*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.438/11.03.10
=>So/No.437/04.03.10
=>So/No.436/25.02.10
=>So/No.435/18.02.10
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
SUP DO THE GIOI CS
KET AN CS TAN NHAN
HO CHI MINH & CSVN
HO SO TOI AC CSVN
CA NHAN & CHINH TRI
THE CHE TU DO/DAN CHU
DAN CHU PHAP TRI
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 


                                 

 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


============================================
NOI DUNG CHUONG NAY/ CENTENTS OF THIS CHAPTER:                
VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics 
============================================


*   VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics    
      
 
                         
SUP DO THE GIOI CS       
                                                 
                         
KET AN CS TAN NHAN         
                                              
                         
HO CHI MINH & CSVN           
                                             
                          
HO SO TOI AC CSVN       
                                                  
                         
CA NHAN & CHINH TRI            
                                           
                         
THE CHE TU DO/DAN CHU           
                                       
                          
DAN CHU PHAP TRI                                                           



===============================================================
                      NHUNG BAI CHU DE MOI DAY/ RECENT SUBJECTS
===============================================================

 


                                              HÒA GIẢI HÒA HỢP:

                                                    Bài MỞ ĐẦU
                                             GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ 

 
                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Tháng TƯ năm 2005



CHÚ THÍCH:
Đây là loạt bài Chủ để HỎA GIẢI HÒA HỢP mà chúng tôi đã góp ý nhân FREEDOM MARCH 2005 của Việt Tân và việc một số Nhóm Chính trị muốn nêu vấn đề Hòa Giải Hỏa Hợp, thậm chí có Website còn để chung cờ Đỏ Sao Vàng bên cạnh Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.Chúng tôi đăng lại loạt bài này vì hiện nay với loạt bài mà Việt Tân mới phổ biến trên đài Chân Trời Mới đầu năm 2007, dường như vấn đề Hoà Giải Hòa Hợp lại đuợc đặt ra



Một số thời gian gần đây, nghe ngóng tình hình Việt Nam, nhìn phong trào dân chủ hóa tại những nước Trung đông hoặc Đông Aâu, theo rõi những áp lực của Hoa kỳ đối với những nước dưới chế độ độc tài, người ta tiên đoán một sự thay đổi chế độ chính trị sắp xẩy ra tại Việt Nam.
 
Tình hình chung như hé ra một nguồn hy vọng lớn cho Quê Hương Việt Nam hiện đang phải chịu sự đàn áp của chế độ độc tài Cộng sản. Khối người Việt quốc nội, 85 triệu người, mong mỏi rằng sự thay đổi ấy phải tự căn bản và sẽ thỏa mãn ngưỡng vọng chính đáng của họ, chứ không phải là sự thay đổi trá hình bề mặt che đậy một thể chế độc tài vẫn tiếp tục. Tại Hãi ngoại, 3 triệu người Việt tỵ nạn ở trên 70 quốc gia, mong mỏi trợ lực cho đồng bào Quốc nội để chính họ thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Tuy vậy, một số Nhóm Đảng Hải ngoại vẫn mộng tưởng rằng mình là chính yếu mang Tự do Dân chủ về giải phóng Quê Hương.
 
Có những xuất hiện của những Nhóm Đảng này trong thời gian gần đây, nào là muốn vuốt đuôi Đảng Cộng sản bằng nêu lên việc đặt hai lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và cờ Đỏ Sao Vàng đứng chung với nhau, nào là muốn xóa bỏ ngày 30.04 QUỐC HẬN để chiều lòng Cộng Sản, nào là mánh khóe lợi dụng dân chúng để tự giới thiệu mình với thế lực ngoại lai để mong họ đưa mình về nhẩy bàn độc. Chiêu bài HÒA GIẢI HÒA HỢP được tung ra. Chiêu bài trở thành thời sự. Dưới chủ đề thời sự này, chúng tôi muốn viết loạt bài với những đề tài sau đây:

1) Dân chủ phải đến từ Dân: người dân Việt Nam Quốc nội muốn gì ?
2) Bản chất của mộ Thể chế Dân chủ đa nguyên
3) Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành
4) Đối lập phải giữ vững bản chất của mình
5) Hòa hợp hòa giải bản chất hay hòa hợp hòa giải đường lối thực hiện
6) Hòa hợp hòa giải phải chăng là sự chia nhau quyền cai trị
7)  Hòa hợp hòa giải không phải là vá víu váy đụp

Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển những đề tài trên đây liên tục trong các số báo VietTUDAN kể từ VietTUDAN số 209/07.04.2005.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế





HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 1
DÂN CHỦ PHẢI ĐẾN TỪ DÂN:
NGƯỜI DÂN VIỆT NAM QUỐC NỘI MUỐN GÌ?
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 
Với bài đầu tiên của loạt bài chủ đề này, chúng tôi muốn minh định những ý niệm căn bản về một thể chế mà người dân muốn, để từ đó, những bài kế tiếp có nền tảng thảo luận. Hai điểm chính sau đây được phân tích trong bài này:

=> Dân chủ là nguyên tắc nhân bản dân tộc
=> Những điều mong mỏi cụ thể của Dân Việt Quốc nội
Dân chủ là nguyên tắc nhân bản dân tộc

Chúng tôi không muốn bàn về nguyên tắc Dân chủ dựa trên một Nhân sinh quan hay một Xã hội quan nào, mà là dựa trên cuộc sống cụ thể của cá nhân có một thân xác và một trí thông minh muốn bảo tồn và triển nở mình. Khi những cá nhân cụ thể ấy sống với nhau thành một Tập thể, nguyên tắc Dân chủ là trọng tài điều hành hữu lý nhất. Nguyên tắc Dân chủ ấy hoàn toàn là nhân bản, chứ không đến từ thế giới ngoại tại con người. Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, qua thời gian và địa vực, còn bị ảnh hưởng bởi văn hóa Dân tộc.


Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát

Chúng tôi muốn lấy ý niệm NHÂN PHẨM làm nền tảng nguyên thủy để nói về NHÂN QUYỀN và nguyên tắc DÂN CHỦ.

Con người trước tiên là con vật như các con vật khác, có thân xác và phải tìm phương tiện bảo tồn thân xác ấy vì muốn sống. Một số lớn các loài vật không giết và ăn thịt chủng loại của mình. Đó là cái bản năng tôn trọng chủng loại của mình. Con người là một loại vật có được sự hiểu biết, tính thông minh vượt trội hẳn các loài vật khác. Sự thông minh này làm cho con người có thể hiểu biết được những cơ biến của thiên nhiên và khống chế những cơ biến ấy để phục vụ cho mình trên đường tìm phương tiện bảo tồn thân xác. Người ta gọi đây là tiến bộ khoa học và vật chất. Nếu loài vật biết tránh việc giết và ăn thịt chủng loại mình vì bản năng, thì tính thông minh nơi con người còn đi xa hơn bản năng súc vật, tạo cho mình một nền văn hóa và luân lý làm căn bản cho việc tôn trọng chủng loại mình, tỉ dụ như không những không giết và ăn thịt người khác, mà còn kính trọng, giúp đỡ đồng loại của mình.

NHÂN PHẨM có nghĩa là sự nhận biết cái giá trị của một con người, không những về thân xác mà còn về tinh thần của cá nhân, vì đó là một con người chứ không phải là con vật hay cỏ cây vô tri. Tôn trọng NHÂN PHẨM của người khác là phản ứng đầu tiên không phải chỉ vì bản năng mà còn vì sự phát triển văn hóa, luân lý đến từ trí thông minh. Một con người được sinh ra, dù khác mầu da, chủng tộc, phải được tôn trọng như người như mình. Đó đòi buộc tối sơ và tiên khởi: TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM.

Từ việc tôn trọng NHÂN PHẨM này, chúng ta suy diễn ra những quyền sống làm người. Đó là NHÂN QUYỀN. Những quyền căn bản của con người được liệt kê trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tuy nhiên chính mỗi cá nhân có thể nhận biết nhân quyền ấy trong đời sống thực tế hàng ngày qua câu nói căn bản:“Khi không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Câu nói này một đàng làm cho mình nhận biết cái quyền nơi người khác, một mặt bảo mình phải tôn trọng cái quyền ấy của người khác. Tất nhiên để có thể giữ trúng câu nói này, thì việc tối sơ là mình phải biết tôn trọng Nhân phẩm như đã nói trên đây. Thực vậy, một người không biết trọng Nhân phẩm, thì họ không biết tôn trọng những quyền sống căn bản nơi người khác.

Tỉ dụ khi bị đàn áp quá đáng, chịu không nổi, mình muốn nói ra để phản đối. Nhưng có người khác bịt miệng mình, cấm không cho nói. Mình không muốn người khác cấm cản mình nói. Khi không muốn như vậy, thì chính mình phải biết rằng mình không được bịt miệng, cấm cản người khác phát biểu lên trong trường hợp phải chịu như chính mình. Đây là việc nhận biết và tôn trọng quyền phát biểu, NGÔN LUẬN, của người khác. Cụ thể Đảng Cộng sản cấm Dân phát biểu, nhưng nếu Dân cấm Đảng phát biểu, Đảng có chấp nhận hay không ? Đây là một tỉ dụ trong việc áp dụng câu nói trên để nhận biết và tôn trọng những quyền căn bản sống làm người: NHÂN QUYỀN.

Trên đây là nói về phương diện riêng lẻ từng cá nhân sống. Con người có thể sống riêng lẻ cá nhân. Chúng tôi vẫn chưa chấp nhận câu định nghĩa:“Người là con vật sống Xã hội“. Cuộc sống chung xã hội chỉ là một nhu cầu mà cá nhân tự do thấy hữu ích trong việc phát triển cá nhân mình. Họ có quyền không chấp nhận.

Vì nhu cầu làm tăng hữu hiệu việc phát triển cá nhân, con người tự do chấp nhận cuộc sống Tập thể. Mỗi cá nhân có những khác biệt trong việc tìm phương tiện bảo tồn thân xác và phát triển trí thông minh, vì vậy mà trong cuộc sống Tập thể họ phải có những quy ước với nhau để giải quyết những khác biệt. Một trong những quy ước căn bản để giải quyết cuộc sống chung Tập thể, đó là nguyên tắc DÂN CHỦ. Đây là nguyên tắc lấy số đông làm chân lý tương đối. Như vậy, nguyên tắc DÂN CHỦ chỉ là một quy ước giữa những cá nhân tự do quyết định sống trong một Tập thể để giải quyết những khác biệt đến từ chính những cá nhân thành phần ấy. Chúng tôi gọi DÂN CHỦ là nguyên tắc nội tại giữa những cá nhân của Tập thể. DÂN CHỦ không thể là nguyên tắc đặt để cho Tập thể từ bên ngoài hay từ một quyền lực đứng trên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ ngoại tại Tập thể cá nhân chỉ là ĐỘC TÀI trá hình Dân chủ.

Nguyên tắc DÂN CHỦ lấy cá nhân làm căn bản, nghĩa là nguyên tắc này phải biết tôn trọng NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN.  Việc tôn trọng Nhân phẩm và Nhân quyền là nền tảng để bảo chứng việc tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự. Có trôn trọng NHÂN PHẨM, thì mới nhận biết và tôn trọng NHÂN QUYỀN. Có tôn trọng NHÂN QUYỀN, thì mới có thể quy ước với nhau nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự để giải quyết những khác biệt trong cuộc sống Tập thể.


Nguyên tắc Dân chủ Dân tộc

Trong phần trên, chúng tôi nói đến nguyên tắc Dân chủ đi từ việc tôn trọng Nhân phẩm, rồi tìm biết đâu là Nhân quyền để bảo vệ. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản bởi vì nó không đến từ một Nhân sinh quan, một Xã hội quan hay Tôn giáo quan hiểu như một sự cấu trúc lý luận từ một tiền đề phải chấp nhận hay từ một lòng Tin. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát. Nguyên tắc DÂN CHỦ nhân bản phổ quát là nguyên tắc mà mọi Tập thể Xã hội nhân loại phải giữ làm quy ước, từ Xã hội Aâu, Á, Mỹ, Phi, Uùc. Nhưng nguyên tắc Dân chủ ấy khi áp dụng vào mỗi Dân tộc, mỗi Địa phương, có những hoàn cảnh Văn hóa, Kinh tế, Phong tục...làm thay đổi những chi tiết. Chúng tôi gọi đây là nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC, nghĩa là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát chịu ảnh hưởng của những dị biệt của từng Dân tộc.

Tỉ dụ tại Tây phương, giữa Pháp và Ý, khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ quyết định cho Tự do ngôn luận, người Pháp thả lỏng về lộng ngôn hơn, trong khi đó người Ý nghĩ nhiều đến yếu tố Gia đình, tôn trọng triệt để ý kiến của người Mẹ (Mama).  Tại Việt Nam cũng vậy, phải kể đến việc tôn trọng người cao tuổi khi nguyên tắc Dân chủ quyết định về tự do ngôn luận cho giới trẻ.

Một vài tỉ dụ trên cho thấy rằng khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, chúng ta phải kể đến ảnh hưởng của những điều kiện Dân tộc để quyết định theo nguyên tắc ấy.


Những điều mong mỏi cụ thể của Dân Việt Quốc nội

Đây là những mong mỏi của người Dân quốc nội gồm 85 triệu người. Người Dân quốc nội đã phải sống những năm trường dưới chế độ độc tài Cộng sản. Những mong mỏi của họ gồm hai phương diện: mong phế bỏ cái ách độc tài hiện hành và mong xây dựng những gì tốt đẹp cho tương lai.

Mong phế bỏ cái ách độc tài

Thoát được cái ách độc tài hiện nay của chế độ Cộng sản, đó là điều mong mỏi nhất của Dân chúng Việt Nam tại quốc nội. Có một số người quan niệm sai lầm rằng chế độ độc tài hiện hành là một Thái cực và thể chế chủ trương Dân chủ nhân bản Dân tộc như vừa trình bầy trên đây là một Thái cực cùng mức thang so sánh. So sánh như vậy bằng chữ hai Thái cực cùng bình diện là hoàn toàn sai lầm.

Nguyên tắc DÂN CHỦ NHÂN BẢN vừa trình bầy trên đây dựa trên việc tôn trọng NHÂN PHẨM và việc bảo vệ NHÂN QUYỀN. Thể chế độc tài Cộng sản không phải là một Thái cực cùng bình diện để so sánh, mà chỉ là một VI PHẠM, một phủ nhận, đối với Chân lý. Khi đòi phế bỏ ĐỘC TÀI không tôn trọng Nhân Phẩm, không bảo vệ Nhân quyền, không thi hành nguyên tắc Dân chủ, đó chỉ là việc đòi hỏi ngưng VI PHẠM mà Cộng sản Việt Nam đang làm. Việc VI PHẠM này không thể coi là một Thái cực cùng bình diện so sánh với ước vọng tôn trọn NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN, thi hành nguyên tắc DÂN CHỦ.

Tôi nhấn mạnh về điểm sai lầm so sánh này để trong những bài kế tiếp, tôi phân tích việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa Chân lý và phủ nhận Chân lý. Tỉ dụ khi mầu TRẮNG là mầu trắng, nhưng có người mát dây điện cứ nói là KHÔNG TRẮNG (cố tình phủ nhận), rồi chúng ta cố gắng hòa lẫn MẦU TRẮNG (thực thể) với điều KHÔNG TRẮNG (phủ nhận), thì làm thế nào làm được.

Việc phủ nhận một thể chế Dân chủ Dân tộc không phải là bằng lời nói, mà bằng sức mạnh hà hiếp khủng bố. Chính Cộng sản Việt Việt Nam cũng biết đây là điều sai quấy, cối chầy, nhưng họ đã quá ham quyền hành để có thể vơ vét tài sản của Dân và của Quốc gia, nên đã muối mặt bất chấp việc sai quấy, cối chầy của họ. Thực vậy, nếu không có sức mạnh hà hiếp khủng bố, thì Dân đã quét sạch đám tội đồ dân tộc này rồi.

Khi chính Đảng Cộng sản biết họ là những người ham quyền hà hiếp, phủ nhận một nền Dân chủ Dân tộc chân chính, thì họ sẽ khinh những người coi họ cùng bình diện giá trị để Hòa giải Hòa hợp bởi vì Cộng sản biết đây chỉ là những nịnh thần để mong quyền hành, chứ không phải là những người đấu tranh cho những giá trị thực sự.  

Mong xây dựng thể chế Dân chủ Dân tộc

Khi phế bỏ được những sức mạnh khủng bố hà hiếp, người Dân tất nhiên mong xây dựng cho một thể chế biết:

=> Tôn trọng NHÂN PHẨM của từng người 

=> Bảo vệ NHÂN QUYỀN cho mỗi cá nhân

=> Aùp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC cho Xã Hội Việt Nam

Ba điều mong mỏi trên đây thiên trọng về đời sống tinh thần của con người và cũng là điều kiện để từng cá nhân phát triển những phương tiện chắc chắn bảo tồn cuộc sống vật chất của mình.

Mong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực

Như chúng tôi đã nói ở phần đầu, con người trước tiên là một con vật tìm mọi phương tiện sinh sống để bảo tồn thân xác của mình. Dạ dầy của con người giống như dạ dầy của con vật. Việc kiếm đồ ăn cho dạ dầy là cá nhân và tự do. Rất hiếm ai (bình thường) nhịn đói đến chết để mang đồ ăn nuôi sống ngưới khác.


Một nền kinh tế tư sản và tự do là nền kinh tế căn bản dựa trên việc tôn trọng mỗi cá nhân tìm sống để bảo tồn chính thân xác mình. Nền kinh tế ấy phải được bảo đảm bởi một Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) mà Dân chúng quyết định theo nguyên tắc Dân chủ.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 2
BẢN CHẤT CỦA
THỂ CHẾ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN 

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số vtdi0211/21.04.05 này nói về đề tài thứ hai: Bản chất của một Thể chế Dân chủ đa nguyên. Giữ vững lấy bản chất của một Thể chế, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi mà chế độ không thể nhượng bộ.
 
Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:

=> Thể chế Dân chủ đa nguyên coi cá nhân là mục đích của mọi sinh hoạt xã hội
=> Ba Ý niệm nền tảng của Thể chế: NHÂN PHẨN, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ
=> Những vi phạm nhất thời có thể sửa chữa


Chế độ Việt Nam Cộng Hòa coi con người cá nhân
là mục đích của mọi sinh hoạt xã hội

Người ta gọi Thể chế/Chế độ là những nguyên tắc, Luật pháp quy định việc quản trị, điều hợp những sinh hoạt chung đụng của một Cộng đồng bao gồm những Cá nhân thành phần. Mức độ quan trọng của Cá nhân được đặt vào những nguyên tắc, Luật pháp quản trị Xã hội là những tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa những Chế độ.

Tỉ dụ khi lấy Cá nhân làm mục đích tối hậu, thì Luật pháp không thể bóp chết những phát biểu ý nghĩ của cá nhân, nghĩa là bóp chết quyền tự do ngôn luận. Cũng vậy khi cá nhân được coi là đích điểm phục vụ của Nhà Nước, thì Nhà Nước không thể đặt Luật pháp bóp chẹt quyền tự do tín ngưỡng như trong Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo mà Quốc Hội Nhà Nước Việt Nam ban hành năm 2004.

Nếu chế độ coi Cá nhân chỉ là phương tiện để phục vụ cho một Ý tưởng (Ý thức hệ) nào đó của một Nhóm người, thì những quy chế, Luật pháp đặt ra sẽ coi rẻ cá nhân tự do và ép buộc những cá nhân trong Tập thể phải phục vụ những Ý tưởng của Nhóm người đó. Đây là thể chế độc tài đảng trị vậy.

Đệ Nhất Cộng Hòa cho Việt Nam được thiết lập, lấy con người là trọng tâm phục vụ của chế độ này. Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã nêu cao chủ trương Nhân Vị (Thuyết Nhân Vị của Đảng Cần Lao), nghĩa là Cá nhân là mục đích phục vụ, làm tiêu chuẩn để thiết lập những quy chế, Luật pháp của thể chế, theo nguyên tắc Dân chủ đa nguyên.


Ba Ý niệm nền tảng của chế độ:
NHÂN PHẨN, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ
 
Thể chế Việt Nam Cộng Hòa, tôn trọng Dân chủ đa nguyên, từ Đệ Nhất Cộng Hòa, chủ trương con ngưới CÁ NHÂN là mục đích phục vụ của mọi sinh hoạt Xã Hội. Khi coi cá nhân là trọng, thì thể chế ấy không thể không tôn trọng NHÂN PHẨM, không thể đè bẹp NHÂN QUYỀN nơi mỗi cá nhân và từ đó, trong những quyết định mọi quy chế, Luật pháp quản trị, nguyên tắc DÂN CHỦ phải được triệt để áp dụng.

Như vậy, thể chế Việt Nam Cộng Hòa, theo nguyên tắc Dân chủ đa nguyên, giữ vững 3 Ý niệm nền tảng: NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN và DÂN CHỦ với những hệ luận trực tiếp giữa 3 Ý niệm ấy. Chúng tôi trình bầy chi tiết dưới đây về 3 Ý niệm nền tảng này và những hệ luận trực tiếp giữ chúng đi từ chủ trương lấy Cá nhân làm trọng tâm phục vụ của mọi sinh hoạt xã hội: Tương trợ xã hội, Triển nở Văn hóa, Phát triển Kinh tế...

Rút ra Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát

Chúng tôi muốn lấy ý niệm NHÂN PHẨM làm nền tảng nguyên thủy để nói về NHÂN QUYỀN và nguyên tắc DÂN CHỦ.

Con người trước tiên là con vật như các con vật khác, có thân xác và phải tìm phương tiện bảo tồn thân xác ấy vì muốn sống. Một số lớn các loài vật không giết và ăn thịt chủng loại của mình. Đó là cái bản năng tôn trọng chủng loại của mình. Con người là một loại vật có được sự hiểu biết, tính thông minh vượt trội hẳn các loài vật khác. Sự thông minh này làm cho con người có thể hiểu biết được những cơ biến của thiên nhiên và khống chế những cơ biến ấy để phục vụ cho mình trên đường tìm phương tiện bảo tồn thân xác. Người ta gọi đây là tiến bộ khoa học và vật chất. Nếu loài vật biết tránh việc giết và ăn thịt chủng loại mình vì bản năng, thì tính thông minh nơi con người còn đi xa hơn bản năng súc vật, tạo cho mình một nền văn hóa và luân lý làm căn bản cho việc tôn trọng chủng loại mình, tỉ dụ như không những không giết và ăn thịt người khác, mà còn kính trọng, giúp đỡ đồng loại của mình.

NHÂN PHẨM có nghĩa là sự nhận biết cái giá trị của một con người, không những về thân xác mà còn về tinh thần của cá nhân, vì đó là một con người chứ không phải là con vật hay cỏ cây vô tri. Tôn trọng NHÂN PHẨM của người khác là phản ứng đầu tiên không phải chỉ vì bản năng mà còn vì sự phát triển văn hóa, luân lý đến từ trí thông minh. Một con người được sinh ra, dù khác mầu da, chủng tộc, phải được tôn trọng như người như mình. Đó đòi buộc tối sơ và tiên khởi: TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM.

Từ việc tôn trọng NHÂN PHẨM này, chúng ta suy diễn ra những quyền sống làm người. Đó là NHÂN QUYỀN. Những quyền căn bản của con người được liệt kê trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tuy nhiên chính mỗi cá nhân có thể nhận biết nhân quyền ấy trong đời sống thực tế hàng ngày qua câu nói căn bản:“Khi không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Câu nói này một đàng làm cho mình nhận biết cái quyền nơi người khác, một mặt bảo mình phải tôn trọng cái quyền ấy của người khác. Tất nhiên để có thể giữ trúng câu nói này, thì việc tối sơ là mình phải biết tôn trọng Nhân phẩm như đã nói trên đây. Thực vậy, một người không biết trọng Nhân phẩm, thì họ không biết tôn trọng những quyền sống căn bản nơi người khác.

Tỉ dụ khi bị đàn áp quá đáng, chịu không nổi, mình muốn nói ra để phản đối. Nhưng có người khác bịt miệng mình, cấm không cho nói. Mình không muốn người khác cấm cản mình nói. Khi không muốn như vậy, thì chính mình phải biết rằng mình không được bịt miệng, cấm cản người khác phát biểu lên trong trường hợp phải chịu như chính mình. Đây là việc nhận biết và tôn trọng quyền phát biểu, NGÔN LUẬN, của người khác. Cụ thể Đảng Cộng sản cấm Dân phát biểu, nhưng nếu Dân cấm Đảng phát biểu, Đảng có chấp nhận hay không ? Đây là một tỉ dụ trong việc áp dụng câu nói trên để nhận biết và tôn trọng những quyền căn bản sống làm người: NHÂN QUYỀN.

Trên đây là nói về phương diện riêng lẻ từng cá nhân sống. Con người có thể sống riêng lẻ cá nhân. Chúng tôi vẫn chưa chấp nhận câu định nghĩa:“Người là con vật sống Xã hội“. Cuộc sống chung xã hội chỉ là một nhu cầu mà cá nhân tự do thấy hữu ích trong việc phát triển cá nhân mình. Họ có quyền không chấp nhận.

Vì nhu cầu làm tăng hữu hiệu việc phát triển cá nhân, con người tự do chấp nhận cuộc sống Tập thể. Mỗi cá nhân có những khác biệt trong việc tìm phương tiện bảo tồn thân xác và phát triển trí thông minh, vì vậy mà trong cuộc sống Tập thể họ phải có những quy ước với nhau để giải quyết những khác biệt. Một trong những quy ước căn bản để giải quyết cuộc sống chung Tập thể, đó là nguyên tắc DÂN CHỦ. Đây là nguyên tắc lấy số đông làm chân lý tương đối. Như vậy, nguyên tắc DÂN CHỦ chỉ là một quy ước giữa những cá nhân tự do quyết định sống trong một Tập thể để giải quyết những khác biệt đến từ chính những cá nhân thành phần ấy. Chúng tôi gọi DÂN CHỦ là nguyên tắc nội tại giữa những cá nhân của Tập thể. DÂN CHỦ không thể là nguyên tắc đặt để cho Tập thể từ bên ngoài hay từ một quyền lực đứng trên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ ngoại tại Tập thể cá nhân chỉ là ĐỘC TÀI trá hình Dân chủ.

Nguyên tắc DÂN CHỦ lấy cá nhân làm căn bản, nghĩa là nguyên tắc này phải biết tôn trọng NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN.  Việc tôn trọng Nhân phẩm và Nhân quyền là nền tảng để bảo chứng việc tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự. Có trôn trọng NHÂN PHẨM, thì mới nhận biết và tôn trọng NHÂN QUYỀN. Có tôn trọng NHÂN QUYỀN, thì mới có thể quy ước với nhau nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự để giải quyết những khác biệt trong cuộc sống Tập thể.

Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát áp dụng cho Dân tộc

Trong phần trên, chúng tôi nói đến nguyên tắc Dân chủ đi từ việc tôn trọng Nhân phẩm, rồi tìm biết đâu là Nhân quyền để bảo vệ. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản bởi vì nó không đến từ một Nhân sinh quan, một Xã hội quan hay Tôn giáo quan hiểu như một sự cấu trúc lý luận từ một tiền đề phải chấp nhận hay từ một lòng Tin. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát. Nguyên tắc DÂN CHỦ nhân bản phổ quát là nguyên tắc mà mọi Tập thể Xã hội nhân loại phải giữ làm quy ước, từ Xã hội Aâu, Á, Mỹ, Phi, Uùc. Nhưng nguyên tắc Dân chủ ấy khi áp dụng vào mỗi Dân tộc, mỗi Địa phương, có những hoàn cảnh Văn hóa, Kinh tế, Phong tục...làm thay đổi những chi tiết. Chúng tôi gọi đây là nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC, nghĩa là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát chịu ảnh hưởng của những dị biệt của từng Dân tộc.

Tỉ dụ tại Tây phương, giữa Pháp và Ý, khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ quyết định cho Tự do ngôn luận, người Pháp thả lỏng về lộng ngôn hơn, trong khi đó người Ý nghĩ nhiều đến yếu tố Gia đình, tôn trọng triệt để ý kiến của người Mẹ (Mama).  Tại Việt Nam cũng vậy, phải kể đến việc tôn trọng người cao tuổi khi nguyên tắc Dân chủ quyết định về tự do ngôn luận cho giới trẻ.

Một vài tỉ dụ trên cho thấy rằng khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, chúng ta phải kể đến ảnh hưởng của những điều kiện Dân tộc để quyết định theo nguyên tắc ấy.


Những vi phạm nhất thời có thể sửa chữa

Chúng tôi xin nhắc lại một ít nét Lịch sử tổng quát từ những Quốc gia Á, Phi, Nam Mỹ thâu hồi độc lập sau thời gian thuộc địa bị đô hộ. Các Quốc gia này thiết lập một thể chế Dân chủ Dân sự theo khuôn mẫu Tây Phương. Sau một thời gian, những Chính quyền Dân sự bị phản đối là độc tài để rồi Quân đội can thiệp vào lật đổ và thay thế vào đó một thể chế Quân phiệt. Một số thể chế Quân phiệt sau một thời gian, bị phản đối và Quốc gia có thể từ độc tài Quân phiệt chuyển qua độc tài Dân sự trong phong trào Mặt Tận Giải Phóng do Cộng sản Quốc tế chủ trương.

Tại Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy sự chuyển biến này, từ thể chế Việt Nam Cộng Hoà dân sự chuyển sang Quân đội, rồi những chống đối Dân sự từ những người của thể chế Cộng Hòa hay từ những người dưới sự điều khiển của độc tài Cộng sản Hà Nội như Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, các Phong trào Hoà Bình, Phản Chiến...

Những Chuyển biến Lịch sử rất phức tạp. Một số người muốn lấy những chuyển biến Lịch sử này để công kích sự hữu hiệu của thể chế Dân chủ dựa trên 3 Ý niệm nền tảng: tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN và áp dụng triệt để nguyên tắc DÂN CHỦ.

Chúng tôi công nhận có những vi phạm 3 Ý niệm nền tảng trên đây của thể chế Dân chủ, nhưng chúng tôi nhấn mạnh rằng những vi phạm ấy chỉ là những vi phạm nhất thời, nghĩa là người Dân có thể kiện toàn lần hồi thể chế dựa trên 3 Ý niệm nền tảng. Phong trào Cộng sản Quốc tế đã tuyên truyền nhồi sọ cho Dân chúng rằng những vi phạm này là thất bại căn bản của thể chế Dân chủ để Cộng sản cướp lấy chính quyền và thiết lập một thể chế độc tài Cộng sản, không tôn trọnh NHÂN PHẨM, phế bỏ NHÂN QUYỀN và không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ. Con người Cá nhân chỉ là phương tiện phục vụ cho chế độ trong chế độ độc tài Cộng sản.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 3
BẢN CHẤT CỦA
CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN HIỆN HÀNH 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 213/21.04.05 này nói về đề tài thứ ba: Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành. Giữ vững lấy bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ.
 
Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:
=> Từ những quan niệm về kinh tế, xã hội nhất thời
=> Đến cuộc Cách Mạng vô sản đẫm máu với hứa hẹn không tưởn
=> Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam


Từ những quan niệm về
kinh tế, xã hội nhất thời

Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa được xây dựng trên con người cá nhân cụ thể và cá nhân ấy là mục đích phục vụ của chế độ. Bản chất của chế độ độc tài Cộng sản dựa trên những quan niệm của một Triết gia về đời sống Kinh tế, tương quan Xã hội nhất thời. Những quan niệm này được coi là chân lý tuyệt đối và trường tồn để bắt cá nhân phải hy sinh phục vụ.

Triết gia đó là Karl Marx sống trong khung cảnh đời sống xã hội của Cách Mạng Kỹ nghệ Thế kỷ XIX. Cuộc Cách Mạng Kỹ nghệ cần những đầu tư Tư bản. Trong khung cảnh Kinh tế và Xã hội ấy, Karl Marx đưa ra những quan điểm. Chúng tôi chỉ đưa ra đây một số những suy nghĩ chính của Karl Marx mà Lenine-Staline lấy lại làm Ý thức hệ trong cuộc đấu tranh chính trị chiếm quyền hành của Nhóm.

=> Vong thân Kinh tế (Alienation Economique)
 
Karl Marx đã đọc cuốn Capital của David Ricardo, một Kinh tế gia cổ điển thời danh nhất trong những Kinh tế gia cổ điển Anh như Adam Smith, Stuart Mill, Malthus... Đây là những Kinh tế gia chủ trương nền Kinh tế Tự doThị trường. Cái công của David Ricardo là đưa ra quan niệm đo lường những giá trị của một sản phảm Kinh tế. Để đo lường chiều dài, người ta dùng đơn vị mét; để đo lường dung lượng chất lỏng, người ta dùng đơn vị lít...Để đo lường giá trị một sản phẩm kinh tế, David Ricardo dùng đơn vị GIỜ LAO ĐỘNG đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm ấy. Cùng căn bản đơn vị đo lường như vậy, người ta mới có thể so sánh sản phẩm giữa nước này và nước kia.
 
Karl Marx lấy lại ý tưởng đơn vị đo lường này để suy nghĩ về những chênh lệc xã hội của thời Cách Mạng Kỹ nghệ mà Oâng gọi là những bóc lột. Oâng lý luận rằng giá trị của sản phẩm kinh tế dựa trên sức LAO ĐỘNG nằm trong sản phẩm. Một phần của những giá trị sản phẩm thặng dư tích lũy để tạo lên Vốn (Capital). Như vậy số vốn này thuộc về giới Lao động vì đó là sự tích lũy những giờ lao động. Nhưng giới Tư sản đã cướp lấy số vốn này của giới Lao động để làm tư sản.
 
Vong thân Kinh tế (Alienation Economique), theo Karl Marx, có nghĩa là giới Lao động tạo ra Vốn, đem Vốn đó giao trong tay giới Tư bản để rồi chính giới Lao động phải lệ thuộc vào Vốn.

=> Vong thân Tôn giáo (Alienation Religieuse)

Theo Karl Marx, Tôn giáo đến từ sự sợ hãi của chính con người trước tất cả những đe dọa thiên tai. Từ những sợ hãi đủ thứ này trước thiên nhiên, con người tạo ra các thứ Thần để mong mỏi sự che chở: Thần Sông, Thần Biển, Thần Núi...
 
Vong thân Tôn giáo (Alienation Religieuse) có nghĩa là các Thần không tự hữu mà chỉ là sản phẩm của con người. Con người tạo ra Thần để coi Thần như tự hữu để mình thờ lậy và lệ thuộc vào.

=> San bằng mức sống xã hội (Egalite sociale)
 
Gia đình Karl Marx đông con và sống trong những hoàn cảnh lưu lạc, thiếu thốn. Oâng lại sống trong thời Cách Mạng Kỹ nghệ hỗn độn. Tổ chức sản xuất trong các Nhà máy chưa có những điều kiện làm việc cải thiện như thời nay cho nhân công. Trong hoàn cảnh sống riêng tư gia đình và trong điều kiện làm việc của thợ thuyền thời ấy, Karl Marx ao ước một sự san bằng đời sống xã hội, nhất là giữa giới Tư sản và giới Lao động.
 
Những suy tư trên đây chỉ là riêng cho một Triết gia sống ở một thời đại chuyển biến Kinh tế. Chúng tôi nhấn mạnh đây là những quan niệm nhất thời, chứ không phải là chân lý cho mọi thời đại và phổ quát cho mọi người. Karl Marx chỉ là một trong muôn vàn Triết gia suy tư về thời đại của mình, nghĩa là những quan điểm cũa Karl Marx chỉ là tương đối.


Đến cuộc Cách Mạng vô sản đẫm máu
với hứa hẹn không tưởng

Tất cả các Triết gia trứ danh đều độc tài. Họ đạp đổ những quan niệm trước họ để cấu trúc những suy tư của riêng mình mà họ coi là chân lý trường tồn. Việc độc tài suy tư của Triết gia chưa phải là tội lỗi. Nhưng việc áp dụng những suy tư ấy làm Ý thức hệ chỉ đạo cho những cuộc đấu tranh chính trị chiếm đoạt quyền hành và quản trị Quốc gia mới tạo ra những tội lỗi.
 
Lenine và Nhóm của Oâng đã lấy những quan niệm của Karl Marx để làm Ý thức hệ chỉ đạo cho cuộc đấu tranh chính trị chiếm quyền.

=> Từ quan niệm Vong thân Kinh tế 
     đến cuộc đấu tranh đẫm máu Giai cấp 
 
Lenine và Nhóm của Oâng muốn triệt hạ Giai cấp có tiến bạc, tài sản. Trong hoàn cảnh chênh lệc xã hội thời ấy, phương tiện tuyên truyền hữu hiệu nhất là khơi động đa số người nghèo đứng lên tiêu diệt thiểu số cố vốn. Quan niệm Vong thân Kinh tế được lấy lại làm phương tiện tuyên truyền để giới Lao động tiêu diệt giới Tư sản.  Lenine nói rằng Vốn là tích luỹ Lao động, nghĩa là vốn thuộc sở hữu của giới thợ thuyền và nông dân. Vậy giới thợ thuyền và nông dân phải đứng dậy đòi lại quyển sở hữu của mình. Phải dùng sức mạnh của giới thợ thuyên và nông dân để tiêu diệt giới Tư sản dù bằng hành động đẫm máu.


=> Từ quan niệm Vong thân Tôn giáo 
     đến cuộc tiêu diệt Lực lượng Tôn giáo
 
Lenine và tiếp theo là Staline, để có thể độc quyền nắm trọn nhân dân, thấy rằng phải tiêu diệt Lực lượng Tôn giáo. Họ đã lấy quan niệm Vong thân Tôn giáo để kêu gọi mọi người hãy giải thoát mình khỏi những quyền lực Thần Linh mà chính mình tạo ra để phải lê thuộc vào. Tôn giáo dậy con người phải tôn trọng cá nhân, trong khi ấy Lenine và Nhóm của Oâng muốn cá nhân chỉ là phương tiện phục vụ cho quyền hành của Nhóm. Tiêu diệt Tôn giáo là tiêu diệt đối kháng đối với chế độ.


=> Từ ước vọng san bàng chênh lệc xã hội
     đến Thiên đàng Cộng sản và độc tài Đảng trị

Triết gia Karl Marx suy tư về một giải pháp cho việc chênh lệch xã hội của thời Cách Mạng Kỹ nghệ thế kỷ XIX. Lenine và Nhóm của Oâng muốn cộng chung tất cả những tài sản, những sản xuất để phân phát đồng đều cho mọi người theo nhu cầu. Quyền tư hữu của cá nhân phải được phế bỏ vì chính quyền tư hữu này làm ra sự chênh lệch xã hội. Aùp dụng quan niệm này, Lenine và Nhóm đã tuyên truyền cho Dân hai điều phải theo sau đây:

@ Thiên đàng Cộng sản ở Trần thế
  
Cộng sản đã tạo một ngưỡng vọng cho dân nghèo thời ấy. Thiên đàng Cộng sản luôn luôn là một hy vọng. Người đói cố gắng sống vì hy vọngh có đồ ăn mà ai hứa hẹn. Người nghèo hy vọng có tiền khi có hứa hẹn. Thiên đàng Cộng sản là một hứa hẹn để dấy động dân nghèo hy sinh chính bản thân mình để mong đặt lý tưởng. Đó chỉ là một Aûo tường (Utopie) để dụ người theo mình.

@ Độc tài Đảng trị
 
Mọi người bỏ chung tài sản để thực hiện Thiên đàng Cộng sản, nhưng mọi người là quần chúng hỗn độn. Phải có những người được chọn lựa để chỉ đạo cuộc Cách mạng vô sản và để điều hành những tài sản bỏ chung ấy. Những người được lựa chọn này là Đảng Cộng sản. Đảng có trách nhiệm hướng dẫn cuộc đấu tranh để tiêu diệt kẻ thủ, để quan trị tài sản của quần chúng và để đạt tới Thiên đàng Cộng sản. Để nắm vũng những trách nhiệm này, Đảng phải độc tài, giữ quyền riêng cho mình.

@ Kinh tế chỉ huy
 
Nếu Đảng độc quyền giữ tài sản của Dân để thực hiện Thiên đàng Cộng sản, thì Đảng tất nhiên phải giữ độc quyền khai thác những tài sản ấy. Đó là một nền Kinh tế hoàn toàn chỉ huy bởi Đảng. Một hệ thống Công ty quốc doanh được thành lập và làm theo chỉ thị của Trung Ương Đảng.

Thời đầu của Cách Mạng Cộng sản, Ý thức hệ này là một quyến dũ và thúc đẩy được Dân chúng nghèo theo mình. Nhưng Thiên đàng Cộng sản không bao giờ đạt tới mặc dầu Dân chúng phải hy sinh cá nhân mình hết thế hệ này đến thế hệ kia. Chế độ độc tài Đảng trị của Cộng sản, xây dựng trên những quan niệm của Karl Marx và trên những áp dụng chính trị đấu tranh của Lenine-Staline đã xụp đổ. Sự xụp đổ này chứng minh rằng những suy tư của Karl Marx và những áp dụng chính trị của Lenine-Staline không phải là tuyệt đối, trường kỳ. Vì không phải là tuyệt đối, trường kỳ, thì không được quyền lấy chúng làm lý do để duy trì quyền hành độc tài.

Tất cả những vá víu cho những quan niệm triết học và cho những áp dụng chính trị trên đây trở thành phương tiện bịp bợm che đậy cho việc cố thủ giữa quyền độc tài.


Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam

Chế độ độc tài Cộng sản nói chung và ở thời đại Cách Mạng cao độ nhất đã được xây dựng trên căn bản những suy tư triết học của Karl Marx và những áp dụng chính trị của Lenine-Staline. Chế độ ấy đã xụp đổ, nghĩa là những suy tư và những áp dụng có những sai lầm trầm trọng, không thể làm nền tảng cho chế độ nữa.

Biết những sai lầm trầm trọng, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam cố thủ dùng ngôn từ tuyên truyên giả tạo để giữ lấy quyền hành cho mình. Những tiếng Cởi Mở, Đổi Mới chỉ là mỵ dân, hy vọng đánh lừa dân nữa. Những tiếng Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa hoặc Quá Độ Lên Xã Hội Chũ nghĩa chỉ là những xảo ngữ bởi vì nền tãng để xây dựng Thên đàng Cộng sản đã xụp đổ.

Nếu độc giả hỏi tôi căn bản của chế độ Cộng sản thời Lenine-Staline, thì tôi có thể trả lời như tôi đã trình bầy ở hai phần trên đây từ những suy tư của Karl Marx đến những áp dụng chính trị của Lenine-Staline. Nhưng nếu quý độc giả hỏi tôi nền tảng xây dựng chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam là gì, thì tôi rất lúng túng bởi vì Ý thức hệ của nó tanh bành xí oắt rồi. Nền tảng ấy là cái váy đụp mục nát mà Đảng Cộng sản Việt Nam cố gắng vá víu bằng xảo ngữ để lừa dân. Về điểm này, tôi chỉ còn có thể nói đến những khía cạnh sau đây về thực hành:

=> Đảng cố thủ dùng bạo lực để duy trì quyền cai trị độc tài của mình. Giữ quyền độc tài để dễ biển lận tài sản Quốc gia cho riêng mình. Nếu trước đây, Lenine-Staline có Ý thức hệ làm nền tảng để biện minh cho việc giữa quyền độc tài Đảng trị, thì ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam bị lột trần truồng khỏi Ý thức hệ ấy. Nhưng họ, vì cố thủ giữa lấy quyền hành một cách trơ trẽn, đã phải lấy lá che đậy sự trần truồng bẩn thỉu của họ.

=> Việc cố thủ giữ quyền độc tài bằng khủng bố vũ lực, không Ý thức hệ, chỉ còn là PHỦ NHẬN những nền tảng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nghĩa là họ không tôn trọng NHÂN PHẨN, không bảo đảm NHÂN QUYỀN và không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ. 


Tóm lại, chế độ hiện hành của Cộng sản Việt Nam hiện nay không còn nền tảng để biện minh cho mình. Đó chỉ là một chế độ của những kẻ ham quyền cố vị để dễ bề ắn cướp tài sản Quốc gia. Họ dùng sức mạnh khủng bố để bịt miệng Dân.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 4
ĐỐI LẬP
PHẢI GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CỦA MÌNH


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 215/19.05.05 này nói về đề tài thứ tư: Đối lập phải giữ vững bản chất của mình. Giữ vững lấy bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ.

Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:

=> Bảng so sánh hai Bản chất
=> Giữ vững lấy Bản chất của mình
=> Thái độ đối thoại khi thảo luận những biện pháp Hòa Giải Hòa Hợp
=> Thảo luận về Bản chất hay thảo luận về Đường lối thực hiện Bản chất


Bảng so sánh hai Bản chất

 Khi thảo luận, phải biết mình biết người. Bảng so sánh tóm lược dưới đây đối chiếu hai Bản chất mà chúng tôi đã viết trong hai bài trước: Bản chất của Chế độ Việt Nam Cộng Hòa và Bản chất của Chế độ Cộng sản hiện hành:


BẢN CHẤT CHẾ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN       BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ CS HIỆN HÀNH

1) Phục vụ CÁ NHÂN sống cụ thể                 1) Phục vụ ĐẢNG, hy sinh cá nhân

2) Tôn trọng triệt để NHÂN PHẨM                 2) Không tôn trọng NHÂN PHẨM

3) Bảo đảm NHÂN QUYỀN                           3) Thắt chặt NHÂN QUYỀN. ĐẢNG 
                                                                      QUYỀN  là trên hết
4) Aùp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ               4) Không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ
trong đời sống Tập thể                                     trong đời sống Tập thể. Đảng là tối  
                                                                      cao và quyết định đời sống Tập thể

5) Trọng tài phân xử: LUẬT PHÁP đã            5) Trọng tài phân xử: SỨC MẠNH KHỦNG
được Dân quyết định theo nguyên tắc          BỐ độc đoán theo Chính trị của Quyền lực
DÂN CHỦ                                                    cai trị

-----------------------------------------------            ---------------------------------------------


Đối chiếu như trên, chúng ta thấy rằng Chế độ hiện hành CSVN chỉ là sự phủ nhận hoặc vi phạm những giá trị cơ bản của con người sống trong một Tập thể. Xem như vậy, việc Hòa Hợp Hòa Giải một Bản chất với sự Phủ nhận Bản chất ấy là điều ngược ngạo. Nếu chế độ CSVN hiện hành chỉ là một SỰ PHỦ NHẬN (Négation), thì không thể nói nó có Bản chất được.


Giữ vững lấy Bản chất của mình

Lấy tỉ dụ trong Thương Mại. Một người Đại Diện cho một Công ty có nhiệm vụ thương thảo (négoce) với một Công ty khác về một vấn đề làm ăn chung. Việc đầu tiên của người Đại Diện này là phải biết rõ đường lối và mục đích của Công ty mình muốn đạt tới điều gì. Người đó phải giữ vững Bản lãnh (identité) của mình trước khi nhập cuộc thương thảo. Không thể đi thương thảo mà không biết mình muốn gì. Nếu chỉ gặp đối phương để theo sự chỉ dẫn của đối phương, thì đó không phải là thương thảo.

Một đảng đối lập thảo luận với một đảng khác, thì đảng đối lập này phải thấu triệt chính Bản chất của chủ trương đảng của mình. Khi giữ vững Bản chất Chủ trương của mình rồi, thì phải bênh vực cho Chủ trương ấy trước khi đối phương đề nghị những biện pháp giải quyết khi mà hai biện pháp có những xung khắc. Đó mới gọi là Hòa Giải Hòa Hợp thực sự. Nếu khi đến thảo luận, mà không biết mình là ai, rồi cứ nhân danh chiêu bài “Hòa Giải Hòa Hợp“ để chấp nhận những gì đối phương xỏ mũi dẫn đi, thì đó không phải là Đối lập, mà chỉ là bù nhìn, ba phải, hoặc tay sai bồi bếp cho đối phương.


Thái độ đối thoại khi thảo luận
những biện pháp Hòa Giải Hòa Hợp

Khi nói Hòa Hợp Hòa Giải, thì phải nói đến Thái độ đối thoại khi hai bên đến với nhau để tìm những giải pháp cho những xung khắc. Chúng ta phải biết rõ xem đối phương có Thái độ ĐỐI THOẠI hay là chỉ có Thái độ ĐỐI THỌI. Khi đối phương đến với mình, mà bụng dạ chỉ mưu mô tìm cách THỌI cho mình chết, thì đó không phải là đối thoại. Nhất nữa chính mình lại tìm đến đối phương để van xin đối thoại, thì đối phương càng THỌI cho mình mạnh hơn. Người Việt Quốc gia sẵn sàng đối thoại với Cộng sản nếu họ có lòng thành thực muốn đối thoại cho đúng nghĩa.

Những Nhóm Đảng Chính trị Quốc gia hiện giờ, khi tung ra Hòa Giải Hòa Hợp, có dám bảo đảm với Dân chúng rằng Đảng Cộng sản thực tình đối thoại hay không. Nếu không dám bảo đảm về điều này, thì việc tung ra Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tiếp tay cho đối phương để tuyên truyền hoặc tự nguyện làm tay sai cho độc tài của đối phương.

Hãy nghĩ lại, khi NGÔ BÁ THÀNH, TÔN THẤT DƯƠNG KỴ ... những năm 1964 nêu ra chiêu bài Hòa Bình, đó chỉ là làm tay sai cho Cộng sản Miền Bắc để kêu gọi Miền Nam hay ngưng đấu tranh và đầu hàng. Những Thành phần Thứ Ba tại Paris muốn đứng vị trí kêu gọi hai bên Miền Bắc và Miền Nam, nhưng không bao giờ họ dám ra Bắc để kêu gọi Cộng sản, mà chỉ nằm tại đất Tự do để chỉ trích Miền Nam.


Thảo luận về Bản chất hay
thảo luận về Đường lối thực hiện Bản chất

Chúng tôi muốn lấy ít tỉ dụ cụ thể để phân biệt về vấn đề vừa nêu ra: Thảo luận về BẢN CHẤT (Mục đích) hay Thảo luận về ĐƯỜNG LỐI (Phương tiện).

Tỉ dụ sau năm 1975, người Việt muốn thoát độc tài và đi tìm Tự do. Có người đi bằng thuyền vượt biển; có người đi bằng đường bộ sang Lào, rồi Thái Lan. Cả hai người cuối cùng sang tới Mỹ để có đời sống Tự do. Hai người đều đạt được Mục đích (Bản chất) của việc vượt biên, nhưng mỗi người xử dụng một Phương tiện (Đường lối) khác nhau.

Một tỉ dụ khác. Cộng sản muốn san bằng chênh lệch xã hội. Họ đã phế bỏ tư hữu, thâu tóm tất cả tài sản vào trong tay Đảng Cộng sản để Đảng phấn phối cho mọi người. Chế độ Tư bản lại xử dụng đường lối khác, đó là xử dụng Thuế cấp tiến để tái phân phối thu hoạch cho người nghèo. Cùng nhằm ý tưởng xã hội, nhưng hai đường lối thực hiện khác nhau.

Trở lại Bảng so sánh Bản chất của hai chế độ ở phần đầu bài này. Bản chất của Cộng sản là ĐỘC TÀI nắm trọn quyền cho Đảng; Bản chất của Quốc gia là DÂN CHỦ dành quyền tối thượng cho Dân. Vì vậy nếu những người tung ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp như là thảo luận về Bản chất của hai chế độ, thì đó là vô nghĩa bởi lẽ ĐỘC TÀI chỉ là sự phủ nhận của DÂN CHỦ. Nếu Đảng Cộng sản từ bỏ ĐỘC TÀI và chấp nhận nguyên tắc DÂN CHỦ (Bản chất, Mục đích) như chúng ta, thì tôi xin phép giơ hai tay hai chân để cùng thảo luận tìm Hoà Giải Hòa Hợp ĐƯỜNG LỐI (Phương tiện) để Dân chúng Việt Nam sớm có DÂN CHỦ.

Những Nhóm Chính trị, gọi mình là Đối lập, đang nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp, cần lưu ý ba điều sau đây:

1) Trước hết hãy giữ vững Bản chất của chế độ của mình. Đó là lấy CÁ NHẬN làm mục đích phục vụ của mọi sinh hoạt xã hội; tôn trọng triệt để NHÂN PHẨM của con người; bảo vệ NHÂN QUYỀN gồm những quyền căn bản được liệt kê trong Bản Tuyên Ngôn Thế Giới Nhân quyền; tôn trọng quyền tối thượng của Dân chúng, đó là áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ; lấy LUẬT PHÁP mà Dân đã quyết định làm trọng tài phân xử trong cuộc sống chung xã hội. Chúng ta đã xác tín vào giá trị của Bản chất này. Khi chúng ta chối bỏ những Bản chất ấy, nghĩa là chúng ta phủ nhận những giá trị nhân bản giống như Cộng sản. Không thể thảo luận Hòa Giải Hòa Hợp về Bản chất vì đó là điều vô nghĩa.
 
2) Phải yêu cầu Cộng sản có thái độ ĐỐI THOẠI thực tâm, chứ đừng mưu mô xảo quyệt xử dụng hai chữ ĐỐI THOẠI để nhàm ĐỐI THỌI người khác.
  
3) Nếu đã chắc chắn rằng Cộng sản muốn đối thoại thực tâm, thì chúng ta sẵn sàng đối thoại, nhưng chỉ đối thoại Hòa Hợp Hòa Giải ở những ĐƯỜNG LỐI thực hiện Mục đích (Bản chất) mà mọi người đều công nhận. Chúng tôi khẳng định: Cộng sản đều công nhận rằng nguyên tắc DÂN CHỦ là tốt đẹp cho Dân, nhưng chỉ vì cố thủ nắm lấy quyền cho Đảng mà họ ăn gian nói dối, luẩn quẩn tìm cách khủng bố Dân để dành quyền ĐỘC TÀI cho mình. 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

 


HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 5
HÒA HỢP HÒA GIẢI BẢN CHẤT
HAY ĐƯỜNG LỐI THỰC HIỆN


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 216/26.05.05 này nói về đề tài thứ năm:  Hòa Hợp Hòa Giải bản chất hay đường lối thực hiện. Giữ vững lấy bản chất của Thể chế Dân chủ đa nguyên/ chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ. Cái bản chất của một chế độ là điều khó nhân nhượng, nhưng đường lối thực hiện bản chất có thể thảo luận để cùng chọn lựa.

Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:

=> Tóm tắt những ý tưởng trước
=> Bản chất Chính trị phổ quá
=> Hòa hợp hòa giải Đường lối thực hiện


TÓM TẮT NHỮNG Ý TƯỞNG TRƯỚC

Chúng tôi đã viết 4 bài liên tiếp để khai triển chủ đề HÒA GIẢI HÒA HỢP. Mỗi bài đặt trọng tâm vào một ý tưởng. Tuy vậy những ý tưởng này liên kết với nhau trong một tiến trình lý luận để chúng tôi bàn về chủ đề trong bài này:

Bài thứ 1: Chúng tôi phân tích người Dân muốn gì và việc quyết định một thể chế Chính trị phải do chính người Dân tự mình chấp nhận. Tất cả mọi thể chế đến từ những Nhóm Đảng chính trị hay từ ngoại lai đều là những đề nghị và người Dân có quyền thẩm định để chấp nhận hay không. Mọi áp đặt một thể chế lên đầu Dân đều trái với nguyên tắc Dân chủ. Cụ thể: điều này cho thấy rằng một thể chế do sự giàn xếp của ngoại lai với Đảng CSVN và một vài Nhóm chính trị tay sai nhằm bắt Dân Việt Nam phải sống trong đó đều là việc làm độc tài đối với Dân chúng Việt Nam.

Bài thứ 2: Thể chế Dân chủ đa nguyên/ Chế độ Việt Nam Cộng Hòa lấy Bản chất là: 1) Mọi sinh hoạt Tập thể phải nhằm CÁ NHÂN làm mục đích phục vụ; 2) Phải triệt để tôn trọng NHÂN PHẨM con người; 3) Phải bảo đảm NHÂN QUYỀN cho mỗi người Dân; 4) Phải áp dụng đúng đắn nguyên tắc DÂN CHỦ cho những quyết định liên quan đến đời sống Tập thể; 5) Trọng tài phân xử trong cuộc sống chung đụng là LUẬT PHÁP đã được chính Dân quyết định. Có thể có những vi phạm trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng đây chỉ là việc chưa đạt triệt để được Bản chất, cần được điều chỉnh.

Bài thứ 3: Từ lúc đầu của Cộng sản Nga, chế độ Cộng sản chỉ lấy một khía cạnh giải quyết cuộc sống chung đụng quyền lợi Kinh tế làm mục tiêu đấu tranh. Từ cuộc đấu tranh giai cấp gọi là Cách Mạng Vô sản mà họ đã đẩy thành đẫm máu, Đảng Cộng sản chiếm lấy quyền cai trị độc đoán cho mình. Tiếp theo giai đoạn này, chế độ ngụy tạo ra những kẻ thù không tưởng để cố thủ nắm lấy quyền hành cai trị độc tài cho mình. Chế độ này cho thấy những điểm sau đây: 1) Mọi sinh hoạt Tập thể mà cá nhân buộc phải làm đều nhằm phục vụ cho Chính trị của ĐẢNG dưới chiêu đề lý thuyết trống rỗng; 2) Không tôn trọng NHÂN PHẨM; 3) Chà đạp NHÂN QUYỀN; 4) Quyết định độc đoán của Đảng, chứ không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ cho đời sống Tập thể; 5) Trọng tài phân xử trong cuộc sống Tập thể là SỨC MẠNH KHỦNG BỐ do Đảng quyết định. Những điểm này chứng tỏ rằng chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam chỉ là một sự phủ nhận những giá trị căn bản của con người mà chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã lấy làm bản chất của mình.

Bài thứ 4: Bài này muốn nhắc nhở cho một số Nhóm Đảng được kể là trong hàng ngũ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng muốn hòa hợp hòa giải với chế độ Cộng sản hiện hành. Chúng tôi muốn nhắc nhở 3 điểm sau đây: 1) Muốn nói chuyện hòa giải hòa hợp, thì trước hết phải biết rõ xem đối phương có thái độ đối thoại thực sự hay không, hay đối phương chỉ dùng mưu mô để ĐỐI THỌI mình; 2) Trước khi đem chuông đi đấm nước người, thì mình phải giữ vững lấy Bản chất của mình, nghĩa là giữ vững lấy những giá trị mà chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã chọn làm Bản chất của chế độ; 3) Phải phân biệt rõ rệt hòa giải hòa hợp Bản chất hay hòa hợp hòa giải đường lối thực hiện Bản chất.

Đức Giêsu trước đây, sau khi ăn chay 40 đêm ngày, thân người mệt lả vì đói. Quỷ Satan đưa đồ ăn để dụ Ngài thuần phục nó để có được đồ ăn. Ngài tuyên bố bản chất của Ngài là chỉ thờ phượng một mình Thiên chúa, chứ không thuần phục ma quỷ. Ngài đã mạnh mẽ đuổi Satan đi để giữ trọn vẹn bản chất của Ngài.

Chúng tôi tiếp nối điểm thứ 3 của Bài thứ 4 này và lấy thái độ dứt khoát của Nhà Đại Cách Mạng Giêsu về việc giải thoát CÁ NHÂN trong việc bảo vệ bản chất của mình.


BẢN CHẤT CHÍNH TRỊ PHỔ QUÁT

Trong Bài thứ 2 trước đây và vừa được tóm tắt ở phần trên, chúng tôi đã trình bầy 5 điểm căn yếu của Bản chất của Thể chế Dân chủ đa nguyên/ chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Thực ra đây là những điểm căn yếu phổ quát mà các chế độ chính trị minh nhiên hay mặc nhiên chấp nhận. Chúng tôi xin chứng minh tính cách phổ quát của những điểm này.

Tôn giáo và việc giải phóng cá nhân

Tôn giáo không nhằm giải thoát Linh hồn Xã Hội bởi vì Xã Hội không có Linh hồn theo đúng nghĩa của hai chữ này. Tôn giáo nhằm giải thoát Linh hồn CÁ NHÂN. Đức Thích Ca tìm đường cứu khổ cá nhân. Ngài không thể hy sinh cá nhân vì một Lý thuyết hay vì một tập thể nào đó. Cá nhân là trọng tâm của sự chiêm niệm tìm đường cứu khổ.

Đức Giêsu nhập thể làm người, chịu mọi đau khổ để chuộc tội cho Linh hồn cá nhân mỗi người. Ngài không nhập thể chịu khổ đau để cứu chuộc Linh hồn Xã Hội. Trong cuộc sống truyền giảng chân lý, Ngài đến và bênh đỡ những cá nhân, nhất là những cá nhân bệnh tật, yếu đuối, không quyền thế trong xã hội. Ngài lên tiếng miệt thị đám người Pharisiêu lấy hình thức để đè bẹp những cá nhân yếu đuối. Giữa một thể chế quân phiệt độc tài Roma, Ngài can đảm bênh đỡ những cá nhân mà chế độ coi là nô lệ.

Tôn giáo nhằm phục vụ cá nhân sống thực. Bất cứ Tôn giáo nào cũng triệt để khuyên phải tôn trọng NHÂN PHẨM, phải bảo vệ NHÂN QUYỀN bởi vì cá nhân là mục đích của mọi sinh hoạt tôn giáo. Khi Đức Giêsu nói phải thương yêu người khác như chính mình vậy, đó là việc tôn trọng tối đa NHÂN PHẨM người khác.

Lịch sử Nhân loại là Lịch sử thăng tiến
Tôn trọng cá nhân trong đời sống Tập thể

Trong cuộc sống Xã Hội, chế độ Nô lệ là chế độ tượng trưng nhất cho việc miệt thị NHÂN PHẨM. Chế độ đã kéo thật dài trong suốt Lịch sử Nhân loại cho đến những Thế kỷ gần đây. Lịch sử giải thoát Nô lệ cũng là Lịch sử đấu tranh cho việc tôn trọng NHÂN PHẨM.
 
Người ta thường khen ngợi nền Dân chủ Athenes (Démocratie Athénienne) trong cổ sử Hy Lạp.  Nhưng chính trong nền Dân chủ ấy, chế độ vẫn không cho phép những người Nô lệ được phát biểu trước Hội chúng.

Trong những Thế kỷ dưới chế độ Quân phiệt độc tài Roma, ngững người Nô lệ không những không được quyền phát biểu, mà còn phải làm việc cực nhọc để phục vụ người quyền thế. Việc chết chóc của người Nô lệ chỉ làm trò chơi giải trí (Gladiateurs).

Tiếp theo đó, ý tưởng Thiên chúa Giáo trong suốt thời Trung Cổ Aâu châu về việc bênh đỡ kẻ yếu đuối, thế cô... đã tạo nên lớp Hiệp sĩ (Chevaliers) mang tinh thần cứu giúp kẻ thế cô trước những áp bức. Đây là một bước tiến hướng về việc tôn trọng NHÂN PHẨM. Tuy vậy chế độ Quân chủ Vua Chúa vẫn tồn tại để phân biệt người quyền quý và kẻ bầy tôi.

Thời kỳ chiếm thuộc địa và khai thác Kinh tế tiếp theo. Nhu cầu Nhân lực để khai thác Kinh tế khiến chế độ Nô lệ phải trải qua thời kỳ đen tối. Buôn bán Nô lệ từ Phi châu như nhân lực khai thác Kinh tế.

Các thuộc địa dành lại Độc lập. Tuy vậy việc nhân công Nô lệ của những Thế kỷ trước vẫn còn lại đây đó. Phải đến Thế kỷ 20, vấn đề nô lệ và phân biệt chủng tộc, mầu da mới có những bước giải thoát thực sự.

Bản Tuyên Ngôn NHÂN QUYỀN Quốc tế đánh dấu sự giải thoát trên nguyên tắc cho mọi CÁ NHÂN sinh ra làm người. Không tôn trọng NHÂN PHẨM, không bảo đảm NHÂN QUYỀN là sự thối lui của cố gắng giải thoát con người CÁ NHÂN mà Lịch sử Nhân loại đã trường kỳ đấu tranh. Mà nếu đã tôn trọng Nhân phẩm, đã bảo vệ Nhân quyền, thì nguyên tắc Dân chủ là là một Hệ Luận trực tiếp cho mọi tổ chức Xã hội.
 
Tính cách thuần lý nhân bản

Tính cách thuần lý này đi từ câu nói mà mọi người chấp nhận:“Nếu không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Chúng tôi không cần biết Bà này sang, Oâng kia hèn, mà chỉ cần biết Bà ấy và Oâng ấy đều là người. Chúng tôi cũng không cần biết hai người có tôn trọng NHÂN PHẨM của nhau hay không, có bảo đảm NHÂN QUYỀN của người kia hay không. Khi hai người sống chung với nhau, chúng tôi cũng không cần biết họ quyết định những việc làm chung có theo DÂN CHỦ hay không. Chúng tôi cũng không cần biết hai người đã giao kèo với nhau những gì gọi là LUẬT LỆ.

Chúng tôi chỉ cần hỏi từng người xem họ có thực tình với câu nói: “Nếu không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“.  Thực vậy, khi Bà làm những việc khinh bỉ Oâng, nghĩa là không tôn trọng NHÂN PHẨM, thì Bà hãy tự hỏi xem Bà có muốn Oâng đối xử như vậy với Bày hay không. Nếu không muốn Oâng khinh bỉ mình, thì Bà đừng khinh bỉ Oâng. Cũng vậy, khi Oâng Nông Đức Mạnh bắt Hòa Thượng Thích Quảng Độ không được phát biểu, không có NHÂN QUYỀN, thì chính Oâng Nông Đức Mạnh có hài lòng không nếu Hòa thượng Thích Quảng Độ dùng quyền cấm Oâng không được nói. Khi Oâng Phan Văn Khải quyết định một mình cho công việc chung như cấm nói về Tôn Giáo ngoài khuôn khổ Nhà Thờ mà không thèm để ý đến ý kiến của Hồng Y Phạm Minh Mẫn, thì Oâng Phan Văn Khải hãy tự nghĩ xem Oâng có hài lòng không nếu Hồng Y Phạm Minh Mẫn tự ý cấm không cho giảng dậy thuyết Cộng sản vô thần trong Chủng viện. Cả hai đều không hài lòng vì không cho phép quyết định theo DÂN CHỦ.

Tính cách nhân bản thuần lý và đơn giản của NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ có thể tự mình cảm thấy và suy diễn từ câu nói “Nếu không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“.     

Tóm lại cả ba điểm vừa trình bầy trong Đoạn này, chúng ta thấy rằng những điểm thuộc Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa có tính cách phổ quát của mọi chế độ lấy con người CÁ NHÂN làm mục đích cho mọi sinh hoạt Xã Hội. Nó thuộc bản chất của con người sống thực sự. Tổ chức Xã hội, Đường lối giải quyết những vấn đề sống chung, có thể thay đổi, nhưng bản chất của con người CÁ NHÂN là phổ quát. Giòng nước sông vẫn là giòng nước sông, NHÂN BẢN, còn những lằn sóng lăn tăn trên giòng nước, CHÍNH TRỊ Xã Hội, khi nhô lên khi lặn xuống, thay đổi theo từng lúc, từng trường hợp.


HÒA HỢP HÒA GIẢI ĐƯỜNG LỐI THỰC HIỆN

Giòng nước sông là triền miên. Thể chế Dân chủ đa nguyên/ Chế độ Việt Nam Cộng Hòa chọn cái Bản chất triền miên và phổ quát. Đó là mục đích nhằm tới mà thực hiện. Chúng tôi cũng nhắc lại điều viết ở phần đầu của bài về Lập trường của Đức Giêsu đối với Satan. Đức Giêsu trước đây, sau khi ăn chay 40 đêm ngày, thân người mệt lả vì đói. Quỷ Satan đưa đồ ăn để dụ Ngài thuần phục nó để có được đồ ăn. Ngài tuyên bố bản chất của Ngài là chỉ thờ phượng một mình Thiên chúa, chứ không thuần phục ma quỷ. Ngài đã mạnh mẽ đuổi Satan đi để giữ trọn vẹn bản chất của Ngài.

Đức Giêsu có 40 đêm ngày để chịu đói. Dân tộc Việt Nam đã phải chịu đói khát về NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ và LUẬT PHÁP đã bao chục năm trường. Mục đích của người Dân Việt là phải dành lại những điểm ấy đã được chọn là Bản chất.

Đối với vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp mà một số người đang coi là thời sự hiện nay, Lập trường của chúng tôi rõ rệt như sau: Không thể hòa hợp hòa giải về Bản chất mà chỉ thảo luận về đường lối thực hiện bản chất.


Không thể Hòa hợp Hòa giải về bản chất
 
Mặc dầu rất đói, nhưng Đức Giêsu thẳng thắn xua đuổi Satan đi vì Satan muốn Đức Giêsu thay đổi bản chất của Ngài chỉ thờ phượng một mình Thiên Chúa. Cũng vậy, NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ, LUẬT PHÁP là bản chất của chế độ mà chúng ta nhằm thực hiện, nên chúng ta không thể nhượng bộ với Cộng sản độc tài không tôn trọng NHÂN PHẨM, không cho phép NHÂN QUYỀN, không áp dụng DÂN CHỦ, không lấy LUẬT PHÁP làm trọng tài mà chỉ xử dụng SỨC MẠNH KHỦNG BỐ. Chế độ độc tài Cộng sản hiện hành ở Việt Nam chỉ là sự PHỦ NHẬN (Négation) của những giá trị NHÂN BẢN phổ quát mà chúng ta nhằm thực hiện. Hòa Hợp Hòa Giải về Bản chất tức là chúng ta đi theo Satan để phủ nhận chính bản chất của chúng ta. Thử hỏi khi Đức Giêsu chỉ thờ lậy một mình Thiên Chúa, nhưng vì đói quá, Ngài ưng thuận tôn thờ “chút xíu“ Satan, thì Nhân loại sẽ coi Ngài như thế nào. Khi Đức Giêsu dứt khoát xua đuổi Satan, ai dám nói rằng Ngài là cực đoan.


Đồng ý thảo luận về Đường lối thực hiện Bản chất

Giòng nước sông là bản chất và triền miên, những gợn sóng trên giòng nước sông khi nhô lên lúc ẩn xuống. Đó là những đường lối chính trị trên sự triền miên NHÂN BẢN và DÂN TỘC. Chúng ta sẵn sàng thảo luận về những đường lối thực hiện cho tốt đẹp những giá trị bản chất. Chúng ta sẵn sàng hòa hợp hòa giải những đường lối giải quyết những vấn đề xã hội, nhưng tất cả những đường lối ấy phải nhằm mục đích tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo đảm NHÂN QUYỀN, áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ và lấy LUẬT PHÁP do Dân quyết định làm trọng tài phân xử. Tất cả những điều nhằm thực hiện này đều quy vào đích điểm tối hậu là phục vụ CÁ NHẬN sống thực. Thực tiễn và cấp bách, chúng ta thảo luận với Cộng sản về hai điều: 1) Phải từ bỏ độc tài cai trị, nghĩa là không ai được dùng sức mạnh khủng bố Dân; 2) Phải có đa đảng.

Hòa hợp Hòa giải chỉ có thể tiếp tục khi hai điều này được tôn trọng cụ thể.

  
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 6
HÒA HỢP HÒA GIẢI PHẢI CHĂNG
LÀ VIỆC CHIA NHAU QUYỀN CAI TRỊ


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 216/26.05.05 này nói về đề tài thứ năm:  Hòa Hợp Hòa Gỉai phải là việc chia nhau quyền cai trị. Giữ vững lấy bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ. Cái bản chất của một chế độ là điều khó nhân nhượng, nhưng đường lối thực hiện bản chất có thể thảo luận để cùng chọn lựa.
 
Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:

=> Có thể hợp tác ngay với kẻ thù
=> Đòan kết là là tình trạng kiện toàn nhất của Hòa giải Hòa hợp
=> Hòa hợp Hòa giải giả hiệu để chia phần bánh vẽ
=>  Hòa hợp Hòa giải không phải là điều khó khăn


CÓ THỂ HỢP TÁC NGAY VỚI KẺ THÙ

Đây là câu chuyện có thực của chính tôi. Làm trong phạm vi tài chánh, động chạm tới tiền bạc, tôi thường tuyên bố rằng tôi không tin ai cả, ngay cả không tin chính tôi. Nghe như vậy, có người lấy làm lạ và hỏi vặn lại. Tôi thường kể ra ít tỉ dụ như sau.

Buổi tối khi tôi ra ngoài, định uống ly bia, tôi bỏ vào túi mấy chục bạc tiền mặt và nhất định không mang cả ví tiền đi theo, nhất là trong đó lại có Credit Card. Đó là sự phòng bị để tránh tiêu pha bậy bạ. Khi ra khỏi nhà, dù tôi quyết tâm chỉ uống 2, 3 ly bia, nhưng rồi nhiều khi giữ lời quyết định đó không được, có nghĩa là tôi không tin tôi 100%. Thực vậy, mang trong túi, tiền mặt mấy chục, nếu có uống thêm hoặc mời bạn bè, hết mấy chục đó thì mò về nhà. Nhưng nếu mang theo ví tiền, nhất là có Credit Card, thì dễ dàng tiêu bao uống bậy, nhất là gặp mấy cô khích bác. Không thể tin ở sự quyết định của chính mình 100% khi đã ngà ngà mấy ly rồi.

Hai cô cậu thanh niên yêu nhau tha thiết. Cậu thề thốt có thể nhẩy xuống hồ tự tử vì cô. Cô cũng nói là nếu anh chết thì em cũng hết sống. Hai người hoàn toàn tin tưởng vào tình yêu của nhau, nên quyết định lấy nhau, nghĩa là suốt đời sống chung cho đến khi hai người rụng hết răng, phải ăn Pop Corn bằng lợi. Hai người ra nhà Làng để làm hôn thú thề hứa hoàn toàn tin tưởng nhau. Nhưng vừa ký xong hôn thú, thì hai người ký Giao kèo tách rời tiền bạc (Séparation des Biens). Như vậy về tiền bạc, thì không tin nhau được.

Tôi làm việc với một Bạn Tài chánh (Financial Partner), Oâng Panagiotis PAPADAKIS, người Hy Lạp. Người ta thường nói rằng, khi bắt tay với người Hy Lạp, thì sau đó phải đếm xem mình còn mấy ngón tay. Tôi đã đề phòng, nhưng vẫn còn hớ hênh. Tôi đã choảng nhau với Oâng ta ngay cả nói trên Ti-vi Thụy sĩ rằng Oâng là người có ý biển lận (Crook). Nhưng sau đó Oâng viết thư hỏi tôi xem tôi có còn HỢP TÁC với Oâng ta không. Tôi trả lời bằng văn thư cho Oâng với nguyên văn rằng:“If the Satan shows me how to go to Paradise, I cooperate with him (Nếu thằng quỷ Satan chỉ đường cho tôi lên Thiên đàng, thì tôi HỢP TÁC với nó)“

Những tỉ dụ trên có ý nghĩa rằng, ngay có cả trong vấn đề tiền bạc đầy những nghi kỵ lẫn nhau gần như thù địch, nhưng nếu hai người đặt Mục đích chung, thì hai kẻ thù cũng có thể HỢP TÁC đường lối để đạt mục đích. Mục đích giống nhau mới là quan trọng, còn đường lối đạt Mục đích có thể gia giảm, Hòa giải Hòa Hợp, dù giữa hai thù địch.


ĐOÀN KẾT LÀ TÌNH TRẠNG KIỆN TOÀN NHẤT
CỦA HÒA GIẢI HÒA HỢP

Nhiều Người viết trên các Diễn Đàn kêu gọi Đoàn Kết. Tôi thường nói rằng Đoàn Kết không cần phải kêu gọi, đó là sự tự động khi mà hai người hay hai Đoàn thể thấy Mục đích giống nhau.

Hãy lấy một tỉ dụ trước khi nói đến lời kêu gọi Đại Đoàn Kết của Cộng sản. Tỉ dụ vùng Hoa Thịnh Đốn có Hội Aùi Hữu Việt Kiều mà mục đích rõ rệt là tổ chức Tết, tổ chức Giỗ tổ Hùng Vương để đồng bào vui vẻ sống gặp gỡ nhau, chứ không nhằm sinh hoạt chính trị gì cả. Mọi người đều thuộc vào Hội ái Hữu. Nhưng khi làm công việc tổ chức chung ái hữu, có một Nhóm rất hăng hái, lại để lộ ra rằng họ thuộc Đảng Tự Do. Sau đó có Nhóm khác cũng rất hăng say, lại để lộ ra rằng họ thuộc Đảng Dân Chủ. Thế là cái nguồn chia rẽ bắt đầu ló ra. Trong khi làm việc chung, mỗi Nhóm muốn lợi dụng cho Mục đích riêng của từng Đảng. Việc chia rẽ này là vì hai Đảng không nhằm một Mục đích chung duy nhất. Hai Mục đích càng khác biệt, thì sự chia rẽ càng trầm trọng.

Cộng sản Việt Nam kêu gọi khản cổ về Đại Đoàn Kết Dân Tộc, nhưng rồi Dân tộc vẫn tìm đường chạy, lánh xa chúng. Mục đích kêu gọi Đoàn Kết của Cộng sản là yêu cầu người khác đứng vào hàng ngũ họ để mà phục vụ cho Chính trị riêng của họ. Mục đích của Cộng sản là Chính trị của Đảng, trong khi ấy Mục đích của mỗi người là đời sống từng cá nhân. Sự khác biệt Mục đích này khiến việc kêu gọi Đoàn Kết trở thành giả tạo. Mục đích của Cộng sản là độc tài Đảng trị, mục đích của chúng ta là đời sống tự do cho từng cá nhân.

Tóm lại, việc Đoàn kết không khó, không cần phải khản cổ kêu gọi, chỉ cần thành tâm đặt với nhau MỤC ĐÍCH CHUNG. Mọi người sẽ đoàn kết những đường lối tốt nhất để thực hiện MỤC ĐÍCH. Nói Hòa Giải Hòa Hợp mà không thành tâm đặt để rõ rệt ra với nhau MỤC ĐÍCH CHUNG, thì đó chỉ là xử dựng mỹ từ lừa đảo nhau mà thôi.


HÒA GIẢI HÒA HỢP GIẢ HIỆU
ĐỂ CHIA PHẦN BÁNH VẼ

Hãy xem Mục đích của Thể chế Dân chủ đa nguyên/ chế độ Việt Nam Cộng Hòa (DCDN/VNCH) như thế nào và Mục đích của chế độ Cộng sản (CSVN) hiện hành ra sao. Khi xác định Mục đích của mỗi bên rồi, chúng ta dễ thẩm định việc Hoà Giải Hòa Hợp mà một số người nói hiện nay là giả hay thiệt.

CÁ NHÂN và TẬP THỂ

=> DCDN/VNCH: lấy cá nhân làm mục đích của mọi sinh hoạt xã hội
=> CSVN: Chính trị của Đảng là mục đích mà mỗi cá nhân phải hy sinh phục vụ

NHÂN PHẨM

=> DCDN/VNCH: tôn trọng triệt để nhân phẩm
=> CSVN: không coi trọnh nhân phẩm của từng cá nhân, Đảng phẩm là trên hết

NHÂN QUYỀN

=> DCDN/VNCH: bảo vệ những quyền căn bản của con người
=> CSVN: tước đoạt những quyền căn bản con người

DÂN CHỦ

=> DCDN/VNCH: áp dụng nguên tắc Dân chủ trong tổ chức cuộc sống chung
=> CSVN: không áp dụng nguyên tắc Dân chủ mà chỉ lấy Đảng chủ quyết định

TRỌNG TÀI

=> DCDN/VNCH: luật pháp do chính Dân quyết định
=> CSVN: sức mạnh khủng bố do Đảng quyết định

DCDN/VNCH đặt những Mục đích như trên dựa trên sự ước muốn của Dân. Trong khi ấy, những Mục đích mà CSVN đặt ra là dựa trên chủ trương của Đảng.

Nói Hòa Hợp Hòa Giải mà không làm cho Mục đích tiến lại duy nhất với nhau, thì đó chỉ là nói chuyện về Hòa Hợp Hòa Giải giả tạo để bịp Dân.  Việc thảo luận dưới chiêu bài Hòa Hợp Hòa Giải gỉa tạo này xa rời lòng mong muốn của Dân chỉ là xảo ngữ để những người chính trị chia phần bánh vẽ ăn trên đầu Dân mà thôi.


HÒA HỢP HÒA GIẢI KHÔNG PHẢI LÀ ĐIỀU KHÓ

Cái khó không phải là Hòa Giải Hòa Hợp, mà chính là ở chỗ yêu cầu Cộng sản đặt Mục đích của thể chế của họ theo đúng với Mục đích mà Dân chúng muốn, nghĩa là (1) lấy CÁ NHÂN làm đích điểm phục vụ; (2) tôn trọng NHÂN PHẨM của từng người; (3) bảo đảm NHÂN QUYỀN cho mỗi cá nhân; (4) áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ trong tổ chức sinh hoạt Tập thể; (5) lấy LUẬT PHÁP do Dân quyết định để giải quyết những va chạm trong cuộc sống chung.

Khi cái điều khó này được giải quyết rồi, thì Hòa Giải Hòa Hợp không cần phải thảo luận, mà tự động tới.

Cái khó là Cộng sản cố chấp giữ những Mục đích của mình vì quyền lợi của Đảng, chứ không phải vì quyền lợi của Dân.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

 

HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 7
HÒA HỢP HÒA GIẢI
KHÔNG PHẢI LÀ VÁ VÁY ĐỤP


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN này nói về đề tài thứ bảy:  Hòa hợp Hòa giải không phải là vá víu váy đụp. Giữ vững lấy bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ. Cái bản chất của một chế độ là điều khó nhân nhượng, nhưng đường lối thực hiện bản chất có thể thảo luận để cùng chọn lựa.
 
Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:

=> Sự thất bại của chủ nghĩa Cộng sản

=> CSVN đã cố thủ vá váy đụp

=> Không thể mang miếng vải mới để vá thêm nữa

 

SỰ THẤT BẠI CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

Karl Marx đã lấy lại ý tưởng của nhà Kinh tế Tư bản Anh quốc thời danh David RICARDO về giá trị Lao động hàm chứa trong việc định giá một vật thể sản xuất.  Thời đầu của cuộc Cách Mạng Kỹ nghệ mà việc tổ chức Xã hội chưa đáp ứng kịp đã khiến một số chính trị gia đẩy mạnh những Phong Trào đấu tranh xã hội.

Lenine đã lợi dụng ý tưởng về Giá trị Lao động này, qua Karl Marx, để làm lợi khí cổ động cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu nhằm nắm chính quyền. Lenine đã thành công trong việc điều hành giới Lao động, Công nhân và Nông dân, để làm cuộc tàn sát phục vụ cho quyền lực của Đảng Cộng sản. Trong thế Cách Mạng Vô sản ấy, Đảng Cộng sản thâu tóm về mình:

=> Quyền lực chính trị độc tài độc đảng

=> Quyền nắm giữ tài sản Quốc gia trong tay đảng: Truất tất cả quyền Tư hữu và nền   Kinh tế Chỉ huy Tập trung bắt đầu.  

Thể chế Chính trị độc tài này và nền Kinh tế Chỉ huy Tập trung đã thất bại hoàn toàn. Đó là sự sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Nga và Đông Aâu.  Phải nói lý do chính yếu của sự sụp đổ này là chế độ không thỏa mãn được cái quyền DẠ DẦY của người Dân. Dân đói quá, muốn tự mình kiếm sống. Nhà Nước không bao cấp nổi và cũng không cho Dân tự mình tìm sống. Dân chịu đói không nổi, thì cầm gậy đập tan cái quyền lực chính trị độc tài. Nói đơn giản và toạc móng heo ra như vậy để hiểu sự sụp đổ của thể chế độc tài Cộng sản.


CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ CỐ THỦ VÁ VÁY ĐỤP
 
Một số bạn trẻ, nhất là những bạn sinh tại nước ngoài, chắc không biết váy đụp là gì. Ngay cả một số vị sống ở tỉnh thành Việt Nam cũng chưa chắc biết kỹ về váy đụp.  Vì vậy tôi xin được nói đôi chút về váy đụp.

Phải là ở nhà quê. Tôi đã là thằng chăn trâu cắt cỏ ở Nga Sơn, Thanh Hóa. Hồi ấy có vải dệt Nam Định. Mang về nhuộm nâu bằng củ nâu rồi may váy. Xin nhớ đàn bà Việt Nam mặc váy chứ không mặc quần như đàn bà Trung quốc. “Cái thúng mà thủng hai đầu. Bên ta thì có bên Tầu thì không“. Đó là cái váy.  Bà nội của tôi mặc váy chứ không mặc quần.

Có một cái váy, mặc hoài, thì váy cũng phải bạc mầu nâu và rách. Không tiền mua vải may váy mời, thì phải vá. Nhưng làm sao có vải mà vá. Đành phải cắt váy cũ để vá lên chiếc váy mới hơn. Miếng vải từ váy cũ mau rách hơn váy mới. Vì vậy mà phải vá hết miếng này chồng lên miếng kia. Đó là váy đụp vậy.

Rận, Rệp mà chui vào các lớp vá này, thì rất khó bắt. Thường phải bỏ váy vào nồi nước nấu sôi lên để giết rận, rệp.

Tôi xin nhắc ở đây là khi tôi viết về đám ngợm giáo gian quốc doanh, về bầy ngợm chính trị gian quốc doanh, tôi thường ví họ như những con rệp chui rúc váy đụp. Tôi hô hào phải diệt chúng bằng bỏ váy đụp vào nồi nước mà đun sôi.

Trở lại chủ nghĩa Cộng sản. Ngay từ thời Staline, những chuyên viên Kinh tế phác họa những Kề hoạch (Plans) đã biết rằng không thể nào có hoàn toàn Kinh tế Chỉ huy Tập trung. Họ đã phải cho những Vi Phạm (Entraves) vào Kế Hoạch. Tỉ dụ Con Bò Nhà Nước và Con Bò Tư Nhân, cho Nông Dân 6 sào ruộng để làm ăn riêng. Nhưng nếu làm ăn riêng, thì phải có trao đổi. Hình thức Thị trường địa phương bắt đầu.

Khi chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đồ, Đảng Cộng sản Việt Nam biết rõ rằng thể chế này không thể đứng vũng nữa. Dân Nga và Đông Aâu đã lột vứt chiếc váy cũ. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam, vì quá cố thủ giữ lấy quyền hành, nên tìm đủ mọi cách để vá cái váy cũ. Nào là Cởi Mở, nào là Đổi Mới...Tìm hết vải của Tầu, của Mỹ, của Pháp để mọng vá váy cũ. Trong suốt mấy chục năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ tìm cách vá víu chiếc váy đụp Cộng sản.

Trần Đức Lương đi Bắc Kinh, Nông Đức Mạnh đi Paris, Phan Văn Khải đi Hoa Thịnh Đốn, tất cả chỉ nhằm tìm miếng vải để vá váy đụp.

Sao không cùng Dân tộc thảo luận để cùng làm việc kiếm tiền mua vải đẹp để may váy mới. Đảng Cộng sản sợ Dân tộc Việt Nam. Chúng sợ Dân bắt chúng cởi truồng, dù váy đụp cũng không cho chúng mặc nữa !


KHÔNG THỂ MANG MIẾNG VẢI MỚI ĐỂ VÁ THÊM NỮA

Hòa Hợp Hòa Giải là ý tưởng muốn dâng cho chế độ hiện hành những miếng vải để vá chiếc váy đụp đã rã rời, mục nát. Có những kẻ dâng kim, có những người mang chỉ, có những tên cung cấp miếng vải Gin Mỹ... để Cộng sản vá chiếc váy đụp mà Dân chúng Việt Nam quốc nội đã phải mặc trong nhũng chục năm trường.

Những kẻ làm như vậy tất nhiên là phạm trọng tội đối Dân tộc bởi lẽ họ mong dân kim, mang chỉ, cung cấp miếng vải chỉ nhằm: một mặt có chổ ẩn như rệp đói để tìm dịp hút máu đồng bào, một mặt tiếp tay cho Cộng sản bắt Dân phải mặc váy đụp không biết bao lâu nữa.

Ngay cả ngoại bang, Mỹ, Pháp, Anh, Tầu... mà tiếp tay cho Cộng sản tiếp tục vá váy đụp để Dân Việt quốc nội phải mặc thêm những năm trường nữa, thì đám ngoại bang này cũng bị Dân Việt Nam phỉ nhổ.
 
Không thể mang miếng vải quyền Phát Biểu để vá lên miếng vải cũ Cấm Quyền Ngôn Luận. Không thể mang miếng vải Dân Chủ để vá lên miếng vải Độc Tài...
 
Hòa Hợp Hòa Giải giữa hai Bản chất, giữa Thánh Nhân và Quỷ Thần chỉ là vá víu để lừa bịp.
 
Bỏ Thánh Nhân và Quỷ Thần vào một giỏ để xóc lộn xà ngầu, thì đố đồng bào biết kết quả sẽ sinh ra loại gì ? Tôi xin trả lời rằng kết quả là NGỢM.

“Người không phải là Người để người ta kính. Vật không phải là Vật để người ta ăn thịt. Đó là NGỢM !“
 
Ngợm giáo gian quốc doanh và ngợm chính trị gian quốc doanh đang muốn làm Hòa Giải Hòa Hợp để bầy ngợm thêm đông mà Dân tộc Việt Nam chán ghét.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



                             

-------------------------------------------
DAN CHU & TU DO NGON LUAN 
-------------------------------------------

                                         QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN
                         LÀ CHÌA KHÓA CHO TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA

“Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình” (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982). (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)

                                 NHIỆT LIỆT ỦNG HỘ VÀ PHỔ BIẾN
                                            BÁN NGUYỆT SAN 
                                         "TỰ DO NGÔN LUẬN"
                                         Phát hành tại Quốc nội
                                 Tổng biên tập: Linh mục CHÂN TÍN
                  Ban Biên tập: Lm.NGUYỄN VĂN LÝ, Lm.PHAN VĂN LỢI
                            Web: http://tudongonluan.atspace.com


                                                       Tuyên Bố
                                  về Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận
                                           của người Dân Việt Nam


- Xét rằng : Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận là một Quyền rất cơ bản của mọi nền Dân chủ đích thực, nhưng hiện nay toàn Dân Việt Nam, trong thực tế, chưa hề được bày tỏ công khai quan điểm và chính kiến độc lập của mình và chưa hề có một cơ quan thông tin tư nhân nào được phép hoạt động cả ;
- Xét rằng : Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966 mà Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã xin gia nhập ngày 24.9.1982 đã qui định : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ” (điều 19,2)
- Xét rằng : Một số rất ít Nhà cầm quyền độc tài toàn trị còn rơi rớt lại trên trái đất, trong đó có Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, đều lạm dụng điều 19,3,b của Công ước nói trên : “Quyền ở điều 19,2 có thể bị hạn chế phần nào để bảo vệ an ninh quốc gia, hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng” hầu bóp chết quyền Tự do Thông tin Ngôn luận rất chính đáng của người Dân trong Nước họ, vì Các Nhà cầm quyền độc tài toàn trị ấy luôn ngụy biện đồng hóa “bảo vệ An ninh Quốc gia” chân chính với “bảo vệ an ninh” cho Chế độ của mình. Ai ai có lương tri đều hiểu An ninh Quốc gia được gia tăng chỉ khi toàn Dân được thông tin thông thoáng, tiếp cận tình hình thế giới, mở rộng tầm nhìn, nhận thức đầy đủ lành mạnh đúng đắn. Trái lại chính việc Nhà cầm quyền độc quyền bưng bít hoặc bịa chuyện để lừa gạt Dân mới là một trong các nguyên nhân tất yếu làm Tổ quốc suy tàn bi thảm, Dân tình tang thương biến loạn;
- Xét rằng : Sách Trắng do Bộ Ngoại giao Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam công bố ngày 18-8-2005 đã công khai tuyên truyền với Quốc tế : “Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người Dân tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet” (Chương II, mục I,2) ;
Vậy thay mặt cho hàng triệu người Dân Việt Nam đang hằng giờ thao thức tìm đọc thông tin từ Internet cũng như từ các nguồn thông tin khác, chúng tôi đồng thanh tuyên bố :
1/- Chúng tôi có Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận, có quyền tiếp cận các nguồn thông tin từ mọi phía.
2/- Yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tạo ngay các điều kiện cần thiết để chúng tôi được công khai sử dụng và khai thác các nguồn thông tin hữu ích của Nhân loại như Sách Trắng chính Bộ Ngoại giao VN công bố ngày 18-8-2005, chứ không phải bị trói buộc bởi các quy định phi lý và vô nguyên tắc như hiện nay.
3/- Yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thả ngay các tù nhân Thông tin ngôn luận Nguyễn Vũ Bình và Phạm Hồng Sơn, đồng thời chấm dứt vĩnh viễn các hành động bắt bớ, trấn áp, sách nhiễu người Dân như đã bắt giam 2 ông Văn Sáu và Hoàng Trọng Châu ở Phước Long chỉ vì họ đòi được hưởng quyền thu thập và truyền bá thông tin lành mạnh. Vì việc bắt bớ giam cầm họ chỉ là một cách tự thú nhận trước Cộng đồng Quốc tế  rằng Nghị quyết 1481 của Nghị viện Hội đồng Châu Âu ngày 25-01-2006 lên án Chủ nghĩa và Chế độ Cộng sản đã tàn phá Nhân loại nặng nề như Chủ nghĩa Đức Quốc xã là hoàn toàn xác thực.
4/- Yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam sửa đổi ngay luật Báo chí, công khai tuyên bố tạo điều kiện dễ dàng cho báo chí tư nhân được tự do xuất bản ở Việt Nam. 
Tuyên bố tại thành phố Huế, ngày 23-02-2006
Thay mặt nguyện vọng hưởng Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận của người Dân Việt Nam
                   Linh mục Têphanô Chân Tín, Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải
                   Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi

NHIỆT LIỆT KÝ TÊN ĐÒI QUYỀ TỰ DO THÔNG TIN NGÔN LUẬN
http://www.PetitionOnline.com/TDNL/petition.html                                                              
Kính quý Vị,
Trước khi hành xử quyền Tự do Ngôn luận và Thông tin cho người khác, thì cái quyền tối sơ nhất là Quyền được biết những gì xây ra chung quanh mình (DROIT DE SAVOIR/ RIGHT TO KNOW). 
CSVN đàn áp ngay cái quyền được biết (Droit de Savoir/ Right to Know) tỉ dụ như khi cấm đoán và  bắt giữ hai người Dân mới đây ở Bình Long. CSVN biến con người thành MÙ, thành ĐIẾC, thành CÂM, thành TỊT MŨI , thành mất XÚC GIÁC không còn BIẾT ĐƯỢC (Savoir/ to Know) những gì xẩy ra chung quang mình. 
Con người còn kém hơn súc vật, mà trở thành đất đá VÔ TRI ( Sans DROIT DE SAVOIR/ Without RIGHT TO KNOW)
   Trân trọng,
  NGUYEN PHUC LIEN     

                            



                                          TUYÊN NGÔN TỰ DO DÂN CHỦ

                              Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006
                           của 118 Nhà Đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam

                                                 Việt Nam, 8 - 4 - 2006

Kính gửi Đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài Nước,
Chúng tôi, ký tên dưới đây, đại diện cho hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ ở quốc nội và tất cả mọi người Dân nào đang khao khát một nền Dân chủ chân chính cho Quê hương Việt Nam hôm nay, đồng thanh lên tiếng :

I. Thực trạng của Việt Nam

1- Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945 chẳng nhắc đến một từ nào về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản cả. Hai nguyên nhân chính làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng ấy là Khát vọng Độc lập Dân tộc và Khoảng trống quyền lực lúc bấy giờ ở Việt Nam (quân Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh ngày 15-8-1945 và thực dân Pháp đã bị quân Nhật đảo chính cướp quyền từ ngày 9-3-1945).
Rõ ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị đảng Cộng sản Việt Nam đánh tráo. Và dĩ nhiên, Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu. Đã có ít nhất 2 cơ hội lịch sử rất thuận lợi là năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước, để Dân tộc khẳng định Quyền tự quyết của mình. Nhưng tất cả đều đã bị đảng Cộng sản Việt Nam tráo trở không thực hiện. Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là : bạo lực và khủng bố trấn áp !

2- Tiếp đến, ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập  nam 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : mọi Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nam 1791 cũng nói : "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…”. (trích Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945).
Thế nhưng, tất cả những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên.

3- Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin”. Và trong Điều Lệ, phần Mục Đích và Tôn Chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Angghen - Lênin - Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…”.
Kể từ đó, nhất là ở miền Bắc sau năm 1954, rồi cả nước sau ngày 30-4-1975 thì bóng ma của chủ nghĩa cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.

II. Qui luật phổ biến toàn cầu

1- Lịch sử đã minh định rằng mọi quyền tự do, dân chủ ở bất cứ một chế độ độc đảng toàn trị nào, dù cộng sản hay không cộng sản, cũng đều bị chà đạp không thương tiếc, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Bất hạnh thay là cho đến nay, Dân tộc Việt Nam vẫn thuộc về một trong số ít các Quốc gia trên thế giới còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, rằng : “Đảng cộng sản Việt Nam... theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu, may ra chỉ còn vài mẩu vụn mà thôi !

2- Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử thì toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa. Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước ! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ.

3- Chúng ta đều hiểu rằng : không ai có thể sửa được lịch sử, nhưng có thể bẻ chiều lịch sử. Và điều quan trọng hơn là qua những bài học của lịch sử, định hướng tốt cho tương lai. Con đường hôm qua của Dân tộc ta đã bị những người Cộng sản Việt Nam chọn một cách vội vàng, thiếu chín chắn và áp đặt cho cả Dân tộc một cách khiên cưỡng. Con đường ấy thực tế đã chứng minh là hoàn toàn sai lạc. Vì vậy Dân tộc ta hôm nay phải chọn lại con đường cho mình. Và chắc chắn cả Dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hay một nhóm người nào đó. Đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận của Dân tộc, nên không thể mạo danh Dân tộc để chọn thay ! Trước Dân tộc và lịch sử suốt hơn nửa thế kỷ qua (1954–2006), Đảng cầm quyền ấy đã tiếm danh chứ không chính danh chút nào! Bởi lẽ các cuộc bầu cử thực sự tự do hoàn toàn vắng bóng ở Việt Nam.
Từ thực trạng và qui luật trên đây, với ý thức trách nhiệm của Công dân trước vận mệnh Đất nước, chúng tôi xin được phép giãi bày cùng toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước :

III. Mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa cuộc đấu tranh

1- Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.
Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn Dân sau đây :
- Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2 : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình”. Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền.
- Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn”; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính.
- Quyền Tự do hoạt động Công đoàn độc lập và Quyền Đình công chính đáng theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966, điều 7 và 8 : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…, quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình… (với) quyền đình công…”. Các công đoàn này phải là những tổ chức duy nhất hoạt động độc lập, không có những loại Công đoàn tay sai của nhà cầm quyền.
- Quyền Tự do Tôn giáo theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 18 : “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ Tín ngưỡng hoặc Tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền đạo”. Các Tôn giáo này phải hoạt động độc lập, chứ không thể bị biến thành công cụ cho nhà cầm quyền.
 
2- Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Và chính Dân tộc Việt Nam chủ động thực hiện cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, chúng ta rất cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả của tất cả những bạn bè trên thế giới. Thông qua những phương tiện thông tin hiện đại và qua sự giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, chúng ta sẽ tìm mọi cách giúp Đồng bào kiện toàn nhận thức. Và một khi Nhân dân đã có nhận thức  đúng và rõ thì nhất định sẽ biết hành động thích hợp và hiệu quả.
 
3- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chốn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc “lẽ phải toàn thắng” sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn.
Chúng tôi mong ước Tuyên ngôn này thúc đẩy được sự đóng góp tích cực của Đồng bào trong ngoài Nước và sự ủng hộ của Bạn bè Quốc tế. Chúng tôi chân thành cảm ơn và kêu gọi các Cơ quan Liên Hiệp Quốc, các Quốc hội, Chính phủ, Tổ chức Quốc tế và Bạn bè trên toàn thế giới tiếp tục ủng hộ cách nhiệt tình và hiệu quả cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này, góp phần đưa Tổ quốc Việt Nam sớm sánh vai cùng các Nước văn minh, đạo đức, thịnh vượng, tự do trong cộng đồng Nhân loại hôm nay.

Đồng tuyên bố tại Việt Nam ngày 08 tháng 4 năm 2006

1. Bs Nguyễn Xuân An, Huế   2. Gv Đặng Hoài Anh, Huế
3. Gv Đặng Văn Anh, Huế   4. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang
5. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế   6. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng
7. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu   8. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế
9. Gv Lê Cẩn, Huế    10. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế
11. Gv Trần Thị  Minh Cầm, Huế  12. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế
13.Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ  14. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội
15.Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi  16. Ths Đặng Quốc Cường, Huế
17. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết 18. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng
19. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi  20. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn
21. Gv Hồ Anh Dũng, Huế   22. Gs Trương Quang Dũng, Huế
23. Bs Hà Xuân Dương, Huế   24. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội
25. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội  26. Kt Trần Văn Đón, Phan Thiết
27. Bs Hồ Đông, Vĩnh Long   28. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế
29. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng  30. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ
31. Bs Lê Thị  Ngân Hà, Huế  32. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế
33. Vũ Thuý Hà, Hà Nội   34. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn
35. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng  36. Kt Trần Việt Hải, Vũng Tàu
37. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu 38. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng
39. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế  40. Gs Đặng Minh Hảo, Huế
41. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu   42. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn
43. Gv Lê Lệ Hằng, Huế   44. Lm Giuse Nguyễn Đức Hiểu, Bắc Ninh
45. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang  46. Gv Văn Đình Hoàng, Huế
47. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn  48. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế
49. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế  50. Gv Phan Ngọc Huy, Huế
51. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế  52. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế
53. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng  54. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng
55. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế  56. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn
57. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế  58. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế
59. Gs Trần Khuê, Sài Gòn   60. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội
61. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết   62. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn
63. PGHHTT Cụ Lê Quang Liêm, Sài Gòn 64. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn
65. Lm  G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế  66. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế
67. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng  68. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng
69. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế   70. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng
71. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế  72. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn
73. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ  74. Gv Phan Văn Mậu, Huế
75. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ  76. Gv Ma Văn Minh, Huế
77. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn  78. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng
79. Bùi Kim Ngân, Hà Nội   80. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế
81. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế  82. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng
83. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế  84. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn
85. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế  86. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn
87. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ  88. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế
89. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế  90. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long
91. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang  92. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long
93. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng  94. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế
95. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng  96. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng
97. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ  98. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế
99. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn  100. Gv Nguyễn Bình Thành, Huế
101. Gv Văn Bá Thành, Huế   102. Cư sĩ PGHHTT Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp
103. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng  104. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn
105. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội  106. Cựu Sĩ quan Trần Dũng Tiến, Hà Nội
107. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn  108. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội
109. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết 100. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế
111. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng  112. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn
113. Gv Lê Trí Tuệ, Hải Phòng  114. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang
115. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi 116. Gv Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ
117. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng  118. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn   ?





VAN DE GIAI THE CHE DO CONG SAN

Luat su Nguyen Huu Thong

 

      Ngày nay vấn đề sinh tử của đồng bào trong nước là làm sao quang phục quê hương, giải thể chế độ Cộng Sản và xây dựng chế độ Dân Chủ.

      Mọi người đồng ý rằng muốn đưa Cách Mạng Dân Chủ đến thành công phải có sự đấu tranh kiên cường của đồng bào trong nước và sự yểm trợ tích cực của đồng bào hải ngoại.

      Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc chống đế quốc và chuyên chế, chưa thấy một quốc gia nào lại có cơ may như Việt Nam ngày nay. Đó là sự hậu thuẫn của khối đông đảo người Việt hải ngoại, ba triệu người như một, đồng lòng hướng về quê hương, mong cho dân tộc và đất nước tiến lên.

      Chưa nói về sức mạnh tài chánh, đủ khả năng tiếp viện mỗi năm dăm bẩy tỷ mỹ kim cho quốc nội khi đất nước có tự do. Chưa nói về sức mạnh phát triển, với hàng trăm ngàn chuyên viên kỹ thuật gia thượng thặng, đủ mọi ngành, mọi nghề, sẵn sàng trở về kiến thiết quốc gia khi đất nước có dân chủ.

      Chỉ nói về mặt nhân tâm, với hàng triệu tấm lòng, ngày đêm hướng về quê hương yêu dấu, mong cho đồng bào được hạnh phúc, cho dân tộc được tự do thì đó cũng là một sức mạnh tinh thần vô giá. Một khi được vận dụng, sức mạnh này sẽ tạo thành động lực để thúc đẩy cuộc vận động lịch sử của người Việt trong nước đứng lên đòi quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

      Đầu năm 2002, thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói, chúng ta phát động phong trào tố cáo phe lãnh đạo Cộng Sản đã phản bội Tổ Quốc bằng cách nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung Quốc. Sau đó chúng ta lại phát động phong trào tố cáo Đảng Cộng Sản đã phản bội đồng bào trong các mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội; đồng thời kêu gọi đồng bào đứng lên đấu tranh quang phục quê hương, đòi dân tộc tự quyết, giải thể chế độ CS để giành lại quyền làm chủ quốc gia, làm chủ đất nước.

      Hai phong trào này đã được sự hưởng ứng của đồng bào các giới. Từ trong nước các anh em dân chủ nhắn ra rằng: “Chúng tôi rất cảm kích khi thấy các anh còn nhớ quê hương sau 27 năm bỏ nước ra đi.” Một số anh chị em ở hải ngoại cũng nói: “Các anh đã cho chúng tôi một hy vọng.”

      Ngày nay, bằng sự vận động và tổ chức quần chúng, bằng sức mạnh của ngòi bút, sức mạnh của lời nói, sức mạnh của tư tưởng, chúng ta sẽ biến hy vọng thành Niềm Tin. Vì có Niềm Tin mới có quyết tâm dấn thân hành động. Trên bình diện dân tộc Niềm Tin là võ khí lớn nhất. Nó đem lại những hy vọng mới, những chân trời mới, hướng dẫn con người đi tới tự do.

      Dầu sao chúng ta ý thức rằng giải thể CS là một cuộc đấu tranh trường kỳ và cam go. Đây là một việc thiên nan vạn nan. Kinh nghiệm cho biết CS không bị giải thể vì những tấn công từ bên ngoài. Nó chỉ giải thể khi người dân trong nước không ai tha thiết bảo vệ chế độ nữa. Do đó, muốn đưa Cách Mạng Dân Chủ đến thành công, chúng ta phải trông vào nội lực của chính mình.

      Mà ngày nay ở trong nước, dân trí bị bưng bít bởi bộ máy tuyên truyền vĩ đại của Đảng CS. Theo Hà Sĩ Phu, “từ 50 năm nay, người dân nông thôn không biết có gì tồn tại ngoài đảng CS.” Dân khí suy vi, vì người dân thấy mình bị lường gạt và phản bội trong 3 cuộc chiến tranh kéo dài hơn 40 năm. Dân quyền bị chà đạp trong một chế độ công an trị hà khắc. 26 nhân quyền căn bản bị vi phạm thường xuyên và thô bạo. Nhân phẩm bị hạ thấp: người dân chỉ  được coi là “con”,  mà không được đối xử như “người.” Hơn nữa, dân tình đói khổ với những bất công và bất bình đẳng trầm trọng. Bằng tham nhũng và lạm quyền với một chính sách kinh tế lạc hậu, phe lãnh đạo CS đã đưa đất nước và dân tộc đến lầm than đói khổ. Lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam ngày nay chỉ được 1 mỹ kim một ngày.

      Trong khi đó, vì không có sự kiểm soát và chế tài, phe lãnh đạo CS đã sang đoạt tất cả tài sản quốc gia, kể cả các ngân khoản viện trợ tái thiết và viện trợ nhân đạo. Bằng dĩ công vi tư, biển thủ công quỹ, hối mại quyền thế, sưu cao thuế nặng, họ đã làm giàu bất chính để trở thành những triệu phú và tỉ phú trong khi người vô sản vẫn hoàn là vô sản và không có một đồng xu dính túi. Do sự chênh lệch giàu nghèo quá đáng, lợi tức thực sự của người dân trung bình tại nông thôn chỉ được 1/2 mỹ kim một ngày.

      Chính quyền này coi dân như cỏ rác. Họ đánh giá quá thấp mạng sống con người. Trong vụ lính tuần dương Trung Quốc hạ sát 9 ngư dân Thanh Hóa, nhà nước chỉ bồi thường thiệt hại cho mỗi gia đình nạn nhân từ 30 đến 60 mỹ kim. Nếu ai đứng ra phản đối Trung Quốc sẽ lập tức bị bắt giữ và có thể bị truy tố về tội “phá hoại chính sách đoàn kết quốc tế.” Trước tình trạng oan khiên tủi nhục này chúng ta phải tự nhủ rằng, chúng ta sẽ góp phần vào việc giải phóng đồng bào khỏi sự bất công, khỏi sự nghèo đói, khỏi sự sợ hãi, khỏi nạn chuyên chế, khỏi nạn CS.

      Cách đây hơn 70 năm, sau vụ Sô Viết Nghệ Tĩnh, Phạm Quỳnh đã cảnh giác chúng ta về nạn “dịch hạch CS”. Ngày nay, với kinh nghiệm bản thân, chúng ta ý thức rằng CS còn nguy hại hơn dịch hạch. Nó là bệnh ung thư. Mà ung thư thì không thể trị liệu được. Ung thư chỉ có thể cắt bỏ đi. CS cũng vậy. Chế độ CS không thể sửa chữa được. Nó phải bị giải thể!

PHẦN THỨ NHẤT: ĐƯỜNG HƯỚNG ĐẤU TRANH

      Vì thiếu ý thức và kinh nghiệm Cộng Sản, một số người khẳng định rằng, tại Việt Nam ngày nay, chế độ CS đã giải thể rồi. Trong khi đó một số người khác lại quả quyết rằng CS không thể nào giải thể được! Đó là hai quan niệm cực đoan và sai lầm.

      I. KHÔNG CẦN GIẢI THỂ CỘNG SẢN NỮA.

      Ngày nay một số người nhận định rằng trên thực tế chế độ CS đã giải thể rồi, và đảng CS đã biến thành một đảng Mafia, hay băng đảng. Do đó chúng ta chỉ cần chống tham nhũng chứ không cần đấu tranh giải thể CS nữa. Nhận định như vậy là chủ quan và không hiểu rõ bản chất CS.

      Trên thực tế, bằng tham nhũng và lạm quyền, phe lãnh đạo CS đã tập trung và sang đoạt tất cả các tài sản quốc gia, để thủ lợi riêng và làm giàu bất chánh. Theo các tài liệu đáng tin cậy, thì hiện nay có  hàng trăm cán bộ CS cao cấp đã tích lũy những tài sản khổng lồ hàng chục triệu và hàng trăm triệu mỹ kim. Những tài sản này bao gồm những trương mục ngân hàng tại ngoại quốc, những bất động sản và những cơ sở kinh doanh thương mại ở trong nước.

      Vì không có sự kiểm soát và chế tài của quốc dân, của đối lập, của báo chí, của tòa án, của quốc hội, những kẻ tham nhũng bất lương này đã không bị truy tố, không bị kết án và không bị tịch thu tài sản. Đồng bào vô cùng phẫn uất về sự bao che này. Họ công khai miệt thị phe lãnh đạo CS, và đã tố cáo đích danh “con thằng Kiệt, con thằng Khải, cháu thằng Đỗ Mười” v.v... Mới đây cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, với đồng lương chết đói, đã dám tặng dữ một lần một triệu mỹ kim. Hành vi này cho biết rất có thể ông ta đã tích lũy được hàng chục triệu mỹ kim.

      Điều đáng lưu ý là trong khi Mafia chỉ là một đảng cướp thường thì Đảng CS ngày này là một đảng cướp đã cướp được chính quyền. Cũng vì vậy, họ có chính phủ tay sai để thi hành đường lối chính sách của Đảng và đã dĩ công vi tư sử dụng ngân sách quốc gia vào việc nuôi dưỡng các cán bộ đảng viên. Họ còn có quốc hội bù nhìn để hợp thức hóa những nghị quyết của Đảng, và đã ghi Điều 4 Hiến Pháp giành độc quyền lãnh đạo cho Đảng CS. Họ còn có tòa án công cụ để một mặt bao che những hành vi tham nhũng của những kẻ bất lương, mặt khác lại bắt giam độc đoán những công dân lương thiện đã dám đứng lên tố cáo bạo quyền, đòi tự do, công lý, dân chủ và nhân quyền. Hơn nữa, sau khi cướp được chính quyền, Đảng CS đã thiết lập một chế độ độc tài toàn trị.

      Do đó ngày nào Đảng CS còn giữ độc quyền lãnh đạo, vi phạm quyền dân tộc tự quyết, quyền tham gia chính quyền và quyền tự do tuyển cử, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS. Ngày nào họ còn giữ độc quyền tư tưởng để phổ biến tại các trường công lập chủ thuyết Mác-Lê phản dân tộc và phản nhân loại, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS. Ngày nào họ còn chủ trương tiêu diệt tôn giáo trong chủ thuyết và đàn áp tôn giáo trong chính sách, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS. Ngày nào họ còn giữ độc quyền thông tin, độc quyền báo chí và không cho tư nhân ra báo, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS. Và ngày nào họ còn tước đoạt của người dân quyền tự do hội họp, tự do lập hội và tự do lập đảng, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.

      Ngày nay Đảng CS là một con rắn hai đầu, đầu kinh tế Mafia với tham nhũng bóc lột, và đầu chính trị độc tài với đàn áp khủng bố. Nạn nhân trực tiếp của chế độ lại là những người đã tích cực góp phần xây dựng chế độ, như các cựu chiến binh, thương phế binh, gia đình liệt sĩ v.v... Do đó muốn cho đất nước và dân tộc tiến lên, chúng ta phải kết  hợp đấu tranh quang phục quê hương, giải thể CS bằng cách chém đứt 2 đầu con rắn.

      II. CỘNG SẢN KHÔNG THỂ GIẢI THỂ ĐƯỢC.

      Bên cạnh  quan niệm cho rằng chế độ CS đã tự giải thể và Đảng CS đã biến thành một đảng Mafia hay băng đảng, một số dư luận lại cho rằng CS không thể nào giải thể được. Đây là một quan niệm bi quan và phản biện chứng.

      Vì chỉ trên bình diện tôn giáo đạo lý, những nguyên lý chủ thuyết mới có giá trị như những chân lý tuyệt đối, như đức từ bi của Nhà Phật, đức bác ái của Chúa Kitô, hay đức nhân nghĩa của Khổng Phu Tử. Trên bình diện dân sinh xã hội, các nguyên lý chủ thuyết chỉ có giá trị tương đối theo thời gian và không gian. Về mặt chính trị xã hội, các chế độ chỉ quy định những tương quan giữa người dân và quốc gia. Do đó nó phải thay đổi theo trình độ ý thức của người dân, điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia và trào lưu tiến hóa của lịch sử. Trong lịch sử cổ kim, những chế độ tàn bạo nhất như của Kiệt Trụ, Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông v...v... đã lần lượt tiêu vong với thời gian.

      A. 1989-1991: ĐẾ QUỐC SÔ VIẾT TAN RÃ VÀ 22 QUỐC GIA ĐÃ LẦN LƯỢT GIẢI THỂ CS.

      Cũng vì vậy tại Âu Châu, chỉ trong vòng hai năm (từ 1989 đến 1991), 22 quốc gia đã lần lượt giải thể CS: 7 nước thuộc Bức Màn Sắt Đông Âu là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Albanie, Bulgarie, Roumanie, và 15 nước thuộc Liên Bang Sô Viết.

      Yếu tố giải thể CS thay đổi tùy theo những điều kiện đặc thù của từng quốc gia. Tựu chung có 3 yếu tố giải thể CS là:

1) Sức mạnh của quốc dân biểu dương bằng những cuộc mít tinh, biểu tình, tuần hành, đình công v.v...

2) Một tổ chức đối kháng mạnh mẽ như  Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan.

3) Ý thức phản tỉnh và tinh thần thể thao phục thiện của nhà cầm quyền. Sau những cuộc tổng tuyển cử tự do, khi thấy người dân không còn ủng hộ chế độ nữa, phe lãnh đạo CS đã lặng lẽ rút lui.

      Trên thực tế không phải cuộc giải thể CS nào cũng hội đủ 3 yếu tố  nói trên. Tại Hung Gia Lợi, chúng ta không thấy có sự nổi dậy của quần chúng. “Diễn Đàn Dân Chủ” chỉ là một câu lạc bộ để thảo luận về những vấn đề dân chủ và nhân quyền. Yếu tố giải thể CS là ý thức phản tỉnh và tinh thần thể thao phục thiện của nhà cầm quyền. Khi thấy người dân không còn tha thiết bảo vệ chế độ nữa, phe lãnh đạo CS đã lặng lẽ rút lui.

      Tại Tiệp Khắc cũng vậy. Tới tháng 10-1989 không thấy những cuộc biểu dương lực lượng quy mô của quần chúng. “Hiến Chương 77” chỉ là một tổ chức lỏng lẻo, không có nội qui, điều lệ, không có ban chấp hành và không có danh sách hội viên chính thức. Mục tiêu của Hội là đối thoại với nhà cầm quyền về những vấn đề nhân quyền và vi phạm nhân quyền.

      Tại Đông Đức, vấn đề chủ yếu là tự do di chuyển và tự do lựa chọn nơi cư trú. Tháng 10-1989, trong ngày kỷ niệm 40 năm thành lập Đông Đức, Tổng Bí Thư Honecker còn mạnh bạo khẳng định rằng chế độ CS sẽ tồn tại 100 năm! Vậy mà chỉ 2 tuần sau, ngày 9-11-1989, bức tường ô nhục Bá Linh đã bị phá vỡ, kéo theo sự sụp đổ của chế độ CS.

      Sự giải thể CS tại 7 nước Đông Âu năm 1989 đã đưa đến sự tan rã của Liên Bang Sô Viết năm 1991, và 15 quốc gia trong Liên Bang đã lần lượt giải thể CS.

      Như vậy yếu tố giải thể CS thay đổi tùy theo điều kiện đặc thù của từng quốc gia.

      Dầu sao chúng ta thấy có 2 yếu tố chung: CHÍNH NGHĨA VÀ THỜI CƠ. Chính Nghĩa ở đây là Chính Nghĩa Tự Do Dân Chủ. Và Thời Cơ là  sự kiệt quệ của Liên Xô. Kiệt quệ về Niềm Tin và kiệt quệ về kinh tế.

      Từ sau cái chết của Stalin, nhân dân Liên Xô đã ý thức sự sai lầm của chủ thuyết cách mạng vô sản, và muốn sống chung hòa bình với các nước tư bản Tây Phương. Hơn nữa từ thập niên 1980, kinh tế Liên Xô lâm vào tình trạng suy kiệt sau cuộc thi đua võ trang với Hoa Kỳ trong Chiến Tranh Tinh Cầu (Star Wars). Ngoài ra Liên Xô còn bị sa lầy nặng nề trong Chiến Tranh A Phú Hãn. Để diễn tả sự kiệt quệ kinh tế tại Liên Xô, người ta thường nói: “Nhà nước giả đò trả lương cho công nhân viên, và công nhân viên cũng giả đò làm việc cho nhà nước”.

      Để cứu nguy đất nước, năm 1985, Gorbachev phải thay đổi chính sách bằng tái cấu trúc về kinh tế và cởi mở về chính trị. Với sự triệt thoái quân đội khỏi A Phú Hãn, từ nay Liên Xô chủ trương không can thiệp vào việc nội bộ của các quốc gia trong Minh Ước Warsaw (nghĩa là Liên Xô sẽ không đem chiến xa để dập tắt những cuộc khởi nghĩa như tại Ba Lan và Hung Gia Lợi năm 1956, hay tại Tiệp Khắc năm 1968).

      Vận dụng cơ hội lịch sử này, 7 nước Đông Âu đã đứng lên đấu tranh giải thể CS năm 1989. Và hai năm sau, năm 1991, Liên Bang Sô Viết đã tan rã, và 15 quốc gia trong Liên Bang đã giải thể CS. Hậu quả dây chuyền của sự giải thể CS Âu Châu là sự tiêu vong của một số chế độ CS Á Phi như tại Angola, Mozambique, Ethiopie, A Phú Hãn, Mông Cổ, Cao Miên v.v...

      B. 1946-1949: CÁC ĐẾ QUỐC TÂY PHƯƠNG TỰ GIẢI THỂ.

      Nếu 1989 là năm đánh dấu sự suy tàn của Đế Quốc Sô Viết thì 40 năm trước, năm 1949, tất cả các Đế Quốc Tây Phương như Mỹ, Anh, Pháp, Hòa Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 thuộc địa Á Châu:

- 5 nước thuộc Anh là Ấn Độ, Đại Hồi, Miến Điện, Tích Lan và Palestine (trong những năm 1947-1948).

- 5 nước thuộc Pháp là Syrie, Liban, Việt Nam, Ai Lao và Cao Miên (trong những năm 1946 và 1949).

- Cùng với Phi Luật Tân thuộc Hoa Kỳ (năm 1946), và Nam Dương thuộc Hòa Lan (năm 1949).

      Đây là kết quả cuộc đấu tranh bằng đường lối chính trị và ngoại giao của các nhà cách mạng quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc, đấu tranh không bạo động, không đổ máu và không liên kết với Quốc Tế Cộng Sản.

      Hai yếu tố giải thể thuộc địa vẫn là CHÍNH NGHĨA VÀ THỜI CƠ: Chính Nghĩa ở đây là Chính Nghĩa Giải Phóng Dân Tộc. Thời Cơ ở đây là trào lưu tiến hóa của lịch sử và sự kiệt quệ kinh tế của các đế quốc Âu Châu.

      Sau Thế Chiến I, Tổng Thống Hoa Kỳ Wilson đề xướng quyền dân tộc tự quyết tại Hội Quốc Liên (tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc). Và năm 1919 Anh Quốc đã trả độc lập cho Canada và A Phú Hãn.

      Năm 1941 khi chiến tranh còn đang tiếp diễn, theo lời đề nghị của Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt, các quốc gia Đồng Minh Tây Phương đã ký Hiến Chương Đại Tây Dương theo đó khi Chiến Tranh kết thúc, các đế quốc Tây Phương sẽ lần lượt trao trả độc lập cho các thuộc địa Á Phi. Tháng 4-1945, 50 quốc gia Đồng Minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và ban hành quyền dân tộc tự quyết trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

      Về mặt kinh tế xã hội, sau Thế Chiến II, hai nước Anh Pháp đã bị tàn phá nặng nề, kinh tế suy kiệt, dân chúng túng thiếu, nạn thất nghiệp trầm trọng, và hàng triệu cựu chiến binh giải ngũ không có công ăn việc làm.

      Tháng 5-1945 Đức đầu hàng Đồng Minh. Hai tháng sau, tháng 7-1945, chính phủ Anh tổ chức tổng tuyển cử. Người anh hùng dân tộc Winston Churchill, lãnh tụ Đảng Bảo Thủ vẫn chủ trương duy trì thuộc địa để lấy lại vinh quang cho đất nước. Trong khi đó Đảng Lao Động của Clement Attlee đưa ra đường lối đối lập, chủ trương tái thiết quốc gia, xây dựng kinh tế, cải tiến dân sinh, giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa. Khai phóng thuộc địa vốn là chính sách cố hữu của Đảng Lao Động Anh và Đảng Xã Hội Pháp từ thập niên 1930.

      Phỏng theo mô hình của Liên Hiệp Quốc, các Đảng Lao Động Anh và Xã Hội Pháp chủ trương thành lập Liên Hiệp Anh và Liên Hiệp Pháp trong tinh thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Các cựu thuộc địa sẽ trở thành các quốc gia liên kết, với chính sách ngoại giao chung và phòng thủ chung. Những tương quan kinh tế và văn hóa sẽ được phát triển. Tuy nhiên về mặt chính trị, các thuộc địa sẽ được giải phóng và hoàn toàn độc lập.

      Đường lối này đã được đa số cử tri Anh chấp thuận. Và tháng 7-1945, Đảng Lao Động của Clement Attlee đã thắng Đảng Bảo Thủ của Winston Churchill. Hai tháng sau khi hòa bình vãn hồi, người anh hùng dân tộc Churchill đã ngã ngựa.

      Trung thành với ý nguyện của quốc dân, trong hai năm 1947 và 1948, Chính Phủ Lao Động Clement Attlee đã trả độc lập cho 5 thuộc địa và giám hộ Á Châu là Ấn Độ, Đại Hồi, Miến Điện, Tích Lan và Palestine.

      Tại Pháp cũng vậy. Tháng 10-1945 Tướng De Gaulle, người anh hùng giải phóng dân tộc tổ chức trưng cầu dân ý, và đề nghị một chính thể tập trung quyền lực (với ngụ ý duy trì thuộc địa). Tuy nhiên, 2/3 cử tri Pháp đã bác bỏ đề nghị này để ủng hộ lập trường của Đảng Xã Hội Pháp  tương tự như Đảng Lao Động Anh nghĩa là: tái thiết quốc gia, xây dựng kinh tế, cải tiến dân sinh, giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa.

      Như vậy là từ sau Thế Chiến II, tại Á Châu, kỷ nguyên đế quốc đã cáo chung để nhường chỗ cho kỷ nguyên liên hiệp theo tinh thần Hiến Chương Đại Tây Dương và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

      Năm 1946, sau khi De Gaulle từ nhiệm, Chính Phủ Xã Hội Léon Blum đã ký hiệp ước với Syrie và Liban để trả độc lập cho 2 quốc gia này. Vì thời gian này, tại Trung Đông không có hiểm họa CS nên quân đội Liên Hiệp Pháp đã triệt thoái.

      Cũng trong năm 1946, Pháp thương nghị với Hồ Chí Minh, sau khi ông này tuyên bố giải tán Đảng CS Đông Dương và thành lập chính phủ liên hiệp quốc gia với Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Hai bên đã ký hai hiệp ước: Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny (tháng 3-1946) và Hiệp Ước Tạm Thời Moutet (tháng 9-1946). Tuy nhiên ba tháng sau, tháng 12-1946, Hồ Chí Minh trở mặt phát động chiến tranh võ trang, và đã trắng trợn vi phạm các hiệp ước quốc tế.

      Lúc này chính phủ liên hiệp quốc gia đã giải tán. Sau khi quân đội Trung Hoa triệt thoái, Cộng Sản thẳng tay tàn sát các cán binh Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Như vậy đoàn kết quốc gia chỉ là một chiêu bài và chính phủ liên hiệp chỉ là bức bình phong để thương nghị với Pháp.

Và sự giải tán Đảng CS Đông Dương cũng chỉ là một chiến thuật  ngụy trang và dối trá.

      Coi thường danh dự quốc gia, Đảng CS ký hiệp ước không phải để thi hành hiệp ước mà để đạt được những mục tiêu chính trị trong một giai đoạn. Do đó theo đề nghị của Bộ Trưởng Moutet (thuộc Đảng Xã Hội), chính phủ Pháp quyết định sẽ không thương nghị với Hồ Chí Minh nữa. Và năm 1947, Tổng Thống Xã Hội Vincent Auriol chủ trương thương thuyết với phe Quốc Gia Việt Nam để trả độc lập cho Việt Nam. Hai bên đã ký 3 hiệp ước: Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long (tháng 12-1947), Thông Cáo Chung Vịnh Hạ Long (tháng 6-1948) và Hiệp Ước Élysée ký kết giữa Tổng Thống Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại ngày  8-3-1949.

      Qua tháng sau, ngày 23-4-1949, với 45 phiếu thuận (của 40 dân biểu Việt và 5 dân biểu Pháp) và 6 phiếu chống, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị để sáp nhập Nam Phần vào lãnh thổ quốc gia Việt Nam, độc lập và thống nhất (xin coi Nguyễn Khắc Ngữ: Bảo Đại và các Đảng Phái Quốc Gia).

      Một tháng rưỡi sau, ngày 6-6-1949, theo thủ tục khẩn cấp, Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Élysée về khoản trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam. Và ngày 2-2-1950, Quốc Hội Pháp phê chuẩn tòan bộ Hiệp Định Elysée với 12 phụ ước và 30 đính ước bổ túc.

      Thông thường các hiệp ước quốc tế đều do các ngoại trưởng ký kết. Riêng Hiệp Định Élysée đã được chính Tổng Thống Vincent Auriol ký, với sự chứng kiến của Thủ Tướng Queille, của Ngoại Trưởng Schuman, của Bộ Trưởng Quốc Phòng Ramadier và của Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Coste-Floret. Đại diện Cộng Hòa Pháp, Tổng Thống Vincent Auriol long trọng trao trả độc lập cho Việt Nam trước quốc dân Việt Nam, trước quốc dân Pháp và trước cộng đồng quốc tế. Và với tư cách Chủ Tịch Liên Hiệp Pháp, Tổng Thống Vincent Auriol yêu cầu Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Pháp trong tinh thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị. Do đó không thể chấp nhận luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của Đảng CS cho rằng Pháp ký Hiệp Định Élysée chỉ là “giả đò”.

      Với Hiệp Định Élysée, chiếu công pháp quốc tế, Việt Nam được hoàn toàn độc lập, các hiệp ước thuộc địa và bảo hộ ký kết với Pháp hồi cuối thế kỷ 19 như Hiệp Ước Bonard (1862), Hiệp Ước Dupre (1874) và Hiệp Ước Patenotre (1884) đều đã bị Hiệp Định Élysée bãi bỏ.

      Mặc dầu vậy, Đảng CS đã phủ nhận nền độc lập này và đã phá hoại nền thống nhất này. Vì Hiệp Định Elysée không cho họ độc quyền lãnh đạo quốc gia. Và họ đã tiếp tục chiến đấu võ trang, với sự yểm trợ của Quốc Tế CS, để cướp chính quyền tại Miền Bắc năm 1954, và cướp chính quyền tại Miền Nam năm 1975.

      Ngày nay lịch sử đã chứng minh rằng Đảng CS không có công giành độc lập, và không có công thống nhất đất nước. Hơn nữa sau 60 năm cướp chính quyền, Đảng CS đã không đem lại tự do dân chủ và ấm no hạnh phúc cho người dân. Như vậy Đảng CS đã phản bội đồng bào trong các mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc. Mới đây, họ còn phản bội Tổ Quốc bằng cách nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung Quốc.      

      Ngày nay Đảng CS đã mất chính nghĩa, mất hậu thuẫn quần chúng và hậu thuẫn quốc tế. Và phe Dân Chủ chúng ta đã giành lại được chính nghĩa: Chính Nghĩa Tự Do Dân Chủ. Với Chính Nghĩa, chúng ta sẽ tạo Thời Cơ để đấu tranh quang phục quê hương và giải thể CS.
PHẦN THỨ HAI: NHỮNG KHÓ KHĂN PHẢI KHẮC PHỤC

     Dầu sao chúng ta ý thức rằng con đường quang phục quê hương còn lắm chông gai và giải thể CS là một việc thiên nan vạn nan. Hơn nữa chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn các dân tộc Đông Âu.

     Vì người dân Âu Châu thường có tinh thần thể thao phục thiện, trong khi phe lãnh đạo CS Việt Nam lại bất phục ngoan cố. Người dân Âu Châu thường ngay thẳng bộc trực, trong khi phe lãnh đạo CS Việt Nam lại ngụy trang dối trá. Người dân Âu Châu thường có tinh thần công bằng trọng pháp, trong khi phe lãnh đạo CS Việt Nam lại bao che tham nhũng. Đó là chỗ khó khăn của chúng ta.

     Trong cuộc chiến đấu này chúng ta phải tìm hiểu những nhược điểm của đối phương để khai thác, và những võ khí của đối phương để hóa giải. Những nhược điểm của CS là: độc tài, tham nhũng, bất công, bất lực, thường xuyên vi phạm nhân quyền và trắng trợn vi phạm nhân quyền. Hai võ khí chiến lược của CS là: tuyên truyền dối trá và đàn áp khủng bố.

     Tuyên truyền dối trá và đàn áp khủng bố là hai võ khí chiến lược của Đảng CS để cướp chính quyền và củng cố chính quyền. Đây là một cặp song cổ kiếm phải sử dụng đồng thời, mất một là mất tất cả. Nếu chỉ có tuyên truyền đối trá, mà không có đàn áp khủng bố, thì CS sẽ tiêu vong. Trái lại nếu chỉ có đàn áp khủng bố, mà không thể tuyên truyền dối trá được nữa, thì CS cũng sẽ bị giải thể.

     I. TUYÊNTRUYỀN DỐI TRÁ

     1)  Về mục tiêu độc lập thống nhất

     Trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Đảng CS đã lồng cách mạng CS trong chiêu bài giải phóng dân tộc chống chế độ thuộc địa. Họ đã dùng ngụy chủ nghĩa dân tộc để khai thác lòng yêu nước của hàng triệu thanh niên nam nữ Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương.

     Về mặt chủ thuyết, trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, Đảng CS phủ nhận chủ nghĩa dân tộc. Họ không quan niệm độc lập quốc gia là một mục tiêu chiến lược, một cứu cánh tối hậu phải tranh thủ với bất cứ giá nào, với bất cứ hy sinh nào, kể cả việc hy sinh những quyền lợi riêng tư của đảng phái. Đảng CS chỉ quan niệm độc lập quốc gia như một chiêu bài, một phương tiện, hay một sách lược để đạt được mục tiêu chiến lược là cướp chính quyền. Họ phủ nhận bất cứ nền độc lập nào không cho họ độc quyền lãnh đạo quốc gia. Do đó, họ đã phủ nhận nền độc lập và thống nhất quốc gia do Hiệp Định Élysée trao trả cho Việt Nam năm 1949. Và họ tiếp tục phát động chiến tranh võ trang trong 40 năm – từ 1949 đến 1989 – để cướp chính quyền và bành trướng chủ nghĩa bá quyền.

     Từ 1949 Chiến tranh Việt Nam không còn là chiến tranh giải phóng dân tộc, mà là chiến tranh ý thức hệ giữa Quốc Tế CS và Thế Giới Dân Chủ (như Chiến Tranh Triều Tiên).

     Sau khi thôn tính lục địa Trung Hoa năm 1949, mục tiêu chiến lược của Quốc Tế CS là nhuộm đỏ 2 bán đảo Đông Dương và Triều Tiên. Tháng 6-1950 với sự yểm trợ của Liên Xô và Trung Quốc, Bắc Hàn đem quân xâm lăng Nam Hàn. Từ đó chiến tranh ý thức hệ bộc phát giữa Quốc Tế CS và Thế Giới Dân Chủ.

     Kinh nghiệm dân gian cho biết nơi nào trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi chết: 3 triệu người đã hy sinh thân sống tại Triều Tiên, 3 triệu thanh niên nam nữ đã hy sinh thân sống tại Việt Nam, và 2 triệu người Cao Miên đã bị tàn sát, không phải để giành độc lập cho quốc gia mà để cho Đảng CS có cơ hội cướp chính quyền.

     Vì Đảng CS Đông Dương phủ nhận nền độc lập do Pháp trao trả cho 3 quốc gia Đông Dương năm 1949, nên 3 cuộc chiến tranh Đông Dương đã xẩy ra, và Đảng CS Đông Dương phải chịu trách nhiệm về cái chết của 5 triệu người tại Đông Dương.

     Bằng giả nhân giả nghĩa, ngụy trang và dối trá, Đảng CS đã dùng ngụy chủ nghĩa dân tộc để giành chính nghĩa và cướp chính quyền.

     Ngụy trang đi liền với dối trá. Đảng CS tuyên truyền rằng Pháp đem quân sang Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa. Đây chỉ là một luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Vì từ sau Thế Chiến II, Pháp không chủ trương tái lập các thuộc địa tại Á Châu. Và năm 1946 Pháp đã ký hai hiệp ước với Syrie và Liban để trả độc lập cho 2 quốc gia này. (Cũng nên ghi nhận rằng Hồ Chí Minh đã ký Hiệp Ước Sainteny tháng 3-1946 cho 15 ngàn quân Pháp sang đồn trú tại Việt Nam).

     Tuy nhiên Pháp và phe Dân Chủ Tây Phương không chịu trao Đông Dương cho Đảng CS Đông Dương, vì họ không muốn Stalin mở rộng Bức Màn Sắt từ Đông Âu qua Đông Á. Do đó từ 1947, Pháp đã thương nghị với phe Quốc Gia Việt Nam để trả độc lập cho Việt Nam. Năm 1947, sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long, Pháp đã chính thức đăng ký 3 nước Đông Dương là những quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc (xin coi Everyone’s United Nations 1986, trang 332).

     Và tháng 3-1949 tại Paris, Tổng Thống Vincent Auriol đã ký HIỆP ĐỊNH ÉLYSÉE với Quốc Trưởng Bảo Đại để trả độc lập cho Việt Nam. 4 tháng sau, tháng 7-1949, Tổng Thống Auriol lại ký Hiệp Ước với Quốc Vương Sisavangvong để trả độc lập cho Ai Lao. Và 4 tháng sau nữa, tháng 11-1949 Tổng Thống Auriol lại ký Hiệp Ước với Quốc Vương Sihanouk để trả độc lập cho Cao Miên “theo tinh thần Hiệp Định Élysée”.

     Như vậy, sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, từ sau Thế Chiến II, tại Á Châu, chế độ thuộc địa đã cáo chung để nhường chỗ cho chế độ liên hiệp.

     Chiếu Hiệp Định Élysée 1949, Việt Nam và Pháp có nghĩa vụ an ninh hỗ tương. Từ 1949, quân đội Pháp chiến đấu tại Việt Nam với tư cách quân đội Liên Hiệp Pháp, để bảo vệ biên thùy của Việt Nam đồng thời là biên thùy của Liên Hiệp Pháp và của Thế Giới Dân Chủ. Trong bài diễn văn nhậm chức tại Quốc Hội Hoa Kỳ tháng giêng 1953, Tổng Thống Eisenhower có nói: “Người Pháp chiến đấu tại Việt Nam và người Mỹ chiến đấu tại Triều Tiên cùng theo một mục đích như nhau” (bảo vệ biên thùy của Thế Giới Dân Chủ).

     Từ 1955, trong kế hoạch thôn tính miền Nam, Đảng CS lại tuyên truyền rằng Hoa Kỳ đem quân sang để thống trị Miền Nam. Đó cũng là một luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Vì từ hai thập niên 1950 và 1960, Hoa Kỳ đem quân tham chiến tại Đại Hàn và Việt Nam, không phải để thống trị hai nước này, mà để bảo vệ biên thùy của Thế Giới Dân Chủ. Về việc giải thể đế quốc, Hoa Kỳ đã đi tiền phong trong việc giải phóng thuộc địa và đã trả độc lập cho Phi Luật Tân từ 1946. (Phi Luật Tân đã được tự trị từ 1935).

     Nói tóm lại, trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Đảng CS đã dùng ngụy chủ nghĩa dân tộc để giành chính nghĩa và cướp chính quyền. Họ đã phủ nhận nền độc lập và phá hoại nền thống nhất do những người Quốc Gia yêu nước đã tranh thủ được từ 1949. Và hai cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài từ 1949 đến 1975 là những cuộc chiến tranh vô ích, vô lý và vô nghĩa.

     Đại hạnh của Ấn Độ là có một Gandhi  theo chủ nghĩa dân tộc. Đại bất hạnh của Việt Nam là có một Nguyễn Ái Quốc theo chủ nghĩa quốc tế vô sản.

     Sau vụ Sô Viết Nghệ Tĩnh, đầu thập niên 1930, Quốc Tế Cộng Sản đã phê bình gay gắt Đảng Cộng Sản Đông Dương là “chưa nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa dân tộc cải lương, không đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cải lương. Vì chủ nghĩa dân tộc cải lương là một lực lượng hết sức nguy hiểm nhằm phá hoại phong trào cách mạng vô sản. Và độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản sẽ không được thực hiện nếu không xoá bỏ hoàn toàn chủ nghĩa dân tộc cải lương. Bản thân Đảng phải giáo dục và kiểm tra hàng ngũ bằng cuộc đấu tranh thường xuyên với chủ nghĩa dân tộc cải lương, coi đó là hình thức phản cách mạng của giai cấp tư sản. Không làm mất uy tín của chủ nghĩa dân tộc cải lương thì cách mạng ruộng đất và cách mạng phản đế không thể thắng được.”

     Cũng trong thời gian này, Đảng Cộng Sản đã cảnh giác các cán bộ đảng viên “chớ hiểu lầm rằng ta kỷ niệm Yên Báy là ta tán đồng chủ nghĩa dân tộc. Ta nên nhân dịp kỷ niệm này để giãi tỏ trước mặt đại quần chúng công nông trong toàn xứ biết rằng chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa Dân Tộc là một trời một vực và không bao giờ hai chủ nghĩa ấy có thể dung hợp được”.

     Trong khi Quốc Tế Cộng Sản lên án Gandhi là tay sai của Đế Quốc Anh theo chủ nghĩa dân tộc cải lương, thì Hồ Chí Minh cũng phê phán Phan Chu Trinh là “chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương. Điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương” (Trần Dân Tiên).

     Đó là quan niệm của Đảng Cộng Sản về chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên sau này Hồ Chí Minh đã giảo hoạt và ngụy trang dưới chiêu bài giải phóng dân tộc và dùng chủ nghĩa dân tộc như một sách lược để giành chính nghĩa và cướp chính quyền.

     Trong lời tựa cuốn “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, một kẻ ngụy trang chủ nghĩa dân tộc” của Tưởng Vĩnh Kính, Hoàng Lý Lục nhận định rằng Hồ Chí Minh đã phỏng theo sách lược ngụy chủ nghĩa dân tộc của Mao Trạch Đông: “Chủ nghĩa CS mà hưng khởi lên được, một mặt nương nhờ vào làn sóng chủ nghĩa dân tộc, nhưng mặt khác lại âm mưu tiêu diệt thế lực chủ nghĩa dân tộc. Trong khi Trung Cộng khoác áo chủ nghĩa dân tộc để giành chính nghĩa, rồi lợi dụng chiến tranh Trung-Nhật để tăng cường lực lượng, thiết lập khu giải phóng thì Hồ Chí Minh cũng đề ra những mặt trận dân tộc (Việt Minh), mặt trận liên hiệp (Liên Việt), mặt trận giải phóng (Miền Nam), để đẩy tới chiến tranh võ trang và phá hoại các đảng phái quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc. Ông theo nguyên tắc cơ bản là bất cứ điều gì phù hợp với quyền lợi của ông, ông sẽ không ngần ngại lợi dụng, bất cứ cái gì làm trở ngại cho sự phát triển lực lượng của ông, ông sẽ dùng mọi cách để bài trừ hay tiêu diệt. Ông lớn mạnh không phải do sự quảng bá chủ nghĩa CS. Ông dùng rất nhiều tên giả, tổ chức giả, lấy chủ nghĩa dân tộc để ngụy trang nhằm mục tiêu cướp chính quyền. Tất cả hành động của ông  chỉ để tổ chức và phát triển đảng. Đến như Việt Nam có đạt được độc lập hay không thì chỉ là vấn đề thứ yếu mà thôi”.

     Hồ Chí Minh đã suốt đời vận dụng chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên trong những ngày cuối đời khi sắp về chầu tổ Cộng Sản, trong chúc ngôn ông không lý vấn đến cội nguồn dân tộc và nguồn gốc tổ tiên, ông mong ước được về với Các Mác và Lê Nin bên kia thế giới.

     Vậy mà ngày nay trong chiến địch Đổi Mới, Đảng Cộng Sản một lần nữa lại vận dụng chủ nghĩa dân tộc, truyền thống dân tộc, văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc và nếp sống ân nghĩa của dân tộc: “Đền Hùng và Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh biểu tượng cho sự quí mến cội nguồn và nếp sống ân nghĩa của dân tộc”. Đó là khẩu hiệu tuyên truyền chiến lược mới nhất của Đảng CS.

     Đối với họ, Hồ Chí Minh, người có công lập Đảng, có thể sánh ngang với Hùng Vương, người có công lập Quốc. Trong giai đoạn thoái trào, Đảng CS đã dùng huyền thoại Hồ Chí Minh làm cái phao cấp cứu.           

     2. Về mục tiêu tự do dân chủ.

     Đảng CS hứa hẹn rằng, sau khi hòa bình vãn hồi, họ sẽ thiết lập một chế độ dân chủ gấp triệu lần chế độ dân chủ Tây Phương. Đây cũng là một luận điệu tuyên truyền dối trá.

     Về chủ thuyết, Đảng CS không chủ trương thực thi tự do dân chủ cho người dân. Mục tiêu chiến lược của họ là thiết lập một chế độ độc tài vô sản, hay đúng hơn, một chế độ độc tài của Đảng để thống trị vô sản và nhân dân. Họ không tôn trọng bất cứ một quyền nào trong số 26 dân quyền căn bản như tự do thân thể, tự do cư trú và đi lại, tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do văn hóa, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do lập đảng, tự do tuyển cử v.v...

     Kết quả là sau 60 năm cướp chính quyền, Đảng CS đã biến Việt Nam thành một trong những nước phản dân chủ nhất thế giới, kém cả Cao Miên. Vì tại quốc gia này tương đối có tự do tôn giáo, tự do báo chí và có chế độ đa đảng: Đảng Nhân Dân của Hunsen, Đảng Bảo Hoàng của Ranarridh và Đảng Quốc Gia của Rainsy. Ngày nay Mông Cổ cũng theo chế độ lưỡng đảng trong khi Việt Nam vẫn giữ chế độ độc đảng và độc quyền lãnh đạo của Đảng CS.

     3. Về mục tiêu mưu cầu hạnh phúc.

     Đảng CS hứa hẹn sẽ thực thi cải cách ruộng đất để chia ruộng cho người cày, và đem lại công bằng xã hội cho người dân. Thật ra đây chỉ là một cuộc đấu tranh giai cấp để tiêu diệt trí thức và nông dân tiểu tư sản.

     Đầu thập niên 1950, trong 5 đợt đấu tố cải cách ruộng đất, Đảng CS đã sát hại hơn hai trăm ngàn trí thức và nông dân tiểu tư sản được đôn lên hàng địa chủ. Chỉ cần có 2 hecta ruộng mà không tự tay canh tác, cũng bị đấu tố, tịch thâu ruộng đất, tài sản và nhà cửa. Năm 1956, họ chia cho bần cố nông mỗi người chừng 2 sào ruộng (mỗi sào là 360m2). Để rồi 2 năm sau, năm 1958, họ lại trở mặt thâu hồi lại tất cả ruộng đất đã phát cho bần cố nông trong chính sách tập sản hóa ruộng đất hay hợp tác hóa nông nghiệp. Theo chủ thuyết, Đảng CS không công nhận quyền tư hữu và không chủ trương chia ruộng cho tư nhân. Do đó “người cày có ruộng” là một khẩu hiệu tuyên truyền dối trá trắng trợn nhất của Đảng CS.

     Tới Thế Chiến II, Việt Nam là một trong những quốc gia giàu thịnh nhất Đông Nam Á được mệnh danh là “bao lơn Thái Bình Dương”, Saigon là “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Vậy mà ngày nay sau 60 năm CS cướp chính quyền, Việt Nam trở thành một trong 10 nước nghèo đói nhất thế giới, lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam năm 2003 chỉ được 1.3  mỹ kim một ngày. Trong khi đó tại Mã Lai là 8 mỹ kim, tại Đại Hàn là 25 mỹ kim, tại Đài Loan là 26 mỹ kim, và tại Tân Gia Ba là 45 mỹ kim. Đặc biệt là tại Congo, một cựu thuộc địa của Pháp tại Phi Châu, lợi tức bình quân mỗi đầu người là 1.8 mỹ Kim. (Xin coi Britannica Book of the Year từ năm 2005)

     Nói tóm lại, từ 60 năm nay, Đảng CS đã dùng chiêu bài giải phóng dân tộc và giải phóng lao động để giành chính nghĩa và cướp chính quyền. Võ khí chiến lược số 1 của họ là tuyên truyền dối trá. Về mục tiêu độc lập thống nhất, họ dùng ngụy chủ nghĩa dân tộc. Về mục tiêu tự do dân chủ, họ dùng ngụy chủ nghĩa dân chủ xã hội. Và ngày nay Việt Nam còn kém xa Căm Bốt về mặt dân chủ. Về mục tiêu mưu cầu hạnh phúc, họ dùng chính sách ngụy cải cách ruộng đất và ngụy công bằng xã hội. Và ngày nay người dân Việt Nam còn nghèo đói hơn cả người dân Congo.

     Để chống lại sự tuyên truyền dối trá, chúng ta phát động phong trào truyền bá sự thật lịch sử và sự thật xã hội để chứng minh rằng Đảng CS không có công giành độc lập, và không có công thống nhất đất nước. Ngoài ra họ còn phản bội đồng bào trong các mục tiêu tự do hạnh phúc và công bằng xã hội.

     Trong cuốn Nhật Ký Rồng Rắn, Trần Độ đã vạch trần chính sách tuyên truyền dối trá cố hữu của Đảng CS: “Đặc điểm bao trùm của chế độ chính trị xã hội này là nói một đàng làm một nẻo. Nói thì dân chủ vì dân, mà làm thì chuyên chính phát xít, nghĩa là nói dối, nói láo, lừa bịp, nói vậy mà không phải vậy. Đặc điểm này tạo ra một xã hội dối lừa, lãnh đạo dối lừa, Đảng dối lừa, cán bộ dối lừa, làm ăn giả dối, bằng cấp giả dối, giáo dục giả dối, đến gia đình cũng lừa dối... Các vị lãnh đạo nói nhiều điều tốt đẹp là nói theo dân mà thôi. Dân căm ghét tham nhũng thì lãnh đạo hò hét “kiên quyết chống tham nhũng”. Dân yêu cầu dân chủ, [đổi mới] thì lãnh đạo thêm chữ dân chủ, [đổi mới] vào khẩu hiệu [tuyên truyền] chiến lược. Nhưng nói thêm chữ thì chưa có ý nghĩa gì. Vì ta vốn nói một đàng làm một nẻo. Người trí thức và người dân chỉ thấy những lời nói tốt đẹp kia là vô nghĩa...”

     II. ĐÀN ÁP KHỦNG BỐ.

     Võ khí chiến lược số 2 của CS là đàn áp khủng bố. Đây là một trong hai song cổ kiếm phải sử dụng đồng thời, mất một là mất tất cả. Nếu CS không thể tuyên truyền dối trá, nếu mọi người biết rõ mặt thật của CS thì không còn ai tha thiết bảo vệ chế độ nữa và CS sẽ tiêu vong. Trong trường hợp này, đàn áp khủng bố sẽ mất hiệu lực.

     Lịch sử đã chứng minh điều đó. Tại Đông Đức và Lỗ Ma Ni năm 1989, bộ máy công an kìm kẹp cũng rất hung dữ. Nó có sự dã man của mật vụ Gestapo thời Hitler, và sự tàn ác của mật vụ KGB thời Stalin. Vậy mà khi người dân đã biết rõ mặt thật của CS và đứng lên đòi Dân Tộc Tự Quyết thì võ khí đàn áp không còn hiệu nghiệm nữa.

     Tại Liên Xô cũng vậy. Để chống lại mưu toan đảo chánh ngày 19-8-1991 của phe CS cực đoan, nhân dân đã đứng lên đòi giải thể CS. Quân đội xuất phát từ nhân dân đã đứng về phía dân. Và công an mật vụ phải bó tay không dám bắn vào đoàn người biểu tình.

     Năm bậc thang đàn áp khủng bố là: thủ tiêu cá nhân, tàn sát tập thể, học tập cải tạo, tòa án luật pháp, và quản chế hành chánh.

     1) Thủ tiêu cá nhân:

     Mặc dầu không ngừng kêu gọi đoàn kết quốc gia, Đảng CS đã thủ tiêu những người quốc gia yêu nước có uy tín và hậu thuẫn vì họ là những đối thủ nguy hiểm của CS trên đường cướp chính quyền. Sau khi cướp được chính quyền năm 1945, họ đã thủ tiêu Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần văn Thạch v.v... (trong nhóm Tân Tả Phái); Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Văn Ngà v.v... (trong các nhóm Lập Hiến); Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ (Hòa Hảo); Trương Tử Anh(Đại Việt), Lý Đông Á (Duy Dân); Khái Hưng, Nhượng Tống (Quốc Dân Đảng) v...v...

     2) Tàn sát tập thể:

     Đồng thời với thủ tiêu cá nhân, Đảng CS còn tàn sát tập thể. Tàn sát tập thể vì lý do tôn giáo, như việc sát hại các tín đồ Cao Đài và Hòa Hảo trong Chiến Tranh Đông Dương; tàn sát tập thể vì lý do đảng phái như việc sát hại các cán bộ đảng viên Quốc Dân Đảng, Đồng Minh Hội, Đại Việt, Duy Dân v.v... từ thập niên 1940; tàn sát tập thể vì lý do giai cấp như việc sát hại 200.000 trí thức và nông dân tiểu tư sản trong 5 đợt đấu tố cải cách ruộng đất trong thập niên 1950; tàn sát tập thể vì lý do chính kiến, như việc sát hại 5 ngàn người quốc gia tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân. Vụ tàn sát tập thể Tết Mậu Thân của Đảng CS Việt Nam năm 1968 đã mở đường cho vụ tàn sát tập thể 2 triệu người Cam Bốt của Đảng CS Khmer từ 1975.

     3) Học tập cải tạo:

     Cường độ đàn áp thứ ba là chính sách học tập cải tạo mà họ dịch là re-education (cải huấn). Danh từ này tự nó đã dối trá. Vì các tù nhân chính trị không phạm tội hình sự nào nên không cần phải cải huấn. Mặc dầu không ngừng hô hào hòa giải và hòa hợp dân tộc, từ 1975 Đảng CS đã bắt giam hằng trăm ngàn quân cán chánh và trí thức văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa tại các trại tập trung, người thì 5, 7 năm, người thì 15, 17 năm. Đây là những trại lao động khổ sai và lao động cưỡng bách để đọa đầy thân xác và hủy diệt ý chí của các tù nhân chính trị.

     4) Tòa án luật pháp.

     Thay vì để ban phát công lý cho người dân và bảo vệ con người về sinh mạng, tự do, danh dự và tài sản, tòa án và luật pháp được sử dụng như những công cụ đàn áp khủng bố để bắt giam độc đoán những người đấu tranh ôn hòa cho tự do, công lý, dân chủ và nhân quyền.

      Từ 1975 họ đã truy tố:

     a) Về tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, và đã kết án Nguyễn Khắc Chính 20 năm tù (giảm án từ tù chung thân năm 1976), Linh Mục Phạm Ngọc Liên 20 năm tù năm 1987, Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ 20 năm tù (giảm án từ tử hình năm 1988), Nguyễn Đan Quế 20 năm tù năm 1991, Đoàn Viết Hoạt 15 năm tù năm 1993, Nguyễn Đình Huy 15 năm tù năm 1995.

     b) Về tội tuyên truyền chống chế độ và đã kết án 3 người con của cố Luật Sư Trần Văn Tuyên: Trần Vọng Quốc 12 năm tù, Trần Tử Thanh 5 năm tù và Trần Tử Huyền 3 năm tù năm 1988; Đoàn Thanh Liêm 12 năm tù năm 1992. Năm 1996 Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu và Nguyễn Kiến Giang đã bị kết án 2 năm tù, 1 năm tù và 15 tháng tù treo về tội tiết lộ bí mật nhà nước, thay vì tội tuyên truyền chống chế độ, dầu rằng họ đã công khai phủ định chế độ Cộng Sản.

     c) Về tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, và năm 1995 đã kết án Hòa Thượng Thích Quảng Độ 5 năm tù vì đã tổ chức cứu trợ các nạn nhân lũ lụt tại đồng bằng sông Cửu Long mà không có giấy phép của nhà nước. Trong năm này Hoàng Minh Chính đã bị kết án 1 năm tù cũng về tội này.

    5) Quản chế hành chánh.

     Từ sau vụ án Lê Hồng Hà (1996), trong 5 năm không thấy có vụ án chính trị nào. Vì từ năm1997 Đảng Cộng Sản đã ban hành quy chế quản chế hành chánh để bắt giữ phòng ngừa, quản thúc tại gia những người đối kháng, cấm họ không được hành nghề, không được di chuyển, không được tiếp xúc với quần chúng, không được trả lời phỏng vấn và không được tham gia chính quyền. Bằng phương pháp này Đảng Cộng Sản đã biến đất nước thành một nhà tù lớn, trong đó nhà nước không phải nuôi ăn các tù nhân.

      Sau vụ Đại Khủng Bố ngày 11-9-2001, khi Hoa Kỳ và đồng minh còn đang bối rối, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lợi dụng thời cơ, leo thang khủng bố từ bậc 5 (quản chế hành chánh) lên bậc 4 (tòa án luật pháp).

     * Một tháng sau, tháng 10-2001 họ đã kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý 15 năm tù về 2 tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia và vi phạm quyết định quản chế hành chánh vì đã tố cáo Đảng CS đàn áp tôn giáo.

     Cuối năm 2001 khi hay biết có sự nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung Cộng, các nhà trí thức trẻ trong Nhóm Dân Chủ như Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình cùng các vị lão thành cách mạng như Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến... đã đồng thanh tố cáo Đảng Cộng Sản phản bội Tổ Quốc. Để trả đũa Đảng Cộng Sản đã thẳng tay đàn áp:

     * Tháng 11- 2002, họ kết án Lê Chí Quang 4 năm tù về tội tuyên truyền chống nhà nước sau khi viết bài “Hãy Cảnh Giác Bắc Triều!”

Tiếp theo đó Đảng CS còn truy tố và kết án 3 người về tội gián điệp:

     * Tháng 12-2002 Nguyễn Khắc Toàn bị kết án 12 năm tù vì đã tổ chức những vụ khiếu nại khiếu kiện, mít tinh biểu tình tại Hà Nội để đòi lại ruộng đất cho nông dân hai miền Nam Bắc;

     * Tháng 6-2003 Phạm Hồng Sơn bị kết án 13 năm tù (sau giảm còn 5 năm) vì đã dịch cuốn “Thế Nào Là Dân Chủ?” từ mạng lưới thông tin của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ; 

     * Tháng 12-2003 Nguyễn Vũ Bình bị kết án 7 năm tù vì đã gởi bản điều trần đến Quốc Hội Hoa Kỳ tố cáo những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam cùng đòi thực thi chế độ đa đảng, và đòi thành lập Đảng Tự Do Dân Chủ đối lập với Đảng CS.

     Ngoài ra Đảng CS còn truy tố thêm 7 người về tội gián điệp, nhưng sau đã cải tội danh thành lợi dụng quyền tự do dân chủ:

     * Tháng 11-2003, 3 người cháu của Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Vũ Việt và Nguyễn Trực Cường bị phạt 32 tháng tù, và Nguyễn Thị Hoa bị 4 tháng 8 ngày tù vì đã tàng trữ các tài liệu nhân quyền và cung cấp cho người Việt hải ngoại những tin tức về vụ các Phật tử chuẩn bị đón Hòa Thượng Thích Huyền Quang từ Quảng Ngãi vào Saigon;

     * Cũng trong tháng này Trần Dũng Tiến bị phạt 10 tháng tù vì đã đích danh tố cáo Đỗ Mười và Lê Đức Anh bao che tham nhũng;

     * Tháng 7-2004 Phạm Quế Dương và Trần Khuê, hai phát ngôn viên của Hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng và Nhóm Dân Chủ đã bị phạt 19 tháng tù.

     * Cũng trong tháng này Nguyễn Đan Quế bị phạt 30 tháng tù  vì đã tố cáo Đảng CS giữ độc quyền thông tin.

     * Và trong tháng 11-2004 và tháng 4-2005 Mục Sư Nguyễn Hồng Quang bị kết án 3 năm tù về tội “ngăn cản nhân viên công lực hành sự” thay vì tội lợi dụng quyền tự do tôn giáo hay tội gián điệp. 5 đồng sự là các Truyền Đạo Phạm Ngọc Thạch bị phạt 2 năm tù, Lê Thị Hồng Liên và Nguyễn Văn Phương mỗi người 1 năm tù, và 2 anh em Nguyễn Hiếu Nghĩa và Nguyễn Thành Nhân mỗi người 9 tháng tù.

     Trước đó 2 tháng, ngày 15-9-2004, Chính Phủ Hoa Kỳ đã liệt kê Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần phải đặc biệt quan tâm, vì đã thường xuyên và thô bạo vi phạm quyền tự do tôn giáo. Muốn tránh tiếng đàn áp tôn giáo, Viện Kiểm Sát đã truy tố các giáo sĩ và truyền đạo Tin Lành về tội thường phạm cưỡng ép “chống người thi hành công vụ”.

     Tổng kết lại sau vụ Đại Khủng Bố ngày11-9-2001, trong 3 năm, từ tháng 10-2001 đến tháng 11-2004, Tòa Án Việt Nam đã truy tố và kết án 18 tù nhân tôn giáo và tù nhân chính trị bằng những tội danh giả tạo bịa đặt, và cưỡng ép lố bịch.

     III. THẬP DIỆN MAI PHỤC

     Từ sau cuộc Cách Mạng Đông Âu năm 1989 và Phong Trào Giải Thể Cộng Sản tại Liên Bang Sô Viết năm 1991, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gia tăng đàn áp đối lập bằng công an, tòa án và luật pháp.

     Vì không được quyền tranh luận trước tòa, từ năm 1991 cho đến nay, thay mặt Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền, chúng tôi đã đệ trình quốc dân biện minh trạng để bào chữa cho 22 tù nhân lương tâm. Ngoài ra chúng tôi còn công bố bản Thất Điều Trần để biện hộ chung cho các bị can bị bắt giữ về tội gián điệp lạm phát mệnh danh là dịch gián điệp. Vì gián điệp là một tội danh cưỡng ép lố bịch nên sau này tòa án đã phải cải tội danh thành “lợi dụng quyền tự do dân chủ”. Đây lại là một tội danh bịa đặt giả tạo không tìm thấy trong các bộ hình luật của các quốc gia dân chủ văn minh.

     Trong phần kết luận bản Thất Điều Trần chúng tôi nhận định rằng ngày nay Cộng Sản sợ 7 điều (Cộng Sản Hữu Thất Cụ). 7 điều Cộng Sản sợ chính là 7 mặt trận đấu tranh của chúng ta để giải thể Cộng Sản và xây dựng Dân Chủ.

     1) Cộng Sản sợ internet, sợ tin tức, sợ ý kiến: Chúng ta phát động mặt trận truyền thông.

     2) Cộng Sản sợ dư luận quốc tế, sợ mất chính nghĩa, sợ mất viện trợ đầu tư: Chúng ta phát động mặt trận quốc tế vận.

     3) Cộng Sản sợ đối lập chính trị: Chúng ta phát động phong trào tổ chức, phát triển và kết hợp các lực lượng dân chủ ở trong nước và hải ngoại, đồng thời phối hợp đấu tranh giữa trong và ngoài.

     4) Cộng Sản sợ sự thật. Họ sợ sự thật lịch sử vì họ không có công giành độc lập và không có công thống nhất đất nước. (Vì Việt Nam đã được độc lập và thống nhất từ 1949 chiếu Hiệp Định Eùlysée). Ngoài ra họ còn phản bội đồng bào trong các mục tiêu tự do dân chủ và mưu cầu hạnh phúc. Cộng Sản sợ sự thật xã hội, vì chế độ của họ vừa độc tài tham nhũng vừa bất công bất lực: Chúng ta phát động mặt trận truyền bá sự thật, phục hồi sự thật lịch sử tại quốc tế và quốc nội, để giành chính nghĩa tự do dân chủ, hậu thuẫn quần chúng và hậu thuẫn quốc tế.

     5) Cộng Sản sợ tự do như tự do tư tưởng, tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do lập đảng, tự do tuyển cử v.v... Chúng ta phát động mặt trận đấu tranh đòi tôn trọng và thực thi những quyền tự do căn bản của người dân được ghi trong hiến pháp và trong Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị.

     6) Cộng Sản sợ dân chủ. Họ đã kết án Phạm Hồng Sơn 5 năm tù chỉ vì đã phổ biến những kiến thức dân chủ của nhân loại văn minh: Chúng ta phát động mặt trận truyền bá dân chủ, phổ biến ý thức dân chủ và những kỹ thuật pháp lý tiến tới việc thiết lập một chế độ dân chủ pháp trị, dân chủ đại nghị, dân chủ đa đảng.

     7) Cộng Sản sợ nhân quyền: Chúng ta phát động mặt trận truyền bá nhân quyền, đấu tranh đòi thực thi nhân quyền và phản kháng những vi phạm nhân quyền, đặc biệt đòi phóng thích các tù nhân lương tâm và tranh thủ từng tù nhân lương tâm.

     Ngoài 7 mặt trận nói trên, chúng ta còn phát động 3 mặt  trận trong Sách Lược Thập Diện Mai Phục:

     8) Mặt trận tự do tôn giáo đấu tranh đòi phóng thích các tù nhân tôn giáo đã bị giam giữ hay quản thúc độc đoán, đòi lại quyền sinh hoạt tự trị cho các giáo hội, và đòi lại các cơ sở tài sản của giáo hội để hoằng dương đạo pháp về văn hóa giáo dục và từ thiện nhân đạo.

     9) Mặt trận bảo vệ chủ quyền lãnh thổ tố cáo phe lãnh đạo Cộng Sản phản bội Tổ Quốc bằng cách nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung Quốc; phủ nhận Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung, Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá; chống chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, và đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh hải của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

     10. Mặt trận luật pháp tòa án là trung tâm phối hợp các mặt trận đấu tranh để hóa giải võ khí đàn áp khủng bố của Cộng Sản.Vì ngày nay với sự thiết lập Tòa Án Hình Sự Quốc Tế, 3 loại đàn áp khủng bố dã man nhất là thủ tiêu cá nhân, tàn sát tập thể và lao động cải tạo sẽ cấu thành những tội chống nhân loại thuộc thẩm quyền Tòa Án Hình Sự Quốc Tế. Do đó ngày nay luật pháp tòa án là võ khí chiến lược căn bản của Cộng Sản để đàn áp đối lập và củng cố chính quyền.

     Trong các vụ án gián điệp Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn và Nguyễn Vũ Bình có sự phối hợp giữa mặt trận luật pháp tòa án với mặt trận quốc tế vận và mặt trận truyền thông.

     Trong phong trào phản kháng những vụ giam giữ hay quản thúc độc đoán các nhà lãnh đạo tôn giáo như Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, Đạo Trưởng Lê Quang Liêm v.v... có sự phối hợp giữa mặt trận luật pháp tòa án và mặt trận tự do tôn giáo.

     Trong phong trào phản kháng vụ kết án Lê Chí Quang, Phạm Quế Dương và Trần Khuê có sự phối hợp giữa mặt trận luật pháp tòa án và mặt trận bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chống nhượng đất bán nước và chống chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc.

     Với Sách Lược Thập Diện Mai Phục chúng ta sẽ hóa giải được hai võ khí chiến lược của Cộng Sản là Tuyên Truyền Dối Trá và Đàn Áp Khủng Bố.

     DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

     Trong sách lược Thập Diện Mai Phục chúng ta chủ trương đấu tranh 10 mặt để giải thể Cộng Sản và xây dựng Dân Chủ. Trong sách lược này chúng ta không đề cập đến diễn biến hòa bình.

            Ngày nay Hoa Kỳ và các đồng minh muốn phát triển các tương quan ngoại giao, kinh tế và văn hóa với Hà Nội để hy vọng thực hiện lộ trình diễn biến hòa bình, cho Việt Nam hội nhập vào cộng đồng các quốc gia dân chủ trên thế giới. Đó cũng là ước vọng của chúng ta.

     Mọi người kỳ vọng rằng, với sự phát triển kinh tế thị trường, giao lưu văn hóa và trao đổi tin tức ý kiến, rồi đây dân trí sẽ mở mang, đời sống kinh tế của người dân sẽ thoát khỏi sự kiềm tỏa của nhà nước, và ý thức dân chủ sẽ khai thông kỷ nguyên hòa bình và tiến bộ.

      Kinh nghiệm Đông Âu cho biết, nhờ có trao đổi tin tức ý kiến, người dân lần lần hiểu rõ bản chất của Cộng Sản. Và khi họ đã biết rõ mặt thật Cộng Sản, thì không còn ai tha thiết bảo vệ chế độ nữa, và chế độ đã tiêu vong. Tại Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc và Bảo Gia Lợi, chế độ Cộng Sản đã bị giải thể bằng diễn biến hòa bình.

      Điều đáng lưu ý là các nhà lãnh đạo Cộng Sản Âu Châu thường có tinh thần thể thao phục thiện. Sau những cuộc tổng tuyển cử tự do khi thấy người dân không còn tín nhiệm chế độ nữa thì họ đã lặng lẽ rút lui. Việc này sẽ không xảy ra tại Việt Nam.

            Vì những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam không suy nghĩ và hành động như những người Cộng Sản Âu Châu. Họ không bao giờ dám tổ chức trưng cầu dân ý hay tuyển cử tự do để biết rõ nguyện vọng của người dân. Thay vì có tinh thần thể thao phục thiện, họ lại bất phục ngoan cố. Thay vì ngay thẳng bộc trực, họ lại ngụy trang dối trá. Thay vì công bằng trọng pháp, họ lại bao che tham nhũng. Họ không phải là những người yêu nước và không đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của đảng phái. Họ chỉ giả nhân giả nghĩa, lợi dụng tài sản quốc gia và các ngân khoản viện trợ để trang bị bộ máy công an nhằm đàn áp đối lập và củng cố chính quyền.

            Hơn nữa họ rất sợ giao lưu văn hóa và trao đổi tin tức ý kiến với thế giới dân chủ. Họ chỉ lợi dụng giao lưu văn hóa một chiều để tuyên truyền dối trá cho cái gọi là “sự nghiệp giải phóng dân tộc” và “sự nghiệp đổi mới” nhằm tạo huyền thoại cho Hồ Chí Minh, và gây uy tín cho Đảng Cộng Sản được độc quyền lãnh đạo quốc gia. Như vậy nếu có đổi mới thì cũng chỉ là thay đổi về hình thức, chứ không thay đổi về thực chất.

     Trong điều kiện này, nếu chúng ta chỉ kỳ vọng vào diễn biến hòa bình, mà không hy sinh tranh đấu, thì đến năm 2015 - nghĩa là 70 năm sau khi Cộng Sản cướp chính quyền - xã hội của chúng ta cũng sẽ không bằng xã hội Miền Nam đầu thập niên 1970.

      Do đó phương châm hành động của chúng ta vẫn là: Hãy tự giúp mình rồi Trời sẽ giúp ta. Hãy hy sinh và chiến đấu rồi đồng minh sẽ giúp ta.  

      Diễn biến hòa bình không phải là điều kiện cần và đủ để giải thể CS và xây dựng Dân Chủ. Diễn Biến Hòa Bình phải được tiến hành đồng thời với Thập Diện Mai Phục. Ta hãy giữ vững Niềm Tin. 






===============================================================

                  

                          Chu Nhiem/ Editor in Chief/ Redacteur en Chef:

                              Prof.Dr.NGUYEN  PHUC LIEN, Economist

                                                    Weekdays:
                        22, Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland
        Tel.:0041 22 731 82 66. Fax:0041 22 738 28 08. Mobile:0041 79 766 65 83
                                E-Mail: wim-impact.drlien@bluewin.ch

                                                    Weekends:
                        43, Heideweg, CH-2503 BIEL/BIENNE, Switzerland
        Tel.:0041 32 365 24 49. Fax:0041 32 365 24 49. Mobile:0041 79 766 65 72
                                E-Mail: drlien.wim-impact@bluewin.ch

                                                      Website:
                                        
http://www.VietTUDAN.net

                                 


===============================================================
Tro ve/ Back to/ Retour:
==> MUC LUC CHINH CUA DIEN DAN/ MAIN MENU OF WEBSITE
==>
MUC LUC cua Chuong nay/ MENU of this current Chapter.



 
Top