|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== CA NHAN VA CHINH TRI =============================================================== |
| | | QUỐC DOANH HÓA CHÍNH TRỊ
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Viết những điểm trong bài vắn gọn này, tôi không có ý ám chỉ đến cá nhân hoặc những nhóm Chính trị nào. Tôi chỉ muốn dự phòng những gì có thể xẩy ra. Một số vị viết trên Diễn Đàn nói rằng hãy để xem kết quả của việc làm của một số Nhóm, rồi mới phán đoán. Tôi quan niệm khác. Điều hành là tiên liệu (Diriger, c’est Prévoir), hay nói đơn giản theo dân quê mình: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh“. Cứ để việc xẩy ra rồi, mình mới ngồi than khóc, rồi tranh đấu vuốt đuôi. Đã nhiều chục năm nay, cứ để Cộng sản tiến đến, rồi nói là không ngờ và bỏ chạy. Năm 1954, năm 1975! TÔI MUỐN TIÊN LIỆU TÌNH TRẠNG QUỐC DOANH HOÁ CHÍNH TRỊ.
Tôi xin nói những điểm sau đây trong bài vắn gọn này:
=> Đảng Cộng sản Việt Nam đã quốc doanh hóa một số Giáo Hội => Đảng Việt Nam đang tìm cách quốc doanh hóa một số Nhóm Chính trị => Phải tiên liệu một Đảng Chính trị vững chắc để đối đầu thực sự => Nắm vững Chủ trương một nền Chính trị tương lai
Đảng Cộng sản Việt Nam đã quốc doanh hóa một số Giáo Hội
Ai trong chúng ta cũng thấy rằng một số Giáo Hội tại Việt Nam đã trở thành quốc doanh. Nếu có Tôn giáo nào chưa bị quốc doanh hóa, Cộng sản cho những ngợm giáo gian vào để lũng đoạn, chia rẽ để Giáo hội ấy yếu đi và không đồng nhất lên tiếng mạnh mẽ nói lên sự thật, nói những điều tha hóa mà Cộng sản làm. Chúng ta còn may mắn có được những Lãnh đạo chân chính, can đảm, dù trước những khủng bố, tù tội.
Trước áp lực quốc tế đòi Tự do Tôn giáo, Cộng sản đưa những Giáo hội quốc doanh ra để đỡ đạn, chống chế cho chế độ.
Đảng Cộng sản Việt Nam đang tìm cách quốc doanh hóa một số Nhóm Chính trị
Vì điều kiện Kinh tế, chế độ hiện hành bị lệ thuộc vào Tây phương và Hoa kỳ. Aùp lực Tây phương và Hoa kỳ đòi Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chế độ: tôn trọng Nhân quyền và cho quyền Dân chủ. Phong trào đấu tranh của người Việt hải ngoại lớn mạnh và đấu tranh theo chiều hướng ấy. Đảng Cộng sản Việt Nam đã đến lúc không thể chai lì làm ngơ trước những áp lực quốc tế và trước Phong trào đấu tranh lên mạnh của Khối người Việt vì họ bị lệ thuộc Kinh tế. Nhưng vẫn theo mưu lược cố hữu là tìm cách đánh lừa Quốc tế và ngay cả Phong trào đấu tranh hải ngoại, Đảng Cộng sản Việt Nam tìm cách quốc doanh hóa một số Nhóm Chính trị. Nghị Quyết 36 nói lên ý định này. Đến lúc nào Đảng buộc lòng phải chấp nhận Chính trị đối lập để tuyên truyền rằng họ cho Dân chủ, cho đối lập, thì họ sẽ xử dụng những Nhóm Chính trị đã bị quốc doanh hóa để “làm đối lập“, nhưng vẫn trong vòng giật dây của Đảng Cộng sản. Một thể chế Chính trị có đối lập, nhưng đối lập bằng Đảng Chính trị quốc doanh, thì cũng như không có đối lập.
Cũng như trên, trước áp lực đòi Tự do Tôn giáo, Đảng Cộng sản cho Tự do, nhưng là cho những Giáo hội quốc doanh.
Cũng vậy, trước áp lực đòi Dân chủ, đòi đối lập, Đảng Cộng sản cho Đối lập, nhưng là cho những Nhóm Chính trị quốc doanh.
Phải tiên liệu một Đảng Chính trị vững chắc để đối đầu thực sự
Trong phạm vi Tôn giáo, chúng ta còn những Lãnh đạo chân chính và một số Giáo hội chân chính để có thể còn cất lên tiếng nói chân thực bênh đỡ Dân. Trong phạm vi Chính trị, chúng ta cũng phải tiến tới thành lập những Nhóm Chính trị chân chính để có thể nói lên những điều kiện của một thể chế Chính trị chân chính cho Dân.
Hiện nay, chúng ta có những Nhóm Chính trị phát xuất từ cá nhân hay một nhóm cá nhân. Những Nhóm Chính trị này đang tìm cách chiếm hậu thuẫn của Dân bằng phương pháp này hay phương pháp khác, dù bằng phương pháp “không được đường đường chính chính“ cho lắm. Những Nhóm này quan sát thấy tình hình thuận lợi: (1) Aùp lực quốc tế, nhất là của Hoa kỳ; (2) Đảng Cộng sản có thể chấp nhận cho đối lập, nên những Nhóm này muốn vội vàng chớp thời cơ nhẩy vào cuộc, mặc dầu thực lực còn non yếu. Chúng ta thường gọi đây là những Nhóm hoạt đầu chính trị, Chính trị thời cơ, Chính trị khôn lỏi. Quyền hành, chức vị, quyền lợi riêng tư có thể làm họ chóa mắt mà quên mưu mô thâm độc của Đảng Cộng sản là quốc doanh hóa họ.
Tuần vừa rồi, chúng tôi đã viết một bài ngắn nói về sự cần thiết phải tiến tới THÀNH LẬP ĐẢNG CHÍNH TRỊ phát xuất từ hai Lực Lượng đáng tin tưởng nhất hiện nay. Đó là:
=> LỰC LƯỢNG TÔN GIÁO CHÂN CHÍNH
=> LỰC LƯỢNG CỰU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA
Đảng Chính Trị phát xuất từ hai Lực Lượng này tự nhiên có hậu thuẫn quần chúng rồi. Lập trường Chính trị của Đảng này khó lòng bị quốc doanh hóa vì đã có hai Lực Lượng đáng tin cậy trên cầm cân nẩy mực cho.
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam, vì áp lực quốc tế, phải chấp nhận đối lập, thì chính là Đảng Chính trị phát xuất từ hai Lực Lượng này trở thành đối lập để bênh đỡ cho quyền lợi chính đáng của người Dân.
Tiên đoán thời cuộc, chúng tôi thấy việc THÀNH LẬP ĐẢNG CHÍNH TRI này là cấp thiết.
Nắm vững Chủ trương một nền Chính trị tương lai
Nền Chính trị tương lai của Việt Nam không phải là việc bỏ chung vào một cái nồi tất cả mọi khuynh hướng Chính trị, dù tương phản nhau, để quấy lộn xà ngầu và cho Dân chúng ăn. Không thể bỏ chung XẤU, TỐT hay QUỶ, THẦN vào chung một giỏ rồi nặn ra một nền chính trị gọi là“HÒA HỢP“. Đấy chỉ là sự trả giá với nhau của những kẻ ham quyền hành, chức vị. Nền Chính trị tương lai của Việt Nam là phải do Dân và cho Dân chứ không phải do Lãnh đạo và cho Lãnh đạo mọi khuynh hướng.
Dân gồm những cá nhân sống chung. Nền Chính trị cho Dân phải đặt cá nhân làm trọng tâm. Nền Chính trị ấy gồm những điểm căn bản sau đây:
1) Tôn trọng triệt để NHÂN PHẨM của mỗi người khi họ sinh ra là người
2) Bảo vệ NHÂN QUYỀN. Những quyền này được liệt kê rõ trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền
3) Aùp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ cho mỗi người Dân sống trong Tập thể.
Một nền Chính trị giữ đúng đắn ba điều căn bản trên đây làm cho Dân được YÊN TÂM. Một khuynh hướng Chính trị có thể nói bất cứ điều gì làm Dân hào hứng mà không giữ ba điểm trên đây, thì Dân chúng không yên tâm và còn đấu tranh nữa. Nhóm thì nói thiên Tả, Nhóm thì nói thiên Hữu, Nhóm thì nói Trung Dung...Nhưng nói gì mặc lòng, nói hươu nói vượn gì đi nữa, mà không giữ ba điều trên đây, thì Dân không thể yên tâm.
Trước khi làm cho Dân hào hứng, thì phải làm cho Dân YÊN TÂM trước đã. Chúng tôi chọn một nền chính trị làm Dân YÊN TÂM với ba điều kiện nói trên đây. YÊN TÂM tức là HÒA BÌNH. Dân yên tâm, có hòa bình để làm ăn thì Nước mới giầu, Dân mới mạnh. Chủ trương Nhà Nước mang giầu có đến cho Dân đã có cả một Lịch sử thất bại. Việc phát triển Đất Nước là từ Dân vậy.
NGUYỄN PHÚC LIÊN
QUỐC HẬN, GIẢI PHÓNG, TỰ DO
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Đọc trên Diễn Đàn, tôi thấy có sự tranh luận về ngày 30 THÁNG TƯ. Việc tranh luận này có thể hại cho Lực lượng người Việt hải ngoại đang nỗ lực chống chế độ độc tài hiện nay ở Việt Nam. Vì cùng đóng góp vào nỗ lực chung của Cộng đồng Việt Nam hải ngoại, nên khi thấy điều gì có thể phương hại đến nỗ lực chung ấy, tôi nhập cuộc thảo luận, mong đóng góp được ý kiến gì để cho sự việc minh bạch. Thực vậy, không minh bạch, chúng ta dễ có những hiểu lầm và rồi chúng ta cứ luẩn quẩn từ hiểu lầm này đến hiểu lầm khác làm tốn thời giờ và làm giảm nội lực đấu tranh cần thiết cho Quê Hương.
Ngày 30 THÁNG TƯ mang ý nghĩa nào? QUỐC HẬN, GIẢI PHÓNG, TỰ DO ? Phân biệt nguồn gốc rõ rệt ba tiếng đó để khai quang tranh luận.
NGÀY 30 THÁNG TƯ: NGÀY QUỐC HẬN
Đối với Đồng bào Việt Nam phải bỏ Nước ra đi và sống trên 70 Quốc gia lúc này và đối với Đồng bào còn ở lại trong Nước mà buộc lòng phải chịu sự áp đặt một chế độc độc tài trên họ, thì ngày 30 THÁNG TƯ là ngày QUỐC HẬN. Tình cãm của họ HẬN thực sự và họ ý thức cái lý do để HẬN. Kỷ niệm ngày này để nhắc cho họ cái tình cảm ấy và để nhắc nhở cho chính họ và con cháu cái lý do gây lên tình cảm HẬN này. Việc nhắc nhở mối HẬN có ý nghĩa tích cực là nhắc nhớ cho chính họ và con cháu họ phải luôn luôn nỗ lực chống lại những điều xấu đã gây tang thương và hận giờn cho Dân tộc. Ý nghĩa tích cực của biến cố LỊCH SỬ là ở chỗ đó.
Những nguyên thủ quốc gia Aâu châu mới kéo nhau đến Lò Giết Người của Đức Quốc Xã tại Ba-Lan để nhớ lại Kỷ Niệm việc giết Dân Do Thái. Đây là việc nhắc lại kỷ niệm ác độc để mà tránh cho tương lai. Kỷ niệm ngày 30 THÁNG TƯ: NGÀY QUỐC HẬN để mà nhắc nhở cho chính mình và con cháu phải loại bỏ những điều xấu đã gây ra cái HẬN này.
Những người cố thủ giữ ngày 30 THÁNG TƯ: NGÀY QUỐC HẬN hoàn toàn có lý của mình và chúng ta phải duy trì cái tên QUỐC HẬN ấy. Không ai có quyền đổi cái tên đó đi.
NGÀY 30 THÁNG TƯ: NGÀY GIẢI PHÓNG
Đây là ý nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam gán cho việc xâm lăng Miền Nam của họ bằng võ lực đẫm máu với những khí giới chiến tranh cung cấp bởi Liên Xô và Trung Cộng. Ngày 30 tháng Tư, họ chiếm Sài Gòn và coi đó là ngày chiến thắng, ngày họ “GIẢI PHÓNG“ Miền Nam. Đối với Dân Miền Nam trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, thì đây là ngày mà Cộng sản Miền Bắc khóa chân tay Dân Miền Nam lại để áp đặt trên đầu họ một chế độ Độc tài. Đây là ngày “TRÓI BUỘC“ chứ không phải là ngày “GIẢI PHÓNG“. Giải phóng có nghĩa là mang “TỰ DO“ đến cho Dân Miền Nam. Đó là ý nghĩa mà Cộng sản Miền Bắc cố tình ghép cho ngày 30 THÁNG TƯ.
NGÀY 30 THÁNG TƯ: NGÀY TỰ DO
Đây là tiếng gọi mới cho ngày 30 THÁNG TƯ. Ban Tổ chức gọi là NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO. Chính hai chữ TỰ DO này gây sự phản đối bởi lẽ như trên vừa nói, hai chữ GIẢI PHÓNG có nghĩa là cho TỰ DO, do đó nếu bây giờ xử dụng hai chữ TỰ DO, người ta có thể nghĩ đến hai chữ GIẢI PHÓNG mà Cộng sản Hà Nội đã cố tình gán cho ngày 30 THÁNG TƯ.
Ban Tổ chức NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO cố tình hay lơ đễnh vô ý? Dù trường hợp nào mặc lòng, thì những người chống đối việc xử dụng hai chữ TỰ DO cho ngày đó có lý chính đáng để chống đối.
Trường hợp cố tình của Ban Tổ chức
Nếu Ban Tổ chức cố tình đặt nhẹ hoặc bỏ hai chữ QUỐC HẬN đi mà nhấn mạnh vào hai chữ TỰ DO với dụng ý làm cho Đồng bào Tỵ nạn nghĩ đây là ngày GIẢI PHÓNG theo sự gán ghép của Cộng sản cho ngày 30 THÁNG TƯ, thì chính tôi cũng yêu cầu Ban Tổ chức cuốn gói về Việt Nam mà sống với TỰ DO, với GIẢI PHÓNG của Cộng sản, chứng đừng ở bên Mỹ để dụ Đồng bào Tỵ nạn đang mang QUỐC HẬN chính đáng trong lòng.
Trường hợp Tình ngay mà Ý gian của Ban Tổ chức
Nếu thực tình Ban Tổ chức không có ý bỏ hai chữ QUỐC HẬN, mà đã vô tình lơ đễnh hoặc quá hăng say đấu tranh chống độc tài Cộng sản để đến nỗi nhấn mạnh hai chữ TỰ DO, thì trong trường hợp này chúng ta không thể kết luận là Ban Tổ chức làm tay sai cho Cộng sản Hà nội. Trường hợp vô tình lơ đễnh hoặc quá hăng say này dầu sao cũng gây một sự hiểu lầm cho người khác mà việc vô tình lơ đễnh hoặc quá hăng say phải trách nhiệm cho việc gây hiểu lầm này. Những người phản đối Ban Tổ chức có lý do từ sự hiểu lầm này mà nghĩ đến cái Ý GIAN của Ban Tổ chức.
Ban Tổ chức đã viết bài để giãi bầy cái TÌNH NGAY của mình. Những người đọc bài Lập trường ấy thì có thể thông cảm cho cái tình ngay. Nhưng bao nhiêu người đọc bài giãi bầy Lập trường ấy ? Chỉ chừng 5% đồng bào đọc. Còn 95% đồng bào không đọc bài giãi bầy Lập trường, mà chỉ thấy cái khẩu hiệu 30 Tháng Tư: NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO. Những người chống đối Ban Tổ Chức muốn bênh vực 95% đồng bào để họ khỏi phải bị ảnh hưởng chiêu đề NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO mà quên đi hai chữ QUỐC HẬN hoặc tệ hơn nữa là theo dần hai chữ GIẢI PHÓNG.
Những người Mỹ đặc, không biết tiếng Việt, không đọc bài giãi bầy Lập trường của Ban Tổ chức, thì tất nhiên không được nhắc nhở đây là ngày QUỐC HẬN, mà chỉ nghĩ đây là ngày TỰ DO hồ hởi.
Cho dù mình chửi bới người ăn cắp, thì người bị ăn cắp cũng phải xét đâu là cái lỗi của mình. Ông ăn cắp có lỗi là đã ăn cắp. Nhưng người bị ăn cắp lơ đễnh gợi ý và dịp cho ông ăn cắp làm việc ăn cắp cũng có lỗi nữa. Giữa chỗ đông người mà mang ví tiền ra đếm để khoe khoang, đó là gợi ý cho ông ăn cắp. Mình cũng có lỗi.
Ở thời buổi đấu tranh này, với sự trà trộn của Cộng sản, với Nghị Quyết 36, với Chủ trương của Cộng sản muốn quốc doanh hóa những Đảng phái Chính trị chống họ, Ban Tổ chức dù vô tình mà gây hiểu lầm để người khác nghĩ Ý GIAN cho mình, thì đó cũng là cái lỗi của Ban Tổ chức vậy.
Kết luận:
NGÀY 30 THÁNG TƯ: NGÀY QUỐC HẬN. Phải tôn trọng cái Tên ngày đó. Với tình ngay và để tránh hiểu lầm, tránh cái ý gian, thì Ban Tổ Chức phải lấy khẩu hiệu cho minh bạch như: “30 THÁNG TƯ: QUỐC HẬN, mọi người đấu tranh cho Tự Do“. Hai chữ QUỐC HẬN phải được nhắc ra và nhấn mạnh. Rồi nhân ngày QUỐC HẬN, mọi người đấu tranh hăng say hơn cho Tự Do. Viết khẩu hiệu như vậy, thì người khác không có lý do để hiểu lầm mình. NGUYỄN PHÚC LIÊN
|
| | | ĐI TÌM ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Có lẽ chưa bao giờ vấn đề TÌM KIẾM MỘT ĐẢNG CHÍNH TRI ĐỐI LẬP được đặt ra một cách cấp bách trong thời gian này. Nếu cuối Thế kỷ 19, Ý tưởng Xã hội, mà động cơ phát sinh là phong trào Kỹ nghệ hóa sản xuất, đã là luồng gió thổi mạnh để cấu thành những Nhóm Đảng Xã Hội tại một số nước, và luồng gió ấy trở thành cuồng phong tạo cuộc Cách Mạng Vô sản tại Nga, thì ngày nay Ý tưởng Dân chủ hóa một số Quốc gia cũng đang trở thành Phong trào. Ý tưởng Dân chủ hóa ấy lại đến từ Tổng Thống BUSH với quyết định dùng quân đội lật đổ chế độ độc tài Khủng bố Taliban tại A-phú-hãn và nhất là lật đổ nhà Độc tài Sadam HUSSEIN tại Iraq. Lực lượng Quân đội và Khả năng Kinh tế Hoa kỳ đang làm cho Ý tưởng ấy lan rộng. Những Nước đang mang chế độ ĐỘC TÀI, bị áp lực của Ý tưởng Dân chủ hóa, đi tìm một giải pháp tượng trưng cho Dân chủ hóa, đó là cho một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP.
LÀN GIÓ DÂN CHỦ HÓA TẠI TRUNG ĐÔNG
Như trên đã nói, việc lật đổ chế độ độc tài Khủng bố Taliban và nhà độc tài Sadam HUSSEIN được coi là khởi đầu của làn gió Dân chủ hóa. A-phú-hãn đã bầu cử thành công. Iraq cũng đã thành công trong cuộc Bầu cử giữa máu me Khủng bố. Những cuộc Bầu cử này là những thành công của quyết tâm Dân chủ hóa của chính Dân hai nước này. Cuộc bầu cử thành công nữa là của Palestine. Ý tưởng Dân chủ hóa thắng. Tại Li Băng, việc ám sát Oâng HARIRI làm cho TT.BUSH và TT.CHIRAC dễ bắt tay nhau để kết án Syrie và yêu cầu có một nước Li băng Dân chủ và độc lập. Thứ Bẩy 26.02.2005 vừa rồi, TT.MOUBARAK của Ai-Cập, lần đầu tiên từ chế độ độc tài NASSER, đã tuyên bố trước Quốc Hội tiến trình Dân chủ hóa Ai-Cập. VIỆT NAM TÌM ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP
Làn gió Dân chủ hóa thổi tới Việt Nam. Đã một số năm nay, những nhà Đấu tranh tại Quốc nội đòi hỏi Dân chủ hóa. Phong trào Đấu tranh của người Việt hải ngoại lên cao và nhất thiết chống lại chế độ độc tài hiện hành. Việc tranh đấu của người Việt hải ngoại trở thành quan trọng vì mang ảnh hưởng tới các nước Tây phương và Hoa kỳ mà chế độ hiện hành ở Việt Nam phải lệ thuộc. Hoa kỳ chắc chắn không dùng quân lực để can thiệp vào Việt Nam như ở A-phú-hãn và Iraq, nhưng dùng áp lực Kinh tế mà chế độ hiện hành ở Việt Nam phải lệ thuộc. Tượng trưng cho tiến trình Dân chủ hóa là Đảng Chính trị Đối Lập. Chế độ độc tài hiện hành ở Việt Nam buộc phải chấp nhận tiến trình Dân chủ hóa, nghĩa là chấp nhận một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP, nhưng muốn cố thủ giữ lấy quyền hành cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Phía Quốc gia và Tây phương, Hoa kỳ yêu cầu tiến trình Dân chủ hóa cho Việt Nam và cũng đi tìm một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP cho Việt Nam.
Cả hai phía đều tìm kiếm một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP, nhưng mỗi phía nhìn Đảng Chính trị Đối lập ấy khác nhau.
Đảng Chính Trị Đối lập nhìn từ phía Cộng sản
Tiến trình Dân chủ hóa, hay việc chấp nhận một Đảng Chính trị Đối lập là sự ép buộc cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản này luôn cố thủ giữ lấy quyền hành độc đoán của mình. Đảng Cộng sản đã thành công trong chủ trương quốc doanh hóa một số Tôn giáo để khi họ phải đổi chác Tự do Tôn giáo lấy cái lợi Kinh tế từ Tây phương và Hoa kỳ, họ sẽ cho Tự do Tôn giáo cho những Giáo hội đã được quốc doanh hóa. Lúc ấy những Tôn giáo bị quốc doanh hóa này sẽ chỉ làm công việc mèo khen mèo dài đuôi. Cũng vậy, chắc chắn Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tìm cách quốc doanh hóa những Nhóm Đảng Chính trị phía Quốc gia để khi họ buộc phải chấp nhận tiến trình Dân chủ hóa, họ sẽ cho những Nhóm Đảng đã bị quốc doanh hóa này ra làm ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP để đánh lừa Tây phương và Hoa kỳ. Đảng Chính trị bị quốc doanh hóa này chỉ làm công việc mèo khen mèo dài đuôi, chứ không đối lập thực sự.
Tóm lại phía Cộng sản đi tìm ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP GIẢ HIỆU.
Đảng Chính Trị Đối lập nhìn từ phía Quốc gia
Đã bao nhiêu thập niên, phía Quốc gia đấu tranh chống độc tài Cộng sản, đòi hỏi một thể chế biết tôn trọng Nhân phẩm, bảo đảm Nhân quyền và áp dụng thực sự Dân chủ cho Dân. Ngày nay, làn gió Dân chủ hóa thổi tới Việt Nam và chế độ độc tài hiện hành buộc phải thi hành tiến trình Dân chủ hóa. Khi kết quả đến, phía Quốc gia chúng ta phải có một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP để thi hành tiến trình Dân chủ hóa ấy. Đảng Cộng sản cũng kiếm tìm một Đảng Chính trị Đối lập theo ý họ. Phía Quốc gia chúng ta cũng cần cấp bách kiếm tìm một Đảng Chính trị Đối lập theo ý chúng ta. Ý của phía Quốc gia là một Đảng Chính Trị cương quyết thực hiện DÂN CHỦ, nghĩa là: tôn trọng triệt để Nhân phẩm, bảo vệ chắc chắn Nhân quyền và áp dụng thực sự nguyên tắc Dân chủ cho Dân.
Tóm lại phía Quốc gia đi tìm ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP ĐÍCH THỰC.
Chúng tôi đã viết một số bài nói rằng để có thể có một Đảng Chính Trị Đối Lập Đích thực, có hậu thuẫn của Dân, có tinh thần cương quyết đấu tranh cho Nhân phẩm, Nhân quyền và Dân chủ, và nhất là để Cộng sản khó lòng quốc doanh hóa Đảng ấy, chúng ta phải thành lập một Đảng Chính trị thoát ra từ hai Lực lượng sau đây: => LỰC LƯỢNG TÔN GIÁO CHÂN CHÍNH => LỰC LƯỢNG CỰU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA Dân tin tưởng vào hai Lực Lượng này. NGUYỄN PHÚC LIÊN
ĐẢNG ĐỐI LẬP THỰC SỰ
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Khi viết bài ĐI TÌM ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP, tôi phân biệt Đảng đối lập giả hiệu và Đảng Đối lập thực sự. Đảng Cộng sản Việt Nam tìm cách quốc doanh hóa một số Đảng phái phía Quốc gia để làm Đảng Đối lập giả hiệu, nghĩa là Đảng này mang danh Đối Lập, nhưng nội dung là mèo khen mèo dài đuôi cho Cộng sản. Phía Quốc gia chúng ta muốn có một ĐẢNG ĐỐI LẬP THỰC SỰ, nghĩa là phải cương quyết đấu tranh đi tới một thể chế trong đó NHÂN PHẨM con người được tôn trọng, NHÂN QUYỀN được bảo đảm và nguyên tắc DÂN CHỦ phải được áp dụng đúng nghĩa.
Tôi góp ý kiến rằng để tiến tới một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ, chúng ta dựa trên hai Lực Lượng đáng tin cậy lúc này: @ LỰC LƯỢNG TÔN GIÁO CHÂN CHÍNH @ LỰC LƯỢNG CỰU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA
Một Đảng Chính trị như vậy, dù là chậm lúc này hay đối với tình hình sắp thay đổi, nhưng có nền tảng Đối Lập thực sự cần thiết cho sự xây dựng lâu dài một chế độ tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN và áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ.
Đối với ý kiến tiến tới một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ, có những thắc mắc và công kích từ phía Độc giả. Có thể vì phạm vi hạn hẹp của bài, tôi chưa cắt nghĩa kỹ hơn và do đó tạo sự hiểu lầm nơi người đọc. Vì vậy bài này muốn nói đến một số hiểu lầm và sau đó nói đến phạm vi hoạt động chính của Đảng tại Hải ngoại và tại Quốc nội lần lượt với những điểm sau đây: => Một số những hiểu lầm => Phạm vi hoạt động chính của Chi Bộ Đảng tại Hải ngoại => Phạm vi hoạt động chính của Chi Bộ Đảng tại Quốc nội
Một số những hiểu lầm
1) Một số Vị, có thể thuộc những Nhóm Chính trị đã có sẵn, nghĩ rằng khi tôi nói đến Đảng Chính trị được thành lập từ hai Lực Lượng trên đây, đó là tôi có ý loại ra ngoài những Đảng Phái Chính trị đã có sẵn lúc này. Tôi không bao giờ có ý nghĩ như vậy. Lập trường của tôi về các Đảng phái Chính trị đã có sẵn như sau: (1) Tôi không bao giờ công kích tổ chức nội bộ của một Đảng phái, Đoàn thể. Họ có đường lối tổ chức nội bộ riêng của họ, ai chấp nhận thì vào, ai không ưng thì ra; (2) Tôi chỉ phát biểu ý kiến của tôi về một đường lối mà các Đảng phái, Đoàn thể ấy đem ra áp dụng lên Cộng đồng Dân chúng, trong đó có tôi; (3) Tích cực và xây dựng hơn, tôi còn kêu gọi những Đảng phái, Đoàn thể ấy hãy làm việc TỐT trong lòng hai Lực Lượng trên để có được hậu thuẫn với danh chính ngôn thuận từ hai Lực lượng. Khi hai Lực lượng quần chúng thấy một Đảng làm việc TỐT, quang minh chính đại, lập trường vững chắc, thì quần chúng nhận làm con của mình và ủng hộ. Xin đừng xử dụng mưu tính mượn đầu heo nấu cháo để có chút hậu thuẫn nhất thời bởi lẽ khi quần chúng nhận ra mưu này, thì quần chúng không những không cho hậu thuẫn mà còn bài trừ nữa. Đây là việc đáng tiếc cho các Đảng phái, Đoàn thể ấy trong trường kỳ.
Như vậy, khi tôi nêu ý kiến một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ phát xuất từ hai Lực Lượng Tôn Giáo chân chính và Lực Lượng Cựu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không những tôi không có ý loại những Đảng Chính trị hiện có, mà tôi còn tha thiết kêu gọi những Đảng ấy hãy hoạt động TỐT trong lòng hai Lực Lượng để có hậu thuẫn với danh chính ngôn thuận.
2) Một hiểu lầm nữa là có một số người nghĩ rằng tôi kêu gọi tiến đến một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ từ hai Lực Lượng quần chúng trên đây, đó là tôi muốn kêu gọi lập Đảng Chính trị cho tôi, nghĩa là vì quyền lợi cá nhân. Tôi biết một số người có lý để hiểu lầm như vậy nếu chưa đọc những khẳng định mà tôi đã công khai viết ra. Vì sự hữu hiệu của những điều tôi viết kêu gọi thành lập một Đảng Chính trị, tôi xin lập lại hai điều khẳng định của tôi như sau:
@ Tôi chỉ đứng ở phạm vi kêu gọi tiến tới một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ. Khi Đảng này thành hình, tôi vẫn đứng ở phạm vi kêu gọi, vận động và không nhập Đảng hoặc nhận một CHỨC VỤ nào trong Đảng.
@ Nếu sau này ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ hoạt động tại Quê Hương và nắm quyền, tôi cũng không nhận một CHỨC VỤ, QUYỀN HÀNH công cộng nào ở Quê Hương. Lý do là tôi đã lớn tuổi và đã xa Quê Hương 40 năm rồi, nên một đàng yếu sức, một đàng lạc lõng với xã hội hiện tại ở Việt Nam, nên không điều hành được.
Tôi nêu ra công khai hai khẳng định trên đây vì mục đích muốn những lời kêu gọi của tôi cho một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ không bị hiểu lầm mà mất hiệu lực kêu gọi.
Phạm vi hoạt động chính của Chi Bộ Đảng tại Hải ngoại
Tôi nhận thấy rằng một số những Đảng Chính trị hiện nay có ý nghĩ rằng họ sẽ trở thành những Lãnh tụ để đối lập trực diện với Đảng Cộng sản Việt Nam, hay xa hơn nữa là nắm hoàn toàn quyền quản trị đất nước. Quan điểm của tôi từ năm 1975 đến nay khác với ý nghĩ đó. Tôi quan niệm rằng những Lãnh tụ đối lập hay nắm quyền quản trị phải từ Quốc nội, sống với Dân, biết những mưu mô nganh ngóc của Cộng sản.
Đôi lúc tôi nói rằng chúng ta ở nước ngoài đã có sự tôn trọng Nhân phẩm, đã được bảo đảm về Nhân quyền, đã áp dụng nguyên tắc Dân chủ. Những người sống tại Quê Hương chưa có những điều này, vậy họ phải can đảm, nỗ lực đấu tranh dành cho mình những quyền ấy. “Đời cua, cua máy; Đời cáy, cáy đào“. Không thể nằm ngửa dưới gốc sung, chờ sung rụng.
Từ quan điểm rằng Đảng Chính Trị Đối Lập Thực Sự phải đặt trọng tâm ở sự hình thành tại Quê Hương, chúng tôi thấy rằng Đảng Chính trị Đối Lập hình thành ở nước ngoài chỉ làm công việc NGOẠI VẬN rất cần thiết và hữu hiệu lúc này. Đây cũng là việc hữu lý trong thực tế. Tôi xin khai triển từng điểm.
Hình thành từ Lực Lượng Cựu Quân Lực VNCH tại Hải ngoại
Có những Vị rất có khả năng và yêu thích hoạt động Chính trị trong Lực Lượng Cựu Quân Lực VNCH. Những Vị này, cùng với những Đảng phái Chính trị đã có sẵn và cùng làm việc trong lòng Lực Lượng, tiến tới thành lập một Chi Bộ ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ tại Hải ngoại. Việc hình thành này mau mắn hơn sánh với Quốc nội. Khi lập Đoàn thể, chúng ta cần thiện chí hơn là nhắm sự kiện toàn mà đòi hỏi. Vì sự trở về thăm Quê Hương có những dễ dàng hơn, nên Chi Bộ Hải ngoại có những liên hệ, trợ lực việc cấu thành Đảng tại Quốc nội.
Khó khăn của Chi Bộ Đảng tại Hải ngoại Trở về Việt Nam nắm quyền
Đây là tham vọng không thực tiễn và có nhiều khó khăn thực hiện. Những Lãnh tụ của Chi Bộ Hải ngoại hầu hết mang Quốc tịch nước ngoài. Đây là sự khó khăn chính yếu. Để có thể nắm những chức vụ quản trị chính yếu, phải hồi tịch Việt Nam. Sự hãnh diện của Dân tộc không cho phép Dân Việt Nam bị điều khiển bởi người nước ngoài như Quốc tịch Mỹ, Quốc tịch Uùc, Quốc tịch Pháp... Cho dù trong trường hợp hai Quốc tịch, người Việt Nam cũng không muốn những người Lãnh đạo đứng hai hàng, chân trong chân ngoài, để khi ăn bẩn ăn thỉu, gặp biến động, họ cuốn gói ra nước ngoài sống sung sướng, để mặc Dân tàn tệ thế nào thì ráng chịu. Vậy thì dứt khoát phải hồi tịch Việt Nam trước khi muốn về làm những chức vụ điều hành Quốc gia. Ai giám làm công việc hồi tịch ấy lúc này bởi vì nghĩ rằng không hiểu việc tranh đấu cho chức vị ở Việt Nam có thành công không, trong khi ấy việc trợ cấp luơng hưu, bảo hiểm sức khoẻ, welfare bị thiệt thòi nếu bỏ Quốc tịch nước ngoài.
Phạm vi hoạt động quan trọng và chính yếu Của Chi Bộ Đảng tại Hải ngoại
Nhìn những khó khăn thực tiễn trên đây và thấy sự quan trọng của áp lực Quốc tế, tôi thấy rằng phạm vị hoạt động chính yếu và quan trọng của Chi Bộ Đảng tại nước ngoài là NGOẠI VẬN. Việc từ nước ngoài trở về nắm quyền mang tính cách tranh giành quyền hành nhất thời, chứ không phải nghĩ đến tương lai lâu dài của Đất Nước. Tương lai thay đổi Chính thể, phát triển Đất Nước cần lực lượng ngoại vận của chúng ta mà khối người Tỵ nạn sống trên 70 Quốc gia đang có dịp thuận lợi để làm. Hãy chú trọng làm công việc hữu ích lâu dài này hơn là nhằm tranh giành quyền hành nhất thời.
Thực vậy, những Đảng viên của Chi Bộ Đảng Hải ngoại sẵn có Quốc tịch nước ngoài, hãy nhập vào các Đảng phái ở Địa phương nước ngoài mà mình sống. Hoạt động trong các Đảng phái Địa phương để ảnh hưởng lên Chính trị của các nước này đối với chế độ độc tài Cộng sản ở Việt Nam. Cộng sản Việt Nam lệ thuộc vào Kinh tế Tây phương, nhất là Mỹ. Chi Bộ Đảng Hải ngoại tác động ở những nước Tây phương và Mỹ để áp lực lên chế độ hiện hành ở Việt Nam, buộc họ có những thay đổi.
Phạm vi hoạt động chính của Chi Bộ Đảng tại Quốc nội
Tại Quốc nội, ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ lấy nền tảng từ Lực Lượng các Tôn Giáo chân chính. Khi nói về điểm này, một Độc giả phản đối rằng Tôn Giáo không làm Chính trị. Tôi rất đồng ý về sự phân biệt này và hoàn toàn phản đối việc các Chức sắc Tôn Giáo đứng ra nắm quyền quản trị Quốc gia. Tôn Giáo cũng không nhân danh Tổ chức của Tôn Giáo để đấu tranh Chính trị chuyên nghiệp, nghĩa là nhằm nắm quyền quản trị.
Nhưng người Tín hữu của các Tôn giáo cũng có đủ quyền Công dân như mọi người khác. Tôn giáo không cấm Tín hữu của mình làm Chính trị, dù là Chính trị chuyên nghiệp. Tại Tây phương này có những Đảng lấy tên công khai là ĐẢNG DÂN CHỦ THIÊN CHÚA GIÁO.
Lực Lượng các Tôn Giáo chân chính là Thành trì cuối cùng của Nhân dân khả dĩ còn phát biểu lên được sự thật đối lập lại những tha hóa của chế độ hiện hành. Một Đảng đối lập lấy nền tảng từ Lực Lượng các Tôn Giáo chân chính là hữu lý và đáng tin cậy.
Chi Bộ Đảng tại Quốc nội hoạt động nhằm nắm quyền thực hiện một chế độ tôn trọng Nhân phẩm, bảo đảm Nhân quyền và thực hiện đúng đắn nguyên tắc Dân chủ. Chính Chi Bộ này sửa soạn nhân sự để đối lập và khi có thay đổi căn bản, thì nắm quyền hành. Họ là những người đã kiên trì không để bị quốc doanh hóa. Họ sống liền với Dân tộc mỗi ngày. Họ đã từng chịu đói khổ với Dân tộc. Họ thuộc lòng những mưu mô lắt léo của Cộng sản. Họ mang Quốc tịch Việt Nam với tất cả hãnh diện của Dân tộc. Chính họ là những người sẽ nắm quyền quản trị Đất Nước.
Lực lượng Hải ngoại làm công việc ngoại vận và khi có thay đổi, sẽ cung cấp cho Quê Hương những Chuyên viên Ngành nghiệp để phát triển Quê Hương mình. Đấy là trọng trách, chứ không phải nhoi nhoi muốn kéo về để giành giựt chức vị, làm Ông nọ Bà kia. NGUYỄN PHÚC LIÊN
|
| | |
LẠM PHÁT CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ Ở HẢI NGOẠI
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Tôi nhớ lại trước năm 1975, khi có Hội Đàm Paris, Oâng Mặc Giao PHẠM HỮU GIÁO là Sứ thần tham dự Hội Đàm và thuộc Đảng DÂN CHỦ. Tôi quen biết Oâng Mặc Giao PHẠM HỮU GIÁO vào năm 1960 từ thời còn học năm Đệ I trường CHU VĂN AN, nhà tiền chế cạnh Trường Petrus KÝ. Năm đó có cả Oâng LÊ ĐÌNH ĐIỂU.
Khi gặp Oâng Mặc Giao PHẠM HỮU GIÁO tại Paris, Oâng trao cho tôi cuốn Điều Lệ của Đảng DÂN CHỦ và hỏi tôi nghiên cứu xem có nhập Đảng này không. Sau một tuần, tôi trả lời cho Oâng rằng:“Tôi không muốn vào Đảng khi còn ở nước ngoài. Khi nào tôi về nước, nghiên cứu kỹ các Đảng, tôi mới có thể chọn lựa và quyết định nhập Đảng nào mà tôi ứng ý.“
Tôi nhớ lại câu trả lời này vì ngày nay sau trên 30 năm, nhân dịp nghĩ nhiều về những việc làm của Đảng Việt Tân và những xuất hiện của những Đảng khác tại ngoại quốc, nhất là sau những năm nghĩ nhiều về những nguyên do phân tán giữa các Cộng đồng Hải ngoại, tôi thấy như cần phải tránh tình trạng LẠM PHÁT CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ TẠI HẢI NGOẠI. Tôi nhớ lại và suy nghĩ thêm về hiện tình các Đảng phái ngày nay ở nước người, tôi cảm thấy quyết định của tôi hồi ấy có sự thận trọng hữu lý nào đó. Tôi quan sát thấy rằng dường như những Đảng phái Chính trị tại nước ngoài là một trong những nguồn chính để gây những nghi kỵ, chia rẽ các Đoàn thể ái hữu, xã hội của Cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
Nếu chúng ta thấy rằng những Đảng phái Chính trị hải ngoại một mặt không phải là sự cần thiết chính yếu, một mặt lại là nguồn gây phân tán Cộng đồng, thì có lẽ chúng ta phải lựa chọn một lập trường tổ chức cho có trật tự và hữu hiệu hơn. Tôi đang suy nghĩ đến những vấn đề sau đây để từ đó có một lập trường cho sáng tỏ về tương quan hợp tác giữa những Nhóm Chính trị và sinh hoạt Cộng đồng gồm những Đoàn thế ái hữu, xã hội tại Hải ngoại.
1) Điều chắc chắn của tôi là cuộc sống Chính trị Quốc nội phải do Dân chúng quốc nội quyết định vì thể chế Chính trị ở Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ. Những người Việt hải ngoại không thể giữ phần chính quyết định về thể chế Chính trị quốc nội. Thể chế chính trị quốc nội là thiết thân cho đồng bào ở nhà, còn chúng ta ở hải ngoại không trực tiếp dưới ảnh hưởng của thể chế ấy.
2) Lãnh đạo đấu tranh cho một thể chế chính trị tại quốc nội phải do một Đảng Chính trị được thành lập từ khối người Dân sống tại quốc nội. Một Đảng Chính trị được thành lập từ Cộng đồng hải ngoại không thể thay thế cho Đảng Chính trị được cấu thảnh từ quốc nội. Khi tôi đọc thấy chương trình của buổi DIỄN HÀNH TỰ DO tại Washington ngày 30.04 muốn gửi THÔNG ĐIỆP về Việt Nam cho người quốc nội, tôi ngạc nhiên. Gọi là THÔNG ĐIỆP hay HIỆU TRIỆU, nghĩa là Việt Tân coi mình là chính và quốc nội là phụ.
3) Một Đảng Chính trị được thành lập và hoạt động, dù có mạnh đến đâu đi nữa tại hải ngoại, cũng không thể làm công việc đội đá vá trời thay cho một Đảng Chính trị từ người Dân quốc nội. Về phương diện hoạt động, dù có mạnh thế nào đi nữa tại hải ngoại, Đảng chính trị ấy cũng không có thể quả quyết được rằng họ có thể nhập cảng sức mạnh ấy về quốc nội được. Thực vậy, có nhiều điều kiện thực tiễn chứng thực rằng người ta chỉ mạnh miệng ở nước ngoài, trong những xa lông yên lành, nhưng khi nói đến trở về Quê hương với những điều kiện khó khăn hoạt động, thì nhiều người yên tiếng, tìm cách lủi trốn.
4) Lớp tuổi trẻ hào hứng nhập những Đảng chính trị tại hải ngoại. Họ hào hứng sinh hoạt tại đây. Nhưng khi đặt thẳng vấn đề thực tiễn trở về Quê Hương, lúc ấy họ bắt đầu nghĩ tới việc học thành tài ở hải ngoại, việc kiếm công ăn việc làm dễ dàng ở bên này, so sánh đồng lương ở Việt Nam và đồng lương tại những nước đã kỹ nghệ hóa bên này, và kết quả là việc trở về quốc nội để đấu tranh vất vả bị chính họ xét lại. Sau năm 1975, tôi có dịp tham dự nhiều cuộc hội họp bàn về Kháng chiến tại Việt Nam. Trong cuộc họp hầu như ai cũng giơ tay nhất quyết về bưng biền chiến đấu. Nhưng tối đến, khi gặp tư riêng, tôi hỏi họ xem quyết định vững chắc chưa, thì họ nói là đang muốn làm bảo lãnh cho vợ con sang đây, phải đợi một thời gian nữa. Ngay thời Cộng hòa, một số nhiều sinh viên du học, sau khi học xong, cũng tìm cách ở lại ngoại quốc. Một số đông sinh viên con ông cháu cha của Đảng hiện nay, khi học xong, chính bố mẹ họ cũng khuyên tìm cách đừng về nhà, thậm chí tìm cách lập gia đình bên này với người tỵ nạn.
5) Như trên tôi đã trình bầy, Đảng Chính trị ở quốc nội là chính, chúng ta ở hải ngoại chỉ là phụ. Nghĩ đến thực tế về những điều kiện khó khăn từ chính mỗi người khi nói đến về đấu tranh tại Quê Hương, tại sao chúng ta không nghĩ đến những hoạt động hợp tình, hợp lý và hợp khả năng cho lực lượng của Chúng ta tại hải ngoại. Biết mình là phụ, thì đừng trèo cao đòi làm chính, khiến hoạt động trở thành tréo cẳng ngỗng, không đi tới kết quả hữu hiệu của nó. Ngay Đảng Cộng sản cũng biết rằng họ ngại sợ tầm ảnh hưởng của chúng ta trên các Chính quyền nước ngoài, nhất là phía Tây phương và Hoa kỳ. Tại sao chúng ta không dồn lực vào việc làm ấy mà Cộng sản Việt Nam rất sợ ? Đó là công việc làm NGOẠI VẬN. Công việc này sẽ hỗ trợ vô cùng hữu hiệu cho Lực lượng quốc nội. Hãy làm công việc này cho Quê Hương. Nếu làm công việc NGOẠI VẬN này, có lẽ chúng ta không cần phải làm dưới danh nghĩa một Đảng Chính trị. Dưới danh nghĩa một Mặt Trận ngoại vi yểm trợ cho Quốc nội, công việc Ngoại Vận được nhiều người và nhiều Đoàn thể ái hữu, xã hội tham dự hơn.
6) Một số Đảng Chính trị tại Hải ngoại, trong lúc tham dự công việc NGOẠI VẬN hỗ trợ, lại ngầm ý sửa soạn cho cao vọng coi mình là chính yếu, đội đá vá trời thay thế cho Lực lượng Chính trị ở quốc nội. Đây là việc làm không chính danh chính nhân và từ đó tạo những nghi kỵ, tranh dành nhau. Đó là cái nguồn gây chia rẽ Cộng động. Nhiều người than vãn về sự chia rẽ của Cộng đồng, nhưng trước khi than vãn như vậy, hãy tự xét xem chính mình có làm việc chính danh chính nhân hay không.
7) Thể chế chính trị Việt Nam do người Việt Nam quyết định. Người ở quốc nội là chính, người ở hải ngoại là phụ. Nếu làm việc trong trật tự hữu lý như vậy, Cộng đồng chúng ta không có những nghi kỵ làm nguồn chính cho việc phân tán. Nhưng một số đảng Chính trị ở nước ngoài ngầm tính toán nhằm hai việc tréo cẳng ngỗng sau đây: => Muốn Đảng mình ở nước ngoài là chính, đội đá vá trời thay thế Đảng chính trị tại quốc nội => Muốn nước ngoài đem mình về Quê Hương để quyết định thể chế chính trị ở Việt Nam. Làm như vậy, tức là đã bỏ nguyên tắc thể chế chính trị Việt Nam do người Việt Nam quyết định. Chúng tôi thường phân biệt Dân chủ DÂN TỘC và Dân chủ NGOẠI LAI. Chính vì việc tính toán tréo cẳng ngỗng trên đây mà sinh ra nạn nhiều Đảng nhoi lên muốn nhẩy bàn độc. Đó là cái nạn LẠM PHÁT CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ TẠI HẢI NGOẠI vậy.
Chúng tôi đang suy nghĩ nhiều thêm nữa về 7 điểm vừa tóm tắt. Từ những điểm này, chúng ta có thể có lập trường rõ rệt xem có nên thành lập ĐẢNG CHÍNH TRỊ tại hải ngoại hay chỉ cần thành lập MẶT TRẬN NGOẠI VẬN hỗ trợ Quốc nội. NGUYỄN PHÚC LIÊN
|
| | | ---------------------------- HOA GIAI HOA HOP ? ----------------------------
HÒA GIẢI HÒA HỢP: GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Một số thời gian gần đây, nghe ngóng tình hình Việt Nam, nhìn phong trào dân chủ hóa tại những nước Trung đông hoặc Đông Aâu, theo rõi những áp lực của Hoa kỳ đối với những nước dưới chế độ độc tài, người ta tiên đoán một sự thay đổi chế độ chính trị sắp xẩy ra tại Việt Nam. Tình hình chung như hé ra một nguồn hy vọng lớn cho Quê Hương Việt Nam hiện đang phải chịu sự đàn áp của chế độ độc tài Cộng sản. Khối người Việt quốc nội, 85 triệu người, mong mỏi rằng sự thay đổi ấy phải tự căn bản và sẽ thỏa mãn ngưỡng vọng chính đáng của họ, chứ không phải là sự thay đổi trá hình bề mặt che đậy một thể chế độc tài vẫn tiếp tục. Tại Hãi ngoại, 3 triệu người Việt tỵ nạn ở trên 70 quốc gia, mong mỏi trợ lực cho đồng bào Quốc nội để chính họ thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Tuy vậy, một số Nhóm Đảng Hải ngoại vẫn mộng tưởng rằng mình là chính yếu mang Tự do Dân chủ về giải phóng Quê Hương. Có những xuất hiện của những Nhóm Đảng này trong thời gian gần đây, nào là muốn vuốt đuôi Đảng Cộng sản bằng nêu lên việc đặt hai lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và cờ Đỏ Sao Vàng đứng chung với nhau, nào là muốn xóa bỏ ngày 30.04 QUỐC HẬN để chiều lòng Cộng Sản, nào là mánh khóe lợi dụng dân chúng để tự giới thiệu mình với thế lực ngoại lai để mong họ đưa mình về nhẩy bàn độc. Chiêu bài HÒA GIẢI HÒA HỢP được tung ra. Chiêu bài trở thành thời sự. Dưới chủ đề thời sự này, chúng tôi muốn viết loạt bài với những đề tài sau đây:
1) Dân chủ phải đến từ Dân: người dân Việt Nam Quốc nội muốn gì ? 2) Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa 3) Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành 4) Đối lập phải giữ vững bản chất của mình 5) Hòa hợp hòa giải bản chất hay hòa hợp hòa giải đường lối thực hiện 6) Hòa hợp hòa giải phải chăng là sự chia nhau quyền cai trị 7) Hòa hợp hòa giải phải chăng là bỏ Thánh nhân và Quỷ sứ vào một giỏ để xóc 8) Dân chủ dân tộc hay Dân chủ ngoại lai 9) Tiến trình Dân chủ hóa như thế nào 10) Lực lượng nào chủ chốt hướng dẫn tiến trình Dân chủ hóa
Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển những đề tài trên đây liên tục trong các số báo VietTUDAN kể từ VietTUDAN số 209/07.04.2005.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
HÒA GIẢI HÒA HỢP: DÂN CHỦ PHẢI ĐẾN TỪ DÂN: NGƯỜI DÂN VIỆT NAM QUỐC NỘI MUỐN GÌ? Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ
Một số thời gian gần đây, nghe ngóng tình hình Việt Nam, nhìn phong trào dân chủ hóa tại những nước Trung đông hoặc Đông Aâu, theo rõi những áp lực của Hoa kỳ đối với những nước dưới chế độ độc tài, người ta tiên đoán một sự thay đổi chế độ chính trị sắp xẩy ra tại Việt Nam. Tình hình chung như hé ra một nguồn hy vọng lớn cho Quê Hương Việt Nam hiện đang phải chịu sự đàn áp của chế độ độc tài Cộng sản. Khối người Việt quốc nội, 85 triệu người, mong mỏi rằng sự thay đổi ấy phải tự căn bản và sẽ thỏa mãn ngưỡng vọng chính đáng của họ, chứ không phải là sự thay đổi trá hình bề mặt che đậy một thể chế độc tài vẫn tiếp tục. Tại Hãi ngoại, 3 triệu người Việt tỵ nạn ở trên 70 quốc gia, mong mỏi trợ lực cho đồng bào Quốc nội để chính họ thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Tuy vậy, một số Nhóm Đảng Hải ngoại vẫn mộng tưởng rằng mình là chính yếu mang Tự do Dân chủ về giải phóng Quê Hương. Có những xuất hiện của những Nhóm Đảng này trong thời gian gần đây, nào là muốn vuốt đuôi Đảng Cộng sản bằng nêu lên việc đặt hai lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và cờ Đỏ Sao Vàng đứng chung với nhau, nào là muốn xóa bỏ ngày 30.04 QUỐC HẬN để chiều lòng Cộng Sản, nào là mánh khóe lợi dụng dân chúng để tự giới thiệu mình với thế lực ngoại lai để mong họ đưa mình về nhẩy bàn độc. Chiêu bài HÒA GIẢI HÒA HỢP được tung ra. Chiêu bài trở thành thời sự. Dưới chủ đề thời sự này, chúng tôi muốn viết loạt bài với những đề tài sau đây:
1) Dân chủ phải đến từ Dân: người dân Việt Nam Quốc nội muốn gì ? 2) Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa 3) Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành 4) Đối lập phải giữ vững bản chất của mình 5) Hòa hợp hòa giải bản chất hay hòa hợp hòa giải đường lối thực hiện 6) Hòa hợp hòa giải phải chăng là sự chia nhau quyền cai trị 7) Hòa hợp hòa giải phải chăng là bỏ Thánh nhân và Quỷ sứ vào một giỏ để xóc 8) Dân chủ dân tộc hay Dân chủ ngoại lai 9) Tiến trình Dân chủ hóa như thế nào 10) Lực lượng nào chủ chốt hướng dẫn tiến trình Dân chủ hóa
Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển những đề tài trên đây liên tục trong các số báo VietTUDAN kể từ VietTUDAN số 209/07.04.2005.
Với bài đầu tiên của loạt bài chủ đề này, chúng tôi muốn minh định những ý niệm căn bản về một thể chế mà người dân muốn, để từ đó, những bài kế tiếp có nền tảng thảo luận. Hai điểm chính sau đây được phân tích trong bài này: => Dân chủ là nguyên tắc nhân bản dân tộc => Những điều mong mỏi cụ thể của Dân Việt Quốc nội
Dân chủ là nguyên tắc nhân bản dân tộc
Chúng tôi không muốn bàn về nguyên tắc Dân chủ dựa trên một Nhân sinh quan hay một Xã hội quan nào, mà là dựa trên cuộc sống cụ thể của cá nhân có một thân xác và một trí thông minh muốn bảo tồn và triển nở mình. Khi những cá nhân cụ thể ấy sống với nhau thành một Tập thể, nguyên tắc Dân chủ là trọng tài điều hành hữu lý nhất. Nguyên tắc Dân chủ ấy hoàn toàn là nhân bản, chứ không đến từ thế giới ngoại tại con người. Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, qua thời gian và địa vực, còn bị ảnh hưởng bởi văn hóa Dân tộc.
Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát
Chúng tôi muốn lấy ý niệm NHÂN PHẨM làm nền tảng nguyên thủy để nói về NHÂN QUYỀN và nguyên tắc DÂN CHỦ.
Con người trước tiên là con vật như các con vật khác, có thân xác và phải tìm phương tiện bảo tồn thân xác ấy vì muốn sống. Một số lớn các loài vật không giết và ăn thịt chủng loại của mình. Đó là cái bản năng tôn trọng chủng loại của mình. Con người là một loại vật có được sự hiểu biết, tính thông minh vượt trội hẳn các loài vật khác. Sự thông minh này làm cho con người có thể hiểu biết được những cơ biến của thiên nhiên và khống chế những cơ biến ấy để phục vụ cho mình trên đường tìm phương tiện bảo tồn thân xác. Người ta gọi đây là tiến bộ khoa học và vật chất. Nếu loài vật biết tránh việc giết và ăn thịt chủng loại mình vì bản năng, thì tính thông minh nơi con người còn đi xa hơn bản năng súc vật, tạo cho mình một nền văn hóa và luân lý làm căn bản cho việc tôn trọng chủng loại mình, tỉ dụ như không những không giết và ăn thịt người khác, mà còn kính trọng, giúp đỡ đồng loại của mình.
NHÂN PHẨM có nghĩa là sự nhận biết cái giá trị của một con người, không những về thân xác mà còn về tinh thần của cá nhân, vì đó là một con người chứ không phải là con vật hay cỏ cây vô tri. Tôn trọng NHÂN PHẨM của người khác là phản ứng đầu tiên không phải chỉ vì bản năng mà còn vì sự phát triển văn hóa, luân lý đến từ trí thông minh. Một con người được sinh ra, dù khác mầu da, chủng tộc, phải được tôn trọng như người như mình. Đó đòi buộc tối sơ và tiên khởi: TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM.
Từ việc tôn trọng NHÂN PHẨM này, chúng ta suy diễn ra những quyền sống làm người. Đó là NHÂN QUYỀN. Những quyền căn bản của con người được liệt kê trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tuy nhiên chính mỗi cá nhân có thể nhận biết nhân quyền ấy trong đời sống thực tế hàng ngày qua câu nói căn bản:“Khi không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Câu nói này một đàng làm cho mình nhận biết cái quyền nơi người khác, một mặt bảo mình phải tôn trọng cái quyền ấy của người khác. Tất nhiên để có thể giữ trúng câu nói này, thì việc tối sơ là mình phải biết tôn trọng Nhân phẩm như đã nói trên đây. Thực vậy, một người không biết trọng Nhân phẩm, thì họ không biết tôn trọng những quyền sống căn bản nơi người khác.
Tỉ dụ khi bị đàn áp quá đáng, chịu không nổi, mình muốn nói ra để phản đối. Nhưng có người khác bịt miệng mình, cấm không cho nói. Mình không muốn người khác cấm cản mình nói. Khi không muốn như vậy, thì chính mình phải biết rằng mình không được bịt miệng, cấm cản người khác phát biểu lên trong trường hợp phải chịu như chính mình. Đây là việc nhận biết và tôn trọng quyền phát biểu, NGÔN LUẬN, của người khác. Cụ thể Đảng Cộng sản cấm Dân phát biểu, nhưng nếu Dân cấm Đảng phát biểu, Đảng có chấp nhận hay không ? Đây là một tỉ dụ trong việc áp dụng câu nói trên để nhận biết và tôn trọng những quyền căn bản sống làm người: NHÂN QUYỀN.
Trên đây là nói về phương diện riêng lẻ từng cá nhân sống. Con người có thể sống riêng lẻ cá nhân. Chúng tôi vẫn chưa chấp nhận câu định nghĩa:“Người là con vật sống Xã hội“. Cuộc sống chung xã hội chỉ là một nhu cầu mà cá nhân tự do thấy hữu ích trong việc phát triển cá nhân mình. Họ có quyền không chấp nhận.
Vì nhu cầu làm tăng hữu hiệu việc phát triển cá nhân, con người tự do chấp nhận cuộc sống Tập thể. Mỗi cá nhân có những khác biệt trong việc tìm phương tiện bảo tồn thân xác và phát triển trí thông minh, vì vậy mà trong cuộc sống Tập thể họ phải có những quy ước với nhau để giải quyết những khác biệt. Một trong những quy ước căn bản để giải quyết cuộc sống chung Tập thể, đó là nguyên tắc DÂN CHỦ. Đây là nguyên tắc lấy số đông làm chân lý tương đối. Như vậy, nguyên tắc DÂN CHỦ chỉ là một quy ước giữa những cá nhân tự do quyết định sống trong một Tập thể để giải quyết những khác biệt đến từ chính những cá nhân thành phần ấy. Chúng tôi gọi DÂN CHỦ là nguyên tắc nội tại giữa những cá nhân của Tập thể. DÂN CHỦ không thể là nguyên tắc đặt để cho Tập thể từ bên ngoài hay từ một quyền lực đứng trên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ ngoại tại Tập thể cá nhân chỉ là ĐỘC TÀI trá hình Dân chủ.
Nguyên tắc DÂN CHỦ lấy cá nhân làm căn bản, nghĩa là nguyên tắc này phải biết tôn trọng NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN. Việc tôn trọng Nhân phẩm và Nhân quyền là nền tảng để bảo chứng việc tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự. Có trôn trọng NHÂN PHẨM, thì mới nhận biết và tôn trọng NHÂN QUYỀN. Có tôn trọng NHÂN QUYỀN, thì mới có thể quy ước với nhau nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự để giải quyết những khác biệt trong cuộc sống Tập thể.
Nguyên tắc Dân chủ Dân tộc
Trong phần trên, chúng tôi nói đến nguyên tắc Dân chủ đi từ việc tôn trọng Nhân phẩm, rồi tìm biết đâu là Nhân quyền để bảo vệ. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản bởi vì nó không đến từ một Nhân sinh quan, một Xã hội quan hay Tôn giáo quan hiểu như một sự cấu trúc lý luận từ một tiền đề phải chấp nhận hay từ một lòng Tin. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát. Nguyên tắc DÂN CHỦ nhân bản phổ quát là nguyên tắc mà mọi Tập thể Xã hội nhân loại phải giữ làm quy ước, từ Xã hội Aâu, Á, Mỹ, Phi, Uùc. Nhưng nguyên tắc Dân chủ ấy khi áp dụng vào mỗi Dân tộc, mỗi Địa phương, có những hoàn cảnh Văn hóa, Kinh tế, Phong tục...làm thay đổi những chi tiết. Chúng tôi gọi đây là nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC, nghĩa là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát chịu ảnh hưởng của những dị biệt của từng Dân tộc.
Tỉ dụ tại Tây phương, giữa Pháp và Ý, khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ quyết định cho Tự do ngôn luận, người Pháp thả lỏng về lộng ngôn hơn, trong khi đó người Ý nghĩ nhiều đến yếu tố Gia đình, tôn trọng triệt để ý kiến của người Mẹ (Mama). Tại Việt Nam cũng vậy, phải kể đến việc tôn trọng người cao tuổi khi nguyên tắc Dân chủ quyết định về tự do ngôn luận cho giới trẻ.
Một vài tỉ dụ trên cho thấy rằng khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, chúng ta phải kể đến ảnh hưởng của những điều kiện Dân tộc để quyết định theo nguyên tắc ấy.
Những điều mong mỏi cụ thể của Dân Việt Quốc nội
Đây là những mong mỏi của người Dân quốc nội gồm 85 triệu người. Người Dân quốc nội đã phải sống những năm trường dưới chế độ độc tài Cộng sản. Những mong mỏi của họ gồm hai phương diện: mong phế bỏ cái ách độc tài hiện hành và mong xây dựng những gì tốt đẹp cho tương lai.
Mong phế bỏ cái ách độc tài
Thoát được cái ách độc tài hiện nay của chế độ Cộng sản, đó là điều mong mỏi nhất của Dân chúng Việt Nam tại quốc nội. Có một số người quan niệm sai lầm rằng chế độ độc tài hiện hành là một Thái cực và thể chế chủ trương Dân chủ nhân bản Dân tộc như vừa trình bầy trên đây là một Thái cực cùng mức thang so sánh. So sánh như vậy bằng chữ hai Thái cực cùng bình diện là hoàn toàn sai lầm.
Nguyên tắc DÂN CHỦ NHÂN BẢN vừa trình bầy trên đây dựa trên việc tôn trọng NHÂN PHẨM và việc bảo vệ NHÂN QUYỀN. Thể chế độc tài Cộng sản không phải là một Thái cực cùng bình diện để so sánh, mà chỉ là một VI PHẠM, một phủ nhận, đối với Chân lý. Khi đòi phế bỏ ĐỘC TÀI không tôn trọng Nhân Phẩm, không bảo vệ Nhân quyền, không thi hành nguyên tắc Dân chủ, đó chỉ là việc đòi hỏi ngưng VI PHẠM mà Cộng sản Việt Nam đang làm. Việc VI PHẠM này không thể coi là một Thái cực cùng bình diện so sánh với ước vọng tôn trọn NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN, thi hành nguyên tắc DÂN CHỦ.
Tôi nhấn mạnh về điểm sai lầm so sánh này để trong những bài kế tiếp, tôi phân tích việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa Chân lý và phủ nhận Chân lý. Tỉ dụ khi mầu TRẮNG là mầu trắng, nhưng có người mát dây điện cứ nói là KHÔNG TRẮNG (cố tình phủ nhận), rồi chúng ta cố gắng hòa lẫn MẦU TRẮNG (thực thể) với điều KHÔNG TRẮNG (phủ nhận), thì làm thế nào làm được.
Việc phủ nhận một thể chế Dân chủ Dân tộc không phải là bằng lời nói, mà bằng sức mạnh hà hiếp khủng bố. Chính Cộng sản Việt Việt Nam cũng biết đây là điều sai quấy, cối chầy, nhưng họ đã quá ham quyền hành để có thể vơ vét tài sản của Dân và của Quốc gia, nên đã muối mặt bất chấp việc sai quấy, cối chầy của họ. Thực vậy, nếu không có sức mạnh hà hiếp khủng bố, thì Dân đã quét sạch đám tội đồ dân tộc này rồi.
Khi chính Đảng Cộng sản biết họ là những người ham quyền hà hiếp, phủ nhận một nền Dân chủ Dân tộc chân chính, thì họ sẽ khinh những người coi họ cùng bình diện giá trị để Hòa giải Hòa hợp bởi vì Cộng sản biết đây chỉ là những nịnh thần để mong quyền hành, chứ không phải là những người đấu tranh cho những giá trị thực sự.
Mong xây dựng thể chế Dân chủ Dân tộc
Khi phế bỏ được những sức mạnh khủng bố hà hiếp, người Dân tất nhiên mong xây dựng cho một thể chế biết: => Tôn trọng NHÂN PHẨM của từng người => Bảo vệ NHÂN QUYỀN cho mỗi cá nhân => Aùp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC cho Xã Hội Việt Nam
Ba điều mong mỏi trên đây thiên trọng về đời sống tinh thần của con người và cũng là điều kiện để từng cá nhân phát triển những phương tiện chắc chắn bảo tồn cuộc sống vật chất của mình.
Mong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực
Như chúng tôi đã nói ở phần đầu, con người trước tiên là một con vật tìm mọi phương tiện sinh sống để bảo tồn thân xác của mình. Dạ dầy của con người giống như dạ dầy của con vật. Việc kiếm đồ ăn cho dạ dầy là cá nhân và tự do. Rất hiếm ai (bình thường) nhịn đói đến chết để mang đồ ăn nuôi sống ngưới khác.
Một nền kinh tế tư sản và tự do là nền kinh tế căn bản dựa trên việc tôn trọng mỗi cá nhân tìm sống để bảo tồn chính thân xác mình. Nền kinh tế ấy phải được bảo đảm bởi một Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) mà Dân chúng quyết định theo nguyên tắc Dân chủ.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
HÒA GIẢI HÒA HỢP: BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số vtdi0211/21.04.05 này nói về đề tài thứ hai: Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Giữ vững lấy bản chất của một chế độ, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi mà chế độ không thể nhượng bộ. Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:
=> Chế độ VNCH coi con người cá nhân là mục đích của mọi sinh hoạt xã hội => Ba Ý niệm nền tảng của chế độ: NHÂN PHẨN, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ => Những vi phạm nhất thời có thể sửa chữa
Chế độ Việt Nam Cộng Hòa coi con người cá nhân là mục đích của mọi sinh hoạt xã hội
Người ta gọi Chế độ là những nguyên tắc, Luật pháp quy định việc quản trị, điều hợp những sinh hoạt chung đụng của một Cộng đồng bao gồm những Cá nhân thành phần. Mức độ quan trọng của Cá nhân được đặt vào những nguyên tắc, Luật pháp quản trị Xã hội là những tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa những Chế độ.
Tỉ dụ khi lấy Cá nhân làm mục đích tối hậu, thì Luật pháp không thể bóp chết những phát biểu ý nghĩ của cá nhân, nghĩa là bóp chết quyền tự do ngôn luận. Cũng vậy khi cá nhân được coi là đích điểm phục vụ của Nhà Nước, thì Nhà Nước không thể đặt Luật pháp bóp chẹt quyền tự do tín ngưỡng như trong Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo mà Quốc Hội Nhà Nước Việt Nam ban hành năm 2004.
Nếu chế độ coi Cá nhân chỉ là phương tiện để phục vụ cho một Ý tưởng (Ý thức hệ) nào đó của một Nhóm người, thì những quy chế, Luật pháp đặt ra sẽ coi rẻ cá nhân tự do và ép buộc những cá nhân trong Tập thể phải phục vụ những Ý tưởng của Nhóm người đó. Đây là thể chế độc tài đảng trị vậy.
Đệ Nhất Cộng Hòa cho Việt Nam được thiết lập, lấy con người là trọng tâm phục vụ của chế độ này. Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã nêu cao chủ trương Nhân Vị (Thuyết Nhân Vị của Đảng Cần Lao), nghĩa là Cá nhân là mục đích phục vụ, làm tiêu chuẩn để thiết lập những quy chế, Luật pháp của thể chế. Ba Ý niệm nền tảng của chế độ: NHÂN PHẨN, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ Thể chế Việt Nam Cộng Hòa, từ Đệ Nhất Cộng Hòa, chủ trương con ngưới CÁ NHÂN là mục đích phục vụ của mọi sinh hoạt Xã Hội. Khi coi cá nhân là trọng, thì thể chế ấy không thể không tôn trọng NHÂN PHẨM, không thể đè bẹp NHÂN QUYỀN nơi mỗi cá nhân và từ đó, trong những quyết định mọi quy chế, Luật pháp quản trị, nguyên tắc DÂN CHỦ phải được triệt để áp dụng.
Như vậy, thể chế Việt Nam Cộng Hòa giữ vững 3 Ý niệm nền tảng: NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN và DÂN CHỦ với những hệ luận trực tiếp giữa 3 Ý niệm ấy. Chúng tôi trình bầy chi tiết dưới đây về 3 Ý niệm nền tảng này và những hệ luận trực tiếp giữ chúng đi từ chủ trương lấy Cá nhân làm trọng tâm phục vụ của mọi sinh hoạt xã hội: Tương trợ xã hội, Triển nở Văn hóa, Phát triển Kinh tế...
Rút ra Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát
Chúng tôi muốn lấy ý niệm NHÂN PHẨM làm nền tảng nguyên thủy để nói về NHÂN QUYỀN và nguyên tắc DÂN CHỦ.
Con người trước tiên là con vật như các con vật khác, có thân xác và phải tìm phương tiện bảo tồn thân xác ấy vì muốn sống. Một số lớn các loài vật không giết và ăn thịt chủng loại của mình. Đó là cái bản năng tôn trọng chủng loại của mình. Con người là một loại vật có được sự hiểu biết, tính thông minh vượt trội hẳn các loài vật khác. Sự thông minh này làm cho con người có thể hiểu biết được những cơ biến của thiên nhiên và khống chế những cơ biến ấy để phục vụ cho mình trên đường tìm phương tiện bảo tồn thân xác. Người ta gọi đây là tiến bộ khoa học và vật chất. Nếu loài vật biết tránh việc giết và ăn thịt chủng loại mình vì bản năng, thì tính thông minh nơi con người còn đi xa hơn bản năng súc vật, tạo cho mình một nền văn hóa và luân lý làm căn bản cho việc tôn trọng chủng loại mình, tỉ dụ như không những không giết và ăn thịt người khác, mà còn kính trọng, giúp đỡ đồng loại của mình.
NHÂN PHẨM có nghĩa là sự nhận biết cái giá trị của một con người, không những về thân xác mà còn về tinh thần của cá nhân, vì đó là một con người chứ không phải là con vật hay cỏ cây vô tri. Tôn trọng NHÂN PHẨM của người khác là phản ứng đầu tiên không phải chỉ vì bản năng mà còn vì sự phát triển văn hóa, luân lý đến từ trí thông minh. Một con người được sinh ra, dù khác mầu da, chủng tộc, phải được tôn trọng như người như mình. Đó đòi buộc tối sơ và tiên khởi: TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM.
Từ việc tôn trọng NHÂN PHẨM này, chúng ta suy diễn ra những quyền sống làm người. Đó là NHÂN QUYỀN. Những quyền căn bản của con người được liệt kê trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tuy nhiên chính mỗi cá nhân có thể nhận biết nhân quyền ấy trong đời sống thực tế hàng ngày qua câu nói căn bản:“Khi không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Câu nói này một đàng làm cho mình nhận biết cái quyền nơi người khác, một mặt bảo mình phải tôn trọng cái quyền ấy của người khác. Tất nhiên để có thể giữ trúng câu nói này, thì việc tối sơ là mình phải biết tôn trọng Nhân phẩm như đã nói trên đây. Thực vậy, một người không biết trọng Nhân phẩm, thì họ không biết tôn trọng những quyền sống căn bản nơi người khác.
Tỉ dụ khi bị đàn áp quá đáng, chịu không nổi, mình muốn nói ra để phản đối. Nhưng có người khác bịt miệng mình, cấm không cho nói. Mình không muốn người khác cấm cản mình nói. Khi không muốn như vậy, thì chính mình phải biết rằng mình không được bịt miệng, cấm cản người khác phát biểu lên trong trường hợp phải chịu như chính mình. Đây là việc nhận biết và tôn trọng quyền phát biểu, NGÔN LUẬN, của người khác. Cụ thể Đảng Cộng sản cấm Dân phát biểu, nhưng nếu Dân cấm Đảng phát biểu, Đảng có chấp nhận hay không ? Đây là một tỉ dụ trong việc áp dụng câu nói trên để nhận biết và tôn trọng những quyền căn bản sống làm người: NHÂN QUYỀN.
Trên đây là nói về phương diện riêng lẻ từng cá nhân sống. Con người có thể sống riêng lẻ cá nhân. Chúng tôi vẫn chưa chấp nhận câu định nghĩa:“Người là con vật sống Xã hội“. Cuộc sống chung xã hội chỉ là một nhu cầu mà cá nhân tự do thấy hữu ích trong việc phát triển cá nhân mình. Họ có quyền không chấp nhận.
Vì nhu cầu làm tăng hữu hiệu việc phát triển cá nhân, con người tự do chấp nhận cuộc sống Tập thể. Mỗi cá nhân có những khác biệt trong việc tìm phương tiện bảo tồn thân xác và phát triển trí thông minh, vì vậy mà trong cuộc sống Tập thể họ phải có những quy ước với nhau để giải quyết những khác biệt. Một trong những quy ước căn bản để giải quyết cuộc sống chung Tập thể, đó là nguyên tắc DÂN CHỦ. Đây là nguyên tắc lấy số đông làm chân lý tương đối. Như vậy, nguyên tắc DÂN CHỦ chỉ là một quy ước giữa những cá nhân tự do quyết định sống trong một Tập thể để giải quyết những khác biệt đến từ chính những cá nhân thành phần ấy. Chúng tôi gọi DÂN CHỦ là nguyên tắc nội tại giữa những cá nhân của Tập thể. DÂN CHỦ không thể là nguyên tắc đặt để cho Tập thể từ bên ngoài hay từ một quyền lực đứng trên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ ngoại tại Tập thể cá nhân chỉ là ĐỘC TÀI trá hình Dân chủ.
Nguyên tắc DÂN CHỦ lấy cá nhân làm căn bản, nghĩa là nguyên tắc này phải biết tôn trọng NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN. Việc tôn trọng Nhân phẩm và Nhân quyền là nền tảng để bảo chứng việc tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự. Có trôn trọng NHÂN PHẨM, thì mới nhận biết và tôn trọng NHÂN QUYỀN. Có tôn trọng NHÂN QUYỀN, thì mới có thể quy ước với nhau nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự để giải quyết những khác biệt trong cuộc sống Tập thể.
Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát áp dụng cho Dân tộc
Trong phần trên, chúng tôi nói đến nguyên tắc Dân chủ đi từ việc tôn trọng Nhân phẩm, rồi tìm biết đâu là Nhân quyền để bảo vệ. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản bởi vì nó không đến từ một Nhân sinh quan, một Xã hội quan hay Tôn giáo quan hiểu như một sự cấu trúc lý luận từ một tiền đề phải chấp nhận hay từ một lòng Tin. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát. Nguyên tắc DÂN CHỦ nhân bản phổ quát là nguyên tắc mà mọi Tập thể Xã hội nhân loại phải giữ làm quy ước, từ Xã hội Aâu, Á, Mỹ, Phi, Uùc. Nhưng nguyên tắc Dân chủ ấy khi áp dụng vào mỗi Dân tộc, mỗi Địa phương, có những hoàn cảnh Văn hóa, Kinh tế, Phong tục...làm thay đổi những chi tiết. Chúng tôi gọi đây là nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC, nghĩa là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát chịu ảnh hưởng của những dị biệt của từng Dân tộc.
Tỉ dụ tại Tây phương, giữa Pháp và Ý, khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ quyết định cho Tự do ngôn luận, người Pháp thả lỏng về lộng ngôn hơn, trong khi đó người Ý nghĩ nhiều đến yếu tố Gia đình, tôn trọng triệt để ý kiến của người Mẹ (Mama). Tại Việt Nam cũng vậy, phải kể đến việc tôn trọng người cao tuổi khi nguyên tắc Dân chủ quyết định về tự do ngôn luận cho giới trẻ.
Một vài tỉ dụ trên cho thấy rằng khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, chúng ta phải kể đến ảnh hưởng của những điều kiện Dân tộc để quyết định theo nguyên tắc ấy.
Những vi phạm nhất thời có thể sửa chữa
Chúng tôi xin nhắc lại một ít nét Lịch sử tổng quát từ những Quốc gia Á, Phi, Nam Mỹ thâu hồi độc lập sau thời gian thuộc địa bị đô hộ. Các Quốc gia này thiết lập một thể chế Dân chủ Dân sự theo khuôn mẫu Tây Phương. Sau một thời gian, những Chính quyền Dân sự bị phản đối là độc tài để rồi Quân đội can thiệp vào lật đổ và thay thế vào đó một thể chế Quân phiệt. Một số thể chế Quân phiệt sau một thời gian, bị phản đối và Quốc gia có thể từ độc tài Quân phiệt chuyển qua độc tài Dân sự trong phong trào Mặt Tận Giải Phóng do Cộng sản Quốc tế chủ trương.
Tại Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy sự chuyển biến này, từ thể chế Việt Nam Cộng Hoà dân sự chuyển sang Quân đội, rồi những chống đối Dân sự từ những người của thể chế Cộng Hòa hay từ những người dưới sự điều khiển của độc tài Cộng sản Hà Nội như Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, các Phong trào Hoà Bình, Phản Chiến...
Những Chuyển biến Lịch sử rất phức tạp. Một số người muốn lấy những chuyển biến Lịch sử này để công kích sự hữu hiệu của thể chế Dân chủ dựa trên 3 Ý niệm nền tảng: tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN và áp dụng triệt để nguyên tắc DÂN CHỦ.
Chúng tôi công nhận có những vi phạm 3 Ý niệm nền tảng trên đây của thể chế Dân chủ, nhưng chúng tôi nhấn mạnh rằng những vi phạm ấy chỉ là những vi phạm nhất thời, nghĩa là người Dân có thể kiện toàn lần hồi thể chế dựa trên 3 Ý niệm nền tảng. Phong trào Cộng sản Quốc tế đã tuyên truyền nhồi sọ cho Dân chúng rằng những vi phạm này là thất bại căn bản của thể chế Dân chủ để Cộng sản cướp lấy chính quyền và thiết lập một thể chế độc tài Cộng sản, không tôn trọnh NHÂN PHẨM, phế bỏ NHÂN QUYỀN và không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ. Con người Cá nhân chỉ là phương tiện phục vụ cho chế độ trong chế độ độc tài Cộng sản. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | HÒA GIẢI HÒA HỢP: BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN HIỆN HÀNH &nb |
|
|
|