*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.367/04.09.08
=>So/No.366/28.08.08
=>So/No.365/21.08.08
=>So/No.364/07.08.08
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
SUP DO THE GIOI CS
KET AN CS TAN NHAN
HO CHI MINH & CSVN
HO SO TOI AC CSVN
CA NHAN & CHINH TRI
THE CHE TU DO/DAN CHU
DAN CHU PHAP TRI
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 


                                 

 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


============================================
NOI DUNG CHUONG NAY/ CENTENTS OF THIS CHAPTER:                
VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics 
============================================


*   VietTUDAN -- chu de Chinh Tri/ subject Politics    
      
 
                         
SUP DO THE GIOI CS       
                                                 
                         
KET AN CS TAN NHAN         
                                              
                         
HO CHI MINH & CSVN           
                                             
                          
HO SO TOI AC CSVN       
                                                  
                         
CA NHAN & CHINH TRI            
                                           
                         
THE CHE TU DO/DAN CHU           
                                       
                          
DAN CHU PHAP TRI                                                           



===============================================================
                      NHUNG BAI CHU DE MOI DAY/ RECENT SUBJECTS
===============================================================

 


                                              HÒA GIẢI HÒA HỢP:

                                                    Bài MỞ ĐẦU
                                             GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ 

 
                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Tháng TƯ năm 2005



CHÚ THÍCH:
Đây là loạt bài Chủ để HỎA GIẢI HÒA HỢP mà chúng tôi đã góp ý nhân FREEDOM MARCH 2005 của Việt Tân và việc một số Nhóm Chính trị muốn nêu vấn đề Hòa Giải Hỏa Hợp, thậm chí có Website còn để chung cờ Đỏ Sao Vàng bên cạnh Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.Chúng tôi đăng lại loạt bài này vì hiện nay với loạt bài mà Việt Tân mới phổ biến trên đài Chân Trời Mới đầu năm 2007, dường như vấn đề Hoà Giải Hòa Hợp lại đuợc đặt ra



Một số thời gian gần đây, nghe ngóng tình hình Việt Nam, nhìn phong trào dân chủ hóa tại những nước Trung đông hoặc Đông Aâu, theo rõi những áp lực của Hoa kỳ đối với những nước dưới chế độ độc tài, người ta tiên đoán một sự thay đổi chế độ chính trị sắp xẩy ra tại Việt Nam.
 
Tình hình chung như hé ra một nguồn hy vọng lớn cho Quê Hương Việt Nam hiện đang phải chịu sự đàn áp của chế độ độc tài Cộng sản. Khối người Việt quốc nội, 85 triệu người, mong mỏi rằng sự thay đổi ấy phải tự căn bản và sẽ thỏa mãn ngưỡng vọng chính đáng của họ, chứ không phải là sự thay đổi trá hình bề mặt che đậy một thể chế độc tài vẫn tiếp tục. Tại Hãi ngoại, 3 triệu người Việt tỵ nạn ở trên 70 quốc gia, mong mỏi trợ lực cho đồng bào Quốc nội để chính họ thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Tuy vậy, một số Nhóm Đảng Hải ngoại vẫn mộng tưởng rằng mình là chính yếu mang Tự do Dân chủ về giải phóng Quê Hương.
 
Có những xuất hiện của những Nhóm Đảng này trong thời gian gần đây, nào là muốn vuốt đuôi Đảng Cộng sản bằng nêu lên việc đặt hai lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và cờ Đỏ Sao Vàng đứng chung với nhau, nào là muốn xóa bỏ ngày 30.04 QUỐC HẬN để chiều lòng Cộng Sản, nào là mánh khóe lợi dụng dân chúng để tự giới thiệu mình với thế lực ngoại lai để mong họ đưa mình về nhẩy bàn độc. Chiêu bài HÒA GIẢI HÒA HỢP được tung ra. Chiêu bài trở thành thời sự. Dưới chủ đề thời sự này, chúng tôi muốn viết loạt bài với những đề tài sau đây:

1) Dân chủ phải đến từ Dân: người dân Việt Nam Quốc nội muốn gì ?
2) Bản chất của mộ Thể chế Dân chủ đa nguyên
3) Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành
4) Đối lập phải giữ vững bản chất của mình
5) Hòa hợp hòa giải bản chất hay hòa hợp hòa giải đường lối thực hiện
6) Hòa hợp hòa giải phải chăng là sự chia nhau quyền cai trị
7)  Hòa hợp hòa giải không phải là vá víu váy đụp

Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển những đề tài trên đây liên tục trong các số báo VietTUDAN kể từ VietTUDAN số 209/07.04.2005.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế





HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 1
DÂN CHỦ PHẢI ĐẾN TỪ DÂN:
NGƯỜI DÂN VIỆT NAM QUỐC NỘI MUỐN GÌ?
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 
Với bài đầu tiên của loạt bài chủ đề này, chúng tôi muốn minh định những ý niệm căn bản về một thể chế mà người dân muốn, để từ đó, những bài kế tiếp có nền tảng thảo luận. Hai điểm chính sau đây được phân tích trong bài này:

=> Dân chủ là nguyên tắc nhân bản dân tộc
=> Những điều mong mỏi cụ thể của Dân Việt Quốc nội
Dân chủ là nguyên tắc nhân bản dân tộc

Chúng tôi không muốn bàn về nguyên tắc Dân chủ dựa trên một Nhân sinh quan hay một Xã hội quan nào, mà là dựa trên cuộc sống cụ thể của cá nhân có một thân xác và một trí thông minh muốn bảo tồn và triển nở mình. Khi những cá nhân cụ thể ấy sống với nhau thành một Tập thể, nguyên tắc Dân chủ là trọng tài điều hành hữu lý nhất. Nguyên tắc Dân chủ ấy hoàn toàn là nhân bản, chứ không đến từ thế giới ngoại tại con người. Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, qua thời gian và địa vực, còn bị ảnh hưởng bởi văn hóa Dân tộc.


Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát

Chúng tôi muốn lấy ý niệm NHÂN PHẨM làm nền tảng nguyên thủy để nói về NHÂN QUYỀN và nguyên tắc DÂN CHỦ.

Con người trước tiên là con vật như các con vật khác, có thân xác và phải tìm phương tiện bảo tồn thân xác ấy vì muốn sống. Một số lớn các loài vật không giết và ăn thịt chủng loại của mình. Đó là cái bản năng tôn trọng chủng loại của mình. Con người là một loại vật có được sự hiểu biết, tính thông minh vượt trội hẳn các loài vật khác. Sự thông minh này làm cho con người có thể hiểu biết được những cơ biến của thiên nhiên và khống chế những cơ biến ấy để phục vụ cho mình trên đường tìm phương tiện bảo tồn thân xác. Người ta gọi đây là tiến bộ khoa học và vật chất. Nếu loài vật biết tránh việc giết và ăn thịt chủng loại mình vì bản năng, thì tính thông minh nơi con người còn đi xa hơn bản năng súc vật, tạo cho mình một nền văn hóa và luân lý làm căn bản cho việc tôn trọng chủng loại mình, tỉ dụ như không những không giết và ăn thịt người khác, mà còn kính trọng, giúp đỡ đồng loại của mình.

NHÂN PHẨM có nghĩa là sự nhận biết cái giá trị của một con người, không những về thân xác mà còn về tinh thần của cá nhân, vì đó là một con người chứ không phải là con vật hay cỏ cây vô tri. Tôn trọng NHÂN PHẨM của người khác là phản ứng đầu tiên không phải chỉ vì bản năng mà còn vì sự phát triển văn hóa, luân lý đến từ trí thông minh. Một con người được sinh ra, dù khác mầu da, chủng tộc, phải được tôn trọng như người như mình. Đó đòi buộc tối sơ và tiên khởi: TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM.

Từ việc tôn trọng NHÂN PHẨM này, chúng ta suy diễn ra những quyền sống làm người. Đó là NHÂN QUYỀN. Những quyền căn bản của con người được liệt kê trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tuy nhiên chính mỗi cá nhân có thể nhận biết nhân quyền ấy trong đời sống thực tế hàng ngày qua câu nói căn bản:“Khi không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Câu nói này một đàng làm cho mình nhận biết cái quyền nơi người khác, một mặt bảo mình phải tôn trọng cái quyền ấy của người khác. Tất nhiên để có thể giữ trúng câu nói này, thì việc tối sơ là mình phải biết tôn trọng Nhân phẩm như đã nói trên đây. Thực vậy, một người không biết trọng Nhân phẩm, thì họ không biết tôn trọng những quyền sống căn bản nơi người khác.

Tỉ dụ khi bị đàn áp quá đáng, chịu không nổi, mình muốn nói ra để phản đối. Nhưng có người khác bịt miệng mình, cấm không cho nói. Mình không muốn người khác cấm cản mình nói. Khi không muốn như vậy, thì chính mình phải biết rằng mình không được bịt miệng, cấm cản người khác phát biểu lên trong trường hợp phải chịu như chính mình. Đây là việc nhận biết và tôn trọng quyền phát biểu, NGÔN LUẬN, của người khác. Cụ thể Đảng Cộng sản cấm Dân phát biểu, nhưng nếu Dân cấm Đảng phát biểu, Đảng có chấp nhận hay không ? Đây là một tỉ dụ trong việc áp dụng câu nói trên để nhận biết và tôn trọng những quyền căn bản sống làm người: NHÂN QUYỀN.

Trên đây là nói về phương diện riêng lẻ từng cá nhân sống. Con người có thể sống riêng lẻ cá nhân. Chúng tôi vẫn chưa chấp nhận câu định nghĩa:“Người là con vật sống Xã hội“. Cuộc sống chung xã hội chỉ là một nhu cầu mà cá nhân tự do thấy hữu ích trong việc phát triển cá nhân mình. Họ có quyền không chấp nhận.

Vì nhu cầu làm tăng hữu hiệu việc phát triển cá nhân, con người tự do chấp nhận cuộc sống Tập thể. Mỗi cá nhân có những khác biệt trong việc tìm phương tiện bảo tồn thân xác và phát triển trí thông minh, vì vậy mà trong cuộc sống Tập thể họ phải có những quy ước với nhau để giải quyết những khác biệt. Một trong những quy ước căn bản để giải quyết cuộc sống chung Tập thể, đó là nguyên tắc DÂN CHỦ. Đây là nguyên tắc lấy số đông làm chân lý tương đối. Như vậy, nguyên tắc DÂN CHỦ chỉ là một quy ước giữa những cá nhân tự do quyết định sống trong một Tập thể để giải quyết những khác biệt đến từ chính những cá nhân thành phần ấy. Chúng tôi gọi DÂN CHỦ là nguyên tắc nội tại giữa những cá nhân của Tập thể. DÂN CHỦ không thể là nguyên tắc đặt để cho Tập thể từ bên ngoài hay từ một quyền lực đứng trên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ ngoại tại Tập thể cá nhân chỉ là ĐỘC TÀI trá hình Dân chủ.

Nguyên tắc DÂN CHỦ lấy cá nhân làm căn bản, nghĩa là nguyên tắc này phải biết tôn trọng NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN.  Việc tôn trọng Nhân phẩm và Nhân quyền là nền tảng để bảo chứng việc tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự. Có trôn trọng NHÂN PHẨM, thì mới nhận biết và tôn trọng NHÂN QUYỀN. Có tôn trọng NHÂN QUYỀN, thì mới có thể quy ước với nhau nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự để giải quyết những khác biệt trong cuộc sống Tập thể.


Nguyên tắc Dân chủ Dân tộc

Trong phần trên, chúng tôi nói đến nguyên tắc Dân chủ đi từ việc tôn trọng Nhân phẩm, rồi tìm biết đâu là Nhân quyền để bảo vệ. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản bởi vì nó không đến từ một Nhân sinh quan, một Xã hội quan hay Tôn giáo quan hiểu như một sự cấu trúc lý luận từ một tiền đề phải chấp nhận hay từ một lòng Tin. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát. Nguyên tắc DÂN CHỦ nhân bản phổ quát là nguyên tắc mà mọi Tập thể Xã hội nhân loại phải giữ làm quy ước, từ Xã hội Aâu, Á, Mỹ, Phi, Uùc. Nhưng nguyên tắc Dân chủ ấy khi áp dụng vào mỗi Dân tộc, mỗi Địa phương, có những hoàn cảnh Văn hóa, Kinh tế, Phong tục...làm thay đổi những chi tiết. Chúng tôi gọi đây là nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC, nghĩa là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát chịu ảnh hưởng của những dị biệt của từng Dân tộc.

Tỉ dụ tại Tây phương, giữa Pháp và Ý, khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ quyết định cho Tự do ngôn luận, người Pháp thả lỏng về lộng ngôn hơn, trong khi đó người Ý nghĩ nhiều đến yếu tố Gia đình, tôn trọng triệt để ý kiến của người Mẹ (Mama).  Tại Việt Nam cũng vậy, phải kể đến việc tôn trọng người cao tuổi khi nguyên tắc Dân chủ quyết định về tự do ngôn luận cho giới trẻ.

Một vài tỉ dụ trên cho thấy rằng khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, chúng ta phải kể đến ảnh hưởng của những điều kiện Dân tộc để quyết định theo nguyên tắc ấy.


Những điều mong mỏi cụ thể của Dân Việt Quốc nội

Đây là những mong mỏi của người Dân quốc nội gồm 85 triệu người. Người Dân quốc nội đã phải sống những năm trường dưới chế độ độc tài Cộng sản. Những mong mỏi của họ gồm hai phương diện: mong phế bỏ cái ách độc tài hiện hành và mong xây dựng những gì tốt đẹp cho tương lai.

Mong phế bỏ cái ách độc tài

Thoát được cái ách độc tài hiện nay của chế độ Cộng sản, đó là điều mong mỏi nhất của Dân chúng Việt Nam tại quốc nội. Có một số người quan niệm sai lầm rằng chế độ độc tài hiện hành là một Thái cực và thể chế chủ trương Dân chủ nhân bản Dân tộc như vừa trình bầy trên đây là một Thái cực cùng mức thang so sánh. So sánh như vậy bằng chữ hai Thái cực cùng bình diện là hoàn toàn sai lầm.

Nguyên tắc DÂN CHỦ NHÂN BẢN vừa trình bầy trên đây dựa trên việc tôn trọng NHÂN PHẨM và việc bảo vệ NHÂN QUYỀN. Thể chế độc tài Cộng sản không phải là một Thái cực cùng bình diện để so sánh, mà chỉ là một VI PHẠM, một phủ nhận, đối với Chân lý. Khi đòi phế bỏ ĐỘC TÀI không tôn trọng Nhân Phẩm, không bảo vệ Nhân quyền, không thi hành nguyên tắc Dân chủ, đó chỉ là việc đòi hỏi ngưng VI PHẠM mà Cộng sản Việt Nam đang làm. Việc VI PHẠM này không thể coi là một Thái cực cùng bình diện so sánh với ước vọng tôn trọn NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN, thi hành nguyên tắc DÂN CHỦ.

Tôi nhấn mạnh về điểm sai lầm so sánh này để trong những bài kế tiếp, tôi phân tích việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa Chân lý và phủ nhận Chân lý. Tỉ dụ khi mầu TRẮNG là mầu trắng, nhưng có người mát dây điện cứ nói là KHÔNG TRẮNG (cố tình phủ nhận), rồi chúng ta cố gắng hòa lẫn MẦU TRẮNG (thực thể) với điều KHÔNG TRẮNG (phủ nhận), thì làm thế nào làm được.

Việc phủ nhận một thể chế Dân chủ Dân tộc không phải là bằng lời nói, mà bằng sức mạnh hà hiếp khủng bố. Chính Cộng sản Việt Việt Nam cũng biết đây là điều sai quấy, cối chầy, nhưng họ đã quá ham quyền hành để có thể vơ vét tài sản của Dân và của Quốc gia, nên đã muối mặt bất chấp việc sai quấy, cối chầy của họ. Thực vậy, nếu không có sức mạnh hà hiếp khủng bố, thì Dân đã quét sạch đám tội đồ dân tộc này rồi.

Khi chính Đảng Cộng sản biết họ là những người ham quyền hà hiếp, phủ nhận một nền Dân chủ Dân tộc chân chính, thì họ sẽ khinh những người coi họ cùng bình diện giá trị để Hòa giải Hòa hợp bởi vì Cộng sản biết đây chỉ là những nịnh thần để mong quyền hành, chứ không phải là những người đấu tranh cho những giá trị thực sự.  

Mong xây dựng thể chế Dân chủ Dân tộc

Khi phế bỏ được những sức mạnh khủng bố hà hiếp, người Dân tất nhiên mong xây dựng cho một thể chế biết:

=> Tôn trọng NHÂN PHẨM của từng người 

=> Bảo vệ NHÂN QUYỀN cho mỗi cá nhân

=> Aùp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC cho Xã Hội Việt Nam

Ba điều mong mỏi trên đây thiên trọng về đời sống tinh thần của con người và cũng là điều kiện để từng cá nhân phát triển những phương tiện chắc chắn bảo tồn cuộc sống vật chất của mình.

Mong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực

Như chúng tôi đã nói ở phần đầu, con người trước tiên là một con vật tìm mọi phương tiện sinh sống để bảo tồn thân xác của mình. Dạ dầy của con người giống như dạ dầy của con vật. Việc kiếm đồ ăn cho dạ dầy là cá nhân và tự do. Rất hiếm ai (bình thường) nhịn đói đến chết để mang đồ ăn nuôi sống ngưới khác.


Một nền kinh tế tư sản và tự do là nền kinh tế căn bản dựa trên việc tôn trọng mỗi cá nhân tìm sống để bảo tồn chính thân xác mình. Nền kinh tế ấy phải được bảo đảm bởi một Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) mà Dân chúng quyết định theo nguyên tắc Dân chủ.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 2
BẢN CHẤT CỦA
THỂ CHẾ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN 

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số vtdi0211/21.04.05 này nói về đề tài thứ hai: Bản chất của một Thể chế Dân chủ đa nguyên. Giữ vững lấy bản chất của một Thể chế, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi mà chế độ không thể nhượng bộ.
 
Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:

=> Thể chế Dân chủ đa nguyên coi cá nhân là mục đích của mọi sinh hoạt xã hội
=> Ba Ý niệm nền tảng của Thể chế: NHÂN PHẨN, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ
=> Những vi phạm nhất thời có thể sửa chữa


Chế độ Việt Nam Cộng Hòa coi con người cá nhân
là mục đích của mọi sinh hoạt xã hội

Người ta gọi Thể chế/Chế độ là những nguyên tắc, Luật pháp quy định việc quản trị, điều hợp những sinh hoạt chung đụng của một Cộng đồng bao gồm những Cá nhân thành phần. Mức độ quan trọng của Cá nhân được đặt vào những nguyên tắc, Luật pháp quản trị Xã hội là những tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa những Chế độ.

Tỉ dụ khi lấy Cá nhân làm mục đích tối hậu, thì Luật pháp không thể bóp chết những phát biểu ý nghĩ của cá nhân, nghĩa là bóp chết quyền tự do ngôn luận. Cũng vậy khi cá nhân được coi là đích điểm phục vụ của Nhà Nước, thì Nhà Nước không thể đặt Luật pháp bóp chẹt quyền tự do tín ngưỡng như trong Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo mà Quốc Hội Nhà Nước Việt Nam ban hành năm 2004.

Nếu chế độ coi Cá nhân chỉ là phương tiện để phục vụ cho một Ý tưởng (Ý thức hệ) nào đó của một Nhóm người, thì những quy chế, Luật pháp đặt ra sẽ coi rẻ cá nhân tự do và ép buộc những cá nhân trong Tập thể phải phục vụ những Ý tưởng của Nhóm người đó. Đây là thể chế độc tài đảng trị vậy.

Đệ Nhất Cộng Hòa cho Việt Nam được thiết lập, lấy con người là trọng tâm phục vụ của chế độ này. Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã nêu cao chủ trương Nhân Vị (Thuyết Nhân Vị của Đảng Cần Lao), nghĩa là Cá nhân là mục đích phục vụ, làm tiêu chuẩn để thiết lập những quy chế, Luật pháp của thể chế, theo nguyên tắc Dân chủ đa nguyên.


Ba Ý niệm nền tảng của chế độ:
NHÂN PHẨN, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ
 
Thể chế Việt Nam Cộng Hòa, tôn trọng Dân chủ đa nguyên, từ Đệ Nhất Cộng Hòa, chủ trương con ngưới CÁ NHÂN là mục đích phục vụ của mọi sinh hoạt Xã Hội. Khi coi cá nhân là trọng, thì thể chế ấy không thể không tôn trọng NHÂN PHẨM, không thể đè bẹp NHÂN QUYỀN nơi mỗi cá nhân và từ đó, trong những quyết định mọi quy chế, Luật pháp quản trị, nguyên tắc DÂN CHỦ phải được triệt để áp dụng.

Như vậy, thể chế Việt Nam Cộng Hòa, theo nguyên tắc Dân chủ đa nguyên, giữ vững 3 Ý niệm nền tảng: NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN và DÂN CHỦ với những hệ luận trực tiếp giữa 3 Ý niệm ấy. Chúng tôi trình bầy chi tiết dưới đây về 3 Ý niệm nền tảng này và những hệ luận trực tiếp giữ chúng đi từ chủ trương lấy Cá nhân làm trọng tâm phục vụ của mọi sinh hoạt xã hội: Tương trợ xã hội, Triển nở Văn hóa, Phát triển Kinh tế...

Rút ra Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát

Chúng tôi muốn lấy ý niệm NHÂN PHẨM làm nền tảng nguyên thủy để nói về NHÂN QUYỀN và nguyên tắc DÂN CHỦ.

Con người trước tiên là con vật như các con vật khác, có thân xác và phải tìm phương tiện bảo tồn thân xác ấy vì muốn sống. Một số lớn các loài vật không giết và ăn thịt chủng loại của mình. Đó là cái bản năng tôn trọng chủng loại của mình. Con người là một loại vật có được sự hiểu biết, tính thông minh vượt trội hẳn các loài vật khác. Sự thông minh này làm cho con người có thể hiểu biết được những cơ biến của thiên nhiên và khống chế những cơ biến ấy để phục vụ cho mình trên đường tìm phương tiện bảo tồn thân xác. Người ta gọi đây là tiến bộ khoa học và vật chất. Nếu loài vật biết tránh việc giết và ăn thịt chủng loại mình vì bản năng, thì tính thông minh nơi con người còn đi xa hơn bản năng súc vật, tạo cho mình một nền văn hóa và luân lý làm căn bản cho việc tôn trọng chủng loại mình, tỉ dụ như không những không giết và ăn thịt người khác, mà còn kính trọng, giúp đỡ đồng loại của mình.

NHÂN PHẨM có nghĩa là sự nhận biết cái giá trị của một con người, không những về thân xác mà còn về tinh thần của cá nhân, vì đó là một con người chứ không phải là con vật hay cỏ cây vô tri. Tôn trọng NHÂN PHẨM của người khác là phản ứng đầu tiên không phải chỉ vì bản năng mà còn vì sự phát triển văn hóa, luân lý đến từ trí thông minh. Một con người được sinh ra, dù khác mầu da, chủng tộc, phải được tôn trọng như người như mình. Đó đòi buộc tối sơ và tiên khởi: TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM.

Từ việc tôn trọng NHÂN PHẨM này, chúng ta suy diễn ra những quyền sống làm người. Đó là NHÂN QUYỀN. Những quyền căn bản của con người được liệt kê trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tuy nhiên chính mỗi cá nhân có thể nhận biết nhân quyền ấy trong đời sống thực tế hàng ngày qua câu nói căn bản:“Khi không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Câu nói này một đàng làm cho mình nhận biết cái quyền nơi người khác, một mặt bảo mình phải tôn trọng cái quyền ấy của người khác. Tất nhiên để có thể giữ trúng câu nói này, thì việc tối sơ là mình phải biết tôn trọng Nhân phẩm như đã nói trên đây. Thực vậy, một người không biết trọng Nhân phẩm, thì họ không biết tôn trọng những quyền sống căn bản nơi người khác.

Tỉ dụ khi bị đàn áp quá đáng, chịu không nổi, mình muốn nói ra để phản đối. Nhưng có người khác bịt miệng mình, cấm không cho nói. Mình không muốn người khác cấm cản mình nói. Khi không muốn như vậy, thì chính mình phải biết rằng mình không được bịt miệng, cấm cản người khác phát biểu lên trong trường hợp phải chịu như chính mình. Đây là việc nhận biết và tôn trọng quyền phát biểu, NGÔN LUẬN, của người khác. Cụ thể Đảng Cộng sản cấm Dân phát biểu, nhưng nếu Dân cấm Đảng phát biểu, Đảng có chấp nhận hay không ? Đây là một tỉ dụ trong việc áp dụng câu nói trên để nhận biết và tôn trọng những quyền căn bản sống làm người: NHÂN QUYỀN.

Trên đây là nói về phương diện riêng lẻ từng cá nhân sống. Con người có thể sống riêng lẻ cá nhân. Chúng tôi vẫn chưa chấp nhận câu định nghĩa:“Người là con vật sống Xã hội“. Cuộc sống chung xã hội chỉ là một nhu cầu mà cá nhân tự do thấy hữu ích trong việc phát triển cá nhân mình. Họ có quyền không chấp nhận.

Vì nhu cầu làm tăng hữu hiệu việc phát triển cá nhân, con người tự do chấp nhận cuộc sống Tập thể. Mỗi cá nhân có những khác biệt trong việc tìm phương tiện bảo tồn thân xác và phát triển trí thông minh, vì vậy mà trong cuộc sống Tập thể họ phải có những quy ước với nhau để giải quyết những khác biệt. Một trong những quy ước căn bản để giải quyết cuộc sống chung Tập thể, đó là nguyên tắc DÂN CHỦ. Đây là nguyên tắc lấy số đông làm chân lý tương đối. Như vậy, nguyên tắc DÂN CHỦ chỉ là một quy ước giữa những cá nhân tự do quyết định sống trong một Tập thể để giải quyết những khác biệt đến từ chính những cá nhân thành phần ấy. Chúng tôi gọi DÂN CHỦ là nguyên tắc nội tại giữa những cá nhân của Tập thể. DÂN CHỦ không thể là nguyên tắc đặt để cho Tập thể từ bên ngoài hay từ một quyền lực đứng trên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ ngoại tại Tập thể cá nhân chỉ là ĐỘC TÀI trá hình Dân chủ.

Nguyên tắc DÂN CHỦ lấy cá nhân làm căn bản, nghĩa là nguyên tắc này phải biết tôn trọng NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN.  Việc tôn trọng Nhân phẩm và Nhân quyền là nền tảng để bảo chứng việc tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự. Có trôn trọng NHÂN PHẨM, thì mới nhận biết và tôn trọng NHÂN QUYỀN. Có tôn trọng NHÂN QUYỀN, thì mới có thể quy ước với nhau nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự để giải quyết những khác biệt trong cuộc sống Tập thể.

Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát áp dụng cho Dân tộc

Trong phần trên, chúng tôi nói đến nguyên tắc Dân chủ đi từ việc tôn trọng Nhân phẩm, rồi tìm biết đâu là Nhân quyền để bảo vệ. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản bởi vì nó không đến từ một Nhân sinh quan, một Xã hội quan hay Tôn giáo quan hiểu như một sự cấu trúc lý luận từ một tiền đề phải chấp nhận hay từ một lòng Tin. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát. Nguyên tắc DÂN CHỦ nhân bản phổ quát là nguyên tắc mà mọi Tập thể Xã hội nhân loại phải giữ làm quy ước, từ Xã hội Aâu, Á, Mỹ, Phi, Uùc. Nhưng nguyên tắc Dân chủ ấy khi áp dụng vào mỗi Dân tộc, mỗi Địa phương, có những hoàn cảnh Văn hóa, Kinh tế, Phong tục...làm thay đổi những chi tiết. Chúng tôi gọi đây là nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC, nghĩa là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát chịu ảnh hưởng của những dị biệt của từng Dân tộc.

Tỉ dụ tại Tây phương, giữa Pháp và Ý, khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ quyết định cho Tự do ngôn luận, người Pháp thả lỏng về lộng ngôn hơn, trong khi đó người Ý nghĩ nhiều đến yếu tố Gia đình, tôn trọng triệt để ý kiến của người Mẹ (Mama).  Tại Việt Nam cũng vậy, phải kể đến việc tôn trọng người cao tuổi khi nguyên tắc Dân chủ quyết định về tự do ngôn luận cho giới trẻ.

Một vài tỉ dụ trên cho thấy rằng khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, chúng ta phải kể đến ảnh hưởng của những điều kiện Dân tộc để quyết định theo nguyên tắc ấy.


Những vi phạm nhất thời có thể sửa chữa

Chúng tôi xin nhắc lại một ít nét Lịch sử tổng quát từ những Quốc gia Á, Phi, Nam Mỹ thâu hồi độc lập sau thời gian thuộc địa bị đô hộ. Các Quốc gia này thiết lập một thể chế Dân chủ Dân sự theo khuôn mẫu Tây Phương. Sau một thời gian, những Chính quyền Dân sự bị phản đối là độc tài để rồi Quân đội can thiệp vào lật đổ và thay thế vào đó một thể chế Quân phiệt. Một số thể chế Quân phiệt sau một thời gian, bị phản đối và Quốc gia có thể từ độc tài Quân phiệt chuyển qua độc tài Dân sự trong phong trào Mặt Tận Giải Phóng do Cộng sản Quốc tế chủ trương.

Tại Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy sự chuyển biến này, từ thể chế Việt Nam Cộng Hoà dân sự chuyển sang Quân đội, rồi những chống đối Dân sự từ những người của thể chế Cộng Hòa hay từ những người dưới sự điều khiển của độc tài Cộng sản Hà Nội như Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, các Phong trào Hoà Bình, Phản Chiến...

Những Chuyển biến Lịch sử rất phức tạp. Một số người muốn lấy những chuyển biến Lịch sử này để công kích sự hữu hiệu của thể chế Dân chủ dựa trên 3 Ý niệm nền tảng: tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN và áp dụng triệt để nguyên tắc DÂN CHỦ.

Chúng tôi công nhận có những vi phạm 3 Ý niệm nền tảng trên đây của thể chế Dân chủ, nhưng chúng tôi nhấn mạnh rằng những vi phạm ấy chỉ là những vi phạm nhất thời, nghĩa là người Dân có thể kiện toàn lần hồi thể chế dựa trên 3 Ý niệm nền tảng. Phong trào Cộng sản Quốc tế đã tuyên truyền nhồi sọ cho Dân chúng rằng những vi phạm này là thất bại căn bản của thể chế Dân chủ để Cộng sản cướp lấy chính quyền và thiết lập một thể chế độc tài Cộng sản, không tôn trọnh NHÂN PHẨM, phế bỏ NHÂN QUYỀN và không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ. Con người Cá nhân chỉ là phương tiện phục vụ cho chế độ trong chế độ độc tài Cộng sản.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 3
BẢN CHẤT CỦA
CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN HIỆN HÀNH 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 213/21.04.05 này nói về đề tài thứ ba: Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành. Giữ vững lấy bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ.
 
Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:
=> Từ những quan niệm về kinh tế, xã hội nhất thời
=> Đến cuộc Cách Mạng vô sản đẫm máu với hứa hẹn không tưởn
=> Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam


Từ những quan niệm về
kinh tế, xã hội nhất thời

Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa được xây dựng trên con người cá nhân cụ thể và cá nhân ấy là mục đích phục vụ của chế độ. Bản chất của chế độ độc tài Cộng sản dựa trên những quan niệm của một Triết gia về đời sống Kinh tế, tương quan Xã hội nhất thời. Những quan niệm này được coi là chân lý tuyệt đối và trường tồn để bắt cá nhân phải hy sinh phục vụ.

Triết gia đó là Karl Marx sống trong khung cảnh đời sống xã hội của Cách Mạng Kỹ nghệ Thế kỷ XIX. Cuộc Cách Mạng Kỹ nghệ cần những đầu tư Tư bản. Trong khung cảnh Kinh tế và Xã hội ấy, Karl Marx đưa ra những quan điểm. Chúng tôi chỉ đưa ra đây một số những suy nghĩ chính của Karl Marx mà Lenine-Staline lấy lại làm Ý thức hệ trong cuộc đấu tranh chính trị chiếm quyền hành của Nhóm.

=> Vong thân Kinh tế (Alienation Economique)
 
Karl Marx đã đọc cuốn Capital của David Ricardo, một Kinh tế gia cổ điển thời danh nhất trong những Kinh tế gia cổ điển Anh như Adam Smith, Stuart Mill, Malthus... Đây là những Kinh tế gia chủ trương nền Kinh tế Tự doThị trường. Cái công của David Ricardo là đưa ra quan niệm đo lường những giá trị của một sản phảm Kinh tế. Để đo lường chiều dài, người ta dùng đơn vị mét; để đo lường dung lượng chất lỏng, người ta dùng đơn vị lít...Để đo lường giá trị một sản phẩm kinh tế, David Ricardo dùng đơn vị GIỜ LAO ĐỘNG đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm ấy. Cùng căn bản đơn vị đo lường như vậy, người ta mới có thể so sánh sản phẩm giữa nước này và nước kia.
 
Karl Marx lấy lại ý tưởng đơn vị đo lường này để suy nghĩ về những chênh lệc xã hội của thời Cách Mạng Kỹ nghệ mà Oâng gọi là những bóc lột. Oâng lý luận rằng giá trị của sản phẩm kinh tế dựa trên sức LAO ĐỘNG nằm trong sản phẩm. Một phần của những giá trị sản phẩm thặng dư tích lũy để tạo lên Vốn (Capital). Như vậy số vốn này thuộc về giới Lao động vì đó là sự tích lũy những giờ lao động. Nhưng giới Tư sản đã cướp lấy số vốn này của giới Lao động để làm tư sản.
 
Vong thân Kinh tế (Alienation Economique), theo Karl Marx, có nghĩa là giới Lao động tạo ra Vốn, đem Vốn đó giao trong tay giới Tư bản để rồi chính giới Lao động phải lệ thuộc vào Vốn.

=> Vong thân Tôn giáo (Alienation Religieuse)

Theo Karl Marx, Tôn giáo đến từ sự sợ hãi của chính con người trước tất cả những đe dọa thiên tai. Từ những sợ hãi đủ thứ này trước thiên nhiên, con người tạo ra các thứ Thần để mong mỏi sự che chở: Thần Sông, Thần Biển, Thần Núi...
 
Vong thân Tôn giáo (Alienation Religieuse) có nghĩa là các Thần không tự hữu mà chỉ là sản phẩm của con người. Con người tạo ra Thần để coi Thần như tự hữu để mình thờ lậy và lệ thuộc vào.

=> San bằng mức sống xã hội (Egalite sociale)
 
Gia đình Karl Marx đông con và sống trong những hoàn cảnh lưu lạc, thiếu thốn. Oâng lại sống trong thời Cách Mạng Kỹ nghệ hỗn độn. Tổ chức sản xuất trong các Nhà máy chưa có những điều kiện làm việc cải thiện như thời nay cho nhân công. Trong hoàn cảnh sống riêng tư gia đình và trong điều kiện làm việc của thợ thuyền thời ấy, Karl Marx ao ước một sự san bằng đời sống xã hội, nhất là giữa giới Tư sản và giới Lao động.
 
Những suy tư trên đây chỉ là riêng cho một Triết gia sống ở một thời đại chuyển biến Kinh tế. Chúng tôi nhấn mạnh đây là những quan niệm nhất thời, chứ không phải là chân lý cho mọi thời đại và phổ quát cho mọi người. Karl Marx chỉ là một trong muôn vàn Triết gia suy tư về thời đại của mình, nghĩa là những quan điểm cũa Karl Marx chỉ là tương đối.


Đến cuộc Cách Mạng vô sản đẫm máu
với hứa hẹn không tưởng

Tất cả các Triết gia trứ danh đều độc tài. Họ đạp đổ những quan niệm trước họ để cấu trúc những suy tư của riêng mình mà họ coi là chân lý trường tồn. Việc độc tài suy tư của Triết gia chưa phải là tội lỗi. Nhưng việc áp dụng những suy tư ấy làm Ý thức hệ chỉ đạo cho những cuộc đấu tranh chính trị chiếm đoạt quyền hành và quản trị Quốc gia mới tạo ra những tội lỗi.
 
Lenine và Nhóm của Oâng đã lấy những quan niệm của Karl Marx để làm Ý thức hệ chỉ đạo cho cuộc đấu tranh chính trị chiếm quyền.

=> Từ quan niệm Vong thân Kinh tế 
     đến cuộc đấu tranh đẫm máu Giai cấp 
 
Lenine và Nhóm của Oâng muốn triệt hạ Giai cấp có tiến bạc, tài sản. Trong hoàn cảnh chênh lệc xã hội thời ấy, phương tiện tuyên truyền hữu hiệu nhất là khơi động đa số người nghèo đứng lên tiêu diệt thiểu số cố vốn. Quan niệm Vong thân Kinh tế được lấy lại làm phương tiện tuyên truyền để giới Lao động tiêu diệt giới Tư sản.  Lenine nói rằng Vốn là tích luỹ Lao động, nghĩa là vốn thuộc sở hữu của giới thợ thuyền và nông dân. Vậy giới thợ thuyền và nông dân phải đứng dậy đòi lại quyển sở hữu của mình. Phải dùng sức mạnh của giới thợ thuyên và nông dân để tiêu diệt giới Tư sản dù bằng hành động đẫm máu.


=> Từ quan niệm Vong thân Tôn giáo 
     đến cuộc tiêu diệt Lực lượng Tôn giáo
 
Lenine và tiếp theo là Staline, để có thể độc quyền nắm trọn nhân dân, thấy rằng phải tiêu diệt Lực lượng Tôn giáo. Họ đã lấy quan niệm Vong thân Tôn giáo để kêu gọi mọi người hãy giải thoát mình khỏi những quyền lực Thần Linh mà chính mình tạo ra để phải lê thuộc vào. Tôn giáo dậy con người phải tôn trọng cá nhân, trong khi ấy Lenine và Nhóm của Oâng muốn cá nhân chỉ là phương tiện phục vụ cho quyền hành của Nhóm. Tiêu diệt Tôn giáo là tiêu diệt đối kháng đối với chế độ.


=> Từ ước vọng san bàng chênh lệc xã hội
     đến Thiên đàng Cộng sản và độc tài Đảng trị

Triết gia Karl Marx suy tư về một giải pháp cho việc chênh lệch xã hội của thời Cách Mạng Kỹ nghệ thế kỷ XIX. Lenine và Nhóm của Oâng muốn cộng chung tất cả những tài sản, những sản xuất để phân phát đồng đều cho mọi người theo nhu cầu. Quyền tư hữu của cá nhân phải được phế bỏ vì chính quyền tư hữu này làm ra sự chênh lệch xã hội. Aùp dụng quan niệm này, Lenine và Nhóm đã tuyên truyền cho Dân hai điều phải theo sau đây:

@ Thiên đàng Cộng sản ở Trần thế
  
Cộng sản đã tạo một ngưỡng vọng cho dân nghèo thời ấy. Thiên đàng Cộng sản luôn luôn là một hy vọng. Người đói cố gắng sống vì hy vọngh có đồ ăn mà ai hứa hẹn. Người nghèo hy vọng có tiền khi có hứa hẹn. Thiên đàng Cộng sản là một hứa hẹn để dấy động dân nghèo hy sinh chính bản thân mình để mong đặt lý tưởng. Đó chỉ là một Aûo tường (Utopie) để dụ người theo mình.

@ Độc tài Đảng trị
 
Mọi người bỏ chung tài sản để thực hiện Thiên đàng Cộng sản, nhưng mọi người là quần chúng hỗn độn. Phải có những người được chọn lựa để chỉ đạo cuộc Cách mạng vô sản và để điều hành những tài sản bỏ chung ấy. Những người được lựa chọn này là Đảng Cộng sản. Đảng có trách nhiệm hướng dẫn cuộc đấu tranh để tiêu diệt kẻ thủ, để quan trị tài sản của quần chúng và để đạt tới Thiên đàng Cộng sản. Để nắm vũng những trách nhiệm này, Đảng phải độc tài, giữ quyền riêng cho mình.

@ Kinh tế chỉ huy
 
Nếu Đảng độc quyền giữ tài sản của Dân để thực hiện Thiên đàng Cộng sản, thì Đảng tất nhiên phải giữ độc quyền khai thác những tài sản ấy. Đó là một nền Kinh tế hoàn toàn chỉ huy bởi Đảng. Một hệ thống Công ty quốc doanh được thành lập và làm theo chỉ thị của Trung Ương Đảng.

Thời đầu của Cách Mạng Cộng sản, Ý thức hệ này là một quyến dũ và thúc đẩy được Dân chúng nghèo theo mình. Nhưng Thiên đàng Cộng sản không bao giờ đạt tới mặc dầu Dân chúng phải hy sinh cá nhân mình hết thế hệ này đến thế hệ kia. Chế độ độc tài Đảng trị của Cộng sản, xây dựng trên những quan niệm của Karl Marx và trên những áp dụng chính trị đấu tranh của Lenine-Staline đã xụp đổ. Sự xụp đổ này chứng minh rằng những suy tư của Karl Marx và những áp dụng chính trị của Lenine-Staline không phải là tuyệt đối, trường kỳ. Vì không phải là tuyệt đối, trường kỳ, thì không được quyền lấy chúng làm lý do để duy trì quyền hành độc tài.

Tất cả những vá víu cho những quan niệm triết học và cho những áp dụng chính trị trên đây trở thành phương tiện bịp bợm che đậy cho việc cố thủ giữa quyền độc tài.


Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam

Chế độ độc tài Cộng sản nói chung và ở thời đại Cách Mạng cao độ nhất đã được xây dựng trên căn bản những suy tư triết học của Karl Marx và những áp dụng chính trị của Lenine-Staline. Chế độ ấy đã xụp đổ, nghĩa là những suy tư và những áp dụng có những sai lầm trầm trọng, không thể làm nền tảng cho chế độ nữa.

Biết những sai lầm trầm trọng, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam cố thủ dùng ngôn từ tuyên truyên giả tạo để giữ lấy quyền hành cho mình. Những tiếng Cởi Mở, Đổi Mới chỉ là mỵ dân, hy vọng đánh lừa dân nữa. Những tiếng Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa hoặc Quá Độ Lên Xã Hội Chũ nghĩa chỉ là những xảo ngữ bởi vì nền tãng để xây dựng Thên đàng Cộng sản đã xụp đổ.

Nếu độc giả hỏi tôi căn bản của chế độ Cộng sản thời Lenine-Staline, thì tôi có thể trả lời như tôi đã trình bầy ở hai phần trên đây từ những suy tư của Karl Marx đến những áp dụng chính trị của Lenine-Staline. Nhưng nếu quý độc giả hỏi tôi nền tảng xây dựng chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam là gì, thì tôi rất lúng túng bởi vì Ý thức hệ của nó tanh bành xí oắt rồi. Nền tảng ấy là cái váy đụp mục nát mà Đảng Cộng sản Việt Nam cố gắng vá víu bằng xảo ngữ để lừa dân. Về điểm này, tôi chỉ còn có thể nói đến những khía cạnh sau đây về thực hành:

=> Đảng cố thủ dùng bạo lực để duy trì quyền cai trị độc tài của mình. Giữ quyền độc tài để dễ biển lận tài sản Quốc gia cho riêng mình. Nếu trước đây, Lenine-Staline có Ý thức hệ làm nền tảng để biện minh cho việc giữa quyền độc tài Đảng trị, thì ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam bị lột trần truồng khỏi Ý thức hệ ấy. Nhưng họ, vì cố thủ giữa lấy quyền hành một cách trơ trẽn, đã phải lấy lá che đậy sự trần truồng bẩn thỉu của họ.

=> Việc cố thủ giữ quyền độc tài bằng khủng bố vũ lực, không Ý thức hệ, chỉ còn là PHỦ NHẬN những nền tảng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nghĩa là họ không tôn trọng NHÂN PHẨN, không bảo đảm NHÂN QUYỀN và không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ. 


Tóm lại, chế độ hiện hành của Cộng sản Việt Nam hiện nay không còn nền tảng để biện minh cho mình. Đó chỉ là một chế độ của những kẻ ham quyền cố vị để dễ bề ắn cướp tài sản Quốc gia. Họ dùng sức mạnh khủng bố để bịt miệng Dân.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 4
ĐỐI LẬP
PHẢI GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CỦA MÌNH


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 215/19.05.05 này nói về đề tài thứ tư: Đối lập phải giữ vững bản chất của mình. Giữ vững lấy bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ.

Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:

=> Bảng so sánh hai Bản chất
=> Giữ vững lấy Bản chất của mình
=> Thái độ đối thoại khi thảo luận những biện pháp Hòa Giải Hòa Hợp
=> Thảo luận về Bản chất hay thảo luận về Đường lối thực hiện Bản chất


Bảng so sánh hai Bản chất

 Khi thảo luận, phải biết mình biết người. Bảng so sánh tóm lược dưới đây đối chiếu hai Bản chất mà chúng tôi đã viết trong hai bài trước: Bản chất của Chế độ Việt Nam Cộng Hòa và Bản chất của Chế độ Cộng sản hiện hành:


BẢN CHẤT CHẾ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN       BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ CS HIỆN HÀNH

1) Phục vụ CÁ NHÂN sống cụ thể                 1) Phục vụ ĐẢNG, hy sinh cá nhân

2) Tôn trọng triệt để NHÂN PHẨM                 2) Không tôn trọng NHÂN PHẨM

3) Bảo đảm NHÂN QUYỀN                           3) Thắt chặt NHÂN QUYỀN. ĐẢNG 
                                                                      QUYỀN  là trên hết
4) Aùp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ               4) Không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ
trong đời sống Tập thể                                     trong đời sống Tập thể. Đảng là tối  
                                                                      cao và quyết định đời sống Tập thể

5) Trọng tài phân xử: LUẬT PHÁP đã            5) Trọng tài phân xử: SỨC MẠNH KHỦNG
được Dân quyết định theo nguyên tắc          BỐ độc đoán theo Chính trị của Quyền lực
DÂN CHỦ                                                    cai trị

-----------------------------------------------            ---------------------------------------------


Đối chiếu như trên, chúng ta thấy rằng Chế độ hiện hành CSVN chỉ là sự phủ nhận hoặc vi phạm những giá trị cơ bản của con người sống trong một Tập thể. Xem như vậy, việc Hòa Hợp Hòa Giải một Bản chất với sự Phủ nhận Bản chất ấy là điều ngược ngạo. Nếu chế độ CSVN hiện hành chỉ là một SỰ PHỦ NHẬN (Négation), thì không thể nói nó có Bản chất được.


Giữ vững lấy Bản chất của mình

Lấy tỉ dụ trong Thương Mại. Một người Đại Diện cho một Công ty có nhiệm vụ thương thảo (négoce) với một Công ty khác về một vấn đề làm ăn chung. Việc đầu tiên của người Đại Diện này là phải biết rõ đường lối và mục đích của Công ty mình muốn đạt tới điều gì. Người đó phải giữ vững Bản lãnh (identité) của mình trước khi nhập cuộc thương thảo. Không thể đi thương thảo mà không biết mình muốn gì. Nếu chỉ gặp đối phương để theo sự chỉ dẫn của đối phương, thì đó không phải là thương thảo.

Một đảng đối lập thảo luận với một đảng khác, thì đảng đối lập này phải thấu triệt chính Bản chất của chủ trương đảng của mình. Khi giữ vững Bản chất Chủ trương của mình rồi, thì phải bênh vực cho Chủ trương ấy trước khi đối phương đề nghị những biện pháp giải quyết khi mà hai biện pháp có những xung khắc. Đó mới gọi là Hòa Giải Hòa Hợp thực sự. Nếu khi đến thảo luận, mà không biết mình là ai, rồi cứ nhân danh chiêu bài “Hòa Giải Hòa Hợp“ để chấp nhận những gì đối phương xỏ mũi dẫn đi, thì đó không phải là Đối lập, mà chỉ là bù nhìn, ba phải, hoặc tay sai bồi bếp cho đối phương.


Thái độ đối thoại khi thảo luận
những biện pháp Hòa Giải Hòa Hợp

Khi nói Hòa Hợp Hòa Giải, thì phải nói đến Thái độ đối thoại khi hai bên đến với nhau để tìm những giải pháp cho những xung khắc. Chúng ta phải biết rõ xem đối phương có Thái độ ĐỐI THOẠI hay là chỉ có Thái độ ĐỐI THỌI. Khi đối phương đến với mình, mà bụng dạ chỉ mưu mô tìm cách THỌI cho mình chết, thì đó không phải là đối thoại. Nhất nữa chính mình lại tìm đến đối phương để van xin đối thoại, thì đối phương càng THỌI cho mình mạnh hơn. Người Việt Quốc gia sẵn sàng đối thoại với Cộng sản nếu họ có lòng thành thực muốn đối thoại cho đúng nghĩa.

Những Nhóm Đảng Chính trị Quốc gia hiện giờ, khi tung ra Hòa Giải Hòa Hợp, có dám bảo đảm với Dân chúng rằng Đảng Cộng sản thực tình đối thoại hay không. Nếu không dám bảo đảm về điều này, thì việc tung ra Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tiếp tay cho đối phương để tuyên truyền hoặc tự nguyện làm tay sai cho độc tài của đối phương.

Hãy nghĩ lại, khi NGÔ BÁ THÀNH, TÔN THẤT DƯƠNG KỴ ... những năm 1964 nêu ra chiêu bài Hòa Bình, đó chỉ là làm tay sai cho Cộng sản Miền Bắc để kêu gọi Miền Nam hay ngưng đấu tranh và đầu hàng. Những Thành phần Thứ Ba tại Paris muốn đứng vị trí kêu gọi hai bên Miền Bắc và Miền Nam, nhưng không bao giờ họ dám ra Bắc để kêu gọi Cộng sản, mà chỉ nằm tại đất Tự do để chỉ trích Miền Nam.


Thảo luận về Bản chất hay
thảo luận về Đường lối thực hiện Bản chất

Chúng tôi muốn lấy ít tỉ dụ cụ thể để phân biệt về vấn đề vừa nêu ra: Thảo luận về BẢN CHẤT (Mục đích) hay Thảo luận về ĐƯỜNG LỐI (Phương tiện).

Tỉ dụ sau năm 1975, người Việt muốn thoát độc tài và đi tìm Tự do. Có người đi bằng thuyền vượt biển; có người đi bằng đường bộ sang Lào, rồi Thái Lan. Cả hai người cuối cùng sang tới Mỹ để có đời sống Tự do. Hai người đều đạt được Mục đích (Bản chất) của việc vượt biên, nhưng mỗi người xử dụng một Phương tiện (Đường lối) khác nhau.

Một tỉ dụ khác. Cộng sản muốn san bằng chênh lệch xã hội. Họ đã phế bỏ tư hữu, thâu tóm tất cả tài sản vào trong tay Đảng Cộng sản để Đảng phấn phối cho mọi người. Chế độ Tư bản lại xử dụng đường lối khác, đó là xử dụng Thuế cấp tiến để tái phân phối thu hoạch cho người nghèo. Cùng nhằm ý tưởng xã hội, nhưng hai đường lối thực hiện khác nhau.

Trở lại Bảng so sánh Bản chất của hai chế độ ở phần đầu bài này. Bản chất của Cộng sản là ĐỘC TÀI nắm trọn quyền cho Đảng; Bản chất của Quốc gia là DÂN CHỦ dành quyền tối thượng cho Dân. Vì vậy nếu những người tung ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp như là thảo luận về Bản chất của hai chế độ, thì đó là vô nghĩa bởi lẽ ĐỘC TÀI chỉ là sự phủ nhận của DÂN CHỦ. Nếu Đảng Cộng sản từ bỏ ĐỘC TÀI và chấp nhận nguyên tắc DÂN CHỦ (Bản chất, Mục đích) như chúng ta, thì tôi xin phép giơ hai tay hai chân để cùng thảo luận tìm Hoà Giải Hòa Hợp ĐƯỜNG LỐI (Phương tiện) để Dân chúng Việt Nam sớm có DÂN CHỦ.

Những Nhóm Chính trị, gọi mình là Đối lập, đang nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp, cần lưu ý ba điều sau đây:

1) Trước hết hãy giữ vững Bản chất của chế độ của mình. Đó là lấy CÁ NHẬN làm mục đích phục vụ của mọi sinh hoạt xã hội; tôn trọng triệt để NHÂN PHẨM của con người; bảo vệ NHÂN QUYỀN gồm những quyền căn bản được liệt kê trong Bản Tuyên Ngôn Thế Giới Nhân quyền; tôn trọng quyền tối thượng của Dân chúng, đó là áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ; lấy LUẬT PHÁP mà Dân đã quyết định làm trọng tài phân xử trong cuộc sống chung xã hội. Chúng ta đã xác tín vào giá trị của Bản chất này. Khi chúng ta chối bỏ những Bản chất ấy, nghĩa là chúng ta phủ nhận những giá trị nhân bản giống như Cộng sản. Không thể thảo luận Hòa Giải Hòa Hợp về Bản chất vì đó là điều vô nghĩa.
 
2) Phải yêu cầu Cộng sản có thái độ ĐỐI THOẠI thực tâm, chứ đừng mưu mô xảo quyệt xử dụng hai chữ ĐỐI THOẠI để nhàm ĐỐI THỌI người khác.
  
3) Nếu đã chắc chắn rằng Cộng sản muốn đối thoại thực tâm, thì chúng ta sẵn sàng đối thoại, nhưng chỉ đối thoại Hòa Hợp Hòa Giải ở những ĐƯỜNG LỐI thực hiện Mục đích (Bản chất) mà mọi người đều công nhận. Chúng tôi khẳng định: Cộng sản đều công nhận rằng nguyên tắc DÂN CHỦ là tốt đẹp cho Dân, nhưng chỉ vì cố thủ nắm lấy quyền cho Đảng mà họ ăn gian nói dối, luẩn quẩn tìm cách khủng bố Dân để dành quyền ĐỘC TÀI cho mình. 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

 


HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 5
HÒA HỢP HÒA GIẢI BẢN CHẤT
HAY ĐƯỜNG LỐI THỰC HIỆN


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 216/26.05.05 này nói về đề tài thứ năm:  Hòa Hợp Hòa Giải bản chất hay đường lối thực hiện. Giữ vững lấy bản chất của Thể chế Dân chủ đa nguyên/ chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ. Cái bản chất của một chế độ là điều khó nhân nhượng, nhưng đường lối thực hiện bản chất có thể thảo luận để cùng chọn lựa.

Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:

=> Tóm tắt những ý tưởng trước
=> Bản chất Chính trị phổ quá
=> Hòa hợp hòa giải Đường lối thực hiện


TÓM TẮT NHỮNG Ý TƯỞNG TRƯỚC

Chúng tôi đã viết 4 bài liên tiếp để khai triển chủ đề HÒA GIẢI HÒA HỢP. Mỗi bài đặt trọng tâm vào một ý tưởng. Tuy vậy những ý tưởng này liên kết với nhau trong một tiến trình lý luận để chúng tôi bàn về chủ đề trong bài này:

Bài thứ 1: Chúng tôi phân tích người Dân muốn gì và việc quyết định một thể chế Chính trị phải do chính người Dân tự mình chấp nhận. Tất cả mọi thể chế đến từ những Nhóm Đảng chính trị hay từ ngoại lai đều là những đề nghị và người Dân có quyền thẩm định để chấp nhận hay không. Mọi áp đặt một thể chế lên đầu Dân đều trái với nguyên tắc Dân chủ. Cụ thể: điều này cho thấy rằng một thể chế do sự giàn xếp của ngoại lai với Đảng CSVN và một vài Nhóm chính trị tay sai nhằm bắt Dân Việt Nam phải sống trong đó đều là việc làm độc tài đối với Dân chúng Việt Nam.

Bài thứ 2: Thể chế Dân chủ đa nguyên/ Chế độ Việt Nam Cộng Hòa lấy Bản chất là: 1) Mọi sinh hoạt Tập thể phải nhằm CÁ NHÂN làm mục đích phục vụ; 2) Phải triệt để tôn trọng NHÂN PHẨM con người; 3) Phải bảo đảm NHÂN QUYỀN cho mỗi người Dân; 4) Phải áp dụng đúng đắn nguyên tắc DÂN CHỦ cho những quyết định liên quan đến đời sống Tập thể; 5) Trọng tài phân xử trong cuộc sống chung đụng là LUẬT PHÁP đã được chính Dân quyết định. Có thể có những vi phạm trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng đây chỉ là việc chưa đạt triệt để được Bản chất, cần được điều chỉnh.

Bài thứ 3: Từ lúc đầu của Cộng sản Nga, chế độ Cộng sản chỉ lấy một khía cạnh giải quyết cuộc sống chung đụng quyền lợi Kinh tế làm mục tiêu đấu tranh. Từ cuộc đấu tranh giai cấp gọi là Cách Mạng Vô sản mà họ đã đẩy thành đẫm máu, Đảng Cộng sản chiếm lấy quyền cai trị độc đoán cho mình. Tiếp theo giai đoạn này, chế độ ngụy tạo ra những kẻ thù không tưởng để cố thủ nắm lấy quyền hành cai trị độc tài cho mình. Chế độ này cho thấy những điểm sau đây: 1) Mọi sinh hoạt Tập thể mà cá nhân buộc phải làm đều nhằm phục vụ cho Chính trị của ĐẢNG dưới chiêu đề lý thuyết trống rỗng; 2) Không tôn trọng NHÂN PHẨM; 3) Chà đạp NHÂN QUYỀN; 4) Quyết định độc đoán của Đảng, chứ không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ cho đời sống Tập thể; 5) Trọng tài phân xử trong cuộc sống Tập thể là SỨC MẠNH KHỦNG BỐ do Đảng quyết định. Những điểm này chứng tỏ rằng chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam chỉ là một sự phủ nhận những giá trị căn bản của con người mà chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã lấy làm bản chất của mình.

Bài thứ 4: Bài này muốn nhắc nhở cho một số Nhóm Đảng được kể là trong hàng ngũ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng muốn hòa hợp hòa giải với chế độ Cộng sản hiện hành. Chúng tôi muốn nhắc nhở 3 điểm sau đây: 1) Muốn nói chuyện hòa giải hòa hợp, thì trước hết phải biết rõ xem đối phương có thái độ đối thoại thực sự hay không, hay đối phương chỉ dùng mưu mô để ĐỐI THỌI mình; 2) Trước khi đem chuông đi đấm nước người, thì mình phải giữ vững lấy Bản chất của mình, nghĩa là giữ vững lấy những giá trị mà chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã chọn làm Bản chất của chế độ; 3) Phải phân biệt rõ rệt hòa giải hòa hợp Bản chất hay hòa hợp hòa giải đường lối thực hiện Bản chất.

Đức Giêsu trước đây, sau khi ăn chay 40 đêm ngày, thân người mệt lả vì đói. Quỷ Satan đưa đồ ăn để dụ Ngài thuần phục nó để có được đồ ăn. Ngài tuyên bố bản chất của Ngài là chỉ thờ phượng một mình Thiên chúa, chứ không thuần phục ma quỷ. Ngài đã mạnh mẽ đuổi Satan đi để giữ trọn vẹn bản chất của Ngài.

Chúng tôi tiếp nối điểm thứ 3 của Bài thứ 4 này và lấy thái độ dứt khoát của Nhà Đại Cách Mạng Giêsu về việc giải thoát CÁ NHÂN trong việc bảo vệ bản chất của mình.


BẢN CHẤT CHÍNH TRỊ PHỔ QUÁT

Trong Bài thứ 2 trước đây và vừa được tóm tắt ở phần trên, chúng tôi đã trình bầy 5 điểm căn yếu của Bản chất của Thể chế Dân chủ đa nguyên/ chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Thực ra đây là những điểm căn yếu phổ quát mà các chế độ chính trị minh nhiên hay mặc nhiên chấp nhận. Chúng tôi xin chứng minh tính cách phổ quát của những điểm này.

Tôn giáo và việc giải phóng cá nhân

Tôn giáo không nhằm giải thoát Linh hồn Xã Hội bởi vì Xã Hội không có Linh hồn theo đúng nghĩa của hai chữ này. Tôn giáo nhằm giải thoát Linh hồn CÁ NHÂN. Đức Thích Ca tìm đường cứu khổ cá nhân. Ngài không thể hy sinh cá nhân vì một Lý thuyết hay vì một tập thể nào đó. Cá nhân là trọng tâm của sự chiêm niệm tìm đường cứu khổ.

Đức Giêsu nhập thể làm người, chịu mọi đau khổ để chuộc tội cho Linh hồn cá nhân mỗi người. Ngài không nhập thể chịu khổ đau để cứu chuộc Linh hồn Xã Hội. Trong cuộc sống truyền giảng chân lý, Ngài đến và bênh đỡ những cá nhân, nhất là những cá nhân bệnh tật, yếu đuối, không quyền thế trong xã hội. Ngài lên tiếng miệt thị đám người Pharisiêu lấy hình thức để đè bẹp những cá nhân yếu đuối. Giữa một thể chế quân phiệt độc tài Roma, Ngài can đảm bênh đỡ những cá nhân mà chế độ coi là nô lệ.

Tôn giáo nhằm phục vụ cá nhân sống thực. Bất cứ Tôn giáo nào cũng triệt để khuyên phải tôn trọng NHÂN PHẨM, phải bảo vệ NHÂN QUYỀN bởi vì cá nhân là mục đích của mọi sinh hoạt tôn giáo. Khi Đức Giêsu nói phải thương yêu người khác như chính mình vậy, đó là việc tôn trọng tối đa NHÂN PHẨM người khác.

Lịch sử Nhân loại là Lịch sử thăng tiến
Tôn trọng cá nhân trong đời sống Tập thể

Trong cuộc sống Xã Hội, chế độ Nô lệ là chế độ tượng trưng nhất cho việc miệt thị NHÂN PHẨM. Chế độ đã kéo thật dài trong suốt Lịch sử Nhân loại cho đến những Thế kỷ gần đây. Lịch sử giải thoát Nô lệ cũng là Lịch sử đấu tranh cho việc tôn trọng NHÂN PHẨM.
 
Người ta thường khen ngợi nền Dân chủ Athenes (Démocratie Athénienne) trong cổ sử Hy Lạp.  Nhưng chính trong nền Dân chủ ấy, chế độ vẫn không cho phép những người Nô lệ được phát biểu trước Hội chúng.

Trong những Thế kỷ dưới chế độ Quân phiệt độc tài Roma, ngững người Nô lệ không những không được quyền phát biểu, mà còn phải làm việc cực nhọc để phục vụ người quyền thế. Việc chết chóc của người Nô lệ chỉ làm trò chơi giải trí (Gladiateurs).

Tiếp theo đó, ý tưởng Thiên chúa Giáo trong suốt thời Trung Cổ Aâu châu về việc bênh đỡ kẻ yếu đuối, thế cô... đã tạo nên lớp Hiệp sĩ (Chevaliers) mang tinh thần cứu giúp kẻ thế cô trước những áp bức. Đây là một bước tiến hướng về việc tôn trọng NHÂN PHẨM. Tuy vậy chế độ Quân chủ Vua Chúa vẫn tồn tại để phân biệt người quyền quý và kẻ bầy tôi.

Thời kỳ chiếm thuộc địa và khai thác Kinh tế tiếp theo. Nhu cầu Nhân lực để khai thác Kinh tế khiến chế độ Nô lệ phải trải qua thời kỳ đen tối. Buôn bán Nô lệ từ Phi châu như nhân lực khai thác Kinh tế.

Các thuộc địa dành lại Độc lập. Tuy vậy việc nhân công Nô lệ của những Thế kỷ trước vẫn còn lại đây đó. Phải đến Thế kỷ 20, vấn đề nô lệ và phân biệt chủng tộc, mầu da mới có những bước giải thoát thực sự.

Bản Tuyên Ngôn NHÂN QUYỀN Quốc tế đánh dấu sự giải thoát trên nguyên tắc cho mọi CÁ NHÂN sinh ra làm người. Không tôn trọng NHÂN PHẨM, không bảo đảm NHÂN QUYỀN là sự thối lui của cố gắng giải thoát con người CÁ NHÂN mà Lịch sử Nhân loại đã trường kỳ đấu tranh. Mà nếu đã tôn trọng Nhân phẩm, đã bảo vệ Nhân quyền, thì nguyên tắc Dân chủ là là một Hệ Luận trực tiếp cho mọi tổ chức Xã hội.
 
Tính cách thuần lý nhân bản

Tính cách thuần lý này đi từ câu nói mà mọi người chấp nhận:“Nếu không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Chúng tôi không cần biết Bà này sang, Oâng kia hèn, mà chỉ cần biết Bà ấy và Oâng ấy đều là người. Chúng tôi cũng không cần biết hai người có tôn trọng NHÂN PHẨM của nhau hay không, có bảo đảm NHÂN QUYỀN của người kia hay không. Khi hai người sống chung với nhau, chúng tôi cũng không cần biết họ quyết định những việc làm chung có theo DÂN CHỦ hay không. Chúng tôi cũng không cần biết hai người đã giao kèo với nhau những gì gọi là LUẬT LỆ.

Chúng tôi chỉ cần hỏi từng người xem họ có thực tình với câu nói: “Nếu không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“.  Thực vậy, khi Bà làm những việc khinh bỉ Oâng, nghĩa là không tôn trọng NHÂN PHẨM, thì Bà hãy tự hỏi xem Bà có muốn Oâng đối xử như vậy với Bày hay không. Nếu không muốn Oâng khinh bỉ mình, thì Bà đừng khinh bỉ Oâng. Cũng vậy, khi Oâng Nông Đức Mạnh bắt Hòa Thượng Thích Quảng Độ không được phát biểu, không có NHÂN QUYỀN, thì chính Oâng Nông Đức Mạnh có hài lòng không nếu Hòa thượng Thích Quảng Độ dùng quyền cấm Oâng không được nói. Khi Oâng Phan Văn Khải quyết định một mình cho công việc chung như cấm nói về Tôn Giáo ngoài khuôn khổ Nhà Thờ mà không thèm để ý đến ý kiến của Hồng Y Phạm Minh Mẫn, thì Oâng Phan Văn Khải hãy tự nghĩ xem Oâng có hài lòng không nếu Hồng Y Phạm Minh Mẫn tự ý cấm không cho giảng dậy thuyết Cộng sản vô thần trong Chủng viện. Cả hai đều không hài lòng vì không cho phép quyết định theo DÂN CHỦ.

Tính cách nhân bản thuần lý và đơn giản của NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ có thể tự mình cảm thấy và suy diễn từ câu nói “Nếu không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“.     

Tóm lại cả ba điểm vừa trình bầy trong Đoạn này, chúng ta thấy rằng những điểm thuộc Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa có tính cách phổ quát của mọi chế độ lấy con người CÁ NHÂN làm mục đích cho mọi sinh hoạt Xã Hội. Nó thuộc bản chất của con người sống thực sự. Tổ chức Xã hội, Đường lối giải quyết những vấn đề sống chung, có thể thay đổi, nhưng bản chất của con người CÁ NHÂN là phổ quát. Giòng nước sông vẫn là giòng nước sông, NHÂN BẢN, còn những lằn sóng lăn tăn trên giòng nước, CHÍNH TRỊ Xã Hội, khi nhô lên khi lặn xuống, thay đổi theo từng lúc, từng trường hợp.


HÒA HỢP HÒA GIẢI ĐƯỜNG LỐI THỰC HIỆN

Giòng nước sông là triền miên. Thể chế Dân chủ đa nguyên/ Chế độ Việt Nam Cộng Hòa chọn cái Bản chất triền miên và phổ quát. Đó là mục đích nhằm tới mà thực hiện. Chúng tôi cũng nhắc lại điều viết ở phần đầu của bài về Lập trường của Đức Giêsu đối với Satan. Đức Giêsu trước đây, sau khi ăn chay 40 đêm ngày, thân người mệt lả vì đói. Quỷ Satan đưa đồ ăn để dụ Ngài thuần phục nó để có được đồ ăn. Ngài tuyên bố bản chất của Ngài là chỉ thờ phượng một mình Thiên chúa, chứ không thuần phục ma quỷ. Ngài đã mạnh mẽ đuổi Satan đi để giữ trọn vẹn bản chất của Ngài.

Đức Giêsu có 40 đêm ngày để chịu đói. Dân tộc Việt Nam đã phải chịu đói khát về NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ và LUẬT PHÁP đã bao chục năm trường. Mục đích của người Dân Việt là phải dành lại những điểm ấy đã được chọn là Bản chất.

Đối với vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp mà một số người đang coi là thời sự hiện nay, Lập trường của chúng tôi rõ rệt như sau: Không thể hòa hợp hòa giải về Bản chất mà chỉ thảo luận về đường lối thực hiện bản chất.


Không thể Hòa hợp Hòa giải về bản chất
 
Mặc dầu rất đói, nhưng Đức Giêsu thẳng thắn xua đuổi Satan đi vì Satan muốn Đức Giêsu thay đổi bản chất của Ngài chỉ thờ phượng một mình Thiên Chúa. Cũng vậy, NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ, LUẬT PHÁP là bản chất của chế độ mà chúng ta nhằm thực hiện, nên chúng ta không thể nhượng bộ với Cộng sản độc tài không tôn trọng NHÂN PHẨM, không cho phép NHÂN QUYỀN, không áp dụng DÂN CHỦ, không lấy LUẬT PHÁP làm trọng tài mà chỉ xử dụng SỨC MẠNH KHỦNG BỐ. Chế độ độc tài Cộng sản hiện hành ở Việt Nam chỉ là sự PHỦ NHẬN (Négation) của những giá trị NHÂN BẢN phổ quát mà chúng ta nhằm thực hiện. Hòa Hợp Hòa Giải về Bản chất tức là chúng ta đi theo Satan để phủ nhận chính bản chất của chúng ta. Thử hỏi khi Đức Giêsu chỉ thờ lậy một mình Thiên Chúa, nhưng vì đói quá, Ngài ưng thuận tôn thờ “chút xíu“ Satan, thì Nhân loại sẽ coi Ngài như thế nào. Khi Đức Giêsu dứt khoát xua đuổi Satan, ai dám nói rằng Ngài là cực đoan.


Đồng ý thảo luận về Đường lối thực hiện Bản chất

Giòng nước sông là bản chất và triền miên, những gợn sóng trên giòng nước sông khi nhô lên lúc ẩn xuống. Đó là những đường lối chính trị trên sự triền miên NHÂN BẢN và DÂN TỘC. Chúng ta sẵn sàng thảo luận về những đường lối thực hiện cho tốt đẹp những giá trị bản chất. Chúng ta sẵn sàng hòa hợp hòa giải những đường lối giải quyết những vấn đề xã hội, nhưng tất cả những đường lối ấy phải nhằm mục đích tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo đảm NHÂN QUYỀN, áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ và lấy LUẬT PHÁP do Dân quyết định làm trọng tài phân xử. Tất cả những điều nhằm thực hiện này đều quy vào đích điểm tối hậu là phục vụ CÁ NHẬN sống thực. Thực tiễn và cấp bách, chúng ta thảo luận với Cộng sản về hai điều: 1) Phải từ bỏ độc tài cai trị, nghĩa là không ai được dùng sức mạnh khủng bố Dân; 2) Phải có đa đảng.

Hòa hợp Hòa giải chỉ có thể tiếp tục khi hai điều này được tôn trọng cụ thể.

  
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



HÒA GIẢI HÒA HỢP:
Bài 6
HÒA HỢP HÒA GIẢI PHẢI CHĂNG
LÀ VIỆC CHIA NHAU QUYỀN CAI TRỊ


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 216/26.05.05 này nói về đề tài thứ năm:  Hòa Hợp Hòa Gỉai phải là việc chia nhau quyền cai trị. Giữ vững lấy bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ. Cái bản chất của một chế độ là điều khó nhân nhượng, nhưng đường lối thực hiện bản chất có thể thảo luận để cùng chọn lựa.
 
Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:

=> Có thể hợp tác ngay với kẻ thù
=> Đòan kết là là tình trạng kiện toàn nhất của Hòa giải Hòa hợp
=> Hòa hợp Hòa giải giả hiệu để chia phần bánh vẽ
=>  Hòa hợp Hòa giải không phải là điều khó khăn


CÓ THỂ HỢP TÁC NGAY VỚI KẺ THÙ

Đây là câu chuyện có thực của chính tôi. Làm trong phạm vi tài chánh, động chạm tới tiền bạc, tôi thường tuyên bố rằng tôi không tin ai cả, ngay cả không tin chính tôi. Nghe như vậy, có người lấy làm lạ và hỏi vặn lại. Tôi thường kể ra ít tỉ dụ như sau.

Buổi tối khi tôi ra ngoài, định uống ly bia, tôi bỏ vào túi mấy chục bạc tiền mặt và nhất định không mang cả ví tiền đi theo, nhất là trong đó lại có Credit Card. Đó là sự phòng bị để tránh tiêu pha bậy bạ. Khi ra khỏi nhà, dù tôi quyết tâm chỉ uống 2, 3 ly bia, nhưng rồi nhiều khi giữ lời quyết định đó không được, có nghĩa là tôi không tin tôi 100%. Thực vậy, mang trong túi, tiền mặt mấy chục, nếu có uống thêm hoặc mời bạn bè, hết mấy chục đó thì mò về nhà. Nhưng nếu mang theo ví tiền, nhất là có Credit Card, thì dễ dàng tiêu bao uống bậy, nhất là gặp mấy cô khích bác. Không thể tin ở sự quyết định của chính mình 100% khi đã ngà ngà mấy ly rồi.

Hai cô cậu thanh niên yêu nhau tha thiết. Cậu thề thốt có thể nhẩy xuống hồ tự tử vì cô. Cô cũng nói là nếu anh chết thì em cũng hết sống. Hai người hoàn toàn tin tưởng vào tình yêu của nhau, nên quyết định lấy nhau, nghĩa là suốt đời sống chung cho đến khi hai người rụng hết răng, phải ăn Pop Corn bằng lợi. Hai người ra nhà Làng để làm hôn thú thề hứa hoàn toàn tin tưởng nhau. Nhưng vừa ký xong hôn thú, thì hai người ký Giao kèo tách rời tiền bạc (Séparation des Biens). Như vậy về tiền bạc, thì không tin nhau được.

Tôi làm việc với một Bạn Tài chánh (Financial Partner), Oâng Panagiotis PAPADAKIS, người Hy Lạp. Người ta thường nói rằng, khi bắt tay với người Hy Lạp, thì sau đó phải đếm xem mình còn mấy ngón tay. Tôi đã đề phòng, nhưng vẫn còn hớ hênh. Tôi đã choảng nhau với Oâng ta ngay cả nói trên Ti-vi Thụy sĩ rằng Oâng là người có ý biển lận (Crook). Nhưng sau đó Oâng viết thư hỏi tôi xem tôi có còn HỢP TÁC với Oâng ta không. Tôi trả lời bằng văn thư cho Oâng với nguyên văn rằng:“If the Satan shows me how to go to Paradise, I cooperate with him (Nếu thằng quỷ Satan chỉ đường cho tôi lên Thiên đàng, thì tôi HỢP TÁC với nó)“

Những tỉ dụ trên có ý nghĩa rằng, ngay có cả trong vấn đề tiền bạc đầy những nghi kỵ lẫn nhau gần như thù địch, nhưng nếu hai người đặt Mục đích chung, thì hai kẻ thù cũng có thể HỢP TÁC đường lối để đạt mục đích. Mục đích giống nhau mới là quan trọng, còn đường lối đạt Mục đích có thể gia giảm, Hòa giải Hòa Hợp, dù giữa hai thù địch.


ĐOÀN KẾT LÀ TÌNH TRẠNG KIỆN TOÀN NHẤT
CỦA HÒA GIẢI HÒA HỢP

Nhiều Người viết trên các Diễn Đàn kêu gọi Đoàn Kết. Tôi thường nói rằng Đoàn Kết không cần phải kêu gọi, đó là sự tự động khi mà hai người hay hai Đoàn thể thấy Mục đích giống nhau.

Hãy lấy một tỉ dụ trước khi nói đến lời kêu gọi Đại Đoàn Kết của Cộng sản. Tỉ dụ vùng Hoa Thịnh Đốn có Hội Aùi Hữu Việt Kiều mà mục đích rõ rệt là tổ chức Tết, tổ chức Giỗ tổ Hùng Vương để đồng bào vui vẻ sống gặp gỡ nhau, chứ không nhằm sinh hoạt chính trị gì cả. Mọi người đều thuộc vào Hội ái Hữu. Nhưng khi làm công việc tổ chức chung ái