
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Fight for Liberty&Democracy in Vietnam/Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
NHUNG BAI Chu de CHINH TRI/ Subject POLITICS
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
------------------------------------------------------------------------------- CHỦ ĐỀ THỜI SỰ CHÍNH : DAN CHU & TU DO NGON LUAN -------------------------------------------------------------------------------
QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN LÀ CHÌA KHÓA CHO TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA
“Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình” (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982). (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)
NHIỆT LIỆT ỦNG HỘ VÀ PHỔ BIẾN BÁN NGUYỆT SAN "TỰ DO NGÔN LUẬN" Phát hành tại Quốc nội Tổng biên tập: Linh mục CHÂN TÍN Ban Biên tập: Lm.NGUYỄN VĂN LÝ, Lm.PHAN VĂN LỢI Web: http://tudongonluan.atspace.com
Tuyên Bố về Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận của người Dân Việt Nam
- Xét rằng : Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận là một Quyền rất cơ bản của mọi nền Dân chủ đích thực, nhưng hiện nay toàn Dân Việt Nam, trong thực tế, chưa hề được bày tỏ công khai quan điểm và chính kiến độc lập của mình và chưa hề có một cơ quan thông tin tư nhân nào được phép hoạt động cả ; - Xét rằng : Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966 mà Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã xin gia nhập ngày 24.9.1982 đã qui định : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ” (điều 19,2) - Xét rằng : Một số rất ít Nhà cầm quyền độc tài toàn trị còn rơi rớt lại trên trái đất, trong đó có Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, đều lạm dụng điều 19,3,b của Công ước nói trên : “Quyền ở điều 19,2 có thể bị hạn chế phần nào để bảo vệ an ninh quốc gia, hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng” hầu bóp chết quyền Tự do Thông tin Ngôn luận rất chính đáng của người Dân trong Nước họ, vì Các Nhà cầm quyền độc tài toàn trị ấy luôn ngụy biện đồng hóa “bảo vệ An ninh Quốc gia” chân chính với “bảo vệ an ninh” cho Chế độ của mình. Ai ai có lương tri đều hiểu An ninh Quốc gia được gia tăng chỉ khi toàn Dân được thông tin thông thoáng, tiếp cận tình hình thế giới, mở rộng tầm nhìn, nhận thức đầy đủ lành mạnh đúng đắn. Trái lại chính việc Nhà cầm quyền độc quyền bưng bít hoặc bịa chuyện để lừa gạt Dân mới là một trong các nguyên nhân tất yếu làm Tổ quốc suy tàn bi thảm, Dân tình tang thương biến loạn; - Xét rằng : Sách Trắng do Bộ Ngoại giao Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam công bố ngày 18-8-2005 đã công khai tuyên truyền với Quốc tế : “Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người Dân tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet” (Chương II, mục I,2) ; Vậy thay mặt cho hàng triệu người Dân Việt Nam đang hằng giờ thao thức tìm đọc thông tin từ Internet cũng như từ các nguồn thông tin khác, chúng tôi đồng thanh tuyên bố : 1/- Chúng tôi có Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận, có quyền tiếp cận các nguồn thông tin từ mọi phía. 2/- Yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tạo ngay các điều kiện cần thiết để chúng tôi được công khai sử dụng và khai thác các nguồn thông tin hữu ích của Nhân loại như Sách Trắng chính Bộ Ngoại giao VN công bố ngày 18-8-2005, chứ không phải bị trói buộc bởi các quy định phi lý và vô nguyên tắc như hiện nay. 3/- Yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thả ngay các tù nhân Thông tin ngôn luận Nguyễn Vũ Bình và Phạm Hồng Sơn, đồng thời chấm dứt vĩnh viễn các hành động bắt bớ, trấn áp, sách nhiễu người Dân như đã bắt giam 2 ông Văn Sáu và Hoàng Trọng Châu ở Phước Long chỉ vì họ đòi được hưởng quyền thu thập và truyền bá thông tin lành mạnh. Vì việc bắt bớ giam cầm họ chỉ là một cách tự thú nhận trước Cộng đồng Quốc tế rằng Nghị quyết 1481 của Nghị viện Hội đồng Châu Âu ngày 25-01-2006 lên án Chủ nghĩa và Chế độ Cộng sản đã tàn phá Nhân loại nặng nề như Chủ nghĩa Đức Quốc xã là hoàn toàn xác thực. 4/- Yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam sửa đổi ngay luật Báo chí, công khai tuyên bố tạo điều kiện dễ dàng cho báo chí tư nhân được tự do xuất bản ở Việt Nam. Tuyên bố tại thành phố Huế, ngày 23-02-2006 Thay mặt nguyện vọng hưởng Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận của người Dân Việt Nam Linh mục Têphanô Chân Tín, Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi
NHIỆT LIỆT KÝ TÊN ĐÒI QUYỀ TỰ DO THÔNG TIN NGÔN LUẬN http://www.PetitionOnline.com/TDNL/petition.html Kính quý Vị, Trước khi hành xử quyền Tự do Ngôn luận và Thông tin cho người khác, thì cái quyền tối sơ nhất là Quyền được biết những gì xây ra chung quanh mình (DROIT DE SAVOIR/ RIGHT TO KNOW). CSVN đàn áp ngay cái quyền được biết (Droit de Savoir/ Right to Know) tỉ dụ như khi cấm đoán và bắt giữ hai người Dân mới đây ở Bình Long. CSVN biến con người thành MÙ, thành ĐIẾC, thành CÂM, thành TỊT MŨI , thành mất XÚC GIÁC không còn BIẾT ĐƯỢC (Savoir/ to Know) những gì xẩy ra chung quang mình. Con người còn kém hơn súc vật, mà trở thành đất đá VÔ TRI ( Sans DROIT DE SAVOIR/ Without RIGHT TO KNOW) Trân trọng, NGUYEN PHUC LIEN
PHONG TRÀO DÂN CHỦ VIỆT NAM LỜI KÊU GỌI CHO QUYỀN CÔNG NHÂN
Hỡi các Công nhân toàn Đất nước, Hãy liên kết đòi hỏi Công bằng và Lẽ phải !
Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước, Kính thưa toàn thể Quý vị yêu chuộng Nhân quyền khắp năm châu,
Chúng tôi, đại diện một số nhà đấu tranh cho Dân chủ Nhân quyền tại Việt Nam, xét rằng : 1- Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, điều 56 đã ghi : “Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương.” Và điều 10 đã ghi : “Công đoàn là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động… chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác.” 2- Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được biểu quyết ngày 16-12-1966 và Việt Nam xin gia nhập ngày 24-9-1982, điều 7 đã ghi : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt bảo đảm : (a) trả thù lao cho tất cả mọi Công nhân ít nhất với : (i) tiền lương thỏa đáng và thù lao bằng nhau cho những công việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào… (ii) một cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ…; (b) những điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh ; (c) cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt…; (d) sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ.” Điều 8 Công ước cũng đã ghi : “Các Quốc gia thành viên của Công ước cam kết bảo đảm : (a) quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình…; (b) quyền của các Tổ chức Công đoàn được thành lập các Liên hiệp Công đoàn Quốc gia và quyền của các Liên hiệp Công đoàn được thành lập hay gia nhập các Tổ chức Công đoàn Quốc tế ; (c) quyền của các Công đoàn được tự do hoạt động, không hề bị một sự hạn chế nào ngoài những hạn chế do Luật pháp quy định và cần thiết đối với xã hội dân chủ vì lợi ích của an ninh quốc gia và trật tự công cộng…; (d) quyền đình công với điều kiện là quyền này phải được thực hiện phù hợp với Luật pháp của mỗi Nước”. 3- Giáo huấn của Giáo hội Công giáo qua Công đồng chung Vaticanô II, trong Hiến chế Mục vụ ngày 07-12-1965, đã xác định : “Trong những hoàn cảnh cụ thể, chính xã hội có bổn phận góp phần giúp người Công dân có thể tìm được công ăn việc làm. …Việc làm cần phải được trả lương sao cho Con Người có đủ khả năng xây dựng cho mình và gia đình một đời sống xứng hợp cả về phương diện vật chất, xã hội, văn hóa cũng như tinh thần. Hoạt động kinh tế thường là kết quả của việc hợp tác giữa nhiều người. Do đó, nếu tổ chức và điều hành hoạt động này làm thiệt hại cho bất cứ lớp Công nhân nào thì đều là bất công và vô nhân đạo. Ngay cả ngày nay, điều thường xảy ra là Công nhân trở thành nô lệ cho chính việc làm của mình. Điều ấy không thể được biện minh bằng bất cứ luật kinh tế nào” (số 67). “Giữa những quyền lợi căn bản của Con Người, đối với Công nhân, cần phải kể đến quyền được tự do lập những Hiệp hội để có thể thực sự đại diện cho họ và góp phần vào việc tổ chức đời sống kinh tế một cách tốt đẹp. Ngoài ra, cũng cần phải kể đến quyền tự do tham gia vào hoạt động của những Hiệp hội này mà không sợ bị trả thù” (số 68). 4- Từ cuối năm 2005 đến nay, hàng mấy chục cuộc biểu tình đình công đồng loạt của hơn trăm ngàn Công nhân trong các công ty xí nghiệp ngoại quốc lẫn quốc doanh khắp cả Đất nước để đòi tiền lương thỏa đáng, đòi cải thiện chế độ làm việc và nghỉ ngơi, đòi bảo hiểm xã hội đầy đủ, đòi được chủ nhân tôn trọng nhân phẩm, đòi sửa đổi luật lao động, đặc biệt đòi quyền thành lập Công đoàn Tự do… và đối lại là những phương cách giải quyết hoàn toàn không thỏa đáng, rất bất công của Nhà cầm quyền..., tất cả đã vẽ ra một bức tranh u ám và thê thảm về tình trạng giới Công nhân tại Việt Nam (bức tranh này được thể hiện cách sinh động trong thư đơn “Nỗi niềm Khóc hận Thương tâm của tầng lớp Công nhân lao động nhập cư nghèo từ các tỉnh về thành phố” do 11 Công nhân nam nữ rất dũng cảm đã đưa lên mạng thông tin toàn cầu ngày 18-2-2006). Thứ đến, các sự kiện ấy cho toàn thể thế giới thấy rằng đảng Cộng sản Việt Nam, vốn luôn vỗ ngực tự xưng là “đội tiên phong của giai cấp Công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp Công nhân, Nhân dân lao động” (Hiến pháp điều 4) đang hoàn toàn đi ngược với những gì đã được nói bô bô trên môi miệng các nhà lãnh đạo, đã được viết ra trang trọng trong Hiến pháp và đã được cam kết tuân giữ trong Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nói trên, khi họ thay vì bênh vực Công nhân Đồng bào mình, thì lại đứng về phía giới chủ tư bản nước ngoài để khống chế mức lương và điều kiện làm việc của Công nhân Việt xuống đến mức không thể chấp nhận được. Điều này đang và sẽ gây ra tai họa khôn lường ngày càng nặng nề cho Đất nước và Dân tộc.
Đứng trước thực trạng bùng nổ bi thảm đó, toàn thể chúng tôi : 1- Chân thành biểu dương ý thức sắc bén về Nhân quyền, tinh thần đoàn kết, dũng cảm và kiên trì của Anh Chị Em Công nhân, lần đầu tiên trong chế độ cộng sản độc tài Việt Nam, đã biết cùng nhau đứng lên đấu tranh không những với những chủ tư bản bóc lột mà còn với một Nhà cầm quyền toàn trị đàn áp, để đòi hỏi mọi Quyền lợi chính đáng cho mình và từ đó đòi hỏi Công lý cho toàn Dân. Chúng tôi đặc biệt cảm phục và hoàn toàn ủng hộ 11 Anh Chị Em Công nhân đã viết ra bức Tâm thư với 8 yêu sách rất chính đáng ngày 18-2-2006 vừa qua. 2- Cương quyết đòi hỏi Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải mau chóng sửa đổi luật lao động cho phù hợp với tiêu chuẩn văn minh và nhân quyền quốc tế ; tạo điều kiện để các Công nhân tự thành lập các Công đoàn có khả năng bênh vực quyền lợi chính đáng của mình thay cho Công đoàn công cụ tay sai tai mắt do chính Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã dựng lên ; trả lương tối thiểu cho Công nhân trong và ngoài công ty xí nghiệp quốc doanh đồng đều nhau và ngang mức lương tối thiểu của khu vực ; cải thiện điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, ăn ở, y tế, hưởng thụ văn hóa của Công nhân ; và phải cung cấp thông tin đầy đủ đồng thời trả tự do lập tức và vô điều kiện cho gần 100 Công nhân đình công đang bị giam giữ bí mật theo như phát hiện của báo chí quốc tế. 3- Cương quyết đòi hỏi Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không được dùng bạo lực để đàn áp các cuộc đình công, không được sửa đổi luật lao động theo chiều hướng nhằm hoàn toàn qui kết các cuộc đình công chính đáng là vi phạm pháp luật, không nên hạ mình xin lỗi hay uốn lưỡi lấy lòng các chủ tư bản ngoại quốc mà trái lại phải xin lỗi và đền bù cho các Công nhân Việt Nam do đã bóc lột họ quá nặng nề và đã đẩy gia đình họ đến chỗ điêu đứng. Thử hỏi khi lãnh đạm trước nỗi khổ nhục của chính Công nhân Đồng bào lao động để làm vừa lòng giới tư bản ngoại quốc như vậy thì Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam còn xứng đáng là một Nhà Nước vì Dân và cho Dân nữa không ? 4- Cương quyết đòi hỏi Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chính sách “xuất khẩu lao động” mà bao năm qua đã liên tục xúc phạm nặng nề Nhân phẩm của chính Công dân mình vì đã coi họ chỉ như một mặt hàng xuất khẩu, gây ra thảm nạn Công nhân đi lao động nước ngoài đã và đang bị bóc lột bởi các công ty môi giới quốc nội và các công ty tuyển dụng ngoại quốc, bị đẩy vào kiếp nô lệ lao công hay nô lệ tình dục hết sức thê thảm ở xứ người, bị các Tòa Đại sứ và Lãnh sự Việt Nam bỏ mặc hay hăm dọa. Đây là một nỗi ô nhục lớn lao cho Đất nước, một nỗi đớn đau xé lòng của toàn thể Dân tộc hôm nay. 5- Kêu gọi giới trí thức và giới tu hành (đặc biệt hàng lãnh đạo) hãy kịp thời và can đảm lên tiếng bênh vực công khai và hiệu quả các Anh Chị Em Công nhân thấp cổ bé miệng, thay vì dửng dưng vô cảm, hoặc cùng lắm chỉ lẳng lặng xót xa cho họ, hoặc chỉ bí mật van xin cường quyền nương tay hay chỉ âm thầm giúp đỡ một vài Công nhân riêng lẻ. Tiếng nói của các thế lực tinh thần sẽ góp phần rất lớn vào việc giải cứu giới công nhân Việt Nam khỏi thảm trạng bị bóc lột vào loại tồi tệ nhất thế giới hiện nay, chuyển đổi chế độ độc tài vốn luôn rêu rao bênh vực quyền lợi của Nhân dân, đặc biệt Nhân dân lao động, nhưng thực tế thì hoàn toàn trái ngược như thảm trạng giới lao động Việt Nam hiện nay đang minh chứng quá rõ ràng. Ước gì giới trí thức và giới tu hành luôn ý thức rằng chính nhờ Anh Chị Em Công nhân đang lao động vất vả kiệt lực đêm ngày cho bao người được thảnh thơi, nghiên cứu, tu hành, hoặc du lịch, thư giãn ! 6- Kêu gọi Anh Em Quân nhân Binh sĩ và Công an Cảnh sát hãy vì lương tâm và tình tự Dân tộc mà đứng về phía Nhân dân, bênh vực Đồng bào lao động đang bị cường quyền bóc lột đàn áp, chứ đừng tiếp tục trở thành công cụ bạo lực trong tay đảng và nhà cầm quyền Cộng sản như hơn nửa thế kỷ qua. 7- Kêu gọi Đồng bào Hải ngoại tiếp tục lưu tâm đến hoàn cảnh bi đát của công nhân Việt Nam hiện nay, thành lập Quỹ Hỗ trợ Đình công giúp người lao động trong Nước (theo sáng kiến của nhóm Việt kiều Tây Úc), Quỹ Hỗ trợ Pháp lý giúp người lao động ở nước ngoài (theo sáng kiến của nhóm VietAct tại Đài Loan), vận động các Chính phủ và các Tổ chức Quốc tế, đặc biệt các tổ chức Công đoàn, để họ nêu việc tôn trọng quyền Công nhân cách minh bạch như một trong các điều kiện đòi buộc Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải đáp ứng khi xin gia nhập hoặc liên kết với các Cơ quan Quốc tế, cụ thể lúc này là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đó là một trong những phương cách hữu hiệu và nhanh chóng để đưa chế độ Cộng sản vô nhân bản, phản nhân quyền, phi dân chủ này đi vào quá khứ. Chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả Quý Vị. Nguyện xin Tạo Hóa, Đấng đã trao trái đất cho bàn tay và khối óc loài người để xây dựng hành tinh nầy thành một thế giới đầy an bình và tình thương, ban nhiều sức mạnh đấu tranh cho toàn thể Công nhân Việt Nam và soi dẫn sáng kiến lẫn thúc đẩy nhiệt tình cho chúng ta để hỗ trợ họ.
Kêu gọi từ Việt Nam ngày 19-03-2006, Thay mặt một số nhà đấu tranh cho Dân chủ Nhân quyền tại Việt Nam : 1. Linh mục G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 2. Đạo trưởng Lê Quang Liêm, Sài Gòn 3. Linh mục Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 4. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội 5. Linh mục Augustinô Hồ Văn Quý, Huế 6. Gs Trần Khuê, Sài Gòn 7. Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hội, Huế 8. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội 9. Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế 10. Mục sư Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn 11. Linh mục Giuse Hoàng Cẩn, Huế 12. Tu sĩ Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp 13. Linh mục G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 14. Tu sĩ Lê Văn Sách, Vĩnh Long 15. Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 16. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 17. Linh mục Đa Minh Phan Phước, Huế 18. Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội 19. Linh mục Giuse Trần Văn Quý, Huế 20. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn 21. Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Huế 22. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn
LỜI KÊU GỌI CHO QUYỀN LẬP HỘI
Lời Kêu Gọi cho Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng phái tại Việt Nam năm 2006 của 116 Nhà đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam
Kính thưa Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước, Kính thưa Quý liệt vị đang mong ước Dân chủ cho Việt Nam trên toàn cầu, Cùng với bao người đang quên mình đấu tranh cho nền Dân chủ của Quê hương, chúng tôi, đại diện hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ cho Việt Nam ở quốc nội ký tên dưới đây, đồng thanh lên tiếng thay cho toàn thể người Việt trong và ngoài Nước rằng : Vận mệnh Tổ quốc đã, đang và sẽ lâm nguy do một tập đoàn độc quyền toàn trị là đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếng nói của chúng tôi vang lên đây nhằm mục đích cổ vũ các hoạt động chính trị vì ích quốc lợi dân, bênh vực mọi Nhân quyền và Dân quyền mà một Đất nước Dân chủ chân chính phải thực sự chủ trương và bảo vệ, trong đó có Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng phái, căn cứ trên các nền tảng dưới đây : 1- Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966 và Việt Nam tham gia ngày 24-9-1982, điều 5,2 : “Không được phép hạn chế hoặc hủy bỏ bất kỳ Quyền Cơ bản nào của con người đã được công nhận hoặc hiện tồn ở một Quốc gia thành viên của Công ước này”; điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn ; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. 2- Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều 3 : “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân”; điều 11 : “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình… bằng cách tham gia công việc của Nhà nước… bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công dân… tổ chức đời sống công cộng”; điều 50 : “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng”; điều 53 : “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và Xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả Nước và địa phương”; điều 69 : “Công dân có Quyền Tự do Ngôn luận… có Quyền Hội họp, Lập hội, Biểu tình…” 3- Hiến chế Mục vụ của Công đồng chung Vaticanô II của Giáo hội Công giáo hoàn cầu năm 1965, số 73 : “Nhờ ý thức mãnh liệt hơn về phẩm giá con người, ngày nay tại nhiều Nước trên thế giới, người ta cố gắng thiết lập một thể chế chính trị pháp lý để bảo vệ hữu hiệu hơn quyền lợi của cá nhân trong đời sống công cộng, chẳng hạn quyền được tự do hội họp, tự do lập hội, tự do phát biểu ý kiến và tự do tuyên xưng tín ngưỡng cách riêng tư hoặc công khai ; vì việc đảm bảo những quyền lợi của con người là điều kiện thiết yếu để người Công dân, với tư cách cá nhân hay đoàn thể, có thể tham gia cách tích cực vào đời sống và vào guồng máy quốc gia… Trái lại người ta lên án bất cứ thể chế chính trị nào, như hiện có ở một vài Nước, nếu nó ngăn cản quyền tự do công dân hoặc tín ngưỡng, nếu nó làm gia tăng con số các nạn nhân của tham lam và của tội ác chính trị, nếu nó làm cho việc cai trị đi lệch đường, thay vì mưu cầu công ích lại phục vụ cho một tập đoàn hay chính những người cầm quyền”; số 75 : “Tất cả mọi Kitô hữu phải ý thức về sứ mệnh đặc biệt của mình trong cộng đoàn chính trị… Trong việc tổ chức trần thế, họ phải nhìn nhận những quan điểm chính đáng dầu đối chọi nhau… Họ phải chống lại bất công và áp bức, chống độc tài và ngoan cố của một cá nhân hay một đảng phái chính trị… (bởi lẽ) những đảng phái chính trị có bổn phận cổ võ những gì họ xét thấy cần cho công ích, chứ không bao giờ được đặt quyền lợi riêng trên công ích.” 4- Thực tế chung trên toàn cầu : Tuyệt đại đa số các Quốc gia đều có một nền chính trị đa nguyên đa đảng, một bầu khí cạnh tranh chính trị công khai lành mạnh qua bầu cử và sinh hoạt chính trị dân chủ bình đẳng trong nghị trường. Đảng thắng cử lên cầm quyền và đảng thất cử trở thành đối lập, hai bên giám sát lẫn nhau và như thế tương trợ nhau, đang khi lập pháp, tư pháp, hành pháp, rồi báo chí, quân đội, tôn giáo đều hoạt động độc lập, tất cả chỉ vì ích lợi Nước nhà. Mọi Công dân có tài năng và thiện chí tại các Nước đó đều có cơ hội phục vụ công ích và xây dựng Quốc gia qua các chính đảng. Nhờ thế mà các Nước ấy nói chung đều phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo đảm các nhân quyền ; mọi cá nhân đều có cơ hội thăng tiến, mọi cộng đoàn đều có điều kiện triển nở và mọi vấn đề xã hội đều nhanh chóng tìm ra được cách giải quyết. Tuy chưa hoàn hảo, nhưng các xã hội đa nguyên đa đảng ấy đã bao hàm các khả năng cần thiết để sửa sai, đổi mới và hoàn thiện. 5- Thực tế riêng tại Việt Nam : Đảng Cộng sản là đảng độc quyền duy nhất từ hơn nửa thế kỷ qua tại miền Bắc và hơn 30 năm trên cả Nước. Tuy chỉ là một chính đảng nhưng vì hoàn toàn dựa trên học thuyết Mác-Lênin nên đảng Cộng sản chủ trương toàn trị, nghĩa là độc tài thống trị mọi mặt của đời sống cá nhân lẫn cộng đồng, từ ý thức, tâm linh, tư tưởng, tình cảm đến kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật... Học thuyết Mác-Lênin lại chủ trương vô thần trên phương diện triết lý, độc đảng trên phương diện chính trị và xã hội chủ nghĩa trên phương diện kinh tế như một chân lý vĩnh viễn bất khả nhượng, trói buộc mọi Công dân. Thành ra đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đầu độc lương tri và cưỡng bức lương tâm con người, nhào nặn Nhân dân thành những thần dân hoàn toàn quy phục đảng qua việc độc quyền thông tin và giáo dục ; đã tiêu diệt các đảng phái quốc gia khác từng sát cánh kháng cự thực dân và đang cấm cản các đảng phái chính trị khác bằng điều 4 Hiến pháp năm 1992 ; đã và đang bách hại các tôn giáo, biến tòa án, quốc hội, chính quyền, báo chí, công an, quân đội, thậm chí các giáo hội thành công cụ cho riêng mình ; đã và đang đặt mọi luật lệ từ Hiến pháp đến các bộ luật, pháp lệnh, nghị quyết, thông tư… dưới ý muốn độc đoán của đảng, của bộ chính trị, thậm chí của vài nhân vật quyền uy nhất trong đảng ; đã và đang quản lý điều hành một nền kinh tế tư bản gian trá và khập khiễng vì mê muội, ngoan cố, gượng ép kéo theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” tai quái và không tưởng. Bởi thế, hiện trạng Việt Nam là sự hư hỏng lương tâm, tồi tệ nhân cách, bế tắc giáo dục, gian dối thông tin, tùy tiện luật pháp, hỗn loạn xã hội ; là cán bộ đảng viên lộng quyền và tham nhũng tràn lan và ngang nhiên ; là Nhân dân bị bóc lột tài sản và công sức, bị hăm dọa cuộc sống và nghề nghiệp ; là dân tình điêu đứng và phẫn uất ; là giới trẻ mất niềm tin, lý tưởng sống và định hướng tương lai ; là các tôn giáo bị lũng đoạn và tước đoạt ; là đồng bào hải ngoại ngao ngán và bất hợp tác ; là biên cương Tổ quốc bị ngoại bang lấn chiếm và đe dọa ; là chính thể bị phê phán lạc hậu, độc tài và Quốc thể bị coi thường ; là Đất nước thụt lùi tụt hậu thậm chí tới cả trăm năm so với nhiều Nước trong khu vực. Các bảng xếp hạng mọi mặt trong đó Việt Nam luôn đứng bậc thấp và các bản báo cáo tình hình trong đó Việt Nam luôn bị điểm mặt do các Chính phủ và Tổ chức Quốc tế công bố hằng năm là những bằng chứng. Mọi biện pháp do đảng Cộng sản đưa ra đều mang tính chắp vá, nửa vời, nhằm xoa dịu Nhân dân và che mắt Quốc tế, chẳng hề giải quyết được chuyện gì. Tất cả chỉ vì độc đảng, mà lại độc đảng Mác xít cộng sản ! Đứng trước thảm trạng và nguy cơ đó, cũng như trước viễn ảnh đại hội X của đảng Cộng sản Việt Nam sẽ mù quáng kiên trì học thuyết Mác-Lênin sai lầm và chế độ xã hội chủ nghĩa phá sản, đồng thời cho đảng viên chức quyền được làm kinh tế không giới hạn quy mô, chúng tôi tha thiết và đồng thanh lên tiếng : 1- Đòi buộc đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam trước hết phải lập tức hủy bỏ điều 4 Hiến pháp năm 1992, một điều khoản tai quái, ngang ngược không hề có trong một bản Hiến pháp nào trên thế giới, ngoại trừ Hiến pháp Liên xô (điều 6) vốn đã bị nhân dân Nga vất vào sọt rác lịch sử, tiến đến việc thay thế bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa năm 1992 bằng một Bản Hiến pháp khác văn minh dân chủ hơn. Thứ đến phải phi đảng hóa quốc hội, tòa án, nhà nước, quân đội, công an, trường học, bệnh viện, công ty, xí nghiệp, hội đoàn,… 2- Kính mời các Đảng phái Dân chủ đang hoạt động âm thầm tại Quê hương hãy can đảm xuất hiện hoạt động công khai ; hãy hiên ngang tự xác lập vị trí của mình trước Quốc Dân, không cần đợi Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam độc đoán lạm quyền “cho phép”, vì chẳng một đảng nào được lạm quyền ban phép cho đảng khác hoạt động cả ; hãy kiên cường cạnh tranh bình đẳng với đảng Cộng sản, không chấp nhận tỷ lệ dưới 50% trong Quốc hội mà đảng CS có thể sẽ thí ban cho để chỉ làm bù nhìn trang trí cho một nền dân chủ giả hiệu mà thôi, vì chính toàn Dân sẽ quyết định tỷ lệ này qua một cuộc bầu cử và ứng cử tự do, công bằng, minh bạch. Hiện nay hàng trăm cá nhân đã minh danh trực diện đấu tranh cho Dân chủ với nhà cầm quyền cộng sản nguyên chỉ bằng các phương cách ôn hòa ; và nhà cầm quyền cộng sản đã tỏ ra rất lúng túng bế tắc không sao tìm ra cách đối phó hợp tình hợp lý giữa cộng đồng quốc tế. Vì thế lúc nầy chính là lúc hoàn toàn thích hợp, nếu không sẽ quá muộn, để Quý Đảng phái Dân chủ cùng nhau công khai trực diện đấu tranh với đảng cộng sản đang càng lúc càng lún sâu vào khủng hoảng không lối thoát. 3- Kính mời các đảng viên cộng sản phản tỉnh hãy hành động quyết liệt là tách rời ngay lập tức thực thể chính trị đã phản bội lý tưởng của mình, đã lợi dụng công sức xương máu của mình, đã gần một thế kỷ không chỉ mắc phải sai lầm khiếm khuyết mà là đã phạm tội ác có hệ thống và tổ chức, như Nghị quyết 1481 của Nghị viện Hội đồng Âu châu lên án ngày 25-01-2006 vừa rồi. Đó là cách thức duy nhất và tốt nhất để Quý vị tiếp tục con đường yêu Nước, phục vụ Đồng bào, lấy lại thanh danh của mình trước Nhân dân và lịch sử. 4- Kính mời Đồng bào toàn quốc hãy bảo vệ, hỗ trợ và gia nhập các đảng tân lập phi cộng sản. Làm thế là chúng ta tự giải thoát mình khỏi ách độc tài đã đè đầu đè cổ Dân ta từ hơn 60 năm qua, là thực thi các quyền dân sự và chính trị cơ bản của mình hầu tạo điều kiện cho Đất nước phát triển như mọi Nước có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. 5- Yêu cầu 2 lực lượng Quân đội và Công an cảnh sát hãy ý thức rằng tự bản chất mình là 2 thực thể phục vụ Nhân dân và công ích, luôn đứng bên ngoài mọi tranh chấp đảng phái, chứ không phải là công cụ của riêng đảng Cộng sản, để đảng tiếp tục sai khiến mà đàn áp Nhân dân đang đòi thực thi quyền đa nguyên chính trị và các quyền chính đáng khác đi kèm. 6- Kính xin các nhà trí thức và các bậc tu hành vốn hiểu hơn ai hết về tai họa của độc đảng độc tài và thiện ích của đa nguyên dân chủ, hãy “hết sức quan tâm đến việc giáo dục cả về công dân cả về chính trị mà ngày nay rất cần thiết cho mọi người, nhất là cho giới trẻ”, hãy dùng quyền lực và khả năng tinh thần của mình để hướng dẫn, hỗ trợ, bênh vực những Công dân dấn thân làm “chính trị, một nghệ thuật khó khăn nhưng đồng thời rất cao cả” (Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ, số 75). 7- Kính xin Đồng bào hải ngoại và các Chính phủ, Tổ chức Quốc tế hãy hỗ trợ bằng mọi cách thức, phương tiện để các đảng tại Việt Nam được thành hình và hoạt động, hầu Nhân dân Việt Nam cũng được hưởng bầu khí tự do chính trị như ở những miền đất dân chủ của Quý vị. Điều này quan trọng và cần thiết hơn việc đổ tiền của qua kiều hối và ngoại viện cho một chính quyền độc đảng vốn sẽ tuỳ tiện sử dụng những ngân khoản này hầu duy trì quyền lực, gia tăng quyền lợi và để lại những món nợ quốc tế ngày càng đè nặng lên Nhân dân Việt Nam như hiện trạng cho thấy. Chúng tôi nguyện xin Ơn Trên, qua lời chuyển cầu của các Bậc Tiền nhân vốn từng dạy dỗ con cháu Lạc Hồng tinh thần bao dung hòa hợp, chúc lành cho toàn thể Dân Việt trong công cuộc bẻ gãy ách độc đảng độc tài và xây dựng nền chính trị đa đảng đa nguyên là giải pháp cứu nguy Dân tộc duy nhất thích hợp hiện nay.
Kêu gọi từ Việt Nam ngày 06-4-2006
1. Lm G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 2. Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, Sài Gòn 3. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 4. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội 5. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế 6. Gs Trần Khuê, Sài Gòn 7. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế 8. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội 9. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế 10. Cư sĩ PGHHTT Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp 11. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế 12. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long 13. TT Thích Không Tánh, Sài Gòn 14. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 15. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế 16. Cựu Sĩ quan Trần Dũng Tiến, Hà Nội 17. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 18. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội 19. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 20. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội 21. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế 22. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn 23. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn 24. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 25. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn 26. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn 27. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế 28. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội 29. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế 30. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn 31. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế 32. Vũ Thuý Hà, Hà Nội 33. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế 34. Bùi Kim Ngân, Hà Nội 35. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế 36. Bs Nguyễn Xuân An, Huế 37. Gv Đặng Hoài Anh, Huế 38. Gv Đặng Văn Anh, Huế 39. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang 40. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế 41. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng 42. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu 43. Gv Trần Thị Minh Cầm, Huế 44. Gv Lê Cẩn, Huế 45. Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ 46. Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi 47. Ths Đặng Quốc Cường, Huế 48. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết 49. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng 50. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi 51. Gv Hồ Anh Dũng, Huế 52. Gs Trương Quang Dũng, Huế 53. Bs Hà Xuân Dương, Huế 54. Kt Trần Văn Đón, Phan Thiết 55. Bs. Hồ Đông, Vĩnh Long 56. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng 57. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ 58. Bs Lê Thị Ngân Hà, Huế 59. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế 60. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng 61. Kt Trần Việt Hải, Vũng Tàu 62. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu 63. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng 64. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế 65. Gv Lê Lệ Hằng, Huế 66. Gs Đặng Minh Hảo, Huế 67. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu 68. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang 69. Gv Văn Đình Hoàng, Huế 70. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế 71. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn 72. Gv Phan Ngọc Huy, Huế 73. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế 74. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế 75. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng 76. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng 77. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế 78. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế 79. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế 80. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết 81. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn 82. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng 83. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng 84. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng 85. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế 86. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn 87. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn 88. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ 89. Gv Phan Văn Mậu, Huế 90. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ 91. Gv Ma Văn Minh, Huế 92. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn 93. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng 94. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế 95. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng 96. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn 97. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ 98. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long 99. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang 100. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng 101. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng 102. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng 103. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ 104. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế 105. Gv Văn Bá Thành, Huế 106. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng 107. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn 108. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết 109. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế 110. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng 111. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn 112. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang 113. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi 114. G/v Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ 115. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng 116. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn ?
TUYÊN NGÔN TỰ DO DÂN CHỦ
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 của 118 Nhà Đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam
Việt Nam, 8 - 4 - 2006
Kính gửi Đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài Nước, Chúng tôi, ký tên dưới đây, đại diện cho hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ ở quốc nội và tất cả mọi người Dân nào đang khao khát một nền Dân chủ chân chính cho Quê hương Việt Nam hôm nay, đồng thanh lên tiếng :
I. Thực trạng của Việt Nam
1- Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945 chẳng nhắc đến một từ nào về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản cả. Hai nguyên nhân chính làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng ấy là Khát vọng Độc lập Dân tộc và Khoảng trống quyền lực lúc bấy giờ ở Việt Nam (quân Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh ngày 15-8-1945 và thực dân Pháp đã bị quân Nhật đảo chính cướp quyền từ ngày 9-3-1945). Rõ ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị đảng Cộng sản Việt Nam đánh tráo. Và dĩ nhiên, Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu. Đã có ít nhất 2 cơ hội lịch sử rất thuận lợi là năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước, để Dân tộc khẳng định Quyền tự quyết của mình. Nhưng tất cả đều đã bị đảng Cộng sản Việt Nam tráo trở không thực hiện. Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là : bạo lực và khủng bố trấn áp !
2- Tiếp đến, ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập nam 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : mọi Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nam 1791 cũng nói : "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…”. (trích Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945). Thế nhưng, tất cả những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên.
3- Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin”. Và trong Điều Lệ, phần Mục Đích và Tôn Chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Angghen - Lênin - Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…”. Kể từ đó, nhất là ở miền Bắc sau năm 1954, rồi cả nước sau ngày 30-4-1975 thì bóng ma của chủ nghĩa cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.
II. Qui luật phổ biến toàn cầu
1- Lịch sử đã minh định rằng mọi quyền tự do, dân chủ ở bất cứ một chế độ độc đảng toàn trị nào, dù cộng sản hay không cộng sản, cũng đều bị chà đạp không thương tiếc, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Bất hạnh thay là cho đến nay, Dân tộc Việt Nam vẫn thuộc về một trong số ít các Quốc gia trên thế giới còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, rằng : “Đảng cộng sản Việt Nam... theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu, may ra chỉ còn vài mẩu vụn mà thôi !
2- Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử thì toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa. Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước ! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ.
3- Chúng ta đều hiểu rằng : không ai có thể sửa được lịch sử, nhưng có thể bẻ chiều lịch sử. Và điều quan trọng hơn là qua những bài học của lịch sử, định hướng tốt cho tương lai. Con đường hôm qua của Dân tộc ta đã bị những người Cộng sản Việt Nam chọn một cách vội vàng, thiếu chín chắn và áp đặt cho cả Dân tộc một cách khiên cưỡng. Con đường ấy thực tế đã chứng minh là hoàn toàn sai lạc. Vì vậy Dân tộc ta hôm nay phải chọn lại con đường cho mình. Và chắc chắn cả Dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hay một nhóm người nào đó. Đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận của Dân tộc, nên không thể mạo danh Dân tộc để chọn thay ! Trước Dân tộc và lịch sử suốt hơn nửa thế kỷ qua (1954–2006), Đảng cầm quyền ấy đã tiếm danh chứ không chính danh chút nào! Bởi lẽ các cuộc bầu cử thực sự tự do hoàn toàn vắng bóng ở Việt Nam. Từ thực trạng và qui luật trên đây, với ý thức trách nhiệm của Công dân trước vận mệnh Đất nước, chúng tôi xin được phép giãi bày cùng toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước :
III. Mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa cuộc đấu tranh
1- Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu. Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn Dân sau đây : - Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2 : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình”. Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền. - Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn”; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính. - Quyền Tự do hoạt động Công đoàn độc lập và Quyền Đình công chính đáng theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966, điều 7 và 8 : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…, quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình… (với) quyền đình công…”. Các công đoàn này phải là những tổ chức duy nhất hoạt động độc lập, không có những loại Công đoàn tay sai của nhà cầm quyền. - Quyền Tự do Tôn giáo theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 18 : “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ Tín ngưỡng hoặc Tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền đạo”. Các Tôn giáo này phải hoạt động độc lập, chứ không thể bị biến thành công cụ cho nhà cầm quyền. 2- Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Và chính Dân tộc Việt Nam chủ động thực hiện cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, chúng ta rất cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả của tất cả những bạn bè trên thế giới. Thông qua những phương tiện thông tin hiện đại và qua sự giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, chúng ta sẽ tìm mọi cách giúp Đồng bào kiện toàn nhận thức. Và một khi Nhân dân đã có nhận thức đúng và rõ thì nhất định sẽ biết hành động thích hợp và hiệu quả. 3- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chốn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc “lẽ phải toàn thắng” sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn. Chúng tôi mong ước Tuyên ngôn này thúc đẩy được sự đóng góp tích cực của Đồng bào trong ngoài Nước và sự ủng hộ của Bạn bè Quốc tế. Chúng tôi chân thành cảm ơn và kêu gọi các Cơ quan Liên Hiệp Quốc, các Quốc hội, Chính phủ, Tổ chức Quốc tế và Bạn bè trên toàn thế giới tiếp tục ủng hộ cách nhiệt tình và hiệu quả cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này, góp phần đưa Tổ quốc Việt Nam sớm sánh vai cùng các Nước văn minh, đạo đức, thịnh vượng, tự do trong cộng đồng Nhân loại hôm nay.
Đồng tuyên bố tại Việt Nam ngày 08 tháng 4 năm 2006
1. Bs Nguyễn Xuân An, Huế 2. Gv Đặng Hoài Anh, Huế 3. Gv Đặng Văn Anh, Huế 4. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang 5. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế 6. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng 7. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu 8. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế 9. Gv Lê Cẩn, Huế 10. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế 11. Gv Trần Thị Minh Cầm, Huế 12. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế 13.Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ 14. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội 15.Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi 16. Ths Đặng Quốc Cường, Huế 17. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết 18. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng 19. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi 20. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn 21. Gv Hồ Anh Dũng, Huế 22. Gs Trương Quang Dũng, Huế 23. Bs Hà Xuân Dương, Huế 24. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội 25. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội 26. Kt Trần Văn Đón, Phan Thiết 27. Bs Hồ Đông, Vĩnh Long 28. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế 29. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng 30. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ 31. Bs Lê Thị Ngân Hà, Huế 32. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế 33. Vũ Thuý Hà, Hà Nội 34. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 35. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng 36. Kt Trần Việt Hải, Vũng Tàu 37. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu 38. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng 39. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế 40. Gs Đặng Minh Hảo, Huế 41. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu 42. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn 43. Gv Lê Lệ Hằng, Huế 44. Lm Giuse Nguyễn Đức Hiểu, Bắc Ninh 45. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang 46. Gv Văn Đình Hoàng, Huế 47. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn 48. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế 49. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế 50. Gv Phan Ngọc Huy, Huế 51. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế 52. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế 53. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng 54. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng 55. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế 56. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn 57. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế 58. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế 59. Gs Trần Khuê, Sài Gòn 60. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội 61. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết 62. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn 63. PGHHTT Cụ Lê Quang Liêm, Sài Gòn 64. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn 65. Lm G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 66. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế 67. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng 68. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng 69. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 70. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng 71. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế 72. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn 73. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ 74. Gv Phan Văn Mậu, Huế 75. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ 76. Gv Ma Văn Minh, Huế 77. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn 78. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng 79. Bùi Kim Ngân, Hà Nội 80. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế 81. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 82. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng 83. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế 84. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn 85. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế 86. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn 87. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ 88. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế 89. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế 90. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long 91. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang 92. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long 93. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng 94. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế 95. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng 96. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng 97. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ 98. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế 99. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn 100. Gv Nguyễn Bình Thành, Huế 101. Gv Văn Bá Thành, Huế 102. Cư sĩ PGHHTT Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp 103. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng 104. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn 105. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 106. Cựu Sĩ quan Trần Dũng Tiến, Hà Nội 107. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 108. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội 109. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết 100. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế 111. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng 112. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn 113. Gv Lê Trí Tuệ, Hải Phòng 114. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang 115. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi 116. Gv Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ 117. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng 118. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn ?
TUYÊN BỐ KHẨN THIẾT của Công dân Hoàng Minh Chính nguyên Tổng Thư ký Đảng Dân Chủ Việt Nam Chủ Nhật 23-4-2006 Tôi vô cùng xúc động trước LỜI TUYÊN BỐ QUYẾT LIỆT ngày 22.4.2006 từ Huế, Việt Nam của hai vị Linh mục Giáo hội Công giáo Việt Nam Ngài Tađêô Nguyễn Văn Lý và Ngài Phêrô Phan Văn Lợi.
Hai vị Linh mục đã nêu ra rất rõ ràng, khúc chiết, cô đọng trong 4 điểm về Các Quyền Con người và Quyền Công dân trên 1 trang giấy A4. Và trang 2 kèm theo được ghi đầy đủ “26 Nhân Quyền Cơ Bản đã được Công pháp Quốc tế và Liên Hiệp Quốc thừa nhận và buộc mọi Nước thành viên phải cam kết tôn trọng ”. Điều quí giá là 26 Nhân quyền Cơ bản được xếp gọn thành 4 Loại Nhân quyền : (1) về thân thể, (2) về an cư, (3) về lạc nghiệp, và (4) về Tự Do Dân Chủ mà bất kỳ người thường dân nào xem cũng sẽ thấy rất rõ ràng, cụ thể, thiết thân và rất vui mừng phấn khích rằng Bốn loại Nhân quyền đều thiết yếu của cuộc đời mình. Nhưng họ sẽ hết sức ngạc nhiên tại sao 26 NHÂN QUYỀN CƠ BẢN NÀY mãi đến bây giờ mình mới được biết để mà đòi, mà dành lấy. Những người công nhân và nông dân suốt đời chỉ biết có đóng thuế và hy sinh xương máu cho đảng thì nay sẽ không khỏi tự hỏi rằng “Tại sao Đảng CSVN là đảng tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà lại dấu dân những QUYỀN THIẾT YÊÚ SỐNG CÒN NÀY ??? Đảng từng tuyên bố không tiếc lời rằng NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, VÌ DÂN mà lại để nhân dân lao động lầm than, đói khổ, bị các quan lớn, quan nhỏ từ dưới lên, từ trên xuống bóc lột tận xương tuỷ thế này ư ???”
Một điều quan trọng nữa là : Hai vị Linh mục cùng với Linh mục Têphanô Chân Tín đã tự xuất bản “Bán Nguyệt san TỰ DO NGÔN LUẬN” bắt đầu từ ngày 15-4-2006.”
Tin vui này đên với nhân dân như là đại hạn gặp mưa. Suốt nửa thế kỷ qua Chính sách ngu dân bằng độc quyền thông tin, độc quyền chân lý, ngăn chặn tuyệt đối mọi văn hoá phẩm lọt qua biên giới, đảng CS VN đã biến trên 80 triệu dân Việt thành thần dân nô lệ dưới ách độc tài toàn trị khắc nghiệt nhất xưa nay. Cuộc cách mạng tin học-viễn thông bùng nổ vượt mọi biên giới quốc gia cùng với TƯ TƯỞNG TỰ DO DÂN CHỦ tràn ngập toàn cầu như mồi lửa làm cho khát vọng tự do ngàn năm ấp ủ trong tim gan dân Việt bùng cháy thăng hoa !!!
“Bán Nguyệt san TỰ DO NGÔN LUẬN” in trên giấy đáp ứng đúng lúc đòi hỏi nóng bỏng Tự do Thông tin, Tự do Tư tưởng Ngôn luận của toàn Dân Việt Nam.
Chúng tôi quyết tâm đứng sát bên ba vị Linh mục anh hùng Cha Chân Tín, Cha Nguyễn Văn Lý và Cha Phan Văn Lợi. Lịch sử bi thảm nhân dân Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua đã từng khẳng định “ TỰ DO KHÔNG THỂ XIN MÀ ĐƯỢC, MÀ PHẢI ĐẤU TRANH DÀNH LẤY, THẬM CHÍ CÓ THỂ PHẢI TRẢ BẰNG XƯƠNG MÁU !!! ”
Tôi khẩn thiết kêu gọi Quốc dân Đồng bào trong và ngoài Nước quyết tâm hưởng ứng “Bán Nguyệt san TỰ DO NGÔN LUẬN ” bằng các hình thức :
1- Nhân phát rộng rãi LỜI TUYÊN BỐ QUYẾT LIỆT của hai vị Linh mục Nguyễn Văn Lý và Phan Văn Lợi và bản 26 NHÂN QUYỀN CƠ BẢN.
2- Trao đổi cùng nhau từng nhóm nhỏ thấu đáo ý nghĩa quan trọng sống còn của hai bản này. Bàn cách hưởng ứng và thực thi hai bản này tại nơi mình một cách tối ưu.
3- Thường xuyên hàng ngày theo rõi các đài phát thanh quốc tế về tiến triển phát hành “Bán Nguyệt san TỰ DO NGÔN LUẬN”. Nếu được tin có “khám xét, cướp đoạt, bắt giam hoặc đuổi khỏi sở làm của bất kỳ ai tham gia vào Bán Nguyệt San này” thì ngay tức khắc các nhóm họp bàn các hình thức hành động lên án manh mẽ, nhưng hoà bình và bằng mọi biện pháp có thể với bối cánh địa phương.
4- Những hình thức có thể vận dụng như : 1- Vận dụng Hiến Pháp điều 50 ghi nhận “Các quyền con người về chính trị, dân sự, ...”; điêù 53 ghi “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả Nước và địa phương”; điều 69 ghi “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình ...”; điều 71 ghi “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm”; điều 73 ghi “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý”. 2- Gửi điện thư cá nhân hoặc tập thể hoan nghênh “Bán Nguyệt san Tự Do Ngôn Luận”, “Bảo vệ ba vị Linh mục anh hùng!”; Gửi điện thư cho chính quyền phản đối, lên án sự đàn áp phi pháp ba vị Linh mục; Gửi điện thư của tập thể kêu gọi các giới, các tầng lớp, các tôn giáo và mọi người lên tiếng mạnh mẽ bảo vệ ba vị Linh mục anh hùng và Bán Nguyệt san TỰ DO NGÔN LUẬN.
5- Gửi điện thư tập thể /cá nhân kêu gọi Liên Hiệp Quốc, Quốc hội và Chính phủ các Nước, nhất là Liên Hiệp Âu Châu (EU), Hoa Kỳ, nước Úc, kể cả Nhật Bản và tất cả các tổ chức Nhà báo không biên giới, các tổ chức Nhân quyền, các Tổ chức phi chính phủ (NGO), và tất cả những ai có lòng nhân ái, yêu Tự do Dân chủ hãy lên án mạnh mẽ chính quyền Hà Nội vi phạm nhân quyền, các quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí tư nhân, đòi cho Bán Nguyệt San TỰ DO NGÔN LUẬN in trên giấy báo được tự do phát hành như 600 tờ báo chí quốc doanh tại Việt Nam, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
6- Lưu ý : Mở rộng phong trào hưởng ứng càng rộng càng tốt, hết sức kiên trì bất bạo động và với tấm lòng khoan dung độ lượng thuyết phục, tuyệt đối tránh sốt ruột, áp đặt ý muốn chủ quan. Dân Chủ là phải tôn trọng ý kiến đối phương, đối thoại nhã nhặn văn minh, thấy được cái đúng của người và cái sai của mình để cùng tiến tới kết quả chung là Tự do Tư tưởng, Tự do Ngôn luận, Tự do Báo chí tư nhân để phát huy tiềm lực, sáng kiến, tự do của mỗi người và của mọi người. Luôn luôn tin tưởng rằng đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ hoá Đất nước, cho TỰ DO NGÔN LUẬN, Tự do Tư tưởng, Tự do Báo chí là con đương duy nhất đúng đắn, là ánh sáng chống chính sách ngu dân lâu nay của đảng CS độc tài, toàn trị. TỰ DO NGÔN LUẬN là ÁNH SÁNG làm TIÊU TAN TÀ ĐẠO CS !!! CHÚNG TA NHẤT ĐỊNH THẮNG !!!
Tuyên bố khẩn thiết tại Hà Nội, Việt Nam ngày Chủ nhật 23 tháng 4 năm 2006
Công dân Hoàng Minh Chính Nguyên Tổng Thư ký Đảng Dân Chủ Việt Nam
PHỤ LỤC 26 Nhân quyền cơ bản đã được Công pháp Quốc tế và Liên Hiệp Quốc thừa nhận & buộc mọi Nước thành viên phải cam kết tôn trọng.
26 mục tiêu cụ thể mỗi Công dân có trách nhiệm phải đấu tranh từng bước giành lại cho toàn Dân Việt Nam từ năm 2006 về sau.
I. Các Nhân quyền về thân thể : 1. Quyền sống (không bị thủ tiêu, tàn sát, khủng bố, đe dọa, quấy nhiễu vì chính kiến, chủng tộc, tôn giáo, thành phần giai cấp). 2. Quyền không bị nô lệ hay nô dịch (vì lý lịch, chủng tộc, tôn giáo, chính kiến). 3. Quyền không bị tra tấn hành hạ. 4. Quyền không bị giam giữ độc đoán (vì các tội vu vơ chỉ có trong các chế độ độc tài : gây rối trật tự, phá hoại chính sách đoàn kết, lợi dụng tôn giáo, lợi dụng dân chủ, xúc phạm lãnh tụ,...). 5. Quyền được xét xử công bằng (tư pháp phải độc lập với hành pháp, lập pháp, công an) 6. Quyền được Tòa án bảo vệ (được bồi hoàn danh dự và thiệt hại). 7. Quyền được Luật pháp bảo vệ (không có loại tội tuyên truyền chống chế độ, chống đối chính sách). 8. Quyền được bình đẳng trước pháp luật.
II. Các Nhân quyền về an cư : 9. Quyền tự do cư trú và đi lại, xuất ngoại và hồi hương (không bị quản chế hành chánh). 10. Quyền có đời sống riêng (bản thân, gia đình, nhà cửa, thư tín, điện thoại, điện thư). 11. Quyền kết hôn và lập gia đình. 12. Quyền có quốc tịch. 13. Quyền tỵ nạn vì lý do chính trị, tôn giáo, chủng tộc. 14. Quyền tư hữu về vật dụng cá nhân, gia đình, tập thể và vốn kinh doanh.
III. Các Nhân quyền về lạc nghiệp : 15. Quyền có việc làm, lương tương xứng và được nghỉ ngơi - giải trí. 16. Quyền thành lập và tham gia Nghiệp đoàn độc lập và quyền đình công. 17. Quyền có mức sống xứng hợp cho bản thân và gia đình. 18. Quyền có an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội khi thất nghiệp, già lão. 19. Quyền bảo vệ gia đình về hôn nhân, sản phụ, hài nhi, thiếu nhi. 20. Quyền được chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh miễn phí hoặc hợp lý, được bảo hiểm y tế. 21. Quyền được giáo dục miễn phí cấp tiểu học, rồi trung học ; học đại học đầy đủ thuận lợi. 22. Quyền về văn hóa (tự do hưởng thụ, sáng tác, được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ).
IV. Các Nhân quyền về Tự do Dân chủ : 23. Tự do tín ngưỡng - tôn giáo cách bình thường phổ quát như tại đại đa số các Nước trên thế giới. 24. Tự do tư tưởng, phát biểu, quan điểm, tự do thông tin ngôn luận, tự do báo chí. 25. Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, biểu tình; toàn Dân được trưng cầu ý kiến về quốc sự. 26. Quyền tham gia công quyền, tự do ứng cử - bầu cử ; Quyền tham gia xây dựng, bảo vệ và quản lý Tổ quốc. Tức là Quyền Dân Tộc Tự Quyết.
(Tham khảo “Từ Hiến Chương 1977 cho Tiệp Khắc đến Tuyên Ngôn 2006 cho Việt Nam” của Luật sư Nguyễn Hữu Thống – 15.4.2006)
Kháng Thư số 01 của Khối 8406 gồm 178 Công dân đấu tranh Dân chủ cho Việt Nam
1- Ngày 07-4-2006, Công an quận Phú Nhuận, Sài Gòn đã đến nhà số 441 Nguyễn Kiệm - Phường 9 - Quận Phú Nhuận, Sài Gòn niêm phong bộ máy tính cá nhân của Kỹ sư Đỗ Nam Hải, vì Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam cho rằng Ông đang soạn thảo Tuyên ngôn 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 công bố lần đầu ngày 08-4-2006, lần 2 ngày 27-4-2006. 2- Ngày 25-4-2006, từ 13:00 - 15:00 PM, Luật sư Nguyễn Văn Đài, một Công dân cùng ký tên tham gia Tuyên ngôn 8406, đã bị hành hung và bắt giữ vô cớ tại Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. 3- Ngày 27-4-2006 từ 8:00-11:30 AM, từ 14:00-16:30 PM & ngày 28-4-2006 từ 14:00-17:30, Kỹ sư Đỗ Nam Hải, một Công dân thuộc Khối 8406 cùng ký tên tham gia Lời Kêu Gọi 6406 cho Quyền thành lập và hoạt động đảng phái tại Việt Nam năm 2006 lần đầu ngày 06-4-2006, lần 2 ngày 30-4-2006 & Tuyên ngôn 8406 nói trên, đã bị Công an quận Phú Nhuận, Sài Gòn triệu tập để hạch xách và thẩm vấn về việc Kỹ sư Đỗ Nam Hải đã tham gia biên soạn và cùng ký tên trong Tuyên ngôn 8406. 4- Ngày 28-4-2006 từ 14:00-20:00, Mục sư Nguyễn Hồng Quang, một Công dân của Khối 8406 cùng ký tên tham gia Lời Kêu Gọi 6406 cho Quyền thành lập và hoạt động đảng phái tại Việt Nam năm 2006 lần đầu ngày 06-4-2006, lần 2 ngày 30-4-2006 & Tuyên ngôn 8406, đã bị Công an quận 2, Sài Gòn triệu tập để hạch xách và thẩm vấn về việc Mục sư Nguyễn Hồng Quang và vợ là Bà Lê Thị Phú Dung đã cùng tham gia ký tên trong Tuyên ngôn 8406.
Trước các hành động hoàn toàn vô luật vô lý trên đây của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, chúng tôi, Đại diện Khối 8406 gồm 178 Công dân đấu tranh Dân chủ cho Việt Nam ký tên dưới đây, đồng thanh tuyên bố : 1- Chúng tôi lưu giữ bộ máy tính cá nhân của Kỹ sư Đỗ Nam Hải đang bị Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam niêm phong để làm bằng chứng lịch sử của Khối Tuyên ngôn 8406. Chúng tôi đã hỗ trợ nhau để Kỹ sư Đỗ Nam Hải lại có bộ máy tính cá nhân khác hầu tiếp tục đấu tranh. 2- Chúng tôi cực lực phản đối các hành động đàn áp, hành hung, quấy rối tâm trí (mind harassment) nầy của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam trên 3 Công dân thành viên của Tuyên ngôn 8406 nói trên, trong khi Tuyên ngôn 8406 nầy là một bản văn hoàn toàn xác thực, đúng đắn và rất cần thiết cho Đất nước và toàn Dân Việt Nam khao khát Tự do Dân chủ ; và việc tham gia ký tên vào Tuyên ngôn 8406 nầy là một việc làm được toàn Dân Việt Nam trong và ngoài Nước đang thiết tha khao khát Tự do Dân chủ cho Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh tán thành và khâm phục. Việc triệu tập, hạch xách, thẩm vấn nầy của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã xâm phạm cách thô bạo, vô luật và vô lý vào tự do và an ninh cá nhân của các Công dân, chỉ xảy ra trong các chế độ độc tài tàn bạo bị loài người triệt để lên án và chôn vùi từ lâu mà nay chỉ còn rơi rớt lại tại vài Nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Chúng tôi yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải tôn trọng nguyên tắc chính Ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh gần đây thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần là “Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thành khẩn lắng nghe mọi chính kiến khác biệt”, do đó phải bồi hoàn danh dự và tiền công lao động cho các Công dân trên, vì họ đã bị tước đoạt thời giờ quý giá do những việc chỉ làm nhơ nhuốc thêm cho hình ảnh Đất nước Việt Nam mà thôi. 3- Chúng tôi tố cáo việc nầy trước công luận quốc tế, yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam trên toàn quốc ngưng ngay các hành động tương tự nhắm vào bất cứ Công dân Việt Nam nào đã ký tên tham gia hoặc ghi tên ủng hộ Tuyên ngôn 8406. Chúng tôi xin lặp lại Lời Tuyên Bố Quyết Liệt của 2 Linh mục thuộc Khối 8406 ngày 22-4-2006 là nếu Bạo quyền CSVN bắt giam hoặc đuổi khỏi sở làm 01 trong số 178 Công dân thuộc Nhóm 8406 hoặc trong số Công dân tham gia ủng hộ ngày càng đông, thì khi nhận được thông tin xác thực, Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý sẽ tuyệt thực vô thời hạn ngay lập tức để phản đối hành động vi phạm Công pháp Quốc tế nầy của Bạo quyền CSVN. Nếu Linh mục Phan Văn Lợi bị khám xét, cướp đoạt các phương tiện làm việc hoặc bị bắt, thì Linh mục nầy sẽ tuyệt thực ngay lập tức vô thời hạn. Cả hai Linh mục nầy sẽ từ khước ký vào mọi biên bản và mọi cuộc hỏi cung liên quan đến vấn đề trên, vì cho đó là hành vi rất tàn ác xấu xa của một tà quyền chỉ y như một đảng cướp. Chúng tôi xin lặp lại Lời Tuyên bố Khẩn thiết của Công dân Hoàng Minh Chính ngày 23-4-2006 vừa hoàn toàn ủng hộ Lời Tuyên bố quyết liệt của 2 Linh mục trên, vừa xác quyết 26 Nhân quyền cơ bản đã được Công pháp Quốc tế và Liên Hiệp Quốc thừa nhận, buộc mọi Nước thành viên phải cam kết tôn trọng là 26 mục tiêu mỗi người Dân Việt Nam phải kiên trì đấu tranh từng bước giành lại cho toàn Dân từ hôm nay trở về sau, trong đó có quyền không bị khủng bố, quấy nhiễu vô cớ và quyền tự do bày tỏ chính kiến.
Việt Nam, ngày 30 tháng 4 năm 2006 Đại diện Khối 8406 gồm 178 Công dân cùng công bố và cùng ký tên trên Kháng Thư 01 nầy :
1. Đại diện miền Bắc : Giáo sư Hoàng Minh Chính, Hà Nội Luật sư Nguyễn Văn Đài, Hà Nội Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội Giáo viên Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội
2. Đại diện miền Trung : Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Huế Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế Linh mục Augustinô Hồ Văn Quý, Huế
3. Đại diện miền Nam : Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Sài Gòn Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, Sài Gòn Mục sư Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn Linh mục Têphanô Chân Tín, Sài Gòn
Đính kèm Danh sách Khối 8406 đến ngày 30-4-2006 gồm 178 Công dân đấu tranh Dân chủ cho Việt Nam :
1. Bs Nguyễn Xuân An, Huế 2. Gv Đặng Hoài Anh, Huế 3. Gv Đặng Văn Anh, Huế 4. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang 5. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế 6. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng 7. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu 8. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế 9. Gv Lê Cẩn, Huế 10. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế 11. Gv Trần Thị Minh Cầm, Huế 12. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế 13.Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ 14. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội 15.Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi 16. Ths Đặng Quốc Cường, Huế 17. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết 18. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng 19. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi 20. Cd Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn 21. Gv Hồ Anh Dũng, Huế 22. Gs Trương Quang Dũng, Huế 23. Bs Hà Xuân Dương, Huế 24. Cựu Đt Phạm Quế Dương, Hà Nội 25. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội 26. Kt Trần Văn Đón, Phan Thiết 27. Bs Hồ Đông, Vĩnh Long 28. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế 29. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng 30. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ 31. Bs Lê Thị Ngân Hà, Huế 32. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế 33. Cd Vũ Thuý Hà, Hà Nội 34. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 35. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng 36. Kt Trần Việt Hải, Vũng Tàu 37. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu 38. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng 39. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế 40. Gs Đặng Minh Hảo, Huế 41. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu 42. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn 43. Gv Lê Lệ Hằng, Huế 44. Lm Giuse Nguyễn Đức Hiểu, Bắc Ninh 45. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang 46. Gv Văn Đình Hoàng, Huế 47. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn 48. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế 49. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế 50. Gv Phan Ngọc Huy, Huế 51. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế 52. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế 53. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng 54. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng 55. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế 56. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn 57. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế 58. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế 59. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội 60. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết 61. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn 62. Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, SG 63. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn 64. Lm G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 65. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế 66. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng 67. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng 68. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 69. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng 70. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế 71. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn 72. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ 73. Gv Phan Văn Mậu, Huế 74. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ 75. Gv Ma Văn Minh, Huế 76. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn 77. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng 79. Cd Bùi Kim Ngân, Hà Nội 79. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế 80. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 81. Ms Ngô Hoài Nở, Sài Gòn 82. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng 83. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế 84. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn 85. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế 86. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn 87. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ 88. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế 89. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế 90. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long 91. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang 92. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long 93. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng 94. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế 95. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng 96. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng 97. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ 98. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế 99. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn 100. Gv Nguyễn Bình Thành, Huế 101. Gv Văn Bá Thành, Huế 102. Cư sĩ PGHHTT Ng Văn Thơ, Đồng Tháp 103. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng 104. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn 105. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 106. Cựu Sq Trần Dũng Tiến, Hà Nội 107. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 108. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội 109. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết 110. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế 111. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng 112. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn 113. Gv Lê Trí Tuệ, Hải Phòng 114. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang 115. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi 116. Gv Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ 117. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng 118. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn ? 119. Dn Cái Viết Bản, Sài Gòn 120. Ks Phạm Doãn, Sài Gòn 121. Nv Lê Tấn Dũng, Sóc Trăng 122. Cd Hoàng Thị Anh Đào, Huế 123. Gv Hồ Đông, Vinh 124. Ks Hoàng Minh Hà, Hải Phòng 125. Gv Hoàng Nhân Hà, Huế 126. Gs Lê Hữu Hà, Hải Phòng 127. Cd Trần Mai Hoa, Huế 128. Dn Trần Thị Hoa, Kiên Giang 129. Ks Trần Hoàn, Vinh 130. Gv Nguyễn Thị Bích Hồng, Vinh 131. Bs Lê Hùng, Hà Nội 132. Dn Ma Thanh Hùng, Vinh 133. Cd Trần Hùng, Huế 134. Gv Trần Đình Hùng, Sóc Trăng 135. Dn Trần Văn Hùng, Huế 136. Cs PGHH Trần Nguyên Huỡn, An Giang 137. Ks Đặng Văn Hưng, Kiên Giang 138. Nv Nguyễn Thị Kim Khánh,K. Giang138. 139. Dn Đỗ Trần Kỳ, Hải Phòng 140. Cs PGHH Nguyễn Thị Ngọc Lan, C. Thơ 141. Dn Đỗ Lành, Sài Gòn 142. Nv Đoàn Lân, Sóc Trăng 143. Nv Hồ Liêm, Hà Nội 144. Gv Bùi Quang Linh, Sài Gòn 145. Gv Nguyễn Mỹ Linh, Hà Nội 146. Gv Hồ Thị Hồng Loan, Đồng Nai 147. Dn Nguyễn Thị Minh Loan, Huế 148. Dn Trần Thị Bích Loan, Hải Phòng 149. Cd Nguyễn Thanh Long, Huế 150. Ms Trần Long, Sài Gòn 151. Gv Nguyễn Văn Lý II, Hải Phòng 152. Ms Trần Mai, Sài Gòn 153. Gs Nguyễn Bình Minh, Hà Nội 154. Bs Lê Thị Thanh Nga, Sài Gòn 155. Dn Đình Văn Nhân, Kiên Giang 156. Dn Vũ Văn Nhân, Sóc Trăng 157. Cd Văn Sáu, Bình Phước 158. Gv Hoàng Trọng Sĩ, Đồng Nai 159. Cd Trần Sĩ, Huế 160. Dn Lê Thanh Sô, Hà Nội 161. Gv Tôn Nữ Thanh Tâm, Sóc Trăng 162. Nv Ma Văn Thanh, Kiên Giang 163. Gv Trần Thị Minh Thi, Huế 164. Ks Huỳnh Ngọc Thiện, Sóc Trăng 165. Cd Lê Thị Thanh Thuý, Huế 166. Gv Lê Thị Thanh Thuý II, Huế 167. Cd Lê Phương Thy, Huế 168. Bs Võ Toàn, Kiên Giang 169. Dn Hà Vũ Tránh, Kiên Giang 170. Cư sĩ PGHH Dương Thị Tròn, Đồng Tháp 171. Nv Hoàng Trong, Hải Phòng 172. Lm P. Tống Thanh Trọng, Huế 173. Bs Đoàn Thanh Tùng, Sài Gòn 174. Ks Đỗ Thành Vinh, Hải Phòng 175. Kt Nguyễn Duy Vũ, Đà Nẵng 176. Nv Lại Văn Xê, Hà Nội 177. Bs Nguyễn Thị Yến, Vinh 178. Gv Nguyễn Thị Yến, Huế ?
------------------------------------------------------------------ LUU TRU -- LUU TRU -- LUU TRU -- LUU TRU ------------------------------------------------------------------
21.06.2005: BUSH-KHAI TÌNH HÌNH THAY ĐỔI VÀ HƯỚNG ĐẤU TRANH UYỂN CHUYỂN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Cuộc gặp BUSH và KHẢI tại Tòa Bạch Oác Hoa Thịnh Đốn cho thấy một sự thay đổi những dữ kiện chính trị tại Việt Nam. Nhưng sự thay đổ ấy có tầm quan trọng ở mức độ nào ? Bài Quan Điểm này không có tham vọng đi vào những chi tiết mà chỉ nhìn những nét tổng quát để từ đó cố gắng lấy một hướng đi cho những đấu tranh. Có một thông số trường kỳ trong cố gắng đấu tranh của Dân tộc Việt Nam, dù dưới những thay đổi tình nào đi nữa quyết định bở những Nhóm người đang nắm quyền quyết định. Chúng tôi giữ vững thông số ấy, mặc dầu tuỳ hoàn cảnh thay đổi mà uyển chuyển hướng đấu tranh.
Trong bài này, chúng tôi đề cập tóm tắt những điểm sau đây: => Yếu tố quyền lợi trong những quyết định bang giao quốc tế => Đảng Cộng sản Việt Nam cần Hoa kỳ như một giải quyết => Quyền lợi của Hoa kỳ ở vùng Thái Bình Dương => 21.06.2005: một sự cấu kết vì quyền lợi => Thông số đấu tranh của Dân tộc Việt Nam => Hướng uyển chuyển đấu tranh trong những dữ kiện mới
YẾU TỐ QUYỀN LỢI TRONG NHỮNG BANG GIAO QUỐC TẾ
Không phải tôi có tính đa nghi khi nghĩ rằng hầu hết những bang giao quốc tế, chơi với nhau, rồi giận nhau, rồi uấn lộn, rồi lại làm hòa và cấu kết... hầu hết là sự tính toán quyền lợi mà mỗi quốc gia nhằm tới. Những danh từ tượng trưng những giá trị tinh thần, luân lý dễ lấy ra làm lá chắn cho những tính toán hậu ý về quyền lợi tập thể, nhất là cá nhân.
Trong cuộc sống, tôi chỉ tin có mỗi Tình yêu của người Mẹ đối với con. Đó là Tình yêu tuyệt vời vì người Mẹ không có hậu ý quyền lợi cho mình khi xả thân thương yêu con. Tôi thường nói nếu ai chửi tôi thậm tệ, tôi cũng tỉnh bơ. Nhưng nếu ai chử Mẹ tôi, thì tôi xùng lên và đập liền.
Khi Phan Văn Khải nói Đại đoàn kết Dân tộc, ông đánh đĩ giá trị của tiếng đó vì ông chỉ muốn người khác hãy tuân phục quy tụ lại để phục vụ Chính trị của Đảng của ông. Tổng thống Chirac đã đánh đĩ hai chữ Hòa Bình để tạo xung khắc với Hoa kỳ và giữ lợi lộc dầu lửa cho nước ông. Nói Chương trình Marshall 173 tỉ đo-la cho Aâu châu là nhân đạo thì không trúng nghĩa. Đó là chương trình ngăn chặn bành trướng của Staline và làm cho Aâu châu trở thành khối có khả năng mua hàng của Hoa kỳ. Vì theo chính sách bao vây Trung Cộng của Eisenhower-Foster Dulles để bảo vệ quyền lợi của Hoa kỳ trong vùng, mà Mỹ đã cố thủ giữ Nam Hàn và Nam Việt Nam. Nói đó là vì lòng yêu Tự do, thì quá lý tưởng. Nhiều người ca ngợi việc Toàn Cầu Hóa, nhưng trong đó ý tưởng bành trướng thị trường bán hàng hóa giữ vai trò quan trọng. Những nước Kỹ nghệ ca tụng Hoàn Cầu Hóa về tiêu thụ hàng hóa, nhưng đồng thời họ Tập trung hóa Tài chánh (Centralisation financiere), nghĩa là bán hàng mọi nơi và thâu tiền về cho mình.
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦN HOA KỲ NHƯ MỘT GIẢI QUYẾT
Đảng CSVN đang kẹt cứng từ nội bộ Đảng cho đến việc đối với Dân và trước tình hình quốc tế trong vùng.
Nội bộ Đảng đấu đá nhau tan tành vì tranh giành quyền lợi vật chất. Tình trạng Tham nhũng, Lãng phí lan tràn từ mọi cấp Đảng khiến Dân không còn tin tưởng. Trong thể chế độc tài hiện hành, những lời khuyên tinh thần cán bộ, tinh thần cách mạng... không thể làm giảm tham nhũng, lãng phí. Việc diệt Tham nhũng, Lãng phí đòi phải thay đổi thể chế chính trị. Đời sống kinh tế trong nước đòi buộc Đảng phải lệ thuộc vào những nước tư bản Tây phương, nhất là Mỹ.
Đối với nước bạn cố tri Trung Cộng, không những Việt Nam không hy vọng sự hỗ trợ mà còn bị bạn cố tri ấy ăn hiếp mọi phương diện: => Về Kinh tế, vì tình hữu nghị chế độ, mà hàng Trung cộng tràn lan giết chết hàng hóa Việt Nam. => Về Lãnh thổ, Lãnh hải, Trung Cộng lấn chiếm mà Đảng CSVN nhục nhã câm họng không dám than vãn. => Về an ninh quốc phòng, Đảng CSVN bất lực và lo sợ cho tương lai trước thế bành trướng sức manh quân sự của Trung Cộng. Đây không phải chỉ nguyên việc lo sợ của Việt Nam, mà còn của cả vùng: từ Nam Hàn, Nhật, Đài Loan đến những nước thuộc ASEAN.
Đảng CSVN đang kẹt cứng nếu cố thủ giữ nguyên tình trạng hiện nay. Thực vậy, chúng tôi đã viết nhiều bài nói rằng Việt Nam phải thay đổi thể chế khác với Trung Cộng để bắt tay với Tây phương, nhất là Mỹ để có thể thoát ra khỏi tình trạng là một Tỉnh của Trung Cộng và mất hết những quyền lợ quốc tế cũng như tạo khả năng phát triển cho Đất Nước.
QUYỀN LỢI CỦA HOA KỲ TRONG VÙNG THÁI BÌNH DƯƠNG
Vùng Thái Bình Dương trở thành một vùng Kinh tế quan trọng mà quyền lợi Kinh tế của Hoa kỳ đặt nhiều trong đó. Vùng này gồm: Nam Hàn, Nhật, Đài Loan, những nước thuộc ASEAN, Uùc đại lợi và Tiểu bang California.
Khi khối người một tỉ rưỡi của Trung Cộng từ từ lớn lên về Kinh tế và về Quân sự, thì đó là sự đe dọa cho quyền lợi của Hoa kỳ đã đầu tư nhiều trong vùng. Ý chí của Trung Cộng là muốn trở thành một cường quốc về Kinh tế và Quân sự. Trung Cộng sẽ chiếm và kiểm soát Biển Đông vì nhiều mối lợi nhất là dầu lửa.
Trước đây, chính sách Eisenhower-Foster Dulles nhằm ngăn chạn bành trướng chủ nghĩa Cộng sản trong vùng, thì ngày nay, trước ý chí bành trướng kinh tế và quân sự của Trung Cộng, Hoa kỳ cũng phải nghĩ đến một chính sách ngăn chặn để bảo vệ trước tiên quyền lợi của mình trong vùng.
21.06.2005: MỘT SỰ CẤU KẾT VÌ QUYỀN LỢI
Khi nghĩ đến cuộc gặp giữa Phan Văn Khải và Bush tại Tòa Bạch Oác, tôi nghĩ đến câu nói: “Nếu thằng quỷ Lucifer chỉ đường cho tôi lên Thiên Đàng, thì tôi làm việc với nó“. Tôi đã viết câu này cho nhà Tài chánh Hy lạp Panagiotis PAPADAKIS. Tôi làm việc với Oâng trên 7 năm. Nhưng ông tìm cách ăn quỵt tiền của khách hàng của tôi. Tôi đã lên Ti Vi Thụy sĩ để thẳng thắn nói về bụng dạ của Oâng. Sau đó Oâng hỏi tôi còn có ý định hợp tác làm việc với Oâng nữa hay không. Tôi đã trả lời Oâng bằng câu nói ở trên.
Đảng CSVN đã là thù địch với Mỹ. Chế độ độc tài, đàn áp Nhân quyền của Đảng CSVN hiện nay vẫn là thù địch của chế độ Tự do, Dân chủ của Chính quyền Bush. Ngay cả sự trái ngược của chính tinh thần của Tổng thống Bush với Lãnh đạo Đảng CSVN. Tổng thống Bush trọng Tôn giáo, thì những Lãnh đạo Đảng CSVN đàn áp Tông giáo. Tổng thống Bush chủ trương phổ biến Tự do, Dân chủ, thì những Lãnh đạo Đảng CSVN không cho Tự do, không áp dụng nguyên tắc Dân chủ.
Phan Văn Khải sang Mỹ cầu thân và hợp tác với Mỹ mà ông đã từng chửi rủa. Phan Văn Khải sang Mỹ không phải với thái độ ngang hàng thảo luận hợp tác, mà là với thái độ khúm núm van nài xin được ân huệ hợp tác. Thái độ này cho thấy là Đảng Cộng sản Việt Nam đang ở trong thế kẹt cứng đối với nội bộ và đối với Dân, đồng thời họ không có lối thoát trước thế lực Kinh tế và Quân sự của Trung Cộng như đã phân tích ở phần trên.
Tổng thống Bush cũng nhìn thấy quyền lợi của Hoa kỳ trong vùng Thái Bình Dương đang bị đe dọa trước sự bành trướng Kinh tế và Quân sự của Trung Cộng.
Cuộc gặp bắt tay ngày 21.06.2005 giữa Khải và Bush được coi là sự hợp tác vì quyền lợi. HOA KỲ TÁI CAN THIỆP VÀO VIỆT NAM cũng vì Trung Cộng như lần trước. Lần trước bằng quân sự trực tiếp, lần này bằng kinh tế và trợ lực gián tiếp quân sự. Lần trước có sự phản kháng của Cố Tổng thống NGÔ ĐÌNH DIỆM, lần này với sự lậy lục van nài của Phan Văn Khải.
Tổng thống BUSH, mặc dầu hợp tác vì quyền lợi, nhưng tối thiểu cũng phải giữ Danh dự Hoa kỳ và vì chính lý tưởng Tự do Dân chủ của Oâng.
Chính vì vậy mà Tổng thống Bush đòi hỏi chế độ của Khải phải tôn trọng Nhân quyền. Người ta có thể nghĩ rằng Hoa kỳ đặt nặng vấn đề quyền lợi hơn. Nhưng cũng có thể nghĩ rằng việc hợp tác này là một chiến thuật xâm nhập vào Việt Nam để từ đó dần dần bắt buộc CSVN phải thay đổi chế độ.
Viết đến đây, tự nhiên tôi có ý nghĩ rằng có thể những Lãnh đạo cao cấp Cộng sản, sau những năm trường tham nhũng thâu tóm nhiều tiền bạc, bây giờ chọn chơi với kẻ thù để yên lành thoát khỏi chế độ mà hưởng thụ những tiền bạc đã gửi ra nước ngoài. Nếu cứ khăng khăng giữ chế độ như trước đến lúc Dân nổi dậy lật mình và giết mình đi, thì làm sao hưởng thụ được những tiền bạc đã ăn cướp được. Một Gorbachev sống thảnh thơi lúc này, còn hơn là một Ceaucescu bị bắn chết chẳng được hưởng gì tài sản ăn cướp được.
THÔNG SỐ ĐẤU TRANH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Từ bao chục năm trường, thông số đấu tranh của Dân tộc Việt Nam luôn luôn là muốn có một chế độ: => Tôn trọng NHÂN PHẨM => Bảo đảm NHÂN QUYỀN => Aùp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ trong Tổ chức Tập thể => Lấy LUẬT PHÁP mà chính Dân quyết định làm trọng tài phân định những khác biệt trong cuộc sống chung.
Nếu việc hợp tác trên đây chỉ đặt nặng về quyền lợi của Đảng CSVN và của Hoa kỳ mà hy sinh cái thông số đấu tranh trường kỳ trên đây của Dân tộc Việt Nam, thì cả Đảng CSVN và cả Tổng thống BUSH đều là kẻ thù của Dân tộc Việt Nam.
Nếu Đảng CSVN đi lậy van cấu kết với Mỹ để duy trì chế độ hiện hành, vẫn tiếp tục khinh khi NHÂN PHẨM, đàn áp NHÂN QUYỀN, không cho DÂN CHỦ và trị Dân bằng võ lực KHỦNG BỐ, thì Dân tộc Việt Nam vẫn đấu tranh chống lại cho đến khi lật đổ.
Nếu Tổng thống BUSH hợp tác vì quyền lợi Mỹ và vẫn giữ chế độ độc tài Cộng sản như trên, thì Dân tộc Việt Nam sẽ khinh Tổng thống BUSH và coi Oâng là kẻ thù cấu kết với Cộng sản để đè nén Dân Việt Nam.
HƯỚNG UYỂN CHUYỂN ĐẤU TRANH TRONG NHỮNG DỮ KIỆN MỚI
Tình hình Việt Nam có những thay đổi. Hoa kỳ tái can thiệp vào Việt Nam. Hoa kỳ can thiệp vào hai lãnh vực: Kinh tế và Quân sự gián tiếp. Hãy nhìn những dữ kiện tích cực đến từ sự hiện diện của Mỹ ở Việt Nam để chúng ta lựa chiều theo đó mà đấu tranh.
Khi vì bó buộc về Kinh tế, Đảng CSVN đã mở của cho người nước ngoài vào. Sự hiện diện của người nước ngoài và việc Việt Kiều về nước khiến Cộng sản không thể hoàn toàn bưng bít như trước. Chế độ buộc phải có những nới rộng cho Dân mặc dầu bản chất vẫn là độc tài khủng bố.
Ngày nay, với sự can thiệp chính thức của Hoa kỳ vào Việt Nam, Đảng Cộng càng khó lòng bưng bít những đàn áp, lạm dụng:
=> Phương diện Kinh tế: Những Công ty Hoa kỳ, trong cái thế Việt Nam phải van nài, sẽ khó lòng để Luật lệ làm ăn luộm thuộm, bất công. Các Công ty quốc doanh hoặc của con ông cháu cha của đảng cũng ái ngại trong việc lộng quyền.
=> Cậy nhờ Mỹ yểm trợ để vào WTO: Việc vào WTO không phải là việc cần Mỹ che dù mà vào được. Mỹ không thể che dù khi mà những đòi hỏi của WTO không thực hiện được bởi chính Việt Nam. Mỹ không thể dậy kẻ yếu đánh vật. Việt Nam buộc lòng hay Mỹ bắt buộc Việt Nam phải thỏa mãn những đòi hỏi của WTO.
=> Mỹ huấn luyện cho một số Sĩ quan Việt Nam: những sĩ quan được huấn luyện từ Mỹ trở về sẽ đỡ tuân phục mù quáng chính trị của Đảng.
Nhìn khía cạnh tích cực của những dữ kiện từ việc tái can thiệp của Mỹ này, chúng ta uyển chuyển đấu tranh đòi hỏi Nhân quyền và đòi hỏi một Tiến Trình Dân chủ hóa. Với dữ kiện mới tại Việt Nam, hải ngoại tăng cường thúc đẩy những đòi hỏi chính đáng của quốc nội.
Trong tình thế mới đấu tranh này, cần nhất phải vạch mặt những kẻ trong hàng ngũ chúng ta mà vì tư lợi làm tay sai cho Đảng CSVN hoặc những người chỉ nịnh bợ Mỹ mà quên chủ đích đấu tranh cố hữu và chính đáng của Dân tộc. Sẽ có những người làm chuyện này vì quyền lợi riêng tư, chúng ta phải thẳng tay với đám ngợm này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH CỦA CHUYẾN ĐI PHAN VĂN KHẢI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Chúng tôi đã viết về ngày 21.06.2005 như ngày Lịch sử cho tình hình thay đổi ở Việt Nam: chế độ độc tài Cộng sản Việt Nam mời gọi việc tái can thiệp của Hoa kỳ sau 30 năm người Mỹ ra đi. Bài Quan Điểm của số 222/07.07.05 này có hai phần:
=> Những điểm chính thay đổi tình hình qua chuyến đi của Phan Văn Khải => Thái độ uyển chuyển đấu tranh của Dân tộc trong tình hình mới
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH THAY ĐỔI TÌNH HÌNH QUA CHUYẾN ĐI CỦA PHAN VĂN KHẢI
Ba điểm sau đây là những đề tài chính cho những gặp gỡ, trao đổi và ký kết sơ bộ trong những ngày Phan Văn Khải tại Hoa kỳ: (i) Kinh tế—Thương mại; (ii) Liên hệ quốc phòng; (iii) Tôn giáo và Nhân quyền.
Về mỗi điểm, có khía cạnh tiêu cực và khía cạnh tích cực. Chúng tôi chỉ xin viết tóm tắt. Mỗi điểm sẽ là một chủ đề để khai triển rộng hơn sau này.
Kinh tế—Thương mại
Phái đoàn Việt Nam rêu rao rằng độ tăng trưởng Kinh tế của Việt Nam hàng năm là 7.5%. Đó là con số khá lớn. Tuy nhiên khi nhìn con số này, chúng ta phải nhìn hai khía cạnh để hiểu tầm tăng trưởng:
=> Phải hỏi rằng 7.5% tính trên căn bản của con số nào ? Nếu 7.5% tăng trưởng từ số thu 200 đo-la hàng năm của mỗi đầu người, thì chỉ tăng được 15 đo-la. Nhưng nếu số căn bản để tính là 4000 đo-la, thì 7.5% tăng trưởng mới là lớn, 300 đo-la. Từ tình trạng nghèo đói, mà tăng 7.5%, thì đó vẫn trong tình trạng nghèo đói.
=> Phải nhìn con số ấy trong sự so sánh với những con số tăng trưởng kinh tế trong vùng để có thể thấy mình tiến hay lùi đối với những nước khác.
Phải phân tích kỹ việc tăng trưởng Kinh tế Việt Nam mà Cộng sản coi như là công của họ. Nếu nhìn kỹ, thì số tiền hàng năm khối người tỵ nạn gửi về Việt Nam là nguồn vốn đóng góp chính vào việc tăng trưởng sinh hoạt Kinh tế tại Quê Hương.
Phái đoàn Phan Văn Khải đã dùng con số này để tuyên truyền mong kêu gọi đầu tư từ phía Mỹ.
Nhưng có lẽ điểm quan trọng để Hà Nội chấp nhận nhiều đòi hỏi của Mỹ đó là họ muốn Hoa kỳ can thiệp để Việt Nam được chấp nhận vào Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế (WTO). Việc những nước khác trong vùng và nhất là Trung Cộng nằm trong Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế, trong khi đó Việt Nam vẫn chưa được nhận vào, đó là yếu tố làm Việt Nam cạnh tranh không nổi về kinh tế, thương mại đối với các nước trong vùng. Mỗi năm hàng Trung Cộng càng giết chết hàng Việt Nam.
Chuyến đi nhằm kêu gọi đầu tư từ Mỹ vào Việt Nam và nhằm cậy nhờ Hoa kỳ giúp mình vào WTO.
Nhưng hai vấn đề này tùy thuộc vào chính sự thay đổi kiện toàn thể chế quản trị và điều hành đứng đắn kinh tế, thương mại của Việt Nam cho phù họp với những đòi hỏi Quốc tế. Luật pháp liên hệ đến kinh tế và thương mại không thể mập mờ, thay đổi theo quyết định độc đoán của quyền lực. Đời sống Kinh tế, Thương mại của một nước đòi hỏi một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat).
Người bỏ tiền ra đầu tư quan tâm trước hết đến việc bảo vệ sự rủi ro mất vốn. Dù có thấy mối lợi nhất thời lớn, mà sự rủi ro không lường được, thì người ta cũng rất do dự để quyết định đầu tư hoặc chỉ đầu tư rất ngắn hạn. Sự rủi ro đến từ sự không ổn định chính trị và luật pháp. Dù có tuyên truyền độ tăng trưởng kinh tế 7.5%, nhưng những người đầu tư nhìn trước hết về sự ổn định chính trị và luật pháp ở Việt Nam trước khi bỏ vốn ra. Đây là điều đòi buộc Đảng và Nhà Nước Cộng sản phải thay đổi thể chế để có những ổn định chính trị và luật pháp.
Cũng vậy, Việt Nam năn nỉ Mỹ giúp mình vào Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế, nhưng Mỹ không thể dậy kẻ yếu đánh vật. Mỹ dù có thiện chí giúp, nhưng sẽ đòi hỏi Việt Nam phải cải thiện thể chế quan trị kinh tế, thương mại cho phù hợp với những đòi hỏi Quốc tế. Việc cải thiện này, như trên đã nói, liên hệ mật thiết đến việc thay đổi Môi trường Chính trị—Luật pháp cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat).
Cả việc kêu gọi đầu tư và việc xin gia nhập WTO đều đi đến chỗ Việt Nam phải thay đổi thể chế Chính trị với một nền Luật pháp đứng đắn và ổn định phù hợp với Quốc tế. Dầu sao không thể cố thủ cái chế độ độc tài, bóp chết nhân quyền hiện nay.
Liên hệ quốc phòng
Nhìn vấn đề này, cả phía Việt Nam và phía Hoa kỳ đều tính toán những quyền lợi của mỗi phía. Quân đội Cộng sản Việt Nam trước năm 1975 được cung cấp dồi dào vũ khí từ khối Cộng sản. Nhưng sau năm 1975, nhất là sau sự sụp đổ của Đế quốc Cộng sản, quân đội Cộng sản VN không còn được cung cấp vũ khí nữa. Sau 30 năm, số súng ống trước đây đã mòn cạn. Những người lính trước 1975 nay đã già. Lớp người trẻ, kể cả sĩ quan và lính, thiếu huấn luyện quân sự. Trong tình trạng nghèo đói của Đất Nước, ngân quỹ quốc phòng chắc chắn không đủ.
Nhìn sang Bắc phương, ngân quỹ cho Quân Lực Trung Cộng mỗi năm mỗi tăng trưởng nhiều hơn. Trước sự bành trướng, tăng cường quân sự này của Trung Cộng, quân đội Việt Nam trong tình trạng hiện nay, khó lòng chống cự khi hữu sự. Việt Nam phải chấn giữ biên giới liền với Trung Cộng và bảo vệ cả vùng Biển Đông dài 1600 cây số.
Chỉ có một thế lực có thể cậy nhờ, đó là Hoa kỳ.
Về phía Mỹ, trước sự bành trướng Kinh tế và nhất là Quân sự của Trung Cộng, Hoa kỳ thấy quyền lợi của họ trong Vùng Thái Bình Dương có những đe dọa. Vùng Kinh tế Thái Bình Dương bao gồm: Nam Hàn, Nhật, Đài Loan, ASEAN, Uùc Châu, Tân Tây Lan và Tiểu Bang California. Khi mà Liên Aâu họp lại để làm một Lực Lượng Kinh tế cạnh tranh với Hoa kỳ, thì Hoa kỳ đặt nặng quyền lợi của mình với APEC (Vùng Kinh tế Thái Bình Dương). Trước đây, chủ trương Eisenhower-Foster Dulles là đặt vòng đai bao vây việc bành trướng của Cộng sản tại Nam Hàn, Nhật, Đài Loan, Nam Việt Nam. Ngày nay vòng đai Bush-Rumsfeld quốc phòng cho Vùng Thái Bình Dương cần phải có Việt Nam đứng vào. Sau cuộc gặp gỡ ở Tòa Bạch ốc là cuộc thảo luận với Ngũ Giác Đài. Báo The Washington Times viết (23.06.05):“ U.S. military specialists will return to Vietnam to train its soldiers 30 years after the end of the Vietnam War” (Chuyên viên quân sự My sẽ trở lại Việt Nam để huấn luyện lính, 30 năm sau khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam) .
Có những điều tiêu cực mà chúng ta phải lo ngại cho việc liên minh quân sự quốc phòng này:
=> Nếu Hoa kỳ chỉ vì quyền lợi của mình mà xử dụng Việt Nam như một tiền đồn bảo vệ quyền lợi của họ trong Vùng Kinh tế Thái Bình Dương, thì Quân đội VN mà Cộng sản muốn làm cho mạnh chỉ là lính đánh thuê. Đất Nước Việt Nam dễ trở thành bãi chiến trường lần thứ ba khi có sự hục hoặc giữa Hoa kỳ và Trung Cộng. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết. Nước chúng ta ở sát cạnh Trung Cộng. Trung Cộng có cái cơ để xâm lăng nước ta.
=> Trong trường hợp không có những va chạm làm bùng nổ chiến tranh giữa Mỹ và Trung Cộng, và chế độ độc tài Cộng sản vẫn tồn tại, thì Quân đội mạnh của Việt Nam bị Đảng xử dụng để phục cho Chính trị độc tài, khủng bố đe dọa Dân. Những điểm tiêu cực trên có thể giảm những nguy hiểm, nếu song hành với việc làm cho Quân đội VN mạnh, Hoa kỳ phải làm thế nào để quân đội ấy không nằm trong tay xử dụng của một chế độ độc tài, nghĩa là phải đặt quân đội ấy dưới quyền một thể chế Dân chủ. Việc liên minh phòng thủ Việt-Mỹ đòi hỏi việc thay đổi thể chế chính trị, nếu không Hoa kỳ sẽ làm công việc giúp phương tiện vũ lực cho một chế độ độc tài để đàn áp Dân thêm nữa.
Tuy vậy, việc Liên minh quốc phòng cũng được nhìn ở khía cạnh tích cực:
=> Trước sự bành trướng thế lực quân sự của Trung Cộng, nuớc chúng ta cần phải có Lực lượng quân đội mạnh. Hiện nay, Hải quân của Việt Nam kể như không có sánh với Hải quân Trung Cộng được tăng cường vượt mức. Tham vọng rõ rệt của Trung Cộng là kiểm soát Biển Đông đến tận Mã Lai. Họ coi “Mer de Chine“ là của họ. Nước Việt Nam bị hoàn toàn bao vây về đường biển. Việc liên minh với Hoa kỳ và ASEAN được coi là cần thiết. Chúng ta chấp nhận việc liên minh này, mặc dầu vẫn ý thức sự nguy hiểm như trên vừa trình bầy. Chúng ta ý thức những nguy hiểm và chấp nhận liên minh để có một quân đội mạnh quốc phòng, nhưng quân đội ấy phải được đặt dưới quyền một Nhà Nước Dân cử xử dụng phục vụ cho sự an toàn của người Dân. Nói như vậy có nghĩa là điều kiện để chấp nhận liên minh phải là kèm theo một sự thay đổi chính thể, một thể chế Dân chủ.
=> Người Mỹ tái can thiệp vào Việt Nam qua liên minh quốc phòng. Sự hiện diện này tự nó khiến chế độ độc tài hiện hành giảm bớt những khủng bố, bóp chết nhân quyền một cách tàn nhẫn. Sự hiện diện này trở thành nhân chứng khiến chế độ không dấu đút những tàn nhẫn cay nghiệt. Đợt Mở cửa trước đây khiến chế độ buộc phải giàm những che đậy bưng bít. Việc tái can thiệp và hiện diện của Mỹ cũng đi theo hướng giảm đi những dấu diếm tàn nhẫn.
Tôn giáo và Nhân quyền.
Trong cuộc gặp trao đổi ở Tòa Bạch ốc, Tổng thống Bush nhắc nhiều hơn về vấn đề Tự do Tôn giáo. Vấn đề Nhân quyền cũng được nhắc tới, nhưng không được nhấn mạnh bằng vấn đề Tự do Tôn giáo như điều kiện cho sự giúp đỡ và can thiệp của Hoa kỳ ở Việt Nam. Điều này làm một số người trong những Phong trào đấu tranh hải ngoại cảm thấy một sự nghi ngờ và lo ngại về thiện chí của Hoa kỳ trong việc đòi hỏi Việt Nam bảo đảm Nhân quyền cho Dân chúng.
Phía Phan Văn Khải tất nhiên tránh né những thảo luận về vấn đề này. Thậm chí phía Việt Nam còn muốn ngụy biện chống đỡ cho những vi phạm Nhân quyền ở Việt Nam. Thứ trưởng ngoại giao đã ngụy biện đến chỗ tuyên bố Nhân quyền ở Việt Nam khác với Nhân quyền ở Mỹ, mặc dầu những quyền căn bản của con người đã được chính Việt Nam cũng như Hoa kỳ cùng ký kết vào Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.
Ngược lại, vấn đề Nhân quyền được khối người tỵ nạn khắp nơi biểu tình đòi hỏi Phan Văn Khải và chế độ Cộng sản phải tôn trọng. Trước ngày gặp gỡ giữa TT.Bush và Phan Văn Khải, Dân Biểu Quốc Hội Mỹ cũng đã thảo luận về những việc vi phạm Nhân quyền và quyền Tự do Tôn giáo ở Việt Nam và nhắc nhở Tổng thống Bush về việc đòi hỏi quan trọng này. Ngày 30.06.05, một Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam đã được Dân Biểu Chris Smith đệ nạp Quốc Hội.
Thực ra, nếu chỉ nhấn mạnh đến Tự do Tôn giáo, chúng ta e ngại có sự phiến diện trong điều kiện đòi hỏi Việt Nam. Tự do Tôn giáo chỉ là một trong những quyền căn bản của con người. Còn phải có Tự do Ngôn Luận, Tự do Báo chí, Tự do Lập Hội...
Ngay cả toàn thể vấn đề Nhân quyền, nếu chỉ yêu cầu Nhà nước độc tài CSVN nới rộng cũng chưa đủ. Các quyền tự do trên không phải là việc ban phát, thí bỏ cho Dân do Nhà Nước muốn cho thì cho. Những quyền này thuộc về Dân và Dân quyết định những Luật pháp, cơ cấu bảo đảm những quyền ấy mà Nhà Nước phải thi hành. Việc đấu tranh đòi hỏi của Dân là đến chỗ đó, chứ không phải là chỉ yêu cầu Nhà Nước nới rộng như ban phát ơn huệ. Nếu Tổng Thống Bush chỉ hài lòng ở mức độ Cộng sản VN nới rộng Tự do Tôn giáo, Nhân quyền như ban phát ân huệ của chế độ hiện hành, thì chế độ này có thể rút lại những quyền ấy một ngày nào đó vì họ vẫn nắm giữa quyền lực độc tài.
Việc tôn trọng Nhân Phẩm, bảo đảm Nhân quyền phải đi đến một thể chế thi hành đứng đắn nguyên tắc Dân chủ. Điều ấy có nghĩa là việc hợp tác của Hoa kỳ phải kèm theo điều kiện Dân chủ hóa thực sự chế độ.
Đứng về phía tiêu cực trong lúc này, người ta có thể nghĩ rằng Tổng thống Bush đã nghĩ nhiều đến quyền lợi của Hoa kỳ, mà coi nhẹ vấn đề Dân chủ hóa thể chế.
Đứng khía cạnh tích cực, người ta hy vọng rằng đây chỉ là chiến thuật lúc nhập cuộc của phía Mỹ. Khi đã nhập cuộc rồi và tiến thêm hơn, Tổng thống Bush sẽ từ từ thực hiện điều kiện Dân chủ hóa chế độ. Hy vọng này có lý do là Tổng thống Bush mang lý tưởng đấu tranh cho Tự do Dân chủ đến những nước khác, nhất là những nước đang chịu chế độ độc tài khủng bố.
THÁI ĐỘ ĐẤU TRANH UYỂN CHUYỂN CỦA DÂN TỘC TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Qua những điểm chính trên đây trong chuyến đi Mỹ của Phan Văn Khải, chúng ta có những điểm tiêu cực đáng nghi ngờ về sự dàn xếp quyền lợi giữa Mỹ và chế độ độc tài hiện hành ở Việt Nam. Nếu chỉ ngưng ở đó, chế độ hiện hành này không những vẫn tồn tại, mà còn được tăng cường thêm bởi Mỹ để chế độ càng độc quyền khủng bố, bóp chết những quyền căn bản của người Dân Việt Nam. Trong trường hợp ấy, Dân tộc Việt Nam không những phải chống lại chế độ CSVN mà còn phải chống Mỹ nữa.
Nếu chúng ta chỉ ngưng và đào sâu khía cạnh tiêu cực, cuộc đấu tranh hiện nay của chúng ta dễ đưa đến nản chí. Chính vì vậy chúng tôi chọn quyết định đào sâu khía cạnh tích cực của các vấn đề để mà uyển chuyển đấu tranh. Cuộc đấu tranh của chúng ta hoàn toàn đặt trên những nguyện vọng chính đáng của toàn khối Dân tộc Việt Nam. Lợi dụng những khía cạnh tích cực của các vấn đề để đấu tranh đạt cho bằng được những nguyện vọng chính đáng của Dân tộc. Những nguyện vọng đó là: dù thế lực nào mặc lòng, họ phải tôn trọng Nhân phẩm, bảo đảm Nhân quyền và thực thi nguyên tắc Dân chỉ trong đời sống Tập thể.
Cũng qua những phân tích trên đây, ở mỗi điểm, chúng ta đều thấy rằng việc hợp tác Việt-Mỹ đòi hỏi điều kiện thay đổi chế độ độc tài hiện hành nếu muốn sự hợp tác mang đến kết quả tốt đẹp cho Dân chúng Việt Nam. Việc Dân chủ hóa chế độ là điều kiện không thể không làm nếu hai bên muốn có những kết quả tốt cho những hợp tác ở phần trên đây.
Tiến trình Dân chủ hóa đã bắt đầu ?
Tiến trình Dân chủ hóa thực tiễn bắt đầu khi tiếng nói đối lập được công khai hóa. Trong dịp Quốc Khánh Hoa kỳ ngày 04.07 vừa rồi, Tòa Lãnh sự Mỹ tại Sài gòn đã mời những thành phần đối lập tại Việt Nam:
- Bác sĩ Nguyễn Đan Quế và phu nhân, nguyên là nữ ca sĩ Tâm Vấn.
- Nhân vật ngoài Bắc vào có Giáo sư Trần Khuê và phu nhân.
- Lớp trẻ có Kỹ sư Phương Nam.
- Thượng Tọa Thích Thiện Minh của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, vừa được chính quyền Hà Nội thả ra sau 26 năm giam cầm.
- Linh mục Chân Tín của Dòng Chúa Cứu Thế,
- Cư sĩ Trần Thiện Duyên của Phật Giáo Hòa Hảo,
- Mục sư Tin Lành Phạm Thanh Nhẫn
Với suy nghĩ tiêu cực, chúng ta có thể nghĩ rằng đây là việc làm có ý an ủi những người đấu tranh chống độc tài, mang nghi ngờ và có phần thất vọng về thái độ hợp tác của Hoa kỳ với chế độ CSVN hiện hành.
Mặc dầu luôn ý thức về khía cạnh tiêu cực ấy trên đường đấu tranh, nhưng chúng tôi muốn nhìn khía cạnh tích cực để quyết tâm đấu tranh cho Tự do Dân chủ. Đứng khía cạnh này, chúng tôi muốn coi đây là việc công khai giới thiệu và bảo trợ của phía Hoa kỳ cho những nhà đối lập tại Việt Nam. Đó là khởi điểm cho một tiến trình Dân chủ hóa chế độ. Nếu chỉ vì an ủi mà phía Mỹ làm công việc này mà không bảo trợ những nhà đối kháng, thì đó là hành động mang ra ánh sáng, giới thiệu cho Cộng sản những thành phần để Cộng sản lưu tâm đàn áp hơn nữa. Hành động như vậy là ác tâm.
Những đấu tranh cụ thể cho tiến trình Dân chủ hóa
Chúng ta theo sát những vấn đề hợp tác Mỹ-Việt trên đây để uyển chuyển tích cực đấu tranh, mặc dầu luôn luôn ý thức khía cạnh tiêu cực để đề phòng.
Chúng tôi nhìn thấy những điểm đấu tranh cụ thể sau đây:
=> Khi Phan Văn Khải qua bắt tay với Mỹ rồi, thì những ngợm giáo gian hay chính trị gian quốc doanh không cần phải được xử dụng để làm lá chắn và gửi đi giải oan nữa. Nhưng những thành phần này sẽ được xử dụng để len lỏi vào hàng ngũ đối lập để gây chia rẽ hoặc làm đối lập cuội. Lực lượng đối lập phải vững chắc về Lập trường và cấu kết chặt chẽ với nhau. Vì vậy trong tiến trình Dân chủ hóa, chúng ta phải loại trừ triệt để đám ngợm giáo gian hay bầy ngợm chính trị gian, dù chỉ là nghi ngờ.
=> Hết lòng trợ lực cho sự thành hình Lực lượng đối lập tại Quốc nội. Lực lượng hải ngoại chỉ làm công việc ngoại vận. Tôi e ngại cho một tình trạng nhoi nhoi lên của những Nhóm chính trị tại hải ngoại để mong nhẩy bàn độc trong tiến trình Dân chủ hóa. Đây là cái nguồn gây chia rẽ khối người Việt tại nước ngoài, nhất là tại Hoa kỳ mà chúng ta rất cần sự đoàn kết của họ để đấu tranh về phía Mỹ.
=> Lực lượng đối lập tại quốc nội nên khởi điểm từ những Lực lượng Tông giáo chính đáng (không quốc doanh). Những Tín hữu thuộc các Tôn giáo chân chính cấu kết trong giai đoạn thay đổi quan trọng này để đặt nền tảng cho một Đảng chính trị đối lập tương lai.
=> Cái quyền quan trọng thứ nhất dành lại trong tiến trình Dân chủ hóa là quyền Tự do Ngôn Luận, Báo chí. Làm thế nào những thành phần đối lập cho ra đời một cơ quan ngôn luận. Khối người Việt hải ngoại yểm trợ phương tiện cho cơ quan ngôn luận.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
PHAN VĂN KHẢI: CHUYẾN XUẤT NGOẠI TRƯỚC ĐẠI HỘI ĐẢNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Đại Hội Đảng Cộng sản kỳ tới này có những quyết định nào cho sự thay đổi của chế độ ? Đó là câu hỏi mà nhiều người đặt ra. Ngay những đảng viên cao cấp cũng khó lòng chắc chắn về câu trả lời bởi lẽ nội bộ Đảng đã chia phe nhóm xâu xé nhau vì quyền lợi riêng tư hoặc phe nhóm trong đảng.
Từ khi nghe tin Oâng VÕ VĂN KIỆT có lá thư đưa ra những yêu cầu nới rộng Dân Chủ, người ta có thể nghĩ đến hướng đi đến một Tiến trình Dân chủ hóa. Việc Nhà Nước Việt Nam thả một số Tù nhân Lương Tâm có lẽ cũng là triệu chứng cho thấy rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không thể giữ mãi tình trạng độc tài khắt khe lúc này của chế độ.
Về phía nước ngoài, nhiều Nước và Tổ chức Quốc tế gia tăng việc đòi hỏi chế độ hiện hành phải đi tới Tiến trình Dân chủ hóa chế độ. Sự thất bại của việc xin gia nhập Tổ chức Thương Mại Quốc tế WTO là một bài học đau đớn cho thái độ cố thủ giữ độc tài khắt khe của chế độ.
Đặc biệt là áp lực từ phía Hoa kỳ: việc xếp Việt Nam vào Danh sách những Nước đáng quan tâm về Tôn giáo và việc tái đắc củ của Tổng Thống BUSH, người chủ trương Dân chủ hóa những chế độ độc tài trên Thế giới, nhất là ở những Quốc gia nhỏ bé.
Thủ tướng PHAN VĂN KHẢI xuất ngoại đến nhiều Nước, nhất là sang Hoa kỳ gặp Tổng Thống BUSH. Người ta cũng nghe tin rằng Tổng Bí Thư NÔNG ĐỨC MẠNH cũng dự định sang Pháp trong dịp tháng 6 này.
Không hiểu đây là dấu hiệu cho một Tiến trình Dân chủ hóa hay chỉ là việc tính toán lấy thế Quốc tế cho một nhóm Lãnh đạo trong Đảng để có thể lấn át những Nhóm khác trong kỳ Đại Hội Đảng sắp tới.
Chúng tôi, tuy thiếu sót những thông tin chính xác như mọi người, nhưng cố gắng đưa ra một số nhận định về những dự phòng biến chuyển tình thế và đồng thời hướng việc đấu tranh của mình cho hợp tình hình. Chúng tôi xin bàn vắn tắt những khía cạnh sau đây:
=> Điều mong muốn của Thủ tướng PHAN VĂN KHẢI => Điều mong muốn của Tổng thống BUSH => Điều mong muốn của Dân chúng Quốc nội => Đấu tranh của các Nhóm Chính trị Hải ngoại => Đấu tranh của Khối người Việt Hải ngoại yểm trợ Dân chúng Quốc nội
Điều mong muốn của Thủ tướng PHAN VĂN KHẢI
PHAN VĂN KHẢI có thể là đại diện cho lớp Lãnh đạo trí thức và cho khuynh hướng chính trị gốc Miền Nam. Oâng là người đã đi du học tại Nga và biết nhiều những biến chuyển tại các Quốc gia Đông Aâu. Ông phải nghĩ đến những phát triển Kinh tế tại những nước này sau khi họ dứt điểm với chế độ Cộng sản. Oâng cũng đã biết tình trạng những Quốc gia này làm chư hầu cho Nga và Oâng phải nghĩ đến tình trạng Việt Nam hiện giờ lệ thuộc vào Trung Cộng. Oâng là gốc ở Củ Chi, Miền Nam. Nhóm Lãnh đạo trong Đảng, gốc Miền Nam, không mấy gì hợp với những Lãnh đạo Đảng gốc Miền Bắc. Ngay cả những Lãnh đạo gốc Bắc này cũng có những khó chịu với những Lãnh đạo gốc Nghệ An.
Chúng ta có thể giả thiết những mong muốn sau đây theo ba mức độ:
1) Đây chỉ là mưu mô chiều chuộng Hoa kỳ vì quyền lợi Kinh tế. Họ sẽ xử dụng một số Chính khách Quốc gia tại Hải ngoại để làm bù nhìn. Chế độ có những thay đổi nhỏ thứ yếu để che đậy.
2) Phan Văn Khải và Nhóm của Oâng chấp nhận Tiến trình Dân chủ hóa, nhưng Nhóm này và Đảng Cộng sản do Nhóm lãnh đạo vẫn là chủ động trong Tiến trình Dân chủ hóa này.
3) Phan Văn Khải và Nhóm của Oâng muốn làm như GORBACHEV.
Điều mong muốn của Tổng thống BUSH
Tổng thống BUSH đã long trọng đọc bài Diễn Văn trong dịp nhậm chức Khóa hai của Oâng. Oâng tuyên bố đấu tranh cho Tự do và Dân chủ trên Thế giới. Chúng tôi tin ở lòng thành thực của Oâng hơn là lòng dạ của KERRY. Ngoại trưởng RICE cũng là người có tính thẳng thắn và đã từng biết những biện pháp ức chế người da đen tại Mỹ trước đây. Với hai người này, chúng tôi tin rằng họ không đến nỗi buôn bán đổi chác giữa quyền lợi Mỹ với sự thống khổ của Dân chúng Việt Nam dưới độc tài Cộng sản.
Chúng tôi giả thiết lòng mong muốn của Tổng thống BUSH với những mức độ sau đây:
1) Vì tình hình muốn ngăn chặn Trung Cộng trong việc bành trướng thế lực xuống vùng Đông Nam Á châu và đe dọa Đài Loan, Nhật Bản, nên Tổng thống BUSH muốn kéo Tiền đồn trong vùng là Việt Nam về phe mình. Trong trường hợp này, Tiến trình Dân chủ hóa vẫn được Mỹ nhường cho Đảng Cộng sản làm chủ động. Như vậy chúng ta chỉ có những thay đổi thứ yếu, chứ không đi vào căn bản.
2) Nếu Tổng thống BUSH và Ngoại trưởng RICE thực tình chú tâm đến những đau khổ của Dân chúng dưới một chế độ độc tài và trung thực với lương tâm trong những lời tuyên bố, thì hai người này sẽ dùng áp lực Kinh tế đòi buộc Đảng CSVN phải theo Tiến trình Dân chủ hóa tới những điểm căn bản. Hai người này có lòng tin ở những giá trị Tôn giáo là nguồn của việc tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN và áp dụng triệt để nguyên tắc DÂN CHỦ. Những Vị này tha thiết đến việc chống Khủng bố. Dưới một chế độ độc tài, việc dùng sức mạnh, tù tội để Dân chúng phải câm miệng là hành động KHỦNG BỐ còn triền miên hơn là mấy trái bom nổ.
Điều mong muốn của Dân chúng Quốc nội
Trong nhiều chục năm rồi, Dân chúng Việt Nam rõ rệt mong muốn những điều sau đây:
=> NHÂN PHẨM của mỗi cá nhân phải được tôn trọng. Đảng không thể coi cá nhân là phương tiện phục vụ cho quyền lợi của Đảng hay cho quyền lợi cá nhân của đảng viên.
=> NHÂN QUYỀN, những quyền căn bản của con người phải được bảo đảm. Đảng không được coi những quyền căn bản ấy như sự ban phát của Đảng, dù là nhân danh bất cứ điều gì. NHÂN QUYỀN là nội tại chứ không phải ngoại tại.
=> Nguyên tắc DÂN CHỦ phải được áp dụng trong cuộc sống Tập thể. Tự do có thể co giãn, nhưng nguyên tắc DÂN CHỦ là quy ước mỗi người làm chủ mình khi sống trong Tập thể.
Ba điểm trên là điều mong ước căn bản cho cuộc sống mỗi người. Đời sống Kinh tế của cá nhân hay xã hội chỉ có thể triển nở trong một thể chế giữ đúng những điểm trên đây.
Dân chúng Quốc nội, 85 triệu người, muốn tự họ định đoạt một thể chế biết giữ những điểm này. Nếu thể chế tương lai chỉ là sự dàn xếp giữa Đảng Cộng sản và thế lực ngoại lai mà thoả mãn những điểm trên, thì Dân chúng cảm ơn. Còn nếu chỉ là sự dàn xếp giữa quyền lợi của Đảng CSVN với thế lực ngoại lai mà hy sinh những điểm trên, thì Dân chúng quốc nội không thể chấp nhận và chửi cha vào sự dàn xếp này khiến Dân chúng phải tiếp tục sống dưới độc tài.
Đấu tranh của các Nhóm Chính trị Hải ngoại
Tôi xin nói thật lòng như thế này: tôi chỉ quan tâm đến đời sống của Dân chúng Quốc nội với đời sống khổ cực của họ dưới một chế độ độc tài, còn khối người Việt Hải ngoại, đã có điều kiện sống thoải mái, thì tôi không hề quan tâm đến làm gì.
Tuy nhiên khi nhìn những biến chuyển tình hình có thể xẩy ra như trên, tôi thấy một số Nhóm Đảng ở Hải ngoại bắt đầu khoa chân múa tay chường mặt ra với mục đích được cả Đảng Cộng sản Việt Nam và cả ngoại lai (Mỹ) lưu ý tới mà nhận mình làm tay sai trong Tiến trình Dân chủ hóa.
Những Nhóm Đảng này tự xưng mình là anh hùng có thể đội đá vá trời. Trước dự đoán tình hình này, có những người vội họp với nhau để lập Nhóm Đảng mới để tranh hùng với những Nhóm Đảng khác.
Từ 5 năm nay, tôi không hề đụng chạm đến Nhóm Đảng nào, nhưng cách đây mấy tháng, khi quan sát thấy sự tranh hùng xưng bá để làm ứng viên phục vụ cho Đảng Cộng sản Việt Nam hay thế lực ngoại lai, tôi đã viết về:
=> Quốc trưởng NGUYỄN KHÁNH và Chính phủ Việt Nam Tự do lưu vong lưu bị
=> Đảng Việt Tân với những thái độ mập mờ
Tôi viết vì sợ họ làm tay sai cho Đảng Cộng sản Việt Nam và thế lực ngoại lai để dàn xếp một thể chế tiếp tục áp đặt độc tài trên Dân chúng quốc nội đã bao chục năm chịu khổ cực.
Trong thực tế, những Nhóm Đảng này nhoi lên đấu tranh để mong theo đóm ăn tàn. Họ sẽ không trở về Việt Nam để nằm gai nếm mật đấu tranh với Dân chúng Quốc nội. Họ chỉ về khi địa vị đã được dọn sẵn. Chính lúc về, họ cũng còn tính toán lúc phủi tay ra đi thoát thân.
Khi nhoi lên chường mặt xưng tên tuổi, mặc dầu hô hào cứu khổ đồng bào Quốc nội, nhưng Nhóm Đảng nào cũng lo lắng tranh đấu cho cái danh riêng của Nhóm Đảng, thậm chí còn mưu kế triệt hạ Nhóm Đảng khác để lấy danh cho riêng mình. Đây là cái nguồn chia rẽ trong Khối Cộng đồng Việt Nam Hải ngoại.
Vì vậy tôi chủ trương dứt khoát:
@ Khối Dân chúng Quốc nội là chủ lực đấu tranh và quyết định thể chế tương lai của họ bởi vì họ phải sống trong thể chế ấy. Họ quyết định sai thì họ phải ráng sống. Họ quyết định đúng, thì sống sung sướng.
@ Các Nhóm Đảng ở Hải ngoại chỉ làm công việc NGOẠI VẬN yểm trợ cho Lực lượng Dân chúng chính yếu Quốc nội. Khi làm công việc NGOẠI VẬN này, thì các Nhóm Đảng bớt kèn cựa, chửi bới nhau, làm chia rẽ Cộng Đồng Hải ngoại.
Đấu tranh của Khối người Việt Hải ngoại yểm trợ Dân chúng Quốc nội
Hơn lúc nào hết, trước những dự đoán có thể chuyển biến tình hình Việt Nam, khối người Việt Hải ngoại phải tích cực yểm trợ cho Dân chúng Quốc nội gồm 85 triệu đồng bào đau khổ. Những Nhóm Đảng chính trị tại Hải ngoại hãy nhập vào cuộc đấu tranh NGOẠI VẬN này, chứ đừng nhoi lên với tên tuổi riêng của mình để nhằm nhẩy bàn độc và do đó tạo chia rẽ giữa Cộng đồng Hải ngoại. Tôi đã phải sống cảnh chia rẽ này ở Hải ngoại và khi tái nhập đấu tranh năm 2001, tôi nhất định không gia nhập bất cứ Nhóm Đảng chính trị nào. Chúng tôi đã có Đảng riêng TỰ DÂN (TỰ do DÂN chủ), với Giấy phép thời Oâng HÀ THÚC KÝ làm Bộ trưởng Nội vụ. Một số cựu đảng viên như Oâng NGUYỄN PHÚC TÀI, Bác sĩ VŨ CÔNG, Oâng NGUYỄN VĂN CẨM, Oâng TRẦN NĂNG PHÙNG...đang sống bên Mỹ. Nhưng chúng tôi quyết định không đưa tên đảng này ra để rồi phải hao tốn sức lực đấu tranh cho tên đảng riêng của mình, mà phải dồn lực hòa nhịp với Cộng đồng hải ngoại để nhằm mục đích chung là chống chế độ độc tài Cộng sản.
Cộng đồng Việt Nam Hải ngoại hợp nhất đấu tranh yểm trợ Lực lượng chính yếu Quốc nội về hai phương diện sau đây:
1) Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam
Khối người Việ Hải ngoại có dịp bầy tỏ sự phẫn nộ của mình thay cho Đồng bào Quốc nội trước PHAN VĂN KHẢI. Chúng ta phải nói với PHAN VĂN KHẢI rằng Dân chúng Việt Nam chán ghét lắm rồi cái chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong dịp 30.04 vừa rồi, đồng bào khắp nơi đã nói rõ rằng họ hận thù chế độ này. Họ vẫn giữ hai chữ QUỐC HẬN để nói lên lòng chán ghét ấy đối với chế độ. Đây là tiếng nói để Đảng Cộng sản Việt Nam biết và cũng để cho thế lực ngoại lai ý thức sự tàn tệ của chế độ độc tài Cộng sản. Nếu chúng ta không nói lên hai chữ QUỐC HẬN, ngoại lai có thể nghĩ rằng chúng ta sống ở đây với bơ sữa mà quên đồng bào tại quê hương và quên sự chán ghét chế độ độc tài Cộng sản. Cái hận trong mỗi người là sức mạnh chính yếu tạo sự cố gắng đấu tranh.
Đồng bào khắp nơi biểu tình phản đối PHAN VĂN KHẢI về sự tàn ác mà chế độ độc tài đã áp đặt lên Dân chúng 85 triệu đồng bào Quốc nội.
2) Đối vớ thế lực ngoại lai
Khối người Việ Hải ngoại dùng mọi biện pháp để cho họ biết rằng việc dàn xếp, đổi chác với Đảng Cộng sản Việt Nam để quyết định một thể chế bắt Dân Quốc nội chấp nhận chỉ là hành động phản DÂN CHỦ.
Hành động tôn trọng DÂN CHỦ thực sự là phải để cho Dân chúng Việt Nam được quyết định tự do về thể chế mà họ sẽ phải sống. Nếu Tổng Thống BUSH và Ngoại trưởng RICE chỉ dàn xếp với Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, cùng với Nhóm Đảng chính trị tay sai ở Hải ngoại để đặt một thể chế không đi vào căn bản ước mong của Dân chúng Việt Nam Quốc nội, thì đó chỉ là hành động phản DÂN CHỦ của Tổng Thống BUSH và của Ngoại trưởng RICE vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
------------------------
TAI LIEU CHU DE
------------------------
QUỐC DOANH HÓA CHÍNH TRỊ
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Viết những điểm trong bài vắn gọn này, tôi không có ý ám chỉ đến cá nhân hoặc những nhóm Chính trị nào. Tôi chỉ muốn dự phòng những gì có thể xẩy ra. Một số vị viết trên Diễn Đàn nói rằng hãy để xem kết quả của việc làm của một số Nhóm, rồi mới phán đoán. Tôi quan niệm khác. Điều hành là tiên liệu (Diriger, c’est Prévoir), hay nói đơn giản theo dân quê mình: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh“. Cứ để việc xẩy ra rồi, mình mới ngồi than khóc, rồi tranh đấu vuốt đuôi. Đã nhiều chục năm nay, cứ để Cộng sản tiến đến, rồi nói là không ngờ và bỏ chạy. Năm 1954, năm 1975! TÔI MUỐN TIÊN LIỆU TÌNH TRẠNG QUỐC DOANH HOÁ CHÍNH TRỊ.
Tôi xin nói những điểm sau đây trong bài vắn gọn này:
=> Đảng Cộng sản Việt Nam đã quốc doanh hóa một số Giáo Hội => Đảng Việt Nam đang tìm cách quốc doanh hóa một số Nhóm Chính trị => Phải tiên liệu một Đảng Chính trị vững chắc để đối đầu thực sự => Nắm vững Chủ trương một nền Chính trị tương lai
Đảng Cộng sản Việt Nam đã quốc doanh hóa một số Giáo Hội
Ai trong chúng ta cũng thấy rằng một số Giáo Hội tại Việt Nam đã trở thành quốc doanh. Nếu có Tôn giáo nào chưa bị quốc doanh hóa, Cộng sản cho những ngợm giáo gian vào để lũng đoạn, chia rẽ để Giáo hội ấy yếu đi và không đồng nhất lên tiếng mạnh mẽ nói lên sự thật, nói những điều tha hóa mà Cộng sản làm. Chúng ta còn may mắn có được những Lãnh đạo chân chính, can đảm, dù trước những khủng bố, tù tội.
Trước áp lực quốc tế đòi Tự do Tôn giáo, Cộng sản đưa những Giáo hội quốc doanh ra để đỡ đạn, chống chế cho chế độ.
Đảng Cộng sản Việt Nam đang tìm cách quốc doanh hóa một số Nhóm Chính trị
Vì điều kiện Kinh tế, chế độ hiện hành bị lệ thuộc vào Tây phương và Hoa kỳ. Aùp lực Tây phương và Hoa kỳ đòi Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chế độ: tôn trọng Nhân quyền và cho quyền Dân chủ. Phong trào đấu tranh của người Việt hải ngoại lớn mạnh và đấu tranh theo chiều hướng ấy. Đảng Cộng sản Việt Nam đã đến lúc không thể chai lì làm ngơ trước những áp lực quốc tế và trước Phong trào đấu tranh lên mạnh của Khối người Việt vì họ bị lệ thuộc Kinh tế. Nhưng vẫn theo mưu lược cố hữu là tìm cách đánh lừa Quốc tế và ngay cả Phong trào đấu tranh hải ngoại, Đảng Cộng sản Việt Nam tìm cách quốc doanh hóa một số Nhóm Chính trị. Nghị Quyết 36 nói lên ý định này. Đến lúc nào Đảng buộc lòng phải chấp nhận Chính trị đối lập để tuyên truyền rằng họ cho Dân chủ, cho đối lập, thì họ sẽ xử dụng những Nhóm Chính trị đã bị quốc doanh hóa để “làm đối lập“, nhưng vẫn trong vòng giật dây của Đảng Cộng sản. Một thể chế Chính trị có đối lập, nhưng đối lập bằng Đảng Chính trị quốc doanh, thì cũng như không có đối lập.
Cũng như trên, trước áp lực đòi Tự do Tôn giáo, Đảng Cộng sản cho Tự do, nhưng là cho những Giáo hội quốc doanh.
Cũng vậy, trước áp lực đòi Dân chủ, đòi đối lập, Đảng Cộng sản cho Đối lập, nhưng là cho những Nhóm Chính trị quốc doanh.
Phải tiên liệu một Đảng Chính trị vững chắc để đối đầu thực sự
Trong phạm vi Tôn giáo, chúng ta còn những Lãnh đạo chân chính và một số Giáo hội chân chính để có thể còn cất lên tiếng nói chân thực bênh đỡ Dân. Trong phạm vi Chính trị, chúng ta cũng phải tiến tới thành lập những Nhóm Chính trị chân chính để có thể nói lên những điều kiện của một thể chế Chính trị chân chính cho Dân.
Hiện nay, chúng ta có những Nhóm Chính trị phát xuất từ cá nhân hay một nhóm cá nhân. Những Nhóm Chính trị này đang tìm cách chiếm hậu thuẫn của Dân bằng phương pháp này hay phương pháp khác, dù bằng phương pháp “không được đường đường chính chính“ cho lắm. Những Nhóm này quan sát thấy tình hình thuận lợi: (1) Aùp lực quốc tế, nhất là của Hoa kỳ; (2) Đảng Cộng sản có thể chấp nhận cho đối lập, nên những Nhóm này muốn vội vàng chớp thời cơ nhẩy vào cuộc, mặc dầu thực lực còn non yếu. Chúng ta thường gọi đây là những Nhóm hoạt đầu chính trị, Chính trị thời cơ, Chính trị khôn lỏi. Quyền hành, chức vị, quyền lợi riêng tư có thể làm họ chóa mắt mà quên mưu mô thâm độc của Đảng Cộng sản là quốc doanh hóa họ.
Tuần vừa rồi, chúng tôi đã viết một bài ngắn nói về sự cần thiết phải tiến tới THÀNH LẬP ĐẢNG CHÍNH TRỊ phát xuất từ hai Lực Lượng đáng tin tưởng nhất hiện nay. Đó là:
=> LỰC LƯỢNG TÔN GIÁO CHÂN CHÍNH
=> LỰC LƯỢNG CỰU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA
Đảng Chính Trị phát xuất từ hai Lực Lượng này tự nhiên có hậu thuẫn quần chúng rồi. Lập trường Chính trị của Đảng này khó lòng bị quốc doanh hóa vì đã có hai Lực Lượng đáng tin cậy trên cầm cân nẩy mực cho.
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam, vì áp lực quốc tế, phải chấp nhận đối lập, thì chính là Đảng Chính trị phát xuất từ hai Lực Lượng này trở thành đối lập để bênh đỡ cho quyền lợi chính đáng của người Dân.
Tiên đoán thời cuộc, chúng tôi thấy việc THÀNH LẬP ĐẢNG CHÍNH TRI này là cấp thiết.
Nắm vững Chủ trương một nền Chính trị tương lai
Nền Chính trị tương lai của Việt Nam không phải là việc bỏ chung vào một cái nồi tất cả mọi khuynh hướng Chính trị, dù tương phản nhau, để quấy lộn xà ngầu và cho Dân chúng ăn. Không thể bỏ chung XẤU, TỐT hay QUỶ, THẦN vào chung một giỏ rồi nặn ra một nền chính trị gọi là“HÒA HỢP“. Đấy chỉ là sự trả giá với nhau của những kẻ ham quyền hành, chức vị. Nền Chính trị tương lai của Việt Nam là phải do Dân và cho Dân chứ không phải do Lãnh đạo và cho Lãnh đạo mọi khuynh hướng.
Dân gồm những cá nhân sống chung. Nền Chính trị cho Dân phải đặt cá nhân làm trọng tâm. Nền Chính trị ấy gồm những điểm căn bản sau đây:
1) Tôn trọng triệt để NHÂN PHẨM của mỗi người khi họ sinh ra là người
2) Bảo vệ NHÂN QUYỀN. Những quyền này được liệt kê rõ trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền
3) Aùp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ cho mỗi người Dân sống trong Tập thể.
Một nền Chính trị giữ đúng đắn ba điều căn bản trên đây làm cho Dân được YÊN TÂM. Một khuynh hướng Chính trị có thể nói bất cứ điều gì làm Dân hào hứng mà không giữ ba điểm trên đây, thì Dân chúng không yên tâm và còn đấu tranh nữa. Nhóm thì nói thiên Tả, Nhóm thì nói thiên Hữu, Nhóm thì nói Trung Dung...Nhưng nói gì mặc lòng, nói hươu nói vượn gì đi nữa, mà không giữ ba điều trên đây, thì Dân không thể yên tâm.
Trước khi làm cho Dân hào hứng, thì phải làm cho Dân YÊN TÂM trước đã. Chúng tôi chọn một nền chính trị làm Dân YÊN TÂM với ba điều kiện nói trên đây. YÊN TÂM tức là HÒA BÌNH. Dân yên tâm, có hòa bình để làm ăn thì Nước mới giầu, Dân mới mạnh. Chủ trương Nhà Nước mang giầu có đến cho Dân đã có cả một Lịch sử thất bại. Việc phát triển Đất Nước là từ Dân vậy.
NGUYỄN PHÚC LIÊN
QUỐC HẬN, GIẢI PHÓNG, TỰ DO
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Đọc trên Diễn Đàn, tôi thấy có sự tranh luận về ngày 30 THÁNG TƯ. Việc tranh luận này có thể hại cho Lực lượng người Việt hải ngoại đang nỗ lực chống chế độ độc tài hiện nay ở Việt Nam. Vì cùng đóng góp vào nỗ lực chung của Cộng đồng Việt Nam hải ngoại, nên khi thấy điều gì có thể phương hại đến nỗ lực chung ấy, tôi nhập cuộc thảo luận, mong đóng góp được ý kiến gì để cho sự việc minh bạch. Thực vậy, không minh bạch, chúng ta dễ có những hiểu lầm và rồi chúng ta cứ luẩn quẩn từ hiểu lầm này đến hiểu lầm khác làm tốn thời giờ và làm giảm nội lực đấu tranh cần thiết cho Quê Hương.
Ngày 30 THÁNG TƯ mang ý nghĩa nào? QUỐC HẬN, GIẢI PHÓNG, TỰ DO ? Phân biệt nguồn gốc rõ rệt ba tiếng đó để khai quang tranh luận.
NGÀY 30 THÁNG TƯ: NGÀY QUỐC HẬN
Đối với Đồng bào Việt Nam phải bỏ Nước ra đi và sống trên 70 Quốc gia lúc này và đối với Đồng bào còn ở lại trong Nước mà buộc lòng phải chịu sự áp đặt một chế độc độc tài trên họ, thì ngày 30 THÁNG TƯ là ngày QUỐC HẬN. Tình cãm của họ HẬN thực sự và họ ý thức cái lý do để HẬN. Kỷ niệm ngày này để nhắc cho họ cái tình cảm ấy và để nhắc nhở cho chính họ và con cháu cái lý do gây lên tình cảm HẬN này. Việc nhắc nhở mối HẬN có ý nghĩa tích cực là nhắc nhớ cho chính họ và con cháu họ phải luôn luôn nỗ lực chống lại những điều xấu đã gây tang thương và hận giờn cho Dân tộc. Ý nghĩa tích cực của biến cố LỊCH SỬ là ở chỗ đó.
Những nguyên thủ quốc gia Aâu châu mới kéo nhau đến Lò Giết Người của Đức Quốc Xã tại Ba-Lan để nhớ lại Kỷ Niệm việc giết Dân Do Thái. Đây là việc nhắc lại kỷ niệm ác độc để mà tránh cho tương lai. Kỷ niệm ngày 30 THÁNG TƯ: NGÀY QUỐC HẬN để mà nhắc nhở cho chính mình và con cháu phải loại bỏ những điều xấu đã gây ra cái HẬN này.
Những người cố thủ giữ ngày 30 THÁNG TƯ: NGÀY QUỐC HẬN hoàn toàn có lý của mình và chúng ta phải duy trì cái tên QUỐC HẬN ấy. Không ai có quyền đổi cái tên đó đi.
NGÀY 30 THÁNG TƯ: NGÀY GIẢI PHÓNG
Đây là ý nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam gán cho việc xâm lăng Miền Nam của họ bằng võ lực đẫm máu với những khí giới chiến tranh cung cấp bởi Liên Xô và Trung Cộng. Ngày 30 tháng Tư, họ chiếm Sài Gòn và coi đó là ngày chiến thắng, ngày họ “GIẢI PHÓNG“ Miền Nam. Đối với Dân Miền Nam trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, thì đây là ngày mà Cộng sản Miền Bắc khóa chân tay Dân Miền Nam lại để áp đặt trên đầu họ một chế độ Độc tài. Đây là ngày “TRÓI BUỘC“ chứ không phải là ngày “GIẢI PHÓNG“. Giải phóng có nghĩa là mang “TỰ DO“ đến cho Dân Miền Nam. Đó là ý nghĩa mà Cộng sản Miền Bắc cố tình ghép cho ngày 30 THÁNG TƯ.
NGÀY 30 THÁNG TƯ: NGÀY TỰ DO
Đây là tiếng gọi mới cho ngày 30 THÁNG TƯ. Ban Tổ chức gọi là NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO. Chính hai chữ TỰ DO này gây sự phản đối bởi lẽ như trên vừa nói, hai chữ GIẢI PHÓNG có nghĩa là cho TỰ DO, do đó nếu bây giờ xử dụng hai chữ TỰ DO, người ta có thể nghĩ đến hai chữ GIẢI PHÓNG mà Cộng sản Hà Nội đã cố tình gán cho ngày 30 THÁNG TƯ.
Ban Tổ chức NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO cố tình hay lơ đễnh vô ý? Dù trường hợp nào mặc lòng, thì những người chống đối việc xử dụng hai chữ TỰ DO cho ngày đó có lý chính đáng để chống đối.
Trường hợp cố tình của Ban Tổ chức
Nếu Ban Tổ chức cố tình đặt nhẹ hoặc bỏ hai chữ QUỐC HẬN đi mà nhấn mạnh vào hai chữ TỰ DO với dụng ý làm cho Đồng bào Tỵ nạn nghĩ đây là ngày GIẢI PHÓNG theo sự gán ghép của Cộng sản cho ngày 30 THÁNG TƯ, thì chính tôi cũng yêu cầu Ban Tổ chức cuốn gói về Việt Nam mà sống với TỰ DO, với GIẢI PHÓNG của Cộng sản, chứng đừng ở bên Mỹ để dụ Đồng bào Tỵ nạn đang mang QUỐC HẬN chính đáng trong lòng.
Trường hợp Tình ngay mà Ý gian của Ban Tổ chức
Nếu thực tình Ban Tổ chức không có ý bỏ hai chữ QUỐC HẬN, mà đã vô tình lơ đễnh hoặc quá hăng say đấu tranh chống độc tài Cộng sản để đến nỗi nhấn mạnh hai chữ TỰ DO, thì trong trường hợp này chúng ta không thể kết luận là Ban Tổ chức làm tay sai cho Cộng sản Hà nội. Trường hợp vô tình lơ đễnh hoặc quá hăng say này dầu sao cũng gây một sự hiểu lầm cho người khác mà việc vô tình lơ đễnh hoặc quá hăng say phải trách nhiệm cho việc gây hiểu lầm này. Những người phản đối Ban Tổ chức có lý do từ sự hiểu lầm này mà nghĩ đến cái Ý GIAN của Ban Tổ chức.
Ban Tổ chức đã viết bài để giãi bầy cái TÌNH NGAY của mình. Những người đọc bài Lập trường ấy thì có thể thông cảm cho cái tình ngay. Nhưng bao nhiêu người đọc bài giãi bầy Lập trường ấy ? Chỉ chừng 5% đồng bào đọc. Còn 95% đồng bào không đọc bài giãi bầy Lập trường, mà chỉ thấy cái khẩu hiệu 30 Tháng Tư: NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO. Những người chống đối Ban Tổ Chức muốn bênh vực 95% đồng bào để họ khỏi phải bị ảnh hưởng chiêu đề NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO mà quên đi hai chữ QUỐC HẬN hoặc tệ hơn nữa là theo dần hai chữ GIẢI PHÓNG.
Những người Mỹ đặc, không biết tiếng Việt, không đọc bài giãi bầy Lập trường của Ban Tổ chức, thì tất nhiên không được nhắc nhở đây là ngày QUỐC HẬN, mà chỉ nghĩ đây là ngày TỰ DO hồ hởi.
Cho dù mình chửi bới người ăn cắp, thì người bị ăn cắp cũng phải xét đâu là cái lỗi của mình. Ông ăn cắp có lỗi là đã ăn cắp. Nhưng người bị ăn cắp lơ đễnh gợi ý và dịp cho ông ăn cắp làm việc ăn cắp cũng có lỗi nữa. Giữa chỗ đông người mà mang ví tiền ra đếm để khoe khoang, đó là gợi ý cho ông ăn cắp. Mình cũng có lỗi.
Ở thời buổi đấu tranh này, với sự trà trộn của Cộng sản, với Nghị Quyết 36, với Chủ trương của Cộng sản muốn quốc doanh hóa những Đảng phái Chính trị chống họ, Ban Tổ chức dù vô tình mà gây hiểu lầm để người khác nghĩ Ý GIAN cho mình, thì đó cũng là cái lỗi của Ban Tổ chức vậy.
Kết luận:
NGÀY 30 THÁNG TƯ: NGÀY QUỐC HẬN. Phải tôn trọng cái Tên ngày đó. Với tình ngay và để tránh hiểu lầm, tránh cái ý gian, thì Ban Tổ Chức phải lấy khẩu hiệu cho minh bạch như: “30 THÁNG TƯ: QUỐC HẬN, mọi người đấu tranh cho Tự Do“. Hai chữ QUỐC HẬN phải được nhắc ra và nhấn mạnh. Rồi nhân ngày QUỐC HẬN, mọi người đấu tranh hăng say hơn cho Tự Do. Viết khẩu hiệu như vậy, thì người khác không có lý do để hiểu lầm mình. NGUYỄN PHÚC LIÊN
ĐI TÌM ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Có lẽ chưa bao giờ vấn đề TÌM KIẾM MỘT ĐẢNG CHÍNH TRI ĐỐI LẬP được đặt ra một cách cấp bách trong thời gian này. Nếu cuối Thế kỷ 19, Ý tưởng Xã hội, mà động cơ phát sinh là phong trào Kỹ nghệ hóa sản xuất, đã là luồng gió thổi mạnh để cấu thành những Nhóm Đảng Xã Hội tại một số nước, và luồng gió ấy trở thành cuồng phong tạo cuộc Cách Mạng Vô sản tại Nga, thì ngày nay Ý tưởng Dân chủ hóa một số Quốc gia cũng đang trở thành Phong trào. Ý tưởng Dân chủ hóa ấy lại đến từ Tổng Thống BUSH với quyết định dùng quân đội lật đổ chế độ độc tài Khủng bố Taliban tại A-phú-hãn và nhất là lật đổ nhà Độc tài Sadam HUSSEIN tại Iraq. Lực lượng Quân đội và Khả năng Kinh tế Hoa kỳ đang làm cho Ý tưởng ấy lan rộng. Những Nước đang mang chế độ ĐỘC TÀI, bị áp lực của Ý tưởng Dân chủ hóa, đi tìm một giải pháp tượng trưng cho Dân chủ hóa, đó là cho một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP.
LÀN GIÓ DÂN CHỦ HÓA TẠI TRUNG ĐÔNG
Như trên đã nói, việc lật đổ chế độ độc tài Khủng bố Taliban và nhà độc tài Sadam HUSSEIN được coi là khởi đầu của làn gió Dân chủ hóa. A-phú-hãn đã bầu cử thành công. Iraq cũng đã thành công trong cuộc Bầu cử giữa máu me Khủng bố. Những cuộc Bầu cử này là những thành công của quyết tâm Dân chủ hóa của chính Dân hai nước này. Cuộc bầu cử thành công nữa là của Palestine. Ý tưởng Dân chủ hóa thắng. Tại Li Băng, việc ám sát Oâng HARIRI làm cho TT.BUSH và TT.CHIRAC dễ bắt tay nhau để kết án Syrie và yêu cầu có một nước Li băng Dân chủ và độc lập. Thứ Bẩy 26.02.2005 vừa rồi, TT.MOUBARAK của Ai-Cập, lần đầu tiên từ chế độ độc tài NASSER, đã tuyên bố trước Quốc Hội tiến trình Dân chủ hóa Ai-Cập. VIỆT NAM TÌM ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP
Làn gió Dân chủ hóa thổi tới Việt Nam. Đã một số năm nay, những nhà Đấu tranh tại Quốc nội đòi hỏi Dân chủ hóa. Phong trào Đấu tranh của người Việt hải ngoại lên cao và nhất thiết chống lại chế độ độc tài hiện hành. Việc tranh đấu của người Việt hải ngoại trở thành quan trọng vì mang ảnh hưởng tới các nước Tây phương và Hoa kỳ mà chế độ hiện hành ở Việt Nam phải lệ thuộc. Hoa kỳ chắc chắn không dùng quân lực để can thiệp vào Việt Nam như ở A-phú-hãn và Iraq, nhưng dùng áp lực Kinh tế mà chế độ hiện hành ở Việt Nam phải lệ thuộc. Tượng trưng cho tiến trình Dân chủ hóa là Đảng Chính trị Đối Lập. Chế độ độc tài hiện hành ở Việt Nam buộc phải chấp nhận tiến trình Dân chủ hóa, nghĩa là chấp nhận một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP, nhưng muốn cố thủ giữ lấy quyền hành cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Phía Quốc gia và Tây phương, Hoa kỳ yêu cầu tiến trình Dân chủ hóa cho Việt Nam và cũng đi tìm một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP cho Việt Nam.
Cả hai phía đều tìm kiếm một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP, nhưng mỗi phía nhìn Đảng Chính trị Đối lập ấy khác nhau.
Đảng Chính Trị Đối lập nhìn từ phía Cộng sản
Tiến trình Dân chủ hóa, hay việc chấp nhận một Đảng Chính trị Đối lập là sự ép buộc cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản này luôn cố thủ giữ lấy quyền hành độc đoán của mình. Đảng Cộng sản đã thành công trong chủ trương quốc doanh hóa một số Tôn giáo để khi họ phải đổi chác Tự do Tôn giáo lấy cái lợi Kinh tế từ Tây phương và Hoa kỳ, họ sẽ cho Tự do Tôn giáo cho những Giáo hội đã được quốc doanh hóa. Lúc ấy những Tôn giáo bị quốc doanh hóa này sẽ chỉ làm công việc mèo khen mèo dài đuôi. Cũng vậy, chắc chắn Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tìm cách quốc doanh hóa những Nhóm Đảng Chính trị phía Quốc gia để khi họ buộc phải chấp nhận tiến trình Dân chủ hóa, họ sẽ cho những Nhóm Đảng đã bị quốc doanh hóa này ra làm ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP để đánh lừa Tây phương và Hoa kỳ. Đảng Chính trị bị quốc doanh hóa này chỉ làm công việc mèo khen mèo dài đuôi, chứ không đối lập thực sự.
Tóm lại phía Cộng sản đi tìm ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP GIẢ HIỆU.
Đảng Chính Trị Đối lập nhìn từ phía Quốc gia
Đã bao nhiêu thập niên, phía Quốc gia đấu tranh chống độc tài Cộng sản, đòi hỏi một thể chế biết tôn trọng Nhân phẩm, bảo đảm Nhân quyền và áp dụng thực sự Dân chủ cho Dân. Ngày nay, làn gió Dân chủ hóa thổi tới Việt Nam và chế độ độc tài hiện hành buộc phải thi hành tiến trình Dân chủ hóa. Khi kết quả đến, phía Quốc gia chúng ta phải có một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP để thi hành tiến trình Dân chủ hóa ấy. Đảng Cộng sản cũng kiếm tìm một Đảng Chính trị Đối lập theo ý họ. Phía Quốc gia chúng ta cũng cần cấp bách kiếm tìm một Đảng Chính trị Đối lập theo ý chúng ta. Ý của phía Quốc gia là một Đảng Chính Trị cương quyết thực hiện DÂN CHỦ, nghĩa là: tôn trọng triệt để Nhân phẩm, bảo vệ chắc chắn Nhân quyền và áp dụng thực sự nguyên tắc Dân chủ cho Dân.
Tóm lại phía Quốc gia đi tìm ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP ĐÍCH THỰC.
Chúng tôi đã viết một số bài nói rằng để có thể có một Đảng Chính Trị Đối Lập Đích thực, có hậu thuẫn của Dân, có tinh thần cương quyết đấu tranh cho Nhân phẩm, Nhân quyền và Dân chủ, và nhất là để Cộng sản khó lòng quốc doanh hóa Đảng ấy, chúng ta phải thành lập một Đảng Chính trị thoát ra từ hai Lực lượng sau đây: => LỰC LƯỢNG TÔN GIÁO CHÂN CHÍNH => LỰC LƯỢNG CỰU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA Dân tin tưởng vào hai Lực Lượng này. NGUYỄN PHÚC LIÊN
ĐẢNG ĐỐI LẬP THỰC SỰ
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Khi viết bài ĐI TÌM ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP, tôi phân biệt Đảng đối lập giả hiệu và Đảng Đối lập thực sự. Đảng Cộng sản Việt Nam tìm cách quốc doanh hóa một số Đảng phái phía Quốc gia để làm Đảng Đối lập giả hiệu, nghĩa là Đảng này mang danh Đối Lập, nhưng nội dung là mèo khen mèo dài đuôi cho Cộng sản. Phía Quốc gia chúng ta muốn có một ĐẢNG ĐỐI LẬP THỰC SỰ, nghĩa là phải cương quyết đấu tranh đi tới một thể chế trong đó NHÂN PHẨM con người được tôn trọng, NHÂN QUYỀN được bảo đảm và nguyên tắc DÂN CHỦ phải được áp dụng đúng nghĩa.
Tôi góp ý kiến rằng để tiến tới một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ, chúng ta dựa trên hai Lực Lượng đáng tin cậy lúc này: @ LỰC LƯỢNG TÔN GIÁO CHÂN CHÍNH @ LỰC LƯỢNG CỰU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA
Một Đảng Chính trị như vậy, dù là chậm lúc này hay đối với tình hình sắp thay đổi, nhưng có nền tảng Đối Lập thực sự cần thiết cho sự xây dựng lâu dài một chế độ tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN và áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ.
Đối với ý kiến tiến tới một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ, có những thắc mắc và công kích từ phía Độc giả. Có thể vì phạm vi hạn hẹp của bài, tôi chưa cắt nghĩa kỹ hơn và do đó tạo sự hiểu lầm nơi người đọc. Vì vậy bài này muốn nói đến một số hiểu lầm và sau đó nói đến phạm vi hoạt động chính của Đảng tại Hải ngoại và tại Quốc nội lần lượt với những điểm sau đây: => Một số những hiểu lầm => Phạm vi hoạt động chính của Chi Bộ Đảng tại Hải ngoại => Phạm vi hoạt động chính của Chi Bộ Đảng tại Quốc nội
Một số những hiểu lầm
1) Một số Vị, có thể thuộc những Nhóm Chính trị đã có sẵn, nghĩ rằng khi tôi nói đến Đảng Chính trị được thành lập từ hai Lực Lượng trên đây, đó là tôi có ý loại ra ngoài những Đảng Phái Chính trị đã có sẵn lúc này. Tôi không bao giờ có ý nghĩ như vậy. Lập trường của tôi về các Đảng phái Chính trị đã có sẵn như sau: (1) Tôi không bao giờ công kích tổ chức nội bộ của một Đảng phái, Đoàn thể. Họ có đường lối tổ chức nội bộ riêng của họ, ai chấp nhận thì vào, ai không ưng thì ra; (2) Tôi chỉ phát biểu ý kiến của tôi về một đường lối mà các Đảng phái, Đoàn thể ấy đem ra áp dụng lên Cộng đồng Dân chúng, trong đó có tôi; (3) Tích cực và xây dựng hơn, tôi còn kêu gọi những Đảng phái, Đoàn thể ấy hãy làm việc TỐT trong lòng hai Lực Lượng trên để có được hậu thuẫn với danh chính ngôn thuận từ hai Lực lượng. Khi hai Lực lượng quần chúng thấy một Đảng làm việc TỐT, quang minh chính đại, lập trường vững chắc, thì quần chúng nhận làm con của mình và ủng hộ. Xin đừng xử dụng mưu tính mượn đầu heo nấu cháo để có chút hậu thuẫn nhất thời bởi lẽ khi quần chúng nhận ra mưu này, thì quần chúng không những không cho hậu thuẫn mà còn bài trừ nữa. Đây là việc đáng tiếc cho các Đảng phái, Đoàn thể ấy trong trường kỳ.
Như vậy, khi tôi nêu ý kiến một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ phát xuất từ hai Lực Lượng Tôn Giáo chân chính và Lực Lượng Cựu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không những tôi không có ý loại những Đảng Chính trị hiện có, mà tôi còn tha thiết kêu gọi những Đảng ấy hãy hoạt động TỐT trong lòng hai Lực Lượng để có hậu thuẫn với danh chính ngôn thuận.
2) Một hiểu lầm nữa là có một số người nghĩ rằng tôi kêu gọi tiến đến một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ từ hai Lực Lượng quần chúng trên đây, đó là tôi muốn kêu gọi lập Đảng Chính trị cho tôi, nghĩa là vì quyền lợi cá nhân. Tôi biết một số người có lý để hiểu lầm như vậy nếu chưa đọc những khẳng định mà tôi đã công khai viết ra. Vì sự hữu hiệu của những điều tôi viết kêu gọi thành lập một Đảng Chính trị, tôi xin lập lại hai điều khẳng định của tôi như sau:
@ Tôi chỉ đứng ở phạm vi kêu gọi tiến tới một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ. Khi Đảng này thành hình, tôi vẫn đứng ở phạm vi kêu gọi, vận động và không nhập Đảng hoặc nhận một CHỨC VỤ nào trong Đảng.
@ Nếu sau này ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ hoạt động tại Quê Hương và nắm quyền, tôi cũng không nhận một CHỨC VỤ, QUYỀN HÀNH công cộng nào ở Quê Hương. Lý do là tôi đã lớn tuổi và đã xa Quê Hương 40 năm rồi, nên một đàng yếu sức, một đàng lạc lõng với xã hội hiện tại ở Việt Nam, nên không điều hành được.
Tôi nêu ra công khai hai khẳng định trên đây vì mục đích muốn những lời kêu gọi của tôi cho một ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ không bị hiểu lầm mà mất hiệu lực kêu gọi.
Phạm vi hoạt động chính của Chi Bộ Đảng tại Hải ngoại
Tôi nhận thấy rằng một số những Đảng Chính trị hiện nay có ý nghĩ rằng họ sẽ trở thành những Lãnh tụ để đối lập trực diện với Đảng Cộng sản Việt Nam, hay xa hơn nữa là nắm hoàn toàn quyền quản trị đất nước. Quan điểm của tôi từ năm 1975 đến nay khác với ý nghĩ đó. Tôi quan niệm rằng những Lãnh tụ đối lập hay nắm quyền quản trị phải từ Quốc nội, sống với Dân, biết những mưu mô nganh ngóc của Cộng sản.
Đôi lúc tôi nói rằng chúng ta ở nước ngoài đã có sự tôn trọng Nhân phẩm, đã được bảo đảm về Nhân quyền, đã áp dụng nguyên tắc Dân chủ. Những người sống tại Quê Hương chưa có những điều này, vậy họ phải can đảm, nỗ lực đấu tranh dành cho mình những quyền ấy. “Đời cua, cua máy; Đời cáy, cáy đào“. Không thể nằm ngửa dưới gốc sung, chờ sung rụng.
Từ quan điểm rằng Đảng Chính Trị Đối Lập Thực Sự phải đặt trọng tâm ở sự hình thành tại Quê Hương, chúng tôi thấy rằng Đảng Chính trị Đối Lập hình thành ở nước ngoài chỉ làm công việc NGOẠI VẬN rất cần thiết và hữu hiệu lúc này. Đây cũng là việc hữu lý trong thực tế. Tôi xin khai triển từng điểm.
Hình thành từ Lực Lượng Cựu Quân Lực VNCH tại Hải ngoại
Có những Vị rất có khả năng và yêu thích hoạt động Chính trị trong Lực Lượng Cựu Quân Lực VNCH. Những Vị này, cùng với những Đảng phái Chính trị đã có sẵn và cùng làm việc trong lòng Lực Lượng, tiến tới thành lập một Chi Bộ ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ tại Hải ngoại. Việc hình thành này mau mắn hơn sánh với Quốc nội. Khi lập Đoàn thể, chúng ta cần thiện chí hơn là nhắm sự kiện toàn mà đòi hỏi. Vì sự trở về thăm Quê Hương có những dễ dàng hơn, nên Chi Bộ Hải ngoại có những liên hệ, trợ lực việc cấu thành Đảng tại Quốc nội.
Khó khăn của Chi Bộ Đảng tại Hải ngoại Trở về Việt Nam nắm quyền
Đây là tham vọng không thực tiễn và có nhiều khó khăn thực hiện. Những Lãnh tụ của Chi Bộ Hải ngoại hầu hết mang Quốc tịch nước ngoài. Đây là sự khó khăn chính yếu. Để có thể nắm những chức vụ quản trị chính yếu, phải hồi tịch Việt Nam. Sự hãnh diện của Dân tộc không cho phép Dân Việt Nam bị điều khiển bởi người nước ngoài như Quốc tịch Mỹ, Quốc tịch Uùc, Quốc tịch Pháp... Cho dù trong trường hợp hai Quốc tịch, người Việt Nam cũng không muốn những người Lãnh đạo đứng hai hàng, chân trong chân ngoài, để khi ăn bẩn ăn thỉu, gặp biến động, họ cuốn gói ra nước ngoài sống sung sướng, để mặc Dân tàn tệ thế nào thì ráng chịu. Vậy thì dứt khoát phải hồi tịch Việt Nam trước khi muốn về làm những chức vụ điều hành Quốc gia. Ai giám làm công việc hồi tịch ấy lúc này bởi vì nghĩ rằng không hiểu việc tranh đấu cho chức vị ở Việt Nam có thành công không, trong khi ấy việc trợ cấp luơng hưu, bảo hiểm sức khoẻ, welfare bị thiệt thòi nếu bỏ Quốc tịch nước ngoài.
Phạm vi hoạt động quan trọng và chính yếu Của Chi Bộ Đảng tại Hải ngoại
Nhìn những khó khăn thực tiễn trên đây và thấy sự quan trọng của áp lực Quốc tế, tôi thấy rằng phạm vị hoạt động chính yếu và quan trọng của Chi Bộ Đảng tại nước ngoài là NGOẠI VẬN. Việc từ nước ngoài trở về nắm quyền mang tính cách tranh giành quyền hành nhất thời, chứ không phải nghĩ đến tương lai lâu dài của Đất Nước. Tương lai thay đổi Chính thể, phát triển Đất Nước cần lực lượng ngoại vận của chúng ta mà khối người Tỵ nạn sống trên 70 Quốc gia đang có dịp thuận lợi để làm. Hãy chú trọng làm công việc hữu ích lâu dài này hơn là nhằm tranh giành quyền hành nhất thời.
Thực vậy, những Đảng viên của Chi Bộ Đảng Hải ngoại sẵn có Quốc tịch nước ngoài, hãy nhập vào các Đảng phái ở Địa phương nước ngoài mà mình sống. Hoạt động trong các Đảng phái Địa phương để ảnh hưởng lên Chính trị của các nước này đối với chế độ độc tài Cộng sản ở Việt Nam. Cộng sản Việt Nam lệ thuộc vào Kinh tế Tây phương, nhất là Mỹ. Chi Bộ Đảng Hải ngoại tác động ở những nước Tây phương và Mỹ để áp lực lên chế độ hiện hành ở Việt Nam, buộc họ có những thay đổi.
Phạm vi hoạt động chính của Chi Bộ Đảng tại Quốc nội
Tại Quốc nội, ĐẢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP THỰC SỰ lấy nền tảng từ Lực Lượng các Tôn Giáo chân chính. Khi nói về điểm này, một Độc giả phản đối rằng Tôn Giáo không làm Chính trị. Tôi rất đồng ý về sự phân biệt này và hoàn toàn phản đối việc các Chức sắc Tôn Giáo đứng ra nắm quyền quản trị Quốc gia. Tôn Giáo cũng không nhân danh Tổ chức của Tôn Giáo để đấu tranh Chính trị chuyên nghiệp, nghĩa là nhằm nắm quyền quản trị.
Nhưng người Tín hữu của các Tôn giáo cũng có đủ quyền Công dân như mọi người khác. Tôn giáo không cấm Tín hữu của mình làm Chính trị, dù là Chính trị chuyên nghiệp. Tại Tây phương này có những Đảng lấy tên công khai là ĐẢNG DÂN CHỦ THIÊN CHÚA GIÁO.
Lực Lượng các Tôn Giáo chân chính là Thành trì cuối cùng của Nhân dân khả dĩ còn phát biểu lên được sự thật đối lập lại những tha hóa của chế độ hiện hành. Một Đảng đối lập lấy nền tảng từ Lực Lượng các Tôn Giáo chân chính là hữu lý và đáng tin cậy.
Chi Bộ Đảng tại Quốc nội hoạt động nhằm nắm quyền thực hiện một chế độ tôn trọng Nhân phẩm, bảo đảm Nhân quyền và thực hiện đúng đắn nguyên tắc Dân chủ. Chính Chi Bộ này sửa soạn nhân sự để đối lập và khi có thay đổi căn bản, thì nắm quyền hành. Họ là những người đã kiên trì không để bị quốc doanh hóa. Họ sống liền với Dân tộc mỗi ngày. Họ đã từng chịu đói khổ với Dân tộc. Họ thuộc lòng những mưu mô lắt léo của Cộng sản. Họ mang Quốc tịch Việt Nam với tất cả hãnh diện của Dân tộc. Chính họ là những người sẽ nắm quyền quản trị Đất Nước.
Lực lượng Hải ngoại làm công việc ngoại vận và khi có thay đổi, sẽ cung cấp cho Quê Hương những Chuyên viên Ngành nghiệp để phát triển Quê Hương mình. Đấy là trọng trách, chứ không phải nhoi nhoi muốn kéo về để giành giựt chức vị, làm Ông nọ Bà kia. NGUYỄN PHÚC LIÊN
LẠM PHÁT CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ Ở HẢI NGOẠI
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Tôi nhớ lại trước năm 1975, khi có Hội Đàm Paris, Oâng Mặc Giao PHẠM HỮU GIÁO là Sứ thần tham dự Hội Đàm và thuộc Đảng DÂN CHỦ. Tôi quen biết Oâng Mặc Giao PHẠM HỮU GIÁO vào năm 1960 từ thời còn học năm Đệ I trường CHU VĂN AN, nhà tiền chế cạnh Trường Petrus KÝ. Năm đó có cả Oâng LÊ ĐÌNH ĐIỂU.
Khi gặp Oâng Mặc Giao PHẠM HỮU GIÁO tại Paris, Oâng trao cho tôi cuốn Điều Lệ của Đảng DÂN CHỦ và hỏi tôi nghiên cứu xem có nhập Đảng này không. Sau một tuần, tôi trả lời cho Oâng rằng:“Tôi không muốn vào Đảng khi còn ở nước ngoài. Khi nào tôi về nước, nghiên cứu kỹ các Đảng, tôi mới có thể chọn lựa và quyết định nhập Đảng nào mà tôi ứng ý.“
Tôi nhớ lại câu trả lời này vì ngày nay sau trên 30 năm, nhân dịp nghĩ nhiều về những việc làm của Đảng Việt Tân và những xuất hiện của những Đảng khác tại ngoại quốc, nhất là sau những năm nghĩ nhiều về những nguyên do phân tán giữa các Cộng đồng Hải ngoại, tôi thấy như cần phải tránh tình trạng LẠM PHÁT CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ TẠI HẢI NGOẠI. Tôi nhớ lại và suy nghĩ thêm về hiện tình các Đảng phái ngày nay ở nước người, tôi cảm thấy quyết định của tôi hồi ấy có sự thận trọng hữu lý nào đó. Tôi quan sát thấy rằng dường như những Đảng phái Chính trị tại nước ngoài là một trong những nguồn chính để gây những nghi kỵ, chia rẽ các Đoàn thể ái hữu, xã hội của Cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
Nếu chúng ta thấy rằng những Đảng phái Chính trị hải ngoại một mặt không phải là sự cần thiết chính yếu, một mặt lại là nguồn gây phân tán Cộng đồng, thì có lẽ chúng ta phải lựa chọn một lập trường tổ chức cho có trật tự và hữu hiệu hơn. Tôi đang suy nghĩ đến những vấn đề sau đây để từ đó có một lập trường cho sáng tỏ về tương quan hợp tác giữa những Nhóm Chính trị và sinh hoạt Cộng đồng gồm những Đoàn thế ái hữu, xã hội tại Hải ngoại.
1) Điều chắc chắn của tôi là cuộc sống Chính trị Quốc nội phải do Dân chúng quốc nội quyết định vì thể chế Chính trị ở Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ. Những người Việt hải ngoại không thể giữ phần chính quyết định về thể chế Chính trị quốc nội. Thể chế chính trị quốc nội là thiết thân cho đồng bào ở nhà, còn chúng ta ở hải ngoại không trực tiếp dưới ảnh hưởng của thể chế ấy.
2) Lãnh đạo đấu tranh cho một thể chế chính trị tại quốc nội phải do một Đảng Chính trị được thành lập từ khối người Dân sống tại quốc nội. Một Đảng Chính trị được thành lập từ Cộng đồng hải ngoại không thể thay thế cho Đảng Chính trị được cấu thảnh từ quốc nội. Khi tôi đọc thấy chương trình của buổi DIỄN HÀNH TỰ DO tại Washington ngày 30.04 muốn gửi THÔNG ĐIỆP về Việt Nam cho người quốc nội, tôi ngạc nhiên. Gọi là THÔNG ĐIỆP hay HIỆU TRIỆU, nghĩa là Việt Tân coi mình là chính và quốc nội là phụ.
3) Một Đảng Chính trị được thành lập và hoạt động, dù có mạnh đến đâu đi nữa tại hải ngoại, cũng không thể làm công việc đội đá vá trời thay cho một Đảng Chính trị từ người Dân quốc nội. Về phương diện hoạt động, dù có mạnh thế nào đi nữa tại hải ngoại, Đảng chính trị ấy cũng không có thể quả quyết được rằng họ có thể nhập cảng sức mạnh ấy về quốc nội được. Thực vậy, có nhiều điều kiện thực tiễn chứng thực rằng người ta chỉ mạnh miệng ở nước ngoài, trong những xa lông yên lành, nhưng khi nói đến trở về Quê hương với những điều kiện khó khăn hoạt động, thì nhiều người yên tiếng, tìm cách lủi trốn.
4) Lớp tuổi trẻ hào hứng nhập những Đảng chính trị tại hải ngoại. Họ hào hứng sinh hoạt tại đây. Nhưng khi đặt thẳng vấn đề thực tiễn trở về Quê Hương, lúc ấy họ bắt đầu nghĩ tới việc học thành tài ở hải ngoại, việc kiếm công ăn việc làm dễ dàng ở bên này, so sánh đồng lương ở Việt Nam và đồng lương tại những nước đã kỹ nghệ hóa bên này, và kết quả là việc trở về quốc nội để đấu tranh vất vả bị chính họ xét lại. Sau năm 1975, tôi có dịp tham dự nhiều cuộc hội họp bàn về Kháng chiến tại Việt Nam. Trong cuộc họp hầu như ai cũng giơ tay nhất quyết về bưng biền chiến đấu. Nhưng tối đến, khi gặp tư riêng, tôi hỏi họ xem quyết định vững chắc chưa, thì họ nói là đang muốn làm bảo lãnh cho vợ con sang đây, phải đợi một thời gian nữa. Ngay thời Cộng hòa, một số nhiều sinh viên du học, sau khi học xong, cũng tìm cách ở lại ngoại quốc. Một số đông sinh viên con ông cháu cha của Đảng hiện nay, khi học xong, chính bố mẹ họ cũng khuyên tìm cách đừng về nhà, thậm chí tìm cách lập gia đình bên này với người tỵ nạn.
5) Như trên tôi đã trình bầy, Đảng Chính trị ở quốc nội là chính, chúng ta ở hải ngoại chỉ là phụ. Nghĩ đến thực tế về những điều kiện khó khăn từ chính mỗi người khi nói đến về đấu tranh tại Quê Hương, tại sao chúng ta không nghĩ đến những hoạt động hợp tình, hợp lý và hợp khả năng cho lực lượng của Chúng ta tại hải ngoại. Biết mình là phụ, thì đừng trèo cao đòi làm chính, khiến hoạt động trở thành tréo cẳng ngỗng, không đi tới kết quả hữu hiệu của nó. Ngay Đảng Cộng sản cũng biết rằng họ ngại sợ tầm ảnh hưởng của chúng ta trên các Chính quyền nước ngoài, nhất là phía Tây phương và Hoa kỳ. Tại sao chúng ta không dồn lực vào việc làm ấy mà Cộng sản Việt Nam rất sợ ? Đó là công việc làm NGOẠI VẬN. Công việc này sẽ hỗ trợ vô cùng hữu hiệu cho Lực lượng quốc nội. Hãy làm công việc này cho Quê Hương. Nếu làm công việc NGOẠI VẬN này, có lẽ chúng ta không cần phải làm dưới danh nghĩa một Đảng Chính trị. Dưới danh nghĩa một Mặt Trận ngoại vi yểm trợ cho Quốc nội, công việc Ngoại Vận được nhiều người và nhiều Đoàn thể ái hữu, xã hội tham dự hơn.
6) Một số Đảng Chính trị tại Hải ngoại, trong lúc tham dự công việc NGOẠI VẬN hỗ trợ, lại ngầm ý sửa soạn cho cao vọng coi mình là chính yếu, đội đá vá trời thay thế cho Lực lượng Chính trị ở quốc nội. Đây là việc làm không chính danh chính nhân và từ đó tạo những nghi kỵ, tranh dành nhau. Đó là cái nguồn gây chia rẽ Cộng động. Nhiều người than vãn về sự chia rẽ của Cộng đồng, nhưng trước khi than vãn như vậy, hãy tự xét xem chính mình có làm việc chính danh chính nhân hay không.
7) Thể chế chính trị Việt Nam do người Việt Nam quyết định. Người ở quốc nội là chính, người ở hải ngoại là phụ. Nếu làm việc trong trật tự hữu lý như vậy, Cộng đồng chúng ta không có những nghi kỵ làm nguồn chính cho việc phân tán. Nhưng một số đảng Chính trị ở nước ngoài ngầm tính toán nhằm hai việc tréo cẳng ngỗng sau đây: => Muốn Đảng mình ở nước ngoài là chính, đội đá vá trời thay thế Đảng chính trị tại quốc nội => Muốn nước ngoài đem mình về Quê Hương để quyết định thể chế chính trị ở Việt Nam. Làm như vậy, tức là đã bỏ nguyên tắc thể chế chính trị Việt Nam do người Việt Nam quyết định. Chúng tôi thường phân biệt Dân chủ DÂN TỘC và Dân chủ NGOẠI LAI. Chính vì việc tính toán tréo cẳng ngỗng trên đây mà sinh ra nạn nhiều Đảng nhoi lên muốn nhẩy bàn độc. Đó là cái nạn LẠM PHÁT CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ TẠI HẢI NGOẠI vậy.
Chúng tôi đang suy nghĩ nhiều thêm nữa về 7 điểm vừa tóm tắt. Từ những điểm này, chúng ta có thể có lập trường rõ rệt xem có nên thành lập ĐẢNG CHÍNH TRỊ tại hải ngoại hay chỉ cần thành lập MẶT TRẬN NGOẠI VẬN hỗ trợ Quốc nội. NGUYỄN PHÚC LIÊN
----------------------------
HOA GIAI HOA HOP ?
----------------------------
HÒA GIẢI HÒA HỢP: GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Một số thời gian gần đây, nghe ngóng tình hình Việt Nam, nhìn phong trào dân chủ hóa tại những nước Trung đông hoặc Đông Aâu, theo rõi những áp lực của Hoa kỳ đối với những nước dưới chế độ độc tài, người ta tiên đoán một sự thay đổi chế độ chính trị sắp xẩy ra tại Việt Nam. Tình hình chung như hé ra một nguồn hy vọng lớn cho Quê Hương Việt Nam hiện đang phải chịu sự đàn áp của chế độ độc tài Cộng sản. Khối người Việt quốc nội, 85 triệu người, mong mỏi rằng sự thay đổi ấy phải tự căn bản và sẽ thỏa mãn ngưỡng vọng chính đáng của họ, chứ không phải là sự thay đổi trá hình bề mặt che đậy một thể chế độc tài vẫn tiếp tục. Tại Hãi ngoại, 3 triệu người Việt tỵ nạn ở trên 70 quốc gia, mong mỏi trợ lực cho đồng bào Quốc nội để chính họ thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Tuy vậy, một số Nhóm Đảng Hải ngoại vẫn mộng tưởng rằng mình là chính yếu mang Tự do Dân chủ về giải phóng Quê Hương. Có những xuất hiện của những Nhóm Đảng này trong thời gian gần đây, nào là muốn vuốt đuôi Đảng Cộng sản bằng nêu lên việc đặt hai lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và cờ Đỏ Sao Vàng đứng chung với nhau, nào là muốn xóa bỏ ngày 30.04 QUỐC HẬN để chiều lòng Cộng Sản, nào là mánh khóe lợi dụng dân chúng để tự giới thiệu mình với thế lực ngoại lai để mong họ đưa mình về nhẩy bàn độc. Chiêu bài HÒA GIẢI HÒA HỢP được tung ra. Chiêu bài trở thành thời sự. Dưới chủ đề thời sự này, chúng tôi muốn viết loạt bài với những đề tài sau đây:
1) Dân chủ phải đến từ Dân: người dân Việt Nam Quốc nội muốn gì ? 2) Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa 3) Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành 4) Đối lập phải giữ vững bản chất của mình 5) Hòa hợp hòa giải bản chất hay hòa hợp hòa giải đường lối thực hiện 6) Hòa hợp hòa giải phải chăng là sự chia nhau quyền cai trị 7) Hòa hợp hòa giải phải chăng là bỏ Thánh nhân và Quỷ sứ vào một giỏ để xóc 8) Dân chủ dân tộc hay Dân chủ ngoại lai 9) Tiến trình Dân chủ hóa như thế nào 10) Lực lượng nào chủ chốt hướng dẫn tiến trình Dân chủ hóa
Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển những đề tài trên đây liên tục trong các số báo VietTUDAN kể từ VietTUDAN số 209/07.04.2005.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
HÒA GIẢI HÒA HỢP: DÂN CHỦ PHẢI ĐẾN TỪ DÂN: NGƯỜI DÂN VIỆT NAM QUỐC NỘI MUỐN GÌ? Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ
Một số thời gian gần đây, nghe ngóng tình hình Việt Nam, nhìn phong trào dân chủ hóa tại những nước Trung đông hoặc Đông Aâu, theo rõi những áp lực của Hoa kỳ đối với những nước dưới chế độ độc tài, người ta tiên đoán một sự thay đổi chế độ chính trị sắp xẩy ra tại Việt Nam. Tình hình chung như hé ra một nguồn hy vọng lớn cho Quê Hương Việt Nam hiện đang phải chịu sự đàn áp của chế độ độc tài Cộng sản. Khối người Việt quốc nội, 85 triệu người, mong mỏi rằng sự thay đổi ấy phải tự căn bản và sẽ thỏa mãn ngưỡng vọng chính đáng của họ, chứ không phải là sự thay đổi trá hình bề mặt che đậy một thể chế độc tài vẫn tiếp tục. Tại Hãi ngoại, 3 triệu người Việt tỵ nạn ở trên 70 quốc gia, mong mỏi trợ lực cho đồng bào Quốc nội để chính họ thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Tuy vậy, một số Nhóm Đảng Hải ngoại vẫn mộng tưởng rằng mình là chính yếu mang Tự do Dân chủ về giải phóng Quê Hương. Có những xuất hiện của những Nhóm Đảng này trong thời gian gần đây, nào là muốn vuốt đuôi Đảng Cộng sản bằng nêu lên việc đặt hai lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và cờ Đỏ Sao Vàng đứng chung với nhau, nào là muốn xóa bỏ ngày 30.04 QUỐC HẬN để chiều lòng Cộng Sản, nào là mánh khóe lợi dụng dân chúng để tự giới thiệu mình với thế lực ngoại lai để mong họ đưa mình về nhẩy bàn độc. Chiêu bài HÒA GIẢI HÒA HỢP được tung ra. Chiêu bài trở thành thời sự. Dưới chủ đề thời sự này, chúng tôi muốn viết loạt bài với những đề tài sau đây:
1) Dân chủ phải đến từ Dân: người dân Việt Nam Quốc nội muốn gì ? 2) Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa 3) Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành 4) Đối lập phải giữ vững bản chất của mình 5) Hòa hợp hòa giải bản chất hay hòa hợp hòa giải đường lối thực hiện 6) Hòa hợp hòa giải phải chăng là sự chia nhau quyền cai trị 7) Hòa hợp hòa giải phải chăng là bỏ Thánh nhân và Quỷ sứ vào một giỏ để xóc 8) Dân chủ dân tộc hay Dân chủ ngoại lai 9) Tiến trình Dân chủ hóa như thế nào 10) Lực lượng nào chủ chốt hướng dẫn tiến trình Dân chủ hóa
Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển những đề tài trên đây liên tục trong các số báo VietTUDAN kể từ VietTUDAN số 209/07.04.2005.
Với bài đầu tiên của loạt bài chủ đề này, chúng tôi muốn minh định những ý niệm căn bản về một thể chế mà người dân muốn, để từ đó, những bài kế tiếp có nền tảng thảo luận. Hai điểm chính sau đây được phân tích trong bài này: => Dân chủ là nguyên tắc nhân bản dân tộc => Những điều mong mỏi cụ thể của Dân Việt Quốc nội
Dân chủ là nguyên tắc nhân bản dân tộc
Chúng tôi không muốn bàn về nguyên tắc Dân chủ dựa trên một Nhân sinh quan hay một Xã hội quan nào, mà là dựa trên cuộc sống cụ thể của cá nhân có một thân xác và một trí thông minh muốn bảo tồn và triển nở mình. Khi những cá nhân cụ thể ấy sống với nhau thành một Tập thể, nguyên tắc Dân chủ là trọng tài điều hành hữu lý nhất. Nguyên tắc Dân chủ ấy hoàn toàn là nhân bản, chứ không đến từ thế giới ngoại tại con người. Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, qua thời gian và địa vực, còn bị ảnh hưởng bởi văn hóa Dân tộc.
Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát
Chúng tôi muốn lấy ý niệm NHÂN PHẨM làm nền tảng nguyên thủy để nói về NHÂN QUYỀN và nguyên tắc DÂN CHỦ.
Con người trước tiên là con vật như các con vật khác, có thân xác và phải tìm phương tiện bảo tồn thân xác ấy vì muốn sống. Một số lớn các loài vật không giết và ăn thịt chủng loại của mình. Đó là cái bản năng tôn trọng chủng loại của mình. Con người là một loại vật có được sự hiểu biết, tính thông minh vượt trội hẳn các loài vật khác. Sự thông minh này làm cho con người có thể hiểu biết được những cơ biến của thiên nhiên và khống chế những cơ biến ấy để phục vụ cho mình trên đường tìm phương tiện bảo tồn thân xác. Người ta gọi đây là tiến bộ khoa học và vật chất. Nếu loài vật biết tránh việc giết và ăn thịt chủng loại mình vì bản năng, thì tính thông minh nơi con người còn đi xa hơn bản năng súc vật, tạo cho mình một nền văn hóa và luân lý làm căn bản cho việc tôn trọng chủng loại mình, tỉ dụ như không những không giết và ăn thịt người khác, mà còn kính trọng, giúp đỡ đồng loại của mình.
NHÂN PHẨM có nghĩa là sự nhận biết cái giá trị của một con người, không những về thân xác mà còn về tinh thần của cá nhân, vì đó là một con người chứ không phải là con vật hay cỏ cây vô tri. Tôn trọng NHÂN PHẨM của người khác là phản ứng đầu tiên không phải chỉ vì bản năng mà còn vì sự phát triển văn hóa, luân lý đến từ trí thông minh. Một con người được sinh ra, dù khác mầu da, chủng tộc, phải được tôn trọng như người như mình. Đó đòi buộc tối sơ và tiên khởi: TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM.
Từ việc tôn trọng NHÂN PHẨM này, chúng ta suy diễn ra những quyền sống làm người. Đó là NHÂN QUYỀN. Những quyền căn bản của con người được liệt kê trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tuy nhiên chính mỗi cá nhân có thể nhận biết nhân quyền ấy trong đời sống thực tế hàng ngày qua câu nói căn bản:“Khi không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Câu nói này một đàng làm cho mình nhận biết cái quyền nơi người khác, một mặt bảo mình phải tôn trọng cái quyền ấy của người khác. Tất nhiên để có thể giữ trúng câu nói này, thì việc tối sơ là mình phải biết tôn trọng Nhân phẩm như đã nói trên đây. Thực vậy, một người không biết trọng Nhân phẩm, thì họ không biết tôn trọng những quyền sống căn bản nơi người khác.
Tỉ dụ khi bị đàn áp quá đáng, chịu không nổi, mình muốn nói ra để phản đối. Nhưng có người khác bịt miệng mình, cấm không cho nói. Mình không muốn người khác cấm cản mình nói. Khi không muốn như vậy, thì chính mình phải biết rằng mình không được bịt miệng, cấm cản người khác phát biểu lên trong trường hợp phải chịu như chính mình. Đây là việc nhận biết và tôn trọng quyền phát biểu, NGÔN LUẬN, của người khác. Cụ thể Đảng Cộng sản cấm Dân phát biểu, nhưng nếu Dân cấm Đảng phát biểu, Đảng có chấp nhận hay không ? Đây là một tỉ dụ trong việc áp dụng câu nói trên để nhận biết và tôn trọng những quyền căn bản sống làm người: NHÂN QUYỀN.
Trên đây là nói về phương diện riêng lẻ từng cá nhân sống. Con người có thể sống riêng lẻ cá nhân. Chúng tôi vẫn chưa chấp nhận câu định nghĩa:“Người là con vật sống Xã hội“. Cuộc sống chung xã hội chỉ là một nhu cầu mà cá nhân tự do thấy hữu ích trong việc phát triển cá nhân mình. Họ có quyền không chấp nhận.
Vì nhu cầu làm tăng hữu hiệu việc phát triển cá nhân, con người tự do chấp nhận cuộc sống Tập thể. Mỗi cá nhân có những khác biệt trong việc tìm phương tiện bảo tồn thân xác và phát triển trí thông minh, vì vậy mà trong cuộc sống Tập thể họ phải có những quy ước với nhau để giải quyết những khác biệt. Một trong những quy ước căn bản để giải quyết cuộc sống chung Tập thể, đó là nguyên tắc DÂN CHỦ. Đây là nguyên tắc lấy số đông làm chân lý tương đối. Như vậy, nguyên tắc DÂN CHỦ chỉ là một quy ước giữa những cá nhân tự do quyết định sống trong một Tập thể để giải quyết những khác biệt đến từ chính những cá nhân thành phần ấy. Chúng tôi gọi DÂN CHỦ là nguyên tắc nội tại giữa những cá nhân của Tập thể. DÂN CHỦ không thể là nguyên tắc đặt để cho Tập thể từ bên ngoài hay từ một quyền lực đứng trên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ ngoại tại Tập thể cá nhân chỉ là ĐỘC TÀI trá hình Dân chủ.
Nguyên tắc DÂN CHỦ lấy cá nhân làm căn bản, nghĩa là nguyên tắc này phải biết tôn trọng NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN. Việc tôn trọng Nhân phẩm và Nhân quyền là nền tảng để bảo chứng việc tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự. Có trôn trọng NHÂN PHẨM, thì mới nhận biết và tôn trọng NHÂN QUYỀN. Có tôn trọng NHÂN QUYỀN, thì mới có thể quy ước với nhau nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự để giải quyết những khác biệt trong cuộc sống Tập thể.
Nguyên tắc Dân chủ Dân tộc
Trong phần trên, chúng tôi nói đến nguyên tắc Dân chủ đi từ việc tôn trọng Nhân phẩm, rồi tìm biết đâu là Nhân quyền để bảo vệ. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản bởi vì nó không đến từ một Nhân sinh quan, một Xã hội quan hay Tôn giáo quan hiểu như một sự cấu trúc lý luận từ một tiền đề phải chấp nhận hay từ một lòng Tin. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát. Nguyên tắc DÂN CHỦ nhân bản phổ quát là nguyên tắc mà mọi Tập thể Xã hội nhân loại phải giữ làm quy ước, từ Xã hội Aâu, Á, Mỹ, Phi, Uùc. Nhưng nguyên tắc Dân chủ ấy khi áp dụng vào mỗi Dân tộc, mỗi Địa phương, có những hoàn cảnh Văn hóa, Kinh tế, Phong tục...làm thay đổi những chi tiết. Chúng tôi gọi đây là nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC, nghĩa là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát chịu ảnh hưởng của những dị biệt của từng Dân tộc.
Tỉ dụ tại Tây phương, giữa Pháp và Ý, khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ quyết định cho Tự do ngôn luận, người Pháp thả lỏng về lộng ngôn hơn, trong khi đó người Ý nghĩ nhiều đến yếu tố Gia đình, tôn trọng triệt để ý kiến của người Mẹ (Mama). Tại Việt Nam cũng vậy, phải kể đến việc tôn trọng người cao tuổi khi nguyên tắc Dân chủ quyết định về tự do ngôn luận cho giới trẻ.
Một vài tỉ dụ trên cho thấy rằng khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, chúng ta phải kể đến ảnh hưởng của những điều kiện Dân tộc để quyết định theo nguyên tắc ấy.
Những điều mong mỏi cụ thể của Dân Việt Quốc nội
Đây là những mong mỏi của người Dân quốc nội gồm 85 triệu người. Người Dân quốc nội đã phải sống những năm trường dưới chế độ độc tài Cộng sản. Những mong mỏi của họ gồm hai phương diện: mong phế bỏ cái ách độc tài hiện hành và mong xây dựng những gì tốt đẹp cho tương lai.
Mong phế bỏ cái ách độc tài
Thoát được cái ách độc tài hiện nay của chế độ Cộng sản, đó là điều mong mỏi nhất của Dân chúng Việt Nam tại quốc nội. Có một số người quan niệm sai lầm rằng chế độ độc tài hiện hành là một Thái cực và thể chế chủ trương Dân chủ nhân bản Dân tộc như vừa trình bầy trên đây là một Thái cực cùng mức thang so sánh. So sánh như vậy bằng chữ hai Thái cực cùng bình diện là hoàn toàn sai lầm.
Nguyên tắc DÂN CHỦ NHÂN BẢN vừa trình bầy trên đây dựa trên việc tôn trọng NHÂN PHẨM và việc bảo vệ NHÂN QUYỀN. Thể chế độc tài Cộng sản không phải là một Thái cực cùng bình diện để so sánh, mà chỉ là một VI PHẠM, một phủ nhận, đối với Chân lý. Khi đòi phế bỏ ĐỘC TÀI không tôn trọng Nhân Phẩm, không bảo vệ Nhân quyền, không thi hành nguyên tắc Dân chủ, đó chỉ là việc đòi hỏi ngưng VI PHẠM mà Cộng sản Việt Nam đang làm. Việc VI PHẠM này không thể coi là một Thái cực cùng bình diện so sánh với ước vọng tôn trọn NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN, thi hành nguyên tắc DÂN CHỦ.
Tôi nhấn mạnh về điểm sai lầm so sánh này để trong những bài kế tiếp, tôi phân tích việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa Chân lý và phủ nhận Chân lý. Tỉ dụ khi mầu TRẮNG là mầu trắng, nhưng có người mát dây điện cứ nói là KHÔNG TRẮNG (cố tình phủ nhận), rồi chúng ta cố gắng hòa lẫn MẦU TRẮNG (thực thể) với điều KHÔNG TRẮNG (phủ nhận), thì làm thế nào làm được.
Việc phủ nhận một thể chế Dân chủ Dân tộc không phải là bằng lời nói, mà bằng sức mạnh hà hiếp khủng bố. Chính Cộng sản Việt Việt Nam cũng biết đây là điều sai quấy, cối chầy, nhưng họ đã quá ham quyền hành để có thể vơ vét tài sản của Dân và của Quốc gia, nên đã muối mặt bất chấp việc sai quấy, cối chầy của họ. Thực vậy, nếu không có sức mạnh hà hiếp khủng bố, thì Dân đã quét sạch đám tội đồ dân tộc này rồi.
Khi chính Đảng Cộng sản biết họ là những người ham quyền hà hiếp, phủ nhận một nền Dân chủ Dân tộc chân chính, thì họ sẽ khinh những người coi họ cùng bình diện giá trị để Hòa giải Hòa hợp bởi vì Cộng sản biết đây chỉ là những nịnh thần để mong quyền hành, chứ không phải là những người đấu tranh cho những giá trị thực sự.
Mong xây dựng thể chế Dân chủ Dân tộc
Khi phế bỏ được những sức mạnh khủng bố hà hiếp, người Dân tất nhiên mong xây dựng cho một thể chế biết: => Tôn trọng NHÂN PHẨM của từng người => Bảo vệ NHÂN QUYỀN cho mỗi cá nhân => Aùp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC cho Xã Hội Việt Nam
Ba điều mong mỏi trên đây thiên trọng về đời sống tinh thần của con người và cũng là điều kiện để từng cá nhân phát triển những phương tiện chắc chắn bảo tồn cuộc sống vật chất của mình.
Mong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực
Như chúng tôi đã nói ở phần đầu, con người trước tiên là một con vật tìm mọi phương tiện sinh sống để bảo tồn thân xác của mình. Dạ dầy của con người giống như dạ dầy của con vật. Việc kiếm đồ ăn cho dạ dầy là cá nhân và tự do. Rất hiếm ai (bình thường) nhịn đói đến chết để mang đồ ăn nuôi sống ngưới khác.
Một nền kinh tế tư sản và tự do là nền kinh tế căn bản dựa trên việc tôn trọng mỗi cá nhân tìm sống để bảo tồn chính thân xác mình. Nền kinh tế ấy phải được bảo đảm bởi một Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) mà Dân chúng quyết định theo nguyên tắc Dân chủ.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
HÒA GIẢI HÒA HỢP: BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số vtdi0211/21.04.05 này nói về đề tài thứ hai: Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Giữ vững lấy bản chất của một chế độ, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi mà chế độ không thể nhượng bộ. Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:
=> Chế độ VNCH coi con người cá nhân là mục đích của mọi sinh hoạt xã hội => Ba Ý niệm nền tảng của chế độ: NHÂN PHẨN, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ => Những vi phạm nhất thời có thể sửa chữa
Chế độ Việt Nam Cộng Hòa coi con người cá nhân là mục đích của mọi sinh hoạt xã hội
Người ta gọi Chế độ là những nguyên tắc, Luật pháp quy định việc quản trị, điều hợp những sinh hoạt chung đụng của một Cộng đồng bao gồm những Cá nhân thành phần. Mức độ quan trọng của Cá nhân được đặt vào những nguyên tắc, Luật pháp quản trị Xã hội là những tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa những Chế độ.
Tỉ dụ khi lấy Cá nhân làm mục đích tối hậu, thì Luật pháp không thể bóp chết những phát biểu ý nghĩ của cá nhân, nghĩa là bóp chết quyền tự do ngôn luận. Cũng vậy khi cá nhân được coi là đích điểm phục vụ của Nhà Nước, thì Nhà Nước không thể đặt Luật pháp bóp chẹt quyền tự do tín ngưỡng như trong Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo mà Quốc Hội Nhà Nước Việt Nam ban hành năm 2004.
Nếu chế độ coi Cá nhân chỉ là phương tiện để phục vụ cho một Ý tưởng (Ý thức hệ) nào đó của một Nhóm người, thì những quy chế, Luật pháp đặt ra sẽ coi rẻ cá nhân tự do và ép buộc những cá nhân trong Tập thể phải phục vụ những Ý tưởng của Nhóm người đó. Đây là thể chế độc tài đảng trị vậy.
Đệ Nhất Cộng Hòa cho Việt Nam được thiết lập, lấy con người là trọng tâm phục vụ của chế độ này. Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã nêu cao chủ trương Nhân Vị (Thuyết Nhân Vị của Đảng Cần Lao), nghĩa là Cá nhân là mục đích phục vụ, làm tiêu chuẩn để thiết lập những quy chế, Luật pháp của thể chế. Ba Ý niệm nền tảng của chế độ: NHÂN PHẨN, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ Thể chế Việt Nam Cộng Hòa, từ Đệ Nhất Cộng Hòa, chủ trương con ngưới CÁ NHÂN là mục đích phục vụ của mọi sinh hoạt Xã Hội. Khi coi cá nhân là trọng, thì thể chế ấy không thể không tôn trọng NHÂN PHẨM, không thể đè bẹp NHÂN QUYỀN nơi mỗi cá nhân và từ đó, trong những quyết định mọi quy chế, Luật pháp quản trị, nguyên tắc DÂN CHỦ phải được triệt để áp dụng.
Như vậy, thể chế Việt Nam Cộng Hòa giữ vững 3 Ý niệm nền tảng: NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN và DÂN CHỦ với những hệ luận trực tiếp giữa 3 Ý niệm ấy. Chúng tôi trình bầy chi tiết dưới đây về 3 Ý niệm nền tảng này và những hệ luận trực tiếp giữ chúng đi từ chủ trương lấy Cá nhân làm trọng tâm phục vụ của mọi sinh hoạt xã hội: Tương trợ xã hội, Triển nở Văn hóa, Phát triển Kinh tế...
Rút ra Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát
Chúng tôi muốn lấy ý niệm NHÂN PHẨM làm nền tảng nguyên thủy để nói về NHÂN QUYỀN và nguyên tắc DÂN CHỦ.
Con người trước tiên là con vật như các con vật khác, có thân xác và phải tìm phương tiện bảo tồn thân xác ấy vì muốn sống. Một số lớn các loài vật không giết và ăn thịt chủng loại của mình. Đó là cái bản năng tôn trọng chủng loại của mình. Con người là một loại vật có được sự hiểu biết, tính thông minh vượt trội hẳn các loài vật khác. Sự thông minh này làm cho con người có thể hiểu biết được những cơ biến của thiên nhiên và khống chế những cơ biến ấy để phục vụ cho mình trên đường tìm phương tiện bảo tồn thân xác. Người ta gọi đây là tiến bộ khoa học và vật chất. Nếu loài vật biết tránh việc giết và ăn thịt chủng loại mình vì bản năng, thì tính thông minh nơi con người còn đi xa hơn bản năng súc vật, tạo cho mình một nền văn hóa và luân lý làm căn bản cho việc tôn trọng chủng loại mình, tỉ dụ như không những không giết và ăn thịt người khác, mà còn kính trọng, giúp đỡ đồng loại của mình.
NHÂN PHẨM có nghĩa là sự nhận biết cái giá trị của một con người, không những về thân xác mà còn về tinh thần của cá nhân, vì đó là một con người chứ không phải là con vật hay cỏ cây vô tri. Tôn trọng NHÂN PHẨM của người khác là phản ứng đầu tiên không phải chỉ vì bản năng mà còn vì sự phát triển văn hóa, luân lý đến từ trí thông minh. Một con người được sinh ra, dù khác mầu da, chủng tộc, phải được tôn trọng như người như mình. Đó đòi buộc tối sơ và tiên khởi: TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM.
Từ việc tôn trọng NHÂN PHẨM này, chúng ta suy diễn ra những quyền sống làm người. Đó là NHÂN QUYỀN. Những quyền căn bản của con người được liệt kê trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tuy nhiên chính mỗi cá nhân có thể nhận biết nhân quyền ấy trong đời sống thực tế hàng ngày qua câu nói căn bản:“Khi không muốn người khác làm điều gì cho mình, thì mình đừng làm điều ấy cho người khác“. Câu nói này một đàng làm cho mình nhận biết cái quyền nơi người khác, một mặt bảo mình phải tôn trọng cái quyền ấy của người khác. Tất nhiên để có thể giữ trúng câu nói này, thì việc tối sơ là mình phải biết tôn trọng Nhân phẩm như đã nói trên đây. Thực vậy, một người không biết trọng Nhân phẩm, thì họ không biết tôn trọng những quyền sống căn bản nơi người khác.
Tỉ dụ khi bị đàn áp quá đáng, chịu không nổi, mình muốn nói ra để phản đối. Nhưng có người khác bịt miệng mình, cấm không cho nói. Mình không muốn người khác cấm cản mình nói. Khi không muốn như vậy, thì chính mình phải biết rằng mình không được bịt miệng, cấm cản người khác phát biểu lên trong trường hợp phải chịu như chính mình. Đây là việc nhận biết và tôn trọng quyền phát biểu, NGÔN LUẬN, của người khác. Cụ thể Đảng Cộng sản cấm Dân phát biểu, nhưng nếu Dân cấm Đảng phát biểu, Đảng có chấp nhận hay không ? Đây là một tỉ dụ trong việc áp dụng câu nói trên để nhận biết và tôn trọng những quyền căn bản sống làm người: NHÂN QUYỀN.
Trên đây là nói về phương diện riêng lẻ từng cá nhân sống. Con người có thể sống riêng lẻ cá nhân. Chúng tôi vẫn chưa chấp nhận câu định nghĩa:“Người là con vật sống Xã hội“. Cuộc sống chung xã hội chỉ là một nhu cầu mà cá nhân tự do thấy hữu ích trong việc phát triển cá nhân mình. Họ có quyền không chấp nhận.
Vì nhu cầu làm tăng hữu hiệu việc phát triển cá nhân, con người tự do chấp nhận cuộc sống Tập thể. Mỗi cá nhân có những khác biệt trong việc tìm phương tiện bảo tồn thân xác và phát triển trí thông minh, vì vậy mà trong cuộc sống Tập thể họ phải có những quy ước với nhau để giải quyết những khác biệt. Một trong những quy ước căn bản để giải quyết cuộc sống chung Tập thể, đó là nguyên tắc DÂN CHỦ. Đây là nguyên tắc lấy số đông làm chân lý tương đối. Như vậy, nguyên tắc DÂN CHỦ chỉ là một quy ước giữa những cá nhân tự do quyết định sống trong một Tập thể để giải quyết những khác biệt đến từ chính những cá nhân thành phần ấy. Chúng tôi gọi DÂN CHỦ là nguyên tắc nội tại giữa những cá nhân của Tập thể. DÂN CHỦ không thể là nguyên tắc đặt để cho Tập thể từ bên ngoài hay từ một quyền lực đứng trên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ ngoại tại Tập thể cá nhân chỉ là ĐỘC TÀI trá hình Dân chủ.
Nguyên tắc DÂN CHỦ lấy cá nhân làm căn bản, nghĩa là nguyên tắc này phải biết tôn trọng NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN. Việc tôn trọng Nhân phẩm và Nhân quyền là nền tảng để bảo chứng việc tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự. Có trôn trọng NHÂN PHẨM, thì mới nhận biết và tôn trọng NHÂN QUYỀN. Có tôn trọng NHÂN QUYỀN, thì mới có thể quy ước với nhau nguyên tắc DÂN CHỦ thực sự để giải quyết những khác biệt trong cuộc sống Tập thể.
Nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát áp dụng cho Dân tộc
Trong phần trên, chúng tôi nói đến nguyên tắc Dân chủ đi từ việc tôn trọng Nhân phẩm, rồi tìm biết đâu là Nhân quyền để bảo vệ. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản bởi vì nó không đến từ một Nhân sinh quan, một Xã hội quan hay Tôn giáo quan hiểu như một sự cấu trúc lý luận từ một tiền đề phải chấp nhận hay từ một lòng Tin. Đây là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát. Nguyên tắc DÂN CHỦ nhân bản phổ quát là nguyên tắc mà mọi Tập thể Xã hội nhân loại phải giữ làm quy ước, từ Xã hội Aâu, Á, Mỹ, Phi, Uùc. Nhưng nguyên tắc Dân chủ ấy khi áp dụng vào mỗi Dân tộc, mỗi Địa phương, có những hoàn cảnh Văn hóa, Kinh tế, Phong tục...làm thay đổi những chi tiết. Chúng tôi gọi đây là nguyên tắc DÂN CHỦ DÂN TỘC, nghĩa là nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát chịu ảnh hưởng của những dị biệt của từng Dân tộc.
Tỉ dụ tại Tây phương, giữa Pháp và Ý, khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ quyết định cho Tự do ngôn luận, người Pháp thả lỏng về lộng ngôn hơn, trong khi đó người Ý nghĩ nhiều đến yếu tố Gia đình, tôn trọng triệt để ý kiến của người Mẹ (Mama). Tại Việt Nam cũng vậy, phải kể đến việc tôn trọng người cao tuổi khi nguyên tắc Dân chủ quyết định về tự do ngôn luận cho giới trẻ.
Một vài tỉ dụ trên cho thấy rằng khi áp dụng nguyên tắc Dân chủ nhân bản phổ quát, chúng ta phải kể đến ảnh hưởng của những điều kiện Dân tộc để quyết định theo nguyên tắc ấy.
Những vi phạm nhất thời có thể sửa chữa
Chúng tôi xin nhắc lại một ít nét Lịch sử tổng quát từ những Quốc gia Á, Phi, Nam Mỹ thâu hồi độc lập sau thời gian thuộc địa bị đô hộ. Các Quốc gia này thiết lập một thể chế Dân chủ Dân sự theo khuôn mẫu Tây Phương. Sau một thời gian, những Chính quyền Dân sự bị phản đối là độc tài để rồi Quân đội can thiệp vào lật đổ và thay thế vào đó một thể chế Quân phiệt. Một số thể chế Quân phiệt sau một thời gian, bị phản đối và Quốc gia có thể từ độc tài Quân phiệt chuyển qua độc tài Dân sự trong phong trào Mặt Tận Giải Phóng do Cộng sản Quốc tế chủ trương.
Tại Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy sự chuyển biến này, từ thể chế Việt Nam Cộng Hoà dân sự chuyển sang Quân đội, rồi những chống đối Dân sự từ những người của thể chế Cộng Hòa hay từ những người dưới sự điều khiển của độc tài Cộng sản Hà Nội như Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, các Phong trào Hoà Bình, Phản Chiến...
Những Chuyển biến Lịch sử rất phức tạp. Một số người muốn lấy những chuyển biến Lịch sử này để công kích sự hữu hiệu của thể chế Dân chủ dựa trên 3 Ý niệm nền tảng: tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo vệ NHÂN QUYỀN và áp dụng triệt để nguyên tắc DÂN CHỦ.
Chúng tôi công nhận có những vi phạm 3 Ý niệm nền tảng trên đây của thể chế Dân chủ, nhưng chúng tôi nhấn mạnh rằng những vi phạm ấy chỉ là những vi phạm nhất thời, nghĩa là người Dân có thể kiện toàn lần hồi thể chế dựa trên 3 Ý niệm nền tảng. Phong trào Cộng sản Quốc tế đã tuyên truyền nhồi sọ cho Dân chúng rằng những vi phạm này là thất bại căn bản của thể chế Dân chủ để Cộng sản cướp lấy chính quyền và thiết lập một thể chế độc tài Cộng sản, không tôn trọnh NHÂN PHẨM, phế bỏ NHÂN QUYỀN và không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ. Con người Cá nhân chỉ là phương tiện phục vụ cho chế độ trong chế độ độc tài Cộng sản. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
HÒA GIẢI HÒA HỢP: BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN HIỆN HÀNH Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 213/21.04.05 này nói về đề tài thứ hai: Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành. Giữ vững lấy bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và biết rõ bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành, thì chúng ta mới có thể nói rằng đâu là phạm vị có thể hòa hợp và đâu là phạm vi không thể nhượng bộ. Chúng tôi bàn trong bài này những khía cạnh sau đây:
=> Từ những quan niệm về kinh tế, xã hội nhất thời => Đến cuộc Cách Mạng vô sản đẫm máu với hứa hẹn không tưởng => Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam
Từ những quan niệm về kinh tế, xã hội nhất thời
Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa được xây dựng trên con người cá nhân cụ thể và cá nhân ấy là mục đích phục vụ của chế độ. Bản chất của chế độ độc tài Cộng sản dựa trên những quan niệm của một Triết gia về đời sống Kinh tế, tương quan Xã hội nhất thời. Những quan niệm này được coi là chân lý tuyệt đối và trường tồn để bắt cá nhân phải hy sinh phục vụ. Triết gia đó là Karl Marx sống trong khung cảnh đời sống xã hội của Cách Mạng Kỹ nghệ Thế kỷ XIX. Cuộc Cách Mạng Kỹ nghệ cần những đầu tư Tư bản. Trong khung cảnh Kinh tế và Xã hội ấy, Karl Marx đưa ra những quan điểm. Chúng tôi chỉ đưa ra đây một số những suy nghĩ chính của Karl Marx mà Lenine-Staline lấy lại làm Ý thức hệ trong cuộc đấu tranh chính trị chiếm quyền hành của Nhóm.
=> Vong thân Kinh tế (Alienation Economique) Karl Marx đã đọc cuốn Capital của David Ricardo, một Kinh tế gia cổ điển thời danh nhất trong những Kinh tế gia cổ điển Anh như Adam Smith, Stuart Mill, Malthus... Đây là những Kinh tế gia chủ trương nền Kinh tế Tự doThị trường. Cái công của David Ricardo là đưa ra quan niệm đo lường những giá trị của một sản phảm Kinh tế. Để đo lường chiều dài, người ta dùng đơn vị mét; để đo lường dung lượng chất lỏng, người ta dùng đơn vị lít...Để đo lường giá trị một sản phẩm kinh tế, David Ricardo dùng đơn vị GIỜ LAO ĐỘNG đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm ấy. Cùng căn bản đơn vị đo lường như vậy, người ta mới có thể so sánh sản phẩm giữa nước này và nước kia. Karl Marx lấy lại ý tưởng đơn vị đo lường này để suy nghĩ về những chênh lệc xã hội của thời Cách Mạng Kỹ nghệ mà Oâng gọi là những bóc lột. Oâng lý luận rằng giá trị của sản phẩm kinh tế dựa trên sức LAO ĐỘNG nằm trong sản phẩm. Một phần của những giá trị sản phẩm thặng dư tích lũy để tạo lên Vốn (Capital). Như vậy số vốn này thuộc về giới Lao động vì đó là sự tích lũy những giờ lao động. Nhưng giới Tư sản đã cướp lấy số vốn này của giới Lao động để làm tư sản. Vong thân Kinh tế (Alienation Economique), theo Karl Marx, có nghĩa là giới Lao động tạo ra Vốn, đem Vốn đó giao trong tay giới Tư bản để rồi chính giới Lao động phải lệ thuộc vào Vốn.
=> Vong thân Tôn giáo (Alienation Religieuse) Theo Karl Marx, Tôn giáo đến từ sự sợ hãi của chính con người trước tất cả những đe dọa thiên tai. Từ những sợ hãi đủ thứ này trước thiên nhiên, con người tạo ra các thứ Thần để mong mỏi sự che chở: Thần Sông, Thần Biển, Thần Núi... Vong thân Tôn giáo (Alienation Religieuse) có nghĩa là các Thần không tự hữu mà chỉ là sản phẩm của con người. Con người tạo ra Thần để coi Thần như tự hữu để mình thờ lậy và lệ thuộc vào.
=> San bằng mức sống xã hội (Egalite sociale) Gia đình Karl Marx đông con và sống trong những hoàn cảnh lưu lạc, thiếu thốn. Oâng lại sống trong thời Cách Mạng Kỹ nghệ hỗn độn. Tổ chức sản xuất trong các Nhà máy chưa có những điều kiện làm việc cải thiện như thời nay cho nhân công. Trong hoàn cảnh sống riêng tư gia đình và trong điều kiện làm việc của thợ thuyền thời ấy, Karl Marx ao ước một sự san bằng đời sống xã hội, nhất là giữa giới Tư sản và giới Lao động. Những suy tư trên đây chỉ là riêng cho một Triết gia sống ở một thời đại chuyển biến Kinh tế. Chúng tôi nhấn mạnh đây là những quan niệm nhất thời, chứ không phải là chân lý cho mọi thời đại và phổ quát cho mọi người. Karl Marx chỉ là một trong muôn vàn Triết gia suy tư về thời đại của mình, nghĩa là những quan điểm cũa Karl Marx chỉ là tương đối.
Đến cuộc Cách Mạng vô sản đẫm máu với hứa hẹn không tưởng
Tất cả các Triết gia trứ danh đều độc tài. Họ đạp đổ những quan niệm trước họ để cấu trúc những suy tư của riêng mình mà họ coi là chân lý trường tồn. Việc độc tài suy tư của Triết gia chưa phải là tội lỗi. Nhưng việc áp dụng những suy tư ấy làm Ý thức hệ chỉ đạo cho những cuộc đấu tranh chính trị chiếm đoạt quyền hành và quản trị Quốc gia mới tạo ra những tội lỗi. Lenine và Nhóm của Oâng đã lấy những quan niệm của Karl Marx để làm Ý thức hệ chỉ đạo cho cuộc đấu tranh chính trị chiếm quyền.
=> Từ quan niệm Vong thân Kinh tế đến cuộc đấu tranh đẫm máu Giai cấp Lenine và Nhóm của Oâng muốn triệt hạ Giai cấp có tiến bạc, tài sản. Trong hoàn cảnh chênh lệc xã hội thời ấy, phương tiện tuyên truyền hữu hiệu nhất là khơi động đa số người nghèo đứng lên tiêu diệt thiểu số cố vốn. Quan niệm Vong thân Kinh tế được lấy lại làm phương tiện tuyên truyền để giới Lao động tiêu diệt giới Tư sản. Lenine nói rằng Vốn là tích luỹ Lao động, nghĩa là vốn thuộc sở hữu của giới thợ thuyền và nông dân. Vậy giới thợ thuyền và nông dân phải đứng dậy đòi lại quyển sở hữu của mình. Phải dùng sức mạnh của giới thợ thuyên và nông dân để tiêu diệt giới Tư sản dù bằng hành động đẫm máu.
=> Từ quan niệm Vong thân Tôn giáo đến cuộc tiêu diệt Lực lượng Tôn giáo Lenine và tiếp theo là Staline, để có thể độc quyền nắm trọn nhân dân, thấy rằng phải tiêu diệt Lực lượng Tôn giáo. Họ đã lấy quan niệm Vong thân Tôn giáo để kêu gọi mọi người hãy giải thoát mình khỏi những quyền lực Thần Linh mà chính mình tạo ra để phải lê thuộc vào. Tôn giáo dậy con người phải tôn trọng cá nhân, trong khi ấy Lenine và Nhóm của Oâng muốn cá nhân chỉ là phương tiện phục vụ cho quyền hành của Nhóm. Tiêu diệt Tôn giáo là tiêu diệt đối kháng đối với chế độ. => Từ ước vọng san bàng chênh lệc xã hội đến Thiên đàng Cộng sản và độc tài Đảng trị Triết gia Karl Marx suy tư về một giải pháp cho việc chênh lệch xã hội của thời Cách Mạng Kỹ nghệ thế kỷ XIX. Lenine và Nhóm của Oâng muốn cộng chung tất cả những tài sản, những sản xuất để phân phát đồng đều cho mọi người theo nhu cầu. Quyền tư hữu của cá nhân phải được phế bỏ vì chính quyền tư hữu này làm ra sự chênh lệch xã hội. Aùp dụng quan niệm này, Lenine và Nhóm đã tuyên truyền cho Dân hai điều phải theo sau đây:
@ Thiên đàng Cộng sản ở Trần thế Cộng sản đã tạo một ngưỡng vọng cho dân nghèo thời ấy. Thiên đàng Cộng sản luôn luôn là một hy vọng. Người đói cố gắng sống vì hy vọngh có đồ ăn mà ai hứa hẹn. Người nghèo hy vọng có tiền khi có hứa hẹn. Thiên đàng Cộng sản là một hứa hẹn để dấy động dân nghèo hy sinh chính bản thân mình để mong đặt lý tưởng. Đó chỉ là một Aûo tường (Utopie) để dụ người theo mình.
@ Độc tài Đảng trị Mọi người bỏ chung tài sản để thực hiện Thiên đàng Cộng sản, nhưng mọi người là quần chúng hỗn độn. Phải có những người được chọn lựa để chỉ đạo cuộc Cách mạng vô sản và để điều hành những tài sản bỏ chung ấy. Những người được lựa chọn này là Đảng Cộng sản. Đảng có trách nhiệm hướng dẫn cuộc đấu tranh để tiêu diệt kẻ thủ, để quan trị tài sản của quần chúng và để đạt tới Thiên đàng Cộng sản. Để nắm vũng những trách nhiệm này, Đảng phải độc tài, giữ quyền riêng cho mình.
@ Kinh tế chỉ huy Nếu Đảng độc quyền giữ tài sản của Dân để thực hiện Thiên đàng Cộng sản, thì Đảng tất nhiên phải giữ độc quyền khai thác những tài sản ấy. Đó là một nền Kinh tế hoàn toàn chỉ huy bởi Đảng. Một hệ thống Công ty quốc doanh được thành lập và làm theo chỉ thị của Trung Ương Đảng.
Thời đầu của Cách Mạng Cộng sản, Ý thức hệ này là một quyến dũ và thúc đẩy được Dân chúng nghèo theo mình. Nhưng Thiên đàng Cộng sản không bao giờ đạt tới mặc dầu Dân chúng phải hy sinh cá nhân mình hết thế hệ này đến thế hệ kia. Chế độ độc tài Đảng trị của Cộng sản, xây dựng trên những quan niệm của Karl Marx và trên những áp dụng chính trị đấu tranh của Lenine-Staline đã xụp đổ. Sự xụp đổ này chứng minh rằng những suy tư của Karl Marx và những áp dụng chính trị của Lenine-Staline không phải là tuyệt đối, trường kỳ. Vì không phải là tuyệt đối, trường kỳ, thì không được quyền lấy chúng làm lý do để duy trì quyền hành độc tài.
Tất cả những vá víu cho những quan niệm triết học và cho những áp dụng chính trị trên đây trở thành phương tiện bịp bợm che đậy cho việc cố thủ giữa quyền độc tài.
Bản chất của chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam
Chế độ độc tài Cộng sản nói chung và ở thời đại Cách Mạng cao độ nhất đã được xây dựng trên căn bản những suy tư triết học của Karl Marx và những áp dụng chính trị của Lenine-Staline. Chế độ ấy đã xụp đổ, nghĩa là những suy tư và những áp dụng có những sai lầm trầm trọng, không thể làm nền tảng cho chế độ nữa.
Biết những sai lầm trầm trọng, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam cố thủ dùng ngôn từ tuyên truyên giả tạo để giữ lấy quyền hành cho mình. Những tiếng Cởi Mở, Đổi Mới chỉ là mỵ dân, hy vọng đánh lừa dân nữa. Những tiếng Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa hoặc Quá Độ Lên Xã Hội Chũ nghĩa chỉ là những xảo ngữ bởi vì nền tãng để xây dựng Thên đàng Cộng sản đã xụp đổ.
Nếu độc giả hỏi tôi căn bản của chế độ Cộng sản thời Lenine-Staline, thì tôi có thể trả lời như tôi đã trình bầy ở hai phần trên đây từ những suy tư của Karl Marx đến những áp dụng chính trị của Lenine-Staline. Nhưng nếu quý độc giả hỏi tôi nền tảng xây dựng chế độ Cộng sản hiện hành ở Việt Nam là gì, thì tôi rất lúng túng bởi vì Ý thức hệ của nó tanh bành xí oắt rồi. Nền tảng ấy là cái váy đụp mục nát mà Đảng Cộng sản Việt Nam cố gắng vá víu bằng xảo ngữ để lừa dân. Về điểm này, tôi chỉ còn có thể nói đến những khía cạnh sau đây về thực hành:
=> Đảng cố thủ dùng bạo lực để duy trì quyền cai trị độc tài của mình. Giữ quyền độc tài để dễ biển lận tài sản Quốc gia cho riêng mình. Nếu trước đây, Lenine-Staline có Ý thức hệ làm nền tảng để biện minh cho việc giữa quyền độc tài Đảng trị, thì ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam bị lột trần truồng khỏi Ý thức hệ ấy. Nhưng họ, vì cố thủ giữa lấy quyền hành một cách trơ trẽn, đã phải lấy lá che đậy sự trần truồng bẩn thỉu của họ.
=> Việc cố thủ giữ quyền độc tài bằng khủng bố vũ lực, không Ý thức hệ, chỉ còn là PHỦ NHẬN những nền tảng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nghĩa là họ không tôn trọng NHÂN PHẨN, không bảo đảm NHÂN QUYỀN và không áp dụng nguyên tắc DÂN CHỦ.
Tóm lại, chế độ hiện hành của Cộng sản Việt Nam hiện nay không còn nền tảng để biện minh cho mình. Đó chỉ là một chế độ của những kẻ ham quyền cố vị để dễ bề ắn cướp tài sản Quốc gia. Họ dùng sức mạnh khủng bố để bịt miệng Dân.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
XIN DOC THEM CHUONG LUU TRU: http://www.viettudan.net/25492.html
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Chu Nhiem/ Editor in Chief/ Redacteur en Chef:
Prof.Dr.NGUYEN PHUC LIEN, Economist
Weekdays: 22, Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland Tel.:0041 22 731 82 66. Fax:0041 22 738 28 08. Mobile:0041 79 766 65 83 E-Mail: wim-impact.drlien@bluewin.ch
Weekends: 43, Heideweg, CH-2503 BIEL/BIENNE, Switzerland Tel.:0041 32 365 24 49. Fax:0041 32 365 24 49. Mobile:0041 79 766 65 72 E-Mail: drlien.wim-impact@bluewin.ch
Website: http://www.VietTUDAN.net
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
|