DIEN DAN CHINH TRI VIET NAMDau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx ****************************************Chủ đề 03 về CTDP*************************************** 2006
QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN LÀ CHÌA KHÓA CHO TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA
“Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình” (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982). (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)
NHIỆT LIỆT ỦNG HỘ VÀ PHỔ BIẾN BÁN NGUYỆT SAN "TỰ DO NGÔN LUẬN" Phát hành tại Quốc nội Tổng biên tập: Linh mục CHÂN TÍN Ban Biên tập: Lm.NGUYỄN VĂN LÝ, Lm.PHAN VĂN LỢI Web: http://tudongonluan.atspace.com
Tuyên Bố về Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận của người Dân Việt Nam
- Xét rằng : Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận là một Quyền rất cơ bản của mọi nền Dân chủ đích thực, nhưng hiện nay toàn Dân Việt Nam, trong thực tế, chưa hề được bày tỏ công khai quan điểm và chính kiến độc lập của mình và chưa hề có một cơ quan thông tin tư nhân nào được phép hoạt động cả ;
- Xét rằng : Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966 mà Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã xin gia nhập ngày 24.9.1982 đã qui định : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ” (điều 19,2)
- Xét rằng : Một số rất ít Nhà cầm quyền độc tài toàn trị còn rơi rớt lại trên trái đất, trong đó có Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, đều lạm dụng điều 19,3,b của Công ước nói trên : “Quyền ở điều 19,2 có thể bị hạn chế phần nào để bảo vệ an ninh quốc gia, hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng” hầu bóp chết quyền Tự do Thông tin Ngôn luận rất chính đáng của người Dân trong Nước họ, vì Các Nhà cầm quyền độc tài toàn trị ấy luôn ngụy biện đồng hóa “bảo vệ An ninh Quốc gia” chân chính với “bảo vệ an ninh” cho Chế độ của mình. Ai ai có lương tri đều hiểu An ninh Quốc gia được gia tăng chỉ khi toàn Dân được thông tin thông thoáng, tiếp cận tình hình thế giới, mở rộng tầm nhìn, nhận thức đầy đủ lành mạnh đúng đắn. Trái lại chính việc Nhà cầm quyền độc quyền bưng bít hoặc bịa chuyện để lừa gạt Dân mới là một trong các nguyên nhân tất yếu làm Tổ quốc suy tàn bi thảm, Dân tình tang thương biến loạn;
- Xét rằng : Sách Trắng do Bộ Ngoại giao Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam công bố ngày 18-8-2005 đã công khai tuyên truyền với Quốc tế : “Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người Dân tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet” (Chương II, mục I,2) ; Vậy thay mặt cho hàng triệu người Dân Việt Nam đang hằng giờ thao thức tìm đọc thông tin từ Internet cũng như từ các nguồn thông tin khác, chúng tôi đồng thanh tuyên bố :
1/- Chúng tôi có Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận, có quyền tiếp cận các nguồn thông tin từ mọi phía.
2/- Yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tạo ngay các điều kiện cần thiết để chúng tôi được công khai sử dụng và khai thác các nguồn thông tin hữu ích của Nhân loại như Sách Trắng chính Bộ Ngoại giao VN công bố ngày 18-8-2005, chứ không phải bị trói buộc bởi các quy định phi lý và vô nguyên tắc như hiện nay.
3/- Yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thả ngay các tù nhân Thông tin ngôn luận Nguyễn Vũ Bình và Phạm Hồng Sơn, đồng thời chấm dứt vĩnh viễn các hành động bắt bớ, trấn áp, sách nhiễu người Dân như đã bắt giam 2 ông Văn Sáu và Hoàng Trọng Châu ở Phước Long chỉ vì họ đòi được hưởng quyền thu thập và truyền bá thông tin lành mạnh. Vì việc bắt bớ giam cầm họ chỉ là một cách tự thú nhận trước Cộng đồng Quốc tế rằng Nghị quyết 1481 của Nghị viện Hội đồng Châu Âu ngày 25-01-2006 lên án Chủ nghĩa và Chế độ Cộng sản đã tàn phá Nhân loại nặng nề như Chủ nghĩa Đức Quốc xã là hoàn toàn xác thực.
4/- Yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam sửa đổi ngay luật Báo chí, công khai tuyên bố tạo điều kiện dễ dàng cho báo chí tư nhân được tự do xuất bản ở Việt Nam. Tuyên bố tại thành phố Huế, ngày 23-02-2006 Thay mặt nguyện vọng hưởng Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận của người Dân Việt Nam
Linh mục Têphanô Chân Tín, Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi
Trước khi hành xử quyền Tự do Ngôn luận và Thông tin cho người khác, thì cái quyền tối sơ nhất là Quyền được biết những gì xây ra chung quanh mình (DROIT DE SAVOIR/ RIGHT TO KNOW).
CSVN đàn áp ngay cái quyền được biết (Droit de Savoir/ Right to Know) tỉ dụ như khi cấm đoán và bắt giữ hai người Dân mới đây ở Bình Long. CSVN biến con người thành MÙ, thành ĐIẾC, thành CÂM, thành TỊT MŨI , thành mất XÚC GIÁC không còn BIẾT ĐƯỢC (Savoir/ to Know) những gì xẩy ra chung quang mình.
Con người còn kém hơn súc vật, mà trở thành đất đá VÔ TRI ( Sans DROIT DE SAVOIR/ Without RIGHT TO KNOW)
Trân trọng, NGUYEN PHUC LIEN
PHONG TRÀO DÂN CHỦ VIỆT NAM LỜI KÊU GỌI CHO QUYỀN CÔNG NHÂN
Hỡi các Công nhân toàn Đất nước, Hãy liên kết đòi hỏi Công bằng và Lẽ phải !
Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước, Kính thưa toàn thể Quý vị yêu chuộng Nhân quyền khắp năm châu,
Chúng tôi, đại diện một số nhà đấu tranh cho Dân chủ Nhân quyền tại Việt Nam, xét rằng :
1- Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, điều 56 đã ghi : “Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương.” Và điều 10 đã ghi : “Công đoàn là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động… chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác.”
2- Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được biểu quyết ngày 16-12-1966 và Việt Nam xin gia nhập ngày 24-9-1982, điều 7 đã ghi : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt bảo đảm : (a) trả thù lao cho tất cả mọi Công nhân ít nhất với : (i) tiền lương thỏa đáng và thù lao bằng nhau cho những công việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào… (ii) một cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ…; (b) những điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh ; (c) cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt…; (d) sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ.” Điều 8 Công ước cũng đã ghi : “Các Quốc gia thành viên của Công ước cam kết bảo đảm : (a) quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình…; (b) quyền của các Tổ chức Công đoàn được thành lập các Liên hiệp Công đoàn Quốc gia và quyền của các Liên hiệp Công đoàn được thành lập hay gia nhập các Tổ chức Công đoàn Quốc tế ; (c) quyền của các Công đoàn được tự do hoạt động, không hề bị một sự hạn chế nào ngoài những hạn chế do Luật pháp quy định và cần thiết đối với xã hội dân chủ vì lợi ích của an ninh quốc gia và trật tự công cộng…; (d) quyền đình công với điều kiện là quyền này phải được thực hiện phù hợp với Luật pháp của mỗi Nước”.
3- Giáo huấn của Giáo hội Công giáo qua Công đồng chung Vaticanô II, trong Hiến chế Mục vụ ngày 07-12-1965, đã xác định : “Trong những hoàn cảnh cụ thể, chính xã hội có bổn phận góp phần giúp người Công dân có thể tìm được công ăn việc làm. …Việc làm cần phải được trả lương sao cho Con Người có đủ khả năng xây dựng cho mình và gia đình một đời sống xứng hợp cả về phương diện vật chất, xã hội, văn hóa cũng như tinh thần. Hoạt động kinh tế thường là kết quả của việc hợp tác giữa nhiều người. Do đó, nếu tổ chức và điều hành hoạt động này làm thiệt hại cho bất cứ lớp Công nhân nào thì đều là bất công và vô nhân đạo. Ngay cả ngày nay, điều thường xảy ra là Công nhân trở thành nô lệ cho chính việc làm của mình. Điều ấy không thể được biện minh bằng bất cứ luật kinh tế nào” (số 67). “Giữa những quyền lợi căn bản của Con Người, đối với Công nhân, cần phải kể đến quyền được tự do lập những Hiệp hội để có thể thực sự đại diện cho họ và góp phần vào việc tổ chức đời sống kinh tế một cách tốt đẹp. Ngoài ra, cũng cần phải kể đến quyền tự do tham gia vào hoạt động của những Hiệp hội này mà không sợ bị trả thù” (số 68).
4- Từ cuối năm 2005 đến nay, hàng mấy chục cuộc biểu tình đình công đồng loạt của hơn trăm ngàn Công nhân trong các công ty xí nghiệp ngoại quốc lẫn quốc doanh khắp cả Đất nước để đòi tiền lương thỏa đáng, đòi cải thiện chế độ làm việc và nghỉ ngơi, đòi bảo hiểm xã hội đầy đủ, đòi được chủ nhân tôn trọng nhân phẩm, đòi sửa đổi luật lao động, đặc biệt đòi quyền thành lập Công đoàn Tự do… và đối lại là những phương cách giải quyết hoàn toàn không thỏa đáng, rất bất công của Nhà cầm quyền..., tất cả đã vẽ ra một bức tranh u ám và thê thảm về tình trạng giới Công nhân tại Việt Nam (bức tranh này được thể hiện cách sinh động trong thư đơn “Nỗi niềm Khóc hận Thương tâm của tầng lớp Công nhân lao động nhập cư nghèo từ các tỉnh về thành phố” do 11 Công nhân nam nữ rất dũng cảm đã đưa lên mạng thông tin toàn cầu ngày 18-2-2006). Thứ đến, các sự kiện ấy cho toàn thể thế giới thấy rằng đảng Cộng sản Việt Nam, vốn luôn vỗ ngực tự xưng là “đội tiên phong của giai cấp Công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp Công nhân, Nhân dân lao động” (Hiến pháp điều 4) đang hoàn toàn đi ngược với những gì đã được nói bô bô trên môi miệng các nhà lãnh đạo, đã được viết ra trang trọng trong Hiến pháp và đã được cam kết tuân giữ trong Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nói trên, khi họ thay vì bênh vực Công nhân Đồng bào mình, thì lại đứng về phía giới chủ tư bản nước ngoài để khống chế mức lương và điều kiện làm việc của Công nhân Việt xuống đến mức không thể chấp nhận được. Điều này đang và sẽ gây ra tai họa khôn lường ngày càng nặng nề cho Đất nước và Dân tộc.
Đứng trước thực trạng bùng nổ bi thảm đó, toàn thể chúng tôi :
1- Chân thành biểu dương ý thức sắc bén về Nhân quyền, tinh thần đoàn kết, dũng cảm và kiên trì của Anh Chị Em Công nhân, lần đầu tiên trong chế độ cộng sản độc tài Việt Nam, đã biết cùng nhau đứng lên đấu tranh không những với những chủ tư bản bóc lột mà còn với một Nhà cầm quyền toàn trị đàn áp, để đòi hỏi mọi Quyền lợi chính đáng cho mình và từ đó đòi hỏi Công lý cho toàn Dân. Chúng tôi đặc biệt cảm phục và hoàn toàn ủng hộ 11 Anh Chị Em Công nhân đã viết ra bức Tâm thư với 8 yêu sách rất chính đáng ngày 18-2-2006 vừa qua.
2- Cương quyết đòi hỏi Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải mau chóng sửa đổi luật lao động cho phù hợp với tiêu chuẩn văn minh và nhân quyền quốc tế ; tạo điều kiện để các Công nhân tự thành lập các Công đoàn có khả năng bênh vực quyền lợi chính đáng của mình thay cho Công đoàn công cụ tay sai tai mắt do chính Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã dựng lên ; trả lương tối thiểu cho Công nhân trong và ngoài công ty xí nghiệp quốc doanh đồng đều nhau và ngang mức lương tối thiểu của khu vực ; cải thiện điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, ăn ở, y tế, hưởng thụ văn hóa của Công nhân ; và phải cung cấp thông tin đầy đủ đồng thời trả tự do lập tức và vô điều kiện cho gần 100 Công nhân đình công đang bị giam giữ bí mật theo như phát hiện của báo chí quốc tế.
3- Cương quyết đòi hỏi Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không được dùng bạo lực để đàn áp các cuộc đình công, không được sửa đổi luật lao động theo chiều hướng nhằm hoàn toàn qui kết các cuộc đình công chính đáng là vi phạm pháp luật, không nên hạ mình xin lỗi hay uốn lưỡi lấy lòng các chủ tư bản ngoại quốc mà trái lại phải xin lỗi và đền bù cho các Công nhân Việt Nam do đã bóc lột họ quá nặng nề và đã đẩy gia đình họ đến chỗ điêu đứng. Thử hỏi khi lãnh đạm trước nỗi khổ nhục của chính Công nhân Đồng bào lao động để làm vừa lòng giới tư bản ngoại quốc như vậy thì Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam còn xứng đáng là một Nhà Nước vì Dân và cho Dân nữa không ?
4- Cương quyết đòi hỏi Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chính sách “xuất khẩu lao động” mà bao năm qua đã liên tục xúc phạm nặng nề Nhân phẩm của chính Công dân mình vì đã coi họ chỉ như một mặt hàng xuất khẩu, gây ra thảm nạn Công nhân đi lao động nước ngoài đã và đang bị bóc lột bởi các công ty môi giới quốc nội và các công ty tuyển dụng ngoại quốc, bị đẩy vào kiếp nô lệ lao công hay nô lệ tình dục hết sức thê thảm ở xứ người, bị các Tòa Đại sứ và Lãnh sự Việt Nam bỏ mặc hay hăm dọa. Đây là một nỗi ô nhục lớn lao cho Đất nước, một nỗi đớn đau xé lòng của toàn thể Dân tộc hôm nay.
5- Kêu gọi giới trí thức và giới tu hành (đặc biệt hàng lãnh đạo) hãy kịp thời và can đảm lên tiếng bênh vực công khai và hiệu quả các Anh Chị Em Công nhân thấp cổ bé miệng, thay vì dửng dưng vô cảm, hoặc cùng lắm chỉ lẳng lặng xót xa cho họ, hoặc chỉ bí mật van xin cường quyền nương tay hay chỉ âm thầm giúp đỡ một vài Công nhân riêng lẻ. Tiếng nói của các thế lực tinh thần sẽ góp phần rất lớn vào việc giải cứu giới công nhân Việt Nam khỏi thảm trạng bị bóc lột vào loại tồi tệ nhất thế giới hiện nay, chuyển đổi chế độ độc tài vốn luôn rêu rao bênh vực quyền lợi của Nhân dân, đặc biệt Nhân dân lao động, nhưng thực tế thì hoàn toàn trái ngược như thảm trạng giới lao động Việt Nam hiện nay đang minh chứng quá rõ ràng. Ước gì giới trí thức và giới tu hành luôn ý thức rằng chính nhờ Anh Chị Em Công nhân đang lao động vất vả kiệt lực đêm ngày cho bao người được thảnh thơi, nghiên cứu, tu hành, hoặc du lịch, thư giãn !
6- Kêu gọi Anh Em Quân nhân Binh sĩ và Công an Cảnh sát hãy vì lương tâm và tình tự Dân tộc mà đứng về phía Nhân dân, bênh vực Đồng bào lao động đang bị cường quyền bóc lột đàn áp, chứ đừng tiếp tục trở thành công cụ bạo lực trong tay đảng và nhà cầm quyền Cộng sản như hơn nửa thế kỷ qua.
7- Kêu gọi Đồng bào Hải ngoại tiếp tục lưu tâm đến hoàn cảnh bi đát của công nhân Việt Nam hiện nay, thành lập Quỹ Hỗ trợ Đình công giúp người lao động trong Nước (theo sáng kiến của nhóm Việt kiều Tây Úc), Quỹ Hỗ trợ Pháp lý giúp người lao động ở nước ngoài (theo sáng kiến của nhóm VietAct tại Đài Loan), vận động các Chính phủ và các Tổ chức Quốc tế, đặc biệt các tổ chức Công đoàn, để họ nêu việc tôn trọng quyền Công nhân cách minh bạch như một trong các điều kiện đòi buộc Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải đáp ứng khi xin gia nhập hoặc liên kết với các Cơ quan Quốc tế, cụ thể lúc này là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đó là một trong những phương cách hữu hiệu và nhanh chóng để đưa chế độ Cộng sản vô nhân bản, phản nhân quyền, phi dân chủ này đi vào quá khứ.
Chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả Quý Vị. Nguyện xin Tạo Hóa, Đấng đã trao trái đất cho bàn tay và khối óc loài người để xây dựng hành tinh nầy thành một thế giới đầy an bình và tình thương, ban nhiều sức mạnh đấu tranh cho toàn thể Công nhân Việt Nam và soi dẫn sáng kiến lẫn thúc đẩy nhiệt tình cho chúng ta để hỗ trợ họ.
Kêu gọi từ Việt Nam ngày 19-03-2006,
Thay mặt một số nhà đấu tranh cho Dân chủ Nhân quyền tại Việt Nam :
1. Linh mục G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 2. Đạo trưởng Lê Quang Liêm, Sài Gòn 3. Linh mục Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 4. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội 5. Linh mục Augustinô Hồ Văn Quý, Huế 6. Gs Trần Khuê, Sài Gòn 7. Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hội, Huế 8. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội 9. Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế 10. Mục sư Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn 11. Linh mục Giuse Hoàng Cẩn, Huế 12. Tu sĩ Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp 13. Linh mục G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 14. Tu sĩ Lê Văn Sách, Vĩnh Long 15. Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 16. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 17. Linh mục Đa Minh Phan Phước, Huế 18. Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội 19. Linh mục Giuse Trần Văn Quý, Huế 20. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn 21. Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Huế 22. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn
LỜI KÊU GỌI CHO QUYỀN LẬP HỘI
Lời Kêu Gọi cho Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng phái tại Việt Nam năm 2006 của 116 Nhà đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam
Kính thưa Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước, Kính thưa Quý liệt vị đang mong ước Dân chủ cho Việt Nam trên toàn cầu,
Cùng với bao người đang quên mình đấu tranh cho nền Dân chủ của Quê hương, chúng tôi, đại diện hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ cho Việt Nam ở quốc nội ký tên dưới đây, đồng thanh lên tiếng thay cho toàn thể người Việt trong và ngoài Nước rằng : Vận mệnh Tổ quốc đã, đang và sẽ lâm nguy do một tập đoàn độc quyền toàn trị là đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếng nói của chúng tôi vang lên đây nhằm mục đích cổ vũ các hoạt động chính trị vì ích quốc lợi dân, bênh vực mọi Nhân quyền và Dân quyền mà một Đất nước Dân chủ chân chính phải thực sự chủ trương và bảo vệ, trong đó có Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng phái, căn cứ trên các nền tảng dưới đây :
1- Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966 và Việt Nam tham gia ngày 24-9-1982, điều 5,2 : “Không được phép hạn chế hoặc hủy bỏ bất kỳ Quyền Cơ bản nào của con người đã được công nhận hoặc hiện tồn ở một Quốc gia thành viên của Công ước này”; điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn ; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. 2- Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều 3 : “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân”; điều 11 : “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình… bằng cách tham gia công việc của Nhà nước… bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công dân… tổ chức đời sống công cộng”; điều 50 : “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng”; điều 53 : “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và Xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả Nước và địa phương”; điều 69 : “Công dân có Quyền Tự do Ngôn luận… có Quyền Hội họp, Lập hội, Biểu tình…”
3- Hiến chế Mục vụ của Công đồng chung Vaticanô II của Giáo hội Công giáo hoàn cầu năm 1965, số 73 : “Nhờ ý thức mãnh liệt hơn về phẩm giá con người, ngày nay tại nhiều Nước trên thế giới, người ta cố gắng thiết lập một thể chế chính trị pháp lý để bảo vệ hữu hiệu hơn quyền lợi của cá nhân trong đời sống công cộng, chẳng hạn quyền được tự do hội họp, tự do lập hội, tự do phát biểu ý kiến và tự do tuyên xưng tín ngưỡng cách riêng tư hoặc công khai ; vì việc đảm bảo những quyền lợi của con người là điều kiện thiết yếu để người Công dân, với tư cách cá nhân hay đoàn thể, có thể tham gia cách tích cực vào đời sống và vào guồng máy quốc gia… Trái lại người ta lên án bất cứ thể chế chính trị nào, như hiện có ở một vài Nước, nếu nó ngăn cản quyền tự do công dân hoặc tín ngưỡng, nếu nó làm gia tăng con số các nạn nhân của tham lam và của tội ác chính trị, nếu nó làm cho việc cai trị đi lệch đường, thay vì mưu cầu công ích lại phục vụ cho một tập đoàn hay chính những người cầm quyền”; số 75 : “Tất cả mọi Kitô hữu phải ý thức về sứ mệnh đặc biệt của mình trong cộng đoàn chính trị… Trong việc tổ chức trần thế, họ phải nhìn nhận những quan điểm chính đáng dầu đối chọi nhau… Họ phải chống lại bất công và áp bức, chống độc tài và ngoan cố của một cá nhân hay một đảng phái chính trị… (bởi lẽ) những đảng phái chính trị có bổn phận cổ võ những gì họ xét thấy cần cho công ích, chứ không bao giờ được đặt quyền lợi riêng trên công ích.”
4- Thực tế chung trên toàn cầu : Tuyệt đại đa số các Quốc gia đều có một nền chính trị đa nguyên đa đảng, một bầu khí cạnh tranh chính trị công khai lành mạnh qua bầu cử và sinh hoạt chính trị dân chủ bình đẳng trong nghị trường. Đảng thắng cử lên cầm quyền và đảng thất cử trở thành đối lập, hai bên giám sát lẫn nhau và như thế tương trợ nhau, đang khi lập pháp, tư pháp, hành pháp, rồi báo chí, quân đội, tôn giáo đều hoạt động độc lập, tất cả chỉ vì ích lợi Nước nhà. Mọi Công dân có tài năng và thiện chí tại các Nước đó đều có cơ hội phục vụ công ích và xây dựng Quốc gia qua các chính đảng. Nhờ thế mà các Nước ấy nói chung đều phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo đảm các nhân quyền ; mọi cá nhân đều có cơ hội thăng tiến, mọi cộng đoàn đều có điều kiện triển nở và mọi vấn đề xã hội đều nhanh chóng tìm ra được cách giải quyết. Tuy chưa hoàn hảo, nhưng các xã hội đa nguyên đa đảng ấy đã bao hàm các khả năng cần thiết để sửa sai, đổi mới và hoàn thiện.
5- Thực tế riêng tại Việt Nam : Đảng Cộng sản là đảng độc quyền duy nhất từ hơn nửa thế kỷ qua tại miền Bắc và hơn 30 năm trên cả Nước. Tuy chỉ là một chính đảng nhưng vì hoàn toàn dựa trên học thuyết Mác-Lênin nên đảng Cộng sản chủ trương toàn trị, nghĩa là độc tài thống trị mọi mặt của đời sống cá nhân lẫn cộng đồng, từ ý thức, tâm linh, tư tưởng, tình cảm đến kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật... Học thuyết Mác-Lênin lại chủ trương vô thần trên phương diện triết lý, độc đảng trên phương diện chính trị và xã hội chủ nghĩa trên phương diện kinh tế như một chân lý vĩnh viễn bất khả nhượng, trói buộc mọi Công dân.
Thành ra đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đầu độc lương tri và cưỡng bức lương tâm con người, nhào nặn Nhân dân thành những thần dân hoàn toàn quy phục đảng qua việc độc quyền thông tin và giáo dục ; đã tiêu diệt các đảng phái quốc gia khác từng sát cánh kháng cự thực dân và đang cấm cản các đảng phái chính trị khác bằng điều 4 Hiến pháp năm 1992 ; đã và đang bách hại các tôn giáo, biến tòa án, quốc hội, chính quyền, báo chí, công an, quân đội, thậm chí các giáo hội thành công cụ cho riêng mình ; đã và đang đặt mọi luật lệ từ Hiến pháp đến các bộ luật, pháp lệnh, nghị quyết, thông tư… dưới ý muốn độc đoán của đảng, của bộ chính trị, thậm chí của vài nhân vật quyền uy nhất trong đảng ; đã và đang quản lý điều hành một nền kinh tế tư bản gian trá và khập khiễng vì mê muội, ngoan cố, gượng ép kéo theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” tai quái và không tưởng.
Bởi thế, hiện trạng Việt Nam là sự hư hỏng lương tâm, tồi tệ nhân cách, bế tắc giáo dục, gian dối thông tin, tùy tiện luật pháp, hỗn loạn xã hội ; là cán bộ đảng viên lộng quyền và tham nhũng tràn lan và ngang nhiên ; là Nhân dân bị bóc lột tài sản và công sức, bị hăm dọa cuộc sống và nghề nghiệp ; là dân tình điêu đứng và phẫn uất ; là giới trẻ mất niềm tin, lý tưởng sống và định hướng tương lai ; là các tôn giáo bị lũng đoạn và tước đoạt ; là đồng bào hải ngoại ngao ngán và bất hợp tác ; là biên cương Tổ quốc bị ngoại bang lấn chiếm và đe dọa ; là chính thể bị phê phán lạc hậu, độc tài và Quốc thể bị coi thường ; là Đất nước thụt lùi tụt hậu thậm chí tới cả trăm năm so với nhiều Nước trong khu vực. Các bảng xếp hạng mọi mặt trong đó Việt Nam luôn đứng bậc thấp và các bản báo cáo tình hình trong đó Việt Nam luôn bị điểm mặt do các Chính phủ và Tổ chức Quốc tế công bố hằng năm là những bằng chứng. Mọi biện pháp do đảng Cộng sản đưa ra đều mang tính chắp vá, nửa vời, nhằm xoa dịu Nhân dân và che mắt Quốc tế, chẳng hề giải quyết được chuyện gì. Tất cả chỉ vì độc đảng, mà lại độc đảng Mác xít cộng sản ! Đứng trước thảm trạng và nguy cơ đó, cũng như trước viễn ảnh đại hội X của đảng Cộng sản Việt Nam sẽ mù quáng kiên trì học thuyết Mác-Lênin sai lầm và chế độ xã hội chủ nghĩa phá sản, đồng thời cho đảng viên chức quyền được làm kinh tế không giới hạn quy mô, chúng tôi tha thiết và đồng thanh lên tiếng :
1- Đòi buộc đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam trước hết phải lập tức hủy bỏ điều 4 Hiến pháp năm 1992, một điều khoản tai quái, ngang ngược không hề có trong một bản Hiến pháp nào trên thế giới, ngoại trừ Hiến pháp Liên xô (điều 6) vốn đã bị nhân dân Nga vất vào sọt rác lịch sử, tiến đến việc thay thế bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa năm 1992 bằng một Bản Hiến pháp khác văn minh dân chủ hơn. Thứ đến phải phi đảng hóa quốc hội, tòa án, nhà nước, quân đội, công an, trường học, bệnh viện, công ty, xí nghiệp, hội đoàn,…
2- Kính mời các Đảng phái Dân chủ đang hoạt động âm thầm tại Quê hương hãy can đảm xuất hiện hoạt động công khai ; hãy hiên ngang tự xác lập vị trí của mình trước Quốc Dân, không cần đợi Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam độc đoán lạm quyền “cho phép”, vì chẳng một đảng nào được lạm quyền ban phép cho đảng khác hoạt động cả ; hãy kiên cường cạnh tranh bình đẳng với đảng Cộng sản, không chấp nhận tỷ lệ dưới 50% trong Quốc hội mà đảng CS có thể sẽ thí ban cho để chỉ làm bù nhìn trang trí cho một nền dân chủ giả hiệu mà thôi, vì chính toàn Dân sẽ quyết định tỷ lệ này qua một cuộc bầu cử và ứng cử tự do, công bằng, minh bạch. Hiện nay hàng trăm cá nhân đã minh danh trực diện đấu tranh cho Dân chủ với nhà cầm quyền cộng sản nguyên chỉ bằng các phương cách ôn hòa ; và nhà cầm quyền cộng sản đã tỏ ra rất lúng túng bế tắc không sao tìm ra cách đối phó hợp tình hợp lý giữa cộng đồng quốc tế. Vì thế lúc nầy chính là lúc hoàn toàn thích hợp, nếu không sẽ quá muộn, để Quý Đảng phái Dân chủ cùng nhau công khai trực diện đấu tranh với đảng cộng sản đang càng lúc càng lún sâu vào khủng hoảng không lối thoát.
3- Kính mời các đảng viên cộng sản phản tỉnh hãy hành động quyết liệt là tách rời ngay lập tức thực thể chính trị đã phản bội lý tưởng của mình, đã lợi dụng công sức xương máu của mình, đã gần một thế kỷ không chỉ mắc phải sai lầm khiếm khuyết mà là đã phạm tội ác có hệ thống và tổ chức, như Nghị quyết 1481 của Nghị viện Hội đồng Âu châu lên án ngày 25-01-2006 vừa rồi. Đó là cách thức duy nhất và tốt nhất để Quý vị tiếp tục con đường yêu Nước, phục vụ Đồng bào, lấy lại thanh danh của mình trước Nhân dân và lịch sử.
4- Kính mời Đồng bào toàn quốc hãy bảo vệ, hỗ trợ và gia nhập các đảng tân lập phi cộng sản. Làm thế là chúng ta tự giải thoát mình khỏi ách độc tài đã đè đầu đè cổ Dân ta từ hơn 60 năm qua, là thực thi các quyền dân sự và chính trị cơ bản của mình hầu tạo điều kiện cho Đất nước phát triển như mọi Nước có nền chính trị đa nguyên, đa đảng.
5- Yêu cầu 2 lực lượng Quân đội và Công an cảnh sát hãy ý thức rằng tự bản chất mình là 2 thực thể phục vụ Nhân dân và công ích, luôn đứng bên ngoài mọi tranh chấp đảng phái, chứ không phải là công cụ của riêng đảng Cộng sản, để đảng tiếp tục sai khiến mà đàn áp Nhân dân đang đòi thực thi quyền đa nguyên chính trị và các quyền chính đáng khác đi kèm.
6- Kính xin các nhà trí thức và các bậc tu hành vốn hiểu hơn ai hết về tai họa của độc đảng độc tài và thiện ích của đa nguyên dân chủ, hãy “hết sức quan tâm đến việc giáo dục cả về công dân cả về chính trị mà ngày nay rất cần thiết cho mọi người, nhất là cho giới trẻ”, hãy dùng quyền lực và khả năng tinh thần của mình để hướng dẫn, hỗ trợ, bênh vực những Công dân dấn thân làm “chính trị, một nghệ thuật khó khăn nhưng đồng thời rất cao cả” (Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ, số 75).
7- Kính xin Đồng bào hải ngoại và các Chính phủ, Tổ chức Quốc tế hãy hỗ trợ bằng mọi cách thức, phương tiện để các đảng tại Việt Nam được thành hình và hoạt động, hầu Nhân dân Việt Nam cũng được hưởng bầu khí tự do chính trị như ở những miền đất dân chủ của Quý vị. Điều này quan trọng và cần thiết hơn việc đổ tiền của qua kiều hối và ngoại viện cho một chính quyền độc đảng vốn sẽ tuỳ tiện sử dụng những ngân khoản này hầu duy trì quyền lực, gia tăng quyền lợi và để lại những món nợ quốc tế ngày càng đè nặng lên Nhân dân Việt Nam như hiện trạng cho thấy.
Chúng tôi nguyện xin Ơn Trên, qua lời chuyển cầu của các Bậc Tiền nhân vốn từng dạy dỗ con cháu Lạc Hồng tinh thần bao dung hòa hợp, chúc lành cho toàn thể Dân Việt trong công cuộc bẻ gãy ách độc đảng độc tài và xây dựng nền chính trị đa đảng đa nguyên là giải pháp cứu nguy Dân tộc duy nhất thích hợp hiện nay.
Kêu gọi từ Việt Nam ngày 06-4-2006
1. Lm G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 2. Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, Sài Gòn 3. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 4. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội 5. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế 6. Gs Trần Khuê, Sài Gòn 7. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế 8. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội 9. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế 10. Cư sĩ PGHHTT Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp 11. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế 12. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long 13. TT Thích Không Tánh, Sài Gòn 14. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 15. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế 16. Cựu Sĩ quan Trần Dũng Tiến, Hà Nội 17. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 18. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội 19. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 20. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội 21. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế 22. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn 23. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn 24. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 25. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn 26. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn 27. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế 28. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội 29. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế 30. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn 31. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế 32. Vũ Thuý Hà, Hà Nội 33. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế 34. Bùi Kim Ngân, Hà Nội 35. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế 36. Bs Nguyễn Xuân An, Huế 37. Gv Đặng Hoài Anh, Huế 38. Gv Đặng Văn Anh, Huế 39. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang 40. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế 41. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng 42. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu 43. Gv Trần Thị Minh Cầm, Huế 44. Gv Lê Cẩn, Huế 45. Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ 46. Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi 47. Ths Đặng Quốc Cường, Huế 48. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết 49. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng 50. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi 51. Gv Hồ Anh Dũng, Huế 52. Gs Trương Quang Dũng, Huế 53. Bs Hà Xuân Dương, Huế 54. Kt Trần Văn Đón, Phan Thiết 55. Bs. Hồ Đông, Vĩnh Long 56. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng 57. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ 58. Bs Lê Thị Ngân Hà, Huế 59. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế 60. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng 61. Kt Trần Việt Hải, Vũng Tàu 62. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu 63. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng 64. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế 65. Gv Lê Lệ Hằng, Huế 66. Gs Đặng Minh Hảo, Huế 67. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu 68. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang 69. Gv Văn Đình Hoàng, Huế 70. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế 71. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn 72. Gv Phan Ngọc Huy, Huế 73. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế 74. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế 75. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng 76. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng 77. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế 78. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế 79. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế 80. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết 81. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn 82. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng 83. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng 84. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng 85. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế 86. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn 87. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn 88. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ 89. Gv Phan Văn Mậu, Huế 90. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ 91. Gv Ma Văn Minh, Huế 92. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn 93. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng 94. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế 95. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng 96. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn 97. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ 98. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long 99. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang 100. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng 101. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng 102. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng 103. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ 104. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế 105. Gv Văn Bá Thành, Huế 106. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng 107. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn 108. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết 109. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế 110. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng 111. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn 112. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang 113. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi 114. G/v Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ 115. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng 116. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn ?
TUYÊN NGÔN TỰ DO DÂN CHỦ
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 của 118 Nhà Đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam
Việt Nam, 8 - 4 - 2006
Kính gửi Đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài Nước,
Chúng tôi, ký tên dưới đây, đại diện cho hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ ở quốc nội và tất cả mọi người Dân nào đang khao khát một nền Dân chủ chân chính cho Quê hương Việt Nam hôm nay, đồng thanh lên tiếng :
I. Thực trạng của Việt Nam
1- Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945 chẳng nhắc đến một từ nào về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản cả. Hai nguyên nhân chính làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng ấy là Khát vọng Độc lập Dân tộc và Khoảng trống quyền lực lúc bấy giờ ở Việt Nam (quân Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh ngày 15-8-1945 và thực dân Pháp đã bị quân Nhật đảo chính cướp quyền từ ngày 9-3-1945).
Rõ ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị đảng Cộng sản Việt Nam đánh tráo. Và dĩ nhiên, Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu. Đã có ít nhất 2 cơ hội lịch sử rất thuận lợi là năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước, để Dân tộc khẳng định Quyền tự quyết của mình. Nhưng tất cả đều đã bị đảng Cộng sản Việt Nam tráo trở không thực hiện. Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là : bạo lực và khủng bố trấn áp !
2- Tiếp đến, ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập nam 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : mọi Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nam 1791 cũng nói : "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…”. (trích Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945).
Thế nhưng, tất cả những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên.
3- Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin”. Và trong Điều Lệ, phần Mục Đích và Tôn Chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Angghen - Lênin - Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…”.
Kể từ đó, nhất là ở miền Bắc sau năm 1954, rồi cả nước sau ngày 30-4-1975 thì bóng ma của chủ nghĩa cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.
II. Qui luật phổ biến toàn cầu
1- Lịch sử đã minh định rằng mọi quyền tự do, dân chủ ở bất cứ một chế độ độc đảng toàn trị nào, dù cộng sản hay không cộng sản, cũng đều bị chà đạp không thương tiếc, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Bất hạnh thay là cho đến nay, Dân tộc Việt Nam vẫn thuộc về một trong số ít các Quốc gia trên thế giới còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, rằng : “Đảng cộng sản Việt Nam... theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu, may ra chỉ còn vài mẩu vụn mà thôi !
2- Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử thì toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa. Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước ! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ.
3- Chúng ta đều hiểu rằng : không ai có thể sửa được lịch sử, nhưng có thể bẻ chiều lịch sử. Và điều quan trọng hơn là qua những bài học của lịch sử, định hướng tốt cho tương lai. Con đường hôm qua của Dân tộc ta đã bị những người Cộng sản Việt Nam chọn một cách vội vàng, thiếu chín chắn và áp đặt cho cả Dân tộc một cách khiên cưỡng. Con đường ấy thực tế đã chứng minh là hoàn toàn sai lạc. Vì vậy Dân tộc ta hôm nay phải chọn lại con đường cho mình. Và chắc chắn cả Dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hay một nhóm người nào đó. Đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận của Dân tộc, nên không thể mạo danh Dân tộc để chọn thay ! Trước Dân tộc và lịch sử suốt hơn nửa thế kỷ qua (1954–2006), Đảng cầm quyền ấy đã tiếm danh chứ không chính danh chút nào! Bởi lẽ các cuộc bầu cử thực sự tự do hoàn toàn vắng bóng ở Việt Nam.
Từ thực trạng và qui luật trên đây, với ý thức trách nhiệm của Công dân trước vận mệnh Đất nước, chúng tôi xin được phép giãi bày cùng toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước :
III. Mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa cuộc đấu tranh
1- Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu. Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn Dân sau đây :
- Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2 : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình”. Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền.
- Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn”; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính.
- Quyền Tự do hoạt động Công đoàn độc lập và Quyền Đình công chính đáng theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966, điều 7 và 8 : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…, quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình… (với) quyền đình công…”. Các công đoàn này phải là những tổ chức duy nhất hoạt động độc lập, không có những loại Công đoàn tay sai của nhà cầm quyền.
- Quyền Tự do Tôn giáo theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 18 : “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ Tín ngưỡng hoặc Tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền đạo”. Các Tôn giáo này phải hoạt động độc lập, chứ không thể bị biến thành công cụ cho nhà cầm quyền.
2- Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Và chính Dân tộc Việt Nam chủ động thực hiện cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, chúng ta rất cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả của tất cả những bạn bè trên thế giới. Thông qua những phương tiện thông tin hiện đại và qua sự giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, chúng ta sẽ tìm mọi cách giúp Đồng bào kiện toàn nhận thức. Và một khi Nhân dân đã có nhận thức đúng và rõ thì nhất định sẽ biết hành động thích hợp và hiệu quả.
3- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chốn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc “lẽ phải toàn thắng” sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn.
Chúng tôi mong ước Tuyên ngôn này thúc đẩy được sự đóng góp tích cực của Đồng bào trong ngoài Nước và sự ủng hộ của Bạn bè Quốc tế. Chúng tôi chân thành cảm ơn và kêu gọi các Cơ quan Liên Hiệp Quốc, các Quốc hội, Chính phủ, Tổ chức Quốc tế và Bạn bè trên toàn thế giới tiếp tục ủng hộ cách nhiệt tình và hiệu quả cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này, góp phần đưa Tổ quốc Việt Nam sớm sánh vai cùng các Nước văn minh, đạo đức, thịnh vượng, tự do trong cộng đồng Nhân loại hôm nay.
Đồng tuyên bố tại Việt Nam ngày 08 tháng 4 năm 2006
1. Bs Nguyễn Xuân An, Huế 2. Gv Đặng Hoài Anh, Huế 3. Gv Đặng Văn Anh, Huế 4. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang 5. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế 6. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng 7. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu 8. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế 9. Gv Lê Cẩn, Huế 10. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế 11. Gv Trần Thị Minh Cầm, Huế 12. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế 13.Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ 14. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội 15.Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi 16. Ths Đặng Quốc Cường, Huế 17. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết 18. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng 19. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi 20. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn 21. Gv Hồ Anh Dũng, Huế 22. Gs Trương Quang Dũng, Huế 23. Bs Hà Xuân Dương, Huế 24. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội 25. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội 26. Kt Trần Văn Đón, Phan Thiết 27. Bs Hồ Đông, Vĩnh Long 28. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế 29. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng 30. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ 31. Bs Lê Thị Ngân Hà, Huế 32. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế 33. Vũ Thuý Hà, Hà Nội 34. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 35. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng 36. Kt Trần Việt Hải, Vũng Tàu 37. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu 38. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng 39. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế 40. Gs Đặng Minh Hảo, Huế 41. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu 42. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn 43. Gv Lê Lệ Hằng, Huế 44. Lm Giuse Nguyễn Đức Hiểu, Bắc Ninh 45. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang 46. Gv Văn Đình Hoàng, Huế 47. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn 48. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế 49. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế 50. Gv Phan Ngọc Huy, Huế 51. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế 52. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế 53. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng 54. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng 55. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế 56. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn 57. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế 58. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế 59. Gs Trần Khuê, Sài Gòn 60. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội 61. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết 62. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn 63. PGHHTT Cụ Lê Quang Liêm, Sài Gòn 64. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn 65. Lm G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 66. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế 67. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng 68. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng 69. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 70. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng 71. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế 72. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn 73. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ 74. Gv Phan Văn Mậu, Huế 75. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ 76. Gv Ma Văn Minh, Huế 77. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn 78. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng 79. Bùi Kim Ngân, Hà Nội 80. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế 81. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 82. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng 83. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế 84. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn 85. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế 86. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn 87. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ 88. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế 89. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế 90. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long 91. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang 92. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long 93. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng 94. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế 95. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng 96. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng 97. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ 98. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế 99. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn 100. Gv Nguyễn Bình Thành, Huế 101. Gv Văn Bá Thành, Huế 102. Cư sĩ PGHHTT Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp 103. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng 104. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn 105. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 106. Cựu Sĩ quan Trần Dũng Tiến, Hà Nội 107. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 108. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội 109. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết 100. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế 111. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng 112. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn 113. Gv Lê Trí Tuệ, Hải Phòng 114. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang 115. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi 116. Gv Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ 117. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng 118. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn ?