|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== NHUNG BAI CHU DE MOI DAY/ RECENT SUBJECTS =============================================================== |
| | | ========================= pho bien/ publication 04.06.2008 =========================
===============================================================
************************************* CHỦ ĐỀ: ****************************************** DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ/ TÀI CHÁNH
(UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
===============================================================
Trả lời phỏng vấn ngày 09.06.2008 của Ký giả ĐỖ HIẾU của Đài Á Châu Tự Do, chúng tôi đã nhấn mạnh hai điểm:
1) Cuộc Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay tại Việt Nam không thể chữa trị bằng những biện pháp nhất thời vá víu. Chúng tôi gọi việc chữa trị hiện nay của CSVN như là việc dùng dầu cù là thoa bóp ngoài da. Thực vậy, cuộc Khủng hoảng chỉ là sự phát hiện ra bề mặt của tình trạng Khủng Hoảng đã tích trữ trong nhiều năm do một CƠ CHẾ nuôi dưỡng đàn vi trùng THAM NHŨNG và LÃNG PHÍ. Nếu chỉ thoa bóp nhất thời để con bệnh lắng dịu, mà vẫn để cái CƠ CHẾ nằm nguyên đó, thì rồi Khủng Hoảng sẽ lại phát hiện nữa. Do đó, muốn có sự phát triển Kinh tế lâu dài và bền vững, thì phải trị chính cái CƠ CHẾ.
2) Một số những Nhà Kinh tế tại Quê Hương, như Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A chẳng hạn, đã kêu gọi việc CẢI CÁCH cấp thiết CƠ CHẾ. Đối với chúng tôi, cải cách chưa đủ bởi vì nói CẢI CÁCH (Reform) có nghĩa là còn thấy CƠ CHẾ có nền tảng tốt đẹp. Chúng tôi nhất thiết chủ trương rằng phải BỎ HẲN cái CƠ CHẾ hiện giờ, nghĩa là đảng CSVN không được Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế. Khi Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế nằm gọn trong tay đảng CSVN thì không thể nào tránh khỏi THAM NHŨNG và LÃNG PHÍ trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai.
Phải dứt khoát vứt bỏ cái CƠ CHẾ đó. Đã đến lúc chính đại đa số Dân nghèo đứng lên làm công việc này, bởi vì nếu không làm thì chính họ phải chết vì thiếu ăn.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
MỤC LỤC
Bài Mở Đầu CON VI TRÙNG CĂN BỆNH LẠM PHÁT
Bài 1 NỔI DẬY VÌ ĐÓI/ EMEUTES DE LA FAIM
Bài 2 CSVN CHỮA KHỦNG HOẢNG KT/TC NGOÀI DA MÀ KHÔNG CHỮA NỘI THƯƠNG
Bài 3 DÂN OAN CHỈ RÕ CHO CSVN BIẾT ĐÂU LÀ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG
Bài 4 DŨNG & QUỐC HỘI CỐ TÌNH NÉ TRÁNH CĂN BỆNH NỘI TẠNG KINH TẾ/TÀI CHÁNH
Bài 5 CHỐNG THAM NHŨNG LÀ TRÒ HỀ, PHẢI DIỆT QUYỀN LỰC ĐÁNH ĐĨ ĐẺ RA THAM NHŨNG
Bài 6 BÀ MẸ DÂN OAN TỤT QUẦN CHỬI QUÁI THAI CSVN THAM NHŨNG
Bài 7 THAM NHŨNG GÂY KHỦNG HOẢNG KHÔNG PHẢI LÀ CÁ NHÂN MÀ LÀ CƠ CHẾ
Bài 8 PHẢI DỨT BỎ CHIẾC VÁY ĐỤP CƠ CHẾ CŨ
|
| | | Bài Mở Đầu:
CON VI TRÙNG CĂN BỆNH LẠM PHÁT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 10.04.2008 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC
Chúng tôi đã viết loạt 15 Bài dưới Chủ đề: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH dựa trên những nhận định của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997 và dựa vào những khẳng định của những Nhà Kinh tế như Alain FAUJAS, Florin AFTALION về những Nước bắt đầu phát triển đăng trong nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với những đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm Phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển); (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER (Lạm Phát phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả khi Chính trị có thể chuộng nó); (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh hoạn vì vật giá tăng).
Lúc này, kể từ ngày 28.02.2008, Lạm Phát, Khủng Hoảng Kinh tế/Tài chánh thực sự đang diễn ra trầm trọng tại Việt Nam. Nhà Nước CSVN đã đưa ra rất nhiều những liều thuốc để mong chữa trị căn bệnh Lạm Phát đang gây Khủng Hoảng Kinh tế Tài chánh. Đối với chúng tôi, Nhà Nước độc tài, độc đảng CSVN, nắm trọn cả Chính trị lẫn Kinh tế không thể nào chữa trị căn bệnh Lạm phát và Khủng hoảng này bởi lẽ con Vi Trùng của Căn bệnh nằm chính trong chủ trương độc tài độc đảng nắm trọn Chính trị và Kinh tế.
Chỉ có người DÂN, đại đa số quần chúng, khi bị đẩy đến đói nghèo, thì nổi dậy diệt thẳng vào con Vi trùng của Căn bệnh, mới có thể chữa trị tận gốc Lạm Phát, Khủng Hoảng mà thôi. Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố với báo Financial Times:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói) (LE MONDE, 31.10.2007).
Loạt bài Chủ đề này tiếp tục loạt 15 bài Chủ đề vừa viết xong về Khủng Hoảng.
CON VI TRÙNG CHÍNH CỦA CĂN BỆNH
Ngày 02.04.2008, đúng 5g30 sáng, vào các Diễn Đàn để tìm đọc những bài về Dân Oan, về Lạm phát tại Việt Nam, tôi gặp được bài của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG với đầu đề: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM: THỬ TÌM NGUYÊN NHÂN. Đọc xong bài, tôi rất đắc ý về việc Tiến sĩ đã nói đúng cái Nguyên Nhân của những Nguyên Nhân Lạm phát, nghĩa là chẩn mạch đúng cái Căn Bệnh của Lạm phát hiện giờ ở Việt Nam.
Thấy số điện thoại của Tiến sĩ ở cuối bài, tôi cầm điện thoại gọi liền về Tiến sĩ tại Hà Nội và may mắn gặp đúng Tiến sĩ. Tôi đã thực tình bầy tỏ sự ca ngợi của tôi đối với bài này. Và tôi tiếp rằng trong những tháng gần đây, tôi theo rõi những biện pháp chữa trị lạm phát mà Nhà Nước CSVN đưa ra, nhưng những thuốc chữa trị chỉ như dầu nóng thoa bóp bề ngoài. Thoa chỗ này, thì chỗ khác lại bùng lên.
Thực vậy bệnh Lạm phát, Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế ở Việt Nam là thứ bệnh đã âm ỉ từ lâu, chứ không phải là chỉ nóng lạnh, nhức đầu sổ mũi sơ sơ có tính cách nhất thời. Bệnh này trầm trọng, không thể chỉ cạo gió ngoài da, rồi thoa chút dầu cù là hiệu Con Cọp mà khỏi được.
Con vi trùng của căn bệnh đã ăn ruỗng thân xác từ nhiều năm nay. Nền Kinh tế Việt Nam chứa con vi trùng này mà đảng CSVN cố tình sơn phết che đậy tình trạng bệnh hoạn trước Dân chúng và Quốc tế. Nhưng ngày 28.02.2008, tình trạng Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế không còn có thể bưng bít được nữa.
CON VI TRÙNG ẤY LÀ CHỦ TRƯƠNG “ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”. Những chữ này được xử dụng để: (i) đảng CSVN vẫn giữ độc tài, độc đảng Chính trị; (ii) qua hệ thống Công ty quốc doanh, quyền lực Chính trị nắm trọn đời sống Kinh tế. Quyền lực độc tài Chính trị đánh đĩ với lòng tham giữ trọn Kinh tế đẻ ra CON VI TRÙNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Con vi trùng này ăn ruỗng nền Kinh tế Quốc gia.
Phải trị dứt con vi trùng này đã tác hại cho Việt Nam, không thể để độc tài Chính trị đánh đĩ nữa với lòng tham Kinh tế để tránh việc sinh ra thêm đàn vi trùng lúc nhúc.
NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG NGUYÊN NHÂN
Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, tại Hà Nội, sau khi đã trích dẫn, tóm lược những nguyên nhân gần đang làm lộ diện Lạm Phát, Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay, đã phân tích, tìm kiếm cái NGUYÊN NHÂN cũa những Nguyên Nhân. Tôi xin trích ra đây phần thứ hai này của bài viết:
“Câu hỏi đặt ra là, tại sao với nguồn nhân lực dồi dào, với thiên nhiên ưu đãi nhiều hơn so với nhiều nước khác, lại tiếp nhận được nguồn đầu tư rất lớn mà tổng lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chỉ đạt được quá thấp như vậy ?
Do cơ chế ?
Những năm gần đây người ta đã dám vô tư đổ lỗi cho cơ chế. - Nhưng, cái gì tạo ra cơ chế ? - Cơ chế chính là hiện thân của chế độ chính trị. - Ai ngoan cố duy trì mãi chế độ chính trị lạc hậu lỗi thời ? - Lãnh đạo đảng CSVN và nhà nước CHXHCN Việt Nam
Dựa trên 6 tiêu chí: tính hiệu năng của chính phủ, chất lượng chính sách và hoạt động điều tiết, thượng tôn pháp luật, tham nhũng, tiếng nói và trách nhiệm giải trình, ổn định chính trị để đánh giá chất lượng quản trị quốc gia của chính phủ, Ngân hàng Thế giới gần đây đã tiến hành một công trình khảo sát đối với 212 nước và vùng lãnh thổ. Kết quả cho thấy, ngoại trừ tiêu chí " ổn định chính trị ", tất cả 5 tiêu chí kia Việt Nam đều bị xếp dưới các nước Đông Á và Đông Nam Á. Chỉ trên Indonexia một số mặt.
Nói chung các nhà khoa học, các chính khách quốc tế đều thừa nhận Việt Nam là một dân tộc thông minh, tài hoa, cần mẫn, nhưng tại sao chất lượng quản trị quốc gia của Việt Nam kém xa, không phải các nước tiên tiến mà, các nước Đông Nam Á ? ... Nét đặc sắc của nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam là do Nhà nước đã đổ những khoản đầu tư bất hợp lý vào các tập đoàn kinh tế, xí nghiệp quốc doanh … khổng lồ đến mức … bại hoại cả nền kinh tế.
Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tỏ rõ nhiều ưu thế vượt trội. Trong năm 2005 tỷ lệ vốn / lao động của các doanh nghiệp nhà nước cao gấp 3 lần so với các doanh nghiệp dân doanh, nhưng doanh số trung bình do một công nhân tạo ra ở DNNN lại chỉ đạt cỡ 44% so với khu vưc dân doanh. Tỷ trọng sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước liên tục sụt giảm so với khu vực dân doanh và FDI.. Khu vực nhà nước hầu như không tạo thêm được việc làm mới. Bên cạnh dó, trừ một số ngoại lệ, các DNNN hầu như không xuất khẩu các sản phẩm chế tạo. Đến nay, kinh tế ngoài quốc doanh đang tạo ra 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp.
Vậy mà, tài sản nhà nước của nhân dân vẫn cứ được đổ vô tội vạ vào các DNNN kém hiệu năng để không chỉ gây nên những khoản nợ không trả được đến hàng trăm nghìn tỷ đồng mà còn tạo điều kiện để họ chi thả cửa, rất hào phóng cho những dự án nhảm nhí. Nhờ tham nhũng bôi trơn, hàng loạt dự án hoành tráng được rầm rộ thông qua từ xã lên huyện, qua tỉnh đến trung ương ngay cả khi chưa đủ hồ sơ kỹ thuật. Nói chung có lập hội đồng chuẩn định đấy, nhưng tất cả đều được phù phép thành các hội đồng chuột.
Ai không sững sờ khi đọc những dòng này trên báo Lao Động số ra ngày 20 tháng 3 năm 2008 : " Xã Long Hậu ( huyện Cần Giuộc ) từng biết đến như là xã có số dự án sân golf cao kỷ lục trong cả nước ( có thể cả thế giới, với 5 dự án ). Cũng chính xã này đang lăm le qua mặt khu đô thị Phú Mỹ Hưng với 2 dự án khu đô thị sinh thái có tổng diện tích gần 800ha ( có 1 dự án trải rộng trên 2 xã Long Hậu và Phước Lại ). Hai DA này cùng với 5 DA sân golf chiếm gần hết diện tích đất nông nghiệp trong xã. Nằm cạnh dự án sân golf xã Mỹ Phú - huyện Thủ Thừa là dự án khu đô thị sinh thái rộng 300ha.
Cách đó mấy cây số, tại xã Mỹ An ( cũng huyện Thủ Thừa ) là DA khu ĐTST khác cũng rộng gần 300ha. Ở một huyện nông nghiệp khác là Cần Đước cũng có 2 DA khu ĐTST rộng tổng cộng gần 300ha. Huyện vùng sâu Đồng Tháp Mười là Vĩnh Hưng cũng không thua chị kém em với DA khu ĐTST rộng trên 200ha. Nhưng đáng kể nhất là DA khu ĐTST trải dài trên 2 xã vùng sâu là Thạnh Lợi (huyện Bến Lức ) và Bình Hoà Nam ( huyện Đức Huệ ) với tổng diện tích gần 2.600ha...
Cho đến thời điểm hiện nay, tỉnh Long An đã có hơn 10 DA khu ĐTST hoặc có ĐTST với tổng diện tích hơn 5.500ha. Ngoài ra còn có hàng loạt các DA khu đô thị " không sinh thái "cũng đang được triển khai. Lạ lùng là các DA khu ĐTST ở Long An hầu như không nằm cạnh các khu, cụm công nghiệp, mà nằm ở vùng nông thôn xa xôi".
Hỗn mang chi sơ như vậy chẳng qua chỉ vì "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Muốn khỏi chệch hướng XHCN thi quốc doanh sống chết cũng phải là chủ đạo, phải tập trung dân chủ, Đảng phải, không chỉ lãnh đạo mà còn chỉ đạo toàn diện. Đảng chỉ đạo Nhà nước muốn ưu ái ai thì nấy được, muốn cho ai cái gì thì cho.
Đảng nhúng tay thao túng cả thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán lập ra phải là để huy động vốn tiết kiệm vào đầu tư nhưng ở Việt Nam, đảng CSVN lại dùng nó để vỗ béo các nhà tư bản đỏ của Đảng. Người ta ra lệnh cho Ngân hàng Nhà nước đổ tiền ra cho bọn này vay dể chơi chứng khoán. Thị trường chứng khoán bị biến thành nơi rửa tiền nhằm đầu cơ trục lợi ngắn hạn. Vốn thực sự được huy động phục vụ sản xuất chẳng được là bao. Thắng ở chứng khoán, bọn chúng đổ xô đầu cơ bất động sản. Khi thị trường chứng khoán lung lay, Chính phủ liền ra Chỉ thị 319, lệnh cho các quan tài chính và ngân hàng phải bơm tiền để giữ cho thị trường này không bị sập. Thực chất là để cứu bọn phệ đỏ không bị sút cân.
Người ta cho rằng ở Việt Nam đang hình thành "chủ nghĩa tư bản thân hữu". Ở đây bố làm chính trị để giành đỉnh cao quyền lực, từ đấy tạo điều kiện cho con cái làm kinh tế. Quyền lực lãnh đạo của bố đem lại cho con cái những hợp đồng vô giá, những mối quan hệ maphia để chúng phất lên dễ dàng và nhanh chóng. Chẳng mấy chốc, bọn "phượng hoàng đỏ" này đã có thể nắm hết những ngành kinh tế quan trọng của đất nước.
Học giả Trần Đông Chấn vạch ra cái cơ chế maphia ở Việt Nam như sau : "Họ không hình thành nên những phe nhóm riêng rẽ cụ thể nào cả, mà len lỏi có mặt ở tất cả mọi nơi, từ cơ quan đảng đến nhà nuớc, chính phủ đến quốc hội, trung ương đến địa phương, cơ quan hành chính đến các doanh nghiệp. Cũng không có một thỏa thuận liên minh nào được cam kết nhưng bọn họ phối hợp hành động rất ăn ý và đồng bộ nhờ có một mục tiêu chung là trục lợi. Họ không thể hiện chính kiến riêng và luôn hoan nghênh tất cả các nghị quyết của đảng, chỉ thị của chính phủ, dự luật của quốc hội và các quyết định của chính quyền địa phương cho dù là chúng mang tính bảo thủ hay cấp tiến …. Nhưng điều tồi tệ và nguy hại nhất ở đây chính là những kẻ cơ hội này đang được các thế lực nước ngoài hỗ trợ và nuôi dưỡng vì quan hệ cộng sinh và vì những kế hoạch dài hơn ".
Để làm lóa mắt dân chúng, người ta đã quýết định tăng cung tiền nhắm tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao một cách biểu kiến. Nhưng khối lượng cung tiền lớn được sử dụng làm gì. "Một nguyên nhân chính là do tốc độ tăng chi tiêu của nhà nước. Tổng chi tiêu của nhà nước năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221,8 nghìn tỷ đồng ( hay 45% ) so với năm 2004. Như vậy tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của nhà nước trong giai đoạn 2004 – 2006 là 20,3% / năm. . Cũng trong giai đoạn này thu ngân sách tăng chủ yếu không phải từ nguồn thu nội địa mà là từ dầu mỏ, tiền vay nợ và viện trợ nước ngoài. Thu nội địa năm 2004 chỉ đạt 119 ngàn tỷ, và năm 2006 là 190 ngàn tỷ, tăng có 71 ngàn tỷ. Trong khi đó chi tiêu của nhà nước tăng 131 ngàn tỷ, từ 190 lên 321 ngàn tỷ, tức là gần gấp đôi mức tăng thu nội địa. Khi chi tiêu của nhà nước tăng hơn nhiều so với các nguồn thu ngoài dầu mỏ ( ngay cả khi nguồn thu tăng này đến từ dầu mỏ hay viện trợ ) thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu. Thế nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp được chút đỉnh cho sản lượng ( tức là không làm cho tổng cung tăng một cách tương ứng ) thì tất yếu dẫn tới lạm phát ".
Muốn vỗ béo bọn tư bản đỏ của Đảng, muốn các quan chức của Đảng sống phè phỡn thì kinh tế phải lạm phát. Lạm phát thì dân chúng thêm điêu đứng (như đã dẫn ra một phần ở trên). Nhưng, bọn họ vẫn tiếp tục sung sướng !
Thế đấy, đắng cay và chua chát là ở chỗ người ta đã đổ cả núi xương, sông máu của nhân dân Việt Nam ra mà giành lấy quyền lực. Để rồi, lại sử dụng quyền lực đó để bòn rút da thịt, mồ hôi nước mắt của nhân dân. Có hơn gì bọn ngoại xâm, bọn tư sản mại bản, bọn địa chủ cường hào ác bá….! Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang (Hà Nội tháng 3 năm 2008)
KHAI TRIỂN CHỦ ĐỀ
Với Chủ đề: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC, chúng tôi sẽ lần lượt viết một loạt bài QUAN ĐIỂM. Những bài được xếp theo ba Tiểu đề sau đây:
=> Tiểu đề 1:
Đi từ nền Kinh tế Chỉ huy Tập trung, nền Kinh tế của Thế Giới Cộng sản toàn trị đã thất bại hoàn toàn. Con Vi trùng Tham nhũng/Lãng phí sống ở những bãi sa mạc kinh tế, ở những vùng đất cằn cỗi. Con Vi trùng nằm thở thoi thóp, không có gì để mà ăn tham nhũng, mà lãng phí. Việt Nam buộc phải Đổi mới, Mở cửa, rồi ngày nay Hội nhập để cho những dòng nước Kinh tế từ ngoài chảy vào bãi sa mạc, vào đất khô cằn. Con Vi trùng Tham nhũng, Lãng phí chết đói kia bắt đầu quậy cọ và rồi hoành hành trong suốt thời gian dài qua. Đảng vẫn khoác cho mình những chữ Định hướng XHCN để nắm quyền cho con Vi trung tha hồ thao túng. Kết quả là cuộc Lạm Phát, Khủng hoảng ngày nay.
=> Tiểu đề 2:
Đại đa số quần chúng, đã bị bóc lột và đói nghèo, nay trở thành khốn cùng hơn vì con Vi trùng Tham nhũng, Lãng phí đã hút hết máu, hết sức sống của họ. Lạm phát, Khủng Hoảng cho Dân chúng ý thức rõ rệt cái con Vi trùng, nguyên nhân của những nguyên nhân căn bệnh đói nghèo của họ hiện nay chính là đảng CSVN. Đảng dùng đủ mọi cách thế để chạy tội. Những Trí thức phải làm việc với đại đa số Dân Nghèo này, chỉ cho họ cái con Vi trùng, cái nguyên nhân của những nguyên nhân, để sức mạnh Dân chúng nổi dậy mà diệt.
=> Tiểu đề 3:
Để xây dựng một nền Kinh tế bền vững, hài hòa, phải bắt đầu từ Dân, từ từng cá nhân sống. Cụ thể là phải tôn trọng triệt để quyền TƯ HỮU những phương tiện kiếm sống. Quyền Tư Hữu là căn bản của Tự do Kinh tế. Chính những cá nhân làm Kinh tế điều hợp sự thăng bằng theo Nguyên tắc Dân chủ do Dân quyết định với nhau. Tài nguyên Quốc gia Việt Nam quy tụ 70% vào Nông nghiệp, Ngư nghiệp và Lâm sản. Nền Kinh tế Quốc gia phải chú trọng chính yếu vào những gì sẵn có này. Đó là sự phát triển Kinh tế lâu bền và độc lập. Chính trị không được xen lấn độc đoán và lãnh vực Kinh tế. Nó chỉ tạo một Khung cảnh Chính trị—Luật pháp (Environnement Politico-Juridique) trợ lực cho phát triển Kinh tế và do chính người Dân làm Kinh tế quyết định.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài 01:
NỔI DẬY VÌ ĐÓI/ EMEUTES DE LA FAIM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 17.04.2008 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
Những ý tưởng chính của bài viết này đã được Đài Phát Thanh Pháp Quốc tế (Radio France Internationale) ghi âm lúc 11g ngày 16.04.2008 để phát thanh về Việt Nam như vấn đề Thời sự có liên quan đến tình hình lạm phát.
Xin nhắc lại câu mà Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO của Liên Hiệp Quốc. đã tuyên bố với Financial Times năm ngoái vào tháng 10 nhân hiện tượng vật giá lương thực bắt đầu tăng:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói) (LE MONDE, 31.10.2007).
Từ khủng hoảng Tín dụng Sub-Prime Địa ốc Hoa kỳ, cuộc Khủng hoảng Tài chánh lan rộng ra Thế giới. Tình trạng suy thoái Kinh tế tổng quát đang diễn ra cho Thế giới. Lạm phát (Inflation), Khủng hoảng Tài chánh (Crise Financìere), Suy thoái Kinh tế (Récession Economique) làm mất Khả năng Tiêu thụ. Giới nghèo với đồng lương cố định trở thành khốn cùng khi vật giá tăng vọt, nhất là thực phẩm.
Chúng tôi xin đề cập những điểm sau đây: => Dân nghèo nổi dậy/ Emeutes de la faim => Lý do chung của việc tăng giá thực phẩm => Lý do vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn những nước khác
Dân nghèo nổi dậy/ Emeutes de la faim
Đây là vấn đề thời sự đã đánh động Thế giới trong tuần vừa qua. Vì vật giá thực phẩm tăng vọt, dân Haiti đã nổi dậy biểu tình và có đến trên 10 người thiệt mạng. Những cuộc nổi dậy cũng đã xẩy ra tại Cameroun, Ai Cập, Nam Dương và Phi Luật Tân. Tình trạng nổi dậy của Dân Oan, Dân nghèo và Đình công tại Việt Nam đã từ nhiều năm nay, nhất là năm ngoái. Nhưng tại Việt Nam, Quốc tế ít nghe tới vì Nhà Nước CSVN đã đàn áp khắt khe và có hệ thống. Cũng lưu ý rằng cuộc nổi dậy tại Tây Nguyên ở vào thời điểm cách đây mấy hôm.
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF/FMI) đã báo động Thế giới về việc nổi dậy này. Tổ chức Lương Thực Thế giới FAO của Liên Hiệp Quốc đã tường trình khả năng Dân nổi dậy tại 37 nước nghèo, trong đó có Việt Nam và Trung quốc. “Les émeutes de la faim commencent (Những cuộc nổi dậy vì đói bắt đầu)“. Đó là lời tuyên bố của một số Truyền Thông quốc tế. Đây không phải là những cuộc nổi dậy mang mầu sắc Chính trị, mà hoàn toàn vì nghèo đói. Tuy nhiên hậu quả của nó có thể làm thay đổi những thể chế Chính trị.
Hoa kỳ đã bỏ ra 200 triệu đo-la để khẩn cứu Phi châu. Một Tường Trình quy tụ ý kiến của 400 nhà Khoa học Xã hội sẽ được trình bầy tại UNESCO tuần này với mục đích đề nghị một Chính sách thay đổi phân phối lương thực Thế giới.
Lý do chung của việc tăng giá thực phẩm
RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn chúng tôi về những lý do chính cho việc tăng giá thực phẩm. Chúng tôi phân tích những lý do chung này dưới bốn phương diện sau đây:
=> Phương diện cấu tạo giá thành hàng hóa
Ở phương diện này, chúng ta phải nói đến việc tăng giá dầu lửa như một nhiên liệu. Thực vậy, ít nhiều, ở thời đại này, nông nghiệp, ngư nghiệp được cơ giới hóa cho sản xuất. Khi nói cơ giới hóa (máy nổ), thì phải nói đến xử dụng năng lực dầu lửa (énergie pétrolìere).
Dầu lửa không phải chỉ cung cấp năng lực, mà còn cung cấp những sản phẩm được rút ra để xử dụng như vật liệu chất nhựa (plastique), những hóa chất căn bản. Tỉ dụ phân đạm Urea 46% N được sản xuất từ dầu lửa. Những dây thừng, lưới bằng dây nhựa cũng từ dầu lửa.
Việc chuyên chở thực phẩm để phân phối trên Thế giới cũng xử dụng năng lực dầu lửa.
Như vậy, khi giá dầu lửa tăng, thì tất cả những yếu tố xử dụng trên sẽ cấu thành giá thành của hàng hóa, của thực phẩm.
=> Phương diện giảm lượng cung thực phẩm
Một đàng giá thành thực phẩm tăng như trên đã nói, một đàng số lượng CUNG thực phẩm cho Thị trường giảm, thì đó càng làm cho lạm phát cao. Ba lý do chính sau đây cho thấy việc CUNG thực phẩm giảm đi:
* Những nhà nghiên cứu về việc hâm nóng khí hậu trái đất đều nhận định rằng việc hâm nóng này đã làm cho thu hoạch nông nghiệp giảm xuống.
* Để phản ứng lại việc tăng giá dầu lửa, những cố gắng sản xuất dầu chạy máy được khai triển từ thực vật, hột bắp chẳng hạn. Những nhà máy được thiết lập đển biến chế bio-carburant cho xe hơi. Những nhà máy này đã xử dụng tới 1/3 sản lượng hột bắp của Hoa kỳ.
* Tại những nước nghèo, tỉ dụ 37 nước mà FAO đã kể ra, các Chính phủ đã chủ trương công nghệ hóa một cách hỗn loạn và quên khía cạnh phát triển nông thôn để bảo đảm lương thực cho dân chúng. Việc công nghệ hóa hỗn loạn này nhằm phục vụ cho xuất cảng sang những nước giầu. Có hai hậu quả: (i) tình trạng chiếm đất trồng trọt cho khu công nghệ; (ii) nông dân bỏ nông nghiệp để trở thành thợ thuyền, một tình trạng exode rural làm nông nghiệp yếu kém đi.
=> Phương diện lạm phát tiền tệ
Hai phương diện trên đây cho thấy lý do thực của vật giá tăng, nghĩa là tăng giá thành và giảm số lượng cung ở Thị trường.
Tại những nước nghèo, với tham vọng công nghệ hóa bừa bãi của quyền lực Chính trị, việc lạm phát xẩy ra một phần khá quan trọng từ việc mất giá đồng tiền. Tỉ dụ điển hình là vào thập niên 80 tại các nước Nam Mỹ.
Trong Hệ thống Tiền tệ lấy vàng làm bảo chứng (Etalon-Or) hoặc lấy một Ngoại tệ mạnh làm căn bản (Etalon-Devise-Or), thì đồng tiền của những quốc gia nhỏ có điểm tựa để xoay quanh. Nhưng từ khi đồng tiền được định trên Khả năng Tiêu thụ (Pouvoir d’Achat), thì đồng tiền tùy thuộc vào tình trạng sản xuất và việc quản trị đứng đắn của khối tiền lưu hành hay không. Vật giá chỉ còn là một sự tương đương giữa con số của đồng tiền và hàng hóa:
MV ---- = P (MV= Khối lượng tiền lưu hành; T= sản lượng hàng hóa; P=Chỉ số giá) T
Nếu tăng khối lượng tiền lưu hành mà không tăng sản lượng hàng hóa, thì đồng tiền mất giá. Cũng vậy, nếu khối lượng tiền lưu hành giữ nguyên mà khả năng kinh tế cung cấp sản lượng hàng hóa yếu đi, thì đồng tiền cũng mất giá.
Ở những nước nghèo, kém mở mang, các Chính quyền, nhất là những Chính quyền độc tài, dễ xâm phạm vào lãnh vực tiền tệ làm tăng khối lượng lưu hành tiền tệ. Thực vậy, làm tăng khả năng sản xuất Kinh tế thì khó, nhưng làm tăng khối lượng lưu hành tiền tệ thì dễ, nên Nhà nước thường lấy phương tiện này để cung cấp cho chi tiêu bất chính.
Những người lĩnh lương cố định bị thiệt thòi bởi vì họ phải mua hàng hóa với đồng tiền đã mất giá, nghĩa là họ nhận được tương đương hàng hóa ít hơn. Đây là lạm phát tiền tệ.
Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài: ”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
=> Phương diện đầu cơ tích trữ
Trong thời kỳ giao động của giá cả, nhất là theo chiều hướng lạm phát, không thể nào không có tình trạng đầu cơ trích trữ đễ làm tăng thêm giá cả.
Ở những nước nghèo, việc làm Kinh tế, Thương mại là do thân cận, đặc quyền đặc lợi, Luật pháp làm ăn không được nghiêm minh sáng sủa, thì việc đầu cơ tích trữ hầu như không thể tránh được. Tại những nước này, các Chính quyền dễ độc đoán và mang hai cái tật khiến giới đầu cơ dễ hoành hành:
* Một đàng muốn mỵ dân để bảo vệ quyền hành, nên thường đặt những giá trần nhà (prix plafond) như để bảo vệ dân nghèo. Nhưng thực ra, tất cả những can thiệp của nhà nước (interventions etatiques) để đặt giá trần nhà đều mang đến hậu quả là kéo dài tình trạng chợ đen bởi vì cung luôn luôn yếu hơn cầu và do đó kéo dài tình trạng đầu cơ tích trữ, kéo dài tình trạng lạm phát.
* Mặt khác Nhà Nước phải tốn kém tăng cường kiểm soát mà việc kiểm soát này rất dễ bị tham nhũng hoành hành. Cuối cùng dân tiêu thụ phải chịu chi tiêu kiểm soát và phải trả tiền tham nhũng thay cho kẻ đầu cơ tích trữ.
Lý do vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn những nước khác
RFI (Radio France Internationale) hỏi đặc biệt chúng tôi về những lý do tại sao giá thực phẩm ở Việt Nam tăng cao nhiều hơn những nước khác, nhất là những nước chung quanh Việt Nam. RFI cũng hỏi tại sao Việt Nam là nước sản xuất gạo, mà giá gạo lại tăng lên cao như hiện nay.
Nhà nước Việt Nam luôn luôn dấu diếm việc vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn các nước khác. Nếu phải bàn đến lạm phát, thì Nhà Nước cũng chỉ nói đến lý do chung là giá dầu lửa tăng hoặc đưa ra lý do thiên tai tại Việt Nam. Thực ra, chỉ có mùa rét vừa rồi tại Miền Bắc là lý do thiên tai có thể thông cảm, nhưng một số lý do khác đang làm yếu kém Kinh tế Việt Nam là những lý do thuộc phát triển công nghệ bừa bãi của chế độ.
Trong bài Mở Đầu cho Loạt bài Chủ để: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC, chúng tôi đã nêu ra một con vi trùng nguy hiểm đã gậm nhấm Kinh tế Việt Nam không phải là gần đây, mà đã từng chục năm để dẫn đến tình trạng Lạm phát, Khủng hoảng đặc biệt. Con vi trùng ấy là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ của độc đảng, của thể chế độc tài về Chính trị và nắm trọn quyền can thiệp vào Kinh tế.
=> Những lý do hiện giờ đang làm yếu kém Kinh tế Việt Nam
Ba lý do hiện hành đang và sẽ gây yếu kém cho Kinh tế Việt Nam và do đó tăng lạm phát và khủng hoảng thêm:
* Nạn rét đầu năm 2008 phá hoại nông thôn Miền Bắc: trâu bò chết tới 180'000 con. Gia súc cũng thiệt hại nặng. Cây trồng bị chết cóng. Mùa màng chậm trễ và thiệt hại. Đây là lý do hoàn toàn thiên tai.
* Hai trận lũ lụt Miền Trung làm dân nghèo thêm và làm thiệt hại mùa màng. Việc chịu cảnh lũ lụt này phần lớn là do yếu tố nhân sự: khai thác quá đáng cây rừng tại vùng Cao Nguyên Trung phần để không còn khả năng chận nước.
* Hiện nay, tôm cá tại đồng bằng Sông Cửu Long bị chết từng loạt. Đây là hậu quả của việc thải chất độc từ tình trạng công nghệ hóa bừa bãi.
=> Con vi trùng Tham nhũng, Lãng phí hoành hành
Con vi trùng này là hậu quả của độc đảng, của thể chế Chính trị độc tài, của việc nắm trọn quyền Kinh tế. Những sinh hoạt Kinh tế, nếu có phát triển, thì kết quả cũng nằm vào túi một nhóm người: đảng, con cháu đảng, thân cận đảng. Đó là nền Kinh tế bóc lột Nhân lực và Tài nguyên Việt Nam. Ngày nào còn độc đảng, độc tài Chính trị và độc đoán nắm quyền Kinh tế, thì con vi trùng Tham nhũng, Lãng phí tự động nẩy sinh và làm thiệt hại sự phát triển Kinh tế.
Chúng ta có thể kể ra những tác hại của con vi trùng ấy ở những việc sau đây:
* Những dự án bừa bãi. Cách đây nhiều năm, chúng tôi đã có dịp thảo luận về những dự án ở Việt Nam. Những quan chức, những người có công đánh nhau... thi nhau đưa dự án để lấy tiền Nhà Nước thi công dự án. Đối với mỗi dự án, các quan chức chủ dự án có thể cắt xén một phần vào túi riêng cho mình. Đảng làm ngơ và coi đây là việc thưởng công đã đánh trận
* Năng suất kém của những Công ty Nhà nước (đảng). Thực vậy, Công ty Nhà Nước không cần cạnh tranh, do đó năng suất kém. Có thua lỗ, thì đã có vốn Nhà Nước bù vào. Mới ngày hôm nay, khi nói về Hậu quả từ các dự án công, Oâng Mặc Lâm đã hỏi Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: “Thưa Tiến Sĩ, gần đây ông có đưa ra đề nghị là nên giảm những dự án công không hiệu quả vì những dự án này đã góp phần vào cơn sốt lạm phát hiện nay. Xin ông vui lòng cho biết thêm chi tiết về vấn đề này“. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh trả lời:“Từ trước đến nay thì nhà nước Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong việc đầu tư. Tỷ trọng đầu tư của nhà nước khoảng 50% tổng đầu tư của nguồn vốn xã hội và so với lại tổng mức đầu tư của Việt Nam là khoảng 40% GDP thì nguồn vốn đầu tư của nhà nước chiếm khoảng một nửa, tức là khoảng dộ 20-21% GDP, trong đó thì có phần vốn ngân sách và có nguồn vốn ODA, và cũng có nguồn vốn bán trái phiếu chính phủ ở trong nước và ngoài nước.... Hiện nay kinh tế quốc doanh chiếm 38% GDP , nhưng sử dụng tới 50% số vốn đầu tư của ngân sách và 70% tín dụng, nhưng chỉ tạo ra được độ 8 tới 9% công ăn việc làm mà thôi.“
* Năng suất đã kém, các Công ty Nhà Nước còn lãng phí. Oâng Cư Hòa Vần, Phó Chủ tịch MTTQ, đặt vấn đề: Có phải lãng phí tràn lan ở các địa phương chính là một trong những yếu tố gây lạm phát? Oâng nói:"Có những tỉnh còn nghèo, thu ngân sách chưa đến 100 tỷ đồng nhưng làm hội trường mất đến 200 tỷ. Đường vành đai chỗ nhà tôi ở làm 20 năm rồi, qua 3 nhiệm kỳ Thủ tướng rồi vẫn chưa xong, gây lãng phí vô cùng....Miền núi rất nghèo nhưng nghe nói có chủ tịch, bí thư có ghế trị giá 20 triệu đồng. Một số lãnh đạo khi về hưu có "cơ sở" hết ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, mua xe riêng không kém sang trọng so với xe công thời đương chức. Có phải tất cả những điều này khiến lạm phát không?"
* Nhập siêu tăng vùn vụt tới 17 tỉ đo-la làm mất thăng bằng cán cân thương mại. Nếu nhập siêu với tiền Nhà Nước, thì dễ tăng giá lên mà mua để giữ số tiền cắt xén tại nước ngoài. Các quan chức VN làm ngược nguyên tắc Kinh tế: ”Muốn mua hàng với giá cao, chứ không chịu mua giá thấp !”
* Tình trạng lạm phát tiền tệ do Chính trị Nhà Nước chủ trương đã làm mất giá đồng tiền Việt Nam. Một bản phúc trình cho thấy rằng tổng kết tăng trưởng từ năm 2004 đến nay chỉ khoảng 30%, nhưng lạm phát tiền tệ lên tới 200%. Lạm phát tiền tệ đã quá mạnh. Việc lạm phát này là do Nhà Nước bao thầu các Dự án bằng phát hành Tiền tương lai (Monnaie virtuelle) và in Tiền mới ra để chi tiêu.
* Việt Nam không thể thiếu gạo, nhưng Nhà Nước xuất cảng để thu tiền không phải là để phát triển nông nghiệp, nhưng là cho vào những dự án công nghệ bừa bãi để các quan chức dễ bề cắt xén và lãng phí.
* Sau cùng, tình trạng đầu cơ tích trữ, tự tăng giá sản phẩm của các Công ty quốc doanh không thể tránh để bù đắp vào những thua lỗ do thiếu năng suất của mình và do lãng phí chi tiêu quá đáng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | Bài 02:
CSVN CHỮA KHỦNG HOẢNG KT/TC NGOÀI DA MÀ KHÔNG CHỮA NỘI THƯƠNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 24.04.2008 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
Trong bài MỞ ĐẦU cho loạt bài Chủ đề này, cùng với Nhận định khúc chiết của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, chúng tôi đã nói rằng cái căn nguyên của nguyên nhân Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh đặc biệt cao hơn hết của Việt Nam là ở con Vi Trùng sinh ra từ Độc tài Chính trị độc đảng nắm trọn nền Kinh tế Việt Nam. Những biện pháp đưa ra để chữa trị Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh hiện nay của Nhà Nước chỉ là chữa trị ngoài gia như thoa dầu cù là để mỵ dân hoặc để chứng tỏ mình có chạy chữa thuốc thang. Ngay cả những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế của chế độ nhận định về những thang thuốc của Nhà nước độc tài CSVN, nhưng họ không dám chỉ đích danh con Vi trùng vì vẫn phải giữ nồi cơm riêng của họ. Chỉ trừ Tiến sĩ Lê Đăng Doanh có những đề nghị có phần can đảm, nhưng Tiến sĩ vẫn phải dè chừng với chế độ côn đồ CSVN có thể làm khó dễ Oâng.
Tuy vậy, qua những nhận định mang yếu tố lệ thuộc vào chế độ mà không dám nói sự thật, chúng tôi đã nhận thấy những điểm sau đây:
=> Qua phát biểu của Mặt Trận Tổ Quốc, chúng tôi thấy rằng Nhà Nước không thèm quan tâm đến đời sống của đại đa số Dân nghèo Việt Nam với khả năng nổi dậy vì quyền Dạ Dầy mà quét sạch Chính quyền dù là độc tài khát máu.
=> Qua 7 điểm tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, người ta thấy rằng Nhà Nước khẳng định có những Dự án hỗn loạn để tiêu xài Ngân quỹ Quốc gia từ nhiều năm nay. Đó là nguyên nhân của Lạm phát và Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh.
=> Việc nhập siêu làm mất cân bằng cán cân thương mại là nguồn ăn bẩn của đảng CSVN. Nhập siêu tăng vọt tới 17 tỉ đo-la rồi.
Những điểm chính yếu trên mà Nhà Nước CSVN muốn chữa trị chỉ là ngoài da như thoa dầu cù là hay cạo gió. Cái điểm căn bản để chữa trị, đó là con vi trùng của căn bệnh, đó là việc ĐỘC ĐẢNG, ĐỘC QUYỀN CHÍNH TRỊ và TOÀN QUYỀN NẮM GIỮ KINH TẾ. Những độc quyền đó đánh đĩ với nhau để lòi ra con Vi Trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng nền Kinh tề Việt Nam đã bao năm trường để có tình trạng Lạm phát và Khủng hoảng ngày nay.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài 03:
DÂN OAN CHỈ RÕ CHO CSVN BIẾT ĐÂU LÀ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 01.05.2008 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
Xin quý độc giả hãy vào Web: http://www.vietnamexodus.org/vne/ để nghe tiếng nói của Dân Oan xỉa xói thẳng vào đảng CSVN và chế độ về tình trạng bệnh hoạn, khủng hoảng KT/TC hiện nay là do con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ được sinh ra từ việc đánh đĩ giữa độc tài Chính trị và độc đoán nắm quyền Kinh tế cho đảng. Tôi nói xỉa xói, đó là còn nhẹ, nhưng nếu độc giả xem hình ảnh những Bà Mẹ Dân Oan la thét, chửi thẳng nhân viên trung ương Phòng chống tham nhũng là những người ăn khí huyết của các Bà, rồi đồng thanh hô to rằng phải giải tán Ban Chỉ Đạo Trung ương Phòng Chống Tham Nhũng mà Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu, thì mới thấy sự uất ức của Dân Oan. Các Bà nói toặc móng heo ra, chửi bới, la hò, không nể nang gì nữa.
NHỮNG TIẾN SĨ KINH TẾ NGU MUỘI HAY HÈN NHÁT
Những Bà Mẹ Dân Oan này không cần phải học đến Cử Nhân, Tiến sĩ Kinh tế từ Đại Học Kinh tế Hà Nội, từ Uùc, Pháp, Mỹ. Các Bà đến từ những vùng quê hẻo lánh, nhưng các Bà thông suốt rằng cái căn bệnh Khủng hoảng Kinh tế, làm cho người nghèo càng nghèo đến cùng cực, đó là Tham nhũng và Lãng phí mà chế độ hiện hành đã đánh đĩ để đẻ ra.
Từ ngày 28.2.2008, cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh chính thức diễn ra. Những Tiến sĩ Kinh tế được Nhà Nước nhóm họp để tìm những nguyên nhân, để kiếm thuốc chữa trị. Nhưng không Tiến sĩ nào tìm ra và nói cho chế độ biết rõ cái căn bệnh như Bà Mẹ Dân Oan đã nói thẳng ra.
=> Những dự án được viết ra giống như in Ronéo từ Trung ương tới các Tỉnh. Nhà Nước CSVN lấy công quỹ hoặc qua lạm phát tiền tệ để thực hiện dự án.
=> Việc nhập siêu đang làm mất thăng bằng cán cân Thương mại quốc gia
=> Nhân danh công nghệ hoá bừa bãi, Trung ương và các Tỉnh thi nhau trưng dụng đất đai, ngay cả những ruộng vườn trồng lúa, trông cây ăn trái.
Qua những dự án, qua việc nhập siêu, qua trưng dụng đất đai, thì những đảng viên, nhất là cao cấp, mới có cơ hội cắt xén của chung vào túi riêng của mình. Tại sao những Tiến sĩ, Cử Nhân Kinh tế không nhìn thấy rằng đầu óc những đảng viên được chấp thuận dự án, được phép nhập siêu, được trưng dụng đất đai, ngày đêm nghĩ đến việc ăn bẩn được bao nhiêu cho riêng mình, nghĩa là cái con vi trùng THAM NHŨNG nằm trong tim đen của mỗi đảng viên vừa nắm quyền độc tài Chính trị vừa dành độc đoán Kinh tế ?
Nếu những Tiến sĩ, Cử nhân Kinh tế ấy không nhìn thấy cái căn bệnh của Lạm phát, của Khủng hoảng Kinh tế Tài chánh, đó là ngu dốt. Nhưng nếu không ngu, đã nhìn thấy tỏ tường mà không dám nói thẳng ra, đó là hèn nhát, sợ mất miếng cơm chính cho bản thân mình.
NHỮNG BÀ MẸ DÂN OAN THÔNG MINH VÀ CAN ĐẢM
Như chúng tôi đã nói ở phần đầu, các Bà Mẹ Dân Oan không cần phải đi Tây, đi Tầu, đi Mỹ gì cả để học lấy những bằng cấp cho cao. Các Bà chỉ ngồi ở nhà quê trồng ngô khoai, mà các Bà đã nhìn thấy rõ cái căn nguyên gây Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế Tài chánh. Đó là con vi trùng Tham nhũng, Lãng phí đang gây bệnh tật cho Dân tộc, cho chính thân xác các Bà. Những Cử nhân, Tiến sĩ Kinh tế, nếu ngu muội, thì hãy lắng nghe bài học của các Bà Mẹ Dân Oan dậy cho.
Còn nếu không ngu muội, thì hãy nhìn gương các Bà dám nói lên sự thật. Qua việc đồng thanh cất lên tiếng nói, yêu cầu giải tán Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng, các Bà muốn trị thẳng vào cái con trùng đang làm cho Đất Nước thiệt hại, cho Dân tộc đau khổ. Các Bà cắt nghĩa đơn giản và vào thẳng vấn đề:
=> Phòng Chống Tham nhũng không phải là chỉ bất lực không giải quyết được sự bất công, mà lại còn nhận tham nhũng của những kẻ đã tham nhũng để cúi gầm mặt câm như hến, để tham nhũng càng chồng chất.
=> Vậy thì hãy giải tán ngay Ban Chỉ Đạo cái Phòng Chống Tham nhũng này mà chính Nguyễn Tấn Dũng nắm đầu.
Xin nhắc lại cái con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ là quái vật do dự giao cấu điếm đàng giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế. Phải tách rời quyền Chính trị ra khỏi quyền Kinh tế để chúng đừng đánh đĩ với nhau mà sinh ra quái vật THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Các Cử nhân, Tiến sĩ Kinh tế cố vấn hãy can đảm như những Bà Mẹ Dân Oan mà nói thẳng với chế độ cái việc giao cấu điếm đàng giữa độc tài Chính trị và việc nắm quyền độc đoán Kinh tế.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài 04:
DŨNG & QUỐC HỘI CỐ TÌNH NÉ TRÁNH CĂN BỆNH NỘI TẠNG KINH TẾ/TÀI CHÁNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 08.05.2008 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
Ngày 28.02.2008, Nhà Nước CSVN đành phải nói ra rằng Kinh tế/Tài chánh Việt Nam đang bị nóng lạnh, sổ mũi nhức đầu và tìm cách để chữa trị. Đầu tiên, Nguyễn Tấn Dũng, tại Việt Nam cũng như tại Luân Đôn, đã tìm cách đổ lỗi cho cuộc Khủng hoảng Tín dụng Địa ốc Hoa kỳ và việc tăng giá dầu lửa. Một số Tiến sĩ Kinh tế quốc doanh phụ họa theo trong chiều hướng đổ lỗi ấy.
Họp Bộ Tài Chánh, Ngân Hàng Nhà Nước VN, rồi Nội các để tìm cách chữa trị. Dũng viết ra đơn thuốc gồm 8 vị thuốc. Các Tiến sĩ quốc doanh rồi Báo Đài bồi bút ca tụng như thuốc tiên, chứ không thuộc lại thuốc tễ bằng cơm khô của mấy chú chệt.
Nếu chỉ nóng lạnh, sổ mũi nhức đầu, thì dùng dầu cù là thoa bóp hoặc cạo gió thì cũng bớt đi. Già lắm đau bụng ỉa chảy do đồ thừa Trung cộng thải xuống, thì thậm chí hái lá thúi địt (lá mơ) tráng trứng ăn cũng cầm được.
Nhưng bệnh càng gia tăng và trầm trọng hơn. Một số Kinh tế gia như Roger Mitton..., nhất là Quỹ Tiền Tệ Quốc tế và Ngân Hàng Thế Giới đã cảnh cáo rằng đây không phải là sổ mũi nhức đầu thường, hoặc chỉ ỉa chảy do đồ thừa Trung cộng, mà là căn bệnh trong nội tạng của Kinh tế Việt Nam.
Ngày 06.05.2008, Dũng gặp gỡ Quốc Hội và đọc bài diễn văn đồng thời phải nghe một số những chất vấn của Dân Biểu Quốc Hội (dù là nghị gật). Dũng không còn hung hăng khoác lác đổ lỗi bệnh cho Hoa kỳ và giá xăng nữa. Bài diễn văn và những chất vấn đi vào chiều sâu hơn của cơn bệnh.
NHỮNG PHÁT HIỆN CỦA CƠN BỆNH
Dũng và Quốc Hội đành phải nói ra những phát hiện trầm trọng của cơn bệnh.
Trong bài diễn văn, Dũng đành phải đề cập đến những điểm sau đây:
=> “... hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng, đặc biệt trong kiểm tra, giám sát hoạt động các ngân hàng thương mại còn kém hiệu quả, để các ngân hàng cho vay kinh doanh chứng khoán và bất động sản, sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn...“
=> “... chi đầu tư từ khu vực nhà nước vẫn còn lớn nhưng hiệu quả thấp. ...tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% đã được giữ liên tục trong nhiều năm trong khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn nhưng chưa đặt ra kế hoạch phấn đấu giảm dần bội chi..“
=> “... vai trò nhà nước trong quản lý thị trường (trong đó có thị trường chứng khoán, bất động sản) còn yếu kém...”
Về thuốc chữa, ông nói: => “Yêu cầu khẩn thiết nhất là thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ hiệu quả theo hướng tiết kiệm chi, đặc biệt chi thường xuyên và kiểm soát đầu tư công, giảm dần bội chi ngân sách.“
Các Đại biểu Quốc Hội nêu nhận xét:
=> Bà Phạm Thị Loan: “Chính phủ đã nhận ra nhiều thiếu sót, những yếu kém của nền kinh tế, tuy nhiên, các giải pháp đưa ra mới chỉ dừng lại ở trạng thái xử lý tình huống và giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt chứ chưa triệt để, lâu dài.... QH phải bàn thật sâu vấn đề các tập đoàn kinh tế đã bỏ một lượng vốn lớn của Nhà nước vào bất động sản và chứng khoán, trong khi đó không phải là chức năng của họ. Chính phủ phải kiểm tra xem họ mua vào mấy "chấm", nay không còn "chấm" nào thì lỗ bao nhiêu, ai chịu"
=> Oâng Nguyễn Ngọc Đào: “Thị trường chứng khoán là một thất bại thảm hại, lỗi quản lý thuộc về ai? Báo cáo Chính phủ nêu các khó khăn khách quan như thị trường thế giới, thiên tai... Nhưng chả lẽ cứ lấy lý do mãi như thế?... Chính phủ phải làm rõ nguyên nhân chủ yếu khiến lạm phát là gì, trách nhiệm các bộ, ngành, thậm chí của cá nhân các Bộ trưởng ra sao, không thể cứ thỏa hiệp thế này mãi"
=> Oâng Trần Du Lịch: “Đề nghị CP chấm dứt bảo lãnh tín dụng, bao cấp cho tập đoàn nhà nước. Chẳng hạn riêng Vinashin đã được bao cấp vay 750 triệu đôla vốn trái phiếu"
=> Bà Trần Thị Quốc Khánh: “Nhiều tập đoàn đã được Nhà nước ưu đãi quá nhiều, Chính phủ đã nhận ra nhưng chỉ nói "kiểm soát chặt chẽ" việc đầu tư không đúng ngành nghề. Tại sao không nghiêm cấm luôn để từ nay họ không còn dám đem tiền của dân làm những việc theo ý muốn của một nhóm người?
=> Oâng Nguyễn Duy Hữu: “... trong đợt sốt gạo "ảo" vừa qua, một đại lý bán gạo "khoe" mỗi ngày kiếm được 400 triệu đồng tiền lãi, người buôn bán lẻ chí ít cũng thu được 50 triệu. Chính phủ phải có tiếng nói mạnh mẽ, đánh giá tổng thể về tất cả chương trình nhà nước về nông nghiệp - nông dân - nông thôn. Giá gạo tăng có thể xem như một tiếng sét, để Chính phủ có thể thức tỉnh trong thái độ đối xử với nông dân"
Tất cả những lời nói ra trên đây của Dũng cũng như của một số Dân biểu Quốc Hội mới chỉ là nhận xét về sự phát hiện của cơn bệnh Lạm phát, Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay. Nhưng đàng sau những phát hiện bề nổi ấy, phải có một thứ vi trùng sinh ra những phát hiện của cơn bệnh. Cả Dũng và Dân biểu tránh né không dám nói rõ ra tên con vi trùng đã và đang hoành hành để phát hiện ra bề nổi của cơn bệnh. Họ tránh né nói ra tên như sợ phạm húy vậy hoặc chính từng người trong họ đang mang con vi trùng ấy nên không dám nói ra vì sợ hổ thẹn.
TÊN CON VI TRÙNG ẤY LÀ THAM NHŨNG VÀ LÃNG PHÍ
Thực vậy, xin độc giả lấy bất cứ câu nói nào trên đây diễn tả phát hiện của cơn bệnh, thì đều thấy đàng sau câu nói ấy, con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ngồi chồm hổm một đống. Tỉ dụ, khi Dũng nói: “... chi đầu tư từ khu vực nhà nước vẫn còn lớn nhưng hiệu quả thấp. ...tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% đã được giữ liên tục trong nhiều năm“. Nhà Nước chi nhiều mà hiệu quả thấp, rồi bội chi 5% từng năm đã nhiều năm rồi, thì đó là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ chứ gì. Cũng vậy, khi Bà Trần Thị Quốc Khánh nói: “Nhiều tập đoàn đã được Nhà nước ưu đãi quá nhiều, Chính phủ đã nhận ra nhưng chỉ nói "kiểm soát chặt chẽ" việc đầu tư không đúng ngành nghề. Tại sao không nghiêm cấm luôn để từ nay họ không còn dám đem tiền của dân làm những việc theo ý muốn của một nhóm người?" Con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ nằm chình ình trong sự phát hiện cơn bệnh như vậy.
Con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ được sinh ra trong điều kiện nào ?
=> Điều kiện ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ. Thực vậy, nếu không có độc tài chính trị, mà đi Lãng phí, ăn bẩn Tham nhũng, thì người ta vặn cổ đi cho chết yểu rồi. Phải có độc tài chính trị, xử dụng Công an để dưới chiêu bài ổn định chính trị mà bóp họng người khác.
=> Điều kiện ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Tham nhũng và Lãng phí thuộc về Tiền bạc, của cải, Kinh tế. Dành độc quyền Kinh tế thì mới vơ vét được nhiều tiền bạc.
=> Điều kiện ĐÁNH ĐĨ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để đẻ ra con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Tôi chủ ý dùng chữ đánh đĩ, chứ không phải tôi nói tục. Không thể dùng chữ giao cấu, mà phải dùng chữ đánh đĩ vì hai người đánh đĩ với nhau để đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG LÃNG, còn tìm cách lừa đảo nhau nữa. Nếu độc tài Chính trị mà sống độc thân, thọ thọ bất thân với Kinh tế, thì không thể sinh ra Tham nhũng, Lãng phí. Cũng vậy, nếu Độc quyền Kinh tế không có hoặc không được Độc tài Chính trị bảo trợ, thì làm sao làm Tham nhũng, Lãng phí bởi vì đụng đến tiền bạc người khác, họ vặn cổ đi. Phải có việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế thì mới đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | Bài 05:
CHỐNG THAM NHŨNG LÀ TRÒ HỀ, PHẢI DIỆT QUYỀN LỰC ĐÁNH ĐĨ ĐẺ RA THAM NHŨNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 15.05.2008 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG khi viết về tình trạng Kinh tế hiện nay, đã nhấn mạnh đến việc đi tìm cái NGUYÊN NHÂN của các nguyên nhân Lạm phát để mà chữa. Gần nửa năm nay, tôi viết về vấn đề Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh. Khủng hoảng thực sự đã đang diễn ra tại Việt Nam kể từ ngày 28.02.2008. Nhà Nước CSVN chỉ loay hoay thoa bóp ngoài da mà không dám can đảm chữa trị vào chính căn bệnh nội thương từ chế độ: Tham nhũng và Lãng phí. Tuần vừa rồi, Dân Oan tại Hà Nội đã thẳng thắn hô lớn lên rằng phải giải tán Ban Chỉ Đạo chống Tham nhũng mà Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu.
Trò hề chống Tham nhũng
Những nhận xét trên đây cho thấy rằng việc hô hào chống Tham nhũng chỉ là trò mỵ dân che đậy cho một tình trạng thối nát đã lâu đời mà chính CSVN sợ hãi không dám nói ra.
Đầu tuần này, quyền lực CSVN đã bắt hai Nhà Báo can đảm phanh phui ra vụ Tham nhũng PMU 18. Linh mục CHÂN TÍN đã không ngần ngại tuyên bố rằng việc chống Tham nhũng của CSVN chỉ là một TRÒ HỀ.
Linh mục viết:” Vào thời điểm vụ PMU 18 nổ ra, hai nhà báo nói trên đã tham gia tích cực đưa tin về vụ án này. Hai anh đã “thường trực 24/24 tại mọi nơi từ nhà riêng đối tượng tình nghi đến trực chiến tại cổng Cơ quan điều tra C14, mở mọi mối quan hệ từ các nguồn tin,“ chỉ với một mong muốn: Vụ án sẽ được làm đến cùng, những kẻ sâu mọt tham nhũng tiền thuế của dân sẽ bị trừng trị nghiêm khắc” (TN 13.05.2008). Lẽ ra Nhà Nước phải mạnh tay để loại trừ tham nhũng, coi như quốc nạn của chế độ CSVN, thì nay Đảng và Nhà Nước lại tiếp tay cho bọn tham nhũng hàng đầu, bằng cách bắt giam hai nhà báo được nhiều uy tín trong công cuộc chống tham nhũng.“
Linh mục kết luận:” Với việc bắt giam hai nhà báo hàng đầu trong việc đấu tranh chống tham nhũng, Nhà Nước chứng tỏ việc chống tham nhũng chỉ là một trò hề. Những người có chức có quyền sống trên xương máu của người dân muốn dẹp hẳn phong trào này, biến phong trào này thành một thứ trang trí cho chế độ, chứ không muốn dẹp quốc nạn.“
Cái trò hề là ở chỗ: Nhà Nước hô hào chống Tham nhũng để mỵ dân, nhưng khi Dân chống Tham nhũng thực sự, thì CSVN lại sợ Dân khui ra cả đảng vì đứa nào cũng tham nhũng. Dân oan có lý để la hò giải tán Ban Chỉ Đạo Chống Tham nhũng vì Ban này là trò tếu, trò hề và trò đểu tại vì chính Ban chống Tham nhũng lại không muốn cho người ta chống Tham nhũng.
Tham nhũng là những bãi phân lộ diện, phải diệt con trùng ỉa ra bãi phân mới được
Riêng phần tôi, tôi không quan tâm nhiều đến việc chống tham nhũng hay không chống tham nhũng. Khi Nhà Nước CSVN hô hào chống tham nhũng hay dùng biện pháp diệt những người dám chống tham nhũng, tôi coi là thứ yếu, là tếu là trò hề, là đểu cán. Điều mà tôi quan tâm chính yếu là phải diệt cái nguyên nhân tham nhũng.
Tôi coi tham nhũng, lãng phí là những bãi phân, khi thì vùi kín đi được, khi thì để lộ ra để người ta thấy mà chống. Bãi phân được dấu kín hay sơ hở để lộ ra không phải tự nhiên mà có những bãi phấn ấy. Phải có người ỉa ra thì mới có bãi phân. Điều quan trọng đối với tôi không phải là những bãi phân, mà chính là người ỉa ra những bãi phân đó. Muốn diệt Tham nhũng và Lãng phí, không phải là đi hốt những bãi phân để lộ ra, mà phải diệt chính những tên ỉa ra những bãi phân ấy.
Trong bài QUAN ĐIỂM tuần trước, chúng tôi đã viết về những điều kiện sinh ra Tham nhũng, Lãng phí như sau:
=> Điều kiện ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ. Thực vậy, nếu không có độc tài chính trị, mà đi Lãng phí, ăn bẩn Tham nhũng, thì người ta vặn cổ đi cho chết yểu rồi. Phải có độc tài chính trị, xử dụng Công an để dưới chiêu bài ổn định chính trị mà bóp họng người khác.
=> Điều kiện ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Tham nhũng và Lãng phí thuộc về Tiền bạc, của cải, Kinh tế. Dành độc quyền Kinh tế thì mới vơ vét được nhiều tiền bạc.
=> Điều kiện ĐÁNH ĐĨ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để đẻ ra con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Tôi chủ ý dùng chữ đánh đĩ, chứ không phải tôi nói tục. Không thể dùng chữ giao cấu, mà phải dùng chữ đánh đĩ vì hai người đánh đĩ với nhau để đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG LÃNG, còn tìm cách lừa đảo nhau nữa. Nếu độc tài Chính trị mà sống độc thân, thọ thọ bất thân với Kinh tế, thì không thể sinh ra Tham nhũng, Lãng phí. Cũng vậy, nếu Độc quyền Kinh tế không có hoặc không được Độc tài Chính trị bảo trợ, thì làm sao làm Tham nhũng, Lãng phí bởi vì đụng đến tiền bạc người khác, họ vặn cổ đi. Phải có việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế thì mới đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ vậy.
Trong ba điều kiện trên đây, tôi đặc biệt lưu ý đến việc ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế. Chính việc đánh đĩ này mới đẻ ra Tham nhũng, Lãng phí. Phải tách rời hai phương diện ra, không cho chúng chung đụng để ĐÁNH ĐĨ mà đẻ ra quái thai Tham nhũng, Lãng phí.
Hốt những bãi phân tham nhũng, lãng phí, đó chỉ là nhất thời, giai đoạn. Nhưng trong trường kỳ, những người ỉa ra những bãi phân vẫn còn đó, thì chúng tiếp tục ỉa ra những bãi phân để phải hô hào đi hốt nữa. Cũng vậy, nếu diệt những quái thai tham nhũng, lãng phí, mà không diệt tận gốc việc ĐÁNH ĐĨ giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế, thì quái thai lớn bé còn nhung nhúc lòi ra do việc ĐÁNH ĐĨ này.
Tỉ dụ thay Kết luận: Bắt sâu dâu
Nhà ai nuôi tằm lấy tơ, thì thường có vườn dâu để lấy lá cho tằm ăn. Trong ruột cây dâu, có thể có con sâu dài tới gần bằng ngón tay út. Bắt được con sâu ấy, đem nướng mà ăn, thì thật thơm ngon. Người ta cũng bắt sâu dâu để ngâm rượu uống cho bổ.
Nhưng làm sao biết được cây dâu nào có con sâu trong cả một vườn dâu chừng mấy ngàn cây?
Con sâu dâu sống trong cây dâu, chứ không bò ra ngoài để mình bắt. Nó đào trong ruột cây dâu thành một đường mương để ăn hết nhựa dâu từ gốc ăn lên. Muốn biết cây dâu nào có con sâu, thì xem những bãi phân mà nó đùn ra ngoài rơi xuống gốc cây dâu. Xem những bãi phân đùn ra ngoài, thì biết ở trong có con sâu và con sâu này lớn cỡ nào.
Nếu chỉ hốt những bãi phân đùn ra, thì cứ phải hốt hoài, nghĩa là sâu vẫn tiếp tục ăn nhựa cây dâu để ỉa ra những bãi phân. Để chấm dứt việc sâu ăn nhựa cây dâu cho đến tàn héo và để đỡ mệt công hốt phân dâu, thì phải bắt chính con sâu nằm trong lòng cây dâu ấy.
Thường buổi sáng, sâu dâu theo đường mương trong lõi cây từ gốc và mò lên cao. Vì vây sáng sớm, ra cây dâu có phân, dùng dao thật sắc, chém gần gốc dâu cho đứt cây dâu. Sâu chưa kịp chạy xuống gốc để núp. Lúc ấy chẻ thân cây dâu ra, thì bắt được sâu.
Gốc dâu còn lại mà không còn con sâu nữa, có thể mọc lên những cây dâu con không có sâu và tươi tốt. Phải diệt hẳn con sâu thì mới cứu được cây dâu để sinh ra cây nhỏ vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài 06:
BÀ MẸ DÂN OAN TỤT QUẦN CHỬI QUÁI THAI CSVN THAM NHŨNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 22.05.2008 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
Dân Oan không còn nhà để che mưa nắng, không còn mảnh đất nhỏ để trồng rau cỏ mà ăn. Bị CSVN côn đồ ăn cướp hết, tất nhiên dân nghèo phải nổi xùng. Qua những năm từng làm đơn khiếu kiện mà không có giải quyết, thậm chí không được trả lời, tất nhiên dân nghèo phải xùng và xỉa xói mắng chửi đám côn đồ quái thai tham nhũng.
Những hình ảnh xỉ vả mắng chửi quái thai tham nhũng
Không cần phải biện luận dài dòng nữa, mà Dân Oan hoàn toàn có lý để mắng chửi đám côn đồ CSVN. Xin quý độc giả vào những Diễn Đàn sau đây để thấy hình ảnh Dân Oan hết còn nể nang đám côn đồ:
http://www.youtube.com/watch?v=Er0nlp5lXXk http://www.vietnamexodus.org/vne/
Xem hình ảnh, nghe những lời mắng chửi kẻ người mang chức tước, tự coi mình là kẻ sang, có quyền thế, tôi nhớ đến câu tục ngữ:”Miệng kẻ sang có gang có thép, Đồ kẻ khó vừa lọ vừa lem”. Tục ngữ ví cái mồm của kẻ có quyền thế giống như cái “đồ” của đàn bà nhà quê nghèo khó vừa lọ lem chứ không được xịt nước bông. Ví như vậy là hạ nhục những kẻ dùng mồm, cậy có công an hung dữ đàn áp, mà quát tháo bất công ra điều gang thép.
=> Dân Oan mắng chửi đòi giải tán Ban Chỉ Đạo Trung ương Chống Tham nhũng mà Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu. Đây là điều xỉ vả, hạ nhục công khai đứa đứng đầu đám côn đồ ăn cướp. Thủ tướng phải biết nhục !
=> Dân Oan biểu tình, mắng chửi cả Quốc Hội là bù nhìn. Những Nghị gật không biết nhục hay sao !
=> Một bà mẹ Dân Oan, giữa công chúng và trước Trụ sở của Nhà Nước, đạ tụt quần xuống để khinh bỉ cả đám côn đồ CSVN quái thai tham nhũng đã ăn cướp nhà đất của bà và còn nhận thêm tham nhũng với nhau để che đậy cho nhau.
Thực đây là những xỉ nhục cho cả đám côn đồ cướp bóc và cho cả dòng họ con cái cháu chắt của đám quái thai tham nhũng. Chúng ngày đêm tửu lầu ăn chơi, dùng tiền cướp dựt được để tụt quần đàn bà con gái, rồi cho con cái ra nước ngoài giữ tiền bạc ăn cướp được.
Sự nhục nhã của bầy luồn trôn đám quái thai tham nhũng
Bầy luồn trôn đám quái thai gồm cả một số Lãnh đạo Tôn giáo, gồm lũ chính khách nhăm nhe nhẩy bàn độc, gồm tụi luồn cúi làm ăn bất nhân với kẻ cướp.
Đám giáo gian quốc doanh hãy xem hình ảnh bà mẹ Dân Oan tụt quần hạ nhục quan thầy của mình mà mình từng theo hùa nịnh bợ, ca tụng như kẻ sang có gang có thép, ngày đêm có công an dùng vũ lực hộ tống. Không còn nghĩ đến những giá trị Tôn giáo nữa, mà chỉ đi ca tụng, nịnh bợ đám quái thai tham nhũng, coi chúng như quan thầy. Không biết nhục hay sao.
Lũ chính khách nhăm nhe nhẩy bàn độc. Chiêu bài hòa giải hòa hợp chỉ là việc che đậy cho lòng hám danh. Không thể có hòa giải hòa hợp vì chính CSVN không muốn hòa giải hòa hợp với chính Dân. Lũ chính khác này chỉ có thể là chính khách gật, vâng dạ theo CSVN để mong kiếm chút danh hão. Đám côn đồ CSVN không bao giờ để cho lũ chính khách này có thực quyền. Ngược lại, chiêu bài hòa giải hòa hợp chỉ là sợi dây thung mà lũ chính khách gật dâng cho CSVN để chúng trói buộc Dân co dãn và lâu dài hơn. Hãy để cho côn đồ CSVN tiếp tục trói buộc Dân bằng dây thép để đến ngày già néo đứt dây. Ngày đó sắp tới. Việc dâng dây thung hòa giải hòa hợp để CSVN trói buộc Dân co giãn và lâu dài hơn là một tội lỗi mà lũ chính khách này đang phạm đối với Dân. Hòa giải hòa hợp là một sự phản bội của lũ chính khách hòa giải hòa hợp vậy.
Có những tên làm ăn, vì miếng ăn tủi nhục bất chính do CSVN thẩy xuống, mà đám làm ăn này phải qụy lụy gian dối, cúi đầu luồn trôn những quái thai tham nhũng lãng phí. Chúng cũng xứng đáng để bà mẹ Dân Oan chụp váy đụp lên đầu.
Bà mẹ Dân Oan tụt quần để xỉ và đám quái thai CSVN tham nhũng và cả dòng họ con cháu của chúng tiêu xài tiền trên xương máu của Dân nghèo. Con cháu của đám quái thai đang sống sang trọng hoang phí tại nước ngoài. Và việc tụt quần của bà mẹ Dân Oan tất nhiên xỉ vả luôn nhũng kẻ đang luồn trôn quái thai: những ngợm giáo gian quốc doanh, lũ chính khách nhăm nhe nhẩy bàn độc với chiêu bài hòa giải hòa hợp, bầy làm ăn theo đóm ăn tàn vô lương tâm.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | Bài 07:
THAM NHŨNG GÂY KHỦNG HOẢNG KHÔNG PHẢI LÀ CÁ NHÂN MÀ LÀ CƠ CHẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 29.05.2008 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
Trong suốt 6 Bài QUAN ĐIỂM viết cho đến nay, chúng tôi đi tìm cái nguyên nhân cốt lõi cho Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay của Việt Nam. Cùng hợp với việc phân tích của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, chúng tôi thấy rằng con Vi trùng chính yếu gây ra Khủng hoảng là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Đàn Vi trùng này, con lớn, con bé, bò lổm ngổm ăn hại Kinh tế Việt Nam đã nhiều năm qua để kết quả là Kinh tế bệnh hoạn.
Chống tham nhũng không phải là đi bắt hết từng con Vi trùng ấy vì những lý do sau đây:
=> Vi trùng Tham Nhũng Lãng Phí nhiều quá bắt không xuể => Có những con Vi trùng quá lớn, nếu đụng đến nó, có thể mình bị hại. Tỉ dụ hai Nhà báo vừa bị Vi trùng phản công.
Đối với chúng tôi, việc chống tham nhũng lãng phí không phải là đi bắt từng con Vi trùng, mà phải phải tẩy sạch cái môi trường, cái điều kiện đẻ ra những con vi trùng ấy. Chúng tôi muốn nói đến chống THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ là chống cái CƠ CHẾ làm phát sinh Vi trùng.
Những phát biểu trong buổi trực tuyến chiều 9/5/2008 09/05/2008 22:46 (GMT + 7) http://www.tuanvietnam.net//vn/tructuyenvoitop/3710/index.aspx
Những người phát biểu trong buổi trực tuyến này chú tâm đến lãnh vực Kinh tế quốc doanh.
Ts. Nguyễn Quang A nêu rõ: “... chúng ta đang đứng trước khó khăn lớn, thể hiện ở vài con số: lạm phát, thâm hụt ngân sách liên tục ở mức cao trong nhiều năm. Nhập siêu liên tục ở mức cao và ngày càng tăng. Xu hướng đó dài cả chục năm, xuất phát từ nguyên nhân sâu xa bên trong. Chúng ta xem những con số đó là điều bình thường mà không nhìn nhận như là dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm để lưu tâm. Đến bây giờ, mọi thứ bục ra. Trong đó, nguyên nhân chủ quan rất quan trọng, thể hiện qua lạm phát. Lạm phát kì này là hệ quả của tình hình rất lâu dài nằm trong cơ cấu kinh tế, hệ thống điều hành của chúng ta.“
Ông Nguyễn Trung đúc rút: " Đi vào kinh tế thị trường nhưng cả bộ máy về kiến thức và kinh nghiệm trong kinh tế thị trường nói chung còn yếu. Chính vì lẽ đó, Chính phủ nên có cơ chế, biện pháp khuyến khích những tiếng nói của các chuyên gia am hiểu và có nhiều trăn trở với tình hình. Chuyên gia trong bộ máy nhà nước có nói, nhưng họ khó nói khách quan, độc lập, nhiều khi chiều theo ý mặt này, mặt khác. Rất quan trọng cần tiếng nói của chuyên gia độc lập, không trong bộ máy, không kiềm tỏa bởi vị trí, các chuyên gia trong và ngoài nước, người Việt và người nước ngoài. Làm sao để những người đó mạnh dạn góp ý.“
Theo ông Nguyễn Trung, trong chuyện lạm phát "không có bài thuốc tiên nào cả, chung quy 2 việc: tiết kiệm và tăng hiệu quả đầu tư hơn nữa. Tham gia kinh tế thị trường, chúng ta chưa có kinh nghiệm. Bây giờ Thủ tướng, Chính phủ cũng khó ra lệnh cho DNNN chưa nói cả nền kinh tế. Do đó, cần các công cụ thị trường.“
Ông Trần Đức Nguyên đặc biệt nhấn mạnh “ việc nhà nước cần rốt ráo cải cách mạnh khu vực kinh tế nhà nước. Đây là giải pháp vừa trước mắt, vừa cơ bản lâu dài. Phân tích toàn bộ khó khăn đang phải đối phó, chủ yếu do tác động từ thành phần của các tập đoàn lớn, với những hoạt động trong các lĩnh vực nhạy cảm: chứng khoán, bất động sản... Tác động tiêu cực của tập đoàn kinh tế nhà nước rất rõ.
"Đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật như vậy, không thể nói chung chung", ông Trung nhấn mạnh.
Ông gợi ý, trước mắt phải làm là hãy công khai minh bạch về hoạt động của họ. Phải kiểm toán và công bố kiểm toán hằng năm. Hiện có muốn góp ý kiến cũng khó vì không nắm được họ làm như thế nào.
Ông Trần Đức Nguyên dẫn chứng: "Tôi lấy làm lạ, năm 2006, kiểm toán công bố tỷ lệ lãi trên vốn của Vinashin là 0,42%. Làm sao nuốt nổi 750 triệu USD tiền trái phiếu Chính phủ bán ra nước ngoài, trong khi khoản vay này đã phải chịu lãi suất chính thức đã là 7,5%. Năm sau lại nói Vinashin lãi trên 10%. Hiện nay, bức tranh kinh tế nhà nước rất tù mù, nên biện pháp khó chấn chỉnh. Tất cả các tập đoàn đều có vấn đề, nhưng không ai nắm thực tế họ hoạt động như thế nào. Cần chấn chỉnh nhưng chấn chỉnh như thế nào cần nghiên cứu.
Ông Nguyễn Trung cho rằng:“thông tin có thể chưa đủ, nhưng khá nhiều trên báo chí như chuyện ngành than mỗi năm xuất khẩu lậu 10 triệu tấn than, ngành điện để xảy ra thiếu điện, phải cắt điện liên tục trong khi lại có khoản vốn khá lớn đầu tư ngành khác. Không phải tôi dồn mọi vốn liếng, dành cho anh nguồn lực để anh thích làm gì thì làm".
Theo ông Nguyễn Trung, tình hình hiện nay "đòi hỏi cải cách thể chế, hệ thống quản lý, cơ chế quản lý quốc gia đi trước một bước cải cách kinh tế. Cải cách thể chế có đi trước mới hỗ trợ cho phát triển quốc gia".
Ts. Nguyễn Quang A khẳng định: “Muốn phát triển nữa, chắc chắn phải có cải cách về thể chế“.
Để đổi mới, Ts. Quang A phân tích: “đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc“.
Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng lãnh vực Kinh tế quốc doanh
Những phát biểu trên đây quy tội rõ rệt vào lãnh vực Kinh tế quốc doanh. Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ không phải là những cá nhân, mà chính là cái THỂ CHẾ, cái CƠ CHẾ mà đảng CSVN đã chủ trương để từ đó phát sinh ra đàn Vi trùng lúc nhúc con lớn con bé. Thực vậy, cái THỂ CHẾ đó chủ trương:
=> ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ: chỉ một mình đảng CSVN cai trị Quốc gia. Không ai có thể phát biểu ý kiến khả dĩ góp phần xây dựng. Nếu có người phát biểu khác với đảng, thì đảng dùng sức mạnh đàn áp, bắt tù tội.
=> ĐỘC QUYỀN KINH TẾ: mặc dù tuyên bố theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong thực tế, quyền lực Kinh tế nằm trọn trong tay những Công ty quốc doanh điều hành bởi những người thuộc về đảng CSVN.
Hai quyền lực độc đoán này nằm trong tay một người, một đảng. Một Môi trường, một CƠ CHẾ như vậy, thì không thể nào không có THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Hai quyền lực chung đụng này, nhú nhí, đi đêm ĐÁNH ĐĨ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Thực vậy, một người ngồi bên cạnh đống vàng, mà lại có quyền sinh sát, thì vơ đống vàng làm của riêng. Nếu chỉ có quyền Chính trị không mà không có đống vàng bên cạnh, thì không vơ vét được gì. Còn nếu ngồi bên cạnh đống vàng mà không có độc tài Chính trị sinh sát trong tay, thì nếu chốp vàng làm của riêng, sẽ bị người khác đập bể đầu. Phải có hai thứ quyền trong tay, thì mới có thể THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Cái Môi trường, cái THỂ CHẾ, cái CƠ CHẾ từ trước đến nay là để QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ độc tài và QUYỀN LỰC KINH TẾ độc quyền ngủ chung ở một phòng tối u ám, bí mật để hai thứ đánh đĩ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Vậy việc thay đổi CƠ CHẾ, thay đổi THỂ CHẾ mà những người tham dự buổi trực tuyến 9/5/2008 phát biểu có nghĩa là trước tiên phải tách rời hai quyền lực ra, đừng để chúng mập mờ ngủ chung trong một phòng u ám. Cứ để hai quyền lực nằm trong tay đảng CSVN, thì thế nào chúng cũng đánh đĩ với nhau mà đẻ ra Vi trùng Tham nhũng, Lãng phí phá hoại Kinh tế Việt Nam lâu dài. Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng cùng chủ trương như vậy: “đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc“.
Chúng tôi xin dứt khoát về việc thay đổi CƠ CHẾ, THỂ CHẾ như sau:
=> Tách hẳn quyền lực Chính trị ra khỏi quyền lực Kinh tế. Đây là nguyên tắc Kinh tế Tự do và Thị trường mà những Kinh tế gia Cổ điển Anh quốc như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL... đã nhấn mạnh. Nhà Nước chỉ là “Etat Gendarme neutre”. Nhà Nước có thể ảnh hưởng đến những sinh hoạt Kinh tế, nhưng dưới phương diện Cung, Cầu như mọi người. Nhà Nước có thể có những Chương trình chỉ đạo, nhưng không được quyền dùng quyền lực Chính trị để bắt Lãnh vực Kinh tế tư nhân phải nhất thiết theo.
=> Khi tách rời quyền lực Chính trị ra rồi, thì quyền lực này cũng không được độc tài bởi lẽ trên thực tế, quyền lực Chính trị mà độc tài, thì trước sau gì nó cũng tìm đến Kinh tế mà xâm lấn, mà đánh đĩ. Thực vậy, kẻ độc tài mà thấy tiền bạc, thì ắt nẩy sinh lòng tham sân si. Đây là vấn đề tránh hậu họa trong thực tế.
=> Lãnh vực Kinh tế phải để trong tay tư nhân. Việc giải quyết những vấn đề Kinh tế phải theo nguyên tắc Kinh tế, chứ không theo mệnh lệnh Chính trị hay ảnh hưởng Tôn giáo hay Chủng tộc. Quyền tư hữu những phương tiện sản xuất phải được tôn trọng, bảo đảm bởi Pháp Luật được quyết định bởi chính những Tư-hữu-chủ hay Cá nhân chủ Tư hữu. Chính khía cạnh này mà chúng tôi thường khẳng định rằng một nền DÂN CHỦ thực sự được lớn lên qua ngả Kinh tế. Một thứ Dân chủ chỉ được cấu trúc theo khuôn mẫu những hệ thống suy tư dễ trở thành những phương tiện áp đặt trên đới sống thực của đại đa số quần chúng để một thiểu số làm Chính trị lợi dụng khai thác cho quyền lực.
Ai có thể làm công việc thay đổi CƠ CHẾ, thay đổi THỂ CHẾ ? Chắc chắn không phải là đảng CSVN bởi vì chính đảng này đang cần cơ chế cũ làm môi trường cho bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG Phí sống. Vì vậy việc Hòa Hợp Hòa Giải với bầy vi trùng này chỉ là ảo tưởng. Chỉ có đại đa số Dân chúng đang là nạn nhân của CƠ CHẾ này mới có thể lật hẳn lại CƠ CHẾ. Chúng tôi nói lật hẳn CƠ CHẾ bởi lẽ nếu còn để dây dưa, thì từ cái Môi trường dây dưa này, những con Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ lại có cơ hội tái sinh, đẻ thêm con cháu. Đây là vấn đề tương lai Kinh tế bền vững và lâu dài.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài 08:
PHẢI DỨT BỎ CHIẾC VÁY ĐỤP CƠ CHẾ CŨ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 05.06.2008 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html
Bài thứ 8 này tiếp nối chính yếu ý tưởng của Bài thứ 7 tuần vừa rồi. Để thực sự chữa trị được Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh, phải dứt bỏ CƠ CHẾ, chứ không phải là cá nhân.
Trong suốt những Bài QUAN ĐIỂM viết cho đến nay, chúng tôi đi tìm cái nguyên nhân cốt lõi cho Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay của Việt Nam. Cùng hợp với việc phân tích của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, chúng tôi thấy rằng con Vi trùng chính yếu gây ra Khủng hoảng là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Đàn Vi trùng này, con lớn, con bé, bò lổm ngổm ăn hại Kinh tế Việt Nam đã nhiều năm qua để kết quả là Kinh tế bệnh hoạn.
Chống tham nhũng không phải là đi bắt hết từng con Vi trùng ấy vì những lý do sau đây: => Vi trùng Tham Nhũng Lãng Phí nhiều quá bắt không xuể => Có những con Vi trùng quá lớn, nếu đụng đến nó, có thể mình bị hại. Tỉ dụ hai Nhà báo vừa bị Vi trùng phản công.
Đối với chúng tôi, việc chống tham nhũng lãng phí không phải là đi bắt từng con Vi trùng, mà phải phải tẩy sạch cái môi trường, cái điều kiện đẻ ra những con vi trùng ấy. Chúng tôi muốn nói đến chống THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ là chống cái CƠ CHẾ làm phát sinh Vi trùng.
Những phát biểu trong buổi trực tuyến chiều 9/5/2008 09/05/2008 22:46 (GMT + 7) http://www.tuanvietnam.net//vn/tructuyenvoitop/3710/index.aspx
Những người phát biểu trong buổi trực tuyến này chú tâm đến lãnh vực Kinh tế quốc doanh.
Ts. Nguyễn Quang A nêu rõ: “... chúng ta đang đứng trước khó khăn lớn, thể hiện ở vài con số: lạm phát, thâm hụt ngân sách liên tục ở mức cao trong nhiều năm. Nhập siêu liên tục ở mức cao và ngày càng tăng. Xu hướng đó dài cả chục năm, xuất phát từ nguyên nhân sâu xa bên trong. Chúng ta xem những con số đó là điều bình thường mà không nhìn nhận như là dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm để lưu tâm. Đến bây giờ, mọi thứ bục ra. Trong đó, nguyên nhân chủ quan rất quan trọng, thể hiện qua lạm phát. Lạm phát kì này là hệ quả của tình hình rất lâu dài nằm trong cơ cấu kinh tế, hệ thống điều hành của chúng ta.“
Ông Nguyễn Trung đúc rút: " Đi vào kinh tế thị trường nhưng cả bộ máy về kiến thức và kinh nghiệm trong kinh tế thị trường nói chung còn yếu. Chính vì lẽ đó, Chính phủ nên có cơ chế, biện pháp khuyến khích những tiếng nói của các chuyên gia am hiểu và có nhiều trăn trở với tình hình. Chuyên gia trong bộ máy nhà nước có nói, nhưng họ khó nói khách quan, độc lập, nhiều khi chiều theo ý mặt này, mặt khác. Rất quan trọng cần tiếng nói của chuyên gia độc lập, không trong bộ máy, không kiềm tỏa bởi vị trí, các chuyên gia trong và ngoài nước, người Việt và người nước ngoài. Làm sao để những người đó mạnh dạn góp ý.“
Theo ông Nguyễn Trung, trong chuyện lạm phát "không có bài thuốc tiên nào cả, chung quy 2 việc: tiết kiệm và tăng hiệu quả đầu tư hơn nữa. Tham gia kinh tế thị trường, chúng ta chưa có kinh nghiệm. Bây giờ Thủ tướng, Chính phủ cũng khó ra lệnh cho DNNN chưa nói cả nền kinh tế. Do đó, cần các công cụ thị trường.“
Ông Trần Đức Nguyên đặc biệt nhấn mạnh “ việc nhà nước cần rốt ráo cải cách mạnh khu vực kinh tế nhà nước. Đây là giải pháp vừa trước mắt, vừa cơ bản lâu dài. Phân tích toàn bộ khó khăn đang phải đối phó, chủ yếu do tác động từ thành phần của các tập đoàn lớn, với những hoạt động trong các lĩnh vực nhạy cảm: chứng khoán, bất động sản... Tác động tiêu cực của tập đoàn kinh tế nhà nước rất rõ.
"Đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật như vậy, không thể nói chung chung", ông Trung nhấn mạnh.
Ông gợi ý, trước mắt phải làm là hãy công khai minh bạch về hoạt động của họ. Phải kiểm toán và công bố kiểm toán hằng năm. Hiện có muốn góp ý kiến cũng khó vì không nắm được họ làm như thế nào.
Ông Trần Đức Nguyên dẫn chứng: "Tôi lấy làm lạ, năm 2006, kiểm toán công bố tỷ lệ lãi trên vốn của Vinashin là 0,42%. Làm sao nuốt nổi 750 triệu USD tiền trái phiếu Chính phủ bán ra nước ngoài, trong khi khoản vay này đã phải chịu lãi suất chính thức đã là 7,5%. Năm sau lại nói Vinashin lãi trên 10%. Hiện nay, bức tranh kinh tế nhà nước rất tù mù, nên biện pháp khó chấn chỉnh. Tất cả các tập đoàn đều có vấn đề, nhưng không ai nắm thực tế họ hoạt động như thế nào. Cần chấn chỉnh nhưng chấn chỉnh như thế nào cần nghiên cứu.
Ông Nguyễn Trung cho rằng:“thông tin có thể chưa đủ, nhưng khá nhiều trên báo chí như chuyện ngành than mỗi năm xuất khẩu lậu 10 triệu tấn than, ngành điện để xảy ra thiếu điện, phải cắt điện liên tục trong khi lại có khoản vốn khá lớn đầu tư ngành khác. Không phải tôi dồn mọi vốn liếng, dành cho anh nguồn lực để anh thích làm gì thì làm".
Theo ông Nguyễn Trung, tình hình hiện nay "đòi hỏi cải cách thể chế, hệ thống quản lý, cơ chế quản lý quốc gia đi trước một bước cải cách kinh tế. Cải cách thể chế có đi trước mới hỗ trợ cho phát triển quốc gia".
Ts. Nguyễn Quang A khẳng định: “Muốn phát triển nữa, chắc chắn phải có cải cách về thể chế“.
Để đổi mới, Ts. Quang A phân tích: “đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc“.
Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng lãnh vực Kinh tế quốc doanh
Những phát biểu trên đây quy tội rõ rệt vào lãnh vực Kinh tế quốc doanh. Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ không phải là những cá nhân, mà chính là cái THỂ CHẾ, cái CƠ CHẾ mà đảng CSVN đã chủ trương để từ đó phát sinh ra đàn Vi trùng lúc nhúc con lớn con bé. Thực vậy, cái THỂ CHẾ đó chủ trương:
=> ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ: chỉ một mình đảng CSVN cai trị Quốc gia. Không ai có thể phát biểu ý kiến khả dĩ góp phần xây dựng. Nếu có người phát biểu khác với đảng, thì đảng dùng sức mạnh đàn áp, bắt tù tội.
=> ĐỘC QUYỀN KINH TẾ: mặc dù tuyên bố theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong thực tế, quyền lực Kinh tế nằm trọn trong tay những Công ty quốc doanh điều hành bởi những người thuộc về đảng CSVN.
Hai quyền lực độc đoán này nằm trong tay một người, một đảng. Một Môi trường, một CƠ CHẾ như vậy, thì không thể nào không có THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Hai quyền lực chung đụng này, nhú nhí, đi đêm ĐÁNH ĐĨ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Thực vậy, một người ngồi bên cạnh đống vàng, mà lại có quyền sinh sát, thì vơ đống vàng làm của riêng. Nếu chỉ có quyền Chính trị không mà không có đống vàng bên cạnh, thì không vơ vét được gì. Còn nếu ngồi bên cạnh đống vàng mà không có độc tài Chính trị sinh sát trong tay, thì nếu chốp vàng làm của riêng, sẽ bị người khác đập bể đầu. Phải có hai thứ quyền trong tay, thì mới có thể THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Cái Môi trường, cái THỂ CHẾ, cái CƠ CHẾ từ trước đến nay là để QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ độc tài và QUYỀN LỰC KINH TẾ độc quyền ngủ chung ở một phòng tối u ám, bí mật để hai thứ đánh đĩ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Vậy việc thay đổi CƠ CHẾ, thay đổi THỂ CHẾ mà những người tham dự buổi trực tuyến 9/5/2008 phát biểu có nghĩa là trước tiên phải tách rời hai quyền lực ra, đừng để chúng mập mờ ngủ chung trong một phòng u ám. Cứ để hai quyền lực nằm trong tay đảng CSVN, thì thế nào chúng cũng đánh đĩ với nhau mà đẻ ra Vi trùng Tham nhũng, Lãng phí phá hoại Kinh tế Việt Nam lâu dài. Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng cùng chủ trương như vậy: “đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc“.
Chúng tôi xin dứt khoát về việc thay đổi CƠ CHẾ, THỂ CHẾ như sau:
=> Tách hẳn quyền lực Chính trị ra khỏi quyền lực Kinh tế. Đây là nguyên tắc Kinh tế Tự do và Thị trường mà những Kinh tế gia Cổ điển Anh quốc như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL... đã nhấn mạnh. Nhà Nước chỉ là “Etat Gendarme neutre”. Nhà Nước có thể ảnh hưởng đến những sinh hoạt Kinh tế, nhưng dưới phương diện Cung, Cầu như mọi người. Nhà Nước có thể có những Chương trình chỉ đạo, nhưng không được quyền dùng quyền lực Chính trị để bắt Lãnh vực Kinh tế tư nhân phải nhất thiết theo.
=> Khi tách rời quyền lực Chính trị ra rồi, thì quyền lực này cũng không được độc tài bởi lẽ trên thực tế, quyền lực Chính trị mà độc tài, thì trước sau gì nó cũng tìm đến Kinh tế mà xâm lấn, mà đánh đĩ. Thực vậy, kẻ độc tài mà thấy tiền bạc, thì ắt nẩy sinh lòng tham sân si. Đây là vấn đề tránh hậu họa trong thực tế.
=> Lãnh vực Kinh tế phải để trong tay tư nhân. Việc giải quyết những vấn đề Kinh tế phải theo nguyên tắc Kinh tế, chứ không theo mệnh lệnh Chính trị hay ảnh hưởng Tôn giáo hay Chủng tộc. Quyền tư hữu những phương tiện sản xuất phải được tôn trọng, bảo đảm bởi Pháp Luật được quyết định bởi chính những Tư-hữu-chủ hay Cá nhân chủ Tư hữu. Chính khía cạnh này mà chúng tôi thường khẳng định rằng một nền DÂN CHỦ thực sự được lớn lên qua ngả Kinh tế. Một thứ Dân chủ chỉ được cấu trúc theo khuôn mẫu những hệ thống suy tư dễ trở thành những phương tiện áp đặt trên đới sống thực của đại đa số quần chúng để một thiểu số làm Chính trị lợi dụng khai thác cho quyền lực.
Ai có thể làm công việc thay đổi CƠ CHẾ, thay đổi THỂ CHẾ ? Chắc chắn không phải là đảng CSVN bởi vì chính đảng này đang cần cơ chế cũ làm môi trường cho bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG Phí sống. Chỉ có đại đa số Dân chúng đang là nạn nhân của CƠ CHẾ này mới có thể lật hẳn lại CƠ CHẾ. Chúng tôi nói lật hẳn CƠ CHẾ bởi lẽ nếu còn để dây dưa, thì từ cái Môi trường dây dưa này, những con Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ lại có cơ hội tái sinh, đẻ thêm con cháu. Đây là vấn đề tương lai Kinh tế bền vững và lâu dài.
Từ thất bại Kinh tế Cộng sản đến chiếc váy đụp Kinh tế định hướng XHCH
Một số những Nhà Kinh tế tại Việt Nam nói đến cải cách Cơ Chế để chữa trị cuộc Khủng hoảng Kinh tế hiện nay. Người lên tiếng mạnh hơn cả là Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A, tuy nhiên Tiến sĩ như vẫn còn ngại sợ quyền lực độc tài Chính trị, nên chỉ dám dùng những chữ CẢI CÁCH. Tiến sĩ còn nhắc đến việc ổn định Chính trị làm điều kiện phát triển, nhưng Tiến sĩ không định nghĩa ổn định Chính trị là như thế nào. Thực vậy, ổn định Chính trị không phải là đàn áp, bịt miệng, đe dọa, bỏ tù... khiến không còn ai dám động đậy phản ứng. Oån định Chính trị không phải đến từ một quyền lực độc đoán áp đặt mà phải đến từ sự hài hòa của lòng Dân. Chính trị Việt Nam dưới chế độ CSVN luôn luôn ở trong tình trạng bất ổn.
Quan điểm của chúng tôi không chỉ nằm ở việc CẢI CÁCH Cơ Cấu hiện hành, mà là phải dứt khoát vứt bỏ cái CƠ CẤU CSVN hiện nay mà chúng tôi luôn luôn gọi đó là chiếc VÁY ĐỤP chứa đầy rận, rệp, những bầy vi trùng THAM NHŨNG hút máu Kinh tế Việt Nam. Thực vậy, CẢI CÁCH có nghĩa là vẫn giữ chiếc VÁY ĐỤP, mà chỉ tìm cách vá thêm vải để rận, rệp, vi trùng ẩn náu mà hút máu nữa.
Khi quyền lực độc tài Chính trị gắn liền với độc đoán Kinh tế, thì đã có một Lịch sử thất bại. Cộng sản đã chủ trương nắm trọn Kinh tế bằng chủ trương một nền Kinh tế Chỉ huy Tập quyền (Economie dirigiste centralisée). Sự sụp đổ của Thế giới Cộng sản là vì việc thất bại Kinh tế ấy. Nga và các nước Đông Aâu đã biết vứt bỏ chiếc váy đó đi. Nhưng Việt Nam vẫn giữ lại và tìm cách vá chiếc váy đụp lên đụp xuống.
Việt Nam muốn vá bằng Đổi Mới, Mở Cửa..., tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng vẫn còn thêm những chữ “định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”, tức là vẫn giữ chiếc váy đụp cũ kỹ của Cộng sản. Những chữ định hướng XHCN cho phép CSVN vẫn chủ trương độc đảng (Điều 4 Hiến Pháp) để độc tài Chính trị đánh đĩ với độc quyền Kinh tế. Đó là cái điểm cốt lõi của CƠ CẤU cần phải dứt khoát vứt bỏ.
Nói Cải Cách Cơ Cấu mà không động chạm đến việc đánh đĩ giữa hai quyền lực này, thì việc cải cách chỉ là sơn phết lừa đảo. Cũng vậy, những chính khách cơ hội nói đến Hòa Giải Hòa Hợp, mà không đòi hỏi dứt khoát loại trừ cái việc đánh đĩ kia của đảng CSVN, thì đó chỉ là giúp cho CSVN trói buộc Dân bằng sợi dây thung co giãn mà thôi.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | ========================= pho bien/ publication 04.06.2008 =========================
==============================================================
************************** CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ ****************************** TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH ==============================================================
MỤC LỤC:
Bài MỞ ĐẦU
Bài 1: NHỮNG HIỆN TƯỢNG BẤP BÊNH KINH TẾ CHUNG CỦA NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Bài 2: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH Á CHÂU 1997: LÝ DO GIỐNG NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN NGÀY NAY
Bài 3: CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH ĐỂ CÓ YỂM TRỢ TÀI CHÁNH CỦA IMF
Bài 4: KINH TẾ PHỤC HỒI TRONG TÌNH TRẠNG CẢI CÁCH CHƯA TOÀN VẸN CHO ĐẾN NAY
Bài 5: NHỮNG YẾU TỐ BẤP BÊNH CÓ THỂ DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG
PHỤ BẢN 1: NHỮNG TÍN DỤNG THẾ CHẤP ĐỊA ỐC NGUY HIỂM
Bài 6: VIỆT NAM TRƯỚC KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG
Bài 7: VẬT GIÁ TĂNG VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ TẠI NHỮNG QUỐC GIA BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Bài 8: CẮT NGHĨA VIỆC TĂNG VẬT GIÁ VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ
PHỤ BẢN 2: 10 NĂM SAU Á CHÂU 1997: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH THẾ GIỚI 2007 ?
PHỤ BẢN 3: LẠM PHÁT TIỀN TỆ: CHÍNH TRỊ ĂN CƯỚP KINH TẾ CỦA DÂN
Bài 9: VIỆC PHÂN PHỐI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU VỀ MỨC TĂNG KINH TẾ
Bài 10: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH VÀ TIỀN TỆ RẤT DỄ XẨY RA
Bài 11: HẬU QUẢ: DÂN CHÚNG NỔI DẬY LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN
Bài 12: KẾT LUẬN: TƯ HỮU LA ØNỀN TẢNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VŨNG VỚI THỂ CHẾ DÂN CHỦ LÀ HẬU QUẢ
==============================================================
BÀI MỞ ĐẦU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 01.11.2007
TẤT YẾU VÀ HỮU LÝ CỦA MẶT TRẬN KT/TC
Đây là MỞ ĐẦU cho một loạt bài mà chúng tôi cắt nghĩa về con đường đi của Mặt Trận Kinh tế/ Tài chánh. Trong nhiều bài trước đây, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng DÂN CHỦ chỉ là Hệ Luận tất nhiên của cuộc đấu tranh Kinh tế khi mà đại đa số Dân chúng đã đạt được mức độ bảo đảm cho cuộc sống với sự tôn trọng quyền tư hữu từ những phương tiện sản xuất tới những sản phẩm sản xuất. Đó là con đường đạt lấy quyền DÂN CHỦ qua ngả Kinh tế. Trong bài Mở Đầu này, chúng tôi nói vắn gọn đến những điểm sau đây làm nền tảng cho cái lý cho con đường tranh đấu của Mặt Trận Kinh tế/ Tài chánh:
=> Nguyên tắc phát động đấu tranh xã hội về mặt Kinh tế => Nguyên tắc quân bình xã hội về mặt Kinh tế => Thực trạnh mất quân bình hiện nay về Kinh tế tại Việt Nam
Nguyên tắc phát động đấu tranh xã hội về mặt Kinh tế
Đây là chính nguyên tắc mà Triết gia Karl MARX đã nhấn mạnh và Chính trị gia LENINE đã áp dụng để đẩy mạnh cuộc đấu tranh giai cấp. Triết gia Karl MARX gọi đó là hiện tượng Vong thân Kinh tế trong xã hội. Tất cả sự giầu có đều đến từ sức Lao động. Tư bản cũng chỉ là việc tích lũy sức Lao động. Triết gia đã lấy lại chính quan điểm của Kinh tế gia tư bản cổ điển Anh David RICARDO. Giới Lao động đã đem những thành quả làm việc của mình trao vào tay một thiểu số người nắm quyền cai trị để rồi phải chịu luỵ. Giới Lao động bị vong thân về Kinh tế vậy. Cuộc đấu tranh tất nhiên tự phát sinh để giới Lao động dành lại những thành quả Kinh tế do chính mình làm ra. Nói theo cách nói thông thường hàng ngày thì khi mà đại đa số Dân chúng làm việc mà bị một thiểu số cầm quyền bóc lột đến nỗi phải thiếu ăn, thì tất nhiên cuộc đấu tranh của giới bị bóc lột phải bùng lên để dành lại quyền sống. Đây không phải là nguyên tắc do Karl MARX khám phá, mà là cái lý thường ngày của mọi xã hội khi nói về Kinh tế.
Nguyên tắc quân bình xã hội về mặt Kinh tế
Một xã hội có sự quân bình, nghĩa là trước hết xã hội ấy không có sự bóc lột của một thiểu số về mặt Kinh tế ở mức độ tối thiểu là có đủ miếng ăn nuôi sống thân xác. Đi sâu vào nền tảng để tiến tới sự quân bình này, đó là việc tôn trọng quyền TƯ HỮU những phương tiện kiếm ăn và những kết quả sản xuất từ sức lực mỗi người. Sức Lao động của mỗi người là quyền tư hữu tuyệt đối mà ngay cả chính cá nhân không thể bán nó được. Khi mà người nắm quyền bóc lột, bán cái sức lao động của người khác, đó là vi phạm vào quyền tư hữu tối thượng. Xã hội ấy không thể có quân bình. Đối với những tư hữu khác, khi mà một thiểu số cầm quyền dùng đàn áp để tước đoạt những tư hữu ấy, xã hội sẽ mất quân bình. Để có thể giữ quân bình xã hội về mặt Kinh tế, trước hết là tôn trọng quyền Tư Hữu và sau đó tái phân phát sự giầu có để xã hội giảm sự chênh lệc về Kinh tế. Đây là nguyên tắc giữ xã hội thăng tiến bền vững và đều đặc.
Thực trạng mất quân bình hiện nay về Kinh tế tại Việt Nam
Nhìn tình trạng và những biến chuyển Kinh tế hiện nay tại Việt Nam qua hai nguyên tắc vừa nêu trên đây, chúng ta thấy rằng xã hội Việt Nam càng ngày càng mất quân bình về Kinh tế. Sư bóc lột Kinh tế, lợi dụng nhân lực Lao động mỗi ngày mỗi tăng.
=> Dân Oan nổi dậy, Nông dân kéo về thành thị, Công nhân đình công.
Cuộc đấu tranh này là tất yếu. CSVN không thể vu khống đây là sự xúi dục từ ngoại lai, mà chính là hậu quả tất yếu của tình trạng đại đa số dân chúng bị bóc lột bởi một thiểu số nắm quyền hành. Một quyền hành độc đoán xử dụng đàn áp để dẹp việc nổi dậy, đó là điều không thể đi đến kết quả được bởi vì sự nổi dậy đến từ tình trạng mất quân bình xã hội về Kinh tế. Chỉ có thể tạo được quân bình, nghĩa là yên ổn, khi mà việc bóc lột Kinh tế bởi thiểu số người nắm quyền hành phải chấm dứt để tiến dần đến quân bình bằng tôn trọng triệt để quyền Tư hữu và quyền Tự do xử dụng tư hữu để làm ăn đồng đều. Khi nói đến làm ăn đồng đều, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến việc phế bỏ những đặc quyền làm ăn của những giới quốc doanh hoặc thân cận đảng độc tài.
=> Tình Trạng tổng quát Kinh tế đang tiến dần đến đột biến chính trị
Cách dây hơn một tháng, chúng tôi đã có dịp nói qua Đài Á châu Tự do về tình trạng đột biến vật giá ở Việt Nam do lạm phát và do việc thất thoát ngoại tệ. Chúng tôi nghĩ đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Á châu năm 1997. Tuần vừa rồi, Đài RFI (Radio France Internationale) cũng phỏng vấn chúng tôi về việc Phân tích dài của Bà Francoise NICOLAS với nhan đề là DIX ANS APRES LA CRISE FINANCIERE:LE RETOUR DU MIRACLE ASIATIQUE (Mười năm sau cuộc Khủng hoảng Tài chánh: Việc tái hồi của Phép lạ Á châu). Theo phân tích này, thì vùng Á châu có những nguy hiểm một Khủng hoảng Tài chánh nữa. Đài RFI yêu cầu chúng tôi nhìn kỹ về những nguy hiểm biến động Kinh tế/ Tài chánh của hai nước Trung Quốc, Việt Nam và những khủng hoảng liên hệ giữa hai nước. Hôm nay 31.10.2007, Đài RFI gọi cho tôi từ sáng sớm báo cho tôi biết hai bài đăng trên Nhật Báo LE MONDE số 19523/ 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển) và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh vì vật giá tăng), trong đó Trung quốc và Việt Nam được nhắc ra rõ rệt. Qua tài liệu của Bà Francoise NICOLAS và hai bài báo của LE MONDE hôm nay, người ta thấy tình trạng đột biến Chính trị phải xẩy ra
KHAI TRIỂN CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH
Loạt bài chủ đề mà chúng tôi sẽ viết về những nguy hiểm đang dẫn đến Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh tại Việt Nam dựa trên một số dữ kiện nghiên cứu bởi Bà Francoise NICOLAS, của tác giả những bài trên LE MONDE và được phân tích qua hai nguyên tác vừa được đưa ra trên đây: (i) Nguyên tắc phát động đấu tranh xã hội về mặt Kinh tế; (ii) Nguyên tắc quân bình xã hội về mặt Kinh tế
Chúng tôi xin tóm tắt những bài sẽ được khai triển như sau:
Bài 1: NHỮNG HIỆN TƯỢNG BẤP BÊNH KINH TẾ CHUNG CỦA NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Những hiện tượng bấp bênh chung là: (i) thái độ chi tiêu của những người mới giầu lên; (ii) nhà nước chủ trương lạm phát tiền tệ; (iii) sản xuất tùy thuộc thị trường nước ngoài; (iv) thất thoát ngoại tệ.
Bài 2: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH Á CHÂU 1997: NHỮNG LÝ DO GIỐNG NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN NGÀY NAY
Bốn nước: Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn. Sản xuất chính yếu những hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn và những linh kiện. Lệ thuộc Thị trường nước ngoài. Bắt đầu cuộc cạnh tranh của những nước Đông Aâu. Hệ thống Ngân Hàng cẩu thả trong việc tài trợ các Công ty. Lạm phát tiền tệ và Thị trường Tài chánh thiếu trong sáng.
Bài 3: CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH ĐỂ CÓ YỂM TRỢ TÀI CHÁNH CỦA IMF
Thái Lan, Mã Lai, Nam Hàn chấp nhận những điều kiện đòi buộc cải cách do IMF (International Monetary Funds) ấn định để được nhận hỗ trợ Tài chánh. Mã Lai từ chối. Việc cải cách nhằm chính yếu vào hệ thống Ngân Hàng, vào Thị trường Tài chánh và vào việc Quản trị Xí nghiệp.
Bài 4: KINH TẾ PHỤC HỒI TRONG TÌNH TRẠNG CẢI CÁCH CHƯA TOÀN VẸN CHO ĐẾN NAY
Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương phục hồi Kinh tế, nhưng vẫn ở mức sản xuất những hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn và những linh kiện. Nam Hàn đi vào những hàng hóa dài hạn và kỹ thuật cao. Tuy nhiên trên Thị trường quốc tế, những cạnh tranh mới xuất hiện: Đông Aâu, Nam Mỹ và Phi châu. Đầu tư nội địa còn yếu kém cho những nước bắt đầu phát triển này.
Bài 5: NHỮNG YẾU TỐ BẤP BÊNH CÓ THỂ DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG
Yếu tố Kinh tế Trung quốc tạo những bấp bênh Kinh tế trong vùng. Đạo quân Thương gia gốc Hoa trong vùng: Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương khiến những nước này có sự lệ thuộc vào Trung quốc. Bà Francoise NICOLAS nhấn mạnh đến những nguy hiểm: căng thẳng xã hội, căng thẳng Thị trường Tài chánh và vấn đề bề bộn môi trường.
Bài 6: VIỆT NAM TRƯỚC KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG
Hữu nghị Trung quốc—Việt Nam chỉ là bề mặt. Kinh tế Trung quốc là kẻ thù của Kinh tế Việt Nam. Những biến động Kinh tế Trung cộng trực tiếp ảnh hưởng đến Kinh tế Việt Nam. Đối với Trung quốc, Việt Nam chỉ là một Tỉnh về cả Chính trị lẫn Kinh tế. Trên thương trường quốc tế, hàng hóa Trung cộng cạnh tranh hơn cả đối với hàng hóa Việt Nam. Những biện pháp chế tài của Mỹ hoặc Liên Aâu áp dụng cho Trung cộng, đều cũng áp dụng cho Việt Nam vì họ ngại sợ sự tráo trở giữa hai nước.
Bài 7: VẬT GIÁ TĂNG VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ TẠI NHỮNG QUỐC GIA BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Ký giả Alain FAUJAS, trong bài báo trên LE MONDE, đã kể ra những nước sau đây: Nam Phi, Nga, Trung quốc và Việt Nam. Tình trạng vật giá tăng và lạm phát tiền tệ có thể phương hại đến đà phát triển Kinh tế hiện nay. Tình trạng này đang làm cho Thế giới lo ngại một cuộc khủng hoảng Thị trường Tài chánh và Tiền tệ. Cuộc họp tiền tệ Dollars (Mỹ) và Euro (Liên Aâu) mới đây đã tỏ ra lo sợ mà chưa có những biện cụ thể nào.
Bài 8: LÝ DO ĐẦU TIÊN CỦA TĂNG VẬT GIÁ VÀ LẠM PHÁT: ĐẦU TƯ HIỆN TẠI BẰNG TIỀN TƯƠNG LAI (VIRTUAL MONEY/ MONNAIE VIRTUELLE)
Đây là quyết định quá dễ dãi của quyền lực Chính trị vào phạm vi tiền tệ. Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất htuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy)
Bài 9: VIỆC PHÂN PHỐI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU VỀ MỨC TĂNG KINH TẾ
Kinh tế tăng trưởng với mức độ cao: Nam Phi 7.2%, Nga 9.4%, Trung quốc 6.2%, Việt Nam 8.8%. Nhưng sự phân phối độ tăng này không đồng đều trong xã hội. Một thiểu số dành lấy hầu hết độ tăng ấy, còn đại đa số quần chúng nhận được phần phân phối rất nhỏ. Giầu nghèo trong xã hội càng ngày càng chênh lệch.
Bài 10: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH VÀ TIỀN TỆ RẤT DỄ XẨY RA
Đầu tư bằng tiền tương lai (virtual money/ monnaie virtuelle) vào những công trình xây cất hạ tầng có tính cách dài hạn càng làm cho sự bấp bênh thu hồi tài chánh. Những hàng hoá ngắn hạn, như Trung quốc, Việt Nam chẳng hạn, lại tùy thuộc Thị trường nước ngoài. Một biến động Thị trường ngoại quốc có thể châm ngòi cho khủng hoảng tài chánh. Khủng hoảng tài chánh làm lụn bại Kinh tế.
Bài 11: HẬU QUẢ: DÂN CHÚNG NỔI DẬY LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN
Sự phân phối không đồng đều độ tăng trưởng Kinh tế làm cho giới nghèo càng nghèo thêm, nhất nữa họ phải chịu cảnh vật giá tăng vọt, đồng thời phải lãnh đồng lương với tiền đã mất giá. Cuộc khủng hoảng Tài chánh làm những Công ty sạt nghiệp. Số người thất nghiệp tăng vọt. Đây là những yếu tố Kinh tế/ Tài chánh buộc Dân chúng phải nổi dậy chống lại Chính quyền. Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố với báo Financial Times:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói)
Bài 12: KẾT LUẬN: TƯ HỮU LA ØNỀN TẢNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VŨNG VỚI THỂ CHẾ DÂN CHỦ LÀ HẬU QUẢ
Bài học Tài chánh trước hết là căn cơ chi tiêu. Tư hữu là động lực làm việc và cũng là mệnh lệnh cho căn cơ chi tiêu tần tiệm tích lũy. Đó là những yếu tố tăng năng suất sản xuất và tích lũy tiết kiệm làm nền tảng vững chắc cho nền kinh tế. Từ tôn trọng tư hữu, cá nhân có tự do. Cá nhân chủ được tôn trọng, thì nguyên tắc Dân chủ chỉ là hậu quả giải quyết giữa những cá nhân chủ. |
| | | Bài 1: NHỮNG HIỆN TƯỢNG BẤP BÊNH KINH TẾ CHUNG CỦA NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 08.11.2007
Đây là bài thứ nhất trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ nhất này mang đầu đề là NHỮNG HIỆN TƯỢNG BẤP BÊNH KINH TẾ CHUNG CỦA NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN. Nói là những hiện tượng chung, nghĩa là những nước thời khủng hoảng tài chánh năm 1997 như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn hay những nước bắt đấu phát triển hiện nay như Nga, Trung quốc, Việt Nam đều mang những hiện tượng Kinh tế bấp bênh như nhau. Nói một hiện tượng kinh tế bấp bênh, nghĩa là một hiện tượng nổi lên xem như đầy hy vọng tốt đẹp, nhưng lại mang nền tảng không vững chắc, chỉ cần một sự lay động, thì cả tòa hy vọng xây dựng có thể sụp đổ.
Những nhà kinh tế phân biệt ba mức độ phát triển Kinh tế của một nước dựa trên số thu hàng năm trung bình của đầu người. Có những bài báo muốn ca ngợi Trung Cộng, đã viết rằng Kinh tế Trung Cộng đứng thứ 4 trên Thế giới về thu nhập. Nhưng phải biết rằng đó là thu nhập cho 1 tỉ rưỡi người, trong khi ấy sự thu nhập của Thụy Điển, Thụy sĩ... chỉ đứng hàng thứ 10 chẳng hạn, nhưng là cho khối dân chỉ có 6 hoặc 7 triệu. Việc so sánh số thu nhập hàng năm của đầu người mới là mức đo sự phát triển Kinh tế thực sự.
Có ba mức độ thu nhập: (i) số thu nhập đầu người gọi là mới thoát ra khỏi cảnh nghèo đói; (ii) số thu nhập trung gian đủ sống; (iii) số thu nhập cao giầu có. Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn năm 1997 được gọi là những nước bắt đầu phát triển để dân tương đối thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Người ta gọi Nga, Trung Cộng, Việt Nam là những nước bắt đầu phát triển kinh tế (les pays économiquement émergents), nghĩa là không nói đến nạn chết đói, nhưng cũng không thể nói rằng mọi người đã thoát ra khỏi cảnh cùng cực. Ngày nay, người ta mới chỉ xếp Nam Hàn vào những nước với thu nhập ở mức trung gian và đang vươn lên lãnh vực thu nhập giầu có.
Đối với những nước gọi là bắt đầu phát triển Kinh tế (Pays économiquement émergents) như vừa cắt nghĩa trên đây, người ta nhận thấy những hiện tượng Kinh tế bấp bênh chung như sau: => Bấp bênh thứ 1: Dân chúng chi tiêu với số thu nhập dự đoán tương lai => Bấp bênh thứ 2: Nhà nước thực hiện dự án bằng tiền khả thể => Bấp bênh thứ 3: Sản xuất những hàng tiêu thụ ngắn hạn => Bấp bênh thứ 4: Lệ thuộc vào thị trường nước ngoài với nhiều cạnh tranh
Bấp bênh thứ 1 Dân chúng chi tiêu với số thu nhập dự đoán tương lai
Thái độ tiêu thụ của người dân tùy thuộc vào mức độ thu nhập: (i) mức thứ nhất: những người vừa thoát khỏi cảnh nghèo khổ; (ii) mức thứ hai: những người thu nhập trung bình và đều đặn; (iii) mức thứ ba: những người thu nhập giầu có.
Từ một xã hội đang sống cảnh nghèo khó và mới có những hoạt động kinh tế thoát ra khỏi cảnh khổ cực, thì lớp dân chúng ở mức thu nhập thứ nhất chiếm đại đa số tới 85%, số ở mức thứ hai chiếm tối đa 10% gồm những người trong các cơ quan hành chánh và văn phòng các hãng xưởng, số thuộc mức thứ ba chừng 5% gồm những người mới giầu lên như làm ăn trúng số hoặc tham nhũng. Những người mới giầu này tiêu xài rất hoang phí với tâm lý trưởng giả học làm sang mà người ta gọi là có tiền muốn tiêu kiểu xì-nô-bít làm quý tộc (snobisme). Về mặt Kinh tế, việc tiêu xài của lớp người này không có phương hại gì cả vì họ tiêu cái tiền họ có thực, cứ việc nịnh cho họ phổng mũi lên mà tiêu xài để mình lấy tiền không thương tiếc.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự bấp bênh do đại đa số 85% vừa thoát khỏi cảnh nghèo khổ mà thôi. Lớp người này có nhu cầu tiêu thụ rất chính đáng vì hai lý do sau đây: => Lý do tâm lý: trước đây họ không được tiêu thụ vì nghèo quá, bây giờ có khả năng hoặc hiện tại hoặc tin tưởng tương lai, thì họ tiêu thụ để bù lại; => Lý do mức sống xã hội: cái mức sống xã hội không phải chỉ nguyên trong nước mà còn bị ảnh hưởng từ quốc tế do sư quảng bá truyền thông.
Một phần những tiêu thụ được trả bằng thu nhập hiện tại, nhưng một phần lớn được trả bằng THU NHẬP HỨA HẸN TƯƠNG LAI (Revenu futur) vì tin tưởng ở nền Kinh tế bắt đầu phát triển có thể bảo đảm số lương cho họ trong những năm tới. Họ đi vay mượn để tiêu thụ hiện tại và sẽ trả góp trong tương lai. Đây là hệ thống tín dụng cho tiêu thụ (Crédit à la consommation/ Prêt comptant à la consommation). Với 85% dân chúng mới thoát khỏi cảnh nghèo khổ và với cường độ tiêu thụ để bù lại (Consommation de rattrapage), thì vật giá tất nhiên tăng lên nhanh chóng cho những xã hội như vậy. Nếu việc tăng vật giá đi song hành với việc tăng thu nhập, thì không những không có gì nguy hiểm cho nền kinh tế mà còn là dấu hiệu đáng lạc quan cho kinh tế.
Nhưng nếu độ tăng tiêu thụ, tăng vật giá được trả bằng hy vọng thu nhập tương lai, thì SỰ BẤP BÊNH TÀI CHÁNH là ở chỗ đó. Tiêu thụ hiện tại là thực 100%, nhưng đồng lương tương lai không ai có thể bảo đảm 100%. Trong một nền kinh tế mới phát triển, cái bấp bênh của đồng lương tương lai có thể tới 30-40% (Risque 30-40%).
Hiện tượng này cắt nghĩa một phần vật giá tăng vọt ở những nước bắt đầu phát triển kinh tế với những bếp bênh về tài chánh cho tín dụng tiêu thụ.
Lấy tỉ dụ cụ thể. Một người thất nghiệp trong mấy năm trường. Khi có công ăn việc làm, họ tiêu thụ để bù lại những năm tháng không được tiêu thụ. Họ đi vay tiền với bảo chứng đồng lương để mua ti-vi, xắm chiếc xe. Ti-vi và chiếc xe là tiêu thụ bằng đồng lương trả góp tương lai. Ti-vi và chiếc xe là tiêu thụ thực sự hiện tại 100%, nhưng đồng lương tương lai không thể được bảo đảm 100%, nhất là ở thời đầu phát triển của một nền Kinh tế. Cái nạn khủng hoảng tài chánh rất dễ xẩy ra ở việc vay mượn xây nhà cửa. Một trong những yếu tố gây khủng hoảng tài chánh năm 1997 là nợ nần địa ốc. Mới đây nợ nần địa ốc từ tín dụng sub-prime xây cất của Hoa kỳ đã lay động ngay Thị trường chứng khoán. Một số Ngân Hàng đã mất tiền. Hoa kỳ phải bỏ ra 27 tỉ Mỹ kim để cứu vãn Thị trường tín dụng tài chánh.
Bấp bênh thứ 2: Nhà nước thực hiện dự án bằng tiền khả thể
Những dự án, nhất là những dự án khổng lồ của nhà nước, là việc thực hiện cụ thể trong hiện tại. Nhưng làm thế nào nhà nước có thể thu nhập dủ tài chánh từ một nền kinh tế mới phát triển, để có thể tài trợ cho những dụ án ấy?
Ở một nước với quyền lực là độc tài, thì nhà nước chú trọng chính yếu vào việc bầy ra rất nhiều dự án mà không nghĩ sâu đến khả năng tài chánh cung cấp cho dự án. Việc bầy ra nhiều dự án, nhất là những dự án khổng lồ, nhằm hai mục đích: => Làm vẻ vang cho chế độ chính trị của mình: giữ quyền hành => Từ những dự án này, có thể bớt xén vào túi riêng của mình: tham nhũng.
Nếu khả năng thu nhập tài chánh hiện tại không đủ, thì nhà nước, một là đi vay mượn nước ngoài với thế chấp bằng tài nguyên quốc gia để rồi dân đóng thuế trong tương lai mà trả nợ, hai là dùng quyền lực chính trị để làm lạm phát tiền tệ.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến phương cách lạm phát tiền tệ để tài trợ cho những dự án, nhất là những dự án dài hạn thuộc hạ tầng cơ sở. Việc lạm phát này có hai tác dụng trực tiếp đến việc tăng vật giá qua ngả mất giá đồng tiền. Nói về những nước bắt đầu phát triển Kinh tế hiện nay như Nga, Trung Cộng, Việt Nam, Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).
Đây là hiện tượng đã diễn ra tại những quốc gia Nam Mỹ vào những thập niên 1980. Phương pháp lạm phát tiền tệ luôn luôn được áp dụng sau mỗi cuộc đảo chánh ở những nước Phi châu.
Chúng tôi xin cắt nghĩa phương pháp phát hành lạm phát này ở Thị trường Tiền tệ mỗi nước. Ở thời kỳ mà mỗi nước ấn định đồng tiền dựa trên cân lượng vàng (Etalon-Or), thì đồng tiền khó biến đổi giá vì dựa trên bảo chứng vàng. Nhưng vào cuối Thế chiến thứ II, các nước Aâu châu mất hết vàng bảo chứng, Tiền của các nước Aâu châu (trừ Thụy sĩ) mất hết gía. Đó là những đồng Franc cũ của Pháp, Mark Đức, Lire Ý... Hội nghị Tiền tệ Bretton Woods 1944 tại Hoa kỳ đã lấy Đo la Mỹ làm bảo chứng vì Đo la còn vàng bảo chứng (Etalon-Devise (Dollar)-Or). Nhưng khi có quá nhiều Đo la ở Aâu châu (Euro-Dollar) và ở các nước bán dầu lửa (Pétro-Dollar) thì những nước này, nhất là những nước A-rập ngại sợ sự lệ thuộc vào Mỹ (Impérialisme du Dollar), nên bỏ dần việc bảo chứng của Đo la và đồng tiền mỗi nước được bảo chứng bằng sức mạnh Kinh tế của mỗi nước (Régime du Pouvoir d’Achat économique).
Trong chế độ bảo chứng bằng Kinh tế, khi đồng Tiền khi mới in ra để phát hành, thì đồng tiền ấy chỉ là một miếng giấy chưa có giá trị. Phải cho qua ngả sản xuất Kinh tế thì đồng tiền mới mang được giá trị Kinh tế (Pouvoir d’Achat économique), nghĩa là đồng tiền phải có tương đương hàng hóa thực thụ đã sản xuất. Công thức của FISHER (Théorie Quantitative) tóm tắt sự tương đương giữa đồng tiền và hàng hóa: M.V / T = P
M.V là Khối Tiền cho lưu hành trong một nền Kinh tế. T là tổng số lượng hàng hóa sản xuất và lưu hành trong nền Kinh tế. Khi chia M.V (Khối tiền lưu hành) cho T (Tổng số hàng hóa), thì chúng ta có P chỉ số tương đương của đơn vị đồng tiền và hàng hóa.
M.V là Khối lượng tiền tệ đang lưu hành (hiện tại), có tương đương thực sự của hàng hóa. Việc lạm phát tiền tệ như sau. Khi không đủ số thu nhập để chi tiêu, nhà nước rất dễ cho in thêm một số lượng tiền tệ. Số lượng tiền này chưa có giá trị vì chưa qua hệ thống sản xuất Kinh tế, nhưng nhà nước đã chi tiêu. Việc chi tiêu này là đem nhập chung lẫn lộn giữa khối tiền đã có tương đương hàng hóa và khối tiền mới in ra cho thêm vào. Khối tiền lưu hành trở thành lớn hơn, trong khi ấy việc sản xuất kinh tế vẫn chưa tăng, vì vậy đồng tiền mất giá sánh với lượng hàng hóa tương đương.
Lấy tỉ dị cụ thể. Một Oâng Tướng tại một nước Phi châu, đem quân đội từ rừng ra làm đảo chánh và nắm chính quyền. Kinh tế không những không tăng trưởng mà còn ngưng trệ. Nhưng Oâng cần tiền để trả lương lính và các công chức. Oâng chĩa súng bắt Thống đốc Ngân Hàng Quốc gia phải in cho Oâng mấy tỉ tiền mới. Những tiền cũ đang lưu hành còn có tương đương hàng hóa, nhưng khối tiền mới này chưa có tương hàng hóa. Thế mà vợ của lính, của công chức mang ra chợ mua hàng hóa. Chung hai khối tiền mới cũ vào nhau, đồng tiền mất giá. Lạm phát làm mất giá đồng tiền là ở chỗ đó. Vật giá cũng tăng vọt lên chỉ vì đồng tiền mất giá.
Tại những nước mới phát triển, để tài trợ cho những dự án, nhà nước cho phát hành hoặc là trực tiếp tiền tệ, hoặc là những Bảo Lãnh Ngân Hàng, BG, SLC, PN, CD, hoặc là Trái phiếu. Tất cả những phát hành này là những phát hành tiền tệ tương lai mà nhà nước HY VỌNG nền Kinh tế tương lai sẽ mang lại những tương đương hàng hóa để đồng tiền tương lai có một giá trị. Nhưng tương lai luôn luôn mang những cái bấp bênh, nhất là đối với một nền Kinh tế mới phát triển. Thực hiện dự án là phải tiêu thực sự trong hiện tại, nhưng tài chánh lại bằng đồng tiền tương lai (Virtual Money/ Monnaie virtuelle). Mà tương lai thì phải hát câu Que sera, sera... bấp bênh. Cái nguy hiểm khủng hoảng tài chánh rất dễ xẩy ra do sự bấp bênh này. Nó càng bấp bênh hơn nữa khi mà số ngoại tệ lại bị kẻ cầm quyết cho thoát ra nước ngoài.
Bấp bênh thứ 3: Sản xuất những hàng tiêu thụ ngắn hạn
Ở những nước mới phát triển, việc sản xuất quy tụ chính yếu vào những hàng nông nghiệp, vào những linh kiện (sous-traitance) và vào những hàng tiêu thụ ngắn hạn thường ngày. Những lý do sau đây cắt nghĩa về việc sản xuất này:
=> Muốn sản xuất những hàng tiêu thụ dài hạn và ở kỹ thuật cao và phức tạp, thì phải có một mức độ chuyên viên lành nghề và phải thiết bị máy móc sản xuất cao. Việc này đòi hỏi số vốn lớn và dài hạn. Khả năng đầu tư từ trong nước thì chưa có đủ, trong khi ấy khả năng đầu từ ngoại quốc còn dè dặt vì những bấp bênh chính trị và kinh tế nội địa.
=> Cũng nên lưu ý rằng, những nước đã có kỹ thuật cao cũng không muốn đem kỹ thuật ấy chuyển sang cho mình để sau này mình trở thành cạnh tranh.
=> Vì không dồi dào vốn và không có vốn dài hạn, nên chỉ sản xuất những hàng nông nghiệp, những linh kiện và những hàng tiêu tụ ngắn hạn thường dùng để có thể bán ngay và thu lại mau chóng số vốn ngắn hạn đã bỏ ra.
Đây là nền kinh tế sản xuất theo sự mua bán nhất thời của khách hàng, theo thời trang, theo ưa thích nhất thời, chứ chưa tiến đến nền kinh tế làm việc theo đặt hàng dài hạn. Đó là tính cách bấp bênh của nền kinh tế.
Bấp bênh thứ 4: Lệ thuộc vào thị trường nước ngoài với nhiều cạnh tranh
Những nước bắt đầu phát triển như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn của những năm 1997 và những nước như Trung Cộng, Việt Nam hiện nay đều làm việc chính yếu cho xuất cảng vì những lý do sau đây:
=> Khả năng mua hàng trong nội địa còn rất yếu.
=> Một số lớn những nước đầu tư sản xuất là muốn lấy hàng sản xuất với giá hạ để họ mang sang những nước đã kỹ nghệ hóa bán với giá cao. Đây là việc tìm kiếm đầu tư để hạ giá thành sản xuất mà thôi.
=> Riêng về những linh kiện (sous-traitance) là để những nhà đầu tư cung cấp cho những Công ty chính nằm tại những nước tiền tiến.
Tóm lại nền kinh tế của những nước bắt đầu phát triển lệ thuộc vào Thị trường nước ngoài mà chính yếu là Hoa kỳ và Liên Aâu. Nhưng tại những Thị trường này, việc cạnh tranh là rất gắt gao. Việc cạnh tranh gắt gao tất nhiên làm tăng những bấp bênh cho nền sản xuất chỉ nhằm xuất cảng. Hãy lấy một số tỉ dụ:
Vào những năm sau sụp đổ của Nga và Đông âu, những hàng hóa tiêu dùng ngắn hạn như quần áo, đồ dùng bằng chất nhựa, băng nhựa video, nhạc... của Thái Lan, Mã Lai, Nam Hàn bán rất nhiều tại những nước Đông Aâu. Tôi có dịp đi thăm Mạc Tư Khoa, Warsaw sau khi bức tường Bá Linh đổ xuống, thấy hàng hóa Á đông tràn đầy trên những Thị trường này. Tỉ dụ Dom 5 Cũ, Dom 5 Mới tại Mặc Tư Khoa rất nhộn nhịp. Nhưng sau một số năm, những nước Đông Aâu tổ chứ lại sản xuất, thì họ hiện nay là những nước cạnh tranh khá mạnh đối với những nước Á đông vì họ nằm chính trong Liên Aâu và gần kề với những nước tiêu thụ lớn của Liên Aâu.
Tại Thị trường Bắc Mỹ, khả năng phát triển Kinh tế của Ba Tây là cạnh lớn đối với sản phẩm Á đông về đồ ăn và những nguyên vật liệu.
Trên cả hai Thị trường Liên Aâu và Hoa kỳ, xin đừng quên rằng Aán độ đang trở thành một nước cạnh tranh lớn về những hàng hóa chất, thuốc tây và điện tử.
Sự khác biệt về chế độ và sự hống hách tuyên truyền của Trung Cộng dường như đang tạo cho hai Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu nẩy sinh những biện pháp chế tài. Thực vậy, dù Trung Cộng và Việt Nam đã vào WTO và được hưởng những Giá biểu Hợp đồng (Tarifs Contractuels) của Tổ chức Mậu dịch Quốc tế này, nhưng Liên Aâu và Hoa kỳ vẫn có thể nại ra những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để có thể chế tài hàng hóa của Trung Cộng hay Việt Nam, chẳng hạn như những Biện pháp Quota, Kiểm soát hối đoái, Biện pháp kỹ thuật, Biện pháp Vệ sinh, Biện pháp hành chánh. Hiện nay, Liên Aâu và Hoa kỳ đang lưu ý đặc biệt áp dụng Biện pháp Vệ sinh đối với những hàng hóa của Trung Cộng và Việt Nam.
Tóm lại, một nền Kinh tế lệ thuộc chính yếu vào Thị trường nước ngoài với những hàng hóa tiêu thụ thường ngày ngắn hạn, thì nền kinh tế ấy luôn luôn có những bấp bênh trước những quyết định của nước ngoài và trước những cạnh tranh của những nước khác về cùng những mặt hàng giống mình.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bai 2 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH Á CHÂU 1997: LÝ DO GIỐNG NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN NGÀY NAY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 15.11.2007
Đây là bài thứ hai trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ hai này mang đầu đề là KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH Á CHÂU 1997: NHỮNG LÝ DO GIỐNG NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN NGÀY NAY. Cuộc khủng hoảng này tàn phá rất nhanh và rồi sau một thời gian ngắn việc phát triển Kinh tế được lấy lại mau chóng không ngờ. Nhưng chính trong việc lấy lại phát triển mau chóng không ngờ này mà những nhà quan sát Kinh tế tìm thấy những chất liệu cấu trúc còn mang những bấp bênh, nghĩa là không bền vững, làm người ta lo lắng cho một cuộc khủng hoảng mới có thể xẩy ra. Trong số những nhà quan sát này có Bà Francoise NICOLAS mà chúng tôi lấy lại một số dữ kiện để viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh này năm 1997.
Viết về cuộc Khủng hoảng 1997 không phải như nhắc lại một kỷ niệm đau buồn, nhưng là để nhìn qua cuộc Khủng hoảng, kiểm chứng lại những bấp bênh Kinh tế chung cho những nước bắt đầu phát triển hiện nay mà chúng tôi đã trình bầy trong Bài thứ nhất tuần vừa rồi, khả dĩ tiên đoán những gì sẽ xẩy ra, nhất là cho nền Kinh tế gọi là bắt đầu phát triển hiện nay của Việt Nam khi mới hội nhập vào cuộc cạnh tranh Kinh tế Thế giới.
Bài này được viết trong quan điểm đó về những điểm chính sau đây:
=> Diễn biến nhanh chóng của Khủng hoảng => Những lý do yếu kém chống Khủng hoảng => Nhìn Khủng hoảng qua những bấp bênh Kinh tế chung của những nước bắt đầu phát triển
Diễn biến nhanh chóng của Khủng hoảng
Người ta thường nói đây là cuộc Khủng hoảng Tài chánh (Crise Financìere). Thực ra đây là cuộc Khủng hoảng toàn diện về Kinh tế mớt phát triển trong những điều kiện phát triển bột chộp với một số khía cạnh có thể nói là hỗn loạn. Tài chánh là máu mạch của Kinh tế và như vậy nói đây là Khủng hoảng Tài chánh cũng không sai.
Cuộc Khủng hoảng xẩy ra như cơn lốc bất thần thổi mạnh vào mùa hè 1997 bắt đầu từ Thái Lan, rồi Mã Lai, Nam Dương và lên tới Nam Hàn. Tân Gia Ba, Đài Loan, Nhật Bản không bị ảnh hưởng của cơn lốc hay nói đúng hơn họ có những phương tiện cứng mạnh để chống đỡ.
Trung bình việc sản xuất của những nước không chống nổi cơn lốc đã bị lùi 8% vào năm 1998: Thái Lan và Mã Lai 8%, Nam Dương lùi xuống tới 20% (Theo Vivienne WEE, SEARO Working Paper Series, No.14, City University of Hong Kong, November 2001). Cũng theo tài liệu này, cuộc Khủng hoảng kéo theo một loạt những hậu quả xã hội: tăng vọt thất nghiệp, trở lại tình trạng nghèo khổ. Trong khoảng mấy tháng, số người thất nghiệp tăng lên tối thiểu 800'000 người ở Nam Dương, 1'500'000 tại Thái Lan và 1'350'000 tại Nam Hàn. Giữa 1997 và 1998, độ tăng thất nghiệp từ 2.6% lên 7% tại Nam Hàn, từ 0.9% lên 3.4% tại Thái Lan, và từ 2.5% tới 3.2% tại Mã Lai. Tổng thể, hơn 917 tỉ đo-la về sản xuất bị mất cho 4 nước trong khoảng thời gian từ 1997 đến 2000.
Nói về Tiền tệ và Đồng Lương, thì cuộc Khủng hoảng càng gây tàn phá hơn, không phải chỉ vì việc tụt dốc của sản xuất, nhưng còn vì việc rút ngoại tệ ra khỏi những nước này. Tại Nam Dương và Thái Lan, Tiền mất giá so với Đo-la tới trên 60% sánh với trước cuộc Khủng hoảng. Độ giảm của đồng Lương thực (Salaires réels) vào cuối năm 1998 giảm 12,5% tại Nam Hàn, giảm 6% tại Thái Lan. Về việc giảm đồng lương này, người ta đã nhận thấy triệu chứng từ 5 năm trước cuộc Khủng hoảng. Với cuộc Khủng hoảng như gió lốc này, dân chúng thực sự đi vào cảnh nghèo khổ. Số dân sống dưới chỉ số nghèo khổ tăng từ 30 triệu lên 50 triệu tính chung trong vùng. Tại Nam Dương số dân sống dưới 2 Đo-la mỗi ngày cho 50% dân chúng vào năm 1997 đã tăng lên 65% dân chúng vào năm 1999.
Đặc biệt tại Nam Dương, cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh 1997 lan sang Chính trị, dẫn đến việc sụp đổ của Suharto.
Những lý do yếu kém chống Khủng hoảng
Xin nhắc lại rằng Tân Gia Ba, Đài Loan và Nhật không có những bấp bênh làm điều kiện cho Khủng hoảng xẩy ra, hoặc tối thiểu những nước này đã có sẵn những phương tiện Tài chánh để chống đỡ cơn lốc Kinh tế/Tài chánh.
Lấy tỉ dụ việc phát triển Kinh tế như xây một cái nhà. Cái nhà có thể làm bằng tre luồng, không cần phải có nền, móng kiên cố. Nhưng nếu muốn xây một cái nhà lên cao bằng gạch ngói, thì phải đặt nền móng vững chắc. Một cái nhà bằng luồng nứa, nền móng không có, lại thiếu đề phòng những cây chống, thì khi bão tối, nhà dễ bị sụp nhanh chóng. Người ta gọi đây là những nhà sống tạm bợ, không đề phòng phong ba.
Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương phát triển Kinh tế mang tính cách ăn xổi ở thì, không dự phòng những phương tiện chống đỡ nền Kinh tế nếu có cơn lốc tới. Nam Hàn có sự phát triển mạnh hơn những nước trên, nhưng có thăm vọng xây nhà cao, nhưng nền móng chưa vững tương xứng với tham vọng cao của ngôi nhà, nên cơn lốc cũng làm lung lay ngôi nhà.
Những yếu tố yếu kém thực tế không đủ chống đỡ cho nền Kinh tế mới phát triển và cao vọng nhẩy vọt phát triển, như sau:
=> Nền Kinh tế phát triển mà những thành phần cốt cán của nền Kinh tế chịu ảnh hưởng nặng từ những Nhóm Gia đình hoặc trực tiếp từ quyền lực Chính trị. Tỉ dụ: tại Nam Hàn, 5 Nhóm nắm chủ chốt Kinh tế có những liên hệ Gia đình; tại Thái Lan, những Nhóm Gia đình lớn vẫn còn tại chỗ đến ngày nay (tỉ dụ Gia đình cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra); tại Nam Dương, nắm giữ phần lớn ngành nghiệp sản xuất là ở trong tay chừng 10 Gia đình; tại Mã Lai, quyền lực Chính trị can thiệp trực tiếp vào những đầu tư chủ yếu.
=> Cơ cấu tổ chức quản trị Xí Nghiệp hoặc những Tập đoàn Kinh tế thiếu trong sáng và hữu lý theo những chỉ tiêu Kinh tế.
=> Đặc biệt Nghiệp vụ Ngân Hàng và Thị trường Tài chánh, có những yếu kém sau đây:
* Ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng những quyết định có tính cách Gia đình. Trước Khủng hoảng, Ngân Hàng cho vay vốn với những trường hợp nghi ngờ. Đây là khía cách nguy hiểm Tiền bạc và thiếu kiểm soát tài chánh, một yếu tố gây lỏng lẻo sự hữu lý kiểm tra ngân khoản các xí nghiệp. So sánh một vài con số theo tài liệu của Ngân Hàng Thế Giới về sự bấp bênh cho vay nghi ngờ: những năm 1997-98, những món nợ nghi ngờ (créances douteuses) chiếm tới 30% tổng số cho vay và năm 2006 những món nợ ấy chỉ còn chiếm 6% của tổng số.
* Điểm đáng lưu ý nữa là Ngân Hàng cho vay nợ, rất ít cho việc sản xuất, nhưng chú trọng cho tiêu thụ, nhất là cho việc xây cất nhà cửa. Một nền Kinh tế thu nhập ngắn hạn mà tiêu thụ địa ốc dài hạn cho thấy sự bấp bênh của những món nợ.
* Việc mở cửa của lãnh vực Ngân Hàng cho đến năm 1997 đối với những nhà đầu tư quốc tế đã bị giới hạn. Theo yêu cầu của IMF, Thái Lan, Nam Dương, Nam Hàn đã hủy bỏ những giới hạn này ngay sau năm 1997, trừ Mã Lai vẫn còn giữ.
* Người ta cũng ghi nhận sự yếu kém của Thị trường Trái khoán. Nên lưu ý rằng những Trái khoán tượng trưng tính cách chắc chắn của Tài chánh. Những con số sau đây tính theo % của thu nhập hàng năm theo đầu người cho thấy sự yếu kém của Thị trường này năm 1997: Nam Dương 0.4% (Trái khoán Nhà nước) và 0.8% (Trái khoán Xí nghiệp); Nam Hàn 4.9% (Nhà nước) và 10.3% (Xí nghiệp); Mã Lai 19.4% (Nhà nước) và 20.8% (Xí nghiệp); Thái Lan 0.2% (Nhà nước) và 6.0% (Xí nghiệp) (Nguồn tài liệu: East Asian Finance (2006).
Những nhận định về những yếu kém trên đây đã đặc biệt nhấn mạnh bởi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF như những điều kiện phải sửa chữa để IMF (International Monetary Funds) cho mượn vốn để chống đỡ cuộc Khủng hoảng. Thái Lan, Nam Dương và Nam Hàn đã chấp nhận. Mã Lai đã không chấp nhận mà lý do là sự can thiệp của quyền lực vào nền Kinh tế đồng thời kèm theo những tham nhũng đi với sự can thiệp trực tiếp quyền lực vào đời sống Kinh tế.
Nhìn Khủng hoảng qua những bấp bênh Kinh tế chung của những nước bắt đầu phát triển
Nếu những điểm yếu kém trên đây là những điểm đặc biệt mà chính Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF (International Monetary Funds) đã nghiên cứu kỹ để đặt điều kiện cho việc chấp thuận cho vay vốn, thì những Bấp bênh Kinh tế có tính cách chung cho những nước bắt đầu phát triển cũng cho chúng ta nhìn thấy những lý do đưa đến Khủng hoảng năm 1997 tại Á châu cho 4 nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Trong bài thứ nhất thuộc chủ đề, chúng tôi đã nêu ra 4 Bấp bênh chung của những nước bắt đầu phát triển như sau: => Bấp bênh thứ 1: Dân chúng chi tiêu với số thu nhập dự đoán tương lai => Bấp bênh thứ 2: Nhà nước thực hiện dự án bằng tiền khả thể => Bấp bênh thứ 3: Sản xuất những hàng tiêu thụ ngắn hạn => Bấp bênh thứ 4: Lệ thuộc vào thị trường nước ngoài với nhiều cạnh tranh
Đối với Bấp bênh thứ nhất: Dân chúng chi tiêu với số thu nhập dự đoán tương lai. Việc dân chúng vừa thoát ra khỏi cảnh nghèo khổ, thì khuynh hướng tiêu thụ quá mức thu nhập không thể tránh được bởi vì dân chúng tiêu thục để bù vào thời gian không được tiêu thụ và bởi vì những người nghèo muốn cập nhật mức sống hiện hành. Đối với phương diện này, như chúng tôi vừa nói ở đoạn trên, chính Ngân Hàng các nước liên hệ với Khủng hoảng đã cổ võ việc tiêu thụ này, nhất là những ưng thuận tín dụng cho những món nợ nghi ngờ trong việc lãnh vực địa ốc. Tiêu với thu nhập dự đoán tương lai đã là một yếu tố bấp bênh rồi. Nhưng ở lãnh vực địa ốc nghi ngờ lại còn bấp bênh hơn nữa vì tính cách dài hạn của tín dụng sánh với dự trù thu nhập tương lai ở một nền Kinh tế ăn sổi ở thì với những hàng xuất cảng tiêu thụ ngắn hạn. Một tỉ dụ mới nhất ngay chính tại Hoa kỳ, đó là tín dụng sub-prime cho địa ốc. Một nước có những dự trù thu nhập khá vững chắc, thế mà tín dụ dụng địa ốc sub-prime đã làm khuynh đảo Thị trường Tài chánh cách đây mấy tháng. Khi mà đa số dân chúng ở những nước mới bắt đầu phát triển như Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan ở những năm 1997 tiêu thụ với thu nhập lương bổng tương lai, thì tất nhiên không thể có tiết kiệm làm nền tảng cho đầu tư từ trong nước để có thể độc lập về kinh tế. Khi gặp làn gió lốc thổi từ nước ngoài, nền kinh tế thiếu phương tiện chống đỡ. Những nước như Nhật, Đài Loan, Tân Gia Ba đã tích lũy số vốn nội địa và đã có thể chống đỡ cơn bão.
Đối với Bấp bênh thứ hai: Nhà Nước thực hiện dự án bằng tiền khả thể. Những dự án nhà nước thường là vào lãnh vực hạ tầng cơ sở có tính cách dài hạn. Đối với những quốc gia mới bắt đầu phát triển ở những năm 1997, tiền khả thể đã phát hành dài hạn, trong khi ấy số thu nhập của nhà nước dựa vào phát triển kinh tế ngắn hạn. Tính cách bấp bênh của tương lai không thể tránh được. Đây là phương diện lạm phát tiền tệ vô trách nhiệm của nhà nước. Lạm phát tiền tệ, cộng thêm với thất thoát ngoại tệ bởi chính giới nắm quyền hành, một đàng làm đồng tiền mất giá, một đàng khiến vật giá tăng. Thực vậy, nếu nền Kinh tế chưa đủ bảo đảm cho sự đứng vững của đồng tiền, thì tối thiểu số ngoại tệ tích lũy cũng có thể làm bảo chứng cho giá cả đồng tiền. Tính cách bấp bênh của Kinh tế nội địa càng thúc đẩy việc thất thoát ngoại tệ ra nước ngoài.
Đối với Bấp bênh thứ ba: Sản xuất những hàng tiêu thụ ngắn hạn. Đây là sự bấp bênh của chính hệ thống sản xuất Kinh tế. Đối với những quốc gia có nền Kinh tế sản xuất những hàng tiêu thụ dài hạn và ở mức độ kỹ thuật cao, thì hàng hóa sản xuất theo hợp đồng đặt hàng dài hạn, nghĩa là việc thu nhập được hoạch định tương đối vững chắc. Trong khi đó, một nền Kinh tế chỉ làm việc theo nhu cầu nhất thời của Thị trường, thì việc hoạch định sản xuất không thể vững chắc. Đó là những hàng hóa được tiêu thụ theo thời trang và mang tính cách bấp bênh theo thời. Hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn bấp bênh theo thời trang kéo theo sự bấp bênh hoạch định sản xuất của nền Kinh tế.
Đối với Bấp bênh thứ tư: Lệ thuộc vào Thị trường nước ngoài với nhiều cạnh tranh. Vào những năm 1997, khả năng thu nhập tiêu thụ thực sự của dân chúng nội địa còn yếu kém. Hàng hóa sản xuất ra là nhằm xuất cảng, nghĩa là những nước mới phát triển thời ấy lệ thuộc vào Thị trường nước ngoài nhất là Hoa kỳ và Aâu châu. Nam Hàn đã muốn tạo tiêu thụ nội địa bằng hệ thống Tín dụng Tiêu thụ (Crédit à la consommation), nhưng đã thất bại. Khi hàng sản xuất có tính cách ngắn hạn và chỉ nhằm vào xuất cảng, thì tính cách bấp bênh càng tăng hơn nữa bởi lẽ chỉ cần một biến động nhỏ về tiêu thụ ở nước ngoài đối với những hàng hoá không nhất thiết cần phải tiêu thụ, thì biến động nhỏ ấy ảnh hưởng tới sản xuất kinh tế của những nước mới phát triển. Thêm vào đó, tại Thị trường nước ngoài, nhất là Hoa Kỳ và Liên Aâu, có những cạnh tranh mà chính những Thị trường này phải buộc lòng nâng đỡ. Tỉ dụ tại Thị trường Liên Aâu, sự cạnh tranh hàng hóa từ những nước Đông Aâu đang lớn mạnh và đe dọa những hàng sản xuất từ Á đông. Cho đến năm 1997, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn có những dễ dàng đối với Thị trường Liên Aâu. Nhưngsau 10 năm sụp đổ của Cộng sản, những nước Đông Aâu tổ chức lại sản xuất và tất nhiên được nâng đỡ bởi Liên Aâu vì chính những nước này thuộc Liên Aâu. Đối với Thị trường Hoa kỳ, cả Khối Nam Mỹ, nhất là Ba Tây, đang trở thành những nước cạnh tranh lớn trong Thị trường này.
Một yếu tố Bấp bênh nữa được nhắc phụ thêm trong bài này, đó là tính cách di chuyển vốn đầu tư phát xuất từ Hong Kong. Sau khi Anh quốc ký kết chuyển Hong Kong lại cho Trung quốc, thì những nhà tài phiệt tại Hong Kong chỉ muốn để lại đây số vốn làm việc (Capital opérationel) còn những số vốn khổng lồ khác tìm đường chạy loạn qua Tân Gia Ba, Thái Lan và Mã Lai qua ngả hệ thống liên hệ Gia đình. Nhưng số vốn này dần dần lại di tản sang những nước Tây phương, nhất là Canada (Vancouver). Cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 có bị ảnh hưởng bởi việc di tản vốn này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | |
Bài 3: CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH ĐỂ CÓ YỂM TRỢ TÀI CHÁNH CỦA IMF
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 22.11.2007
Đây là bài thứ ba trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ hai này mang đầu đề là CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH ĐỂ CÓ SỰ YỂM TRỢ TÀI CHÁNH CỦA IMF (International Monetary Fund). Trong bài thứ hai tuần vừa rồi, chúng tôi đã cho thấy rằng cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu tàn phá rất nhanh chóng nền Kinh tế của 4 nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Những nước như Tân Gia Ba, Đài Loan và Nhật Bản không bị ảnh hưởng hay nói đúng hơn họ có khối dự trữ Tài chánh vững chắc để chống đỡ cơn Khủng hoảng. Nói như vậy cũng có nghĩa rằng những nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn không đủ phương tiện tài chánh dự trữ để có thể chống được cơn lốc Khủng hoảng.
Nơi cầu cứu phương tiện Tài chánh để chống đỡ và phục hồi nền Kinh tế, đó là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). IMF đồng ý cho vay Tài chánh, nhưng với điều kiện là những nước này phải chấp nhận những cải cách những điểm yếu làm lý do chính sụp đổ nền Kinh tế. Trong bài tuần trước, chúng tôi đã nêu hai phương diện yếu, đó là hệ thống quản trị Xí nghiệp và hệ thống Ngân Hàng điều hành Tài chánh. Theo Bà Francoise NICOLAS, Mã Lai đã không vay Tài chánh của Quỹ Tiền tệ Quốc tế vì không muốn những can thiệp động chạm đến việc can thiệp trực tiếp của quyền lực Chính trị vào Kinh tế và trong sự can thiệp này có sự tham nhũng cấu kết giữa Chính trị và những Gia đình giữ Kinh tế. Bà Francoise NICOLAS viết:“En Malaisie,...., les connections étroites entre les pouvoirs politiques et économique sont toujours à l’ordre du jour,... Selon Transparency International,..., le niveau de corruption est comparable en Malaisie en 2005 à ce qu’il était en 1995“ (Tại Mã Lai,..., những liên hệ chặt chẽ giữa quyền lực chính trị và kinh luôn luôn hiện diện,... Theo Tổ chức Trong suốt Quốc tế,..., mức độ tham nhũng tại Mã Lai có thể so sánh năm 2005 vẫn còn giống như năm 1995). Đó là những lý do khiến Mã Lai không muốn nhận Tài chánh của IMF với những điều kiện can thiệp trực tiếp vào Kinh tế của mình.
Chúng tôi sẽ bàn những điểm sau đây trong bài này:
=> Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (International Monetary Fund) => Aûnh hưởng Kinh tế trực tiếp từ việc chêm vốn của IMF => Những cải tổ về Quan trị Xí nghiệp đề nghị từ IMF => Những cải tổ hệ thống Ngân Hàng đề nghị từ IMF
Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (International Monetary Fund)
Thế Chiến thứ II đã làm kiệt quệ Kinh tế Aâu châu. Tiền tệ được quy định theo lượng vàng (Régime Etalon Or). Nhưng các nước Aâu châu, trừ Thụy sĩ, đã không còn vàng làm bảo chứng cho Tiền tệ nữa. Hội Nghị Bretton Woods, New Hampshire (USA) tháng Bảy 1944 lấy hai quyết định quan trọng: * Chuyển Chế độ Tiền tệ từ Etalon-Or sang Etalon-Devise-Or. Thực ra Tiền tệ vẫn định nghĩa trên bảo chứng của vàng. Nhưng thời ấy chỉ có đồng Đo-la mới có đủ lượng vàng bảo chứng, nên Tiền của những nước khác phải nhận Đo-la (Devise) làm bảo chứng.
* Lập một Quỹ chung với sự đóng góp từ những nước có khả năng. Lúc đầu, Quỹ này chính yếu nhằm mục đích tương trợ Tiền tệ. Những nước có Tiền tệ yếu có thể vay Quỹ tương trợ để nâng đỡ đồng tiền của mình. Thêm vào đó, ác mộng của cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 vẫn còn làm cho các nước sợ hãi, nên 45 nước tham dự Hội Nghị muốn Quỹ tương trợ còn có mục đích hợp tác Kinh tế giữa các nước mong tránh những nguồn khủng hoảng lan tràn như năm 1930. Tổ chức QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ IMF (International Monetary Fund) chính thức thành hình năm 1945.
Từ 45 nước Hội viên ban đầu, số Hội viên ngày nay tăng lên 185 nước. Số quỹ đóng vào hiện nay là 338 tỉ Đo-la (tài liệu 30.09.2007). Ngoài ra IMF có số dự trữ Vàng tính theo thời giá cuối tháng 9/2007 là 77 tỉ Đo-la. Điều khoản I của Quy chế xác định những mục đích hoạt động sau đây:
=> Hợp tác Tiền tệ quốc tế => Khuếc trương phát triển Thương mại quốc tế => Giữ thăng bằng về Hối suất Tiền tệ => Tương trợ hệ thống Thanh toán đa phương quốc tế => Tương trợ những nước Hội viên khi gặp những khó khăn Thanh toán quốc tế => Cho vay vốn để bảo đảm phát triển Kinh tế bền vững và đề phòng Khủng hoảng => Tự mình hoặc hợp tác với Ngân Hàng Thế Giới trong việc làm giảm nghèo đói
Hiện nay Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế khai triển những biện pháp chi tiết cho những vấn chính yếu sau đây:
* Làm thế nào IMF giúp những nước nghèo để cứu đói giảm nghèo ? * Làm thế nào IMF canh chừng việc bền vững phát triển Kinh tế chung ? * Làm thế nào IMF giúp đỡ để giải quyết những Khủng hoảng Kinh tế ?
Vấn đề cuối cùng này liên quan đến chủ đề chúng tôi đang viết. IMF viết: “Balance of payments difficulties can arise—and, in the worse case, build into crises—even in the face of strong prevention efforts. The IMF assists countries in restoring economic stability by helping to devise programs of corrective policies and providing loans to support them. Since unsustainable debt burdens are sometimes part of the problem, the IMF has also been encouraging actions by debtor countries and their creditors to faciliate a more orderly process for debt restructuring.“ (Tài liệu IMF, 30.09.2007) (Những khó khăn thuộc bảng cân bằng thanh toán quốc tế có thể làm tăng—và, trong trường hợp tệ hại nhất, chất chồng thành những khủng hoảng—ngay cả trước những cố gắng đề phòng vững mạnh. IMF trợ lực những quốc gia trong việc tái lập sự thăng bằng kinh tế bằng cách giúp đỡ hoạch định những chương trình gồm những biện pháp sửa sai và cung cấp vốn để nâng đỡ. Vì những gánh nặng nợ nần không thể trụ nổi trở nên thành phần của vấn đề, nên IMF cũng cổ võ việc dàn xếp giữa những nước mang nợ và những chủ nợ làm dễ dãi tiến trình thanh toán có trật tự về việc tái tổ chức nợ nần.)
Việc cho những nước Á đông trong cuộc Khủng hoảng 1997 vay vốn là một trong những mục đích đã được quy định theo Quy chế của IMF. Tuy nhiên, khi cho vay vốn, IMF cũng có quyền kiểm soát việc xử dụng vốn ấy.
Aûnh hưởng Kinh tế trực tiếp từ việc chêm vốn của IMF
Trong phần này, chúng tôi chỉ muốn nói đến ảnh hưởng Kinh tế trực tiếp từ việc chêm vốn của IMF vào những nước Thái Lan, Nam Dương và Nam Hàn. Nghĩa là trong phần nay, chúng tôi chưa nói đến việc cải tổ theo đòi hỏi của IMF, mà chỉ nguyên việc chêm vốn (Injection du Capital) cũng đã mang lại một hậu quả Kinh tế trực tiếp rồi.
Nói về điểm này, tất cả những Sinh viên học Kinh tế Chính trị không thể quên Kinh tế gia Anh quốc KEYNES. Những Giáo sư Kinh tế thời danh như SAMUELSON, FRIEDMANN đều là những người thuộc trường phái của KEYNES. Thực vậy, Keynes, gốc Toán học, đã chú tâm nghiên cứu cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30: Xí nghiệp đóng cửa, Thất nghiệp lan tràn. Dân chúng không còn khả năng tiêu thụ nữa. Keynes đã chủ trương phải tìm mọi cách nâng đỡ tiêu thụ (consommation), nghĩa là phải làm thế nào cho Cầu tăng lên để khởi công Cung. Việc làm cho Cầu tăng có thể trực tiếp bằng trợ cấp xã hội (hệ thống Welfare) hoặc là Nhà nước chủ trương những Công trình lớn xây dựng hạ tầng cơ sở (Grands Travaux). Hoa kỳ đã áp dụng chủ trương Keynes vào những xây dựng những Tòa Nhà Hành chánh, Đường sá, Cầu Cống, Đập nước. Qua những công trình xây cất này, Thợ thuyền có đồng lương và từ đó Cầu tăng lên. Khi Cầu tăng lên thì giới Xí nghiệp tư nhân bắt đầu sản xuất và lần lượt vận hành như vậy thì số thất nghiệp giảm, nghĩa là Cầu càng tăng. Nên Kinh tế lấy lại phát triển.
Gốc là nhà Toán học, Keynes đã đưa ra công thức tính toán tầm ảnh hưởng tăng Kinh tế từ việc chêm một số vốn từ ngoài ( Injection exogène) làm những ảnh hưởng tăng nội tại của hệ thống Kinh tế (Effets endogènes). Công thức tính toán ấy được gọi là Nhân cấp số Keynes (Multiplicateur kéneysien).
Tỉ dụ khi nhận thu nhập là 100, người nhận dành cho tiêu thụ là 75% (0.75) số thu nhập. Nếu chêm vào nền Kinh tế 100'000.- phụ thêm, thì hậu quả tăng lên của nền Kinh tế sẽ là:
tR = k. tI,
tR: tăng thu nhập; tI: tăng chêm vố đầu tư ; k : Nhân cấp số Keynes được tính như sau:
k = 1/ (1-0.75) = 4
Như vậy, nếu tăng tI = 100'000.-, thì số thu nhập của Kinh tế tăng lên 4 lần:
tR = (1/ (1-0.75)) . 100'000.- = 4 x 100'000 = 400'000.-
Tiền vay của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là việc Chêm vốn vào một nước sẽ làm tăng số thu nhập cho nền Kinh tế gấp nhiều lần hơn qua Nhân cấp số Keynes (Multiplicateur Kenésien). Chúng tôi gọi đây là hâu quả Kinh tế trực tiếp từ việc Chêm vốn vay mượn từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Những cải tổ về Quan trị Xí nghiệp đề nghị từ IMF
Trong bài thứ hai của loạt bài chủ đề này, chúng tôi đã nói đến những yếu kém của việc Quản trị Xí nghiệp dẫn đến Khủng hoảng. Đó là:
=> Nền Kinh tế quy tụ chính yếu vào những Nhóm Gia đình. Việc quản trị mang nặng yếu tố tình cảm gia đình.
=> Những quyết định Kinh tế thiếu tính cách Hữu lý theo những nguyên tắc thuần túy Kinh tế.
Bà Francoise NICOLAS đã viết về việc đòi hỏi cải tổ Xí nhiệp như sau:“Le volet de la réforme post-crise a consisté à résoudre les problèmes des entreprises en faillite ou en difficulté financìere, à renforcer le système légal des faillites, à restructurer les grands groupes familiaux et à améliorer la méthode de gouvernance des entreprises“ (Phương diện cải cách hậu khủng hoảng gồm việc giải quyết những vấn đề của các Công ty phá sản hoặc khó khăn tài chánh, gồm việc tăng cường hệ thống luật lệ về phá sản, gồm việc tái tổ chức những nhóm lớn gia đình và gồm việc cải thiện quản trị những xí nghiệp.)
Như vậy:
* Việc đầu tiên xử dụng vốn vay là giải quyết những trường hợp phá sản hoặc đang gặp khó khăn về tài chánh. Đây là việc ổn định những Công ty (Assainissement des Entreprises). Việc ổn định này có thể là việc nhập lại những Công ty.
* IMF nhấn mạnh đến hệ thống luật pháp kỹ lưỡng về những trường hợp phá sản. Thực vậy có những trường hợp phá sản giả tạo, thiếu trong sáng về trách nhiệm, thiếu kiểm soát của Luật pháp chặt chẽ. Thái Lan và Nam Dương đã ra những Luật mới về phương diện này.
* Về đòi hỏi tái tổ chức những nhóm lớn gia đình gặp những khó khăn vì sự liên hệ giữa những nhóm gia đình lớn và quyền lực chính trị. Tuy vậy IMF cổ võ việc tư nhân hoá những Công ty lớn có liên hệ với quyền lực chính trị. IMF nhấn mạnh đến việc quản trị lành mạnh những nhóm lớn này.
* Việc quản trị lành mạnh và Hữu lý đòi hỏi tính cách căn cơ của Chi tiêu, nhất là về phương diện những Chi tiêu cố định. Một số Công ty chi tiêu cố định quá đáng trong mục đích tăng cường cái danh của Công ty mà không nhằm mục đích chính yếu của hoạt động Kinh tế là Lợi nhuận tối đa. Trong việc quản trị Chi tiêu Xí nghiệp, những Chi tiêu cố định là những Chi tiêu dễ làm phá sản. Câu nói “Làm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn“ có lẽ làm cho một số người không tin. Thực ra câu nói này, nếu áp dụng vào lãnh vực làm Kinh tế thì rất đúng. Tiêu tiền không phải là vất tiền qua cửa sổ. Tiêu tiền theo ý nghĩa Kinh tế là khi tiêu một món tiền ra, thì đã phải tính toán số Lợi nhuận thu vào từ món tiền ấy: thu lại chính món tiền đã tiêu cộng thêm số lợi nhuận thu vào. Như vậy mới là Chi tiêu Kinh tế. Làm Kinh tế là nhằm thu Lợi nhuận tiền bạc tối đa chứ không nhằm thu tình cảm, thu luân lý, thu đạo đức... Lợi nhuận là điểm quy chiếu để lấy những quyết định Kinh tế. Đó là điều mà người ta gọi là Hữu lý trong việc quản trị Kinh tế.
Những cải tổ hệ thống Ngân Hàng đề nghị từ IMF
Đây là phương diện yếu kém làm nguyên cớ chính cho Khủng hoảng Tài chánh năm 1997. Về Ngân Hàng và Tài chánh, người ta nhấn mạnh đến những điểm yếu kém sau đây:
* Ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng những quyết định có tính cách Gia đình. Trước Khủng hoảng, Ngân Hàng cho vay vốn với những trường hợp nghi ngờ. Đây là khía cách nguy hiểm Tiền bạc và thiếu kiểm soát tài chánh, một yếu tố gây lỏng lẻo sự hữu lý kiểm tra ngân khoản các xí nghiệp. So sánh một vài con số theo tài liệu của Ngân Hàng Thế Giới về sự bấp bênh cho vay nghi ngờ: những năm 1997-98, những món nợ nghi ngờ (créances douteuses) chiếm tới 30% tổng số cho vay và năm 2006 những món nợ ấy chỉ còn chiếm 6% của tổng số.
* Điểm đáng lưu ý nữa là Ngân Hàng cho vay nợ, rất ít cho việc sản xuất, nhưng chú trọng cho tiêu thụ, nhất là cho việc xây cất nhà cửa. Một nền Kinh tế thu nhập ngắn hạn mà tiêu thụ địa ốc dài hạn cho thấy sự bấp bênh của những món nợ.
* Việc mở cửa của lãnh vực Ngân Hàng cho đến năm 1997 đối với những nhà đầu tư quốc tế đã bị giới hạn. Theo yêu cầu của IMF, Thái Lan, Nam Dương, Nam Hàn đã hủy bỏ những giới hạn này ngay sau năm 1997, trừ Mã Lai vẫn còn giữ.
* Người ta cũng ghi nhận sự yếu kém của Thị trường Trái khoán. Nên lưu ý rằng những Trái khoán tượng trưng tính cách chắc chắn của Tài chánh. Những con số sau đây tính theo % của thu nhập hàng năm theo đầu người cho thấy sự yếu kém của Thị trường này năm 1997: Nam Dương 0.4% (Trái khoán Nhà nước) và 0.8% (Trái khoán Xí nghiệp); Nam Hàn 4.9% (Nhà nước) và 10.3% (Xí nghiệp); Mã Lai 19.4% (Nhà nước) và 20.8% (Xí nghiệp); Thái Lan 0.2% (Nhà nước) và 6.0% (Xí nghiệp) (Nguồn tài liệu: East Asian Finance (2006).
Ghi nhận những yếu kém như vậy, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đòi hỏi những thực hiện cải tổ. Trước klhi nòi về những thực hiện cải tổ và những hiệu quả về phương diện Ngân Hàng và Thị trường Tài chánh, chúng tôi ghi nhận ngay cái hiệu quả trực tiếp từ số vốn vay bằng ngoại tệ trên Thị trường Tiền tệ. Đồng tiền của mỗi nước liên hệ một là được bảo đảm giá bằng sức mạnh sản xuất Kinh tế (Régime du Pouvoir d’Achat), hai là bằng số lượng Ngoại tệ mạnh làm bảo chứng. Số ngoại tệ vay mượn từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho vào có thể ví như cho Nước Biển vào cho đồng tiền đang bị bệnh nặng. Nước biển cho trực tiếp vào con bệnh làm ngưng đà hấp hối của đồng tiền của những nước liên hệ. Đó là hiệu quả tức khắc và trực tiếp cho Thị trường Tiền tệ cũng như hiệu quả trực tiếp từ việc Chêm vốn vào nền Kinh tế như chúng tôi đã phân tích ở trên qua hiệu quả của Số nhân cấp của Keynes (Multiplicateur Keynésien).
Trở lại những điều kiện đòi cải tổ về lãnh vực Tài chánh (Ngân Hàng/ Tiền tệ). Bà Francoise NICOLAS viết: “La nature essentiellement financìere de la crise (tout au moins dans ses causes) explique que l’essentiel des réformes mises en oeuvre aient porté sur ce secteur. Après des mesures d’urgence, dont l’objectif était d’arrêter l’hémorragie financìere, c’est à une réorganisation en profondeur de ce secteur que les autorités ont du s’atteler avec pour l’objectif de mettre en place un système financier compétitif, internationalement ouvert et fonctionnant selon les règles du marché.“ (Bản chất chính yếu tài chánh của khủng hoảng ( hay tối thiểu trong những nguyên do) cắt nghĩa cái cốt yếu của những cải cách phải thực hiện liên quan đến lãnh vực này. Sau những biện pháp cấp cứu, mà mục đích là chận đứng ngay tình trạng băn huyết tài chánh, đó là phải tổ chức lại vào chiều sâu của lãnh vực này mà các quyền lực phải để hết sức vào việc được coi là mục đích là thực hiện một hệ thống tài chánh cạnh tranh, mở rộng ra quốc tế và hoạt động theo những quy luật thị trường).
Trong phạm vi bài này, chúng tôi mới chỉ nêu ra những điểm đòi hỏi thực hiện cải cách cụ thể về lãnh vực tài chánh, còn việc các nước liên hệ đã thực hiện như thế nào cho tới nay, đó là nội dung trong những bài kế tiếp.
=> Về lãnh vực Ngân Hàng, IMF nhấn mạnh đến những cải cách cụ thể sau đây:
* Chấm dứt tình trạng Ngân Hàng cho vay vốn dựa theo tính cách tình cảm gia đình không trong sáng. * Chấm dứt tình trạng cho vay vốn cho những con nợ đáng nghi ngờ (créances douteuses), nhất là trong lãnh vực xây cất nhà cửa có tính cách dài hạn. Đây là cái nguồn bấp bênh tài chánh cho một nền kinh tế hiện thời vận hành với chu kỳ ngắn hạn và tốc độ càng ngày càng nhanh. (Tỉ dụ sub-prime tại Hoa kỳ là hình ảnh mới đây nhất để hiểu sự bấp bênh). * Ngân Hàng khi cho vay, phải theo dõi kiểm soát việc xử dụng đồng tiền. Không thể cho vay như thả cọp vào rừng mà không chút giây buộc để kiểm soát. Phải đòi buộc việc cho vay và việc xử dụng có sự trong sáng. * Phải mở rộng lãnh vực Ngân Hàng đối với quốc tế.
“Cette réforme s’est notamment appuyée sur la consolidation et la rationalisation du secteur bancaire, l’ouverture aux opérateurs étrangers, l’amélioration de la surveillance et de la transparence du système financier.“(Francoise NICOLAS) (Việc cải cách này dựa chính yếu trên sự củng cố lại và việc hữu lý hóa của lãnh vực Ngân Hàng, dựa trên việc mở rộng cho những người làm việc ngoại quốc trong lãnh vực này, dựa trên việc kiểm soát và sự trong sáng của hệ thống tài chánh).
=> Về lãnh vực Tài chánh và đầu tư, IMF nhấn mạnh:
* Đầu tư vào lãnh vực xí nghiệp sản xuất chứ đừng vào tiêu thụ như trước đây * Cổ võ việc tăng cường Thị trường Trái khoán, nhất là từ những Công ty lớn hơn là từ nhà nước mang nặng yếu tố Chính trị. * Mở rộng Thị trường cho việc đầu tư từ nước ngoài.
Bài này mới nêu ra những đòi hỏi cải cách của IMF. Nhưng trong bài tới, chúng tôi sẽ phân tích xem những nước liên hệ, dù lấy lại được đà phát triển, nhưng trong mức độ nào những cải cách chưa toàn vẹn để cho thấy những nguy hiểm có thể xẩy ra khủng hoảng nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | Bài 4: KINH TẾ PHỤC HỒI TRONG TÌNH TRẠNG CẢI CÁCH CHƯA TOÀN VẸN CHO ĐẾN NAY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 29.11.2007
Đây là bài thứ tư trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ tư này mang đầu đề là KINH TẾ PHỤC HỒI TRONG TÌNH TRẠNG CẢI CÁCH CHƯA TOÀN VẸN CHO ĐẾN NAY.
Năm 1997, bốn nền Kinh tế Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn đã sụp đổ mau chóng khiến những nhà quan sát Kinh tế quốc tế ngạc nhiên. Trong bài tuần trước (bài thứ ba trong loạt bài chủ đề này), chúng tôi đã trình bầy Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF (International Monetary Fund) đã can thiệp vào nhằm trợ lực những quốc gia liên hệ để phục hồi Kinh tế. IMF đã đặt ra những điều kiện cải cách khi cho vay vốn từ Quỹ Tiền Tệ này. Thái Lan, Nam Dương và Nam Hàn đã chấp nhận những điều kiện cải cách ấy về việc Quản trị Xí nghiệp và Tổ chứ hệ thống Ngân Hàng.
Nếu việc sụp đổ Kinh tế/Tài chành sâu rộng và mau lẹ đã làm ngạc nhiên những nhà quan sát Kinh tế quốc tế, thì việc phục hồi Kinh tế/ Tài chánh nhanh chóng cũng đã làm sững sờ những nhà quan sát Kinh tế ấy không kém. Sững sờ đến nỗi những nhà quan sát Kinh tế/Tài chánh này tỏ ra nghi ngờ cho sự bền vững của phát triển trong tương lai, nghĩa là có thể xẩy ra một cuộc khủng hoảng mới. Bà Frnacoise NICOLAS đã viết:“La crise apparaissait d’autant plus profonde qu’elle avait pris tous les économistes à contre-pied. Par la suite, déjouant à nouveau les pronostics de nombreux analystes qui prévoyaient une décennie perdue pour l’Asie de l’Est, ces économies n’ont pas tardé à rebondir pour retrouver des taux de croissance élevés.... Les réformes mises en oeuvre ont-elles éliminé tout risque à l’avenir ?“ (Cuộc khủng hoảng đã xẩy ra sâu đậm đến nỗi làm cho các nhà kinh tế suy nghĩ tréo cảng giò. Tiếp theo đó, những nền Kinh tế này đã làm trật những ước tính của một số đông những nhà phân tích dự trù khoảng từng chục năm mất đi của vùng Đông Á châu bởi vì những nền Kinh tế ấy đã không chậm trễ nhẩy vọt lên để tìm lại những độ tăng trưởng cao... Những cải cách đã được thực hiện phải chăng đã có thể tẩy trừ hẳn tất cả nguy hiểm cho tương lai ?)
Chúng tôi sẽ bàn những điểm sau đây trong bài này: => Lấy lại nhanh chóng những độ tăng trưởng cao => Thực hiện những cải cách đòi buộc của IMF => Những nguy hiểm khủng hoảng chưa tẩy trừ hết
Lấy lại nhanh chóng những độ tăng trưởng cao
Năm 1998, bốn nền Kinh tế tụt dốc sau cơn khủng hoảng. Nhưng từ năm 1999, mức độ tăng trưởng Kinh tế trở thành số dương. Thực vậy, những nước bị khủng hoảng đã lấy lại mức độ thu nhập đầu người của trước năm 1997: Nam Hàn và Mã Lai bắt đầu từ năm 1999, Thái Lan từ năm 2003 và Nam Dương từ năm 2004.
Năm 2005, đối với trước năm 1997, Nam Hàn đã có mức độ thu nhập đầu người 27% cao hơn, Thái Lan 12% cao hơn và Mã Lai 9 % cao hơn (Tài liệu: Bruno ROCHA:“At different Speeds: Recovering from the Asian Crisis“, ADB Institute Discussion Paper, No.60, March 2007).
Việc lấy lại nhanh chóng mức độ tăng trưởng cao đã tạo tin tưởng cho những nhà đầu tư quốc tế. Mức độ tăng trưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những nước này tăng trung bình 17,5% kể từ năm 1999, mặc dầu một phần đầu tư đã hướng về phía Trung quốc (Tài liệu: Janet YELLEN: “The Asian Financial Crisis Ten Years Later: Assessing the Past and Looking to the Future“, mimeo, February 2007). Cũng nên lưu ý rằng việc đầu tư ngoại quốc trực tiếp vào Nam Hàn, Mã Lai và Thái Lan có tính cách dài hạn hơn, trong khi ấy việc đầu tư vào Trung quốc có tính cách ngắn hạn nhằm khối người tiêu thụ khổng lồ của nước này.
Lấy lại mức tăng trưởng cũ và tiến nhanh đến mức độ cao đã có thể làm cho Nam Hàn, Thái Lan thanh toán những món nợ vay từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF trước kỳ hạn dự trù. Ngay cả Nam Dương, mặc dầu hạn trả nợ dự trù vào năm 2010, nhưng nước này đã quyết định trả 3.2 tỉ Đo-la còn lại vào năm 2006 cho xong nợ.
Nếu sánh với cuộc Khủng hoảng Nợ nần của các nước Nam Mỹ năm 1980 làm tê liệt Kinh tế để rồi èo ọt phục sức cho đến ngày nay, thì việc phục hồi Kinh tế sau Khủng hoảng Tài chánh 1997 của những nước Á châu là một phép lạ đối với những nhà quan sát Kinh tế quốc tế. Không những phục hồi sau khi tụt dốc sâu thẳm, mà những nước Á chấu này còn tiến mạnh hơn trước, đồng thời còn dư dật để trả nợ nần sòng phẳng trước hạn kỳ.
Đâu là những lý do cắt nghĩa việc phục hồi mau chóng và tiến mạnh của những nước Á châu sau Khủng hoảng ?
Trước hết việc phục hồi và tiến mạnh này không đến trực tiếp từ những Cải cách mà Quỹ Tiền Tệ Quốc tế ấn định cho những nước vay tiền. Thực vậy, những Cải cách trong nhiều lãnh vực còn được thực hiện chậm hơn việc phát triển Kinh tế. Những Cải cách ấn định từ IMF nhằm tính cách bền vững dài hạn hơn, trong khi ấy việc phục hồi Kinh tế là cấp thời trong đoản hạn. Về điểm này, chúng tôi sẽ bàn dài hơn trong đoạn sau.
Những nhà quan sát Kinh tế ghi nhận những yếu tố sau đây:
=> Hàng hóa sản xuất từ những nước này nhằm tiêu thụ ngắn hạn, không lệ thuộc chính yếu vào những đặt hàng dài hạn. Vì vậy việc sản xuất có thể lấy lại mau chóng.
=> Những hàng hóa ngắn hạn tùy thuộc vào sự khéo léo và tần tảo của nhân lực hơn là máy móc. Người ta đã ca tụng tính cách xoay xở (flexibilité) của nhân lực Á châu, nhất là nhân lực phụ nữ. Xin ca tụng đàn bà Á đông về sự tần tảo và can đảm làm việc. “Chết cha, thì ăn cơm với cá; chết mẹ thì liếm lá gặm xương“ nói lên sự xoay xở tần tảo của phụ nữ Á đông. Phát triển ngành May, Dệt Á đông là từ nhân lực phụ nữ.
=> Những nước này, nhất là Thái Lan và Nam Hàn làm việc chính yếu cho Thị trường tiêu thụ Hoa kỳ. Người ta lưu ý đặc biệt mối liên hệ giữa Thái Lan và Nam Hàn với Hoa kỳ ngay cả phương diện Chính trị. Mã Lai làm việc với Thị trường Mỹ về những linh kiện điện tử. Nam Dương phát triển chậm hơn vì lý do Tôn giáo sánh với những nước cùng bị khủng hoảng. Xin lưu ý một điểm nữa là một số hàng hóa được chuyển vào Thị trường Hoa kỳ và Aâu châu qua ngả Nhật và Đài Loan. Hai nước này được che chở bởi Hoa kỳ.
=> Những Cải tổ mà IMF ấn định có tính cách lâu dài, nhưng ảnh hưởng tức khắc và trực tiếp, đó là việc châm ngòi một phần vốn vay được vào nền Kinh tế sản xuất ngắn hạn. Đây là ảnh hưởng phục sức trực tiếp từ số vốn qua ngả Nhân Cấp số của Keynes (Multiplicateur kéneysien) mà chúng tôi đã giải thích trong bài thứ ba tuần trước. Có thể so sánh đây là việc châm nước biển vào cho người bệnh để lấy liền lại sức.
Thực hiện những cải cách đòi buộc của IMF
Những đòi buộc Cải cách do IMF ấn định nhằm tính cách phát triển lâu dài và nhằm đề phòng những Khủng hoảng có thể trong tương lai giống như năm 1997. Những đòi hỏi Cải cách này quy tụ vào hai lãnh vực chính: (i) Thực hiện Cải cách Quản trị Xí nghiệp và (ii) Thực hiện Cải cách hệ thống Ngân Hàng và Thị trường Tài chánh.
Thực hiện Cải Cách Quản trị Xí nghiệp
Chúng tôi xin nhắc lại những đòi hỏi của IMF về lãnh vực này và những Cải cách đã thực hiện, dù chưa toàn vẹn, như sau:
1) Việc đầu tiên xử dụng vốn vay là giải quyết những trường hợp phá sản hoặc đang gặp khó khăn về tài chánh. Đây là việc ổn định những Công ty (Assainissement des Entreprises). Việc ổn định này có thể là việc nhập lại những Công ty. Những nước như Thái Lan, Nam Hàn đã thực hiện Cải cách này nhờ số vốn vay từ IMF.
2) IMF nhấn mạnh đến hệ thống luật pháp kỹ lưỡng về những trường hợp phá sản. Thực vậy có những trường hợp phá sản giả tạo, thiếu trong sáng về trách nhiệm, thiếu kiểm soát của Luật pháp chặt chẽ. Thái Lan và Nam Dương đã thực hiện bằng ra những Luật mới về phương diện này.
3) Về đòi hỏi tái tổ chức những nhóm lớn gia đình gặp những khó khăn vì sự liên hệ giữa những nhóm gia đình lớn và quyền lực chính trị. Tuy vậy IMF cổ võ việc tư nhân hoá những Công ty lớn có liên hệ với quyền lực chính trị. IMF nhấn mạnh đến việc quản trị lành mạnh những nhóm lớn này.
4 Việc quản trị lành mạnh và Hữu lý đòi hỏi tính cách căn cơ của Chi tiêu, nhất là về phương diện những Chi tiêu cố định. Một số Công ty chi tiêu cố định quá đáng trong mục đích tăng cường cái danh của Công ty mà không nhằm mục đích chính yếu của hoạt động Kinh tế là Lợi nhuận tối đa. Đây là phương diện HỮU LÝ của giới quản trị xí nghiệp.
Nhận định về thực hiện cải cách cho những điểm trên đây, Bà Francoise NICOLAS viết như sau:“Des résultats lents mais relativement satisfaisants, ont été obtenus sur les deux premiers points, mais la réforme est encore loin d’être achevée pour ce qui concerne les deux derniers.“(Những kết quả chậm nhưng tương đối thỏa mãn, đã đạt được ở hai điểm đầu, nhưng việc cải cách còn xa chưa thực hiện được ở hai điểm cuối.)
Thực hiện Cải cách hệ thống Ngân Hàng và Thị trường Tài chánh
Về lãnh vực này, đã có những thực hiện cải cách cụ thể tại những quốc gia liên hệ đã có được như sau:
=> Về lãnh vực Ngân Hàng: 1) Chấm dứt tình trạng Ngân Hàng cho vay vốn dựa theo tính cách tình cảm gia đình không trong sáng. Chấm dứt tình trạng cho vay vốn cho những con nợ đáng nghi ngờ (créances douteuses), nhất là trong lãnh vực xây cất nhà cửa có tính cách dài hạn. Những con số cho thấy việc thực hiện cụ thể. Không phải chỉ ở những nước trực tiếp bị khủng hoảng, mà cả những quốc gia thuộc vùng Á đông này, các Ngân Hàng đã đồng loạt giảm những món cho vay nghi ngờ: trung bình, năm 1998 số cho vay nghi ngờ (créances douteuses) chiếm 30% tổng số cho vay và năm 2006 con số đó giảm xuống còn 6%. Về phương diện này, chính những Công ty cũng đã có khuynh hướng tự đầu tư (autofinancement). Bà Francoise NICOLAS nhận xét:“La faiblesse du crédit aux entreprises s’explique à la fois par la faiblesse de la demande due, on l’a vu, au rythme très ralenti de l’investissement, et à la volonté des entreprises de recourir plus systématiquement à l’autofinancement et par la prudence des banques qui veulent éviter le retour à la situation d’avant la crise.“ (Sự giảm sút tín dụng cho các Công ty tự cắt nghĩa một trật bởi sự giảm sút xin tín dụng, người ta nhận thấy, theo với đà giảm dần đầu tư, và theo với sự cố gắng của các Công ty muốn đi theo một cách hệ thống vào tự đầu tư, đồng thời bởi đề phòng mà các Ngân Hàng muốn tránh việc trở lại tình trạng của trước khủng hoảng).
2) Ngân Hàng khi cho vay, phải theo dõi kiểm soát việc xử dụng đồng tiền. Không thể cho vay như thả cọp vào rừng mà không chút giây buộc để kiểm soát. Phải đòi buộc việc cho vay và việc xử dụng có sự trong sáng. Về phương diện này, các Ngân Hàng tăng cường kiểm soát việc tăng nợ nần của các Công ty. Nhưng việc thực hiện rõ hơn cả là thiết lập một Cơ cấu hợp nhất và độc lập về kiểm soát lãnh vực Ngân Hàng. Nam Hàn và Nam Dương đã thiết lập một Cơ quan kiểm soát hoàn toàn mới: năm 1998, Nam Hàn lập Financial Suipervisiory Service, năm 1999, Nam Dương ra Central Bank Act 1999 với cùng mục đích thanh tra.
3) Phải mở rộng lãnh vực Ngân Hàng đối với quốc tế. Về đòi hỏi này các nước Thái Lan, Nam Hàn và Nam Dương đã thực hiện liền ngay. “L’ouverture bancaire aux investisseurs étrangers a constitúe un élément essentiel de la réforme destinée à accroitre le degré de concurrence. Dans les pays sous programme du FMI (Corée, Indonésie et Thailande), les limites imposées à la participation des investisseurs étrangers ont été levées au lendemain de la crise. (Francoise NICOLAS) (Mở rộng Ngân Hàng cho những nhà đầu tư nước ngoài đã tạo thành một yếu tố chính yếu của cải cách nhằm tăng độ cạnh tranh. Trong những quốc gia dưới chương trình của IMF (Đại Hàn, Nam Dương và Thai Lan), những hạn định cho việc tham dự của những nhà đầu tư nước ngoài đã được bỏ đi liền ngay sau khủng hoảng).
=> Về lãnh vực Thị trường Tài chánh :
Cổ võ việc tăng cường Thị trường Trái khoán, nhất là từ những Công ty lớn hơn là từ nhà nước mang nặng yếu tố Chính trị. Người ta nhận thấy có sự tiến triển thực hiện:
Thị trường Trái khóan tính theo % của thu nhập đầu người và chia theo nguồn phát hành Trái khoán như sau:
Năm 1997 Trái khoán Nhà Nước: Nam Dương 0.4%, Đại Hàn 4.9%, Mã Lai 19.4%, Thái Lan 0.2% Trái khoán Xí nghiệp: Nam Dương 0.8%, Đại Hàn 10.3%, Mã Lai 20.8%, Thái Lan 6.0% Trái khoán Tài chánh: Nam Dương 0.7%, Đại Hàn 10.0%, Mã Lai 16.8%, Thái Lan 0.9%
Năm 2004 Trái khoán Nhà Nước: Nam Dương 20.1%, Đại Hàn 25.2%, Mã Lai 38.2%, Thái Lan 22.4% Trái khoán Xí nghiệp: Nam Dương 1.5%, Đại Hàn 23.3%, Mã Lai 38.0%, Thái Lan 12.3% Trái khoán Tài chánh: Nam Dương 1.1%, Đại Hàn 34.9%, Mã Lai 13.9%, Thái Lan 6.4%
Sư tăng trưởng Trái khoán làm giảm sự bấp bênh của Thị trường Tài chánh.
Những nguy hiểm khủng hoảng chưa tẩy trừ hết
Ở đoạn phân tích thứ nhất của bài này, chúng ta thấy sau cuộc Khủng hoảng 1997, bốn nền kinh tế liên hệ đã lấy lại nhanh chóng mức tăng trưởng trước năm 1997 và từ đó hiện giờ đang có sự tăng trưởng cao. Nhưng nếu phân tích kỹ, thì việc lấy lại độ tăng trưởng đến trực tiếp từ việc châm vốn của IMF qua Nhân cấp số Keynes (Multiplicatuer keynésien).
Những đề nghị cải cách của IMF đã được thực hiện chính yếu về hệ thống Ngân Hàng và mang tính cách đề phòng. Tuy nhiên, những nguy hiểm khủng hoảng vẫn chưa được tẩy trừ hết, hay nói cách khác, những nguy hiểm khủng hoảng còn hiện diện ở tình hình Kinh tế mới.
Trong việc phát triển Kinh tế, người ta phân biệt 3 mức độ: (i) mức độ những Quốc gia mà Dân vừa thoát khỏi cảnh nghèo đói; (ii) mức độ những Quốc gia mà Dân mới có số thu nhập trung gian đủ sống; (iii) mức độ những Quốc gia mà Dân có số thu nhập cao.
Đối với 4 nước Á đông liên hệ trong cuộc khủng hoảng, Mã Lai và Thái Lan mới ở mức độ (ii), nghĩa là đa số Dân có số thu nhập trung gian đủ sống; Nam Dương chỉ có một phần Dân lên tới mức thu nhập đủ sống, còn một số vẫn trong cảnh nghèo đói; Nam Hàn chưa tiến hẳn lên mức (iii), nghĩa là Dân có số thu nhập cao.
Để có thể lên tới mức (iii), nền Kinh tế phải đầu tư chính yếu vào những sản xuất kỹ thật dài hạn. Nam Hàn đang cố gắng để thoát khỏi mức độ thu nhập trung gian để vươn lên mức độ thu nhập cao.
Trong Báo Cáo về Kinh tế của những nước trong vùng, Ngân Hàng Thế Giới (2006) đã nhận định: “La Banque Mondiale (2006) souligne la difficulté que des économies à revenu intermédiaire peuvent avoir à accéder au statut d’économie à reveu élevé. Le principal défi pour les éconmies comme la Malaisie, la Thailande et l’Indonésie, est de parvenir à quitter le statut d’economie à revenu intermédiaire. L’histoire montre en effet que si beaucoup de pays pauvres ont réussi à accéder au rang d’économie à revenu intermédiaire, assez peu sont ensuite parvenus à celui de pays à revenu élevé. Pour cela, un pays doit se spécialiser davantage dans certains domaines òu il peut réaliser des économies d’échelle tout en s’imposant comme un leader au plan technologique. (Ngân Hàng Thế Giới (2006) nhấn mạnh đến sự khó khăn là những nền kinh tế có số thu nhập trung gian có thể tiến tới một nền kinh tế có số thu nhập cao. Điều thách thức chính yếu cho những nền Kinh tế như Mã Lai, Thái Lan và Nam Dương là làm thế nào thoát được khỏi nền kinh tế có số thu nhập trung gian. Thực vậy, Lịch sử cho thấy rằng nếu nhiều nước nghèo đã thành công trong việc tiến tới nền kinh tế có số thu nhập trung gian, thì rất ít nước đã có thể tiến tới nền kinh tế có số thu nhập cao. Để có thể làm điều này, một nước phải chuyên biệt nhiều hơn về một số phạm vi mà nước ấy có thể thực hiện nền Kinh tế cấp thang, đồng thời trở nên lãnh đạo về kỹ thuật).
Sau nhận định tổng quát như vậy của Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta có thể đề cập đến những bấp bênh khủng hoảng như sau của những nước như Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương:
=> Về phương diện sản xuất hàng hóa. Nền Kinh tế của những nước này quy tụ chính yếu vào hàng nông nghiệp và những hàng tiêu dụng ngắn hạn hoặc làm thuê những linh kiện cho những Xí nghiệp ở các Quốc gia đã đạt tới số thu nhập cao.
=> Về mặt Thị trường tiêu thụ Hàng hóa của những nước này tùy thuộc vào Thị trường tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Những Thị trường này có thể thay đổi vì những hàng hóa không phải là thiết cần chính yếu mà là tùy thuộc vào khuynh hướng tiêu thụ có thể biến đổi.
=> Về phương diện cạnh tranh Trong bản Báo Cáo của Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta thấy rằng một số lớn những Quốc gia có thể thoát ra khỏi cảnh nghèo đói và tiến tới nền kinh tế với số thu nhập trung gian, nghĩa là những nước này có thể là cạnh tranh ngang hàng với Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương. Khuynh hướng hiện nay trên Thế Giới là các nước tập trung vào những vùng Kinh tế, những Thị trường lớn: Thị trường Bắc Mỹ (Hoa kỳ), Thị trường Liên Aâu và Thị trường Thái Bình Dương.
* Tại Thị trường Bắc Mỹ: sau khủng hoảng nợ nần năm 1980, Nam Mỹ, nhất là Ba Tây, là cạnh tranh trong Thị trường này. Nam Mỹ ở gần kề và còn nhiều nguyên vật liệu, yếu tố làm hạ giá thành.
* Tại Thị trường Liên Aâu: những nước Đông Aâu, sau sụp đổ của Cộng sản, tổ chức lại nền Kinh tế. Những nước này lại đứng trong Liên Aâu. Họ có những ưu điểm cạnh tranh. Ngoài những nước Đông Aâu, một số nước Phi châu đang tiến triển và có nhiều liên hệ lịch sử với Liên Aâu (Pháp, Anh).
* Tại Thị trường Thái Bình Dương: Những hàng sản xuất của các nước tương tự như nhau. Nhưng sức cạnh tranh quyết liệt hơn cả là Trung quốc nằm ngay trong vùng.
Francoise NICOLAS đặt câu hỏi: “Les réformes mises en oeuvre ont-elles éliminé tout risque à l’avenir ? Chắc chắn câu trả lời là “Non“
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | Bài 5: NHỮNG YẾU TỐ BẤP BÊNH CÓ THỂ DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 06.12.2007
Đây là bài thứ năm trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ năm này mang đầu đề là NHỮNG YẾU TỐ BẤP BÊNH CÓ THỂ ĐƯA ĐẾN KHỦNG HOẢNG.
Chúng tôi vẫn đứng ở phạm vi những nước liên hệ đến cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh năm 1997 với những phân tích của Bà Francoise NICOLAS. Chúng tôi chưa đụng chạm đến những bấp bênh liên hệ đến những nước bắt đầu phát triển hiện nay như Nam Phi, Nga, Trung quốc, Việt Nam với những nhận định của hai bài báo đăng trên Nhật Báo LE MONDE ngày 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX.
Mục đích của những bài viết về cuộc Khủng hoảng 1997 và những yếu tố bấp bênh của những nước liên hệ là để nhìn xem những yếu kém có thể đem tới Khủng hoảng trong vùng, nhất là Việt Nam, mặc dầu hiện nay đang có những hồ hởi của việc phát triển mạnh về Kinh tế.
Bà Francoise NICOLAS sau khi phân tích những nước liên hệ đến cuộc Khủng hoảng 1997 và việc lấy lại đà phát triển nhanh chóng của những nước này với trợ lực và đòi hỏi cải cách của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF, đã đặt câu hỏi:“Les réformes mises en oeuvre ont-elles éliminé tout risque à l’avenir ?“ (Những cải cách đã được thực hiện phải chăng đã có thể tẩy trừ hẳn tất cả nguy hiểm cho tương lai ?). Câu trả lời của Bà là “Non“ (Không), nghĩa là còn những yếu tố nguy hiểm có thể làm xẩy ra Khủng hoảng nữa.
Bài này trình bầy những yếu tố nguy hiểm ấy cho những nước này:
=> Những nguy hiểm khủng hoảng nội tại và ngoại tại chưa tẩy trừ hết => Những yếu tố đặc biệt về tài chánh và tiền tệ => Trung quốc, một ẩn số nguy hiểm trong vùng => Căng thẳng Xã hội và vấn đề Môi trường
Những nguy hiểm khủng hoảng nội tại và ngoại tại chưa tẩy trừ hết
Nói là nội tại, chúng tôi muốn đề cập chính yếu đến việc sản xuất hàng hóa của một nước. Nói là ngoại tại, chúng tôi muốn đề cập việc cạnh tranh trên Thị trường tiêu thụ Quốc tế.
Ở đoạn phân tích thứ nhất của bài này, chúng ta thấy sau cuộc Khủng hoảng 1997, bốn nền kinh tế liên hệ đã lấy lại nhanh chóng mức tăng trưởng trước năm 1997 và từ đó hiện giờ đang có sự tăng trưởng cao. Nhưng nếu phân tích kỹ, thì việc lấy lại độ tăng trưởng đến trực tiếp từ việc châm vốn của IMF qua Nhân cấp số Keynes (Multiplicatuer keynésien).
Những đề nghị cải cách của IMF đã được thực hiện chính yếu về hệ thống Ngân Hàng và mang tính cách đề phòng. Tuy nhiên, những nguy hiểm khủng hoảng vẫn chưa được tẩy trừ hết, hay nói cách khác, những nguy hiểm khủng hoảng còn hiện diện ở tình hình Kinh tế mới.
Trong việc phát triển Kinh tế, người ta phân biệt 3 mức độ: (i) mức độ những Quốc gia mà Dân vừa thoát khỏi cảnh nghèo đói; (ii) mức độ những Quốc gia mà Dân mới có số thu nhập trung gian đủ sống; (iii) mức độ những Quốc gia mà Dân có số thu nhập cao.
Đối với 4 nước Á đông liên hệ trong cuộc khủng hoảng, Mã Lai và Thái Lan mới ở mức độ (ii), nghĩa là đa số Dân có số thu nhập trung gian đủ sống; Nam Dương chỉ có một phần Dân lên tới mức thu nhập đủ sống, còn một số vẫn trong cảnh nghèo đói; Nam Hàn chưa tiến hẳn lên mức (iii), nghĩa là Dân có số thu nhập cao.
Để có thể lên tới mức (iii), nền Kinh tế phải đầu tư chính yếu vào những sản xuất kỹ thật dài hạn. Nam Hàn đang cố gắng để thoát khỏi mức độ thu nhập trung gian để vươn lên mức độ thu nhập cao.
Trong Báo Cáo về Kinh tế của những nước trong vùng, Ngân Hàng Thế Giới (2006) đã nhận định: “La Banque Mondiale (2006) souligne la difficulté que des économies à revenu intermédiaire peuvent avoir à accéder au statut d’économie à reveu élevé. Le principal défi pour les éconmies comme la Malaisie, la Thailande et l’Indonésie, est de parvenir à quitter le statut d’economie à revenu intermédiaire. L’histoire montre en effet que si beaucoup de pays pauvres ont réussi à accéder au rang d’économie à revenu intermédiaire, assez peu sont ensuite parvenus à celui de pays à revenu élevé. Pour cela, un pays doit se spécialiser davantage dans certains domaines òu il peut réaliser des économies d’échelle tout en s’imposant comme un leader au plan technologique. (Ngân Hàng Thế Giới (2006) nhấn mạnh đến sự khó khăn là những nền kinh tế có số thu nhập trung gian có thể tiến tới một nền kinh tế có số thu nhập cao. Điều thách thức chính yếu cho những nền Kinh tế như Mã Lai, Thái Lan và Nam Dương là làm thế nào thoát được khỏi nền kinh tế có số thu nhập trung gian. Thực vậy, Lịch sử cho thấy rằng nếu nhiều nước nghèo đã thành công trong việc tiến tới nền kinh tế có số thu nhập trung gian, thì rất ít nước đã có thể tiến tới nền kinh tế có số thu nhập cao. Để có thể làm điều này, một nước phải chuyên biệt nhiều hơn về một số phạm vi mà nước ấy có thể thực hiện nền Kinh tế cấp thang, đồng thời trở nên lãnh đạo về kỹ thuật).
Sau nhận định tổng quát như vậy của Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta có thể đề cập đến những bấp bênh khủng hoảng như sau của những nước như Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương:
=> Về phương diện sản xuất hàng hóa. Nền Kinh tế của những nước này quy tụ chính yếu vào hàng nông nghiệp và những hàng tiêu dụng ngắn hạn hoặc làm thuê những linh kiện cho những Xí nghiệp ở các Quốc gia đã đạt tới số thu nhập cao.
=> Về mặt Thị trường tiêu thụ Hàng hóa của những nước này tùy thuộc vào Thị trường tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Những Thị trường này có thể thay đổi vì những hàng hóa không phải là thiết cần chính yếu mà là tùy thuộc vào khuynh hướng tiêu thụ có thể biến đổi.
=> Về phương diện cạnh tranh Trong bản Báo Cáo của Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta thấy rằng một số lớn những Quốc gia có thể thoát ra khỏi cảnh nghèo đói và tiến tới nền kinh tế với số thu nhập trung gian, nghĩa là những nước này có thể là cạnh tranh ngang hàng với Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương. Khuynh hướng hiện nay trên Thế Giới là các nước tập trung vào những vùng Kinh tế, những Thị trường lớn: Thị trường Bắc Mỹ (Hoa kỳ), Thị trường Liên Aâu và Thị trường Thái Bình Dương.
* Tại Thị trường Bắc Mỹ: sau khủng hoảng nợ nần năm 1980, Nam Mỹ, nhất là Ba Tây, là cạnh tranh trong Thị trường này. Nam Mỹ ở gần kề và còn nhiều nguyên vật liệu, yếu tố làm hạ giá thành.
* Tại Thị trường Liên Aâu: những nước Đông Aâu, sau sụp đổ của Cộng sản, tổ chức lại nền Kinh tế. Những nước này lại đứng trong Liên Aâu. Họ có những ưu điểm cạnh tranh. Ngoài những nước Đông Aâu, một số nước Phi châu đang tiến triển và có nhiều liên hệ lịch sử với Liên Aâu (Pháp, Anh).
* Tại Thị trường Thái Bình Dương: Những hàng sản xuất của các nước tương tự như nhau. Trung quốc là một nước thuộc vùng mà chúng tôi sẽ nói riêng trong một Đoạn sau.
Những yếu tố đặc biệt về tài chánh và tiền tệ
Nhận xét tổng quát của Bà Francoise NICOLAS như sau:“Le fondements de la croissance sont, dans les économies touchées par la crise, plus précaires que par le passé. La faiblesse de l’investissement est, il est vrai, en bonne partie due à la correction des excès antérieurs dans l’immobilier, mais aussi, ce qui est économiquement dangereux, à une baisse dans le secteur de l’équipement et de la mécanique. Un tel état de fait constitue un incontestable point de vulnérabilité, qui risque de peser à moyen terme sur la capacité de rebond de ces éconmies“ (Những nền tảng của phát triển, trong những nền kinh tế dưới ảnh hưởng của Khủng hoảng, trở nên bấp bênh hơn là trong quá khứ. Sự yếu kém về đầu tư , đúng vậy, là một phần lớn dồn vào việc sửa chữa những quá trớn trước đây trong lãnh vực xây cất địa ốc, nhưng nó cũng là, điều này nguy hiểm về mặt kinh tế, dành cho việc xuống cấp đầu tư vào lãnh vực sản phẩm thiết bị sản xuất và kỹ thuật. Một tình trạng cụ thể như vậy tạo nên điểm tổn thương không thể chối cãi, điểm này có nguy hiểm là đè nặng trong trung hạn trên việc chỗi dậy của những nền kinh tế liên hệ này).
=> Hướng đầu tư Với ảnh hưởng của Số nhân cấp (Multiplicateur keynésien) bằng chêm vốn từ IMF, những nền Kinh tế liên hệ đã lấy lại đà phát triển nhanh chóng. Nhưng hướng đầu tư từ những thu nhập do phát triển lại đi theo hai hướng khiến những nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương chưa thoát khỏi tình trạng thu nhập đầu người trung gian như Ngân Hàng Thế Giới đã nhận xét trong Báo Cáo năm 2006: “Le principal défi pour les éconmies comme la Malaisie, la Thailande et l’Indonésie, est de parvenir à quitter le statut d’economie à revenu intermédiaire.“(Điều thách thức chính yếu cho những nền Kinh tế như Mã Lai, Thái Lan và Nam Dương là làm thế nào thoát được khỏi nền kinh tế có số thu nhập trung gian.). Chỉ có Nam Hàn đang hy vọng tiến lên mức độ thu nhập đầu người cao.
Hướng xử dụng vốn của những nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương còn loay hoay ở những phương diện chính sau đây:
* Dồn vào những quá đáng quá khứ đã đầu tư vào việc xây cất Địa ốc. Đây là việc xây cất quá đáng bằng những vốn khả thể nghi ngờ (créances douteuses vituelles). Thường trong những nước mới bắt đầu phát triển, các Xí nghiệp cũng như tư nhân chuộng việc xây cất đồ sộ bằng vay mượn nợ dựa trên ước tính thu nhập tương lai. Nhưng thu nhập ước tính này tất nhiên có những bấp bênh, nhất là đối với những nước chỉ sản xuất và thu nhập ngắn hạn. Số thu nhập của của việc tái phát triển tất nhiên dành vào việc thanh toán nợ nần dài hạn địa ốc này.
* Cuộc Khủng hoảng tài chánh 1997, mà lý do là thiếu nền tảng dự trữ tài chánh để chống đỡ khi cơn bão thổi đến, vẫn ám ảnh các Xí nghiệp và các Ngân Hàng. Chính vì vậy mà các Xí nghiệp và Ngân Hàng dành một số thu nhập để tạo dự trữ đề phòng chống đỡ một cuộc Khủng hoảng có thể xẩy ra trong tương lai. Trước đây, nhà sập vì không có cây chống bão. Bây giờ xây lại nhà mới thì đồng thời cũng phải sắm luôn những cây chống đỡ nhà nếu có bão tố nữa.
Việc dành số thu nhập vào hai hướng trên đây khiến các nước này khó lòng dành vốn cho việc đầu tư vào những lãnh vực sản xuất thiết bị và kỹ thuật, điều kiện có thể tiến lên số thu nhập đầu người trung gian mà Báo Cáo của Ngân Hàng Thế Giới đã đề cập tới. Bà Francoise NICOLAS kết luận:“De ce point de vue, les perpectives économiques de la région sont pour le moins incertaines“ (Về phương diện này, những viễn tượng kinh tế trong vùng, tối thiểu, là không vững chắc).
=> Tiền tệ Cũng vì ám ảnh từ Khủng hoảng 1997 làm đồng tiền của những nước liên hệ mất giá trên 60%, nên những nước này đặt trọng tâm vào việc tích trữ ngoại tệ (Đo-la) để bảo đảm tiền tệ và hối suất. Năm 2005, những con số sau đây cho thấy việc tích trữ ngoại tệ tính theo số thu nhập đầu người: Nam Dương 12%, Nam Hàn 25%, Thái Lan 28% và Mã Lai 55%. Đây là việc tích lũy ngoại tệ dài hạn trở thành quá đáng đối với mức thông thường. Nếu đứng về mặt đề phòng Khủng hoảng Tiền tệ và Hối suất, thì đây là biện pháp bảo đảm, nhưng đứng về mặt điều hành Kinh tế, Tài chánh và Tiền tệ, thì việc tích lũy dự trữ ngoại tệ thái quá này có thể mang tới những ảnh hưởng nguy hại. Thực vậy việc tích lũy này có thể làm bàn đạp tăng khuynh hướng tín dụng và tăng phía cầu tổng quát, nghĩa là kéo theo việc tăng vật giá. “L’ accumulation de réserves peut comporter certains effets pervers. En particulier, l’acquisition de réserves de changes peut accroitre la base monétaire et alimenter l’expansion du crédit et de la demande globale, entrainant des pressions inflationnistes.“(Việc tích lũy dự trữ có thể mang đến những ảnh hưởng ngược lại. Đặc biệt, việc mua giữ nhiều dự trữ ngoại tệ hối đoái có thể làm tăng nền tảng tiền tệ và nuôi dưỡng việc bành trướng tín dụng và phía cầu tổng quát, kéo theo những áp lực tăng giá).
Về phương diện hối đoái, người ta cũng thấy rằng các nước trong vùng thiếu những khai triển việc hợp tác giữa các đồng tiền của mỗi nước: Ringgit (Mã Lai), Won (Nam Hàn), Baht (Thái Lan). Việc hợp tác hỗ trợ tiền tệ liên quan đến cạnh tranh và sức mạnh thương mại trong vùng. Sự thiếu hợp tác Tiền tệ là một trong những yếu kém của vùng. Liên Aâu đã có nhiều kinh nghiệm về lãnh vực dễ khủng hoảng tiền tệ riêng lẻ này, nên đã mau chóng giải quyết bằng đồng Euro.
Trung quốc, một ẩn số nguy hiểm trong vùng
Trung quốc nằm ngay trong vùng và bên cạnh những Quốc gia đã liên hệ đến cuộc Khủng hoảng 1997. Bà Francoise NICOLAS đã viết về cái ẩn số tạo sự bấp bênh cho những nước trong vùng như sau:“La montée en puissance de la Chine et le rôle desormais déterminant que son économie joue dans la région et pour l’avenir des éconmies voisines, constitue un motif d’incertitude, voire de vulnérabilité.“(Sự tiến lên mạnh của Trung quốc và vai trò quyết định mà kinh tế Trung quốc nắm giữ trong vùng hiện nay và cho tương lai những nền kinh tế bên cạnh, tạo nên một lý do không vững vàng, hay có thể nói là lý do có thể làm tổn thương). Về cái ẩn số này, chúng tôi sẽ có dịp khai triển dài hơn khi nói đến sự bấp bênh của Kinh tế Việt Nam liên hệ với Trung Cộng. Chúng tôi chỉ xin nhắc ở phần này những điểm chính về ẩn số như sau:
=> Trung quốc không phải là Thị trường tiêu thụ chính cho những hàng hóa sản xuất từ những nước nhỏ trong vùng vì dân Trung quốc còn thiếu khả năng tài chánh tiêu thụ (Pouvoir d’achat). Ngay cả Trung quốc áp dụng chính sách ngăn cản cạnh tranh của những hàng hóa nước ngoài. Cho dù có cùng nhập WTO đi nữa, thì Trung Cộng cũng xử dụng những Biện Pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để ngăn cản cạnh tranh
=> Ngược lại, chính những nước nhỏ trong vùng lại là Thị trường tiêu thụ cho hàng hóa Trung quốc vì những lý do sau đây:
* Trung quốc sản xuất hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn giống như những nước trong vùng, từ những hàng dùng thường ngày cho đến một số máy móc dài hạn hơn. * Trung quốc có đạo quân Thương mại nằm khắp những nước của vùng: Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Tân Gia Ban, Phi Luật Tân. Đạo quân Thương mại này lại lành nghề. * Những nước chung quanh làm việc cho Thị trường Bắc Mỹ và Liên Aâu, có khả năng tiêu thụ trung bình và hợp với những hàng hóa Trung quốc.
=> Điểm quan trọng cần được nhấn mạnh là dù cùng sản xuất hàng hóa giống nhau, nhưng hàng Trung quốc có khả năng cạnh tranh rất mạnh trong nội địa của những nươc của vùng. Lý do chính yếu của khả năng cạnh tranh này ngay với hàng bản xứ là ở phương diện giá cả. Thực vậy, giá bán tùy thuộc vào giá thành. Mà giá thành tùy thuộc vào lượng sản xuất. Để có thể hạ được giá thành, thì phải tìm cách hạ được những chi tiêu cố định, nhất là thiết bị. Muốn hạ số chi tiêu cố định, thì phải tăng số lượng sản xuất. Tỉ dụ trang bị một Nhà Máy mất 100'000.-. Nếu chỉ sản xuất số lượng là 50'000 đơn vị, thì số chi cố định sẽ là 2.-/đơn vị. Nhưng nếu sản xuất số lượng gấp 4 lần, nghĩa là 200'000 đơn vị, thì số chi cố định cho mỗi đơn vị chỉ còn 0.5.-/ đơn vị. Trung quốc có khả năng tăng số lượng sản xuất mà vẫn có sự an toàn về sản xuất nếu không xuất cảng được. Thực vậy, nếu số lượng sản xuất tăng gấp bội mà họ không xuất cảng hết, thì đã có cả khối người khổng lồ Trung quốc tiêu thụ trong nội địa hoặc Công ty trả lương bằng chính hàng sản xuất. Về phương diện Công nhân, thì Trung Cộng lại có một lực lượng nhân lực hùng hậu và khối nhân lực này làm việc dưới một thể chế độc đoán, không có tiếng nói về lương lậu. Với giá thành có thể hạ như vậy, thì tất nhiên hàng hóa Trung Cộng có thể hạ giá bán mà những nước nhỏ trong vùng khó lòng cạnh tranh được.
=> Đối với những hàng công nghệ, mặc dầu những linh kiện cấu thành chưa phức tạp lắm, nhưng việc sản xuất sản phẩm cuối cùng vẫn theo hệ thống Xí nghiệp thầu lại từng bộ phận (Système de Sous-Traitance). Chính hệ thống phân chia thầu lại này làm cho sản phẩm cuối cùng được hạ giá thành và kiện toàn phẩm chất:
* Hệ thống thầu lại làm cho xí nghiệp sản xuất giảm giá chi tiêu thiết bị cố định. Nếu một Nhà Máy chỉ sản xuất nút áo, thì họ chỉ cần trang bị máy nút áo và do đó tăng số lượng sản xuất vì họ làm việc cho nhiều nhà máy May Dệt khác nhau.
* Về phương diện phẩm chất trong hệ thống các Xí nghiệp thầu linh kiện, hàng sản xuất được kiện toàn hơn vì nhà máy chỉ sản xuất một món hàng. Xí nghiệp chuyên môn làm nút áo có thời giờ kiện toàn việc sản xuất chỉ có nút áo.
Vì khả năng áp dụng hệ thống thầu từng phần này, mà hàng làm tại Trung quốc dễ được sản xuất từ A tới Z. Do đó giá thành tổng thể tất nhiên phải hạ hơn những nước như Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai phải nhập cảng nhưng linh kiện, vật liệu từ nước khác chẳng hạn.
=> Không những hàng hóa Trung Cộng có sức cạnh tranh trong chính nội địa mỗi nước, mà còn cạnh tranh trên chính Thị trường các nước khác ngoài vùng, như Liên Aâu hay Bắc Mỹ. Tại những Thị trường này, đạo quân Thương mại của hàng Trung quốc cũng rất mạnh, tỉ dụ những China Towns. Hãy lấy tỉ dụ về thực phẩm. Cách đây gần hai năm, chúng tôi đã có dịp viết về hàng May Mặc của Trung quốc tràn lan trên Thị trường Bắc Mỹ và Liên Aâu. Việc lan tràn mạnh này khiến Liên Aâu và Bắc Mỹ phải dùng những biện pháp chế tài số lượng để bảo vệ chính ngành nghiệp tại Mỹ và những nước thuộc Liên Aâu. Nhiều Nhà Máy dệt tại Mỹ, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Hy Lạp... bị giao động hoặc đóng cửa vì sự tràn lan của hàng Trung quốc. Về ngành nghiệp này, những nước như Phi Luật Tân, Sri Lanka, Maroc, Mễ Tây Cơ..., mặc dầu được sự nâng đỡ của Thị trường Liên Aâu và Bắc Mỹ, nhưng vẫn bị cạnh tranh của Trung quốc mà giảm sút.
=> Về phương diện đầu tư nước ngoài, Trung quốc đã làm giảm sút số vốn đầu tư ngoại quốc vào trong vùng Đông Nam Á, nhất là về việc sản xuất những linh kiện cho những Công ty lớn của những nước đã kỹ nghệ hóa. Những lý do chính sau đây đã thu hút việc đầu tư nước ngoài vào Trung quốc:
* Những Công ty liên quốc gia lớn cũng tìm cách hạ giá thành sản xuất linh kiện. Dù việc ráp nối máy móc tại những nước đã Kỹ nghệ hóa, nhưng một số phần trăm linh kiện thành phần được sản xuất tại Trung quốc để hạ giá thành. Những Công ty liên quốc gia này có thể tăng lượng sản xuất linh kiện làm giảm giá thành vì họ có thể bán tại chỗ cho số người khổng lồ. Đồng thời những Công ty này lợi dụng số nhân lực bị ép buộc lương lậu. * Khi một Công ty liên quốc gia đầu tư vào Trung quốc để giảm giá thành linh kiện, thì chính những Công ty liên quốc gia khác cũng phải làm theo để cạnh tranh giữa những Công ty liên quốc gia này, nghĩa là cũng phải đầu tư vào Trung quốc. * Khi đầu tư vào Trung quốc, những Công ty liên quốc gia hoặc chính nước của họ nhằm bán những Máy móc thiết bị cho Trung quốc. Đây là vấn đề buôn bán có đi có lại. Tỉ dụ Liên Aâu không dám mạnh tay chế tài hàng hóa Trung quốc vì còn muốn nhằm bán Máy Bay, xây cất Lò Nguyên Tử cho Trung quốc. Chính ngoại trưởng Trung quốc đã nói tại Bruxelles để trả lời cho Liên Aâu về việc hạn chế hàng May Mặc của Trung quốc. Oâng nói khi Trung quốc mua một chiến Air Bus, thì chúng tôi phải bán cho các Oâng bao nhiêu chục triệu chiếc áo sơ mi.
Căng thẳng Xã hội và vấn đề Môi trường
Những điểm cuối cùng mà Bà Francoise NICOLAS chú thích đến những nước liên hệ tới Khủng hoảng, đó là sự căn thẳng xã hội và vấn đề môi trường như những bấp bênh có thể làm nguyên cớ cho Khủng hoảng. Bà viết:“Les risques d’instabilité sont nombreux, qu’il s’agisse de tensions sociales ou encore de risques environnementaux“ (Những nguy hiểm bất ổn có nhiều, như những căng thẳng xã hội hay còn những nguy hiểm về môi trường).
Tại những nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn, như chúng ta đã thấy ở những bài viết trước đây, một số hoạt động Kinh tế lớn thuộc về những nhóm Gia đình. Số tăng trưởng Kinh tế thu nhập không được phân chia đồng đều như trong các nền Kinh tế được xây dựng từ từ bởi tư hữu cá nhân thành hệ thống Công ty Nhỏ hoặc Trung bình (PME: Peite Moyenne Entreprise) hay bởi những Xí nghiệp lới Khẩu phần có quy chế bảo đảm vững chắc. Tại những nước liên hệ với Khủng hoảng 1997, những Công ty thuộc nhóm Gia đình lại có những liên hệ với quyền lực Chính trị và do đó việc phân chia không đồng đều thụ hoạch còn liên quan đến Tham nhũng.
Trong suốt những bài đã viết, chúng ta hầu như không có dịp dề cập đến vấn đề Môi trường hay đúng hơn sự tăng trưởng của những nền Kinh tế này như bất chấp vấn đề đầu tư vào Môi trường. Đây là khía cạnh yếu kém và bấp bênh cho phát triển Kinh tế bền vững và dài hạn. Vấn đề Môi trường liên hệ đến rủi ro Thiên tai, đến nguyên vật liệu và đến sức khỏe cần thiết cho nguồn nhân lực sản xuất trong một Quốc gia, cho những chi tiêu tốn kém xã hội như sức khỏe công cộng.
Tại sao không nghĩ rằng lũ lụt Miền Trung VN có liên hệ đến việc đốn cây bừa bãi tại Cao Nguyên Trung Phần ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | PHỤ BẢN 1: NHỮNG TÍN DỤNG THẾ CHẤP ĐỊA ỐC NGUY HIỂM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 13.12.2007
Chúng tôi đã viết 5 bài trong 12 bài chủ để này. Những bài đã viết quy tụ vào việc phân tích cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh năm 1997 tại Á đông và việc lấy lại đà phát triển trong những điều kiện còn bấp bênh như thế nào.
Chính lẽ tuần này, chúng tôi viết bài thứ sáu phân tích những nền kinh tế của những nước bắt đầu phát triển cao như Nam Phi, Nga, Trung Cộng và nhất là Việt Nam. Những bài tiếp theo này dựa một phần vào những nhận định của hai bài đăng trên Nhật Báo LE MONDE số 19523/ 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển) và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh vì vật giá tăng), trong đó Trung quốc và Việt Nam được nhắc ra rõ rệt.
Nhưng vì đầu tuần này, ngày 10.12.2007, Đài Truyền Hình Thụy sĩ loan một tin rất quan trọng về Tài chánh mang tính cách khủng hoảng. Đó là Ngân Hàng UBS đã tuyên bố thua lỗ 11 tỉ Đo-la vì đầu tư vào những Tín dụng Thế chấp nhiều may rủi của Hoa kỳ (sub-prime) vào lãnh vực Địa ốc, nên chúng tôi viết đặc biệt về phương diện này như một PHỤ BẢN 1. Thực ra sự giao động trong lãnh vực Tài chánh về phương diện này đã bắt đầu vào tháng 8/2007 và còn ảnh hưởng tới ngày nay. Chúng tôi viết như một PHỤ BẢN bởi vì trong suốt 5 bài về Khủng Hoảng 1997, Bà Francoise NICOLAS luôn luôn nhắc đến Tín dụng nghi ngờ (créances douteuses) cho Địa ốc như là một trong lý do chính cho cuộc Khủng hoảng năm 1997. Cũng vậy, trong những bài kế tiếp về những quốc gia bắt đầu phát triển cao hiện nay, vấn đề Tín dụng dài hạn cho Địa ốc bằng phát hành những phương tiện đầu tư tương lai (création des moyens de financement virtuel) mang những mầm mống Khủng hoảng trước việc không chắc chắn của phát triển Kinh tế (Incertitude de la croissance économique future).
Vì vậy, bài PHỤ BẢN này mang tính cách quan trọng trong việc cắt nghĩa Khủng hoảng 1997 và những Khủng hoảng có thể xẩy ra trong tương lai.
Chúng tôi bàn đến những điểm sau đây về lãnh vực này:
=> Một vài tỉ dụ dẫn nhập => Giao động về Tín dụ nguy hiểm thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào => Khủng hoảng 1997 và đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển
Một vài tỉ dụ dẫn nhập
Tôi xin kể ra hai tỉ dụ mà chính tôi được chứng kiến. Tỉ dụ thứ nhất là việc mua nhà của một người bạn. Một bạn cùng học tại Đại học Thụy sĩ mà tôi biết rất rành. Anh sống đời sinh viên chật vật. Khi học xong, anh xin được việc làm trong một Ngân Hàng tại Thụy sĩ với mức độ lương khá cao. Làm được một năm, anh quyết định mua nhà bằng lấy tín dụng của Ngân Hàng dựa trên khả năng trả tiền hàng tháng của đồng lương cao. Tất nhiên ngôi nhà là thế chấp, nghĩa là Ngân Hàng có thể thu ngôi nhà, nếu không trả được nợ đã vay. Được một vài năm, vì một lý do nào đó, có thể là Ngân Hàng mà anh đang làm bị thua lỗ, nên phải thải nhân viên, anh đã mất việc làm. Kiếm lại được việc làm với đồng lương cao không phải là dễ dàng trong lúc mà nền Kinh tế chung bị giao động. Tin tưởng vào đồng lương tương lai cao sẽ kèo dài trong suốt thời gian phải hoàn vốn, nhưng lúc này anh thất nghiệp, làm thế nào hoàn vốn mỗi tháng hay mỗi tam cá nguyệt. Nếu anh đã có lương từ lâu và đã tiết kiệm được một số tiền, thì lúc này có thể dùng tiền đã tiết kiệm mà hoàn vốn. Nhưng anh mới làm việc được một năm, nên tiền tiết kiệm không có bao nhiêu. Tất nhiên theo Hợp đồng Tín dụng thế chấp Địa ốc, Ngân Hàng đã thu lại nhà để bán, trừ vào tiền nợ. Anh và cả gia đình đã bị đuổi khỏi nhà và đi xin trợ cấp xã hội.
Tỉ dụ thứ hai mang tính cách hồ hởi thương mại mà tôi được biết. Có một bà Việt Nam mở Tiệm phở bình dân xậm xụi tại Quartier Latin tại Paris. Tiệm phở xậm xụi, nhưng sinh viên đến ăn đông nghẹt. Đông khách, thu tiền nhiều, bà trở thành giầu có. Bà mua căn nhà bên cạnh, mở thành Tiệm phở lớn, trang hoàng rất khang trang đẹp đẽ. Chính bà cũng xí xọn môi son má phấn cho đẹp bà xồn xồn. Bà chỉ muốn ngồi két thu tiền và mướn người nấu phở, chạy bàn, rửa tô chén. Nhưng không hiểu tại sao, số người đến ăn phở lại giảm hẳn xuống, trong khi ấy bà phải trả nợ sang căn nhà, trả tiền lương thuê mướn người làm. Những tiền tiết kiệm trước đây đổ vào tín dụng sang căn nhà. Tiệm phải đóng cửa để rồi sang lại cho người khác với giá thua lỗ. Một vài sinh viên cho ý kiến: trước đây đến quán xậm xụi của bà để ăn vì thấy bà chảy mồ hôi nhễ nhãi, tay bốc bánh phở, tay bốc thịt và rau cỏ. Nay thấy bà son phấn, tiệm khang trang, thì tự nhiên lại ít ham tới ăn. Tất nhiên khi bà lấy tín dụng đầu tư vào căn nhà mới khang trang là bà dựa trên số thu từ sự ước tính đông khách hàng trong tương lai đến ăn phở. Nhưng bà đã không dự tính được những yếu tố tương lai có thể làm cho khách hàng không tới đông để bà có số thu như ước tính. Tương lai có những cái may rủi (risques).
Giao động về Tín dụ nguy hiểm thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào
Vào tuần lễ đầu tháng 08.2007, các Thị trường Chứng khoán bắt đầu từ Mỹ rồi Âu châu có những giao động về những Giá trị chứng khoán thế chấp Địa ốc. Việc giao động này lan sang Lãi suất Tiền tệ. Xin lưu ý rằng Lãi xuất là cái giá của Vốn liên hệ đến luật Cung và Cầu. Khi giao động Lãi suất, thì Kinh tế bị ảnh hưởng. Ngân Hàng Trung ương của mỗi nước có nhiệm vụ phải canh cừng sự tăng giảm của Lãi suất chỉ đạo được coi như việc can thiệp vào tiến triển đều đặn của một nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng Cung và Cầu.
Cái nguồn xẩy ra từ Mỹ thuộc về lãnh vực Địa ốc. Đây và việc cho Tín dụng thế chấp địa ốx xây cất dài hạn. Có những việc cho Tín dụng mà không xét kỹ khả năng hoàn trả. Từ đó người ta gọi credit sub-prime. Những nhà đầu tư hay những bộ phận đầu tư của Ngân Hàng thường không trực tiếp với khách hàng. Những Tổ chức về Tín dụng Thế chấp trực tiếp với khách hàng mua, xây cất nhà. Những Tổ chức này nhận những Hợp đồng nợ, nhưng khi có nhiều quá vượt tầm vốn của họ thì họ phải chạy tìm vốn tại những Ngân Hàng. Họ mang trình nộp những Hợp đồng nhận nợ cho các Ngtân Hàng để có vốn. Các Ngân Hàng nhận được những loại nhận nợ đủ thứ. Những Ngân Hàng này gọp chung lại và cho ra Sản phẩm Tài chánh ở Thị trường Chứng khoán để bán gọi vốn thêm từ những nhà đầu tư. Hai sản phẩm sau đây tạo thành Thị trường chứng khoán sub-prime thế chấp địa ốc (Sub-prime Mortgage Markets), đó là MBO (Mortgage backed Obligation) và CBO (Collateral backed Obligation). Một số Tổ chức định giá an toàn cho những sản phẩm này. Những Tư nhân hay Tổ chức (Funds) hoặc Ngân Hàng có thể mua những sản phẩm trên Thị trường chứng khoán địa ốc sub-prime. Việc giao động ở Thị trường Chứng khoán là ở những Sản phẩm Tài chánh Thế chấp Địa ốc bán đi mua lại trên Thị trường này. Phương diện này có thể được gọi là hệ thống mới, phát sinh tại Hoa kỳ. Nhưng việc làm giao động có tính cách dây chuyền bắt đầu từ những Khách hàng Nhận nợ mà gặp những khó khăn hoàn trả giống như anh bạn của tôi trong tỉ dụ trên đây trở thành thất nghiệp không thể hoàn trả cho tín dụng đã ký nhận.
Ngày 10.08.2007, trên tờ International Herald Tribune, Floyd NORRIS đã viết như sau:“In the past decade a new financial architecture emerged—one that relied less on banks as intermediaries and more on securities. Mortgages were financed by investments in securities that were supposed to be safe.“ (Trong thập niên vừa qua, một kiến trúc tài chánh mới được thành hình—kiến trúc liên hệ ít hơn tới những ngân hàng như trung gian và nhiều hơn đến những sản phẩm chứng khoán. Những tín dụng thế chấp đã được tài trợ bởi đầu tư vào những sản phẩm chứng khoán được kể là an toàn). Việc an toàn này thường được đánh giá cao thấp bởi Moody’s and Standard & Poor’s chẳng hạn. Tin tưởng vào những sản phẩm này để bỏ tiền đầu tư hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã trở thành may rủi.
Vậy nếu trong những sản phẩm chứng khoán ấy có những nguy hiểm được phát hiện bởi sub-prime, thì giới đầu tư có thái độ thay đổi Cung và Cầu đầu tư tài chánh. Biến động về những sản phẩm này trong tháng 8 vừa rồi đã làm cho Thị trường khan hiếm đầu tư, nghĩa là khan hiếm vốn lưu hành. Những nhà đầu tư hoặc những ngân hàng đầu tư ngưng bỏ vốn hoặc mất vốn khi những sản phẩm chứng khoán thế chấp địa ốc xuống cấp tin tưởng.
Về việc phát hiện những sản phẩm chứng khoán tài chánh có những điểm yếu kém được một Ngân Hàng gia Thụy sĩ cắt nghĩa trực tiếp cho tôi bằng tỉ dụ sau đây. Người Thụy sĩ, nhất là Thuyï sĩ Đức thường ăn Xúc-xích (Lạp xưởng Tây), nên Ngân Hàng gia Thụy sĩ đã lấy Lạp xưởng Tây ví với sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường. Những Ngân Hàng đã nhận được những Hợp đồng nhận nợ hổ lốn đủ mọi thứ nào là da gà, da heo, thịt ba rọi, thịt nạc mông... và xay chung cho nát ra để làm xúc xích. Khi bán trên Thị trường, thì người ta gọi là cây xúc xích tổng quát, nhưng không phân biệt da gà, da heo...Nếu có người khám phá ra sau này có mãnh da gà mà họ kiêng không ăn, thì họ bỏ. Cũng vậy, nếu người A-rập tìm thấy miếng da heo, họ quảng xúc xích đi. Sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường có thể bị người đầu tư thấy được những tín dụng không bảo đảm, không an toàn. Sự biến động ở Thị trường Chứng khoán trong tháng 8 là ở chỗ người đầu tư ngưng lại không tin tưởng rằng sản phẩm xúc xích ấy làm bằng thị nạc ngon, mà có pha da gà, da heo, thậm chí ngay cả thịt chuột không đáng tin tưởng (sub-prime/ risque).
Những Ngân Hàng đầu tư hoặc những Quỹ đầu tư (Investment Funds) đã mua nhiều những sản phẩm chứng khoán thế chấp này, nên bây giờ họ thấy lỗ do sự giao động. Nhiều Tổ chức sản phẩm đã sạt nghiệp. Một số lớn Ngân Hàng hoặc Quỹ đầu tư Mỹ và Aâu châu bắt đầu bị lỗ vốn về những sản phẩm chứng khoán thế chấp nghi ngờ này (sub-prime/ risque).
Hãy lấy một số tỉ dụ thua lỗ vì liên hệ đến Thị trường chứng khoán thế chấp sub-prime:
* Ngày 03.08.2007: ALLIANZ Đức, Hãng Bảo Hiểm AAA tuyên bố vì đầu tư vào US Sub-Prime Mortgage Market, bị thiệt thòi 2 tỉ Đo-la * Ngày 06.08.2007: MUNICH RE Đức, Hãng Tái Bảo Hiểm AAA, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la * Ngày 08.08.2007: ING GROUP Hòa Lan, thiệt thòi 4.5 tỉ Đo-la * Ngày 09.09.2007: BNP PARIBAS Pháp, khóa sổ tổng cộng 5 tỉ Đo-la * Ngày 17.09.2007: NORTHERN ROCK Anh, phá sản. Ngân Hàng Anh trợ lực $25tỉ * Ngày 01.10.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 4 tỉ Đo-la * Ngày 30.10.2007: UBS Thụy sĩ, tuyên bố mất 700 triệu Đo-la * Ngày 01.11.2007: CREDIT SUISSE Thuỵ sĩ, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la * Ngày 04.11.2007: CITI GROUP Mỹ, thiệt thòi 11 tỉ Đo-la * Ngày 10.12.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 9 tỉ Đo-la
Một số những Ngân Hàng hay Quỹ Đầu tư đã mua, nhưng không muốn tuyên bố ra những thiệt thòi nhỏ có thể làm thiệt hại thanh danh của mình. Trong thời gian biến động tháng 8/2007, Vốn của Thị trường trở thành khan hiếm, Lãi suất tăng. Ngân Hàng Trung ương phải can thiệt bằng cách cho vốn vào Thị trường để có thể giữ Lãi suất:
* US Federal Reserve cho vào 17 tỉ Đo-la * ECB, Ngân Hàng Trung Ương Aâu-châu cho vào 130 tỉ Đo-la * Ngân Hàng Trung ương Anh quốc đã trợ lực cho Thị trường của họ với 25 tỉ
Những việc đổ vốn vào này là để giúp những Ngân Hàng và có mục đích điều hành Lãi suất đừng để phương hại đến nền Kinh tế.
Lãnh vực Địa ốc, với US sub-prime Markets đã làm thiệt hại cho hệt thống Ngân Hàng và những Tổ chức đầu tư. Nếu là ở những vùng Kinh tế khác, thì lãnh vực này tất nhiên gây ra cuộc Khủng hoảng lớn. Đối với Aâu châu và Hoa kỳ, đây chỉ là giao động vì họ có những phương tiện khổng lồ để chống đỡ. Tỉ dụ ngay cả đối với UBS, việc thiệt thòi 15 tỉ Đo-la chỉ là con số nhỏ sánh với số Dự trữ phòng bị liên tục là 50 tỉ Đo-la và sánh với Total Assets là 2'484 tỉ Đo-la của Ngân Hàng. Xin lưu ý tiền lương hàng năm của Oâng GOSPEL, Chủ tịch UBS, vẫn giữ là 26 triêu quan Thụy sĩ, nghĩa là khoảng 22 triệu Đo-la.
Khủng hoảng 1997 và đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển
Có nhiều những lý do mà chúng tôi đã viết trong 5 bài trước đây đưa đến Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh Á châu năm 1997 gồm Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Nhưng một trong những lý do chính là hệ thống Ngân Hàng của những nước đó với việc cho Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses) trong lãnh vực Địa ốc. Hiện nay, đối với những nước bắt đầu phát triển mạnh, người ta cũng nhìn nhận phong trào xây cất nhà cửa đồ sộ được đẩy mạnh. Nhưng moi tiền đâu ra để xây cất quá đáng ?
Hai tỉ dụ cụ thể mà chúng tôi đưa ra ở phần đầu bài này mang lại cho chúng ta những cái nhìn đơn giản và bình dân của những phá sản, của những Khủng hoảng: một anh bạn mua nhà vội vàng bị đuổi ra khỏi nhà vì đã không lượng khả năng vững chắc việc hoàn vốn; một bà bán phở đang làm ăn lên, nhưng quá hồ hởi chi tiêu quá mức độ làm ra tiền của mình trong tương lai hay đúng hơn ước tính tương lai không sát thực tế.
Chúng tôi muốn nhìn một số điểm chung giữa Khủng hoảng 1997 của 4 nước Á đông như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn và những nguy hiểm khủng hoảng của một số nước bắt đầu phát triển hiện nay như Trung Cộng, Việt Nam
=> Đối với tất cả những nước vừa nhắc tên ra, người ta quan sát thấy rõ huynh hướng đẩy mạnh Tín dụng Địa ốc. Thực vậy, đối với những cá nhân mới thoát ra cảnh nghèo đói, họ có khuynh hướng tiêu xài quá số thu nhập, nghĩa là họ tiêu vào tiền tương lai, mà tương lai thì luôn luôn có những cái mình không chắc. Một nước mới phát triển, dễ dàng có khuynh hướng đẩy mạnh việc xây cất nhà cửa quá mức cần thiết. Tỉ dụ việc xây cất thành phố Bangkok trong những năm 1995-1996. Ngày nay, những thành phố như Thượng Hải, Sài Gòn, Hà Nội... được xây cất các xác nhà quá tầm mức xử sụng nội dung. Thực ra chính việc xử dụng nội dung mới đo được thực lực những sinh hoạt Kinh tế đẻ ra tiền. Việc chi tiêu của Chính quyền về xây cất đồ sộ càng được đẩy mạnh hơn nữa như muốn chứng tỏ sự vẻ vang của quyền lực.
=> Việc kiểm soát tính cách khả thi Kinh tế tương xứng của mỗi công trình xây cất không được thẩm định kỹ lưỡng đi song hành với timing khả năng thu hồi hoàn nợ. Chính về điểm này, mà những Tín dụng xây cất trở thành nguy hiểm. Đó là những Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses). Trong thời gian trước Khủng hoảng 1997, hệ thống Ngân Hàng trong những nước liên hệ với Khủng hoảng đã cho Tín dụng có tính cách tình cảm gia đình hoặc quen biết. Quỹ Tiền Tệ Quốc tế khi can thiệp vào, đã đòi buộc phải có một Tổ chức độc lập để kiểm soát vấn đề Tín dụng, nhất là Tín dụng địa ốc. Tại những quốc gia bắt đầu phát triển hiện nay, một số những dự án xây cất lớn được quyết định tài trợ theo tiêu chuẩn chính trị hơn là tính cách khả thi Kinh tế. Việc tài trợ lại bằng những phương tiện tài chánh ngân hàng lạm phát.
=> Điểm thứ ba nguy hiểm mà chúng tôi nhấn mạnh đó là sự không tương xứng theo thời gian tính của vốn đầu tư và của khai thác Kinh tế. Chính tính cách dài hạn của vốn càng làm tăng tính cách nguy hiểm của Tín dụng. Việc thu nhập Kinh tế với những hàng hóa sản xuất cho tiêu dùng ngắn hạn không đi đôi với việc xây cất với tín dụng dài hạn. Sư chênh lệch về thu nhập ngắn hạn và về chi tiêu dài hạn là điều rất nguy hiểm trong vấn đề quản trị tài chánh. Đối với những nước liên hệ với cuộc Khủng hoảng 1997, chính Quỹ Tiền Tệ Quốc tế đã đòi điều kiện chấm dứt và cải thiện ngay những Tín dụng dài hạn không phù hợp với việc khai thác Kinh tế ngắn hạn. Đối với những nước bắt đầu phát triển hiện nay, việc xây cất nhà cửa như dồn dập. Lấy lại những tỉ dụ Thành phố Thượng hải, Thành phố Sài-gòn, Thành phố Hà Nội... Tài trợ cho những xây cất này là sự phát hành phương tiện chi tiêu dựa trên ước tính dài hạn Kinh tế tương lai, trong khi ấy những chương trình khai thác Kinh tế/ Thương mại, một là thay đổi bấp bênh, hai là không tài nào làm timing cho năm, mười năm với những hàng hóa sản xuất căn yếu cho tiêu thụ ngắn hạn. Bấp bênh Khủng hoảng là ở chỗ đó. Đối với Việt Nam, nên nhớ là số tiền nợ đã lên tới 20 tỉ Đo-la.
Một sự Khủng hoảng Tín dụng địa ốc tại những nước này rất khó lòng chống đỡ. Những nước Aâu, Mỹ có thể chống đỡ bởi vì nền Kinh tế của họ đã được bền vũng phát triển lâu đời rồi, bởi vì hàng hoá chính yếu của họ mang tính dài hạn và kỹ thuật, và bởi vì họ đã tích luỹ khối lượng Tài chánh khổng lồ.
|
| | | Bài 6: VIỆT NAM TRƯỚC KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 03.01.2008
Vì vấn đề thời sự HOÀNG SA-TRƯỜNG SA quá quan trọng đối với đất nước, nên chúng tôitạm ngưng hai tuần viết loạt bài chủ đề này cốt ý dành để viết và phổ biến biến cố HOÀNG SA-TRƯỜNG SA. Tuần này chúng tôi lại tiếp tục viết về chủ đề.
Đây là bài thứ sáu trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ sáu này mang đầu đề là VIỆT NAM TRƯỚC KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG. Đầu đề tuy thuộc về loạt bài của Chủ đề đã báo trước, nhưng lại rất hợp với vấn đề thời sự ngày hôm nay. Việt Nam không những trước kẻ thù Trung Cộng về Kinh tế, mà còn là trước kẻ thù truyền kiếp Tầu về việc xâm lăng lãnh thổ và lãnh hải.
Với 5 bài trước đây, chúng tôi đứng ở phạm vi những nước liên hệ đến cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh năm 1997 với những phân tích của Bà Francoise NICOLAS. Với bài thứ sáu này, chúng tôi bắt đầu đụng chạm đến những bấp bênh liên hệ đến những nước bắt đầu phát triển hiện nay như Nam Phi, Nga, Trung quốc, Việt Nam với những nhận định của hai bài báo đăng trên Nhật Báo LE MONDE ngày 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX. Tuy là viết đặc biệt về cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 với những nước liên hệ như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn, nhưng khi đề cập đến những bấp bênh trong vùng ngày nay, Bà Francoise NICOLAS không thể không nhắc đến Trung Cộng. Bà viết:”L’INCONNUE CHINOISE—Enfin, la montée en puissance de la Chine et le rôle désormais déterminant que son économie joue dans la région et pour l’avenir des économies voisines, constitue un dernier motif d’icertitude, voire de vulnérabilité. Comme on l’a vu précédemment, les structures d’interdépendance sont désormais beaucoup plus étroites entre les différentes économies de la région et notamment entre les économies d’Asie de l’Est et leur grand voisin chinois. Dans ces conditions, le risque est élevé pour elles d’être à la merci des évolutions économiques en Chine. Or, les risques d’instabilité sont nombreux, qu’il s’agisse de tensions sur les marchés financiers, de tensions sociales ou encore de risques environnementaux. » (ẨN SỐ TRUNG QUỐC—Cuối cùng, việc tiến lên mạnh của Trung quốc và vai trò từ nay trở nên quyết định mà nền kinh tế Trung quốc đang giữ trong vùng hiện nay và đối với tương lai của những nền kinh tế kế cận, vai trò ấy tạo ra lý do cuối cùng của sự bấp bênh, hay có thể nói đó là lý do có thể làm thương tổn. Như người ta đã thấy trườc đây, những cấu trúc tương quan lệ thuộc từ nay trở thành gắn liền với nhau nhiều hơn giữa những nền kinh tế trong vùng và nhất là giữa những nền kinh tế của Đông Á châu với kẻ kế cận là Trung quốc rộng lớn. Trong những điều kiện này, sự nguy hiểm càng cao đối với những nền kinh tế ấy trước những biến đổi kinh tế bất chấp tại Trung quốc. Như vậy, những nguy hiểm bất ổn định trở thành thật nhiều, như những căng thẳng về tài chánh, những căng thẳng về xã hội hay còn nữa những nguy hiểm về môi trường.)
Nhận định của Bà Francoise NICOLAS là chung cho những nền kinh tế của các quốc gia trong vùng. Riêng chúng tôi, chúng tôi chỉ hạn định tính cách thù địch kinh tế Trung Cộng riêng cho Việt Nam. Sự thù địch nguy hiểm này cho Việt Nam không phải chỉ riêng khía cạnh thuần túy Kinh tế, mà còn liên hệ đến Chính trị và Lãnh thổ. Chúng tôi xin đi vào những chi tiết với những điểm sau đây :
=> Khía cạnh thuần túy Kinh tế : Kinh tế Trung cộng, kẻ thù của Kinh tế Việt Nam => Khía cạnh Kinh tế và Chính trị: Vì Chính trị, CSVN nhu nhược trước lấn át Kinh tế Trung cộng
Khía cạnh thuần túy Kinh tế : Kinh tế Trung cộng, kẻ thù của Kinh tế Việt Nam
Nói là kẻ thù, nghĩa là nói đến cạnh tranh sống chết. Trong phần này, chúng tôi chỉ phân tích thuần túy ở khía cạnh kinh tế về cạnh tranh hàng hóa và về việc phân phối những hàng hóa sản xuất.
Giá thành sản xuất (Prix de Revient) và việc cạnh tranh hàng hóa
Nền kinh tế Trung cộng và nền kinh tế Việt Nam quy tụ vào việc sản xuất hàng hóa tương tự nhau: những linh kiện và những hàng tiêu thụ thấp và ngắn hạn. Nếu Việt Nam có những ưu điểm hơn Trung cộng về Nông nghiệp và Ngư nghiệp, thì Việt Nam đã sao lãng phát triển những ưu điểm, nghĩa là không lưu tâm nhiều về việc đầu tư phát triển những ngành nghiệp này. Cho dù bây giờ mới ý thức và lưu tâm đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp, thì Việt Nam cũng khó lòng lấp được khoảng cách phát triển Nông nghiệp và Ngư nghiệp của Thái lan sánh với việc chậm mở mang của Việt Nam.
Việt Nam đặt trọng tâm về sản xuất linh kiện và những hàng tiêu thụ hàng ngày ngắn hạn, gọi là công nghệ hóa kinh tế, rập khuôn theo Trung cộng. Vì vậy, việc phân tích của chúng tôi về tính cách thù địch kinh tế Trung cộng đối với Việt Nam là ở những công nghệ sản xuất linh kiện và những hàng tiêu thụ hàng ngày ngắn hạn. Việc cạnh tranh giữa các hàng hóa này lệ thuộc chính yếu vào giá bán. Có người nói rằng còn cần yếu tố phẩm chất. Khía cạnh này có lẽ chỉ nên dành cho những hàng hóa cao độ và xử dụng dài hạn. Còn những hàng hóa thấp tiêu thụ ngắn hạn, thì vấn đề giá bán là chính yếu trong việc cạnh tranh. Mà giá bán tùy thuộc hoàn toàn vào Giá thành sản xuất (Prix de Revient). Giá thành sản xuất này tùy thuộc vào ba yếu tố: Vật liệu cung cấp, Nhân lực và Thiết bị sản xuất.
Đối với vấn đề Giá thành sản xuất, thì Việt Nam không thể nào hạ thấp hơn sánh với Trung Cộng, nghĩa là Trung cộng chắc chắn giết hàng hóa Công nghệ Việt Nam về Giá thành sản xuất, vì những lý do sau đây:
=> Về Vật liệu cung cấp.
Tiếng Vật liệu cung cấp (Approvionnement des matìeres premìeres) không hẳn chỉ là nguyên vật liệu (matìeres premìeres brutes), mà có thể là những vật liệu biến chế bán phần (matìeres semi-ouvrées) hay những linh kiện (pìeces détachées). Hầu hết các hàng hóa, dù ở cấp độ đơn giản và được tiêu thụ ngắn hạn, đều phải qua các chặng biến chế nối tiếp hoặc là việc ráp nối những thành phần cấu cấu tạo đã được sản xuất sẵn. Sản phẩm cuối cùng (produit fini) được chia ra nhiều thành phần cấu tạo. Mỗi thành phần có thể được sản xuất từ một Công ty chuyên môn khác. Nền kinh tế Công nghệ hóa bao gồm một hệ thống những Công ty chế biến từng chặng cho nguyên vật liệu và những Công ty chuyên môn sản xuất những linh kiện cấu thành hàng hóa cuối cùng. Chúng ta ở trong một hệ thống lệ thuộc lẫn nhau của các Công ty (Système de Sous-traitance). Mỗi Công ty chuyên về một số sản phẩm nhất định. Một hệ thống như vậy cho phép nền kinh tế đạt được hai điểm thuận lợi:
* Vì Công ty chuyên môn về một số linh kiện cấu thành, nên phẩm chất của sản phẩm mỗi ngày mỗi tăng. * Vì làm việc chỉ cho một số linh kiện hữu hạn, nên Công ty có thể tăng số lượng sản xuất cho linh kiện cấu thành ấy. Đây là việc làm giảm giá thành linh kiện và do đó ảnh hưởng tới việc giảm giá thành của hàng hóa cuối cùng.
Người ta nói rằng hàng hóa của Trung quốc có thể sản xuất từ A tới Z trong khi ấy, cùng hàng hóa đó, Việt Nam phải lệ thuộc vào việc nhập cảng vật liệu từ nước ngoài, nên giá thành cao hơn. Nói là sản xuất từ A tới Z có nghĩa là có thể tổ chức một hệ thống sản xuất các giai đoạn biến chế và các linh kiện chuyên môn trong chính nội địa theo hệ thống Sous-Traitance. Trung quốc có khả năng tổ chức hệ thống này hơn Việt Nam vì Thị thường nội địa về vật liệu của họ rộng lớn, nghĩa là mỗi Công ty sản xuất linh kiện có thể tăng số lượng sản xuất để giảm giá thành và vẫn có thị trường tiêu thụ.
=> Về Nhân lực
Vì nền Công nghệ của hai nước đều nhằm sản xuất linh kiện và những hàng hóa đơn giản tiêu thụ hàng ngày, nên không cần số Nhân lực phải được huấn luyện ở mức độ kỹ thuật cao. Hai nước có những tương tự với nhau trong cùng một thể chế Chính trị độc tài bóc lột Nhân lực cho đảng duy nhất cầm quyền và cho những cá nhân tham nhũng giữ quyền hành.
=> Về Thiết bị sản xuất
Ở đoạn này, chúng tôi muốn cắt nghĩa kỹ hơn tại sao trong một hệ thống tương quan liên hệ Công ty (Sous-traitance) làm những linh kiện thành phần cấu thành món hàng cuối cùng, người ta có thể hạ giá thành đồng thời làm tăng phẩm chất hàng hóa. Đó là phương diện đầu tư vào những Thiết bị sản xuất (Installation des Equipements productifs). Những tiến triển kỹ thuật càng ngày càng hoàn hảo việc sản xuất. Cần phải đầu tư vào những Trang Thiết bị ấy nếu muốn phẩm chất hàng hóa của mình mang tính cách cạnh tranh hữu hiệu hơn hàng hóa của người khác. Nhưng khi đầu tư và trang Thiết bị tối tân hơn, thì giá thành buộc phải tăng lên làm mất tính cách cạnh tranh về giá cả. Chỉ có một cách có thể hạ được giá thành khi đầu tư vào những trang Thiết bị tân tiến, đó là giải tỏa số chi tiêu cố định này ra cho lượng sản phẩm. Thực vậy, giá bán hàng hóa dựa trên giá thành đơn vị. Khi chi tiêu cố định vào Trang Thiết bị, thì phải tìm mọi cách tăng số lượng sản xuất. Số chi tiêu cố định chia cho lượng sản xuất tăng lên, thì số chi tiêu cố định đơn vị sẽ giảm đi đến chỗ triệt tiêu. Tỉ dụ khi đầu tư vào việc mua chiếc Máy trị giá 100’000.-. Nếu lượng sản xuất chỉ có 5’000 đơn vị, thì giá thành đơn vị sẽ là 100’000.-/ 5’000 = 20’000/đơn vị. Nhưng nếu tăng sản xuất lên 50’000 đơn vị, thì giá thành sẽ là 100’000.-/ 50’000 = 2’000/ đơn vị. Nếu tăng lượng sản xuất lên 200’000 đơn vị, thì giá thành sẽ là 100’000.- / 200’000 = 0.5/ đơn vị.
Hệ thống tương quan tuỳ thuộc giữa các Công ty (Système de Sous-Traitance) cho phép tăng số lượng sản xuất, đồng thời tăng phẩm chất hàng hóa. Hê thống này dễ dãi thực hiện tại Trung quốc hơn là ở Việt Nam vì Thị trường với trên một tỉ rưỡi người rộng lớn gấp bội hơn là Thị trường chưa được 100 triệu dân. Với số lượng người trên 1 tỉ rưỡi, Trung cộng không bao giờ sợ nạn sản xuất quá đáng (surproduction), nhất nữa với chế độ độc tài, họ có thể trả lương bằng hàng hóa (économie de troc).
Tóm lại, đứng về phương diện thuần túy kinh tế mà nói, thì hàng hoá Trung Cộng có khả năng cạnh tranh mạnh hơn hàng hóa Việt Nam về giá bán trong một hệ thống sản xuất cho phép hạ rất thấp giá thành sản xuất ở Trung cộng hơn là ở Việt Nam. Đây là sự cạnh tranh thắng thế của Trung cộng khi mới chỉ nói về phương diện thuần túy sản xuất hàng hóa. Nói kinh tế Trung cộng là kẻ thù của Kinh tế Việt Nam, đó là từ căn bản sản xuất mà Việt Nam khó lòng thắng nổi sự cạnh tranh tối quan hệ này.
Lượng hàng trao đổi (Volumes des échanges) và việc cạnh tranh hàng hóa
Trong phần trên, chúng tôi nói về lượng sản xuất (quantité produite) là căn yếu cho việc giảm giá thành và do đó giá bán cạnh tranh. Trong phần này, lượng hàng trao đổi trên Thị trường cũng là yếu tố chính của cạnh tranh.
Thực vậy, trên Thị trường trao đổi hàng hóa, không phải là tình nhân đạo, nghĩa bạn hữu ngự trị, nhưng là những thương gia có thể mua bán với số lượng cao hàng hóa được trọng vọng ở Thị trường. Ai cũng biết rằng, nếu đến mua hai ba món hàng, người ta có thể đối xử lạnh nhạt, nhưng khi tuyên bố mua chừng mấy chục ngàn, mấy trăm ngàn đơn vị hàng, người bán săn đón mời mọc hết sức trịnh trọng.
Trên Thị trường Quốc tế, mặc dầu biết Trung cộng không tôn trọnh nhân quyền, nhưng khi thấy Trung cộng muốn mua chừng 50 Airbus hay đặt mua 10 lò nguyên tử... thì ngay những nước vốn có truyền thống trọng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cũng yên tiếng và tiếp đón trịnh trọng.
Tôi còn nhớ dịp nói chuyện qua Đài Radio France Internationale về việc tràn lan hàng May Dệt của Trung Cộng sang Thị trường Liên Aâu, tôi nhắc đến lời tuyên bố nhẹ nhàng cũa Bộ Trưởng Thương mại Trung Cộng tại Bruxelles rằng để có thể mua một Airbus, Trung cộng phải bán sang Liên Aâu bao nhiêu chục triệu áo sơ mi. Lời nhắc nhẹ ấy muốn nói rằng việc chấp nhận hàng hóa của Trung cộng vào một Thị trường còn hàm ngụ việc Thị trường ấy muốn Trung cộng đặt mua hàng hóa của Thị trường đó nữa.
Việc cạnh tranh còn được nâng đỡ bằng sự trao đổi hàng hoá có đi có lại mới toại lòng nhau. Việt Nam không có khả năng một Thị trường tiêu thụ bằng Trung cộng, nên việc cạnh tranh dựa trên lượng hàng hóa trao đổi (volumes des échanges) không thể bằng Trung cộng được.
Hàng hóa Trung cộng giết Công nghệ Việt Nam sản xuất cho nội địa
Kinh tế Trung cộng là kẻ thù trực tiếp hơn cả, đó là việc hàng hóa Trung cộng giết chết nền Công nghệ Việt Nam sản xuất cho nội địa.
Đối với những Công ty vốn nước ngoài, muốn khai thác nhân lực Việt Nam để sản xuất những linh kiện xuất cảng, thì họ không bị sự cạnh tranh này. Nhưng đối với những Công ty nhằm sản xuất cho Thị trường tiêu thụ quốc nội, thì khi hàng Trung cộng tràn vào Việt Nam, đó là mối đe dọa trầm trọng. Với phẩm chất cao hơn và với giá bán thấp hơn, hàng hóa Trung cộng sẽ giết chết những ngành nghiệp Công nghệ sản xuất cho quốc nội này.
Đó là nói về những hàng hóa được công khai nhập cảng từ Trung cộng. Tại Thị trường Việt Nam, còn phải nói đến việc xâm nhập lậu hàng hóa của Trung cộng từ dọc biên giới cực Bắc, dọc biên giới Lào và dọc biên giới Cao Mên, với hỗ trợ của tham nhũng thối nát, thì những hàng hóa Trung cộng nhập lậu này còn được bán với giá rẻ hơn nữa, nghĩa là hàng hóa Trung cộng càng giết mạnh hơn nữa những Công nghê sản xuất cho Thị trường quốc nội.
Tóm lại, đứng ở quan điểm thuần túy kinh tế, thì kinh tế Trung cộng là kẻ thù của kinh tế Việt Nam ở ba phương diện: (i) cạnh tranh thứ nhất: giá thành hàng hóa Trung cộng thấp, và do đó giá bán; (ii) cạnh tranh thứ hai: lượng trao đổi hàng hóa lớn khiến Thị trường Quốc tế nhận mua hàng Trung cộng vì nhằm bán hàng của mình cho Trung cộng; (iii) cạnh tranh thứ ba: trực tiếp giết chế ngành nghiệp sản xuất hàng hóa cho Trường quốc nội.
Khía cạnh Kinh tế và Chính trị: Vì Chính trị, CSVN nhu nhược trước lấn át Kinh tế Trung cộng
Trong phần trên đây, đứng về mặt thuần túy kinh tế mà phân tích, chúng ta cũng đã nhận thấy rằng sự lấn át của hàng hóa Trung quốc đối với hàng hóa Việt Nam là rõ rệt trên Thị trường Quốc tế và ngay cả ở Thị trường nội địa. Trước tình trạng lấn át như vậy, Việt Nam phải có một đường lối thế nào để tháo gỡ. Người ta nhận thấy rằng không những nhà nước Việt Nam không có biện pháp tháo gỡ, mà còn tỏ ra nhu nhược trước những lấn chiếm kinh tế của Trung cộng, đôi khi còn tự ý dâng tặng cho Trung quốc những lợi lộc như món quà mua chuộc quỵ lụy.
Nhà cầm quyền VN lệ thuộc vào Chính trị Trung cộng
Ngay từ thời Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, CSVN đã lệ thuộc vào Trung cộng, nhờ vả sức mạnh của Trung cộng để mở cuộc huynh đệ tương tàn, xâm chiếm Miền Nam. Để phục vụ cho Đế quốc Cộng sản, Việt Nam đã hy sinh một dịp hiếm có mở mang Kinh tế, tái thiết lại hai Miền đề nghị bởi Hoa kỳ và Tây phương. Nhưng rồi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, Việt Nam trở thành quá nghèo đói, chế độ độc tài buộc lòng phải mở cửa đối với Tây phương chỉ với mục đích kiếm ăn. Tuy nhiên, về mặt Chính trị, đảng CSVN lại càng phải lệ thuộc vào Trung cộng hơn nữa. Càng ngày càng phải vụm tay lậy lục Hoa kỳ và Tây phương về Kinh tế, thì càng ngày đảng CSVN càng sợ hãi mất quyền nên càng phải lệ thuộc bám víu lấy Trung cộng để bảo vệ cho quyền hành của họ.
Trung cộng biết rõ sự lệ thuộc này của đảng CSVN vào mình, nên tất nhiên Trung cộng khai thác triệt để sự lệ thuộc này.
Nếu CSVN gắn liền với Trung cộng để nhờ vả sự che chở cho quyền hành Chính trị, thì Trung cộng chơi với CSVN không phải là để tìm kiếm sự tăng cường sức mạnh Chính trị cho mình vì Trung cộng không cần thiết, mà chính là để khai thác triệt để CSVN về mặt dâng hiến Kinh tế cho Trung cộng. CSVN chơi với Trung cộng để nhờ vả che chở Chính trị, trong khi ấy Trung cộng chơi với CSVN đầy tớ là để khai thác Kinh tế. Chính vì vậy mà CSVN trở thành hoàn toàn nhu nhược trước những lấn át Kinh tế từ Trung cộng.
Những thua thiệt Kinh tế vì lệ thuộc Chính trị Trung cộng
Chúng tôi xin kể ra đây một số Tỉ dụ cho thấy sự nhu nhược của CSVN trước những mất mát lớn lao Kinh tế cho Trung cộng.
=> Dâng hiến Tài nguyên Quốc gia
Chúng tôi muốn nói đến việc dâng hiến Biển và Đất Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung cộng. Việc dâng hiến này là một trọng tội đối với Tổ Tiên. Nhưng đứng về mặt Kinh tế, thì đây là việc dâng hiến Tài nguyên Quốc gia quá lớn lao cho kẻ thù kinh tế của mình.
Chiều dài Việt Nam gắn liền với Biển Đông. Người Việt Nam sống dọc theo chiều dài ấy. Thủy sản là nguồn tài nguyên phong phú tái hồi chu kỳ để nuôi sống dân chúng (ressources maritimes renouvelables et cycliques). Đó là nguồn tài nguyên không thể cạn hết theo thời gian (ressources inépuisables). Nếu Tài nguyên thuộc đất liền, thì nguồn tài nguyên ấy có tính cách hữu hạn (ressources épuisables) khi khai thác trong một số thời gian. Nhưng nguồn tài nguyên biển cả là vô tận. Dân tộc Việt Nam còn phải sống từ đời này qua đời kia, từ từng ngàn năm này đến từng ngàn năm kia. Dân tộc chúng ta có may mắn sống dọc theo bờ biển, sát cạnh những tài nguyên vô tận. CSVN đã dâng cho Trung cộng cái nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng này.
Đối với Hoàng Sa-Trường Sa, nguồn tài nguyên chính yếu là kho dự trữ năng lượng dầu lửa. Công Hàm ký bởi Phạm Văn Đồng theo lệnh Hồ Chí Minh là một khẳng định tự dâng hiến nguồn tài nguyên năng lượng dầu lửa quan trọng ấy cho Kinh tế Trung cộng.
=> Thả lỏng cho kẻ thù Kinh tế hoành hành trên Đất Nước
Trong một đoạn trên đây, chúng tôi đã đề cập đến việc hàng hóa Trung cộng đang giết chết nền Công nghệ Việt Nam sản xuất cho Thị trường nội địa. Nếu nền Công nghệ với vốn nước ngoài nhằm sản xuất linh kiện để xuất khẩu chỉ là việc làm thuê làm mướn nhất thời, thì nền Công nghệ sản xuất cho Thị trường nội địa Việt Nam là bước đầu thiết cần xây dựng cho một nền Kinh tế quốc gia lâu bền trong tương lai.
Khi CSVN hồ hởi vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO/OMC), chúng tôi đã viết một loạt bài cho thấy rằng đừng quá lạc quan với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) bởi vì đó là một lý tưởng cạnh tranh cho những nước đã tiến tới tình trạng ngang hàng sức lực Kinh tế với nhau. Đối với những Quốc gia mới phát triển Kinh tế, phải chú tâm áp dụng việc Che chở những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes), nếu không, những Kỷ nghệ mới phát sinh này sẽ chết trong trứng nước.
Chúng ta đã có những bằng chứng lịch sử. Khi mà Anh quốc đã phát triển Kỹ nghệ, họ kêu gọi Tự do Mậu dịch, nhưng chính trong thời ấy, Đức và Hoa kỳ mới ở thời kỳ đầu của những Kỹ nghệ phát sinh, nên hai nước này đã chủ trương Che chở Mậu dịch (Protectionnisme).
Việt Nam vẫn còn nằm trong danh sách những nước nghèo và vừa chớm nở èo ọt những Công nghệ sản xuất cho Thị trường quốc nội. Vào WTO tức là để cho Thái Lan vào giết Thị trường Thực phẩm, Lúa gạo, và là để cho Trung cộng tràn vào giết chết nền Công nghệ mới phát sinh.
Nếu Nhà Nước cứng cắt, thì có thể xử dụng những Biện pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để có thể làm hàng rào che chở cho nền Công nghệ mới chớm nở này. Nhưng Nhà Nước Việt Nam, vì quá lệ thuộc vào Chính trị của Trung cộng, nên nhu nhược để cho hàng hóa Trung cộng vốn dĩ cạnh tranh mạnh hơn về kinh tế, nay vì lệ thuộc Chính trị nên càng tự do tràn vào để giết chết nền Công nghệ Việt Nam trong trứng nước.
=> Bị đồng hóa với Trung cộng trên Thị trường quốc tế
Trên Thị trường quốc tế, như chúng tôi đã phân tích ở phần đầu, hàng hóa Trung cộng có những ưu điểm cạnh tranh hơn hàng hóa Việt Nam về giá cả hạ và về cái thế của một nước lớn như Trung cộng, nghĩa là về giá cả, người ta chọn mua hàng Trung cộng, và về quyền lợi trao đổi, người ta cũng chọn mua hàng Trung cộng vì người ta còn nhằm bán lại hàng cho Thị trường lớn của Trung cộng.
Nhưng khi những Thị trường quốc tế lớn như Bắc Mỹ và Liên Aâu có những biện pháp chế tài gì với Trung cộng, thì Việt Nam cũng bị dính lây. Khi có điều gì lợi trên Thị trường quốc tế, thì Trung cộng ăn một mình và Việt Nam đứng nhìn, nhưng khi có những điều hại gì áp đặt lên Trung cộng, thì những Thị trường này lại kéo cả Việt Nam vào để chịu trận.
Tại sao như vậy ? Lý do là vì những Thị trường quốc tế lớn này đều biết rằng Việt Nam lệ thuộc vào Chính trị Trung cộng và có những gian giảo thương mại ngầm dàn xếp giữa hai nước. Nếu áp dụng những biện pháp chế tài thương mại cho Trung cộng mà không đồng thời áp dụng cho Việt Nam, thì có thể họ để cửa ngõ mở ra hớ hênh để Trung cộng dàn xếp gian giảo với Việt Nam mà tránh né những biện pháp chế tài ấy.
Đây không phải là một sự phỏng đoán không có bằng chứng. Chúng tôi xin kể ra hai tỉ dụ cho thấy rằng Thị trường quốc tế khi áp dụng biện pháp chế tài cho Trung cộng, thì cũng kéo luôn Việt Nam vào cùng chịu cho yên trí.
Tỉ dụ thứ nhất là việc Liên Aâu tăng thuế nhập cảng những hàng Da Dầy... lên tới 20% cao hơn. Biện pháp này áp dụng cho Trung cộng là chính yếu. Nhưng Liên Aâu thừa biết rằng nếu chỉ áp dụng cho Trung cộng, thì Trung cộng có thể tranh né việc tăng thuế để bán qua ngả Việt Nam để vào Liên Aâu. Liên Aâu đã quyết định kéo cả Việt Nam vào cùng với Trung cộng để cùng chịu việc tăng 20% này.
Trên Thị trường quốc tế, người ta thường gặp những dàn xếp gian giảo này. Thực vậy, trườc đây, một số hàng sản xuất trên lãnh thổ Trung cộng chung quanh Hồng Kông có thể được nhập vào Thị trường Aâu châu. Chỉ cần đề là Made in Hong Kong và Hong Kong thuộc về Anh, mà Anh nằm trong chính Aâu châu. Việt Nam lệ thuộc Chính trị Trung cộng và quan thầy Tầu có thể bảo nhà nước nhu nhược CSVN cho đề là Made in Vietnam để tránh 20% tăng thuế.
Tỉ dụ thứ hai đang xẩy ra. Trong gần một nửa năm nay, Thị trường quốc tế áp dụng những Biện pháp Không giá biểu cho Trung cộng. Khi vào WTO rồi, Trung cộng bắt đầu tấn công các Thị trường lớn như Bắc Mỹ và Liên Aâu bằng những đợt hàng hoá.
Khởi đầu là hàng May Dệt mà các Thị trường này gọi là Tsumani Textiles chinois. Tsumani này đã làm thiệt hại cho ngành nghiệp may dệt trong chính Thị trường; một số những nhà máy may dệt đóng cửa. Việc tràn lan may dệt của Trung cộng còn làm thiệt hại chính những nước nhỏ mà các Thị trường này có ý nâng đỡ: Mễ Tây cơ, Maroc, Bangladesch, Philippines... Mỹ phản ứng đầu tiên, sau đó đến Liên Aâu bằng những biện pháp được chính WTO cho phép.
Tiếp đến là những đợt hàng hóa như đồ chơi cho trẻ em, những thực thực phẩm từ Trung cộng. Lần này, không những Mỹ, Liên Aâu, mà còn một số nước khác như Uùc châu, Ba Tây... lấy ra Biện pháp không giá biểu như Biện pháp Vệ sinh (Mesure d’Hygiène) để chế tài hàng Trung cộng. Việt Nam cũng bị kéo chung vào với Trung cộng để bị kiểm soát chế tài gắt gao do Biện pháp Vệ sinh này. Cái Chính trị lệ thuộc vào Trung cộng đã khiến Việt Nam cùng bị xếp chung với Trung cộng khi có những biện pháp chế tài vậy.
Đứng về khía cạnh thuần túy Kinh tế, hàng hóa Trung cộng có thế cạnh tranh hơn hàng hóa Việt Nam. Khi lệ thuộc Chính trị vào Trung cộng, CSVN trở thành nhu nhược để một đàng không có biện pháp ngăn chặn, một đàng cúi đầu nhận những thiệt hại. Kinh tế Trung cộng là kẻ thù của Kinh tế Việt Nam mà chính nhà cầm quyền Việt Nam rước kẻ thù về ngự trị như cái giá mua bảo đảm quyền bính cho đảng CSVN.
|
| | | Bài 7: VẬT GIÁ TĂNG VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ TẠI NHỮNG QUỐC GIA BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 10.01.2008
Đây là bài thứ bẩy trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ bẩy này mang đầu đề là VẬT GIÁ TĂNG VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ TẠI NHỮNG QUỐC GIA BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN.
5 Bài đầu của loạt 12 Bài nói về cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế năm 1997 liên quan đến 4 nước trong vùng Đông Á châu là Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Những Bài về Khủng hoảng này dựa vào tài liệu nghiên cứu của Bà Francoise NICOLAS. Viết về cuộc Khủng hoảng, chúng tôi muốn cho thấy những lý do Tài chánh/ Kinh tế khả dĩ giúp cho hiểu tình trạng bấp bênh của những nước bắt đầu phát triển mạnh hiện giờ như Nam Phi, Iran, Nga, Trung Cộng và Việt Nam. Loạt bài về những nước này được dựa theo tài liệu trong loạt bài đăng trên nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với nhữ đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS; (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER; (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX. (1)Vật giá tăng làm yếu nhược đi những nước bắt đầu phát triển; (2) Vật giá tăng tàn phá một nền Kinh tế, cho dù những Chính trị lại chuộng việc ấy; (3) Những nước bắt đầu phát triển mắc bệnh vì vật giá tăng lên.
Bài này viết tổng quát hiện tượng tăng vật giá hiện nay, nhưng chia đi vào phân tích chi tiết những nguyên do tăng vật giá mà chúng tôi sẽ dành cho những Bài tiếp theo. Bài này sẽ đề cập tổng quát đến những điểm sau đây:
=> Hậu cuộc Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc => Vật giá tăng tại những nước bắt đầu phát triển => Hướng nhìn và phân tích hiện tượng vật giá tăng vọt
Hậu cuộc Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc
Cuộc Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc bắt đầu xuất hiện đầu tháng 8 năm 2007 từ Hoa kỳ rồi lan sang những nước đã kỹ nghệ hoá Aâu châu. Hậu quả của nó là hiện tượng tăng vật giá hiện đang diễn ra và mang ảnh hưởng tới dự trù đà phát triển kinh tế cho năm 2008.
Thị trường Sub-Prime Tín dụng Địa ốc là gì ? Chúng tôi đã viết tỉ mỉ trong bài trước đây PHỤ BẢN cho loạt bài này. Chúng tôi chỉ xin nhắc lại tóm tắt để đọc giả biết Thị trường này là gì.
Cái nguồn của Thị trường này (Sub-Prime Mortgage Market) là từ Hoa kỳ. Đây và việc cho Tín dụng thế chấp địa ốc xây cất dài hạn. Có những việc cho Tín dụng mà không xét kỹ khả năng hoàn trả. Từ đó người ta gọi credit sub-prime. Những nhà đầu tư hay những bộ phận đầu tư của Ngân Hàng thường không trực tiếp với khách hàng. Những Tổ chức về Tín dụng Thế chấp trực tiếp với khách hàng mua, xây cất nhà. Những Tổ chức này nhận những Hợp đồng nợ, nhưng khi có nhiều quá vượt tầm vốn của họ thì họ phải chạy tìm vốn tại những Ngân Hàng. Họ mang trình nộp những Hợp đồng nhận nợ cho các Ngân Hàng để có vốn. Các Ngân Hàng nhận được những loại nhận nợ đủ thứ. Những Ngân Hàng này gọp chung lại và cho ra Sản phẩm Tài chánh ở Thị trường Chứng khoán để bán gọi vốn thêm từ những nhà đầu tư. Hai sản phẩm sau đây tạo thành Thị trường chứng khoán sub-prime thế chấp địa ốc (Sub-prime Mortgage Markets), đó là MBO (Mortgage backed Obligation) và CBO (Collateral backed Obligation). Một số Tổ chức định giá an toàn cho những sản phẩm này. Những Tư nhân hay Tổ chức (Funds) hoặc Ngân Hàng có thể mua những sản phẩm trên Thị trường chứng khoán địa ốc sub-prime. Việc giao động ở Thị trường Chứng khoán là ở những Sản phẩm Tài chánh Thế chấp Địa ốc bán đi mua lại trên Thị trường. Phương diện này có thể được gọi là hệ thống mới, phát sinh tại Hoa kỳ. Nhưng việc làm giao động có tính cách dây chuyền bắt đầu từ những Khách hàng Nhận nợ mà gặp những khó khăn hoàn trả hoặc không thể hoàn trả cho tín dụng đã ký nhận.
Ngày 10.08.2007, trên tờ International Herald Tribune, Floyd NORRIS đã viết như sau:“In the past decade a new financial architecture emerged—one that relied less on banks as intermediaries and more on securities. Mortgages were financed by investments in securities that were supposed to be safe.“ (Trong thập niên vừa qua, một kiến trúc tài chánh mới được thành hình—kiến trúc liên hệ ít hơn tới những ngân hàng như trung gian và nhiều hơn đến những sản phẩm chứng khoán. Những tín dụng thế chấp đã được tài trợ bởi đầu tư vào những sản phẩm chứng khoán được kể là an toàn). Việc an toàn này thường được đánh giá cao thấp bởi Moody’s and Standard & Poor’s chẳng hạn. Tin tưởng vào những sản phẩm này để bỏ tiền đầu tư hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã trở thành may rủi.
Vậy nếu trong những sản phẩm chứng khoán ấy có những nguy hiểm được phát hiện bởi sub-prime, thì giới đầu tư có thái độ thay đổi Cung và Cầu đầu tư tài chánh. Biến động về những sản phẩm này trong tháng 8 vừa rồi đã làm cho Thị trường khan hiếm đầu tư, nghĩa là khan hiếm vốn lưu hành. Những nhà đầu tư hoặc những ngân hàng đầu tư ngưng bỏ vốn hoặc mất vốn khi những sản phẩm chứng khoán thế chấp địa ốc xuống cấp tin tưởng.
Những Ngân Hàng đầu tư hoặc những Quỹ đầu tư (Investment Funds) đã mua nhiều những sản phẩm chứng khoán thế chấp này, nên bây giờ họ thấy lỗ do sự giao động. Nhiều Tổ chức sản phẩm đã sạt nghiệp. Một số lớn Ngân Hàng hoặc Quỹ đầu tư Mỹ và Aâu châu bắt đầu bị lỗ vốn về những sản phẩm chứng khoán thế chấp nghi ngờ này (sub-prime/ risque). Những Ngân Hàng lớn như CITIGROUP thiệt hại trên 10 tỉ Đo-la, UBS của Thụy sĩ tới trên 15 tỉ Đo-la.
Tuần này, ngày thứ Ba 08.01.2008, trong cuộc Bình luận trên Đài Truyền Hình A2 của Pháp về Khả năng Tiêu thụ, một Diễn giả đã cho biết rằng cuộc Khủng hoảng Thị trường Sub-Prime Địa ốc đã làm thiệt hại cho Hoa kỳ và Liên Aâu tổng cộng tới trên 1000 tỉ Đo-la. Sự mất vốn này cho thấy sự khan hiếm vốn chung cho nền Kinh tế cần giữ đúng mức đầu tư để bảo đảm đà phát triển (Taux de croissance). Chính vì vậy mà những nhà Kinh tế dự trù việc giảm đà phát triển Kinh tế trong năm 2008. Trong khi đó vật giá tại những nước đã kỹ nghệ hóa này được ước lượng tăng lên 3%-5%.
Tại Aâu châu, đặc biệt là Tây Ban Nha, liên hệ đến Thị trường Tín dụng Địa ốc, người ta thấy cuộc khủng hỏang càng tăng lên. Trong Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE số ra ngày thứ Ba 08.01.2008, Ký giả Elisabeth ECKERT đã viết:”Deux millions de foyers américains qui se retrouvent sans toit, suite à l’explosion de la bulle immobilìere aux Etats Unis: verra-t-on la même chose en Espagne durant l’année 2008 ? ... Pour preuve: Immobiliara Colonial, le deuxìeme promoteur immobilier espagnol, se trouve aujourd’hui à deux doigts de la faillite. Ses dettes – qui s’élèvent à 9 milliards de francs -- ...” (Hai triệu gia đình Mỹ đang không có mái nhà che thân, đó là do việc bùng nổ của cái bọt địa ốc ở Hoa kỳ: người ta có thấy giống vậy tại Tây Ban Nha trong năm 2008 không ? ... Bằng chứng: Công ty Immobiliara Colonial, Tập đoàn khởi xướng Địa ốc đứng thứ hai của Tây Ban Nha, ngày nay chỉ còn hai ngón tay nữa là đi đến phá sản. Những món nợ của Tập đoàn lên tới 9 tỉ quan Thụy sĩ...”
Đừng thấy bề ngoài xây cất nhà cửa dinh thự lớn lao là vẻ vang phát triển, mà phải nhìn qua đó những món nợ dài hạn có thể làm sạt nghiệp.
Việc tăng vật giá, thiếu vốn đầu tư, do đó kềm hãm đà phát triển đang là hâu quả của Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-prime Địa ốc hiện nay tại Hoa kỳ và những nước đã kỹ nghệ hóa của Liên Aâu.
Vật giá tăng tại những nước bắt đầu phát triển
Phần trên đây được viết trong bài này cốt ý để chúng ta thấy tình hình vật giá tăng và sự đình trệ độ tăng trưởng Kinh tế của Thế giới, đồng thời cũng cho biết một trong cái nguồn chính gây hậu quả là lãnh vực Địa ốc. Phần phân tích trên đây trở thành quan trọng bởi vì những nước mà người ta gọi là bắt đầu phát triển lại tăng cường quá đáng về lãnh vực xây cất địa ốc. Những nước bắt đầu phát triển này (Pays émergents) là Nam Phi, I-răng, Nga, Trung Cộng và Việt Nam được những tác những bài viết trong nhật báo LE MONDE nhấn mạnh.
Tình hình chung của những nước bắt đầu phát triển
Mở đầu cho loạt bài viết trong LE MONDE ngày 31.10.2007 về những nước bắt đầu phát triển, tác giả Alain FAUJAS viết:”Dans les pays émergents, l’inflation est de retour. En Chine, en Iran, au Vietnam, en Afrique du Sud, en Russie, les indices de prix à la consommation dérapent depuis plusieurs mois, principalement en raison de de la flambée des prix alimentaires. A Moscou, le gouvernement vient de décider de geler les prix de plusieurs produits de base (huile, lait, pain). A la veille d’échéances électorales importantes, le Kremlin redoute les conséquences de cette poussée inflationniste dans l’opinion publique. Les dirigeants chinois, eux aussi, s’inquìete d’une envolée des prix qui rogne le pouvoir d’achat des plus pauvres et menace la paix sociale. La moindre concurrence, la part plus importante de l’alimentation dans la consommation expliquent que les pays émergents soient aujourd’hui plus exposés à l’inflation que les grandes nations industrialisées.” (Tại những nước bắt đầu phát triển, vật giá tăng trở lại ngự trị. Tại Trung quốc, I-răng, Việt Nam, Nam Phi, Nga, những chỉ số giá cả về tiêu thụ đã chệch hướng từ nhiều tháng nay, chính yếu vì lý do vụt bốc cao lên những giá cả về đồ ăn. Tại Mạc Tư Khoa, Nhà Nước vừa quyết định hãm đông lạnh lại những giá của các sản phẩm nền tảng (dầu ăn, sữa, bánh mì). Gần tới hạn kỳ những cuộc bầu phiếu quan trọng, điện Cẩm Linh ngại sợ những hậu quả của việc đẩy mạnh tăng giá cả này trong dư luận quần chúng. Những nhà lãnh đạo Trung quốc cũng vậy, họ lo lắng cho việc tăng vọt vật giá cắt xén khả năng tiêu thụ của những người nghèo và đe dọa yên lành xã hội. Sút kém cạnh tranh, phần quan trọng dành cho thực phẩm trong việc tiêu thụ cho thấy là những nước bắt đầu phát triển ngày nay dễ bị ảnh hưởng do tăng vật giá hơn là những quốc gia đã kỹ nghệ hóa).
Với đoạn viết mở đầu cho những nước bắt đầu phát triển, Alain FAUJAS cho thấy:
=> Sự hiện diện thực sự việc tăng vật giá tại những nước bắt đầu phát triển => Việc tăng vật giá lại đụng chạm tới chính những sản phẩm căn bản của cuộc sống đại chúng, đó là thực phẩm. => Việc tăng vật giá tại những nước này mạnh hơn nhiều so với những nước đã mở mang và tầm ảnh hưởng của vật giá tăng hiện ra thấy rõ hơn. => Những chính quyền lo lắng tầm ảnh hưởng đến phương diện xã hội và chính trị
Trong dịp đầu năm 2008, Đài Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 loan tin về việc Tổ chức linh đình đón năm mới tại Bắc Kinh. Đài cho biết là Trung quốc có độ tăng trưởng Kinh tế trên 11% và ca ngợi độ tăng trưởng này. Phóng viên của Đài TSR1 tại Bắc Kinh chú thích ngay rằng:”Taux de croissance 11%, mais au mois de Novembre 2007, l’inflation a été de 7%” (Độ tăng trưởng Kinh tế 11%, nhưng trong tháng 11.2007, vật giá tăng 7%).
Tình hình vật giá tăng vọt tại Việt Nam
Kiều bào tại nước ngoài chỉ cần nhắc điện thoại hỏi thân nhân đang sống tại Việt Nam, thì biết vật giá tăng như thế nào, nhất là về thực phẩm, thậm chí cả giá gạo, sản phẩm quan trọng của chính Việt Nam.
Đối với những nước khác trên đây, chúng tôi chỉ nói đến tình hình tổng quát tăng vật giá. Nhưng đối với Việt Nam, chúng tôi đi vào những chi tiết về việc giá tăng vọt này. Từ đầu tháng 8.2007, Tin của VNN từ Sài Gòn cho biết thực tế tăng vọt vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm, đã làm Nhà Nước bù đầu lo sợ.
(Sài Gòn - VNN) Từ 1/8, hàng loạt mặt hàng thực phẩm chế biến, thực phẩm tươi sống trên thị trường Sài Gòn tiếp tục tăng giá.
Trong nhóm hàng tăng giá mạnh lần này, đáng chú ý nhất là mặt hàng sữa (kể cả sữa ngoại nhập và sản xuất trong nước) đã tăng giá thêm từ 8% - 10%. Chẳng hạn, sữa hiệu Mead Johnson loại Enfamama 900 g giá tăng lên 186.300 đồng/1 hộp, Enfalac 242.200 đồng/1 hộp (tăng mỗi hộp từ 18.000 đồng- 20.000 đồng), Dumex Gold 1, 2, 3 giá từ 280.000 đồng- 305.000 đồng/1 hộp (tăng khoảng 20.000 đồng), Dutch Lady loại 400 g 1, 2, 3 lên 56.000 đồng/1 hộp (tăng 5.000 đồng), Vinamilk Anpha loại 900 g từ 108.000 đồng- 122.000 đồng/1 hộp (tăng khoảng 10.000 đồng)... Các loại sữa tươi của hầu hết các hãng sữa cũng tăng giá khoảng 5%. Chẳng hạn, mặt hàng sữa tưoi cuả Long Thành từ 18.600 đồng tăng lên 24.400 đồng/1 hộp loại 1 lít...
Giá nhiều loại thịt, cá cũng tăng ma.nh. Thịt gà công nghiệp bán tại các chợ 27.000 đồng mỗi kg (tăng 1.500 đồng), vịt 34.000 đồng/1 kg (tăng 1.000 đồng). Tương tự, giá cá thu từ 70.000 đồng- 80.000 đồng/1 kg (tăng 20.000 đồng), cá lóc 35.000 đồng/1 kg (tăng 5.000 đồng), cá chẽm 55.000 đồng- 60.000 đồng/1kg (tăng 10.000 đồng)... Các mặt hàng thực phẩm chế biên như xúc xích, chả giò, đồ hộp của một số cơ sở mới đây cũng đã tăng giá từ 7%- 10%. Mặt hàng bơ, sản phẩm chế biến từ các loại đậu cũng tăng giá khoảng 5%.
Riêng giá thịt heo bày bán ở chợ đang giảm khá mạnh do người tiêu dùng ngại mua vì sợ dịch bệnh heo "tai xanh"; thế nhưng giá bán trong các siêu thị lại đang rục rịch tăng. Giá sườn non từ 60.000 đồng tăng lên 64.000 đồng/1kg, thịt đùi từ 50.000 đồng lên 53.000 đồng/1kg... Theo nhận định của giới kinh doanh, thời gian qua giá nhiều mặt hàng đã tăng cao nhưng có thể đến giữa tháng 8 và đầu tháng 9 này sẽ có thêm đợt tăng giá mới..
(Sài Gòn - VNN). Giá Cả Tăng Vùn Vụt, Người Dân Lãnh Đủ. Hàng hóa, nhất là hàng hóa thiết yếu, tăng giá liên tục khiến đời sống người dân đã khó khăn càng khó khăn hơn.
Từ đầu năm đến nay, giá cả hàng hóa trên thị trường liên tục tăng, kéo theo giá cả các dịch vụ ăn uống tăng chóng mặt.
Trong hoàn cảnh "giá tăng - lương tóp" hiện nay, việc tính toán chi tiêu hằng ngày là gánh nặng đối với nhiều gia đình. Ở góc độ vĩ mô, mục tiêu kiềm chế chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm thấp hơn tăng trưởng kinh tế 8,5% trở nên rất khó khăn.
Chỉ khoảng hơn tháng nay, gần như hàng quán nào ở Sài Gòn cũng đều tăng giá, ít thì tăng 1.000 đồng - 2.000 đồng, nhiều thì đến 5.000 đồng - 10.000 đồng mỗi món. Hàng quán càng sang trọng, giá càng tăng caọ
Võ Đức Khanh, Phó Giám đốc CoopMart Phú Lâm, cho biết: "Ở những nơi có thương hiệu như phở 24, phở Hòa, bíp-tết Nam Sơn, cơm tấm Thuận Kiều, quán ăn Nam Phát, Nam Long, bánh mì tươi, các cửa hàng KFC, Lotteria... giá tiền cho 1 phần ăn luôn thay đổi từ 20.000 đồng - 50.000 đồng. Các món thông dụng như phở, hủ tiếu mì, hủ tiếu nam vang, bánh canh cua, bún bò huế... ở hàng quán bình dân cũng từ 12.000 đồng - 18.000 đồng/1tộ Trước đây, một phần bún riêu, hủ tiếu cho em bé ăn chỉ 3.000 đồng nhưng nay phải mua 5.000 đồng thì họ mới bán. Ngay cả món bình dân nhất là xôi và bánh mì cũng tăng giá theo... thời cuộc". Tính ra, chỉ riêng tiền ăn sáng, mỗi tháng có gia đình đã chi thêm ít nhất 300.000 đồng.
Giữa muôn trùng vây giá cả, nhiều gia đình đã chuyển dần từ ăn hàng quán về... cơm nhà. Chị Mai, làm việc tại một cơ quan Nhà nước ở quận 3, cho biết thời gian gần đây, chị toàn cho chồng con ăn tại nhà vì ăn tiệm quá tốn kém. Mỗi tuần chị đi chợ 1 lần, sáng dậy sớm làm đồ ăn sáng, nấu cơm sẵn; trưa, chiều về ăn. "Khá vất vả nhưng nhờ vậy tiền ăn hằng tháng giảm được 400.000 đồng - 500.000 đồng" - chị nói.
Tuy nhiên, đó là đối với những người có điều kiện kinh tế ổn đi.nh. Riêng công nhân, dân lao động nghèo thì phải chấp nhận trôi nổi theo giá thị trường. Thu nhập mỗi tháng chỉ được 650.000 đồng - 900.000 đồng, tháng nào tăng ca hoặc làm đêm được 1.200.000 đồng - 1.500.000 đồng. "Đầu tháng lãnh lương tụi em còn ăn hủ tiếu, bún riêu 5.000 đồng - 7.000 đồng/1tô chứ thường thì ăn xôi, hoặc bánh mì. Có bạn tiết kiệm tiền, nhịn ăn sáng, trưa ăn ở công ty, chiều tranh thủ tăng ca để được ăn nhẹ hoặc ăn mì gói trừ cơm. Đi chợ nấu ăn toàn mua rau; thịt, cá thì mua hàng "dạt" rẻ tiền... Làm cực, ăn uống kham khổ vậy nên mất sức, xỉu trong giờ làm việc là chuyện thường!" - Hoàng Ly, công nhân Khu Công nghiệp Tân Bình, nói vậy.
Hướng nhìn và phân tích hiện tượng vật giá tăng vọt
Vì Bài này chỉ là bài đầu viết về những nước bắt đầu phát triển, nên chúng tôi chỉ xác nhận việc tăng vọt vật giá. Phần phân tích những nguyên do và nhất là chi tiết hậu quả cho nền Kinh tế và căng thẳng đời sống xã hội cũng như chính trị sẽ được phân tích trong những bài kế tiếp.
Cũng như độc giả của VietTUDAN đã từng quen thuộc với Lập trường của chúng tôi, những phân tích nguyên do, nhất là hậu quả của tình trạng tăng vọt vật giá này, là nhìn xem trong mực độ nào đời sống Kinh tế của quần chúng, thiết yếu nhất là Quyền DẠ DẦY (Stomach Right)—chứ không phải ý niệm Nhân Quyền trừ tượng và tổng quát—sẽ làm ĐỘT BIẾN thay đổi toàn diện đời sống Xã hội và Chính trị.
Chúng tôi muốn mượn lời của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO, nói với báo Financial Times, để tóm tắt đường hướng mà chúng tôi phân tích việc vật giá tăng vọt trong những bài kế tiếp. Oâng nói:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu những giá cả tiếp thục tăng, tôi sẽ không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói khổ ).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | Bài 8: CẮT NGHĨA VIỆC TĂNG VẬT GIÁ VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 17.01.2008
Đây là bài thứ tám trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ tám này mang đầu đề là LÝ DO TĂNG VẬT GIÁ VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ. Tóm tắt nội dung bài này vừa được nói trên RFI (Radio France Internationale) hôm nay 16.01.2008 để truyền thanh về Việt Nam)
Trong Bài thứ bẩy tuần trước, chúng tôi mới trình bầy tình trạng tăng vật giá mà chưa cắt nghĩa chi tiết những lý do làm tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm. Việc tăng vật giá không phải chỉ ở những nước bắt đầu phát triển như Nam Phi, Iran, Nga, Trung quốc và Việt Nam, mà còn tại những nước đã kỹ nghệ hóa như Hoa Kỳ và Liên Aâu. Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu có ảnh hưởng tới những nước bắt đầu phát triển.
Chúng tôi đề cập tới những điểm sau đây:
=> Lý do tăng vật giá tại Hoa kỳ và Liên Âu => Lý do tăng vật giá tại những nước bắt đầu phát triển => Cắt nghĩa việc tăng vật giá và hiện tình Kinh tế Việt Nam
Lý do tăng vật giá tại Hoa kỳ và Liên Aâu
Việc tăng vật giá tại Hoa kỳ và Liên Aâu và hậu quả Kinh tế có lý do gần nhất là cuộc Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc (Sub-Prime Mortgage Market) bắt đầu xẩy ra từ tháng 8/2007.
Sự việc xẩy ra tại Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc như sau: những Ngân Hàng, từ những món nợ nhà cửa bấp bênh, bỏ chung làm thành những sản phẩm cho Thị trường chứng khoán để kêu vốn, buôn đi bán lại. Những món nợ sub-prime (rởm) không trả được nợ. Điều đó làm mất giá sản phẩm tín dụng địa ốc ở Thị trường. Khủng hoảng bắt đầu. Thiệt hại: nhiều ngân hàng mất tiền: tỉ dụ Citigroup tới 15 tỉ, UBS 17 tỉ. Những ngân hàng Trung ương phải tung vốn cho Thị trường: 17 tỉ ở Mỹ, 130 tỉ ở Liên Âu. Một số nhà Kinh tế ước lượng thiệt hại tổng quát tới 1000 tỉ. Theo báo Tribune de Geneve ngày 8.01.2008, Công ty Địa ốc Tây Ban Nha nợ tới 9 tỉ đola và sắp phá sản
Từ thị trường Tín dụng rởm địa ốc lan sang Thị trường Tài chánh (Vốn). Các nhà đầu tư và các Ngân Hàng trở thành hết sức dè dặt trong việc bỏ vốn vào Thị trường. Hậu quả trực tiếp của việc khan hiếm vốn là giảm Cung của Thị trường vốn. Giảm Cung thì thì Lãi suất tăng, nghĩa là cái Giá phải trả cho vốn lên cao khiến nền Kinh tế sản xuất không dám lấy vốn để đầu tư. Từ đó lượng hàng sản xuất kém xuống và số người thất nghiệp tăng hoặc tối thiểu lương công nhân khó tăng theo thời giá.
Từ Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc, chúng ta sang Thị trường Vốn và từ Thị trường này, ảnh hưởng lan sang Thị trường Tiêu thụ Hàng hóa. Thực vậy, khi lượng sản xuất Hàng hóa giảm, thì phía Cung giảm trong khi ấy phía Cầu Hàng hóa vẫn giữ mức đều đều trước đây, nhất là nhu yếu phẩm, nên vật giá phải tăng vì khan hiếm Hàng Hóa.
Tại Hoa kỳ và Liên Aâu, những nhà Kinh tế ước tính việc tăng vật giá lên tới 3% cho năm 2008. Hậu quả tăng vật giá này sẽ làm thiếu hụt khả năng tiêu thụ của Dân chúng và do đó, đà phát triển Kinh tế (Taux de croissance) có thể giảm hoặc có thể xẩy ra việc đình trệ Kinh kế (Récession économique).
Lý do tăng vật giá tại những nước bắt đầu phát triển
Được kể là những nước bắt đầu phát triển những quốc gia sau đây: Nam Phi, Iran, Nga, Trung quốc, Việt Nam
Những điểm chung của những nước này như sau: Độ phát triển Kinh tế (Taux de croissance) cao từ 8-12% mỗi năm. Nhưng vật giá tăng song hành hoặc cao hơn Độ phát triển Kinh tế, nhất là cho những nhu yếu phẩm
Việc tăng vật giá tại những nước này được cắt nghĩa bằng những lý do sau đây:
* Lý do thứ nhất thuộc về tâm lý tiêu thụ. Vừa thoát khỏi cảnh nghèo khổ, Dân chúng có khuynh hướng tiêu thụ trị giá cao hơn số thu nhập vì trước đây họ đã không được tiêu thụ và vì họ muốn theo kịp mức sống với thời đại. Người dân lấy tín dụng (lương tương lai) để tiêu thụ cho hiện tại.
* Lý do thứ hai để cắt nghĩa, đó là hướng sản xuất Kinh tế. Những nước bắt đầu phát triển không chú trọng đến việc sản xuất những nhu yếu phẩm cho nội địa mà hướng sản xuất vào những hàng công nghệ và vào khai thác nguyên vật liệu thô xuất cảng ra Thị trường nước ngoài. Lý do này cắt nghĩa việc tăng giá chính yếu vào những nhu yếu phẩm, nhất là đồ ăn.
* Lý do thứ ba thuộc về việc tăng giá năng lượng xử dụng cho sản xuất. Ơû thời Máy Hơi Nước (Machine à Vapeur), người ta dùng than đá làm năng lượng. Nhưng ở thời đại này, năng lượng chính yếu là Dầu Lửa. Hệ thống sản xuất ngày nay được cơ khí hóa, nghĩa là năng lượng dầu lửa trở thành yếu tố cấu tạo giá thành quan trọng cho Hàng hóa. Việc tăng vọt giá Dầu lửa là yếu tố làm tăng giá hàng hóa hay những dịch vụ.
* Lý do thứ tư thuộc về lãnh vực vốn dài hạn xử dụng vào xây cất địa ốc hay hạ tầng cơ sở Kinh tế. Thực vậy, với số thu nhập do công nghệ sản xuất những hàng tiêu thụ hàng ngày và ngắn hạn, những nước bắt đầu phát triển không thể đủ vốn để xây cất địa ốc hoặc hạ tầng cơ sở sản xuất dài hạn. Những Lãnh đạo Chính trị tại những nước này lại có khuynh hướng xây cất địa ốc đồ sộ để làm vẻ vang cho chế độ của mình. Trong tình trạng ấy, những nhà Lãnh đạo Chính trị đã tìm cách dễ dàng hơn cả mà chính Dân chúng không lưu ý đến, đó là xử dụng số ước tính thu nhập tương lai bấp bênh để tài trợ cho việc xây cất địa ốc và hạ tầng cơ sở Kinh tế. Quyền lực Chính trị xen vào quyền lực Tiền tệ bằng lạm phát tiền. Số tiền lạm phát lưu hành này chỉ được bảo đảm bởi tương lai và pha trộn với lượng tiền đang lưu hành để làm mất giá đồng tiền trong nước. Khi khả năng sản xuất hiện tại không đủ khả năng bảo đảm đồng tiền mới phát hành, thì việc tăng khối lượng tiền làm đồng tiền trong nước mất giá. Do đó việc tăng vật giá có lý do là việc mất giá đồng tiền.
Cắt nghĩa việc tăng vật giá và hiện tình Kinh tế Việt Nam
Trong đoạn trên đây, Việt Nam được kể vào những nước bắt đầu phát triển, có cùng những lý do chung cho việc tăng vật giá. Tuy nhiên, chúng tôi thêm đoạn này cho Việt Nam vì đây là mối quan tâm cho mọi người chúng ta. Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến tình trạng phát triển Kinh tế song hành với việc tăng vật giá hơn là chỉ cắt nghĩa những lý do tăng vật giá mà chúng tôi đã viết ở đoạn trên. Việc ca tụng độ phát triển 8.5%, số thu nhập khổng lồ, đầu tư nước ngoài vào VN tăng vọt... có thực sự tượng trưng cho nền Kinh tế Việt Nam hay không ?
Những con số liên hệ đến vật giá tăng vọt và đến tình trạng Kinh tế được lấy từ những tài liệu từ Việt Nam.
1) Vật giá tăng vọt quá mức
Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH nói về lạm phát:
” Đặc biệt, lạm phát tăng đến 12,6%, trong đó lương thực thực phẩm tăng đến 21% đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống người nghèo. Dẫu có nhiều nguyên do nhưng phải nói đúng đấy là cái chúng ta làm kém trong năm 2007”. “Năm 2008, lạm phát vẫn sẽ là vấn đề đáng lo ngại. Vì chúng ta có quá trình lạm phát ngày càng tăng trong những năm qua. Cộng với giảm thuế, nông dân không có chuẩn bị sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong năm 2008. Năm 2007, có thể thấy khu vực nông nghiệp, nông thôn bị tụt lại đằng sau. Người nông dân hiện phải đối mặt với nhiều rủi ro như thị trường, thời tiết, dịch bệnh nhưng không có sự bảo vệ, hỗ trợ nào tương xứng.”
Cựu Phó Thủ tướng VŨ KHOAN và báo chí VN nói về lạm phát:
“Chỉ số giá hàng tiêu thụ (CPI), giá cả thị trường, tăng 10% năm vừa rồi. Đây là mức lạm phát cao nhất từ năm 1996. Nếu tính CPI của 11 tháng đầu năm 2007 thì mức lạm phát là 9,5% _ cao nhất trong 10 năm vừa qua _ và dĩ nhiên là cao hơn 8,5% tăng trưởng của GDP. Mức lạm phát sẽ tiếp tục tăng vì chính phủ Việt Nam quyết định tăng giá dầu 15% (lên 13.000 đồng/lít từ cuối tháng 11, 2007). Theo tờ Tuổi Trẻ hôm 04/01/2008, chính phủ Việt Nam có thể sẽ tăng giá dầu 30% lên 17.000 đồng/lít vì hôm 03/01/2008, giá dầu đã vượt lên trên 100 USD/barrel (như giá dầu vào quý thứ 3 năm 1980 khi xảy ra chiến tranh Iran và Iraq). Điểm tối nhất chính là chỉ số lạm phát, tức giá tiêu dùng tăng trên 12%, cao hơn tốc độ tăng trưởng. Chỉ số này làm bức tranh kém hẳn đi vì kinh tế tuy đi lên nhưng chất lượng sống đi xuống.”
2) Cán cân Thương Mại bị chênh lệch
Cũng chính Oâng VŨ KHOAN đã tuyên bố về việc lệch cán cân thương mại: “Lệch cán cân thương mại _ Không giống như các nền kinh tế nghiêng về xuất cảng, Việt Nam đang bị lệch cán cân thương mại: trị giá hàng Việt Nam nhập cảng nhiều hơn xuất cảng. 11 tháng đầu năm vừa qua Việt Nam nhập cảng nhiền hơn xuất cảng đến 10,5 tỉ đô-la so với mức thua hụt năm 2006 là 5,1 tỉ USD; Mức lệch cán cân thương mại này cũng vượt quá ước tính của Bộ Thương mại và Công nghiệp là 10 tỉ USD. Gần như hầu hết tiền dùng nhập cảng quá mức đều để chi cho dụng cụ, máy móc sản xuất và nguyên liệu; Một số người c ũng cho rằng "nguyên liệu" Việt Nam nhập cảng thật ra là hàng đã làm gần xong (semi-finished goods) vì thế sẽ không tăng được giá trị sản xuất.”
Khi cán cân thương mại cho thấy nhập lớn hơn xuất, thì đó là việc ngoại tệ chuyển ra nước ngoài và đồng tiền Việt Nam xuống giá do Kinh tế. Điều này trở thành trái ngược với việc ca tụng độ phát triển Kinh tế tăng trưởng 8.5%. Chính Bộ Thương mại và Công nghiệp đã thẩm định: “Là thành viên của WTO, Việt Nam được hưởng lợi về mặt gia tăng xuất cảng. Cùng lúc, rào cản thuế nhập cảng không còn hay phải hạ xuống rất thấp, khi đã hội nhập WTO, làm cho hàng nội hoá thua sút, không hấp dẫn với giới tiêu thụ so với hàng nhập cảng. Vì thế, kết quả là hàng xuất cảng hiện nay và trong trung hạn không đóng góp vào việc phát triển.”
3) Yếu kém cạnh tranh của Hàng hóa Việt Nam
Chúng tôi đã viết Bài 6 với đầu đề là VIỆT NAM TRƯỚC KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG. Thực vậy, những hàng công nghệ Việt Nam khó lòng cạnh tranh với những hàng công nghệ Trung cộng đang tự do tràn vào Việt Nam mà chính quyền lực Chính trị Việt Nam phải lệ thuộc Trung Cộng, quá yếu hèn không dám có phản ứng. Những hàng công nghệ Trung Cộng sẽ diệt hàng Việt Nam vì những ưu điểm sau đây: => Hàng Trung cộng được sản xuất với số lượng khổng lồ. Đây là yếu tố chính yếu để làm giảm giá thành và do đó giá bán. => Hàng Trung cộng được sản xuất từ A tới Z trong hệ thống liên đới ngành nghiệp chuyên môn (Systèm de Sous-traitance spécialisée), trong khi ấy Việt Nam phải nhập cảng những thành phần cấu thành tốn kém (Produits semi-ouvrés). Do đó giá thành hàng Việt Nam phải cao hơn.
Đối với Nông nghiệp và hàng Thực phẩm, hàng của Thái Lan, với WTO, sẽ tràn vào Việt Nam để giết nông nghiệp và ngành Thực phẩm của Việt Nam. Thái Lan đã đầu tư vốn quan trọng và lâu dài vào những ngành nghiệp này.
Trên đây chúng tôi chỉ nói đến việc cạnh tranh trong nội địa. Trên thương trường Quốc tế, ngoài việc cạnh tranh ưu thế của Trung cộng, của Nam Mỹ, của Đông Aâu, Việt Nam còn bị ảnh hưởng do Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc và việc đình trệ Kinh tế của Hoa kỳ và Liên Aâu. Thực vậy, Dân chúng Mỹ và Liên Aâu với vật giá tăng (Augmentation des Prix), với khả năng tiêu thụ (Pouvoir d’Achat) giảm, họ sẽ giảm thiểu việc mua hàng May Dệt của Việt Nam cũng như của các nước bắt đầu phát triển.
4) Vốn đầu tư nước ngoài
Theo báo cáo của Nhà Nước, thì vốn đầu tư nước ngoài tăng, nhưng đó chỉ là những dự án, những hứa hẹn. Còn việc thực hiện đầu tư mới là tình trạng thực của Kinh tế. Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH nhận xét: “Vốn đầu tư nước ngoài tăng nhưng tỉ lệ thực hiện vốn lại thấp. Năm 2000 người ta cam kết 2,6 tỉ USD, thực hiện được 2,2 tỉ (92%). Năm 2006 cam kết 11 tỉ, thực hiện được 4,1 tỉ (38%). Năm 2007 cam kết 20,250 tỉ nhưng vốn được thực hiện chỉ có 4,6 tỉ (24%). Như vậy, có thể thấy bộ máy, kết cấu hạ tầng, năng lực của nền kinh tế VN đã bị quá tải một cách đột ngột.”
Thực tế, việc tin tưởng vào sự bảo đảm đầu từ vào Việt Nam làm cho việc thực hiện đầu tư có xẩy ra hay không: “Thăm dò do Ngân hàng Thế giới và Công ty Tài chánh Quốc tế (Internatiobal Finance Corp) vừa thực hiện xếp Việt Nam hàng 91 trong 178 nền kinh tế có thể dễ dàng kinh doanh. Cũng trong bảng này Singapore hạng nhất, Hong Kong hạng 4, Thái Lan hạng 15, Malaysia hạng 24. Đáng chú ý là Việt Nam đứng hạng 165/178 về mặt bảo vệ người đầu tư.”
Với tình trạng thực hiện yếu kém của đầu tư nước ngoài như vừa kể trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng trong hiện tình khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc và đình trệ Kinh tế Hoa kỳ và Liên Aâu, số vốn nước ngoài có thể bị kéo ra khỏi Việt Nam. Thị trường Chứng khoán Việt Nam thiếu hẳn vốn nước ngoài và có thể coi là nơi đánh bạc ăn xổi ở thì.
5) Kinh tế thiếu hạ tầng cơ sở phát triển
Chính báo chí Việt Nam nói đến việc thiếu cơ sở phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài này:
Mức phát triển kinh tế Việt Nam đã quá khả năng vận chuyển của hải cảng ở miền Nam. Nguyễn Trọng Huệ, cục phó Cục Hàng hải Việt Nam cho biết tổng khối lượng hàng hóa thông qua nhóm cảng biển khu vực vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong năm 2006 đạt 54,4 triệu tấn đã vượt mức dự báo của năm 2010 là 53 triệu tấn hàng.
Theo Tuổi Trẻ tháng 7, 2007, đến 2009-2012 tất cả hải cảng đang và sắp vào hoạt động sẽ tràn ngập và để ứ đọng hàng triệu tấn hàng hoá. Nan đề không chỉ là cân phải xây dựng thêm bến cảng biển mà còn là xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, điện nước, hệ thống truyền thông ) dẫn đến những vùng nàỵ Vài thí dụ:
_ Chưa thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng là những rào cản xây dựng cảng với số vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD tại Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu). _ Ở Sài Gòn, công ty Tân Cảng đã hoàn thành sớm hai năm việc dời Tân Cảng từ quận Bình Thạnh (ở trong Tp) về Cát Lái (Nhà Bè) và đã nâng công suất vận chuyển sản lượng đạt 24-25 triệu tấn hàng hóa, đứng đầu cả nước. Nhưng, đường liên tỉnh 25 đã trở nên chật hẹp và xuống cấp vì hằng ngày có hàng ngàn xe tải vào lấy hàng. Khi các cảng biển trong nội thành thành phố dời về khu Cát Lái, Hiệp Phước (Nhà Bè) thì áp lực giao thông trên tuyến đường liên tỉnh 25 càng căng thẳng hơn nữa.
Theo Ngân hàng Phát triển Thế giới (WB) thì Việt Nam cần đầu tư khoảng 5 tỉ đô-la mỗi năm để xây dựng hạ tầng cơ sở từ 2006 đến 2010. Một trong những nan đề lớn nhất hôm nay của nền kinh tế Việt Nam là mức cung cấp điện lực để có thể đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong tương lai gần. Trong những năm 2007 đến 2009, Việt Nam thiếu khoảng 3,3 đến 10,3 tỉ kWh (kilo Watts giờ) .
6) Thâm thủng ngân sách và Tiêu ngoài ngân sách
Thâm thủng ngân sách _ Từ nhiều năm qua nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục quản lý với một ngân sách thâm thủng. Số thâm thủng ngân sách năm 2007 dự tính là 4% tổng sản phẩm nội địa; tuy thế vẫn còn khá nhiều chi tiêu ngoài ngân sách do Thủ tướng chính phủ trực tiếp ký thuận và do chính Ngân hàng Phát triển Việt Nam chi trả. Theo thông tin của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì những hoạt động chi tiêu ngoài ngân sách vừa nêu cộng vào mức thâm thủng ngân sách khoảng 3% đến 5% tổng sản phẩm nội địạ Điều này khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có số thâm thủng ngân sách cao nhất trong vùng.”
7) Lạm phát tiền tệ
Đây là việc rất quan trọng càng làm tăng thêm vật giá do việc mất giá đồng tiền. Nhà nước Việt Nam cần tiền cho việc thâm thủng ngân sách, cho việc xây cất địa ốc huy hoàng tuyên truyền cho chế độ, cho việc giải quyết thiếu hạ tầng cơ sở Kinh tế, cho việc thiếu thu nhập thuế nhập cảng vì phải giảm thuế do WTO, nên quyền lực Chính trị, nhất là độc tài, phải dùng biện pháp lạm phát Tiền tệ, nghĩa là in tiền mới cho lưu hành, phát hành những trái phiếu, cho Ngân Hàng phát hành vốn tương lai (Virtual Money/Monnaie Virtuelle). Đây là việc lạm phát bất chính hoàn toàn do quyền lực Chính trị ép buộc quyền lực Tiền tệ. Đây là việc ăn cướp đồng lương thực của Công nhân, của Nông dân.
Tôi rất đắc ý với nhận định của Oâng VŨ QUANG VIỆT (bài đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :
“Nếu tính từ năm 2004 đến nay, tức là trong vòng 4 năm, lạm phát đã là 35,3% và trong vòng 2 năm nay, lạm phát là 15,5% (chỉ tính tới tháng 7 năm 2007). Như vậy là thu nhập của 22 triệu người lao động ăn lương đã mất đi sức mua cùng một tỷ lệ như trên vì lạm phát. Khi lạm phát càng cao, để bảo vệ mình, người lao động sẽ tích cực đòi tăng lương, kể cả đình công. Thí dụ trong 3 tháng đầu năm 2006, có 193 cuộc đình công, cao hơn 119 cuộc đình công cả năm 2003. Việc tăng lương không do tăng năng suất lại tạo ra vòng xoáy tăng giá.
Khi lạm phát cao, dân chúng phải tự bảo vệ mình bằng nhiều cách. Chẳng hạn năm nay, giá đã tăng 8,3% mà lãi suất bỏ ngân hàng chỉ có 3,9% một năm thì rồi ai cũng thấy dại bỏ tiền vào ngân hàng. Có thể họ sẽ mua vàng. So với năm 2005 thì giá vàng đã tăng 53%, lợi hơn nhiều so với 16,5% lãi ngân hàng nếu tính dựa vào lãi suất hiện nay. Còn người giầu, chắc là họ sẽ vơ vét mua bất động sản. Chỉ có người dân sống bằng đồng lương còm cõi và cố định là khốn khổ. Không lẽ thay vì khuyến khích để dành, tạo vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, nhà nước lại muốn người dân ký cóp tiền một cách vô dụng như thế.
Lạm phát cao như hiện nay cũng không giúp gì cho phát triển dài lâu, nhất là khi nó tạo ra thiếu vốn đầu tư, đầu cơ vàng bạc và thị trường nhà đất. Ngoài trừ một số công ty lớn có khả năng thay đổi giá bằng hợp đồng để tự bảo vệ mình, hầu hết là các nhà buôn bán vừa và nhỏ sẽ chịu chết vì giá tăng và dễ dàng phá sản. Lạm phát lớn mà lại đòi tốc độ phát triển cao thì chỉ là giấc mộng hão huyền. Cho rằng miễn là tốc độ phát triển cao hơn lạm phát là được ? Thì cứ cho là như vậy đi, nhưng ai là người trả giá cho lạm phát ? Phải chăng là những người lao động còm cõi, phải cố bươn chãi để có đủ tiền đóng học phí cho con, còn nhà nước thì cứ nằng nặc đòi "xã hội hoá" ?
Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Nếu như nhà nước phát hành trái phiếu và bán cho dân để mượn tiền tiêu thì không có vấn đề. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“
Không phải chỉ Oâng VŨ QUANG VIỆT nhận định như trên. Tôi xin trích ra đây lời tuyên bố của Oâng Florin AFTALION, Kinh tế gia chuyên viên về những liên hệ giữa những Thời kỳ Lạm phát và những Phong trào Cách mạng. Oâng nói rằng trong những nước bắt đầu phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thuộc trong tay những người giữ quyền lực Chính trị, chứ không phải ở Ngân Hàng Trung ương (Ngân Hàng Quốc Gia/Ngân Hàng Nhà Nước Độc Lập). Oâng tuyên bố:”L’inflation est un moyen de financement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages” (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007) (Lạm phát (tiền tệ) là một biện pháp tài trợ rất thuận lợi. Lạm phát được ưa chuộng bởi những người làm chính trị, trong trường hợp nó cho phép để tăng lương và để trợ lực các Công ty, cho phép để thêm dầu vào guồng máy.”.
Vài lời Kết luận Để kết luận tổng quát cho việc tăng vọt vật giá làm cho dân chúng nghèo mất khả năng tiêu thụ, tôi xin lấy lời nhận định của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO, tuyên bố với báo Financial Times:” Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.”(Nếu giá cả tiếp tục tăng, thì tôi không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những nổi dậy vì đói khổ) (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | PHỤ BẢN 2: 10 NĂM SAU Á CHÂU 1997: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH THẾ GIỚI 2007 ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 24.01.2008
VietTUDAN không phải là một tuần báo chuyên về Kinh tế/Tài chánh, mà là một báo đấu tranh nhằm loại bỏ chế độ độc tài hiện nay tại Việt Nam. Chúng tôi xác tín rằng khả năng có thể lật đổ được hệ thống độc tài của đảng CSVN không phải là từ những đối thoại qua lý luận với những quan niệm trừu tượng, nhất nữa đến từ những lẻo mép che đậy hào nhoáng của một số trí thức chính trị cơ hội. Lịch sử những cuộc Cách Mạng lật đổ những hệ thống độc tài phải đến từ quần chúng đói nghèo nhất, tức là đấu tranh cho quyền DẠ DẦY (Stomach Right) cụ thể: Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Vô Sản 1917, Chôn Vùi Cộng sản Nga và Đông Aâu 1989.
Chúng tôi chủ trương MẶT TRẬN KINH TẾ/TÀI CHÁNH và từ lâu tuần báo VietTUDAN đã có những loạt bài Chủ đề như TƯƠNG QUAN KINH TẾ/CHÍNH TRỊ, HỘI NHẬP WTO: ĐỊNH MỆT TỰ HỦY DIỆT ĐỘC TÀI CSVN và trong thời gian này, CHỦ ĐỀ: SỰ SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH với 12 Bài.
Trong phạm vi Chủ đề của thời gian này, chúng tôi trình bầy về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997. Những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi nhìn qua bài học Á châu 1997, thấy những yếu tố đưa đến Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế. Ngoài những yếu tố tương tự như năm 1997, chúng tôi còn thấy hiện nay Thế Giới đang có triệu chứng dẫn đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế toàn diện mà Việt Nam không thể chống cự nổi. Vì vậy cách đây một tháng, chúng tôi đã viết Phụ Bản 1 về KHỦNG HOẢNG THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC HOA KỲ (American SUB-PRIME MORTGAGE Market).
Phụ Bản 2 này trình bầy ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC LAN TRÀN SANG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ: Suy thoái Sản xuất (Baisse de la Production), Vật Giá Tăng (Augmentation de l’Indice des Prix de consommation), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).
Aûnh hưởng Sub-Prime Địa ốc xuất hiện
Chúng tôi lấy ngày 18.01.2008 như ngày khẳng định sự xuất hiện công khai của những ảnh hưởng của Khủng hoảng Thị trường Sub-Prime Tín dụng Địa Oác. Trước thời điểm này, chúng tôi đã viết về tình trạng tuyên bố mất tiền của những Ngân Hàng, của những Hãng Bảo Hiểm lớn có liên hệ với Thị trường: CitiGroup, UBS, Allianz, Swiss Re... Chúng tôi cũng đã viết về tình trạng vật giá lên cao, nhất là cho nhu yếu phẩm như đồ ăn, tại Âu châu, Trung Cộng và đặc biệt Việt Nam.
Ngày 18.01.2008, Đài Truyền Hình Pháp la hoảng về hậu quả Khủng Hoảng Thị trường Tín Dụng Sub-Prime Địa ốc Mỹ, rồi lời kêu gọi của Federal Reserve yêu cầu Tổng Thống Bush tìm giải pháp cứu nguy Kinh tế Mỹ. Chỉ số DOW Wall Street mất 8 điểm. Thực vậy:“Shortly after lunch, Bernanke called a quick meeting of Fed Officials who decide interest-rate policy. Meanwhile, Treasury Secretary Henry Paulson Jr., watching the same market turmoil spread to Europe, was sufficiently anxious that he called President George W.Bush at the White House at 3:15 p.m.“ (International Herald Tribune).
Tổng Thống Bush sau khi mệt mỏi trở về từ Trung Đông, cũng như Oâng Henry Paulson, phải làm việc cuối tuần để có thể tuyên bố những biện pháp kích thích cho Kinh tế: “Paulson, having spent the weekend hashing out the details of an economic stimulus package with congressional leaders, ...“ (International Herald Tribune).
Những ngày nghỉ cuối tuần... rồi còn thêm ngày nghỉ Thứ Hai Luther King. Nhưng chính ngày nghỉ Thứ Hai Luther King, Thị Trường Chứng Khoán Wall Street đóng cửa, thì Cơn Lốc thổi vào các Thị trường Chứng Khóan Á đông, rồi theo Mặt Trời mọc, tràn sang Aâu châu. Các Chỉ số Chứng Khoán thụt xuống từ 7 đến 10%.
Truyền Thông Aâu châu ngày 22.01.2008 đề lớn: CNN:"Stock Markets go into freefall !", TRIBUNE DE GENEVE: "Les Bourses plongent. Faut-il avoir peur ?, LE TEMPS: "Tres inquiets, les marche's boursiers ce`dent a` la panique", INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE: "Markets plummet worldwide", FINANCIAL TIMES: "Panic sparks global plunge".
Trong khi ấy, những nhân vật trọng yếu phải quyết định về đời sống Kinh tế khắp Thế Giới lại đang trên máy bay tụ về Thụy sĩ để tham dự WORLD ECONOMIC FORUM trên vùng núi tuyết DAVOS khai mạc ngày 23.01.2008.
Họp tại vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ với Chương Trình thảo luận về những đề tài đã sửa soạn sẵn, nhưng 2500 người tham dự hoàn toàn để đầu óc vào Cơn Lốc đang làm các Thị Trường Chứng Khoán trên Thế Giới lên xuống như bóng ma bất định. Cựu Thủ tướng Anh, Tony Blair tại Davos đã tuyên bố với Đài CNBC: “Chúng ta đứng trước một tình trạng bất ổn. Những biến động Kinh tế, Tài chất có những chi tiết mà Chính trị không hiểu được !“.
Những thăng trầm Thị trường chứng khoán trong những ngày từ 22-24.01.2008
Thị trường nhìn về những Biện pháp Stimulus Kinh tế của Tổng Thống Bush, rồi nhìn những quyết định của các Ngân Hàng Trung ương về Lãi xuất chỉ đạo mà phản ứng.
Những Biện pháp Stimulus Package của Chính quyền Bush
Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc của Hoa kỳ đã khiến số vốn lưu hành thiếu, nghĩa là lan sang Thị trường Tài chánh, khiến cho Giá vay vốn (Lãi suất) tăng. Các Công ty sản xuất hạn hẹp lại việc vay vốn đầu tư hay tái đầu tư. Đây là ảnh hưởng lan sang Thị trường Hàng hóa Tiêu thụ. Khi giảm đầu tư để sản xuất, thì lượng hàng hóa rút xuống. CUNG yếu hơn CẦU và hậu quả là Giá cả hàng hóa cao lên. Khắp thế giới, tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm, đồ ăn. Thêm vào việc tăng giá này là việc tăng giá dầu lửa. Vật giá tăng, nhất là nhu yếu phẩm, thì khả năng mua hàng của dân chúng với đồng lương không tăng theo kịp, tất nhiên yếu kém đi. Thêm vào đó, khi giảm sản xuất, thì một số nhân công bị sa thải.
Ngay từ cuối năm 2007, các nhà Kinh tế đã báo động về tầm ảnh hưởng này cho Kinh tế chung. Người ta có những yếu tố để kết luận rằng tối thiểu từ năm 2008, Kinh tế Hoa kỳ, Aâu châu và những nước bắt đầu phát triển có những Suy thoái (Recession)
Các nước nhìn xem Hoa kỳ có những Biện pháp nào để chống lại hoặc tránh tình trạng Suy thoái Kinh tế này.
Trong tình trạng cấp bách của nghỉ cuối tuần, Tổng Thống Bush chỉ có thể cho thấy sơ sơ về những Biện pháp gọi là Stimulus nhằm nâng đỡ phía Dân tiêu thụ (CẦU) tăng cao như kích thích cho phía Sản xuất tăng CUNG. Biện pháp Stimulus về CẦU này phải có thời gian để có thể tạo ảnh hưởng thực sự lên phía các Công ty để tăng sản xuất.
Nhưng các Thị trường Chứng khoán thì cấp bách và cho rằng những biện pháp Stimulus của Tổng Thống Bush không đủ sức để có thể tránh Suy thoái Kinh tế (Recession economique) mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn. Cái nhìn như vậy đã làm Chỉ số các Thị trường Chứng khoán khắp nơi chìm xuống ngày 22 ĐEN (22 NOIR).
FED quyết định đánh thẳng vào Lãi suất (Interest Rate)
Để có thể ngăn chặn mau chóng Cơn Lốc đang làm chìm xuống các Thị trường Chứng khoán, FED (Federal Reserve) quyết định đánh thẳng vào Giá cả (Interest Rate) của Vốn bởi vì Thị trường Chứng khoán liên hệt trực tiếp với Thị trường Tài chánh (Vốn) này.
Xin nói tóm tắt về Thị trường Vốn (Marché de Capitaux). Cũng như bất cứ Thị trường, có CUNG và CẦU là những lực định cái GIÁ để trao đổi Vốn. Cái Giá Vốn được gọi là Lãi suất (Interest Rate). Khi số CUNG vốn mạnh hơn CẦU, thì Lãi suất có khuynh hướng giảm; khi số CẦU vốn mạnh hơn, thì Lãi suất có khuynh hướng tăng lên. Hiện tình lúc này của Thị trường Vốn là thiếu phía CUNG vốn vì các Ngân Hàng và những Nhà Đầu tư đang bị lo sợ vì khủng hoảng của Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc nên dè dặt cho Vốn ra, nghĩa là mức độ CẦU vốn cao hơn CUNG, do đó Lãi suất có khuynh hương tăng cao lên.
Những Ngân Hàng Trung Ương có quyền can thiệp vào Thị trường về Lãi suất để có thể ảnh hưởng tới CUNG và CẦU vốn.
Chủ tịch Ben Bernanke của Federal Reserve FED đã quyết định ngày 22.01.2008 hạ Lãi suất chỉ đạo từ 4.25% xuống 3.5%, nghĩa là cắt đi một lần tới 0.75%. Đây là việc cắt Lãi suất mạnh nhất từ 25 năm nay.
Phản ứng tức khắc của các Thị trường chứng khoán Á châu ngày 23.01.2008 là các Chỉ số Thị trường tăng lên. Nhưng các Thị trường Chứng Khoán Aâu châu và Mỹ vẫn giữ ở độ giảm âm. Tại Á châu, Ngân Hàng Trung ương Hong Kong cũng giảm Lãi suất. Đồng thời những Vốn do Nhà Nước ảnh hưởng cũng cho Vốn vào Thị trường. Các Thị trường Chứng khoán Á châu tái hồi.
Thái độ của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu và Ngân Hàng Anh
Như trên đã nói, trong ngày 23.01.2008, Chỉ số các Thị trường Chứng khoán Aâu châu vẫn giữ ở độ giảm âm. Lý do là Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu không coi việc xuống Chỉ số Chứng khoán là quan trọng. Oâng Chủ tịch Jean-Claude Trichet của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu đã đặt trọng tâm vào vấn đề Lạm phát, vấn đề Suy thoái Kinh tế, vấn đề Khả năng tiêu thụ suy giảm hơn là vào thăng trầm chỉ số của các Thị trường Chứng khoán.
“Jean-Claude Trichet, ECB president, emphasised the priority that the bank attached to combating inflation and a belief that eurozone growth would remain robust...“ (Financial Times 24.01.2008) (Jean Claude Trichet, Chủ tịch của Ngân Hàng Trung ương Liên Aâu, đã nhấn mạnh đến ưu tiên việc chống lại lạm phát và tin tưởng vào việc làm độ tăng Kinh tế vùng Euro được vững...). Theo Oâng, việc hạ Lãi suất có thể làm cho lạm phát càng tăng hơn vì dân chúng và các công ty có sẵn vốn, tiêu thụ mạnh hơn khiến lạm phát càng cao.
Đối với Ngân Hàng Quốc gia Anh (Bank of England), Mervyn King, Thống Đốc, cũng có nhiều những lo lắng về lạm phát, nên không sốt sắng cho lắm để theo Hoa kỳ cắt Lãi suất. “Mervyn King, the Bank’s Governor, suggests the latest volatility in the markets will not change the committee’s cautious approach to cutting rates.“(Financial Times 24.01.2008) (Mervyn King, Thống đốc Ngân Hàng Anh, gợi cho biết là những giao động gần đây nhất trên các Thị trường sẽ không thay đổi thái độ phân tích dè dặt trong việc cắt Lãi suất).
Viết đến đây, lúc 21 giờ ngày 24.01.2008, nhìn trên Đài CNBC, chúng tôi thấy những Chỉ số các Thị trường Chứng khoán từ Á châu, qua Aâu châu đến Mỹ, đã tái hồi, thậm chí có những Chỉ số còn lên cao hơn trước.
Ý kiến từ World Economic Forum Davos về Khủng hoảng và tầm ảnh hưởng
Những nhân vật chủ chốt của nền Kinh tế, của những Tập đoàn Liên Quốc gia về Sản xuất, Đầu tư, và Thương mại vẫn còn ở trên vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ vì ngày mai, 25.01.2005, Hội thảo mới chấm dứt. Chúng tôi nhìn thấy Algore, Tony Blair, Bill Gate, Kissinger, Soros, Condoleezza Rice, Hamid Karzai, ...
Nếu Cơn Lốc của ngày 22 ĐEN (22 NOIR) đã ngưng thổi làm cho 2500 người đến tham dự này đỡ có những lo lắng nhất thời về giao động các Thị trường Chứng khoán, thì những vấn đề then chốt vẫn còn đó đối với họ: Suy thoái Kinh tế (Economic Recession), Giảm độ tăng trưởng Kinh tế (Baisse du Taux de croissance), Lạm phát (Inflation), Tăng giá Thực phẩm (Augmentation du Prix des Produits alimentaires), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).
Đối với những nước bắt đầu phát triển mà việc xuất khẩu lệ thuộc vào các Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu, thì việc Khủng hoảng Tài chánh (Vốn)/ Kinh tế của Hoa kỳ và Liên Aâu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc những nước bắt đầu phát triển này: => Cắt đi việc mua hàng từ những nước bắt đầu phát triển như Trung Cộng và Việt Nam chẳng hạn. => Không những Vốn đầu tư không tăng lên cho những nước bắt đầu phát triển này, mà có thể còn bị rút về Hoa kỳ và Liên Aâu để cứu lấy Kinh tế của nước họ. Những vấn đề then chốt thuộc Kinh tế vừa nhắc ra mà những người tham dự World Economic Forum Davos còn quan tâm lo lắng sẽ là Chủ đề tiếp nối của chúng tôi, sau khi đã viết xong 12 Bài thuộc Chủ đề hiện hành.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
PHỤ BẢN 3: LẠM PHÁT TIỀN TỆ: CHÍNH TRỊ ĂN CƯỚP KINH TẾ CỦA DÂN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 31.01.2008
Viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Á châu 1997 và tìm hiểu những yếu tố Tài chánh/Kinh tế hiện nay của những nước bắt đầu phát triển, chúng tôi nằm trong CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH của Việt Nam, nghĩa là chúng tôi nhìn xem những triệu chứng nào đang dẫn Tài chánh/Kinh tế hiện hành dưới chế độ độc tài độc đảng đến tình trạng Khủng hoảng. Năm 1998, vì Khủng hoảng 1997, dân chúng kiệt quệ, nên chế độ độc tài tham nhũng SUHARTO ở Nam Dương phải chấm dứt. Một cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế ở Việt Nam làm quần chúng kiệt quệ sẽ là yếu tố quyết định quét sạch chế độ độc tài tham nhũng của CSVN.
KINH TẾ LÀM CĂNG THẲNG XÃ HỘI
Trong khi viết về Khủng hoảng năm 1997 tại Á châu và về những bấp bênh Tài chánh của những nước bắt đầu phát triển hiện nay, chúng tôi lại gặp hiện tượng bất ngờ đang làm hỗn loạn tại chính những quốc gia đã kỹ nghệ hóa với những hậu quả đang xẩy ra như sau:
(i) Từ tháng 8/2007, khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc tại Hoa kỳ (American Sub-Prime Mortgage Market) khiến hầu hết các Ngân Hàng lớn từ Mỹ tới Aâu châu bị mất nhiều tiền bạc (Phụ Bản 1 đã viết);
(ii) Cuộc khủng hoảng này lan sang Thị trường Chứng khoán mà cả Thế giới chứng kiến trong tuần vừa rồi từ 21-24/01/2008 (Phụ Bản 2 viết tuần vừa rồi);
(iii) Theo phân tích của hầu hết các nhà Kinh tế vào cuối năm 2007 và theo những ý kiến phát biểu tại World Economic Forum DAVOS (Thụy sĩ) của những nhà phải quyết định Kinh tế cũng như Chính trị như Tony Blair, Algore, Bill Gate, Kissinger..., thì tầm ảnh hưởng quan trọng đang lan sang đời sống Kinh tế thực của Dân chúng: Suy thoái Kinh tế (Récession Economique), Giảm độ phát triển (Baisse du Taux de croissance), Tăng thất nghiệp (Augmentation du Chomage), Vật giá tăng, nhất là đồ ăn (Augmentation des Prix), Giảm Khả năng Tiêu thụ (Diminution du Pouvoir d’Achat).
Nếu quyết định của FED giảm 0.75% về Lãi suất nhằm Thị trường Tài chánh và chữa bấp bênh của Thị trường Chứng khoán (Điểm (ii) trên đây), thì những Biện pháp Stimulus Package của TT. BUSH nhằm chữa lâu dài hơn về những biến chứng Kinh tế được liệt kê ở Điểm (iii) trên đây.
Trong Điểm (iii) này, hai điều quan trọng từ Kinh tế làm căng thẳng Xã hội và dẫn đến lật đổ một chế độ, đó là: Vật giá tăng, nhất là đồ ăn (Augmentation des Prix), Giảm Khả năng Tiêu thụ (Diminution du Pouvoir d’Achat). Chúng tôi đã nhiều lần nhắc câu nói của Oâng Tổng Giám đốc Jacques DIOUF của FAO thuộc Liên Hiệp Quốc, nói với báo Financial Times: “Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim“ (LE MONDE, ngày 31.10.2007) (Nếu vật giá tiếp tục tăng lên, tôi sẽ không ngạc nhiên thấy người ta chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói). Những nhà Chính trị phải đặc biệt lưu ý về hai điều quan trọng này thuộc Kinh tế vì đây là khả năng lật đổ chế độ.
Chính vì vậy, trước khi viết tiếp Bài thứ 9 trong loạt 12 Bài của Chủ đề, chúng tôi muốn viết Phụ Bản 3 này về Tăng Vật Giá và Giảm Khả năng Tiêu thụ của quần chúng.
LẠM PHÁT TIỀN TỆ: ĂN CƯỚP KINH TẾ QUẦN CHÚNG
Dù chưa có ảnh hưởng của Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc, thì Chính quyền các nước bắt đầu phát triển đã thấy và sợ hãi việc Vật giá tăng vọt tại những nước này, nhất là việc tăng giá những hàng nhu yếu và đồ ăn. Bây giờ, với ảnh hưởng lan tràn từ khủng hoảng tại chính những nước đã kỹ nghệ hóa, người ta càng thấy độ tăng vật giá tại những nước bắt đầu phát triển trở thành cấp số nhân.
Việc tăng vọt vật giá có những lý do Kinh tế như vừa nói trên đây. Các Chính quyền nhấn mạnh về những lý do Kinh tế làm tăng vọt vật giá này, mà dường như muốn dấu diếm một lý do rất quan trọng làm tăng vật giá do chính họ độc đoán tạo ra cho dân chúng. Đó là lý do LẠM PHÁT TIỀN TỆ, một việc ăn cướp khả năng Kinh tế của quần chúng. Phụ Bản 3 này để ra một bên những lý do thực Kinh tế làm tăng vật giá, mà chỉ chú tâm đến lý do lạm phát tiền tệ mà các người nắm quyền Chính trị muốn dấu diếm bởi vì đây thực sự là việc ăn cướp Kinh tế của dân chúng.
Với đầu đề “L’INFLATION (MONETAIRE) DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER“ (Báo LE MONDE, ngày 31.10.2007) (Lạm phát (Tiền tệ) phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả những người làm Chính trị chuộng điều ấy), Giáo sư Tài chánh Florin AFTALION, Chuyên gia về những Quan hệ giữa những Thời kỳ Lạm phát và những Phong trào nổi dậy Cách mạng, đã tuyên bố:“L’inflation (monétaire) est un moyen de très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et de subventions, de mettre de l’huile dans les rouages“. (Lạm phát (tiền tệ) est một biện pháp rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những nhà làm chính trị, trong những trường hợp cho phép họ trong ngắn hạn tăng lương và trợ lực các Công ty, cho phép họ cho dầu vào những guồng máy).
Nói về Aâu châu, Giáo sư lo lắng:“Mon opposition à l’euro venait de ma crainte de voir les hommes politiques prendre le pouvoir sur la banque centrale et sur la création de la masse monétaire.“ (Việc chống đối của tôi đối với euro đã đến từ việc sợ hãi nhìn thấy những người làm chính trị xen lấn quyền lực vào Ngân Hàng Trung ương và vào việc phát hành khối tiền tệ). Thực vậy, khi Chính trị nắm quyền lên Ngân Hàng Trung ương (Ngân Hàng phát hành (Banque d’émission)), thì việc lạm phát tiền tệ sẽ xẩy ra. Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam chịu dưới quyền sai khiến của đảng CSVN.
Giáo sư đã lấy ra chính lời tuyên bố của KEYNES, một Kinh tế gia trứ danh, bậc thầy của những SAMUELSON, FRIEDMANN...:“Il n’existe pas de moyen plus subtil et plus sur de renverser les bases de la socíeté que de pervertir sa monnaie“ (Không có phương cách nào tinh vi và chắc chắn trong việc lật ngược những yếu tố nền tảng của xã hội hơn là phương cách làm đồi trụy tiền tệ của xã hội ấy).
Trích ra những lời trên đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng chính những nhà cầm quyền làm đồi trụy tiền tệ và ăn cướp kinh tế của dân. Họ làm những điều này vì đây là phương cách dễ dàng nhất cho họ. Nhưng họ dấu diếm vì đây là hành động ăn cướp mà quần chúng khó ý thức lãnh hội.
Sau đây là là phần cắt nghĩa của chúng tôi về việc lạm phát tiền tệ xẩy ra như thế nào, nghĩa là việc làm đồi trụy tiền tệ và ăn cướp kinh tế xẩy ra ra sao. Chúng tôi lần lượt cắt nghĩa với những điểm sau đây:
=> Tỉ dụ dẫn nhập => Cắt nghĩa theo nguyên tắc lưu hành tiền tệ => Những hình thức lạm phát tiền tệ
Tỉ dụ dẫn nhập
Tại một nước nhỏ ở Phi châu chẳng hạn. Một Đại úy từ trong rừng dẫn quân đội ra làm Đảo chánh. Nắm được quyền rồi, Đại úy tự xưng là nguyên thủ quốc gia, nắm trọn mọi quyền trong tay, không phân biệt quyền Chính trị với quyền Kinh tế, Tài chánh, Tiền tệ... gì cả. Oâng chỉ chú tâm tổ chức quân đội, công an, hành chánh để phục vụ việc giữ quyền hành. Kinh tế thì không những không tăng, mà còn kém thêm sản xuất.
Khối tiền đang lưu hành có nền sản xuất cung cấp tương đương hàng hóa. Việc khó khăn của vị nguyên thủ quốc gia này là phải trả lương cho binh sĩ, công an và công chức. Sản xuất không đủ cung cấp đóng góp thuế để ông có tiền trả lương. Phương pháp thuận tiện nhất là ông ra lệnh cho Ngân Hàng Quốc gia in ra một khối tiền thêm và mới tinh để ông trả lương.
Tỉ dụ khối tiền cũ đang lưu hành là 100'000.- và nền kinh tế hiện nay sản xuất được 10'000 đơn vị hàng hóa. Như vậy đồng tiền cũ có tương đương hàng hóa là 100'000.-/ 10'000 đơn vị, nghĩa là mỗi đơn vị hàng hóa phải trả giá là 10 đồng.
Khối tiền mới mà ông ra lệnh in thêm là 50'000.- để trả lương. Vợ của lính, của công an và công chức mang ra chợ mua hàng. Sản xuất vẫn chỉ có 10'000 đơn vị hoặc thụt xuống chỉ có 7'500 đơn vị. Tiền mới và cũ pha lộn nhau tổng cộng lưu hành là 150'000. Vật giá sẽ tăng vọt như sau:
* Nếu sản xuất vẫn giữ ở mức cũ 10'000 đơn vị, thì vật giá sẽ là: 150'000.- / 10'000 đơn vị, nghĩa là phải trả mỗi đơn vị hàng hóa là 15.- 50% vật giá tăng ở đây hoàn toàn vì lạm phát tiền tệ.
* Nếu một mặt tăng tiền mới, một mặt sản xuất kém đi, thì vật giá sẽ là: 150'000.- / 7'500 đơn vị, nghĩa là phải trả mỗi đơn vị hàng là 20.- 100% vật giá tăng ở đây có: - 50% tăng do lạm phát tiền tệ và - 50% tăng do giảm sút kinh tế sản xuất.
Trước khi có cuộc Đảo chánh của Oâng Đại úy, người dân làm kinh tế, lĩnh được đồng lương là 200.- Số lương tháng này cho phép họ mua được 200.-/ 10.- = 20 đơn vị hàng hóa. Sau Đảo chánh và sau khi lạm phát tiền tệ, đồng thời kinh tế giảm sút, với vật giá tăng lên 20.- một đơn vị, người công nhân chỉ có thể mua được 200.- /20.- = 10 đơn vị hàng hóa. Nếu đơn vị hàng hóa đây là đồ ăn, thì trước Đảo chánh, họ ăn hai bữa với 20 đơn vị đồ ăn cho cả tháng thì DẠ DẦY mới đủ no. Nay nhờ ơn Cách Mạng với lạm phát tiền tệ, với đồng lương không tăng, họ chỉ có thể ăn một bữa với 10 đơn vị đồ ăn cho cả tháng. DẠ DẦY đói, họ chịu không nổi, nên xùng vác dao con chó làm ĐỘT BIẾN DÂN OAN bị ăn cướp do lạm phát tiền tệ, đạp đổ Oâng Đại úy kia và đảng của ông. Đó là lời khẳng định của Oâng Florin AFTALION mà chúng tôi trích dẫn trên kia “Emeutes de faim“.
Cắt nghĩa theo nguyên tắc lưu hành tiền tệ
Đồng tiền in ra chỉ là một tờ giấy không hơn không kém. Phải gắn vào đồng tiền ấy một giá trị tương đương. Trong chế độ bảo chứng bằng vàng trực tiếp (Regime Etalon-Or), đồng tiền được trị giá bằng tương đương cân lượng vàng. Trong chế độ bảo chứng bằng vàng gián tiếp (Régime Etalon-Devise-Or), nghĩa là bằng vàng qua trung gian một ngoại tệ mạnh, tỉ dụ Đo-la, thì giá trị đồng tiền vẫn là tương đương cân lượng vàng. Đây là Chế độ Tiền tệ được quyết định bởi Hội Nghị Bretton Woods năm 1944. Trong hai chế độ này, đồng tiền khó mất giá.
Nhưng từ năm 1966, với quyết định của TT.NIXON về việc không thể bảo chứng vàng cho đồng Đo-la mà Aâu châu giữ (Eurodollar) và Khối A rập giữ (Pétrodollar), đồng tiền của mỗi nước chỉ còn được bảo chứng giá trị bằng khả năng Kinh tế của mỗi nước. Giá trị của đồng tiền mỗi nước phải có tương đương đương về hàng hóa mà người ta gọi là Khả năng mua hàng (Pouvoir d’Achat). Do đó, muốn giữ cho đồng tiền vững giá, thì phải giữ cân bằng trong Công thức của Fisher dưới đây:
M.V --------- = P T
P là cái giá của đồng tiền. M.V là Khối Tiền cho lưu hành trong nền Kinh tế. T là khả năng sản xuất lưu hành của nền Kinh tế.
Nếu nền Kinh tế (T) vẫn giữ mức độ sản xuất và lưu hành hàng hóa như cũ, trong khi ấy những người làm Chính trị độc đoán cho in tiền mới, cho lưu hành tăng thêm số lượng tiền, thì tự động một đơn vị hàng hóa phải trả một giá cao hơn. Đây là khía cạnh lạm phát hoàn toàn về mặt tiền tệ. Những người dân, với đồng lương không tăng, thấy mình mất khả năng tiêu thụ (Pouvoir d’Achat) vì đồng tiền đã mất giá trị so với số lượng hàng hóa. Đồng tiền mà công nhân lĩnh lương do lao động sản xuất thực trong nền Kinh tế, tự động có tương đương hàng hóa. Nhưng đồng tiền mới in ra để trả lương cho công an, công chức là đồng tiền không có bảo chứng hàng hóa. Người lao động giữ đồng tiền Kinh tế thực qua lao động sản xuất đã bị bóc lột về khả năng tương đương hàng hóa do việc ăn cướp của giới quyết định Chính trị. Ở phương diện này, Kinh tế của quần chúng sản xuất đã bị ăn cướp để vật giá tăng vọt (Augmentation des Prix) và quần chúng mất khả năng tiêu thụ (Baisse du Pouvoir d’Achat de la monnaie).
Những hình thức lạm phát tiền tệ
Ngoài hình thức quyền lực Chính trị ra lệnh trực tiếp cho Ngân Hàng Trung ương phát hành đơn thuần tiền mới để cho lưu hành trong khối tiền hiện hành mà chúng tôi vừa nêu ra trong những phần trên đây, xin nói đế việc lạm phát bằng Tín dụng, nghĩa là những phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa, chẳng hạn như Bảo Lãnh Ngân Hàng (Bank Guarantee/ Garantie Bancaire), Thư Tín dụng (Letter of Credit/ Lettre de Crédit). Tiền tệ được định nghĩa là một Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa. Về phương diện này, không phải chỉ nguyên Ngân Hàng Trung ương, mà cả một hệ thống Ngân Hàng Tư nhân có thể phát hành những phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa. Người ta mua bán hàng hóa bằng tiền mặt phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương, nhưng người ta cũng có thể mua bán hàng hóa bằng Thư Tín dụng của Ngân Hàng hay tờ Bảo Lãnh Ngân Hàng phát hành bởi một Ngân Hàng Thương Mại tư nhân chẳng hạn.
Như trên đã cắt nghĩa, đồng tiền phát hình do Ngân Hàng Trung ương và cho lưu hành, phải có tương tương số lượng hàng hoá để bảo chứng giá trị của đồng tiền. Nếu hệ thống Ngân Hàng tư nhân phát hành Bảo Lãnh và xử dụng như đồng tiền để trao đổi hàng hóa, thì đâu là tương đương hàng hóa để bảo chứng gia trị Bảo Lãnh được coi như đồng tiền.
Người ta tìm câu trả lời rằng tất cả những phát hành văn bản tín dụng ngân hàng được coi là đồng tiền tương lai khả thể (Monnaie virtuelle). Người xử dụng những phát hành tín dụng này như đồng tiền và giá trị của nó được bảo đảm bởi hàng hóa sản xuất tương lai. Nhưng tương lai Kinh tế có những bấp bênh, nhất là tại những nước bắt đầu phát triển. Tương lai càng xa, thì bấp bênh càng nhiều.
Tại Việt Nam, việc hệ thống Ngân Hàng tư phát hành Bảo Lãnh cho những công trình xây dựng dài hạn là một trong những nguồn làm cho Khối tiền tệ (Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa) bị phồng lên. Đứng ở khía cạnh này mà nhìn, thì vật giá tăng do sự thổi phồng này vậy. Việt Nam còn bị một sự bấp bênh nữa là những công trình xây cất dài hạn, vì tham nhũng làm chất liệu xây cất kém, dễ bị hư hỏng trong tương lai và không cho phép khai thác Kinh tế tương xứng để có thể bảo đảm Tín dụng dài hạn, nghĩa là đồng tiền tương lai không được bảo đảm (la monnaie virtuelle n’est pas assurée).
CHÚ THÍCH CUỐI
Tiền giả cũng là yếu tố thổi phồng khối Tiền tệ lưu hành và do đó làm mất giá đồng tiền thực. Cách đây chừng 4 tháng, có thông tin rằng tại Việt Nam có một Ngân Hàng chỉ dành riêng cho người Hoa. Tại sao chúng ta không có giả thiết rằng có thể có những phát hành về phía Tiền tệ, Tín dụng khiến Khối tiền lưu hành tăng lên và làm mất giá đồng tiền Việt Nam. Thậm chí có người đặt câu hỏi: có thể có khối bạc giả in từ Trung Cộng để tiêu dùng tại Việt Nam hay không? Nếu có thực, thì đây là biện pháp làm đồi trụy đồng tiền Việt Nam như nhà Kinh tế trứ danh KEYNES đã nói: ...:“Il n’existe pas de moyen plus subtil et plus sur de renverser les bases de la socíeté que de pervertir sa monnaie“ (Không có phương cách nào tinh vi và chắc chắn trong việc lật ngược những yếu tố nền tảng của xã hội hơn là phương cách làm đồi trụy tiền tệ của xã hội ấy).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | Bài 9: VIỆC PHÂN PHỐI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU VỀ MỨC TĂNG KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 14.02.2008
Đây là Bài thứ 9 trong loạt bài CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài này mang đề tài VIỆC PHÂN PHỐI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU VỀ MỨC TĂNG KINH TẾ. Trong tài liệu viết về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997, Bà Francoise NICOLAS nhắc đến Trung Cộng như một yếu tố hiện hành mang nhiều nguy hiểm bất ổn của vùng trong tương lai . Một trong những nguy hiểm chính là căng thẳng xã hội (tensions sociales) không những gây khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh, mà còn kéo theo, tất nhiên, khủng hoảng Chính trị. Một tỉ dụ điển hình là những căng thẳng xã hội trong cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 đã đưa đến sụp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm.
Cũng vậy, khi viết loạt bài đăng trong LE MONDE ngày 30.10.2007 về những quốc gia bắt đầu phát triển, các tác giả như Aalin FAUJAS, Florin AFTALION, Giáo sư Tài chánh và Chuyên viên nghiên cứu về Tương quan Kinh tế và Cách mạng, cũng đã nhấn mạnh đến nguy hiểm căng thẳng xã hội phát sinh từ vật giá tăng vọt, từ việc dân thiếu khả năng tiêu thụ, từ sự chênh lệch quá xa giầu nghèo.
Không cần phải trích dẫn những tác giả đó ra để hiểu sự căng thẳng xã hội đến từ việc phân phối không đồng đều làm chênh lệc giầu nghèo, mà chúng ta chỉ cần nghĩ đến cái lý thông thường của cuộc sống hàng ngày trong việc kiếm ăn nuôi sống thân xác mình.
Bài này đề cập đến những điểm sau đây:
=> Sự sợ hãi của những chính quyền thuộc những nước bắt đầu phát triển => Cái lý đơn giản thông thường trong cuộc kiếm ăn nuôi thân xác => Tình trạng căng thẳng xã hội tại Việt Nam
Sự sợ hãi của những chính quyền thuộc những nước bắt đầu phát triển
Những tác giả của loạt bài đăng trong LE MONDE ngày 30.10.2007 nói đến việc hồ hởi của những quốc gia bắt đầu phát triển như Trung Cộng, Việt Nam trong việc ca tụng đà phát triển Kinh tế tăng từ 8-12% hàng năm. Nhưng Chính quyền những nước ấy lại hết sức lo ngại việc tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm như đồ ăn, tăng lên tới 20%. Những người cầm quyền lo lắng không phải do vật giá tăng vọt bởi vì họ dư đủ khả năng tiêu thụ để chấp nhật vật giá tăng, nhưng lo lắng vì khi vật giá tăng vọt, quần chúng thiếu khả năng tiêu thụ, nên cách biệt giầu nghèo gia tăng rõ rệt để tạo ra tình trạng căng thẳng xã hội mà hậu quả là quần chúng quá đói nghèo đứng lên lật đổ quyền lực Chính trị của họ.
Một trong những lý do làm tăng vật giá là sự can thiệp của quyền lực Chính trị vào những sinh hoạt Kinh tế. Tác giả Alain FAUJAS viết:“Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois et vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit à plein fouet des prix arbitraires.“ (Le Monde 30.10.2007) ( Khi mà sự lấn quyền chính trị (những đảng cộng sản Trung quốc và Việt Nam) bành trướng sang Thương mại, Tài chánh và Kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng thừng những giá cả độc đoán). Đây là lý do đầu cơ do chính quyền lực chính trị.
Lý do thứ hai là ở khía cạnh lạm phát tiền tệ. Giáo sư Tài chánh Florin AFTALION đã lấy lại tỉ dụ điển hình thời Cách Mạng Pháp: “La crise inflationniste est née de la situation catastrophique des finances publiques. Pour remplir les caisses de l’Etat et honorer le paiement des dettes de l’Ancien Régime, les députés de l’Assemblée décidèrent la création massive de papier-monnaie. Les paysans étaient payes dans une monnaie qui se dépréciait. La population des villes a commencé à être affamée. (Le Monde 30.10.2007) (Cuộc khủng vật giá tăng vọt đã phát sinh từ tình trạng thảm khốc của tài chánh quốc gia. Để làm đầy két Nhà Nước và để hoàn trả những món nợ của Chế độ Cũ, những dân biểu quốc hội quyết định phát hành hàng loạt những tiền giấy (không bảo chứng). Nông dân được trả với đồng tiền đã mất giá. Dân chúng thành thị bắt đầu đói ăn.) Đây là hiện tượng lạm phát tiền tệ mà chúng tôi đã có dịp viết về trường hợp Việt Nam hiện nay.
Tác giả Florin AFTALION cũng nói đến tình trạng rất khó giải quyết tại Trung Cộng cho vấn đề vật giá tăng vọt này:“Le cas de la Chine illustre la difficulté à traiter le mal inflationniste“ (Trường hợp Trung quốc chứng tỏ sự khó khăn giải quyết điều xấu tăng vật giá này). Oâng nói cái khó khăn đó là sự cách biệt giầu nghèo giữa dân của những thành phố ven biển và dân trong nội địa (le pouvoir d’achat des côtiers).
Một tài liệu nghiên cứu của một số Đại học cho thấy rằng hầu hết những triệu phú tại Trung Cộng là thuộc đảng và 9/10 dân số trong nội địa vẫn nghèo khổ. Sự căng thẳng xã hội là dân nghèo nội địa tràn ra những thành phố ven biển và sẽ xẩy ra vấn đề tranh chấp giữa dân nội địa và dân ven biển. Chúng tôi sẽ nói ở phần sau về trường hợp Việt Nam.
Cái lý đơn giản thông thường trong cuộc kiếm ăn nuôi thân xác
Thực vậy, lấy cái lý đơn giản thông thường hàng ngày kiếm ăn, chúng ta cũng hiểu rằng khi mà miếng đỉnh chung không được phân phối đồng đều, thì trâu buộc ghét trâu ăn, nhất là ăn hớt, ăn bất công. Khi đã bị ăn hớt rồi, mà mình than vãn, còn bị kẻ ăn trên ngồi trốc khóa miệng, đàn áp, thì sự căng thẳng muốn uấn lộn tất nhiên không thể tránh.
Ngay anh em ruột trong gia đình, cha mẹ không chia tài sản đồng đều, cũng sinh bất hòa, hận thù.
Tôi cũng có dịp xem những phim cao bồi ăn cướp ngân hàng hay xe lửa chở vàng. Khi chưa ăn cướp được, thì mọi người đoàn kết nhất trí. Nhưng họ bắt đầu phản bội nhau, bắn nhau là ở lúc chia tiền, chia vàng đã ăn cướp được.
Khi nói đến Lý tưởng trong ý niệm trừu tượng, người ta có thể đối thoại, nhân nhượng, chín bỏ làm mười. Nhưng khi nói đến tiền bạc, phương tiện nuôi thân xác, thì không có đối thoại nhân nhượng mà phải CÔNG BẰNG dứt khoát. Khi nói về Tự do, thì có thể gia giảm ít nhiều, nhưng khi nói về chia phần phương tiện sống cụ thể, thì phải phân minh dứt khoát.
Vì vậy, những căng thẳng xã hội chính yếu phát sinh từ những phấn phối không CÔNG BẰNG về phương tiện sinh sống nuôi thân xác. Đây là điểm trọng yếu mà mọi chế độ chính trị phải chú tâm giải quyết. Hãy lấy hai tỉ dụ: chế độ công hữu của Cộng sản và chế độ tư hữu của Tư bản. Điểm chung của hai chế độ là tìm cách phân phối kinh tế cho đồng đều.
Chế độ công hữu Cộng sản chủ trương truất hữu, thâu tóm quyền sở hữu về Nhà Nước mà đảng Cộng sản là duy nhất chỉ huy Nhà Nước. Đảng chỉ huy mọi người làm Kinh tế và chính đảng giữ toàn quyền phân phối đồng đều những thu nhập từ Kinh tế. Đây là chủ trương học được theo đúng khuôn khổ tổ chức làm ăn và phân phối phương tiện sống giống một dòng tu Công giáo thời Trung Cổ Aâu châu. Nhưng chủ trương này đã gặp những thất bại mà những lý do như sau:
=> Sự khác biệt khả năng trí tuệ và thể xác giữa những cá nhân làm kinh tế trong hệ thống chỉ huy bởi Nhà Nước. Những khác biệt không thể tránh được này khiến hiệu quả kinh tế khác nhau. Vì vậy việc phân phối đồng đều hiệu quả kinh tế khiến cho những cá nhân: (i) một là cảm thấy một sự bất công; (ii) hai là làm cho những cá nhân có khả năng hơn bị thiếu những kích thích khi làm việc. Kết quả của chủ trương này đưa đến tình trạng kém năng suất.
=> Những người nắm quyền lực chính trị độc đoán lại là những người làm chủ những tài sản. Khi có quyền và ngồi bên cạnh đống vàng, thì nẩy sinh lòng ham dành tài sản cho riêng mình, hay cho gia đình mình, cho những người thân thuộc mình hơn, nghĩa là việc phân phối không đồng đều nữa.
=> Những dòng tu Công giáo thời Trung Cổ có thể thực hiện được chủ trương này vì họ có lòng tin Tôn Giáo, tin vào một Đấng có thể thưởng phạt họ khi họ bất công. Trong khi ấy đảng Cộng sản không có lòng tin Tôn giáo để thưởng phát, mà còn chủ trương Duy vật chủ nghĩa, nên không thể thực hiện được việc cộng chung tài sản.
Đối với chế độ tư hữu của Tư bản, Chính quyền cũng phải lo lắng giải quyết vấn đề phân phối Kinh tế cho tương đối đồng đều để tránh cách biệt quá xa giữa giầu nghèo, nghĩa là tránh căng thẳng xã hội có thể đi đến lật đổ quyền lực chính trị. Chế độ tư hữu Tư bản nhằm những điểm sau đây:
=> Để cho những cá nhân tự do sinh hoạt kinh tế. Mỗi người có tự do xử dụng khả năng trí tuệ và thân xác của mình để làm ăn, gặt hái những hiệu năng tối đa. Chính vì vậy mà năng suất kinh tế của chế độ này cao hơn. Tuy nhiên, sự chênh lệch khả năng trí tuệ và thân xác khiến cho có sự chênh lệch về hiệu quả kinh tế gặt hái được của mỗi cá nhân.
=> Sự chênh lệc quá xa trong chế độ này giữa giầu và nghèo có thể đưa đến căng thẳng xã hội. Vì vậy chế độ tìm cách giảm đi sự chênh lệch bằng cách Tái phân phối Thu nhập (Redistribution des Revenus). Đó là lấy Thuê nặng nơi những cá nhân có thu nhập cao để xử dụng những thuế thu được ấy làm những công trình xã hội cho quần chúng có thu nhập thấp, trợ giúp xã hội cho những người nghèo. Nhiều chính quyền còn khuyến khích những tư nhân có thu nhập cao trực tiếp làm những việc xã hội.
Tình trạng căng thẳng xã hội tại Việt Nam
Trong hai phần trên, chúng tôi nói đến tình trạng tăng vọt vật giá hiện nay tại những quốc gia bắt đầu phát triển và những lo lắng của các chính quyền hiện hành về việc tăng vọt vật giá này, lo lắng việc giảm khả năng tiêu thụ khiến nẩy sinh căng thẳng xã hội khả dĩ lật đổ chính quyền; chúng tôi cũng đề cập đến nguyên tắc phải phân phối đồng đều hiệu quả kinh tế để tránh hố quá sâu giữa giầu nghèo, yếu tố cụ thể làm phát sinh căng thẳng xã hội.
Phần này nói cụ thể đến Việt Nam hiện nay với ba câu hỏi: (i) vật giá ở Việt Nam tăng như thế nào ? (ii) Việc phân phối độ phát triển kinh tế có đồng đều hay không ? (iii) Hố cách biệt giầu nghèo sẽ mang đến căng thẳng xã hội ra sao ?
(i) vật giá ở Việt Nam tăng như thế nào ?
Trước Tết: (Việt Báo Thứ Ba, 1/29/2008, 12:02:00 AM)
“Từ các siêu thị cho tới các chợ khắp nứơc Việt Nam đều đang gặp nỗi lo lạm phát. Tính riêng trong tháng 12-2007 vừa qua, lạm phát đã lên tới 12.6%, thúc đẩy bởi tình hình tăng giá lương thực, xăng dầu và vật liệu xây dựng. Đây là mức lạm phát cao nhất trong một thập niên qua ở Việt Nam, và cao hơn cả mức trung bình lạm phát ở các nứơc Châu Á đang phát triển khác. Tại các chợ, giá các loại thịt đã tăng 10-20% so với tháng trước, giá thủy hải sản cũng tăng gần 10%, dầu ăn tăng khoảng 5%. Giá các mặt hàng rau, củ, quả và các mặt hàng đồ khô như măng, miến, nấm hương cũng tăng đáng kể. So với hai tuần trước, giá các loại rượu, bia đã cao hơn khoảng 20,000-40,000đồng/thùng và tiếp tục tăng theo từng ngày, do giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh. Giá bán mặt hàng này tại các siêu thị cũng có sự chênh lệch khá lớn, điển hình là một thùng bia Hà Nội tại siêu thị FiviMart được bán với giá là 20,600 đồng, tại Intimex là 187,200 đồng và tại đại lý là 165,000 đồng. Bốn doanh nghiệp lớn của Hà Nội đã dự trữ khoảng 1,000 tấn thịt heo, gà và giò, hơn 410 tấn nem, 22 tấn dầu ăn và gần 2 tấn trứng gà. Các doanh nghiệp Sài Gòn cũng đã được thành phố hỗ trợ 400 tỷ đồng để dự trữ hàng hóa thực phẩm thiết yếu. Dự báo giá cả các mặt hàng sẽ tiếp tục tăng nhanh cho đến ngày 30 Tết (ngày 6 tháng 2) và dừng lại ở mức cao trong những ngày sau Tết. Đặc biệt, các mặt hàng hoa tươi, thực phẩm tươi sống, gạo, đỗ, chè và rau quả sẽ tăng giá mạnh vào dịp này.
Sau Tết: (Hà Nội 11-2 (TH)
“Mùng 5 Tết, các chợ đã họp khá đông. Mặt hàng nào cũng có, từ thịt, cá, rau quả đến hải sản nhưng các bà nội trợ sững sờ bởi thực phẩm nào cũng tăng giá gấp 3-4 lần so với ngày thường.” Báo điện tử Vietnamnet ngày Thứ Hai 11 tháng 2, 2008 viết. “Sợ quá. Rau đắt hơn cả thịt cá. Loại rau nào cũng tăng gấp 3-4 lần so với trước Tết. Một mớ rau cải cúc giá 2,000 đồng, ngải cứu 3,000 đồng, cải xoong 5,000 đồng, rau cần 10,000 đồng. Bắp cải 10,000 đồng/kg... Không mua nhanh không chắc đã còn mà mua'' - chị Mai Hằng ở khu tập thể Kim Liên than vãn. Theo báo Vietnamnet, “Tại chợ Thành Công, mặt hàng nào cũng có nhưng giá lên rất cao. Chị Thanh, ở B5 Thành Công, khi mua đậu phụ về ăn lẩu tưởng mình nghe nhầm, khi được chị bán hàng báo giá 2,000 đồng/bìa. Chị bán hàng cho biết, chị lấy vào đắt thì đành bán đắt. Cả thùng đậu, chị bán chỉ còn vài bìa, không mua nhanh là hết. Chị Thanh lo rằng từ nay đến Rằm Tháng Giêng, giá cả chắc còn lên nữa.” Tờ báo đưa ra một cuộc khảo sát để độc giả hình dung ra vật giá gia tăng thế nào:
“Theo khảo sát của PV VietNamNet, sau Tết thịt, cá tăng giá gấp rưỡi, gấp đôi trước Tết, rau xanh tăng gấp 3-4 lần. Trước Tết, xương ống có giá 40,000 đồng/kg, nay lên 60,000 đồng/kg, xương sườn tăng từ 60,000 đồng/kg lên 90,000 đồng/kg; ngao biển tăng thêm 5,000-10,000 đồng/cân, cá chắm ngày thường 30,000-35,000 đồng/kg nay cũng lên tới 65,000-70.000 đồng/kg, gà ta mổ sẵn trước Tết 80,000 đồng/kg nay là 110,000-120,000đồng/kg, tôm sú loại vừa lên tới 170,000-180,000 đồng/kg.
Không chỉ giá thực phẩm mà bất cứ dịch vụ nào cũng tăng giá. Theo quy định của UBND thành phố Hà Nội, giá giữ xe đạp là 1,000 đồng/xe, xe máy 2,000 đồng/xe (ban ngày) nhưng tại nhiều khu vui chơi giải trí cũng như các điểm giữ xe ở các khu đình, chùa, ngay từ đêm 30 Tết đều đã bán vé với giá ‘cắt cổ’. Giá thấp nhất cũng phải 5,000 đồng/xe máy, thậm chí lên tới 15,000-20,000 đồng/xe. Tuy nhiên, do nhu cầu du xuân nên nhiều gia đình chấp nhận bị ‘móc túi’.
Tác giả Alain FAUJAS đã viết cái lý do thứ nhất của việc vật giá tăng trong một hệ thống Kinh tế mà Nhà Nước can thiệp :“Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois et vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit à plein fouet des prix arbitraires.“ (Le Monde 30.10.2007) ( Khi mà sự lấn quyền chính trị (những đảng cộng sản Trung quốc và Việt Nam) bành trướng sang Thương mại, Tài chánh và Kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng thừng những giá cả độc đoán).
Lý do thứ hai là đồng tiền Việt Nam mất giá do lạm phát tiền tệ. Tác giả Florin AFTALION trong phần đầu của bài này, đã lấy tỉ dụ thời lạm phát tiền tệ Cách Mạng Pháp. Chúng tôi cũng đã viết một bài riêng về lạm phát tiền tệ do Nhà Nước. Viết về lý do này, Oâng VŨ QUANG VIỆT đã viết trong một bài đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :
“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Nếu như nhà nước phát hành trái phiếu và bán cho dân để mượn tiền tiêu thì không có vấn đề. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“
(ii) Việc phân phối độ phát triển kinh tế có đồng đều hay không ?
Nhà Nước Việt Nam từng huênh hoang độ tăng trưởng Kinh tế là 8.5%. Nhưng điều quan trọng là việc phân phối độ tăng này có đồng đều hay không, nghĩa là 85 triệu dân chúng Việt Nam có được hưởng tương đối độ tăng này hay không, hay chỉ một thiểu số người được hưởng.
=> Trước hết Nông dân chiếm 70% dân số rất ít được hưởng độ tăng trưởng này vì số đầu tư vảo nông thôn rất ít ỏi. Ông NGUYỄN QUỐC CƯỜNG, chủ tịch Hội Nông dân VN, cho biết:
“Đại bộ phận dân cư vẫn ở khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp nhất. Bên cạnh đó, giá cả cứ "leo thang" chóng mặt. Dù đến cuối năm nay chỉ số tăng giá tiêu dùng dừng ở mức 8%, nhưng so với mức tăng trưởng thấp ở khu vực nông thôn mới thấy đời sống nông dân cực kỳ khó khăn. Chúng tôi đề nghị Nhà nước tăng đầu tư cho khu vực nông thôn. Cụ thể là tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông nông thôn và thủy lợi. Nếu hai khoản này được Nhà nước đầu tư tốt thì có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển. Kinh tế - xã hội phát triển tức là điều kiện sản xuất phát triển thì đời sống nông dân mới hi vọng được cải thiện. Ngoài ra Nhà nước cũng phải hết sức tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ tư vấn, hướng dẫn cho nông dân, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, dịch vụ vay vốn, tín chấp với ngân hàng để nông dân được vay vốn sản xuất.“
=> Sau đó, độ tăng trưởng 8.5% mà 8 triệu Công Nhân đã đóng góp sản xuất trong các ngành công nghệ, nhưng lương Công Nhân tăng lên rất ít hàng năm, nghĩa là độ tăng 8.5% này được phân phối cho công nhân rất ít ỏi. Trong một bài viết gần đây, Tiến sĩ ÂU DƯƠNG THỆ đã nói về việc Công Nhân đình công đòi tăng lương như sau:
“Thật vậy, ngay những người cầm đầu Công đoàn Lao động VN, một tổ chức của ĐCS dựng lên để kiểm soát giai cấp lao động thay vì bảo vệ quyền lợi của họ, cũng đã phải xác nhận là, trong năm 2007 đã có tới 541 cuộc đình công với sự tham gia của 350.000 công nhân, trong đó phần lớn là các cuộc đình công bộc phát, tức “bất hợp pháp”.
Nói về đời sống Công nhân, Tiến sĩ tiếp: “Không chỉ phải chịu ngược đãi của chủ nhân trong các bữa cơm quá khắc khổ, vì đồng lương không đủ sống nên hàng trăm ngàn công nhân VN và con cái của họ phải sống chui rúc trong c&aa |
|
|
|