|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| =============================================================== VietTUDAN --------------------------------------------------------------THOI SU/THONG TIN =============================================================== | | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ: HẢI NGỌAI CẤM VẬN NGỌAI TỆ ĐỐI VỚI MAFIA CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010
HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:
=> Tạm ngưng du lịch Việt Nam
=> Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết
=> Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.
Đấu tranh chống lại CSVN, chúng tôi luôn luôn đứng ở lãnh vực Kinh tế. Lực lượng đấu tranh chính yếu là tại Quốc nội. Hải ngọai yểm trợ cho Quốc nội. Có hai Mặt Trận mà Hải ngọai có thể đóng góp hữu hiệu, đó là Mặt Trận Thông Tin về Quốc nội và Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế chống lại Mafia CSVN cướp bóc Dân chúng.
Đối với Mặt Trận Thông Tin về Việt Nam, Hải ngọai phải tăng cường luôn luôn vì chúng ta có phương tiện và vì Truyền Thông hiện nay là từ trời rơi xuống mà CSVN khó lòng ngăn chặn. Đối với Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế, chúng ta phân biệt những điểm tế nhị. Chúng ta tránh những gì có thể làm hại đến đời sống làm ăn kiếm sống vất vả của Dân chúng, nhưng đối riêng với Mafia CSVN cướp bóc, thì chúng ta kêu gọi trừ diệt không thương tiếc.
Từ khi CSVN tuyên bố phá giá nội tệ, chúng tôi thấy đây là dịp mà Hải ngọai phải nắm lấy để tấn công nhóm đảng Mafia CSVN mà không ngại sợ liên hệ đến cuộc sống làm ăn vất vả của Dân chúng. Việc buộc lòng phá giá đồng bạc Việt Nam cho thấy một tình trạng khan hiếm ngọai tệ có thể đưa Cơ Chế đến phá sản. Chúng tôi muốn kêu gọi Hải ngọai đòan kết, cứng rắn xử dụng mọi biện pháp CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Cơ Chế Mafia CSVN cướp bóc.
CSVN khan hiếm ngọai tệ trầm trọng
Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế cho đến nay, CSVN đang rơi vào tình trạng khan hiếm ngọai tệ như sau:
=> Đầu tư nước ngòai giảm 82% vì chính nước ngòai cũng đang trải qua Khủng hỏang. Ngày nay, không Nhà Nước Tây phương nào, Liên Aâu và Mỹ, không thiếu hụt Ngân sách. Tình trạng khủng hỏang đang diễn ra nguy hiểm tại một số nước Liên Aâu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Liên Aâu đang khó khăn trong việc cứu vớt những nước này, nên khó lòng nghĩ đến đầu tư vào Việt Nam xa xôi nguy hiểm. Trung Đông cũng phải quan tâm đến vấn đề Dubai.
=> Aâu, Mỹ du lịch Việt Nam giảm 70%. Xuất cảng của Việt Nam sang Liên Aâu và Hoa kỳ giảm 62%, đó là chưa kể những hàng hóa bị cấm đóan vì độc hại và những hàng bị tăng thuế nhập cảng như tôm cá vào Mỹ, đồ may mặc, da giầy vào Liên Aâu. Khi du lịch giảm, hàng xuất cảng giảm, thì làm sao có thể tăng ngọai tệ được.
=> Trong khi ấy, những hàng nhập siêu cho Việt Nam lại tăng mạnh và quá mức. Cán cân thương mại nhập/xuất mất thăng bằng. Nhập siêu tức là ngọai tệ đi ra.
Đình trệ chung về Mậu dịch Quốc tế
Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày hôm nay 25.02.2010, trang 17, đăng những lời tuyên bố của chính Oâng Pascal LAMY, Tổng Giám đốc WTO:
“Le commerce international enregistré l’an dernier un recul sans précédent depuis la Seconde Guerre Mondiale en raison de crise 12%, et l’année 2010 s’annonce médiocre avec déjà des signes inquíetants pour la reprise économique espérée. Le commerce mondial a été victime de la crise et s’est contracté de 12% en volume en 2009”. (Thương mại quốc tế ghi nhận năm vừa rồi một sự lùi lại chưa bao giờ xẩy ra từ Thế Chiến Thứ Hai với 12% giảm, và năm 2010 báo hiệu xấu với những dấu hiệu đáng lo ngại cho việc phục hồi kinh tế như ao ước. Thương mại hòan cầu đã là nạn nhân của khủng hỏang và đã lùi 12% tính về lượng giao dịch trong năm 2009.)
Oâng nói thêm về những lý do của việc lùi chưa từng có này:
“Selon OIT, le nombre de chomeurs a atteint un niveau sans précédent de 200 millions de personnes, par conséquent le manque du pouvoir d’achat. La chute brutale des échanges commerciaux s’explique principalement par un repli de la demande des plus grandes économies, ainsi que par une raréfaction des prêts bancaires pour financer les transactions commerciales.” (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số thất nghiệp đã đạt tới mức chưa từng có là 200 triệu người. Việc tụt dốc tàn nhẫn của những trao đổi thương mại được giải thích chính yếu bởi việc cắt đi việc đặt mua hàng từ những nền kinh tế lớn nhất, cũng như bởi việc khan hiếm những món cho vay ngân hàng để tài trợ cho những thương vụ thương mại.)
Những tuyên bố trên đây của Oâng Tổng Giám đốc WTO chứng tỏ rằng những con số ca tụng tăng trưởng cũng như xuất cảng từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam là những khóac lác tuyên truyền mà thôi.
Phá giá đồng bạc Việt Nam là hậu quả tất nhiên
Trong bài viết dài về TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này, chúng tôi đã cắt nghĩa một cách giáo khoa rằng đồng nội tệ của một quốc gia mạnh hay yếu là do Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ, do Cán Cân Chuyển Vốn vào. Chúng tôi đã viết và cắt nghĩa như sau:
Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.
Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh hay yếu?
Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.
Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giûam giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.
Tại Việt Nam, ngọai tệ không những không vào mà còn thất thóat ra ngòai nhiều. Người trong nước tăng Cầu ngọai tệ, nên tỷ giá ngọai tệ tăng. Phía Cung nội tệ tăng để mua ngọai tệ phục vụ nhập siêu. Cung nội tệ tăng, thì tỷ giá nội tệ sánh với ngọai tệ bị mất giá.
Tình trạng khan hiếm ngọai tệ và Đình trệ xuất cảng càng kéo dài bao nhiêu, thì đồng bạc Việt Nam càng phá giá bấy nhiêu. Lần phá gia trước Tết (11.02.2010) chưa phải là lần cuối, mà việc phá giá còn tiếp tục.
Bản Tin Reuters do John Ruwitch, đánh đi từ Hà Nội như sau:
“HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.
Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.
Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.
“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.
“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”
Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả. “
Hải ngọai hãy cứng rắn dồn sức CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Mafia CSVN
Đã bao chục năm trường, mỗi năm Hải ngọai chúng ta đã chuyển về Việt Nam cho Gia đình trung bình USD.4-6 tỉ. CSVN không biết ơn mà vẫn luôn luôn coi chúng ta là thù địch, vẫn tàn nhẫn bóc lột đàn áp Dân chúng hay những người trong Gia đình của chúng ta. Đây là dịp mà chúng ta phải dặn bảo nhau, mở Phong trào Hải ngọai CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với đám nhóm đảng Mafia CSVN tàn bạo, cướp bóc.
Lạm phát bắt đầu tăng. Với lạm phát tăng và đồng bạc phá giá, Dân chúng sẽ đứng lên !
HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:
=> Tạm ngưng du lịch Việt Nam
=> Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết
=> Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010
| | | |
NHỮNG ĐIỂM THỜI SỰ QUAN TRỌNG ĐÁNG GHI LẠI ĐỂ NHẬN ĐỊNH
NGUYỄN PHÚC LIÊN
* Trung quốc mất ăn mất ngủ vì món tiền Hoa kỳ nợ (China losing appetite for US debt) (CNN 17.02.2010; Le Monde 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32)
* Trung quốc muốn chuyển sản xuất một số hàng sang Aán độ để dễ xuất cảng (Financial Times 17.02.2010, p.14)
* Những khó khăn Chính trị và Kinh tế Trung quốc (Financial Times 17.02.2010, p.9; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.9)
* Những triệu chứng nguy hiểm cho việc tái khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế (Le Monde 17.02.2010, p.12)
* Hoa kỳ tỏ ra cứng rắn trong vấn đề trừng phạt Iran (Le Temps 17.02.2010, p.1, p.5; The Wall Street Journal 17.02.2010, p.10)
* Bruxelles đặt những điều kiện khắt khe đối với Athens (Fiancial Times 16.02.2010, p.1; Le Monde 16.02.2010, p.15; Le Temps 16.02.2010, p.1)
* Mặc dầu bị tấn công mọi phía, một cuộc thăm dò dư luận cho thấy rằng 62% dân Thụy sĩ (68% giới trẻ) sẵn sàng bầu phiếu chủ trương Bí Mật Ngân Hàng. (Le Figaro 15.02.2010, p.22)
* Khủng hỏang Hy-lạp lan sang Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Liệu có ảnh hưởng sang Mỹ hay không ? “It began in Athens. It is spreading to Lisbon and Madrid. And America ?” (Financial Times 11.02.2010, p.9)
* Bernanke làm thế nào đưa FED ra khỏi chiến lược kích thích tài chánh. (Financial Times 10.02.2010, p.3; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.6; Financial Times 11.02.2010, p.4)
* Đồng Euro và Khủng hỏang Tài chánh Liên Aâu. Những công kích đồng Euro. (Le Monde 10.02.2010, p.1, p.8)
* Cứu vớt phá sản Hy-lạp: Bộ trưởng Tài chánh G7 họp. Thượng đỉnh Liên Aâu họp bất thường để lấy quyết định. Những nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng lo sợ như Hy-lạp. (The Wall Street Journal 08.02.2010, p.5; Le Figaro 08.02.2010, p.22; Financial Times 09.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 09.02.2010, p.4; Le Monde Economie 09.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.1; Financial Times 10.02.2010, p.1, p.16; Le Monde 11.02.2010, p.1, p.8; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.1; TSR1, France 2, TF1 11.02.2010)
* Nạn sữa độc Melamine Trung quốc vẫn hòanh hành (The Wall Street Journal 09.02.2010, p.10)
* Ý-đại-lợi (Thành phố Tuscan) xiết chặt thợ may dệt Trung quốc tràn sang: ”Enough is enough !” (Financial Times 09.02.2010, p.2)
* Trung quốc lợi dụng vụ Nguyên tử Iran để tăng cường thương mại với nước này (Financial Times 09.02.2010, p.2)
* Nguyên tử Iran làm Tây phương nóng đầu và tìm cách trừng phạt. (Le Figaro 08.02.2010, p.1; Le Monde 09.02.2010, p.1; Le Monde 10.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.12; Financial Times 10.02.2010, p.6)
* Tiền Thụy sĩ trở thành Tiền tỵ nạn Lịch sử cho Tài chánh (Le Temps 08.02.2010, p.1)
* Trung Cộng: Con cái những lãnh tụ lớn được thăng quan tiến chức, nhất là trong cấp bậc về Kinh tế để sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2012. (Le Temps 08.02.2010, p.5)
* So sánh việc thóat Khủng hỏang Kinh tế giữa Hoa kỳ và Liên Âu (Le Monde 04.02.2010, p.1, p.6, p.13)
* Thượng viện Hoa kỳ và Chương trình Volcker về Kiểm sóat Ngân Hàng (Financial Times 04.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 03.02.2010, p.1; Financial Times 03.02.2010, p.3)
* Thái độ của Hoa kỳ qua những vụ: Google, Bán Vũ khí cho Đài Loan và Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng. (Le Monde 03.02.2010, p.4; Financial Times 03.02.2010, p.1; Le Monde 02.02.2010, p.6; Financial Times 01.02.2010, p.1, p.6; Le Figaro 01.02.2010, p.6)
* Thụy sĩ nhất quyết cho hai người Duy-ngô-nhĩ Tân Cương ra tù từ Guantanamo, mặc dầu Trung quốc cực lực phản đối. Tính các Độc lập của Dân Thụy sĩ khi quyết định không xây Tháp Hội đườn Hồi Giáo trên Lãnh thổ họ, mặc dầu cả Thế giới Hồi Giáo phản đối và đòi kiện ra Tòa án La Haye. (Le Temps 03.02.2010, p.9; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.7)
* Vai trò Kinh tế Đài Loan được Hoa kỳ nâng đỡ để làm giảm cao ngạo của Trung quốc Lục địa. (Financial Times 02.02.2010, p.12; Le Temps 02.02.2010, p.2, p.4)
* Thái độ của Davos 2010 dối với những công kích Tài chánh Tư bản của TT.Sarkozy (Fiancial Times 02.02.2010, p.13; Le Monde 02.02.2010, p.1)
* Davos 2010 nhận định về những Quốc gia bắt đầu phát triển, những đe dọa cho Tây phương. (Le Monde 02.02.2010, p.2; Le Figaro 01.02.2010, p.24)
* Thụy sĩ tháo gỡ những công kích về những người trốn thuế gửi tiển tại Thụy sĩ. Nhưng những người có tiền triệu, tiền tỉ tự hỏi: vậy thì cất tiền ở đâu cho vững ? (Le Temps 02.02.2010, p.8; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.1,p.3; Financial Times 01.02.2010, p.4; Le Temps 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.23;)
* Ngân Sách Hoa kỳ và $1’600 tỉ nợ năm 2011. (Le Monde 02.02.2010, p.15; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.8)
* IMF phát biểu tại Davos 2010: Kiểm sóat Ngân Hàng phải được phối hợp chung, chứ không thể từng vùng. (The Wall Street Journal 01.02.2010, p.5)
* Davos 2010 không hồ hởi cho lắm về khả năng thóat khủng hỏang Kinh tế Thế giới. Vấn đề chính yếu vẫn còn quanh quẩn ở nợ nần ngân sách các quốc gia và điều chỉnh các Ngân Hàng. (Le Temps 01.02.2010, p.22)
* Trung quốc hờ hững việc trừng phạt nguyên tử Iran (The Wall Street Journal 01.02.2010, p.9)
* Hoa kỳ tăng cường quân sự trong vùng Vịnh Trung Đông vì Iran và Khủng bố (Le Figaro 01.02.2010, p.8)
* Nông dân Trung quốc nổi dậy ủng hộ việc chống lại tham nhũng (Le Monde 28.01.2010, p.7)
* Diễn văn của Sarkozy tại Davos muốn cải cách Tư bản chủ nghĩa. Đòi kiểm sóat Ngân Hàng, nhưng làm sao kiểm sóat được Ngân Hàng Trung quốc. Phản ứng của giới Ngân Hàng gia tại Davos. (Le Temps 28.01.2010, p.15; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.1; Financial Times 28.01.2010, p.4)
* Tây phương đã quá thổi phồng Kinh tế Trung quốc. Thực tế thì khác. (Financial Times 28.01.2010, p.11)
NGUYỄN PHÚC LIÊN
| | | |
TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2010
Nội dung bài này mang tính cách giáo khoa: chúng tôi trình bầy những quan niệm về Tiền tệ và định vị trí, vai trò của nó trong mọi lãnh vực họat động Kinh tế. Ngân Hàng là trái tim, Tiền tệ là mạch máu cho sức khỏe Kinh tế.
Chúng ta cần những quan niệm giáo khoa rõ rệt để có chung một tiếng nói, một nhận định về những tranh chấp, thậm chí chiến tranh, giữa các đồng Tiền: đồng Đo-la Mỹ, đồng Euro, đồng Bảng Anh, đồng Yen Nhật, đồng Franc Thụy sĩ, đồng Yuan Trung quốc. Trong những Thế kỷ trước, đồng Florin Hòa Lan đã một thời nắm ưu thế; tiếp đến là đồng Bảng Anh lên kế vị; và từ Hội Nghị Tiền tệ Bretton Woods năm 1944, đồng Đo-la Mỹ tràn lan khắp Thế giới mà Staline gọi là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la).
Trong suốt thời kỳ thống trị của Đo-la đến ngày nay, có nhiều những cuộc nổi dậy chống Đo-la. Aâu châu được tái thiết sau Thế Chiến II và phát triển Kinh tế, bán hàng hóa cho các cựu thuộc địa, thu tiền vào bằng Đo-la tích lũy tại Aâu châu thành khối Euro-Dollar. Các nước A-rập Trung đông bán dầu lửa và tích lũy Đo-la thành khối Petro-Dollar. Cuộc nổi dậy đầu tiên là từ TT.De GAULLE nhân danh Euro-Dollar khi Oâng muốn bắt tay với Nga. Cuộc nổi dậy thứ hai nhân danh Petro-Dollar từ những nước A-rập nhằm bênh đỡ cho Palestine.
Ngày nay, nhân cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh/Kinh tế 2007-90 bắt đầu từ Hoa kỳ, lan ra khắp Thế giới ở những nơi nào mang ảnh hưởng ưu thế của Đo-la, một số Quốc gia đặt lại vai trò thống trị của Đo-la. Được sự cổ võ của TT.Sarkozy và một vài Quốc gia trong khối G20, Trung quốc lên tiếng mạnh nhất chống lại Đo-la.
Thực vậy, Trung quốc tích lũy khối Đo-la khổng lồ, có thể gọi là Sino-Dollar. Là chủ nợ bằng Đo-la đối với Hoa-kỳ, nhưng cứ nganh ngánh mất ăn mất ngủ khi mà đồng Đo-la chuyển biến lên xuống. Đồng tiền liền với khúc ruột mà ! CNN ngày 17.02.2010 chạy hàng chữ trên Đài “China losing appetite for US debt”. Các báo Le Monde ngày hôm sau 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32, cũng lên tiếng phụ họa về cảnh ăn không ngon, ngủ không yên này của Trung quốc. Trung quốc lên tiếng đòi hỏi lần lượt những vấn đề sau đây:
* Kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh mà đồng Đô-la giữ ưu thế
* Thay thế đồng Đo-la bằng một Đơn vị Tiền tệ chung nào đó trong khuôn khổ IMF
* Hiện nay, Trung quốc dùng Thương mại để bành trướng đồng YUAN xâm lăng ra nước ngòai (Xin đọc bài Quan Điểm đăng trong số VietTUDAN 436/25.02.2010).
Những vấn đề Tranh chấp, thậm chí Chiến tranh, về Tiền tệ trên đây khiến chúng tôi thấy cần viết những quan niệm giáo khoa về Tiền tệ nói chung để chúng ta có cùng một tiếng nói khi nhận định về các Tranh chấp.
Chúng tôi xin trình bầy lần lượt những điểm:
=> Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ => Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá => Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ => Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh => Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ
Không ai nhai nuốt đồng 100 Đo-la để khỏi đói, mà dùng đồng 100 Đô mua đồ ăn để ăn thì bụng mới không đói được. Như vậy đồng tiền chỉ là thứ yếu, là phương tiện để mua hàng hóa phục vụ cho những nhu cầu của con người. Hàng hóa thực của sản xuất Kinh tế là chính yếu, còn đồng tiền là phụ. Chính vì vậy, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises).
Xem những câu định nghĩa như vậy, thì chính việc phát triển trao đổi hàng hóa (Thương mại) đòi hỏi việc phát minh ra Tiền tệ và sự Chuyển biến của Tiền tệ cho phù hợp với đà phát triển Thương mại nội địa hay quốc tế. Phát minh và Chuyển biến Tiền tệ qua những giai đọan như sau:
1) Trao đổi hiện vật (Echange de Troc)
Trao đổi hiện vật, nghĩa là hàng hóa trao đổi lấy hàng hóa. Một người có dư 5 con gà, nhưng lại muốn có cái ghế để ngồi. Họ mang 5 con gà để đổi lấy cái ghế. Nhưng một người khác chỉ có dư 4 con gà, mà lại muốn cái ghế. Việc trao đổi gà lấy ghế trở thành bế tắc. Chẳng lẽ chặt cái ghế ra làm 5 phần và họ chỉ lấy 4 phần của cái ghế.
Cái bế tắc đầu tiên cho trao đổi hiện vật là việc phân chia hàng hóa thành những thành phần nhỏ. Chính cái bế tắc thương mại này đã đòi hỏi phải phát minh ra một phương tiện có thể phân chia ra càng nhỏ càng hay. “La DIVISIBILITE pousse le Commerce à inventer la Monnaie” (Tính cách khả phân đẩy Thương mại đến phát minh Tiền tệ).
2) Tiền-Hàng hóa (Monnaie-Marchandise)
Ý tưởng đầu tiên là chọn một lọai hàng hóa mang tính cách khả phân tốt nhất. Một số bộ lạc Phi châu đã chọn Răng Sư tử làm đơn vị trao đổi các hàng hóa khác. Tại Á châu, dân chúng chọn Đấu Gạo làm Đơn Vị trị giá việc trao đổi hàng hóa. Xem việc chọn lựa này, vì tính cách khả phân, Tiền tệ còn mang tính Khan hiếm (Rareté) và tính Phổ quát ( Universalité). Thực vậy, Răng Sư Tử không phải là dễ kiếm, do đó Tiền mới qúy. Nếu chọn những viên sỏi làm Tiền, thì ai cũng kiếm được. Cũng vậy, chọn Đấu Gạo làm Tiền trung gian Thương mại, đó là nhấn mạnh tính Phổ quát (Universalité) của hàng hóa lựa chọn. Ở Á châu, Gạo là phổ quát nhất, ai cũng chấp nhận.
Tóm lại, một đồng Tiền phải mang tính Khả phân (Divisibilité) để dễ dàng làm trung gian trao đổi; một đồng Tiền phải mang tính Khan hiếm (Rareté) để tự nó mang một giá trị; một đồng tiền phải mang tính Phổ quát (Universalité) nghĩa là mọi người cùng công nhận.
3) Tiền Kim lọai (Monnaie Métallique)
Hàng hóa mỗi ngày mỗi nhiều. Những tác nhân Kinh tế mỗi ngày mỗi giầu có thêm và người ta nghĩ đến Tiết kiệm, tích lũy hàng hóa cho tuổi già hay cho con cháu sau này. Tiền bạc trở thành một phương tiện tích lũy tài sản. Nếu chọn Tiền bạc bằng một hàng hóa nào đó, thì hàng hóa dễ trở thành hư hỏng, mất giá trị trong thời gian. Đây là tính cách thứ tư mà người ta đòi hỏi Tiền tệ phải có, đó là tính Kéo dài (Durabilité) trong thời gian. Không ai muốn tiết kiệm tiền bạc mà trong thời gian bị hư hỏng, mất giá. Tính cách Kéo dài (Durabilité) này đã thúc đẩy việc lựa chọn Kim lọai làm Tiền tệ. Đầu tiên là chọn Sắt, nhưng Sắt dễ bị rỉ. Người ta chọn Đồng khó bị rỉ hơn. Nhưng Đồng dễ kiếm, phạm vào tính Hiếm có (Rareté). Người ta chọn Bạc vừa khó bị hư hỏng vừa hiếm có hơn Đồng. Cuối cùng VÀNG được chọn lựa như Tiền tệ Kim lọai chót. Thực vậy, Tiền Vàng mang đủ 4 tính chất : Khả phân (Divisibilité) thành cân lượng thật nhỏ; Hiếm có (Rareté) nên tự nó có giá trị nội tại (Valeur en soi); Phổ quát (Universalité) vì cả Thế giới, ai cũng chấp nhận vàng; Kéo dài (Durabilité) vì vàng không bị rỉ.
Hiện nay, giữa các đồng Tiền, VÀNG vẫn là nơi ẩn náu (Refuge) khi các Tiền tệ bị giao động.
4) Tiền Giấy
Những bế tắc Thương mại đã thúc đẩy phát minh Tiền tệ. Ở thời kỳ Thương mại hiện vật (Commerce de Troc), tính cách bất khả phân hàng hóa khiến người ta phát minh ra Tiền tệ trung gian mang tính khả phân tối đa.
Ở thời kỳ phát triển Thương mại Quốc tế từ Trung Cổ Aâu châu, một bế tắc nữa khiến người ta phải phát minh ra Tiền Giấy. Thực vậy, Trung Cổ Aâu châu là thời kỳ phân chia đất đai cho các Lãnh chúa. Mỗi vùng nhỏ có một Lâu đài Lãnh chúa quy tụ dân chúng chung quanh thành những Thành phố. Mỗi vùng tổ chức những Chợ Phiên của Thành phố để trao đổi hàng hóa, tỉ dụ Chợ Phiên Bruxelles, Chợ Phiên Milano, Chợ Phiên Munich... Thương gia từ Thành phố Milano muốn mua hàng hóa ở Chợ Phiên Bruxelles. Mua hàng, phải trả Tiền. Nhưng nếu Tiền tệ là Kim lọai, Vàng chẳng hạn, thì phải chở Vàng từ Milano đến Bruxelles để trả. Chở Vàng từ Milano đi Bruxelles, vượt qua rặng núi Alpes, thì sợ ăn cướp, không có an ninh giữa một thời giặc giã của các Lãnh Chúa.
Cái bế tắc của thời kỳ phát triển Thương mại quốc tế này là An ninh (Sécurité) cho Tiền bạc khi mang Tiền đi xa để mua hàng. Việc phát minh qua những giai đọan như sau:
=> Chứng minh thư ký thác (Certificat de Dépôt)
Vàng không được chở đi, mà chỉ được ký thác tại một Nhà Ký Thác (Maison de Dépôt). Nhận và giữ vàng của Thương gia, Cơ sở Ký thác cho Thương gia một Tờ Giấy chứng minh số vàng ký thác. Thương gia từ Milano chỉ cần mang Tờ Giấy Chứng Minh Ký thác sang Bruxelles, đế trình Chứng Minh thư tại một Cơ sở Ký thác khác tại đây để đổi thành vàng mà mua hàng. Như vậy khi chỉ mang một Tờ Giấy Chứng Minh Thư Ký thác từ Milano sang Bruxelles, Thương gia có An ninh (Sécurité) hơn là chuyên chở qua rặng núi Alpes trùng điệp cả một lượng vàng nặng chĩu.
Chứng Minh Thư Ký Thác (Certificat de Dépôt) là hình thức đầu tiên của Tiền Giấy ngày nay. Những Cở Sở Ký Thác (Maison de Dépôt) trở thành những Ngân Hàng ngày nay.
Xin chú thích thêm rằng trên Tờ Chứng Minh Thư Ký thác, luôn luôn có hai Chữ Ký. Qúy vị lưu ý rằng trên các Tờ Giấy Bạc hiện nay vẫn giữ hai Chữ Ký. Các Giấy tờ Ngân Hàng đụng chạm đến Tiền bạc phải có hai Chữ Ký. Vấn đề đặt ra là làm thế nào Cơ Sở Ký Thác tại Bruxelles nhận ra Tờ Chứng Minh Thư Ký thác là thật hay giả. Ở thời kỳ này, vấn đề kiểm chứng (Vérification) bằng truyền thông chưa có. Việc kiểm chứng ở thời kỳ này đặt trên cơ sở liên hệ Gia đình với những bí mật giao hẹn trước với nhau trong Gia đình. Đây là điểm cắt nghĩa tại sao ngành Ngân Hàng được bành trướng phần lớn giữa những người Do-thái. Thực vậy, những liên hệ Gia đình Do-thái ở khắp Aâu châu và họ phát triển những Cơ sở quản trị Tiền tệ.
=> Tiền Giấy phát hành từ Ngân Hàng Trung Ương (Billet de Banque émis par la Banque Centrale)
Có hai biến cố dẫn đến việc phát hành Tiền Giấy duy nhất của Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia, Ngân Hàng Phát Hành (Banque Centrale, Banque Nationale, Banque d’Emission). Biến cố thứ nhất là các Lãnh chúa bị dẹp và thành lập những Quốc gia rộng lớn. Biến cố thứ hai là các Chứng Minh Ký Thác trở thành nhiều và phức tạp, hầu như chỉ dành cho những Thương gia chuyên biệt, trong khi dó đại da số Dân chúng cần phương tiện Tiền tệ mua bán.
Hai biến cố trên đây khiến các Quốc gia thành lập MỘT Ngân Hàng Trung ương để in ra MỘT lọai Chứng Minh Ký Thác, TIỀN GIẤY duy nhất cho Quốc gia, để dân chúng nhận biết và xử dụng làm Phương tiện trao đổi hàng hóa.
Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia được giao hai nhiệm vụ chính yếu:
* Phát hành Tiền tệ (Emission des Billets de Banque) * Điều hành khối tiền cho vào phát triển Kinh tế/ Thương mại cho phù hợp (Gestion adéquate de la Masse monétaire mise en circulation dans l’Economie et le Commerce).
Hai nhiệm vụ này được thực hiện theo đòi hỏi Kinh tế/Thương mại của Dân chúng có tính cách lâu dài, chứ không tùy thuộc những quyết định nhất thời mang mầu sác Chính trị của Nhà Nước cai trị. Ơû khía cạnh này, chúng ta có thể nói Quyền lực Tiền tệ mang tính cách độc lập với Quyền lực Chính trị (L’autorité monétaire est indépendante du pouvoir politique).
5) Phát hành Tiền tệ Tư nhân (Emission monétaire privée)
Theo như định nghĩa lúc ban đầu về Tiền tệ, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises). Như vậy, tất cả mọi Phương tiện ngòai TIỀN MẶT (Tiền Giấy phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương) có thể được xử dụng để mua bán hàng hóa đều có thể được gọi là Tiền tệ.
Tính cách Phổ quát (Universalité) của tờ Giấy Bạc phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương làm mất An ninh (Sécurité). Thực vậy, cầm một xấp Giấy Bạc 100 Đô ra phất phơ khoe khoang trước các Cô trong Bar, có thể bị giết khi ra khỏi Bar như chơi. Cái lý do là thằng ăn cướp, cô bán Bar hay mình có thể xử dụng những tờ Giấy Bạc 100 Đô như nhau. Chúng ta mất An ninh khi cầm tờ Giấy Bạc. Vì vậy, mọi người muốn Ký thác những tờ Giấy Bạc ấy tại Ngân Hàng tư để chỉ lấy những Chứng Minh Thư Ký thác (giống như Ký thác Vàng trước đây) để có những Carnet de Chèques, Credit Cards, Promissory Notes, Stanby Letter of Credit, Bank Guarantees... mà mua bán hàng hóa.
Đây là việc phát hành Tiền tệ của lãnh vực Tư nhân. Việc phát hành này không những chỉ dựa trên TIỀN MẶT hiện có và ký thác, mà còn bao trùm cả tiền bạc khả thể (Monnaie virtuelle) ước mong nhận được trong lai. Lãnh vực tương lai này đã tạo thành Kỹ Nghệ Tài chánh của giới nắm giữ Tiền tệ. Nhưng tương lai giống như bài hát “Que sera sera” bấp bênh. Giới phát hành Tiền tệ tương lai đã tạo nên những Khủng hỏang.
Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá
Đại thể, Tiền tệ đã trải qua những Chế độ (Régimes Monétaires) quy định mà mục đích là làm cho những người giữ Tiền có một sự chắc chắn nào đó về tài sản tiết kiệm của mình. Làm thế nào mà những người tiết kiệm dưới hình thức Tiền tệ có thể thấy tài sản của mình ít bị mất?
Chúng tôi trình bầy ba chế độ sau đây cho đến nay:
1) Chế độ BẢN VỊ VÀNG (Etalon-Or)
Mỗi quốc gia, hòan tòan độc lập, định giá Tiền tệ riêng của mình dựa trên Cân lượng Vàng tương đương cho Đơn vị Tiền. Tỉ dụ một Quan Thụy sĩ, CHF.1 = 0.020gr Or fin; một Đo-la Mỹ, USD.1 = 0.040gr Or fin.
Tất cả những Quốc gia định giá trị Tiền bạc của mình dựa trên cân lượng vàng thuộc về Chế độ Bản Vị Vàng.
Trong cùng một Chế độ như vậy, các nước mới có thể định Tỷ giá Tiền tệ giữa hai nước. Theo tỉ dụ trên đây, thì hối suất giữa đồng Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ sẽ là:
Tỷ giá Đo-la Mỹ/Quan Thụy sĩ:
0.040 gr Or fin USD.1.- = ------------------- = CHF.2.- 0.020 gr Or fin
Trong Chế độ Bản Vị Vàng, Tỷ giá Tiền tệ mang tính cách khách quan và khó lòng thay đổi vì dựa trên cân lượng vàng không thay đổi trừ khi một quốc gia tự ý định lại cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Trong Chế độ này, người ta cấm luôn Thị trường Vàng song hành với Tiền tệ. Người giữ Tiền bạc chắc chắn về giá trị đổng tiền bởi lẽ có sự hóan chuyển (Convertibilité) Tiền thành Vàng.
2) Chế độ BẢN VỊ-TIỀN TRUNG GIAN-VÀNG (Etalon-Devise-Or)
Chế độ trên đây kéo dài khá lâu. Nhưng Thế Chiến II đã buộc phải thay đổi Chế độ Tiền tệ. Thực vậy, Thế Chiến II đã làm các nước Aâu-châu mất hết Vàng để bảo đảm cho việc định giá trị Tiền bạc của mình. Chỉ có đồng Đo-la Mỹ và đồng Quan Thụy sĩ còn đủ vàng bảo chứng cho Tiền tệ của mình.
Những đồng Quan Pháp, Mark Đức, Lire Ý... hòan tòan mất giá.
Trước tình trạng này, Hoa kỳ kêu gọi Hội Nghị Bretton Woods về Tiền tệ năm 1944 để định lại giá trị về Tiền tệ. Hội Nghị quyết định ba điều:
1) Chế độ Tiền tệ vẫn lấy cân lượng Vàng làm gốc
2) Lấy một đồng Tiền trung gian còn Vàng bảo đảm giá trị. Đồng Đo-la Mỹ được chọn
3) Thiết lập Qũy Hỗ Trợ Tiền bạc, đó là IMF hiện nay
Theo quyết định của Hội Nghị, thì Tiền mỗi nước được định theo giá trị đồng Đo-la Mỹ để rồi qua đó mới có hóan chuyển sang cân lượng vàng.
Tỉ dụ một Quan Pháp được định giá trị là USD.20 cents; một Quan Thụy sĩ được định giá trị là USD.80 cents.
Từ đó, Tỷ giá giữa đồng Quan Pháp và đồng Quan Thụy sĩ được định như sau:
Tỷ giá Quan Thụy sĩ/ Quan Pháp:
USD.80 cents CHF.1.- = ----------------- = FF.4.- USD.20 cents
Như vậy, Tỷ giá Tiền tệ giữa các nước vẫn không bấp bênh vì định nghĩa đồng Đo-la vẫn dựa trên cân lượng vàng. Nhưng tính hóan chuyển gián tiếp sang vàng thay đổi nếu Hoa kỳ thay đổi định giá cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Thế giới bắt đầu cảm thấy một sự lệ thuộc vào quyết định giá trị của đồng Đo-la. Nếu Hoa kỳ tự ý tái quyết định cân lượng vàng cho đồng Đo-la, thì Thế giới phải tuân theo khi muốn hóan chuyển Tiền của mình thành vàng.
Chính vì cảm thấy sự lệ thuộc này, mà Staline đã gọi đây là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la), mà TT. De GAULLE đã phản đối nhân danh Euro-Dollar, mà các nước giữ Pétro-Dollar lên tiếng.
3) Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG (Régime du Pouvoir d’Achat)
Mặc dầu vàng vẫn được dùng dưới hình thức Lingot để bảo đảm Tiền tệ, nhưng Dân chúng xa vời với vấn đề định giá tương đương vàng cho Đơn vị Tiền tệ của mỗi nước. Điều thiết thân hơn hết của Dân chúng là tương đương hàng hóa mà họ có thể mua được với một Đơn vị Tiền tệ mà họ đang giữ.
Trên thực tế, Dân chúng chấp nhận một Chế độ Tiền tệ được dịnh nghĩa dựa trên Khả năng hóan chuyển sang hàng hóa mà họ xử dụng hàng ngay.
Tỉ dụ tại Mỹ, USD.1.- có thể mua được 600gr khoai tây và tại Thụy sĩ CHF.1.- có thể mua được 400gr khoai tây.
Tỷ giá giữa Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ:
600gr khoai tây USD.1.- = -------------------- = CHF.1.50 400gr khoai tây
Đây là Tỷ giá thực tiễn nhất mà người Dân chấp nhận cho đời sống của họ. Nhưng Tỷ giá này lại không mang tính cách cố định như dựa trên so sánh cân lượng vàng hàm chứa trong định nghĩa Tiền tệ của mỗi nước. Tỷ giá dựa trên khả năng đổi lấy hàng hóa thay đổi không lường vì tình trạng sản xuất Kinh tế mỗi nước có những thay đổi theo mùa, theo năm. Khả năng phát triển Kinh tế đều đặn của một nước là nền tảng bảo đảm cho giá trị vững bền của đồng Tiền của nước đó.
Với Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng (Régime du Pouvoir d’Achat) tình trạng Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay đã làm cho các nước lo lắng vì giữ quá nhiều Dự trữ Tiền tệ bằng Đo-la. Trung quốc giữ khối Đo-la khổng lồ, ăn không ngon, ngủ không yên là phải.
Trên đây, chúng tôi lấy tỉ dụ một mặt hàng là khoai tây. Trong tính tóan tổng quát cho Quốc gia, người ta kể mọi mặt hàng tiêu thụ tính thành một Chỉ số Tổng quát được tóm gọn trong Công thức sau đây của FISHER:
M.V ----------- = P T
M : Khối Tiền tệ cho vào nền Kinh tế; V: Tốc độ lưu hành Tiền tệ; T: Sản xuất/ Thương mại hàng hóa trong một thời kỳ nhất định; P: Mức độ Tổng quát những Giá cả (Niveau Général des Prix). Chính dựa trên thay đổi của P mà người ta nói đến Lạm phát mà lý do có thể là tăng Khối Tiền lưu hành hay là giảm Khả năng Sản xuất/Thương mại mà những Cơ quan trách nhiệm điều hành Khối Tiền chưa có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Cũng ở trong Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng này mà một số Quốc gia, nhất là những Nhà Nước độc tài, khi gặp thiếu hụt Ngân sách, dễ dàng in Tiền mới cho vào Khối Tiền M để làm Lạm phát hòan tòan có tính cách Tiền tệ. Đây là một tội ác đối với Dân chúng đang tích giữ Tiền bạc có khả năng mua hàng thực sự. Đồng Tiền mới in ra chưa được chuyển qua hệ thống sản xuất Kinh tế để có tương đương hàng hóa. Nhà Nước độc tài tung đồng Tiền mới ra để tiêu dùng lẫn lộn với đồng Tiền cũ đã có khả năng tương đương hàng hóa. Đây là việc làm mất giá cho đồng Tiền cũ.
Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).
Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ
Chúng tôi muốn phân biệt bốn Thị trường sau đây rất gần nhau, cùng khởi nguồn từ đồng Tiền: Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh (Vốn), Thị trường Chứng khóan, Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng. Mỗi Thị trường nhằm thu Lợi nhuận từ những phương diện khác nhau.
=> Thị trường Tiền tệ
Nói đến Thị trường là nói đến hai phía Cung và Cầu. Thị trường Tiền tệ có phía Cung một đồng Tiền để bán và phía Cầu cùng đồng Tiền ấy để mua. Nếu phía Cung đồng Tiền nhiều hơn, thì đồng Tiền ấy giảm giá trị, nghĩa là dùng một đồng Tiền khác để mua, thì mua được lượng nhiều hơn (Valeur nominale). Cũng vậy, nếu trên Thị trường có nhiều người Cầu, thì đồng Tiền trở thành mắc giá và khi dùng đồng Tiền khác để mua, thì lượng mua được sẽ ít hơn. Đây là vấn đề chênh lệc Tỷ giá do Cung và Cầu.
Nếu Thị trường hòan tòan tự do thay đổi theo Cung, Cầu, thì lượng Tiền trao đổi sẽ làm cân bằng Tỷ giá. Nhưng nếu Tỷ giá có sự can thiệp cứng nhắc của một quyền lực ngọai tại, thì Thị trường Tiền tệ sẽ có hai giá: Giá chính thức bó buộc và Giá chợ đen lén lút. Đây là trường hợp Thị trường Tiền tệ tại Trung quốc và tại Việt Nam giữa đồng Đo-la và đồng Tiền của mỗi Quốc gia.
=> Thị trường Tài chánh (Vốn)
Nếu Thị trường Tiền tệ nhằm vào chênh lệc Tỷ giá, thì Thị trường Tài chánh nhằm vào Lãi suất. Lãi suất, cái Giá của Thị trường, tăng giảm là do Cung và Cầu Vốn. Phía Cầu Vốn là những Công ty làm việc trong lãnh vực Kinh tế thực. Phía Cung Vốn là những Ngân Hàng, những Tập thể Tài chánh. Các Công ty tìm vay Vốn với Giá rẻ, nghĩa là Lãi suất thấp. Trong khi ấy, những Ngân Hàng, những Tập đòan Tài chánh tìm nơi cho thuê Vốn với Lãi suất cao.
Trong thời Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, các Ngân Hàng Trung ương hạ Lãi suất chỉ đạo xuống thấp, nghĩa là làm cho Giá thuê vốn trở thành rẻ để những Công ty có thể thuê Vốn dễ dàng mà họat động khôi phục nền Kinh tế thực.
=> Thị trường Chứng khóan
Thị trường Chứng khóan cũng là Thị trường Tài chánh. Thị trường Tài chánh chính hiệu trên đây là sự va chạm giữa phía Công ty Cầu Vốn và phía có Tiền Cung Vốn. Nguồn lợi là Lãi suất.
Thị trường Chứng Khóan cũng là Thị trường Tài chánh, nhưng là nơi gặp gỡ các Thương gia mua bán những Giá trị các Công ty ghi tên trên Thị trường. Nguồn thu lợi chính yếu là chênh lệch lên xuống Giá trị các Công ty ghi trên Thị trường. Những người tham dự vào Thị trường Chứng khóan có khuynh hướng tác động đầu cơ để làm cho Giá cả Thị trường lên xuống mà lấy lợi.
Thị trường này cho những lợi nhuận cao và mau mắn. Đây là Thị trường vĩ đại quay vòng quanh Thế giới 24/24 giờ. Khủng hỏang khởi nguồn từ Subprime Mortgage Credits làm cho Thị trường Chứng khóan xẹp xuống đen tối, nhưng rồi trong một thời gian ngắn các Thị trường Chứng khóan sôi động lại vì số vốn tham dự vào Thị trường này khổng lồ để các Ngân Hàng và Tập đòan Tài chánh thi nhau thu lợi nhuận từ chênh lệc Giá trị các Công ty niêm yết.
=> Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng.
Có lẽ đây là Thị trường không được công khai phổ biến cho lắm, nhưng vẫn hiện diện như trợ lực cho Thị trường Tài chánh. Thực vậy, để có thể vay được Vốn, phải có thế chấp bảo đảm cho việc hòan vốn. Thế chấp thường được đòi hỏi là những Bank Guarantees, Standby Letter of Credit phát hành do những Ngân Hàng đáng tin cậy. Việc xếp hạng tin cậy giữa các Ngân Hàng khác nhau. Tỉ dụ nếu Bảo Lãnh của Bank of America có giá trị tin tưởng 95%, thì Bảo Lãnh phát hành bởi Banco Da Brazil chỉ mang tin tưởng được 60% chẳng hạn. Sự chênh lệc tin tưởng này lại làm phát sinh ra những Phát hành Tái Bảo Lãnh.
Những Công ty vay Vốn vào Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng này để mua bán những Thế chấp làm Collateral mà vay Vốn.
Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh
Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.
Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh ?
Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.
Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giàm giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.
Trung quốc, do xuất cảng, thu vào nhiều Đo-la tất nhiên đồng Yuan phải trở thành mắc hơn. Nhưng Nhà Nước độc tài Trung Cộng đã cố tình giữ giá đồng Yuan hạ để nâng dỡ cho xuất cảng mà thôi.
Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
Vớiõ 4 Thị trường liên hệ đến Tiền bạc như chúng tôi đã trình bầy trên đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh có nhiều phương tiện để làm ăn thu Lợi nhuận mà chưa chắc đã cần phải qua lãnh vực họat động Kinh tế thực.
Giới Ngân Hàng và Tài chánh nắm giữ khối hiện Kim khổng lồ, đồng thời họ lại có khả năng phát hình tư nhân Tín dụng, tương lai Kim (Monnaie virtuelle) để đầu tư kiếm lời. Người ta nói đến sự tách rời ra của giới Ngân Hàng và Tài chánh để lập một KỸ NGHỆ TÀI CHÁNH riêng với những Sản phẩm Tài chánh đặc biệt để làm sinh lời. Sản phẩm Subprime Mortgage Credit là một trong những tỉ dụ.
Khi làm việc về Tài chánh, chúng tôi đã gặp những Khách hàng đặt câu hỏi: khi bỏ Tiền vào, Ngân Hàng chỉ cho lợi nhuận hàng năm tối đa 5%, tại sao Ngân Hàng xử dụng Tiền của chúng tôi để làm ăn thu và lợi nhuận 50% chẳng hạn ?
Lợi nhuận cao ! HYI :High Yield Investment ! Tiền đẻ ra Tiền !
Năm 2004, chúng tôi đã viết một tỉ dụ đơn giản bằng tiếng Anh để cắt nghĩa Lợi nhuận cao. Chúng tôi xin tóm tắt bằng tiếng Việt tỉ dụ ấy: TỈ DỤ MỘT ÔNG CHÀ GIÀ CHO VAY KIẾM LỜI Ở GÓC CHỢ BẾN THÀNH.
Oâng Chà Già có 100 đồng làm vốn để cho vay kiếm lời. Oâng ra đứng ở góc Chơ Bến Thành. Khách hàng xin vay của Oâng là những Bà buôn thúng bán mẹt, chồng chết vì chiến tranh, nên mua buôn bán lẻ rau cỏ tại mấy góc phố. Mỗi buổi sáng Oâng cho một Bà vay 100 đồng với điều kiện là chiều tối trả lại vốn và thêm Tiền lời là 0.50 xu. Đối với các Bà cần vốn mua hàng buôn bán độ nhật, thì giá thuê vốn 0.50 là quá rẻ.
Oâng Chà Già làm việc 5 ngày một Tuần. Như vậy mỗi Tuần Oâng thu vào được 2.5 đồng. Mỗi Tháng 4 Tuần, Oâng thu vào được 10 đồng Tiền lời. Oâng làm việc một Năm 10 tháng, còn để 2 tháng đi nghỉ hè. Như vậy một năm làm việc 10 tháng, ông thu Lợi nhuận vào là 100 đồng.
0.50 mỗi ngày x 5 ngày mỗi tuần x 4 tuần mỗi tháng x 10 tháng mỗi năm = 100 đồng Lợi nhuận trong một năm, nghĩa là Lợi nhuận 100% hàng năm cho số vốn đầu tư.
Đó là Lợi nhuận cao có thể thực hiện được. Đây không phài là điều mơ mộng hão huyền mà là sự tính tóan cụ thể mà ai cũng thấy. Nếu có lúc nào đó, chúng ta khẳng định có thể kiếm Lợi nhuận đầu tư là 100%, nhiều người cho rằng chúng ta nói khùng điên. Nhưng thực tế có thể làm được như tỉ dụ Oâng Chà Già.
Không có gì là bí ẩn để cắt nghĩa Lợi Nhuận cao. Lợi nhuận là việc thu vào cái kết quả sau một CHU TRÌNH KHAI THÁC (Cycle d’Exploitation). Một Chu Trình Khai Thác được định nghĩa là từ khi mua sắm nguyên vật liệu, rồi biến chế thành sản phẩm và chấm dứt ở việc bán sản phẩm để thu vào được số thặng dư đối với chi tiêu. Chu trình Khai Thác mang thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo ngành nghiệp và sản phẩm. Tỉ dụ Chu trình Khai Thác nông nghiệp như trồng Cà Chua có thể kéo dài 2 tháng, từ khi mua cây con cho đến khi cây lớn ra trái và đem trái đi bán.
Nguyên tắc thu vào lợi nhuận cao và mau là phải rút ngắn CHU TRÌNH KHAI THÁC, hay nói cách khác là TĂNG TỐC ĐỘ QUAY của Chu Trình (Accélération de la Vitesse de Rotation). Chúng ta càng quay mau, thì lợi nhuận càng vào nhiều
Đối với Chu Trình Mua/Bán ở các Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh và Chứng khóan, các Ngân Hàng/Tập đòan Tài Chánh có thể rút rất ngắn lại một Chu Trình thực hiện Thương vụ. Việc thu ngắn Chu trình Thương vụ Tài chánh mỗi ngày mỗi dễ dàng do phương tiện truyền thông điện tử mau chóng. Chỉ trong một tiếng đồng hồ, những Traders có thể hòan thành một Chu trình Thương vụ Tài chánh để thu vào Lợi nhuận.
Nếu Oâng Chà Già trên đây muốn tăng vận tốc Chu trình cho vay của Oâng, Oâng có thể cho vay một ngày hai lần cho hai Bà buôn thúng bán mẹ. Như vậy Lợi nhuận hàng năm của Oâng sẽ tăng gấp đôi mặc dầu Oâng chỉ thu vào có 0.50 xu mỗi lần cho vay.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2010
| | | |
VIỆT NAM PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC
VN phá giá đồng bạc vào ngày 28 Tết Thứ Tư, 10 tháng 2 2010
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày 11/2/2010 là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ.
Hôm thứ Tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam loan báo định giá lại đồng tiền lần thứ nhì kể từ tháng 11, giảm giá tiền đồng thêm hơn 3% nhằm giữ cân đối trên thị trường ngoại hối và kiểm soát thâm hụt thương mại.
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày thứ Năm, 11 tháng 2, tức 28 Tết, sẽ là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ, tức là giảm giá 3,25% theo cách tính của IMF. Trước đó, 1 đôla Mỹ chỉ đổi được 17.941 đồng.
Thông báo của ngân hàng này cho biết mục đích của việc điều chỉnh tỷ giá là nhằm “cân đối hài hoà cung - cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.”
Ngoài ra, cũng kể từ ngày 11 tháng 2, lãi suất tiền gửi tối đa bằng đôla Mỹ của tổ chức kinh tế, ngoại trừ tổ chức tín dụng, tại tổ chức tín dụng sẽ có mức tối đa là 1% một năm.
Theo tin Reuters, các biện pháp này nhằm đưa thêm đôla ra ngoài thị trường.
Ðồng bạc Việt Nam đã chịu áp lực từ nhiều tháng qua, một phần là do thiếu đôla, một phần vì sự thiếu tin tưởng vào đồng bạc Việt Nam, do thâm hụt thương mại và có thể lạm phát. Việt Nam ước lượng thâm hụt thương mại trong tháng 1 là 1,3 tỉ đôla và lạm phát là 7,62%.
Việc điều chỉnh tỷ giá xảy ra vào giáp Tết, khi có nhiều nhu cầu về tiền mặt và thanh khoản ngân hàng.
Hôm thứ Hai, ngân hàng HSBC báo cáo áp lực đối với tiền đồng sẽ kéo dài nếu không có hành động.
Nguồn: Wall Street Journal, Reuters, http://www.sbv. gov.vn/vn/ home/tintuc. jsp
PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC VIỆT NAM
Phá giá đồng nội tệ không cải thiện nền kinh tế CS Việt Nam John Ruwitch : Nhà Quê dịch
HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.
Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.
Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.
“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.
“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”
Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả.
Người dân có thói quen cất giữ Mỹ kim, tuy nhiên các giới chức chính phủ đã gia tăng mức báo động về việc cất giấu ngoại tệ trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã giảm thiểu lượng cung ứng ngoại tệ cho nền kinh tế.
Lạm phát gia tăng khi nền kinh tế phục hồi và thâm thủng mậu dịch càng nới rộng sẽ có thể là lý do khiến người dân cất giữ Mỹ kim, giới phân tích nhận xét. Một khi các lo lắng về kinh tế vĩ mô vẫn tồn tại, đồng nội tệ sẽ tiếp tục bị áp lực mất giá, các kinh tế gia nhận định.
DBS có trụ sở tại Singapore nhận xét vào ngày thứ Năm (February 11) rằng việc phá giá đồng nội tệ được mong đợi sẽ xảy ra – và sau đó sẽ xảy ra liên tục.
“Về căn bản, việc phá giá đồng nội tệ không nên xem là một ngạc nhiên, nhiều cuộc phá giá có nhiều khả năng diễn ra trong năm nay.” DBS nhận xét
Lạm phát, nổi sợ còn nguyên sơ đối với người dân vốn đã trải qua lạm phát phi mã vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước, đang gia tăng trở lại.
Sau khi có khuynh hướng thuyên giảm trong năm 2009 với lúc thấp nhất chỉ 2% vào tháng 8, lạm phát tăng mạnh lên 7,6% vào tháng giêng để vượt qua chỉ tiêu của chính phủ đề ra là 7%.
Chiến lược gia tiền tệ của ngân hàng HSBC Daniel Hui nhận định rằng lạm phát sẽ lên đến hai chỉ số vào quí 2 của năm nay.
Thâm thủng mậu dịch đã bùng phát trong những năm gần đây từ 5 tỉ Mỹ kim vào năm 2006 lên đến 18 tỉ Mỹ kim vào năm 2008. Suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến thâm thủng mậu dịch giảm xuống 12 tỉ Mỹ kim vào năm 2009, tuy nhiên con số thâm thủng vào tháng Giêng năm nay đã vượt quá 1 tỉ Mỹ kim.
Ngân hàng trung ương bảo rằng hy vọng những biện pháp gần đây của ngân hàng trung ương sẽ cân bằng cán cân cung cầu tiền tệ và sẽ ổn định nền kinh tế.
Phản ứng của thị trường
Việc phá giá đẩy biên độ giao dịch lên đến 19.100 đồng đổi một Mỹ kim, một sự khác biệt không đáng kể so với hối suất trên thị trường tự do.
Hối suất trên thị trường tự do vẫn vượt khỏi biên độ giao dịch vào ngay thứ Năm (February 11), điều này phản ánh nhiều dự đoán là đồng bạc Việt Nam sẽ tiếp tục mất giá.
Trên thực tế, chỉ tiêu của DBS vào cuối năm 2010 là 19.640 đồng đổi một Mỹ kim, dự đoán đồng nội tệ mất giá thêm 2,8%. Một chuyên gia ngoại hối kỳ cựu tại một ngân hàng Việt Nam nói rằng ông ta dự đoán hối suất sẽ lên đến 20.000 đồng vào cuối năm 2010, giảm 4,5%.
Tại các thị trường giao dịch ngoài Việt Nam, đồng bạc Việt Nam được giao dịch 20.194/21.194 vào ngày 11 tháng 2, điều này nói rằng đồng bạc sẽ mất giá hơn 5%.
Việc áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng là cố gắng sau cùng của ngân hàng trung ương nhằm kích thích đồng Mỹ kim chảy vào dòng luân lưu của hệ thống ngân hàng. Các viên chức chính phủ phàn nàn việc cất giữ ngoại tệ trong dân chúng trong năm vừa qua và ra lệnh các công ty nhà nước đồng loạt bán Mỹ kim (nhằm dẫn đến hối suất đồng bạc giảm xuống khiến dân chúng gởi tiền vào ngân hàng nhiều hơn – NQ).
Vào đầu tháng hai, ngân hàng trung ương cho biết rằng nhiều công ty quốc doanh lớn đã bán ra hơn 450 triệu Mỹ kim cho các ngân hàng kể từ tháng 12 nhằm giảm thiểu sự thiếu hụt đồng Mỹ kim.
Số ngoại tệ bán ra chiếm chưa đến một phần tư trong số 1,9 tỉ Mỹ kim mà 7 công ty quốc doanh, vốn có lệnh phải bán Mỹ kim, đang gởi tại các ngân hàng vào cuối tháng 11, theo báo VNExpress, trích dẫn dữ liệu của ngân hàng trung ương.
Người Việt Nam vốn có thói quen cất giữ đồng Mỹ kim và vàng những khi nền kinh tế bất ổn và lạm phát phi mã trong quá khứ vẫn còn hằn sâu trong ký ức của người dân.
Ông Hui thuộc ngân hàng HSBC và kinh tế gia Wellian Wiranto nhận định trong bản báo cáo gởi cho khách hàng rằng lãi suất cần gia tăng nhằm giảm thiểu sự chờ đợi lạm phát gia tăng và mong muốn cất giữ Mỹ kim, nếu không sự mong muốn sẽ không giảm đi.
“Trên thực tế, rủi ro của việc tăng lãi suất cuối cùng sẽ làm gia tăng sự mong đợi về việc mất giá của đồng nội tệ trong tương lai, và kích thích mạnh lượng cầu đối với đồng Mỹ kim,” hai vị nhận xét.
Ngân hàng trung ương tăng lãi suất cơ bản 100 điểm (1% - NQ) vào tháng 12 lên 8% và chính phủ khuyến cáo rằng chính sách tiền tệ sẽ dần được siết chặt trong năm nay (tăng lãi suất – NQ).
Thống đốc ngân hàng Nguyễn Văn Giàu phát biểu với Reuters rằng lãi suất sẽ không gia tăng trước Tết Nguyên đán. Tuy nhiên các kinh tế gia và chuyên viên ngân hàng dự đoán rằng lãi suất sẽ gia tăng vào tháng 3 một khi cao điểm trong việc thanh khoản đồng nội tệ mang tính thời vụ gây ra bởi dịp Tết thuyên giảm.
Ngân hàng HSBC dự đoán rằng lãi suất căn bản sẽ gia tăng lên đến 4% trong năm nay đến 12%.
Việc phá giá của ngân hàng trung ương, được thông báo vào ngày thứ Tư (February 10), gây bất ngờ đối với thị trường.
Các nhà buôn bán ngoại tệ đã bán ra Mỹ kim vào những ngày gần Tết nhằm tận dụng việc lên giá mang tính ngắn hạn của tỉ lệ hối suất cho đồng nội tệ, được đẩy lên cao do nhu cầu sử dụng đồng nội tệ trong dịp Tết bắt đầu vào cuối tuần này.
Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam Cộng sản là bí mật quốc gia, tuy vậy dữ liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết rằng lượng dự trữ ngoại tệ giảm 21% xuống 18,8 tỉ Mỹ kim từ cuối năm 2008 đến cuối tháng 8 năm 2009.
Các quy định của Ngân hàng trung ương chỉ cho phép đồng nội tệ được giao dịch trong biên độ 3% đối với đồng Mỹ kim – tăng hoặc giảm.
Lạm phát tăng từ đầu năm
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của TP Hồ Chí Minh trong tháng Hai lên cao nhất trong vòng 17 tháng qua, gây quan ngại về lạm phát.
Theo Cục Thống kê TPHCM, CPI trong tháng Hai này 2010 tăng tới 1,68% so với tháng trước và tính chung hai tháng đầu năm, CPI của thành phố tăng gần 3%.
Giá của 10/11 nhóm mặt hàng tăng mạnh, chỉ trừ bưu chính viễn thông là lại giảm 1,3% do các nhà cung cấp đua nhau khuyến mãi trong dịp Tết.
Các mặt hàng dịch vụ ăn uống, giải trí - du lịch, lương thực thực phẩm đều tăng.
Hai tháng đầu 2010, CPI của TP HCM tăng 2,97%, cao hơn nhiều cùng kỳ năm ngoái và gây lo ngại về tình trạng lạm phát có thể gia tăng tại đô thị lớn nhất Việt Nam.
Cũng theo Cục Thống kê thành phố, trong tháng 01/2009, CPI tại đây chỉ tăng 0,04% và tháng 02/2009 tăng 1,31%.
Tuy nhiên, đầu năm 2009 tình trạng lạm phát đã khiến chính phủ phải chỉ đạo kiềm chế sớm. Sáu tháng đầu năm ngoái, CPI tăng tới 10,27%.
Chưa thể dự báo tỷ lệ lạm phát sẽ là bao nhiêu trong năm nay, nhưng các kinh tế gia đã bắt đầu lên tiếng cảnh báo rằng nó có thể cao hơn mục tiêu 7% trong cả năm.
Giá xăng và giá điện đã được nâng lên và trước đó Nhà nước đã ph̉ai điều chỉnh tỷ giá hối đoái hai lần trong ba tháng.
| | | |
NGĂN CHẶN TỨC KHẮC TIẾN TRÌNH CSVN GIAO NƯỚC CHO TẦU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 18.02.2009
Như trong Bài Mở Đầu cho CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ chúng tôi đã cắt nghĩa, điều kiện để có thể bắt đầu phát triển Kinh tế Đất Nước là phải dứt bỏ CƠ CHẾ CSVN hiện hành, một cơ chế cấu kết giữa dộc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế.
Khi đã dứt bỏ được cái CƠ CHẾ hiện hành để có thể bắt đầu phát triển, chúng tôi muốn khai triển những điều kiện để việc phát triển Kinh tế được bền vững và lâu dài: Dân chủ hóa Kinh tế trong một Môi trường Chính trị—Luật pháp Xã hội phù hợp (Environnement Politico—Juridique Social adéquat).
Một nền Kinh tế phát triển bền vững và lâu dài là nền Kinh tế cho một Quốc gia Việt Nam Độc lập. Nước Việt Nam đang đi đến mất Chủ quyền, thậm chí đảng CSVN, vì tham lam tiền bạc cho mỗi cá nhân đảng viên, đang đưa Đất Nước đến chỗ bị Trung quốc xâm lăng chính Lãnh Thổ và Lãnh hải. Vì vậy, nếu dứt bỏ được CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có điều kiện bắt đầu phát triển, mà Đất Nước chúng ta lại bị xâm lăng bởi Trung quốc, thì không thể nào có thể nói là phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho Quê Hương mình được. Phải ngăn chặn tức khắc Tiến trình CSVN đang giao Nước cho Tầu xâm lăng vậy.
Từ tháng 9.2009, khi thấy một đàng chủ trương của Trung quốc là dùng tiền bạc để xâm lăng không những tại Việt Nam, mà còn các nước nghèo khác tại Phi Châu, Á Châu, Trung Á, một đàng Nhà Nước Việt Nam kiệt quệ về Ngân Sách nên đói ăn vụng túng làm liều đưa lãnh thổ Việt Nam dần dần dâng hiến cho xâm lăng Trung quốc, chúng tôi đã viết một bài tương quan Chủ Nợ—Con Nợ để cho thấy CSVN mất chủ quyền, không dám hé họng khi ngư dân VN bị Tầu hà hiếp ở Biển Đông chính trong vùng biển thuộc Việt Nam. Tệ hại hơn nữa, khi nhận nợ của Trung quốc đến ngập họng rồi và khi không trả nợ được, thì Trung quốc đòi bắt cả vợ và con gái, thì CSVN cũng phải giao cho Chệt dầy vò.
Thấy tình trạng mỗi ngày mỗi lệ thuộc Trung Cộng về tiền bạc như vậy, chúng tôi lại viết một bài thứ hai gần đây cho thấy rằng trong tương lai Tầu sẽ viện cớ Kinh tế trước Thế Giới để ngang nhiên mang quân đội vào Việt Nam để bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ và những người Tầu đã lập làng mạc và những Khu Thương Mại và Công Nghệ trên lãnh thổ Việt Nam.
Những phân tích và những lo ngại của chúng tôi trên đây không phải là không có bằng chứng. Thực vậy, tại Quốc nội, hai Tướng CS ĐỒNG SỸ NGUYÊN và NGUYỄN TRỌNG VĨNH đã viết rõ về nguy hại mất nước bởi lẽ CSVN đã cho Trung Quốc thuê dài hạn những khu đất đầu nguồn để Tầu mang người sang canh tác và sinh sống. Tại Hải ngọai, Oâng BÙI TÍN, một người cũng đã từ đảng CSVN, đã phân tích thêm tình trạng nguy hiểm mất nước này.
Nếu trước đây, vì quyền hành mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng viết Công Hàm nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, Hỏang Sa và Trường Sa, thì ngày nay, cả đảng CSVN chỉ vì đồng tiền đút túi làm của riêng đã mang tài sản VN đi bán, mang Lãnh thổ VN giao cho Tầu, mời gọi tư bản nước ngòai vào VN để khai thác nhân lực, xuất cảng đàn bà con gái đi phục vụ tình dục. Tất cả chì vi tiền bạc muốn vơ vét đầy túi riêng.
Chúng tôi cho đăng lại những bài dưới đây để cho thấy CSVN đang thực hiện một tiến trình giao nước cho Tầu chỉ vì tiền bạc :
=> THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC (Nguyễn Phúc Liên)
=> BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN (Nguyễn Phúc Liên)
=> CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI (Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh)
=> HAI TƯỚNG CS CHỈ RA NGUY HIỂM (Bùi Tín)
THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?
Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.
Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.
Việt Nam con nợ của Tầu
Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.
CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.
Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.
Tầu là chủ nợ cho Việt Nam
Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.
Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:
=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.
=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.
=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.
Tương quan Chủ nợ—Con nợ
Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
Trong VietTUDAN số 432 tuần trước, chúng tôi đã viết hai bài có sự liên hệ với nhau. Với bài phân tích về những cuộc nổi dậy trước đây ở Dông Aâu, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.
Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc. Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh cho thấy điều đó. Erich Knonecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.
Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.
Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.
1) Đòi NỢ Việt Nam
Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.
Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.
2) Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam
Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam. Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.
3) Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam
Trong tuần trước, chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.
Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI CSVN cho người ngoại quốc thuê rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Theo chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?
Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.
Chúng tôi đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị đầu:
1. Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.
2. Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.
Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?
Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
HAI TƯỚNG CS CHỈ RA HIỂM HỌA Bùi Tín Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
Ngày cuối năm âm lịch, mở mạng Bauxite-info, bên những bông hoa mai vàng và lời chúc Tết đẹp là một bài viết rất "nóng" của 2 tướng ở trong nước.
Đó là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.
Bài viết được mạng Bauxite.info giới thiệu một cách trang trọng.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là phó tổng tham mưu trưởng, từ 1967 đến 1975 là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn dọc đường "mòn" Hồ Chí Minh, là một binh đoàn tương đương 5 sư đoàn, ngang với 2 quân đoàn, có quân số 42 ngàn quân, gồm vận tải cơ giới, công binh, phòng không, thông tin, ra-đa, bộ binh, cao xạ, kho tàng, ống dẫn dầu, giao liên, thanh niên xung phong ... rải dài hơn 1 ngàn kilômét. Sau chiến tranh ông là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giao thông vận tải, là uỷ viên bộ chính trị trung ương đảng trước khi về hưu năm 1988.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vốn là uỷ viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Thanh hoá, là đại sứ VN tại Trung quốc suốt 15 năm, từ 1974 đến 1989 (trong cuộc chiến Trung-Việt) về hưu năm 1990.
Đặc điểm của 2 tướng này là uy tín lớn trong Quân đội nhân dân, có ảnh hưởng sâu rộng trong cựu chiến binh, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 200 ngàn binh sỹ từng dưới quyền, vẫn còn quan hệ với nhau trong "hội " cựu binh Trường Sơn; tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nổi tiếng về tính bộc trực ngay thẳng, hiện là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt nam, có hàng triệu hội viên rải khắp nước.
Cần nói thêm 2 tướng này năm 2009 vừa qua đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối, ngăn chặn chủ trương khai thác bôxít ở Tây Nguyên của bộ chính trị hiện tại, cũng cùng lên tiếng qua mạng Bauxite.info do nhà văn hoá Nguyễn Huệ Chi chủ trương, nay lại cùng chung bài viết đề ngày 22-1-2010, nhưng chỉ xuất hiện sáng ngày 12-2-2010 trên mạng Bauxite đang bị đánh phá dữ dội. Sự chậm trễ 20 ngày cho thấy bài báo đã bị các báo lớn nhất từ chối, tẩy chay do tệ độc quyền báo chí chà đạp Hiến pháp của bộ chính trị đương quyền.
Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, từ năm 2004, cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng bộ chính trị do ông Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.
Trong bài viết mới này, 2 ông tướng đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết với 10 doanh nghiệp Trung quốc đóng tại Trung quốc, Hồng kông và Đài Loan, những thoả thuận cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài.
Danh sách các tỉnh đó là : Lạng sơn, Quảng ninh, Cao bằng, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng nam, Bình định, Kon tum và Bình dương.
Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) .
Các thoả thuận đều có giá trị trong thời gian 50 năm, và sẽ kéo dài hơn sau đó. Hai viên tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, 94 tuổi.
Hai viên tướng báo động : họ sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, mội trường sẽ bị huỷ hoại.
Hai viên tướng kết luận : đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước.
2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đề nghị với đảng, nhà nước và nhân dân : - với những thỏa thuận đã lỡ (!) ký rồi, hãy thuyết phục các công ty nước ngoài khoán cho đồng bào ta ở tại chỗ khai thác đất rừng, đề phòng họ sẽ đưa lao động dân nước họ vào lập thành những làng Trung hoa, làng Hồng kông, làng Đại hàn trên đất nước ta . - với những thoả thuận đang thương lượng thì đình ngay lại !
Cuối cùng 2 ông yêu cầu đảng và nhà nước thực hiện ngay và rộng khắp việc giao khoán đất rừng cho từng hộ đồng bào ta là dân địa phương tại chỗ.
Tiết lộ và ý kiến của 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là hết sức khẩn cấp và nghiêm trọng.
Vì ông Đồng Sỹ Nguyên khi còn là Phó thủ tướng đã chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình 327 của chính phủ là Chương trình Quốc gia Phủ xanh đồi trọc và Bảo vệ rừng.
Bài viết của 2 ông tướng này còn cực nóng vì phơi bày một loạt việc làm chui, khuất tất, ám muội, mang tính hại nước hại dân, có thể xếp vào tội phản quốc, do chính quyền và đảng uỷ các tỉnh, huyện thực hiện thông đồng với các công ty của thế lực bành trướng với các khoản đút lót, hối lộ béo bở, được một số quan chức trong chính phủ, một số bộ trưởng lớn nhất, có thể trong cả bộ chính trị đỡ đầu, yểm trợ để kiếm phần siêu lợi khổng lồ. Họ sẽ thâm thù 2 ông tướng.
Anh Nguyễn Huệ Chi linh cảm rõ điều ấy. Anh nghĩ họ có thể bóp cho mạng của anh nghẹt thở hẳn do tin tày trời mang bí mật quốc gia cực kỳ nhạy cảm này. Anh thề sẽ hiến cho sự thật, cho nhân dân đến gịot máu cuối cùng của anh, để mạng bauxite ngang nhiên sống khỏe.
Chính vì vậy mà ngày cuối năm 30 Tết tôi cặm cụi gõ bài này và gửi lời chúc chân thành nhất đến nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng cùng hơn 4.000 anh chị trí thức đã ký kiến nghị Bôxit, cũng như đông đảo bạn yêu nước, yêu tự do trong số gần 20 triệu độc giả quen thuộc của mạng này.
Bùi Tín Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.02.2010
| | | |
RỪNG ĐIÊU TÀN THÌ TỔ QUỐC SUY VONG
Sau 75 bọn VGCS đã sử dụng bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư giáo sư, dược sĩ, tiến sĩ để phá rừng đốt bỏ để xây dựng vùng kinh tế mới cho dân Saigon Chợn lớn bị đánh phá, cướp của đuổi đi. DTK là một trong những người tù cải tạo trong đám tù chính trị trong tập thể trí thức miền nam đời thứ hai đã bị VGCS đánh cướp, cũng đã từng phá rừng ở hai vùng rừng núi Katum và Long Khánh gần ba năm. Về sau, nhờ có thày dùi, công tác nặng hơn, vì cây rừng phải được cưa thành củi, và tải ra các đường mòn để xe chở đi bán cho dân. Chính sách lớn của đảng cướp mafia dưới sự lãnh đạo của tên đồ tề vô học Lê Duẫn đã đưa đến cường quyền bằng bạo lực, áp đặt cưỡng bức trí thức miền nam phải lao động khổ sai daì hạn. Sau ba năm, có thể nói tất cả đã đào tẩu bằng mọi cách, mọi giá, trừ những người không may mắn đã bị bắt nhiều lần, phải chấp nhận với số mạng ở lại. Nhưng thân xác họ dù ở trong ngục tù lớn, tư duy họ vẫn bất khuất, kiền cường, không làm việc cho bọn quỉ đỏ như bọn trí thức ếch riêu quốc doanh xu thời, chỉ biết lòn trôn, liếm giầy, ăn bẩn.
Phá rừng ồ ạt là một điều ngu xuẫn. Tươc hết đã lãng phí tài nguyên gỗ quí, và gỗ có thể làm bột giấy, ngay cả làm dấm. Phá rừng ồ ạt sẽ gây ra hiệu quả lụt lội khi có mưa lũ. Những thảm họa lũ lụt này đã xảy ra khiếp đảm sau 75. Phá rừng còn có tai hại là làm mất đi lớp đất màu mở quí giá đã được hình thành qua nhiều năm tháng.
Đem đất rừng của 10 tỉnh ở cận biên giới Tau cộng để cho tư bản Tàu cộng, Đài Loan, Đại Hàn thuê dài hạn 50 năm là một điều ngu xuẩn, chưa từng thấy có bọn giòi bọ, ruồi nhặng nào lại ngu xuẩn, đần độn đến như vậy, chỉ có bọn lãnh đạo côn đồ, ma cô, giòi bọ, ruồi nhặng bán nước buôn dân mới có thể nghĩ tới việc hàmh xử ngu ngốc thảm hại như vậy. Cho tư bản Tàu cộng, tàu Đài Loan thuê daì hạn, không có kiểm soát là một tai hại lớn. Vì coi như đã mất đi quyền kiểm sóat, quản lý trên 15%. lãnh thổ toàn quốc.Chỉ cần khai thác gỗ khi phá rừng người thuê có khả năng trả tiền thuê năm mươi năm và có mức lời tối thiểu 25%. Bọn chính ủy địa phương vì ngu dốt không biết giá trí của cây rừng, chỉ biết ăn bẩn vài trăm ngàn mỹ kim mà ngu quá lợn, ký họp đồng cho thuê dài hạn.
Tư bản Tàu cộng, Tàu Taiwan, Đại Hàn chỉ khai thác gổ trong các lãnh vực kỹ nghệ đồ gỗ gỗ, kỹ nghệ bột giấy, xây dựng nhà tiền chế, kỹ nghệ đường sắt, bàn ghế. Họ có thể sử dụng lá rừng, rễ cây để làm phân organic, cùng với lớp đất mầu mở ngàn năm. Để canh tác hoa màu, ngủ cốc, cao su, trà, cà phê. tiêu.... Điểm quan trọng khác là người thuê đất có quyền khai thác đất đá kỹ nghệ silicate ở vùng rừng núi mà VN chưa hề biết tới chưa kể các quặng kim loại khác. Năm mươi năm, nửa thế kỹ là một tời gian dài, sau khi thuê đất rừng dài hạn, họ sẽ toàn quyền khai thác sau hơn bốn mươi năm. Họ còn có thể gia hạn thời gian thuê dài hơn. Dưới lòng đất của mười tình đầy rừng núi là một sự bí mật tiềm ẩn nhiều quí kim, quặng mỏ.
Mặt khác, khi họ thuê dài hạn không có kiểm soát, ai biết được là họ không trồng cần sa, nha phiến? Còn một vấn nạn khác là ô nhiễm môi trường do đốt rừng. Nói chung tư bản ngoại quốc thường thuê đất dài hạn cho những công doanh nghiếp nguy hiễm, có nhiều ô nhiễm hóa độc, khoáng nặng như đã có kinh nghiệm về các công ty sản xuất bột ngọc, hóa chất như Vedan, Vifong, luyện kim, bauxite... Đảng mafia VGCS vẫn chưa giải quyết được vấn nạn về các dòng sông chết, bauxite Tây Nguyên hiện tại. Phải chăng đây cũng là chính sách lớn của đảng và nhà nước để biến VN thành một bãi ô nhiễm tự do cho tư bản đỏ Tàu, và tư bảnTaiwan, Nam Hàn.....Kinh nghiệm vụ Bauxite Tây Nguyên đã phơi bầy, là đảng cướp mafia Ba Đình hoàn toàn bất lực, bị động, bị Tầu cộng vô hiệu hóa, mất quyền kiểm soát ngay trên đất VN. Trên nguyên tắc, các nước tư ản không được đem nhân công vào VN, ngoại trừ một số kỹ sư chuyên viên rất có giới hạn, cùng nhưng máy móc thiết bị khi mang vào, nhưng không được mang ra.
Cho ngoại quốc, nhất là anh a Tàu thuê rừng để khai thác dài hạn 50 năm là một điều tai hại cho VN trong tương lai, khi anh ba Tàu cộng lại ở ngay biên giới đã thường xuyên quấy phá, xâm lấn, gây chiến. Ai sẽ kiểm soát, nếu Tàu cộng điều binh, chuyển vận quân lương, quân cụ, vũ khí, nhân lực để sẵn sàng cho một cuộc chiến xâm chiếm phủ đầu, nội công ngoại kích. Miền bắc Việt nam sẽ mất trong vòng ba tuần là nhiều. Nếu tính về quân cụ, vũ khí Tàu cộng hùng mạnh hơn CSVN nhiều, nhất là về hải, không quân.
Cho Tàu cộng thuê rừng để khai thác ở mười tỉnh gần biên giới là đảng và các b́ị́ thư tỉnh ủy đã đồng thuận cho hàng trăm, hàng ngàn con ngựa thành TroJan vào lãnh địa, giang sơn VN rồi còn gì. Như vậy còn đâu là: Nam quốc sơn hà nam đế cư? Chẳng lễ các đảng ủy viên Ba Đình, Hà Nội ra chuồng heo ở? Hay vạch các đống phân bò chui rút vào?Đấy không phải là hành động của con người, mà là hành động của con vật bốn chân. Những con hồng mã Trojan mang cở năm sao vàng này sẽ là mối hiễm hoạ cho toàn dân VN như sống lại với lịch sử ngàn năm bị Tàu đô hộ.. Ngàn hàng con ngựa thành Trojan ở Tây nguyên chưa đủ suy vong sao, lại còn muốn có thêm trăm ngàn con ngựa Trojan Tàu cộng khác? chẳng lẽ các tỉnh ủy viên đảng VGCS muốn thi đua bán nước, buôn dân với ọn tam đầu chế Ǹng Đức Ṃanh, Nguỹên Tấn Dũng, Nguỹên Minh Triết ở Ba Đỉnh?
Những tên phản quốc, bán nước bán dân như Hồ dâm tặc, Lê Duẫn, Phạm văn Đồng, Trường Chinh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguỹên Minh Triêt, Nguỹên Tấn Dũng đã quá ô nhục cho đảng cướp mafia VGCS đời đời rồi. Đừng để cho Việt nam phải tắm máu như Cambodia trong những năm tháng sắp tới. Bọn VGCS phải từ bỏ quyền lực, tự giải thể ngay lập tức, và tự đào tẩu ra khỏi lãnh thổ VN càng sớm chừng nào tốt chừng đó. Vì người dân VN không bao giờ tha thứ cho những kẻ tội đồ bán nước buôn dân.
DTK Rừng điêu tàn thì tổ quốc suy vong Babui
ẢO ẢNH CHẾT NGƯỜI CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC
“Ảo ảnh chết người” của kinh tế Trung Quốc Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA 2010-02-17
Trong khi nền kinh tế toàn cầu vẫn chưa hồi phục hoàn toàn sau khủng hoảng, thì nền kinh tế Trung Quốc lại đạt tốc độ tăng trưởng cao, thành tích này có dự báo điều bất thường?
Thời gian chuẩn bị đón Xuân Canh Dần, Trung Quốc công bố nhiều chỉ số thống kê ngoạn mục về tốc độ tăng trưởng và, lần thứ hai trong vòng một tháng, lại quyết định nâng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm phát.
Ảo ảnh
Trong khi thế giới vẫn e sợ suy trầm toàn cầu mà nền kinh tế này lại có triệu chứng nóng máy và có thể đạt tốc độ tăng trưởng sản xuất trên 10% vào năm 2010 thì tất nhiên là dư luận coi đó là điều đáng chú ý. Nhưng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa lại gọi đây là những "ảo ảnh chết người". Ông giải thích như sau, qua phần trao đổi cùng Việt Long trong tạp chí chuyên đề Diễn đàn Kinh tế.
Trở lại thực tế kinh tế thì tôi thiển nghĩ rằng các thống kê vừa qua cho thấy những ảo ảnh chết người của kinh tế Trung Quốc.
Việt Long: Hôm Thứ Ba mùng hai tháng Hai, Trung Quốc thông báo kết cấu của tốc độ tăng trưởng kinh tế 8,7% trong năm 2009. Mười ngày sau thì họ quyết định tăng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng nhằm kềm hãm lượng tín dụng và chặn trước nguy cơ lạm phát khi đà tăng trưởng sản xuất trong năm 2010 này có thể sẽ vượt 10%. Giữa bối cảnh suy trầm toàn cầu mà kinh tế Trung Quốc lại tăng trưởng quá 10% và lo ngại lạm phát thì rõ là xứ này đã vượt xa các nước khác. Điều ấy có đúng hay không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Sau khi ăn Tết xong và trở lại thực tế kinh tế thì tôi thiển nghĩ rằng các thống kê vừa qua cho thấy những ảo ảnh chết người của kinh tế Trung Quốc và người Việt Nam rất nên tìm hiểu về các ảo ảnh này. Trước khi trình bày chuyện ấy, tôi xin được nói thêm vài chi tiết khác cũng rất đáng chú ý.
Hôm 28 tháng Giêng, Cục Thống kê Quốc gia của Bắc Kinh loan báo nỗ lực cải cách phương thức thu thập và khai thác thống kê vì trong năm 2009 đã có 13.500 vụ đúc kết thống kê sai lạc. Đây là lần thứ tư mà Trung Quốc muốn cải tổ thống kê mà nhiều phần vẫn không có kết quả vì một lý do chính trị. Đó là vì mọi đảng viên cán bộ chỉ chịu trách nhiệm với thượng cấp ở trên hơn là với thuộc cấp ở dưới hay với dân chúng, cho nên họ đều có xu hướng tô hồng thống kê trong quản hạt trước khi đưa lên trên và ở trên cùng thì tổng kết thành con số ảo. Một thí dụ mà diễn đàn này đã trình bày từ năm ngoái là Tổng sản lượng kinh tế Trung Quốc vào năm 2007 lên tới ngạch số tương đương với hơn 3.600 tỷ Mỹ kim, trong khi nếu mà cộng lại kết số tổng sản lượng của tất cả các tỉnh và thành phố thì ta có con số khác, là 4.000 tỷ đô la, một mức sai biệt khổng lồ là 340 tỷ đô la, gần 10%. Khi độ sai lệch lại cao như thế thì ta nên trừ bì, là gia giảm, mức độ khả tín của thống kê Trung Quốc.
Thứ hai, mùng hai tháng Hai vừa qua, cơ quan quốc tế thẩm định giá trị tín dụng là hãng Fitch đã hạ thấp mức điểm của hai ngân hàng Trung Quốc và giải thích là trình độ quá bất trắc của các ngân hàng khi ào ạt bơm tín dụng và cho vay theo diện chính sách nên ngân hàng thiếu vốn và rủi ro tín dụng gia tăng. Thực tế thì lượng tín dụng ngân hàng tại Trung Quốc đã tăng hơn 30% trong năm 2009 và xứ này là nơi có bong bóng đầu cơ lớn nhất trong các nước Á châu.
Trái bóng địa ốc có thể sẽ bể, là điều diễn đàn này cũng đã nói tới trong chương trình ngày 13 tháng Giêng.
Thứ ba, hôm mùng một tháng Hai, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phát biểu rằng Trung Quốc đang gặp nhiều bất trắc trên các thị trường quốc tế mà ở nhà thì lại bị các vấn đề thất quân bình và phát triển không bền vững. Khi ấy, ta mới để ý đến sự kiện các giới chức lãnh đạo Bắc Kinh đều lên tiếng báo động về nhiều vấn đề trong nội bộ để chuẩn bị thảo luận tại Hội nghị Hiệp thương Chính trị rồi Đại hội Đại biểu Quốc hội vào các ngày mùng ba và mùng năm của tháng tới. Nói chung thì lãnh đạo xứ này ưu lo về tình hình kinh tế, xã hội và chính trị nhiều hơn là dư luận bên ngoài thường nghĩ vì họ thấy ra những ảo ảnh sinh tử của chế độ.
Xuất khẩu “âm”
Việt Long: Nếu vậy thì xin ông trình bày trước tiên điều ông gọi là ảo ảnh trong đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là 8,7% vào năm 2009. Con số này thật ra rất lớn nếu ta so sánh với Hoa Kỳ chẳng hạn, là siêu cường, chỉ đạt tốc độ có 0,8% mà thôi.
Nguyễn Xuân Nghĩa: Tốc độ 8,7% trong một năm suy trầm toàn cầu và nối tiếp tốc độ 9% của năm 2008 thì quả nhiên là con số đầy ấn tượng! Nhưng khi đi vào chi tiết ta thấy ngay sự thật u ám nằm bên dưới. Đà tăng trưởng bình quân 8,7% này là kết số của ba thành tố gồm có đầu tư là 8%, tiêu thụ là 4,6% và xuất khẩu là -3,9%. Nôm na là 8,7% = 8% + 4,6% - 3,9%.
Xưa nay, xuất khẩu vẫn là đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc mà bây giờ lại đóng góp một số âm cho đà tăng trưởng, là -3,9%, mà tiêu thụ chỉ có 4,6% nên không bù đắp nổi. Vì vậy, nhà nước nhảy vào cấp cứu như bơm nước biển đề hồi sinh một cơ thể rũ liệt. Nói cách khác, tốc độ tăng trưởng rồng cọp của Trung Quốc thực tế lệ thuộc tới 92% (là 8% của tổng số 8,7%) vào đầu tư của khu vực công. Không có đầu tư của nhà nước là chẳng có tăng trưởng. Xưa nay, xuất khẩu vẫn là đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc mà bây giờ lại đóng góp một số âm cho đà tăng trưởng, là -3,9%, mà tiêu thụ chỉ có 4,6% nên không bù đắp nổi.
Việt Long: Chúng ta đều biết khi kinh tế bị suy trầm thì xứ nào cũng phải tìm cách kích thích. Hoặc là qua hạ lãi suất hay in tiền bơm vào kinh tế, hoặc qua tăng chi hay giảm thuế, chủ yếu là để bù đắp cho sự thiếu hụt tiêu thụ của tư nhân. Nếu vậy thì lãnh đạo Bắc Kinh cũng áp dụng các biện pháp bình thường ấy, thế thì vì sao ông lại gọi là ảo ảnh?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Chuyện ấy không bình thường vì nhà nước mà không đẩy là cỗ xe sẽ dừng mà kinh tế Trung Quốc lại như cỗ xe đạp, nếu không lăn bánh là sẽ đổ vì thất nghiệp tăng và động loạn xã hội sẽ bùng nổ.
Đã thế Trung Quốc lại có hệ suất đầu tư rất tệ, tức là phải đầu tư rất nhiều thì mới sản lượng mới tăng được một đơn vị. Người ta hay dùng "chỉ số đầu tư phụ trội" gọi tắt theo Anh ngữ là ICOR để đo lường hệ suất ấy. Thí dụ như nếu xứ nào phải đầu tư ba đơn vị mới gia tăng sản lượng được một đơn vị thì có chỉ số Incremental Capital Output Ratio bằng số ba. Nếu đầu tư bằng 5% của tổng sản lượng với một chỉ số ICOR là 3 chẳng hạn thì sản lượng sẽ tăng được năm chia cho ba, bằng 1,66%. Suy ngược lại, khi sản lượng Trung Quốc tăng 8,7% là nhờ đầu tư tới 92% tổng sản lượng GDP thì chỉ số ICOR của xứ này phải là 10,6, là một hệ suất đầu tư thật tốn kém vì quá lớn!
Chẳng những vậy, nếu nhìn kỹ hơn thì... lượng biến thành phầm, và phẩm chất rất tồi. Trung Quốc thường chủ động bơm tiền qua hai ngả công chi và tín dụng, rồi gọi đó là đầu tư. Nhưng chủ yếu là nhà nước cấp phát tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước, gọi là thuộc diện chính sách, và cho các dự án xây dựng thuộc phạm vi phân bố và chia chác của địa phương. Tất cả để duy trì khả năng sản xuất và chính yếu là tuyển dụng để tránh nạn thất nghiệp và động loạn xã hội. Nhưng hệ thống ống bơm ấy lại... theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó bơm vào nơi úng thủy và thổi lên bong bóng đầu tư.
Hậu quả xã hội của chế độ kinh tế ấy là hình thức tái phân lợi tức, và lại tái phân phối trước tiên cho một thiểu số có chức có quyền. Người dân lầm than thì chỉ còn một ngả là hỳ hục ráp chế hàng xuất cảng để kiếm được chút tiền vụn ở dưới. Khả năng tiêu thụ rất thấp - chỉ có 4,6% - phản ảnh điều ấy. Vì thế ta cần nhìn ra cái chất ảo của đà tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Lạm phát?
Việt Long: Tuy nhiên, vì sao lãnh đạo xứ này lại e sợ lạm phát đến nỗi phải hạn chế tín dụng. Nếu hạn chế tín dụng thì làm sao còn có tăng trưởng theo lối đẩy xe đạp như ông vừa nói? Nguyễn Xuân Nghĩa: Đây lại là một ảo ảnh khác của kinh tế Trung Quốc.
Sau khi tiến hành cải cách từ ba chục năm trước, Trung Quốc quả là đã bị ba trận lạm phát. Đó là vào năm 1985 với vật giá tăng 10%; rồi vào năm 1988-1989 khi vật giá tăng 20% và gây khủng hoảng chính trị với vụ tàn sát Thiên an môn ngày bốn tháng Sáu năm 1989 khiến mấy ngàn người bị giết; rồi vào năm 1993-1994 với giá cả tăng vọt đến 25%. Rút kinh nghiệm kinh tế và chính trị của quá khứ, lãnh đạo Bắc Kinh rất e sợ lạm phát....
Việt Long: Chúng tôi nhớ lại là từ những năm 2003 rồi 2005, ông thường báo động là kinh tế Trung Quốc có thể bị nóng máy và đã có lúc quyết định cấm cho vay trong nhiều tháng liền mà sau đó, lạm phát vẫn không bùng nổ. Dường như là sau đợt lạm phát 1993-1994, cấu trúc kinh tế xứ này có thay đổi nên có khi bị giảm phát chứ hết bị lạm phát rồi. Điều ấy có đúng không? Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa điều ấy rất đúng vì cơ cấu kinh tế đã có thay đổi.
Thời Mao Trạch Đông, thành phần doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 90% tổng sản lượng GDP. Qua thời cải cách từ năm 1979 về sau, doanh nghiệp nhà nước được giải phóng trong đầu tư và được các ngân hàng cũng của nhà nước tài trợ tín dụng rất dồi dào để bành trướng thị phần và tuyển dụng thêm công nhân viên, từ 78 triệu lên 100 triệu người.
Nhưng, ách tắc trong cơ chế đã khiến số cung bị hạn chế mà số cầu gia tăng nhờ tín dụng và lương bổng nên mới gây nhiều đợt lạm phát. Nạn tham nhũng trong khu vực nhà nước và vật giá gia tăng trên đầu người dân mới dẫn tới khủng hoảng chính trị. Sau đấy, cơ chế sản xuất có thay đổi và thực tế là có cải thiện mới dẫn tới thời kỳ ta có thể gọi là sản xuất thừa và chất vào kho. Vì vậy, đúng là người ta có chứng kiến hiện tượng giảm phát hơn là lạm phát như ông vừa nói. Giảm phát là khi hàng họ giảm giá mà bán vẫn không chạy chính là vì hiện tượng sản xuất thừa và gây ra ấn tượng tăng trưởng cao.
Vì thật ra xứ này vẫn có những lệch lạc trong cơ chế nên lãnh đạo của họ vẫn sợ lạm phát bùng nổ từ ba khu vực, đó là năng lượng, địa ốc và nhất là lương thực. Việt Long: Thế thì vì sao bây giờ lãnh đạo Bắc Kinh lại sợ lạm phát?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Vì thật ra xứ này vẫn có những lệch lạc trong cơ chế nên lãnh đạo của họ vẫn sợ lạm phát bùng nổ từ ba khu vực, đó là năng lượng, địa ốc và nhất là lương thực. Thứ nhất về năng lượng thì Trung Quốc áp dụng chế độ kiểm soát giá cả để dân chúng khỏi bị khốn đốn vì giá xăng dầu hay khí đốt, nhất là trong hai năm 2007 và 2008 khi giá năng lượng và thương phẩm tăng vọt trên thế giới. Nhưng chính là chế độ kiểm soát mới gây ra nhiều lệch lạc trên thị trường, thứ nhất là vì doanh nghiệp về năng lượng không muốn bị lỗ khi nhập vào với giá cao và bán ra với giá quy định của nhà nước; và thứ hai là vì giá năng lượng được trợ cấp nên giới tiêu thụ khỏi cần tần tiện. Tình trạng lệch lạc ấy gây rất nhiều tốn kém kinh tế nhưng là cái giá mà nhà nước phải trả để khỏi gặp động loạn và họ canh chừng giá năng lượng rất kỹ. Thứ hai, vì đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân nhưng do nhà nước thống nhất quản lý và Trung Quốc là một xứ rất rộng mà lại thiếu đất canh tác, chỉ bằng một phần ba của bình quân của thế giới. Chế độ quản lý của nhà nước dẫn tới nạn bóc lột nông dân và khiếu kiện về đất đai khi ngân sách thuế khóa của các tỉnh lại thu được bình quân là 40% nhờ bán quyền sử dụng đất. Cũng vì mối lợi của đảng viên cán bộ ở địa phương cho nên xứ này cứ hay bị nạn bong bóng đầu cơ về địa ốc. Mặc dù mới đây, Quốc vụ viện tức là Hội đồng Chính phủ vừa rà lại đạo luật về đất đai để tránh nạn cướp đất và không bồi thường thỏa đáng, nhưng bất ổn xã hội vẫn còn nguyên vẹn vì luật lệ sẽ khó được đảng viên cán bộ áp dụng nghiêm chỉnh. Thứ ba và quan trọng nhất, Trung Quốc là nơi mà người dân thường thiếu ăn vì có diện tích canh tác rất hẹp cho một dân số quá đông nên lương thực là yếu tố thổi bùng chỉ số giá cả. Thiên tai hay dịch bệnh cũng sẵn sàng ảnh hưởng tới sản lượng lương thực mà lương thực lại chiếm tới một phần ba ngân sách chi tiêu của các hộ gia đình, nên giá mà tăng là dân sẽ khổ và nổi loạn. Cho nên, nếu có nhìn ra nguy cơ động loạn ấy từ chuyện vật giá và lồng trong khung cảnh của một nền kinh tế không có kích thích là sản xuất đình đọng và thất nghiệp sẽ tăng thì ta mới thấy ra ảo ảnh phồn vinh và phú cường của xứ này.
| | | |
NHẬP SIÊU TỪ TẦU CHIẾM 90% HÀNG NHẬP
CS Việt Nam vẫn bất lực trước trình trạng nhập siêu từ Trung Cộng Thanh Phương Bài đăng ngày 08/02/2010 Cập nhật lần cuối ngày 08/02/2010 15:53 TU
Nền kinh tế Việt Nam còn hai nguy cơ lớn : lạm phát có thể tăng trở lại và nhập siêu vẫn ở mức cao. Với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa. Phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A.
Xưởng may hàng xuất khẩu của Việt Nam
Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố vào cuối năm ngoái, nhập siêu, tức là thâm thủng mậu dịch, của Việt Nam trong năm 2009 đã lên tới hơn 12 tỷ đôla, tuy thấp hơn so với mức 18 tỷ đôla của năm 2008, nhưng vẫn là vượt quá chỉ tiêu đề ra. Điều đáng nói hơn hết đó là trong năm qua, nhập siêu từ Trung Quốc nay đã chiếm tỷ lệ tới gần 90% tổng nhập siêu của Việt Nam.
Như vậy là kể từ năm 2001, mức nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng đều đặn mà Việt Nam vẫn chưa có giải pháp nào khả dĩ hạn chế được mức nhập siêu đó.
Về những nguyên nhân khiến nhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng, tác giả Mạnh Quân trong một bài báo đăng trên trang web của tờ Sài Gòn Tiếp Thị ngày 1/2 cho biết : trước hết, hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc thường là những mặt hàng mà Trung Quốc dư khả năng sản xuất, nên khó mà cạnh tranh nổi. Các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như than, dầu thô, thì lại đang có xu hướng giảm.
Cũng theo tác giả Mạnh Quân, về nhập khẩu, một số mặt hàng từ Trung Quốc là những mặt hàng mà Việt Nam chưa sản xuất được. Hàng Trung Quốc lại rẻ và gần Việt Nam, nên nhiều doanh nghiệp thích mua hàng từ đây.
Tác giả bài báo trích dẫn một số chuyên gia của Hiệp hội Cơ khí cho biết là trong tổng lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, các mặt hàng cơ khí, máy móc chiếm tỷ lệ rất lớn. Cho nên, một trong những giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc có thể là phải đầu tư thêm cho việc sản xuất hàng cơ khí, máy móc nộI địa để thay thế hàng nhập khẩu.
Trong vấn đề này, không chỉ có trách nhiệm của chính phủ mà của cả doanh nghiệp Việt Nam, như nhận định chung của tiến sĩ Nguyễn Quang A. Trả lời phỏng vấn qua điện thoại từ Sài Gòn vào thứ 5 tuần trước, ông Nguyễn Quang A trước hết cho rằng với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa :
Nhưng ở trên, chúng tôi chỉ mới đề cập chủ yếu tình trạng nhập siêu qua giao thương chính ngạch, còn trên thực tế, có thể nói là hiện nay hàng hoá Trung Quốc tràn ngập Việt Nam bằng con đường tiểu ngạch và đáng ngại hơn cả là hàng lậu, giả của Trung Quốc chiếm chủ yếu trong số hàng lậu, hàng giả đi vào thị trường Việt Nam.
Tờ báo trên mạng vnexpress ngày 21 tháng 1 vừa qua trích lời Phó Chi cục Quản lý thị trường Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Xuân Đài cho biết là các mặt hàng Trung Quốc, chủ yếu là vải, quần áo, đồ chơi trẻ em, điện thoại di động, đồ điện gia dụng, phụ tùng xe các loại,... , tràn lan trên thị trường thành phố. Các hàng hoá này được phân phối qua một hệ thống rất chặt chẻ từ Trung Quốc, qua các tỉnh biên giới, rồi đến Sài Gòn.
Bên cạnh đó, dư luận ở Việt Nam trong thời gian gần đây còn được báo động liên tục về những hàng giả đặc biệt gây độc hại như trà sữa trân châu polymer, hoa quả chứa chất bảo quản gây ung thư, sữa nhiễm melamine, v.v. . . Nhưng hết mặt hàng độc hại này thì lại xuất hiện mặt hàng độc hại made in China khác, không bao giờ dứt. Việt Nam có một biên giới khá dài với Trung Quốc, nên rất khó mà ngăn chận sự xâm nhập của những thứ độc hại này.
Hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc-ASEAN đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Riêng bốn nước nghèo nhất khu vực là Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Miến Điện, thì đến 2015 mới áp dụng hiệp định, tức là kể từ thời điểm đó, 90% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có thuế suất từ 0 đến 5%.
Như vậy là trong 5 năm nữa, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối đầu với sự cạnh tranh khốc liệt hơn của hàng hóa Trung Quốc. Liệu trong thời gian 5 năm đó, họ có nâng cao được năng lực cạnh tranh hay không, điều đó dĩ nhiên tùy thuộc một phần vào chính họ, nhưng chủ yếu vẫn là phải tạo ra được một môi trường thuận lợi cho giới doanh nghiệp, với sự hỗ trợ tích cực của chính phủ, như phía Trung Quốc đã làm từ nhiều năm qua. Mặt khác, Việt Nam hãy còn thiếu hàng rào kỹ thuật để bảo vệ thị trường nội địa khỏi những hàng giả, hàng độc hại từ phía Trung Quốc.
Trong vấn đề này, có lẽ cũng nên khơi dậy tinh thần dân tộc, không phải là khuyến khích chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng phải làm cho mọi người thức tỉnh về nguy cơ hàng hóa nội địa bị hàng Trung Quốc đè bẹp, phải nỗ lực vận động người Việt Nam phải dùng hàng Việt Nam. Nhưng bản thân hàng Việt Nam cũng phải được sản xuất đàng hoàng, đúng tiêu chuẩn, giá phải chăng, thì mới hy vọng thu hút được người tiêu dùng trong nước.
KINH TẾ VN: ”CÀNG TĂNG TRƯỞNG CÀNG NGHÈO”!
http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml
Lối tăng trưởng chạy theo con số, theo ông Trần Xuân Giá, sẽ 'chỉ làm cho VN nghèo đi.'
Ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu tư, tỏ ý quan ngại về cách điều hành kinh tế tại Việt Nam.
Trên bài phỏng vấn đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, cựu quan chức chính phủ, từng điều hành một trong những bộ quan trọng nhất nước, nhận định: “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp."
“Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa,” ông Trần Xuân Giá nói.
“Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.”
Một số trí thức trong nước đã từng quan tâm đến chủ đề này. Ông Nguyễn Trần Bạt, Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư InvestConsult cho hay nhiều năm trước ông đã quan ngại đến cách làm kinh tế tại Việt Nam.
"Tôi đã nói điều này cách đây 10 năm. Trong một số bài báo, tôi cảnh báo tâm lý tăng trưởng bằng mọi giá. Tôi viết từ rất sớm. Hiện nay nó đẻ ra một cái thực tế mà (cựu) bộ trưởng phải lên tiếng. Chúng tôi, với tư cách là người trí thức bình thường, đã từng lên tiếng trước đó, cảnh báo trước đó, không chỉ cho Việt Nam. Mà cho tất cả các quốc gia kiểu Việt Nam.”
Trong bài phỏng vấn đăng trên tuần báo kinh tế có uy tín từ Hà Nội, ông Trần Xuân Giá tự xếp mình vào nhóm những người bi quan về kinh tế Việt Nam.
Bi quan
Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa
Bên cạnh thừa nhận một số thành tích như, “năm 2009 không rơi vào suy thoái, ngăn chặn được nguy cơ phá sản ở nhiều doanh nghiệp, kiểm soát được lạm phát ở mức 6,88%,” vân vân, cựu quan chức chính phủ nói đến một số lĩnh vực Việt Nam đang phải trả giá.
Đó là “sự phục hồi của kinh tế Việt Nam diễn ra không đồng đều, chưa vững chắc, tạo nên bức tranh sáng tối lẫn lộn.”
Các khó khăn đang tiềm ẩn trong kinh tế Việt Nam, theo ông Trần Xuân Giá, là tỷ giá hối đoái, và lạm phát; chi tiêu công gia tăng; nhập siêu sẽ tăng do giá nguyên liệu trên thế giới tăng, môi trường bị phá hoại nặng nề.
Trước một số ý kiến nhắc đến cuộc khủng hoảng tài chính thế giới như là nguyên nhân khiến cho kinh tế Việt Nam chao đảo trong năm 2008, ông Trần Xuân Giá chỉ ra, ngay cả trước thời kỳ khủng hoảng (2007 cho đến trước quý 3/2008) Việt Nam đã bộc lộ nhiều khó khăn.
“Nguyên nhân suy giảm của kinh tế Việt Nam không chỉ đến từ bên ngoài. Quan trọng nhất là những nguyên nhân nội tại. Nền kinh tế Việt Nam khi ấy gặp không ít khó khăn.
“Lạm phát cao, nhập siêu lớn. Những yếu kém cơ bản đó nằm ngay trong cả cơ cấu lẫn cơ chế kinh tế của Việt Nam.”
Cựu bộ trưởng, hiện tham gia điều hành hội đồng quản trị của ngân hàng ACB, sau đó liệt kê những thiếu sót cơ bản của kinh tế trong nước.
“GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,
"Công nghệ chậm đổi mới, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu chưa thoát khỏi lạc hậu, thị trường trong nước kém phát triển, kinh tế vĩ mô còn nhiều yếu tố bấp bênh, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, môi trường cạnh tranh chưa bình đẳng, lành mạnh.”
Ông Nguyễn Trần Bạt từ công ty InvestConsult lo ngại lối tăng trưởng kiểu “sùng bái con số’’ sẽ đưa Việt Nam đến một kết cục không hay.
“Ăn kẹo mãi thì sẽ bội thực đường. Giấy kẹo nó rơi xuống chân mình nó cao đến mức nó làm tắc thở cái người ngồi, hoặc đứng ăn kẹo.
“Cho nên là tăng trưởng theo kiểu như thế này chính là một trong những biện pháp giết chết một cách chắn chắn nhất tương lai, không chỉ tương lai kinh tế, mà nhiều tương lai khác của Việt Nam.”
http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml
DANH SÁCH NHỮNG THỰC PHẨM BỊ CẤM
Thu, 2/25/10, tam le <tiengtam
Những thực phẩm kém phẩm chất (có thể nguy hại đến sức khỏe) nhập cảng từ Việt Nam mà FDA đang cấm.
Người Việt Hải Ngoại cần lưu ý những thực phẩm kém phẩm chất nhập cảng từ Việt Nam.
Mới đây Cơ Quan An Toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã từ chối, không cho nhập cảng vào Hoa Kỳ, 27 lô hàng mà phần lớn là thực phẩm đã chế biến, sản xuất từ Việt Nam vì lý do thiếu an toàn sức khỏe.
Những loại thực phẩm này không chỉ nhập cảng vào Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) mà còn được nhập cảng vào tất cả những quốc gia nơi có người Việt Tị Nạn sinh sống như những nước tại Âu châu, Nhật, Úc, v.v...
Nhận thấy rằng đây là vấn đề vô cùng lớn lao liên hệ đến sức khỏe của hàng triệu người Việt trên khắp thế giới, và tại Việt nam, nên chúng tôi chuyển ngữ và khẩn cấp gửi thông tin nầy đến tất cả qúy vị, đặc biệt lưu ý các bà nội trợ, các nhà hàng. Các đấng mày râu lo chuyện nước non, chuyện quốc gia đại sự, cũng cần lưu tâm lưu ý qúy phu nhân, qúy vị sẽ không thực thi được trọn vẹn lý tưởng của mình một khi sức khỏe bản thân và gia đình có... vấn đề. Riêng bà con nhân dân trong nước và những người Việt hải ngoại về thăm thân nhân, cũng xin hết sức cảnh giác, đau ốm, ngộ độc thực phẩm và đi khám, chữa bệnh ở Việt Nam là cả một vấn đề không thể coi thường, đừng để cho đến khi quá muộn.
Dưới đây là danh sách các công ty và địa chỉ, các loại thực phẩm bị FDA từ chối nhập cảng vào Hoa Kỳ, lý do vi phạm các điều khoản quy định về an toàn dược-thực phẩm.
1- Aquatic Products Trading Company, Tôm đông lạnh cỡ lớn có đầu, trộn lẫn các chất dơ bẩn và độc tố có hại cho sức khỏe (FILTHY, SALMONELLA), vi phạm các điều khoản 601(b), 801(a)(3), 402(a)(3), 402(a)(1)
2- Mai Linh Private Enterprise, Vũng Tàu, Thịt cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia chloramphenicol (CHLORAMP) không an toàn cho sức khỏe, điều khoản 402(a)(2)(c) (i), 801(a)(3), theo định nghĩa của điều 21 U.S...C. 348;
3- Batri Seafood Factory, Bến Tre, Chả cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia chloramphenicol không an toàn cho sức khỏe, điều khoản 402(a)(2)(c) (i), 801(a)(3), theo định nghĩa của điều 21 U.S.C. 348;
4- Nam Hai Company Ltd, có 2 sản phẩm vi phạm: a) Thịt cua nấu chín đông lạnh, có trộn lẫn độc tố gây ngộ độc, độc chất salmonella và hóa chất phụ gia chloramphenol (POISONOUS, CHLORAMP, SALMONELLA,) gây tai hại cho sức khỏe, vi phạm các điều khoản 402 (a) (1), 801(a)(3), 601(a), 402(a)(2)(c) (i), 402(a)(1) theo định nghĩa của luật 21 U.S.C. 348;
b) Lươn đông lạnh, có độc chất salmonella, và nhãn ghi giả mạo (FALSE, SALMONELLA,) một loại sản phẩm khác gây hiểu lầm cho người tiêu thụ, vi phạm các điều khoản 403(a)(3), 801(a)(3), 502 (a), 402 (a) (1);
5- ACECOOK VIETNAM CO...., LTD, Mì lẩu Thái có hương vị hải sản, chế biến có lẫn lộn các chất dơ bẩn và không ghi các thành phần cấu tạo nên sản phẩm (LIST INGRE, FILTHY,) vi phạm các điều khoản 403 (i) ( 2), 801 (a) (3), 601 (b) 402 (a) (3) ;
6- Olam Vietnam Ltd, thị xã Gia Nghĩa, có 7 lô hàng bị ngăn chặn gồm Tiêu đennguyên hạt và Tiêu đen xay đều có chứa độc chất Salmonella, vi phạm các điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;
7- Don Nguyen, 3 sản phẩm thô là Đậu khấu (Cardamon), Cam thảo (Licorice) và Quế
8- Van Nhu Seafoods Limited Company (VN Seafoods Co.), Nha Trang, Cá sòng ngân (Mackerel) cắt khúc đông lạnh, chế biến dơ bẩn, lẫn lộn các chất hỗn tạp, điều khoản vi phạm 601(b), 801(a), 402(a)(3);
9- Nam Phong Trading Co, Tiêu bột chứa độc chất Salmonella, theo điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;
10- Lucky Shing Enterprise Co Ltd, Bột ngũ cốc ăn liền vi phạm rất nhiều điều khoản bị nghiêm cấm gồm có: Thiếu thông tin đầy đủ (NOT LISTED) về sản phẩm theo đòi hỏi của các điều 502 (o), 801 (a) (3), 510 (j), 510 (k);
Không ghi thành tố gây rủi ro bệnh tật hiện diện trong sản phẩm dưỡng sinh (UNSFDIETLB) , theo các điều 402 (f) (1) (A);
Giả mạo sản phẩm (FALSE) gây hiểu lầm, điều 403 (a) (1), 502 (a);
Trên nhãn thiếu thông tin đặc biệt về thực phẩm dinh dưỡng (DIETARY,) theo điều 403 (j);
Nhãn không ghi phần tiếng Anh (NO ENGLISH,) 403 (f), 502 (c), vi phạm các điều luật 21 CRF 101. 15 (c), 801.15 (c) (1) và 201.15 (c) (1);
Thực phẩm dưỡng sinh nầy (được coi) là một loại dược phẩm mới nhưng CHƯA có đơn xin thử nghiệm để được chấp thuận (UNAPPROVED, ) theo điều 505 (a);
11- Nhan Hoa Co., Ltd, Cá đông lạnh, chứa độc tố Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;
12- United Seafood Packer Co. Ltd, Thịt (Fillet) cá lưỡi kiếm đông lạnh, chứa độc chất gây ngộ độc (poisonous), vi phạm điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3), 601 (a);
13- Seapimex Vietnam, có 7 lô hàng về Chả cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia Chloramphenol không an toàn sức khỏe theo định nghĩa của điều luật 21 U.S.C. 348, vi phạm các điều khoản 402 (a) (2) (c) (i), 801 (a) (3) ;
14- MY THANH CO., LTD, có 5 lô hàng gồm 4 sản phẩm: Cá hồng snapper (?) đông lạnh bị từ chối nhập cảng, vi phạm các điều:
Ghi không đúng tên sản phẩm mà là dưới tên một loại sản phẩm khác (WRONG IDEN, vì không biết hay nhằm đánh lừa người tiêu thụ ? Điều này chỉ có công ty sản xuất mới có thể trả lời !) theo điều 403 (b), 803 (a) (3);
Thiếu ghi chú về trọng lượng hay số lượng (LACKS N/C) theo điều 403 (e) (2), 502 (b) (2);
Nhãn sai (LABELING) về vị trí, hình thức và nội dung theo điều 4 (a), 801 (a) (3);
Dưa muối và Nước chấm chay (nước tương: Vegetarian dipping sause) có các vi phạm:
Không đăng ký là loại sản phẩm đóng hộp có độ acid thấp (NEEDS FCE) theo đòi hỏi của điều luật 21 CFR 801.25 (c) (1) hoặc 801.35 (c) (1), vi phạm điều 402 (a) (4), 801 (a) (3);
Không ghi chú thông tin về tiến trình sản xuất (NO PROCESS,) theo đòi hỏi của điều luật 21 CFR 801.25 (c) (2) hoặc 801.35 (c) (2), vi phạm điều 402 (a) (4), 801 (a) (3);
Cá sòng ngâm muối (mắm cá sòng) vi phạm:
Độc chất Histamine vượt quá liều lượng chấp nhận, gây hại cho sức khỏe theo các điều 402 (a) (1), 801 (a) (3);
Sản phẩm dơ bẩn, có chứa các chất dơ bẩn hỗn tạp (FILTHY) theo các điều 601 (b), 801 (a) (3), 402 (a) (3);
15- Kien Giang Ltd, t/p HCM, có 2 sản phẩm là Cá nhồng (barracuda) và cá mang giổ (?, Perch,) đông lạnh, dơ bẩn, trong sản phẩm có tạp chất vi phạm các điều 601 (b), 801 (a) (3), 402 (a) (3) ;
16- Vinh Sam Private Trade Trade Enterprise, Tuy Hòa, Cá lưỡi kiếm tươi, có độc tố gây ngộ độc, vi phạm các điều 402 (a) (1), 801 (a) (3), 601 (a) ;
17- Tu Hung Trading Company aka Doanh Nghiep Tntm Tu Hung, có 3 sản phẩm:
a) Bánh hạnh nhân, nhãn không ghi các thành phần nguyên liệu tạo nên sản phẩm (LIST INGRE,) vi phạm các điều 403 (i) (2), 801 (a) (3);
b) Bánh chay: Không đủ phẩm chất (STD QUALITY,) như được ghi trên nhãn, vi phạm điều 403 (h) (1), 801 (a) (3)
Nhãn hiệu giả mạo (FALSE,) không ghi đúng nguyên liệu hay ghi sai lạc gây nhầm lẫn cho người tiêu thụ, vi phạm điều 502 (a), 801 (a) (3);
c) Bánh tráng mè: Không ghi đúng tên theo định nghĩa, tính chất và tiêu chuẩn của sản phẩm (STD IDENT,) theo điều 401, do đó vi phạm các điều 403 (g) (1), 801 (a) (3) ; Nhãn hiệu không ghi các tố chất chính yếu gây dị ứng (ALLERGEN,) hiện diện trong sản phẩm theo đòi hỏi của các điều 403 (w), 403 (w) (1), 801 (a) (3) ;
18- Trung Nguyen Coffee Enterprise (Cà phê Trung Nguyên), Cà phê bột uống liền "3 in 1" (túi có 20 gói), đã vi phạm các điều:
Không ghi thành phần nguyên liệu tạo ra sản phẩm (LIST INGRE,) 403 (i) (2) ;
Nhãn hiệu giả mạo hay ghi chú sai lạc (FALSE,) vi phạm các điều 403 (a) (1), 801 (a) (3), 502 (a) ;
Sản phẩm không cung cấp đầy đủ thông tin về các thành phần dinh dưỡng và chất béo (TRANSFAT,) có trong sản phẩm theo đòi hỏi của điều 21 CRF 101.9 (c), vi phạm điều 403 (q), 801 (a) (3) ;
19- Dragon Waves Frozen Food Factory Co. Ltd, Nha Trang, Cá ngừ (cắt thành từng miếng) đông lạnh, sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất gây ngộ độc, cùng với độc chất Histamine vượt quá liều lượng chấp nhận, vi phạm các điều 402 (a) (1), 402 (a) (3), 601 (b), và 801 (a) (3);
20- Thang Loi Frozen Food Enterprise, Tôm đông lạnh, có độc chất Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;
21- Hai Dang International Trading Services Co. Ltd, t/p HCM, hóa chất hay dược liệu Lidocaine (dùng trong thực phẩm [?], có thành phần hóa học là C14H22N2O,) đã vi phạm 2 điều:
Không liệt kê thông tin đầy đủ về sản phẩm (NOT LISTED,) theo đòi hỏi của các điều 502 (o), 801 (a) (3), 510 (j), hoặc 510 (k);
Dược liệu mới chưa xin phép kiểm nghiệm để được chấp thuận xử dụng (UNAPPROVED, ) vi phạm điều 505 (a), 801 (a) (3);
22- Chinh Dat Co., Ltd, Bao tử cá sấy khô, sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất, vi phạm các điều 402 (a) (3),601 (b), và 801 (a) (3) ;
23- Vinh Hiep Co., Ltd, t/p HCM, có 2 sản phẩm: Thịt hào (ngêu, sò) hấp chín đông lạnh, và Mực đông lạnh, là các sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất, vi phạm các điều 402(a)(3), 601(b), và 801(a)(3);
24- Vifaco Nong Hai San-Xay, thịt ốc hấp chín đông lạnh, chứa độc chất Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;
25- Vuong Kim Long Co. Ltd, có 3 sản phẩm về bún khô, loại đặc biệt, sợi lớn, sợi nhỏ, sản phẩm dơ bẩn và loại phẩm màu không an toàn, vi phạm các điều 601(b), 801(a)(3), 402(a)(3), 402(c), 501(a)(4)(B) .
Trên đây chỉ liệt kê điển hình một số công ty, một số sản thực phẩm bị từ chối nhập cảng vào Hoa Kỳ nội trong năm mà thôi. Còn bao nhiêu công ty khác, bao nhiêu sản phẩm khác đã "lọt sàng" trước đó và sau nầy? Còn bao nhiêu sản phẩm từ Việt Nam đã vượt ra ''biển lớn" vào Canada , Âu châu, Nhật, Úc v.v... và v.v...? Bao nhiêu triệu tấn thực phẩm có các chất độc hại đã "nằm vùng" (và hoành hành) trong bao tử người Việt sống ở nước ngoài và tất nhiên cả và người dân trong nước?
Thỉnh thoảng trong nước, báo chí có loan tin học sinh, công nhân hay người dân bình thường, thấp cổ bé miệng bị ngộ độc thức ăn, nhưng không thấy thống kê số người ngộ độc hay tử v ong. Tình trạng thông tin hay thống kê nầy đối người Việt sống ở nước ngoài trên toàn thế giới lại càng hiếm hoi, có thể nói là hầu như chưa nghe thấy (vì không ai thông báo hay loan tin chứ không hẳn là không có). (Cinnamon) ghi sai nhãn về hình thức và nội dung được quy định theo các điều khoản 4(a), 801(a)(3);
| | | |
VÔ HIỆU HÓA TẦU TUẦN TRA NGƯ CHÍNH (TTNC)
Nguyễn Ðạt Thịnh
Tầu “tuần tra ngư chính” là một thứ vũ khí vô cùng lợi hại trên cả hai bình diện chiến thuật và chiến lược. Trên địa hạt chiến thuật nó đắc dụng trong cuộc hải chiến với ngư dân Việt Nam, nên vừa hoàn tất cuộc chiếm đóng vùng biển Hoàng Sa, và đang quay mũi tầu tiến về tấn công ngư dân Việt Nam trên vùng biển Trường Sa để giữ độc quyền ngư trường này cho ngư dân Trung Hoa.Và trên địa hạt chiến lược tầu “tuần tra ngư chính” đang vô hiệu hóa Ðệ Thất Hạm Ðội chực sẵn ngoài Thái Bình Dương để chờ can thiệp vào Biển Ðông nếu chiến tranh xẩy ra tại đó.
Bộ Nông nghiệp Trung Quốc tuyên bố sẽ tăng cường tầu tuần tra ngư chính, "bảo vệ nghề cá" tại Trường Sa.
Ðã chứng minh cái lợi hại của nó, tầu “tuần tra ngư chính” đáng được mệnh danh là TTNC để ghi vào cuốn “từ điển quân sự” trong mục vũ khí; đại loại như súng không giật được ghi trong từ điển bằng 3 chữ SKZ, hay khẩu súng trường lính Mỹ sử dụng trong thời Thế Chiến II, được thự danh dưới cái tên M1.
Khẩu súng này là một hình ảnh khó quên đối với quân nhân Việt Nam, vì những đặc tính cười ra nước mắt: nó dài thước mốt, nặng 5.3 ký mà Hoa Kỳ lấy trong kho vũ khí phế thải ra, võ trang cho người lính Việt Nam cao thước rưỡi, nặng 53 kí.
Họ kéo lê khẩu súng vừa quá dài, vừa quá nặng trong những cuộc hành quân lê thê tháng này sang tháng khác.
Nếu khẩu AK ngày truớc đã là lợi khí giúp Việt Cộng thắng thế khi quân nhân VNCH còn trang bị bằng M1, thì hôm nay TTNC là thứ lợi khí đang giúp Trung Cộng thực hiện cuộc tấn chiếm Biển Ðông vô cùng êm ả, thành tích mà hàng không mẫu hạm hay khu trục hạm không làm nổi.
Chứng minh điển hình: nếu một chiến hạm Trung Cộng đụng đắm, hay bắn chìm một ngư thuyền Việt Nam thì diễn biến này đã vô cùng ồn ào, đã bị thế giới lên án, bị hội ngư dân Việt Nam đưa ra tòa án quốc tế đòi bồi thường, và hy vọng Việt Cộng dám đứng ra bênh vực ngư dân Việt Nam bằng những khí cụ quân sự như tầu chiến, phản lực cơ, biến Biển Ðông thành chiến trường mà Hoa Kỳ có môi trường để nhẩy vào can thiệp khi hải lực Trung Cộng chưa theo kịp hải lực Hoa Kỳ.
Nhưng TTNC êm re đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, khủng bố ngư phủ Việt Nam, khiến họ khiếp sợ không dám vào ngư trường Hoàng Sa đánh bắt nữa mà không tạo ra một phản ứng quân sự nào cả. Cái lợi hại của TTNC là ở chỗ đó.
Hôm thứ Ba mùng 9 tháng Hai TTNC mở kỷ nguyên mới cho cuộc Nam Tiến của Tầu, và tạo ra nỗi khổ riêng cho ngư phủ Việt Nam và nỗi nhục chung cho dân tộc Việt Nam.
Kỷ nguyên khổ nhục mới được tên tầu phù Ngưu Thuấn, thứ trưởng bộ Nông Nghiệp Trung Cộng mở màn bằng câu tuyên bố Trung Cộng sẽ tăng cường TTNC để "bảo vệ nghề cá" tại Trường Sa.
Nỗi khổ riêng của ngư phủ là mất thêm ngư trường. Thuấn nói đưa thêm TTNC đến Trường Sa “bảo vệ nghề cá”; 4 chữ nghe hiền lành, và mang tính che chở này đang làm vài chục ngàn ngư dân Việt Nam lo lắng, khiếp sợ: họ đã từng biết Trung Cộng “bảo vệ nghề cá” bằng cách bắn giết, bắt bớ, bóp cổ, đánh đập, giam giữ ngư dân Việt Nam, phá hủy, tịch thu ngư thuyền, ngư cụ, và đòi vợ con, thân nhân ngư dân chạy tiền chuộc chồng, chuộc ghe về.
Và nỗi nhục chung của dân tộc Việt Nam là trong lúc TTNC tiến chiếm vùng biển Việt Nam, báo chí Việt Nam, nhà nước Việt Cộng vẫn hớn hở ca tụng quan thầy Trung Cộng.
Từ hơn một năm nay TTNC Trung Cộng quần quanh Hoàng Sa mà không gặp một sức kháng cự nào; giờ này, sau khi xua đuổi ngư dân Việt Nam tránh né vùng biển Hoàng Sa, Trung Cộng đưa TTNC xuống xa hơn nữa về phía Nam để tranh dành ngư trường Trường Sa, cấm không cho ngư dân Việt Nam đánh bắt tại đó nữa.
Đài Phát thanh Trung Cộng (CRI) loan báo hôm thứ Ba 02/09 là Ngưu Thuấn nói sẽ "kịp thời điều chỉnh tư duy về khai thác và quản lý nghề cá" ở khu vực Trường Sa, quần đảo mà Trung Cộng gọi là Nam Sa.
Ngưu nói "căn cứ theo tình hình mới, cần tăng cường TTNC bảo vệ nghề cá trên vùng biển Nam Sa, giữ gìn lợi ích biển quốc gia". Dĩ nhiên hai chữ “quốc gia” của Ngưu là để chỉ quốc gia Tầu.
Dù bị trói trong “tình thân” Hoa-Việt, báo quốc nội không dám phân biệt Tầu, Việt; nhưng VietnamNet vẫn phải viết là lời tuyên bố của Ngưu chắc chắn sẽ gây quan ngại cho các quốc gia đã cùng Trung Cộng tuyên bố chủ quyền và khai thác nguồn lợi hải sản tại Trường Sa như Việt Nam và Philippines; nhận xét này nghe khách quan như chuyện mất thêm biển vì TTNC chỉ liên quan đến người nước ngoài.
Ðài Trung Cộng tường thuật việc Ngưu Thuấn tham dự lễ kỷ niệm 15 năm "xây dựng và bảo vệ" bãi Mỹ Tế ở Nam Sa hôm 09/02; lợi dụng dịp này hắn nói, “Vùng biển Nam Sa là ngư trường truyền thống của ngư dân Trung Quốc, rất nhiều ngư dân Hải Nàm, Quảng Đông và Quảng Tây đã đời đời kiếp kiếp đánh bắt cá tại đây; sở Ngư chính Hải Nam canh giữ bãi Mỹ Tế và tuần tiễu thi hành pháp luật tại Nam Sa đã phát huy vai trò nổi bật trong việc giữ gìn quyền lợi biển quốc gia và trật tự sản xuất nghề cá, bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư dân.”
Tôi hoàn toàn không hiểu lý do khiến giọng điệu của VietnamNet nghe “hồ hởi” vui mừng về việc Trung Cộng chiếm thêm vùng biển Trường Sa. Câu văn của tờ báo Việt Nam thiếu một chữ “TẦU” để trở thành “… bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư phủ TẦU.” Thiếu chữ TẦU là đánh mất Việt Nam ngay tại Hà Nội.
VietnamNet còn viết, “Đúng 15 năm trước, tháng Hai năm 1995, Trung Quốc đã cho xây cơ sở nhà sàn trên bãi Mỹ Tế (Mischief Reef, tiếng Việt là Đá Vành khăn), bắt đầu chiếm bãi đá này cho dù có phản đối từ Philippines là nước giữ kiểm soát bãi đá này từ trước.
Không xa, cũng tại Trường Sa, có đảo đá Gạc Ma (Johnson South Reef) mà Trung Quốc chiếm từ tay Việt Nam sau trận hải chiến ngày 14/03/1988 làm 70 lính hải quân Việt Nam thiệt mạng.”
Lời văn vẫn vô tư như việc 70 người lính hải quân bị Tầu giết là lính nước khác.
Dù đuổi ngư phủ Việt Nam ra khỏi Hoàng Sa từ một năm nay, và sắp đuổi chúng ta ra khỏi Trường Sa, nhưng Tầu vẫn nói không bắt nạt nước nhỏ, người phát ngôn Tầu, Mã Triều Húc tuyên bố, “Trung Quốc không bao giờ bắt nạt người khác, không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, hiện nay không xưng bá, sau này phát triển cũng mãi mãi không xưng bá,” chỉ cấm ngư dân Việt Nam đánh, bắt cá trong vùng biển Việt Nam thôi.
Chúng nhũn nhặn không xưng bá, nhưng chúng vẫn được bọn trùm Việt Cộng coi chúng như bá phụ. Việt Cộng tùng phục đến mức việc “cai trị” Việt Nam không còn là bận tâm của Hồ Cẩm Ðào hay những quan chức lớn của Tầu nữa, mà chỉ là việc của thứ trưởng Ngưu Thuấn, và của thái thú Quốc Tường. Ngưu Thuấn chỉ cần tuyên bố một câu là ranh giới lãnh hải thay đổi, ngư dân Việt Nam chết đói.
Thuấn bô bô nói: năm nay - 2010 - được Trung Cộng công bố là năm hữu nghị Hoa-Việt; trong lúc Mã Húc vuốt ve bảo Hà Nội cứ yên tâm, vì “Logic cường quyền chính trị bị Trung Cộng coi là vô lý, thiếu căn bản.”
Húc cứ nói, Thuấn cứ nói, Hà Nội cứ nín; và ngư dân Việt Nam cứ tiếp tục bị thủy thủ Tầu trên TTNC bắt, đánh, bóp cổ, giam giữ.
Trở lại với lợi khí TTNC để thử bàn về một thứ vũ khí khắc kỵ, chế ngự được TTNC, không cho chúng làm bá chủ Biển Ðông nữa.
Thiết tưởng việc này cũng không khó đến mức không làm được: luật biển của Liên Hiệp Quốc ấn định cho Việt Nam có một vùng lãnh hải quanh lãnh thổ, và một vùng kinh tế hải phận rộng đến 200 hải lý cách bờ biển. Trung Cộng cũng đang áp dụng luật đó, sử dụng TTNC như một thứ cảnh sát kinh tế trong hải phận kinh tế mà chúng nói là của chúng.
Việt Cộng cũng có quyền dùng cảnh sát biển, như Hoa Kỳ dùng Coast Guard để bảo vệ vùng biển của họ; công tác đầu tiên của CSB (Cảnh sát biển) là bắt những ngư thuyền Trung Cộng đang hành nghề chỉ cách bờ biển Việt Nam 40 hải lý, như nhiều lần ngư phủ Việt Nam đã tố cáo.
CSB cũng lại là những chiến hạm sơn trắng như TTNC; hơn thế nữa Việt Cộng có thể trang bị cho CSB thêm những dụng cụ quay phim, những ăng ten truyền hình để trực tiếp truyền đi khắp thế giới hình ảnh CSB bắt bớ ngư phủ Trung Hoa hành nghề trong hải phận Việt Nam. Ði xa hơn nữa, Việt Cộng còn có thể mời phóng viên ngoại quốc cùng đi trên tầu CSB để họ chứng kiến việc làm hợp pháp của CSB.
Lực lượng biên phòng của những tỉnh Quảng Ngãi, Thừa Thiên thường xuyên báo động là hàng trăm ngư thuyền Trung Cộng đánh bắt chỉ cách bờ biển Việt Nam vài chục hải lý, thì việc bắt giữ 100 ngư thuyền Trung Cộng phạm pháp có thể làm trong một ngày.
Những ngư phủ Trung Cộng bị bắt cũng sẽ bị giam, bị đưa ra tòa xử phạt, và toàn bộ diễn tiến sẽ diễn ra công khai với sự quan sát của truyền thông quốc tế.
Phản ứng này sẽ đưa Trung Cộng vào thế há miệng mắc quai, vì Việt Cộng, theo đúng ám số chuyên nghiệp, chỉ làm những việc Trung Cộng đã làm; và cái thế không thể phản đối này sẽ đưa Trung Cộng vào bàn hội nghị để phải chấp nhận tình trạng “dễ người, dễ ta; khó người, khó ta”.
Sơn trắng một chục chiếc tiểu hạm là việc Việt Cộng biết làm, trang bị máy quay phim, máy truyền hình cho những tầu CSB Việt Cộng cũng biết làm, mời phóng viên ngoại quốc tháp tùng tầu CSB cũng vẫn không phải là việc làm quá sức Việt Cộng.
Ðiều chúng không làm được là thiếu tự chủ, giữ cho tay thôi bắt chuồn chuồn, miệng thôi không đánh bồ cạp vì run nữa.
Thế võ “gậy ông đập lưng ông” không hề là sáng kiến của kẻ viết bài này, nó chỉ là một trang của bí kíp Kim Dung, mà kẻ cầm bút đã luợm mót trong võ tầu. Nhưng xin bảo đảm công dụng của nó: nếu hôm nay Việt Cộng cả gan công bố việc sơn trắng một loạt tiểu hạm để thành lập đội CSB, thì chỉ ngày mai TTNC sẽ ngưng hoạt động.
Vác toàn bộ sức nặng của quả đất không phải là việc khó, có khó chăng là tìm chỗ đặt chân xuống để đứng vững hầu sử dụng hai tay nâng quả đất lên. Ðất đứng của Việt Cộng hầu giải quyết thế thua thiệt ngoài Biển Ðông là quảng trường Diên Hồng, nhưng chúng lại không biết quảng trường này nằm ở đâu.
Chúng đang đứng giữa quảng trường Thiên An Môn, và đó là nguyên nhân không vô hiệu hóa TTNC được.
Nguyễn Ðạt Thịnh
| | **************************************************************************************************** **************************************************************************************************** | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
RÚT RA TỪ KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH: Bài học 3:
THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
=> Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN
=> Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU
Ngày 12.11.2009, chúng tôi đã viết Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO. Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Ngày 19.11.2009, chúng tôi viết Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN không phải cho riêng Nga mà cho cả các nước chư hầu Đông Aâu. Phá Tôn Giáo, phá đời sống tinh thần và chỉ tôn vinh vật chất, thì khi Kinh tế (vật chất) tồi tàn, con người Cộng sản trở thành tha hóa, cá nhân sống với những tranh giành miếng ăn không còn tôn trọng danh dự và công lý. Tình trạng Kinh tế và tha hóa Xã hội như vậy trở thành Định Mệnh sụp đổ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Khi nói ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV tại Nga và kéo theo Đông Âu. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Hai Bài học trên đây đang diễn ra tại Việt Nam. Lực Lượng Tôn Giáo, đặc biệt là Công Giáo, lớn mạnh. Tinh thần đấu tranh của Lực Lượng Công Giáo càng ngày càng trở thành cương quyết do chính những đàn áp vô lý của CSVN tạo nên. Kinh tế Việt Nam là sự bóc lột sức lao động của dân, là sự cướp bóc tài sản quốc gia cho túi riêng của nhóm Mafia CSVN. Độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế của nhóm đảng Mafia làm Tham nhũng, Hối lộ tràn lan. Xã hội sống trong tha hóa, bất công.
Hôm nay, 28.01.2009, chúng tôi viết Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU. Không phải chỉ có những cuộc NỔI DẬY của Dân chúng chống Cộng sản vào những năm 1989-1991, mà từ năm 1953 đã có những cuộc nổi dậy. Nếu những cuộc nổi dậy trước những năm 1989-1991, mặc dầu rất kiên cường nhưng không mang lại thành công, thì phải có những lý do của hòan cảnh khác với tình hình Nga và Đông Aâu ở thời điểm 1989-1991. Bài học này muốn nhìn những lý do THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của những cuộc nổi dậy ở Đông Aâu để có thể áp dụng cho việc nổi dậy tại Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi viết những khía cạnh sau đây:
=> Những cuộc nổi dậy và thất bại => Những cuộc nổi dậy và thành công => Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam
Những cuộc nổi dậy và thất bại
Sau Thế Chiến II, hai Khối Cộng sản và Khối Tự do thành hình, bắt đầu từ những tranh chấp tại Bá Linh do Staline chủ xướng. Năm 1947, Chương trình Marshall với USD.173 tỉ bắt đầu tái thiết Aâu châu hậu chiến. Staline tìm mọi cách để ngăn cản Đông Bá Linh và các nước chư hầu Đông Aâu đứng ngòai tầm ảnh hưởng của đồng Đo-la do Chương trình này. Năm 1948, Staline phong tỏa Đông Bá Linh nằm trong lãnh thổ Đông Đức, cấm những đường bộ chuyển vận lương thực cho Bá Linh mà chính Đồng Minh Mỹ, Anh, Pháp cùng điều hành với Nga. Đây là việc bắt chẹt Mỹ, Anh, Pháp phải bỏ Bá Linh. Nhưng Đồng Minh đã thiết lập ngay năm 1949 Cầu Không Vận và vẫn giữ Tây Bá Linh.
1. Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953
Tây Bá Linh được xây dựng. Tây Đức phát triển Kinh tế. Đông Đức dưới quyền của Erich Honecker, một đồ đệ trung thành của Staline, đẩy mạnh kỹ nghệ nặng nhằm phục vụ cho kỹ nghệ võ khí của Nga. Phong trào nêu danh anh hùng công nhân sản xuất được phát động khắp nước. Công nhân bắt đầu thấy mình làm việc quá cực nhọc, chỉ nhận được khẩu phần ăn uống, không có nghiệp đòan bảo vệ. Khối công nhân xây cất chỉ thấy công việc xây những cơ sở cho đảng, mà chính nhà ở của họ tồi tàn, nhất là sau chiến tranh. Tình trạng này đã đưa đến cuộc nổi dậy của Công nhân, bắt đầu từ khối Công nhân xây cất.
Staline chết tháng Ba năm 1953. Nikita KHROUCHTCHEV lên nắm quyền.
Ngày 16.06.1953, Công nhân xây cất đình công. Phong trào lan tràn ra tới 278 nhóm công nhân, không phải chỉ là công nhân xây cất mà còn cả những công nhân thuộc kỹ nghệ năng. Từ đình công, thợ thuyền xuống đường biểu tình và đi đập phá những cơ sở của đảng Cộng sản.
Liền ngày hôm sau, 17.06.1953, Khrouchtchev ra lệnh cho xe tăng của Hồng Quân bắn xả vào những đòan biểu tình. Cuộc đàn áp làm cho 300 nhân công thiệt mạng. Honecker xử dụng Stasi bắt 20’000 người. Oâng cũng ra lệnh xử tử 200 công nhân được coi là những người thúc đẩy và điều hành cuộc nổi dậy.
Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953 thất bại do chính lệnh đàn áp khát máu của Moscou.
2) Cuộc nổi dậy của Dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956
Thành phố Budapest và Dân chúng Hung Gia Lợi nổi dậy vào tháng Mười năm 1956 để chống lại đảng Cộng sản đã độc tài đưa Hung Gia Lợi làm chư hầu cho Nga. Dân chúng chỉ làm việc phục vụ cho Đế quốc Cộng sản Nga, trong khi ấy đời sống dân chúng, sau hơn 10 năm chấm dứt Thế Chiến, vẫn trong tình trạng tồi tệ, nghèo nàn. Cuộc nổi dậy của Hung Gia Lợi đòi hỏi Độc Lập cho quốc gia đối với Nga.
Do lệnh của Khrouchtchev từ Moscou, hơn 200 xe tăng của Hồng Quân đã tràn vào Budapest, tàn sát những đòan Dân chúng xuống đường. Trong một thời gian, những nhóm dân chúng, từ những cửa sổ của các nhà ở đường phố đã kháng chiến chống lại xe tăng, nhưng vô hiệu.
Khrouchtchev không thể để cho dân chúng từ bất cứ quốc gia chư hầu nào chống lại quyền lực Cộng sản từ Moscou.
Cuộc nổi dậy của dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956 thất bại do sự cứng rắn đàn áp của Moscou. Hai cuộc nổi dậy 1953 tại Đức và 1956 tại Hung Gia Lợi càng làm cho Khrouchtchev tăng cường chiến tranh lạnh, nhất là tại Bá Linh.
Năm 1961, trong cuộc gặp tại Vienne (Aùo) giữa Khrouchtchev và Kennedy, Khrouchtchev đã tuyên bố với Kennedy rằng Nga sẵn sàng một cuộc chiến tranh nguyên tử về vấn đề Bá Linh. Nhưng tháng Mười năm 1961, Bức tường Bá Linh đã được thi hành với lệnh của Moscou. Việc xây Bức tường Bá Linh làm cho Kennedy nhẹ nhõm đối với đe dọa chiến tranh nguyên tử của Khrouchtchev. Theo Kennedy, xây Bức tường Bá Linh có nghĩa là Khrouchtchev thế thủ cho Khối Cộng sản chứ không tấn công nữa theo như thách thức tại Vienne.
3) Mùa Xuân tại Prague (Tiệp Khắc) năm 1968
Năm 1968 làm năm nổi dậy của giới trẻ khắp nơi. Paris 1968: sinh viên xuống đường.
Alexander DUBCEK, Bí thư đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ tháng Giêng năm 1968. Oâng chủ trương Mùa Xuân Tại Prague nhằm cởi mở Chế độ và thóat dần tầm ảnh hưởng khống chế của Moscou. Đây không phải là cuộc nổi dậy bột phát từ dân chúng, nhưng là từ một đảng Cộng sản muốn nới rộng Chế độ để có thêm Tự do, Dân chủ và Nhân quyền.
Năm 1964, Khrouchtchev buộc phải từ chức và Leonid BREJNEV lên thay.
Nhưng Mùa Xuân tại Prague 1968 cũng bị lệnh của Moscou đàn áp. Brejnev cho lệnh xe tăng của Lực Lượng Phòng Thủ Pacte de Varsovie tràn vào Tiệp Khắc. Dubcek bị lọai khỏi đảng Cộng sản Tiệp.
Alexander DUBCEK, năm 1968, có thể nói là một nhà Cải Cách đi trước Mikhail GORBATCHEV 17 năm, 1985, với Perestroika. Nếu Mùa Xuân tại Prague xẩy ra vào thời Perestroika của Gorbatchev thì có lẽ nó đã thành công, chứ không bị xe tăng đàn áp như thời Brejnev.
THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG đến từ lệnh của Moscou vậy.
Những cuộc nổi dậy và thành công
Chúng ta đi vào những cuộc nổi dậy từ năm 1980 đến 1989-1991. Trong thời kỳ này, có những thay đổi từ Moscou.
Bắt đầu từ năm 1978, sau 14 năm nắm trọn quyền hành, đến năm 1982, Brejnev bước vào giai đọan mà người ta gọi là chiều tà của ông với những tệ đoan hành chánh, xã hội, kinh tế báo hiệu tình trạng sụp đổ của Cộng sản mà Gorbatchev buộc lòng phải cải cách sau này để cứu vãn chế độ. “Les années 1978 à 1982 furent le crépuscule de l’ère Brejnev, époque òu la stagnation économique et la storpeur politique semblaient faire éclore la corruption et l’intrigue dans les plus hautes sphère de la politique.” (Những năm 1978 đến 1982 đã là chiều tà của triều đại Brejnev, thời kỳ mà tình trạng ứ đọng kinh tế và sự hôn mê chính trị dường như làm nẩy nở tham nhũng và mưu mẹo ở những địa vực cao nhất của chính trị) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.161).
Tháng Mười năm 1980, Gorbatchev vào Bộ Chính trị. Trừ Gregori ROMANOV hơn ông 8 tuổi, GORBATCHEV sống giữa những Lãnh tụ già yếu khác gần đất xa trời, thở không ra hơi. Gorbatchev trẻ trung, đầy sinh lực, không uống rượu, có tài ngọai giao, được coi là người giữ chủ yếu chính sách của Moscou từ những năm 1980.
Những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1980 có hòan cảnh để thành công, hoặc tối thiểu không bị xe tăng đàn áp đẫm máu như trước đây.
1) Cuộc nổi dậy của CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT Ba Lan năm 1980
Lech WALESA thành lập CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tháng Bẩy năm 1980, một Công Đòan Tự do ở trong một Thể Chế độc tài Cộng sản. Đây là một việc nổi dậy của giới công nhân. Năm 1981, cuộc đình công đấu tranh đầu tiên được tổ chức tại Dansk và trong cuộc biểu tình, Lech WALESA giơ cao cho công nhân thấy chiến tháng đầu tiên của đấu tranh, đó là tờ giấy mà Nhà Nước Cộng sản cho phép thành lập Công Đòan.
Khi chính thức được công nhận, Công Đòan Đòan Kết tiếp tục đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, mặc dầu bị Nhà Nước Cộng sản Ba-Lan tìm cách đàn áp.
Xin nhắc ở đây rằng từ 16.10.1978, một Hồng Y gốc Ba Lan được bầu làm Giáo Hòang, Jean-Paul II. Từ Moscou, bắt đầu tinh thần Gorbatchev, không có lệnh mang xe tăng đàn áp cuộc nổi dậy tại Ba Lan. Tuy nhiên Giáo Hòang Jean-Paul II, vẫn nhớ những hình ảnh xe tăng đàn áp trước đây, đã công khai tuyên bố rằng nếu Nga đem xe tăng tràn vào Ba-Lan, thì Ngài sẵn sàng cởi áo Giáo Hòang để về Ba Lan chiến đấu. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang Jean-Paul II thẳng thắn khuyên mọi người: “Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 còn viết về sự đóng góp đấu tranh của Giáo Hòang: “Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh).
Cuộc đấu tranh của Công Dòan Đòan Kết đã trường kỳ, bắt buộc Nhà Nước Cộng sản phải đối thọai. Đảng Cộng sản Ba Lan cuối cùng vào tháng Tám năm 1989 đã phải họp bàn tròn với Lực Lượng đối lập mà dẫn đầu là Công Đòan Đòan Kết. Lần đầu tiên, một Thủ tướng được bầu lên mà không phải là đảng viên Cộng sản.
Việc đấu tranh thành công của Công Đòan Đòan Kết hiển nhiên từ hai yếu tố ngòai Ba Lan: Moscou không gửi xe tăng đàn áp như trước và Giáo Hòang La Mã tích cưcï ủng hộ.
2) Những cuộc nổi dậy 1989-1991 chấm dứt Cộng sản
Như trên chúng tôi đã viết, từ năm 1978, Brejnev sống như người đã chết. Một tờ báo Văn Học từ Leningrad đã viết: “La plupart des gens pensent à lui comme s’il était déjà mort.” (Phần lớn những người nghĩ về ông như là ông đã chết) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162). Gorbatchev, trong bộ chính trị, đã mang vào tinh thần cải cách, đổi mới ngay từ cuối triều đại Brejnev.
Năm 1982, Brejnev chết, Tatiana ANDROPOV lên thay, nhưng cũng là người già yếu phải vịn vào vai Gorbatchev để đi dự đám táng Brejnev. Những tháng cuối cùng, Andropov nằm liệt giường tại bệnh viện Kuntsevo và tất cả những quyết định chính trị đều qua tay Gorbatchev truyền thông. Andropov chết tháng Hai 1984. Một ông già nữa đau yếu bệnh tật, TCHERNENKO lên thay. “Il était déjà si faible qu’il n’aivait même plus la force de lever le bras jusqu’au cercueil qu’il accompagnait sur la place Rouge. Il pouvait à peine traverser une pìece sans aide” (Oâng ta yếu sức đến nỗi ông ta không còn sức để giơ tay lên đụng vào quan tài mà ông phải đưa đám đền Công trường Đỏ. Oâng ta khó khăn đi qua được một căn phòng mà không có sự giúp sức.) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162).
Tchernenko chết ngày 11.03.1985. Mikhail GORBATCHEV lên thay. Nắm trọn quyền, Gorbatchev tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA như chúng tôi đã viết trong Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN. Gorbatchev đã giúp đỡ các Lãnh đạo già yếu để đưa đám táng cho nhau. Trong tình trạng bại họai của Kinh tế và Xã hội, Gorbatchev phải cố gắng Cải Cách nếu muốn cứu vớt phần nào chế độ.
Tinh thần Cải Cách của Moscou lan rộng khắp Đông Aâu. Moscou không còn sức để can thiệp vào các chư hầu.
Các nước Đông Aâu đã đồng đứng dậy vào những năm 1989-1991:
=> Hung Gia Lợi mở hàng rào kẽm gai giữa Hung và Áo
=> Đại sứ quán của Tây Đức được Nhà Nước Cộng sản Tiệp cho phép đón tỵ nạn, từ đó di chuyển sang Tây Đức.
=> Dân chúng Đông Bá Linh, từ hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS phát xuất những cuộc biểu tình tuần hành của dân chúng.
Thực vậy cuộc nổi dậy của Dân Đông Bá Linh mang tính cách quyết định và được sự ủng hộ công khai của GORBATCHEV nhân cuộc ông qua để mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản tại Đông Đức.
Năm 1989, Erich HONECKER, đệ tử trung thành của Staline, tổ chức mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản. Oâng mời các đảng Cộng sản trên Thế giới đến tham dự. Ngày 06.10.1989, Gorbatchev sang tham dự. Dân chúng biểu tình hô lớn Gorbi ! Gorbi ! như người đến tháo gỡ chế dộ ra khỏi kềm kẹp Staline mà Honecker vẫn chủ trương.
Xuống máy bay, Gorbatchev đã tuyên bố ngay rằng tất cả những quyết định chính trị phải để ý đến đòi hỏi của dân chúng. Ngày hôm sau, 07.10.1989, cuộc gặp riêng giữa Honecker và Gortbatchev được coi là cuộc họp của hai người điếc; mỗi người mỗi ngả. Gorbatchev đã cảnh cáo Honecker rằng những ai không theo Thời cuộc, sẽ bị Thời cuộc lọai ra.
Hai ngày sau khi Gorbatchev lên máy bay về Nga, một cuộc biểu tình lớn 10'000 người phát xuất từ Nhà Thờ ST.NICOLAS ngày 09.10.1989. Người ta sợ một cuộc đàn áp bằng xe tăng do quyết định của chính Honecker chứ không từ Moscou. Người ta nghĩ đến cuộc đàn áp bằng xe tăng tại Thiên An Môn mới đây ngày 04.06.1989.
Nhưng cuối cùng Honecker không dám đàn áp biểu tình bằng xe tăng bởi vì ngại sợ chính những người trong đảng. Đảng bắt đầu chia rẽ trước sức mạnh biểu tình của dân chúng. Ngày 18.10.1989, Erich Honecker xin từ chức. Egon KRENZ lên và tuyên bố những biện pháp cải tổ nửa vời. Nhưng dân chúng, một khi đã nổi dậy, họ muốn đi tới cùng.
Ngày 04.11.1989, một cuộc biểu tình vĩ đại được phép tổ chức. Ngày 09.11.1989, lúc 23 giờ đêm, Bức tường Bá Linh được chọc thủng và nhanh chóng đổ xuống ngày hôm sau.
Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam
Nhìn những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1953 đến những năm 1989-1991, chúng ta thấy rằng tại một nước chư hầu, yếu tố quyết định THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của dân chúng nổi dậy, ngòai ý chí đấu tranh can đảm của dân, còn phải kể đến sự can thiệp đàn áp hay sự thả lỏng, cổ võ từ Moscou. Những cuộc nổi dậy của Dức 1953, của Hung Gia Lợi 1956, của Tiệp Khắc 1968 đã THẤT BẠI vì bị xe tăng của Hồng Quân trực tiếp đàn áp do lệnh của Khrouchtchev và của Brejnev, trong khi đó những cuộc nổi dậy từ 1980 đến những năm 1989-1991 đã THÀNH CÔNG vì không những không có đàn áp đến từ Moscou, mà còn được tinh thần Cải Cách của Gorbatchev nâng đỡ, cổ võ.
Tại Việt Nam, chúng tôi muốn dành cho một Luật sư lão thành của chế độ lên tiếng trước về thực trạng Quê Hương, như vậy để tránh cái công thức láo khóet của CSVN rằng đây là tuyên truyền của thế lực thù địch ngọai lai. Luật sư TRẦN LÂM, nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” Chúng tôi chỉ thêm rằng: “Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.”
Lực Lượng nổi dậy của Dân chúng Việt Nam đã sẵn sàng. Dân Oan mất Nhà, Đất, đã kéo về Sài Gòn, Hà Nội biểu tình. Công Nhân thường xuyên đình công. Giới trẻ và Trí thức đã can đảm cất tiếng nói ngăn chặn xâm lăng Trung quốc. Dân Công giáo đã hiệp thông thành một Lực Lượng lớn.
Bài học từ Bức tường Bá Linh làm cho Lực Lượng sẵn sàng nổi dậy này đặt những câu hỏi sau đây:
=> Về mặt Chính trị, CSVN đã làm bồi cho Trung quốc đến mức nào ? Phải chăng CSVN mất độc lập về Chính trị để đến nỗi sẵn sàng rước xe tăng Trung quốc tràn vào Việt Nam để giết con cháu Hồng Bàng?
=> Về mặt Quân sự, lệnh chỉ huy của Trung quốc có dủ mạnh để bắt quân đội Việt Nam xả súng giết đồng bào ruột thịt của mình không ?
=> Về mặt Kinh tế, quyền lợi Kinh tế của Trung quốc nắm giữ tại Việt Nam lớn đến nỗi Trung Cộng có thể biện minh trước Thế giới rằng họ cho Quân đội tràn vào Việt Nam để bảo vệ Kinh tế của họ hay không?
Hỏi những câu đó, cốt ý để thẩm định sự THÀNH CÔNG hay THẤT BẠI khi Lực Lượng quần chúng hiện nay đứng lên như tại Đông Aâu. Nếu chỉ nguyên CSVN, thì Lực Lượng dân chúng không có gì phải ngại sợ mà đặt câu hỏi. Honecker không dám ra lệnh cho lính Đức dùng xe tăng bắn xả vào dân Đức vì sợ chính một phần quân đội Đức sẽ chống lại. Cũng vậy, Nông Đức Mạnh không thể ra lệnh dùng chiến xa bắn vào dân chúng anh em bà con của chính quân đội, sợ rằng một bộ phân quân đội sẽ đảo chính giết chính Nông Đức Mạnh.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010
| | | |
ĐỒNG CHIÊM:THƯ CHA BỀ TRÊN TỔNG QUYỀN GỞI ANH EM DCCT TRÊN TOÀN THẾ GIỚI
Roma, Italy 24/01/2010
Anh em thân mến, Hôm qua, chúng tôi nhận được thông tin đau buồn từ Việt Nam về một anh em DCCT, Thầy Antôn Nguyễn Văn Tặng, 36 tuổi bị đánh đập rất dã man. Thầy bị đánh trên đường đến thăm giáo xứ Đồng Chiêm cùng với một số anh em DCCT và giáo dân sau khi Thánh Giá tại nghĩa trang của giáo xứ Đồng Chiêm bị phá hủy. Tình hình trở nên rất căng thẳng. Thầy Tặng bị đánh bất tỉnh bên vũng máu.
Những chi tiết về việc phá hủy Thánh Giá và đánh đập Thầy Tặng đã được đăng tải một cách rộng rãi trên các phương tiện truyền thông.
http://www.catholic newsagency. com/news/ archdiocese_ of_hanoi_ condemns_ savage_beating_ of_redemptorist_ brother/ Nhà cầm quyền đã chối trách nhiệm, nhưng sự chối bỏ này đã bị các Giám mục Việt Nam, các nhân chứng và các phóng viên độc lập vạch trần. Cha Giám Tỉnh Việt Nam đã xin chúng ta cầu nguyện trong lúc khó khăn này. Đây không chỉ là tình trạng căng thẳng đối với các anh em DCCT Việt Nam nhưng còn đối với nhiều anh chị em giáo dân, đặc biệt là những anh chị em luôn cộng tác nhiệt thành với anh em DCCT Việt Nam.
Tôi đã bảo đảm với cha Giám Tỉnh Vinh Sơn rằng tất cả anh em DCCT trên toàn thế giới và những anh chị em giáo dân đang làm việc với chúng ta sẽ liên đới với anh em Việt Nam, nhất là trong lời cầu nguyện. Chúng ta đừng quên họ trong lúc cần kíp này.
Trong Đức Kitô Cứu Thế, Michael Brehl, C.Ss.R. Bề trên Tổng Quyền
Nguyên văn:
Rome, Italy: January 24, 2010 (SCALA)
Dear Confreres, Yesterday, we received very distressing news from Vietnam about the severe beating of one of our confreres, Brother Anthony Nguyen Van Tang, 36 years of age. He had gone to the parish of Dong Chiem to visit with the confreres and the parishioners after the destruction of the Cross in the cemetery. The situation has become very tense. Brother Anthony was left unconscious in a pool of blood.
Details of the destruction of the Cross, and the beating of Brother Anthony, have been widely reported in the media. http://www.catholic newsagency. com/news/ archdiocese_ of_hanoi_ condemns_ savage_beating_ of_redemptorist_ brother/The Government denies any responsibility, but this denial is refuted by the Catholic Bishops in Vietnam, by witnesses, and by independent journalists. The Provincial Superior of Vietnam has asked our prayers at this difficult moment. Not only is it a tense situation for the Redemptorists, but also for many dedicated lay men and women, especially those who are active in the ministry.
I have assured Fr. Vincent, all the confreres, and the men and women with whom we work that we are in solidarity with them, especially in our prayers. Let us not forget them in their need.
In the Redeemer, Michael Brehl, C.Ss.R., Superior General Michael Brehl, C.Ss.R.
ĐỒNG CHIÊM: TÒA TỔNG GIÁM MỤC THÔNG BÁO HIỆN TÌNH
Tòa Giám Mục Hà Nội thông báo về diễn tiến tình hình giáo xứ Đồng Chiêm VietCatholic News (20 Jan 2010 11:29)
VĂN PHÒNG TÒA TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI
Hà Nội ngày 20 tháng 1 năm 2010
Kính gửi: Quí Cha Quí Tu sĩ nam nữ, Chủng sinh và toàn thể Anh chị em giáo dân trong Tổng Giáo Phận Hà Nội.
Văn Phòng Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội xin thông báo về diễn tiến tình hình giáo xứ Đồng Chiêm (Xã An Phú, Huyện Mỹ Đức, Hà Nội) như sau:
Sau khi đã triệt hạ và đập phá Thánh Giá trên Núi Thờ của giáo xứ rạng sáng ngày 6/1/2010, chính quyền địa phương tiếp tục khủng bố tinh thần giáo dân Đồng Chiêm bằng cách dùng loa phóng thanh công suất lớn liên tục phát đi những bài lên án, lăng mạ và vu khống cha xứ, cha phó và giáo dân Đồng Chiêm, đồng thời huy động hàng trăm cảnh sát cơ động, lực lượng vũ trang và công an chìm phong tỏa và ngăn chặn mọi lối vào giáo xứ Đồng Chiêm. Ngoài ra:
- Ngày 17/01/2010 công an đã bắt giam bà Đinh Thị Hường và ông Nguyễn Văn Đãng, tới nay vẫn chưa được thả. Cháu Bạch Thị Ái, học sinh lớp 10, con của bà Hường cũng bị công an đánh đập dã man.
- Ngày 18/01/2010 các bà Phạm Thị Heo, Đinh Thị Dậu và Trần Thị Thu đang lúc đi chợ bị công an bắt và tạm giam 24 giờ.
- Trong hai ngày 19 và 20/01/2010 các bà Đinh Thị Huyền, Bạch Thị Hà và Bạch Thị Quyên bị công an huyện Mỹ Đức triệu tập để xét hỏi từ sáng đến tối.
- Nghiêm trọng hơn là vụ đánh đập tàn nhẫn ông Nguyễn Hữu Vinh ngày 11/01/2010 tại trạm gác công an ở làng Đồng Chiêm và đánh bất tỉnh thày Nguyễn Văn Tặng, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, ngày 20/01/2010 trên đường vào Đồng Chiêm.
- Riêng cha xứ Đồng Chiêm Giuse Nguyễn Văn Hữu và cha phó Giuse Nguyễn Văn Liên thì bị công an nhiều lần gửi giấy gọi lên điều tra xét hỏi.
Ngày 20/01/2010 Đồng Chiêm hoàn toàn bị bao vây cô lập, bất cứ ai đến từ bên ngoài đều bị công an tại các trạm kiểm soát ngăn chặn không cho vào. Các linh mục của giáo hạt Hà Nội vào thăm giáo xứ Đồng Chiêm đã bị lực lượng công an chặn lại ở Cầu Xây, cách Đồng Chiêm 500 m, không được vào.
Trước tình hình mỗi lúc một thêm căng thẳng, xin toàn thể gia đình Tổng Giáo Phận tiếp tục cầu nguyện tha thiết cho cha xứ, cha phó và giáo dân xứ Đồng Chiêm nhất là những anh chị em bị đánh đập, giam cầm, được giữ vững niềm tin giữa muôn vàn thử thách, sẵn sàng chia sẻ thập giá Chúa Kitô. Đồng thời xin cho các quyền cơ bản của con người được tôn trọng để đất nước có được nền hòa bình, công lý, dân chủ và văn minh thật sự.
Trân trọng thông báo
Linh mục Gioan Lê Trọng Cung Chánh Văn Phòng
N.B. Thông báo này được đọc trong tất cả các nhà thờ từ hôm nay cho đến hết Chúa Nhật 24/01/2010. Sau mỗi thánh lễ, các cộng đoàn sẽ hát “Kinh Hòa Bình” và “Cầu Cho Giáo Phận” để cầu nguyện cho giáo xứ Đồng Chiêm. LM Gioan Lê Trọng Cung
CƯỚP ĐẤT GIÁO DÂN XỨ CỒN DẦU/ ĐÀ NẴNG
Đơn khiếu kiện khẩn cấp về việc VC thu hồi (cướp) đất của giáo dân Cồn Dầu - Đà Nẵng VietCatholic News (26 Jan 2010 10:48)
TIN KHẨN:
Bây giờ là 21giờ tối ngày 26 tháng 01 năm 2010, hiện Công an và dân phòng cùng các thành phần khác bao vây nhà ông Chủ tịch HDGX và một số nhà xung quanh thuộc giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng. Trong những ngày qua công an khủng bố tinh thần giáo dân chung quanh nhà thờ cả ngày lẫn đêm. Nhiều giáo dân đã pjải đóng cửa nhà rời đi nơi khác, còn một số nhà thì bị niêm phong. Công an không cho giáo dân tự do đi lại... Tin này mới nhận được từ ông Chủ tịch HĐGX của giáo xứ Cồn Dầu
Sau đây là Dơn kêu cứu của giáo dân Cồn Đầu:
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
ĐƠN KÊU CỨU KHẨN CẤP ĐẾN CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO NƯỚC VIỆT NAM
Kính gửi:
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Bí thư nước CHXHCN Việt Nam Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Bộ Công An nước CHXHCN Việt Nam Cơ quan thanh tra TW Đảng nước CHXHCN Việt Nam Đài truyền hình nước CHXHCN Việt Nam UBND TP Đà Nẵng
Chúng tôi đồng viết đơn này để nói và kể rõ sự việc của một giáo xứ thôn quê – thôn Cồn Dầu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng.
Sự thật mọi việc như sau:
Chúng tôi đã sinh sống, sinh ra và sống tại nơi đây gắn liền cuộc đời của chúng tôi gần 200 năm.
Giáo xứ Cồn Dầu là một Giáo xứ rất lâu đời dân số gần 4000 người.Trên 2000 người đi kinh tế và lập nghiệp tại Easup – Buôn Mê Thuộc, Trà Cổ - Hố Nai tỉnh Đồng Nai, thành phố Đà Nẵng và nhiều nơi khác... Còn lại gần 2000 người ở lại tại làng. Trên 90% người dân nơi đây sống bằng nghề nông, chăn nuôi và các ngành nghề khác. Hầu hết người dân nơi đây theo đạo Công Giáo. Cách đây 5 đến 10 năm về trước người dân nơi đây đời sống kinh tế phát triển chưa cao, nay đời sống của họ đã ổn định và phồn vinh cuộc sống, sung túc và ổn định.
Nhưng vào năm 2003 lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đưa ra dự án chỉnh trang tại chổ, sống xung quanh gần nhà thờ của Giáo xứ. Người dân chúng tôi vô cùng vui mừng, mong ước có cuộc sống sung túc, được ở lại quê hương mà bao đời nay người dân gắn liền cuộc đời của họ vào mãnh vườn thửa ruộng con gà, con vịt, con trâu, con bò…
Rồi không biết vì lý do gì dự án không thành làm cho người dân phải khổ sở vì phải vay tiền xây dựng nhà cửa để mong được chỉnh trang tại chổ.
Năm 2008 Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng Lại có dự án Khu du lịch sinh thái Hòa Xuân giãi tỏa trắng 430ha. Trong đó làng Cồn Dầu chúng tôi 100ha gồm đất ở và ruộng vườn, đưa người dân chúng tôi phải đi xa Nhà thờ và mãnh đất mà bao đời nay gắn liền trong bao thế hệ phải gánh đất tôn tạo nền nhà với giá đền bù như sau:
-Đường 2m: 250.000đ/m2 * Đường 3m: 350.000đ/m2 * Đường 4m: 450.000đ/m2 Đi đến chổ ở mới với giá mua lại như sau: *Đường: 5m5: 800.000đ/m2 *Đường: 7m5: 900.000đ/m2 *Đường: 10m5: 1.100.000đ/m2.
Nền nhà đất đổ nền cao chính quyền hổ trợ: 5 triệu, 10 triệu, 15 triệu cho mỗi nền. Người dân Cồn Dầu đã họp với lãnh đạo thành phố trên 20 lần. Trong đó 6 lần họp với bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh, người dân ước nguyện xin ở lại tại chỗ nhưng ông Nguyễn Bá Thanh trả lời:
- Đã bán 110ha và buộc nhân dân phải di dời đi nơi khác và các ông có mua lại nổi không ? - Các ông không đủ tiền mua chổ ở của mấy ông đâu ? - Các ông là người răng hô, tráng dồ nghèo hèn phải ở phía sau ? - Chúng tôi thấy bất công và làm đơn Kêu cứu gởi lên các cấp từ Phường, Quận, Thành phố đến Trung Ương, và vẫn không giải quyết cho người dân chúng tôi. Ngày đêm người dân chúng tôi âm thầm cầu nguyện xin ở lại mãnh đất chúng tôi mà bao thế hệ đã gắn liền.
Lý do duy nhất là người dân không chấp nhận đi vì mất ruộng đất, vườn ở, đời sống gắn liền với người dân. Nhưng sau đó từ ngày 10/01 - 20/01/2010 Đài phát thanh Phường Hòa Xuân đọc lệnh thu hồi đất ở của người dân giáo xứ Cồn Dầu do ông Võ Văn Thương ký năm 2008. Nhưng nay ông Thương là bí thư quận Cẩm Lệ chứ không phải là chủ tịch Q. Cẩm Lệ bây giờ, mà buộc nhân dân chúng tôi phải chấp nhận theo quyết định ?
Ngày 25/01/2010 bí thư thành ủy Đà Nẵng là ông Nguyễn Bá Thanh dẫn công an, an ninh, cán bộ các cấp từ Phường, Quận, Thành phố trên 100 người xuống tận nhà dân chúng tôi để kiểm định, làm người dân rất kinh sợ, phải đóng cửa nhà đi lánh nạn, công an, ban giải tỏa đền bù, cán bộ các cấp vây suốt cả ngày đêm ăn cơm tại chỗ, có nhà dán giấy chụp hình, dỡ ngói quay phim, làm những điều nhân dân không tưởng được. Không biết những ngày tiếp theo đây người dân Cồn Dầu của chúng tôi có còn yên ổn dưới sự vây hãm của các lực lượng an ninh không? Hiện nay Công an, dân phòng và các thành phần khác đang bao vây một số gia đình buộc họ phải sơ tán. Khủng bố tinh thần giáo dân, niêm phong nhà giáo dân…
Chúng tôi đồng viết đơn này để nói lên sự thật. Kính gởi chính quyền các cấp Trung Ương và các nơi nghiên cứu để giúp đỡ cho chúng tôi, đừng để nhân dân chúng tôi đi đến con đường cùng … và giúp đỡ cho chúng tôi được toại nguyện người công dân đúng theo hiến pháp và pháp luật nước Việt Nam:
1- Được ở lại sống trên mãnh đất mà bao đời đã gắn liền. 2- Được ở lại đi lễ nhà thờ, nhà thờ này là của Giáo hội, cha ông chúng tôi và chúng tôi bỏ tiền ra xây dựng để sống tốt đời đẹp đạo hơn. 3- Không nên lấy đất ruộng của người dân chúng tôi vì nông dân phải có ruộng, có nhà. Chúng tôi lấy gì để sống sau khi mất ruộng, nhà. 4- Tại sao chúng tôi không hưởng được nghị định 69 của Thủ Tướng chính phủ áp dụng với dân làng chúng tôi. Hỏi như vậy có công bằng, dân chủ và thương dân không ? 5- Tại sao chúng tôi là người nông dân không được làm ruộng để sinh sống ? 6- Trong luật đất đai có quy định,khi đi người dân phải có cuộc sống tốt hơn chổ ở cũ khi di dời. Hỏi thành phố Đà Nẵng trong luật đất đai như cách đền bù ở trên, chúng tôi lấy gì để sống và đảm bảo an ninh lương thực như Thủ tướng mong muốn hay không ?
Chúng tôi đồng viết đơn này để nói lên sư thật về một miền quê, một Giáo xứ mà người dân sống chân thật hiền lành, muốn ở lại trên quê hương mà họ đã từng nặng tình nghĩa đã bao đời. Chúng tôi viết đơn này xin gửi lên chính quyền các cấp muôn vàn lần cứu xét cho người dân thôn Cồn Dầu được nhờ.
Đà Nẵng, ngày 26 tháng 1 năm 2010
Người dân thôn Cồn Dầu đồng ký tên
SAU BÁT NHÃ, CHÙA LINH PHỔ LÂM ĐỒNG
Sau Bát Nhã, lại thêm một cuộc đàn áp cơ sở Phật giáo tại tỉnh Lâm Đồng, chùa Linh Phổ, chính thức bị bị tấn công Jan 18, 2010
Ông Phan Xuân Tịnh chủ tịch UBND xã Hiệp Thạnh trực tiếp chỉ đạo cuộc tấn công chùa Linh Phổ . ĐĐ Thích Hoằng Tín trú trì chùa Linh Phổ bị đánh và bị xé rách quần áo
Nhiều cụ già Phật tử của chùa cũng bị tấn công trong đó có một người bị đánh ngất xỉu, công an khiêng ra xe chở đi đâu không biết .
Như tin chúng tôi đã đưa, chùa Linh Phổ huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng đang phải đối đầu với sự bạo hành của chính quyền Việt Nam. Đúng theo kế hoạch mà một cán bộ “ có lương tấm” đã báo trước cho chùa để chuẩn bị đối phó trước cuộc đàn áp tấn công không khoang nhượng của chính quyền hòng cưỡng đoạt 10.439 m2 đất của chùa hiện hữu trên 42 năm qua (chúng tôi đã cảnh báo trong bản tin tối hôm qua).
Đúng 6 giờ 30 sáng hôm nay thứ hai 18/01/2010 đích thân ông Phan Xuân Tịnh, chủ tịch UBND xã Hiệp Thạnh – Đức Trọng đã trực tiếp có mặt tại chùa Linh Phổ để chỉ đạo cuộc tấn công đàn áp chư tăng và phật tử chùa Linh Phổ. Bên cạnh ông chủ tịch xã Hiệp Thạnh chúng tôi còn thấy có các ông: Nguyễn Minh Khang - phó chủ tịch xã, ông Lê Liên - trưởng công an xã, ông Phạm Ngọc Thảo - trưởng ban tư pháp xã, ông Nguyễn Quang Mười - thôn trưởng, ông Nguyễn Văn Phận - bí thư chi bộ thôn, ông Trần Cự, ông Lộc - công an thôn, bà Nguyễn Thị Liễu - chi hội phụ nữ cùng rất nhiều cán bộ chính quyền. Chư tăng và phật tử chùa linh phổ biểu tình trước cổng văn phòng tỉnh ủy Lâm đồng
Tất cả đang hùng hổ khua tay múa chân, chỉ huy hàng trăm công an nhân viên, dân phòng và người lạ mặt v.v… tấn công đánh đập các cụ già là Phật tử đáng tuổi cha mẹ ông bà của mình chỉ vì cái tội họ dám “ đấu tranh bảo vệ luân thường đạo lý, bảo vệ công bằng lẽ phải, bảo vệ đất chùa mà họ đã dày công khai phá xây dựng trên 42 năm nay.
7 giờ 00, sau khi hội ý trước sân chùa, nhóm người lạ mặt xông vào giựt cờ Phật giáo, cờ CSVN (đang được chùa cắm trên các trụ rào để bảo vệ quan điểm và xác định ranh mốc của đất chùa). Trong khi đó thì nhóm người khác la lên: “đốt đống cờ đó đi (trong đó có cờ của CSVN) – ai ngăn cản đánh thấy mẹ nó luôn – không tu hành gì cả.
Lúc này ĐĐ Thích Hoằng Tín trú trì chùa Linh Phổ cùng bà con Phật tử bước ra can ngăn và yêu cầu ông Phan Xuân Tình – chủ tịch xã cùng lực lượng cán bộ xã đang đập phá hàng rào chùa phải xuất trình lệnh cưỡng chế và các giấy tờ liên quan theo đúng qui định của pháp luật Việt Nam.
Đuối lý ông chủ tịch xã điên tiết ra lệnh bắt và đánh tất cả những ai dám chống người thi hành công vụ và thế là hàng trăm người xông vào giựt biễu ngữ của Phật tử đang cằm có nội dung: “Chư tăng và quần chúng Phật tử phản đối hành vi áp đặt đối với cơ sở tôn giáo là chùa Linh Phổ” hay “chúng tôi yêu cầu UBND xã Hiệp Thạnh phải làm việc theo đúng hiến chương và pháp luật” hay “chỉ thị 1940/CT- TTg của thủ tướng chính phủ phải được tôn trọng và nghiêm túc thực hiện”. Băng rôn biểu ngữ chùa Linh Phổ phản đối đàn áp tôn giáo
Một nhóm khác xông vào đánh và xé áo ĐĐ Thích Hoằng Tín - trú trì chùa Linh Phổ, nhiều cụ già là Phật tử của chùa cũng bị tấn công, đánh đập lôi kéo rách áo quần. Một phật tử bị đánh ngất xỉu té xuống đất liền được ông Nguyễn Minh Khang - phó chủ tịch xã - ra lệnh cho công an thôn khiên ra xe, trong lúc đó một nhóm khác đã áp tải 4 Phật tử quăng lên xe u oát chở đi. Tiếng kêu cứu la khóc của các cụ già trong nỗi tuyệt vọng vang cả khắp thôn làng .
10 giờ 45 phút anh thanh niên Phật tử bị bắt được thả về sau khi phải ngồi làm bảng tường trình theo mẫu đã được soạn sẵn theo ý của ông Lê Liên trưởng công an xã Hiệp Thạnh .
11 giờ 15 phút ĐĐ Thích Hoằng Tín và phật tử của chùa đã đến công an xã Hiệp Thạnh phản đối việc công an bắt, đành người vô cớ , trái với pháp luật .
14 giờ 00 chiều chư tăng và Phật tử đến tại văn phòng tỉnh ủy (TP Đà Lạt) xin gặp lãnh đạo tỉnh trình đơn tố cáo việc chính quyền xã Hiệp Thạnh lạm dụng quyền hành đưa lực lượng công an, cán bộ đàn áp, đánh đập chức sắc tôn giáo và bà con Phật tử và làm nhiều điều trái với qui định pháp luật. Nhưng tất cả đã bị công an bảo vệ chặn ở cổng bên ngoài và cử người ra nhận đơn với lý do lãnh đạo đi vắng!? Nhiều phật tử bị đánh
Cũng xin nói thêm rằng trong lúc sự việc đang xãy ra rất căng thẳng tại chùa Linh Phổ thì nhiều Phật tử đã gọi điện kêu cứu ban trị sự và hội đồng trị sự trung ương thì được trả lời “chư tôn đức đang dự hội nghị thường niên tại văn phòng II trung ương tại Sài Gòn”.
Như vậy chưa đầy một tháng sau vụ đàn áp, bức bách 400 tu sỹ là người Việt Nam tu theo pháp môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã và chùa Phước Huệ thị xã Bảo Lộc, một lần nữa máu, nước mắt cùng lòng căm phẩn tủi hờn của tăng ni Phật tử tỉnh Lâm Đồng lại tuôn rơi trước sự bạo hành tàn độc của chính quyền Lâm Đồng và trước sự thờ ơ, nhu nhược của giáo hội phật giáo Việt Nam, không dám lên tiếng bênh vực bảo vệ lẽ phải, bảo vệ đàn hậu học những mần non của đạo pháp trước nanh vuốt của loài sói lang vô đạo ….
Nhiều máy hình, quay phim ghi lại sự việc sáng nay tại chùa Linh Phổ đã bị công an truy đuổi đập phá. May mắn lắm chúng tôi mới thoát thân và lưu giữ được vài hình ảnh quí giá này để minh chứng tố cáo tội ác của chính quyền Việt Nam. Với kẻ thù (Trung Quốc) thì họ nhu nhược khúm núm còn với đồng bào ruột thịt của mình thì tàn ác dã man.
Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi sự kiện này và sẽ gởi đến quí vị nhiều hình ảnh trung thực của cuộc đàn áp sáng hôm nay tại chùa Linh Phổ huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng sau khi phục hồi sửa chữa lại hai máy quay phim và chụp hình đã bị công an đập phá hư hỏng mà chúng tôi may mắn thu dấu lại được vào bản tin kế tiếp .
Sau sự kiện sáng nay trước khi rút về chính quyền đã tuyên bố là sáng ngày 20/01/2010 sẽ tiếp tục cho người vào xây hàng rào cấm vận chùa. Rất mong quí cơ quan thông tấn báo chí, quí cơ quan nhân quyền hãy lên tiếng ngăn chận sự bạo hành của chính quyền Việt Nam đang ra sức đàn áp khủng bố các cơ sở tôn giáo. Nếu cần liên hệ để tìm hiểu sự thật của vấn đề xin liên hệ với:
ĐĐ Thích Hoằng Tín - Trú trì chùa Linh Phổ: 0983620148 HT Thích Pháp Chiếu - Trưởng ban trị sự phật giáo Lâm Đồng: 0918853607 HT Thích Toàn Đức - Phó ban trị sự: 0902184717 Ông Hồ Ngọc Thắng - Trưởng ban mặt trận tổ quốc Lâm Đồng: 0913934718 Ông Nguyễn Văn Hiệp - Phó giám đốc công an LÂM Đồng: 0913865218 Cư sĩ Quốc Thái tường thuật trực tiếp từ chùa Linh Phổ
| | | |
CHẾ ĐỘ VIỆT CỘNG TỰ DIỄN BIẾN THÀNH CHẾ ĐỘ LƯU MANH CÔN ĐỒ LÝ ĐẠI NGUYÊN
Kẻ lãnh đạo tư tưởng Cô.ngđảng, cầm vận mệnh truyền thông báo chí trong nước, Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, ngày 03/08/2009 đã cho đăng một bài trên báo Nhân Dân điện tử, với nhận định: “Đảng Cộng Sản Viê.tnam đang đứng trước một bối cảnh quốc tế phức tạp”. “Xu hướng cạnh tranh giữa các nước lớn sẽ ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn, đặc biệt trên điạ bàn chiến lược, trong đó có biển Đông”. Đồng thời Tô Huy Rứa vẫn xác định đường lối chính trị của cộng đảng ở Đại Hội XI sắp tới là: “Chống Tự Diển Biến”, “tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức, quan niệm về Chủ Nghĩa Xã Hội và con đường đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội…” Theo đó Tô Huy Rứa cảnh báo về nguy cơ chuyển biến nội bộ đảng, thậm chí còn cao hơn “Diễn Biến Hòa Bình”. Hiện tượng ‘tự diễn biến nội bộ đảng’ có nghiã là trong tư tưởng và trong thực tế quyền hành và quyền lợi riêng tư của mỗi đảng viên, từ Bộ Chính Trị trở xuống tới các Chi Bộ Cơ Sở, đại đa số, đã không còn tin tưởng tuyệt đối vào thứ Chủ Nghĩa Xã Hội chết tiệt đó và không còn trung thành với chủ trương, đường lối, sách lược lệ thuộc quốc tế của Trung Ương Đảng nữạ Mỗi đảngviên đang tự thủ thân, lập thế, để lúc nào đó cùng ‘ù té chạy’. Điều không may cho Dân Tộc và Quốc Dân Việt Nam là, trong sự ‘tự diễn biến’ ấy, những đảng viên, nhất là những người lãnh đạo đảng Viê.tcộng lại không hướng theo ‘Diễn Biến Hòa Bình’, dựa trên nhu cầu, nguyện ước chân chính thiết thực của toàn dân và dân tộc là Dân Chủ Hóa chế đô.. Đa Nguyên Hóa tư tưởng. Tự Do Hóa xã hộị Tư Nhân Hóa truyền thông. Tư Hữu Hóa Ruộng Đất. Tư Doanh Hóa kinh tế. Toàn Cầu Hóa thị trường…theo hướng vận hành thăng hóa của Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn thời đạị Mà chỉ lo mất quyền lực, lợi lộc của cá nhân và bè đảng. Trong khi đó, dù ngoài miệng phải hô to, rống lớn là phải: “Tiến Lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Nhưng tất cả đảng viên từ trên xuống dưới đều biết thật rõ là thứ chủ nghĩa không tưởng quái ác đó đã chết tiệt thật rồi, không còn sống lại được nữạ Cái chế độ có tên là Chủ Nghĩa Xã Hội ở Viê.tnam hiện nay, nó đã tự diễn biến thành “Chủ Nghĩa Tư Bản Gia Tộc Man Rợ” không giống bất cứ aị
Đảng viên có quyền có thế đều đã được đảng cho phép trở thành “Tư Bản Tư Doanh”, để từ đó kéo Gia Đình Dòng Tộc vào, biến các Công Ty Quốc Doanh, kể cả vốn liếng của nhà nước thành Tư Hữu Tư Doanh, độc quyền làm kinh tế thị trường. Các công ty Tư Doanh Thường Dân, kể cả các công ty Liên Doanh với Nước Ngoài cũng dễ bị các công ty Tư Doanh Đảng Viên chèn ép cho đến mất nghiệp. Trường hợp mới nhất xẩy ra với công ty Liên Doanh Viê.t-Úc, hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific. Chính vì đảng viên quyền thế tham nhũng và được làm giầu không cần vốn, nên họ bằng mọi cách, mọi giá phải bám lấy quyền lực quốc gia, kể cả việc cam tâm làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Tầucô.ng. Trong khi dân chúng Viê.tnam đang bừng lên khí thế đòi Tự Do Dân Chủ và chống Giặc Tầu Xâm Lăng. Viê.tcộng hoàn toàn mất chính nghĩa trước dư luận quốc dân và quốc tế. Chúng không thể bám vào bất cứ thứ danh nghĩa cao đẹp nào để lừa mị toàn dân và che mắt thế giới nhằm duy trì chính quyền cộng sản độc đảng, độc tài, độc ác, tham nhũng được nữạ Nên từ tâm điạ độc ác, tham tàn và quán tính bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất tín, vô liêm sỉ của mỗi đảng viên đương quyền, đương thế, chúng đã tự diễn biến, biến luôn chế độ ‘xã hội chủ nghĩa’ thành chế độ ‘lưu manh côn đồ’ theo với bản tính, bản chất ngu xuẩn, xấu, sai, ác của chúng. Tại biến cố Thái Hà, Bát Nhã, Tam Tòa, Đồng Chiêm… và còn nhiều cơ sở của các tôn giáo khác nữạ Viê.tcộng đã cho Công An, Dân Phòng đội lốt “Lưu Manh Côn Đồ” để đánh đập tàn nhẫn những Giáo Dân, Giáo Sĩ, Tăng, Ni, nhằm chiếm đất, chiếm chùa, trước sự điều động trực tiếp của các viên chức địa phương. Để rồi Hànội đỗ thừa cho dân chúng tự phát, và trách nhiệm thuộc về địa phương, khi bị báo chí quốc tế chất vấn. Nhưng toàn dân và cả dư luận quốc tế đều biết thật chính xác, là trong chế độ cộng sản toàn trị, trung ương tập quyền, tất cả mọi hoạt động của địa phương, nhất là có tính chính trị, nhậy cảm thuộc về tôn giáo, thì phải do Trung Ương chỉ đạọ Có như vậy báo chí, truyền thanh, truyền hình trong nước mới nhất loạt vu cáo cho hàng Giáo sĩ, Tăng sĩ có lỗi kích động dân chúng ‘chống lại nhà nước nhân dân’. Khiến cho Thiền Sư Nhất Hạnh, một tăng sĩ nổi tiếng trên thế giới, sẵn sàng hợp tác với Viê.tcộng, Ông đã nhiều lần đưa Tăng Đoàn Làng Mai tại Pháp về Viê.tnam giảng pháp và tiếp xúc với giới cầm quyền Hànội, để dư luận thế giới cho là Viê.tnam đã cởi mở về tự do tôn giáọ Nhờ đó chính phủ Hoakỳ đã lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, “các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo”. Rồi qua vụ chế độ Lưu Manh Côn Đồ Viê.tcộng đánh đuổi 400 Tăng, Ni trẻ tu học theo phưong pháp Làng Mai tại chùa Bát Nhã Lâm Đồng, và không cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của nhà nước, được chứa chấp làm cho thiền sư Nhất Hạnh phải lên tiếng: “Bát Nhã Là Một Công Án Thiền”. Theo ông: “Nếu nghĩ rằng Bát Nhã là vấn đề của 400 tu sinh đang gặp khó khăn, đang cần một giải pháp hợp tình hợp lý thì đó không phải là một công án. Chỉ khi nào thấy rằng Bát Nhã là vấn đề chính của bản thân ta, nó liên hệ trực tiếp đến hạnh phúc, đau khổ của ta, của tương lai ta, và tương lai đất nước dân tộc ta, và chừng nào chưa giải quyết được công án Bát Nhã thì ta còn ngủ không yên, ăn không yên, làm việc không yên thì lúc ấy Bát Nhã mới thực sự là công án”. Là người tu thiền, cho Bát Nhã Là Một Công Án Thiền, đối với thiền sư Nhất Hạnh đó là một chướng ngại, khổ đau, phải thường xuyên quán chiếu để tự ngộ, tự thắng đó là lẽ đương nhiên. Nhưng dù vậy, vẫn không làm sao cho dư luận nguôi ngoai được sự chịu đựng khốn khổ của 400 người trẻ đang bị chế độ Lưu Manh Côn Đồ nghiền nát. Chỉ vì đất nước chưa có Tự Do Tôn Giáo, chưa có Sự Thật, Công Lý. Dân Chủ, Công Bằng.
Về phía Thiên Chúa Giáo, hồng y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giáo Phận Saigòn, người đã có lần cho là: “nên bỏ cờ vàng, giữ cờ đỏ” làm cho giáo dân và người tỵ nạn cộng sản phản đối mạnh mẽ. Ngày 25/01/10, cũng đã phải lên tiếng về nguyên nhân tranh chấp giữa Giáo Hội và Nhà Nước Viê.tcộng như sau: “Tôi thấy có một nguyên nhân chính, đó là đi ngược chiều với truyền thống văn hóa cùng những giá trị đạo đức của dân tộc. Nền văn hóa cùng những giá trị đó từ ngàn xưa được xây dựng trên tình nghĩa đồng bào tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương trợ lẫn nhau, chứ không phải trên hệ thống quyền lực cùng bạo lực loại trừ đồng bào, đồng loạị Lịch sử cho thấy công cuộc phát triển xã hội tự do và dân chủ, bình đẳng và công bằng, văn minh và khoa học, mà thiếu tình nghĩa đồng bào, thiếu tình nghĩa huynh đệ đại đồng, luôn để lại nhiều vấn đề nan giải, cản trở sự phát triển toàn diện của con người và đất nước”. Đến đây cho thấy, dù cho các nhà lãnh đạo tinh thần vốn có thái độ ôn hòa, sẵn sàng đối thoại, hợp tác với Viê.tcộng, như Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cũng không còn chịu đựng được cái chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa tự quái hóa thành chế độ Lưu Manh Côn Đồ, coi ‘Dân là Kẻ Thù’, coi ‘Tầu là Thầy Tổ’. Không biết bọn họ sống được với ai nữa đây??? Little Saigon ngày 26/01/2010.
KHI SAI LẦM BỊ ĐẨY ĐẾN MỨC QUÁ ĐÁNG
Bùi Tín viết riêng cho VOA 26/01/2010 http://www.voanews. com/vietnamese/ Khi-sai-lam- len-muc-qua- dang.cfm Tình hình chính trị của đất nước gần đây sa sút nhanh và trầm trọng.
Mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân có những biểu hiện gay gắt. Chính quyền không những không bảo vệ người dân lương thiện, còn bênh vực những tham quan ô lại, áp bức quần chúng, để người dân phải đặt ra câu hỏi: chính quyền hiện tại là chính quyền kiểu gì? của ai? bênh vực ai? Nền tư pháp hiện tại là nền tư pháp của ai? có công bằng hay không công bằng? sao người tử tế, trí thức yêu nước bị đàn áp nặng nề, phi lý, trong khi bọn tham nhũng, biến chất thì được bênh che, nới tay đến vậy! Rõ ràng là nền tư pháp có 2 tốc độ, 2 bàn cân, cực kỳ nặng tay cho người này, nhẹ bỗng cho kẻ khác!
Vụ Bát Nhã, hơn 70 tên du côn, mafia, xã hội đen lộng hành, gây án mạng đối với các em tu sinh trong sáng, dân quân xã, công an huyện không hề bảo vệ công dân lương thiện - là chức năng cơ bản của một nhà nước chân chính -, còn tiếp tay, khuyến khích bọn chúng cùng phá phách gây án, chính quyền huyện và tỉnh thả lỏng. Thật là quá đáng. Người phát ngôn bộ ngoại giao bất chấp chứng cớ, phim ảnh, ghi âm tại chỗ, chối phắt: "Ðó là xung đột nội bộ phật giáo!" Thật là quá đáng!
Vụ Đồng Chiêm - Mỹ Đức - Hà Nội, chính quyền còn quá đáng hơn. Họ huy động hàng trăm dân quân, công an phong tỏa cả vùng, dùng chất nổ mạnh phá tan thánh giá, đánh đập gây thương tích cho nhà báo và linh mục, bắt giam hàng chục giáo dân ra can ngăn việc làm phi pháp của họ, nhưng người phát ngôn bộ ngoại giao vẫn nói rằng thánh giá đã được chính giáo dân tháo gỡ di dời. Thật quá đáng.
Còn việc chống tham nhũng, chính nhà nước ở trung ương đã tỏ ra quá đáng, "nói một đằng làm một nẻo", bênh che, dơ cao đánh khẽ quan chức đảng viên cộng sản sâu mọt tội phạm lớn nhất, như bị can loại tổng giám đốc Bùi Tiến Dũng, bị can thứ trưởng Giao thông kiêm bí thư đảng uỷ Nguyễn Việt Dũng, như đảng viên phó giám đốc sở giao thông Huỳnh Ngọc Sỹ, nay lại định dung túng chạy tội cho cho bị cáo Lương Ngọc Anh (đảng viên giám đốc một công ty quốc doanh trong ngành công an) cũng như cho bị cáo đảng viên cộng sản Lê Đức Minh, con cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy, mặc dù phía Úc đã khởi tố các bị cáo đưa hối lộ cho Anh và Minh số tiền lên đến hơn 10 triệu đô la Úc. Thật là quá đáng!
Vẫn chưa hết. Trong khi đó thì chính quyền của đảng lại quá đáng trong sự đàn áp, hiếp đáp các nhà dân chủ yêu nước dấn thân đòi tự do cho toàn dân, còn dùng nhục hình với ông Trần Huỳnh Duy Thức, tuyên án với các "bản án bỏ túi sẵn" theo lệnh của bộ chính trị, qua các phiên xử chớp nhoáng, khuất tất, mỗi bị cáo chỉ xử có chừng 2 tiếng, để làm bao nhiêu chuyện theo trình tự tố tụng là: nghe cáo trạng của công tố, thẩm vấn cung, đối chiếu cung, bào chữa của luật sư, tranh biện trước toà, thảo luận cân nhắc trong hội đồng xét xử, luận tội để tuyên án, và các phát biểu cuối cùng...Thật là bôi bác!
Làm sao các bị cáo từng chăng biểu ngữ: "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt nam" tại đường số 5 trên cầu Lai Vu lại có thể bị kết tội ? Kết tội họ một ngày tù cũng là phi lý. Lẽ ra họ phải được khen ngợi, quý trọng, biểu dương. Điều 10 trong Luật tố tụng hình sự ghi: «Xác định sự thật của vụ án - cơ quan điều tra, kiểm sát và toà án phải áp dụng mọi biện pháp để xác định sự thật, chứng minh tội phạm". Vậy toà án đã chứng minh ra sao về cái tội gọi là chăng biểu ngữ trên đây? Yêu nước là phạm tội! Thật quá đáng!
Mọi sự quá đáng đều sai lầm, có hại. Ngạn ngữ Pháp có câu:"Tout excès est mauvais". Mọi sự quá đáng đều xấu xa ! Huống gì đây là quá đáng trong cầm cân công lý, quá đáng trong đàn áp người lương thiện; quá đáng trong đánh bị thương nhà báo, linh mục, giáo dân, phật tử; quá đáng trong tuyên án rất nặng - 16 năm, 7 năm, 5 năm tù giam những trí thức yêu nước; quá đáng trong việc dùng chất nổ của quân đội để phá tan thánh giá và tượng Chúa; quá đáng trong việc lừa dối, chối tội kiểu gian ngoan, lệnh cho chính quyền bên dưới dùng lưu manh và hung khí tấn công phật tử trẻ rồi đổ vấy cho là do xung đột nội bộ.
Do mọi sai lầm đều được nhà cầm quyền đẩy lên đến mức cực kỳ hung hãn và phi lý nên ngay từ đầu năm 2010 búa rìu dư luận đã giáng xuống tới tấp, không kịp chống đỡ; các tổ chức Phóng viên không biên giới, Quan sát Nhân quyền, Quốc tế các nhà báo, bộ ngoại giao Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Úc, các đại sứ tại Hà Nội, Hoa Kỳ, Thuỵ Ðiển, tổ chức bảo vệ tự do tôn giáo Mỹ, đại diện Liên Âu...nhất loạt yêu cầu Hà Nội phải xoá bỏ các vụ án phi lý, trả lại tự do cho 16 nhà dân chủ ngay và không điều kiện, trả lại tự do cho mọi người tù chính trị.
Người phát ngôn bộ ngoại giao Hà Nội lại chống đỡ bằng luận điệu "can thiệp vào chủ quyền", một kiểu nhai đi nhai lại yếu ớt, đã bị toàn thế giới tiến bộ bác bỏ dứt khoát từ lâu khi khẳng định "quyền can thiệp và cả nghĩa vụ can thiệp", khi chính quyền một nước đối xử tàn bạo với công dân nước mình, vi phạm cam kết quốc tế khi họ ký Công ước về Nhân quyền, qua đó họ hứa hẹn tôn trọng quyền sống trong tự do và nhân phẩm của mọi nước, và trước hết là dân nước của chính họ. Chính thái độ quá đáng trong đối xử với dân mình, với giáo dân và phật tử người Việt mình, thái độ quá đáng với nông dân mình, thu hồi đất của họ rồi đền bù với giá "bèo bọt ", phản bội liên minh công nông, thái độ quá đáng với trí thức trong việc cấm phản biện, bức tử trên thực tế Viện IDS và mạng Tia Sáng, vu cáo hơn 2,000 trí thức ngăn cản việc khai thác bôxít chứa đầy hiểm họa là bị phản động lôi kéo mua chuộc, đánh phá mạng bôxit-info, quấy rầy nhũng nhiễu ông Huệ Chi và ông Phạm Toàn, hăm doạ hơn 10,000 nhà báo cấm không ai được viết bài theo ý riêng...
Năm 2010 này, chính quyền độc đã tự làm mất uy tín, - cả uy tín trong nước và uy tín quốc tế - và ngày càng ở vị thế bị cáo, vì đã quay lưng với nhân dân, không mảy may quan tâm xây dựng một xã hội thật sự ổn định, công bằng, dân chủ và hạnh phúc, như họ từng cam kết dễ dãi trong cái đại hội đảng X của họ.
| | | |
XỬ NHỮNG NHÀ DÂN CHỦ
Đàn áp không phải là Công lý Việt Long, phóng viên RFA, 2010-01-19
Ngày 20 và 21 tháng 1 năm 2010, chính quyền VN sẽ xét xử nhiều nhà tranh đấu vì nhân quyền như LS Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa… Luật sư Trần Thanh Hiệp đưa ra nhận định trước các phiên tòa. Tòa án nhân Hà Nội vừa mới xử lại và giữ nguyên bản án sơ thẩm phạt 4 năm tù giam, kỹ sư Phạm Văn Trội, 3 năm tù giam đối với nhà văn Trần Đức Thạch và nhà giáo Vũ Hùng về tội tuyên truyền chống Nhà nước.
Ngày 20-01-2010 tòa án nhân dân cấp sơ thẩm thành phố Sài Gòn sẽ xử vụ các nhận vật trí thức trong đó có Luật sư Lê Công Định, kỹ sư Nguyễn Tiến Trung bị truy tố về tội âm mưu lật đổ chính quyền.
Và ngày 21-01-2010 tòa án nhân dân Hải Phòng cũng mở phiên xử phúc thẩm để xử lại vụ 6 nhân vật khác về tội tuyên truyền chống Nhà nước, trong đó nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị coi là chủ mưu, được yêu cầu cho biết nhận xét của ông về những phiên xử hàng loạt nói trên.
Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, trụ sở đặt tại Paris, nói rằng ông rất quan tâm trước bước leo thang đàn áp rất đáng quan ngại hiện nay của bộ máy cầm quyền Hà Nội.
Sau đây xin mời quý vị theo dõi cuộc trao đổi giữa Việt Long của đài Á Châu Tự Do và Luật sư Hiệp.
Leo thang đàn áp
Cơ quan điều tra khởi đầu đã làm tình làm tội để ép buộc các bị can nhận tội trước báo chí là đã phạm vào điều 88 Bô luật hình sự. Nhưng phút chót các cơ quan này lại đổi tội danh.
Việt Long: Trong những phiên xử tại Việt Nam như vừa được trình bày, có lẽ công luận đang chờ theo dõi diễn tiến vụ xử 4 nhân vật được quốc tế biết đến nhiều, mà hồ sơ tội trạng đã được thiết lập chiếu điều 79 Bộ luật hình sự xử lý tội âm mưu lật đổ chính quyền. Cảm tưởng của luật sư ra sao về các mặt nhân quyền, công lý ở Việt Nam trước những phiên xử dồn dập như vậy?
LS Trần Thanh Hiệp: Quang cảnh náo nhiệt trong sinh hoạt tư pháp vừa được nêu lên đó mang nhiều ý nghĩa vừa đã rất rõ vừa lại chưa rõ. Theo tôi, có một điều đã rất rõ đó là tình trạng căng thẳng này trong xã hội bắt nguồn từ sự chống đối đường lối cai trị của nhà cầm quyền ngày càng gia tăng và càng tỏ ra không còn là việc nhỏ nữa, không thể bỏ qua hay giải quyết bằng biện pháp hành chánh được mà phải nhờ đến tòa án. Nếu luật pháp mà tốt nghĩa là thuận lòng người và tòa án là trọng tài vô tư thì mức độ căng thẳng sẽ sút giảm vì công lý được thực hiện.
Nhưng việc tòa phúc thẩm Hà Nội trong vụ Phạm Văn Trội-Trần Đức Thạch vẫn giữ nguyên những mức hình phạt của tòa dưới mặc dù các đương sự đã kháng cáo cho thấy là công lý vẫn chưa xuất hiện. Tất nhiên còn phải đợi thêm kết quả của hai vụ sắp xử thì mới rút ra được những kết luận đầy đủ. Vậy trong khi chờ đợi thì tôi có thể nói rằng công lý vẫn ở đằng trước và cho đến phiên xử vừa qua của tòa phúc thẩm Hà Nội thì cuộc đàn áp đối lập ở Việt Nam vẫn tiếp tục qua những bước leo thang mới.
Việt Long: Tòa trên chỉ y án tòa dưới thì luật sư cũng cho là leo thang sao?
LS Trần Thanh Hiệp: Tuy tôi đã thận trọng để nói rằng có những bước leo thang đàn áp mới nhưng thật ra cũng đã có leo thang trong vụ án Phạm Văn Trội-Trần Đức Thạch. Tòa phúc thẩm không leo lên một bậc mới nhưng đã đứng ở bậc cũ mà tòa dưới đã leo, tức là tòa này đã bướcthêm một bước leo thang đàn áp đối với những người dân hoạt động dân chủ ôn hòa. Tôi sẽ xin bàn sau nếu có cơ hội, về vụ án Nguyễn Xuân Nghĩa sắp xử trong những ngày tới.
Nhưng trong vụ Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Hùynh Duy Thức tuy chưa xử nhưng đã có leo thang đàn áp rồi. Cơ quan điều tra khởi đầu đã làm tình làm tội để ép buộc các bị can nhận tội trước báo chí là đã phạm vào điều 88 Bô luật hình sự.
Nhưng phút chót các cơ quan này lại đổi tội danh từ nhẹ là tội tuyên truyền chống Nhà nước sang tội nặng hơn là âm mưu lật đổ chính quyền mà hình phạt tối đa là tử hình. Đổi mà không giải thích được, như mọi người đã thấy trong phiên xử ông Trần Anh Kim, vì sao đã phải đổi tội như thế. Vậy thì chỉ còn là vì muốn leo thang mượn điều 79 này để hù dọa mà khủng bố dân.
Ngoài ra lại còn bao vây bao chí cấm không cho những cơ quan truyền thông đại chúng được sử dụng các dụng cụ truyền thanh, truyền hình để theo dõi và tường thuật phiên xử. Rõ ràng la một bước leo thang để hòng lên tới đỉnh cao thời toàn trị Xit TaLin, Mao Trạch Đông v.v…
Âm mưu lật đổ chính quyền?
Việt Long: Liệu Nhà nước Việt Nam có thể nói rằng vì điều 79 liên quan tới một tội phạm rất nghiêm trọng nên cần phải xử kín không?
LS Trần Thanh Hiệp: Trên nguyên tắc thì tòa án có quyền lấy quyết định xử kín, nhưng một khi đã cho công chúng tham dự thì tình trạng nửa kín nửa hở là điều không biện minh được. Nhưng Luật leo thang không phải chỉ vì cách xử nửa kín nửa hở này mà là vì ngay chính điều 79 Bộ luật hình sự. Tôi cần đi sâu một chút về luật học để nói cho rõ về điều khoản này.
Việt Long: Mời luật sư nêu ý kiến.
LS Trần Thanh Hiệp: Đúng là ở trong các bộ luật hình sự của hầu hết quốc gia trên thế giới đều có ghi tội danh âm mưu lật đổ chính quyền. Nhưng để xét xử thông qua tội danh ấy thì phải căn cứ vào nội dung của nó chứ không thể chỉ dựa vào danh xưng mà thôi.
Và ở trong nội dung này phải định nghĩa thế nào là “âm mưu”, là “lật đổ”, là “chính quyền”. Chứ không phải bất cứ một hành vi nào hoặc là ý nghĩ, quan điểm hoặc là tinh cảm không ưa hay ngay cả muốn thay đổi chính quyền tại chức cũng có thể bị ghép vao tội âm mưu lật đổ chính quyền được.
Nói chung các bộ luật ấy đều xác định rằng chỉ là âm mưu lật đổ chính quyền những hành vi nào mang tính bạo lực trực tiếp xâm phạm đến lãnh thổ, an ninh đối nội, đối ngoại, đến sự tồn vong của chính thể, của chế độ thì mới có thể coi là âm mưu lật đổ chính quyền.
Bộ luật hình sự đương hành ở Việt Nam trái lại nơi điều 79 cực kỳ mơ hồ về cách định nghĩa tội danh lật đổ chính quyền. Vì chỉ thấy nói rằng: ”Người nào hoạt động hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau….”, tuyệt nhiên không xác định thế nào là lật đổ chẳng lẽ một đề nghị bằng lời phát biểu hay bằng bài viêt thay đổi để chế độ xấu trở thành tốt cũng bị coi là lật đổ chính quyền hay sao?
Việt Long: Dù coi đó là một điều khoản mơ hồ chăng nữa thì luật sư căn cứ vào đâu để khẳng định rằng tự bản thân sự mơ hồ đó là một bước leo thang?
LS Trần Thanh Hiệp: Bộ luật hình sự năm 2000 hiện đang áp dụng dưới chế độ đương hành ở Việt Nam là một kiến trúc hính luật thoát thai từ bộ luật hình sự năm 1995 là con đẻ của chế độ chuyên chính vô sản toàn trị được thiết lập năm 1980. Trong khung cảnh chính trị đó thì người ta hiểu được vì sao không một ai nếu không phải là Đảng Cộn sản Việt Nam có quyền thay đổi chế độ và loại tôi phạm lật đổ mơ hồ kiểu điều 79 có cơ sở ý thức hệ để biện minh.
Nhưng cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, cả hệ thống độc tài toàn trị cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô cũ sụp đổ, Đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam năm 1992 và 2001 đã phải sửa đổi hiến pháp để đổi mới, từ bỏ chuyên chê để di vào dân chủ và hội nhập vào cộng dồng thế giới.
Điều 3 của Hiến pháp, văn bản sửa đổi và bổ sung năm 2001 đã ghi rằng “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc…”
Điều 3 này từ tinh thần đến văn tự đã long trọng và công khai dưới hình thức thành văn công nhận cho bất cứ một người dân nào với tư cách là một thành tố của người chủ tập thể đất nước cũng có quyền tự do suy nghĩ, đề xuất đường lối thực hiện một xã hội văn minh, dân chủ.
Luật sư Lê Công Định trên cơ sở những kiến thức hiện đại về luật học cũng như về chính trị học của ông nếu có đưa ra những đề xuất sửa đổi hiến pháp hay soạn thảo mộ hiến pháp mới hoàn bị hơn thì ông chỉ hành sử mộ “quyền chính trị” hợp pháp vì đã được đạo luật tối cao của quốc gia công nhân.
Thanh niên Nguyễn Tiến Trung gia nhập một chính đảng Đảng Dân Chủ có thành tích tham gia tử những ngày đầu của cuộc cách mạng dân chủ năm 1945 để cổ võ cho sự phát huy của sinh hoạt dân chủ cho phù hợp với xu thế của thời đại không thể coi là lật đổ chính quyền được nhất là chính quyền ấy đã cam kết và bảo đảm thực thi dân chủ.
Như vậy, bình thường ra nhà cầm quyền Hà Nội không có cơ sở pháp lý xác đáng và vững chắc để truy tố dưới tội danh lật đổ chính quyền những nhà tranh đấu dân chủ ôn hòa và tiến bộ như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức.
Nhưng nếu cứ truy tố bừa bãi rồi bỏ tù họ, như đã xảy ra trong vụ xử Trần Anh Kim thì rõ ràng là một vụ leo thang đàn áp chứ không phải là một vụ xét xử công bằng để thực hiện công lý
Việt Long: Vậy theo luật sư, thế nào là xét xử công bằng để thực hiện công lý?
LS Trần Thanh Hiệp: Theo tôi, phải chấm dứt ngay chính sách đàn áp có hệ thống và quy mô mà nhà cầm quyền Hà Nội đang muốn đi tới cùng. Để giữ cho xã hội có trật tự và ổn định, phải áp dụng nghiêm chỉnh pháp luật.
Muốn vậy phải sửa đổi càng sớm càng tốt hệ thống pháp luậ công cụ đàn áp để thay thế bằng một hệ thống pháp tôn trọng và bảo vệ nhân quyền. Tôi tin rằng nếu chọn hướng đi mới này nhà cầm quyền Hà Nội sẽ nhận được sự trợ lực rộng lớn ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Việt Long: Xin cảm ơn luật sư Trần Thanh Hiệp và xin được nhắc lại, rằng ý kiến của luật sư Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của đài Á Châu Tự Do.
Bình thường hay bất thường? Trân Văn, phóng viên RFA 2010-01-20
Sáng 20 tháng 1, Toà án TP.HCM đã đưa các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định và Lê Thăng Long, cùng bị truy tố về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” ra xét xử sơ thẩm.
Chưa điều tra đã bảo có tội!
Phiên xử sơ thẩm này là diễn biến mới nhất của một vụ án chính trị mà Công an Việt Nam từng khởi tố hồi tháng 6 năm ngoái và từ đó đến nay, vụ án này đã thu hút sự chú ý của cả công luận lẫn dư luận ở trong lẫn ngoài Việt Nam.
Tháng 6 năm ngoái, Cơ quan An ninh Điều tra của Bộ Công an Việt Nam lần lượt khởi tố và tạm giam các ông: Trần Huỳnh Duy Thức (kỹ sư Công nghệ thông tin, Tổng Giám đốc Công ty Một kết nối tại TP.HCM), Lê Thăng Long (kỹ sư Điện tử Viễn thông, Giám đốc Công ty Phát triển và Đầu tư Công nghệ Innotech tại Hà Nội), Lê Công Định (luật sư) và sang tháng 7, khởi tố thêm các ông Nguyễn Tiến Trung (kỹ sư Công nghệ thông tin), Trần Anh Kim (cựu trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam), cùng về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”.
Vào lúc đó, cho dù chỉ mới bắt đầu tiến trình điều tra và dù điều 72 của Hiến pháp Việt Nam minh định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”, song Công an Việt Nam vẫn tổ chức nhiều cuộc họp báo, cung cấp nhiều thông tin, hình ảnh để hệ thống truyền thông ở Việt Nam đồng loạt xác định, cả năm bị can cùng phạm tội “tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”.
Từ “tuyên truyền” thành “lật đổ?
Việc khởi tố, tạm giam các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, đã bị nhiều chính phủ, tổ chức phi chính phủ, diễn đàn điện tử, blog chỉ trích mạnh mẽ và khiến chính quyền Việt Nam lúng túng đến mức phải “đính chính”.
Chẳng hạn, trong hai cuộc họp báo được tổ chức ngay sau khi thực hiện thủ tục “bắt khẩn cấp” luật sư Lê Công Định hôm 13 tháng 6 năm ngoái, tướng Vũ Hải Triều và tướng Hoàng Kông Tư của Công an Việt Nam tuyên bố, luật sư Lê Công Định bị bắt là vì đã chỉ trích chủ trương, chính sách, chưa kể ông Định còn tham gia bào chữa cho các đối tượng chống đối Đảng và Nhà nước.
Những tuyên bố của hai viên tướng thuộc lực lượng an ninh của Công an Việt Nam là lý do để Liên minh Báo chí Đông Nam Á, được thành lập với mục đích bảo vệ và thúc đẩy tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Đông Nam Á lên tiếng bày tỏ sự lo ngại trước viễn cảnh Việt Nam sẽ trở thành chủ tịch ASEAN, vì “trong lúc cộng đồng ASEAN đang tìm cách xây dựng uy tín và động lực để hình thành một Ủy hội Nhân quyền thì việc Chủ tịch khối ASEAN khi ấy không tôn trọng quyền công dân của họ trước tòa, đâu sẽ là cơ hội cho Ủy hội nhân quyền ASEAN bảo vệ quyền con người trong khối?”.
Cùng thời điểm ấy, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phát hành một thông cáo nhấn mạnh: “Không thể bắt bất kỳ cá nhân nào vì bày tỏ quyền tự do ngôn luận và không thể trừng phạt bất kỳ luật sư nào vì thân chủ mà họ chọn bào chữa”...
Những phản ứng như thế buộc ông Lê Dũng, khi ấy là người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam phải tuyên bố: “Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do chính kiến của công dân, khuyến khích người dân đóng góp ý kiến và tham gia tích cực vào mọi mặt đời sống của đất nước.”
Hai ngày sau tuyên bố của ông Lê Dũng, hôm 19 tháng 6 năm 2009, Thông tấn xã Việt Nam loan báo, đại diện Tổng cục An ninh của Bộ Công an Việt Nam đã khẳng định với Phó Đại sứ Hoa Kỳ: “Việc Bộ Công an bắt xử lý Lê Công Định là do những hoạt động vi phạm pháp luật, không phải do Định đã tham gia bào chữa cho một số bị cáo như thông tin của Hoa Kỳ và một số tổ chức khác ở nước ngoài”.
Ông Vũ Quý Hạo Nhiên, Tổng thư ký tờ Người Việt ở Nam California, Hoa Kỳ, nêu nhận xét của ông về những tuyên bố của các viên chức chính quyền Việt Nam:
“Có sự khác nhau giữa những điều mà hai ông tướng nêu ra với những điều mà ông Lê Dũng nói. Ông Lê Dũng là phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao cho nên biết rằng không thể dùng những điều các ông tướng đã nói để thuyết phục những nước tôn trọng tự do ngôn luận.
Ví dụ như mấy ông tướng thì nói rằng luật sư Lê Công Định vi phạm pháp luật Việt Nam vì biên soạn hàng chục tài liệu đăng tải ở nước ngoài, kêu gọi lập chế độ đa đảng, lợi dụng các vấn đề xã hội để kích động chống Đảng – Nhà nước, lợi dụng vấn đề Tây Nguyên, lợi dụng vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa để chống đối nhà nước...
Hai ông tướng nói được tất cả những điều đó vì họ là Công an. Đó là ý của họ. Họ bắt ông Định vì những lý do đó. Thế nhưng nói như vậy với ngoại quốc thì họ biết tỏng là không tôn trọng tự do ngôn luận, thành ra khi phát ngôn với báo chí ngoại quốc, ông Lê Dũng nói tránh đi. Không nhắc đến chuyện nào trong những chuyện hai ông tướng đã nêu ra mà chỉ nói là ông Lê Công Định cấu kết với thế lực bên ngoài.
Như vậy những lời tuyên bố của mấy ông tướng có giá trị gì không? Nó rất có giá trị ở chỗ nó cho biết lý do thật mà nhà nước bắt ông Định. Tự do ngôn luận, chuyện tôn trọng hiến pháp hoàn toàn là không đáng gì cả!”
Sau đó ít lâu, người ta thấy hệ thống truyền hình Việt Nam phát các đoạn băng ghi cảnh ông Trần Huỳnh Duy Thức, ông Nguyễn Tiến Trung, ông Lê Công Định, ông Trần Anh Kim thừa nhận mình có tội.
Tháng 11 năm ngoái, người ta được biết thêm là cơ quan điều tra đã “Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can”, chuyển tội danh của cả năm ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, từ “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” (mức hình phạt cao nhất là 20 năm), thành “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (mức hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình).
Tuy cùng là bị can trong một vụ án nhưng cuối tháng trước, ông Trần Anh Kim được đưa ra xét xử riêng. Dù hội đồng xét xử nhận định rằng, ông Kim “cấu kết chặt chẽ giữa các cá nhân và tổ chức chống đối, có sự móc nối với bọn phản động người Việt lưu vong thù địch ở nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và dù ông Kim bị truy tố theo khoản 1 điều 79, vốn có khung hình phạt “từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” nhưng họ chỉ phạt ông Kim 5 năm 6 tháng tù.
Phần còn lại của vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” thì sao? Trong bài viết tới, chúng tôi sẽ tiếp tục tổng hợp và tường trình những vấn đề có liên quan đến các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Lê Thăng Long.
MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ NHỮNG VỤ ĐÀN ÁP
Clinton: 'VN nên đối thoại với blogger'
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton nói chính phủ Việt Nam nên đối thoại và tranh luận với những người chỉ trích qua mạng internet, thay vì bỏ tù họ.
Bà Clinton nói Việt Nam nên đối thoại với những ai chỉ trích
Bà nhắc đến Việt Nam trong Bấm bài diễn văn về tự do Internet, mà nhắm chủ yếu đến tranh cãi quanh Google ở Trung Quốc.
Trong diễn văn tại bảo tàng báo chí Newseum ở Washington hôm 21/01, ngoại trưởng Mỹ nói tại Việt Nam, "việc tiếp cận các trang mạng xã hội phổ biến đột nhiên biến mất".
Bà chỉ trích các nước "gồm cả Việt Nam và Trung Quốc" đã có những chiến thuật hạn chế việc xem thông tin về tôn giáo.
Sau đó, trong phần trả lời câu hỏi, ông Nguyễn Đình Thắng từ tổ chức BPSOS chuyên trợ giúp người tị nạn, hỏi bà ngoại trưởng sẽ làm gì khi Việt Nam vừa mới xử bốn nhà đối kháng, với mức án cao nhất 16 năm (Trần Huỳnh Duy Thức).
Bà Clinton nói: "Chúng tôi đã công khai phản đối việc bắt giữ, kết tội và cầm tù không chỉ các blogger ở Việt Nam, mà cả một số nhà sư Phật giáo và những người bị sách nhiễu." "Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ...nâng cao mức sống của người dân. Và họ không nên lo ngại những bình luận trong nước. Tôi muốn thấy có thêm các chính phủ tranh luận nếu họ không đồng ý với điều mà một blogger hay trang web đang nói."
"Hãy giải thích những gì anh đang làm. Đưa ra thông tin phản bác. Chỉ ra những khiếm khuyết trong quan điểm của blogger."
Bà nói bà "hy vọng Việt Nam sẽ đi theo hướng đó, vì tôi nghĩ nó tương thích với tiến bộ mà chúng tôi chứng kiến tại đó mấy năm qua."
EU phản ứng
Hôm 20/01, Bấm Tòa sơ thẩm TP Hồ Chí Minh vừa tuyên án từ 5 năm tới 16 năm tù giam, thêm từ 3 tới 5 năm quản chế tại gia cho bốn nhân vật bất đồng chính kiến.
Những người này bị xử tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo Điều 79 Bộ Luật Hình sự.
Ông Lê Công Định và Lê Thăng Long lãnh án tù 5 năm và ông Bấm Nguyễn Tiến Trung nhận án 7 năm. Cả ba ông đều sẽ bị quản chế tại gia thêm ba năm sau khi mãn án.
Ông Bấm Trần Huỳnh Duy Thức bị án 16 năm tù giam và 5 năm quản chế.
Bấm Anh quốc và Hoa Kỳ đã ra tuyên bố phản đối vụ xử này.
Liên hiệp châu Âu (EU) cũng có thông cáo nói việc kết án "không phù hợp với quyền căn bản của mọi người được có ý kiến và tự do bày tỏ chúng trong hòa bình."
EU nói sự nghiêm trọng của mức án, đặc biệt là 16 năm tù cho ông Duy Thức, là "chưa từng có trong những năm gần đây".
Phiên tòa và phán quyết là một bước thụt lùi lớn và đáng tiếc cho Việt Nam.
Thông cáo của EU
"Phiên tòa và phán quyết là một bước thụt lùi lớn và đáng tiếc cho Việt Nam. Sự quý trọng của cộng đồng quốc tế và tiến bộ kinh tế lâu dài không thể duy trì nếu sự tự do biểu lộ, đặc biệt là trao đổi và phát triển tư tưởng về những vấn đề quan trọng cho nhân dân và đất nước, bị bóp nghẹt."
"Việc tiến hành xử án cũng gây lo ngại: gia đình những bị can không được phép vào chính tòa; hệ thống âm thanh cho người quan sát ở phòng gần bên không tốt; và những cáo buộc nghiêm trọng của hai trong bốn người nói rằng họ bị sức ép hay sách nhiễu trong quá trình điều tra đã không được Tòa lưu ý."
EU nói họ "nhắc lại thiện chí vững chắc và ủng hộ Việ Nam và sẵn sàng tiếp tục là đối tác với Việt Nam".
"Tuy nhiên, xu hướng tiêu cực thể hiện qua việc tuyên án này và những lần khác gần đây, cần bị đảo ngược để tiềm năng của Việt Nam trong mọi lĩnh vực, cả xã hội và kinh tế, được thành hiện thực."
Cập nhật:Bấm Đọc về phản ứng của các công ty quanh tuyên bố về Trung Quốc của bà Clinton.
| | | |
KINH DOANH QUYỀN CHỨC TRONG CƠ CHẾ CSVN
"Kinh doanh" quyền chức - Một hiện tượng đáng lo ngại Mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.
LTS: Chuyện "chạy chức chạy quyền" xảy ra lâu nay ở một số nơi đã khiến không ít nhà lãnh đạo cũng như người dân quan tâm, lo lắng, thậm chí trở thành đề tài chất vấn tại Diễn đàn Quốc hội. Đây là một hiện tượng không phổ biến song rất đáng lo ngại và cần được đấu tranh loại trừ.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều bày tỏ góc nhìn riêng về hiện tượng này.
Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi.
Không phải ngẫu nhiên mà dân gian xì xào với nhau, "kinh doanh" quyền chức là thứ kinh doanh mau lãi nhất.
Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn đề gây đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn đề này.
Ai cũng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.
Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.
Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...
Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?
Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?
Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...
Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.
Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.
Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.
Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.
Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.
Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.
Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.
Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.
Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?
HÀ NỘI TÍNH KIỂM SÓAT GIÁ THỊ TRƯỜNG CÙNG LÚC ĐÀN ÁP CHÍNH TRỊ
James Hookway (WSJ), nvtncs lược dịch
HÀ NỘI -- Đi ngược hẳng lại khuynh hướng mở cửa (thị trường và xã hội) Việt Nam đang xét lại việc kiểm soát giá thị trường của một loạt sản phẩm đồng thời tiếp tục đàn áp một số hoạt động cá nhân và chính trị.
Các doanh nghiệp nước ngoài lo lắng về sự đe dọa của kiểm soát giá cả, một điều mà nhiều nhà phân tích coi như một chuẩn hiệu của chủ nghĩa Marx trong quá khứ của Việt Nam. Việc này xẩy ra vào tháng trước, sau khi chính quyền cấm người dân truy cập vào các trang mạng như Facebook và Twitter, sau trường hợp bắt giữ (rồi thả) một số blogger chỉ trích chính phủ. Tháng mười vừa rồi, chín người bị trừng phạt nặng nề vì kêu gọi những cuộc biểu tình dân chủ.
Carlyle Thayer, một quan sát viên tình hình Việt Nam kỳ cựu và giáo sư tại Học viện Quốc phòng Úc ở Canberra, nói rằng phe bảo thủ trong Bộ Chính trị đang giữ chặt quyền lực, kiểm soát gắt gao tình hình tại Việt Nam, khi nền kinh tế của Việt Nam đang cơn khung hoảng, đặc biệt là lạm phát và hậu quả của sự giảm giá tiền tệ, càng ngày càng gia tăng. Ông Thayer nghĩ sẽ còn nhiều sự đàn áp và bắt giữ từ giờ đến lúc Đại hội Đảng, năm 2011, một sự kiện chính trị lớn nhằm mục đích để vạch rõ các định hướng chính trị và kinh tế của Việt Nam trong năm năm tới.
Kết quả, đàn áp chính trị đe dọa giảm bớt số đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Trong nhiều năm qua, các nhà tài trợ và giới đầu tư nước ngoài hy vọng sự tăng trưởng nhanh chóng sẽ đưa đến nhiều tranh luận chính trị và nền kinh tế ở đây tự do hơn sẽ xác định vị trí đất một nước có một nền kinh tế mới, năng động nhất châu Á và một móc nối quan trọng trong chuỗi cung cấp (hàng hoá) toàn cầu.
Đó là những gì đã xảy ra ở một số nước phát triển nhanh chóng khác trong khu vực. Trong hai mươi năm 1980 và 1990, các nền kinh tế lớn mạnh lên của Hàn Quốc và Đài Loan đã giúp phong trào dân chủ thắng những chế độ dựa vào quân đội.
Nhưng ở Việt Nam, tập đoàn lãnh đạo chọn đường lối mở rộng nhanh chóng một nền kinh tế trị giá $100 tỷ của đất nước nhưng lại không gây cơ hội để người dân đòi hỏi có nhiều tự do hơn.
Theo các tài liệu The Wall Street Journal đã tham khảo, và được chính phủ Việt Nam xác nhận, hiện giờ, đơn vị kiểm soát giá cả của Bộ Tài chính soạn thảo các đề nghị, nếu được chính phủ thực hiện, sẽ buộc tư nhân và các công ty ngoại quốc phải báo cáo cơ cấu giá cả.
Trong một số trường hợp, các quy tắc được đề xuất sẽ cho phép chính phủ định giá cả trên một loạt hàng hoá do hãng tư sản xuất hoặc nhập khẩu, gồm sản phẩm xăng dầu, phân bón và sữa để giúp chặn lạm phát trong khi Việt Nam vẫn tiếp tục bơm tiền vào một nền kinh tế thiếu kiên định. Thông thường, chính phủ chỉ áp dụng hình thức này, biện pháp mạnh này với các doanh nghiệp nhà nước, nhưng người ta chưa biết rõ Việt Nam sẽ ghi các quy tắc này vào pháp luật hay không.
Myron Brilliant, phó chủ tịch thứ nhất phụ trách quốc tế vụ tại Phòng Thương mại Hoa Kỳ ở Washington, đã viết cho quan chức Việt Nam, trong một bức thư ngày 15 tháng 12, The Wall Street Journal được biết, nói rằng kế hoạch của nhà nước Việt Nam sẽ “là một sự trở ngại cho việc đầu tư trực tiếp mới ở Việt Nam.”
Công dân Việt Nam, trong khi đó, đã phải mất một số quyền tự do chính trị và xã hội họ được hưởng trước kia, trong khi các nhà lãnh đạo cộng sản gặp khó khăn với một số vấn nạn như giảm giá tiền tệ và sự lạm phát ngày càng trầm trọng.
Các nhà ngoại giao lên tiếng với lãnh đạo Việt Nam sự quan tâm của họ về việc nhà nước ngăn cản truy cập mạng (internet). “Đây không phải là chuyện thanh thiếu niên tán gẫu trực tuyến,” Đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak đã nói với một hội nghị các nhà tài trợ ngày 3 tháng 12. “Mà là vấn đề quyền của người dân được giao tiếp với nhau và làm kinh doanh.”
Đại sứ Thụy Điển Rolf Bergman, thay mặt cho Liên minh châu Âu tại hội nghị đó, kêu gọi Việt Nam “xoá bỏ tất cả các hạn chế trên mạng (Internet).”
Quan chức chính phủ Việt Nam cũng chưa đáp ứng sự yêu cầu cho ý kiến, ngoại trừ việc xác nhận sự hiện hữu của dự thảo kế hoạch kiểm soát giá cả.
Trước đây, các nền kinh tế mới phát triển đã đảo ngược đường lối trong những thời gian khủng hoảng. Những nước láng giềng như Mã Lai và Thái Lan đã sử dụng sự kiểm soát vốn để ổn định tiền tệ, trong khi quyết định pháp lý bất ngờ là một mối rủi ro thường xuyên của việc kinh doanh tại các nước như Nam Dương và Phi Luật Tân.
Việt Nam, với dân số 86 triệu người, được nhiều nhà kinh tế coi là một đặt cược ít rủi ro chính trị. Các nhà phân tích coi tình hình mở mang kinh tế Việt Nam như một “Trung Quốc mới”, và những công ty lớn quốc tế từ Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, như Ford Motor Co, Microsoft và Intel Corp, đã lập cơ xưởng hoạt động ở đó. Hiện giờ, hồ sơ nhân quyền ở Việt Nam trở nên trầm trọng hơn, khiến một số đối tác thương mại quan trọng, không còn miễn cưỡng, lên án nhà nước Việt Nam, một phần vì họ lo lắng rằng chỉ trích của quốc tế tăng có thể làm cho việc mở rộng quan hệ thương mại ở đây khó khăn hơn.
Nhiều nhà kinh tế và các nhà phân tích nói rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam hoang mang khi thấy nền kinh tế nhanh chóng lảo đảo từ tăng vọt đến phá sản và ngược lại, và đang dùng các biện pháp chính trị và kinh tế quyết liệt để khôi phục lại sự kiểm soát của họ trên cả nước. Một nhà phân tích có cơ sở lâu dài ở Việt Nam nhận xét rằng những thăng trầm gần đây của nền kinh tế, làm “chấn động sự tự tin của nhà cầm quyền trong ý niệm rằng cải cách kinh tế và mở cửa tự nhiên phải là điều tốt.”
Sự tương phản với khuynh hướng kinh tế trước kia, một khuynh hướng đã giúp xác định thuật ngữ “thị trường đi tiên phong” trong giới đầu tư, nổi bật rõ ràng. Trong những năm dẫn đến việc Việt Nam nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007, Bộ Chính trị đã cố gắng đưa bộ mặt tốt nhất của nhà nước Việt Nam ra với thế giới bằng cách bổ nhiệm một nhà cải cách kinh tế, Nguyễn Tấn Dũng, làm Thủ tướng. Họ khuyến khích giới truyền thông địa phương vạch trần những sự tham nhũng và gian lận, trong khi những người bất đồng chính kiến được cho phép hoạt động hạn chế để chỉ trích hệ thống chính trị độc đảng của Việt Nam. Các giáo phái được phép tu tập theo tôn giáo của họ một cách tự do hơn.
Cùng lúc, nền kinh tế nhanh chóng mở rộng, với các công ty quốc tế lũ lượt kéo để đến tận dụng lợi thế giá thấp của lao động và đất đai ở Việt Nam. Phần lớn những tiến triển về kinh tế vẫn còn nguyên vẹn. Ngân hàng Thế giới dự kiến nền kinh tế của Việt Nam sẽ tăng 5,5% trong năm 2009. Đó là một thành quả tốt hơn nhiều nước láng giềng. Các nhà kinh tế như Ayumi Konishi, Giám đốc tại Việt Nam của Ngân hàng Phát triển châu Á, nói rằng triển vọng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tốt đẹp.
Tuy nhiên, Ngân hàng Thế giới dự báo tăng trưởng của Việt Nam kém hơn 8+% như đã trông mong. Sự gia tăng thâm hụt thương mại và ngân sách đã buộc chính phủ phải phá giá tiền tệ Việt Nam ba lần kể từ tháng sáu năm 2008, gần đây nhất, trong tháng mười một, đồng bạc Việt Nam giảm giá thêm 5%. Điều đó gây lo ngại lạm phát tăng cao, khiến nhiều người Việt Nam tranh giành lưu trữ tài sản của họ bằng vàng hoặc đô la. Giáo sư Thayer, của Học viện Quốc phòng Australia, và các nhà phân tích khác lưu ý rằng các nhà lãnh đạo như Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, và Tổng Cục trưởng Tổng Cục 2 Nguyễn Chí Vịnh, đã trở nên ngày càng có uy thế khi kinh tế của Việt Nam đã bắt đầu có vấn đề từ năm ngoái, trong khi ảnh hưởng của thủ tướng Dũng, người theo khuynh hướng cải cách, đang phai mờ. Người ta nghĩ rằng ông Rứa không tin tưởng ở thị trường tự do tư bản và có ý chống lại sự chuyển đổi của đất nước hướng tới một nền kinh tế cởi mở hơn. Nhiều cố gắng để gặp ông Rứa đã không có kết quả.
Đồng thời, các nhà phân tích nói chính các nhà hoạch định chính sách kinh tế cũng có một thái độ rất bảo thủ, và nhận xét Việt Nam đã ngừng cải cách kinh tế trước đó, đáng chú ý là trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1990. Các giới quen thuộc với vấn đề kiểm soát giá cả, nói rằng một số cơ quan ngoại giao, trong đó có Mỹ, đã lên tiếng về vấn đề kiểm soát giá với Việt Nam. Quan chức sứ quán Mỹ tại Hà Nội chưa lập tức đáp ứng sự yêu cầu bình luận.
Giới thiệt thòi nhiều nhất trong sự thụt lùi trở lại quá khứ, là những người bất đồng chính kiến, các nhà báo và bloggers. Một số bloggers và một số người hoạt động dân chủ bị giam giữ vì những bài họ viết chỉ trích việc nhà nước khuyến khích các công ty Trung Quốc khai thác mỏ quặng nhôm của Việt Nam ở trung nguyên. Kế hoạch khai thác mỏ đã trở thành một cột thu lôi cho các nhóm bất đồng chính kiến ở Việt Nam, trong đó có tướng Võ Nguyên Giáp, người đã lãnh đạo quân đội Việt chống quân đội Pháp và Mỹ trong những năm 1950, năm 60 và 70.
Một số người bị bắt đã được phóng thích sau khi hứa không nêu lên các vấn đề chính trị nữa, nhưng luật sư Lê Công Định đã bị bắt vào tháng Sáu vì việc bào chữa cho các người hoạt động chống chính phủ.
Sáu người đã bị kết án vào ngày 9 Tháng Mười, bị cáo buộc “tuyên truyền chống lại nhà nước,” vì đòi hỏi bầu cử đa đảng bằng những động thái công khai, như treo biểu ngữ (băng rôn) trên cầu, và qua mạng intenet. Một trong sáu người bị kết án là Nguyễn Xuân Nghĩa, một người viết tiểu thuyết nổi tiếng, .
Vào ngày 7 tháng 10, ba người khác bị tống giam cũng vì những “tội” kể trên, một hành động của nhà nước Việt Nam mà sứ quán Mỹ, trong một tuyên bố, nói rằng rất đáng “lo ngại.”
| | | |
NGỮNG NGÀY CUỐI NĂM
Trần Khải
Như thế là sắp qua một năm của quá nhiều sóng gió, nhiều mệt mỏi, và của quá nhiều bước lùi dân chủ. Năm 2009 sắp qua, và năm 2010 sẽ tới trong vài ngày tới. Đất nước rồi sẽ ra sao nếu không thể chuyển biến tốt hơn?
Nổi bật về phương diện tôn giáo trong năm 2009 là hiện tượng công an hỗ trợ du côn trấn áp, xua đuổi 400 tăng ni sinh Làng Mai, phảỉ bỏ chạy khỏi Tu Viện Bát Nhã, để về Chùa Phước Huệ tạm lánh, nhưng lệnh ra hạn chót là ngày 31-12-2009 nhóm gần 200 tăng ni sinh Làng Mai tạm trú nơi đây phaỉ ra đi tiếp. Nhưng đi đâu thì chưa ai biết. Không lẽ về lại đời thường ở điạ phương?
Một kỷ lục mới là thành quả của Tin Lành nhiều hệ pháí, khi tổ chức chung một buổi Thánh Lễ ngoài trời trứơc Giáng Sinh ở một sân bóng đá thuôc quận Gò Vấp, Saà Gòn, với 40,000 người tham dự, và trong đó tới 8,000 người bước lên tuyên xưng Đức Tin để làm nghi thức tân tòng. Buổi lễ trực tuyến qua nhiều mạng Internet toàn cầu, với tại sân bóng có tới 28 máy chủ để truyền đạt thông tin.
Một tuần sau, một buổi lễ tương tự cho Tin Lành thực hiện ở sân Mỹ Đỉnh, Hà Nội, với 12,000 tín hữu. Nhuũng con số tham dự thánh lễ ngoaì trời của tín đồ Tin Lành Sài Gòn và Hà Nội đều là kỷ lục.
Cần ghi nhận, chính phủ CSVN rất do dự khi cấp giấy phép cho Tin Lành tụ họp ngoaì trời: tại Sài Gòn, nhiều mục sư phải cắm lều ở ngoaà Tòa Đô Chính 3 ngày mới đươc giấy, vừa 48 giờø đồng hồ trước khi làm lễ. Tại Hà Nôäi, tín đồ quỳ ngoaì hè phố, trước sân Mỹ Đình nhiều đêm để cầu nguyện xin giấy phép.
Trường hợp Công Giáo, như thế là bắt đầu Năm Thánh 2010, sau Lễ Khai Mạc Năm Thánh tại Hà Nội, là hy vọng về cải thiện bang giao giữa VN và Vatican. Nhưng Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết rời Vatican về Hà Nội, vẫn không có tin gì khích lệ về bang giao, trong khi các tranh chấp về đất vẫn còn nguyên trạng. Chỉ trừ trường hợp Thánh Địa La Vang, nơi được tin là đã có giấy phép đầu tư 25 triệu đô xây thành nơi tiếp đón khách hàng hương tầm cỡ quốc tế.
Một tin ngay trong tuần lễ cuối của năm 2009: cựu trung tá Trần Anh Kim bị kêu án 5 năm rưỡõi tù giam, cộng 3 năm quản chế về hoạt động “âm mưu lật đổ chính phủ.” Ông Trần Anh Kim vừa hoạt động trong Đảng Dân Chủ, vừa trong Khối 8406. Và bản án này là quá nặng và phi lý. Quá nặng vì hoạt động của ông Trần Anh Kim không có gì nguy hiểm đôi với an nguy của chế độ. Phi lý, vì đó chỉ là các hoạt động ôn hòa để đòi hỏi dân chủ, nhân quyền.
Năm 2009 cũng là năm vui như hội, với các màn giễu trên sân khấu quốc tế của Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, và được các băng hình video phóng lên mạng YouTube.com. Trong đó, ông Triết tuyên bố rằng Cuba và VN là 2 nước anh em canh giữ hòa bình thế giới, rằng khi Cuba ngủ thì VN gác, khi VN nghỉ thì Cuba canh giữ.
Hay là khi ông Triết nói về lý do tham nhũng chỉ vì thấy quỹ dư thì “mượn tí, mượn rồi không thấy ai đòi, nên mới mượn thêm...”
Hay là khi ông Triết làm “phân hóa nội bộ chính phủ Obama.”
Tệ hại cũng hiển lộ là khi tin tặc (không rõ, nhưng ai cũng nghi ngờ và đoán là phải có nguồn từ Hà Nội) đánh phá các mạng Talawas.org và http://bauxitevn. info -- hai mạng được giới trí thức trong nước ưa chuộng và quan sát. Tin tặc là ai? Có phải là “kẻ lạ” hay “kẻ quen”? Ai muốn bịt miệng trí thức VN? Và khi đánh phá như thế, thì độc giả vào đọc bauxitevn.info lại tăng vọt, theo ghi nhận của nhà báo Bùi Tín.
Một chuyện bất ngờ mới đọc thấy hôm Thứ Hai 28-12-2009. Đó là một cuốn Danh Nhântừ Điển in ở VN lại ghi rằng chính ông Hồ Chí Minh đã bán cụ Phạn Bội Châu cho thực dân Pháp.
Bản tin nhan đề: “Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển (Nxb Văn Học): Lý Thụy đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp?” đăng ở mạng X-Cafevn (http://www.x- cafevn.org/ node/2524) hôm 29-12-2009, viết:
“Chúng tôi vừa nhận được vài thông tin của một bạn đọc giấu tên, liên quan đến cuốn Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển của tác giả Trịnh Vân Thanh (Trịnh Chuyết). Sách được Nhà Xuất bản Văn học xuất bản năm 2008. Các bạn có thể xem chi tiết giới thiệu về cuốn sách ở trang Sachhay.com.
Vị độc giả đã chỉ ra rằng ở trang 742, trong mục nói về Phan Bội Châu, các nhà soạn sách đã viết việc Phan Bội Châu bị bắt như sau:
Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức "Toàn thế giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc", nhưng sau đó Lý Thuỵ và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:
1 - Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.
2 - Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân. Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh trong giai đoạn ấy có bí danh là Lý Thụy. Và như thế, căn cứ vào cuốn tự điển này, chính Hồ Chí Minh đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp với những lý do đã nêu trên. Đến nay, vẫn có nhiều tranh cãi trong giới quan tâm về sử Việt về tính xác thực chung quanh sự kiện này...”
Độc giả quan tâm có thể vào xem các bức ảnh chụp trên mạng vừa nói để tham khảo.
Xin đưa tiễn năm 2009 với tất cả những ngậm ngùi, thương tiếc cho những điều tốt đẹp bị vùi dập. Và nơi đây xin chuẩn bị đón năm mới 2010 với nhiều hy vọng, rằng cái thiện tất sẽ thắng cái ác, như lời nhà giáo Phạm Toàn nói trên đài Pháp Quốc RFI hôm Thứ Hai.
Thời gian -- ngày và tháng và năm -- rồi sẽ qua đi. Nhưng tấm lòng chắc chắn rồi sẽ ở lại với lịch sử.
TRẦN KHẢI
HẠN CHÓT 31/12: TĂNG NHÂN BÁT NHÃ PHẢI GIẢI TÁN
Tăng thân Bát Nhã rời chùa Phước Huệ trước thời hạn 31/12 RFA 29.12.2009 http://www.rfa. org/vietnamese/ in_depth/ all-prajna- monks-left- PhuocHue- pagoda-ahead- of-time-TTruc- 12292009151333. html
Tính đến hết ngày 29/12, hầu hết tăng sinh Bát Nhã, đang nương náu tại chùa Phước Huệ, đã lần lượt rời chùa trước thời hạn mà họ phải ra đi. Bị trục xuất khỏi tu viện Bát Nhã, các tăng thân phải vào tá túc ở Chủa Phước Huệ, nay lại phải giải tán theo lệnh của chính quyền.
Thời hạn chót
Theo văn bản mà viện chủ chùa Phứơc Huệ, thượng tọa Thích Thái Thuận, đã ký dưới áp lực của chính quyền cùng những ngừơi tự xưng là Phật tử tại Bảo Lộc, thì hạn chót cho các tăng sinh Bát Nhã phải ra khỏi chùa Phứơc Huệ là ngày 31 tháng 12 này.
Tối thứ Ba ngày 29, một tăng sinh Bát Nhã, sư chú Pháp Cầu, cho biết để tránh mọi phiền phức cho thượng tọa Thích Thái Thuận mà họ tôn kính gọi bằng ôn, đã che chở tăng thân từ tháng Chín đến giờ, mọi ngừơi đã lần lượt kẻ trứơc người sau từ giã chùa Phước Huệ: “Theo thời hạn 31 là phải rời chùa Phứơc Huệ, nhưng mà hôm nay là 29 thì hầu hết các thầy các sư cô tu theo pháp môn Làng Mai đã rời đi hết.”
Thầy Pháp Cầu kể là công an phường có nhắc nhở chùa Phứơc Huệ về việc thực hiện cam kết để cho các tăng thân ra khỏi chùa: “Thì họ qua hỏi thăm và nhắc nhở để coi mình đi như thế nào. Họ chỉ quan sát chứ không có làm gì hơn.”
Với câu hỏi tăng thân đi khỏi chùa trong tinh thần như thế nào, có dự tính gì cho tương lai, sư chú Pháp Cầu bày tỏ nỗi buồn của tăng chúng:
“Tăng thân cũng tổ chức để mọi ngừơi làm sao có thể về lại địa phương của mình từ từ, đi bằng những phương tiện công cộng. Có ngừơi thì phải về nhà, có ngừơi đang cố gắng tìm một cái chùa quen biết nào đó, xin tạm ở một thời gian, cũng không rõ là như thế nào nhưng trứơc mắt là như vậy.
Với cố gắng nổ lực của bản thân mà thực sự mọi ngừơi trong lòng cũng cảm thấy một nỗi niềm, chưa biết dùng từ gì hơn là cái gì đó rất là bất lực. Vì đã được tu học và chung sống trong một cộng đồng hài hoà trong một thời gian tuy không dài lắm nhưng đã tạo nên phẩm chất tu học và tình huynh đệ, cảm thấy đó là con đường đẹp mà ngày hôm nay thì không tiếp tục được lý tưởng đó. Trong lòng có những cái rất buồn.”
Đi về đâu?
Vào lúc khuya ngày 29/12, viện chủ chùa Phứơc Huệ là Thượng tọa Thích Thái Thuận cũng xác nhận với đài Á Châu Tự Do là không còn một tăng thân Bát Nhã nào trong chùa nữa:
“Chiều tối hôm nay là họ đã đi hết rồi, giờ này là không còn ai nữa. Tôi không biết các em đi đến đâu. Tôi cũng có hỏi nhưng mà các em nói rằng “ôn cứ yên tâm, chúng con sẽ có cách để sắp xếp”.
Chính quyền địa phương áp lực các tăng sinh Bát Nhã phải rời khỏi Chùa Phước Huệ. Thượng tọa Thái Thuận nói tiếp theo chỗ ông hiểu thì trong các tăng thân rời chùa có ngừơi về nhà, có ngừơi đi về những nơi có đoàn thể tăng thân như chùa Từ Hiếu hoặc một vài nơi ở Sài Gòn.
Không dấu được nỗi xúc động trứơc sự ra đi của các tu sĩ trẻ mà ông đã cho nương náu trong chùa một thời gian, vị viện chủ chùa Phứơc Huệ trình bày tiếp:
“Tất nhiên mình cũng có những cái lo lắng cho họ. Thật sự ra tiền bạc thì chẳng có gì cả , chỉ như là cái tình cho họ mua kẹo ăn mà thôi. Họ đi thì mình cũng thương vì không biết những nơi đến có được cái chiều hướng tu tập như sự mong ứơc của các em.
Chính vì vậy cho nên chúng tôi cũng đang lo họ đi như thế nào và cái hạnh nguyện của họ có những kết quả khi họ về nhà không. Tôi cũng biết có những ngừơi mà khi họ về nhà để làm giấy tờ ví dụ như làm giấy tờ này kia thì mặc dù là địa phương cũng có làm nhưng mà họ lại chưa?
Hoặc tôi cũng có biết là có một số vị có về để làm hộ chiếu hầu được đến một nơi nào... qua bên kia... có cái nơi mà để cho họ tu tập đó. Có một số thì được nhưng mà có một số thì cũng chưa được.”
Khi được hỏi tới là điều ông vừa trình bày phải chăng liên quan đến việc các tăng thân Làng Mai ở Paris đang vận động tổng thống cũng như chính phủ Pháp chấp thuận cho các tu sĩ trẻ của Bát Nhã được qua tạm cư tại Pháp một thời gain, Thượng tọa Thích Thái Thuận trả lời:
“Họ cũng mong muốn như vậy, nhưng mà tôi được nghe là khi về địa phương cũng có những ngừơi đã đi làm giấy tờ nhưng cũng chưa xin được.”
Tưởng cần nhắc hôm thứ Hai ngày 18, các tăng thân của Trung Tâm Làng Mai ở Paris đã cùng đại diện tăng thân Bát Nhã ở Việt Nam tới điện Elysee, trình thỉnh nguyện thư lên Tổng thống Nicolas Sarkozy, yêu cầu cho các tăng sinh Bát Nhã đang gặp nạn được qua tạm cư tại Pháp hầu có thể tiếp tục con đừơng tu học.
Từ Paris, sư cô Elizabeth Giác Nghiêm, cho biết nếu được cấp visa tạm trú, các tăng sinh Bát Nhã sẽ qua nương náu tại Trung Tâm Làng Mai ở Paris trong một thời gian và chính phủ sở tại không phải lo lắng cưu mang họ về mặt đời sống.
Vẫn lời sư cô Elizabeth Giác Nghiêm, dù gặp khó khăn bên Việt Nam nhưng các tu sinh Bát Nhã không có ý muốn xin tị nạn tại Pháp, họ sẽ trở về nếu được chính phủ Việt Nam cho họ được cùng nhau tu học tại quê nhà.
TẤN CÔNG THÁNH THẤT CAO ĐÀI
Thánh Thất Cao Đài tại Định Quán bị tấn công Thanh Quang, phóng viên RFA 2009-12-29
Đài Á Châu Tự Do chúng tôi vừa được tin Thánh Thất Định Quán tại Đồng Nai của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bị xã hội đen, công an, bộ đội và một số viên chức chính quyền tấn công liên tục trong mấy ngày nay. Cuộc họp giữa Chính quyền, Hội Đồng Chưởng Quản và Thánh Thất Ðịnh Quán hôm 19-11-2008.
Thanh Quang liên lạc với một chức sắc Đạo Cao Đài Chơn Truyền, ông Trần Ngọc Thuận, Chánh Trị Sự Gia Canh thuộc Thánh Thất Định Quán, để tìm hiểu tình hình này.
Hội Đồng Chưởng Quản?
Ông Trần Ngọc Thuận: Thánh Thất Định Quán của chúng tôi là đa số toàn đạo từ truớc tới nay diễn đạo thuần tuý, bây giờ coi như là phe bên Hội Đồng Chưởng Quản đương thời bây giờ đến phá cơ ngơi của chúng tôi nhiều lần, đại khái ngày 22 tháng 10 âm lịch năm rồi đó, 19 tháng 11 năm 2008 đó, thì chúng tôi đã trình bày dứt khoát, nói dứt khoát là không có hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản.
Thanh Quang: Thưa, trước khi ông trình bày tiếp thì xin ông nói rõ tại sao lại không hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản?
Ông Trần Ngọc Thuận: Không hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản là tại vì hiện nay Hội Đồng Chưởng Quản làm không đúng với lại Chơn Pháp của Đại Đạo thành thử ra họ sửa đổi tùm lum, mà Thánh Thất Định Quán chúng tôi có từ năm 1969 cho tới năm nay thì ở đây hồi trước là Văn Phòng Châu Đạo Tộc Đạo của Đồng Nai, thành thử ra họ sửa với lại những người lãnh đạo của Hội Đồng Chưởng Quản thường là không có đạo đức mấy, thành ra chúng tôi không chấp nhận.
Không hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản là tại vì hiện nay Hội Đồng Chưởng Quản làm không đúng với lại Chơn Pháp của Đại Đạo.
Có ba mặt chính quyền từ cấp tỉnh trở xuống đều chứng kiến thì họ không có làm việc được. Từ bấy lâu nay chúng tôi cứ bị hăm he hoài. Đại khái là hôm 11 tháng 11 vừa rồi Hội Đồng Chưởng Quản cho người vô kiếm chuyện gây sự đánh ông Hồng Thủ Đức. Rồi tới ngày 12 là nó viện cớ lễ tiểu tường của vị cựu chánh trị sự ở Định Quán thì bắt đầu gây sự đánh người nữa.
Liên tục bị tấn công
Thanh Quang: Thưa, ông nói trường hợp này là diễn ra vào Thứ Bảy và Chủ Nhật?
Ông Trần Ngọc Thuận: Thứ Bảy và Chủ Nhựt vừa rồi nè! Dạ, đó thành thử ra họ đánh người nhưng mà chúng tôi hoàn toàn là những người tu hành thuần tuý, mình có đạo đức. Nếu mà bây giờ lột khăn đóng áo dài mà đối phó với họ thì mình còn gì ra nét đạo, cho nên chúng tôi phải nhịn.
Trong khi nhịn đó thì anh em chúng tôi phải đổi cái giá rất đắt là tất cả đều bị đánh bị thoi hết. Trong lúc mà bức xúc quá, cùng cực quá, chúng tôi lại cầu cứu với chính quyền, thì trực tiếp chúng tôi đã tới chính quyền huyện Định Quán và chính quyền thị trấn thì người ta nói rằng Thánh Thất Định Quán của các anh từ trước tới nay tranh giành quyền lực.
Nói như vậy thì chúng tôi rất thấy là nhục nhã. Chúng tôi có tranh giành gì đâu, (chúng tôi) không chấp nhận làm theo Hội Đồng Chưởng Quản và hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản mà thôi, mà bây giờ họ dùng bạo lực, họ tới họ làm như vậy thì bước cuối cùng, phút cuối cùng mà bí quá thì chúng tôi phải nhờ tới công lý của nhà nước hiện hành. Nhưng mà chúng tôi kêu rát cổ, có cả công an huyện, trung tá công an huyện và thiếu tá công an huyện, tôi năn nỉ họ, tôi van xin họ.
Họ đánh người nhưng mà chúng tôi hoàn toàn là những người tu hành thuần tuý, mình có đạo đức, cho nên chúng tôi phải nhịn.
Chính tôi nè, là các anh can giùm việc này. Việc gì nội bộ còn có cách giải quyết ôn hoà chớ không phải là thượng tay thượng chân như thế này thì nó không có ra vẻ đạo dức, mà hơn nữa Thánh Thất Định Quán người ta nhìn vào người ta nói Thánh Thất Định Quán lúc nào cũng cãi lộn, gây lộn.
Đó, mấy bữa rày xôn xao, tôi cảm thấy nhục nhã vô cùng, thì chính quyền cũng làm ngơ. Cái này rõ ràng là chính quyền coi như là để cho họ tự động hành hung như thế. Bí quá thì chúng tôi mới nói rằng bây giờ để cho yên cái việc này thì tôi giao cái thành thất này cho chính quyền, chính quyền nói không tiếp nhận và chính quyền trả lời rằng giờ giao cho Hội Đồng Chưởng Quản.
Chúng tôi không hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản làm sao giao? Chúng tôi giao cho chính quyền rồi chính quyền giải quyết vấn đề đánh người như thế này, cái đạo đức của Hội Đồng Chưởng Quản như thế cho ra lẽ đi rồi tính sao tính, nhưng mà chính quyền cũng không nhận mà cứ để diễn biến vậy mãi cho tới cuối cùng thì bà con đồng đạo kẻ khóc người la, thì tập trung ra ngoài Thánh Thất để coi họ làm, chớ giờ chúng tôi biết nói sao bây giờ!
Thanh Quang: Ngay bây giờ thì tình hình ra sao, thưa ông?
Ông Trần Ngọc Thuận: Ngay bây giờ được sự bảo hộ của nhà nước thì bên phe Hội Đồng Chưởng Quản chiếm lấy Thánh Thất hiện tại cho nên anh em chúng tôi bây giờ đang ở nhà.
Thanh Quang: Thánh Thất Định Quán như vậy là có bị đập phá hư hại như thế nào không?
Ông Trần Ngọc Thuận: Thánh Thất trên Chánh Điện, Điện Thờ thì không có đập phá, nhưng mà ở dưới hậu điện cố tình xô xát thành thử ra rồi đập ngay cả bàn Thánh Tổ, Hiền Tổ và đập cửa của Chánh Trị Sự quyền cai quản Phòng Phước Đức, đập cửa rồi khiêng ổng lôi ra, ôm đồ dụt ra, tự động họ làm. Cuối cùng bức xúc qua, để cho nó im thì chúng tôi đành phải để cho họ tự tung tự tác chớ giờ làm sao bây giờ?
Kế hoạch ứng phó
Thanh Quang: Như vậy thì hiện các tín đồ Cao Đài ở Thánh Thất Định Quán cũng như những tín đồ chơn truyền ở các nơi khác có kế hoạch ứng phó ra sao trong thời gian có thể khó khăn săp tới hay không?
Chính quyền địa phương dường như bất lực, chúng tôi phải nhờ tới chính quyền của cấp cao hơn. Đó là bổn phận chúng tôi làm sắp tới.
Ông Trần Ngọc Thuận: Chương trình sắp tới thì bây giờ chúng tôi đã kêu réo chính quyền địa phương dường như bất lực rồi thì chúng tôi phải nhờ tới chính quyền của cấp cao hơn, thì đó là bổn phận chúng tôi làm sắp tới, nhưng mà cái công lý như thế này, hiện tại trước mắt như thế này thì cũng chưa biết ra làm sao nữa.
Thanh Quang: Như ông vừa giải thích thì chi phái Hội Đồng Chưởng Quản muốn chiếm cơ ngơi của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ?
Ông Trần Ngọc Thuận: Lý do chính là bây giờ họ muốn chiếm Thánh Thất Định Quán cũng như là họ đang chiếm Toà Thánh Tây Ninh mà từ bấy lâu nay trên báo đài các anh đều biết đó, thì Thánh Thất Định Quán bây giờ họ quyết san bằng cho bằng được, họ quyết chiếm cho bằng được Thánh Thất Định Quán cho nên bất cứ một thủ đoạn nào họ cũng có thể làm được hết .
Thanh Quang: Thưa, nhân đây ông có muốn lên tiếng gì thêm nữa với công luận trong và ngoài nước?
Ông Trần Ngọc Thuận: Bây giờ chúng tôi là dạng thấp cổ bé miệng, chúng tôi giống như con côi lạc mẹ vậy, yêu cầu tất cả đồng đạo khắp nơi ủng hộ tinh thần chúng tôi và giúp đỡ chúng tôi để mà giữ gìn chơn truyền cũng như vật chất.
Thanh Quang: Cảm ơn ông Trần Ngọc Thuận, Chánh Trị Sự Gia Canh thuộc Thánh Thất Định Quán. | | | |
ĐẦU TƯ NƯỚC NGÒAI VÀO VN GIẢM MẠNH
Đầu tư nước ngoài vào VN giảm mạnh http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2009/12/091228_vietfdilow.shtml
Lượng đầu tư năm 2009 giảm mạnh do khủng hoảng kinh tế thế giới
Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho hay lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký cả năm 2009 là 21,48 tỷ đôla, chỉ bằng 30% năm 2008.
Lượng vốn thực hiện đạt 10 tỷ đôla.
Năm 2008, tổng vốn FDI vào Việt Nam là 64,011 tỷ đôla.
Tuy nhiên, tổng lượng xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài năm 2009 đạt 29,9 tỷ đôla, giảm chưa đầy 14% so với năm 2008. Cả năm, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 5,03 tỷ đôla.
Nguyên nhân chính cho việc sụt giảm được đánh giá là do khủng hoảng kinh tế thế giới.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Đầu tư, trong năm 2009 có 839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ đôla, bằng 24,6% năm 2008.
Số còn lại là vốn đăng ký tăng thêm, gần bằng năm ngoái.
Các lĩnh vực thu hút đầu tư lớn nhất là nhà hàng-khách sạn với 32 dự án mới, trị giá 4,9 tỷ đôla và 8 dự án tăng vốn với 3,8 tỷ đôla nữa.
Lĩnh vực đứng thứ hai là bất động sản với 7,6 tỷ đôla vốn cả mới đăng ký và vốn tăng thêm.
Mỹ nay đã vượt lên chiếm vị trí đầu bảng trong các nước đầu tư vào Việt Nam, với tổng vốn đăng ký là 9,8 tỷ đôla, tương đương 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.
Các tỉnh thu hút nhiều đầu tư nước ngoài nhất là Bà Rịa-Vũng Tàu (6,73 tỷ đôla), Quảng Nam (4,1 tỷ), Bình Dương (2,5 tỷ), Đồng Nai (2,36 tỷ) và Phú Yên (1,7 tỷ đôla).
NĂM 2009: GẦN 28 NGHÌN TỈ ĐỒNG THAM NHŨNG/LÃNG PHÍ
Sai phạm kinh tế 2009 gần 28 nghìn tỷ đồng RFA-12-29-2009
Thanh tra chính phủ phát hiện gần hai mươi tám nghìn tỷ đồng sai phạm kinh tế năm 2009. Đây là số liệu được công bố sáng nay tại hội nghị tổng kết ngành thanh tra năm 2009 tổ chức ở Hà Nội.
Ông Trần Văn Truyền, tổng thanh tra chính phủ, cho biết kết quả từ hai ba ngàn cho đến trên bốn chục ngàn cuộc thanh tra kinh tế xã hội toàn năm 2009 cho thấy có nhiều sai phạm.
Ông nói đoàn thanh tra chính phủ đề nghị kỷ luật hành chính đối với hơn tám trăm tập thể, trên ba ngàn cá nhân , đồng thời chuyển qua cơ quan điều tra 95 vụ sai phạm.
Vẫn theo lời ông, điều đáng chú ý là qua thanh tra về cổ phần hoá tại các bộ và tỉnh, thì nội dung sai phạm chủ yếu là những vấn đề như xác định giá trị doanh nghiệp, bán đấu giá cổ phần, quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hoá. Ông nêu rõ nhiều đơn vị không theo đúng qui định và luật lệ, gây lãng phí thất thoát tài sản nhà nước và làm thiệt hại quyền lợi người lao động .
VIỆT NAM: KINH DOANH QUYỀN CHỨC LÃI NHẤT
http://danluan. org/node/ 3773
Bài viết này được đăng trên Tuần Việt Nam, nhưng sau đó đã bị gỡ xuống...
Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức... Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi. Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.
Ai cùng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.
Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.
Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...
Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?
Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?
Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...
Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.
Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.
Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.
Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.
Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.
Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.
Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.
Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.
Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?
Theo TVNN
| | | |
THỢ TRUNG QUỐC TRÀN NGẬP VIỆT NAM
Trần Khải
Tình hình công nhân Trung Quốc tại Việt Nam đã tới mức đáng ngại: có nhiều làng bây giờ toàn là công nhân Trung Quốc cư ngụ, theo lời báo động của bà Phạm Chi Lan trên báo New York Times hôm 21-12-2009. Báo này cũng cho biết chính phủ Hà Nội bắt đầu chịu giảm làn sóng công nhân Trung Quốc tràn về phương Nam bằng biện pháp hạn chế cấp visa, nhưng cán bộ địa phương khi nhận tiền hối lộ vẫn mở cửa cho “kẻ lạ” vào đất Việt ào ạt.
Tình hình thực là đáng ngại. Thế cho nên, khi nghe tin một công ty Úc chịu vào khai thác mỏ bauxite ở Việt Nam, phản ứng đầu tiên của thính giả là sự an tâm. Cả hai đàì phát thanh VOA ởû Mỹ và RFI ở Pháp hôm Thứ Ba 22-12-2009 loan tin rằng công ty Atlantic Ltd có trụ sở tại Úc Châu cho hay công ty này đã ký kết bản ghi nhớ với Việt Nam để khai thác mỏ bauxite tại tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông.
Bản tin đàì VOA viết rằng: “công ty Atlantic sẽ phối hợp với phía Việt Nam trong công tác khai thác khoáng sản, xây dựng đường sắt nối với mỏ, và các cơ sở hạ tầng liên hệ. Đôi bên hy vọng sẽ ký kết một thỏa thuận hợp tác chính thức vào nửa đầu năm sau.
Các dự án khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên đã khơi ra nhiều quan ngại trong dư luận trong và ngoài nước về những tác hại cho môi trường-đời sống xã hội của cư dân địa phương, cũng như sự xuất hiện ngày càng nhiều các công nhân Trung Quốc tại khu vực.” (hết trích)
Thông tấn BusinessGhana thì viết rằng, theo thông báo của Atlantic Ltd., hãng này dự kiến khai thác mỏ bauxite ở VN với sản lượng hàng năm 25 triệu tấn, trong khi “tiếp cận khối lượng lên tới 1.5 tỉ tấn bauxite ở 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông.”
Điều để suy nghĩ, Đài RFI tường thuật, “Theo nhà báo Lưu Tường Quang tại Sydney, điểm đáng nói là công ty Atlantic Ltd rất nhỏ, lại không chuyên về khai thác bauxite.”
Tất cả chúng ta đều biết rằng dân số Úc rất ít, và không bao giờ cò chuyện đưa công nhân Úc sang VN làm nghề khai thác mỏ. Do vậy, khi công ty Úc sang VN, tất nhiên sẽ chỉ thuê công nhân Việt Nam, và sẽ giúp giảỉ quyết vấn đề thất nghiệp. Nhưng, từ kế hoạch vẽ ra, cho tới thực hiện như ý muoôn, cũng là cả nan đề. Thêm nữa, các công ty Trung Quôc trong khi cạnh tranh, có thể sẽ hối lộ cán bộ CSVN để chèn ép công ty Úc. Đó là điểm để quan sát.
Thực sự, khai thác bauxite chỉ là một khía cạnh để nêu ra, vì quan tâm lớn nhất của dân Việt là lo sợ ngùi Trung Quốc tràn vào chiếm đất, chiếm biển và đồng hóa -- một hiện tượng đã và đang diễn tiến ở Tây Tạng, Tân Cương.
Bài báo nhan đề “China’s Export of Labor Faces Scorn” (Xuất Cảng Lao Động của TQ Bị Coi Thường) trên tờ New York Times viết bởi Xiyun Yang và Sun Huan từ Bắc Kinh đã cho thấy nỗi lo đó của người Việt Nam.
Bài báo kể về làng Trung Sơn ở miền Bắc VN, nơi dân chúng tưởng là trúng mỏ vàng khi một hãng TQ và một hãng Nhật tới liên doanh xây một nhà máy điện chạy than. Nhiều ngàn việc làm sẽ tạo ra, theo hy vọng của người dân.
Nhưng, bài báo kể, rằng vào bốn năm sau, Nhà máy Nhiệt Điện Hải Phòng gần hoàn tất, nhưng chỉ có vài trăm người Việt là tìm được việc làm. Hầu hết công nhân là người Trung Quốc, ở nơi đỉnh cao là có tới 1,500 công nhân TQ. Bây giờ thì vẫn còn hàng trăm công nhân TQ đó oỏ lại, hàng ngày làm việc ở công trường xây cất đầy bụi. Và đêm về thì tụ tập ở các khu nhà ngủ tăm tối.
Báo NYT kể lời ông Nguyễn Thái Bằng, một thợ điện Việt Nam 29 tuổi, “Công nhân Trung Quốc đông tràn ngập so với công nhân VN ở đây.”
Tất nhiên là giới trí thức đã lên tiếng, theo bài báo NYT kể. Một luật sư (Cù Huy Hà Vũ) đã kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vì đã chấp thuận cho hãng TQ vào làm dự án khai thác mỏ bauxite.
Báo NYT còn ghi lời của bà Phạm Chi Lan, cựu Phó Giám Đốc Phòng Thương Mại và Kỹ Nghệ VN, “Bây giờ đã có những ngôi làng toàn người Trung Quốc. Chúng tôi chưa bao giờ thấy các công ty nứơc khác có kiểu cách thực hiện như thế đối với các dự án.” Ý của bà Phạm Chi Lan là, Trung Quốc là nước duy nhất trên thế giới thầu làm các dự án và đưa thợ vào tràn ngập các làng xã của nước ký kết hợp đồng.
Báo NYT kể rằng tại nơi công trường phía đông bắc thành phố Hải Phòng, một thế giới Trung Quốc đã mọc lên: 4 khu nhà ngủ có tường vây quanh, các tiệm ăn mang bảng hiệu chữ Tàu quảng cáo cơm chiên và món điểm tâm, mời gọi đổi tiền và tiệm mát-xa nữa. Thậm chí, có một bản chỉ đường viết chữ “Guangxi Road” (Đường Quảng Tây); Quảng Tây là tỉnh nhà của hầu hết các công nhân này.
Một đêm, 8 công nhân mặc đồng phục xanh ngồi ở một tiệm ăn nhỏ hẹp nguyên mở ra bởi một người từ Quảng Tây dựng theo yêu cầu của công ty thầu lại của dự án: Công Ty Xây Cất Điện Lực Quảng Tây. Mặt họ đỏ lừ vì uống rượu đế TQ. Ông Lin Dengji, 52 tuổi, nói, “Tôi được gửi tới đây. Và tôi đang thi hành bổn phận yêu nước của tôi.”
Báo NYT nhắc rằng, hồi tháng 7-2009, một cán bộ cao cấp thuộc Bộ Công An noí là có 35,000 công nhân Trung Quốc có mặt tại VN, theo lời báo Tuổi Trẻ. Con số này làm chấn động nhiều người việt.
Tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh nói, theo tờ NYT, “Sự hiện diện kinh tế của Trung Quốc tại VN thì sâu hơn, rộng hơn nhiều và lan nhanh hơn là người ta có thể nhận thấy.”
Thế đấy. Có phải triều đại nối dõi nhà Hồ này sẽ là triều vua cuối cùng của Việt Nam? Bao giờ thì công tác ngăn chận sự xâm chiếm và đồng hóa này được chính phủ Hà Nội công khai cho toàn dân ý thức, và bao giờ cuộc kháng chiến lặng lẽ cần thiết sẽ được nêu lên thành một “chủ trương lớn”?
Hay có phải, Bộ Chính Trị CSVN đã bị mua chuộc và khống chế bởi tình báo Trung Quốc? Nếu đúng như thế, việc đưa công ty Úc vào Lâm Đồng chỉ là để trình diễn thôi.
TRẦN KHẢI
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TQ GÂY BẤT BÌNH TẠI VIỆT NAM VÀ KHẮP NƠI
Tin Hà Nội - Vốn nổi tiếng thế giới về các mặt hàng giá rẻ, Trung Cộng đang ngày càng được biết đến qua việc đưa lao động giá hạ qua làm việc tại những nước họ đầu tư, trong đó có Việt Nam. Chủ trương xuất khẩu lao động này càng lúc càng gây bất bình trong cư dân địa phương nơi nhân công Trung Cộng đến làm việc. Nhật báo Mỹ New York Times số đề ngày hôm nay đã lấy thí dụ từ một công trường gần Hải Phòng để nói ề phản ứng của dư luận Việt Nam trước thực tế này. Theo ghi nhận của nhật báo Mỹ, cách đây bốn năm khi hai công ty Nhật Bản và Trung Cộng quyết định đầu tư xây dựng một nhà máy nhiệt điện tại một ngôi làng gần Hải Phòng, cư dân ở đây đã khấp khởi mừng vui vì hy vọng có thêm cả ngàn công ăn việc làm. Bốn năm sau, nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng sắp hoàn thành, nhưng số người Việt Nam làm việc cho công trình này chỉ khoảng vài trăm mà thôi, còn đa số công nhân là người Trung Cộng, mà số lượng lên đến 1500 người vào những lúc cao điểm. Một thợ điện Việt Nam ngao ngán cho biết công nhân Trung Cộng đông hơn người Việt Nam rất nhiều. Lao động Trung Cộng hiện diện ở nhiều nơi khác tại Việt Nam, với việc hàng loạt công trình do nhà thầu Trung Cộng chịu trách nhiệm chuyên sử dụng lao động Trung Cộng thay vì công nhân Việt Nam. Vụ gây chú ý nhất trong thời gian qua là công trường khai thác mỏ bauxite trên vùng Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam, đã được giao cho một công ty thuộc tập đoàn Chinalco của Trung Cộng. Tại đây nhà thầu Trung Cộng cũng du nhập công nhân của họ đến nơi làm việc. Sự kiện này đã làm dấy lên cả một làn sóng phản đối. Ngoài vấn đề môi trường, an ninh quốc gia, còn có vấn đề công ăn việc làm của người dân tại chỗ, trên nguyên tắc phải được ưu tiên thu dụng. Trước làn sóng phản đối, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã phải tìm cách trấn an, cho biết là đã xiết chặt việc cấp visa hay giấy phép lao động cho công nhân Trung Cộng. Hà Nội đồng thời cho trục xuất 182 người Trung Cộng làm việc tại một nhà máy xi măng vào tháng 6 với lý do đó là những công nhân hành nghề trái phép. Về nguyên tắc, nhà cầm quyền Việt Nam không cho phép những người lao động ngoại quốc vào làm việc trong nước, và buộc các nhà thầu nước ngoài phải thu dụng người Việt Nam cho những công việc này. Thế nhưng theo New York Times, một số viên chức điều hành các công ty Trung Cộng cho biết là chỉ cần hối lộ là mọi việc êm xuôi. Ðối với Hà Nội, sự kiện nhân công Trung Cộng đổ vào làm việc là một vấn đề tế nhị. Về mặt kinh tế, Việt Nam đang bị 10 tỷ đô la thâm thủng mậu dịch với nước láng giềng phương Bắc, và cũng cấn đến đấu tư của Trung Cộng. Thế nhưng các tập đoàn Trung Cộng khi đầu tư vào một nước nào đó, thường hay kèm theo điều kiện là phải sử dụng nhân công của họ. Ðối với những nước ít bị tình trạng thất nghiệp thì không sao, nhưng trong trường hợp của Việt Nam với cả triệu lao động mới hàng năm, thì việc nhập khẩu lao động từ Trung Cộng là một vấn đề không được công luận chấp nhận. Trong tình hình đó, phản ứng bất bình của công luận Việt Nam đối với lao động đến từ Trung Cộng là một điều dễ hiểu. Về phần mình, Bắc Kinh vẫn tiếp tục chủ trương xuất khẩu lao động kèm theo các hợp đồng đầu tư hay thỏa thuận viện trợ kinh tế.(SBTN)
Posted on 22 Dec 2009 FreeVietNews
ĐÌNH CÔNG LIÊN TIẾP TẠI VIỆT NAM
Tin Saigon - Báo chí trong nước cho biết tình hình đình công tại các tỉnh phía Nam vào thời điểm cuối năm lại bắt đầu nóng lên. Tính đến ngày hôm qua, công nhân công ty Hamlin ở thành phố Saigon đã đình công sang ngày thứ ba do bất mãn vì chất lượng bữa ăn và việc công ty không công khai đơn giá sản phẩm, mức lương tối thiểu. Ðình công cũng xảy ra ở công ty Hồng Tiến Phát, khu công nghiệp Tân Tạo, công ty thương nghiệp Hòa Tổng, Bình Dương do công nhân bị ép tăng ca. Cũng trong ngày hôm qua, hơn 750 công nhân công ty MJ Apparel 100% vốn Nam Hàn tại thành phố Biên Hòa Ðồng Nai vẫn tiếp tục đình công do công ty chỉ cho phép công nhân đi vệ sinh một ngày hai lần. Liên đoàn lao động thành phố vừa có văn bản chỉ đạo liên đoàn lao động các quận, huyện, công đoàn cơ sở tăng cường giám sát việc trả lương, thưởng cho công nhân dịp Tết nguyên đán.(SBTN)
Posted on 20 Dec 2009 FreeVietNews
DÂN ĐẬP PHÁ NHÀ MÁY XE HƠI TẠI HÀ NỘI
Tin Hà Nội - Hàng trăm nguời dân đã tụ tập đập phá một nhà máy sản xuất xe hơi của công ty Xuân Kiên tức Vinaxuki tại huyện Mê Linh, Hà Nội, vì không đồng ý mức đền bù đất. Sự việc xảy ra từ tuần trước nhưng sau vài ngày mới được báo chí đăng tải. Người dân thuộc xã Tiên Phong đã bất mãn với việc địa phương đền bù đất đai trong lúc cưỡng chế nhà của họ để mở rộng nhà máy xe hơi, đã tụ tập ngăn cản việc cưỡng chế thu hồi đất ở thôn Do Thượng. Các nhân chứng cho biết người dân đứng chật kín đường dẫn từ đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài vào xã Tiền Phong, và dùng thân cây, cột điện để ngăn chặn đường vào của xe ủi đất. Xô xát giữa Công an và dân địa phương bùng phát khi có tin hai người bị Cảnh sát đánh chết. Nhà chức trách sau đó đã bác bỏ thông tin mà họ gọi là bịa đặt này. Tuy nhiên đầu giờ chiều ngày 17 tháng 12, hàng trăm người đã ồ ạt ném gạch vào bên trong nhà máy Vinaxuki, phá tường rào và đốt khu nhà kho của công ty này. Hàng chục xe hơi bên trong bị thiêu rụi. Không chỉ nhà kho, mà một ngôi nhà bên cạnh cũng bị đốt cháy. Hiện chưa có ước tính về thiệt hại. Báo chí Cộng sản Việt Nam tung tin một số phần tử quá khích và tung tin đồn đã bị bắt tạm giam để xử phạt, và cho biết phải hai ngày sau cơ quan chức năng mới ổn định được tình hình. Tại Hà Nội trong tháng này đã từng xảy ra lộn xộn đông người. Hồi đầu tháng hàng trăm dân kéo tới đốt phá, hủy hoại tài liệu và cơ sở ủy ban Nhân dân xã tại Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc do bất bình về tăng giá điện. Tuy nhiên, đất đai cùng việc giải tỏa và đền bù là nguyên nhân dân tới nhiều vụ khiếu kiện đông người, và mất ổn định trật tự nhất ở trong nước. Hồi đầu năm khoảng 200 người đã kéo tới trụ sở xã Long Hưng huyện Long Thành tỉnh Ðồng Nai, để phản đối việc giải tỏa cho dự án đô thị sinh thái kinh tế Long Hưng. Ðám đông đã tràn vào trụ sở, chiếm toàn bộ tầng trệt, khống chế Chủ tịch và Bí thư Ðảng ủy xã, đồng thời chống lại Công an bằng gậy đá, xăng và đốt trụ sở cùng xe của Cảnh sát, và bẻ gẫy cột cờ.(SBTN)
Posted on 22 Dec 2009 FreeVietNews
| | | |
LÀM SAO BỊT THÔNG TIN TỪ TRỜI RƠI XUỐNG
Trân Văn, phóng viên đài RFA 2009-12-26
Trong vài tuần qua, tin tặc liên tục tấn công một số trang web đang thu hút rất đông người Việt ở trong và ngoài nước cùng truy cập như: Bauxite Việt Nam, Talawas, Đối Thoại...
Việt Nam tăng cường kiểm soát các cửa hàng Internet đang hoạt động trong nước.
Những website này có một điểm chung là giới thiệu những thông tin, ý kiến khác biệt với quan điểm của chính quyền Việt Nam.
Sự kiện này cho thấy hình như đang có một cuộc chiến giành và giữ quyền tự do ngôn luận trên Internet. Mời quý vị nghe Trân Văn tổng hợp và tường thuật...
Những đối thủ giấu mặt
Khoảng đầu tháng 12, những người truy cập vào website Bauxite Việt Nam cùng nhìn thấy một thông báo được đặt trên đầu trang chủ, cho biết, vì lý do kỹ thuật, trang web này sẽ tạm ngưng cập nhật thông tin và ý kiến cho đến ngày 13 tháng 12. Đến 14 tháng 12, một ngày sau khi hoạt động trở lại như đã hẹn với độc giả, website Bauxite Việt Nam đột nhiên rơi vào tình trạng tệ hơn trước đó: toàn bộ nội dung trên website này bị xóa sạch.
Ngày 20 tháng 12, bộ phận quản trị website Bauxite Việt Nam gửi đến độc giả của mình một thư ngỏ. Thư viết: Chúng tôi đã định giấu kín mọi khó khăn, cố vượt qua thử thách, cũng là để tự vượt lên mình nhưng đã không thể nào giấu nổi con mắt tinh tường của rất nhiều anh em, bè bạn vẫn ngày ngày ghé thăm trang mạng.
Trang mạng Bauxite Việt Nam lại tiếp tục bị tin tặc tấn công. Chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục trong thời gian sớm nhất. Trân trọng cảm ơn!
Theo bộ phận quản trị trang web Bauxite Việt Nam, từ khi thành lập đến nay, chỉ trong vòng 8 tháng, trang web Bauxite Việt Nam đã bị đánh phá không dưới 5 lần, bởi những nhóm người lạ mặt.
Sau thư ngỏ vừa dẫn, trang web Bauxite Việt Nam chỉ hoạt động trở lại được vài ngày rồi tiếp tục rơi vào tình trạng trắng xóa. Đến chiều 23 tháng 12, website Bauxite Việt Nam có dấu hiệu hoạt động bình thường trở lại nhưng chỉ ít giờ sau, trên đầu trang chủ lại tiếp tục có thông báo: Trang mạng Bauxite Việt Nam lại tiếp tục bị tin tặc tấn công. Chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục trong thời gian sớm nhất. Trân trọng cảm ơn!
Cũng trong khoảng trung tuần tháng 12, website Talawas rơi vào trường hợp tương tự. Độc giả truy cập vào Talawas thấy thông báo: Vì lý do kỹ thuật, Talawas tạm ngưng hoạt động vô thời hạn và ít ngày sau, người ta mới biết thông báo ấy do tin tặc tạo ra.
Một trang web khác có tên là Đối Thoại cũng nằm trong tình cảnh như Bauxite Việt Nam và Talawas.
Hiện có một số dấu hiệu cho thấy, cuộc tấn công nhiều website Việt ngữ trên Internet sẽ kéo dài và phạm vi tấn công đang được mở rộng nhưng chúng tôi chưa đủ thời gian kiểm chứng.
Thông thường, cuộc tấn công nào cũng sẽ nhắm đến một hay một số mục tiêu nào đó. Vậy mục tiêu cuộc tấn công một số website mà chúng tôi vừa đề cập là gì?
Nói khác cũng sập mà nói thật cũng sập
Theo dõi các diễn biến thực tế, một số người bảo rằng, muốn đoán định mục tiêu của các cuộc tấn công Bauxite Việt Nam, Talawas, Đối Thoại, nên xem thử tính chất của những trang web ấy.
Bauxite Việt Nam là một trang web, hình thành vào tháng 4 năm 2009, từ sáng kiến của giáo sư Nguyễn Huệ Chi, giáo sư Nguyễn Thế Hùng và nhà văn Phạm Toàn, nhằm tập hợp thông tin, giới thiệu ý kiến, liên quan đến yếu tố lợi – hại khi chính quyền Việt Nam quyết định cho phép khai thác bauxite ở khu vực Tây Nguyên. Điểm đáng chú ý là chỉ trong vài tháng, Bauxite Việt Nam đã trở thành một diễn đàn điện tử, thu hút sự chú ý cũng như sự tham gia của người Việt đang sống cả ở trong lẫn ngoài Việt Nam. Từ chỗ chỉ là một diễn đàn điện tử cung cấp thông tin, giới thiệu các ý kiến đóng góp cho kế hoạch khai thác bauxite tại Việt Nam, Bauxite Việt Nam trở thành một diễn đàn chung cho trí thức, thanh niên Việt Nam theo dõi, thảo luận về hiện tình Việt Nam. Trong vòng 8 tháng, website này có 17.500 lượt truy cập, vượt xa số lượt truy cập của nhiều trang web do chính quyền Việt Nam lập ra. Tuy nhiên, các thông tin, ý kiến đều theo đúng tôn chỉ mà nhóm chủ trương đề ra ngay từ đầu: Bauxite Việt Nam không phải là một trang chính trị đối lập mà chỉ là một trang mạng của trí thức lên tiếng góp ý xây dựng đối với đất nước.
Chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ khôi phục được trang web, bởi vì nó vô tội, nó chả phải là trang web chính trị, nó chỉ là tiếng nói thẳng thôi. Nói thật thì mất lòng, chắc anh cũng biết rồi.
Mới đây, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một trong ba người được xem là thành viên sáng lập trang web Bauxite Việt Nam khẳng định lại một lần nữa: Chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ khôi phục được trang web, bởi vì nó vô tội, nó chả phải là trang web chính trị, nó chỉ là tiếng nói thẳng thôi. Nói thật thì mất lòng, chắc anh cũng biết rồi.
Còn Talawas? Những người quản trị diễn đàn điện tử Talawas - ra đời vào năm 2001 - xác định mục tiêu của họ chỉ là “góp phần khiêm tốn vào việc hình thành một công luận độc lập của người Việt trong và ngoài nước, không lệ thuộc, không chịu sự câu thúc của bất kì tổ chức, đoàn nhóm, thế lực nào”.
Sau khi tạm ngưng hoạt động vào cuối năm 2008, đến tháng 3 năm 2009, Talawas mới mở lại và vẫn đeo đuổi mục tiêu đã được xác định trước đó. Vậy vì sao Talawas bị tấn công? Trả lời Đài BBC, nhà văn Phạm Thị Hoài phỏng đoán, lý do Talawas bị tấn công có thể có liên quan phần nào tới những vụ xử các nhân vật bất đồng chính kiến như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung sắp tới.
Riêng mục tiêu của website Đối Thoại thì khác hẳn. Ông Nguyễn Nam, một thành viên của nhóm quản trị website Đối Thoại, cho biết, mục tiêu của nhóm thực hiện: Đối Thoại có ba mục tiêu chính. Mục tiêu thứ nhất là thông tin – những tin tức có liên hệ đến cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ của nhân dân trong nước và đồng bào hải ngoại. Mục tiêu thứ hai là yểm trợ các cá nhân và tập thể đấu tranh cho công bằng xã hội, dân chủ tự do tại quốc nội. Mục tiêu sau cùng của anh em Đối Thoại là cùng với các cá nhân và tập thể trong, ngoài nước đòi hủy bỏ Điều 4 trong bản Hiến pháp 1992 của Đảng CSVN.
Nhìn chung, những website bị đánh sập đều đã nói khác giọng với chính quyền Việt Nam, từ trực tiếp phê phán như Đối Thoại, phát biểu “độc lập” như Talawas, hoặc chủ trương phi chính trị, chỉ “nói thật” như Bauxite Việt Nam.
Đợt tấn công một số website như Bauxite Việt Nam, Talawas, Đối Thoại không chỉ có chừng đó vấn đề. Trong bài tới, chúng tôi sẽ tổng hợp và tường trình tiếp về các khía cạnh đáng chú ý khác. Mời quý vị đón nghe...
THẶNG DƯ TQ NĂM 2010 CÓ THỂ GIẢM MẠNH
Thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể giảm xuống 19% trong năm 2010 khi mà Trung Quốc đang có xu hướng nhập khẩu tăng do nhu cầu trong nước tăng mạnh.
Thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể giảm xuống 19% trong năm 2010 khi xu hướng nhập khẩu tăng.
Trong năm 2010, nhập khẩu có thể tăng tới 16%, vượt qua mức tăng 8% của xuất khẩu. Trong khi đó, nền kinh tế nước này dự báo sẽ tăng trưởng 10,1%. Bộ Thương mại Trung Quốc cho hay rằng mức thặng dư thấp hơn có thể khiến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thứ 3 thế giới này giảm xuống so với các đối tác thương mại chủ chốt. Trước đó Trung Quốc đã hướng tới nước xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Theo ông Lu Ting, nhà kinh tế trụ sở tại Hồng Kông nhận định số lượng hàng nhập về sẽ thu hẹp lại còn 160 tỷ USD so với ước tính 198 tỷ USD năm nay.
“Yếu tố then chốt trong việc thu hẹp thặng dư sẽ là mức tăng trong nhập khẩu nhờ vào nhu cầu trong nước”, ông Lu cho biết.
Nhập khẩu trong tháng 11/2009 cũng đã tăng lên lần đầu tiên trong 13 tháng qua, tăng lên mức 27% do gói kích cầu kinh tế và khoản cho vay kỷ lục của Chính phủ đẩy nhu cầu chi tiêu tiêu dùng của người dân lên cao.
Bên cạnh biện pháp đẩy căng thẳng thương mại xuống, khoản thặng dư thấp hơn có thể khiến chính sách tiền tệ hiệu quả
THƯƠNG HIỆU HÀNG TQ XUỐNG DỐC
Bài của GS. Tse-Yan Lee, B.H.Sci; Dip.Prof. Consel; MAIPC; MACA (Trần Anh Kiệt lược dịch)
Thực phẩm
Những báo cáo gần đây về vấn đề thực phẩm biến chế sản xuất tại Trung Cộng đã gây ra mối quan ngại lớn trên thế giới. Các tài liệu liên quan đến vấn đề này được trích dẫn từ các báo chí và các bài thông tin trên mạng điện toán từ Trung quốc và khắp nơi về một loại nước tương được bào chế từ tóc của con người. Về phương diện khoa học và y tế, người ta đang nghiên cứu để tìm hiểu xem việc sử dụng loại nước tương này trong thời gian ngắn hạn và lâu dài sẽ có những phản ứng bất lợi và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người như thế nào Sau đây là bài trích dẫn từ các tài liệu thông tin đó để quý độc gỉa tham khảo.
Nước tương là một loại thực phẩm được chế biến từ đậu nành và đã phổ biến nhiều nhất khắp nơi trên thế giới. Lịch sử của nước tương đã có từ thời nhà Chu bên Trung Quốc trước công nguyên (1027-777). Tùy theo địa phương, nó được sản xuất bằng nhiều thứ nguyên liệu khác nhau như ở Trung Quốc, loại nước tương thường (light soy sauce) và loại nước tương đặc (dark soy sauce) gồm xì dầu hay xì yếu thì được chế biến từ đậu nành. Còn ở Nhật Bản, Triều Tiên, Phi Luật Tân có khi được chế biến bằng các nguyên liệu khác, nhưng bao giờ cũng giữ được phẩm chất vệ sinh và bổ dưỡng.
Quá trình chế biến nước tương giữa các quốc gia tuy có vài điểm khác nhau nhưng tựu trung đều giống nhau là phải trải qua những giai đoạn lên men cần thiết. Để rút ngắn thời gian trong tiến trình chế biến, ngày nay, người ta đã dùng kỹ thuật khoa học như cho vào hydrochloric acid, hoạt chất carbon và một số hương vị. Phương pháp chế biến này tuy tiện lợi nhưng đã mất hết phẩm chất thiên nhiên so với loại nước tương được biến chế theo phương pháp cổ truyền.
Ngày nay nước tương được thế giới coi như là loại gia vị cần thiết. Nó được dùng trong hầu hết các món ăn Trung Hoa và kể cả các món ăn Tây Phương như món ra-gu, hamburger và các món sà-lách. Bên cạnh việc làm tăng thêm mùi vị cho các món ăn, nước tương còn có một giá trị dinh dưỡng đặc biệt. Nó gồm có chất protein và carbohydrate không chất béo, cũng như chứa rất dồi dào chất riboflavin (sinh tố B2) và các chất khoáng (sodium, calcium, phosphorus, chất sắt, selenium và chất kẽm) .
Hàng năm trên khắp thế giới người ta đã sản xuất ra hàng ngàn tấn nước tương để cung ứng cho thị trường tiêu thụ.
Có một điều đáng lưu ý là sử dụng nước tương trong một thời gian lâu dài hay ngắn hạn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe nếu phương pháp và nguyên liệu chế biến không được bảo đảm vệ sinh và an toàn. Chủ điểm của bài viết này nhằm trình bày cho quý độc giả biết về một loại nước tương không an toàn được sản xuất tại Trung Quốc và được bày bán hiện nay tại khắp nơi.
Vào cuối năm 2003, người ta sản xuất hàng loạt các loại nước tương có nhãn hiệu “Hongshuai Soy sauce” tại Trung Quốc, áp dụng theo phương pháp hóa sinh và kỹ thuật tân tiến bởi một nhà máy chế biến thực phẩm gia vị. Họ còn bảo loại nước tương này không tuân theo phương pháp chế biến thông thường và cổ điển bằng những đậu nành và lúa mì. Đặc biệt giá thị trường của loại nước tương này rất rẻ nên được các nhà nhà hàng, trường học sử dụng rất nhiều.
Giữa tháng giêng năm 2004, một nhóm ký giả của chương trình truyền hinh “Weekly Quality Report”do nhà nước tỉnh Hồ Bắc điều hành đã điều tra về phương pháp chế biến nước tương của hãng Hongshuai. Họ giả dạng làm khách hàng mua sỉ nước tương và muốn biết về công thức chế biến của loại nước tương này như thế nào. Viên quản lý cho biết thành phần của nước tương gồm có amino acid hòa hợp với nước, sodium hydroxide, mật đường (loại dung dịch phế thải sau khi đã quây ly tâm chế thành đường cát trắng), hydrochloric acid và những thành phần chất hóa học khác...
Họ cũng được cho biết rằng trong nguyên liệu chế biến nước tương, hàng tháng, nhà máy phải cần sử dụng đến hàng chục ngàn tấn amino acid dưới dạng bột hoặc chất sấy khô mua từ một nhà máy sản xuất hóa chất khác. Để mở đầu cho cuộc điều tra phỏng vấn, các ký giả quyết định tìm hiểu cho ra nguồn nguyên liệu để chế biến thành chất amino acid là gì.
Sau đó các ký giả đã tìm ra nguyên liệu để bào chế loại xi-rô amino acid này tại một nhà máy sinh hóa ở tỉnh Hồ Bắc (Hubei) . Họ trả lời các ký giả rằng amino acid chủ yếu được chế biến từ tóc của con người, thu nhặt từ các tiệm uốn tóc, các đống rác thải ra từ các bệnh viện ở nhiều nơi trong nước.
Dĩ nhiên loại tóc này rất dơ bẩn và không vệ sinh chút nào vì người ta bỏ lẫn lộn trong các rác rưởi gồm bao ngừa thai, ống và kim chích, bông gòn đã được sử dung của bệnh viện và các băng vệ sinh của phụ nữ vân vân.Các nhân viên nhà máy bảo loại tóc này không có độc chất nhưng thực tế nó không hạp vệ sinh và dĩ nhiên có mang nhiều loại vi khuẩn hay những bào tử gây bệnh khác nhau.
Nguyên do người ta sử dụng tóc của con người để chế biến amino acid để làm nước tương là vì nguyên liệu này rất rẻ, nhờ thế giá thành của nước tương cũng rẻ theo nên có thể cạnh tranh dễ dàng với những loại nước tương (thật thà) khác. Hơn nữa tóc của con người chứa dồi dào protein hơn đậu nành và lúa mì, khi làm thành nước tương lại có mùi vị thơm ngon hơn.
Cũng tương tợ như vậy, trong thời kỳ chiến tranh thế giới, vì khan hiếm lương thực, đa số đậu nành đã được sử dụng để chế biến nhiều loại thực phẩm khác, chánh phủ Nhật Bản cũng đã dùng kỹ thuật giống vậy để sản xuất nước tương thay thế.
Tuy nhiên tóc của con người chứa nhiều loại hóa chất độc hại. Theo báo “Weekly Quality Report” tóc nói chung chứa nhiều thạch tín (arsenic) và chì (lead), đó là những hóa chất sẽ gây phương hại trầm trọng đến hệ tiêu hóa, thận, hệ tim mạch, hệ thần kinh và hệ thống sinh dục. Hơn nữa loại tóc này rất dơ bẩn, lẫn lộn với những môi trường ô uế khác nhau.
Tiêu chuẩn vệ sinh là vấn đề đáng quan ngại nhất vì nó được thu nhặt từ rác rưới của các tiệm uốn tóc và bệnh viện, dĩ nhiên chứa nhiều vi khuẩn và không thể chế biến làm một thứ thực phẩm an toàn cho sức khỏe. Hơn nữa những hóa chất dùng để phân tách và chế biến amino acid từ tóc lại cũng là những chất độc hại khác. Trong quá trình chế biến nó sẽ sản sinh ra phụ chất carcinogenic, làm cho công nhân chế biến cũng như người tiêu thụ sản phẩm gia tăng cơ hội bị bệnh ung thư hơn.
Một thời gian sau khi tin tức ghê tởm này được phổ biến, các cơ quan thông tin nhiều nước trên thế giới như Hong Kong, Đài Loan, Nhật Bản, Hoa Kỳ đã lên tiếng chỉ trích cách thức làm ăn bê bối này. Hiện thời Hiệp Hội Các Quốc Gia Âu Châu đã từ chối nhập cảng một số hiệu nước tương và thực phẩm sản xuất từ Trung Quốc vì lý do an toàn cho sức khỏe của công chúng. Dưới áp lực của quốc tế, chánh quyền Trung Cộng đã miễn cưỡng tỏ ra quan tâm đến sự kiện chưa từng thấy tại đất nước này.
Thực ra hàng hóa giả mạo đã trở thành mối lo ngại chánh của chính quyền Hồng Kông khi thực phẩm được chế biến từ Trung Quốc ào ạt đổ vào đã cạnh tranh với thị trường thực phẩm tại xứ này từ nhiều năm qua. Cuối năm 1998, Hải quan Hong Kong đã tịch thâu hơn 13 ngàn chai nước tương giả. Vài tháng sau, họ lại tịch thâu thêm một số lượng rất nhiều loại nước tương giả khác được bày bán ngoài thị trường tổng cộng trị giá trên 120 ngàn đô la Hong Kong. Loại nước tương này cũng đã được nhập cảng vào Úc trong cùng thời kỳ ấy mà không bị cơ quan kiểm phẩm phát giác.
Năm 2004, Hải quan và Cơ quan Tiêu thụ Hong Kong đã tịch thâu hơn 200 chai nước tương giả được tiếp tục bày bán như vậy nữa. Phần lớn những loại nước tương giả này được sản xuất dưới nhãn hiệu của những hãng nước tương nổi tiếng như Pear River Bridge. Mặc dầu trong số nước tương giả này có loại không phải chế biến từ tóc con người, nhưng thành phần công thức không được rõ ràng, đã làm cho người tiêu thụ quan ngại vì họ sợ bị ngộ độc và nguy hiểm đến sức khỏe.
Cơ quan Kiểm Soát thực phẩm Hong Kong đã hướng dẫn người tiêu thụ về phương pháp nhận diện các loại nước tương giả và nước tương thiệt bằng cách phân biệt các đặc tính khác nhau của nó như mùi, vị và màu sắc. Hiện thời các hãng nước tương Hong Kong đã thay đổi về hình thức trình bày chai và nhãn hiệu. Nhưng nếu không được phân tích bằng kỹ thuật, chưa chắc một nhân viên kiểm phẩm đã có nhiều năm kinh nghiệm với đôi mắt bình thường có thể phân biệt được huống hồ là người tiêu thụ không được huấn luyện về khả năng chuyên môn. Để chắc chắn, nhiều người ở Hong Kong đã từ chối mua nước tương của Trung Quốc. Một số khách hàng tiêu thụ khác đã cẩn thận hơn bằng cách tẩy chay luôn bất cứ loại thực phẩm nào được sản xuất từ Trung Quốc.
Mặc dầu chánh quyền Trung Cộng cố gắng làm êm dịu sự chỉ trích của công luận thế giới về các loại thực phẩm mất vệ sinh bằng cách đưa ra biện pháp chế tài. Nhưng người tiêu thụ ở Hồng Kong vẫn còn lo ngại về sự an toàn của thực phẩm chế biến từ Trung Quốc. Bởi vì các hãng sản xuất nước tương tại lục địa vẫn tiếp tục dùng amino acid bào chế từ tóc của con người để làm nguyên liệu sản xuất nước tương. Hiện nay nhà cầm quyền Trung Công, dưới áp lực của các cơ quan thông tấn trong và ngoài nước, đã có lệnh cấm sản xuất các loại nước tương chế biến theo kiểu cách này, nhưng thực sự họ có quyết tâm hay không lại là một chuyện khác. http://www.thegioin guoiviet. net/showthread. php?tu11
Nhiều hàng hóa Trung Quốc dành cho trẻ em không an toàn
Báo China Daily hôm qua đưa tin gần phân nửa mặt hàng quần áo và 1/3 sản phẩm đồ dùng cho trẻ em sản xuất ở tỉnh Quảng Đông, miền nam Trung Quốc, không bảo đảm an toàn do chứa nhiều hóa chất độc hại.
Theo tờ báo, đó là kết quả của một cuộc điều tra chính thức mà nhà chức trách Quảng Đông, một trong những trung tâm sản xuất hàng xuất khẩu của Trung Quốc, tiến hành. Báo này cho biết chỉ có 53,5% số hàng may mặc được kiểm tra đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn, số còn lại phần lớn chứa dư lượng hóa chất độc hại vượt mức cho phép, trong đó có formaldehyde, một loại hóa chất có thể gây nhiễm trùng da và đường hô hấp.
Đối với đồ dùng trẻ em, chỉ 67,7% được đánh giá là an toàn, trong khi một số sản phẩm bị phát hiện có vấn đề khi chứa quá nhiều formaldehyde hoặc các kim loại nặng có hại cho sức khỏe như chì, cadmium và chromium. Tờ báo dẫn lời phát ngôn viên của Cục Giám sát chất lượng và công nghệ tỉnh Quảng Đông, ông Lâm Thụy Tây, cho biết chính việc sử dụng các nguyên liệu thô và sơn không đạt tiêu chuẩn là nguyên nhân chính khiến các sản phẩm nói trên có dư lượng formaldehyde và các kim loại nặng vượt mức cho phép.
| | | |
Ý TƯỞNG G2 MỸ-TẦU CÒN XA VỜI
Những tranh luận gay gắt, không khoan nhượng giữa Mỹ và Trung Quốc tại hội nghị về khí hậu tại Copenhagen vừa qua là một bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy không có nhóm G2.
Đó là nhận định của ông Jean-Pierre Cabestan, giáo sư khoa học chính trị, đại học Dòng Tên Hồng Kông, được AFP trích dẫn. Nói một cách khác, ý tưởng hình thành nhóm G2 Mỹ-Trung cùng phối hợp với nhau lãnh đạo thế giới là một chuyện còn xa vời, chưa thể trở thành hiện thực.
Rất nhiều quốc gia và các tổ chức bảo vệ môi trường đánh giá là hội nghị Copenhagen chỉ đạt được kết quả tối thiểu. Hoa Kỳ và Trung Quốc, hai nước gây ô nhiễm nhất hành tinh, thường xuyên bị nêu tên và quy trách nhiệm làm cho hội nghị không thành công. Trong hai tuần thương lượng ở thủ đô Đan Mạch, Mỹ và Trung Quốc đã đối đầu với nhau trên nhiều hồi sơ. Mỗi nước đều ráo riết tính toán, tìm mọi cách thực hiện ý đồ của mình và khống chế đối phuơng. Hai cuộc thương lượng trực tiếp giữa tổng thống Barack Obama và thủ tướng Ôn Gia Bảo đã không khai thông được bế tắc.
Giáo sư Thời Ân Hồng, chuyên gia phân tích chính trị thuộc đại học Nhân Nhân Bắc Kinh nhận định : « Một mặt, vị thế và tầm quan trọng của Trung Quốc đã được nâng lên rất nhiều và các cuộc tham khảo với Mỹ rất quan trọng, nhưng mặt khác, nếu như muốn nói đến nhóm G2, thì người ta thấy ngay sự đối đầu giữa hai nước trên những điểm rất quan trọng, do vậy, tôi không nghĩ rằng G2 là một khái niệm có thể được triển khai ».
Ý tưởng về G2 được đưa ra từ năm 2006 tại Hoa Kỳ nhằm phản ánh tình hình và tương quan lực lượng mới trên thế giới, trước sự lớn mạnh của Trung Quốc. Trong dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung, hồi tháng giêng năm nay, ông Zbigniew Brzezinski, nguyên cố vấn an ninh quốc gia của Nhà Trắng, dưới thời tổng thống Jimmy Carter đã nhắc lại khái niệm.
Tại hội nghị G20 ở Luân Đôn, tháng tư năm nay, lần đầu tiên, tổng thống Mỹ Barack Obama gặp chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và lãnh đạo hai nước thông báo sẽ « tăng cường các mối bang giao ở mọi cấp độ ».
Thế nhưng, theo giới quan sát, hai bên vẫn nghi ngờ lẫn nhau và điều này thể hiện rõ là tại hội nghị Copenhagen, Trung Quốc cương quyết bác bỏ việc lập cơ chế kiểm soát giảm khí thải.
Giáo sư Russell Leigh Moses, chuyên gia về chính trị xã hội Trung Quốc, hiện giảng dậy tại đại học Nhân Dân Bắc Kinh giải thích : « Mối e ngại Hoa Kỳ tìm cách kiềm chế Trung Quốc vẫn tồn tại. Bên cạnh đó, cũng có một số lo ngại ở bên trong Trung Quốc. Làm thế nào giải thích cho chính quyền các địa phương là họ không chỉ bị chính quyền trung ương ở Bắc Kinh mà cả nước ngoài đều theo dõi giám sát họ trong lĩnh vực phát triển kinh tế ».
Vẫn theo chuyên gia này, hội nghị Copenhagen còn cho thấy là bản thân Trung Quốc cũng chưa xác định rõ ràng vai trò của mình trên trường quốc tế : Trung Quốc muốn tham gia G2 hay G8 hay muốn là siêu cường duy nhất trên thế giới ?
Các nhà phân tích dự báo là Copenhagen đánh dấu bước khởi đầu một giai đoạn khó khăn trong quan hệ Mỹ-Trung. Theo giáo sư Thời Ân Hồng, nếu nhìn vào các sự kiện như đối đầu Bắc Kinh-Washington tại Copenhagen, khả năng Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan, tổng thống Mỹ có thể tiếp lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma …, tất cả những yếu tố này cho phép dự báo là quan hệ song phương sẽ trải qua sóng gió trong thời kỳ tới.
Quan hệ thương mại Mỹ- Trung trong thời gian qua, đã không suôn sẻ, với những hồ sơ kiện tụng tại Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, OMC. Ngay trong tuần này, vụ xét xử nhà ly khai Lưu Hiểu Ba, bị chính quyền Trung Quốc bắt giữ cách nay một năm, có thể lại càng làm cho bang giao giữa hai nước thêm căng thẳng.
Tuy nhiên, tranh cãi Mỹ-Trung tại hội nghị Copenhagen cũng cho thấy tầm quan trọng và ảnh hưởng của hai nước đối với cục diện thế giới. Nhìn trên khía cạnh này, có thể nói, G2 Mỹ - Trung, trong một chừng mực nào đó, đã hình thành trên thực tế và tại Copenhagen, do bất đồng nội bộ, nhóm này đã gây ảnh hưởng tiêu cực, ngăn cản các giải pháp cho những hồ sơ lớn mang tính toàn cầu.
KHỦNG BỐ THỬ THÁCH NOBEL HÒA BÌNH
Tòa án Mỹ buộc tội kẻ âm mưu khủng bố máy bay
Bộ Tự pháp Mỹ cho biết, hôm thứ 7 (26/11), Umar Farouk Abdulmutallab, người mang quốc tịch Nigeria đã bị buộc tội cố tình gây nổ máy bay trong một chuyến bay tới Detroit vào chính ngày lễ Giáng Sinh.
Abdulmutallab bị buộc tộ cố tình phát nổ thiết bị nổ trên chuyến bay Northwest 253 khi máy bay đang từ Amsterdam hướng tới sân bay Detroit với 290 hành khách và phi hành đoàn. Tên này lập tức bị những người trên máy bay khống chế.
Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Eric Holder nói trong một phát biểu: "Nếu âm mưu phá huỷ máy bay này thành công, thì số người vô tội bị chết và bị thương có thể sẽ ở mức kỷ lục". Ông vẫn để ngỏ khả năng có những tên khác tham gia kế hoạch, dù có những tin đồn rằng Abdulmutallab đang làm việc cho một tổ chức nào đó, hay đang có mối liên hệ với Al-Qaeda, tổ chức đã gây ra vụ tấn công máy bay kinh hoàng ngày 11/9/2001 ở Mỹ.
Ông Holder nói: "Chúng tôi sẽ tiếp tục điều tra kỹ lưỡng vụ việc này, và chúng tôi sẽ sử dụng các biện pháp mạnh mẽ nhất mà chính phủ có để đảm bảo rằng bất cứ kẻ nào đứng đằng sau vụ tấn công này sẽ được đưa ra trước công lý".
Dựa trên lời khai của hành khách và phi hành đoàn thì, Abdulmutallab đi vào phòng tắm trên máy bay khoảng 20 phút và sau đó trở lại chỗ ngồi, kéo chăn phủ kín người và nói rằng hắn bị đau bụng.
Các hành khách nghe thấy âm thanh lạ và ngửi thấy mùi khói, còn một số người để ý rằng, chiếc quần của Abdulmutallab và thành máy bay bốc cháy. Hắn đã bị hành khách và phi hành đoàn khống chế nhanh chóng, và khi được hỏi giấu gì trong túi, thì hắn nói đó là thiết bị gây nổ.
Được biết, Abdulmutallab là con của một người làm ngân hàng giàu có tại Nigeria và đã từng bị ngăn không cho trở lại Anh hồi tháng 5 năm nay. Tên này từng tốt nghiệp một trường đại học tại Luân Đôn năm ngoái, nhưng lần xin visa trong tháng 5 đã bị từ chối, khi hắn muốn đăng ký học khóa học mới tại trường đại học "ma".
Hai năm qua, Abdulmutallab vẫn nằm trong danh sách theo dõi những người có mối liên hệ cực đoan, nhưng hắn lại không bị chặn lại khi bay sang Mỹ. Các quan chức Anh cho hay, hắn đã vượt qua chiếc radar MI5 mà không bị phát hiện. Người hùng trên chuyến bay suýt nổ tung
Vị khách vô hiệu hóa kẻ bị nghi định cho nổ tung chuyến bay từ Hà Lan tới Mỹ nói rằng hành động của anh diễn ra hoàn toàn tự nhiên khi thấy lửa bốc lên.
Jasper Schuringa, 32 tuổi, đang được ca ngợi như người hùng ở Mỹ. Theo Telegraph, gần 300 hành khách cùng chuyến bay hôm 25/5 đã khen ngợi nhiệt liệt sau khi nhà làm phim từ Amsterdam này cùng các thành viên phi hành đoàn khống chế được nghi phạm khủng bố Abdul Mudallah.
Schuringa ngồi sau hành khách kia một hàng ghế nhưng ở dãy khác trên chuyến bay của hãng hàng không Mỹ Northwest Airlines từ Amsterdam tới Detroit khi anh nghe thấy tiếng động như tiếng pháo hoa phát nổ. "Khi đó tất cả mọi người đều hoảng loạn và ai đó đã hét lên "Cháy! Cháy!", Schuringa kể lại.
Nhìn dọc máy bay, anh phát hiện khói bốc lên từ một ghế gần đó. "Không do dự gì hết, tôi chỉ nhảy lên", anh nói và cho biết vượt qua 4 hành khác để đến chỗ Mudallah.
Schuringa cho biết sự nghi ngờ của anh tăng lên khi thấy người đàn ông kia không làm gì hết dù khói bốc lên từ chiếc chăn trên người anh ta và lửa bắt đầu lan bên dưới chân. Schuringa ngay lập tức lục soát người anh ta và phát hiện một vật trông như lọ dầu gội đầu màu trắng gắn bên chân trái của hành khách này.
"Tôi giật nó ra khỏi chân anh ta và cố gắng dập lửa", Schuringa kể lại và cho biết thêm anh dùng tay không khống chế ngọn lửa và hô lớn để mọi người mang nước tới.
Khi các thành viên phi hành đoàn chạy đến cùng bình cứu hỏa, Schuringa đã lôi được nghi phạm ra khỏi ghế, dùng cánh tay khóa cổ anh ta và dẫn lên khoang hạng nhất. Sau đó, anh lột quần áo nghi phạm này để tìm chất nổ và giúp một nhân viên phục vụ trên máy bay khóa tay anh ta lại.
Các hành khách trên chuyến bay sau phút ngỡ ngàng và không hiểu chuyện gì đang diễn ra đã vỗ tay nhiệt liệt chào đón Schuringa. Nhà làm phim này cho biết tay anh hơi bị bỏng và anh vẫn run, nhưng cảm thấy "thật hạnh phúc vì còn sống". Schuringa nói rằng anh không cảm thấy mình như người hùng bởi anh chỉ đơn giản hành động trước khi quá muộn.
Bob và Ingrid Schuringa, bố mẹ của Schuringa, nói rằng họ "vô cùng tự hào về con trai" nhưng cũng thực sự sốc bởi mọi chuyện có thể đã kết thúc rất khác.
Trong khi đó, an ninh tại các sân bay và phi cơ chở khách trên khắp châu Âu được thắt chặt an ninh ngay sau biến cố trên. Anh, Pháp, Italy, Tây Ban Nha và Hà Lan ngay lập tức tăng cường kiểm tra hành khách trước khi lên máy bay để đảm bảo an toàn khi hoạt động đi lại tăng lên dịp năm mới.
Vụ âm mưu đánh bom máy bay ở Mỹ: Chất nổ có sức công phá mạnh
Theo AP, chất gây nổ mà Abdulmutallab mang theo trong người là PETN, một loại chất gây nổ mạnh còn có tên là pentaerythritol. PETN thường được sử dụng trong quân sự, bọn khủng bố thích sử dụng vì nhỏ gọn nhưng sức công phá mạnh. Chất này từng được Richard Reid giấu trong giày để đánh bom chuyến bay xuyên Đại Tây Dương năm 2001.
Nhiều nghị sĩ Mỹ yêu cầu thành lập một ủy ban điều tra độc lập về vụ này. Cảnh sát London phong tỏa tòa nhà Abdulmutallab từng cư ngụ. Vào tháng 11-2009, cha của Umar, ông Umaru Mutallab, từng cảnh báo với giới chức an ninh Mỹ về con mình. Thế nhưng, các quan chức Mỹ cho biết những thông tin mà cha của y cung cấp không đủ để họ có thể đưa con trai ông vào danh sách cấm bay hoặc thuộc diện tăng cường kiểm soát an ninh khi bay. Y cũng không bị từ chối thị thực vào Mỹ.
Một quan chức Mỹ cho biết Abdulmutallab có thị thực đi nhiều nơi, thời hạn dài được cấp tại Đại sứ quán Mỹ ở London.
Umar Farouk Abdulmutallab là người Nigeria tới Anh học tại Đại học London vào tháng 9-2005 và tốt nghiệp bằng kỹ sư cơ khí tháng 6-2008. Trong thời gian học ở Anh, y đã bị mạng lưới khủng bố Al Qaeda tuyển mộ.
Sau khi tốt nghiệp, y tới Yemen, tại đây, y đã được huấn luyện nhiều “bài” khủng bố và trở nên cực đoan hơn. Báo chí tại Nigeria cho biết, ngay khi còn học phổ thông ở quê nhà, Abdulmutallab từng nổi tiếng là người có quan điểm cực đoan với biệt danh là “Alfa”.
Tổng thống Mỹ Barack Obama đã kêu gọi xem lại các cơ quan chức năng Mỹ xem lại an ninh hàng không và danh sách các nghi can khủng bố bị cấm bay. Abdulmutallab nằm trong danh sách 550.000 người tình nghi có liên quan đến khủng bố thuộc Trung tâm chống khủng bố quốc gia Mỹ.
Thêm chi tiết về nghi can định cho nổ máy bay Mỹ
Nhà chức trách Mỹ đã có thêm chi tiết về Umar Farouk Abdulmutallab, công dân Nigeria 23 tuổi có âm mưu làm nổ một chiếc máy bay hôm thứ Sáu của hãng Northwest trong khi phi cơ này đang đáp xuống sân bay Detroit, bang Michigan.
Abdulmutallab là con của một chuyên viên ngân hàng có tên tuổi của Nigeria, anh ta đã được đào tạo tại Togo và Anh.
Bà con họ hàng gọi anh là người thân thiện và thông minh, và bạn học nói rằng anh có quan hệ tốt với thầy cô và các bạn cùng lớp.
Tuy nhiên, cũng chính những người này nói rằng Abdulmutallab có lập trường Hồi giáo cực đoan. Nhiều người bà con cho biết họ lo lắng khi thấy từ mấy tháng qua anh ta không còn liên lạc gì với gia đình nữa.
Cha của anh lo lắng và đã đi báo cho đại sứ quán Mỹ ở Nigeria cùng các cơ quan an ninh của Nigeria.
Các giới chức của Mỹ nói rằng họ đã đưa tên của Abdulmutallab vào danh sách những người cần theo dõi về khủng bố nhưng không thu hồi visa và không đưa anh vào danh sách những người bị “cấm bay” của Hoa Kỳ.
Người trong gia đình nói rằng họ bị cú sốc khi nghe tin Abdulmutallab có âm mưu cho nổ máy bay của Mỹ.
Các nước lo thắt chặt an ninh sau âm mưu khủng bố
Sau việc một lần nữa máy bay Mỹ lại là mục tiêu tấn công khủng bố trong ngày Giáng sinh 25/12 vừa qua, các nước đang lo tìm cách thắt chặt an ninh đề phòng âm mưu khủng bố tương tự.
Một hành khách đang đứng để tiến hành kiểm tra an ninh trước giờ bay tại một sân bay Mỹ.
Chính phủ Mỹ đã ra lệnh thắt chặt an ninh tối đa trong khi vẫn đang tiếp tục điều tra mở rộng sau khi máy bay Mỹ lại là mục tiêu tấn công khủng bố. Âm mưu định đánh bom trên chuyến bay 253 của Hãng hàng không Northwest Airlines, chi nhánh Hãng Delta Airlines, ngày 25/12 dù đã bất thành nhưng đang khiến giới chức an ninh Mỹ rất lo ngại.
Người Mỹ đang muốn tìm câu trả lời xác đáng rằng tại sao một kẻ khủng bố lại có thể lọt qua được hệ thống an ninh được đầu tư nhiều tiền của mà Mỹ đã tạo dựng nên từ lâu nay, nhất là từ sau những vụ khủng bố 11/9 và ở các nơi khác tại Anh, tại Tây Ban Nha.
Hành khách tại các sân bay Mỹ hiện đang phải trải qua thêm nhiều biện pháp an ninh mới. Dưới ghế ngồi sẽ không có áo phao cho đến khi máy bay chuẩn bị cất cánh. Chăn cũng chỉ được phát ngay trước giờ bay để đề phòng khủng bố lợi dụng các vật dụng này.
Có tin cho hay, hành khách ở nhiều sân bay quốc tế của Mỹ sẽ phải ngồi trong phòng chờ được theo dõi nghiêm ngặt và không được rời khỏi vị trí trong khoảng 1 giờ trước khi máy bay cất cánh.
Và hành khách sẽ phải trải qua nhiều biện pháp kiểm tra an ninh khác, kể cả chó nghiệp vụ với cường độ kiểm tra dày đặc hơn.
Tương tự, Nhật Bản đã bắt đầu tăng cường các biện pháp kiểm tra an ninh đối với hành khách trên các chuyến bay của hãng tới Mỹ.
Nhật Bản cũng chỉ thị cho hai hãng hàng không Japan Airlines (JAL) và All Nippon Airways (ANA) của phải tiến hành đầy đủ các biện pháp kiểm tra an ninh đối với hành khách trên các chuyến bay nội địa và quốc tế.
Các hãng hàng không Nhật Bản sẽ tăng số lượng nhân viên an ninh tại các sân bay và kiểm tra tất cả các hành lý xách tay.
Trong lúc đó, một đồng minh thân cận của Mỹ là Israel cũng vừa ra lệnh thắt chặt an ninh tại các sân bay sau khi lực lượng an ninh Mỹ phá vỡ âm ưu đánh bom trên máy bay của hãng hàng không Delta.
Theo đó, tất cả các sân bay được tăng cường kiểm tra an ninh chặt chẽ. Các kế hoạch kiểm tra an ninh được thực hiện nghiêm ngặt, đặc biệt với các chuyến bay tới Mỹ.
Liên quan đến vụ Umar Farouk Abdulmutallab, 23 tuổi, người Nigeria, vừa bị buộc tội khủng bố máy bay của hãng hàng không Northwest Airlines ngày 26-12, các quan chức Mỹ cho biết cha của thủ phạm đã từng cảnh báo với giới chức an ninh Mỹ về người con của mình.
Vào tháng 11/2009, ông này đã tới đại sứ quán Mỹ ở Abuja , Nigeria để bày tỏ mối lo ngại của ông với con mình.
Về việc này, các quan chức Mỹ cho biết những thông tin này không đủ để họ có thể đưa Abdulmutallab vào danh sách cấm bay.
| | | |
CƯỜNG QUỐC ĐỐI PHÓ VỚI NGUYÊN TỬ IRAN
Các cường quốc trên thế giới đang bàn các bước đối phó tiếp theo với Iran nếu nước này không đáp ứng hạn chót giải toả những lo ngại của cộng đồng quốc tế về chương trình hạt nhân, Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ hôm 22/12 cho biết.
Quan chức hàng đầu từ nhóm P5+1, là 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an LHQ - Anh, Trung, Pháp, Nga và Mỹ cộng thêm Đức, đã tổ chức một cuộc họp hôm 22/12 để thảo luận về những lệnh trừng phạt có thể áp dụng đối với Iran, trợ lý ngoại trưởng Mỹ P.J Crowley nói với các phóng viên.
Ông Crowley tuyên bố, nhóm 6 nước thống nhất rằng Iran phải trả lời những câu hỏi mà họ đặt ra về tham vọng hạt nhân của nước này hoặc sẽ phải đối mặt với các sức ép mới. Và rằng, Washington sẽ tham vấn ý kiến của cộng đồng quốc tế trong vài ngày, vài tuần tới về các phương án trừng phạt.
Tháng 10, sáu nước đề xuất với Iran một thoả thuận rằng, Tehran sẽ gửi hầu hết số uranium được làm giàu ở mức thấp sang nước ngoài rồi sau đó sẽ nhận lại chúng dưới dạng nhiên liệu có thể dùng cho lò phản ứng y học.
Phát ngôn viên Nhà Trắng Robert Gibbs tuyên bố trước các phóng viên rằng thời gian để Iran chấp nhận thoả thuận đang sắp hết.
"Quyết định thực thi trách nhiệm là quyết định của họ", ông Gibbs nói về các quan chức Iran. "Chúng tôi đã đưa cho họ một hướng đi khác. Nếu họ không chấp nhận thì các nước đưa ra đề xuất sẽ có động thái dựa trên tình huống đó".
Cùng ngày 22/12, Tổng thống Iran Ahmadinejad đã bác bỏ đề xuất. Ông này nói với người Iran trong một bài phát biểu tại thành phố Shiraz, nam Iran rằng cộng đồng quốc tế có thể trao cho Iran "bao nhiêu hạn chót mà họ muốn, còn Iran không quan tâm".
Người đứng đầu Iran cáo buộc Mỹ làm giả tài liệu nêu chi tiết kế hoạch chế tạo các bộ phận quan trọng của một thiết bị hạt nhân của Iran.
Phát ngôn viên Nhà Trắng đã đáp lại tuyên bố của Tổng thống Iran bằng khẳng định, cộng đồng quốc tế đang chuẩn bị thực thi những bước bổ sung nếu hạn chót trôi qua mà Iran không có hành động gì.
Các cường quốc phương Tây lo ngại Iran định chế tạo vũ khí hạt nhân, cáo buộc mà Iran luôn phủ nhận.
IRAN: DÂN NỔI DẬY CHỐNG ĐỘC TÀI
Tại Iran, xung đột giữa đối lập và cảnh sát làm 4 người thiệt mạng. Chính quyền Teheran lập tức lên tiếng bác bỏ thông tin có người chết trong các cuộc biểu tình. Lãnh đạo cảnh sát thủ đô Teheran tuyên bố là không hề có thông tin gì nói về những vụ người chết và không một ai bị bắn chết cả. Ngược lại, có một số cảnh sát đã bị thương.
Một nhà báo của trang web Rehazabz cho biết là gần một cây cầu trên đại lộ Anghelab, trục giao thông chính chạy từ đông sang tây Teheran, cảnh sát đã nổ súng thẳng vào người biểu tình và làm 3 người thiệt mạng. Một người biểu tình khác thiệt mạng trong một vụ xung đột cách đó không xa.
Trang web Rahazabz không cho biết chi tiết bối cảnh xẩy ra vụ xung đột và nổ súng mà dẫn lại lời một số nhân chứng cho biết là họ thấy những người biểu tình khiêng xác nạn nhân.
Chính quyền Teheran lập tức lên tiếng bác bỏ thông tin có người chết trong các cuộc biểu tình. Lãnh đạo cảnh sát thủ đô Teheran tuyên bố là không hề có thông tin gì nói về những vụ người chết và không một ai bị bắn chết cả. Ngược lại, có một số cảnh sát đã bị thương.
Nhiều nhân chứng cho AFP biết là hôm nay, hàng chục ngàn người từ nhiều điểm kéo về đại lộ Enghelab, làm cho cảnh sát lúng túng. Những người biểu tình đã đốt nhiều đống lửa để ngăn cản bước tiến của cảnh sát. Ở một số nơi, họ còn lập cả các hàng rào. Nhiều xe của cảnh sát bị đập phá và đốt cháy.
Nguồn tin phe đối lập còn cho biết là cũng trong ngày hôm nay, nhiều cuộc biểu tình và dẫn đến xung đột với cảnh sát cũng đã diễn ra tại một số tỉnh như ở Najafabad (miền trung), Shiraz (phía nam) hay Babol (phía bắc) Iran.
Từ nhiều ngày qua, phe đối lập đã liên tiếp xuống đường. Các vụ bạo động ngày hôm nay diễn ra trong lúc tình hình chính trị đang rất căng thẳng sau cái chết của giáo chủ ly khai Hossein Ali Montazeri. Tang lễ của ông là dịp để phe đối lập biểu tình ở nhiều thành phố và dẫn đến những cuộc xung đột dữ dội với cảnh sát.
| | | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
LÚC NÀY KHÔNG THỂ CÓ VIỆC TỪ CHỨC CỦA TGM NGÔ QUANG KIỆT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 03.12.2009
Sự căng thẳng giữa CSVN và đặc biệt Uûy Ban Nhân Dân Tp.Hà Nội với Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT đã có từ thời Giáo dân Công Giáo đấu tranh cho Khu đất Tòa Khâm sứ Hà Nội. TGM Ngô Quang Kiệt đã cương nghị nói lên SỰ THẬT và những kẻ gian tham bất chính, CSVN & UBND Tp. Hà Nội, đã xử dụng tòan diện Báo Đài để vu khống, mạ lỵ TGM Ngô Quang Kiệt. Những kẻ gian tham bất chính này, nhất là Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội, đã muốn can thiệp vào tổ chức nội bộ Giáo Hội Công Giáo VN bằng đề nghị công khai muốn đẩy TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi địa bàn Hà Nội.
Cách đây mấy tháng, khi nghe tin Nguyễn Minh Triết muốn sang Vatican gặp Đức Thánh Cha Benedict XVI, chúng tôi đã viết liên tục rất nhiều bài cho đến ngày nay nhằm mục đích xin Vatican đề ph |
|
|
|