|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
|  | |
=============================== =========== SO/ NO. vtd0278b/20.11.06 DAC BIET CHU DE ============== APEC & WTO ===============================
APEC&WTO: ĐỊNH MỆNH TỰ HỦY DIỆT
1. ĐỊNH MỆNH KINH TẾ: CỘNG SẢN ĐỘC TÀI TỰ HỦY DIỆT 02
2. NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI HỎI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH 05
3. CƠ HỘI WTO: (I) TỔNG QUÁT: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI 08
4. CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) BÓC LỘT CÔNG NHÂN 17
5. BÀI ĐỌC THÊM: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC VIỆT NAM VÀ VIỆC CẦN THIẾT PHẢI CÓ NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP 20
6. CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) GIẾT CHẾT NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP 24
7. CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY 30
8. CƠ HỘI WTO: PHẢI BỎ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐỂ TOÀN DÂN XÂY DỰNG THỂ CHẾ TỰ DO DÂN CHỦ 34
9. CƠ HỘI WTO: ĐỘC TÀI CSVN TỰ SÁT 37
============================================================== |
| | | ĐỊNH MỆNH KINH TẾ: CỘNG SẢN ĐỘC TÀI TỰ HỦY DIỆT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Ý thức hệ Cộng sản dựa trên lý luận của Karl Marx về Định mệnh Kinh tế Tư bản (Fatalité Economique Capitaliste). Kinh tế Tư bản đặt Tiền đề là TƯ HỮU. Vì tư hữu (Propríeté Privée) mà phải có Tự do kinh doanh (Liberté d’Entreprise) và rồi Tự do Trao đổi ở Thị trường (Libre Echange au Marché).
Karl Marx lý luận rằng nền Kinh tế Tư bản Tự do và Thị trường gồm những bóc lột của giới Tư bản đối với giới Lao động. Nền Kinh tế ấy vô sản hóa giới Lao động (Prolétarisation des Travailleurs) đến độ giới này chịu không nổi mà phải đứng lên làm Cách Mạng Vô sản đòi lại những Tư sản cho giới vô sản của mình. Dựa trên cách đo lường của những Giá trị sản phẩm Kinh tế mà nhà đại Kinh tế gia cổ điển Anh, David RICARDO, đã có sáng kiến đặt ra, Karl Marx nói đến việc đấu tranh của giới Lao động. Theo David RICARDO, Giá trị của một sản phẩm Kinh tế được đo lường bằng sức Lao động hội nhập vào sản phẩm. Tư bản vì vậy được coi là sự chiếm hữu sức Lao động từ giới Thợ thuyền để làm sở hữu của giới Tư bản. Giới này quay lại dùng Tư bản để bóc lột thêm giới Thợ thuyền nữa. Karl Marx gọi đây là vông thân Kinh tế (Alíenation Economique), nghĩa là Tư bản thuộc Thợ thuyền, nhưng Thợ thuyền đưa tặng cho giới Tư bản để rồi giới Tư bản quay lại bắt Thợ thuyền làm đầy tớ cho Tư bản.
Lénine lấy Lý luận này của Karl Marx làm ý thức hệ cho Cách Mạng Vô sản: NHỮNG NGƯỜI VÔ SẢN HÃY ĐỨNG LÊN ĐÒI LẠI TƯ BẢN CHO ĐOÀN NGŨ THỢ THUYỀN, dù bằng những biện pháp đẫm máu (Lutte des Classes sanglante). Nhưng giới Vô sản là đám đông, phải có một Nhóm người đứng ra quản trị những Tư sản vừa thu hồi được. Nhóm người này là đảng Cộng sản. Những Tư hữu trở thành Công hữu và do đảng Cộng sản nắm giữ, chỉ huy và làm Kinh tế. Đó là nền Kinh tế Chỉ huy (Economie Dirigiste) với Công hữu (Propríeté Collective) và với những Hoạch định Kinh tế của Nhà Nước (Plans Economiques Etatiques).
Nếu Karl Marx gọi việc Vô sản hóa là một tiến trình tự động (Processus automatique) và việc sụp đổ của nền Kinh tế Tư bản là một Định Mệnh của chính Tư bản (Fatalité d’auto- destruction du Capitalisme), thì Lịch sử sự sụp đổ của Thế giới Cộng sản cho thấy một Định mệnh khác hẳn, đó là việc tự sụp đổ của Cộng sản do chính giới Vô sản thiếu ăn đến cùng cực (Fatalité d’auto-destruction du Communisme).
Thực vậy, trong lúc nền Kinh tế Tư hữu Tự do và Thị trường tiếp tục phát đạt và Tư sản hóa dần dần giới Lao động, thì nền Kinh tế Công hữu và Chỉ huy lại càng vô sản hóa giới Lao động đến cùng cực. Đến lúc mà giới Lao động này quá đói khổ trong một nền Kinh tế do đảng Cộng sản chỉ huy, thì họ đứng lên lật đổ nền Kinh tế chỉ huy này và đảng Cộng sản độc tài chỉ huy.
Nga và các nước Đông Aâu đã bỏ độc tài độc đảng và lấy lại nền Kinh tế tư sản Tự do và Thị trường.
Viet Nam vẫn cố tình ngụy biện bám víu Ý thức hệ đã sai lầm lịch sử ấy. Dù cố tình ngụy biện vì quyền hành cho độc đảng của mình, nhưng cái Định mệnh tự hủy diệt vẫn lạnh lùng diễn ra mà chúng tôi nhìn qua ba giai đoạn sau đây:
1. Giai đoạn I: KHÉP KÍN
Bài học Lịch sử của sự sụp đổ Cộng sản ở Nga và Đông Aâu vẫn chưa cho Cộng sản Việt Nam sáng mắt. Đảng CSVN quá ham quyền hành và tin tưởng ở sự che chở của Trung Cộng. Việt Nam vẫn KHÉP KÍN cửa và sự đói nghèo của Dân chúng vẫn tiếp tục. Nhưng sự khép kín này không lâu vì Định mệnh tự hủy diệt vẫn lù lù trước mắt.
2. Giai đoạn II: MỞ CỬA Dân chúng đói nghèo đến cùng cực với việc khép kín, việc cố thủ giữ lấy Kinh tế công hữu chỉ huy với độc tài độc đảng. Nhưng không còn viện trợ của Thế giới Cộng sản và Trung Cộng cũng phải lo lắng cho sự nghèo đói của mình, đảng Cộng sản Việt Nam đành phải tuyên bố MỞ CỬA cho Thế giới Tư bản với nền Kinh tế tư sản Tự do và Thị trường. Nhưng đảng vẫn thêm cái đuôi Định hướng Xã hội Chủ nghĩa để cứu vãn danh dự và làm cớ để giữ quyền độc tài độc đảng. Kết quả của MỞ CỬA này là Thế giới Tư bản có những cái nhìn nhiều hơn vào chế độ và Dân chúng có những liên hệ nhiều hơn với Thế giới bên ngoài để so sánh với những bẩn thỉu che dấu của chế độ. Cuộc Cách Mạng Truyền Thông Internet làm tăng cái nhìn từ nước ngoài và sự khám phá những bẩn thỉu che đậy của chế độ. MỞ CỬA, nhưng đảng CSVN vẫn tìm đủ mọi cách bấu víu lấy quyền hành độc đoán trong hoàn cảnh không giữ nổi truyền thông theo ý che đậy của mình.
Kết quả của Giai đoạn II MỞ CỬA này là những cuộc đình công của giới Thợ thuyền và việc đứng dậy của những nhà Dân chủ. Dân chúng không còn sợ hãi nữa vì không thể chịu được những che đậy bẩn thỉu, những đàn áp vì đảng bấu víu lấy quyền hành độc tài. Dân chúng đã tự động đứng lên ra báo thi hành quyền TỰ DO NGÔN LUẬN, tự động thành lập những Đoàn thể thi hành quyền TỰ DO LẬP HỘI. Họ đòi phải có Tự do, Dân chủ đa nguyên.
3. Giai đoạn III: HỘI NHẬP
Cái Định Mệnh Tự Hủy Diệt (Fatalité d’auto-destruction) cứ lù lù tiến tới ở Giái đoạn II MỞ CỬA như trên. Giai đoạn MỞ CỬA có những phát triển Kinh tế do sự làm ăn với Thế giới tư sản Tự do Thị trường. Đảng cố tình tuyên truyền rằng đó là công của đảng. Nhưng Dân chúng khám phá ra những tham nhũng và lãng phí có hệ thống của đảng, đó là kẻ thù của phát triển. Phải nói rằng sự phát triển hiện nay là do sự nhẫn nại làm ăn của Dân chúng Việt Nam, do nguồn vốn cung cấp hàng năm của khối người Tỵ nạn Cộng sản ở nước ngoài (USD.4.5 tỉ hàng năm), do tiếp cận hạn hẹp làm ăn với Thế giới Tư bản. Chính đảng Cộng sản làm thất thoát và trì hoãn việc phát triển này mới đúng.
Mất tin tưởng của Dân chúng quốc nội, đảng Cộng sản tìm những hỗ trợ ngoại lai để củng cố quyền lực Chính trị của mình. Thực vậy nếu đảng vẫn cảng cổ nói rằng Dân chúng Việt Nam tin tưởng ở đảng, thì hãy cho Dân chúng bầu phiếu Tự do để biểu lộ lòng tin tưởng ấy. Nhưng đảng không dám cho việc bầu cử tự do tín nhiệm ấy như chứng cớ cụ thể cho Thế giới biết. Đảng đã không dám làm mà chỉ tuyên truyền suông.
Mất tin tưởng của lòng Dân quốc nội và muốn dùng thế lực ngoại lai để tăng cường cho quyền độc tài đàn áp, trị Dân quốc nội, đảng CSVN nhận tổ chức APEC, đảng o bế Mỹ để có PNTR, đảng quyết tử vào WTO như gà mắc đẻ.
Đây là Giai đoạn III HỘI NHẬP với Thế giới Tư bản trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Nhưng việc hội nhập này không phải là đi dự yến tiệc. Đảng luôn luôn tuyên truyền rằng hội nhập WTO là hốt tiền bạc. WTO không phải là yến tiệc mà là một ĐẤU TRƯỜNG và là đấu trường về tiền bạc. Nếu chỉ là đấu trường về danh dự hay hơn thua về lý thuyết, thì có thua kém một chút cũng không sao, mất keo này bầy keo khác. Nhưng đây là đấu trường về tiền bạc không thương tiếc nhau. Không thể nói câu mất keo này bầy keo khác. Tiền bạc mất là mất, không thể cứu vãn, bất hồi tố. Kẻ yếu thì mất tiền mà người mạnh được của không có gì thương hại.
Vào WTO là phải giữ đúng đắn quy luật của đấu trường, không thể chập chí chập mầu gian dối che đậy. Nếu kết quả của Giai đoạn II MỞ CỬA là Dân chúng lấy Hiến pháp ra để đứng lên, thì kết quả của Giai đoạn III HỘI NHẬP này, Thế giới lấy Luật Quốc tế ra để chấm dứt độc tài khủng bố, gian lận, che đậy.
Cái Định Mệnh Tự Hủy Diệt sẽ tiến tới cho Cộng sản Việt Nam ở Giai đoạn III HỘI NHẬP này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI HỎI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài MỞ ĐẦU: NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI HỎI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH
Chúng tôi phân đã tích về những lo âu, sợ sệt của đảng CSVN trước viễn tượng tương lai đang có những biến chuyển hướng về những đòi hỏi phát triển Kinh tế. Một đàng họ cố thủ nắm giữ lấy quyền hành, không phải là Ý thức hệ mà là việc có độc quyền, thì dễ bề tham nhũng. Tham nhũng lan tràn và còn tràn lan hơn nữa khi mà viễn tượng phát triển Kinh tế đang là mơ mộng cá nhân của từng đảng viên hiện nay đã được đảng cho làm Kinh tế cá nhân. Nhưng một đàng khác, họ cố thủ bấu víu lấy quyền lực độc tài vì những lo âu trong thâm tâm rằng khi mà họ mất quyền thì Dân đòi hỏi họ phải trả lời về tất cả những tội ác, nhất là về việc tham nhũng, cướp bóc tài sản của Dân.
Việc cối chầy, mặt dầy mày dạn bấu víu lấy quyền hành như vậy từ những lý do không chính đáng cho thấy rằng Đất Nước khó lòng phát triển Kinh tế khi có cơ hội thuận tiện. Chúng tôi rất thích bài QUAN ĐIỂM của Bán Nguyệt San TỰ DO NGÔN LUẬN số 10/01.09.2006 đã chọn đầu đề: “CÔN ĐỒ TRỊ NƯỚC MÃI NÊN CHĂNG??“. Nguyên cái đầu đề như vậy đủ tóm tắt lòng dạ của đám ba đá ba trợn không biết liêm xỉ, chịu đấm ăn xôi cố níu lấy quyền hành độc đoán và dùng bạo lực khủng bố Dân.
Đàm phán song phương với Hoa kỳ về Thương mại, tương lai vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) là cơ hội mới sắp tới để nghĩ đến phát triển Kinh tế Đất Nước. Đảng CSVN đã làm mất một cơ hội phát triển Kinh tế chỉ vì làm nô lệ cho một Ý thức hệ ngoại lai và theo lệnh quốc tế của khối Cộng sản Liên Xô & Trung Cộng. Đó là cơ hội mà Dân Mỹ sẵn sàng tái thiết cả hai Miền Bắc và Nam Việt Nam sau khi ký Hòa Đàm Ba-Lê. Nếu không vì làm nô lệ cho khối Cộng sản xâm chiếm Miền Nam, thì đất nước chúng ta sau 30 năm yên lành phát triển Kinh tế với đóng góp của Hoa kỳ và khối Thế giới Tự do, nay đã là một trong những Con Rồng Kinh tế trong vùng. Chính những đảng viên cao cấp Cộng sản đã tiếc nuối cơ hội này.
Việc vào WTO và bình thường hóa Thương mại song phương với Hoa kỳ sẽ là cơ hội thứ hai. Nói đây là cơ hội phát triển, không có nghĩa là chúng tôi khẳng định rằng việc vào WTO sẽ hoàn toàn đưa lại những lợi điểm. Chúng tôi đã viết một số bài phân tích về những cái lợi và những cái hại. Biết những cài hại để tránh, thấy những cái lợi để mà gặt hái lấy cho Quê Hương.
Trong một số những bài viết ít tháng vừa qua tới nay, tôi đã nhấn mạnh về khía cạnh Kinh tế của những Phong trào Đấu Tranh. Chúng tôi đã mạnh dạn hô hào MẶT TRẬN KINH TẾ/ TÀI CHÁNH vì nhìn thấy tầm quan trọng của cơ hội này.
Bài hôm nay là bài MỞ ĐẦU để chúng tôi viết ba bài QUAN ĐIỂM lần lượt cho những số VietTUDAN kế tiếp:
Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI
Vào WTO, đây là một Văn Bản, Giấy Phép để những nước đã phát triển Kinh tế hoặc cường quốc Kinh tế vào Việt Nam làm một cuộc “Thuộc địa Kinh tế“. Thái Lan sẽ khống chế sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp Việt Nam. Những người về thăm Quê Hương đã thấy rằng Thái Lan bán gạo của họ, hoặc ngay đồ gia vị tại Thị trường Việt Nam. Trung Cộng sẽ diệt công nghệ Việt Nam về những sản phẩm thông dụng hàng ngày. Về những hàng hóa cao cấp hơn, có Nhật, Đài Loan, Đại Hàn và Tân Gia Ba. Các sản phẩm Mỹ, Aâu châu sẽ tràn vào. Những Dịch vụ nước ngoài như Kiểm toán, Bảo hiểm... sẽ thắng tại Việt Nam. Những Tiểu thương Việt Nam sẽ phải sống ngắc ngoải vì không trường vốn. Chúng tôi gọi đây là “Thuộc địa Kinh tế“ mà chúng ta phải tìm cách “Kháng chiến Kinh tế“ để chống lại.
Trong những cái hại này, có hai cái hại lớn nhất là: => Xử dụng độc tài, cấu kết với nogại lai để bóc lột nhân lực Việt Nam => Giết chế Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam
Bài QUAN ĐIỂM thứ hai: NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY
Trên đây là những điểm có hại. Chúng tôi cũng muốn nhìn những điểm lợi khi có sự bình thường hóa Thương mại với Hoa kỳ và khi đã vào WTO/OMC. Vào WTO và bình thường hóa Thương mại với Mỹ có nghĩa là chúng ta phải hiệp lực tăng cường xuất cảng những hàng hóa của Việt Nam để thu lấy ngoại tệ làm đà phát triển Kinh tế Đất Nước. Chúng tôi nhìn thấy những hàng hóa trong tầm nỗ lực sản xuất của mình:
=> Nông phẩm và Ngư phẩm => Hàng may mặc, Dầy dép che thân thông dụng => Nhận sản xuất những Linh kiện (Pìeces détachées) cho nước ngoài
Để có thể phát triển và xuất cảng những hàng này, nhất thiết cần phải có sự hợp tác thành thực và và lý tưởng giữa Quốc nội và Khối Người Việt tại Hải ngoại. Khối người Việt sống trên 70 quốc gia là đầu cầu không tốn kém của xuất cảng. Để có sự hợp tác thành thực và lý tưởng vì quyền lợi Đất Nước, phải có những Điều kiện Chính trị—Luật pháp phù hợp (Conditions Politico—Juridiques adéquates) mà hai bên đồng chấp nhận. Không thể kêu gọi Hoà hợp, Đoàn kết mà một bên chỉ muốn nắm trọn quyền định đoạt, còn một bên buộc phải cúi đầu vâng lời như đàn khỉ.
Bài QUAN ĐIỂM thứ ba: PHẢI BỎ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐỂ TOÀN DÂN XÂY DỰNG THỂ CHẾ TỰ DO DÂN CHỦ
Trước những nguy hại của một cuộc “Thuộc địa Kinh tế“ mà toàn Dân trong cũng như ngoài Nước phải nắm chặt tay nhau để “Kháng chiến Kinh tế“; trước nỗ lực khai thác xuất cảng những hàng hóa Việt Nam mà khối người Việt tại Hải ngoại là một lực lượng rất chủ yếu, chúng ta thấy rõ cái NHU CẦU không thể không có được là phải phế bỏ THỂ CHẾ ĐỘC TÀI hiện hành tại Việt Nam. Không những đây là NHU CẦU để hợp tác, mà chính thể chế này còn là ung thối vì tham nhũng hoành hành cần phải được tẩy sạch. Nhân Dân Việt Nam tại Quốc nội và khối Người Việt tại Hải ngoại không thể và không muốn nỗ lực làm việc cho phát triển Đất Nước, khi mà họ thấy đảng CSVN, một nhóm người đã ung thối, lại dùng bạo quyền khủng bố để ăn cướp bẩn thỉu trên đầu Dân Chúng Việt Nam.
Bỏ cái chế độ độc tài hiện hành, diệt trừ những ung thối của bạo quyền độc đoán để thiết lập một Thể chế Tự do Dân chủ mà toàn Dân chấp nhận. Có như vậy thì mới có Hoà hợp, mới có Đoàn kết thực sự.
Thể chế Tự do Dân chủ Pháp trị là Điều kiện Chính trị—Pháp lý phù hợp cho sự phát triển Kinh tế trong cái cơ hội mới bình thường hóa Thương mại với Hoa kỳ và vào Tổ chức Mâu Dịch Thế Giới (WTO/OMC). Chúng tôi xin nhắc lại rằng người Dân làm Kinh tế chứ không phải Nhà Nước làm Kinh tế. Nhà Nước chỉ tạo cái Điều kiện Chính trị—Pháp lý mà các nhà Kinh tế gọi đây là Mội trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Environnement Politico—Juridique adéquat) cũng như hai Môi trường Địa lý Tài nguyên và Nhân lực (Environnements Géographiques—Ressources et Environnement Démographique). Ba Môi trường này uốn nắn cho hướng đi, tạo đà phát triển Kinh tế của một Quốc gia.
KẾT LUẬN:
Vào WTO/OMC, muốn “Kháng chiến Kinh tế“ chống lại “Thuộc địa Kinh tế“, muốn gặt hái những cái lợi qua xuất cảng, thì phải có nỗ lực làm việc của toàn Dân trong cũng như ngoài nước. Muốn có được sự hợp lực thực sự để làm việc, thì phải phế bỏ cái chế độ độc tài CS ung thối, tham nhũng, ăn cướp hiện nay để có một thể chế mà toàn Dân đồng chấp nhận.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: (I) TỔNG QUÁT: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Đây là Bài thứ Nhất trong loạt mà chúng tôi đã loan báo trong Bài MỞ ĐẦU trên đây. Bài này viết về những cái hại tổng quát). Khi viết loạt bài này và có thể những loạt bài kết tiếp để khai triển thêm những chi tiết, tôi muốn cho thấy rằng chính những đòi hỏi Phát triển Kinh tế tương lai bắt buộc phải phế bỏ chế độ độc tài CSVN hiện nay. Khi tôi nói là phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành, đó không phải là việc tôi đòi hỏi hoặc “làm chính trị“. Đó chỉ là đòi hỏi của những điều kiện phát triển thuần túy Kinh tế mà thôi.
Bài thứ Nhất nói về khi nhậpWTO, cơ hội phát triển Kinh tế, trước hết có NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Bài này sẽ đề cập đến hai phần như sau: => Những cái hại gặp phải khi vào WTO/OMC => Những biện pháp chống lại những cái hại.
NHỮNG CÁI HẠI GẶP PHẢI KHI VÀO WTO/OMC
Vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC), nghĩa là Việt Nam nhập vào Cạnh tranh của Thị trường tự do. Nói đến Cạnh tranh, việc trước hết là phải biết mình có khả năng có thể cạnh tranh với người khác hay không, nếu không người khác sẽ đánh cho mình chết trong trứng nước hoặc lụn bại luôn. Việc cạnh tranh là ở chính trên nước mình, chứ không phải là Thị trường quốc tế tại những nưỡng nước khác. Dường như CSVN sống trong mơ mộng rằng vào WTO/OMC là đi hốt bạc tại những nước khác, mà quên đi rằng những nước khác có quyền vào chính nước mình để thu bạc đem ra.
Khả năng cạnh tranh của Việt Nam
Yêu cầu chế độ đừng ngông nghênh kiêu ngạo tự khen mình, coi mình như nhất nhì thiên hạ. Tôi còn nhớ câu chuyện một Tùy viên Quân sự của Sứ quán Việt Cộng bên cạnh Liên Hiệp Quốc nói với tôi rằng: “Thế Giới có 5 Tướng tài, Việt Nam chiếm 3“. Tôi nhịn cười không được bởi vì thấy ông ấy nói thành thực và ngây ngô chứ không phải là nói diễu chơi cho vui. Vấn đề vào WTO/OMC không còn phải là tự khoe mình ngông nghênh, tuyên truyền cho chế độ nữa. Vào WTO/OMC là vấn đề tiền bạc thực tiễn: cạnh tranh không nổi thì mất tiền, cạnh tranh thắng thì có tiền. Còn nếu chỉ nhằm khoe khoang, mơ mộng, thì chết đói. Đó là thực tiễn, chứ không dỡn chơi.
Nếu xét về việc tiến triển phần nào Kinh tế hiện hành, đó là nhờ sự đấu tranh Kinh tế của khối tư doanh và nhờ chính yếu nguồn ngoại tệ từ phía Việt kiều. Một số người nhìn sự tiến triển ấy, đã lầm lẫn hoặc cố ý nịnh đầm, đã cho rằng đó là công của CSVN. Nói như vậy là không hiểu gì về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Dân làm Kinh tế và phát triển Kinh tế, chứ không phải quyền lực Chính trị. Khối Cộng sản đã chủ trương làm Kinh tế để bao cấp Dân và họ đã hoàn toàn thất bại đến chỗ Dân đòi lại quyền làm chủ Đất Nước để nắm trong tay quyền làm ăn phát triển Kinh tế.
Tại Việt Nam, Dân nghèo phải làm ăn để có đủ sống. Họ nhờ nguồn tài trợ từ khối người Tỵ nạn thương gia đình còn ở lại. Khi phải tự mình kiếm sống, họ phải tìm đủ mọi cách tránh né sự áp chế, dành quyền kinh tế từ những Công ty quốc doanh. Khi phải tự mình kiếm sống, họ đã phải cay đắng cho CSVN ăn bẩn, ăn thỉu để có thể có việc làm, có cơ hội doanh thương tự họ. Khi phải tự mình kiếm sống, người Dân đã phải cay đắng nhận những đồng lương bóc lột mà CSVN bán họ cho nước ngoài và ăn hớt tiền trên sức lao động của họ. Nhìn như vậy, xin hãy nói cho đúng rằng nếu có những tiến triển kinh tế hiện nay, thì đó là từ sự cố gắng vượt mực của Dân. Chính CSVN đã cản mũi kỳ đà sức cố gắng phát triển này của người Dân. Những ai há mõm khen CSVN làm cho Kinh tế phát triển một phần hiện nay, đó là những người nói ngu xuẩn, thiếu học về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Tôi thẳng thắn nói vậy và sẵn sàng trả lời những ai ngu xuẩn khen tặng CSVN một cách nịnh đầm vô lương tâm và hèn hạ.
Sự phát triển kinh tế một phần hiện nay chưa cho phép Việt Nam tự hào rằng mình đã có đủ lực cạnh tranh trên Thị trường quốc tế. Vào WTO/OMC phải cấp tốc đẩy mạnh những gì đã có một phần phát triển. Việc đẩy mạnh này thiết yếu đòi phải dành quyền cho Dân bởi những phát triển kia là từ sức cố gắng của Dân, chứ không phải từ quyền lực CSVN, một quyền lực cản mũi kỳ đà cho phát triển.
Hàng hóa quốc tế diệt hàng hóa Việt Nam tại chính nước mình
Trên đây, chúng tôi nói tổng quát đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong đoạn này, chúng tôi nhìn xem những hàng hóa nước ngoài diệt chính hàng hóa Việt Nam tại quốc nội như thế nào. Trong đoạn tiếp theo, chúng tôi quan sát khả năng cạnh tranh của những hàng hóa Việt Nam bên cạnh những hàng hóa nước ngoài trên Thị trường quốc tế.
=> HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Chúng tôi đã nhiều lần nói đến sự cạnh tranh chính yếu đến từ Thái Lan. Nguồn sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp (Conditions géographiques—Ressources naturelles) giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam. Nhân lực làm việc (Conditions démographiques) về những ngành này cũng không khác gì nhau. Nhưng có sự khác biệt rất rõ rệt về điều kiện Chính trị—Pháp lý (Conditions Politico-Juridiques): một đàng (Thái Lan) dành phần khai thác cho Tư nhân, một đàng (Việt Nam) dành cho quốc doanh (người của độc đảng) những quyền khai thác, bóc lột ưu tiên. Ai cũngt biết rằng khi việc khai thác nằm trong tay quyền lực Chính trị, thì không thể không có lãng phí và tham nhũng được bao che, và do đó năng xuất khai thác không thể nào được phát triển như trong Điều kiên Chính trị—Pháp lý Dân chủ.
Trong việc khai thác, hai yếu tố chính sản xuất là Vốn và Nhân lực (K: Capital, L:Labour). Nếu nhân lực sản xuất giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam, thì có sự chênh lệch rất rõ rệt việc đầu tư Vốn vào hai ngành nông nghiệp va ngư nghiệp giữa hai nước: Thái Lan đầu tư vốn 8 lần hơn Việt Nam vào hai ngành này.
Hiện nay, mặc dầu chưa vào WTO, mà hàng nông nghiệp và ngư nghiệp của Thái Lan đã cạnh rất ưu thế tại chính Việt Nam. Những hàng nông nghiệp của Thái Lan như gạo, trái cây... được coi là hàng sang và đã lan tràn ở Việt Nam. Dân Việt mua gạo Thái để ăn, mua trái cây của Thái để cúng vái, để ăn những dịp lễ. Những hàng gia vị của Thái cũng đang lan tràn tại chính quốc nội.
=> HÀNG KỸ NGHỆ BIẾN CHẾ NÔNG PHẨM VÀ NGƯ PHẨM
Việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ biến chế những sản phẩm này tại chỗ. Không có Kỹ nghệ này tại chỗ, thì rất khó phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp. Những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm nhằm nối dài thời gian xử dụng trong tương lai (thời gian) và mở rộng địa vực xử dụng đến những nơi không có những hàng nông nghiệp và ngư nghiệp (không gian). Tỉ dụ, nước Ý có kỹ nghệ làm Cà Chua Hộp để nâng đỡ việc trồng Cà Chua, nếu không Cà Chua dễ thối.
Kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tại Việt Nam, xứ có nguồn dồi dào về ngư nghiệp và nông nghiệp, lại thua kém hẳn Thái Lan, Tân Gia Ba và Đài Loan. Như vậy, những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tràn vào Việt Nam và cạnh tranh trong phần thắng.
=> HÀNG CÔNG NGHỆ THÔNG DỤNG HÀNG NGÀY
Đây là những hàng công nghệ thường dùng hàng ngày. Những hàng này không thuộc loại hàng hóa phức tạp (Produits sophistiqués) cần phải có một trình độ kỹ thuật cao. Tỉ dụ như bát đĩa, xoong chảo, nồi cơm điện, xe hai bánh, quạt máy, phích nước..., đó là những đồ công nghệ thông dụng hàng ngày.
Hiện nay, ngay chưa nhập WTO, những hàng này đang diệt những hàng tương tự sản xuất tại Việt Nam. Nhà Nước Việt Nam mới tuyên bố rằng khi vào WTO, những hàng này của Trung Cộng còn được giảm xuống 16% nữa cho thuế nhập cảng. Như vậy khả năng những hàng này cũa Tầu diệt hàng Việt Nam càng tăng lên hơn nữa.
Tại sao Trung Cộng có khả năng cạnh tranh cao về những hàng công nghệ này ? Trong sản xuất, việc cạnh tranh là giá thành của hàng hóa. Muốn hạ giá thành, thì phải tăng số lượng sản xuất. Trung Cộng có khả năng tăng lượng sản xuất vì họ có khối lượng dân số 1 tỉ rưỡi. Hàng sản xuất không sợ ứ đọng vì đã có khối dân không lồ bảo đảm việc tiêu thụ hết hàng hóa.
=> HÀNG KỸ NGHỆ MÁY MÓC CAO & PHỨC TẠP
Những hàng Kỹ nghệ Máy móc cao và phức tạp (Produits sophistiqués) hầu như chưa phát sinh tại Việt Nam, nên chưa nói đến việc cạnh tranh được. Việt Nam mới bắt đầu sản xuất thuê những linh kiện (pìeces détachées) cho những Công ty nước ngoài, chứ chưa ở mức độ sản xuất những máy móc phức tạp (Produits sophistiqués) như sản phẩm cuối cùng sẵn sàng cho tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).
Việc cạnh tranh những hàng hóa này là việc cạnh tranh xử dụng Kỹ thuật tân tiến và cao (Haute Technologie moderne). Muốn có những Kỹ thuật tân tiến và cao, thì phải đầu tư những số Vốn lớn. Việt Nam chưa có khả năng Vốn lớn đầu tư, vì vậy hàng hóa trong phạm vi này không thể có khả năng cạnh tranh, thậm chí chưa sinh ra.
Những máy móc cao và phức tạp của những nước chung quanh sẽ tràn vào và diệt hàng Việt Nam trong trứng (chưa sinh ra). Những nước này là: Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, ngay cả Thái Lan và Mã Lai.
=> NHỮNG DỊCH VỤ (SERVICES)
Dịch vụ đầu tiên là Dịch vụ Phân phối hàng hóa (Thương mại). Khi vào WTO, những Tổ chức phân phối đa quốc gia (Chaines de Distribution Multinationales) có quyền mở rộng Thị trường phân phối tại Việt Nam. Nếu không vào WTO, những Tiểu thương hoặc những Nhà phân phối quốc nội được che chở phần nào trước sức mạnh của những Tổ chức phân phối đa quốc gia. Khi vào WTO, những Tổ chức này dễ dàng bóp chết hệ thống phân phối quốc nội vì những Tổ chức đa quốc gia này có số vốn khổng lồ để che chở việc cạnh tranh bán hàng hóa.
Ngoài Dịch vụ Phân phối hàng hóa, còn nhưng Dịch vụ độc lập khác như Kiểm Toán, Bảo Hiểm, Nha sĩ, Bác sĩ... Nếu những Dịch vụ này hiện diện ở Việt Nam vì phải tôn trọng Tự do lưu thông hàng hóa và dịch vụ khi vào WTO, thì sự cạnh tranh rất là gay gắt cho những dịch vụ từ người Việt tại quốc nội. Dân Việt chọn lựa những Dịch vụ từ người nước ngoài vì có nhiều những tin tưởng hơn (!). Tỉ dụ chọn Kiểm toán nước ngoài hơn là Kiểm toán quốc nội; chọn Bảo Hiểm ngoại quốc có nhiều tin tưởng hơn...
Hàng hoá Việt Nam thua kém cạnh tranh trên Thị trường quốc tế
Ở đoạn trên, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh quan trọng nhất, đó là những hàng hóa nước ngoài cạnh tranh với những hàng hoá Việt Nam hoặc diệt chính những hàng hóa Việt Nam trên lãnh thổ của Quê Hương mình.
Trong đoạn này, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi đứng bên cạnh hàng hóa các nước khác trên Thị trướng quốc tế:
=> Hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Nói ngay đến khối người Việt tỵ nạn, họ đã phải tiêu thụ hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Thái Lan trong 30 năm rồi. Trong thị trường quốc tế về hàng nông nghiệp và ngư nghiệp, còn phải kể đến những nước cạnh tranh khác: Nam Mỹ, các nước Đông Aâu, Aân độ, Nam Dương.
=> Hàng kỹ nghệ chế biến nông phẩm và ngư phẩm Việt Nam chưa sánh được ngay cả với những nước trong vùng như Đài Loan, Tân Gia Ba, Thái Lan, Mã Lai..., huống chi nói đến những nước đã mở mang trên Thế Giới. Những nước nông nghiệp, chăn nuôi như Nam Mỹ, đang mở mang mạnh kỹ nghệ chế biến thực phẩm. Đông Aâu đang mở mang mạnh về những kỹ nghệ biến chế thực phẩm này. Những nước tân tiến như Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha...cần mở mang những kỹ nghệ biến chế nông phẩm này để nâng đỡ phát triển nông nghiệp của họ.
=> Hàng công nghệ thường dùng Hàng Trung Cộng đang tràn lan. Việt Nam khó cạnh tranh với Trung Cộng về những hàng hóa thông dụng hàng ngày này.
=> Những máy móc cao và phức tạp Không thể có, lúc này, sự cạnh tranh của Việt Nam ở Thị trường quốc tế về những máy móc. Tôi chưa thấy có chiếc Ti-Vi “made in Vietnam“ bán ở Thị trường Thụy sĩ.
=> Những Dịch vụ (Services) Đến bao giờ mới có Dịch vụ Kiểm toán Việt Cộng ở Thị trường Pháp, Đức... ?
NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG LẠI NHỮNG CÁI HẠI
Phần trên đây phân tích về những điểm yếu, những cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO/OMC. Phần này nói đến những biện pháp nào để mong tránh hoặc ngăn chặn những cái nguy hại có thể xẩy ra.
Mặc dầu vào WTO rồi, nghĩa là phải thi hành Tự do Giao thương, nhưng có biện pháp nào tránh né cái Tự do đó hay không trong việc cạnh tranh? Đó là biện pháp tiêu cực.
Nhưng chúng ta phải nghĩ đến những biện pháp tích cực nhằm tăng cường cho chính khả năng cạnh tranh của mình.
Quyền che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh
Mặc dầu vào WTO, một Tổ chức luôn cổ võ Tự do Mậu dịch, cổ võ việc dành cho nhau Điều khoản “Quốc gia tối ưu đãi“ (Clause de la nation la plus favorisée), nghĩa là tuyên bố tình yêu với nhau, quyền Che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh vẫn được tôn trọng.
Đứng về mặt nguyên tắc và lý thuyết, Tự do Mậu dịch (Le Libre Echange) vẫn không khai trừ nguyên tắc Che Chở cho Kỹ nghệ đang phát sinh (Le Protectionnisme des Industries naissantes). Về nguyên tắc này, chúng tôi đã mới nói trong cuộc Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale).
Nhân sự va chạm giữa CNUCED và WORLD BANK trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc qua cuộc Hội Nghị nhận định về sự phát triển của những nước nghèo hoặc đang mở mang, ngày 13.09.2006, Đài RADIO FRANCE INTERNATIONALE (RFI) phỏng vấn tôi về 4 câu hỏi:
1) Tại sao Trung Cộng có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Quốc tế ? CNUCED coi đây là một sự thành công mà các nước kém mở mang có thể học đòi theo, đồng thời công kích Ngân Hàng Thế Giới đã trợ lực tài chánh cho các nước nghèo mà hiệu quả không gặt hái được cụ thể.
2) Vậy các nước nghèo có thể áp dụng được chính sách xuất cảng hàng hóa mà Trung Cộng đã áp dụng hay không ?
3) Tại sao chính sách hỗ trợ tài chánh cho những nước nghèo mà Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) chủ trương trong nhiều năm nay lại không đưa đến những kết quả tốt cụ thể?
4) Nhận xét về hậu quả như thế nào khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) ?
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề này và Đài RFI đã phát thanh về Việt Nam ngày Thứ Năm 14.09.2006, trong chương trình từ 15g-16g (giờ Paris). Xin vào RFI để nghe: http://www.rfi.fr/langues/statiques/rfi_vietnamien.asp
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề nêu ra trên đây. Câu hỏi thứ tư liên hệ đến Việt Nam khi vào WTO. Chúng tôi đã khai triển câu hỏi này trong phần trên đây, vì vậy chúng tôi không nhắc lại trong phần này nữa mà chỉ nhấn mạnh đến cái Quyền Che chở Kỹ nghệ đang phát sinh mặc dầu Việt Nam vào WTO với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) để chúng ta tìm cách che chở những cái thiệt hại cho nước mình khi mình thiếu khả năng cạnh tranh.
=> Trả lời cho câu hỏi 1
Nếu CNUCED coi đây là một Mô hình Kinh tế sáng kiến bởi Trung Cộng, thì đó là không đúng. Đây chỉ là một Chính sách Thương mại quốc tế mà những nước kém mở mang có quyền Bảo vệ những ngành Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Chủ trương này không phải là sự phát minh của Trung Cô.ng. Việc chủ trương bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này đã có trong Lịch sử Thương mại của những nước tư bản. Sau Cách mạng Kỹ nghệ của Anh quốc, nước này trở thành mạnh nhất Thế giới (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20) và muốn chiếm Thị trường quốc tế, đã kêu gọi và cực lực thuyết minh cho Chính sách Tự do Mậu dịch (Libre Echange) dựa trên những Thuyết lý Kinh tế của Adam SMITH, David RICARDO và Stuart MILL. Chính thời này, Hoa kỳ và Đức, còn trong thời kỳ gây dựng cho những Kỹ nghệ đang phát sinh, đã chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này (Protectionnisme des Industries naissantes) chống lại hàng hóa của Anh quốc. Lý thuyết gia Frederic LIST đã hùng hồn thuyết minh cho chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Ngày nay, Hoa kỳ và Đức đã trưởng thành về những Kỹ nghệ này, nên lại cực lực thuyết minh cho Tự do Mậu dịch (Libre Echange), thậm chỉ kêu gào cho Toàn cầu hóa (Globalisation). Vậy thì Tự do Mậu dịch (Libre Echange) hay Bảo vệ Mậu dịch (Protectionnisme) chỉ là tương đối tùy theo sức mạnh Kinh tế của nước đứng ra kêu gọị
Việc Trung Cộng bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh của mình là việc có quyền của những nước đang phát triển. Tự do Mậu dịch là một điều lý tưởng, những phải giả thiết rằng mọi Nước tham dự phải có sức mạnh Kinh tế đồng đềụ Điều này rất khó thực hiện trên Thế giới và luôn luôn là nguồn tranh cãi không lối thoát giữa đa số những nước nghèo và thiểu số những nước giầu qua những Vòng Thương Nghị (Tokyo Round, Kennedy Roung, Uruguay Round...) trong khuôn khổ GATT (tiền thân của WTO/OMC).
Việc Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh khác với việc xử dụng quyền lực độc đoán bóc lột nhân công để có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Thế giớị Chấp nhận trên nguyên tắc rằng những nước đang mở mang có quyền bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh, nhưng không thể chấp nhận việc hai nước Trung Cộng và Việt Cộng xử dụng quyền độc tài để bóc lột lương nhân công và để hạ giá thành hàng hóa, từ đó bán phá giá trên Thị trường quốc tế.
=> Trả lời cho câu hỏi 2 Các Nước nghèo hoặc đang trên đà phát triển có quyền BẢO VỆ NHỮNG KỸ NGHỆ ĐANG PHÁT SINH, nhưng CNUCED không thể khuyên họ hãy trở tha `nh một nước Cộng sản chủ trương chế độ độc tài để bóc lột sức lao động của nhân công như Trung Cộng và Việt Cộng đang làm. CNUCED muốn lấy khôn lỏi của Kinh tế để đè bẹp Nhân quyền hay sao ?
=> Trả lời cho câu hỏi 3
Chủ trương của Ngân Hàng Thế Giới muốn trợ lực tài chánh cho những Nước nghèo là rất đúng bởi vì với chủ trương Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa từ G8 hiện nay đồng thời cũng là việc Tập trung hóa Tài chánh về những nước giầu, thì hố sâu giầu nghèo giữa các nước sẽ khơi rô.ng.
Globalisation des Marchandises == Centralisation Financiere
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đã chủ trương việc tái phân phối tài chánh đến những nước nghèọ Đây là chủ trương rất nhân đạọ Nhưng tại sao chủ trương này không mang đến những hiệu quả tốt cụ thể. Tôi đã trả lời rất rõ rệt rằng sở dĩ không đạt được những hiệu quả tốt cụ thể là vì hai điều:
=> Việc tài trợ này qua các Chính phủ tại những nước kém mở mang. Những Chính phủ này có đầy tham nhũng lãng phí tài chánh làm thất toát số vốn tài trơ..
=> Ngân Hàng Thế Giới, một là thiếu phương tiện kiểm soát, hai là không đủ khả năng kiểm soát chặt chẽ về tài chánh đối với quyền lực chính trị của những nước ấỵ
Những Biện pháp không giá biểu
Tất cả những Đàm phán về Thương mại Song phương (Bilatéral: tỉ dụ Hoa kỳ—Việt Nam), từng Vùng (Régional: tỉ dụ Union Eropéenne) hay Thế Giới (Mondial: tỉ dụ WTO/OMC) đều mong đưa đến một Hợp Đồng về giá biểu. Những giá biểu này gọi là Giá Biểu Hợp Đồng cho Quan Thuế (Tarifs douaniers contractuels).
Khi nói đến Giá Biểu Hợp Đồng, thì hai nước, hoặc những nước cùng Vùng hoặc tất cả mọi nước trên Thế Giới coi nhau đồng đều và phải áp dụng những Giá Biểu đã kỳ kết.
Nhưng trên thực tế, có nước mạnh, nước yếu không đồng đều. Chính vì vậy, mặc dầu những Giá Biểu Hợp Đồng được ký kết mà mỗi nước tùy theo sức lực riêng, điều kiện cạnh tranh riêng, có thể áp dụng những Biện Pháp không Giá Biểu. Ngay cả trong phần Lý thuyết về Tự do Mậu dịch, những lý thuyết gia cũng biện minh cho những Biện Pháp không Giá Biểu gọi là “Les Mesures non-tarifaires“, như:
=> Biện Pháp Hạn chế Lượng (Contingentement/ Quotas) => Biện Pháp Kiểm soát Hối đoái (Controle de Change) => Biện Pháp Kỹ thuật (Mesure Technique) => Biện Pháp Hành chánh (Mesure Administrative)
Tất cả những Biện Pháp này là những “hiểu ngầm thông cảm hữu lý“ cho những nước quá bị thiệt thòi khi áp dụng đúng theo nhữn Giá Biểu Quan Thuế theo Hợp Đồng (Tarifs Douaniers Contractuels)
Đường lối nâng cao khả năng cạnh tranh
Hai Cách thế trình bầy trên đây: (1) Che Chở cho những Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes); và (2) Những biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) là hai Cách thế mang tính cách tiêu cực trong những quan hệ Thương mại quốc tế khi mà những nước ký với nhau trong Hợp Đồng không có sức mạnh cạnh tranh đồng đều như nhau.
Đường lối nỗ lực tự mình nâng cao khả năng cạnh tranh là Chính sách luôn luôn được khuyến khích. Đường lối này phải đến từ sức mạnh Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực mà người Dân làm chủ Kinh tế, Nhà Nước không can thiệp trực tiếp vào đời sống Kinh tế bằng quyền lực. Chúng tôi sẽ bàn về điểm này trong Bài thứ Ba để đòi buộc phải phế bỏ chế độc CSVN hiện hành.
Trả lời Phỏng vấn của RFI, tôi đã lưu ý đến việc nâng cao cạnh tranh của Trung Cộng và Việt Cộng một cách bất chính và vi phạm Nhân quyền. Thực vậy, đây không phải là việc nâng cao cạnh tranh một cách lành mạnh trong ý nghĩa chính đáng Kinh tế. Trung Cộng và Việt Cộng đã dùng bạo quyền bóc lột sức lao động của công nhân, ép buộc công nhân phải chấp nhận đồng lương rẻ mạt, như vậy Nhà Nước mới hạ được giá thành của hàng hóa và có khả năng bất chính cạnh tranh. Không những bất chính trên Thị trường quốc tế, mà Trung Cộng và Việt Cộng còn dùng bạo quyền đàn áp Nhân quyền, bóc lột sứ lao động của Dân cho quyền lợi của cá nhân mình qua việc tham nhũng, lấy tiền thưởng của nước ngoài khi họ vào Việt mua sức lao động rẻ mạt mà Công nhân “không dám than vãn“ lên nghiệp đoàn Công nhân do chính đảng CSVN nắm giữ.
Quốc tế công kích và tăng thuế nhập cảng về hàng da từ Trung Cộng và Việt Cộng là vì tính cách bóc lột công nhân của hai nước này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHÚ THÍCH:
Bài trên đây viết tổng quát về những cái hại (I: TỔNG QUÁT). Hai bài tiếp sau cũng viết về những cái hại. Hai cái hại quan trọng:
(II: BÓC LỘT CÔNG NHÂN)
(III: GIẾT NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP)
|
| | | KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) BÓC LỘT CÔNG NHÂN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài QUAN ĐIỂM của số báo tuần này được coi như một chú thích quan trọng của Bài QUAN ĐIỂM của số báo tuần trước với đầu đề: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI.
Khi trình bầy những cái hại, chúng tôi thấy rằng khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn yếu kém cả ở Thị trường Quốc nội cũng như trên Thị trường Quốc tế.
Làm thế nào để che chở cho hàng hóa Việt Nam ? Làm thế nào để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam ?
Chúng tôi đã trả lời về việc chống đỡ hàng hóa Việt Nam bằng quyền che chở cho kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des industries naissantes), bằng những biện pháp không giá biểu mà nhiều Quốc gia thường dùng (Mesures non-tarifaires). Nhưng nếu chỉ chống đỡ thì chưa đủ mà cần phải tìm cách tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam. Cách thế căn bản là Nhà Nước phải giao việc làm Kinh tế cho quyền người dân, nghĩa là một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự với một Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique démocratique adéquat).
Nhưng hiện nay, Trung Cộng cũng như Việt Cộng muốn khư khư giữ lấy chế độ độc tài độc đảng và xử dụng biện pháp bóc lột nhân công làm phương tiện hạ giá thành sản xuất và từ dó tăng cạnh tranh hàng hóa bằng giá cả. Chúng tôi đã trả lời thẳng thắn cho Đài RFI (Radio France Internationale) rằng đây là biện pháp bất chính và những nước khác sẽ đưa ra biện pháp chế tài. Thực vậy, Quốc tế nhìn thấy rõ biện pháp bóc lột nhân công này của Trung Cộng và Việt Cộng. Tỉ dụ Liên Aâu cũng như Hoa kỳ tăng thuế nhập cảng cho một số hàng (hàng da) đến từ Trung Cộng và Việt Nam.
Khi trả lời cho RFI như vậy và khi viết vấn đề này trong bài QUAN ĐIỂM tuần vừa rồi, một số ý kiến nêu ra rằng trong điều kiện nghèo khổ của Việt Nam, Dân có thể chấp nhận đồng lương thấp còn hơn là không có việc làm, nghĩa là mình muốn ăn cơm, nhưng không có, đành phải ăn cháo còn hơn là phải nhịn ăn chết đói.
Chính vì cái điểm này mà chúng tôi viết thêm bài QUAN ĐIỂM phụ này để cắt nghĩa rõ vấn đề có nên ăn cháo, nghĩa là chấp nhận đồng lương thấp như biện pháp tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm hay không.
QUẢN TRỊ XÍ NGHIỆP LÀ QUẢN TRỊ CHI TIÊU
Ở một Thế giới Kinh tế càng tăng tự do mậu dịch bao nhiêu, thì việc tìm cách tăng giá bán càng khó khăn bấy nhiêu. Kinh tế gia Paul SAMUELSON nói rằng trong dài hạn của Kinh tế cạnh tranh thị trường, khoảng cách lợi nhuận giữa giá bán và giá thành sẽ triệt tiêu (Marge bénéficiaire s’annulle). Việc tăng giá bán để có lợi nhuận hầu như không thể làm được do cạnh tranh. Chỉ còn một cách tăng được lợi nhuận là quản trị chặt chẽ chi tiêu, giảm thiểu giá thành. Trong khoảng thời gian 15 năm vừa rồi, người ta nhận thấy hai hiện tượng rõ rệt sau đây:
=> Tái Tổ chức lại Xí nghiệp (Restructuration de l’Entreprise). Nhân lực (Force de travail / Labour) có tính cách dễ tái tổ chức lại hơn là máy móc sản xuất (Equipement). Tại những nước đã kỹ nghệ hóa, khi nói đến Tái Tổ chức lại Xí nghiệp, có nghĩa là sa thải nhân viên để hạ giá thành sản xuất.
=> Chuyển sản xuất đến những Xứ có nhân công rẻ Các Công ty đa quốc gia (Les Multinationales) chuyển việc sản xuất đến những nước có nhân công rẻ, như vậy có thể hạ giá thành. Khi nói đến Toàn cầu hóa sản xuất, có nghĩa là những Công ty đa quốc gia có thể chuyển sản xuất một cách tự do đến những nước có nhân công rẻ. Việc chuyển đơn vị sản xuất này đến những xứ nghèo khiến các Công ty đa quốc gia thu được lợi nhuận cao bởi vì giá bán những hàng hóa vẫn giữ ở mức độ cao tại những quốc gia tiền tiến có khả năng tiêu thụ cao.
CHẤP NHẬN LƯƠNG HẠ TRONG MỘT THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC TỰ DO CẠNH TRANH
Đây là điểm mà chúng tôi trả lời cho những Vị đã đưa ý kiến như bênh đỡ cho Trung Cộng và Việt Cộng khi chúng tôi tuyên bố với Đài RFI và viết trong bài QUAN ĐIỂM tuần trước rằng chúng tôi không đồng ý với Trung Cộng và Việt Cộng ở việc hạ giá lương làm phương tiện tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa.
Lương bổng là cái GIÁ của thị trường được định bởi Cung và Cầu nhân lực. Cái Giá này lên xuống tuỳ theo lượng Cung và lượng Cầu của Nhân lực. Hai lực lượng Cung và Cầu phải có tự do thương thảo Giá cả (Lương) của Thị trường. Đồng lương có thể hạ nếu phẩm chất Nhân lực Việt Nam kém trong sự cạnh tranh quốc tế với Nhân lực của những Nước trong vùng. Nhân lực Việt Nam (Nhân công/ phía Cung của Thị trường) sẵn sàng chấp nhận cái Giá ấy của Thị trường trong điều kiện có TỰ DO thương thảo trực tiếp với phía Cầu của Nhân lực. Để có thể thực hiện được một Thị trường Nhân lực TỰ DO, cần phải có những điều kiện sau đây:
=> Nhà Nước không được can thiệp vào Thị trường bênh đỡ cho phía nào, trừ trường hợp có sự cấu kết của phía Cầu cố ý giảm lương. Trong trường hợp này, Nhà Nước đặt một mức Lương tối thiểu có tính cách xã hội (Plancher du Salaire) khi chiều hướng Giá lương theo đà xuống. Nhưng khi Lương theo đà lên, thì Nhà Nước phải để TỰ DO cho phía Cung (Nhân công) thương lượng với phía Cầu (Chủ). => Để có sự hiểu biết về Thị trường và đại diện thương lượng với phía Cầu (Chủ), Nhân công (phía Cung) cần phải có những Nghiệp Đoàn Độc Lập của mỗi ngành nghiệp. Chính những Nghiệp Đoàn Độc Lập này thông báo cho Nhân công về Thị trường và đại diện Nhân công để thương lượng về Giá cả (Lương lậu).
Nều hai điều kiện trên được thực hiện, thì những Vị nêu ý kiến có ý bênh đỡ cho Trung Cộng và Việt Cộng mới có lý do để nói.
KHÔNG CHẤP NHẬN LƯƠNG HẠ BÓC LỘT TRONG MỘT THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ CẤU KẾT GIỮA CHỦ VÀ QUYỀN ĐỘC TÀI CỦA NHÀ NƯỚC
Thị trường Nhân lực ở Trung Cộng và ở Việt Nam không phải là Thị trường TỰ DO định đoạt Giá cả giữa hai Lực Cung và Cầu. Nhà Nước quyết định Lương tối thiểu và giữ lâu dài không phải là trong chiều hướng bênh đỡ Nhân công có tính cách xã hội mà chính là sự cấu kết với phía Chủ (Cầu) để bắt ép Nhân công phải chấp nhận đồng lương bóc lột. Nhà Nước độc tài cũng không cho phép Nhân công được có những Nghiệp Đoàn Công nhân Độc lập để Đại diện thương thảo TỰ DO về Giá cả (Lương bổng) trên Thị trường Nhân lực. Tại sao vậy ?
=> Nhà Nước độc tài giữ lương hạ chết đói để bán Nhân công ấy cho Chủ. Nhà Nước độc tài cấu kết với Chủ để ăn hớt một phần lương của Công nhân. Tỉ dụ nếu không có sự can thiệp độc tài của Nhà Nước, đồng lương của Thị trường Tự do là 50 đo-la mỗi tháng chẳng hạn. Nhà Nước dùng quyền lực bắt nhân công nhận 30 đo-la mỗi tháng. Còn 20 đo-la kia sẽ được chia chác bẩn thỉu và ác nhân giữa quyền lực độc tài và phía Chủ. => Nhà Nước độc tài không cho phép Công nhân có Nghiệp Đoàn Công Nhân Độc Lập bởi lẽ như vậy thì Nhân công có thể thương thảo trực tiếp với Chủ khiến quyền lực Chính trị không ăn hớt bóc lột được gì trên đầu Nhân công. Tỉ dụ Lương Thị trường Tự do là 50 đo-la. Khi phía Cung (Nhân công) trực tiếp với phía Cầu (Chủ), nhân công có thể lãnh được 50 đo-la trọn vẹn. Còn nếu Nhân công đồng thuận với nhau về phía mình để lôi kéo đầu tư nước ngoài, họ có thể chấp nhận 40 đo-la mỗi tháng. Việc hạ lương để lôi kéo phía Chủ phải do chính Nhân Công quyết định tự do, chứ không phải Nhà Nước quyết định để ăn hớt bẩn thỉu trên đầu Nhân công. Khi chúng tôi không phê bình Trung Cộng và Việt Cộng về vấn đề Lương bổng, đó là chính ở điểm can thiệp độc đoán vào Thị trường để bóc lột.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
BÀI ĐỌC THÊM: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC VIỆT NAM VÀ VIỆC CẦN THIẾT PHẢI CÓ NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Hôm nay, tôi viết thêm bài nữa, hoàn toàn theo những phân tích đơn thuần Kinh tế về Thị trường Nhân Lực. Đây là bài học rất sơ học yếu lược về Kinh tế chính trị (Economie politique). Bài học đòi hỏi phải có Nghiệp Đoàn Lao Động Độc Lập, đại diện giới nghèo để bênh đỡ quyền lợi cho họ.
PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG VỀ MẶT KINH TẾ
Chúng tôi lần lượt phân tích những điểm sau đây:
@ Sức Lao Động là một Tư hữu không tách rời Sở hữu chủ @ Thị Trường Hàng Hóa nói chung @ Thị trường Nhân Lực nói riêng
Sức Lao Động là một Tư hữu không tách rời Sở hữu chủ.
Sức lao động của một người là tư hữu đầu tiên của riêng từ người. Đó là cái vốn đầu tiên để người ấy khai thác tìm phương tiện sống cho bản thân mình. Tư hữu Lao động khác với những tư hữu khác ở đặc tính là sức lao động không thể bán đứt cho người khác mà chỉ có thể cho thuê (On ne vend pas sa force de travail, mais on la loue seulement/ the people cannot sell the Labour, but they lease it only). Đó là tính cách không tách rời Tư hữu Lao động ra khởi Sở hữu chủ, nghĩa là không thể đổi chủ đối với Sức Lao Động. Ngay trong thời kỳ có chế độ Nô lệ, người ta có thể mua bán người nô lệ, nhưng không thể nói rằng người ta mua bán Sức lao động của người nô lệ. Sức lao động của một người nô lệ không thể tách rời chính người nô lệ ấy. Khi cha mẹ để lại cho con căn nhà, thì căn nhà này là tư hữu của người con và người con này có thể bán căn nhà (tư hữu) cho người khác đến làm chủ. Căn nhà cũng là tư hữu, nhưng là tư hữu có thể bán, không giống như tư hữu Lao động của riêng mỗi người.
Một hệ thống Kinh tế tôn trọng quyền tư hữu, thì buộc lòng phải cho Sở hữu chủ có quyền TỰ DO xử dụng tư hữu ấy. Nếu không có quyền xử dụng tư hữu, thì không thể gọi đó là tư hữu nữa. Đây là quyền tự do khai thác tư hữu trong hoạt động Kinh tế (Libre entreprise des propríetés privées). Sức Lao động là một tư hữu cơ bản không tách rời Sở hữu chủ vì vậy Sở hữu chủ có toàn quyền tự do quyết định xử dụng nó trong việc tìm phương tiện nuối sống mình.
Khi ngoại nhân, dù có quyền lực đến đâu đi nữa, cũng không thể nào quyết định xử dụng Tư hữu Lao động của một người (Sở hữu chủ) mà không có sự đồng thuận CHO THUÊ, quyết định tự do của Sở hữu chủ.
Thị Trường Hàng Hóa nói chung Mỗi một hàng hóa tạo một Thị trường: Thị trường Gạo, Thị trường Cà phê, Thị trường Rau muống, Thị trường Nhà cửa, Thị trường tiền Đo-la, Thị trường Bảo Lãnh Ngân Hàng... Trên các Thị trường này, có thể MUA ĐỨT hay chỉ CHO THUÊ. Người ta có thể bán đứt một Bảo Lãnh Ngân Hàng hay chỉ cho thuê tờ Bảo Lãnh ấy. Khi mua bán đứt một hàng hóa thì phải thay đổi Sở hữu chủ. Còn nếu chỉ cho thuê, thì Sở hữu chủ không thay đổi, mà chỉ có sự nhượng quyền xử dụng tư hữu mà thôi trong một thời hạn quy định theo Hợp Đồng. Người xử dụng tư hữu của người khác không được toàn quyền phá hủy tư hữu ấy. Tỉ dụ nếu mua đứt một chiếc xe, Sở hữu chủ là chính mình, thì mình có thể bán xe cho người khác, thậm chí có thể tự do đập phá chiếc xe đó. Nhưng nếu là xe thuê (Leasing), thì mình không thể tiêu hủy chiếc xe bởi vì Sở hữu chủ là người khác.
Dù MUA BÁN hay THUÊ MƯỚN thì phải có hai bên: người có tư hữu và người chiếm hữu hoặc chỉ muốn quyền xử dụng. Người có tư hữu muốn bán hoặc chỉ cho thuê tư hữu thì phải nhận được một cái gì mới quyết định trao đổi. Tất nhiên người muốn chiếm hữu hoặc chỉ muốn quyền xử dụng một tư hữu cũng phải ưng thuận cho Sở hữu chủ một cái gì để trao đổi. Kinh tế không chấp nhận trường hợp những Thánh Nhân mang tư hữu ra chợ tặng không cho người khác. Kinh tế cũng không chấp nhận người muốn chiếm tư hữu người khác hoặc bắt ép người khác cho mình xử dụng mà không trả cho Sở hữu chủ một cái gì để trao đổi, nghĩa là Kinh tế không chấp nhận những cường quyền ăn cướp tư hữu người khác hoặc xử dụng tư hữu ấy mà không đền bù một cái gì.
Phía Sở hữu chủ mang tư hữu đến Thị trường (Chợ) với mục đích trao đổi gọi là phía CUNG của Chợ. Còn phía đến Chợ để mong chiếm hữu hoặc muốn có quyền xử dụng gọi là phía CẦU. Hai phía thảo luận, mặc cả với nhau để có một CÁI GIÁ trao đổi quyền tư hữu hay CÁI GIÁ nhượng quyền xử dụng (Leasing). Tỉ dụ LÃI SUẤT của Thị trường Vốn là CÁI GIÁ ưng thuận nhượng quyền xử dụng Vốn. CÁI GIÁ của Thị trường thay đổi tùy số lượng tham dự Chợ của hai phía CUNG, CẦU của Thị trường.
Một Thị trường gọi là TỰ DO khi phía CUNG cũng như phía CẦU có quyền TỰ DO tham dự Chợ. Một sức mạnh Thứ Ba nào đó (như Đầu Cơ, Chính trị...) can thiệp vào Chợ sẽ làm mất TỰ DO quyết định của phía CUNG và phía CẦU. Từ những ông Tổ cổ điển của Kinh tế Tự do Thị trường đều yêu cầu rằng quyền lực Chính trị đừng can thiệp vào Thị trường bởi vì Chợ Đen, Buôn Lậu, Tham Nhũng, Đầu Cơ, Tiêu Tốn Xã Hội (Couts sociaux) tự động phát sinh.
Khi phía CUNG có quá nhiều người tham dự cũng như phía CẦU có quá đông người, thì việc am tường về Chợ của từng cá nhân có thể không quán xuyến nổi hoặc bị cảnh lắm thầy thối ma làm giảm sức mạnh của mỗi phía. Chính vì vậy, số đông những cá nhân của mỗi phía chọn ra những người chuyên môn đại diện để thông tin về Chợ và để có quyết định thống nhất hơn làm tăng sức mạnh mỗi phía CUNG cũng như CẦU. Những người chuyên môn được làm đại diện này tạo thành những Hội, những Nghiệp Đoàn. Như vậy những Hội, những Nghiệp Đoàn hoàn toàn được tạo ra do nhu cầu Kinh tế trong việc thông tin, thương lượng... bênh vực quyền lợi của mỗi phía của Thị trường về GIÁ CẢ trao đổi. Tỉ dụ Hội những Ngư Dân nhằm thông tin, thương lượng về giá cả cá mắm chẳng hạn. Quyền lực Chính trị không được xen lấn vào quyết định của Thị trường, nhất nữa càng không được tự mình lập những Hội theo khuynh hướng Chính trị của Nhóm Đảng mình và dành quyền đại diện cho các phía của Chợ để quyết định về việc trao đổi Tư hũu trên Thị trường của các Tư nhân tham dự.
Thị trường Nhân Lực nói riêng
Thị trường Nhân Lực cũng là một cái Chợ mang những tính chất chung vừa trình bầy trên đây: TỰ DO quyết định, không có quyền lực Chính trị can thiệp cản trở hay ấn định, mỗi phía CUNG, CẦU cần có những Hội, những Nghiệp Đoàn đại diện đích thực cho mỗi phía. Nhưng tôi tách Thị Trường Nhân Lực ra riêng bởi lẽ có những đặc điểm sau đây:
=> Thị trường Nhân Lực chỉ có CHO THUÊ Sức Lao động
Như trên đã nói, tư hữu của mỗi cá nhân là Sức lao động của riêng họ và không thể tách rời khỏi Sở hữu chủ. Do đó Thị trường này không phải là Thị trường để bán đứt Sức Lao động, mà chỉ là CHO THUÊ Sức lao động mà thôi. Tiếng Việt mình phân biệt rất rõ về Thị trường này khi nói là đi THUÊ, đi MƯỚN thợ, chứ không bao giờ nói là đi MUA thợ bởi vì tư hữu Sức Lao động không bao giờ thay đổi Sở hữu chủ.
Cái GIÁ trao đổi của Thị trường Nhân Lực là ĐỒNG LƯƠNG. Khi nói đến THUÊ, MƯỢN phải có yếu tố THỜI GIAN can thiệp vào trong khi MUA ĐỨT một tư hữu thì không cần phải kể đến yếu tố thời gian. Tỉ dụ khi nói đến Lãi suất (Giá Thuê Vốn), thì phải định theo thời gian xử dụng Vốn nữa, trong khi ấy khi nói đến Mua Đứt số Vốn thì không cần phải kể đến thời gian nữa.
Phân tích như trên để chúng tôi nhấn mạnh rằng khi cho thuê Sức Lao động, người Công nhân có quyền xét Đồng Lương dựa trên : (i) giá trị cao thấp của Sức Lao động mà cá nhân có được; (ii) thời gian cho thuê sức lao động ấy.
=> Tính cách chuyển hoá linh động của Thị trường Nhân Lực
Ở những Thị trường hàng hóa, không có những thay đổi mau lẹ của giá trị hàng hóa, nên kém tính cách chuyển hóa linh động vì thế mà giá cả mua bán hoặc cho thuê có thể đứng lâu ở một mức độ. Nhưng ở Thị trường Nhân Lực, vì Sở hữu chủ có trí thông minh, hấp thụ những tiến triển kỹ thuật qua kinh nghiệm hoặc giáo dục, nên đồng lương không thể đứng nguyên ở một mức trong khoảng thời gian dài. Tỉ dụ giá thuê một con trâu để kéo cầy có thể giữ ở một mức trong khoảng thời gian dài nào đó bởi lẽ việc kéo cầy của con trâu vẫn như vậy từ năm này qua năm khác. Nhưng con người có óc thông minh hấp thụ những tiến bộ kỹ thuật, nên sức lao động của một Công nhân năm 1990 khác với sức lao động của một Công nhân năm 2000. Đồng lương phải linh động thay đổi theo những hấp thụ của trí thông minh ấy.
=> Mức sống tăng trưởng
Công nhân cho thuê Sức Lao động là để sống. Đây là sống thực, nghĩa là đồng lương của Công nhân phải theo với vật giá. Nếu các Thị trường hàng hóa không theo vật giá, thì Thị trường Nhân Lực phải định đồng lương theo vật giá. Nếu đồng lương chỉ theo con số (Valeur nominale) mà không theo khả năng mua hàng hóa để sống theo vật giá (Pouvoir d’achat), thì đó là điều rất tàn nhẫn. Thông thường, trong mọi xã hội, vật giá chuyển biến theo chiều đi lên. Nếu đồng lương đứng một chỗ, hoặc không theo kịp đà đi lên của vật giá, thì Công nhân càng ngày càng nghèo đi. Tỉ dụ với đà phát triển Kinh tế theo Nhà Nước VN tuyên bố là mỗi năm chừng 8.5%, thì đà phát triển này sẽ làm tăng vật giá. Nếu lương cho Công nhân không theo kịp đà tăng này, nghĩa là đứng ở một mức trong vòng 5 năm chẳng hạn, thì người Công nhân sẽ thấy mình nghèo khổ đi nhiều lắm.
=> Đồng lương đứng một chỗ sẽ gặp Hậu quả ác ôn của Samuelson (Effet pervers de Samuelson)
Các Thị trường hàng hóa không có cái hậu quả ác ôn này mà Samuelson, Giáo Kinh tế lừng danh của Hoa kỳ, đã gọi đặc biệt cho Thị trường Nhân Lực. Đối Thị trường của một hàng hóa, nếu giá bán hoặc giá cho thuê giảm dần, thì phía CUNG cũng giảm bớt cung cấp hàng hóa ấy trên Thị trường. Nhưng đối với Thị trường Nhân Lực, Samuelson thấy rằng nếu đồng lương đi theo chiều giảm xuống, thì Công nhân không thể giảm giờ cung cấp Sức Lao động cho Thị trường bởi lẽ họ phải giữ mức sống tối thiểu cho họ và cho gia đình họ. Nghĩa là Thị trường Nhân Lực sẽ gặp một nghịch lý, đó là khi lương giảm thì công nhân phải tăng Sức Lao động, tăng giờ làm việc, phải làm nhiều ca vì sự sống còn của họ và gia đình họ. Đây là nghịch lý ác ôn của CUNG ở Thị trường Nhân Lực.
Tại Thị trường Nhân Lực Việt Nam, đồng lương giữ ở một mức trong thời gian dài, trong khi ấy vật giá lên cao, nghĩa là đồng lương thực (Salaire réel) giảm, thì dân lao động phải tăng giờ làm việc để giữ mức sống tối thiểu và bần cùng của họ. Tăng giờ làm việc, rồi sinh bệnh tật, hoặc phải đi cho thuê Dâm..., đó là sự vô nhân đạo cho kẻ nghèo. Cái hậu quả ác ôn này (Effets pervers) hoàn toàn có tính cách Kinh tế.
=> Can thiệp Chính trị vào Thị trường Nhân lực Việt Nam.
Thị trường hàng hóa nói chung đã không muốn Nhà Nước can thiệp vào bởi lẽ Thị trường là nơi trao đổi hay cho thuê tư hữu TỰ DO của những cá nhân Sở hữu chủ. Nếu việc can thiệp này lại là do động lực Đầu Cơ, Tham Nhũng..., thì càng phải loại trừ ra hơn nữa. Nhìn vào các Thị trường hàng hóa tại Việt Nam, người ta nhận thấy rằng không những Nhà Nước can thiệp trực tiếp, mà còn xử dụng những Công ty quốc doanh (do dảng CSVN nắm giữ) hoặc bằng những Công ty tư doanh do con cháu những người có quyền Chính trị lợi dụng quyền thao túng. Đây là sự can thiệp Chính trị vào Kinh tế mà Thị trường hàng hóa Tự do không thể chấp nhận. Đây không phải việc chỉ trích mang mầu sắc Chính trị, mà là một sự chân nhận thực tế vi phạm những nguyên tắc cơ bản của hệ thống Kinh tế Thị trường Tự do. Người ta cũng chân nhận rằng giới tư doanh trên Thương trường cũng không có quyền lập Hội, Nghiệp Đoàn mà Thị trường đòi hỏi như chúng tôi đã phân tích ở đoạn trên đây.
Riêng về Thị trường Nhân Lực Việt Nam, việc can thiệp của quyền lực Chính trị vào Thị trường trực tiếp hoặc qua những đặc quyền hay đầu cơ, không những không tôn trọng Công nhân (Sở hữu chủ Sức Lao Động của họ), mà còn trở thành sự bóc lột và tệ hơn nữa là mang hâu quả ác ôn (Effet pervers) mà Samuelson đã phân tích.
Vi phạm đầu tiên là những Công đoàn do đảng (quyền Chính trị độc tài) nắm giữ. Những cuộc Đình Công vừa qua là hiện tượng mất tin tưởng của Công nhân vào những Công đoàn này mà những người lao động gọi là Công đoàn Công an Nhà Nước. Đây là việc vi phạm vào chính quyền tự do xử dụng quyền tư hữu Sức Lao động không thể tách rời người lao động trong suốt cuộc đời của họ. Nếu về phương diện Chính trị, với Điều 4 của Hiến Pháp, đảng CSVN nói rằng đảng là đại diện và tiên phong cho Dân, cho Công nhân, thì về mặt Kinh tế, đảng không thể tuyên bố như vậy được bởi lẽ đảng không còn bao cấp cho cuộc sống Công nhân nữa, mà chính Công nhân phải tự mình cho thuê sở hữu Sức Lao động để kiếm phương tiện nuôi sống mình và gia đình. Phải để chính những người Công nhân này chọn những người Đại diện cho chính họ vào một Nghiệp Đoàn Độc Lập hầu thông tin, thương thảo trên Thị trường cho có một giá (Lương) cho thuê sức Lao động của họ.
Chúng tôi cũng muốn nhắc ra đây một tỉ dụ về vi phạm của Nhà Nước đối với Thị trường Nhân Lực Việt Nam. Tỉ dụ đó là: Đài BBC cách đây chừng 10 ngày, khi phỏng vấn Oâng Lech VALESA, đã tiết lộ công khai rằng Nhà Nước đã ký những Hợp Đồng quan trọng với những Công ty nước ngoài, nên Nhà Nước không cần những Nghiệp Đoàn Độc Lập làm gì. Như vậy là quyền lực Chính trị đã coi những Sở hữu chủ (Công nhân) của sức Lao động (tư hữu) của họ không ra cái gì cả. Nói cách khác, quyền lực Chính trị đã truất hữu sức Lao động của Công nhân để cho ngoại bang THUÊ. Nhưng với giá cho thuê bao nhiêu ? Sở hữu chủ (Công nhân) cũng không biết luôn. Công nhân có thể nghĩ rằng với tình trạng tham nhũng, đầu cơ gia đình con ông cháu cha, đây là việc quyền lực Chính trị độc đoán đem cho thuê tư hữu sức Lao động của họ cho ngoại lai với giá mà trong đó những kẻ nắm quyền lực tham nhũng, đầu cơ gia đình đã chia một phần lương của họ với ngoại lai.
NẾU CÓ HẬU QUẢ CHÍNH TRỊ
Đây là Kết luận cho Phần Phân tích hoàn toàn có tính cách Kinh tế trên đây. Ơû Phần trên chúng ta cũng nhận thấy rằng Thị trường Lao động Việt Nam đòi hỏi: => Quyền lực Chính trị phải tôn trọng tư hữu của Công nhân, đó là Sức Lao động => Công nhân có quyền TỰ DO quyết định việc cho thuê tư hữu của mình => Tự động Đình Công và kêu gọi thành lập Nghiệp đoàn Độc lập là hiện tượng cụ thể chứng tỏ việc không tin vào những Công đoàn do Nhà Nước chỉ huy. => Tự do xử dụng quyền tư hữu, tự do quyết định giá cả cho thuê tư hữu và việc không tin vào Công đoàn nhà nước, tất cả cho Công nhân cái quyền chọn những người Đại Diện mà họ tin tưởng để làm việc giúp họ khi quyết định cho thuê Sức Lao động (tư hữu bất khả phân khỏi cá nhân mỗi người). Những Đại Diện này tập hợp thành những NGHIỆP ĐOÀN LAO ĐỘNG ĐỘC LẬP.
Đã bao chục năm nay, chính quyền lực đảng CSVN đã chính trị hóa những Nông dân, Công nhân, xử dụng họ như công cụ đấu tranh đẫm máu để cướp lấy quyền lực Chính trị độc tài cho mình.
Ngày nay, mục đích đấu tranh của những người nghèo này là Kinh tế, là cho quyền sống thân xác của họ. Nếu cuộc đấu tranh mang đến hậu quả có tính cách thay đổi thể chế Chính trị, thì đó không phải là MỤC ĐÍCH của họ mà quyền lực Chính trị muốn vu khống để khủng bố, đàn áp chính những kẻ mà đảng đã lợi dụng thủ lợi cho đảng trước đây. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) GIẾT CHẾ NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài QUAN ĐIỂM của số báo tuần này là chú thích quan trọng thứ hai cho bài QUAN ĐIỂM chính đã viết trước: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI .Chú thích thứ nhất là: CƠ HỘI WTO: BÓC LỘT CÔNG NHÂN ĐỂ TĂNG CẠNH TRANH (Xin đọc Phần KINH TẾ/ TÀI CHÁNH của số báo này).Và chú thích thứ hai hôm nay là: CƠ HỘI WTO: GIẾT CHẾT NÔNG DÂN VÀ NGƯ DÂN
Công nhân, Nông dân và Ngư dân là tầng lớp nghèo khổ và chiếm trên 80% dân số Việt Nam. Đảng Cộng sản VN mơ mộng hốt bạc với WTO, ăn tham nhũng và củng cố chế độ. Họ không nghĩ hoặc cố tình làm ngơ rằng mình tự do xuất cảng thì nước ngoài cũng tự do đem hàng hóa vào Việt Nam. Hàng hóa Việt Nam cạnh tranh yếu tại Thị trường Quốc tế, nghĩa là đem hàng ra ngoài èo ọt nhặt tiền còm, trong khi ấy tại chính Đất Nước mình, hàng nước ngoài vào giết hàng Việt Nam. Tệ hại hơn cả, đó là việc giết chế hàng Nông nghiệp và hàng Ngư nghiệp Việt Nam mà tầng lớp Dân nghèo Nông dân và Ngư dân phải bám lấy để sống.
CHÚNG TÔI LUÔN LUÔN KÊU GỌI PHẢI ĐẦU TƯ VÀO NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Có ba yếu tố chính khuôn đúc sự phát triển Kinh tế của một Quốc gia mà các nhà Kinh tế gọi đó là những Môi trường:
=> Môi trường Thiên nhiên của địa vực (Environnement naturel/ géographique) => Môi trường Nhân lực (Environnement démographique) => Môi trường Chính trị—Luật pháp (Environnement politico-juridique)
Môi trường thiên nhiên của địa vực Việt Nam là nông sản và thủy sản với những cánh đồng bát ngát mầu mỡ, với những ngàn cây số ven biển. Cái Môi trường này hướng Kinh tế Việt Nam trước tiên vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Dân tộc chúng ta đã sống hết thế kỷ này sang thế kỷ kia với giải đất nông sản và ngư sản sẵn có, chỉ cần khai thác cho cuộc sống.
Chính vì vậy khi bắt đầu viết những loạt bài về việc vào WTO, trước tiên chúng tôi luôn hô hào phải đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp cho Dân sống đủ ăn hàng ngày đã.
Ngày 22.06.06, với bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 257, chúng tôi đề cập tới những điểm sau đây: => Sự quan trọng của Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam => CSVN: Công nghệ phục vụ cho tuyên truyền Chính trị => Nền Kỹ nghệ thực phẩm vững chắc
Sự quan trọng của Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam
Trước đây, sau khi Cộng sản chiếm Miền Nam, chúng ta đọc những tin rằng dân Việt Nam phải ăn bo bo mà lòng đau xót, trí hiểu không được. Việt Nam có dồi dào gạo, có nhiều cá tôm, có muối, có nước, thì Dân ta không thể nào chết đói được. Ngồi trên bờ ruộng lúa của đồng bằng Sông Cửu Long, mà Dân phải mở gói ra nhai bo bo, thì lòng đau lắm và đầu cũng khùng điên luôn vì hiểu không được.
=> Điều kiện thiên nhiên dồi dào cho Nông nghiệp
Đất đai Việt Nam dành cho Dân tộc điều kiện thiên nhiên phì nhiêu để phát triển những sản phẩm tối cần cho cuộc sống ấm no. Những đồng bằng sông Hồng Hà và Sông cử Long phì nhiêu cho Dân chúng sản xuất lúa gạo hai Mùa hoặc ba Mùa. Nước ta không thể thiếu lúa gạo. Về hoa trái, thì ai cũng biết rằng hạt rơi rụng đâu, thì cây mọc lên sinh hoa trái đó. Cả vùng đất đỏ đến vùng Tây nguyên đều là đất phì nhiêu để khai thác hoa trái, củ rễ... cho Dân sống thoải mái. Dân Việt không thể thiếu cơm gạo, thiếu hoa trái, thiếu củ rễ để Dạ Dầy Dân phải đến cồn cạo.
=> Điều kiện thiên nhiên dễ dàng cho xây cất nhà cửa với giá rẻ
Ngoài vấn đề đồ ăn, tài nguyên thiên nhiên về Lâm sản của Việt Nam có dư đủ để Nông dân và Ngư dân cất nhà cửa làm nơi cư ngụ. Thực vậy, truyền thống của Nông dân và Ngư dân là làm Nhà cửa bằng Tre, Luồng. Đây là việc làm nhà rất hợp với vị trí thiên nhiên khí hậu của nước ta. Dân Việt sống dọc bờ biển, dễ bị bão lụt tàn phá. Nếu làm Nhà bằng gỗ hoặc gạch ngói, thì tốn kém. Một trận bão lụt đủ tàn phá cả cơ nghiệp vào nhà gỗ, gạch ngói. Dân ta làm Nhà bằng Tre, Luồng. Tre, Luồng tại Việt Nam mọc lên rất nhanh. Nếu bão lụt tàn phá nhà bằng Tre, Luồng, thì vào rừng kiếm hoặc mua với giá rẻ để làm nhà mới.
=> Điều kiện thiên nhiên dồi dào cho Ngư nghiệp
Việt Nam có bờ biển chạy dài trên 2500 cây số. Miền Nam có sông ngòi chằng chịt. Vịnh Bắc Việt là nơi cá trú ẩn sinh con. Cá lớn lên đi theo ven biển đến Phan thiết, rồi Cà Mâu để Dân bắt. Sông ngòi Miền Nam nhiều tôm cá. Tôm cá sinh ra ở Biển Hồ bên Cao Mên, rồi lớn lên xuống những sông ngòi ở Miền Nam. Làm thế nào Dân có thể thiếu cá tôm để kho, luộc ăn với cơm gạo.
=> Tài chánh: tự tạo để khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp
Tôi đã có dịp nói về tính cách tự tạo tài chánh này từ chính Nông nghiệp và Ngư nghiệp để đầu tư khuếch trương cho Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam. Tôi nói rằng:
@ Mặc dầu Lý thuyết Mác-Lê lấy Búa (Công nhân) và Liềm (Nông dân) làm biểu hiệu trên lá cờ, nhưng tại Việt Nam, Cộng sản phải dựa hoàn toàn trên Liềm vì 80% là Nông dân, nhất là ở thời mà Cộng sản phải nhờ khối người này để cướp chính quyền. @ Nhưng sau khi Cộng sản đã cướp được quyền lực rồi, thì Nông dân bị bỏ rơi. Thiếu đầu tư cho Nông nghiệp như xây Silo dự trữ thóc gạo. Mùa màng gặt hái đã thất thoát đi 30% số thu. Hạ tầng cơ sở cho nông thôn cũng bị bỏ quên. Nhà nước chỉ chú tâm vào sửa sang đường sá ở những Thành phố lớn có những khu công nghệ mà những Công ty nước ngoài hưởng @ Đảng và Nhà Nước lại nắm về xuất cảng Gạo và những sản phẩm khác của Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Những thặng dư về số thu Nông nghiệp và Ngư nghiệp lại cho vào những phương diện khác: công nghệ cho vẻ vang chế độ hoặc túi riêng của những người cầm nắm quyền lực. @ Nông dân và Ngư dân không được tự do căn cơ tính toán, dùng những thặng dư thu vào từ Nô |
|
|
|