*VietTUDAN ---- FINinfo@
*VTD-TUẦN BÁO/ Weekly
=>Số/No.485/10.03.11
=>Số/No.484/03.03.11
=>Số/No.483/24.02.11
=>Số/No.482/17.02.11
=>Những Số ĐẶC BIỆT
*VTD-NHÂN & DÂN QUYỀN
*VTD-KINH TẾ/ TÀI CHÁNH
BÀI VIẾT CHỦ ĐỀ
BÀI VIẾT ĐỌC LẬP
Chủ đề 10 về KTTC
Chủ đề 11 về KTTC
Chủ đề 12 về KTTC
Chủ đề 13 về KTTC
Chủ đề 14 về KTTC
Chủ đề 15 về KTTC
Chủ đề 16 về KTTC
*VTD-CHÍNH TRỊ/ĐẢNG PHÁI
*VTD-XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP
*VTD-TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI
*VTD-TUSACH/LIBRARY/BIBL
=>01:Lịch Sử Kháng Chiến VN
=>02:Dứt Bỏ CS để Phát Triển
=>03:Khủng Hoảng TCKT 07/08
=>04:Việt Nam Hội Nhập WTO
=>05:Dân Chủ Hóa Kinh Tế
=>06:Dân Nổi Dậy Dứt Bỏ CSVN
=>07:Dân Oan Ức Nổi Dậy
=>08:Cách Mạng Hiến Pháp VN
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN-LinhTinh/Varieties
VTD&FIN-ĐỘC GIẢ/Readers
VTD&FIN-GẶP GỠ/Meeting
VTD&FIN-LƯU TRỮ/Archives
 



==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         ================================= 


****************************************Chủ đề 07 về KTTC***************************************
                                                           2008-09

                            HẬU QUẢ KHỦNG HOẢNG TC/KT CHO TQ & VN

xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx



NỘI DUNG :


Bài 1:
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRUNG QUỐC:
TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM

Bài 2:
TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM:
KINH TẾ TỤT DỐC RÕ RỆT

Bài 3:
TRUNG QUỐC:
Ý ĐỒ THỐNG TRỊ KINH TẾ Á CHÂU

Bài 4:
CSVN CÚI ĐẦU RƯỚC LẤY
NHỮNG PHẾ THẢI KINH TẾ TỪ TRUNG QUỐC

Bài 5:
VIỆT NAM: YẾU CẠNH TRANH TRONG WTO,
CÒN BỊ CHE CHỞ MẬU DỊCH DO KHỦNG HỎANG

Bài 6:
WTO & HÀNG TRUNG QUỐC:
MỒ CHÔN KINH TẾ VIỆT NAM


 


Bài 1:

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRUNG QUỐC: 
TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

TÌNH HÌNH CHUNG KHỦNG HỎANG

Khuynh hướng trở về Đông Âu

Trước khi xẩy ra Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế làm cho việc sản xuất hàng hóa từ Trung quốc, Việt Nam, Nam Dương... cung cấp cho Liên Aâu giảm xuống, thì đã có ba lý do khiến Liên Aâu nghĩ đến việc sản xuất hàng hóa tại các nước Đông Aâu
=> Lý do thứ nhất là vì giá dầu tăng vọt khiến giá chuyên chở hàng hóa từ Á châu về Liên Aâu tăng lên;
=> Lý do thứ hai là Thương hiệu Made in China, Made in Viet Nam... giảm giá trị đối với người tiêu thu;
=> Lý do thứ ba là các nước giầu Tây Aâu phải hỗ trợ các nước nghèo Đông Aâu khiến Liên Aâu nghĩ đến việc sản xuất tại Đông Aâu cũng có nguồn nhân lực hạ giá.
Đức quốc là nước đi tiên phong trong việc chuyển hướng sản xuất những hàng hóa thông dụng này với giá rẻ tại Đông Aâu. Như vậy việc giảm sút Kinh tế tại Trung quốc, Việt Nam, Nam Dương... đã khởi đầu trước khi có cuộc đại Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay.

Về phương diện Tài chánh, nếu Qũy Tiền tệ Quốc tế IMF/FMI đã đặt trọng tâm hỗ trợ tại Á đông trong cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á châu 1997, thì ngày nay, IMF/FMI cũng lại quay về các nước nghèo Đông Aâu và như vậy làm suy giảm việc giúp Tài chánh cho Á châu. Trong THE WALL STREET JOURNAL ngày 28.12.2008, Bob DAVIS và Marcus WALKER đã viết một bài phân tích việc chuyển hướng này của IMF/FMI.
Qủy Tiền Tệ IMF/FMI đã cho các nước khó khăn phần lớn tại Liên âu vay USD.70 tỉ, được phân phối như sau: (i) Ukraine USD.16.5 ti; (ii) Hungary USD.15.7 tỉ; (iii) Pakistan USD.7.6 tỉ; (iv) Belarus USD.2.5 tỉ; (v) Latvia USD.2.4 tỉ; (vi) Iceland USD.2.1 tỉ; (vii) Serbia USD.0.5 tỉ.

Trung quốc:
những Công ty nhỏ vá víu để sống còn

Trong THE WALL STREET JOURNAL, ngày 02.02.2009, hai tác giả Loretta CHAO và Andrew BATSON đã viết  dưới tựa đề A BIG TEST FOR SMALL FACTORIES :”Chinese businesses struggle to survive the global downturn!” (Doanh nghiệp Trung quốc đấu tranh để sống còn trong cảnh tụt dốc tổng quát !” (page 11).

Hai tác giả dựa trên tài liệu của Nhà nước, cho biết rằng tại Quảng Đông: “62’400 companies shut down in 2008, according to the government records” (62’400 công ty bị đóng cửa, theo tài liệu của nhà nước). Nhưng một số công ty nhỏ sống còn : “But many small companies survive on the business with a few clients, or sell very low-margin products; they could be forced to close if a big client suddenly delays orders (page 11) (Nhưng nhiều công ty nhỏ sống còn với một số ít khách hàng, hoặc bán một mức độ rất thấp sản phẩm; những công ty này buộc lòng phải đóng cửa nếu một khách hàng lớn bất thần chậm trễ đặt mua hàng).

Hai tác giả trích lại lời của Oâng Eric WU, một chủ xí nghiệp: “In Chinese we have a saying that it’s easier for small boats to turn around” (Tiếng Tầu có câu nói rằng đối với những xuồng nhỏ, dễ dàng chèo lái xoay chiều hơn).

Thời kỳ vàng son, nhẩy vọt Kinh tế của Trung cộng đã tụt xuống thảm hại. Thời kỳ quảng cáo Kinh tế như Thế Vận Hội Bắc Kinh cho vẻ vang chế độ không còn nữa. Bài báo cũng cho thấy tình trạng sản xuất tại Trung quốc thật là bấp bênh trong lúc này.   

Trung quốc:
Những Công ty lớn tụt dốc Lợi nhuận 50%

Trong một bài khác cũng đăng trong THE WALL STREET JOURNAL, ngày 04.02.2009, dưới đầu đề PROFIT WARNINGS SOUND THE ALARM IN CHINA (Những cảnh cáo về lợi nhuận gióng lên lời báo động tại Trung quốc), tác giả Andrew BATSON trích lại lời của Oâng Wang QING, chuyên viên Kinh tế làm việc cho Morgan Stanley: “Profits and Profitability in 2009 will be very poor, and this is the key reason why I do not expect much private investment – especially in the manufacturing sector where China suffers from an overcapacity problem.” (page 32) (Tiền lời và khả năng lợi nhuận trong năm 2009 sẽ rất là nghèo nàn, và đây là lý do chính yếu tại sao tôi không hy vọng nhiều đầu tư tư nhân – đặc biệt vào lãnh vực xí nghiệp sản xuất mà Trung quốc  đang phải chịu đựng vì vấn đề đầu tư quá khả năng làm việc.). Tác giả nêu ra tỉ dụ:
* Tập đòan CHINA SHIPPING CONTAINER LINES Co.Ltd. giảm lợi nhuận tới 50%  
* Tập đòan CHINA INTERNATIONAL MARINE CONTAINER giảm lợi nhuận tới 53%
* Tập đòan SAIC Motor Corporation Ltd. giảm lợi nhuận tới 50%
* Tập đòan CHINA LIFE INSURANCE Co. giảm lợi nhuận tới 50%

Việc đầu tư tư nhân tùy thuộc khả năng Lợi nhuận. Vì vậy mà những Tập đòan lớn đã phải lấy lới nhuận tích trữ của mình ra để đầu tư vào vốn họat động nếu muốn tiếp tục sống.

Trung quốc:
Tiền bạc tìm cách tị nạn ra nước ngòai

Ở đọan trên, chúng ta đã thấy rằng vì tình trạng tụt dốc Lợi nhuận mà các Tập đòan Kinh tế lớn của Trung quốc thiếu đầu tư tư nhân. Trong khi ấy thì vốn nước ngòai rút ra. Thêm vào đó, một cái nạn nữa cho Trung quốc là chính vốn Trung quốc cũng tìm cách tị nạn ra nước ngòai.

Tác giả Keith BRADSHER, viết ở trang nhất của tờ INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE, ngày 03.02.2009, như sau:

“In Shanghai, cash-rich Chinese companies are bringing home fewer of the dollars they earn abroad from exports. Instead, they are buying high yield bonds of US companies in detress. And in Hong Kong, wealthy Chinese from the mainland are turning up in growing numbers of at jewelry stores seeking one thing: diamonds, big ones.
Chinese citizens are starting to send more more money out of the country.
People take their money out because they worried about the stability of a country that announced on Monday that 20 millions migrant workers had lost their jobs and returned home to their villages.”

(Ở Thượng Hải, những công ty giầu tiền mặt mang ít tiền đo-la về Trung quốc mà họ kiếm được qua xuất cảng. Thay vào đó, những công ty này mua cổ phiếu của nhũng công ty Hoa kỳ đang gặp họan nạn. Và tại Hong Kong, những người Tầu giầu có trong lục địa đang tìm cách mua một điều: những hột xòan, hột thiệt lớn.
Công dân Tầu đang bắt đầu gửi tiền ra khỏi nước họ.
Người ta rút tiền ra và gửi đi  vì họ bất bình và nản lòng về tình trạng bền vững của một quốc gia vừa tuyên bố rằng 20 triệu nhân công du mục đã mất việc làm và phải trở về nhà nơi làng mạc của họ.”)

PHÂN TÍCH CHI TIẾT VÀO NHỮNG LÃNH VỰC

Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe, hôm qua Thư Tư 12.11.2008, dưới đầu đề SIGNS OF AN ECONOMIC SLOWDOWN ARE ALSO SPREADING IN CHINA, viết như sau: “Signs of a slowdown in China are spreading, with weak economic data for October illustrating why the government hurried to announce its massive stimulus plan. New data announced Tuesday shows slowing imports, weakening home prices and a drop in export orders, all pointing to a sharp decline in activity that will take time to reverse” (By Andrew BATSON in Beijing and Norihiko SHIROUZU in Guangzhou, China, page 16) (Những dấu chỉ của một cuộc xuống dốc tại Trung quốc đang lan tràn, với những dữ kiện của kinh tế yếu kém cho tháng 10 chứng tỏ lý do tại sao Nhà Nước đã phải vội vã tuyên bố một chương trình kích thích khổng lồ. Những dữ kiện mới được tuyên bố hôm Thứ Ba chứng tỏ những nhập cảng đang tuột dốc, những giá cả tiêu thụ nội địa đang yếu nhược đi và một sự rơi giảm hẳn những đặt mua hàng cho xuất cảng, tất cả đang chứng tỏ rõ rệt một sự giảm sút sâu đậm trong hoạt động mà phải có thời gian mới có thể lấy lại.)
Câu nhận định trên đây của hai Tác giả sống tại Trung quốc tóm tắt tổng quát tình trạng tụt dốc Kinh tế của Trung quốc.
Chúng tôi muốn đi vào chi tiết của những Lãnh vực hoạt động rõ rệt sau đây:
=> Thương hiệu “Made in China” mất hẳn giá trị
=> Tụt hẳn giá Địa ốc
=> Đóng cửa các Xí nghiệp
=> Chương trình kích thích nội địa
=> Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội

Thương hiệu “Made in China” mất hẳn giá trị

Thương hiệu của một Quốc gia là sự thẩm định đầu tiên và TỔNG QUÁT của người tiêu thụ về phương diện giá cả và về phẩm chất của hàng hóa. Từ đó, người tiêu thụ mới đi thẩm định từng món hàng trước khi quyết định số lượng mua. Khi nhìn Thương hiệu: Made in USA, Made in France, Made in Germany, Made in Switzerland, Made in Japan, Made in Singapore, Made in China..., mỗi người tiêu thụ nghĩ về giá cả và phẩm chất của hàng hóa do tên một nước tạo ra trong đầu óc của khách hàng.

Khi hàng Trung quốc bắt đầu tràn lan trên Thế giới, nhất là sau khi nhập WTO, Thương hiệu Made in China làm cho người tiêu thụ nghĩ liền đến giá cả hạ. Trong thời gian đầu cách đây chừng 50 năm, Thương hiệu Made in Japan cũng cho khách hàng nghĩ ngay đến giá hạ. Nhưng ngày nay, Thương hiệu Made in Japan tạo trước tiên cho khách hàng không phải là giá hạ nữa mà là có kỹ thuật cao, đáng được tin tưởng.

Từ Thương hiệu Made in China cho ý tưởng đầu tiên là giá thấp, Trung quốc phải tiến dần đến kiện toàn kỹ thuật để khách hàng tin tưởng và phẩm chất như Nhật đã đạt được. Nhưng ngược lại, Thương hiệu Made in China hiện nay đã mất hẳn giá trị vì những việc làm sau đây của chính Trung quốc:
=> Đồ ăn cho súc vật: chó ăn té đùng ra chết tại Hoa kỳ
=> Đồ chơi cho trẻ con có những chất sơn mang chất độc tạo bệnh tật
=> Chất Mélanine trong sữa bột tạo bệnh thận cho chính trẻ em tại Trung quốc
=> Những kẹo bánh cũng có pha quá mức của chất Mélanine
=> Chất Mélanine này cũng được xử dụng trong việc chế những đồ dùng bằng nhựa như chén bát, đũa nhựa, đồ dùng nhà bếp
=> Một số những quần áo, chăn mền từ Trung quốc cũng bị khám phá ra là có chất làm hại da của người xử dụng
=> Siêu thị CARREFOUR của Pháp đã phải thường tiền chữa bệnh cho những khách hàng mua ghế xa-long từ Trung quốc. Ngồi, nằm nhiều trên những xa-long ấy, sẽ bị bệnh ngứa, nổi sần lằn da.
=> Ý quốc mới tịch thu một số lượng lớn dầy dép bằng da được sản xuất từ Trung quốc. Da có chất nhuộm làm ung thư chân.
=> Một điều rất quan trọng là Trung quốc giữ quán quân về việc làm đồ giả mà vẫn đề là sản xuất tại những nước nguồn gốc của hàng hóa đó: tỉ dụ Đồng hồ giả sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Made in Switzerland; những ví da của phụ nữ sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Mande in Italy... Thuốc men chữa bệnh sản xuất từ Trung quốc, đã lan tràn sang các nước nghèo, nhất là Phi châu. Điểm này đã tạo cho khách hàng hiểu những đồ Trung quốc là giả mạo và không thể tin tưởng.

Thương hiệu Made in China đã tuột dốc đến nỗi có nhiều những tiệm phân phối phải dấu cất hàng hóa hay tìm cách đề trại đi. Thương hiệu Made in China đã trở thành một sự xấu hổ vậy. Một số Công ty Đức, trước đây sản xuất tại Trung quốc, nay đưa việc sản xuất về Đức để nhờ Thương hiệu Made in Germany. Họ xử dụng nhân công từ những nước Đông Aâu để có giá rẻ. Như vậy một đàng lợi dụng được Thương hiệu Made in Germany, một đàng tránh hẳn Thương hiệu Made in China đã mất hẳn giá trị.

Tụt hẳn giá Địa ốc

Trong suốt 8 năm vừa rồi, người ta ca ngợi “boom housing construction” tại Trung quốc. Những cao ốc được mọc lên như nấm tại các thành phố ven biển, nhất là tại Thượng Hải. Thời gian này cũng trùng với thời gian xây cất các cơ sở, khách sạn cho Thế Vận Hội Bắc Kinh. Tất cả những xây cất nhà cửa này mang khía cạnh phô trương sự thành công của đảng Cộng sản Trung quốc.

Dân chúng từ các vùng quê trong nội địa kéo về các thành phố ven biển. “Anywhere from 15 million to 20 million people move to Chinese cities each year” (Từ mọi nơi, từ 15 tới 20 triệu người kéo về các thành thị Trung quốc mỗi năm) (Andrew BATSON, Beijing, THE WALL STREET JOURNAL, 24.10.2008, page 9). Nhưng theo Andrew BATSON, thì việc xây cao ốc không phải là cho dân chúng từ các vùng quê kéo về vì những người này chưa đủ khả năng mua nhà.

Nếu cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ bắt đầu bằng vỡ lở Tín dụng  (Mortgage Subprime Credits), thì cuộc Khủng hoảng địa ốc hiện nay tại Trung quốc đến từ sự chi tiêu quá đáng để phục vụ cho Chính trị. Việc chi tiêu quá đáng này, sau những xây cất cơ sở Thế Vận Hội, gặp đúng lúc bùng nổ Khủng hoảng Tài chánh Thế giới, khiến tình trạng ứ đọng Địa ốc trở thành trầm trọng.

Dưới đầu đề BEIJING MOVES TO STIMULATE HOME-BUYING đăng trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, 24.10.2008, Andreww WATSON đã viết:

“Sales of new housing in China have plummeted in recent months as buyers get spooked by deteriorating economy and weakening prices. With economic growth also slowing more than expected, officials have moved from truying to rein in prices to encouraging buyers. This week, they announced tax breaks, smaller down-payment requirements and lower loan rates for first time home buyers.”

“More than 80 million people are employed directly in the construction industry, so a prolonged downturn also threatens to lead to more unemployment and social unrest.”  

(Việc bán những nhà mới tại Trung quốc đã tụt xuống trong những tháng gần đây khi những người mua hoảng sợ vì kinh tế giảm hẳn xuống và giá cả yếu hẳn đi. Với độ tăng trưởng kinh tế yếu kém hơn như mong đợi, phía nhà nước can thiệu vào bằng cách giữ giá cả để cổ võ những người mua. Tuần này, phía nhà nước đã tuyên bố những việc giảm thuế, đòi tiền cọc nhỏ hơn và cho tín dụng với lãi suất hạ cho những người mua nhà đầu tiên.

(Hơn 80 triệu người được xử dụng trực tiếp trong kỹ nghệ xây cất, vì vậy một sự yếu kém kinh tế kéo dài đe dọa dẫn đến thất nghiệp nhiều hơn và xáo động xã hội.”

Oâng William XIN, Tài chánh trưởng của China Housing & Land Development Inc., đã tuyên bố:”Now everybody believes the price will go down. And the developpers don’t want to sell at a lower price. Nobody wants to sell, and nobody wants to buy” (The Wall Steet Journal, 24.10.2008, page 9) (Bây giờ mọi người tin là giá sẽ xuống. Va những người xây cất không muốn bán với giá hạ. Không ai muốn bán, và không ai muốn mua.”

Cũng theo Andrew BATSON, kỹ nghệ xây cất liên hệ đến những sản xuất khác: “Housing sales have plummeted. That, in turn, is affecting imports of pivotal  raw materials like iron ore, used to make steel.” (Norihiko SHIROUZOU, The Wall Street Journal, 12.11.2008, page 16) (Việc bán nhà cửa chìm sâu xuống. Điều này đang ảnh hưởng tới việc nhập cảng những vật dụng thô như quạng sắt để chế thép). Những tỉ dụ đình trệ về những sản xuất liên hệ đến Địa ốc: giá xi măng, giá sắt thép hạ tới gần 50%; những đồ trang bị nhà cửa cũng đình trệ như máy lạnh giảm mua tới 21%.

Đóng cửa các Xí nghiệp

Trong đoạn đầu chúng tôi đã viết về Thương hiệu Made in China và những lý do đang tàn phá những hàng Trung quốc, nhất là về vải vóc, chăn màn, đồ chơi trẻ con, giầy dép... nghĩa là những hàng nhẹ nhằm xuất cảng. Gặp thời Khủng hoảng Tài chánh, Kinh tế tại những Quốc gia tiêu thụ lớn như Hoa kỳ và Liên Aâu, những đặt hàng từ những Quốc gia này giảm hẳn xuống, tất nhiên những Công ty nhỏ và trung bình của Trung quốc quy tụ chung quanh vùng Quảng Đông làm việc cho Lãnh vực này đang đi đến phá sản.

Nhật báo LE MONDE số 19844 ngày Thứ Năm hôm nay 13.11.2008, dưới đầu đề EN CHINE, DES MILLIERS D’ENTREPRISES FERMENT DANS LA REGION DE CANTON (Tại Trung quốc, hàng ngàn xí nghiệp đóng cửa trong vùng Quảng Đông), đã viết như sau:

“Le vaisseau amiral de l’économie chinoise navigue par gros temps, secoue par la tempete de la crise financiere: la province de Guangdong qui, voici trente ans, fut la figure de proue de l’extraordinaire décollage de la Chine et y symbolisa plus tard la réussite, est aujourd’hui l’une des régions les plus touchées de la République populaire. “On pourrait dire que c’est ici que tout a commencé et que c’est ici que tout pourrait finir”” (page 15) (Đô đốc kỳ hạm đang thảnh thơi lướt sóng, bị chao động bời cơn bão khủng hoảng tài chánh: tỉnh Quảng Đông, ba mươi năm trước đây, đã là bộ mặt dẫn đầu của cuộc cất cánh lạ lùng của Trung quốc và đã là biểu tương của sự thành công sau đó, ngày nay trở thành một trong những vùng bị thiệt hại nhất của nước Cộng hòa Nhân dân. “Người ta có thể nói rằng chính từ nơi này mà mọi sự đã bắt đầu và rằng cũng chính từ nơi này mà mọi sự sẽ chấm dứt.””).

Vùng Quảng Đông chiếm 1/3 những xuất cảng của Trung quốc, đứng hàng thứ 8 cho thu nhập thuế và chiếm 25% những đầu tư nước ngoài. Sự sụp đổ Kinh tế của Quảng Đông trở thành trầm trọng cho Kinh tế Trung quốc.

Bruno PHILIP, tác giả bài báo trên đây, viết tiếp:

“Depuis fin 2007, la machine à produire du miracle s’est grippée et le krach de septembre a amplifíe la tendance. Entre Janvier et Juillet, plus de 3’000 PME de l’industrie de jouet, la plupart des sous-traitants, ont fermé boutique... Les experts remarquent que 95% d’entre elles ne reviendront pas en Chine continentale.” (Từ cuối năm 2007, bộ máy sản xuất phép lạ kinh tế bị bệnh rút co lại và cuộc khủng hoảng tháng Chín đã làm tăng thêm hướng xuống ấy. Trong giữa tháng Giêng và tháng Bẩy, hơn 3’000 Xí nghiệp nhỏ và trung bình về kỹ nghệ đồ chơi, phần lớn làm cho những Công ty khác, đã dẹp tiệm... “Những chuyên viên cho biết rắng 95% trong số những Xí nghiệp này sẽ không trở lại Trung quốc lục địa nữa”.)
Chính việc đóng cửa nhiều ngàn Xí nghiệp như vậy mà Chính phủ Trung quốc mới họp tuần này để tìm giải pháp nâng đỡ các Xí nghiệp khác đang hấp hối.

Tờ FINANCIAL TIMES Thứ Năm 13.11.2008 viết :”China, worried by slowing growth and widespread reports of FACTORY CLOSURES, is to step up support for manufacturers”. Chính phủ không thể không có biện pháp năng đỡ xuất cảng nhằm cứu những xí nghiệp còn đang bị đe dọa đóng cử này.

Chương trình kích thích nội địa

Nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, nghĩa là lệ thuộc vào mức tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ, Liên Aâu... Cuộc khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế làm giảm khả năng tiêu thụ của những Quốc gia này, nghĩa những nước này giảm mua hàng Trung quốc.

Trung quốc buộc lòng phải kích thích tiêu thụ nội địa nếu muốn đà phá triển sản xuất giữ được mức độ cân bằng bù trừ nào đó. Hai tác giả Aaron BACK và J.R.WU, trong The Wall Street Journal, ngày 13.11.2008, trang 24, còn nhận xét một điều đáng lo ngại cho Trung quốc là chính việc tiêu thụ nội địa đang giảm xuống:”China’s retail sales growth SLOWED in October.” (Độ tăng bán lẻ của Trung quốc đã hạ xuống trong tháng 10). Cùng nhận xét như vậy, Tác giả Andrew BATSON, trong The Wall Street Journal ngày 12.11.2008, trang 17, đã trích dẫn Thống kê của Nhà Nước: “The consumer index  rose 4% in October from a year earlier, compared with 4.6% in September and well down from February’s peak of 8.7%” (Chỉ số tiêu dùng đã tăng 4% trong tháng 10 tính từ đầu năm trước, sánh với 4.6% trong tháng 9 và giảm xuống nhiều sánh với độ cao nhất của tháng 2.). Như vậy việc nâng đỡ tiêu thụ nội địa không phải chỉ là bù trừ việc giàm mua hàng từ nước ngoài, mà còn chống lại chính việc đang giảm việc tiêu thụ từ chính trong nội địa Trung quốc.

Đảng và Nhà Nước Trung quốc vừa quyết định dành ra USD.586 tỉ. Đây là Chương trình mang tính cách dài hạn, trong khi ấy vấn đề xuống dốc Kinh tế nằm trong cấp thời và ngắn hạn phải giải quyết. Thực vậy, chương trình USD 586 tỉ đặt trọng tâm vào xây dựng hạ tầng cơ sở Kinh tế như đường sá, cầu cống, ống dẫn dầu...

Nhận định về hiệu lực của Chương trình này, dưới hàng chữ lớn CRITICS OF GOVERNMENT’S INFRASTRUCTURE SPREE WORRY EFFORT WILL END UP BEING WASTE OF MONEY, Oâng Andrew BATSON viết ngày hôm qua 12.11.2008 trong THE WALL STREET JOURNAL như sau:

“This road boom is taking place in a poor, largely rural country where only about 10% of the population have their driver’s licenses... New roads and buildings are going unused and will end up being waste of money. In the poorest areas, some highways are often empty but for crops farmers spread out on them to dry in the sun.” ( Cuộc bùng dậy xây đường sá này xẩy ra ở một xứ nghèo nàn, chính yếu là dồng quê nơi mà chỉ vào khoảng 10% dân số có bằng lái xe... Những con đường mới và cao ốc sẽ không được xử dụng và sẽ kết thúc bằng tiêu phí tiền bạc. Ở những vùng nghèo khổ nhất, nhiều xa lộ thường vắng xe trống rỗng trừ trường hợp những người dân quê xử dụng để phơi nắng cho khô sản phẩm nông nghiệp dưới ánh mặt trời.)

Thực sự thì việc xây dựng hệ thống đường sá đã được hoạch định từ những chục năm trước và chương trình muốn chấm dứt mãi tới năm 2020. Đây là việc chi tiêu mang tính dài hạn, trong khi ấy Trung quốc cần phải có biện pháp cấp thời để khả năng tiêu thụ nội địa bù trừ cho việc cắt giảm đặt mua hàng hiện nay từ nước ngoài. Số tiền USD.586 tỉ là dự chi cho toàn Chương trình bao trùm một thời gian dài. Người ta dự đoán rằng nếu chương trình được khởi công lại, thì Trung quốc cũng chỉ tiêu cho hạ tầng cơ sở khoảng 1/5 tổng số tiền đã tuyên bố.

Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội

Chỉ tính cụ thể 80 triệu người được xử dụng trong ngành Xây cất Nhà cửa đang trong tình trạng bị đe dọa sa thải, cộng với số nhân công dùng trong 3’000 xí nghiệp đã bị đóng cửa tại vùng Quảng Đông, Nhà nước Trung quốc phải đứng trước nạn thất nghiệp mới nhất lên tới con số chứng 100 triêu người. Những người này phần lớn đến từ những vùng quê thuộc nội địa. Việc đẩy họ về nguyên quán có thể gây những xáo trộn xã hội.

Trong LE MONDE số ra ngày 13.11.2008, trang 15, Ký giả Bruno PHILIP đã viết như sau: “Les conséquences de la crise se font déjà sentir sur l’emploi. Selon le site www.Sina.com, des miliers d’ouvriers migrants sont en train de quitter le delta de la rivìere des Perles et rentrent dans leurs campagnes, faute de travail. Des responsables de la gare de Canton ont indiqué que 130’000 voyageurs quittent chaque jour la métropole en train.” (Những hậu quả của khủng hoảng đã cảm thấy đối với việc làm. Theo diễn đàn www.Sina.com , từng ngàn thợ di dân đang bỏ châu thổ của con sông Ngọc và trở về thôn quê của họ vì thiếu việc làm. Những người trách nhiệm của nhà ga xe lửa Quảng Đông cho biết rằng mỗi ngày có 130’000 người bỏ nơi thành thị này bằng xe lửa.)  
Tác giả Alain FAUJAS, trong LE MONDE ngày 11.11.2008, trang 13, đã nhận định về tình trạng xáo động xã hội liên quan đến Chính trị như sau: “MANIFESTATIONS POPULAIRES—Le taux de croissance inquìete Pékin qui voit se multiplier les manifestations  populaires contre l’inflation et les fermetures d’entreprises dans le sud de la Chine. On prête au gouvernement l’intention de maintenir coute que coute la croissance  au-dessus de 7%, niveau jugé indispensable pour la stabilité politique du pays. (NHỮNG BIỂU TÌNH DÂN CHÚNG—Độ tăng trưởng kinh tế làm cho Bắc Kinh lo lắng vì nhìn thấy những cuộc biểu tình dân chúng đang được nhân lên chống lại lạm phát và việc đóng cửa những xí nghiệp thuộc miền Nam Trung quốc. Người ta nói rằng Nhà nước phải cố thủ giữ bằng bất cứ giá nào độ tăng trưởng bên trên 7%, mức độ được coi là cần thiết để giữ yên ổn Chính trị cho đất nước.)

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


Bài 2:

TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM: KINH TẾ TỤT DỐC RÕ RỆT

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Mục đích của chúng tôi khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 của Á châu và nhất là theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh hiện nay của Thế giới là để: (i) phân tích tình trạng bấp bênh phát triển Kinh tế tại Việt Nam theo mẫu Trung quốc; (ii) xem hậu quả của của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay 2007/08 lên hai nước Cộng sản này như thế nào.


Bối cảnh hệ thống Ngân Hàng
Tại Trung quốc và Việt Nam

Vào những năm 1997, những nước bắt đầu phát triển tại Á châu có một hệ thống Ngân Hàng luộm thuộm, quyết định tài chánh mang tính gia đình hay quyền lực Chính trị. Khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF/FMI) lập Plan Bailout cho những nước bị Khung hoảng 1997, IMF đòi buộc những nước này trước tiên là phải chỉnh đốn lại hệ thống Ngân Hàng, đặt Cơ quan kiểm soát độc lập đối với các Ngân Hàng.

Đối với Trung quốc và Việt Nam ngày nay, trong lúc hai nước này ca ngợi độ phát triển Kinh tế cao của họ, thì người ta cũng quan sát thấy tính cách luộm thuộm của hệ thống Ngân Hàng hai nước và những quyết định Tín dụng Ngân Hàng bị ảnh hưởng trầm trọng bởi liên hệ gia đình, phe nhóm băng đảng chính trị.

Tại Trung quốc, Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “... un système bancaire national perchus de mauvais crédits... “(LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (... một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15).

Tại Việt Nam, chính Nguyễn Tấn Dũng đã phải than lên rằng có những Ngân Hàng đã lấy vốn ngắn hạn để đầu tư cho những dụ án dài hạn.
 
Ký giả Gia Huy đã viết đãng trong VietNamNet ngày 09.10.2008 như sau:”Bức tranh kinh tế xã hội 2008 có nhiều biến động đã bộc lộ thực tại đời sống ngân hàng từ quản lý vĩ mô đến việc quản trị điều hành, việc thực thi chiến lược quản lý tiền tệ cũng như các kế hoạch kinh doanh và hàng loạt các vấn đề liên quan khác. Chính sách tiền tệ quốc gia và kinh doanh tài chính ngân hàng còn nhiều bất cập. Khi có biến cố thị trường tất cả đều bị động chạy theo. Công cụ và kiểm soát quản trị rủi ro có không ít vấn đề.”

Cái bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng tại Việt Nam và Trung quốc cũng có những điểm giống năm 1997 tại những quốc gia bị Khủng hoảng Tài chánh trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn mà chính IMF/FMI đòi đỏi phãi cải tổ như một điều kiện được hưởng Plan Bailout của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.

Một bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh như vậy tự nó là nguồn Khủng hoảng cho Tài chánh/ Kinh tế cho một nước theo như phân tích của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng hoảng Á châu năm 1997.

Và trước cuộc Khủng hoảng Thế giới hiện nay về Ngân Hàng/Tái chánh, hai nước Trung quốc, Việt Nam, với bối cảnh Ngân Hàng/Tài chánh luộm thuộm lúc này, không thể chống đỡ lại tầm ảnh hưởng Tài chánh đang diễn ra trên Thế giới.

Chúng tôi nhìn tầm ảnh hưởng Tài chánh Thế giới dưới ba góc cạnh: (i) về Vốn nước ngoài; (ii) về Giảm sút độ tăng trưởng Kinh tế; (iii) về Xáo trộn xã hội ảnh hưởng lên Chính trị.

Với hạn hẹp của bài viết và với những dữ kiện chưa dồi dào ở bước đầu của tầm ảnh hưởng, chúng tôi chỉ phác họa tổng quát hướng đi của tầm ảnh hưởng. Chúng tôi sẽ viết tiếp tục để khai triển thêm theo với thời gian và theo những dữ kiện từ từ thu lượm.


Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Vốn nước ngoài

Trung Cộng và Việt Nam chủ trương Chính trị độc tài độc đảng và chế độ Chính trị ấy nắm độc quyền Kinh tế. Ở hai nước, Lao động bị kềm chế ở mức lương thấp. Nhiều những bài báo cáo Quốc tế đã viết về Lao động tại hai nước như một sự khai thác Nhân lực bất chấp Nhân quyền. Tại Trung quốc, nhân công từ những vùng nghèo khổ nội địa kéo về các tỉnh công nghệ ven biển  và làm việc cực nhọc như những đàn súc vật. Tại Việt Nam, đồng quê bị bỏ rơi, nông dân về những khu chế xuất công nghệ làm việc trong những điều kiện tồi tệ.

Các Công ty Liên quốc nước ngoài (Le Multinationales Etrangeres), trong chủ trương quản trị Chi tiêu cho xí nghiệp (Gestion des Charges de l’Entreprise) đã tìm đến hai nước này để khai thác nhân công rẻ với sự đồng ý và phụ lực khai thác của một chính thể độc tài độc đảng khóa miệng nhân công.

Vốn nước ngoài đổ vào hai nước này để mở xưởng chế xuất hàng hóa không phải là Vốn Đầu tư lâu dài cho hai nước, mà là Vốn ngắn hạn khai thác nhân lực nhằm sản xuất hàng hóa rẻ mạt xuất khẩu sang những nước đã Kỹ nghệ hóa để bán với giá cao.

Với cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay, hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh tại những nước đã Kỷ nghệ hóa như Mỹ và Liên Aâu rơi vào tình trạng thiếu Vốn. Trong tình trạng này, họ có thể cắt xuống hoạc rút Vốn ra từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam. Có những Dự án đã ký kết, nhưng có thể không được giải ngân vì tình trạng thiếu Vốn.

Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho vấn đề Vốn ở Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence...”. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng Jonathan MANTHORPE, Vancouver Sun 13/10/08, đã nhận xét: “Nhưng các vấn đề của các quốc gia đang phát triển còn tuỳ thuộc vào sự phát triển đầu tư và các thị trường trong quỹ đạo kinh tế toàn cầu chuyển động chung quanh Hoa Ky.“ø

Trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, ngày 15.10.2008, dưới đầu đề CHINA DRAWS LESS CAPITAL, Ký giả Andrew BATSON đã viết: ”Capital flows into China have slowed sharply and even reversed in recent months, according to official data that show how the financial crisis has disheartened investors and disrupted banks in this fast-growing nation” (page 4) (“Trào lưu Vốn chảy vào Trung quốc đã chậm lại mạnh and ngay cả chảy ngược lại trong những tháng gần đây, theo những dữ kiện cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chánh đã làm mất can đảm những nhà đầu tư và đã làm ngưng trệ các ngân hàng trong cái nước đang phát triển mau lẹ này.”(trang 4)

Đối với Trung quốc, tình trạng Vốn nước ngoài đã như vậy, huống chi đối với Việt Nam. Việt Nam còn bị thiếu vốn trầm trọng hơn Trung quốc vì nguồn Vốn nọi địa yếu kém hơn Trung quốc.

 
Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Độ Tăng trưởng Kinh tế.

Tại những nước đã Kỹ nghệ hóa, các Chính phủ đang lo ngại tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực làm cho đà Tăng trưởng giảm xuống trong những năm tới.

Ba lý do chính cát nghĩa tầm ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đối với Lãnh vực Kinh tế thực tại Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm Độ tăng trưởng Kinh tế tại hai nước này:

=> Lý do thứ nhất: Khi nguồn Vốn nước ngoài giảm thiểu và nguồn Vốn nội địa không đủ, thì tất nhiên một số Công ty không trường vốn sẽ bị phá sản. Tại Liên Aâu và Hoa kỳ, những Công ty có nguồn vốn nội địa và những Công ty này đã tạo trong nhiều năm rồi số vốn riêng của họ tích lũy (Cumulation des Fonds propres) để có độc lập về Tài chánh (Autonomie Financìere), nhưng tại những nước mới bắt đầu phát triển, những Công ty lệ thuộc vào Thị trường Tài chánh mang tính cách bấp bênh.

=> Lý do thứ hai: Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới làm cho các nước Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước trong vùng Á châu giảm thiểu việc mua hàng mà trước đây Trung quốc và Việt Nam vẫn cung cấp cho họ: những linh kiện cho Kỹ nghệ hay những hàng thường dùng cho dân chúng. Nên lưu ý rằng việc chế xuất hàng hóa từ Trung quốc hay Việt Nam là để cung cấp cho nước ngoài tới 70%. Việc giảm thiểu mua hàng này từ những nước đã Kỹ nghệ hóa tất nhiên làm ngưng trệ Kinh tế Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm độ Tăng trưởng Kinh tế.

=> Lý do thứ ba: Sau những cuộc Khủng hoảng, những Quốc gia dù có chủ trương Tự do Mậu dịch mấy đi nữa, cũng dễ có khuynh hướng Che chở (Protectionnisme) cho những Công ty quốc gia mình tại nội địa. Tại cuộc họp thượng đỉnh giữa Liên Aâu và Canada, dưới đầu đề A QUEBEC, MR.SARKOZY MET EN GARDE CONTRE LE PROTECTONNISME, Báo LE MONDE ngày Thứ Hai 20.10.2008 đã viết như sau: “Derrìere la crise bancaire, le spectre du protectionnisme qui hanta les années 1930. Avant de rencontrer, Samedi 18 Octobre, le président américain George BUSH dans sa résidence de Camp David, Nicolas SARKOZY, président en exercice de l’Union Européenne (UE), et le président de la Commission, José Manuel BARROSO, ont lancé vendredi, depuis Québec, un appel contre la fermeture des frontìeres.” (Đàng sau cuộc khủng hoảng tài chánh, con quỉ Che Chở (Protectionnisme) đã hiện về trong những năm 1930. Trước khi gặp, Thứ Bảy 18.10, Tổng thống Mỹ George BUSH ở Camp David, Nicolas SARKOZY, Chủ tịch đương nhiệm của Liên Aâu, và Oâng Chủ tịch Uûy Ban Liên Aâu, đồng kêu gọi hôm Thứ Sáu, từ Québec, chống lại việc đóng các biên giới.).

Dù không công khai tuyên bố Che Chở, nhưng các nước áp dụng những Biện Pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để hạn chế nhập khẩu. Trong trường hợp Che Chở, hay những Biện pháp không giá biểu, thì Trung quốc và Việt Nam điều bị thiệt hại vì hai nước này làm việc cho xuất cảng.

Thứ Hai 20.10.2008, Trung quốc công khai cho biết rằng độ tăng trưởng Kinh tế của họ từ 11% xuống tới 9% trong Tam Cá Nguyệt thứ ba của năm nay.

Trong Tờ FINANCIAL TIMES, thứ Hai 20.10.2008, Ký giả Geoff DYER tại Bắc Kinh còn trích lời Oâng HA Jiming, Kinh tế trưởng của China International Capital Corporation ỡ Bắc Kinh, tiên đoán rằng độ tăng trưởng Kinh tế Trung công có thể thụt xuống 7.3% (Ha Jiming, Chief Economist at China International Capital Corporation in Beijing, predicts that growth will fall to 7.3 per cent.)

Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe Thứ Hai 20.10.2008 loan tin về tình trạng một số khá nhiều Công ty tại Trung quốc sẽ phá sản. Đặc biệt tờ báo còn loan tin sự phá sản của Công ty sản xuất đồ chơi với 6’500 nhân công làm việc.

Tờ FINANCIAL TIMES hôm nay Thứ Ba 21.10.2008 cho chạy tít lớn ở trang nhất: CHINA GROWTH SLOWS SHARPLY. Cũng vậy, Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm nay thứ Ba cũng đăng bài dài về sự xuống dốc của Kinh tế Trung Cộng với đầu đề THE WORLD FEELS CHINA’S DECLINING GROWTH.

Việt Nam, cùng một thể chế Chính trị với Trung Cộng, cùng một hệ thống Kinh tế làm việc cho xuất cảng, tất nhiên chịu cùng những hậu quả của cuộc Khủng hoảng Tài chánh như tại Trung quốc. Chính Báo Việt Nam đã loan tin tình trạng phá sản tới 20% các Công ty.

Jonathan Manthorpe, Vancouver Sun 13/10/08, đã viết: “Ông Dũng đã giảm bớt sự ước lượng mức tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa trong năm nay xuống còn 7% từ mục tiêu ban đầu là 9%. Nhưng ít nhà kinh tế tin rằng mục tiêu đó thực tế vì mức tăng trưởng chỉ có 6.5% trong 9 tháng đầu năm và triển vọng cho những tháng còn lại thì thậm chí còn tối tăm ảm đạm hơn“.

 
Aûnh hưởng gián tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Xã Hội và Chính trị.

Tình trạng Kinh tế xuống dốc tất nhiên ảnh hưởng tới những vấn đề Xã hội và Chính trị mà hai đảng Cộng sản Trung quốc và Việt Nam phải lo lắng.

Giáo sư TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng. Tại Việt Nam, nhân công cũng từ thôn quê miền Nam, từ những tỉnh miền Trung nghèo khổ và từ những tỉnh miền Bắc kéo về Thủ đô. Khi họ bị sa thải, làm thế nào đẩy họ tở về nguyên quán.

Để giải quyết vấn đề này, Trung ương đảng CS Trung quốc đã họp kín 4 ngày trong tuần vừa rồi. Ký giả GILLIAN WONG, Associated Press Writer Gillian Wong, Associated Press Writer – Sun Oct 12, 11:20 am ET AP, đã viết: “BEIJING – China's ruling Communist Party on Sunday said it would seek to expand its massive internal market to counter the global economic slowdown that has reduced international demand for Chinese goods. The party, led by President Hu Jintao, released a statement at the end of a four-day meeting of its Central Committee where it also approved a plan aimed at doubling rural incomes by 2020.”(Bắc Kinh—Ban Điều hành đảng Cộng sản Trung quốc nói là Trung quốc tìm cách khai triển thị trường nội địa kếch xù của họ để bù trừ vào việc đình trệ của kinh tế tổng quát đã giảm thiểu việc đặt mua hàng của quốc tế đối với hàng hóa Trung quốc. Đảng, lãnh đạo bởi Chủ tịch HU JINTAO, tuyên bố sau 4 ngày họp của Trung ương đảng rằng đảng đã chấp nhận một chương trình nhằm tăng gấp đôi thu hoạch nông thôn vào khoảng năm 2020.”

Đây là chương trình không dễ thực hiện và rất tốn kém bởi vì trong nội địa Trung quốc, phải mất tối thiểu 20 năm nữa mới có thể có một hệ thống đường sá khả dĩ hỗ trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.

Tại Việt Nam, vì quá hồ hởi với việc công nghệ hóa, nên đảng CSVN đã hầu như bỏ quên nông thôn. Đây là điều vô cùng đáng tiếc bởi vì Việt Nam có căn bản địa lý đồng bằng để phát triển mau chóng nông nghiệp.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Bài 3:

TRUNG QUỐC:
Ý ĐỒ THỐNG TRỊ KINH TẾ Á CHÂU

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
09.04.2009

 

Lo sợ tốc độ tăng nhanh của những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes) mà World Bank đã báo động, nhất là từ các nước Tây phương, Trung Cộng tìm về Á châu. Họ xử dụng tiền để mua Thị trường Á châu nhằm giải quyết xuất cảng. Tình trạng ứ đọng hàng hóa tại Trung quốc và nhất là tình trạng thất nghiệp tập thể khiến Trung cộng phải mở cuộc xâm lăng Kinh tế tại Á châu.

Cuộc Họp Thượng Đỉnh G17 Á châu, vì tình hình cuối tuần vừa rồi tại Bangkok, nên đình hõan. Tuy nhiên thâm ý của Trung cộng vẫn được thực hiện.

Bản tin sau đây từ Tân Hoa Xã cho thấy Trung công bắt đầu thực hiện cuộc xâm lăng Kinh tế: xuất cảng hàng chế biến, xuất càng thiết bị và xuất cảng nhân công sang các nước nghèo Á châu, đặc biệt là Việt Nam.


Trung Quốc xử dụng USD.25 tỉ
để xâm lăng Kinh tế các nước nghèo Á châu

Bản Tin: Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 14-4 cho biết, quỹ đầu tư trên sẽ thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nối Trung Quốc với 10 nước thành viên ASEAN, trong khi các khoản cho vay sẽ có thời hạn từ 3 đến 5 năm.

Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực.

Theo ông Dương Khiết Trì, những đề nghị này nhằm phản ánh quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự hợp tác với ASEAN.


Khủng hỏang Kinh tế tòan cầu
Vì quá thổi phồng sản xuất, bắt ép tiêu thụ

Nền Kinh tế Trung Cộng cho đến nay chính yếu là sản xuất những hàng tiêu thụ thông dụng và những linh kiện xuất cảng sang Tây phương Hoa kỳ và Liên Aâu để thu tiền về mau chóng. Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng.

Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế tòan cầu hiện nay bắt nguồn từ Tây phương. Nó không hẳn là chỉ vì sự ung thối của Mortgage Subprime Credits của Hoa kỳ, mà nguyên do tổng quát là những quốc gia giầu G8 đã xử dụng Tài chánh ảo của tương lai để tăng sản xuất những hàng cao cấp, xa xỉ phẩm theo cấp số nhân đã từ 10 năm nay. Những linh kiện cho những hàng cao cấp này và những hàng tiêu thụ hàng ngày lại được tổ chức chính yếu ở Trung quốc do nhân công rẻ, để hạ giá thành mà kiếm lợi nhuận cho mau. Rồi mở rộng phong trào Tòan cầu hóa để chiếm Thị trường bán những sản ấy đến tận cùng Thế giới. Họ xử dụng Marketing theo định nghĩa của KOTLER “Marketing, c’est l’atelier de fabrication des clients“(Marketing, chính là cơ xường sản xuất khách mua hàng) để người tiêu thụ nhắm mắt chi tiêu như robots.

Bộ máy Kinh tế sản xuất cấp số nhân, tòan cầu hóa để chiếm thị trường, bắt ép người tiêu thụ chi tiêu không theo nhu cầu thực mà theo quảng cáo Marketing. Thổi chi tiêu phồng lên như quả bóng, thì sức chịu đựng thổi phồng đến lúc nổ toanh ra tạo cuộc Khủng hỏang hiện nay. Những con robots tiêu thụ trở lại làm người với suy nghĩ về sức hạn hẹp tài chánh tiêu thụ của mình.

Tây phương giảm tiêu thụ, tức là giảm phía CẦU. Cái hậu quả là cắt đi những đặt mua hàng tại những nước sản xuất.

Trung quốc là nạn nhân trực tiếp của Khủng hỏang giảm phía CÂU của Tây phương. Muốn cứu vớt Kinh tế Trung quốc, chính yếu sản xuất cho tiêu thụ, thì phải làm thế nào để tái lập mức độ tiêu thụ của Tây phương. Sau thời gian dài tiêu thụ xả láng, người dân Tây phương bỏ thái độ nhắm mắt tiêu thụ như robots, mà trở lại thành người suy nghĩ tiêu thụ đúng theo nhu cầu (besoins nécessaires). Dân chúng Hoa kỳ và Liên Aâu bắt đầu tăng tiết kiệm. Các xí nghiệp Tây phương giảm đầu tư với Tài chánh ảo, tăng cường thủ thế Tài chánh thực cho tương lai mà cuộc Khủng hỏang hiện nay không cho biết bao giờ Kinh tế mới được vực lại.

Trung quốc sợ hãi nhất là khuynh hướng Che Chở Kinh tế (Protectionism) đang lớn mạnh để cắt giảm hơn nữa việc xuất cảng của họ.


Từ bế tắc xuất cảng sang Tây phương,
Trung Cộng quay về ăn hiếp Á châu

Trong tình trạng bế tắc này đối với Tây phương, Trung quốc nghĩ đến việc Kích Cầu Kinh tế Á châu. Cuộc Họp Thượng Đỉnh 17 quốc gia Á châu (G17 Á châu) dịp cuối tuần này có mục đích vực lại Kinh tế Á châu gồm gần 3 tỉ dân tiêu thụ. Trung cộng cũng như Nhật sẵn sàng giúp đỡ các nước nghèo Á châu khôi phục tiêu thụ.

Nhiều người có thể nghĩ đây là một thiện chí của Trung quốc cũng như Nhật.  Nhưng qua cái “thiện chí“ này, người ta nhìn thấy cái mặt trái tính tóan gồm:

=> Trung quốc có một kho hàng đã sản xuất nhằm bán cho Thị trường Tây phương, nhưng nay bị ứ đọng.
=> Các Xí nghiệp sản xuất Trung quốc hoặc là bị đóng cửa ngưng họat động, hoặc là chỉ họat động 1/3 khả năng. 
=> Số thất nghiệp trở thành tập thể và dễ trở thành cuộc nổi dậy bạo động chống đối nhà cầm quyền.

Vực lại tiêu thụ cho những nước nghéo Á châu có nghĩa là tìm cách bán kho hàng ứ đọng và làm cho các Xí nghiệp Trung quốc tăng họat động. Trung quốc cũng nhằm xuất cảng ngay những Xí nghiệp sang các nước nghèo bằng xuất cảng vốn, thiết bị và ngay cả nhân công thất nghiệp.

Các nước nghèo đang cố gắng tạo nền Kinh tế sản xuất những hàng tiêu dùng hàng ngày cho dân chúng nội địa, thì nếu chấp nhận sự tràn lan xuất cảng hàng hóa cùng lọai của Trung quốc với những xí nghiệp và nhân công Trung quốc đi kèm, thì nền Kỹ nghệ bản xứ của những nước nghèo sẽ bị Trung quốc giết chết.

Việt Nam hiện nay đang chịu cái thảm cảnh này trước các nước nghèo khác. Thực vậy, vì muốn lệ thuộc vào Chính trị của Trung cộng để giữ lấy quyền hành cai trị, nên đảng CSVN đã chấp nhận những điều kiện tính tóan Kinh tế của Trung cộng. Những Dự án Việt Nam bị Trung cộng mua bằng cách chi tiền tham nhũng cho quan chức. Dự án nằm trong tay rồi, Trung quốc xuất cảng thiết bị và nhân công sang Việt Nam. Hàng hóa Trung quốc ứ đọng tràn vào Việt Nam. Những Xí nghiệp Việt Nam không thể sống sót cạnh tranh lại được. Công nhân Trung quốc tràn vào, dân Việt Nam thất nghiệp càng tăng.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 




Bài 4:

CSVN CÚI ĐẦU RƯỚC LẤY
NHỮNG PHẾ THẢI KINH TẾ TỪ TRUNG QUỐC

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 30.04.2009


Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế 2008 có sức tràn lan nhanh chóng như Tsumani, nhưng hậu quả của Khủng hỏang phải có thời gian lâu mới phục hồi. Tại sao hậu quả lại tràn lan mau chóng và sự phục hồi lại cần thời gian lâu mới có thể làm được ? Câu trả lời của chúng tôi sẽ được trình bầy trong những Đọan phân tích dưới đây.

Nếu một số dấu chỉ gần đây của Kinh tế Mỹ, cường quốc Kinh tế đã châm ngòi cho Khủng hỏang, cho thấy ít điểm lạc quan, thì những nước chịu ảnh hưởng như Liên Aâu, nhất là Nhật và Trung quốc vẫn ở trong tình trạng lo lắng đường hầm khá đen tối. Nhật và Trung quốc ít tin ở phía Tây phương có thể cứu mình nhanh chóng vì chính Tây phương còn lớn tiếng kêu gọi Trung quốc và Nhật hỗ trợ trấn an Khủng hỏang và vì thấy rằng những Biện Pháp Che Chở Kinh tế (Mesures Protectionnistes) mỗi ngày mỗi lớn mạnh từ Tây phương theo lời cảnh cáo đồng lọat của World Bank, IMF/FMI và WTO/OMC.

Trong cái thế bí Kinh tế ở đường hầm như vậy, Trung quốc và Nhật đang tìm giải pháp tại Á chấu với khối người trên 3 tỉ. Người ta đã quan sát thấy cái thế đi này của Trung quốc và Nhật. Hai nước này là chính yếu trong việc cho ra đời Qũy Dự Trữ Ngọai Hối Á Châu USD.120 tỉ.  Cuộc Họp Thượng Đỉnh G17 Á-châu  đã được chính thức triệu tập vào cuối tuần 10-12.04.2009 tại Thái Lan. Nhưng chẳng may, những cuộc Biểu tình tại Bangkok đã làm cuộc Họp không thành. Chắc chắn trong cuộc Họp thượng đỉnh này, Nhật và Trung quốc sẽ nhấn mạnh vào “Hội nhập Kính tế Á châu“ mà mặt trái của nó đã được phân tích. Gần đây nhất, tin cho biết rằng Thủ tướng Nhật sẽ sang thăm viếng Bắc Kinh. Có lẽ hai nước sẽ bàn và chia phần việc xâm lăng Kinh tế Á châu.

Chúng tôi phân tích điều tóm tắt trên đây dưới những khía cạnh:

=> Liên đới Kỹ thuật sản xuất hiện đại
=> Cái không may của Trung quốc
=> Bí quá thì phải xì
=> Việt Nam nhục nhã hứng cái xì rác rưởi của Trung quốc


Liên đới Kỹ thuật sản xuất hiện đại

Tôi nói khía cạnh này là để trả lời cho câu hỏi đầu tiên trong phần nhập đề, đó là Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế lan rộng mau chóng như Tsumani, trong khi đó hậu quả Khủng hỏang phải có thời gian dài để phục hồi.

Việc tổ chức sản xuất Kinh tế hiện đại không mang tính cách liên hệ Chính trị, Xã hội, mà dựa trên Kỹ thuật để tìm mối lợi tối đa. Dù có bất đồng quan điểm Chính trị hay Nhân quyền đối với Trung quốc đi nữa, nhưng những Công ty Mỹ, Pháp, Đức... vẫn tổ chức sản xuất tại Trung quốc vì thu được mối lợi tối đa cho họ. Trung quốc có thù Nhật theo câu nói của Bruce LEE về việc cho chó Nhật vào Sở Thú, nhưng không phải Tầu, thì Trung quốc vẫn nhận sản xuất linh kiện rẻ cho các hãng Điện tử của Nhật.

Thời trước đây vào những năm 1930 chẳng hạn, mỗi Công ty sản xuất tối đa những linh kiện cấu thành món hàng cuối cùng của mình. Nhưng ngày nay, các Công ty sản xuất làm việc trong hệ thống Liên đới Sản xuất Linh kiện. Linh kiện là những bộ phận riêng lẻ để cấu tạo thành món hàng cuối cùng mang nhãn hiệu của Công ty. Tỉ dụ chiếc máy điện tử Toshiba của Nhật, nhưng một số những bộ phận cấu thành (linh kiện) lại được sản xuất tại Trung quốc, Việt Nam hay Mã Lai. Hệ thống Liên Đới Sản xuất Linh kiện được gọi theo tiếng Tây là “Système de Sous-Traitance des Pìeces détachées“. Một món hàng cuối cùng để bán cho người tiêu thụ được chia thành những bộ phận nhỏ (linh kiện). Những bộ phận này giao cho một Công ty chuyên môn sản xuất. Hệ thống Liên đới Sản xuất Linh kiện như vậy cho phép nền Kinh tế hai cái lợi rõ rệt:

* Công ty chuyên môn sản xuất một Linh kiện có thời giờ kiện tòan Linh kiện (Spécialisation et Perfectionnement de la Pìece détachée).

* Khi chuyên môn sản xuất một Linh kiện, thì Công ty trước hết đỡ tốn kém trang bị máy móc sản xuất (Installation des équipements), sau đó họ có thể tăng lượng sản xuất để làm giảm chi tiêu ban đầu cho những máy móc trang bị (Minimisation des Couts fixes d’Installation initiale).

Nếu lợi dụng được giá nhân công rẻ, thì giá thành linh kiện lại còn giảm xuống hơn nữa.

Mặc dầu vẫn biết rằng Trung cộng đàn áp Nhân quyền và không thích gì thể chế Chính trị của Trung quốc, nhưng những Công ty vẫn giao cho Trung cộng sản xuất trong hệ thống Liên Đới Sản Xuất Linh kiện nhằm giảm giá thành và bán món hàng cuối cùng tại Tây phương với giá cao để thu lợi tối đa. Nhật là một nước sản xuất High Tech, nhưng linh kiện lại giao cho Trung quốc.

Tổng thể trên Thế giới, nhất là cho các nước Tây phương tiêu thụ, Nhật và Trung quốc là hai trung tâm sản xuất Á châu rất quan trọng trong một hệ thống Liên Đới Sản xuất (Système de Sous-Traitance de Production).

Chính cái hệ thống Liên Đới Sản xuất này mà khi Thế giới, nhất là Tây phương, giảm phía CẦU hàng hóa tiêu thụ, thì hậu quả Khủng hỏang Kinh tế lan sang Trung quốc và Nhật ngay tức khắc. Việc lan tràn Khủng hỏang như Tsumani là do sự Liên Đới Sản xuất này. Việc phục hồi Kinh tế của hai trung tâm sản xuất Nhật và Trung quốc phải có thời gian dài vì nó tùy thuộc vào việc tăng phía CẦU của Thế giới, nhất là của Tây phương, vềï hàng hóa cuối cùng sẵng sàng để tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).


Cái không may của Trung quốc

Trong phần phân tích trên đây về hệ thống Liên Đới Sản xuất, chúng tôi nói đến Nhật và Trung quốc. Nhưng từ phần này, với sự hạn hẹp của bài báo và với sự quan hệ thời điểm với Việt Nam, nên chúng tôi tạm để một bên phần phân tích về Nhật, mà chỉ nói đến trường hợp Trung quốc.
 
Ở phần mở bài, chúng tôi nói rằng có một số dấu chỉ cho thấy phần lạc quan về phía Cầu từ Hoa kỳ. Đây là niềm hớn hở cho Trung quốc hơn ai khác. Nhưng sự hớn hở ấy không lâu bởi vì báo THE WALL STREET JOURNAL ngày hôm nay, thứ Năm 30.04.2009, đăng ở trang nhất một bài với đầu đề là US ECONOMY SINKS AGAIN (Kinh tế Hoa kỳ lại chìm xuống). Báo giới Aâu châu mang hy vọng, nhưng đã phải đăng tải :“Le déclin de 6.1% de l’économie américaine !“(Sự xuống giốc 6.1% của Kinh tế Mỹ“ (Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ), thứ Năm, ngày 30.04.2009, trang 17).

Hàng hóa của Nhật thuộc High Tech và có tính cách cạnh tranh với chính hàng hóa sản xuất tại Tây phương khi có phục hồi Kinh tế. Nhưng hàng hóa Trung quốc thuộc lọai Low Tech, việc phục hồi Kinh tế Trung quốc không dễ dàng.

Thực vậy, Trung quốc là một trung tâm sản xuất, nhưng việc sản xuất qui tụ vào những hàng hóa sau đây:

=> Linh kiện phục vụ cho những hàng tiêu thụ giữ bản quyền tại Tây phương hoặc Nhật. Khi hàng chính Tây phương và Nhật giảm phía cầu tiêu thụ, thì những Công ty Liên quốc gia (Multinationales) giảm hẳn việc đặt mua hoặc sản xuất linh kiện từ Trung quốc.

=> Những hàng hóa Low Tech phục vụ tiêu thụ thông dụng hàng ngày như chổi quét nhà, rổ rá để bánh mì, dù che tắm biển vân vân...  Những hàng hóa này bị cắt đi dễ dàng.

=> Hàng may dệt: vải vóc, chăn mền, quần áo rẻ tiền, dầy dép thường nhật vân vân. Khi bị khủng hỏang, người ta có thể dùng lại đồ cũ

=> Đồ chơi cho trẻ em. Khi khủng hỏang khó khăn, người ta có thể bắt trẻ em chơi lại đồ cũ chất đầy ắp trong kho.

=> Thuốc men và đồ ăn động chạm đến sức khỏe. Những chế biến mang chất độc của Trung quốc đã làm Thương Hiệu của Trung quốc về những hàng này giảm hẳn xuống. Khi heo ở Việt Nam bị chết, người ta hỏi tại sao không chích thuốc đề phòng? Câu trả lời của nông dân rằng đã chích thuốc, mà heo vẫn chết. Hỏi thuốc nào và từ đâu. Họ trả lời đó là thuốc từ Trung quốc. Vậy thì heo càng chết mau hơn ! Một số nước nghèo Phi châu đã bắt đầu sợ thuốc Trung quốc !

Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế của Tây phương thực sự đã cắt việc mua hàng thường dùng hoặc linh kiện từ Trung quốc xuống 70%.

Họat động Kinh tế tập trung vào một chế độ độc tài với tất cả những quy họach bền vững của đảng, nhưng Kinh tế tùy thuộc vào phía CẦU theo hướng phân tích của KEYNES, một yếu tố tùy thuộc người khác nhất là những người có tự do quyết định tiêu thụ. Nếu ở thời kỳ hòan tòan Cộng sản mà Nhà Nước có tòan quyền quy họach cả TIÊU THỤ, thì Trung cộng có thể không bị nạn như ngày nay. Nhưng quy họach sản xuất tập trung của Trung cộng đã gặp phải quyền TỰ DO TIÊU THỤ của Tây phương. Cái không may hay cái không ngờ ngu dốt của độc tài sản xuất Trung cộng là ở chỗ đó.


Bí quá thì phải xì

Trong phần này, chúng tôi phân tích CÁI BÍ Kinh tế Trung cộng ở chỗ nào và CÁI XÌ của Trung cộng ra đâu.

Tình trạng CÁI BÍ của Kinh tế Trung cộng như sau:

=> Ngay từ World Economic Forum Davos 2009 (WEF Davos), Trung quốc đã bầy tỏ sự lo lắng về Che Chở Kinh tế (Protectionnisme/Protectionism) và kêu gọi hãy chống lại việc Che Chở Kinh tế này. Khi Obama tuyên bố “Buy America) và Sarkozy không muốn hãng Renault chuyển nhà máy sang Cộng Hòa Tcheque, thì Trung quốc thấy cái mầm Che Chở Kinh tế sắp mọc thành cây.  

=> Sự lo lắng từ thời WEF 2009 đã trở thành sự thật. World Bank, rồi IMF/FMI và WTO/OMC xác nhận một sự thật phũ phàng về Che Chở Kinh tế hiện ra: 66 Biện Pháp Che Chở Kinh tế (Mesures Protectionnistes) đã có thực từ những nước Tây phương. Con ma Che Chở Kinh tế hiện ra nguyên hình và trở thành ông Ngáo ộp hù dọa cho xuất cảng của Trung cộng. Ngay cả Aán Độ, với 1,1 tỉ dân, đã công khai cấm nhập cảng đồ chơi từ Trung quốc.

=> Trong cuộc Họp ASEM Bắc Kinh và trong cuộc Họp G20 Luân Đôn, Trung quốc nhận thấy phía Tây Phương yếu kém về Kích cầu Kinh tế bởi vì mỗi nước lo riêng cho số phận của mình mà nước nào cũng có Ngân Sách thiếu hụt. Cuộc Họp G20 tại Luân Đôn như là cứu tinh, nhưng nói đến sự đóng góp cho IMF số tiền USD.1000 tỉ để giài quyết Kinh tế, thì nước nào cũng hứa suông. Obama thì tuyên bố đầy những chương trình lớn chuyện giống như một sinh viên mới xuất thân Đại học, bầy đủ thứ Flow Charts vẽ vời rất đẹp. Sarkozy thì choi choi khoa tay múa chân như anh hùng Thế giới, nhưng không dám quay về nước Pháp để giải quyết những vấn đề căn bản của nước mình mà ông là Tổng thống.

=> Trên đây là những cái bí cho Trung quốc từ những nước ngòai. Tại Lục địa Trung quốc, không thể phủ nhận những cái bí sau đây mà báo chí nước ngòai nói ra, dù Trung cộng bưng bít:

* Những phản kháng của dân nghèo lên tới 80'000 lần mỗi năm

* Nhân công du mục thất nghiệp tập thể phải về đồng quê. Ngành xây cất hầu như thải nhân công đến 90%.

* Điều quan trọng là sinh viên ra trường thất nghiệp. Quan trọng vì việc nổi dậy từ phía sinh viên, thì tình trạng căng thẳng xã hội trở thành nguy hiểm cho chế độ. Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm qua, thứ Tư 29.04.2009, đăng bài của Ian JOHNSON, từ Nanjing, dài trên hai trang đẫy (pp.20-21), với đầu đề CHINA FACES GLUT OF GRADUATES (Trung quốc đối diện với sự tràn đầy những người có bằng cấp). Tờ báo nói mỗi năm có 6.1 triệu sinh viên ra trường mà gặp cảnh thất nghiệp lan tràn tập thể. Tờ báo viết “Up to one-third of last year’s 5.6 million university graduates are still looking for work, and this year will see another 6.1 million hit the labor market.“ (p.20) (Đến một phần ba của 5.6 triệu sinh viên ra trường vẫn còn phải đi kiếm việc, và năm nay sẽ còn thấy 6.1 triệu nữa đang phải vật lộn với thị trường nhận lực.)    

* Về tình trạng đầu tư trực tiếp từ nước ngòai, đà xuống dốc vẫn tiếp tục. Trong báo THE WALL STREET JOURNAL, ngày 16.04.2009, Aaron BACK và Victoria RUAN, dưới đầu đề INVESTMENT IN CHINA SLOWS (Đầu tư vào Trung quốc chậm lại), viết như sau:“BEIJING—Foreign investments in China continued to fall in March, new figures indicate, as many companies cut back expansion plans during the global downturn. Foreign direct investment in China dropped 9.5% in March from year earlier“ (p.25) (BẮC KINH—Những đầu tư nước ngòai vào Trung quốc tiếp tục tụt xuống vào tháng Ba như những con số cho thấy, vì nhiều Công ty cắt bỏ những chương trình mở rộng trong thời đi xuống tổng quát. Đầu tư trực tiếp nước ngòai vào Trung quốc tụt xuống 9.5% vào tháng Ba sánh với năm trước.).

* Không có đầu tư mới, và không họat động vì xuất cảng giảm mạnh, các Công ty gặp tình trạng tự động thua lỗ và máy móc thiết bị mỗi ngày mỗi mất hiệu lực hiện đại. Thực vậy, trước đây, Trung quốc đã trang bị nhà máy bằng những thiết bị “second hand“ mua và sửa lại từ Aâu châu. Bây giờ thiếu đầu tư đổi mới, những nhà máy càng ngày càng trở thành cũ kỹ, mất hiệu lực cạnh tranh hiện đại. Cách đây chừng hai chục năm, chính chúng tôi đã biết một cơ xưởng lớn tại Zurich Thụy sĩ chỉ chuyên sửa chữa lại máy second hand để bán cho Trung quốc. Một tỉ dụ điển hình là máy móc và phương pháp khai thác Bauxite tại Tây Nguyên là phương pháp ướt đã lỗi thời.

Với những CÁI BÍ trên đây, Trung cộng buộc lòng phải tìm cách làm những CÁI XÌ điều bí ra ngòai. Trước hết, tại nội địa, các Công ty không thể tiêu thụ hết những hàng hóa ứ đọng vì tụt dốc xuất cảng và vì khối dân khổng lồ của Trung quốc thiếu khả năng mua hàng (pouvoir d’achat). Các Công ty không thể phát không hàng hóa cho dân chúng vì họ bị thua lỗ, nhất là không bao giờ họ có thể làm cho giá hàng tăng lên, yếu tố kích thích sản xuất. Trong khi ấy, vì tình trạng giảm CẦU của Tây phương, họ không thể nào XÌ kho hàng ứ đọng sang Mỹ hay Liên Aâu.

Việc giải quyết những CÁI BÍ của Trung quốc là tìm cách XÌ những CÁI BÍ ấy sang các nước nghèo Á châu, nhất là các nước thuộc khối ASEAN. Người ta gọi đây là tham vọng bành trướng Kinh tế Trung quốc ra các nước Á châu, hay đúng hơn phải gọi đây là Trung quốc tìm cách XÌ những rác rưởi trên đầu các nước nghèo Á châu khi mà Trung quốc chứa đầy dẫy những CÁI BÍ của mình.

Trung quốc đã phải bỏ ra USD.25 tỉ, USD.10 tỉ dưới dạng giúp đỡ kích cầu Kinh tế và USD.15 tỉ dưới dạng cho vay để có thể mua chuộc những nước nghèo Á châu chấp nhận những CÁI BÍ mà Trung quốc XÌ ra. Thực vậy, Trung quốc có thể dùng tiền hối lộ để những lãnh đạo các quốc gia nghèo chấp nhận những gì sa thải ra từ Trung quốc:

* Việc trước hết, Trung quốc xuất cảng những hàng hóa ứ đọng sang các nước nghèo lân cận. Những lãnh đạo tham nhũng chấp nhận cho những hàng hóa này vào nước mình, mặc dầu biết đây là phạm vào cái tội giết chết nền Kinh tế của chính nước mình. Trung quốc được phép mở thêm những khu thương mại China Towns tại những nước nghèo.

* Việc thứ hai là Trung quốc đấu thầu để dành lấy những Dự án tại các nước nghèo. Những Dự án này giúp Trung quốc thải những nhà máy cũ, bán thêm thiết bị cho những nước đã cho Trung quốc trúng thầu.

* Việc thứ ba là giải quyết nạn thất nghiệp tập thể tại Trung quốc. Giống như Dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên, Trung quốc sẽ xuất cảng lao công sang các nước nghèo với những Dự án đã trúng thầu vì đút lót hối lộ. Nhân công tại những nước nghèo đang cần việc làm, nhưng những lãnh đạo đã ăn hối lộ không cần biết đến dân chúng của mình, mà chấp nhận cho công nhân Trung quốc tự do vào chiếm việc.

* Việc thứ tư là giải quyết lớp sinh viên thất nghiệp mỗi năm tăng lên trung bình 6 triệu. Ngày nay, Trung quốc nói là xuất cảng lao công, nhưng trong tương lai, họ phải xuất cảng chuyên viên, trí thức từ những Đại học. Họ cho ra ngòai làm việc để giải quyết căng thẳng xã hội từ giới trẻ trí thức thất nghiệp có thể nguy hiểm cho chính chế độ.


Việt Nam nhục nhã hứng
cái xì rác rưởi của Trung quốc

Có bốn cái lý do để cắt nghĩa những Lãnh đạo Việt Nam nhục nhã cúi đầu hứng chịu những rác rưởi mà Trung quốc XÌ xuống:

1) Lãnh đạo đảng CSVN, vì quá cố thủ bám lấy quyền hành độc tài Chính trị, mà phải cúi đầu chấp nhận sự sai bảo của Trung quốc để nước này bảo trợ cho quyền hành Chính trị của mình. Tỉ dụ điển hình: cúi đầu chấp nhận mất Biên giới, Hòang Sa, Trường Sa, Biển Đông mà không dám hé họng nói điều gì. Thậm chí còn theo lệnh của Tầu đàn áp lòng yêu nước của người Việt Nam.

2) Trung quốc không những bao che cho quyền lực mà còn dùng tiền để thỏa mãn tham nhũng để có được tất cả những dễ dàng việc tràn lan hàng ứ đọng của Trung quốc xuống Việt Nam. Việt Nam trở thành một tỉnh tiêu thụ hàng hóa của Tầu. Nghĩ đến việc người Việt tỵ nạn gửi tiền về cho thân nhân để tiêu thụ những rác rưởi mà Tầu thải xuống, thật là đau lòng.

3) Mỗi dự án của Việt Nam đều có “gói quà Đo-la“ kèm theo. Trung quốc bỏ ra USD.10 tỉ để trích ra làm quà. Nhận quà và cúi đầu dâng Dự án, đó là nối giáo cho giặc để giặc xuất cảng nhân công và thiết bị sang Việt Nam. Những nhà máy cũ của Tầu sẽ được chuyển sang Việt Nam.

4) Liên hệ với các Lãnh đạo đảng là những con cháu hay bạn bè trước đây du học tại Trung quốc. Du học tại Bắc Kinh, có những người đã lập gia đình với người Tầu, hoặc vợ hoặc chồng. Chính những người này làm môi giới, hoặc liên doanh buôn bán hàng hóa Tầu hoặc lấy Dự án cho Trung quốc.


Thâm ý xa thải rác rưởi Kinh tế Trung quốc cho những nước nghèo Á châu, nếu có những trở ngại tại Phi-luật-tân, Nam Dương... chẳng hạn, thì nó rất dễ dàng thực hiện cho Việt Nam bởi vì Lãnh đạo đảng CSVN đã trở thành đầy tờ bán ngay Lãnh Thổ và Lãnh Hải của Tổ Tiên cho Trung quốc rồi.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Bài 5:

VIỆT NAM: YẾU CẠNH TRANH TRONG WTO,
CÒN BỊ CHE CHỞ MẬU DỊCH DO KHỦNG HỎANG

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Bài này viết về những cái hại tổng quát. Khi viết loạt bài này và có thể những loạt bài kết tiếp để khai triển thêm những chi tiết, tôi muốn cho thấy rằng chính những đòi hỏi Phát triển Kinh tế tương lai bắt buộc phải phế bỏ chế độ độc tài CSVN hiện nay. Khi tôi nói là phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành, đó không phải là việc tôi đòi hỏi hoặc “làm chính trị“. Đó chỉ là đòi hỏi của những điều kiện phát triển thuần túy Kinh tế mà thôi.

Khi nhập WTO, cơ hội phát triển Kinh tế, trước hết có NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Bài này sẽ đề cập đến hai phần như sau:

=> Những cái hại gặp phải khi vào WTO/OMC
=> Những biện pháp chống lại những cái hại.


NHỮNG CÁI HẠI GẶP PHẢI
KHI VÀO WTO/OMC

Vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC), nghĩa là Việt Nam nhập vào Cạnh tranh của Thị trường tự do. Nói đến Cạnh tranh, việc trước hết là phải biết mình có khả năng có thể cạnh tranh với người khác hay không, nếu không người khác sẽ đánh cho mình chết trong trứng nước hoặc lụn bại luôn. Việc cạnh tranh là ở chính trên nước mình, chứ không phải là Thị trường quốc tế tại những nưỡng nước khác. Dường như CSVN sống trong mơ mộng rằng vào WTO/OMC là đi hốt bạc tại những nước khác, mà quên đi rằng những nước khác có quyền vào chính nước mình để thu bạc đem ra.

Khả năng cạnh tranh của Việt Nam

Yêu cầu chế độ đừng ngông nghênh kiêu ngạo tự khen mình, coi mình như nhất nhì thiên hạ. Tôi còn nhớ câu chuyện một Tùy viên Quân sự của Sứ quán Việt Cộng bên cạnh Liên Hiệp Quốc nói với tôi rằng: “Thế Giới có 5 Tướng tài, Việt Nam chiếm 3“. Tôi nhịn cười không được bởi vì thấy ông ấy nói thành thực và ngây ngô chứ không phải là nói diễu chơi cho vui. Vấn đề vào WTO/OMC không còn phải là tự khoe mình ngông nghênh, tuyên truyền cho chế độ nữa. Vào WTO/OMC là vấn đề tiền bạc thực tiễn: cạnh tranh không nổi thì mất tiền, cạnh tranh thắng thì có tiền. Còn nếu chỉ nhằm khoe khoang, mơ mộng, thì chết đói. Đó là thực tiễn, chứ không dỡn chơi.

Nếu xét về việc tiến triển phần nào Kinh tế hiện hành, đó là nhờ sự đấu tranh Kinh tế của khối tư doanh và nhờ chính yếu nguồn ngoại tệ từ phía Việt kiều. Một số người nhìn sự tiến triển ấy, đã lầm lẫn hoặc cố ý nịnh đầm, đã cho rằng đó là công của CSVN. Nói như vậy là không hiểu gì về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Dân làm Kinh tế và phát triển Kinh tế, chứ không phải quyền lực Chính trị. Khối Cộng sản đã chủ trương làm Kinh tế để bao cấp Dân và họ đã hoàn toàn thất bại đến chỗ Dân đòi lại quyền làm chủ Đất Nước để nắm trong tay quyền làm ăn phát triển Kinh tế.

Tại Việt Nam, Dân nghèo phải làm ăn để có đủ sống. Họ nhờ nguồn tài trợ từ khối người Tỵ nạn thương gia đình còn ở lại. Khi phải tự mình kiếm sống, họ phải tìm đủ mọi cách tránh né sự áp chế, dành quyền kinh tế từ những Công ty quốc doanh. Khi phải tự mình kiếm sống, họ đã phải cay đắng cho CSVN ăn bẩn, ăn thỉu để có thể có việc làm, có cơ hội doanh thương tự họ. Khi phải tự mình kiếm sống, người Dân đã phải cay đắng nhận những đồng lương bóc lột mà CSVN bán họ cho nước ngoài và ăn hớt tiền trên sức lao động của họ. Nhìn như vậy, xin hãy nói cho đúng rằng nếu có những tiến triển kinh tế hiện nay, thì đó là từ  sự cố gắng vượt mực của Dân. Chính CSVN đã cản mũi kỳ đà sức cố gắng phát triển này của người Dân. Những ai há mõm khen CSVN làm cho Kinh tế phát triển một phần hiện nay, đó là những người nói ngu xuẩn, thiếu học về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Tôi thẳng thắn nói vậy và sẵn sàng trả lời những ai ngu xuẩn khen tặng CSVN một cách nịnh đầm vô lương tâm và hèn hạ.

Sự phát triển kinh tế một phần hiện nay chưa cho phép Việt Nam tự hào rằng mình đã có đủ lực cạnh tranh trên Thị trường quốc tế. Vào WTO/OMC phải cấp tốc đẩy mạnh những gì đã có một phần phát triển. Việc đẩy mạnh này thiết yếu đòi phải dành quyền cho Dân bởi những phát triển kia là từ sức cố gắng của Dân, chứ không phải từ quyền lực CSVN, một quyền lực cản mũi kỳ đà cho phát triển.

Hàng hóa quốc tế diệt hàng hóa Việt Nam
tại chính nước mình

Trên đây, chúng tôi nói tổng quát đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong đoạn này, chúng tôi nhìn xem những hàng hóa nước ngoài diệt chính hàng hóa Việt Nam tại quốc nội như thế nào. Trong đoạn tiếp theo, chúng tôi quan sát khả năng cạnh tranh của những hàng hóa Việt Nam bên cạnh những hàng hóa nước ngoài trên Thị trường quốc tế.

=> HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP

Chúng tôi đã nhiều lần nói đến sự cạnh tranh chính yếu đến từ Thái Lan. Nguồn sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp (Conditions géographiques—Ressources naturelles) giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam. Nhân lực làm việc (Conditions démographiques) về những ngành này cũng không khác gì nhau. Nhưng có sự khác biệt rất rõ rệt về điều kiện Chính trị—Pháp lý (Conditions Politico-Juridiques): một đàng (Thái Lan) dành phần khai thác cho Tư nhân, một đàng (Việt Nam) dành cho quốc doanh (người của độc đảng) những quyền khai thác, bóc lột ưu tiên. Ai cũngt biết rằng khi việc khai thác nằm trong tay quyền lực Chính trị, thì không thể không có lãng phí và tham nhũng được bao che, và do đó năng xuất khai thác không thể nào được phát triển như trong Điều kiên Chính trị—Pháp lý Dân chủ.

Trong việc khai thác, hai yếu tố chính sản xuất là Vốn và Nhân lực (K: Capital, L:Labour). Nếu nhân lực sản xuất giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam, thì có sự chênh lệch rất rõ rệt việc đầu tư Vốn vào hai ngành nông nghiệp va ngư nghiệp giữa hai nước: Thái Lan đầu tư vốn 8 lần hơn Việt Nam vào hai ngành này.

Hiện nay, mặc dầu chưa vào WTO, mà hàng nông nghiệp và ngư nghiệp của Thái Lan đã cạnh rất ưu thế tại chính Việt Nam. Những hàng nông nghiệp của Thái Lan như gạo, trái cây... được coi là hàng sang và đã lan tràn ở Việt Nam. Dân Việt mua gạo Thái để ăn, mua trái cây của Thái để cúng vái, để ăn những dịp lễ. Những hàng gia vị của Thái cũng đang lan tràn tại chính quốc nội.

=> HÀNG KỸ NGHỆ BIẾN CHẾ NÔNG PHẨM VÀ NGƯ PHẨM

Việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ biến chế những sản phẩm này tại chỗ. Không có Kỹ nghệ này tại chỗ, thì rất khó phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp. Những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm nhằm nối dài thời gian xử dụng trong tương lai (thời gian) và mở rộng địa vực xử dụng đến những nơi không có những hàng nông nghiệp và ngư nghiệp (không gian). Tỉ dụ, nước Ý có kỹ nghệ làm Cà Chua Hộp để nâng đỡ việc trồng Cà Chua, nếu không Cà Chua dễ thối.

Kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tại Việt Nam, xứ có nguồn dồi dào về ngư nghiệp và nông nghiệp, lại thua kém hẳn Thái Lan, Tân Gia Ba và Đài Loan. Như vậy, những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tràn vào Việt Nam và cạnh tranh trong phần thắng.

=> HÀNG CÔNG NGHỆ THÔNG DỤNG HÀNG NGÀY

Đây là những hàng công nghệ thường dùng hàng ngày. Những hàng này không thuộc loại hàng hóa phức tạp (Produits sophistiqués) cần phải có một trình độ kỹ thuật cao. Tỉ dụ như bát đĩa, xoong chảo, nồi cơm điện, xe hai bánh, quạt máy, phích nước..., đó là những đồ công nghệ thông dụng hàng ngày.

Hiện nay, ngay chưa nhập WTO, những hàng này đang diệt những hàng tương tự sản xuất tại Việt Nam. Nhà Nước Việt Nam mới tuyên bố rằng khi vào WTO, những hàng này của Trung Cộng còn được giảm xuống 16% nữa cho thuế nhập cảng. Như vậy khả năng những hàng này cũa Tầu diệt hàng Việt Nam càng tăng lên hơn nữa.

Tại sao Trung Cộng có khả năng cạnh tranh cao về những hàng công nghệ này ? Trong sản xuất, việc cạnh tranh là giá thành của hàng hóa. Muốn hạ giá thành, thì phải tăng số lượng sản xuất. Trung Cộng có khả năng tăng lượng sản xuất vì họ có khối lượng dân số 1 tỉ rưỡi. Hàng sản xuất không sợ ứ đọng vì đã có khối dân không lồ bảo đảm việc tiêu thụ hết hàng hóa.

=> HÀNG KỸ NGHỆ MÁY MÓC CAO & PHỨC TẠP 

Những hàng Kỹ nghệ Máy móc cao và phức tạp (Produits sophistiqués) hầu như chưa phát sinh tại Việt Nam, nên chưa nói đến việc cạnh tranh được. Việt Nam mới bắt đầu sản xuất thuê những linh kiện (pìeces détachées) cho những Công ty nước ngoài, chứ chưa ở mức độ sản xuất những máy móc phức tạp (Produits sophistiqués) như sản phẩm cuối cùng sẵn sàng cho tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).

Việc cạnh tranh những hàng hóa này là việc cạnh tranh xử dụng Kỹ thuật tân tiến và cao (Haute Technologie moderne). Muốn có những Kỹ thuật tân tiến và cao, thì phải đầu tư những số Vốn lớn. Việt Nam chưa có khả năng Vốn lớn đầu tư, vì vậy hàng hóa trong phạm vi này không thể có khả năng cạnh tranh, thậm chí chưa sinh ra.

Những máy móc cao và phức tạp của những nước chung quanh sẽ tràn vào và diệt hàng Việt Nam trong trứng (chưa sinh ra). Những nước này là: Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, ngay cả Thái Lan và Mã Lai.

=> NHỮNG DỊCH VỤ (SERVICES)

Dịch vụ đầu tiên là Dịch vụ Phân phối hàng hóa (Thương mại). Khi vào WTO, những Tổ chức phân phối đa quốc gia (Chaines de Distribution Multinationales) có quyền mở rộng Thị trường phân phối tại Việt Nam. Nếu không vào WTO, những Tiểu thương hoặc những Nhà phân phối quốc nội được che chở phần nào trước sức mạnh của những Tổ chức phân phối đa quốc gia. Khi vào WTO, những Tổ chức này dễ dàng bóp chết hệ thống phân phối quốc nội vì những Tổ chức đa quốc gia này có số vốn khổng lồ để che chở việc cạnh tranh bán hàng hóa.

Ngoài Dịch vụ Phân phối hàng hóa, còn nhưng Dịch vụ độc lập khác như Kiểm Toán, Bảo Hiểm, Nha sĩ, Bác sĩ... Nếu những Dịch vụ này hiện diện ở Việt Nam vì phải tôn trọng Tự do lưu thông hàng hóa và dịch vụ khi vào WTO, thì sự cạnh tranh rất là gay gắt cho những dịch vụ từ người Việt tại quốc nội. Dân Việt chọn lựa những Dịch vụ từ người nước ngoài vì có nhiều những tin tưởng hơn (!). Tỉ dụ chọn Kiểm toán nước ngoài hơn là Kiểm toán quốc nội; chọn Bảo Hiểm ngoại quốc có nhiều tin tưởng hơn...

Hàng hoá Việt Nam thua kém cạnh tranh
trên Thị trường quốc tế

Ở đoạn trên, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh quan trọng nhất, đó là những hàng hóa nước ngoài  cạnh tranh với những hàng hoá Việt Nam hoặc diệt chính những hàng hóa Việt Nam trên lãnh thổ của Quê Hương mình.

Trong đoạn này, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi đứng bên cạnh hàng hóa các nước khác trên Thị trướng quốc tế:

=> Hàng nông nghiệp và ngư nghiệp

Nói ngay đến khối người Việt tỵ nạn, họ đã phải tiêu thụ hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Thái Lan trong 30 năm rồi. Trong thị trường quốc tế về hàng nông nghiệp và ngư nghiệp, còn phải kể đến những nước cạnh tranh khác: Nam Mỹ, các nước Đông Aâu, Aân độ, Nam Dương.

=> Hàng kỹ nghệ chế biến nông phẩm và ngư phẩm

Việt Nam chưa sánh được ngay cả với những nước trong vùng như Đài Loan, Tân Gia Ba, Thái Lan, Mã Lai..., huống chi nói đến những nước đã mở mang trên Thế Giới. Những nước nông nghiệp, chăn nuôi như Nam Mỹ, đang mở mang mạnh kỹ nghệ chế biến thực phẩm. Đông Aâu đang mở mang mạnh về những kỹ nghệ biến chế thực phẩm này. Những nước tân tiến như Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha...cần mở mang những kỹ nghệ biến chế nông phẩm này để nâng đỡ phát triển nông nghiệp của họ.

=> Hàng công nghệ thường dùng

Hàng Trung Cộng đang tràn lan. Việt Nam khó cạnh tranh với Trung Cộng về những hàng hóa thông dụng hàng ngày này.

=> Những máy móc cao và phức tạp

Không thể có, lúc này, sự cạnh tranh của Việt Nam ở Thị trường quốc tế về những máy móc. Tôi chưa thấy có chiếc Ti-Vi “made in Vietnam“ bán ở Thị trường Thụy sĩ.

=> Những Dịch vụ (Services)

Đến bao giờ mới có Dịch vụ Kiểm toán Việt Cộng ở Thị trường Pháp, Đức... ?

NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG LẠI
NHỮNG CÁI HẠI

Phần trên đây phân tích về những điểm yếu, những cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO/OMC. Phần này nói đến những biện pháp nào để mong tránh hoặc ngăn chặn những cái nguy hại có thể xẩy ra.

Mặc dầu vào WTO rồi, nghĩa là phải thi hành Tự do Giao thương, nhưng có biện pháp nào tránh né cái Tự do đó hay không trong việc cạnh tranh? Đó là biện pháp tiêu cực.

Nhưng chúng ta phải nghĩ đến những biện pháp tích cực nhằm tăng cường cho chính khả năng cạnh tranh của mình.

Quyền che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh

Mặc dầu vào WTO, một Tổ chức luôn cổ võ Tự do Mậu dịch, cổ võ việc dành cho nhau Điều khoản “Quốc gia tối ưu đãi“ (Clause de la nation la plus favorisée), nghĩa là tuyên bố tình yêu với nhau, quyền Che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh vẫn được tôn trọng.

Đứng về mặt nguyên tắc và lý thuyết, Tự do Mậu dịch (Le Libre Echange) vẫn không khai trừ nguyên tắc Che Chở cho Kỹ nghệ đang phát sinh (Le Protectionnisme des Industries naissantes). Về nguyên tắc này, chúng tôi đã mới nói trong cuộc Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale).

Nhân sự va chạm giữa CNUCED và WORLD BANK trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc qua cuộc Hội Nghị nhận định về sự phát triển của những nước nghèo hoặc đang mở mang, ngày 13.09.2006, Đài RADIO FRANCE INTERNATIONALE (RFI) phỏng vấn tôi về 4 câu hỏi:

1) Tại sao Trung Cộng có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Quốc tế ? CNUCED coi đây là một sự thành công mà các nước kém mở mang có thể học đòi theo, đồng thời công kích Ngân Hàng Thế Giới đã trợ lực tài chánh cho các nước nghèo mà hiệu quả không gặt hái được cụ thể.

2) Vậy các nước nghèo có thể áp dụng được chính sách xuất cảng hàng hóa mà Trung Cộng đã áp dụng hay không ?

3) Tại sao chính sách hỗ trợ tài chánh cho những nước nghèo mà Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) chủ trương trong nhiều năm nay lại không đưa đến những kết quả tốt cụ thể?

4) Nhận xét về hậu quả như thế nào khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) ?

Tôi đã trả lời về 4 vấn đề này và Đài RFI đã phát thanh về Việt Nam ngày Thứ Năm 14.09.2006, trong chương trình từ 15g-16g (giờ Paris). Xin vào RFI để nghe:

     http://www.rfi.fr/langues/statiques/rfi_vietnamien.asp   

Tôi đã trả lời về 4 vấn đề nêu ra trên đây. Câu hỏi thứ tư liên hệ đến Việt Nam khi vào WTO. Chúng tôi đã khai triển câu hỏi này trong phần trên đây, vì vậy chúng tôi không nhắc lại trong phần này nữa mà chỉ nhấn mạnh đến cái Quyền Che chở Kỹ nghệ đang phát sinh mặc dầu Việt Nam vào WTO với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) để chúng ta tìm cách che chở những cái thiệt hại cho nước mình khi mình thiếu khả năng cạnh tranh.   

=> Trả lời cho câu hỏi 1

Nếu CNUCED coi đây là một Mô hình Kinh tế sáng kiến bởi Trung Cộng, thì đó là không đúng. Đây chỉ là một Chính sách Thương mại quốc tế mà những nước kém mở mang có quyền Bảo vệ những ngành Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Chủ trương này không phải là sự phát minh của Trung Cô.ng. Việc chủ trương bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này đã có trong Lịch sử Thương mại của những nước tư bản. Sau Cách mạng Kỹ nghệ của Anh quốc, nước này trở thành mạnh nhất Thế giới (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20) và muốn chiếm Thị trường quốc tế, đã kêu gọi và cực lực thuyết minh cho Chính sách Tự do Mậu dịch (Libre Echange) dựa trên những Thuyết lý Kinh tế của Adam SMITH, David RICARDO và Stuart MILL. Chính thời này, Hoa kỳ và Đức, còn trong thời kỳ gây dựng cho những Kỹ nghệ đang phát sinh, đã chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này (Protectionnisme des Industries naissantes) chống lại hàng hóa của Anh quốc. Lý thuyết gia Frederic LIST đã hùng hồn thuyết minh cho chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Ngày nay, Hoa kỳ và Đức đã trưởng thành về những Kỹ nghệ này, nên lại cực lực thuyết minh cho Tự do Mậu dịch (Libre Echange), thậm chỉ kêu gào cho Toàn cầu hóa (Globalisation). Vậy thì Tự do Mậu dịch (Libre Echange) hay Bảo vệ Mậu dịch (Protectionnisme) chỉ là tương đối tùy theo sức mạnh Kinh tế của nước đứng ra kêu gọị

Việc Trung Cộng bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh của mình là việc có quyền của những nước đang phát triển. Tự do Mậu dịch là một điều lý tưởng, những phải giả thiết rằng mọi Nước tham dự phải có sức mạnh Kinh tế đồng đềụ Điều này rất khó thực hiện trên Thế giới và luôn luôn là nguồn tranh cãi không lối thoát giữa đa số những nước nghèo và thiểu số những nước giầu qua những Vòng Thương Nghị (Tokyo Round, Kennedy Roung, Uruguay Round...) trong khuôn khổ GATT (tiền thân của WTO/OMC).

Việc Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh khác với việc xử dụng quyền lực độc đoán bóc lột nhân công để có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Thế giớị Chấp nhận trên nguyên tắc rằng những nước đang mở mang có quyền bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh, nhưng không thể chấp nhận việc hai nước Trung Cộng và Việt Cộng xử dụng quyền độc tài để bóc lột lương nhân công và để hạ giá thành hàng hóa, từ đó bán phá giá trên Thị trường quốc tế.

=> Trả lời cho câu hỏi 2
  
Các Nước nghèo hoặc đang trên đà phát triển có quyền BẢO VỆ NHỮNG KỸ NGHỆ ĐANG PHÁT SINH, nhưng CNUCED không thể khuyên họ hãy  trở tha `nh một nước Cộng sản chủ trương chế độ độc tài  để bóc lột sức lao động của nhân công như Trung Cộng và Việt Cộng đang làm. CNUCED muốn lấy khôn lỏi của Kinh tế để đè bẹp Nhân quyền hay sao?

=> Trả lời cho câu hỏi 3

Chủ trương của Ngân Hàng Thế Giới muốn trợ lực tài chánh cho những Nước nghèo là rất đúng bởi vì với chủ trương Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa từ G8 hiện nay đồng thời cũng là việc Tập trung hóa Tài chánh về những nước giầu, thì hố sâu giầu nghèo giữa các nước sẽ khơi rô.ng. 
   Globalisation des Marchandises == Centralisation Financiere 
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đã chủ trương việc tái phân phối tài chánh đến những nước  nghèọ Đây là chủ trương rất nhân đạọ Nhưng tại sao chủ trương này không mang đến những hiệu quả tốt cụ thể. Tôi đã trả lời rất rõ rệt rằng sở dĩ không đạt được những hiệu quả tốt cụ thể là vì hai điều:
=> Việc tài trợ này qua các Chính phủ tại những nước kém mở mang. Những Chính phủ này có đầy tham nhũng lãng phí tài chánh làm thất toát số vốn tài trơ..
=> Ngân Hàng Thế Giới, một là thiếu phương tiện kiểm soát, hai là không đủ khả năng kiểm soát chặt chẽ về tài chánh đối với quyền lực chính trị của những nước ấỵ

Những Biện pháp không giá biểu

Tất cả những Đàm phán về Thương mại Song phương (Bilatéral: tỉ dụ Hoa kỳ—Việt Nam), từng Vùng (Régional: tỉ dụ Union Eropéenne) hay Thế Giới (Mondial: tỉ dụ WTO/OMC) đều mong đưa đến một Hợp Đồng về giá biểu. Những giá biểu này gọi là Giá Biểu Hợp Đồng cho Quan Thuế (Tarifs douaniers contractuels).
Khi nói đến Giá Biểu Hợp Đồng, thì hai nước, hoặc những nước cùng Vùng hoặc tất cả mọi nước trên Thế Giới coi nhau đồng đều và phải áp dụng những Giá Biểu đã kỳ kết.
Nhưng trên thực tế, có nước mạnh, nước yếu không đồng đều. Chính vì vậy, mặc dầu những Giá Biểu Hợp Đồng được ký kết  mà mỗi nước tùy theo sức lực riêng, điều kiện cạnh tranh riêng, có thể áp dụng những Biện Pháp không Giá Biểu. Ngay cả trong phần Lý thuyết về Tự do Mậu dịch, những lý thuyết gia cũng biện minh cho những Biện Pháp không Giá Biểu gọi là “Les Mesures non-tarifaires“, như:
=> Biện Pháp Hạn chế Lượng (Contingentement/ Quotas)
=> Biện Pháp Kiểm soát Hối đoái (Controle de Change)
=> Biện Pháp Kỹ thuật (Mesure Technique)
=> Biện Pháp Hành chánh (Mesure Administrative)
Tất cả những Biện Pháp này là những “hiểu ngầm thông cảm hữu lý“ cho những nước quá bị thiệt thòi khi áp dụng đúng theo nhữn Giá Biểu Quan Thuế theo Hợp Đồng (Tarifs Douaniers Contractuels)

Đường lối nâng cao khả năng cạnh tranh

Hai Cách thế trình bầy trên đây: (1) Che Chở cho những Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes); và (2)  Những biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) là hai Cách thế mang tính cách tiêu cực trong những quan hệ Thương mại quốc tế khi mà những nước ký với nhau trong Hợp Đồng không có sức mạnh cạnh tranh đồng đều như nhau.
Đường lối nỗ lực tự mình nâng cao khả năng cạnh tranh là Chính sách luôn luôn được khuyến khích. Đường lối này phải đến từ sức mạnh Kinh tế Tự do và Thị trường  đích thực mà người Dân làm chủ Kinh tế, Nhà Nước không can thiệp trực tiếp vào đời sống Kinh tế bằng quyền lực. Chúng tôi sẽ bàn về điểm này trong Bài thứ Ba để đòi buộc phải phế bỏ chế độc CSVN hiện hành.
Trả lời Phỏng vấn của RFI, tôi đã lưu ý đến việc nâng cao cạnh tranh của Trung Cộng và Việt Cộng một cách bất chính và vi phạm Nhân quyền. Thực vậy, đây không phải là việc nâng cao cạnh tranh một cách lành mạnh trong ý nghĩa chính đáng Kinh tế. Trung Cộng và Việt Cộng đã dùng bạo quyền bóc lột sức lao động của công nhân, ép buộc công nhân phải chấp nhận đồng lương rẻ mạt, như vậy Nhà Nước mới hạ được giá thành của hàng hóa và có khả năng bất chính cạnh tranh. Không những bất chính trên Thị trường quốc tế, mà Trung Cộng và Việt Cộng còn dùng bạo quyền đàn áp Nhân quyền, bóc lột sứ lao động của Dân cho quyền lợi của cá nhân mình qua việc tham nhũng, lấy tiền thưởng của nước ngoài khi họ vào Việt mua sức lao động rẻ mạt mà Công nhân “không dám than vãn“ lên nghiệp đoàn Công nhân do chính đảng CSVN nắm giữ. 
Quốc tế công kích và tăng thuế nhập cảng về hàng da từ Trung Cộng và Việt Cộng là vì tính cách bóc lột công nhân của hai nước này vậy. 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



Bài 5:

VIỆT NAM: YẾU CẠNH TRANH TRONG WTO,
CÒN BỊ CHE CHỞ MẬU DỊCH DO KHỦNG HỎANG

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Bài này viết về những cái hại tổng quát. Khi viết loạt bài này và có thể những loạt bài kết tiếp để khai triển thêm những chi tiết, tôi muốn cho thấy rằng chính những đòi hỏi Phát triển Kinh tế tương lai bắt buộc phải phế bỏ chế độ độc tài CSVN hiện nay. Khi tôi nói là phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành, đó không phải là việc tôi đòi hỏi hoặc “làm chính trị“. Đó chỉ là đòi hỏi của những điều kiện phát triển thuần túy Kinh tế mà thôi.

Khi nhập WTO, cơ hội phát triển Kinh tế, trước hết có NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Bài này sẽ đề cập đến hai phần như sau:

=> Những cái hại gặp phải khi vào WTO/OMC
=> Những biện pháp chống lại những cái hại.


NHỮNG CÁI HẠI GẶP PHẢI
KHI VÀO WTO/OMC

Vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC), nghĩa là Việt Nam nhập vào Cạnh tranh của Thị trường tự do. Nói đến Cạnh tranh, việc trước hết là phải biết mình có khả năng có thể cạnh tranh với người khác hay không, nếu không người khác sẽ đánh cho mình chết trong trứng nước hoặc lụn bại luôn. Việc cạnh tranh là ở chính trên nước mình, chứ không phải là Thị trường quốc tế tại những nưỡng nước khác. Dường như CSVN sống trong mơ mộng rằng vào WTO/OMC là đi hốt bạc tại những nước khác, mà quên đi rằng những nước khác có quyền vào chính nước mình để thu bạc đem ra.

Khả năng cạnh tranh của Việt Nam

Yêu cầu chế độ đừng ngông nghênh kiêu ngạo tự khen mình, coi mình như nhất nhì thiên hạ. Tôi còn nhớ câu chuyện một Tùy viên Quân sự của Sứ quán Việt Cộng bên cạnh Liên Hiệp Quốc nói với tôi rằng: “Thế Giới có 5 Tướng tài, Việt Nam chiếm 3“. Tôi nhịn cười không được bởi vì thấy ông ấy nói thành thực và ngây ngô chứ không phải là nói diễu chơi cho vui. Vấn đề vào WTO/OMC không còn phải là tự khoe mình ngông nghênh, tuyên truyền cho chế độ nữa. Vào WTO/OMC là vấn đề tiền bạc thực tiễn: cạnh tranh không nổi thì mất tiền, cạnh tranh thắng thì có tiền. Còn nếu chỉ nhằm khoe khoang, mơ mộng, thì chết đói. Đó là thực tiễn, chứ không dỡn chơi.

Nếu xét về việc tiến triển phần nào Kinh tế hiện hành, đó là nhờ sự đấu tranh Kinh tế của khối tư doanh và nhờ chính yếu nguồn ngoại tệ từ phía Việt kiều. Một số người nhìn sự tiến triển ấy, đã lầm lẫn hoặc cố ý nịnh đầm, đã cho rằng đó là công của CSVN. Nói như vậy là không hiểu gì về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Dân làm Kinh tế và phát triển Kinh tế, chứ không phải quyền lực Chính trị. Khối Cộng sản đã chủ trương làm Kinh tế để bao cấp Dân và họ đã hoàn toàn thất bại đến chỗ Dân đòi lại quyền làm chủ Đất Nước để nắm trong tay quyền làm ăn phát triển Kinh tế.

Tại Việt Nam, Dân nghèo phải làm ăn để có đủ sống. Họ nhờ nguồn tài trợ từ khối người Tỵ nạn thương gia đình còn ở lại. Khi phải tự mình kiếm sống, họ phải tìm đủ mọi cách tránh né sự áp chế, dành quyền kinh tế từ những Công ty quốc doanh. Khi phải tự mình kiếm sống, họ đã phải cay đắng cho CSVN ăn bẩn, ăn thỉu để có thể có việc làm, có cơ hội doanh thương tự họ. Khi phải tự mình kiếm sống, người Dân đã phải cay đắng nhận những đồng lương bóc lột mà CSVN bán họ cho nước ngoài và ăn hớt tiền trên sức lao động của họ. Nhìn như vậy, xin hãy nói cho đúng rằng nếu có những tiến triển kinh tế hiện nay, thì đó là từ  sự cố gắng vượt mực của Dân. Chính CSVN đã cản mũi kỳ đà sức cố gắng phát triển này của người Dân. Những ai há mõm khen CSVN làm cho Kinh tế phát triển một phần hiện nay, đó là những người nói ngu xuẩn, thiếu học về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Tôi thẳng thắn nói vậy và sẵn sàng trả lời những ai ngu xuẩn khen tặng CSVN một cách nịnh đầm vô lương tâm và hèn hạ.

Sự phát triển kinh tế một phần hiện nay chưa cho phép Việt Nam tự hào rằng mình đã có đủ lực cạnh tranh trên Thị trường quốc tế. Vào WTO/OMC phải cấp tốc đẩy mạnh những gì đã có một phần phát triển. Việc đẩy mạnh này thiết yếu đòi phải dành quyền cho Dân bởi những phát triển kia là từ sức cố gắng của Dân, chứ không phải từ quyền lực CSVN, một quyền lực cản mũi kỳ đà cho phát triển.

Hàng hóa quốc tế diệt hàng hóa Việt Nam
tại chính nước mình

Trên đây, chúng tôi nói tổng quát đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong đoạn này, chúng tôi nhìn xem những hàng hóa nước ngoài diệt chính hàng hóa Việt Nam tại quốc nội như thế nào. Trong đoạn tiếp theo, chúng tôi quan sát khả năng cạnh tranh của những hàng hóa Việt Nam bên cạnh những hàng hóa nước ngoài trên Thị trường quốc tế.

=> HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP

Chúng tôi đã nhiều lần nói đến sự cạnh tranh chính yếu đến từ Thái Lan. Nguồn sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp (Conditions géographiques—Ressources naturelles) giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam. Nhân lực làm việc (Conditions démographiques) về những ngành này cũng không khác gì nhau. Nhưng có sự khác biệt rất rõ rệt về điều kiện Chính trị—Pháp lý (Conditions Politico-Juridiques): một đàng (Thái Lan) dành phần khai thác cho Tư nhân, một đàng (Việt Nam) dành cho quốc doanh (người của độc đảng) những quyền khai thác, bóc lột ưu tiên. Ai cũngt biết rằng khi việc khai thác nằm trong tay quyền lực Chính trị, thì không thể không có lãng phí và tham nhũng được bao che, và do đó năng xuất khai thác không thể nào được phát triển như trong Điều kiên Chính trị—Pháp lý Dân chủ.

Trong việc khai thác, hai yếu tố chính sản xuất là Vốn và Nhân lực (K: Capital, L:Labour). Nếu nhân lực sản xuất giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam, thì có sự chênh lệch rất rõ rệt việc đầu tư Vốn vào hai ngành nông nghiệp va ngư nghiệp giữa hai nước: Thái Lan đầu tư vốn 8 lần hơn Việt Nam vào hai ngành này.

Hiện nay, mặc dầu chưa vào WTO, mà hàng nông nghiệp và ngư nghiệp của Thái Lan đã cạnh rất ưu thế tại chính Việt Nam. Những hàng nông nghiệp của Thái Lan như gạo, trái cây... được coi là hàng sang và đã lan tràn ở Việt Nam. Dân Việt mua gạo Thái để ăn, mua trái cây của Thái để cúng vái, để ăn những dịp lễ. Những hàng gia vị của Thái cũng đang lan tràn tại chính quốc nội.

=> HÀNG KỸ NGHỆ BIẾN CHẾ NÔNG PHẨM VÀ NGƯ PHẨM

Việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ biến chế những sản phẩm này tại chỗ. Không có Kỹ nghệ này tại chỗ, thì rất khó phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp. Những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm nhằm nối dài thời gian xử dụng trong tương lai (thời gian) và mở rộng địa vực xử dụng đến những nơi không có những hàng nông nghiệp và ngư nghiệp (không gian). Tỉ dụ, nước Ý có kỹ nghệ làm Cà Chua Hộp để nâng đỡ việc trồng Cà Chua, nếu không Cà Chua dễ thối.

Kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tại Việt Nam, xứ có nguồn dồi dào về ngư nghiệp và nông nghiệp, lại thua kém hẳn Thái Lan, Tân Gia Ba và Đài Loan. Như vậy, những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tràn vào Việt Nam và cạnh tranh trong phần thắng.

=> HÀNG CÔNG NGHỆ THÔNG DỤNG HÀNG NGÀY

Đây là những hàng công nghệ thường dùng hàng ngày. Những hàng này không thuộc loại hàng hóa phức tạp (Produits sophistiqués) cần phải có một trình độ kỹ thuật cao. Tỉ dụ như bát đĩa, xoong chảo, nồi cơm điện, xe hai bánh, quạt máy, phích nước..., đó là những đồ công nghệ thông dụng hàng ngày.

Hiện nay, ngay chưa nhập WTO, những hàng này đang diệt những hàng tương tự sản xuất tại Việt Nam. Nhà Nước Việt Nam mới tuyên bố rằng khi vào WTO, những hàng này của Trung Cộng còn được giảm xuống 16% nữa cho thuế nhập cảng. Như vậy khả năng những hàng này cũa Tầu diệt hàng Việt Nam càng tăng lên hơn nữa.

Tại sao Trung Cộng có khả năng cạnh tranh cao về những hàng công nghệ này ? Trong sản xuất, việc cạnh tranh là giá thành của hàng hóa. Muốn hạ giá thành, thì phải tăng số lượng sản xuất. Trung Cộng có khả năng tăng lượng sản xuất vì họ có khối lượng dân số 1 tỉ rưỡi. Hàng sản xuất không sợ ứ đọng vì đã có khối dân không lồ bảo đảm việc tiêu thụ hết hàng hóa.

=> HÀNG KỸ NGHỆ MÁY MÓC CAO & PHỨC TẠP 

Những hàng Kỹ nghệ Máy móc cao và phức tạp (Produits sophistiqués) hầu như chưa phát sinh tại Việt Nam, nên chưa nói đến việc cạnh tranh được. Việt Nam mới bắt đầu sản xuất thuê những linh kiện (pìeces détachées) cho những Công ty nước ngoài, chứ chưa ở mức độ sản xuất những máy móc phức tạp (Produits sophistiqués) như sản phẩm cuối cùng sẵn sàng cho tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).

Việc cạnh tranh những hàng hóa này là việc cạnh tranh xử dụng Kỹ thuật tân tiến và cao (Haute Technologie moderne). Muốn có những Kỹ thuật tân tiến và cao, thì phải đầu tư những số Vốn lớn. Việt Nam chưa có khả năng Vốn lớn đầu tư, vì vậy hàng hóa trong phạm vi này không thể có khả năng cạnh tranh, thậm chí chưa sinh ra.

Những máy móc cao và phức tạp của những nước chung quanh sẽ tràn vào và diệt hàng Việt Nam trong trứng (chưa sinh ra). Những nước này là: Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, ngay cả Thái Lan và Mã Lai.

=> NHỮNG DỊCH VỤ (SERVICES)

Dịch vụ đầu tiên là Dịch vụ Phân phối hàng hóa (Thương mại). Khi vào WTO, những Tổ chức phân phối đa quốc gia (Chaines de Distribution Multinationales) có quyền mở rộng Thị trường phân phối tại Việt Nam. Nếu không vào WTO, những Tiểu thương hoặc những Nhà phân phối quốc nội được che chở phần nào trước sức mạnh của những Tổ chức phân phối đa quốc gia. Khi vào WTO, những Tổ chức này dễ dàng bóp chết hệ thống phân phối quốc nội vì những Tổ chức đa quốc gia này có số vốn khổng lồ để che chở việc cạnh tranh bán hàng hóa.

Ngoài Dịch vụ Phân phối hàng hóa, còn nhưng Dịch vụ độc lập khác như Kiểm Toán, Bảo Hiểm, Nha sĩ, Bác sĩ... Nếu những Dịch vụ này hiện diện ở Việt Nam vì phải tôn trọng Tự do lưu thông hàng hóa và dịch vụ khi vào WTO, thì sự cạnh tranh rất là gay gắt cho những dịch vụ từ người Việt tại quốc nội. Dân Việt chọn lựa những Dịch vụ từ người nước ngoài vì có nhiều những tin tưởng hơn (!). Tỉ dụ chọn Kiểm toán nước ngoài hơn là Kiểm toán quốc nội; chọn Bảo Hiểm ngoại quốc có nhiều tin tưởng hơn...

Hàng hoá Việt Nam thua kém cạnh tranh
trên Thị trường quốc tế

Ở đoạn trên, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh quan trọng nhất, đó là những hàng hóa nước ngoài  cạnh tranh với những hàng hoá Việt Nam hoặc diệt chính những hàng hóa Việt Nam trên lãnh thổ của Quê Hương mình.

Trong đoạn này, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi đứng bên cạnh hàng hóa các nước khác trên Thị trướng quốc tế:

=> Hàng nông nghiệp và ngư nghiệp

Nói ngay đến khối người Việt tỵ nạn, họ đã phải tiêu thụ hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Thái Lan trong 30 năm rồi. Trong thị trường quốc tế về hàng nông nghiệp và ngư nghiệp, còn phải kể đến những nước cạnh tranh khác: Nam Mỹ, các nước Đông Aâu, Aân độ, Nam Dương.

=> Hàng kỹ nghệ chế biến nông phẩm và ngư phẩm

Việt Nam chưa sánh được ngay cả với những nước trong vùng như Đài Loan, Tân Gia Ba, Thái Lan, Mã Lai..., huống chi nói đến những nước đã mở mang trên Thế Giới. Những nước nông nghiệp, chăn nuôi như Nam Mỹ, đang mở mang mạnh kỹ nghệ chế biến thực phẩm. Đông Aâu đang mở mang mạnh về những kỹ nghệ biến chế thực phẩm này. Những nước tân tiến như Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha...cần mở mang những kỹ nghệ biến chế nông phẩm này để nâng đỡ phát triển nông nghiệp của họ.

=> Hàng công nghệ thường dùng

Hàng Trung Cộng đang tràn lan. Việt Nam khó cạnh tranh với Trung Cộng về những hàng hóa thông dụng hàng ngày này.

=> Những máy móc cao và phức tạp

Không thể có, lúc này, sự cạnh tranh của Việt Nam ở Thị trường quốc tế về những máy móc. Tôi chưa thấy có chiếc Ti-Vi “made in Vietnam“ bán ở Thị trường Thụy sĩ.

=> Những Dịch vụ (Services)

Đến bao giờ mới có Dịch vụ Kiểm toán Việt Cộng ở Thị trường Pháp, Đức... ?

NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG LẠI
NHỮNG CÁI HẠI

Phần trên đây phân tích về những điểm yếu, những cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO/OMC. Phần này nói đến những biện pháp nào để mong tránh hoặc ngăn chặn những cái nguy hại có thể xẩy ra.

Mặc dầu vào WTO rồi, nghĩa là phải thi hành Tự do Giao thương, nhưng có biện pháp nào tránh né cái Tự do đó hay không trong việc cạnh tranh? Đó là biện pháp tiêu cực.

Nhưng chúng ta phải nghĩ đến những biện pháp tích cực nhằm tăng cường cho chính khả năng cạnh tranh của mình.

Quyền che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh

Mặc dầu vào WTO, một Tổ chức luôn cổ võ Tự do Mậu dịch, cổ võ việc dành cho nhau Điều khoản “Quốc gia tối ưu đãi“ (Clause de la nation la plus favorisée), nghĩa là tuyên bố tình yêu với nhau, quyền Che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh vẫn được tôn trọng.

Đứng về mặt nguyên tắc và lý thuyết, Tự do Mậu dịch (Le Libre Echange) vẫn không khai trừ nguyên tắc Che Chở cho Kỹ nghệ đang phát sinh (Le Protectionnisme des Industries naissantes). Về nguyên tắc này, chúng tôi đã mới nói trong cuộc Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale).

Nhân sự va chạm giữa CNUCED và WORLD BANK trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc qua cuộc Hội Nghị nhận định về sự phát triển của những nước nghèo hoặc đang mở mang, ngày 13.09.2006, Đài RADIO FRANCE INTERNATIONALE (RFI) phỏng vấn tôi về 4 câu hỏi:

1) Tại sao Trung Cộng có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Quốc tế ? CNUCED coi đây là một sự thành công mà các nước kém mở mang có thể học đòi theo, đồng thời công kích Ngân Hàng Thế Giới đã trợ lực tài chánh cho các nước nghèo mà hiệu quả không gặt hái được cụ thể.

2) Vậy các nước nghèo có thể áp dụng được chính sách xuất cảng hàng hóa mà Trung Cộng đã áp dụng hay không ?

3) Tại sao chính sách hỗ trợ tài chánh cho những nước nghèo mà Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) chủ trương trong nhiều năm nay lại không đưa đến những kết quả tốt cụ thể?

4) Nhận xét về hậu quả như thế nào khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) ?

Tôi đã trả lời về 4 vấn đề này và Đài RFI đã phát thanh về Việt Nam ngày Thứ Năm 14.09.2006, trong chương trình từ 15g-16g (giờ Paris). Xin vào RFI để nghe:

     http://www.rfi.fr/langues/statiques/rfi_vietnamien.asp   

Tôi đã trả lời về 4 vấn đề nêu ra trên đây. Câu hỏi thứ tư liên hệ đến Việt Nam khi vào WTO. Chúng tôi đã khai triển câu hỏi này trong phần trên đây, vì vậy chúng tôi không nhắc lại trong phần này nữa mà chỉ nhấn mạnh đến cái Quyền Che chở Kỹ nghệ đang phát sinh mặc dầu Việt Nam vào WTO với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) để chúng ta tìm cách che chở những cái thiệt hại cho nước mình khi mình thiếu khả năng cạnh tranh.   

=> Trả lời cho câu hỏi 1

Nếu CNUCED coi đây là một Mô hình Kinh tế sáng kiến bởi Trung Cộng, thì đó là không đúng. Đây chỉ là một Chính sách Thương mại quốc tế mà những nước kém mở mang có quyền Bảo vệ những ngành Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Chủ trương này không phải là sự phát minh của Trung Cô.ng. Việc chủ trương bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này đã có trong Lịch sử Thương mại của những nước tư bản. Sau Cách mạng Kỹ nghệ của Anh quốc, nước này trở thành mạnh nhất Thế giới (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20) và muốn chiếm Thị trường quốc tế, đã kêu gọi và cực lực thuyết minh cho Chính sách Tự do Mậu dịch (Libre Echange) dựa trên những Thuyết lý Kinh tế của Adam SMITH, David RICARDO và Stuart MILL. Chính thời này, Hoa kỳ và Đức, còn trong thời kỳ gây dựng cho những Kỹ nghệ đang phát sinh, đã chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này (Protectionnisme des Industries naissantes) chống lại hàng hóa của Anh quốc. Lý thuyết gia Frederic LIST đã hùng hồn thuyết minh cho chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Ngày nay, Hoa kỳ và Đức đã trưởng thành về những Kỹ nghệ này, nên lại cực lực thuyết minh cho Tự do Mậu dịch (Libre Echange), thậm chỉ kêu gào cho Toàn cầu hóa (Globalisation). Vậy thì Tự do Mậu dịch (Libre Echange) hay Bảo vệ Mậu dịch (Protectionnisme) chỉ là tương đối tùy theo sức mạnh Kinh tế của nước đứng ra kêu gọị

Việc Trung Cộng bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh của mình là việc có quyền của những nước đang phát triển. Tự do Mậu dịch là một điều lý tưởng, những phải giả thiết rằng mọi Nước tham dự phải có sức mạnh Kinh tế đồng đềụ Điều này rất khó thực hiện trên Thế giới và luôn luôn là nguồn tranh cãi không lối thoát giữa đa số những nước nghèo và thiểu số những nước giầu qua những Vòng Thương Nghị (Tokyo Round, Kennedy Roung, Uruguay Round...) trong khuôn khổ GATT (tiền thân của WTO/OMC).

Việc Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh khác với việc xử dụng quyền lực độc đoán bóc lột nhân công để có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Thế giớị Chấp nhận trên nguyên tắc rằng những nước đang mở mang có quyền bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh, nhưng không thể chấp nhận việc hai nước Trung Cộng và Việt Cộng xử dụng quyền độc tài để bóc lột lương nhân công và để hạ giá thành hàng hóa, từ đó bán phá giá trên Thị trường quốc tế.

=> Trả lời cho câu hỏi 2
  
Các Nước nghèo hoặc đang trên đà phát triển có quyền BẢO VỆ NHỮNG KỸ NGHỆ ĐANG PHÁT SINH, nhưng CNUCED không thể khuyên họ hãy  trở tha `nh một nước Cộng sản chủ trương chế độ độc tài  để bóc lột sức lao động của nhân công như Trung Cộng và Việt Cộng đang làm. CNUCED muốn lấy khôn lỏi của Kinh tế để đè bẹp Nhân quyền hay sao?

=> Trả lời cho câu hỏi 3

Chủ trương của Ngân Hàng Thế Giới muốn trợ lực tài chánh cho những Nước nghèo là rất đúng bởi vì với chủ trương Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa từ G8 hiện nay đồng thời cũng là việc Tập trung hóa Tài chánh về những nước giầu, thì hố sâu giầu nghèo giữa các nước sẽ khơi rô.ng. 
   Globalisation des Marchandises == Centralisation Financiere 
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đã chủ trương việc tái phân phối tài chánh đến những nước  nghèọ Đây là chủ trương rất nhân đạọ Nhưng tại sao chủ trương này không mang đến những hiệu quả tốt cụ thể. Tôi đã trả lời rất rõ rệt rằng sở dĩ không đạt được những hiệu quả tốt cụ thể là vì hai điều:
=> Việc tài trợ này qua các Chính phủ tại những nước kém mở mang. Những Chính phủ này có đầy tham nhũng lãng phí tài chánh làm thất toát số vốn tài trơ..
=> Ngân Hàng Thế Giới, một là thiếu phương tiện kiểm soát, hai là không đủ khả năng kiểm soát chặt chẽ về tài chánh đối với quyền lực chính trị của những nước ấỵ

Những Biện pháp không giá biểu

Tất cả những Đàm phán về Thương mại Song phương (Bilatéral: tỉ dụ Hoa kỳ—Việt Nam), từng Vùng (Régional: tỉ dụ Union Eropéenne) hay Thế Giới (Mondial: tỉ dụ WTO/OMC) đều mong đưa đến một Hợp Đồng về giá biểu. Những giá biểu này gọi là Giá Biểu Hợp Đồng cho Quan Thuế (Tarifs douaniers contractuels).
Khi nói đến Giá Biểu Hợp Đồng, thì hai nước, hoặc những nước cùng Vùng hoặc tất cả mọi nước trên Thế Giới coi nhau đồng đều và phải áp dụng những Giá Biểu đã kỳ kết.
Nhưng trên thực tế, có nước mạnh, nước yếu không đồng đều. Chính vì vậy, mặc dầu những Giá Biểu Hợp Đồng được ký kết  mà mỗi nước tùy theo sức lực riêng, điều kiện cạnh tranh riêng, có thể áp dụng những Biện Pháp không Giá Biểu. Ngay cả trong phần Lý thuyết về Tự do Mậu dịch, những lý thuyết gia cũng biện minh cho những Biện Pháp không Giá Biểu gọi là “Les Mesures non-tarifaires“, như:
=> Biện Pháp Hạn chế Lượng (Contingentement/ Quotas)
=> Biện Pháp Kiểm soát Hối đoái (Controle de Change)
=> Biện Pháp Kỹ thuật (Mesure Technique)
=> Biện Pháp Hành chánh (Mesure Administrative)
Tất cả những Biện Pháp này là những “hiểu ngầm thông cảm hữu lý“ cho những nước quá bị thiệt thòi khi áp dụng đúng theo nhữn Giá Biểu Quan Thuế theo Hợp Đồng (Tarifs Douaniers Contractuels)

Đường lối nâng cao khả năng cạnh tranh

Hai Cách thế trình bầy trên đây: (1) Che Chở cho những Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes); và (2)  Những biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) là hai Cách thế mang tính cách tiêu cực trong những quan hệ Thương mại quốc tế khi mà những nước ký với nhau trong Hợp Đồng không có sức mạnh cạnh tranh đồng đều như nhau.
Đường lối nỗ lực tự mình nâng cao khả năng cạnh tranh là Chính sách luôn luôn được khuyến khích. Đường lối này phải đến từ sức mạnh Kinh tế Tự do và Thị trường  đích thực mà người Dân làm chủ Kinh tế, Nhà Nước không can thiệp trực tiếp vào đời sống Kinh tế bằng quyền lực. Chúng tôi sẽ bàn về điểm này trong Bài thứ Ba để đòi buộc phải phế bỏ chế độc CSVN hiện hành.
Trả lời Phỏng vấn của RFI, tôi đã lưu ý đến việc nâng cao cạnh tranh của Trung Cộng và Việt Cộng một cách bất chính và vi phạm Nhân quyền. Thực vậy, đây không phải là việc nâng cao cạnh tranh một cách lành mạnh trong ý nghĩa chính đáng Kinh tế. Trung Cộng và Việt Cộng đã dùng bạo quyền bóc lột sức lao động của công nhân, ép buộc công nhân phải chấp nhận đồng lương rẻ mạt, như vậy Nhà Nước mới hạ được giá thành của hàng hóa và có khả năng bất chính cạnh tranh. Không những bất chính trên Thị trường quốc tế, mà Trung Cộng và Việt Cộng còn dùng bạo quyền đàn áp Nhân quyền, bóc lột sứ lao động của Dân cho quyền lợi của cá nhân mình qua việc tham nhũng, lấy tiền thưởng của nước ngoài khi họ vào Việt mua sức lao động rẻ mạt mà Công nhân “không dám than vãn“ lên nghiệp đoàn Công nhân do chính đảng CSVN nắm giữ. 
Quốc tế công kích và tăng thuế nhập cảng về hàng da từ Trung Cộng và Việt Cộng là vì tính cách bóc lột công nhân của hai nước này vậy. 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



THAY LỜI KẾT LUẬN

KIỂM SÓAT CHẶT CHẼ NGÒI NỔ


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 01.08.2009

 

Tình hình Kinh tế Việt Nam lâm nguy không phải chỉ nguyên hậu quả của Khủng Hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới như chúng tôi phân tích trong suốt cuốn sách này, mà hậu quả của Khủng hỏang ấy còn trở nên trầm trọng do chủ trương bành trướng Kinh tế Trung quốc. Đối với Việt Nam, Nhà Nước chấp nhận làm tôi đòi cho Trung quốc để cố thủ giữ lấy quyền hành, thì việc bành trướng Kinh tế Trung quốc tất nhiên trở thành một cuộc Xâm Lăng Kinh tế mà đảng CSVN là kẻ tiếp tay nhục nhã.

Khi viết đôi lời Kết luận này, chúng tôi vào Diễn Đàn Internet để đọc Tin tức. Tin của Đài BBC ngày hôm nay 1.08.2009 về Lao động Trung quốc tràn vào Việt Nam đã đập vào mắt chúng tôi. Tôi xin đăng lại đây như lời Kết Luận sống động về mối nguy ngập của Kinh tế Việt Nam:


“BBC: Trên ba vạn rưởi lao động TQ ở VN
http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/07/090731_ chinese_labourer s.shtml

35.000 người là số thống kê chưa đầy đủ

Báo trong nước trích nguồn từ Bộ Công an cho hay hiện có trên 35.000 lao động người Trung Quốc làm việc tại Việt Nam.

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời thiếu tướng Đặng Thái Giáp, cục trưởng Cục Công tác chính trị, Tổng cục Xây dựng lực lượng thuộc Bộ Công an nói số lao động này tập trung ở "ở một số địa bàn trọng điểm như TP Hồ Chí Minh, Tây Nguyên và miền Trung".

Gần đây dư luận và báo chí trong nước bắt đầu nói nhiều tới hiện tượng lao động phổ thông ồ ạt vào Việt Nam, với con số được ước tính có thể lên tới hàng vạn.

Tuy nhiên đây là lần đầu tiên cơ quan an ninh chính thức xác nhận con số lớn lao động Trung Quốc.

Một lý do đông lao động Trung Quốc được nói là nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất... về tay nhà thầu Trung Quốc. Các công ty này thường mang công nhân của họ vào Việt Nam, mỗi công trình có thể lên tới hàng nghìn người.

Thiếu tướng Đặng Thái Giáp cũng được trích lời nói "tình hình lao động TQ, nhất là số lao động phổ thông, tự phát nhập cảnh vào VN với nhiều lý do khác nhau như du lịch, thăm thân... rồi tìm cách gia hạn để cư trú trái phép, làm ăn lâu dài tại VN có xu hướng ngày càng gia tăng và khá phức tạp'.

Ông Giáp cũng thừa nhận con số trên chỉ là thống kê chính thức từ các doanh nghiệp được quản lý theo dõi "còn trên thực tế vẫn có một số lao động chui chưa thể thống kê hết".

Công tác quản lý lao động nước ngoài tại các địa phương bị nhận xét là còn "buông lỏng và thiếu hiệu quả".

Đã có nhiều trường hợp lao động TQ xô xát, ẩu đả với người Việt ở địa phương.

Chủ trương đưa người lao động ra các nước ngoài đã được Trung Quốc thực hiện một vài năm nay như một biện pháp giúp giải quyết công ăn việc làm và kích cầu kinh tế.

Trong riêng năm 2007, có tới 750.000 công nhân Trung Quốc đã theo các dự án của Trung Quốc sang châu Phi, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp và khai khoáng, vốn cần nhân công.

Tình trạng thất nghiệp đang đe dọa xã hội Trung Quốc, với ước tính mười triệu người mất việc vì kinh tế khó khăn.

Tuy nhiên Việt Nam cũng đang đối diện nạn thất nghiệp gia tăng, một báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội ước tính có tới 400.000 người mất việc trong năm nay.”


Hòang Sa, Trường Sa, Aûi Nam Quan đã bị Trung quốc xâm chiếm. Bô-xit Tây Tây Nguyên trao cho Trung quốc khai thác. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Vùng Biển Đông của Việt Nam bị Trung quốc chiếm và cấm Ngư dân Việt Nam đánh cá sinh sống.

Hàng hóa Trung quốc tràn vào Việt Nam tự do từ mọi phía để giết chết các Xí nghiệp Việt Nam. Lao động Việt Nam thất nghiệp tăng lên trầm trọng. Trọng khi đó Nhân công Trung quốc tràn vào như bản Tin BBC đăng hôm nay.


Với tình trạng nguy ngập như trên vừa tóm tắt, tình hình Việt Nam đã chín mùi, trở thành một lò thuốc súng sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào.

CSVN ý thức rõ rệt sự nguy hiểm sẵn sàng nổ tung ra này đến từ sự uất ức của Dân chúng.

Nhưng cần một cái ngòi nổ thì lò thuốc súng đó mới nổ tung ra được. Chính vì ý thức rõ rệt suy nguy hiểm ấy, nên đảng CSVN đã xử dụng cả một lực lượng Công an hùng hậu để kiểm sóat chặt chẽ và và dập tắt tất cả những ngòi nổ dù nhỏ bé hay mới trong tưởng tượng.

Họ kiểm sóat tinh vi những ai có thể chống đối và coi như những ngòi nổ, nhưng bộ máy kiểm sóat ấy đã thả lỏng cho Hàng hóa và Lao động Trung quốc tràn vào Việt Nam như không có sự kiểm sóat nào.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 01.08.2009 

 





 
Top