo:

Beijing’s refusal to let its currency appreciate was damaging the US economic recovery and hurting American competitiviness”.

China’s currency manipulation would be unacceptable even in good economic times. At a time of 10 per cent of unemployment, we will simply not stand for it.”

(Việc từ chối của Bắc Kinh không để tỷ do tiền của họ tăng đã làm hại việc phục hồi Kinh tế Hoa kỳ và làm tổn hại tính cạnh tranh của Mỹ)

(Việc uốn nặn điên đảo đồng tiền Trung quốc không thể chấp nhận được ngay cả trong thời nền kinh tế yên lành. Ơû thời điểm có 10% thất nghiệp, chúng ta không thể đứng khoanh tay như vậy được.) (Financial Times 17.03.2010, p.3)

Trên đây là một số áp lực từ phía Quốc Hội và hai Thượng nghị sĩ  áp đặt lên Chính quyền Obama để mạnh mẽ đòi hỏi việc tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ. Nhưng Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc đã có phản ứng cứng nhắc về vấn đề tỷ giá đồng Yuan mà Trung quốc coi như chính sách bao trùm quốc gia chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại. “La Chine considère la question du taux de change relève des affaires politiques nationales, et pas de la balance commerciale.” (Trung quốc kể vấn đề tỷ giá hối đóai liên hệ đến những phạm vi chính trị quốc gia, chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại) (Le Monde 18.03.2010, p.16). Chính vì vậy mà Oân Gia Bảo đã trình bầy dài dòng đến tình trạng Kinh tế chung nguy hiểm của Trung quốc như chúng tôi đã đề cập đến ở phần trên đây.

Một số chuyên viên Thương mại đã hình dung cho Hoa kỳ một số những biện pháp như:

=>     Hoa kỳ có thể yêu cầu IMF/FMI (Qũy Tiền Tệ Quốc tế) để đưa ra những trừng phạt về tiền tệ.

=>     Hoa kỳ có thể đưa Trung quốc ra WTO/OMC (Tổ Chức Mậu Dịch Thế giới) để khiếu nại về vấn đề xử dụng tỷ giá hối đóai nâng đỡ sản xuất và thương mại.

=>     Hoa kỳ cũng có thể lấy những lý do nội tại để định thuế quan cho những hàng nhập cảng từ Trung quốc. Chúng ta đi vào những biện pháp trả đũa vậy (Mesures de représailles).
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 18.03.2010



                                         TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC
                                                        VÌ LO SỢ
                                          CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI

 

                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                          UNICODE: http://viettudan.net
                                                Geneva, 11.03.2010


 
Đầu tuần này, 08.03.2010, giới Tài chánh có những ngạc nhiên và nghi ngờ về thái độ của Trung quốc trước áp lực Tiền tệ và Thương mại Quốc tế, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn chúng tôi ngay chiều 08.03.2010 về thái độ này của Trung quốc. Thực vậy, trong cuộc Họp báo thứ Bẩy 06.03.2010, những lời tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, về khả năng tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ (Yuan)/Đo-la không đi theo những tuyên bố cứng nhắc của Thủ tướng Oân Gia Bảo trước đó rằng Trung quốc không nhượng bộ đối với bất cứ áp lực nào từ nước ngòai về tỷ giá Yuan/Đo-la. Trong khi ấy, cũng trong cuộc Họp báo ngày hôm sau, Chúa nhật 07.03.210, Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc, nhắc ra những căng thẳng hiện nay giữa Hoa kỳ và Trung quốc với những vụ như : (i) Hoa kỳ bán vũ khí cho Đài Loan mà Trung cộng vẫn coi là một Tỉnh của mình, (ii) Hoa kỳ gặp Đức Đạt Lai Lạ Ma mà Trung quốc luôn luôn coi là người khuấy động mọi nơi nhằm tách Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc, (iii) Trung quốc chủ trương không trừng phạt về nguyên tử đối với Iran, một nước cung cấp dầu lửa, đứng hàng thứ ba, cho Trung quốc.

Đài RFI hỏi tôi câu cuối cùng là nếu Trung quốc chỉ hứa lần hồi, có thể để đánh lừa, thì liệu có thể xẩy ra một cuộc Chiến tranh Thương mại hay không ? Hỏi bất ngờ như vậy, tôi không dám khẳng định liền.

Hôm nay, trước khi viết bài này, tôi đọc thêm một số bài mà chính tôi đã viết trước đây về thái độ sợ sệt của Trung quốc đối với việc Che Chở Mậu dịch ngay trong những lần họp Davos, trong những dịp nhóm lại G20 và nhất là kiểm điểm lại 66 biện pháp Che Chở Mậu dịch mà các nước đã đưa ra, rồi nhớ rõ lại lời báo động gần đây nhất của ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO, rằng lượng Mậu dịch Thế giới trong năm 2009 giảm 12%, một việc tụt dốc chưa từng có kể từ 20 năm nay.

Đọc lại những phân tích về tình trạng tụt dốc Mậu dịch Thế giới, tôi hiểu rằng nếu Trung quốc vẩn ương ngạnh tính tóan lừa đảo Thế giới, thì một cuộc Chiến tranh Thương mại rất có thể xẩy ra mà Trung quốc sẽ là nạn nhân. Có thể viễn tượng Chiến tranh Thương mại này đã làm cho Trung quốc phải tuyên bố như cuối tuần vừa rồi.

Chúng tôi đề cập những khía cạnh sau đây:

=>     Những gian giảo Thương mại của TQ làm Thế giới bực mình và có biện pháp

=>     Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn 

=>     Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc

=>     Trung cộng là nạn nhân của Chiến tranh Thương mại

 

Những gian giảo Thương mại của TQ
làm Thế giới bực mình và có biện pháp

Việc gian giảo trong phẩm chất hàng hóa đã làm thương hiệu MADE IN CHINA giảm xuống khiến Trung quốc phải dùng Tài chánh trợ lực để bán hàng hóa tại những nước nghèo. Những hàng độc hại sẽ mang ảnh hưởng xấu cho sức khỏe dân nghèo trong dài hạn.

Trong nội địa Trung quốc

Nhà Nước Trung quốc đã áp dụng việc khai thác nhân công từ nông thôn một cách phi nhân bản. Những nhân công du mục này bị bóc lột. Chế độ hộ khẩu đã tước đọat quyền cư ngụ của những nhân công du mục không được trở thành những người thuộc thành thị để có thể được hưởng những quyền lợi khi đến các thành thị làm việc. Kinh tế Trung quốc tập trung vào những thành thị ven biển. Những nông dân từ nội địa ra thành thị làm công nhân và bị bóc lột sức lao động, không có những quyền lợi được hưởng của người cư ngụ tại thành thị. Những hiệu quả Kinh tế/Thương mại dành cho nhóm đảng Mafia Cộng sản và những dân thành thị được ưu đãi.

Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).

Những người tiêu thụ tại những nước giầu bắt đầu ngượng ngùng và khó chịu khi tiêu thụ hững hàng này từ sự bóc lột vô nhân bản.

Tại những nước trong vùng Á châu

Ngòai việc bóc lột nhân công như trên vừa nói, Trung quốc còn xử dụng tỷ giá hối đoái thấp của đồng Yuan để làm cho hàng hóa rẻ thêm nữa nhằm tăng cường xuất cảng. Những nước nghèo Á châu cũng làm việc cho xuất cảng và sản xuất những hàng hóa tương tự như Trung quốc. Việc tràn lan những hàng hóa rẻ tiền Trung quốc sang các nước nghèo Á châu giết chết sản xuất của những nước nghèo này. Đồng thời tỷ giá thấp đối với đồng Đo-la còn làm tăng thêm cạnh tranh của hàng Trung quốc đối với những nước nghèo chung quanh khi xuất cảng hàng hóa sang Tây phương liên hệ đến thanh khỏan Đo-la. Việc Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá hạ đồng Yuan là lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010. Ngòai ra Trung quốc còn xử dụng USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông để thiết lập những cơ sở phân phối hàng, thậm chí cho hối lộ để đầu cơ. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.

Tại những nước Phi châu

Trung quốc xử dụng USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.

Trung quốc dễ xử dụng khí giới tiền bạc để hối lộ những chính phủ để lấy nhượng địa, tài nguyên cũng như mở những đầu cầu xuất cảng hàng hóa rẻ tiền, độc hại. Tình trạng hối lộ đã bị quốc tế công kích. Thực vậy, chính trong cuộc họp báo Chúa nhật ngày 07.03.2010 tại Bắc kinh, Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), Ngọai trưởng Trung quốc, đã phải lên tiếng chống đỡ đối với những công kích quốc tế. Ký giả Geoff DYER từ Bắc kinh viết: “Mr.Yang also rejected criticism that China’s economic ties with Africa were encouraging more corruption and hurting labour conditions. Some people are not happy to see the development of China-Africa relations“. (Oâng Dương chối bỏ lời công kích rằng sự kết nối kinh tế của Trung quốc với Phi châu đã cổ võ tham nhũng và làm thiệt hại những điều kiện lao động. Một số người không hài lòng về việc mở rộng những liên hệ Trung quốc—Phi châu) (Financial Times 08.03.2010, p.2).

Thị trường Liên Aâu và Hoa kỳ

Đây là hai Thị trường tiêu thụ chính yếu. Từ năm 2001, khi Trung quốc nhập WTO, hàng Trung quốc, nhất là hàng may mặc, hàng da dầy, đồ chơi trẻ em, thực phẩm... lan tràn hai Thị trường này.

Trước khi xẩy ra cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, Liên Aâu và Hoa kỳ, vì hy vọng bán máy móc, những thiết bị kỹ nghệ cho Trung quốc, nên có những thả lỏng. Nhưng dần dần, nhất là trong cuộc Khủng hỏang, Liên Aâu và Hoa kỳ bắt đầu thắt chặt việc nhập cảng từ Trung quốc, cụ thể là những hàng hóa sau đây:

=>     Kiểm sóat chặt chẽ và từ chối những hàng mang độc hại

=>     Liên Aâu tăng thuế nhập đối với hàng may mặc và da dầy

=>     Mỹ tăng thuế nhập lốp xe hơi

=>     Những nước Đông Aâu và một số nước vùng Địa Trung hải bị canh tranh rất thiệt hại bởi hàng Trung quốc, nhất là hàng tiểu công nghệ.

 
Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn 

Từ thời TT.BUSH, vấn đề Trung quốc cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan làm lợi khí cạnh tranh thương mại đã được Hoa kỳ yêu cầu Trung quốc hủy bỏ.

Nếu trong chuyến viếng thăm Trung quốc của TT.OBAMA, thái độ của Hoa kỳ chỉ dừng ở lới khuyên nhẹ nhàng, thì trong những thời gian gần đây, Chính quyền Obama đã công khai bầy tỏ thái độ cứng rắn.

Các Ký giả Andrew BATSON, Terence POON, Shai OSTER, đã viết: “Mr.Obama told Democratic Senators earlier this year that he will “get much tougher” with China on trade issues, including the currency. The US Treasury in April called China a “currency manipulator” (Oâng Obama đã nói với những Thượng nghị sĩ Dân chủ, dịp đầu năm nay, rằng ông sẽ “cứng rắn thực sự” đối với Trung quốc về những vấn đề thương mại, gồm cả vấn đề tiền tệ. Bộ trưởng Ngân khố, tháng tư vừa rồi, đã gọi Trung quốc là người “mưu mẹo xử dụng tiền tệ”. (The Wall Street Journal 08.03.2010, p.10).

Thái độ cứng rắn này còn được tỏ lộ trong những quyết định sau đây:

=>     Quyết định bán khí giới trị giá USD.6 tỉ cho Đài Loan mà Trung quốc coi là việc vi phạm chủ quyền của mình. Trung quốc vẫn coi Đài Loan là một Tỉnh thuộc chủ quyền Trung quốc.

=>     TT.Obama quyết định gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma mà Trung quốc coi là người phản lọan muốn tách rời Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc. Hoa kỳ đã  tiếp đón người thù địch của Trung quốc. 

 =>     Đối với vấn đề nguyên tử Iran, Hoa kỳ nhất quyết đặt những trừng phạt. Những trừng phạt này động chạm đến quyền lợi dầu lửa của Trung quốc. Iran là nước quan trọng thứ ba về việc cung cấp dầu lửa cho Trung quốc.

Những sự việc trên đây cho thấy sự căng thẳng giữa hai nước Mỹ và Trung quốc. Những căng thẳng này có thể dược đàm phán dàn hòa. Nhưng điều tối quan hệ đối với Trung quốc là vấn đề làm ăn Kinh tế. Sự căng thẳng này có thể dẫn tới tình trạng Che chở Mậu dịch gay gắt mà Trung quốc đã ngại sợ từ lâu: từ những cuộc họp Davos, từ những nhóm lại của G20 mà Trung quốc luôn luôn kêu gọi tự do mậu dịch. Che Chở Kinh tế/Thương mại đã trở thành như con ma ám ảnh trong đầu óc của Trung quốc. 

Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010 đã phác họa cái viễn tượng con ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại đang rình rập mà nếu Trung quốc cứ ngoan cố, nó sẽ hiện ra (http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html):

“Nền kinh tế của Trung Quốc có kết quả trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát  triển.

Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.

Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại  khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.

Sau khi thả nổi đồng Yuan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.

Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.

Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.

Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.

Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Yuan của Bắc Kinh.

Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.

Ngày 14.01.2010, dưới đầu đề GIAN GIẢO KINH TẾ/THƯƠNG MAI TQ LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP, sau khi liệt kê ra những tính tóan gian trá Kinh tế/Thương mại, chúng tôi đã viết đọan kết luận như sau:

Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).

Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch  Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Ong LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).

Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.

Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.

Khi ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO báo cho Thế giới biết là Lượng Mậu dịch Thế giới giảm 12%, chưa từng có từ 20 năm nay, thì lời cảnh cáo này chắc chắn phải làm cho Trung quốc sợ hãi.

Là người Việt Nam, chúng ta dễ hiểu cái lo sợ nhất của Trung quốc. Đó là miếng ăn. Người Trung quốc gặp nhau, họ chào nhau là “Nị ăn cơm chưa ? “ chứ không nói là “Nị có khỏe không ?“. Họ lo lắng miếng ăn trước tiên. Đụng đến thiệt hại miếng ăn họ mới sợ, chứ còn mắng chửi họ, họ cũng chỉ cười hề hề cho qua chuyện.
 

Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc

Khi trả lời câu hỏi đầu tiên của Đài RFI về tại sao lúc này, qua những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, Trung cộng tỏ ra xuống nước về tỷ giá giữa đồng Nhân Dân Tệ và Đo-la, tôi trả lời liền rằng với thái độ công khai tỏ ra cứng rắn của Hoa kỳ, Trung cộng sợ nó biến thành những quyết định Che Chở Mậu dịch dứt khóat, hay một tình trạng Chiến Tranh Thương Mại bắt đầu từ Quan thuế, rồi những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), đến những Biện pháp trả thù (Mesures de Représailles).       

Thực vậy, trước những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, người ta vẫn nhớ những lời tuyên bố ngạo mạn, đầy khinh miệt các nước khác thóat từ miệng Thủ tướng Oân Gia Bảo khi những nước khác muốn áp lực để Trung quốc tăng tỷ giá đồng Yuan: “We will not yield to any pressure... forcing us to appreciate (Yuan)” (Chúng tôi sẽ không nhượng bộ đối với mọi áp lực nào... buộc chúng tôi phải tăng tỷ giá (Nhân Dân Tệ) (Financial Times 08.03.2010, p.2).

Nhưng thứ Sáu 05.03.2010, chính Thủ tướng Oân Gia Bảo sửa lại thái độ cứng nhắc, ngạo mạn trên đây. Ký giả Andrew BATSON viết: “On Friday, Premier Wen Jiabao reaffirmed that China will continue to keep the Yuan “basically stable””. (Ngày thứ Sáu, Thủ tướng Oân Gia Bảo tái khẳng định rằng Trung quốc sẽ tiếp tục giữ đồng Yuan “ổn định một cách căn bản”.  Nhưng thế nào là “ổn định một cách căn bản”?  Đây là câu nói trống, nhưng dầu sao cũng để cho thấy khả năng thay đổi khi mà những quyền lực liên hệ đến đồng Yuan quyết định việc thay đổi như thế nào.

Thái độ của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc cũng đã thay đổi đối với đồng Đo-la. Chính ông đại diện Trung quốc, lớn tiếng kêu gọi Thế giới hãy truất ngôi Đo-la và thay thế vào đó bằng một Đơn vị Tiền tệ khác. Ngày 23.03.2009, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :

”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).

Nhưng thái độ của Chu Tiểu Xuyên đã thay đổi kể từ cuộc Phát biểu ngày thứ Bẩy 06.03.2010. Đồng Yuan vẫn bám chặt lấy đồng Đo-la va có thể trở lại trạng thái thay đổi tỷ giá bình thường theo chuyển biến của Đo-la. Bản tin của Reuters đáng đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):

“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)

Qua những lời tuyên bố này, những quan sát viên tài chánh/thương mại quốc tế thấy Chu Tiểu Xuyên tìm cách chữa nhẹ đi những chủ trương gian giảo của Trung quốc, như:

*        Oâng nói rằng đây là những chính sách “đặc biệt” được quyết định để chống khủng hỏang. Thực ra đây là những chính sách thường xuyên, nhất là chính sách giữ tỷ giá đồng Yuan thấp, nhằm cạnh tranh xuất cảng đã được áp dụng từ lâu, chứ không phải chỉ đặc biệt trong thời khủng hỏang.

*        Oâng cũng cố tình nói rằng những chính sách này không những có lợi cho kinh tế Trung quốc mà cho cả kinh tế thế giới nữa. Thực ra đây là những chính sách không những hòan tòan có lợi cho Trung quốc, mà còn nhằm giết những kinh tế các nước khác nữa.

Những lời tuyên bố sẽ rút lại những chính sách “đặc biệt” và bất thường để trở lại những nguyên tắc kinh tế bình thường chỉ là muốn tung ra một hy vọng, nhưng người ta không biết việc rút lại những chính sách ấy ở thời điểm nào.

Đặc biệt chính sách tiền tệ, người ta không biết sẽ tăng tỷ giá đồng Yuan khi nào và tăng bao nhiêu.

Trước những áp lực cấp bách của Thế giới, Trung quốc chỉ tung ra lời hứa như một hy vọng trống trải bởi vì không cho biết tầm mức quan trọng thay đổi như thế nào và bao giờ mới thay đổi.

Ngòai ra, đây chỉ là những lời tuyên bố của Thống đốc Ngân Hàng, còn việc quyết định thay đổi chính sách phải tùy thuộc Chính phủ, tùy thuộc những Bộ liên hệ mà chính yếu là Bộ Thương Mại. Thực vậy ông Chen Deming, Bộ trưởng Thương mại đã cho biết rằng để có thể lấy lại mức xuất cảng như trước cuộc Khủng hỏang, cần tối thiểu 3 năm nữa. Như vậy việc bỏ tỷ giá đồng Yuan thấp thiết cần để nâng đỡ xuất cảng, chưa có thể xẩy ra trong tương lai gần được.

Thế giới, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu, không thể chỉ vì một hy vọng thay đổi trống trải, không định thời điểm, không cho thấy tầm vóc, mà cứ ngồi đợi Trung quốc, hứng chịu những hậu quả thiệt thòi về thương mai hay sao.

Người ta cũng có thể hiểu rằng những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên chỉ vì sự đe dọa Che Chở Kinh tế/Thương mại mà phải nói ra để làm giảm sự căng thẳng mậu dịch quốc tế, nhất là trước thái độ công khai cứng rắn của Hoa kỳ và Liên Aâu. 
 

Trung cộng là nạn nhân
của Chiến tranh Thương mại

Obama có thể nói “Buy America” mà không ngại sợ. Nhưng Hồ Cẩm Đào không dám nói ra câu “Buy China” vì ông luôn luôn sợ hãi Con Ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại. Nếu những lời tuyên bố thay đổi trên đây của Trung quốc chỉ là một mưu kế làm giảm căng thẳng để rồi Trung quốc vẫn tiếp tục những chính sách thương mại thủ lợi cho mình, đồng thời làm hại cho những nước khác, thì liệu Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc vùng Kinh tế Thái Bình Dương có ngồi yên hay phải tuyên bố những biện pháp Che Chơ Kinh tế/Thương mại. Dù ý chí của Trung quốc có thành thực thay đổi đi nữa, thì một số nhà Tài chánh nhận thấy rằng Trung quốc rất khó lòng đưa ra một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan của mình vì hai lý do chính yếu sau đây:

*        Kinh tế Trung quốc dồn tòan lực vào xuất cảng. Việc tăng tỷ giá đồng Yuan ảnh hưởng trực tiếp đến tụt dốc xuất cảng, nhất là ở thời kỳ mà Hoa kỷ cũng như Liên Aâu giảm nhập cảng.

*        Lý do thứ hai thuộc phạm vi tài chánh. Một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan sẽ làm cho vốn nước ngòai ào vào Trung quốc để thu lợi do việc tăng tỷ giá đồng Yuan. Sự chênh lệch tỷ giá giữa hai thời điểm đủ cho vốn lưu động đầu tư nước ngòai ào vào để chia lợi do chênh lệch tỷ giá đồng tiền. Việc vốn nước ngòai ào vào này còn tạo ra tình trạng lạm phát mà Trung quốc rất sợ hãi.

Như vậy việc tăng tỷ giá đồng Yuan có tính cách khó khăn khách quan đứng về mặt tài chánh. Nếu vẫn khư khư giữ tỷ giá thấp, thì cái nguy hiểm là tạo một tình trạng căng thẳng quốc tế dẫn đến Che Chở Kinh tế/Thương mại. Còn nếu quyết định thực sự tăng tỷ giá, tạo hướng tăng đồng Yuan, thì vốn đầu cơ nước ngòai dồn vào để chia phần chênh lệch tỷ giá.

Dầu sao Con Ma Che Chở Kinh tế/Thương mại đã hiện ra và Oâng LAMY, Tổng Giám đốc WTO đã công bố việc tụt dốc 12% về lương mậu dịch thế giới như chúng tôi đã trình bầy trên đây. Tình trạng căng thẳng hiện nay giữa Trung quốc và Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc Khối Thái Bình Dương có thể đưa đến những Biện pháp khắt khe không giá biểu (Mesures non-tarifaires) và những Biện pháp trả đũa thương mại (Mesures de Représailles commerciales bilatérales).  Đây là tình trạng Chiến tranh Thương mại. Khi mà biên giới quan thuế đóng lại, thì nạn nhân của cuộc Chiến tranh này là Trung quốc bởi lẽ Dân chúng Trung quốc thiếu Khả năng Tiêu thụ, không đủ khả năng mua tất cả những hàng hóa do chính Trung quốc sản xuất ra. Nên lưu ý rằng Khả năng tiêu thụ của 1’300 triệu dân Trung quốc chỉ tương đương với 16% số Tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ.

Không có tiêu thụ, thì sản xuất chết !
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 11.03.2010





                                       TỪ LẠM PHÁT, TIỀN MẤT GIÁ
                                          ĐẾN DÂN NGHÈO NỔI DẬY

 
                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                        UNICODE: http://viettudan.net
                                               Geneva, 04.03.2009

 

Tuần trước, chúng tôi viết bài về phá giá đồng bạc Việt Nam theo tỷ giá đối với Đo-la liên quan đến tình trạng thiếu ngọai tệ của Nhà Nước CSVN. Việc tuyên bố phá giá nội tệ ngày 11.02.2010 do Ngân Hàng Nhà Nước quyết định và có thể liên tiếp những quyết định phá giá nữa là do chính những nhà Kinh tế, Tài chánh trong nước phân tích chứ không phải chúng tôi từ Hải ngọai nhận định để CSVN chống chữa với Dân rằng đó là do tuyên truyền chống Cơ Chế hiện hành bởi “thế lực thù địch” ngọai lai. Chúng tôi dựa trên tình trạng mỗi ngày nhóm Mafia CSVN càng thiếu hụt ngọai tệ để nội tệ mỗi ngày mỗi mất giá trị, nghĩa là phá giá liên tiếp.

Phá giá đồng nội tệ đi song hành với tình trạng LẠM PHÁT tăng nhanh ở Việt Nam. Viết về tình trạng tăng nhanh lạm phát, chúng tôi cũng trích dẫn chính những phân tích và nhận định của những nhà Kinh doanh, những Ngân Hàng gia, những Giáo sư Kinh tế/Tài chánh từ Quốc nội để đám Mafia CSVN không chống chế, lừa gạt được Dân chúng bằng cách cố hữu nói trên báo đài độc chiều rằng đó là do “thế lực thù địch” hải ngọai vu khống.

Tình trạng lốc xóay phá giá nội tệ và lốc xóay lạm phát, vật giá nhẩy vọt sẽ làm cho đại đa số dân nghèo, cho những nông dân, ngư dân, công nhân và công chức có thu nhập không thay đổi trở thành thiếu thốn chi tiêu, thậm chí đói ăn. Chịu đựng không nổi cảnh đã nghèo khổ lại phải đói ăn thêm vì lốc xóay phá giá nội tệ và lạm phát, vật giá tăng vọt, đại đa số Dân chúng sẽ nổi dậy chấm dứt đám Mafia CSVN cướp bóc dân và bán nước.

Chúng tôi viết những điểm sau đây:

=>     Nhận định từ Quốc nội về tình trạng Lạm phát

=>     Phân tích những lý do chính của Lạm phát

=>     Không chịu nổi hậu quả Lạm phát, Dân chúng nghèo đói nổi dậy

 

Nhận định từ Quốc nội về
tình trạng Lạm phát

Một số Phóng viên, Ký giả đã phỏng vấn những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh tại quốc nội về tình trạng Lạm phát hiện này.

Bài đăng trên Vietnamnet do Phước Hà thực hiện
Cập nhật lúc 18:37, Thứ Năm, 28/02/2008 (GMT+7)

Chỉ số tăng giá tiêu dùng hai tháng đầu năm lên đến 6,02%, đã đi được 2/3 so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra, trong khi vẫn còn 10 tháng ở phía trước. Các chuyên gia kinh tế tỏ ra không có nhiều bất ngờ và cho rằng cần có các giải pháp đồng bộ hơn để chặn đứng lạm phát.

=>     Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam:

Tốc độ tăng giá 2 tháng đầu năm lên tới 6,02% là quá cao. Đặc biệt, có những nguyên nhân chủ quan, trong đó có một nguyên nhân chính là ngân hàng đã bỏ lượng tiền lớn ra mua USD chưa thu về hết được, đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên. 

=>     Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính:

Con số 6,02% tăng cao quá. Nhìn cả một quá trình, đây là tăng cao nhất trong hơn 10 năm lại đây. Đây là một cảnh báo đối với nền kinh tế. Những tháng tới, nếu có tăng 0,5% thôi như dự báo tháng 3 của Tổ điều hành thị trường, thì cả năm cũng không thể thực hiện nghị quyết Quốc hội đề ra.

Biện pháp tiền tệ đã được thực hiện. Giá cả đang lao nhanh như thế thì những biện pháp ra chỉ có tính ngăn chặn thôi. Trong kiềm chế lạm phát, giải pháp tài chính tiền tệ có ý nghĩa quan trọng, trong đó giải pháp tiền tệ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Lạm pháp do tiền tệ !

Các ngân hàng thương mại hiện dư nợ quá lớn nên buộc phải huy động vốn, đua nhau tăng lãi suất để hút vốn về khiến cho thị trường những ngày gần đây hỗn loạn. Khi tăng lãi suất huy động lên thì cũng có tác dụng phụ là cho vay cao dẫn đến ảnh hưởng tăng trưởng. Lãi suất cao thì chi phí cao, giá thành cao thì cũng tác động đến lạm pháp. 

Các ngân hàng đưa lãi suất lên cao, trong khi hoạt động của ngân hàng nước ta nguồn thu chủ yếu từ chênh lệch vay và cho vay chiếm đến 70% làm cho chi phí các ngân hàng tăng lên, năng lực tài chính yếu đi năng lực cạnh tranh giảm. Ngân hàng Nhà nước Phát hành tín phiếu với 20.300 tỷ đồng với lãi suất 7,8%, mỗi tháng lo trả 100 tỷ đồng lãi và đồng thời tăng dự trữ bắt buộc cũng phải trả thêm 100 tỷ nữa. Giải pháp tiền tệ như con dao hai lưỡi.

Chính sách tài chính  phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.

=>     Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Việc chống lạm phát năm 2008 này phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu, hơn cả mục tiêu tăng trưởng. Vì suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá, đội giá thành sản phẩm lên cao, tăng thêm dự án treo, còn đời sống người dân bị ảnh hưởng nặng.

Như vậy, về phương diện đối nội, phân phối nguồn lực đã bị lệch và tác động đến đời sống.

Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình. Nếu môi trường VN vẫn bất ổn, lòng tin của nhà đầu tư sẽ giảm đi, ảnh hưởng đến cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư bỏ đi cũng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn.

Lạm phát ảnh hưởng cũng sẽ làm cho sức cạnh tranh trong nước giảm đáng kể.

NHNN cũng đã vừa sử dụng kết hợp cả hai loại biện pháp dài hạn và tức thì. Biện pháp hành chính như bán 20.300 tín phiếu.

 

Ngay sau đó NHNN lại bơm ra 39.000 tỷ đồng. Điều này khiến sự vận động của dòng tiền thành bất thường, gây hiệu ứng tiêu cực.


Bài trên RFA do Mặc Lâm thực hiện
2010-03-01

Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra thông báo tỏ ý lo ngại cho việc lạm phát tiếp theo sau suy thoái kinh tế của nhiều nước khu vực Đông Nam Á.

Việt Nam là một trong các nước được đánh giá là sẽ có tình trạng lạm phát có thể lên tới hai con số trong năm nay.

=>     GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, chia sẻ them về vấn đề này:

Ngân Hàng Nhà Nước quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng USD và tiền đồng VN tăng thêm 603 đồng tương đương với 3,3%. Tôi cho rằng việc này cũng coi như một sự phá giá của đồng VN, tức là cái tình trạng nhập siêu của Việt Nam ngày nay lại càng gia tăng. Mà hiện nay, nếu theo tỷ giá này thì nó càng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu, điều đó là điều hiển nhiên rồi.

Tôi cho rằng điều này cũng không thể nào khác được bởi vì trong tình trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tất cả các mặt hàng nhập ngoại đều khan hiếm cả, quỹ ngoại tệ trong nước thì cũng không có nhiều, thế thì bây giờ đành phải theo chiều hướng như đã biết.

Theo tôi thì con đường mà hiện nay Việt Nam có thể làm được là vẫn tăng tỷ giá lên để có thể găm được một ít ngoại tệ ở trong nước, và có thể có một điều kiện là làm thế nào đó cho tình trạng ngoại tệ bớt đi ra nước ngoài hơn để tăng ngoại tệ.

Chứ bây giờ mà trả nợ cho nước ngoài thì như anh biết đấy, tức là cái thực lực về tiền tệ của dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện nay cũng không phải là nhiều mà còn dùng cho nhiều mục tiêu, do đó mà việc tăng vốn ngoại tệ trong nước để mà trả nợ nước ngoài thì rất hạn chế.

Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Tôi nghĩ là bây giờ tình trạng lạm phát thì ai cũng đã nhìn thấy rõ mà cái này thì các nhà khoa học và kinh tế cũng đã cảnh báo cho chính phủ, không phải là từ bây giờ mà từ năm ngoái rồi. Đương nhiên là về tình trạng của nền kinh tế thì những khoản chi bất đắc dĩ thì nhà nước vẫn phải chi thôi.

Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Cái thứ hai nữa là có thể trong thời gian tới nhà nước cũng có thể phải phát hành thêm trái phiếu, có thể là công trái trong đợt tới để giảm bớt số tiền trong lưu thông. Tôi nghĩ là hai nguồn đó ở trong nước thì trong tầm tay, thế còn bây giờ như anh biết đấy, tức là các nguồn ODA hoặc FDI vào thì nhiều khi nó được sử dụng không hiệu quả lắm, mà chủ yếu là dành cho các khoản chi công nghiệp chế biến.

Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả. Đồng thời phải suy nghĩ đến việc phát hành công trái phiếu trong đợt tới.

Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ.

Mới đây Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra nhận định là trong năm nay Việt Nam sẽ phải đối phó với lạm phát lên đến hai con số. Tôi nghĩ là lạm phát hiện nay nó đúng trong thực tại mà chưa thống kê hết thôi, chứ còn nếu thống kê hết thì nó có thể đến 2 con số trong hiện nay rồi, bởi vì bắt đầu từ đầu tháng 3 giá điện tăng. Trước đó thì chúng ta thấy giá dầu tăng liên tục, từ đầu năm tới giờ mới được 2 tháng mà tăng 2 lần. Thế thì tình trạng lạm phát lên đến 2 con số thì tôi cho là hiện thực và nó cũng đúng tầm, đúng với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay.

 
Phân tích những lý do chính của Lạm phát

Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, phát biểu một câu làm chúng tôi lưu ý đặc biệt: “Suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá. Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“

Từ câu nói, chúng tôi rút ra ba điểm sau đây:

*        Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá;

*        Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%;

*        Việt Nam khác với những nước trong khu vực về Cơ Chế Chính trị-Kinh tế

Phân tích của chúng tôi dựa trên ba điểm trên đây với trích dẫn từ những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh của chính Cơ Chế CSVN.

Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá

Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài dài có tính cách giáo khoa “TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ”. Trong bài này, chúng tôi đã định nghĩa rằng đồng Tiền chỉ là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises).

Trong Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG (Régime du Pouvoir d’Achat), cái GIÁ TRỊ của một đơn vị Tiền bạc mà một người đang cầm là TƯƠNG ĐƯƠNG HÀNG HÓA HAY DỊCH VỤ mà người đó nhận được khi chuyển đồng tiền sang tay người khác. Nếu 100 Đồng VN năm 2008 mua được hai hột vịt lộn, nhưng năm 2009 chỉ được 1 hột vịt lộn, thì ta nói rằng Vật giá hay Lạm phát tăng 50%, có nghĩa Đồng Tiền VN mất giá 50%.

Lý thuyết đơn giản về chuyển biến tương quan giữa đồng tiền và tương đương hàng hàng hóa được tóm tắt trong Công thức của FISHER:

M.V
------   =   P
  T

M : Khối lượng tiền cho vào Kinh tế; V: Tốc độ chạy nhanh chậm của đồng tiền; T: Tổng cộng Hàng hóa và Dịch vụ trong một hạn kỳ nhất định; P: Khả năng chuyên chở của đồng tiền tương đương Hàng hóa, Dịch vụ.

Công thức ấy tóm tắt cho chúng ta hai lý do chính của việc mất giá của đồng tiền hay thay đổi tương đương Hàng hóa, Dịch vụ mà người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá tăng.

Lý do thứ nhất đến từ Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng hay giảm. Lý do do này thuộc lãnh vực Tiền bạc.

Lý do thứ hai đến từ việc sản xuất Kinh tế thực (T) giảm hay tăng, có hiệu lực hay không.

Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng mà sản xuất Kinh tế thực (T) đứng yên, thì có Lạm phát. Lạm phát còn mạnh hơn nữa khi nền sản xuất Kinh tế còn giảm xuống. Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) đứng yên, mà nền sản xuất Kinh tế thực (T) giảm, chúng ta cũng có lạm phát.

Chính sự tương đương Hàng hóa, Dịch vụ này mà các Lý thuyết gia về Tiền tệ nói đến tính cách Hội nhập Tiền tệ vào Lãnh vực Kinh tế thực. Với quan điểm Hội nhập Tiền tệ này mà người ta phân biệt Đồng Tiền thực và Đồng Tiền giả. Đồng Tiền mới được Ngân Hàng Trung Ương in ra chỉ là một tờ giấy không hơn không kém, chưa có Giá trị. Đồng Tiền đã Hội nhập, nghĩa là qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, mới có Giá trị. Không phải Đồng Tiền mới in ra, thả vào xã hội mà không qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, tự nhiên có Giá trị như Đồng Tiền thực đã được Hội nhập mà người Dân đang giữ trong tay. Việc in Tiền mới thả bừa vào Xã hội để đánh lận con đen giữa hai Đồng Tiền thực (đã Hội nhập) và Đồng Tiền giả (mới in ra chưa Hội nhập) là hành động ăn cướp của quyền lực Chính trị và quyền lực Tiền bạc đối với Dân.

Vào những thập niên 1980, việc đánh lận con đen này đã làm Lạm phát tới hàng 1000% tại một số nước Phi châu và Nam Mỹ. Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết về những trường hợp gian lận này:

“L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).

Với hai lý do chính có tính các giáo khoa thuộc lãnh vực Tiền Tệ và lãnh vực sản xuất Kinh tế thực, chúng tôi phân tích cho trường hợp Lạm phát tại Việt Nam cùng với những xác nhận trong phần trên từ những Giáo sư, Cố vấn Khinh tế/Tài chánh thuộc Cơ Chế CSVN.

Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%

Theo Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trong 4 năm, đồng Tiền VN mất giá 40%. Điều này có nghĩa là việc mất giá của đồng tiền VN không phải là có tính cách nhất thời, giai đọan với những lý do bất thường mà Nhà Nước CSVN thường nêu ra để cắt nghĩa cho dân chúng để chữa lỗi. Lý do mất giá đồng Tiền Việt Nam mang tính cách thường xuyên và trường kỳ.

Dưới chủ trương Kinh tế tập quyền chỉ huy, chúng tôi không nói đến làm gì vì nền Kinh tế này thất bại hòan tòan. Nhưng hãy kể từ 10 năm nay, từ thời đổi mới, mở cửa và tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì đồng Tiền VN có thể nói là mất giá 100%, nghĩa là lạm phát, vật giá tăng 100%.

=>     Lãnh vực Vốn, Tiền tệ (M.V)

Những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước làm việc với vốn, Tiền của quốc gia. Vốn, Tiền của quốc gia được thả lỏng cho những Công ty Nhà Nước. Những dự án thi nhau trình lên Nhà Nước để lấy vốn. Có ba lọai dự án chính:

*        Những dự án thuộc ngành nghiệp chuyên môn

*        Những dự án thuộc hệ thống Bộ

*        Những dự án thuộc vùng, mỗi Tỉnh

Thời kỳ đầu của đổi mới, mở cửa, những dự án của những Công ty quốc doanh được coi như việc thưởng công chiến tranh. Dần dần sau này, những dự án dễ dàng được cấp vốn thường là do những con ông cháu cha có quyền trong đảng.

Việc cấp vốn là theo tiêu chuẩn liên hệ quyền hành trong đảng, chứ không tất nhiên theo tieo tiêu chuẩn cần thiết và hiệu quả Kinh tế. Ví tính cách liên hệ quyền lực trong đảng, nên việc kiểm sóat xử dụng vốn cũng không thể xiết chặt giữa các quyền lực trong đảng được bởi lẽ cùng ăn bẩn như nhau thì bỏ qua những bẩn thỉu của nhau. Những chủ dự án nếu làm ăn không thành công hay thua lỗ, thì đã có vốn nhà nước cấp phát thêm.

Đối với mỗi dự án từ vốn nhà nước, trước hết chủ dự án phải nghĩ đến cắt xén cho túi riêng mình. Sau đó việc chi tiêu trong Công ty hay Tổng Công ty cũng không được người Trách nhiệm kiểm sóat chặt chẽ bởi lẽ nếu người Trách nhiệm khắt khe kiểm sóat, thì những người dưới kiểm sóat ngược lại khắt khe với mình. Đây là cả hệ thống lãng phí vốn quốc gia.

@      Chúng tôi xin trích bài viết của Bloger Người Buôn Gió :

“Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ?
Người Buôn Gió

Mấy chữ “tư duy nhiệm kỳ” nghe mà phát ghét. Ở đó bao hàm tất cả những cái gì là hủ bại nhất trong tính cách dân tộc, nhất là cái tính cách ăn xổi ở thì. Ăn xổi ở thì thì làm bất kỳ việc nào cũng cốt qua loa cho xong đi, để mà còn nặng túi trở về với gia đình, chăm sóc cái tổ ấm vốn đã lo đâu vào đấy trong khi đang tại chức. Cho nên mọi việc anh làm, tiếng là vì dân, nhân danh thật to tát, cuối cùng chỉ là đổ vỏ ra đấy để cho kẻ đến sau đi hót. Và chu trình cứ thế lặp đi lặp lại, trở thành một đại họa cho dân. Một thành phố Hà Nội mà càng cải tạo lại càng nhếch nhác chẳng phải vì thế thì còn gì. Nghe đâu ngài đương kim trọng thần của nhiệm kỳ này đang cố tranh thủ một mảnh đất nào đấy ở Hồ Mây, cái đích ngài cố ngắm cho trúng, chứ đâu phải là nghĩ suy về những quy hoạch tổng thể cho Hà Nội ngàn năm “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như cụ Hồ nói. Trách gì mới vài năm trước khi nước mưa biến cả thành phố thành sông thì có vị quan to đã có ngay một câu thật nổi tiếng: Dân Hà Nội bây giờ quen dựa dẫm vào Nhà nước mất rồi. Thì chính là vì dựa dẫm vào Nhà nước mà dân chúng Thủ đô chúng tôi cứ tưởng rồi sẽ có đường phố khang trang, đi lại thông thoáng hơn, nào hay bây giờ ra đường đã thấy ngay những con đường do Nhà nước cải tạo đã đang tắc ứ. Còn các khu Hà Nội mới mở từ khi Thủ đô ta giải phóng đến nay nhất là từ khi có đồng vốn vay nước ngoài để làm kinh tế thị trường, thì nhiều nơi lại còn ngõ ngách chật hẹp, chen chúc, lúc nhúc còn hơn cả Hà Nội 36 phố phường thuở xưa. Những nơi ấy xe cộ tha hồ mà tắc.”

Những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế cho Cơ Chế CSVN, không ai không nhắc đến lý do thiếu kiểm sóat chặt chẽ Tiền, Vốn của Nhà Nước.

@      Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam nói đến “đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên.” 

@      Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh “Chính sách tài chính  phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.”

@      GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, nói thẳng đến các Dự án và chi tiêu của Chính phủ: ”Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả.

Khi lượng Tiền, Vốn bỏ ra, thả lỏng cho những Dự án chuyên môn, cho những Dự án Bộ hay những Dự án Địa phương (Tỉnh), mà hiệu quả Kinh tế không đạt được, thì đồng Tiền không Hội nhập đầy đủ, nghĩa là không có tương đương Hàng hóa hay Dịch vụ bảo đảm Giá trị của đồng Tiền.  Đồng Tiền mất giá, lạm phát đã nhiều năm trường là do sự thả lỏng này. Nhà Nước lấy Tiền, Vốn đâu mà thả lỏng ra như vậy ? Tại sao không có thể nghĩ rằng trong suốt những năm trường, Nhà Nước độc tài đã ra lệnh cho Ngân Hàng Nhà Nước in tiền mới (chưa Hội nhập Kinh tế), thả vào nền Kinh tế để đánh lận với đồng Tiền thực (đã Hội nhập Kinh tế) mà dân chúng đang giữ.

=>     Lãnh vực Thực hiện hiệu quả Kinh tế (T)

Người làm Kinh tế có câu nói: “Làm ra Tiền đã khó, mà tiêu Tiền còn khó hơn”. Thực vậy, tiêu Tiền không phải là vất Tiền ra cửa sổ. Tiêu Tiền theo ý nghĩa Kinh tế là phải làm thế nào để một đồng chi ra, phải thu vào tối thiểu hơn một đồng, nghĩa là nếu không có lợi nhuận, thì thà đừng tiêu. Việt Nam cũng có câu: ”Tiêu Tiền Chùa”, nghĩa là tiêu Tiền của chung thì dễ dàng phung phí, không cần nghĩ đến hiêu quả. Phải nghĩ đến hiệu quả trước khi quyết định chi tiêu.

Những Công ty, Tổng Công ty quốc doanh không làm ăn cho có hiệu quả tương xứng vì những lý do sau đây:

*        Đây là Công ty Nhà Nước, lợi nhuận làm ra do cố gắng làm việc hữu hiệu, cũng thuộc về Nha Nước. Vì vậy không cần cố gắng nhiều.

*        Người đứng trách nhiệm Công ty nghĩ đến cắt xén thưởng công cho mình trước khi làm Kinh tế thực sự để sinh lợi nhuận.

*        Những sản phẩm công nghệ ngày nay là sự chắp nối những linh kiện rời trong hệ thống sản xuất từng phần (sous-traitance). Những Công ty Nhà Nước khó lòng phân công với nhau để sản xuất từng phần trong mục đích giảm giá thành sản phẩm cuối cùng. Những Công ty công nghệ Nhà nước chọn những dễ dãi là nhập siêu những thành phần từ nước ngòai để đem về ráp nối chặng chót. Vì vậy sản phẩm chặng chót có giá thành cao lên vì nhập siêu những linh kiện.

*        Mỗi lần nhập siêu linh kiện là mỗi lần những chủ Công ty nhà nước lại có dịp thông đồng kín đáo với người bán từ nước ngòai để tăng giá mua, cắt xén cho vào túi riêng của mình.

*        Cuối cùng, nếu Công ty không làm việc cho có hiệu lực, thua lỗ, thì đã có Tiền, Vốn quốc gia bù thêm vào.

Theo Công thức tóm tắt của FISHER mà chúng tôi đưa ra trên đây, thì khi nền Kinh tế không có hiệu quả, số sản phảm (T) giảm, thì Khối Tiền lưu hành (M.V) không có Hàng hóa và Dịch vụ tương xứng. Đồng Tiền mất giá, lạm phát, đồng tiền mua được ít hàng, nghĩa là vật giá tăng.

@      Bloger Người Buôn Gió viết rất đúng về thái độ làm việc của những người trách nhiệm các Công ty Nhà Nước:” Các kế hoạch xây dựng càng xây càng hỏng, nào hầm Thủ Thiêm, đường hầm Kim Liên…; có nhà máy như Dung Quất tưởng đã vận hành từ  lâu thì nay lại phát hiện thêm 100 lỗi trong khi thi công nên phải tạm ngưng, không biết sẽ còn ngưng đến bao giờ. Các đại tập đoàn đứng sau Nhà nước, tưởng lập ra là cốt tăng thêm GDP, giúp cho an sinh được cải thiện, dân đỡ khổ hơn, nào hay anh nào cũng dài mồm than lỗ, mới ra Tết mọi thứ sản phẩm của họ đã tăng giá vùn vụt, nghĩa là họ chỉ góp phần vào bĩ cực mà chẳng thấy có thái lai.”

@      Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh như một hiệu lệnh: “Đầu tư phải hiệu quả”.  

@      GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, cũng nhất thiết khuyến cáo: “Phải nâng cao hiệu quả”.
 

Việt Nam khác với những nước trong khu vực
về Cơ Chế Chính trị—Kinh tế

Xin nhắc lại lời của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nói: “Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“. 
Có lẽ Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, không dám nói ra một điều làm Việt Nam khác với các nước trong khu vực vì ngại sợ rằng Công an CSVN lại mời ông lên làm việc, rồi truy tố ông ra tòa theo Điều 88 Bộ Hình Luật. Riêng tôi, tôi đã nói từ lâu rằng cái Cơ Chế CSVN làm Kinh tế, gọi là nền Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCN, khác hẳn với việc làm Kinh tế Tự do và Thị trường ở những nước trong khu vực. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường của những nước trong khu vực tôn trọng Môi trường Chính trị—Luật pháp dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique démocratique adéquat), trong khi ấy Việt Nam cố thủ chủ trương Chính trị độc tài nắm trọn độc quyền Kinh tế. Cái khác là ở chỗ đó và chính cái khác này làm cho Lạm phát và đồng Tiền mất giá cao hơn nhiều sánh với những nước trong khu vực.

Kinh tế Việt Nam là Kinh tế nhóm đảng Mafia CSVN độc tài cướp bóc của cải dân chúng và quốc gia cho riêng mình, chứ không phải nền Kinh tế do Dân và cho Dân. Vì nắm giữ cả hai quyền, nên Tiền, Vốn nhà nước bỏ lỏng ra để Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng theo ý đảng và họat động Kinh tế không cần hiệu quả để không đủ sản phẩm tương xứng (T) bảo đảm cho giá trị đồng Tiền. Lạm phát, Phá giá đồng Tiền là như vậy. 
 

Không chịu nổi hậu quả Lạm phát,
Dân chúng nghèo đói nổi dậy

Khi viết về cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á-châu năm 1997 làm đồng tiền một số lớn những nước Á châu mất giá, Bà Francoise NICOLAS đã đưa ra tỉ dụ tình trạng lạm phát đã làm dân chúng đói nghèo nổi dậy đạp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm cai trị.

Thực vậy khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mà họ tiết kiệm mất giá, những người lãnh lương như công nhân, công chức thì không được tăng lương là bao nhiêu, đa số rơi vào cảnh nghèo đói. Những người giữ quyền hành Chính trị, đặc quyền làm ăn bóc lột thì giầu có, vẫn tiêu pha, nhập siêu. Việc nổi dậy của đại đa số dân chúng nghèo đói không đến từ một thế lực ngọai lai nào khuyến dụ mà từ BỤNG ĐÓI của Dạ Dầy. Sức mạnh nổi dậy trước khi bị chết đói làm họ không sợ chết nữa.  Nếu họ biết rằng việc mất giá Tiền tiết kiệm và Tiền lương của họ là do sự gian lận in tiền mới ra để lừa đảo đánh lận con đen với Tiền thực của họ, thì cuộc nổi dậy còn tăng thêm thù hận đến giết lát nữa.

Chúng tôi xin trích một đọan của bài viết của Oâng VŨ QUANG VIỆT đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“

Để kết, chúng tôi xin lấy lời nhận định của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO, tuyên bố với báo Financial Times: ”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.” (Nếu giá cả tiếp tục tăng, thì tôi không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những nổi dậy vì đói khổ) (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007)
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 04.02.2010






                                                       ẤN ĐỘ:
                         CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI Á-CHÂU


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                            Geneva, 11.03.2010

 

Viết bài NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ hôm nay về khả năng phát triển Kinh tế Aán Độ, chúng tôi dựa trên những bài báo cũng hòan tòan có tính cách thời sự :

*        Le Monde 09.03.2010:UNE LECON INDIENNE par Martin WOLF  

*        The Wall Street Journal 10.03.2010: INDIA’S MICROLENDERS TO SHARE DATA by Eric BELLMAN

*        Financial Times 10.03.2010: SUGAR SUFFERS AS INDIA RAISES OUTPUT ESTIMATE by Chris BLOOD

*        Financial Times 11.03.2010: PUTIN SEEKS TO BOLSTER LINK WITH NEW DELHI by James LAMONT

*        The Wall Street Journal 11.03.2010: INDIA: WOMEN AND DEMOCRATY

*        Le Monde 11.03.2010: EN INDE, GUERRES DES TERRES ENTRE PAYSANS ET INDUSTRIELS par Julien BOUISSOU

*        Le Monde 11.03.2010: LES DEPUTES INDIENS VOTENT L’INSTAURATION D’UN QUOTA DE FEMMES AU PARLEMENT par Julien BOUISSOU

 
Chúng tôi chỉ viết một bài ngắn nêu lên những điểm chính yếu làm nền tảng cho khả năng phát triển Kinh tế Aán Độ. Chúng tôi sẽ viết một bài phân tích dài làm bài QUAN ĐIỂM theo Chủ đề hiện hành của chúng tôi là DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Thực vậy, Aán Độ lấy dân làm gốc cho phát triển và hiệu quả của phát triển là cho dân. Nền Kinh tế Aán Độ phát triển song hành với xây dựng Dân chủ. Đó là bài học qúy giá cho Chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ của chúng tôi áp dụng cho Việt Nam.

Chính Kinh tế gia Martin WOLF cũng lấy tựa đề bài viết của Oâng trong Le Monde 09.03.2010 là “UNE LECON INDIENNE“ (BÀI HỌC ẤN ĐỘ). Vào thập niên 1970, Kinh tế gia Martin WOLF là người Trách Nhiệm chính của Ngân Hàng Thế Giới tại Aán Độ. Oâng là bạn thân từ 39 năm nay của Kinh tế gia Montek Singh AHLUWALIA, Phó Chủ tịch  ỦY BAN KẾ HỌACH KINH TẾ ẤN ĐỘ, đứng sau Thủ tướng MANMOHAN SINGH.

Để có thể hiểu những điểm đặc thù của Kinh tế Aán Độ, chúng tôi xin trích ra đây đọan tóm tắt rất gọn và xác thực về Kinh tế Trung quốc để độc giả so sánh:

“It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay). (Financial Times 09.03.2010, p.10)

Đó là nền Kinh tế sản xuất những “gadgets” để mau chóng xuất cảng mua vui cho những người tiêu thụ tại những xứ khác, do một nhóm đảng tổ chức thu tiền nhanh vào cho mình và rồi chuyển những tiền ấy ra đặt tại những xứ giầu Tây phương.  Người dân chỉ được hưởng một phần rất nhỏ hiệu quả Kinh tế qua đồng lương bóc lột. Đó là Kinh tế Trung quốc.

Qua những bài báo liệt kê trên đây liên quan đến Phát triển Kinh tế Aán Độ, nhất là bài của Kinh tế gia Martin WOLF, chúng tôi ghi nhận những điểm như sau.
 

Người dân và tính tình

Dân Aán Độ ít ồn ào hơn dân Trung quốc. Người ta thường nói rằng người Aán Độ thuộc lọai người suy tư  đầu óc, chiêm ngưỡng (contemplatifs). Con số bí hiểm 0 (zéro) được phát sinh từ Aán Độ chứ không phải từ A-rập. Người ta không hiểu “zéro“ là gì, mặc dầu nó hiện hữu. Có người cắt nghĩa đó là ý niệm Niết Bàn. Phật Giáo được phát sinh từ Aán Độ, một Tôn giáo lấy giải thóat cá nhân và tự mình giải thóat làm trọng. Tính chiêm ngưỡng (contemplatif) và ảnh hưởng Tôn giáo là nền tảng tính tình dân Aán Độ. Ngày nay, người ta thường nhận thấy dân Aán Độ rất giỏi về ngành điện tử.

 
Nền tảng Dân chủ

Dân chủ chỉ là một Nguyên Tắc giải quyết tương đối những tranh chấp khi mà những cá nhân sống chung với nhau thành một cộng đồng. Như vậy CÁ NHÂN CHỦ là nền tảng để từ đó mới xây dựng nguyên tắc dân chủ. Một xã hội nào biết tôn trọng cá nhân, thì tự động họ xây dựng nguyên tắc DÂN CHỦ. Tôn giáo tại Aán Độ đã un đúc cho dân tinh thần phải tôn trọng CÁ NHÂN CHỦ. Chúng tôi không bao giờ chấp nhận ngụy biện của Cộng sản cho rằng dân trí còn ngu nên không thể cho Dân Chủ. Thực vậy, Dân Chủ không phải là kết quả của Dân trí mà là nguyên tắc thực tiễn giải quyết giữa những cá nhân chủ khi có va chạm.

Cái tinh thần tôn trọng cá nhân luôn luôn đòi hỏi việc xây dựng hệ thống quản trị Xã hội theo nguyên tắc Dân chủ:

=>     Phân quyền, tránh tập trung quyền hành để dễ dẫn đến độc tài. Aán Độ theo hệ thống phân quyền dưới thể chế Liên Bang.

=>     Khi quyền hành được tản ra, thì những tranh chấp chính trị cũng đỡ hẳn tính cách gay gắt, ác độc. Một chủ trương tập quyền như Cộng sản chẳng hạn, thì đó là nguồn gốc tranh chấp, thậm chí đến thanh trừng nội bộ một các tàn nhẫn.

Xã hội Aán Độ được xây dựng, phát triển theo những nguyên tắc Dân chủ. Nó khác với Xã hội Trung quốc hiện nay.
 

Phát triển Kinh tế bởi cá nhân và cho cá nhân

Chính cá nhân là tác nhân Kinh tế chính và cá nhân làm kinh tế trước tiên là phục vụ cho chính mình chứ không phải hy sinh cả cuộc đời để phục vụ cho một Lý thuyết trừu tượng, một Chủ nghĩa Xã hội để những người nhân danh Chủ nghĩa mà bóc lột cá nhân. Cá nhân có sống, thì Chủ nghĩa mới có. Cá nhân chết, thì Chủ nghĩa trở thành trống rỗng. Ai cũng lo lắng đến cái bụng đói của mình trước tiên.  Và rất hiếm người lo đến cái bụng đói của người khác trước khi nghĩ đến cái bụng của mình. Vậy hãy để cho mỗi cá nhân làm ăn để lo lắng trước tiên đến việc nuôi sống thân xác mình.

Một xã hội mà nền Kinh tế được tản ra cho từng cá nhân, nền kinh tế ấy mới có nhiều sáng kiến và sự thăng bằng phát triển mới bền vững và lâu dài. Nền Kinh tế được đặt trên nền tảng cá nhân, những công ty gia đình, những công ty nhóm nhỏ... mà tiến lên là nền Kinh tế phát triển có nhiều sáng kiến và bền vững nhất.

Tôn trọng cá nhân, lấy cá nhân trách nhiệm, phát triển những nguyên tắc dân chủ để giải quyến, nền Kinh tế Aán Đo,ä dù không ồn ào, yên lặng tiệm tiến, sẽ phát triển trong bền vững và lâu dài.

Một tỉ dụ điển hình mà chúng tôi thường lấy ra làm tỉ dụ, đó là sự đổi hướng của Kinh tế Ý cách đây 30 năm. Thời ấy, nền Kinh tế Ý dựa trên những đại Công ty. Tình trạng đình công xẩy ra như cơm bữa làm Kinh tế Ý tê liệt. Người Ý mang tinh thần tôn trọng gia đình cao nhất Aâu châu. Từ nền Kinh tế Đại Công ty bị tê liệt, dân Ý đã chuyển Kinh tế về hệ thống Gia đình. Mọi người trong Gia đình phải tuân theo MAMA mà làm việc, không được đình công, nếu không MAMA không cho ăn Spaghetti nữa. Nền Kinh tế đặt nền tảng trên Gia đình đã dần dần phát triển lớn mạnh đến ngày nay. 
 

Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ

Theo tinh thần trên đây lấy cá nhân làm tác nhân kinh tế chính, một Chương trình phát triển Kinh tế đã được họach định cho cả nước. Kinh tế gia Martin WOLF đã tóm tắt Chương trình ấy ở những điểm sau đây: “Les Infrastructures, l’Agriculture, la Reglementation du Travail, le Secteur Bancaire, l’Energie, l’Education et le Commerce de détail“ (Những hạ tầng cơ sở, NÔNG NGHIỆP, LUẬT LỆ LAO ĐỘNG, Lãnh vực Ngân Hàng, Năng lượng, Giáo dục và THƯƠNG MẠI NHỎ) (Le Monde 09.03.2010, p.2)

Việc xây dựng hạ tần cơ sở là lãnh vực của Nhà Nước. Chúng tôi viết chữ hoa cho một số lãnh vực để độc giả lưu ý rằng Kế họach Kinh tế này đặt trọng tâm vào người nghèo và những đơn vị Kinh tế nhỏ làm căn bản:

=>     NÔNG NGHIỆP : đó là lãnh vực ưu tiên đầu tiên của Kế họach. Việc phát triển nông nghiệp là tạo cho đa số dân nghèo có đủ miếng ăn, rồi sau đó tạo cho dân nghèo có khả năng tiêu thụ để mới có thể sản xuất công kỹ nghệ phục vụ cho chính trong nội địa. Đó cũng là tạo độc lập về Kinh tế. Kinh tế Trung quốc hiện giờ không có độc lập vì nó lệ thuộc vào xuất cảng phục vụ ngọai quốc.

=>     LUẬT LỆ LAO ĐỘNG: đây cũng là sự lo lắng cho khối người nghèo phải đi bán sức lao động của mình để nuôi thân. Phải có những luật lệ cho công bằng, tránh những tình trạng bóc lột lao động.

=>     THƯƠNG MẠI NHỎ: đây cũng là chủ trương đi từ những đơn vị nhỏ thương mại mà tiến lên. Từ tiểu thương, rồi tiến dần lên đại thương. Săn sóc, hỗ trợ những Thương mại nhỏ để phân phối các nơi.

Hãy nhìn Kinh tế Việt Nam để thấy khác biệt giữa hai chủ trương. Trong bao chục năm trường, Nhà Nước Việt Nam bỏ rơi Nông Nghiệp, một lãnh vực mà chúng ta có cả khả năng thiên nhiên để phát triển cho 75% dân số nghèo tại nông thôn. Nhà Nước Việt Nam chỉ nhằm bán Lao động cho tài phiệt nước ngòai, rồi xuất khẩu Lao động phục vụ ngọai quốc mà không lo phát triển những Luật lệ bảo vệ công bằng cho giới Lao động. Về thương mại, mỗi thành phố chỉ chuyên lo khuếch trương Siêu thị mà ít nâng đỡ những Tiểu thương, thậm chí còn tàn nhẫn đi hốt những người nghèo buôn thúng bán mẹt ở những góc phố. Tìm cách nâng đỡ họ. Họ là những Tiểu thương đấy, để họ có chỗ buôn bán độ thân và tiến dần lên Trung thương hoặc có thể là Đại thương sau này.

Nhà nước VN chỉ lo sản xuất những “gadgets“ như quan thầy Trung quốc !
 

Hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“

Trong những năm làm Tài chánh cho những Dự án, chúng tôi thường đưa ra một số tỉ dụ để công kích chính những Ngân Hàng lớn. Tỉ dụ sau đây thường được đưa ra khi phải chạm trán với Ngân Hàng:

Một sinh viên trẻ mới học xong. Anh đang mang cả bầu nhiệt huyết để thực hiện Dự án mà trong suốt thời gian học anh mơ mộng. Anh viết Dự án. Xử dụng môn học Phân tích Chi tiêu Xí nghiệp (Analyse des Charges Industrielles) để tính tóan rất kỹ. Xử dụng môn Marketing và Ước lượng Thu nhập  để cho thấy rằng Lợi nhuận từ mỗi chặng thực hiện Dự án là bao nhiêu. Đọc Dự án, tôi cảm phục anh sinh viên nghèo mới ra trường này.

Nhưng phải có VỐN thì mới thực hiện được Dự án. Anh can đảm đến Ngân Hàng để trình bầy Dự án với những Chi—Thu đã tính tóan kỹ.

Anh xin Ngân Hàng cho vay vốn để thực hiện Dự án của mình. Anh chấp nhận mọi kiểm sóat của Ngân Hàng. Ngân Hàng khen anh, nhưng trả lời rằng:“Vậy Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit của anh đâu để làm Collateral cho vốn vay ?“.

Anh sinh viên nghèo chua chát ra đi và nghĩ: thực là ngược ngạo ! Để lấy được Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit, thì anh phải có tiền đặt trong Ngân Hàng làm Deposit. Mà nếu anh đã có tiền rồi để làm Deposit, thì anh cần gì phải đến Ngân Hàng kia để xin vay. Có lẽ anh phải đi làm vất vả trong 10 năm để có tiền làm Deposit. Nhưng 10 năm sau, thì sức lực anh đã giảm, anh không muốn theo đuổi Dự án như lúc mới ra trường.

Tôi rất khâm phục ý tưởng đặc biệt của Aán Độ đã thiết lập hệ thống Microfinance, nghĩa là cho những người nghèo, những cá nhân muốn làm ăn vay. Hệ thống này đã trở thành thời danh mà vị sáng lập đã được khen tặng giải Nobel Hòa Bình.

Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ đặt trọng tâm vào những người nghèo muốn làm việc: Nông dân, Lao động và Tiểu thương. Cùng với Chương trình nghĩ đến người nghèo như vậy, Aán Độ đã có sáng kiến tổ chức hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“ để giúp phương tiện làm ăn cho dân nghèo thiếu vốn như anh sinh viên trên kia. Đó là hai ngả giúp hữu hiệu cho phát triển Kinh tế từ nền tảng. Xin lưu ý: thống kê cho thấy rằng dân nghèo vay nợ làm ăn là dân hòan vốn rất chu đáo “Bon payeur“ !
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN,  Kinh tế
Geneva, 11.03.2010

 




                            NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
 
                                                   HẢI NGỌAI
                                           CẤM VẬN NGỌAI TỆ
                                          ĐỐI VỚI MAFIA CSVN


                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                            Geneva, 25.02.2010

 

HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Đấu tranh chống lại CSVN, chúng tôi luôn luôn đứng ở lãnh vực Kinh tế. Lực lượng đấu tranh chính yếu là tại Quốc nội. Hải ngọai yểm trợ cho Quốc nội. Có hai Mặt Trận mà Hải ngọai có thể đóng góp hữu hiệu, đó là Mặt Trận Thông Tin về Quốc nội và Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế chống lại Mafia CSVN cướp bóc Dân chúng.

Đối với Mặt Trận Thông Tin về Việt Nam, Hải ngọai phải tăng cường luôn luôn vì chúng ta có phương tiện và vì Truyền Thông hiện nay là từ trời rơi xuống mà CSVN khó lòng ngăn chặn. Đối với Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế, chúng ta phân biệt những điểm tế nhị. Chúng ta tránh những gì có thể làm hại đến đời sống làm ăn kiếm sống vất vả của Dân chúng, nhưng đối riêng với Mafia CSVN cướp bóc, thì chúng ta kêu gọi trừ diệt không thương tiếc.

Từ khi CSVN tuyên bố phá giá nội tệ, chúng tôi thấy đây là dịp mà Hải ngọai phải nắm lấy để tấn công nhóm đảng Mafia CSVN mà không ngại sợ liên hệ đến cuộc sống làm ăn vất vả của Dân chúng. Việc buộc lòng phá giá đồng bạc Việt Nam cho thấy một tình trạng khan hiếm ngọai tệ có thể đưa Cơ Chế đến phá sản. Chúng tôi muốn kêu gọi Hải ngọai đòan kết, cứng rắn xử dụng mọi biện pháp CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Cơ Chế Mafia CSVN cướp bóc.
 

CSVN khan hiếm ngọai tệ trầm trọng

Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế cho đến nay, CSVN đang rơi vào tình trạng khan hiếm ngọai tệ như sau:

=>     Đầu tư nước ngòai giảm 82% vì chính nước ngòai cũng đang trải qua Khủng hỏang. Ngày nay, không Nhà Nước Tây phương nào, Liên Aâu và Mỹ, không thiếu hụt Ngân sách. Tình trạng khủng hỏang đang diễn ra nguy hiểm tại một số nước Liên Aâu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Liên Aâu đang khó khăn trong việc cứu vớt những nước này, nên khó lòng nghĩ đến đầu tư vào Việt Nam xa xôi nguy hiểm. Trung Đông cũng phải quan tâm đến vấn đề Dubai.

=>     Aâu, Mỹ du lịch Việt Nam giảm 70%. Xuất cảng của Việt Nam sang Liên Aâu và Hoa kỳ giảm 62%, đó là chưa kể những hàng hóa bị cấm đóan vì độc hại và những hàng bị tăng thuế nhập cảng như tôm cá vào Mỹ, đồ may mặc, da giầy vào Liên Aâu. Khi du lịch giảm, hàng xuất cảng giảm, thì làm sao có thể tăng ngọai tệ được.

=>     Trong khi ấy, những hàng nhập siêu cho Việt Nam lại tăng mạnh và quá mức. Cán cân thương mại nhập/xuất mất thăng bằng. Nhập siêu tức là ngọai tệ đi ra.
 

Đình trệ chung về Mậu dịch Quốc tế

Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày hôm nay 25.02.2010, trang 17, đăng những lời tuyên bố của chính Oâng Pascal LAMY, Tổng Giám đốc WTO:

“Le commerce international enregistré l’an dernier un recul sans précédent depuis la Seconde Guerre Mondiale en raison de crise 12%, et l’année 2010 s’annonce médiocre avec déjà des signes inquíetants pour la reprise économique espérée. Le commerce mondial a été victime de la crise et s’est contracté de 12% en volume en 2009”. (Thương mại quốc tế ghi nhận năm vừa rồi một sự lùi lại chưa bao giờ xẩy ra từ Thế Chiến Thứ Hai với 12% giảm, và năm 2010 báo hiệu xấu với những dấu hiệu đáng lo ngại cho việc phục hồi kinh tế như ao ước. Thương mại hòan cầu đã là nạn nhân của khủng hỏang và đã lùi 12% tính về lượng giao dịch trong năm 2009.)

Oâng nói thêm về những lý do của việc lùi chưa từng có này:

“Selon OIT, le nombre de chomeurs a atteint un niveau sans précédent de 200 millions de personnes, par conséquent le manque du pouvoir d’achat. La chute brutale des échanges commerciaux s’explique principalement par un repli de la demande des plus grandes économies, ainsi que par une raréfaction des prêts bancaires pour financer les transactions commerciales.” (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số thất nghiệp đã đạt tới mức chưa từng có là 200 triệu người. Việc tụt dốc tàn nhẫn của những trao đổi thương mại được giải thích chính yếu bởi việc cắt đi việc đặt mua hàng từ những nền kinh tế lớn nhất, cũng như bởi việc khan hiếm những món cho vay ngân hàng để tài trợ cho những thương vụ thương mại.)

Những tuyên bố trên đây của Oâng Tổng Giám đốc WTO chứng tỏ rằng những con số ca tụng tăng trưởng cũng như xuất cảng từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam là những khóac lác tuyên truyền mà thôi.
 

Phá giá đồng bạc Việt Nam là hậu quả tất nhiên

Trong bài viết dài về TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này, chúng tôi đã cắt nghĩa một cách giáo khoa rằng đồng nội tệ của một quốc gia mạnh hay yếu là do Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ, do Cán Cân Chuyển Vốn vào. Chúng tôi đã viết và cắt nghĩa như sau:

Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.

Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh hay yếu?

Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.

Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giûam giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.

Tại Việt Nam, ngọai tệ không những không vào mà còn thất thóat ra ngòai nhiều.  Người trong nước tăng Cầu ngọai tệ, nên tỷ giá ngọai tệ tăng. Phía Cung nội tệ tăng để mua ngọai tệ phục vụ nhập siêu. Cung nội tệ tăng, thì tỷ giá nội tệ sánh với ngọai tệ bị mất giá.

Tình trạng khan hiếm ngọai tệ và Đình trệ xuất cảng càng kéo dài bao nhiêu, thì đồng bạc Việt Nam càng phá giá bấy nhiêu. Lần phá gia trước Tết (11.02.2010) chưa phải là lần cuối, mà việc phá giá còn tiếp tục.

Bản Tin Reuters do John Ruwitch, đánh đi từ Hà Nội như sau:

“HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.

Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.

Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.

Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.

“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.

“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”

Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.


Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả. “
 

Hải ngọai hãy cứng rắn dồn sức
CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Mafia CSVN

Đã bao chục năm trường, mỗi năm Hải ngọai chúng ta đã chuyển về Việt Nam cho Gia đình trung bình USD.4-6 tỉ. CSVN không biết ơn mà vẫn luôn luôn coi chúng ta là thù địch, vẫn tàn nhẫn bóc lột đàn áp Dân chúng hay những người trong Gia đình của chúng ta. Đây là dịp mà chúng ta phải dặn bảo nhau, mở Phong trào Hải ngọai CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với đám nhóm đảng Mafia CSVN tàn bạo, cướp bóc.

Lạm phát bắt đầu tăng. Với lạm phát tăng và đồng bạc phá giá, Dân chúng sẽ đứng lên !


HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.02.2010


NHỮNG ĐIỂM THỜI SỰ QUAN TRỌNG
ĐÁNG GHI LẠI ĐỂ NHẬN ĐỊNH

NGUYỄN PHÚC LIÊN

 

* Trung quốc mất ăn mất ngủ vì món tiền Hoa kỳ nợ (China losing appetite for US debt)
 
(CNN 17.02.2010; Le Monde 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32)

* Trung quốc muốn chuyển sản xuất một số hàng sang Aán độ để dễ xuất cảng
 
(Financial Times 17.02.2010, p.14)

* Những khó khăn Chính trị và Kinh tế Trung quốc
 
(Financial Times 17.02.2010, p.9; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.9)

* Những triệu chứng nguy hiểm cho việc tái khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế
 
(Le Monde 17.02.2010, p.12)

* Hoa kỳ tỏ ra cứng rắn trong vấn đề trừng phạt Iran
 
(Le Temps 17.02.2010, p.1, p.5; The Wall Street Journal 17.02.2010, p.10)

* Bruxelles đặt những điều kiện khắt khe đối với Athens
 
(Fiancial Times 16.02.2010, p.1; Le Monde 16.02.2010, p.15; Le Temps 16.02.2010, p.1)

* Mặc dầu bị tấn công mọi phía, một cuộc thăm dò dư luận cho thấy rằng 62% dân Thụy sĩ (68% giới trẻ) sẵn sàng bầu phiếu chủ trương Bí Mật Ngân Hàng.
 
(Le Figaro 15.02.2010, p.22)

* Khủng hỏang Hy-lạp lan sang Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Liệu có ảnh hưởng sang Mỹ hay không ? “It began in Athens. It is spreading to Lisbon and Madrid. And America ?”
 
(Financial Times 11.02.2010, p.9)

* Bernanke làm thế nào đưa FED ra khỏi chiến lược kích thích tài chánh.
 
(Financial Times 10.02.2010, p.3; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.6; Financial Times 11.02.2010, p.4)

* Đồng Euro và Khủng hỏang Tài chánh Liên Aâu. Những công kích đồng Euro.
 
(Le Monde 10.02.2010, p.1, p.8)

* Cứu vớt phá sản Hy-lạp: Bộ trưởng Tài chánh G7 họp. Thượng đỉnh Liên Aâu họp bất thường để lấy quyết định. Những nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng lo sợ như Hy-lạp.
 
(The Wall Street Journal 08.02.2010, p.5; Le Figaro 08.02.2010, p.22; Financial Times 09.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 09.02.2010, p.4; Le Monde Economie 09.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.1; Financial Times 10.02.2010, p.1, p.16; Le Monde 11.02.2010, p.1, p.8; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.1; TSR1, France 2, TF1 11.02.2010)

* Nạn sữa độc Melamine Trung quốc vẫn hòanh hành
 
(The Wall Street Journal 09.02.2010, p.10)

* Ý-đại-lợi (Thành phố Tuscan) xiết chặt thợ may dệt Trung quốc tràn sang: ”Enough is enough !”
 
(Financial Times 09.02.2010, p.2)

* Trung quốc lợi dụng vụ Nguyên tử Iran để tăng cường thương mại với nước này
 
(Financial Times 09.02.2010, p.2)

* Nguyên tử Iran làm Tây phương nóng đầu và tìm cách trừng phạt.
 
(Le Figaro 08.02.2010, p.1; Le Monde 09.02.2010, p.1; Le Monde 10.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.12; Financial Times 10.02.2010, p.6)

* Tiền Thụy sĩ trở thành Tiền tỵ nạn Lịch sử cho Tài chánh
 
(Le Temps 08.02.2010, p.1)

* Trung Cộng: Con cái những lãnh tụ lớn được thăng quan tiến chức, nhất là trong cấp bậc về Kinh tế để sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2012.
 
(Le Temps 08.02.2010, p.5)

* So sánh việc thóat Khủng hỏang Kinh tế giữa Hoa kỳ và Liên Âu
 
(Le Monde 04.02.2010, p.1, p.6, p.13)

*  Thượng viện Hoa kỳ và Chương trình Volcker về Kiểm sóat Ngân Hàng
 
(Financial Times 04.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 03.02.2010, p.1; Financial Times 03.02.2010, p.3)

* Thái độ của Hoa kỳ qua những vụ: Google, Bán Vũ khí cho Đài Loan và Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.
 
(Le Monde 03.02.2010, p.4; Financial Times 03.02.2010, p.1; Le Monde 02.02.2010, p.6; Financial Times 01.02.2010, p.1, p.6; Le Figaro 01.02.2010, p.6)

* Thụy sĩ nhất quyết cho hai người Duy-ngô-nhĩ Tân Cương ra tù từ Guantanamo, mặc dầu Trung quốc cực lực phản đối. Tính các Độc lập của Dân Thụy sĩ khi quyết định không xây Tháp Hội đườn Hồi Giáo trên Lãnh thổ họ, mặc dầu cả Thế giới Hồi Giáo phản đối và đòi kiện ra Tòa án La Haye.
 
(Le Temps 03.02.2010, p.9; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.7)

* Vai trò Kinh tế Đài Loan được Hoa kỳ nâng đỡ để làm giảm cao ngạo của Trung quốc Lục địa. 
 
(Financial Times 02.02.2010, p.12; Le Temps 02.02.2010, p.2, p.4)

* Thái độ của Davos 2010 dối với những công kích Tài chánh Tư bản của TT.Sarkozy
 
(Fiancial Times 02.02.2010, p.13; Le Monde 02.02.2010, p.1)

* Davos 2010 nhận định về những Quốc gia bắt đầu phát triển, những đe dọa cho Tây phương.
 
(Le Monde 02.02.2010, p.2; Le Figaro 01.02.2010, p.24)

* Thụy sĩ tháo gỡ những công kích về những người trốn thuế gửi tiển tại Thụy sĩ. Nhưng những người có tiền triệu, tiền tỉ tự hỏi: vậy thì cất tiền ở đâu cho vững ?
 
(Le Temps 02.02.2010, p.8; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.1,p.3; Financial Times 01.02.2010, p.4; Le Temps 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.23;)

* Ngân Sách Hoa kỳ và $1’600 tỉ nợ năm 2011. 
 
(Le Monde 02.02.2010, p.15; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.8)

* IMF phát biểu tại Davos 2010: Kiểm sóat Ngân Hàng phải được phối hợp chung, chứ không thể từng vùng.
 
(The Wall Street Journal 01.02.2010, p.5)

* Davos 2010 không hồ hởi cho lắm về khả năng thóat khủng hỏang Kinh tế Thế giới. Vấn đề chính yếu vẫn còn quanh quẩn ở nợ nần ngân sách các quốc gia và điều chỉnh các Ngân Hàng.
 
(Le Temps 01.02.2010, p.22)

* Trung quốc hờ hững việc trừng phạt nguyên tử Iran
 
(The Wall Street Journal 01.02.2010, p.9)

* Hoa kỳ tăng cường quân sự trong vùng Vịnh Trung Đông vì Iran và Khủng bố
 
(Le Figaro 01.02.2010, p.8)

* Nông dân Trung quốc nổi dậy ủng hộ việc chống lại tham nhũng
 
(Le Monde 28.01.2010, p.7)

* Diễn văn của Sarkozy tại Davos muốn cải cách Tư bản chủ nghĩa. Đòi kiểm sóat Ngân Hàng, nhưng làm sao kiểm sóat được Ngân Hàng Trung quốc. Phản ứng của giới Ngân Hàng gia tại Davos.
 
(Le Temps 28.01.2010, p.15; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.1; Financial Times 28.01.2010, p.4)

* Tây phương đã quá thổi phồng Kinh tế Trung quốc. Thực tế thì khác.
 
(Financial Times 28.01.2010, p.11)


NGUYỄN PHÚC LIÊN



                                                    TIỀN TỆ VÀ
                                    NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ

 
                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva, 24.02.2010

 

Nội dung bài này mang tính cách giáo khoa: chúng tôi trình bầy những quan niệm về Tiền tệ và định vị trí, vai trò của nó trong mọi lãnh vực họat động Kinh tế. Ngân Hàng là trái tim, Tiền tệ là mạch máu cho sức khỏe Kinh tế.

Chúng ta cần những quan niệm giáo khoa rõ rệt để có chung một tiếng nói, một nhận định về những tranh chấp, thậm chí chiến tranh, giữa các đồng Tiền: đồng Đo-la Mỹ, đồng Euro, đồng Bảng Anh, đồng Yen Nhật, đồng Franc Thụy sĩ, đồng Yuan Trung quốc. Trong những Thế kỷ trước, đồng Florin Hòa Lan đã một thời nắm ưu thế; tiếp đến là đồng Bảng Anh lên kế vị; và từ Hội Nghị Tiền tệ Bretton Woods năm 1944, đồng Đo-la Mỹ tràn lan khắp Thế giới mà Staline gọi là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la).

Trong suốt thời kỳ thống trị của Đo-la đến ngày nay, có nhiều những cuộc nổi dậy chống Đo-la. Aâu châu được tái thiết sau Thế Chiến II và phát triển Kinh tế, bán hàng hóa cho các cựu thuộc địa, thu tiền vào bằng Đo-la tích lũy tại Aâu châu thành khối Euro-Dollar. Các nước A-rập Trung đông bán dầu lửa và tích lũy Đo-la thành khối Petro-Dollar. Cuộc nổi dậy đầu tiên là từ TT.De GAULLE nhân danh Euro-Dollar khi Oâng muốn bắt tay với Nga. Cuộc nổi dậy thứ hai nhân danh Petro-Dollar từ những nước A-rập nhằm bênh đỡ cho Palestine.

Ngày nay, nhân cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh/Kinh tế 2007-90 bắt đầu từ Hoa kỳ, lan ra khắp Thế giới ở những nơi nào mang ảnh hưởng ưu thế của Đo-la, một số Quốc gia đặt lại vai trò thống trị của Đo-la.  Được sự cổ võ của TT.Sarkozy và một vài Quốc gia trong khối G20, Trung quốc lên tiếng mạnh nhất chống lại Đo-la.

Thực vậy, Trung quốc tích lũy khối Đo-la khổng lồ, có thể gọi là Sino-Dollar. Là chủ nợ bằng Đo-la đối với Hoa-kỳ, nhưng cứ nganh ngánh mất ăn mất ngủ khi mà đồng Đo-la chuyển biến lên xuống. Đồng tiền liền với khúc ruột mà ! CNN ngày 17.02.2010 chạy hàng chữ trên Đài “China losing appetite for US debt”. Các báo Le Monde ngày hôm sau 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32, cũng lên tiếng phụ họa về cảnh ăn không ngon, ngủ không yên này của Trung quốc. Trung quốc lên tiếng đòi hỏi lần lượt những vấn đề sau đây:

*        Kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh mà đồng Đô-la giữ ưu thế

*        Thay thế đồng Đo-la bằng một Đơn vị Tiền tệ chung nào đó trong khuôn khổ IMF

*        Hiện nay, Trung quốc dùng Thương mại để bành trướng đồng YUAN xâm lăng ra nước ngòai (Xin đọc bài Quan Điểm đăng trong số VietTUDAN 436/25.02.2010).

Những vấn đề Tranh chấp, thậm chí Chiến tranh, về Tiền tệ trên đây khiến chúng tôi thấy cần viết những quan niệm giáo khoa về Tiền tệ nói chung để chúng ta có cùng một tiếng nói khi nhận định về các Tranh chấp.

Chúng tôi xin trình bầy lần lượt những điểm:

=>     Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ
=>     Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá
=>     Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ
=>     Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh
=>     Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
 

Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ

Không ai nhai nuốt đồng 100 Đo-la để khỏi đói, mà dùng đồng 100 Đô mua đồ ăn để ăn thì bụng mới không đói được. Như vậy đồng tiền chỉ là thứ yếu, là phương tiện để mua hàng hóa phục vụ cho những nhu cầu của con người. Hàng hóa thực của sản xuất Kinh tế là chính yếu, còn đồng tiền là phụ. Chính vì vậy, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises).

Xem những câu định nghĩa như vậy, thì chính việc phát triển trao đổi hàng hóa (Thương mại) đòi hỏi việc phát minh ra Tiền tệ và sự Chuyển biến của Tiền tệ cho phù hợp với đà phát triển Thương mại nội địa hay quốc tế. Phát minh và Chuyển biến Tiền tệ qua những giai đọan như sau:

1)      Trao đổi hiện vật (Echange de Troc)

Trao đổi hiện vật, nghĩa là hàng hóa trao đổi lấy hàng hóa. Một người có dư  5 con gà, nhưng lại muốn có cái ghế để ngồi. Họ mang 5 con gà để đổi lấy cái ghế. Nhưng một người khác chỉ có dư 4 con gà, mà lại muốn cái ghế. Việc trao đổi gà lấy ghế trở thành bế tắc. Chẳng lẽ chặt cái ghế ra làm 5 phần và họ chỉ lấy 4 phần của cái ghế.

Cái bế tắc đầu tiên cho trao đổi hiện vật là việc phân chia hàng hóa thành những thành phần nhỏ. Chính cái bế tắc thương mại này đã đòi hỏi phải phát minh ra một phương tiện có thể phân chia ra càng nhỏ càng hay. “La DIVISIBILITE pousse le Commerce à inventer la Monnaie” (Tính cách khả phân đẩy Thương mại đến phát minh Tiền tệ).

2)      Tiền-Hàng hóa (Monnaie-Marchandise)

Ý tưởng đầu tiên là chọn một lọai hàng hóa mang tính cách khả phân tốt nhất. Một số bộ lạc Phi châu đã chọn Răng Sư tử làm đơn vị trao đổi các hàng hóa khác. Tại Á châu, dân chúng chọn Đấu Gạo làm Đơn Vị trị giá việc trao đổi hàng hóa. Xem việc chọn lựa này, vì tính cách khả phân, Tiền tệ còn mang tính Khan hiếm (Rareté) và tính Phổ quát ( Universalité). Thực vậy, Răng Sư Tử không phải là dễ kiếm, do đó Tiền mới qúy. Nếu chọn những viên sỏi làm Tiền, thì ai cũng kiếm được. Cũng vậy, chọn Đấu Gạo làm Tiền trung gian Thương mại, đó là nhấn mạnh tính Phổ quát (Universalité) của hàng hóa lựa chọn. Ở Á châu, Gạo là phổ quát nhất, ai cũng chấp nhận.

Tóm lại, một đồng Tiền phải mang tính Khả phân (Divisibilité) để dễ dàng làm trung gian trao đổi; một đồng Tiền phải mang tính Khan hiếm (Rareté) để tự nó mang một giá trị; một đồng tiền phải mang tính Phổ quát (Universalité) nghĩa là mọi người cùng công nhận.

3)      Tiền Kim lọai (Monnaie Métallique)

Hàng hóa mỗi ngày mỗi nhiều. Những tác nhân Kinh tế mỗi ngày mỗi giầu có thêm và người ta nghĩ đến Tiết kiệm, tích lũy hàng hóa cho tuổi già hay cho con cháu sau này. Tiền bạc trở thành một phương tiện tích lũy tài sản. Nếu chọn Tiền bạc bằng một hàng hóa nào đó, thì hàng hóa dễ trở thành hư hỏng, mất giá trị trong thời gian. Đây là tính cách thứ tư mà người ta đòi hỏi Tiền tệ phải có, đó là tính Kéo dài (Durabilité) trong thời gian. Không ai muốn tiết kiệm tiền bạc mà trong thời gian bị hư hỏng, mất giá. Tính cách Kéo dài (Durabilité) này đã thúc đẩy việc lựa chọn Kim lọai làm Tiền tệ. Đầu tiên là chọn Sắt, nhưng Sắt dễ bị rỉ. Người ta chọn Đồng khó bị rỉ hơn. Nhưng Đồng dễ kiếm, phạm vào tính Hiếm có (Rareté). Người ta chọn Bạc vừa khó bị hư hỏng vừa hiếm có hơn Đồng. Cuối cùng VÀNG được chọn lựa như Tiền tệ Kim lọai chót. Thực vậy, Tiền Vàng mang đủ 4 tính chất : Khả phân (Divisibilité) thành cân lượng thật nhỏ; Hiếm có (Rareté) nên tự nó có giá trị nội tại (Valeur en soi); Phổ quát (Universalité) vì cả Thế giới, ai cũng chấp nhận vàng; Kéo dài (Durabilité) vì vàng không bị rỉ.

Hiện nay, giữa các đồng Tiền, VÀNG vẫn là nơi ẩn náu (Refuge) khi các Tiền tệ bị giao động.

4)      Tiền Giấy

Những bế tắc Thương mại đã thúc đẩy phát minh Tiền tệ. Ở thời kỳ Thương mại hiện vật (Commerce de Troc), tính cách bất khả phân hàng hóa khiến người ta phát minh ra Tiền tệ trung gian mang tính khả phân tối đa.

Ở thời kỳ phát triển Thương mại Quốc tế từ Trung Cổ Aâu châu, một bế tắc nữa khiến người ta phải phát minh ra Tiền Giấy. Thực vậy, Trung Cổ Aâu châu là thời kỳ phân chia đất đai cho các Lãnh chúa. Mỗi vùng nhỏ có một Lâu đài Lãnh chúa quy tụ dân chúng chung quanh thành những Thành phố. Mỗi vùng tổ chức những Chợ Phiên của Thành phố để trao đổi hàng hóa, tỉ dụ Chợ Phiên Bruxelles, Chợ Phiên Milano, Chợ Phiên Munich... Thương gia từ Thành phố Milano muốn mua hàng hóa ở Chợ Phiên Bruxelles. Mua hàng, phải trả Tiền. Nhưng nếu Tiền tệ là Kim lọai, Vàng chẳng hạn, thì phải chở Vàng từ Milano đến Bruxelles để trả. Chở Vàng từ Milano đi Bruxelles, vượt qua rặng núi Alpes, thì sợ ăn cướp, không có an ninh giữa một thời giặc giã của các Lãnh Chúa.

Cái bế tắc của thời kỳ phát triển Thương mại quốc tế này là An ninh (Sécurité) cho Tiền bạc khi mang Tiền đi xa để mua hàng. Việc phát minh qua những giai đọan như sau:

=>     Chứng minh thư ký thác (Certificat de Dépôt)

Vàng không được chở đi, mà chỉ được ký thác tại một Nhà Ký Thác (Maison de Dépôt). Nhận và giữ vàng của Thương gia, Cơ sở Ký thác cho Thương gia một Tờ Giấy chứng minh số vàng ký thác. Thương gia từ Milano chỉ cần mang Tờ Giấy Chứng Minh Ký thác sang Bruxelles, đế trình Chứng Minh thư tại một Cơ sở Ký thác khác tại đây để đổi thành vàng mà mua hàng. Như vậy khi chỉ mang một Tờ Giấy Chứng Minh Thư Ký thác từ Milano sang Bruxelles, Thương gia có An ninh (Sécurité) hơn là chuyên chở qua rặng núi Alpes trùng điệp cả một lượng vàng nặng chĩu.

Chứng Minh Thư Ký Thác (Certificat de Dépôt) là hình thức đầu tiên của Tiền Giấy ngày nay. Những Cở Sở Ký Thác (Maison de Dépôt) trở thành những Ngân Hàng ngày nay.

Xin chú thích thêm rằng trên Tờ Chứng Minh Thư Ký thác, luôn luôn có hai Chữ Ký. Qúy vị lưu ý rằng trên các Tờ Giấy Bạc hiện nay vẫn giữ hai Chữ Ký. Các Giấy tờ Ngân Hàng đụng chạm đến Tiền bạc phải có hai Chữ Ký. Vấn đề đặt ra là làm thế nào Cơ Sở Ký Thác tại Bruxelles nhận ra Tờ Chứng Minh Thư Ký thác là thật hay giả.  Ở thời kỳ này, vấn đề kiểm chứng (Vérification) bằng truyền thông chưa có. Việc kiểm chứng ở thời kỳ này đặt trên cơ sở liên hệ Gia đình với những bí mật giao hẹn trước với nhau trong Gia đình. Đây là điểm cắt nghĩa tại sao ngành Ngân Hàng được bành trướng phần lớn giữa những người Do-thái. Thực vậy, những liên hệ Gia đình Do-thái ở khắp Aâu châu và họ phát triển những Cơ sở quản trị Tiền tệ.

=>     Tiền Giấy phát hành từ Ngân Hàng Trung Ương
         (Billet de Banque émis par la Banque Centrale)

Có hai biến cố dẫn đến việc phát hành Tiền Giấy duy nhất của Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia, Ngân Hàng Phát Hành (Banque Centrale, Banque Nationale, Banque d’Emission). Biến cố thứ nhất là các Lãnh chúa bị dẹp và thành lập những Quốc gia rộng lớn. Biến cố thứ hai là các Chứng Minh Ký Thác trở thành nhiều và phức tạp, hầu như chỉ dành cho những Thương gia chuyên biệt, trong khi dó đại da số Dân chúng cần phương tiện Tiền tệ mua bán.

Hai biến cố trên đây khiến các Quốc gia thành lập MỘT Ngân Hàng Trung ương để in ra MỘT lọai Chứng Minh Ký Thác, TIỀN GIẤY duy nhất cho Quốc gia, để dân chúng nhận biết và xử dụng làm Phương tiện trao đổi hàng hóa.

Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia được giao hai nhiệm vụ chính yếu:

*        Phát hành Tiền tệ (Emission des Billets de Banque)
*        Điều hành khối tiền cho vào phát triển Kinh tế/ Thương mại cho phù hợp (Gestion adéquate de la Masse monétaire mise en circulation dans  l’Economie et le Commerce).

Hai nhiệm vụ này được thực hiện theo đòi hỏi Kinh tế/Thương mại của Dân chúng có tính cách lâu dài, chứ không tùy thuộc những quyết định nhất thời mang mầu sác Chính trị của Nhà Nước cai trị. Ơû khía cạnh này, chúng ta có thể nói Quyền lực Tiền tệ mang tính cách độc lập với Quyền lực Chính trị (L’autorité monétaire est indépendante du pouvoir politique).

5)      Phát hành Tiền tệ Tư nhân (Emission monétaire privée)

Theo như định nghĩa lúc ban đầu về Tiền tệ, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises). Như vậy, tất cả mọi Phương tiện ngòai TIỀN MẶT (Tiền Giấy phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương) có thể được xử dụng để mua bán hàng hóa đều có thể được gọi là Tiền tệ.

Tính cách Phổ quát (Universalité) của tờ Giấy Bạc phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương làm mất An ninh (Sécurité). Thực vậy, cầm một xấp Giấy Bạc 100 Đô ra phất phơ khoe khoang trước các Cô trong Bar, có thể bị giết khi ra khỏi Bar như chơi. Cái lý do là thằng ăn cướp, cô bán Bar hay mình có thể xử dụng những tờ Giấy Bạc 100 Đô như nhau. Chúng ta mất An ninh khi cầm tờ Giấy Bạc. Vì vậy, mọi người muốn Ký thác những tờ Giấy Bạc ấy tại Ngân Hàng tư để chỉ lấy những Chứng Minh Thư Ký thác (giống như Ký thác Vàng trước đây) để có những Carnet de Chèques, Credit Cards, Promissory Notes, Stanby Letter of Credit, Bank Guarantees... mà mua bán hàng hóa.

Đây là việc phát hành Tiền tệ của lãnh vực Tư nhân. Việc phát hành này không những chỉ dựa trên TIỀN MẶT hiện có và ký thác, mà còn bao trùm cả tiền bạc khả thể (Monnaie virtuelle) ước mong nhận được trong lai.  Lãnh vực tương lai này đã tạo thành Kỹ Nghệ Tài chánh của giới nắm giữ Tiền tệ. Nhưng tương lai giống như bài hát “Que sera sera” bấp bênh. Giới phát hành Tiền tệ tương lai đã tạo nên những Khủng hỏang. 


Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá

Đại thể, Tiền tệ đã trải qua những Chế độ (Régimes Monétaires) quy định mà mục đích là làm cho những người giữ Tiền có một sự chắc chắn nào đó về tài sản tiết kiệm của mình. Làm thế nào mà những người tiết kiệm dưới hình thức Tiền tệ có thể thấy tài sản của mình ít bị mất?

Chúng tôi trình bầy ba chế độ sau đây cho đến nay:

1)      Chế độ BẢN VỊ VÀNG (Etalon-Or)

Mỗi quốc gia, hòan tòan độc lập, định giá Tiền tệ riêng của mình dựa trên Cân lượng Vàng tương đương cho Đơn vị Tiền. Tỉ dụ một Quan Thụy sĩ, CHF.1 = 0.020gr Or fin; một Đo-la Mỹ, USD.1 = 0.040gr Or fin.

Tất cả những Quốc gia định giá trị Tiền bạc của mình dựa trên cân lượng vàng thuộc về Chế độ Bản Vị Vàng.

Trong cùng một Chế độ như vậy, các nước mới có thể định Tỷ giá Tiền tệ giữa hai nước. Theo tỉ dụ trên đây, thì hối suất giữa đồng Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ sẽ là:

Tỷ giá Đo-la Mỹ/Quan Thụy sĩ:  

                     0.040 gr Or fin
USD.1.-   =     -------------------    =    CHF.2.-
                     0.020 gr Or fin                      

 
Trong Chế độ Bản Vị Vàng, Tỷ giá Tiền tệ mang tính cách khách quan và khó lòng thay đổi vì dựa trên cân lượng vàng không thay đổi trừ khi một quốc gia tự ý định lại cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Trong Chế độ này, người ta cấm luôn Thị trường Vàng song hành với Tiền tệ. Người giữ Tiền bạc chắc chắn về giá trị đổng tiền bởi lẽ có sự hóan chuyển (Convertibilité) Tiền thành Vàng.

2)      Chế độ BẢN VỊ-TIỀN TRUNG GIAN-VÀNG
         (Etalon-Devise-Or)

Chế độ trên đây kéo dài khá lâu. Nhưng Thế Chiến II đã buộc phải thay đổi Chế độ Tiền tệ. Thực vậy, Thế Chiến II đã làm các nước Aâu-châu mất hết Vàng để bảo đảm cho việc định giá trị Tiền bạc của mình. Chỉ có đồng Đo-la Mỹ và đồng Quan Thụy sĩ còn đủ vàng bảo chứng cho Tiền tệ của mình.

Những đồng Quan Pháp, Mark Đức, Lire Ý... hòan tòan mất giá.

Trước tình trạng này, Hoa kỳ kêu gọi Hội Nghị Bretton Woods về Tiền tệ năm 1944 để định lại giá trị về Tiền tệ. Hội Nghị quyết định ba điều:

1)      Chế độ Tiền tệ vẫn lấy cân lượng Vàng làm gốc   

2)      Lấy một đồng Tiền trung gian còn Vàng bảo đảm giá trị. Đồng Đo-la Mỹ được chọn

3)      Thiết lập Qũy Hỗ Trợ Tiền bạc, đó là IMF hiện nay

Theo quyết định của Hội Nghị, thì Tiền mỗi nước được định theo giá trị đồng Đo-la Mỹ để rồi qua đó mới có hóan chuyển sang cân lượng vàng.

Tỉ dụ một Quan Pháp được định giá trị là USD.20 cents; một Quan Thụy sĩ được định giá trị là USD.80 cents.

Từ đó, Tỷ giá giữa đồng Quan Pháp và đồng Quan Thụy sĩ được định như sau:

Tỷ giá Quan Thụy sĩ/ Quan Pháp:  

                    USD.80 cents
CHF.1.-   =     -----------------    =   FF.4.-
                    USD.20 cents

 
Như vậy, Tỷ giá Tiền tệ giữa các nước vẫn không bấp bênh vì định nghĩa đồng Đo-la vẫn dựa trên cân lượng vàng. Nhưng tính hóan chuyển gián tiếp sang vàng thay đổi nếu Hoa kỳ thay đổi định giá cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Thế giới bắt đầu cảm thấy một sự lệ thuộc vào quyết định giá trị của đồng Đo-la. Nếu Hoa kỳ tự ý tái quyết định cân lượng vàng cho đồng Đo-la, thì Thế giới phải tuân theo khi muốn hóan chuyển Tiền của mình thành vàng.

Chính vì cảm thấy sự lệ thuộc này, mà Staline đã gọi đây là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la), mà TT. De GAULLE đã phản đối nhân danh Euro-Dollar, mà các nước giữ Pétro-Dollar lên tiếng.

3)      Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG
         (Régime du Pouvoir d’Achat)

Mặc dầu vàng vẫn được dùng dưới hình thức Lingot để bảo đảm Tiền tệ, nhưng Dân chúng xa vời với vấn đề định giá tương đương vàng cho Đơn vị Tiền tệ của mỗi nước. Điều thiết thân hơn hết của Dân chúng là tương đương hàng hóa mà họ có thể mua được với một Đơn vị Tiền tệ mà họ đang giữ.

Trên thực tế, Dân chúng chấp nhận một Chế độ Tiền tệ được dịnh nghĩa dựa trên Khả năng hóan chuyển sang hàng hóa mà họ xử dụng hàng ngay.

Tỉ dụ tại Mỹ, USD.1.- có thể mua được 600gr khoai tây và tại Thụy sĩ CHF.1.- có thể mua được 400gr khoai tây.

Tỷ giá giữa Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ:  

                    600gr khoai tây
USD.1.-  =      --------------------   =   CHF.1.50
                     400gr khoai tây

 
Đây là Tỷ giá thực tiễn nhất mà người Dân chấp nhận cho đời sống của họ. Nhưng Tỷ giá này lại không mang tính cách cố định như dựa trên so sánh cân lượng vàng hàm chứa trong định nghĩa Tiền tệ của mỗi nước. Tỷ giá dựa trên khả năng đổi lấy hàng hóa thay đổi không lường vì tình trạng sản xuất Kinh tế mỗi nước có những thay đổi theo mùa, theo năm. Khả năng phát triển Kinh tế đều đặn của một nước là nền tảng bảo đảm cho giá trị vững bền của đồng Tiền của nước đó.

Với Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng (Régime du Pouvoir d’Achat) tình trạng Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay đã làm cho các nước lo lắng vì giữ quá nhiều Dự trữ Tiền tệ bằng Đo-la. Trung quốc giữ khối Đo-la khổng lồ, ăn không ngon, ngủ không yên là phải.

Trên đây, chúng tôi lấy tỉ dụ một mặt hàng là khoai tây. Trong tính tóan tổng quát cho Quốc gia, người ta kể mọi mặt hàng tiêu thụ tính thành một Chỉ số Tổng quát được tóm gọn trong Công thức sau đây của FISHER:

    M.V
  -----------    =    P
      T

M : Khối Tiền tệ cho vào nền Kinh tế; V: Tốc độ lưu hành Tiền tệ; T: Sản xuất/ Thương mại hàng hóa trong một thời kỳ nhất định; P: Mức độ Tổng quát những Giá cả (Niveau Général des Prix). Chính dựa trên thay đổi của P mà người ta nói đến Lạm phát mà lý do có thể là tăng Khối Tiền lưu hành hay là giảm Khả năng Sản xuất/Thương mại mà những Cơ quan trách nhiệm điều hành Khối Tiền chưa có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.

Cũng ở trong Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng này mà một số Quốc gia, nhất là những Nhà Nước độc tài, khi gặp thiếu hụt Ngân sách, dễ dàng in Tiền mới cho vào Khối Tiền M để làm Lạm phát hòan tòan có tính cách Tiền tệ. Đây là một tội ác đối với Dân chúng đang tích giữ Tiền bạc có khả năng mua hàng thực sự. Đồng Tiền mới in ra chưa được chuyển qua hệ thống sản xuất Kinh tế để có tương đương hàng hóa. Nhà Nước độc tài tung đồng Tiền mới ra để tiêu dùng lẫn lộn với đồng Tiền cũ đã có khả năng tương đương hàng hóa. Đây là việc làm mất giá cho đồng Tiền cũ.

Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).

 
Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ

Chúng tôi muốn phân biệt bốn Thị trường sau đây rất gần nhau, cùng khởi nguồn từ đồng Tiền: Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh (Vốn), Thị trường Chứng khóan, Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng. Mỗi Thị trường nhằm thu Lợi nhuận từ những phương diện khác nhau.

=>     Thị trường Tiền tệ

Nói đến Thị trường là nói đến hai phía Cung và Cầu. Thị trường Tiền tệ có phía Cung một đồng Tiền để bán và phía Cầu cùng đồng Tiền ấy để mua. Nếu phía Cung đồng Tiền nhiều hơn, thì đồng Tiền ấy giảm giá trị, nghĩa là dùng một đồng Tiền khác để mua, thì mua được lượng nhiều hơn (Valeur nominale). Cũng vậy, nếu trên Thị trường có nhiều người Cầu, thì đồng Tiền trở thành mắc giá và khi dùng đồng Tiền khác để mua, thì lượng mua được sẽ ít hơn. Đây là vấn đề chênh lệc Tỷ giá do Cung và Cầu.

Nếu Thị trường hòan tòan tự do thay đổi theo Cung, Cầu, thì lượng Tiền trao đổi sẽ làm cân bằng Tỷ giá. Nhưng nếu Tỷ giá có sự can thiệp cứng nhắc của một quyền lực ngọai tại, thì Thị trường Tiền tệ sẽ có hai giá: Giá chính thức bó buộc và Giá chợ đen lén lút. Đây là trường hợp Thị trường Tiền tệ tại Trung quốc và tại Việt Nam giữa đồng Đo-la và đồng Tiền của mỗi Quốc gia.

=>     Thị trường Tài chánh (Vốn)

Nếu Thị trường Tiền tệ nhằm vào chênh lệc Tỷ giá, thì Thị trường Tài chánh nhằm vào Lãi suất. Lãi suất, cái Giá của Thị trường, tăng giảm là do Cung và Cầu Vốn. Phía Cầu Vốn là những Công ty làm việc trong lãnh vực Kinh tế thực. Phía Cung Vốn là những Ngân Hàng, những Tập thể Tài chánh. Các Công ty tìm vay Vốn với Giá rẻ, nghĩa là Lãi suất thấp. Trong khi ấy, những Ngân Hàng, những Tập đòan Tài chánh tìm nơi cho thuê Vốn với Lãi suất cao.

Trong thời Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, các Ngân Hàng Trung ương hạ Lãi suất chỉ đạo xuống thấp, nghĩa là làm cho Giá thuê vốn trở thành rẻ để những Công ty có thể thuê Vốn dễ dàng mà họat động khôi phục nền Kinh tế thực.

=>     Thị trường Chứng khóan

Thị trường Chứng khóan cũng là Thị trường Tài chánh. Thị trường Tài chánh chính hiệu trên đây là sự va chạm giữa phía Công ty Cầu Vốn và phía có Tiền Cung Vốn. Nguồn lợi là Lãi suất.

Thị trường Chứng Khóan cũng là Thị trường Tài chánh, nhưng là nơi gặp gỡ các Thương gia mua bán những Giá trị các Công ty ghi tên trên Thị trường. Nguồn thu lợi chính yếu là chênh lệch lên xuống Giá trị các Công ty ghi trên Thị trường. Những người tham dự vào Thị trường Chứng khóan có khuynh hướng tác động đầu cơ để làm cho Giá cả Thị trường lên xuống mà lấy lợi.

Thị trường này cho những lợi nhuận cao và mau mắn. Đây là Thị trường vĩ đại quay vòng quanh Thế giới 24/24 giờ. Khủng hỏang khởi nguồn từ Subprime Mortgage Credits làm cho Thị trường Chứng khóan xẹp xuống đen tối, nhưng rồi trong một thời gian ngắn các Thị trường Chứng khóan sôi động lại vì số vốn tham dự vào Thị trường này khổng lồ để các Ngân Hàng và Tập đòan Tài chánh thi nhau thu lợi nhuận từ chênh lệc Giá trị các Công ty niêm yết.

=>     Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng.

Có lẽ đây là Thị trường không được công khai phổ biến cho lắm, nhưng vẫn hiện diện như trợ lực cho Thị trường Tài chánh. Thực vậy, để có thể vay được Vốn, phải có thế chấp bảo đảm cho việc hòan vốn. Thế chấp thường được đòi hỏi là những Bank Guarantees, Standby Letter of Credit phát hành do những Ngân Hàng đáng tin cậy. Việc xếp hạng tin cậy giữa các Ngân Hàng khác nhau. Tỉ dụ nếu Bảo Lãnh của Bank of America có giá trị tin tưởng 95%, thì Bảo Lãnh phát hành bởi Banco Da Brazil chỉ mang tin tưởng được 60% chẳng hạn. Sự chênh lệc tin tưởng này lại làm phát sinh ra những Phát hành Tái Bảo Lãnh.

Những Công ty vay Vốn vào Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng này để mua bán những Thế chấp làm Collateral mà vay Vốn.
 

Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh

Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.

Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh ?

Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.

Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giàm giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.

Trung quốc, do xuất cảng, thu vào nhiều Đo-la tất nhiên đồng Yuan phải trở thành mắc hơn. Nhưng Nhà Nước độc tài Trung Cộng đã cố tình giữ giá đồng Yuan hạ để nâng dỡ cho xuất cảng mà thôi.
 

Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền

Vớiõ 4 Thị trường liên hệ đến Tiền bạc như chúng tôi đã trình bầy trên đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh có nhiều phương tiện để làm ăn thu Lợi nhuận mà chưa chắc đã cần phải qua lãnh vực họat động Kinh tế thực.

Giới Ngân Hàng và Tài chánh nắm giữ khối hiện Kim khổng lồ, đồng thời họ lại có khả năng phát hình tư nhân Tín dụng, tương lai Kim (Monnaie virtuelle) để đầu tư kiếm lời. Người ta nói đến sự tách rời ra của giới Ngân Hàng và Tài chánh để lập một KỸ NGHỆ TÀI CHÁNH riêng với những Sản phẩm Tài chánh đặc biệt để làm sinh lời. Sản phẩm Subprime Mortgage Credit là một trong những tỉ dụ.

Khi làm việc về Tài chánh, chúng tôi đã gặp những Khách hàng đặt câu hỏi: khi bỏ Tiền vào, Ngân Hàng chỉ cho lợi nhuận hàng năm tối đa 5%, tại sao Ngân Hàng xử dụng Tiền của chúng tôi để làm ăn thu và lợi nhuận 50% chẳng hạn ?

Lợi nhuận cao ! HYI :High Yield Investment ! Tiền đẻ ra Tiền !

Năm 2004, chúng tôi đã viết một tỉ dụ đơn giản bằng tiếng Anh để cắt nghĩa Lợi nhuận cao. Chúng tôi xin tóm tắt bằng tiếng Việt tỉ dụ ấy: TỈ DỤ MỘT ÔNG CHÀ GIÀ CHO VAY KIẾM LỜI Ở GÓC CHỢ BẾN THÀNH.

Oâng Chà Già có 100 đồng làm vốn để cho vay kiếm lời. Oâng ra đứng ở góc Chơ Bến Thành. Khách hàng xin vay của Oâng là những Bà buôn thúng bán mẹt, chồng chết vì chiến tranh, nên mua buôn bán lẻ rau cỏ tại mấy góc phố. Mỗi buổi sáng Oâng cho một Bà vay 100 đồng với điều kiện là chiều tối trả lại vốn và thêm Tiền lời là 0.50 xu. Đối với các Bà cần vốn mua hàng buôn bán độ nhật, thì giá thuê vốn 0.50 là quá rẻ.

Oâng Chà Già làm việc 5 ngày một Tuần. Như vậy mỗi Tuần Oâng thu vào được 2.5 đồng. Mỗi Tháng 4 Tuần, Oâng thu vào được 10 đồng Tiền lời. Oâng làm việc một Năm 10 tháng, còn để 2 tháng đi nghỉ hè. Như vậy một năm làm việc 10 tháng, ông thu Lợi nhuận vào là 100 đồng.

   0.50 mỗi ngày
x 5 ngày mỗi tuần
x 4 tuần mỗi tháng 
x 10 tháng mỗi năm
= 100 đồng Lợi nhuận trong một năm, nghĩa là Lợi nhuận 100% hàng năm cho số vốn đầu tư.

Đó là Lợi nhuận cao có thể thực hiện được. Đây không phài là điều mơ mộng hão huyền mà là sự tính tóan cụ thể mà ai cũng thấy. Nếu có lúc nào đó, chúng ta khẳng định có thể kiếm Lợi nhuận đầu tư là 100%, nhiều người cho rằng chúng ta nói khùng điên. Nhưng thực tế có thể làm được như tỉ dụ Oâng Chà Già.

Không có gì là bí ẩn để cắt nghĩa Lợi Nhuận cao. Lợi nhuận là việc thu vào cái kết quả sau một CHU TRÌNH KHAI THÁC (Cycle d’Exploitation). Một Chu Trình Khai Thác được định nghĩa là từ khi mua sắm nguyên vật liệu, rồi biến chế thành sản phẩm và chấm dứt ở việc bán sản phẩm để thu vào được số thặng dư đối với chi tiêu. Chu trình Khai Thác mang thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo ngành nghiệp và sản phẩm. Tỉ dụ Chu trình Khai Thác nông nghiệp như trồng Cà Chua có thể kéo dài 2 tháng, từ khi mua cây con cho đến khi cây lớn ra trái và đem trái đi bán.

Nguyên tắc thu vào lợi nhuận cao và mau là phải rút ngắn CHU TRÌNH KHAI THÁC, hay nói cách khác là TĂNG TỐC ĐỘ QUAY của Chu Trình (Accélération de la Vitesse de Rotation). Chúng ta càng quay mau, thì lợi nhuận càng vào nhiều

Đối với Chu Trình Mua/Bán ở các Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh và Chứng khóan, các Ngân Hàng/Tập đòan Tài Chánh có thể rút rất ngắn lại một Chu Trình thực hiện Thương vụ. Việc thu ngắn Chu trình Thương vụ Tài chánh mỗi ngày mỗi dễ dàng do phương tiện truyền thông điện tử mau chóng. Chỉ trong một tiếng đồng hồ, những Traders có thể hòan thành một Chu trình Thương vụ Tài chánh để thu vào Lợi nhuận.

Nếu Oâng Chà Già trên đây muốn tăng vận tốc Chu trình cho vay của Oâng, Oâng có thể cho vay một ngày hai lần cho hai Bà buôn thúng bán mẹ. Như vậy Lợi nhuận hàng năm của Oâng sẽ tăng gấp đôi mặc dầu Oâng chỉ thu vào có 0.50 xu mỗi lần cho vay.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.02.2010



VIỆT NAM PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC

VN phá giá đồng bạc vào ngày 28 Tết
Thứ Tư, 10 tháng 2 2010


Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày 11/2/2010 là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ.

Hôm thứ Tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam loan báo định giá lại đồng tiền lần thứ nhì kể từ tháng 11, giảm giá tiền đồng thêm hơn 3% nhằm giữ cân đối trên thị trường ngoại hối và kiểm soát thâm hụt thương mại.

Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày thứ Năm, 11 tháng 2, tức 28 Tết, sẽ là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ, tức là giảm giá 3,25% theo cách tính của IMF. Trước đó, 1 đôla Mỹ chỉ đổi được 17.941 đồng.

Thông báo của ngân hàng này cho biết mục đích của việc điều chỉnh tỷ giá là nhằm “cân đối hài hoà cung - cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.”

Ngoài ra, cũng kể từ ngày 11 tháng 2, lãi suất tiền gửi tối đa bằng đôla Mỹ của tổ chức kinh tế, ngoại trừ tổ chức tín dụng, tại tổ chức tín dụng sẽ có mức tối đa là 1% một năm.

Theo tin Reuters, các biện pháp này nhằm đưa thêm đôla ra ngoài thị trường.

Ðồng bạc Việt Nam đã chịu áp lực từ nhiều tháng qua, một phần là do thiếu đôla, một phần vì sự thiếu tin tưởng vào đồng bạc Việt Nam, do thâm hụt thương mại và có thể lạm phát. Việt Nam ước lượng thâm hụt thương mại trong tháng 1 là 1,3 tỉ đôla và lạm phát là 7,62%.

Việc điều chỉnh tỷ giá xảy ra vào giáp Tết, khi có nhiều nhu cầu về tiền mặt và thanh khoản ngân hàng.

Hôm thứ Hai, ngân hàng HSBC báo cáo áp lực đối với tiền đồng sẽ kéo dài nếu không có hành động.

Nguồn: Wall Street Journal, Reuters, http://www.sbv. gov.vn/vn/ home/tintuc. jsp

 









PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC VIỆT NAM

Phá giá đồng nội tệ không cải thiện nền kinh tế CS Việt Nam
John Ruwitch : Nhà Quê dịch



HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.

Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.

Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.

Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.

“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.

“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”

Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả.

Người dân có thói quen cất giữ Mỹ kim, tuy nhiên các giới chức chính phủ đã gia tăng mức báo động về việc cất giấu ngoại tệ trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã giảm thiểu lượng cung ứng ngoại tệ cho nền kinh tế.

Lạm phát gia tăng khi nền kinh tế phục hồi và thâm thủng mậu dịch càng nới rộng sẽ có thể là lý do khiến người dân cất giữ Mỹ kim, giới phân tích nhận xét. Một khi các lo lắng về kinh tế vĩ mô vẫn tồn tại, đồng nội tệ sẽ tiếp tục bị áp lực mất giá, các kinh tế gia nhận định.

DBS có trụ sở tại Singapore nhận xét vào ngày thứ Năm (February 11) rằng việc phá giá đồng nội tệ được mong đợi sẽ xảy ra – và sau đó sẽ xảy ra liên tục.

“Về căn bản, việc phá giá đồng nội tệ không nên xem là một ngạc nhiên, nhiều cuộc phá giá có nhiều khả năng diễn ra trong năm nay.” DBS nhận xét

Lạm phát, nổi sợ còn nguyên sơ đối với người dân vốn đã trải qua lạm phát phi mã vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước, đang gia tăng trở lại.

Sau khi có khuynh hướng thuyên giảm trong năm 2009 với lúc thấp nhất chỉ 2% vào tháng 8, lạm phát tăng mạnh lên 7,6% vào tháng giêng để vượt qua chỉ tiêu của chính phủ đề ra là 7%.

Chiến lược gia tiền tệ của ngân hàng HSBC Daniel Hui nhận định rằng lạm phát sẽ lên đến hai chỉ số vào quí 2 của năm nay.

Thâm thủng mậu dịch đã bùng phát trong những năm gần đây từ 5 tỉ Mỹ kim vào năm 2006 lên đến 18 tỉ Mỹ kim vào năm 2008. Suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến thâm thủng mậu dịch giảm xuống 12 tỉ Mỹ kim vào năm 2009, tuy nhiên con số thâm thủng vào tháng Giêng năm nay đã vượt quá 1 tỉ Mỹ kim.

Ngân hàng trung ương bảo rằng hy vọng những biện pháp gần đây của ngân hàng trung ương sẽ cân bằng cán cân cung cầu tiền tệ và sẽ ổn định nền kinh tế.

Phản ứng của thị trường

Việc phá giá đẩy biên độ giao dịch lên đến 19.100 đồng đổi một Mỹ kim, một sự khác biệt không đáng kể so với hối suất trên thị trường tự do.

Hối suất trên thị trường tự do vẫn vượt khỏi biên độ giao dịch vào ngay thứ Năm (February 11), điều này phản ánh nhiều dự đoán là đồng bạc Việt Nam sẽ tiếp tục mất giá.

Trên thực tế, chỉ tiêu của DBS vào cuối năm 2010 là 19.640 đồng đổi một Mỹ kim, dự đoán đồng nội tệ mất giá thêm 2,8%. Một chuyên gia ngoại hối kỳ cựu tại một ngân hàng Việt Nam nói rằng ông ta dự đoán hối suất sẽ lên đến 20.000 đồng vào cuối năm 2010, giảm 4,5%.

Tại các thị trường giao dịch ngoài Việt Nam, đồng bạc Việt Nam được giao dịch 20.194/21.194 vào ngày 11 tháng 2, điều này nói rằng đồng bạc sẽ mất giá hơn 5%.

Việc áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng là cố gắng sau cùng của ngân hàng trung ương nhằm kích thích đồng Mỹ kim chảy vào dòng luân lưu của hệ thống ngân hàng. Các viên chức chính phủ phàn nàn việc cất giữ ngoại tệ trong dân chúng trong năm vừa qua và ra lệnh các công ty nhà nước đồng loạt bán Mỹ kim (nhằm dẫn đến hối suất đồng bạc giảm xuống khiến dân chúng gởi tiền vào ngân hàng nhiều hơn – NQ).

Vào đầu tháng hai, ngân hàng trung ương cho biết rằng nhiều công ty quốc doanh lớn đã bán ra hơn 450 triệu Mỹ kim cho các ngân hàng kể từ tháng 12 nhằm giảm thiểu sự thiếu hụt đồng Mỹ kim.

Số ngoại tệ bán ra chiếm chưa đến một phần tư trong số 1,9 tỉ Mỹ kim mà 7 công ty quốc doanh, vốn có lệnh phải bán Mỹ kim, đang gởi tại các ngân hàng vào cuối tháng 11, theo báo VNExpress, trích dẫn dữ liệu của ngân hàng trung ương.

Người Việt Nam vốn có thói quen cất giữ đồng Mỹ kim và vàng những khi nền kinh tế bất ổn và lạm phát phi mã trong quá khứ vẫn còn hằn sâu trong ký ức của người dân.

Ông Hui thuộc ngân hàng HSBC và kinh tế gia Wellian Wiranto nhận định trong bản báo cáo gởi cho khách hàng rằng lãi suất cần gia tăng nhằm giảm thiểu sự chờ đợi lạm phát gia tăng và mong muốn cất giữ Mỹ kim, nếu không sự mong muốn sẽ không giảm đi.

“Trên thực tế, rủi ro của việc tăng lãi suất cuối cùng sẽ làm gia tăng sự mong đợi về việc mất giá của đồng nội tệ trong tương lai, và kích thích mạnh lượng cầu đối với đồng Mỹ kim,” hai vị nhận xét.

Ngân hàng trung ương tăng lãi suất cơ bản 100 điểm (1% - NQ) vào tháng 12 lên 8% và chính phủ khuyến cáo rằng chính sách tiền tệ sẽ dần được siết chặt trong năm nay (tăng lãi suất – NQ).

Thống đốc ngân hàng Nguyễn Văn Giàu phát biểu với Reuters rằng lãi suất sẽ không gia tăng trước Tết Nguyên đán. Tuy nhiên các kinh tế gia và chuyên viên ngân hàng dự đoán rằng lãi suất sẽ gia tăng vào tháng 3 một khi cao điểm trong việc thanh khoản đồng nội tệ mang tính thời vụ gây ra bởi dịp Tết thuyên giảm.

Ngân hàng HSBC dự đoán rằng lãi suất căn bản sẽ gia tăng lên đến 4% trong năm nay đến 12%.

Việc phá giá của ngân hàng trung ương, được thông báo vào ngày thứ Tư (February 10), gây bất ngờ đối với thị trường.

Các nhà buôn bán ngoại tệ đã bán ra Mỹ kim vào những ngày gần Tết nhằm tận dụng việc lên giá mang tính ngắn hạn của tỉ lệ hối suất cho đồng nội tệ, được đẩy lên cao do nhu cầu sử dụng đồng nội tệ trong dịp Tết bắt đầu vào cuối tuần này.

Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam Cộng sản là bí mật quốc gia, tuy vậy dữ liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết rằng lượng dự trữ ngoại tệ giảm 21% xuống 18,8 tỉ Mỹ kim từ cuối năm 2008 đến cuối tháng 8 năm 2009.

Các quy định của Ngân hàng trung ương chỉ cho phép đồng nội tệ được giao dịch trong biên độ 3% đối với đồng Mỹ kim – tăng hoặc giảm.

Lạm phát tăng từ đầu năm

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của TP Hồ Chí Minh trong tháng Hai lên cao nhất trong vòng 17 tháng qua, gây quan ngại về lạm phát.

Theo Cục Thống kê TPHCM, CPI trong tháng Hai này 2010 tăng tới 1,68% so với tháng trước và tính chung hai tháng đầu năm, CPI của thành phố tăng gần 3%.

Giá của 10/11 nhóm mặt hàng tăng mạnh, chỉ trừ bưu chính viễn thông là lại giảm 1,3% do các nhà cung cấp đua nhau khuyến mãi trong dịp Tết.

Các mặt hàng dịch vụ ăn uống, giải trí - du lịch, lương thực thực phẩm đều tăng.

Hai tháng đầu 2010, CPI của TP HCM tăng 2,97%, cao hơn nhiều cùng kỳ năm ngoái và gây lo ngại về tình trạng lạm phát có thể gia tăng tại đô thị lớn nhất Việt Nam.

Cũng theo Cục Thống kê thành phố, trong tháng 01/2009, CPI tại đây chỉ tăng 0,04% và tháng 02/2009 tăng 1,31%.

Tuy nhiên, đầu năm 2009 tình trạng lạm phát đã khiến chính phủ phải chỉ đạo kiềm chế sớm. Sáu tháng đầu năm ngoái, CPI tăng tới 10,27%.

Chưa thể dự báo tỷ lệ lạm phát sẽ là bao nhiêu trong năm nay, nhưng các kinh tế gia đã bắt đầu lên tiếng cảnh báo rằng nó có thể cao hơn mục tiêu 7% trong cả năm.

Giá xăng và giá điện đã được nâng lên và trước đó Nhà nước đã ph̉ai điều chỉnh tỷ giá hối đoái hai lần trong ba tháng.




                                            NGĂN CHẶN TỨC KHẮC
                              TIẾN TRÌNH CSVN GIAO NƯỚC CHO TẦU


                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                       UNICODE: http://viettudan.net
                                              Geneva, 18.02.2009

 

Như trong Bài Mở Đầu cho CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ chúng tôi đã cắt nghĩa, điều kiện để có thể bắt đầu phát triển Kinh tế Đất Nước là phải dứt bỏ CƠ CHẾ CSVN hiện hành, một cơ chế cấu kết giữa dộc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế.

Khi đã dứt bỏ được cái CƠ CHẾ hiện hành để có thể bắt đầu phát triển, chúng tôi muốn khai triển những điều kiện để việc phát triển Kinh tế được bền vững và lâu dài: Dân chủ hóa Kinh tế trong một Môi trường Chính trị—Luật pháp Xã hội phù hợp (Environnement Politico—Juridique Social adéquat).

Một nền Kinh tế phát triển bền vững và lâu dài là nền Kinh tế cho một Quốc gia Việt Nam Độc lập. Nước Việt Nam đang đi đến mất Chủ quyền, thậm chí đảng CSVN, vì tham lam tiền bạc cho mỗi cá nhân đảng viên, đang đưa Đất Nước đến chỗ bị Trung quốc xâm lăng chính Lãnh Thổ và Lãnh hải. Vì vậy, nếu dứt bỏ được CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có điều kiện bắt đầu phát triển, mà Đất Nước chúng ta lại bị xâm lăng bởi Trung quốc, thì không thể nào có thể nói là phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho Quê Hương mình được. Phải ngăn chặn tức khắc Tiến trình CSVN đang giao Nước cho Tầu xâm lăng vậy.   


Từ tháng 9.2009, khi thấy một đàng chủ trương của Trung quốc là dùng tiền bạc để xâm lăng không những tại Việt Nam, mà còn các nước nghèo khác tại Phi Châu, Á Châu, Trung Á, một đàng Nhà Nước Việt Nam kiệt quệ về Ngân Sách nên đói ăn vụng túng làm liều đưa lãnh thổ Việt Nam dần dần dâng hiến cho xâm lăng Trung quốc, chúng tôi đã viết một bài tương quan Chủ Nợ—Con Nợ để cho thấy CSVN mất chủ quyền, không dám hé họng khi ngư dân VN bị Tầu hà hiếp ở Biển Đông chính trong vùng biển thuộc Việt Nam. Tệ hại hơn nữa, khi nhận nợ của Trung quốc đến ngập họng rồi và khi không trả nợ được, thì Trung quốc đòi bắt cả vợ và con gái, thì CSVN cũng phải giao cho Chệt dầy vò.

Thấy tình trạng mỗi ngày mỗi lệ thuộc Trung Cộng về tiền bạc như vậy, chúng tôi lại viết một bài thứ hai gần đây cho thấy rằng trong tương lai Tầu sẽ viện cớ Kinh tế trước Thế Giới để ngang nhiên mang quân đội vào Việt Nam để bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ và những người Tầu đã lập làng mạc và những Khu Thương Mại và Công Nghệ trên lãnh thổ Việt Nam.

Những phân tích và những lo ngại của chúng tôi trên đây không phải là không có bằng chứng. Thực vậy, tại Quốc nội, hai Tướng CS ĐỒNG SỸ NGUYÊN và NGUYỄN TRỌNG VĨNH đã viết rõ về nguy hại mất nước bởi lẽ CSVN đã cho Trung Quốc thuê dài hạn những khu đất đầu nguồn để Tầu mang người sang canh tác và sinh sống. Tại Hải ngọai, Oâng BÙI TÍN, một người cũng đã từ đảng CSVN, đã phân tích thêm tình trạng nguy hiểm mất nước này.

Nếu trước đây, vì quyền hành mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng viết Công Hàm nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, Hỏang Sa và Trường Sa, thì ngày nay, cả đảng CSVN chỉ vì đồng tiền đút túi làm của riêng đã mang tài sản VN đi bán, mang Lãnh thổ VN giao cho Tầu, mời gọi tư bản nước ngòai vào VN để khai thác nhân lực, xuất cảng đàn bà con gái đi phục vụ tình dục. Tất cả chì vi tiền bạc muốn vơ vét đầy túi riêng.

Chúng tôi cho đăng lại những bài dưới đây để cho thấy CSVN đang thực hiện một tiến trình giao nước cho Tầu chỉ vì tiền bạc :

=> THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC
     (Nguyễn Phúc Liên)

=> BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN
     (Nguyễn Phúc Liên)

=> CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI
     (Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh)

=> HAI TƯỚNG CS CHỈ RA NGUY HIỂM
     (Bùi Tín)


THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM
TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.09.2009

Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?

Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.

Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại  Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ  giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.


Việt Nam con nợ của Tầu

Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.

CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.

Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.


Tầu là chủ nợ cho Việt Nam

Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.

Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:

=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.

=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.

=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.


Tương quan Chủ nợ—Con nợ

Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?

                                                  Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                  Geneva, 24.09.2009

 

BIỆN MINH CỦA TQ
KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 04.02.2010

Trong VietTUDAN số 432 tuần trước, chúng tôi đã viết hai bài có sự liên hệ với nhau. Với bài phân tích về những cuộc nổi dậy trước đây ở Dông Aâu, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.

Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc.  Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh  cho thấy điều đó. Erich Knonecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.

Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.

Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.


1) Đòi NỢ Việt Nam

Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.

Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.


2) Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam

Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam.  Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.


3) Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam

Trong tuần trước, chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.

Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.

                                                     Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                     Geneva, 04.02.2010



CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI
CSVN cho người ngoại quốc thuê rừng là tự sát và làm hại cho đất nước.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
 

Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Theo chỉ  thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ  trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?


Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước.
 
Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá  hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có  biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.

Chúng tôi  đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị  đầu:

1.  Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.

2.  Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán  rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.

Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái  định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?

Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.

                                                               Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
                                                               và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

 

HAI TƯỚNG CS CHỈ RA HIỂM HỌA
Bùi Tín 
Paris  đêm 30 Tết Canh Dần   (13-2-2010)  
 

Ngày cuối năm âm lịch, mở mạng Bauxite-info, bên những bông hoa mai vàng và lời chúc Tết đẹp là một bài viết rất "nóng" của 2  tướng ở trong nước.

Đó là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.

Bài viết được mạng Bauxite.info giới thiệu một cách trang trọng.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là phó tổng tham mưu trưởng, từ 1967 đến 1975 là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn dọc đường "mòn" Hồ Chí Minh, là một binh đoàn tương đương 5 sư đoàn, ngang với 2 quân đoàn, có quân số 42 ngàn quân, gồm vận tải cơ giới, công binh, phòng không, thông tin, ra-đa, bộ binh, cao xạ, kho tàng, ống dẫn dầu, giao liên, thanh niên xung phong ... rải dài hơn 1 ngàn kilômét. Sau chiến tranh ông là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giao thông vận tải, là uỷ viên bộ chính trị trung ương đảng trước khi về hưu năm 1988.

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vốn là uỷ viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Thanh hoá, là đại sứ VN tại Trung quốc suốt 15 năm, từ 1974 đến 1989 (trong cuộc chiến Trung-Việt) về hưu năm 1990.

Đặc điểm của 2 tướng này là uy tín lớn trong Quân đội nhân dân, có ảnh hưởng sâu rộng trong cựu chiến binh, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 200 ngàn binh sỹ từng dưới quyền, vẫn còn quan hệ với nhau trong "hội " cựu binh Trường Sơn; tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nổi tiếng về tính bộc trực ngay thẳng, hiện là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt nam, có hàng triệu hội viên rải khắp nước.

Cần nói thêm 2 tướng này năm 2009 vừa qua đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối, ngăn chặn chủ trương khai thác bôxít ở Tây Nguyên của bộ chính trị hiện tại, cũng cùng lên tiếng qua mạng Bauxite.info do nhà văn hoá Nguyễn Huệ Chi chủ trương, nay lại cùng chung bài viết đề ngày 22-1-2010, nhưng chỉ xuất hiện sáng ngày 12-2-2010 trên mạng Bauxite đang bị đánh phá dữ dội. Sự chậm trễ 20 ngày cho thấy bài báo đã bị các báo lớn nhất từ chối, tẩy chay do tệ độc quyền báo chí chà đạp Hiến pháp của bộ chính trị đương quyền.

Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, từ năm 2004, cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng bộ chính trị do ông Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.

Trong bài viết mới này, 2 ông tướng đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết với 10 doanh nghiệp Trung quốc đóng tại Trung quốc, Hồng kông và Đài Loan, những thoả thuận cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài.

Danh sách các tỉnh đó là : Lạng sơn, Quảng ninh, Cao bằng, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng nam, Bình định, Kon tum và Bình dương.

Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn,   các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) .

Các thoả thuận đều có giá trị trong thời gian 50 năm, và sẽ kéo dài hơn sau đó. 
Hai viên tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, 94 tuổi.

Hai viên tướng báo động : họ sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, mội trường sẽ bị huỷ hoại.

Hai viên tướng kết luận : đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước. 

2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đề nghị với đảng, nhà nước và nhân dân :  - với những thỏa thuận đã lỡ (!) ký rồi, hãy thuyết phục các công ty nước ngoài khoán cho đồng bào ta ở tại chỗ khai thác đất rừng, đề phòng họ sẽ đưa lao động dân nước họ vào lập thành những làng Trung hoa, làng Hồng kông, làng Đại hàn trên đất nước ta .
-  với  những thoả thuận đang thương lượng thì đình ngay lại !

Cuối cùng 2 ông yêu cầu đảng và nhà nước thực hiện ngay và rộng khắp việc giao khoán đất rừng cho từng hộ đồng bào ta là dân địa phương tại chỗ.

Tiết lộ và ý kiến của 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là hết sức khẩn cấp và nghiêm trọng.

Vì ông Đồng Sỹ Nguyên khi còn là Phó thủ tướng đã chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình 327 của chính phủ là Chương trình Quốc gia Phủ xanh đồi trọc và Bảo vệ rừng.

Bài viết của 2 ông tướng này còn cực nóng vì phơi bày một loạt việc làm chui, khuất tất, ám muội, mang tính hại nước hại dân, có thể xếp vào tội phản quốc, do chính quyền và đảng uỷ các tỉnh, huyện thực hiện thông đồng với các công ty của thế lực bành trướng với các khoản đút lót, hối lộ béo bở, được một số quan chức trong chính phủ, một số bộ trưởng lớn nhất, có thể trong cả bộ chính trị đỡ đầu, yểm trợ để kiếm phần siêu lợi khổng lồ. Họ sẽ thâm thù 2 ông tướng.

Anh Nguyễn Huệ Chi linh cảm rõ điều ấy. Anh nghĩ họ có thể bóp cho mạng của anh nghẹt thở hẳn do tin tày trời mang bí mật quốc gia cực kỳ nhạy cảm này. Anh thề sẽ hiến cho sự thật, cho nhân dân đến gịot máu cuối cùng của anh, để mạng bauxite ngang nhiên sống khỏe.

Chính vì vậy mà ngày cuối năm 30 Tết tôi cặm cụi gõ bài này và gửi lời chúc chân thành nhất đến nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng cùng hơn 4.000 anh chị trí thức đã ký kiến nghị Bôxit, cũng như đông đảo bạn yêu nước, yêu tự do trong số gần 20 triệu độc giả quen thuộc của mạng này.

                                                           Bùi Tín 
                                                           Paris  đêm 30 Tết Canh Dần   (13-2-2010) 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 18.02.2010



RỪNG ĐIÊU TÀN THÌ TỔ QUỐC SUY VONG


Sau 75 bọn VGCS đã sử dụng bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư giáo sư, dược sĩ, tiến sĩ để phá rừng đốt bỏ để xây dựng vùng kinh tế mới cho dân Saigon Chợn lớn bị đánh phá, cướp của đuổi đi. DTK là một trong những người tù cải tạo trong đám tù chính trị trong tập thể trí thức miền nam đời thứ hai đã bị VGCS đánh cướp, cũng đã từng phá rừng ở hai vùng rừng núi Katum và Long Khánh gần ba năm. Về sau, nhờ có thày dùi, công tác nặng hơn, vì  cây rừng phải được cưa thành củi, và tải ra các đường mòn để xe chở đi bán cho dân. Chính sách lớn của đảng cướp mafia dưới sự lãnh đạo của tên đồ tề vô học Lê Duẫn đã đưa đến cường quyền bằng bạo lực, áp đặt cưỡng bức trí thức miền nam phải lao động khổ sai daì hạn. Sau ba năm, có thể nói tất cả đã đào tẩu bằng mọi cách, mọi giá, trừ những người không may mắn đã bị bắt nhiều lần, phải chấp nhận với số mạng ở lại. Nhưng thân xác họ dù ở trong ngục tù lớn, tư duy họ vẫn bất khuất, kiền cường, không làm việc cho bọn quỉ đỏ như bọn trí thức ếch riêu quốc doanh xu thời, chỉ biết lòn trôn, liếm giầy, ăn bẩn.

Phá rừng ồ ạt là một điều ngu xuẫn. Tươc hết đã lãng phí tài nguyên gỗ quí, và gỗ có thể làm bột giấy, ngay cả làm dấm. Phá rừng ồ ạt sẽ gây ra hiệu quả lụt lội khi có mưa lũ. Những thảm họa lũ lụt này đã xảy ra khiếp đảm sau 75. Phá rừng còn có tai hại là làm mất đi lớp đất màu mở quí giá đã được hình thành qua nhiều năm tháng.

Đem đất rừng của 10 tỉnh ở cận biên giới Tau cộng để cho tư bản Tàu cộng, Đài Loan, Đại Hàn thuê dài hạn 50 năm là một điều ngu xuẩn,  chưa từng thấy có bọn giòi bọ, ruồi nhặng nào lại ngu xuẩn, đần độn đến như vậy, chỉ có bọn  lãnh đạo côn đồ, ma cô, giòi bọ, ruồi nhặng bán nước buôn dân mới có thể nghĩ tới việc hàmh xử  ngu ngốc thảm hại như vậy. Cho tư bản Tàu cộng, tàu Đài Loan thuê daì hạn, không có kiểm soát là một tai hại lớn. Vì coi như đã mất đi quyền kiểm sóat, quản lý trên 15%. lãnh thổ toàn quốc.Chỉ cần khai thác gỗ khi phá rừng người thuê có khả năng trả tiền thuê năm mươi năm và có mức lời tối thiểu 25%. Bọn chính ủy địa phương vì ngu dốt không biết giá trí của cây rừng, chỉ biết ăn bẩn vài trăm ngàn mỹ kim mà ngu quá lợn, ký họp đồng cho thuê dài hạn.

Tư bản Tàu cộng, Tàu Taiwan, Đại Hàn chỉ khai thác gổ trong các lãnh vực kỹ nghệ đồ gỗ gỗ,  kỹ nghệ bột giấy, xây dựng nhà tiền chế, kỹ nghệ đường sắt, bàn ghế. Họ có thể sử dụng lá rừng, rễ cây để làm phân organic, cùng với lớp đất mầu mở ngàn năm. Để canh tác hoa màu, ngủ cốc, cao su, trà, cà phê. tiêu.... Điểm quan trọng khác là người thuê đất có quyền khai thác đất đá kỹ nghệ silicate ở vùng rừng núi mà VN chưa hề biết tới chưa kể các quặng kim loại khác. Năm mươi năm, nửa thế kỹ là một tời gian dài, sau khi thuê đất rừng dài hạn, họ sẽ toàn quyền khai thác sau hơn bốn mươi năm. Họ còn có thể gia hạn thời gian thuê dài hơn. Dưới lòng đất của mười tình đầy rừng núi là một sự bí mật tiềm ẩn nhiều quí kim, quặng mỏ.

Mặt khác, khi họ thuê dài hạn không có kiểm soát, ai biết được là họ không trồng cần sa, nha phiến? Còn một vấn nạn khác là ô nhiễm môi trường do đốt rừng. Nói chung tư bản ngoại quốc thường thuê đất dài hạn cho những công doanh nghiếp nguy hiễm, có nhiều ô nhiễm hóa độc, khoáng nặng như đã có kinh nghiệm về các công ty sản xuất bột ngọc, hóa chất như Vedan, Vifong, luyện kim, bauxite... Đảng mafia VGCS vẫn chưa giải quyết được vấn nạn về các dòng sông chết, bauxite Tây Nguyên hiện tại. Phải chăng đây cũng là chính sách lớn của đảng và nhà nước để biến VN thành một bãi ô nhiễm tự do cho tư bản đỏ Tàu, và tư bảnTaiwan, Nam Hàn.....Kinh nghiệm vụ Bauxite Tây Nguyên đã phơi bầy, là đảng  cướp mafia Ba Đình hoàn toàn bất lực, bị động, bị Tầu cộng vô hiệu hóa, mất quyền kiểm soát ngay trên đất VN. Trên nguyên tắc, các nước tư ản không được đem nhân công vào VN, ngoại trừ một số kỹ sư chuyên viên rất có giới hạn, cùng nhưng máy móc thiết bị khi mang vào, nhưng không được mang ra.

Cho ngoại quốc, nhất là anh a Tàu thuê rừng để khai thác dài hạn 50 năm là một điều tai hại cho VN trong tương lai, khi anh ba Tàu cộng lại ở ngay biên giới đã thường xuyên quấy phá, xâm lấn, gây chiến. Ai sẽ kiểm soát, nếu Tàu cộng điều binh, chuyển vận quân lương, quân cụ, vũ khí, nhân lực để sẵn sàng cho một cuộc chiến xâm chiếm phủ đầu, nội công ngoại kích. Miền bắc Việt nam sẽ mất trong vòng ba tuần là nhiều. Nếu tính về quân cụ, vũ khí Tàu cộng hùng mạnh hơn CSVN nhiều, nhất là về hải, không quân.

Cho Tàu cộng thuê rừng để khai thác ở mười tỉnh gần biên giới là đảng và các b́ị́ thư tỉnh ủy đã đồng thuận cho hàng trăm, hàng ngàn con ngựa thành TroJan vào lãnh địa, giang sơn VN rồi còn gì. Như vậy còn đâu là: Nam quốc sơn hà nam đế cư? Chẳng lễ các đảng ủy viên Ba Đình, Hà Nội ra chuồng heo ở? Hay vạch các đống phân bò chui rút vào?Đấy không phải là hành động của con người, mà là hành động của con vật bốn chân. Những con hồng mã Trojan mang cở năm sao vàng này sẽ là mối hiễm hoạ cho toàn dân VN như sống lại với lịch sử ngàn năm bị Tàu đô hộ.. Ngàn hàng con ngựa thành Trojan ở Tây nguyên chưa đủ suy vong sao, lại còn muốn có thêm trăm ngàn con ngựa Trojan Tàu cộng khác? chẳng lẽ các tỉnh ủy viên đảng VGCS muốn thi đua bán nước, buôn dân với ọn tam đầu chế Ǹng Đức Ṃanh, Nguỹên Tấn Dũng, Nguỹên Minh Triết ở Ba Đỉnh?

Những tên phản quốc, bán nước bán dân như Hồ dâm tặc, Lê Duẫn, Phạm văn Đồng, Trường Chinh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguỹên Minh Triêt, Nguỹên Tấn Dũng đã quá ô nhục cho đảng cướp mafia VGCS đời đời rồi. Đừng để cho Việt nam phải tắm máu như Cambodia trong những năm tháng sắp tới. Bọn VGCS phải từ bỏ quyền lực, tự giải thể ngay lập tức, và tự đào tẩu ra khỏi lãnh thổ VN càng sớm chừng nào tốt chừng đó. Vì người dân VN không bao giờ tha thứ cho những kẻ tội đồ bán nước buôn dân.

DTK
Rừng điêu tàn thì tổ quốc suy vong
Babui












ẢO ẢNH CHẾT NGƯỜI
CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC

“Ảo ảnh chết người” của kinh tế Trung Quốc
Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2010-02-17


Trong khi nền kinh tế toàn cầu vẫn chưa hồi phục hoàn toàn sau khủng hoảng, thì nền kinh tế Trung Quốc lại đạt tốc độ tăng trưởng cao, thành tích này có dự báo điều bất thường?

Thời gian chuẩn bị đón Xuân Canh Dần, Trung Quốc công bố nhiều chỉ số thống kê ngoạn mục về tốc độ tăng trưởng và, lần thứ hai trong vòng một tháng, lại quyết định nâng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm phát.

Ảo ảnh

Trong khi thế giới vẫn e sợ suy trầm toàn cầu mà nền kinh tế này lại có triệu chứng nóng máy và có thể đạt tốc độ tăng trưởng sản xuất trên 10% vào năm 2010 thì tất nhiên là dư luận coi đó là điều đáng chú ý. Nhưng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa lại gọi đây là những "ảo ảnh chết người". Ông giải thích như sau, qua phần trao đổi cùng Việt Long trong tạp chí chuyên đề Diễn đàn Kinh tế.

Trở lại thực tế kinh tế thì tôi thiển nghĩ rằng các thống kê vừa qua cho thấy những ảo ảnh chết người của kinh tế Trung Quốc.

Việt Long: Hôm Thứ Ba mùng hai tháng Hai, Trung Quốc thông báo kết cấu của tốc độ tăng trưởng kinh tế 8,7% trong năm 2009. Mười ngày sau thì họ quyết định tăng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng nhằm kềm hãm lượng tín dụng và chặn trước nguy cơ lạm phát khi đà tăng trưởng sản xuất trong năm 2010 này có thể sẽ vượt 10%. Giữa bối cảnh suy trầm toàn cầu mà kinh tế Trung Quốc lại tăng trưởng quá 10% và lo ngại lạm phát thì rõ là xứ này đã vượt xa các nước khác. Điều ấy có đúng hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Sau khi ăn Tết xong và trở lại thực tế kinh tế thì tôi thiển nghĩ rằng các thống kê vừa qua cho thấy những ảo ảnh chết người của kinh tế Trung Quốc và người Việt Nam rất nên tìm hiểu về các ảo ảnh này. Trước khi trình bày chuyện ấy, tôi xin được nói thêm vài chi tiết khác cũng rất đáng chú ý.

Hôm 28 tháng Giêng, Cục Thống kê Quốc gia của Bắc Kinh loan báo nỗ lực cải cách phương thức thu thập và khai thác thống kê vì trong năm 2009 đã có 13.500 vụ đúc kết thống kê sai lạc. Đây là lần thứ tư mà Trung Quốc muốn cải tổ thống kê mà nhiều phần vẫn không có kết quả vì một lý do chính trị. Đó là vì mọi đảng viên cán bộ chỉ chịu trách nhiệm với thượng cấp ở trên hơn là với thuộc cấp ở dưới hay với dân chúng, cho nên họ đều có xu hướng tô hồng thống kê trong quản hạt trước khi đưa lên trên và ở trên cùng thì tổng kết thành con số ảo. Một thí dụ mà diễn đàn này đã trình bày từ năm ngoái là Tổng sản lượng kinh tế Trung Quốc vào năm 2007 lên tới ngạch số tương đương với hơn 3.600 tỷ Mỹ kim, trong khi nếu mà cộng lại kết số tổng sản lượng của tất cả các tỉnh và thành phố thì ta có con số khác, là 4.000 tỷ đô la, một mức sai biệt khổng lồ là 340 tỷ đô la, gần 10%. Khi độ sai lệch lại cao như thế thì ta nên trừ bì, là gia giảm, mức độ khả tín của thống kê Trung Quốc.

Thứ hai, mùng hai tháng Hai vừa qua, cơ quan quốc tế thẩm định giá trị tín dụng là hãng Fitch đã hạ thấp mức điểm của hai ngân hàng Trung Quốc và giải thích là trình độ quá bất trắc của các ngân hàng khi ào ạt bơm tín dụng và cho vay theo diện chính sách nên ngân hàng thiếu vốn và rủi ro tín dụng gia tăng. Thực tế thì lượng tín dụng ngân hàng tại Trung Quốc đã tăng hơn 30% trong năm 2009 và xứ này là nơi có bong bóng đầu cơ lớn nhất trong các nước Á châu.

Trái bóng địa ốc có thể sẽ bể, là điều diễn đàn này cũng đã nói tới trong chương trình ngày 13 tháng Giêng.

Thứ ba, hôm mùng một tháng Hai, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phát biểu rằng Trung Quốc đang gặp nhiều bất trắc trên các thị trường quốc tế mà ở nhà thì lại bị các vấn đề thất quân bình và phát triển không bền vững. Khi ấy, ta mới để ý đến sự kiện các giới chức lãnh đạo Bắc Kinh đều lên tiếng báo động về nhiều vấn đề trong nội bộ để chuẩn bị thảo luận tại Hội nghị Hiệp thương Chính trị rồi Đại hội Đại biểu Quốc hội vào các ngày mùng ba và mùng năm của tháng tới. Nói chung thì lãnh đạo xứ này ưu lo về tình hình kinh tế, xã hội và chính trị nhiều hơn là dư luận bên ngoài thường nghĩ vì họ thấy ra những ảo ảnh sinh tử của chế độ.

Xuất khẩu “âm”

Việt Long: Nếu vậy thì xin ông trình bày trước tiên điều ông gọi là ảo ảnh trong đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là 8,7% vào năm 2009. Con số này thật ra rất lớn nếu ta so sánh với Hoa Kỳ chẳng hạn, là siêu cường, chỉ đạt tốc độ có 0,8% mà thôi.

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tốc độ 8,7% trong một năm suy trầm toàn cầu và nối tiếp tốc độ 9% của năm 2008 thì quả nhiên là con số đầy ấn tượng! Nhưng khi đi vào chi tiết ta thấy ngay sự thật u ám nằm bên dưới. Đà tăng trưởng bình quân 8,7% này là kết số của ba thành tố gồm có đầu tư là 8%, tiêu thụ là 4,6% và xuất khẩu là -3,9%. Nôm na là 8,7% = 8% + 4,6% - 3,9%.

Xưa nay, xuất khẩu vẫn là đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc mà bây giờ lại đóng góp một số âm cho đà tăng trưởng, là -3,9%, mà tiêu thụ chỉ có 4,6% nên không bù đắp nổi. Vì vậy, nhà nước nhảy vào cấp cứu như bơm nước biển đề hồi sinh một cơ thể rũ liệt. Nói cách khác, tốc độ tăng trưởng rồng cọp của Trung Quốc thực tế lệ thuộc tới 92% (là 8% của tổng số 8,7%) vào đầu tư của khu vực công. Không có đầu tư của nhà nước là chẳng có tăng trưởng.
Xưa nay, xuất khẩu vẫn là đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc mà bây giờ lại đóng góp một số âm cho đà tăng trưởng, là -3,9%, mà tiêu thụ chỉ có 4,6% nên không bù đắp nổi.

Việt Long: Chúng ta đều biết khi kinh tế bị suy trầm thì xứ nào cũng phải tìm cách kích thích. Hoặc là qua hạ lãi suất hay in tiền bơm vào kinh tế, hoặc qua tăng chi hay giảm thuế, chủ yếu là để bù đắp cho sự thiếu hụt tiêu thụ của tư nhân. Nếu vậy thì lãnh đạo Bắc Kinh cũng áp dụng các biện pháp bình thường ấy, thế thì vì sao ông lại gọi là ảo ảnh?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Chuyện ấy không bình thường vì nhà nước mà không đẩy là cỗ xe sẽ dừng mà kinh tế Trung Quốc lại như cỗ xe đạp, nếu không lăn bánh là sẽ đổ vì thất nghiệp tăng và động loạn xã hội sẽ bùng nổ.

Đã thế Trung Quốc lại có hệ suất đầu tư rất tệ, tức là phải đầu tư rất nhiều thì mới sản lượng mới tăng được một đơn vị. Người ta hay dùng "chỉ số đầu tư phụ trội" gọi tắt theo Anh ngữ là ICOR để đo lường hệ suất ấy. Thí dụ như nếu xứ nào phải đầu tư ba đơn vị mới gia tăng sản lượng được một đơn vị thì có chỉ số Incremental Capital Output Ratio bằng số ba. Nếu đầu tư bằng 5% của tổng sản lượng với một chỉ số ICOR là 3 chẳng hạn thì sản lượng sẽ tăng được năm chia cho ba, bằng 1,66%. Suy ngược lại, khi sản lượng Trung Quốc tăng 8,7% là nhờ đầu tư tới 92% tổng sản lượng GDP thì chỉ số ICOR của xứ này phải là 10,6, là một hệ suất đầu tư thật tốn kém vì quá lớn!

Chẳng những vậy, nếu nhìn kỹ hơn thì... lượng biến thành phầm, và phẩm chất rất tồi. Trung Quốc thường chủ động bơm tiền qua hai ngả công chi và tín dụng, rồi gọi đó là đầu tư. Nhưng chủ yếu là nhà nước cấp phát tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước, gọi là thuộc diện chính sách, và cho các dự án xây dựng thuộc phạm vi phân bố và chia chác của địa phương. Tất cả để duy trì khả năng sản xuất và chính yếu là tuyển dụng để tránh nạn thất nghiệp và động loạn xã hội. Nhưng hệ thống ống bơm ấy lại... theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó bơm vào nơi úng thủy và thổi lên bong bóng đầu tư.

Hậu quả xã hội của chế độ kinh tế ấy là hình thức tái phân lợi tức, và lại tái phân phối trước tiên cho một thiểu số có chức có quyền. Người dân lầm than thì chỉ còn một ngả là hỳ hục ráp chế hàng xuất cảng để kiếm được chút tiền vụn ở dưới. Khả năng tiêu thụ rất thấp - chỉ có 4,6% - phản ảnh điều ấy. Vì thế ta cần nhìn ra cái chất ảo của đà tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.
 
Lạm phát?

Việt Long: Tuy nhiên, vì sao lãnh đạo xứ này lại e sợ lạm phát đến nỗi phải hạn chế tín dụng. Nếu hạn chế tín dụng thì làm sao còn có tăng trưởng theo lối đẩy xe đạp như ông vừa nói?
 
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đây lại là một ảo ảnh khác của kinh tế Trung Quốc.

Sau khi tiến hành cải cách từ ba chục năm trước, Trung Quốc quả là đã bị ba trận lạm phát. Đó là vào năm 1985 với vật giá tăng 10%; rồi vào năm 1988-1989 khi vật giá tăng 20% và gây khủng hoảng chính trị với vụ tàn sát Thiên an môn ngày bốn tháng Sáu năm 1989 khiến mấy ngàn người bị giết; rồi vào năm 1993-1994 với giá cả tăng vọt đến 25%. Rút kinh nghiệm kinh tế và chính trị của quá khứ, lãnh đạo Bắc Kinh rất e sợ lạm phát....

Việt Long: Chúng tôi nhớ lại là từ những năm 2003 rồi 2005, ông thường báo động là kinh tế Trung Quốc có thể bị nóng máy và đã có lúc quyết định cấm cho vay trong nhiều tháng liền mà sau đó, lạm phát vẫn không bùng nổ. Dường như là sau đợt lạm phát 1993-1994, cấu trúc kinh tế xứ này có thay đổi nên có khi bị giảm phát chứ hết bị lạm phát rồi. Điều ấy có đúng không?
 
Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa điều ấy rất đúng vì cơ cấu kinh tế đã có thay đổi.

Thời Mao Trạch Đông, thành phần doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 90% tổng sản lượng GDP. Qua thời cải cách từ năm 1979 về sau, doanh nghiệp nhà nước được giải phóng trong đầu tư và được các ngân hàng cũng của nhà nước tài trợ tín dụng rất dồi dào để bành trướng thị phần và tuyển dụng thêm công nhân viên, từ 78 triệu lên 100 triệu người.

Nhưng, ách tắc trong cơ chế đã khiến số cung bị hạn chế mà số cầu gia tăng nhờ tín dụng và lương bổng nên mới gây nhiều đợt lạm phát. Nạn tham nhũng trong khu vực nhà nước và vật giá gia tăng trên đầu người dân mới dẫn tới khủng hoảng chính trị. Sau đấy, cơ chế sản xuất có thay đổi và thực tế là có cải thiện mới dẫn tới thời kỳ ta có thể gọi là sản xuất thừa và chất vào kho. Vì vậy, đúng là người ta có chứng kiến hiện tượng giảm phát hơn là lạm phát như ông vừa nói. Giảm phát là khi hàng họ giảm giá mà bán vẫn không chạy chính là vì hiện tượng sản xuất thừa và gây ra ấn tượng tăng trưởng cao.

Vì thật ra xứ này vẫn có những lệch lạc trong cơ chế nên lãnh đạo của họ vẫn sợ lạm phát bùng nổ từ ba khu vực, đó là năng lượng, địa ốc và nhất là lương thực.
 
Việt Long: Thế thì vì sao bây giờ lãnh đạo Bắc Kinh lại sợ lạm phát?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Vì thật ra xứ này vẫn có những lệch lạc trong cơ chế nên lãnh đạo của họ vẫn sợ lạm phát bùng nổ từ ba khu vực, đó là năng lượng, địa ốc và nhất là lương thực.
Thứ nhất về năng lượng thì Trung Quốc áp dụng chế độ kiểm soát giá cả để dân chúng khỏi bị khốn đốn vì giá xăng dầu hay khí đốt, nhất là trong hai năm 2007 và 2008 khi giá năng lượng và thương phẩm tăng vọt trên thế giới. Nhưng chính là chế độ kiểm soát mới gây ra nhiều lệch lạc trên thị trường, thứ nhất là vì doanh nghiệp về năng lượng không muốn bị lỗ khi nhập vào với giá cao và bán ra với giá quy định của nhà nước; và thứ hai là vì giá năng lượng được trợ cấp nên giới tiêu thụ khỏi cần tần tiện. Tình trạng lệch lạc ấy gây rất nhiều tốn kém kinh tế nhưng là cái giá mà nhà nước phải trả để khỏi gặp động loạn và họ canh chừng giá năng lượng rất kỹ.
Thứ hai, vì đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân nhưng do nhà nước thống nhất quản lý và Trung Quốc là một xứ rất rộng mà lại thiếu đất canh tác, chỉ bằng một phần ba của bình quân của thế giới. Chế độ quản lý của nhà nước dẫn tới nạn bóc lột nông dân và khiếu kiện về đất đai khi ngân sách thuế khóa của các tỉnh lại thu được bình quân là 40% nhờ bán quyền sử dụng đất. Cũng vì mối lợi của đảng viên cán bộ ở địa phương cho nên xứ này cứ hay bị nạn bong bóng đầu cơ về địa ốc. Mặc dù mới đây, Quốc vụ viện tức là Hội đồng Chính phủ vừa rà lại đạo luật về đất đai để tránh nạn cướp đất và không bồi thường thỏa đáng, nhưng bất ổn xã hội vẫn còn nguyên vẹn vì luật lệ sẽ khó được đảng viên cán bộ áp dụng nghiêm chỉnh.
Thứ ba và quan trọng nhất, Trung Quốc là nơi mà người dân thường thiếu ăn vì có diện tích canh tác rất hẹp cho một dân số quá đông nên lương thực là yếu tố thổi bùng chỉ số giá cả. Thiên tai hay dịch bệnh cũng sẵn sàng ảnh hưởng tới sản lượng lương thực mà lương thực lại chiếm tới một phần ba ngân sách chi tiêu của các hộ gia đình, nên giá mà tăng là dân sẽ khổ và nổi loạn.
Cho nên, nếu có nhìn ra nguy cơ động loạn ấy từ chuyện vật giá và lồng trong khung cảnh của một nền kinh tế không có kích thích là sản xuất đình đọng và thất nghiệp sẽ tăng thì ta mới thấy ra ảo ảnh phồn vinh và phú cường của xứ này.

 




NHẬP SIÊU TỪ TẦU CHIẾM 90% HÀNG NHẬP

CS Việt Nam vẫn bất lực trước trình trạng nhập siêu từ Trung Cộng
  Thanh Phương
Bài đăng ngày 08/02/2010 Cập nhật lần cuối ngày  08/02/2010 15:53 TU



Nền kinh tế Việt Nam còn hai nguy cơ lớn : lạm phát có thể tăng trở lại và nhập siêu vẫn ở mức cao. Với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa. Phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A.

Xưởng may hàng xuất khẩu của Việt Nam

Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố vào cuối năm ngoái, nhập siêu, tức là thâm thủng mậu dịch, của Việt Nam trong năm 2009 đã  lên tới hơn 12 tỷ đôla, tuy thấp hơn so với mức 18 tỷ đôla của năm 2008, nhưng vẫn là vượt quá chỉ tiêu đề ra. Điều đáng nói hơn hết đó là trong năm qua, nhập siêu từ Trung Quốc nay đã chiếm tỷ lệ tới gần 90% tổng nhập siêu của Việt Nam.

Như vậy là kể từ năm 2001, mức nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng đều đặn mà Việt Nam vẫn chưa có giải pháp nào khả dĩ hạn chế được mức nhập siêu đó.

Về những nguyên nhân khiến nhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng, tác giả Mạnh Quân trong một bài báo đăng trên trang web của tờ Sài Gòn Tiếp Thị ngày 1/2 cho biết : trước hết, hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc thường là những mặt hàng mà Trung Quốc dư khả năng sản xuất, nên khó mà cạnh tranh nổi. Các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như than, dầu thô, thì lại đang có xu hướng giảm.

Cũng theo tác giả Mạnh Quân, về nhập khẩu, một số mặt hàng từ Trung Quốc là những mặt hàng mà Việt Nam chưa sản xuất được. Hàng Trung Quốc lại rẻ và gần Việt Nam, nên nhiều doanh nghiệp thích mua hàng từ đây.

Tác giả bài báo trích dẫn một số chuyên gia của Hiệp hội Cơ khí cho biết là trong tổng lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, các mặt hàng cơ khí, máy móc chiếm tỷ lệ rất lớn. Cho nên, một trong những giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc có thể là phải đầu tư thêm cho việc sản xuất hàng cơ khí, máy móc nộI địa để thay thế hàng nhập khẩu.

Trong vấn đề này, không chỉ có trách nhiệm của chính phủ mà của cả doanh nghiệp Việt Nam, như nhận định chung của tiến sĩ Nguyễn Quang A. Trả lời phỏng vấn qua điện thoại từ Sài Gòn vào thứ 5  tuần trước, ông Nguyễn Quang A trước hết cho rằng với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa :

Nhưng ở trên, chúng tôi chỉ mới đề cập chủ yếu tình trạng nhập siêu qua giao thương chính ngạch, còn trên thực tế, có thể nói là hiện nay hàng hoá Trung Quốc tràn ngập Việt Nam bằng con đường tiểu ngạch và đáng ngại hơn cả là hàng lậu, giả của Trung Quốc chiếm chủ yếu trong số hàng lậu, hàng giả đi vào thị trường Việt Nam.

Tờ báo trên mạng vnexpress ngày 21 tháng 1 vừa qua trích lời Phó Chi cục Quản lý thị trường Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Xuân Đài cho biết là các mặt hàng Trung Quốc, chủ yếu là vải, quần áo, đồ chơi trẻ em, điện thoại di động, đồ điện gia dụng, phụ tùng xe các loại,... , tràn lan trên thị trường thành phố. Các hàng hoá này được phân phối qua một hệ thống rất chặt chẻ từ Trung Quốc, qua các tỉnh biên giới, rồi đến Sài Gòn.

Bên cạnh đó, dư luận ở Việt Nam trong thời gian gần đây còn được báo động liên tục về những hàng giả đặc biệt gây độc hại như trà sữa trân châu polymer, hoa quả chứa chất bảo quản gây ung thư, sữa nhiễm melamine, v.v. . . Nhưng hết mặt hàng độc hại này thì lại xuất hiện mặt hàng độc hại made in China khác, không bao giờ dứt. Việt Nam có một biên giới khá dài với Trung Quốc, nên rất khó mà ngăn chận sự xâm nhập của những thứ độc hại này.

Hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc-ASEAN đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Riêng bốn nước nghèo nhất khu vực là Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Miến Điện,  thì đến 2015 mới áp dụng hiệp định, tức là kể từ thời điểm đó, 90% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có thuế suất từ 0 đến 5%.

Như vậy là trong 5 năm nữa, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối đầu với sự cạnh tranh khốc liệt hơn của hàng hóa Trung Quốc. Liệu trong thời gian 5 năm đó, họ có nâng cao được năng lực cạnh tranh hay không, điều đó dĩ nhiên tùy thuộc một phần vào chính họ, nhưng chủ yếu vẫn là phải tạo ra được một môi trường thuận lợi cho giới doanh nghiệp, với sự hỗ trợ tích cực của chính phủ, như phía Trung Quốc đã làm từ nhiều năm qua. Mặt khác, Việt Nam hãy còn thiếu hàng rào kỹ thuật để bảo vệ thị trường nội địa khỏi những hàng giả, hàng độc hại từ phía Trung Quốc.

Trong vấn đề này, có lẽ cũng nên khơi dậy tinh thần dân tộc, không phải là khuyến khích chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng phải làm cho mọi người thức tỉnh về nguy cơ hàng hóa nội địa bị hàng Trung Quốc đè bẹp, phải nỗ lực vận động người Việt Nam phải dùng hàng Việt Nam. Nhưng bản thân hàng Việt Nam cũng phải được sản xuất đàng hoàng, đúng tiêu chuẩn, giá phải chăng, thì mới hy vọng thu hút được người tiêu dùng trong nước.











KINH TẾ VN:
”CÀNG TĂNG TRƯỞNG CÀNG NGHÈO”!

http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml


Lối tăng trưởng chạy theo con số, theo ông Trần Xuân Giá, sẽ 'chỉ làm cho VN nghèo đi.'

Ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu tư,
tỏ ý quan ngại về cách điều hành kinh tế tại Việt Nam.

Trên bài phỏng vấn đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, cựu quan chức chính phủ, từng điều hành một trong những bộ quan trọng nhất nước, nhận định: “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp."

“Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa,” ông Trần Xuân Giá nói.

“Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.”

Một số trí thức trong nước đã từng quan tâm đến chủ đề này. Ông Nguyễn Trần Bạt, Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư InvestConsult cho hay nhiều năm trước ông đã quan ngại đến cách làm kinh tế tại Việt Nam.

"Tôi đã nói điều này cách đây 10 năm. Trong một số bài báo, tôi cảnh báo tâm lý tăng trưởng bằng mọi giá. Tôi viết từ rất sớm. Hiện nay nó đẻ ra một cái thực tế mà (cựu) bộ trưởng phải lên tiếng. Chúng tôi, với tư cách là người trí thức bình thường, đã từng lên tiếng trước đó, cảnh báo trước đó, không chỉ cho Việt Nam. Mà cho tất cả các quốc gia kiểu Việt Nam.”

Trong bài phỏng vấn đăng trên tuần báo kinh tế có uy tín từ Hà Nội, ông Trần Xuân Giá tự xếp mình vào nhóm những người bi quan về kinh tế Việt Nam.

Bi quan

Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa

Bên cạnh thừa nhận một số thành tích như, “năm 2009 không rơi vào suy thoái, ngăn chặn được nguy cơ phá sản ở nhiều doanh nghiệp, kiểm soát được lạm phát ở mức 6,88%,” vân vân, cựu quan chức chính phủ nói đến một số lĩnh vực Việt Nam đang phải trả giá.

Đó là “sự phục hồi của kinh tế Việt Nam diễn ra không đồng đều, chưa vững chắc, tạo nên bức tranh sáng tối lẫn lộn.”

Các khó khăn đang tiềm ẩn trong kinh tế Việt Nam, theo ông Trần Xuân Giá, là tỷ giá hối đoái, và lạm phát; chi tiêu công gia tăng; nhập siêu sẽ tăng do giá nguyên liệu trên thế giới tăng, môi trường bị phá hoại nặng nề.

Trước một số ý kiến nhắc đến cuộc khủng hoảng tài chính thế giới như là nguyên nhân khiến cho kinh tế Việt Nam chao đảo trong năm 2008, ông Trần Xuân Giá chỉ ra, ngay cả trước thời kỳ khủng hoảng (2007 cho đến trước quý 3/2008) Việt Nam đã bộc lộ nhiều khó khăn.

“Nguyên nhân suy giảm của kinh tế Việt Nam không chỉ đến từ bên ngoài. Quan trọng nhất là những nguyên nhân nội tại. Nền kinh tế Việt Nam khi ấy gặp không ít khó khăn.

“Lạm phát cao, nhập siêu lớn. Những yếu kém cơ bản đó nằm ngay trong cả cơ cấu lẫn cơ chế kinh tế của Việt Nam.”

Cựu bộ trưởng, hiện tham gia điều hành hội đồng quản trị của ngân hàng ACB, sau đó liệt kê những thiếu sót cơ bản của kinh tế trong nước.

“GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,

"Công nghệ chậm đổi mới, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu chưa thoát khỏi lạc hậu, thị trường trong nước kém phát triển, kinh tế vĩ mô còn nhiều yếu tố bấp bênh, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, môi trường cạnh tranh chưa bình đẳng, lành mạnh.”

Ông Nguyễn Trần Bạt từ công ty InvestConsult lo ngại lối tăng trưởng kiểu “sùng bái con số’’ sẽ đưa Việt Nam đến một kết cục không hay.

“Ăn kẹo mãi thì sẽ bội thực đường. Giấy kẹo nó rơi xuống chân mình nó cao đến mức nó làm tắc thở cái người ngồi, hoặc đứng ăn kẹo.

“Cho nên là tăng trưởng theo kiểu như thế này chính là một trong những biện pháp giết chết một cách chắn chắn nhất tương lai, không chỉ tương lai kinh tế, mà nhiều tương lai khác của Việt Nam.”

http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml

 









DANH SÁCH NHỮNG THỰC PHẨM BỊ CẤM

Thu, 2/25/10, tam le <tiengtam
 

Những thực phẩm kém phẩm chất (có thể nguy hại đến sức khỏe) nhập cảng từ Việt Nam mà FDA đang cấm.

Người Việt Hải Ngoại cần lưu ý những thực phẩm kém phẩm chất nhập cảng từ Việt Nam.

Mới đây Cơ Quan An Toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã từ chối, không cho nhập cảng vào Hoa Kỳ, 27 lô hàng mà phần lớn là thực phẩm đã chế biến, sản xuất từ Việt Nam vì lý do thiếu an toàn sức khỏe.

Những loại thực phẩm này không chỉ nhập cảng vào Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) mà còn được nhập cảng vào tất cả những quốc gia nơi có người Việt Tị Nạn sinh sống như những nước tại Âu châu, Nhật, Úc, v.v...

Nhận thấy rằng đây là vấn đề vô cùng lớn lao liên hệ đến sức khỏe của hàng triệu người Việt trên khắp thế giới, và tại Việt nam, nên chúng tôi chuyển ngữ và khẩn cấp gửi thông tin nầy đến tất cả qúy vị, đặc biệt lưu ý các bà nội trợ, các nhà hàng. Các đấng mày râu lo chuyện nước non, chuyện quốc gia đại sự, cũng cần lưu tâm lưu ý qúy phu nhân, qúy vị sẽ không thực thi được trọn vẹn lý tưởng của mình một khi sức khỏe bản thân và gia đình có... vấn đề. Riêng bà con nhân dân trong nước và những người Việt hải ngoại về thăm thân nhân, cũng xin hết sức cảnh giác, đau ốm, ngộ độc thực phẩm và đi khám, chữa bệnh ở Việt Nam là cả một vấn đề không thể coi thường, đừng để cho đến khi quá muộn.

Dưới đây là danh sách các công ty và địa chỉ, các loại thực phẩm bị FDA từ chối nhập cảng vào Hoa Kỳ, lý do vi phạm các điều khoản quy định về an toàn dược-thực phẩm.

1- Aquatic Products Trading Company, Tôm đông lạnh cỡ lớn có đầu, trộn lẫn các chất dơ bẩn và độc tố có hại cho sức khỏe (FILTHY, SALMONELLA), vi phạm các điều khoản 601(b), 801(a)(3), 402(a)(3), 402(a)(1)

2- Mai Linh Private Enterprise, Vũng Tàu, Thịt cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia chloramphenicol (CHLORAMP) không an toàn cho sức khỏe, điều khoản 402(a)(2)(c) (i), 801(a)(3), theo định nghĩa của điều 21 U.S...C. 348;

3- Batri Seafood Factory, Bến Tre, Chả cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia chloramphenicol không an toàn cho sức khỏe, điều khoản 402(a)(2)(c) (i), 801(a)(3), theo định nghĩa của điều 21 U.S.C. 348;

4- Nam Hai Company Ltd, có 2 sản phẩm vi phạm:
a) Thịt cua nấu chín đông lạnh, có trộn lẫn độc tố gây ngộ độc, độc chất salmonella và hóa chất phụ gia chloramphenol (POISONOUS, CHLORAMP, SALMONELLA,) gây tai hại cho sức khỏe, vi phạm các điều khoản 402 (a) (1), 801(a)(3), 601(a), 402(a)(2)(c) (i), 402(a)(1) theo định nghĩa của luật 21 U.S.C. 348;

b) Lươn đông lạnh, có độc chất salmonella, và nhãn ghi giả mạo (FALSE, SALMONELLA,) một loại sản phẩm khác gây hiểu lầm cho người tiêu thụ, vi phạm các điều khoản 403(a)(3), 801(a)(3), 502 (a), 402 (a) (1);

5- ACECOOK VIETNAM CO...., LTD, Mì lẩu Thái có hương vị hải sản, chế biến có lẫn lộn các chất dơ bẩn và không ghi các thành phần cấu tạo nên sản phẩm (LIST INGRE, FILTHY,) vi phạm các điều khoản 403 (i) ( 2), 801 (a) (3), 601 (b) 402 (a) (3) ;

6- Olam Vietnam Ltd, thị xã Gia Nghĩa, có 7 lô hàng bị ngăn chặn gồm Tiêu đennguyên hạt và Tiêu đen xay đều có chứa độc chất Salmonella, vi phạm các điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

7- Don Nguyen, 3 sản phẩm thô là Đậu khấu (Cardamon), Cam thảo (Licorice) và Quế

8- Van Nhu Seafoods Limited Company (VN Seafoods Co.), Nha Trang, Cá sòng ngân (Mackerel) cắt khúc đông lạnh, chế biến dơ bẩn, lẫn lộn các chất hỗn tạp, điều khoản vi phạm 601(b), 801(a), 402(a)(3);

9- Nam Phong Trading Co, Tiêu bột chứa độc chất Salmonella, theo điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

10- Lucky Shing Enterprise Co Ltd, Bột ngũ cốc ăn liền vi phạm rất nhiều điều khoản bị nghiêm cấm gồm có: Thiếu thông tin đầy đủ (NOT LISTED) về sản phẩm theo đòi hỏi của các điều 502 (o), 801 (a) (3), 510 (j), 510 (k);

Không ghi thành tố gây rủi ro bệnh tật hiện diện trong sản phẩm dưỡng sinh (UNSFDIETLB) , theo các điều 402 (f) (1) (A);

Giả mạo sản phẩm (FALSE) gây hiểu lầm, điều 403 (a) (1), 502 (a);

Trên nhãn thiếu thông tin đặc biệt về thực phẩm dinh dưỡng (DIETARY,) theo điều 403 (j);

Nhãn không ghi phần tiếng Anh (NO ENGLISH,) 403 (f), 502 (c), vi phạm các điều luật 21 CRF 101. 15 (c), 801.15 (c) (1) và 201.15 (c) (1);

Thực phẩm dưỡng sinh nầy (được coi) là một loại dược phẩm mới nhưng CHƯA có đơn xin thử nghiệm để được chấp thuận (UNAPPROVED, ) theo điều 505 (a);

11- Nhan Hoa Co., Ltd, Cá đông lạnh, chứa độc tố Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

12- United Seafood Packer Co. Ltd, Thịt (Fillet) cá lưỡi kiếm đông lạnh, chứa độc chất gây ngộ độc (poisonous), vi phạm điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3), 601 (a);

13- Seapimex Vietnam, có 7 lô hàng về Chả cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia Chloramphenol không an toàn sức khỏe theo định nghĩa của điều luật 21 U.S.C. 348, vi phạm các điều khoản 402 (a) (2) (c) (i), 801 (a) (3) ;

14- MY THANH CO., LTD, có 5 lô hàng gồm 4 sản phẩm:
Cá hồng snapper (?) đông lạnh bị từ chối nhập cảng, vi phạm các điều:

Ghi không đúng tên sản phẩm mà là dưới tên một loại sản phẩm khác (WRONG IDEN, vì không biết hay nhằm đánh lừa người tiêu thụ ? Điều này chỉ có công ty sản xuất mới có thể trả lời !) theo điều 403 (b), 803 (a) (3);

Thiếu ghi chú về trọng lượng hay số lượng (LACKS N/C) theo điều 403 (e) (2), 502 (b) (2);

Nhãn sai (LABELING) về vị trí, hình thức và nội dung theo điều 4 (a), 801 (a) (3);

Dưa muối và Nước chấm chay (nước tương: Vegetarian dipping sause) có các vi phạm:

Không đăng ký là loại sản phẩm đóng hộp có độ acid thấp (NEEDS FCE) theo đòi hỏi của điều luật 21 CFR 801.25 (c) (1) hoặc 801.35 (c) (1), vi phạm điều 402 (a) (4), 801 (a) (3);

Không ghi chú thông tin về tiến trình sản xuất (NO PROCESS,) theo đòi hỏi của điều luật 21 CFR 801.25 (c) (2) hoặc 801.35 (c) (2), vi phạm điều 402 (a) (4), 801 (a) (3);

Cá sòng ngâm muối (mắm cá sòng) vi phạm:

Độc chất Histamine vượt quá liều lượng chấp nhận, gây hại cho sức khỏe theo các điều 402 (a) (1), 801 (a) (3);

Sản phẩm dơ bẩn, có chứa các chất dơ bẩn hỗn tạp (FILTHY) theo các điều 601 (b), 801 (a) (3), 402 (a) (3);

15- Kien Giang Ltd, t/p HCM, có 2 sản phẩm là Cá nhồng (barracuda) và cá mang giổ (?, Perch,) đông lạnh, dơ bẩn, trong sản phẩm có tạp chất vi phạm các điều 601 (b), 801 (a) (3), 402 (a) (3) ;

16- Vinh Sam Private Trade Trade Enterprise, Tuy Hòa, Cá lưỡi kiếm tươi, có độc tố gây ngộ độc, vi phạm các điều 402 (a) (1), 801 (a) (3), 601 (a) ;

17- Tu Hung Trading Company aka Doanh Nghiep Tntm Tu Hung, có 3 sản phẩm:

a) Bánh hạnh nhân, nhãn không ghi các thành phần nguyên liệu tạo nên sản phẩm (LIST INGRE,) vi phạm các điều 403 (i) (2), 801 (a) (3);

b) Bánh chay: Không đủ phẩm chất (STD QUALITY,) như được ghi trên nhãn, vi phạm điều 403 (h) (1), 801 (a) (3)

Nhãn hiệu giả mạo (FALSE,) không ghi đúng nguyên liệu hay ghi sai lạc gây nhầm lẫn cho người tiêu thụ, vi phạm điều 502 (a), 801 (a) (3);

c) Bánh tráng mè: Không ghi đúng tên theo định nghĩa, tính chất và tiêu chuẩn của sản phẩm (STD IDENT,) theo điều 401, do đó vi phạm các điều 403 (g) (1), 801 (a) (3) ;
Nhãn hiệu không ghi các tố chất chính yếu gây dị ứng (ALLERGEN,) hiện diện trong sản phẩm theo đòi hỏi của các điều 403 (w), 403 (w) (1), 801 (a) (3) ;

18- Trung Nguyen Coffee Enterprise (Cà phê Trung Nguyên), Cà phê bột uống liền "3 in 1" (túi có 20 gói), đã vi phạm các điều:

Không ghi thành phần nguyên liệu tạo ra sản phẩm (LIST INGRE,) 403 (i) (2) ;

Nhãn hiệu giả mạo hay ghi chú sai lạc (FALSE,) vi phạm các điều 403 (a) (1), 801 (a) (3), 502 (a) ;

Sản phẩm không cung cấp đầy đủ thông tin về các thành phần dinh dưỡng và chất béo (TRANSFAT,) có trong sản phẩm theo đòi hỏi của điều 21 CRF 101.9 (c), vi phạm điều 403 (q), 801 (a) (3) ;

19- Dragon Waves Frozen Food Factory Co. Ltd, Nha Trang, Cá ngừ (cắt thành từng miếng) đông lạnh, sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất gây ngộ độc, cùng với độc chất Histamine vượt quá liều lượng chấp nhận, vi phạm các điều 402 (a) (1), 402 (a) (3), 601 (b), và 801 (a) (3);

20- Thang Loi Frozen Food Enterprise, Tôm đông lạnh, có độc chất Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

21- Hai Dang International Trading Services Co. Ltd, t/p HCM, hóa chất hay dược liệu Lidocaine (dùng trong thực phẩm [?], có thành phần hóa học là C14H22N2O,) đã vi phạm 2 điều:

Không liệt kê thông tin đầy đủ về sản phẩm (NOT LISTED,) theo đòi hỏi của các điều 502 (o), 801 (a) (3), 510 (j), hoặc 510 (k);

Dược liệu mới chưa xin phép kiểm nghiệm để được chấp thuận xử dụng (UNAPPROVED, ) vi phạm điều 505 (a), 801 (a) (3);

22- Chinh Dat Co., Ltd, Bao tử cá sấy khô, sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất, vi phạm các điều 402 (a) (3),601 (b), và 801 (a) (3) ;

23- Vinh Hiep Co., Ltd, t/p HCM, có 2 sản phẩm:
Thịt hào (ngêu, sò) hấp chín đông lạnh, và Mực đông lạnh, là các sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất, vi phạm các điều 402(a)(3), 601(b), và 801(a)(3);

24- Vifaco Nong Hai San-Xay, thịt ốc hấp chín đông lạnh, chứa độc chất Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

25- Vuong Kim Long Co. Ltd, có 3 sản phẩm về bún khô, loại đặc biệt, sợi lớn, sợi nhỏ, sản phẩm dơ bẩn và loại phẩm màu không an toàn, vi phạm các điều 601(b), 801(a)(3), 402(a)(3), 402(c), 501(a)(4)(B) .

Trên đây chỉ liệt kê điển hình một số công ty, một số sản thực phẩm bị từ chối nhập cảng vào Hoa Kỳ nội trong năm mà thôi. Còn bao nhiêu công ty khác, bao nhiêu sản phẩm khác đã "lọt sàng" trước đó và sau nầy? Còn bao nhiêu sản phẩm từ Việt Nam đã vượt ra ''biển lớn" vào Canada , Âu châu, Nhật, Úc v.v... và v.v...? Bao nhiêu triệu tấn thực phẩm có các chất độc hại đã "nằm vùng" (và hoành hành) trong bao tử người Việt sống ở nước ngoài và tất nhiên cả và người dân trong nước?

Thỉnh thoảng trong nước, báo chí có loan tin học sinh, công nhân hay người dân bình thường, thấp cổ bé miệng bị ngộ độc thức ăn, nhưng không thấy thống kê số người ngộ độc hay tử v ong. Tình trạng thông tin hay thống kê nầy đối người Việt sống ở nước ngoài trên toàn thế giới lại càng hiếm hoi, có thể nói là hầu như chưa nghe thấy (vì không ai thông báo hay loan tin chứ không hẳn là không có).
 (Cinnamon) ghi sai nhãn về hình thức và nội dung được quy định theo các điều khoản 4(a), 801(a)(3);

 



VÔ HIỆU HÓA
TẦU TUẦN TRA NGƯ CHÍNH (TTNC)

Nguyễn Ðạt Thịnh



Tầu “tuần tra ngư chính” là một thứ vũ khí vô cùng lợi hại trên cả hai bình diện chiến thuật và chiến lược. Trên địa hạt chiến thuật nó đắc dụng trong cuộc hải chiến với ngư dân Việt Nam, nên vừa hoàn tất cuộc chiếm đóng vùng biển Hoàng Sa, và đang quay mũi tầu tiến về tấn công ngư dân Việt Nam trên vùng biển Trường Sa để giữ độc quyền ngư trường này cho ngư dân Trung Hoa.Và trên địa hạt chiến lược tầu “tuần tra ngư chính” đang vô hiệu hóa Ðệ Thất Hạm Ðội chực sẵn ngoài Thái Bình Dương để chờ can thiệp vào Biển Ðông nếu chiến tranh xẩy ra tại đó.

Bộ Nông nghiệp Trung Quốc tuyên bố sẽ tăng cường tầu tuần tra
ngư chính, "bảo vệ nghề cá" tại Trường Sa.

Ðã chứng minh cái lợi hại của nó, tầu “tuần tra ngư chính”  đáng được mệnh danh là TTNC để ghi  vào cuốn “từ điển quân sự” trong mục vũ khí; đại loại như súng không giật được ghi trong từ điển bằng 3 chữ SKZ, hay khẩu súng trường lính Mỹ sử dụng trong thời Thế Chiến II, được thự danh dưới cái tên M1.

Khẩu súng này là một hình ảnh khó quên đối với quân nhân Việt Nam, vì những đặc tính cười ra nước mắt: nó dài thước mốt, nặng 5.3 ký mà Hoa Kỳ lấy trong kho vũ khí phế thải ra, võ trang cho người lính Việt Nam cao thước rưỡi, nặng 53 kí.

Họ kéo lê khẩu súng vừa quá dài, vừa quá nặng trong những cuộc hành quân lê thê tháng này sang tháng khác.

Nếu khẩu AK ngày truớc đã là lợi khí giúp Việt Cộng thắng thế khi quân nhân VNCH còn trang bị bằng M1, thì hôm nay TTNC là thứ lợi khí đang giúp Trung Cộng thực hiện cuộc tấn chiếm Biển Ðông vô cùng êm ả, thành tích mà hàng không mẫu hạm hay khu trục hạm không làm nổi.

Chứng minh điển hình: nếu một chiến hạm Trung Cộng đụng đắm, hay bắn chìm một ngư thuyền Việt Nam thì diễn biến này đã vô cùng ồn ào, đã bị thế giới lên án, bị hội ngư dân Việt Nam đưa ra tòa án quốc tế đòi bồi thường, và hy vọng Việt Cộng dám đứng ra bênh vực ngư dân Việt Nam bằng những khí cụ quân sự như tầu chiến, phản lực cơ, biến Biển Ðông thành chiến trường mà Hoa Kỳ có môi trường để nhẩy vào can thiệp khi hải lực Trung Cộng chưa theo kịp hải lực Hoa Kỳ.

Nhưng TTNC êm re đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, khủng bố ngư phủ Việt Nam, khiến họ khiếp sợ không dám vào ngư trường Hoàng Sa đánh bắt nữa mà không tạo ra một phản ứng quân sự nào cả. Cái lợi hại của TTNC là ở chỗ đó.

Hôm thứ Ba mùng 9 tháng Hai TTNC mở kỷ nguyên mới cho cuộc Nam Tiến của Tầu, và tạo ra nỗi khổ riêng cho ngư phủ Việt Nam và nỗi nhục chung cho dân tộc Việt Nam.

Kỷ nguyên khổ nhục mới được tên tầu phù Ngưu Thuấn, thứ trưởng bộ Nông Nghiệp Trung Cộng mở màn bằng câu tuyên bố Trung Cộng sẽ tăng cường TTNC để "bảo vệ nghề cá" tại Trường Sa.

Nỗi khổ riêng của ngư phủ là mất thêm ngư trường. Thuấn nói đưa thêm TTNC đến Trường Sa “bảo vệ nghề cá”; 4 chữ nghe hiền lành, và mang tính che chở này đang làm vài chục ngàn ngư dân Việt Nam lo lắng, khiếp sợ: họ đã từng biết Trung Cộng “bảo vệ nghề cá” bằng cách bắn giết, bắt bớ, bóp cổ, đánh đập, giam giữ ngư dân Việt Nam, phá hủy, tịch thu ngư thuyền, ngư cụ, và đòi vợ con, thân nhân ngư dân chạy tiền chuộc chồng, chuộc ghe về.

Và nỗi nhục chung của dân tộc Việt Nam là trong lúc TTNC tiến chiếm vùng biển Việt Nam, báo chí Việt Nam, nhà nước Việt Cộng vẫn hớn hở ca tụng quan thầy Trung Cộng.

Từ hơn một năm nay TTNC Trung Cộng quần quanh Hoàng Sa mà không gặp một sức kháng cự nào; giờ này, sau khi xua đuổi ngư dân Việt Nam tránh né vùng biển Hoàng Sa, Trung Cộng đưa TTNC xuống xa hơn nữa về phía Nam để tranh dành ngư trường Trường Sa, cấm không cho ngư dân Việt Nam đánh bắt tại đó nữa.

Đài Phát thanh Trung Cộng (CRI) loan báo hôm thứ Ba 02/09 là Ngưu Thuấn nói sẽ "kịp thời điều chỉnh tư duy về khai thác và quản lý nghề cá" ở khu vực Trường Sa, quần đảo mà Trung Cộng gọi là Nam Sa.

Ngưu nói "căn cứ theo tình hình mới, cần tăng cường TTNC bảo vệ nghề cá trên vùng biển Nam Sa, giữ gìn lợi ích biển quốc gia". Dĩ nhiên hai chữ “quốc gia” của Ngưu là để chỉ quốc gia Tầu.

Dù bị trói trong “tình thân” Hoa-Việt, báo quốc nội không dám phân biệt Tầu, Việt; nhưng VietnamNet vẫn phải viết là lời tuyên bố của Ngưu chắc chắn sẽ gây quan ngại cho các quốc gia đã cùng Trung Cộng tuyên bố chủ quyền và khai thác nguồn lợi hải sản tại Trường Sa như Việt Nam và Philippines; nhận xét này nghe khách quan như chuyện mất thêm biển vì TTNC chỉ liên quan đến người nước ngoài.

Ðài Trung Cộng tường thuật việc Ngưu Thuấn tham dự lễ kỷ niệm 15 năm "xây dựng và bảo vệ" bãi Mỹ Tế ở Nam Sa hôm 09/02; lợi dụng dịp này hắn nói, “Vùng biển Nam Sa là ngư trường truyền thống của ngư dân Trung Quốc, rất nhiều ngư dân Hải Nàm, Quảng Đông và Quảng Tây đã đời đời kiếp kiếp đánh bắt cá tại đây; sở Ngư chính Hải Nam canh giữ bãi Mỹ Tế và tuần tiễu thi hành pháp luật tại Nam Sa đã phát huy vai trò nổi bật trong việc giữ gìn quyền lợi biển quốc gia và trật tự sản xuất nghề cá, bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư dân.”

Tôi hoàn toàn không hiểu lý do khiến giọng điệu của VietnamNet nghe “hồ hởi” vui mừng về việc Trung Cộng chiếm thêm vùng biển Trường Sa. Câu văn của tờ báo Việt Nam thiếu một chữ “TẦU” để trở thành  “… bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư phủ TẦU.” Thiếu chữ TẦU là đánh mất Việt Nam ngay tại Hà Nội.

VietnamNet còn viết, “Đúng 15 năm trước, tháng Hai năm 1995, Trung Quốc đã cho xây cơ sở nhà sàn trên bãi Mỹ Tế (Mischief Reef, tiếng Việt là Đá Vành khăn), bắt đầu chiếm bãi đá này cho dù có phản đối từ Philippines là nước giữ kiểm soát bãi đá này từ trước.

Không xa, cũng tại Trường Sa, có đảo đá Gạc Ma (Johnson South Reef) mà Trung Quốc chiếm từ tay Việt Nam sau trận hải chiến ngày 14/03/1988 làm 70 lính hải quân Việt Nam thiệt mạng.”

Lời văn vẫn vô tư như việc 70 người lính hải quân bị Tầu giết là lính nước khác.

Dù đuổi ngư phủ Việt Nam ra khỏi Hoàng Sa từ một năm nay, và sắp đuổi chúng ta  ra khỏi Trường Sa, nhưng Tầu vẫn nói không bắt nạt nước nhỏ, người phát ngôn Tầu, Mã Triều Húc tuyên bố, “Trung Quốc không bao giờ bắt nạt người khác, không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, hiện nay không xưng bá, sau này phát triển cũng mãi mãi không xưng bá,” chỉ cấm ngư dân Việt Nam đánh, bắt cá trong vùng biển Việt Nam thôi.

Chúng nhũn nhặn không xưng bá, nhưng chúng vẫn được bọn trùm Việt Cộng coi chúng như bá phụ. Việt Cộng tùng phục đến mức việc “cai trị” Việt Nam không còn là bận tâm của Hồ Cẩm Ðào hay những quan chức lớn của Tầu nữa, mà chỉ là việc của thứ trưởng Ngưu Thuấn, và của thái thú Quốc Tường. Ngưu Thuấn chỉ cần tuyên bố một câu là ranh giới lãnh hải thay đổi, ngư dân Việt Nam chết đói.

Thuấn bô bô nói: năm nay - 2010 - được Trung Cộng công bố là năm hữu nghị Hoa-Việt; trong lúc Mã Húc vuốt ve bảo Hà Nội cứ yên tâm, vì “Logic cường quyền chính trị bị Trung Cộng coi là vô lý, thiếu căn bản.”

Húc cứ nói, Thuấn cứ nói, Hà Nội cứ nín; và ngư dân Việt Nam cứ tiếp tục bị thủy thủ Tầu trên TTNC bắt, đánh, bóp cổ, giam giữ.

Trở lại với lợi khí TTNC để thử bàn về một thứ vũ khí khắc kỵ, chế ngự được TTNC, không cho chúng làm bá chủ Biển Ðông nữa.

Thiết tưởng việc này cũng không khó đến mức không làm được: luật biển của Liên Hiệp Quốc ấn định cho Việt Nam có một vùng lãnh hải quanh lãnh thổ, và một vùng kinh tế hải phận rộng đến 200 hải lý cách bờ biển. Trung Cộng cũng đang áp dụng luật đó, sử dụng TTNC như một thứ cảnh sát kinh tế trong hải phận kinh tế mà chúng nói là của chúng.

Việt Cộng cũng có quyền dùng cảnh sát biển, như Hoa Kỳ dùng Coast Guard để bảo vệ vùng biển của họ; công tác đầu tiên của CSB (Cảnh sát biển) là bắt những ngư thuyền Trung Cộng đang hành nghề chỉ cách bờ biển Việt Nam 40 hải lý, như nhiều lần ngư phủ Việt Nam đã tố cáo.

CSB cũng lại là những chiến hạm sơn trắng như TTNC; hơn thế nữa Việt Cộng có thể trang bị cho CSB thêm những dụng cụ quay phim, những ăng ten truyền hình để trực tiếp truyền đi khắp thế giới hình ảnh CSB bắt bớ ngư phủ Trung Hoa hành nghề trong hải phận Việt Nam. Ði xa hơn nữa, Việt Cộng còn có thể mời phóng viên ngoại quốc cùng đi trên tầu CSB để họ chứng kiến việc làm hợp pháp của CSB.

Lực lượng biên phòng của những tỉnh Quảng Ngãi, Thừa Thiên thường xuyên báo động là hàng trăm ngư thuyền Trung Cộng đánh bắt chỉ cách bờ biển Việt Nam vài chục hải lý, thì việc bắt giữ 100 ngư thuyền Trung Cộng phạm pháp có thể làm trong một ngày.

Những ngư phủ Trung Cộng bị bắt cũng sẽ bị giam, bị đưa ra tòa xử phạt, và toàn bộ diễn tiến sẽ diễn ra công khai với sự quan sát của truyền thông quốc tế.

Phản ứng này sẽ đưa Trung Cộng vào thế há miệng mắc quai, vì Việt Cộng, theo đúng ám số chuyên nghiệp, chỉ làm những việc Trung Cộng đã làm; và cái thế không thể phản đối này sẽ đưa Trung Cộng vào bàn hội nghị để phải chấp nhận tình trạng “dễ người, dễ ta; khó người, khó ta”.

Sơn trắng một chục chiếc tiểu hạm là việc Việt Cộng biết làm, trang bị máy quay phim, máy truyền hình cho những tầu CSB Việt Cộng cũng biết làm, mời phóng viên ngoại quốc tháp tùng tầu CSB cũng vẫn không phải là việc làm quá sức Việt Cộng.

Ðiều chúng không làm được là thiếu tự chủ, giữ cho tay thôi bắt chuồn chuồn, miệng thôi không đánh bồ cạp vì run nữa.

Thế võ “gậy ông đập lưng ông” không hề là sáng kiến của kẻ viết bài này, nó chỉ là một trang của bí kíp Kim Dung, mà kẻ cầm bút đã luợm mót trong võ tầu. Nhưng xin bảo đảm công dụng của nó: nếu hôm nay Việt Cộng cả gan công bố việc sơn trắng một loạt tiểu hạm để thành lập đội CSB, thì chỉ ngày mai TTNC sẽ ngưng hoạt động.

Vác toàn bộ sức nặng của quả đất không phải là việc khó, có khó chăng là tìm chỗ đặt chân xuống để đứng vững hầu sử dụng hai tay nâng quả đất lên. Ðất đứng của Việt Cộng hầu giải quyết thế thua thiệt ngoài Biển Ðông là quảng trường Diên Hồng, nhưng chúng lại không biết quảng trường này nằm ở đâu.

Chúng đang đứng giữa quảng trường Thiên An Môn, và đó là nguyên nhân không vô hiệu hóa TTNC được.

Nguyễn Ðạt Thịnh

 
****************************************************************************************************
****************************************************************************************************




                            NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
 

                   RÚT RA TỪ KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH:
                                                   Bài học 3:

                                    THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG
                                    CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY 
                                               TẠI ĐÔNG ÂU

 
                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                          Geneva, 28.01.2010

 

 Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.

=>     Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO

=>     Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN

=>     Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU  

Ngày 12.11.2009, chúng tôi đã viết Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO. Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.

Ngày 19.11.2009, chúng tôi viết Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN không phải cho riêng Nga mà cho cả các nước chư hầu Đông Aâu. Phá Tôn Giáo, phá đời sống tinh thần và chỉ tôn vinh vật chất, thì khi Kinh tế (vật chất) tồi tàn, con người Cộng sản trở thành tha hóa, cá nhân sống với những tranh giành miếng ăn không còn tôn trọng danh dự và công lý. Tình trạng Kinh tế và tha hóa Xã hội như vậy trở thành Định Mệnh sụp đổ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Khi nói ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:

*        Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.

*        Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV tại Nga và kéo theo Đông Âu. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.

Hai Bài học trên đây đang diễn ra tại Việt Nam. Lực Lượng Tôn Giáo, đặc biệt là Công Giáo, lớn mạnh. Tinh thần đấu tranh của Lực Lượng Công Giáo càng ngày càng trở thành cương quyết do chính những đàn áp vô lý của CSVN tạo nên. Kinh tế Việt Nam là sự bóc lột sức lao động của dân, là sự cướp bóc tài sản quốc gia cho túi riêng của nhóm Mafia CSVN. Độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế của nhóm đảng Mafia làm Tham nhũng, Hối lộ tràn lan. Xã hội sống trong tha hóa, bất công.

Hôm nay, 28.01.2009, chúng tôi viết Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU. Không phải chỉ có những cuộc NỔI DẬY của Dân chúng chống Cộng sản vào những năm 1989-1991, mà từ năm 1953 đã có những cuộc nổi dậy. Nếu những cuộc nổi dậy trước những năm 1989-1991, mặc dầu rất kiên cường nhưng không mang lại thành công, thì phải có những lý do của hòan cảnh khác với tình hình Nga và Đông Aâu ở thời điểm 1989-1991. Bài học này muốn nhìn những lý do THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của những cuộc nổi dậy ở Đông Aâu để có thể áp dụng cho việc nổi dậy tại Việt Nam hiện nay.

Chúng tôi viết những khía cạnh sau đây:

=>     Những cuộc nổi dậy và thất bại
=>     Những cuộc nổi dậy và thành công
=>     Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam

 
Những cuộc nổi dậy và thất bại

Sau Thế Chiến II, hai Khối Cộng sản và Khối Tự do thành hình, bắt đầu từ những tranh chấp tại Bá Linh do Staline chủ xướng. Năm 1947, Chương trình Marshall với USD.173 tỉ bắt đầu tái thiết Aâu châu hậu chiến. Staline tìm mọi cách để ngăn cản Đông Bá Linh và các nước chư hầu Đông Aâu đứng ngòai tầm ảnh hưởng của đồng Đo-la do Chương trình này. Năm 1948, Staline phong tỏa Đông Bá Linh nằm trong lãnh thổ Đông Đức, cấm những đường bộ chuyển vận lương thực cho Bá Linh mà chính Đồng Minh Mỹ, Anh, Pháp cùng điều hành với Nga. Đây là việc bắt chẹt Mỹ, Anh, Pháp phải bỏ Bá Linh. Nhưng Đồng Minh đã thiết lập ngay năm 1949 Cầu Không Vận và vẫn giữ Tây Bá Linh.

1.      Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953

Tây Bá Linh được xây dựng. Tây Đức phát triển Kinh tế. Đông Đức dưới quyền của Erich Honecker, một đồ đệ trung thành của Staline, đẩy mạnh kỹ nghệ nặng nhằm phục vụ cho kỹ nghệ võ khí của Nga. Phong trào nêu danh anh hùng công nhân sản xuất được phát động khắp nước. Công nhân bắt đầu thấy mình làm việc quá cực nhọc, chỉ nhận được khẩu phần ăn uống, không có nghiệp đòan bảo vệ. Khối công nhân xây cất chỉ thấy công việc xây những cơ sở cho đảng, mà chính nhà ở của họ tồi tàn, nhất là sau chiến tranh. Tình trạng này đã đưa đến cuộc nổi dậy của Công nhân, bắt đầu từ khối Công nhân xây cất.

Staline chết tháng Ba năm 1953. Nikita KHROUCHTCHEV lên nắm quyền.

Ngày 16.06.1953, Công nhân xây cất đình công. Phong trào lan tràn ra tới 278 nhóm công nhân, không phải chỉ là công nhân xây cất mà còn cả những công nhân thuộc kỹ nghệ năng. Từ đình công, thợ thuyền xuống đường biểu tình và đi đập phá những cơ sở của đảng Cộng sản.

Liền ngày hôm sau, 17.06.1953, Khrouchtchev ra lệnh cho xe tăng của Hồng Quân bắn xả vào những đòan biểu tình. Cuộc đàn áp làm cho 300 nhân công thiệt mạng. Honecker xử dụng Stasi bắt 20’000 người. Oâng cũng ra lệnh xử tử 200 công nhân được coi là những người thúc đẩy và điều hành cuộc nổi dậy.

Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953 thất bại do chính lệnh đàn áp khát máu của Moscou.

2)      Cuộc nổi dậy của Dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956

Thành phố Budapest và Dân chúng Hung Gia Lợi nổi dậy vào tháng Mười năm 1956 để chống lại đảng Cộng sản đã độc tài đưa Hung Gia Lợi làm chư hầu cho Nga. Dân chúng chỉ làm việc phục vụ cho Đế quốc Cộng sản Nga, trong khi ấy đời sống dân chúng, sau hơn 10 năm chấm dứt Thế Chiến, vẫn trong tình trạng tồi tệ, nghèo nàn. Cuộc nổi dậy của Hung Gia Lợi đòi hỏi Độc Lập cho quốc gia đối với Nga.

Do lệnh của Khrouchtchev từ Moscou, hơn 200 xe tăng của Hồng Quân đã tràn vào Budapest, tàn sát những đòan Dân chúng xuống đường.  Trong một thời gian, những nhóm dân chúng, từ những cửa sổ của các nhà ở đường phố đã kháng chiến chống lại xe tăng, nhưng vô hiệu.

Khrouchtchev không thể để cho dân chúng từ bất cứ quốc gia chư hầu nào chống lại quyền lực Cộng sản từ Moscou.

Cuộc nổi dậy của dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956 thất bại do sự cứng rắn đàn áp của Moscou. Hai cuộc nổi dậy 1953 tại Đức và 1956 tại Hung Gia Lợi càng làm cho Khrouchtchev tăng cường chiến tranh lạnh, nhất là tại Bá Linh.

Năm 1961, trong cuộc gặp tại Vienne (Aùo) giữa Khrouchtchev và Kennedy, Khrouchtchev đã tuyên bố với Kennedy rằng Nga sẵn sàng một cuộc chiến tranh nguyên tử về vấn đề Bá Linh. Nhưng tháng Mười năm 1961, Bức tường Bá Linh đã được thi hành với lệnh của Moscou. Việc xây Bức tường Bá Linh làm cho Kennedy nhẹ nhõm đối với đe dọa chiến tranh nguyên tử của Khrouchtchev. Theo Kennedy, xây Bức tường Bá Linh có nghĩa là Khrouchtchev thế thủ cho Khối Cộng sản chứ không tấn công nữa theo như thách thức tại Vienne.

3)      Mùa Xuân tại Prague (Tiệp Khắc) năm 1968

Năm 1968 làm năm nổi dậy của giới trẻ khắp nơi. Paris 1968: sinh viên xuống đường.

Alexander DUBCEK, Bí thư đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ tháng Giêng năm 1968. Oâng chủ trương Mùa Xuân Tại Prague nhằm cởi mở Chế độ và thóat dần tầm ảnh hưởng khống chế của Moscou. Đây không phải là cuộc nổi dậy bột phát từ dân chúng, nhưng là từ một đảng Cộng sản muốn nới rộng Chế độ để có thêm Tự do, Dân chủ và Nhân quyền.

Năm 1964, Khrouchtchev buộc phải từ chức và Leonid BREJNEV lên thay.

Nhưng Mùa Xuân tại Prague 1968 cũng bị lệnh của Moscou đàn áp. Brejnev cho lệnh xe tăng của Lực Lượng Phòng Thủ Pacte de Varsovie tràn vào Tiệp Khắc. Dubcek bị lọai khỏi đảng Cộng sản Tiệp. 

Alexander DUBCEK, năm 1968, có thể nói là một nhà Cải Cách đi trước Mikhail GORBATCHEV 17 năm, 1985, với Perestroika. Nếu Mùa Xuân tại Prague xẩy ra vào thời Perestroika của Gorbatchev thì có lẽ nó đã thành công, chứ không bị xe tăng đàn áp như thời Brejnev.

THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG đến từ lệnh của Moscou vậy.
 

Những cuộc nổi dậy và thành công

Chúng ta đi vào những cuộc nổi dậy từ năm 1980 đến 1989-1991. Trong thời kỳ này, có những thay đổi từ Moscou.

Bắt đầu từ năm 1978, sau 14 năm nắm trọn quyền hành, đến năm 1982, Brejnev bước vào giai đọan mà người ta gọi là chiều tà của ông với những tệ đoan hành chánh, xã hội, kinh tế báo hiệu tình trạng sụp đổ của Cộng sản mà Gorbatchev buộc lòng phải cải cách sau này để cứu vãn chế độ. “Les années 1978 à 1982 furent le crépuscule de l’ère Brejnev, époque òu la stagnation économique et la storpeur politique semblaient faire éclore la corruption et l’intrigue dans les plus hautes sphère de la politique.” (Những năm 1978 đến 1982 đã là chiều tà của triều đại Brejnev, thời kỳ mà tình trạng ứ đọng kinh tế và sự hôn mê chính trị dường như làm nẩy nở tham nhũng và mưu mẹo ở những địa vực cao nhất của chính trị) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.161).

Tháng Mười năm 1980, Gorbatchev vào Bộ Chính trị. Trừ Gregori ROMANOV hơn ông 8 tuổi, GORBATCHEV sống giữa những Lãnh tụ già yếu khác gần đất xa trời, thở không ra hơi.  Gorbatchev trẻ trung, đầy sinh lực, không uống rượu, có tài ngọai giao, được coi là người giữ chủ yếu chính sách của Moscou từ những năm 1980.

Những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1980 có hòan cảnh để thành công, hoặc tối thiểu không bị xe tăng đàn áp đẫm máu như trước đây.

1)      Cuộc nổi dậy của CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT Ba Lan năm 1980

Lech WALESA thành lập CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tháng Bẩy năm 1980, một Công Đòan Tự do ở trong một Thể Chế độc tài Cộng sản. Đây là một việc nổi dậy của giới công nhân. Năm 1981, cuộc đình công đấu tranh đầu tiên được tổ chức tại Dansk và trong cuộc biểu tình, Lech WALESA giơ cao cho công nhân thấy chiến tháng đầu tiên của đấu tranh, đó là tờ giấy mà Nhà Nước Cộng sản cho phép thành lập Công Đòan.

Khi chính thức được công nhận, Công Đòan Đòan Kết tiếp tục đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, mặc dầu bị Nhà Nước Cộng sản Ba-Lan tìm cách đàn áp.

Xin nhắc ở đây rằng từ 16.10.1978, một Hồng Y gốc Ba Lan được bầu làm Giáo Hòang, Jean-Paul II. Từ Moscou, bắt đầu tinh thần Gorbatchev, không có lệnh mang xe tăng đàn áp cuộc nổi dậy tại Ba Lan. Tuy nhiên Giáo Hòang Jean-Paul II, vẫn nhớ những hình ảnh xe tăng đàn áp trước đây, đã công khai tuyên bố rằng nếu Nga đem xe tăng tràn vào Ba-Lan, thì Ngài sẵn sàng cởi áo Giáo Hòang để về Ba Lan chiến đấu. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang Jean-Paul II thẳng thắn khuyên mọi người: “Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 còn viết về sự đóng góp đấu tranh của Giáo Hòang: “Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh).

Cuộc đấu tranh của Công Dòan Đòan Kết đã trường kỳ, bắt buộc Nhà Nước Cộng sản phải đối thọai. Đảng Cộng sản Ba Lan cuối cùng vào tháng Tám năm 1989 đã phải họp bàn tròn với Lực Lượng đối lập mà dẫn đầu là Công Đòan Đòan Kết. Lần đầu tiên, một Thủ tướng được bầu lên mà không phải là đảng viên Cộng sản.

Việc đấu tranh thành công của Công Đòan Đòan Kết hiển nhiên từ hai yếu tố ngòai Ba Lan: Moscou không gửi xe tăng đàn áp như trước và Giáo Hòang La Mã tích cưcï ủng hộ.

2)      Những cuộc nổi dậy 1989-1991 chấm dứt Cộng sản

Như trên chúng tôi đã viết, từ năm 1978, Brejnev sống như người đã chết. Một tờ báo Văn Học từ Leningrad đã viết: “La plupart des gens pensent à lui comme s’il était déjà mort.” (Phần lớn những người nghĩ về ông như là ông đã chết) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162). Gorbatchev, trong bộ chính trị, đã mang vào tinh thần cải cách, đổi mới ngay từ cuối triều đại Brejnev.

Năm 1982, Brejnev chết, Tatiana ANDROPOV lên thay, nhưng cũng là người già yếu phải vịn vào vai Gorbatchev để đi dự đám táng Brejnev. Những tháng cuối cùng, Andropov nằm liệt giường tại bệnh viện Kuntsevo và tất cả những quyết định chính trị đều qua tay Gorbatchev truyền thông. Andropov chết tháng Hai 1984. Một ông già nữa đau yếu bệnh tật, TCHERNENKO lên thay. “Il était déjà si faible qu’il n’aivait même plus la force de lever le bras jusqu’au cercueil qu’il accompagnait sur la place Rouge. Il pouvait à peine traverser une pìece sans aide” (Oâng ta yếu sức đến nỗi ông ta không còn sức để giơ tay lên đụng vào quan tài mà ông phải đưa đám đền Công trường Đỏ. Oâng ta khó khăn đi qua được một căn phòng mà không có sự giúp sức.) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162).

Tchernenko chết ngày 11.03.1985. Mikhail GORBATCHEV lên thay. Nắm trọn quyền, Gorbatchev tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA như chúng tôi đã viết trong Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN. Gorbatchev đã giúp đỡ các Lãnh đạo già yếu để đưa đám táng cho nhau. Trong tình trạng bại họai của Kinh tế và Xã hội, Gorbatchev phải cố gắng Cải Cách nếu muốn cứu vớt phần nào chế độ.

Tinh thần Cải Cách của Moscou lan rộng khắp Đông Aâu. Moscou không còn sức để can thiệp vào các chư hầu.

Các nước Đông Aâu đã đồng đứng dậy vào những năm 1989-1991:

=>     Hung Gia Lợi mở hàng rào kẽm gai giữa Hung và Áo

=>     Đại sứ quán của Tây Đức được Nhà Nước Cộng sản Tiệp cho phép đón tỵ nạn, từ đó di chuyển sang Tây Đức.

=>     Dân chúng Đông Bá Linh, từ hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS phát xuất những cuộc biểu tình tuần hành của dân chúng.

Thực vậy cuộc nổi dậy của Dân Đông Bá Linh mang tính cách quyết định và được sự ủng hộ công khai của GORBATCHEV nhân cuộc ông qua để mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản tại Đông Đức.

Năm 1989, Erich HONECKER, đệ tử trung thành của Staline, tổ chức mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản. Oâng mời các đảng Cộng sản trên Thế giới đến tham dự. Ngày 06.10.1989, Gorbatchev sang tham dự. Dân chúng biểu tình hô lớn Gorbi ! Gorbi ! như người đến tháo gỡ chế dộ ra khỏi kềm kẹp Staline mà Honecker vẫn chủ trương.

Xuống máy bay, Gorbatchev đã tuyên bố ngay rằng tất cả những quyết định chính trị phải để ý đến đòi hỏi của dân chúng. Ngày hôm sau, 07.10.1989, cuộc gặp riêng giữa Honecker và Gortbatchev được coi là cuộc họp của hai người điếc; mỗi người mỗi ngả.  Gorbatchev đã cảnh cáo Honecker rằng những ai không theo Thời cuộc, sẽ bị Thời cuộc lọai ra.

Hai ngày sau khi Gorbatchev lên máy bay về Nga, một cuộc biểu tình lớn 10'000 người phát xuất từ Nhà Thờ ST.NICOLAS ngày 09.10.1989. Người ta sợ một cuộc đàn áp bằng xe tăng do quyết định của chính Honecker chứ không từ Moscou. Người ta nghĩ đến cuộc đàn áp bằng xe tăng tại Thiên An Môn mới đây ngày 04.06.1989.

Nhưng cuối cùng Honecker không dám đàn áp biểu tình bằng xe tăng bởi vì ngại sợ chính những người trong đảng. Đảng bắt đầu chia rẽ trước sức mạnh biểu tình của dân chúng. Ngày 18.10.1989, Erich Honecker xin từ chức. Egon KRENZ lên và tuyên bố những biện pháp cải tổ nửa vời.  Nhưng dân chúng, một khi đã nổi dậy, họ muốn đi tới cùng.

Ngày 04.11.1989, một cuộc biểu tình vĩ đại được phép tổ chức. Ngày 09.11.1989, lúc 23 giờ đêm, Bức tường Bá Linh được chọc thủng và nhanh chóng đổ xuống ngày hôm sau.
 

Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam

Nhìn những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1953 đến những năm 1989-1991, chúng ta thấy rằng tại một nước chư hầu, yếu tố quyết định THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của dân chúng nổi dậy, ngòai ý chí đấu tranh can đảm của dân, còn phải kể đến sự can thiệp đàn áp hay sự thả lỏng, cổ võ từ Moscou.  Những cuộc nổi dậy của Dức 1953, của Hung Gia Lợi 1956, của Tiệp Khắc 1968 đã THẤT BẠI vì bị xe tăng của Hồng Quân trực tiếp đàn áp do lệnh của Khrouchtchev và của Brejnev, trong khi đó những cuộc nổi dậy từ 1980 đến những năm 1989-1991 đã THÀNH CÔNG vì không những không có đàn áp đến từ Moscou, mà còn được tinh thần Cải Cách của Gorbatchev nâng đỡ, cổ võ.

Tại Việt Nam,  chúng tôi muốn dành cho một Luật sư lão thành của chế độ lên tiếng trước về thực trạng Quê Hương, như vậy để tránh cái công thức láo khóet của CSVN rằng đây là tuyên truyền của thế lực thù địch ngọai lai. Luật sư TRẦN LÂM, nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”  Chúng tôi chỉ thêm rằng: “Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam  giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.”

Lực Lượng nổi dậy của Dân chúng Việt Nam đã sẵn sàng. Dân Oan mất Nhà, Đất, đã kéo về Sài Gòn, Hà Nội biểu tình. Công Nhân thường xuyên đình công. Giới trẻ và Trí thức đã can đảm cất tiếng nói ngăn chặn xâm lăng Trung quốc. Dân Công giáo đã hiệp thông thành một Lực Lượng lớn.

Bài học từ Bức tường Bá Linh làm cho Lực Lượng sẵn sàng nổi dậy này đặt những câu hỏi sau đây:

=>     Về mặt Chính trị, CSVN đã làm bồi cho Trung quốc đến mức nào ?  Phải chăng CSVN mất độc lập về Chính trị để đến nỗi sẵn sàng rước xe tăng Trung quốc tràn vào Việt Nam để giết con cháu Hồng Bàng? 

=>     Về mặt Quân sự, lệnh chỉ huy của Trung quốc có dủ mạnh để bắt quân đội Việt Nam xả súng giết đồng bào ruột thịt của mình không ?

=>     Về mặt Kinh tế, quyền lợi Kinh tế của Trung quốc nắm giữ tại Việt Nam lớn đến nỗi Trung Cộng có thể biện minh trước Thế giới rằng họ cho Quân đội tràn vào Việt Nam để bảo vệ Kinh tế của họ hay không?

Hỏi những câu đó, cốt ý để thẩm định sự THÀNH CÔNG hay THẤT BẠI khi Lực Lượng quần chúng hiện nay đứng lên như tại Đông Aâu. Nếu chỉ nguyên CSVN, thì Lực Lượng dân chúng không có gì phải ngại sợ mà đặt câu hỏi. Honecker không dám ra lệnh cho lính Đức dùng xe tăng bắn xả vào dân Đức vì sợ chính một phần quân đội Đức sẽ chống lại.  Cũng vậy, Nông Đức Mạnh không thể ra lệnh dùng chiến xa bắn vào dân chúng anh em bà con của chính quân đội, sợ rằng một bộ phân quân đội sẽ đảo chính giết chính Nông Đức Mạnh.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 28.01.2010


ĐỒNG CHIÊM:THƯ CHA BỀ TRÊN TỔNG QUYỀN
GỞI ANH EM DCCT TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

Roma, Italy
24/01/2010

Anh em thân mến,
Hôm qua, chúng tôi nhận được thông tin đau buồn từ Việt Nam về một anh em DCCT, Thầy Antôn Nguyễn Văn Tặng, 36 tuổi bị đánh đập rất dã man. Thầy bị đánh trên đường đến thăm giáo xứ Đồng Chiêm cùng với một số anh em DCCT và giáo dân sau khi Thánh Giá tại nghĩa trang của giáo xứ Đồng Chiêm bị phá hủy. Tình hình trở nên rất căng thẳng. Thầy Tặng bị đánh bất tỉnh bên vũng máu.

Những chi tiết về việc phá hủy Thánh Giá và đánh đập Thầy Tặng đã được đăng tải một cách rộng rãi trên các phương tiện truyền thông.

http://www.catholic newsagency. com/news/ archdiocese_ of_hanoi_ condemns_ savage_beating_ of_redemptorist_ brother/
 
Nhà cầm quyền đã chối trách nhiệm, nhưng sự chối bỏ này đã bị các Giám mục Việt Nam, các nhân chứng và các phóng viên độc lập vạch trần. Cha Giám Tỉnh Việt Nam đã xin chúng ta cầu nguyện trong lúc khó khăn này. Đây không ch