|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== KINH TE TU DO & THI TRUONG =============================================================== |
| | | --------------------------------------------------------------- CHU DE: KINH TE TU DO THI TRUONG DOI HOI ---------------------------------------------------------------
CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào? Cái nền Kinh tế Tự do và Thị trường chỉ là một Hệ luận của sự chấp nhận Tiền đề căn bản là TƯ HỮU. Cũng vậy, cái chủ trương Kinh tế Tập quyền Kế ho.ach cũng chỉ là Hệ luận hữu lý của Tiền đề truất hữu cá nhân để Đảng giữ hết, gọi là CÔNG HỮU. Tôi muốn theo dòng lý luận từ hai cái Tiền đề CÔNG HỮU và TƯ HỮU ấy để cho thấy rằng việc giải thể chế độ chuyên chính hiện tại là một kết luận hòan tòan hữu lý của tư duy. Sự cấu trúc lý luận này không phải là chính trị, mà là từ cái đầu của những ai chưa bị điên khùng bệnh ho.an. Sự cấu trúc lý luận này đi từng bước rất đơn giản ở mức độ học trò. Nhưng cái sự đơn giản học trò này cho thấy rằng việc đi tới giải thể chế độ chuyên chính hiện nay là có tính cách hữu lý hiển nhiên của lương tâm, chứ không xiên xẹo lắt léo như Cộng sản và những tay sai cố gán vào vấn đề xung động tình cảm. Chúng tôi bắt đầu bằng Tiền đề Công hữu và Hệ luận của nó để thấy việc giải thể đã được bắt đầu và chúng ta chỉ cần kiện toàn nó. Từ Tiền đề CÔNG HỮU đến Kinh tế Kế hoach Tập quyền và những bế tắc trong việc giải quyết vấn đề then chốt là đói nghèo
1. Tiền đề CÔNG HỮU Thực ra phải nói Đảng Hữu mới đúng bởi vì Đảng nắm trọn quyền quyết định trên tài sản Quốc gia. Đảng Cộng sản phủ nhận Tư hữu và chủ trương Công hữu. Khi chưa nắm được trọn vẹn quyền hành, họ vu khống đủ điều dù tàn nhẫn nhất để gây hận thù giữa giới lao động và giới hữu sản để đấu tranh giai cấp mà mục đích chính yếu ở giai đọan này là chiếm quyền. Họ chưa nói vội việc vô sản hóa, sợ làm thất vọng một số lao công Khi giới lao động đã giúp họ nắm trọn quyền rồi, thì họ bắt đầu tiến trình truất hữu, dù bằng phương pháp đẫm máu. Của riêng trở thành của chung, của Nhân dân. Nhưng nhân dân là ai? Tôi là nhân dân, anh là nhân dân, nó là nhân dân...ai cũng là nhân dân để cuối cùng nhân dân chẳng là ai rõ rệt hết. Lúc ấy Đảng mới đứng ra tự nói, hoặc khủng bố để nhân dân buộc phải nói rằng Đảng là Đại diện nhân dân để giữ tài sản của nhân dân truất hữu được từ nhân dân. Có lần tôi cười nói với một ông Giám đốc Ngân hàng rằng: Cái gì cũng mang nhân dân ra để chịu đựng: Quân đội nhân dân, Tòa án nhân dân, Hội đồng nhân dân..., nhưng khi tài sản vào Công hữu thì không gọi là nhân dân nữa mà là Ngân Hàng Nhà Nước (chứ không phải là Ngân Hàng Nhân dân). CÔNG HỮU hay đúng hơn ĐẢNG HỮU là như vâ.y.
2. Quyền XỬ DỤNG Công hữu Trên nguyên tắc nhân dân là Chủ hữu sở của Công hữu, nhưng nhân dân không có quyền xử dụng Công hữu bởi vì nhân dân là mọi người mà nếu mọi người cùng xử dụng thì là lo.an. Vì vậy chỉ có Đảng, đại diện nhân dân, được tòan quyền xử dụng mà thôi. Nhân dân có tiếng mà không có miếng. Một người mang tiếng là Chủ hữu sở mà lại không có quyền xử dụng vật sở hữu của mình, thì việc sở hữu trở thành vô nghĩa. Cá nhân, thành phần của nhân dân, mang tiếng là chủ hữu sở của Công hữu, nhưng không có quyền tự do xử dụng Công hữu.
3. Kinh tế KẾ HOACH TẬP QUYỀN sản xuất Tất cả mọi phương tiện làm ăn là Công hữu. Nhân dân, hay cá nhân không có quyền xử dụng công hữu, nên không thể nào có Kế ho.ach làm ăn tư nhân.Vì chỉ có Đảng có quyền xử dụng Công hữu, tất cả những phương tiện sản xuất, nên Kế ho.ach làm ăn chỉ có đảng bầy đặt ra. Đó là ý nghĩa của nền Kinh tế Kế ho.ach. Kinh tế này Tập trung bởi vì chỉ có Đảng được xử dụng những phương tiện sản xuất. Như vậy, nền Kinh tế Kế ho.ach Tập trung là Hệ luận hữu lý của chủ trương Công hữu, cái Tiền đề. Nhân dân chủ hữu sở phải tuân lệnh làm theo Kế ho.ach Nhà Nước. Không cá nhân nào có thể có sáng kiến khác làm ăn bởi vì nếu có sáng kiến đi nữa, thì cá nhân ấy cũng không có phương tiện thực hiê.n. Họ không có quyền tự do xử dụng phương tiện sản xuất. Những Kế ho.ach Tập quyền này không cho phép tự do sáng kiến cá nhân trong nền Kinh tế Cộng sản. 4. Kinh tế HOACH ĐỊNH BAO CẤP tiêu thụ Tại điểm này, Đảng mới tuyên truyền ý nghĩa xã hô.i. Cá nhân lao động theo khả năng. Ai mạnh khỏe thì vác đá nặng thay cho người yếu. Ai có tài giỏi, thì làm việc thay cho kẻ ngu dốt. Thật đúng là lý tưởng xã hội, hoặc có thể nói là lý tưởng nên Thánh của nhân dân. Nhưng khi tiêu thụ những kết quả sản xuất, thì phải theo nhu cầu cá nhân do Nhà Nước xét định và cung cấp. Nhân dân chỉ nhận được những phần tiêu thụ hầu như đồng đều theo kế ho.ach của Nhà Nước. Việc ho.ach định tiêu thụ này nhằm tránh người này xài sang hơn người kia, tránh việc cá nhân tiết kiệm để tạo tư hữu và dành phần thặng dư vào Công hữu cho Đảng xử du.ng. Nền Kinh tế Kế Ho.ach Tập trung, Hệ luận hữu lý của Tiền đề Công hữu, đã mang lại những thất bại mà chúng tôi đã nhiều lần gọi là Định mệnh nội tại của chủ trương Chính trị Cộng sản (Fatalite Politico-Economique) đã giải thể những chế độ ở Liên Xô và Đông Aâu. Những thất bại của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập quyền này gồm những điểm sau đây: -> Cái thất bại thứ nhất là ở chính chủ trương Công hữu. Yù thức tư hữu là tự nhiên ở mỗi sinh vâ.t. Tư hữu là bản năng bảo vệ sinh tồn. Con Sóc cũng biết kiếm những hạt tích trữ giấu kín dành dụm cho Mùa Đông. Mỗi người phải tích trữ những phương tiện sống riêng tư, thủ thân. Cái quân bình, hay hòa bình giữa những cá nhân là ở chỗ không xâm phạm tư hữu chính đáng của người khác bởi vì chính mình không muốn người khác xâm phạm đến tư hữu của mình. -> Cái thất bại thứ hai là người dân ý thức được rằng Đảng Cộng sản đã đánh đĩ hai tiếng nhân dân để nắm chủ quyền xử dụng Công hữu. Nhân dân chỉ là bình phong xảo quyệt để Nhóm Đảng Cộng sản tước đọat sở hữu và nắm trọn quyền định đọat cuộc sống của từng cá nhân, thành phần của hai tiếng nhân dân bù nhìn, rỗng tuếch. -> Cái thất bại thứ ba của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập quyền là giết chết những sáng kiến sinh động cá nhân tự do. Dù cho cá nhân tự do sáng kiến đi nữa, nhưng không được xử dụng những phương tiện thực hiện sáng kiến, thì sáng kiến cũng chẳng mang lại hiệu quả bởi vì có thực hiện được đâu mà có hiệu quả. Trong một Công ty cũng vậy, nhất là những Công ty thuộc ngành nghiệp cao cấp kỹ thuật, tổ chức tập quyền là bóp chết sáng kiến và trách nhiệm cá nhân, và do đó hiệu năng thấp mà phí tổn tăng. -> Cái thất bại thứ tư là nền Kinh tế Ho.ach định bao cấp giết chết động lực khuyến khích lao đô.ng. Người khỏe vác dùm đá nặng cho người yếu, đó là lời khuyên xã hội quá lý tưởng. Nhưng nếu người khác cứ gỉa vờ yếu để đùn việc nặng cho người khác, thì đó là nguồn làm cho những người khỏe trở thành ù lì ra. Cái chế tài cũng như cái khuyến khích lao động nằm ở sự được hưởng những kết quả của lao đô.ng. Người làm việc cả ngày theo khả năng mà chỉ được hưởng theo nhu cầu đồng đều như một đảng viên phất phơ chỉ tay một ngón, thì người đó cũng chán nản hết muốn cố gắng làm viê.c. Xin chú thích là chỉ tay năm ngón còn lịch sự, nhưng chỉ tay một ngón là ra lệnh độc đóan. -> Cái thất bại thứ năm của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập trung dựa trên Công hữu là việc biển thủ và lãng phí Công hữu. Cha chung không ai khóc. Đó là thái độ lãng phí tự nhiên của những kẻ không có quyền. Nhưng về những người có quyền hành nằm trong tay, đồng thời có quyền xử dụng Công hữu và quyền định đọat Kế ho.ach, thì việc cướp của Công làm của riêng là điều hiển nhiên. -> Cái thất bại thứ sáu là Đảng Cộng sản đã độc đóan lấy tòan diện năng lực Quốc gia để phục vụ chủ trương chính trị bang nhóm của họ. Chúng tôi đã nhiều lần phân biệt rằng Dân tộc Việt Nam như nước dòng sông chảy triền miên bất tận, trong khi ấy những khuynh hướng chính trị chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước sống, khi nhô lên, khi thấp xuống hoặc biến hẳn. Bang nhóm chính trị Cộng sản đã ép buộc dòng nước sông phải phục vụ cho làn sóng lăn tăn. Đó là chủ trương độc đóan, muốn những làn sóng khác biến đi, đó là nguồn gây chia rẽ Dân tô.c. Chủ trương độc đóan ấy không thể tồn tại vì nó đi ngược với sự tự nhiên. Cái kết quả của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập quyền, với những thất bại chính yếu vừa kể trên đây, tất nhiên đưa đến thối lui Kinh tế, làm cho Dân chúng đói nghèo mà Đảng Cộng sản bất lực không giải quyết được nếu vẫn khư khư giữ lấy chủ trương chính trị và kinh tế như vâ.y. Cô gái vị thành niên từ Bến Tre lên Sài gòn bán thân kiếm sống, những cô gái quê Hà Đông về Hà Nội ngêu ngao Karaôkê là hậu quả tất nhiên của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập trung mà Đảng Cộng sản Viê.t-Nam cố thủ áp đặt lên đầu Dân tộc mà họ gọi là nhân dân.
Từ Tiền đề TƯ HỮU đến Kinh tế Tự do Thị trường và những giải quyết cho vấn đề then chốt là đói nghèo
Chúng tôi lấy lại những điểm đã được trình bầy tuần tự trong phần Kinh tế Kế hoạch Tập trung để quý Vị tiện bề so sánh hai nền Kinh tế.
1. Tiền đề TƯ HỮU Tư hữu là bản năng tư nhiên của những sinh vật kiếm sống và bảo tồn sự sống của mình từ khi sinh ra cho đến khi chết. Con Sóc biết kiếm hột dấu kỹ cho mình phòng Mùa Đông la.nh. Xem những phim về súc vật, chúng ta thấy những con vật đã đi tiểu tiện vòng vòng ở một khu đất để cho đồng loại khi ngửi mùi nước tiểu ấy thì biết rằng đây là vùng đất đã bị chiếm hữu. Loài vật từ bản năng biết chia ranh giới khu vực tư hữu. Cộng sản chủ trương Công hữu, nhưng không thể đi đến chỗ khẳng định dứt khoát rằng thân xác của mỗi người là công hữu. Tôi muốn bắt đầu quyền tư hữu bằng tư hữu chính thân xác của tôi. Cộng sản chưa dám nói rằng thân xác của một nữ cán bộ của Đảng là công hữu, bởi vì nếu thân xác của nữ cán bộ này là công hữu, thì Đảng có quyền quyết định xử dụng thân xác của cô, quyết định dùng thân xác của cô làm hộ lý tùy theo Kế hoạch của Đảng. Khi thân xác của tôi thuộc về tôi, thì tôi phải lo lắng tìm phương tiện bảo tồn nó. Tôi phải có quyền tư hữu tối thiểu một số phương tiện giúp tôi kiếm sống. Về phương diện này, một trong những Thông điệp quan trọng của Tòa Thánh Vatican về Học thuyết Xã hội đã lấy tên là Tư hữu, trong đó quyền tư hữu không phải là điều chủ trương mà là quyền tự nhiên.
2. Quyền XỬ DỤNG Tư hữu Khi chấp nhận quyền Tư hữu, thì hệ luận trực tiếp là Chủ hữu sở phải có quyền xử dụng tư hữu ấy. Nói cho tư hữu mà không cho quyền xử dụng, thì đó là nghịch lý, không phải là quyền tư hữu nữa. Trong sự tôn trọng tư hữu của người khác, Chủ hữu sở phải có quyền tự do xử dụng những phương tiện tư hữu của mình để làm ăn kiếm sống, bảo tồn thân xác của mình. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, đây là cái quyền tự do kinh doanh (Libre entreprise).
3. Kinh tế TỰ DO KINH DOANH sản xuất Như trên vừa nói, nền Kinh tế Tự do kinh doanh chỉ là cái hệ luận tiếp theo của sự chấp nhận quyền Xử dụng Tư hữu gắn liền với bản năng tư hữu tự nhiên. Mỗi cá nhân có quyền xử dụng những phương tiện sản xuất tư hữu của mình đề lo kiếm sống. Nhà Nước không được can thiệp vào công việc mưu sống này của tư nhân bởi vì sự mất còn của kinh doanh là sự mất còn của tư hữu, chứ không phải là công hữu. Những luật lệ của Nhà Nước phải hướng về phía tích cực là tạo những điều kiện cho sự phát triển tự do kinh doanh. Nhà Nước đứng quan sát sự phát triển tự do kinh doanh và là trọng tài để giữ quân bình giữa những đơn vị tư doanh. Quan niệm về vị trí của Nhà Nước như vậy đã được khai triển bởi những Nhà Kinh tế cổ điển Anh (les Classiques Anglais) như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Sau đó dưới sự thúc đẩy của khuynh hướng Xã hội, Nhà Nước được tăng một chút quyền, nhưng chỉ ở phạm vi cho ra những Chỉ đạo chung (Directives générales), chứ không có quyền can thiệp (Intervention) vào nội bộ Kinh tế tư doanh. Nói một cách nôm na rằng tiền vốn là của người ta, để cho người ta làm ăn. Nếu Nhà Nước can thiệp vào để bó buộc cách thế làm ăn, người ta bị thua lỗ, mất vốn, Nhà Nước có thường tiền cho người ta hay không ?
4. Kinh tế TỰ DO tiêu thụ cá nhân Việc tự do tiêu thụ cũng đến từ cái quyền tư hữu những sản phẩm. Khi cá nhân xử dụng vốn tư để làm ăn sinh lời, thì tư nhân có quyền thụ hưởng cái kết quả do mình làm ra. Cái quyền được tự do chiếm hữu những kết quả làm ăn là động lực căn bản của nền kinh tế tự do sản xuất. Không có cái quyền tư hữu những kết quả sản xuất này, nền kinh tế sẽ bị tê liê.t. Nếu những kết quả của những cố gắng sản xuất lại bị bó buộc nhường cho người khác, thì chẳng ai muốn cố gắng làm việc nữa. Nếu chịu khó dùng vốn tư của mình để làm ăn, thua lỗ thì tư nhân ráng chịu, còn nếu khi được lời thì lại phải bó buộc nộp cho Nhà Nước tiêu xài, thì chẳng ai muốn làm việc nữa. Việc san sẻ những lợi tức mà cá nhân kiếm được chỉ là những lời khuyên, cổ võ, chứ không phải là việc bó buộc, chế tài.
5. Kinh tế THỊ TRƯỜNG Thị trường chỉ là hậu quả của cá nhân tự do kinh danh sản xuất và cá nhân tự do tiêu thụ. Người ta gọi đó là CHỢ (Economie de Marché). Thay vì lấy uy quyền và Kế hoạch của Nhà Nước để điều hợp Kinh tế, thì cái CHỢ làm công việc điều hợp này giữa CUNG từ sản xuất và CẦU từ tiêu thụ. Với bảo đảm của một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Assurance de l’Environneme Politico-Juridique adéquat) Cái CHỢ là nơi thể hiện thực sự quyền TỰ DO và quyền DÂN CHỦ cụ thể nhất. Nhà Nước chỉ đứng ở thế làm trọng tài nếu có những vi phạm luật chợ giữa những cá nhân, nhưng chính những cá nhân tự do cung, tự do cầu mới là những chủ lực giữ sự quân bình của nền Kinh tế tôn trọng Thị trường. Cái CHỢ thay thế cho Kế hoạch của Nhà Nước trong nền Kinh tế Thị trường. Còn đối với nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Nhà Nước ngồi chình ình ra ở Chợ, bó buộc những cá nhân sản xuất, những cá nhân tiêu thụ mang hàng quà đến để Nhà Nước quyết định chia cho chút ít hay là chiếm trọn gói cho Nhà Nước. Một nền Kinh tế như vậy, thì không ma dại nào làm hùng hục để mang kết quả đến cho Nhà Nước hưởng. Nhìn vào hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như vừa trình bầy ở trên, chúng ta nhận thấy những điểm sau đây: -> Lợi điểm thứ nhất của nền Kinh tế này là một sự khuyến khích cố gắng làm việc bởi vì cá nhân có quyền tư hữu những kết quả của công việc làm của mình. Thực vậy, làm việc mà bỏ chung vào để người khác cùng hưởng, thì đó là sự khuyến khích lười biếng. Nhưng nếu những kết quả làm việc thuộc về mình, thì mình cố gắng làm việc đêm ngày. Anh SAMPRAS chơi Tennis, nếu những giải phải bỏ chung vào để Nhà Nước tùy nghi phân phối cho người khác, thì có lẽ anh hết cố gắng tập luyện đêm ngày nữa. Các cô bán hàng người Nga trong chế độ Liên xô, rất đẹp, trường túc, nhưng rất tiếc là thiếu nụ cười, bởi vì có cố gắng cười với khách hàng thì Nhà Nước cũng chẳng thêm cho đồng lương. Kinh tế Tự do Thị trường tạo điều kiện tự nhiên tăng năng suất rất cao. -> Lợi điểm thứ hai là việc cổ võ Tiết kiê.m. Tiết kiệm là tiến trình đi đến độc lập của một nền Kinh tế và cũng cho một Quốc gia nữa. Điều kiện của Tiết kiệm là phải tôn trọng Tư hữu, hay nói cách khác quyền Tư hữu khuyến khích Tiết kiê.m. Thực vậy không ai dành dụm để dâng tiền cho Nhà Nước (Công hữu) xài. Tất cả các nước Xã hội Chủ nghĩa không những thiếu vốn mà còn thiếu nợ, bởi vì không ai tiết kiệm cả. Họ nói là có độc lập, nhưng tôi không tin bởi vì nghèo quá phải đi ăn mày, người giầu sẽ đặt điều kiện cho lời tuyên bố độc lập của họ. Nền kinh tế tôn trọng Tư hữu cổ võ tiết kiê.m. -> Lợi điểm thứ ba là giảm thiểu Lãng phí. Thực vậy, Lãng phí là tình trạng’’Cha chung không ai khóc’’, ’’Tiêu xài tiền Chùa’’,’’Xài tiền người khác chứ không phải của mình’’. Xin nhớ rằng Đồng tiền liền với khúc ruô.t. Khi đồng tiền là tư hữu, thì Chủ hữu sở biết căn cơ, không lãng phí. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, người ta còn khuyến khích cho những tư nhân tiêu xài lãng phí để tăng tiêu thụ, kích thích sản xuất. Chỉ có trong nền Kinh tế với Công hữu mới có hiện tượng kêu gọi chống lãng phí. -> Lợi điểm thứ tư là có sự kiểm soát phanh phui Tham nhũng. Thực vậy, Tham nhũng có cả ở trong hai nền Kinh tế. Tham nhũng ở đâu cũng giống nhau, nhưng cái khác nhau là trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường, người ăn tham nhũng dễ bị phanh phui lật tẩy bởi vì có tự do báo chí, có sự đối lập về quyền hành, có sự trừng phạt của Luật pháp đồng đều, có sự phản kháng của chính cá nhân cho tham nhũng; trong khi ấy ở nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, việc tham nhũng có quyền hành bao che và dễ trở thành định chế, không có đối lực phanh phui. -> Lợi điểm thứ năm và rất quan trọng là trong hệ thống Tổ chức của nền Kinh tế Tự do Thị trường, chất xám của Nhân lực được nâng đỡ phát triển. Thực vậy, hệ thống tổ chức quyền hành theo kiểu Cấp bậc tập trung Kim tự tháp (Organisation hierarchique pyramidale) chỉ áp dụng cho sản xuất những sản phẩm thô sơ với nhân công rẻ và ở trình độ kiến thức thấp. Chúng ta ở vào thời đại mà những phương tiện truyền thông, giáo dục, thông tin được chuyển đi với tốc độ siêu thanh. Kỹ thuật tiến triển theo cấp số nhân. Kiến thức, chất xám được thu thập mau lẹ. Những sản phẩm trở thành tinh vi và phúc ta.p. Trong một khung cảnh tiến hóa của thời đại như vậy, tổ chức Trung ương Tập quyền theo kiểu Tổ chức Cấp bậc Kim tự tháp cho Nhân lực đầy chất xám và cho sản phẩm tinh vi là một việc làm phản tiến bộ. Nhất là thêm vào đấy, tính cách độc quyền, sự áp đặt của Kế hoạch được trợ lực bởi Công an khủng bố là việc làm tiêu diệt kiến thức và những sinh động sáng tạo của nó. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng sự tiến bộ này của chất xám cá nhân. Những khuôn mẫu Tổ chức phân quyền hoặc theo Nhóm trách nhiệm (Organisation décentralisée modulaire/ Organisation par Groupes Responsables) được áp dụng để nâng đỡ tối đa sự tiến bộ của chất xám.
KẾT LUẬN: Con đường giải thể chế độ Cộng sản
Trình bầy hai nền Kinh tế như trên, chúng tôi muốn nói rằng cuộc đấu tranh ngày hôm nay, không phải là việc xung động tình cảm nhất thời, mà là một sự cố gắng tìm kiếm một con đường, trong sự phân tích bình thản của lý trí, nhằm tôn trọng những quyền căn bản làm người của Dân Việt và nhằm sự phát triển nền Kinh tế đất nước. Việc phát triển Kinh tế này cốt ý giải quyết cấp bách tình trạng đói nghèo hiện nay, đồng thời nhắm sự phát triển tương lai cho Nước Việt sánh kịp với những nước khác trong vùng. Bộ Chính trị Đảng, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải và Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng loạt khẳng định sự chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Dân Việt ghi nhận lời khẳng định này. Chúng tôi cùng Dân đấu tranh để Đảng và Nhà Nước phải tôn trọng lời khẳng đi.nh. Việc đấu tranh của chúng ta là nhất thiết đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải thi hành đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà. Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng đi.nh. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi; 2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng; 3) Đối lập chính trị phải hiện diện; 4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm; 5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường. (Chúng tôi sẽ trình bầy trong những số báo tới về sự phù hợp như thế nào của từng điểm trên đây đối với đòi hỏi của nền Kinh tế Tự do và Thị trường)
Dân Việt, trong cũng như ngoài nước đấu tranh đòi hỏi những điều trên đây là việc làm giúp đỡ Đảng và Nhà Nước có can đảm thực hiện điều mong ước của chính Đảng và Nhà Nước. Cộng sản và những người bồi Cộng không có quyền nói rằng cuộc đấu tranh hôm nay là chống lại Nhà Nước hiện hành. Đảng và Nhà Nước đã công khai chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường, thì Dân yêu cầu Đảng và Nhà Nước thực hiện cho đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Dân xin nhắc cho Đảng và Nhà Nước biết rằng mỗi một nền Kinh tế có một Môi trường Chính tri—Pháp lý phù hợp riêng. Không thể làm tréo cẳng ngỗng, không thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà Đảng và Nhà Nước đã long trọng chấp nhận chỉ có thể có khi mà Đảng và Nhà Nước thực hiện 5 điểm vừa liệt kê trên đây. Làm theo yêu cầu chính đáng của Dân trong việc thực hiện đúng đắn một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp với nền Kinh tế Tự do và Thị trường , tức là Đảng Cộng sản tự làm công việc giải thể chế độ hiện hành của mình trong êm dịu. Dân cũng yêu cầu Quốc hội giúp đỡ Đảng để làm công việc giải thể chế độ này trong êm dịu. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI: XÓA BỎ ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH. Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng. Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào? Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà. Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi; 2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng; 3) Đối lập chính trị phải hiện diện; 4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm; 5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Bài này bàn về đòi hỏi XÓA BỎ ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP với những điểm như sau: => Những đặc tính căn bản của một Công ty Tư bản Tư doanh => Điều 4 của Hiến Pháp không phù hợp với những đặc tính căn bản của Công ty Tư bản Tư doanh
Những đặc tính căn bản của một Công ty Tư bản Tư doanh
Đơn vị tác động trong một nền Kinh tế là Công ty hợp lại do những tư nhân, bằng sự góp vốn tư, với quyền tự tổ chức, gọi là Xí nghiệp tư doanh tư bản, hay Công ty do Nhà Nước đứng ra tổ chức, với vốn do Nhà Nước cung cấp, gọi là Xí nghiệp quốc doanh. Chúng tôi chỉ bàn ở đây Công ty tư bản tư doanh. Trong một số báo trước, chúng tôi đã viết về những Đặc tính căn bản này. Hôm nay chúng tôi nhắc lại đây vì là điều cần thiết để chứng minh rằng việc đòi hỏi xóa Điều 4 của Hiến Pháp là một đòi hỏi Kinh tế chứ không nguyên là một đòi hỏi chính trị. Đê trình bầy những Đặc tính căn bản này, chúng tôi bắt đầu định nghĩa một Công ty Tư bản để từ định nghĩa ấy, rút ra những Đặc tính căn bản. Đã từ lâu, chúng tôi chọn câu định nghĩa sau đây: ’’Xí nghiệp tư bản là một TỔ CHỨC, TỰ TRỊ VỀ TÀI CHÁNH, giới thiệu NHỮNG SẢN PHẨM KINH TẾ trên THỊ TRƯỜNG để trao đổi, nhằm mục đích đạt được LỢI NHUẬN tối đa’’ Từ câu định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra những Đặc đính và Điều kiện sau đây:
1. Xí nghiệp phải có tự trị TỔ CHỨC Xí nghiệp là một tổ hợp gồm chính yếu Nhân lực (Labor) và Vốn (Capital). Nhân lực chỉ gồm sức làm việc của người, chứ không được bao gồm vào đó sức làm việc của bất cứ loài vật nào như Trâu, Bò, Ngựa, Voi... vân vân. Sự phân biệt này dựa trên điểm căn bản là Người có trí khôn để có thể có tiến bộ làm tăng hiệu lực lao động của mình, trong khi ấy tất cả sức làm việc của các loài vật khác dù có mạnh hơn người nhiều, nhưng không có trí khôn để sáng tạo những tiến bộätừ kỹ thuật đến phương pháp làm hành động. Việc phân biệt này rất quan trọng ở chỗ nếu một tổ chức mà không nâng đỡ sự tiến bộ tự do của trí óc con người, thì tổ chức ấy làm hại chính hiệu năng sản xuất. Vốn (Capital) được định nghĩa bao gồm tất cả những phương tiện sản xuất khác không phải là Nhân lực: máy móc, dụng cụ, các loài vật làm chung với người... Để có thể gọi một Xí nghiệp là có TỔ CHỨC, cần phải thỏa mãn những điều kiện sau đây: a. Định MỤC ĐÍCH của tổ hợp hoạt động, dù ngắn hạn hay dài hạn. Không thể gọi là Xí nghiệp nếu tổ hợp hoạt động gồm người và vốn cùng làm việc mà mỗi đơn vị nhìn một hướng khác nhau. Việc định Mục đích này phải được thực hiện trong nội bộ của Xí nghiệp, nghĩa là không được có một áp lực nào của ngoại tại, với mục đích khác, xen lấn vào để áp đặt. b. PHÂN CÔNG làm việc Việc phân công dựa trên khả năng của mỗi đơn vị làm việc trong tổ chức. Trong khi phân công, Xí nghiệp luôn luôn lấy điểm đối chiếu là cái Mục đích đã đặt ra ở trên. Tỉ dụ nếu một đơn vị trong tổ chức, cùng nhận công tác làm việc, nhưng lại mang mục đích kiểm soát nhằm phục vụ mục đích của Tổ chức khác, thì không thể chấp nhận được. Cũng vậy, nếu một người thiếu khả năng cần thiết cho Tổ chức, nhưng vì là con ông, cháu cha mà được đặt vào chỗ làm việc của Tổ chức, thì hiệu năng của Tổ chức bị giảm sút. c. ĐIỀU HỢP công việc của các đơn vị. Từ mục đích cùng đặt ra, sự Phân công làm việc được hoặch định. Nhưng công việc được chia ra mà không có sự ĐIỀU HỢP vào một nhịp điệu ăn khớp với nhau, thì cũng không đạt được hiệu năng của Tổ chức. Sự cần thiết điều hợp này đòi hỏi phải có Ban Điều hành. d. KIỂM ĐIỂM việc thi hành (Feedback) Việc kiểm điểm này cũng phải lấy Mục đích làm điểm quy chiếu và lấy hệ thống Điều hợp làm căn cứ sửa chữa. Kiểm điểm đây không có nghĩa là kiểm soát để chế tài, mà là để chỉnh đốn lại (feedback) những hoạt động đơn vị cho phù hợp với hệ thống điều hợp để đạt mục đích đã định. Với tất cả những điều kiện của tổ chức như trên, chúng ta thấy rằng cái quyền Tự Trị là một điều kiện bất khả xâm phạm của một Tổ chức nếu Tổ chức muốn đạt được hiệu năng tối đa.
2. Tự trị về TÀI CHÁNH Về phương diện kinh tế, cái quyền lực đến từ đồng tiền. Mức độ độc lập của một Tổ chức được đo bằng mức độ tự trị về tiền bạc. Nhân điểm này, chúng ta cũng có thể hiểu rằng, một nước nghèo về kinh tế rất khó giữ được sự độc lập về chính trị. Khi khởi đầu một Xí nghiệp, Tổ chức có ít quyền tự trị vì phải lệ thuộc vào những ảnh hưởng của những người nắm Tín dụng. Cố gắng liên tục của một Xí nghiệp tư bản là tần tiện để tạo sự tự trị về tài chánh. Thực vậy, không có tự trị về tài chánh, thì Xí nghiệp không có những mạnh dạn để quyết định Mục đích của mình. Chúng tôi nghĩ đến một Công ty quốc doanh với tài chánh lệ thuộc vào quyết định của Nhà Nước, của Đảng, nghĩa là của quyền lực chính trị ngoại tại, thì Công ty ấy khó lòng có khả năng đặt những mục đích sáng tạo của mình.
3. Giới thiệu SẢN PHẨM KINH TẾ trên Thị trường để trao đổi Để có thể gọi một sản phẩm là SẢN PHẨM KINH TẾ thuần túy, cần phải có những điều kiện sau đây: a. Tính cách Hiếm có của sản phẩm Chính cái tính hiếm có của sản phẩm tạo cái giá trị nội tại của sản phẩm. Phải để cho Xí nghiệp tự do đặt vào sản phẩm sự cá biệt để tạo tính hiếm có của sản phẩm. Sự hiếm có này làm cho Kinh tế Thị trường có tính cách đa diện của mặt hàng khác nhau theo với óc sáng tạo của mỗi Xí nghiệp. b. Tính cách có thể Trao đổi của sản phẩm Đây là tính chất của mặt hàng phù hợp với nhu cầu của người tiêu thụ. Thị trường là nơi trao đổi sản phẩm, nghĩa là phải có số đông muốn mua hàng của mình. Chính bản chất của sản phẩm tự nó tạo nên Thị trường rồi. Sản phẩm nhằm người mua và người mua có quyền tự do chọn lựa, không bị những ảnh hưởng ngoài ý muốn của mình. Xin lưu ý rằng trong câu định nghĩa, chúng tôi dùng chữ giới thiệu sản phẩm để nêu rõ tính cách tôn trọng tự do, tôn trọng việc tự quyết định tiêu thụ của khách hàng. Kỹ nghệ gia hay Thương gia không có quyền xử dụng quyền lực của mình hay của ai khác để bắt ép khách hàng phải mua. Họ chỉ có quyền giới thiệu sản phẩm của mình lên Thị trường, còn việc mua hay không là do quyền tự do chọn lựa của người tiêu thụ. Về điểm này, trong những chế độ độc tài, có rất nhiều vi phạm.
4. THỊ TRƯỜNG Thị trường là nơi gặp gỡ tự do để người bán giới thiệu sản phẩm và người mua tự do quyết định trao đổi. Những quyết định về giá cả phải theo luật tự do cung cầu ở Thị trường. Thị trường là nơi tượng trưng cho việc thể hiện tự do của mỗi cá nhân về mặt làm ăn kinh tế. Khi nói Kinh tế Thị trường là nói đến tự do cá nhân trong việc quyết định quyền làm ăn của mình. Thị trường là động cơ điều hợp cuộc sống Kinh tế . Nó là nơi thể hiện cụ thể cái ý nghĩa Dân chủ trong việc điều hành Kinh tế quốc gia. Để hiểu hơn về ý nghĩa Dân chủ của Thị trường, chúng tôi muốn nói đến nền Kinh tế Tập trung Chỉ huy hoặc Kinh tế Kế hoạch (Economie dirigiste ou Economie des Plans). Trong nền kinh tế này, tất cả quyền quyết định sản xuất hay tiêu thụ phải theo sự chỉ dẫn hoặc kế hoạch của Trung ương Nhà Nước, của Đảng và Bộ Chính trị. Nền kinh tế ấy tất nhiên phản lại tự do cá nhân và dân chủ.
5. LỢI NHUẬN tối đa Đây là lợi nhuận kinh tế, tài chánh, nghĩa là ’’tiền bạc’’, chứ không phải là lợi nhuận về xã hội, về luân lý hay đạo đức. Người làm Kinh tế nhằm mục đích tối hậu của mình là kiếm được càng nhiều càng hay về ’’tiền bạc’’. Khi còn nghèo, làm kinh tế để cho bụng no. Khi đã có đồng ra đồng vào, thì làm kinh tế để có được nhiều tiện nghi hơn, để cho đời sống của mình và của con cháu mình được bảo đảm trong hiện tại và cho tương lai. Ý thức hệ Cộng sản đã bắt người làm kinh tế phải phục vụ cho nhóm đảng Cộng sản, nghĩa là mục đích tối hậu là phục vụ chính trị, mà là chính trị phe đảng chứ không phải của toàn dân. Sự ép đặt này của Cộng sản dẫn đến kiệt quệ về kinh tế, và tình trạng đói bụng này của Dân đã là động cơ chính yếu làm cho chế độ Cộng sản Liên xô và những nước Đông Aâu phải tự giải thể. Suốt 27 năm trường không chiến tranh, Cộng sản Việt-Nam đã làm cho Dân ’’đói nghèo’’ để đến nỗi Nha Nướcø phải đi năn nỉ lòng thương hại của những nước khác để họ cho vay qua World Bank cho việc ’’xóa đói giảm nghèo’’ của nước mình. Họ đã bắt Dân làm ăn, không được nhìn mục đích kinh tế, mà phải nhìn và phục vụ chính trị của Đảng Cộng sản.
Điều 4 của Hiến Pháp không phù hợp với những đặc tính căn bản của Công ty Tư bản Tư doanh
Điều 4 của Hiến Pháp dành quyền quản trị Đất Nước cho một Đảng duy nhất, đó là Đảng Cộng sản Việt-Nam. Cái độc quyền này, dù được trao phó một cách dân chủ, hoặc do sự ’’đánh đĩ’’hình thức dân chủ hay do sự cưỡng chế chiếm quyền bằng khủng bố, thì vẫn là điều không phù hợp với việc thi hành và phát triển những đặc tính căn bản của một Công ty Tư bản Tư doanh như vừa trình bầy trên đây. Xin lưu ý là trong bài này, chúng tôi chỉ nói trong bình diện hòan tòan Kinh tế, chứ không đề cập vấn đề ở phạm vi Chính trị. Chúng tôi lần lượt trình bầy những điều không phù hợp đối với những đặc tính.
1. Tự trị về TỔ CHỨC Trong một chế độ dành độc quyền cho Đảng CSVN, Đảng luôn luôn tìm đủ một thủ đọan để củng cố quyền hành của mình. Việc đầu tiên của Đảng là chủ trương gài người vào trong bất cứ một Tổ chức nào, dù đó là những Tổ chức Tôn giáo, Giáo dục, Văn hóa, Xã hội hoặc ngay cả Thể thao. Gài người vẫn chưa đủ, Đảng còn dành quyền phê chuẩn, chế tài những việc chỉ định quyền hành trong nội bộ của những Tổ chức. Việc làm này của Đảng nhằm mục đích làm cho tất cả các Tổ chức phải ủng ho hoặc tối thiểu không phản đối cái quyền độc đóan của mình do Điều 4 của Hiến Pháp cho phép. Nhìn vào thực tế hình thành những Công ty tư nhân hiện nay ở Việt-Nam. Trong giai đọan đầu của chính sách Đổi Mới và cởi mở, một số Công ty nước ngòai và một số Tư nhân Việt Nam từ Hải ngọai muốn mở cơ sở làm ăn. Những can thiệp độc đóan của Nhà Nước đã làm cho đợt này thất bại. Chúng tôi vẫn nhớ lời nhận xét của Oâng Lãnh sự Thụy sĩ tại Việt-Nam khi Oâng cho ý kiến cho giới Kinh doanh Thụy sĩ tại Zurich:’’L’euphorie des entreprises vietnamiennes tombe’’(Sự hồ hởi trổ bông của những Công ty Việt Nam rụng xuống). Trong thời gian này, chúng tôi cũng đại diện cho một Tập đòan Tài chánh Hoa kỳ để làm việc về tài chánh với một số Công ty, nên đã có dịp nhận xét những thất bại của việc hình thành này do chính tính cách độc đóan của chế độ. Chúng tôi chỉ nói đến các Công ty hòan tòan tư nhân và điều hành bởi người Việt Nam. Giới Việt kiều về làm ăn, nhưng tất nhiên không thể mang về trường vốn. Những việc can thiệp sau đây vào Tổ chức tư doanh đã làm cho một số đông những người này mất vốn ra đi. Việc đầu tiên là xin Giấy phép: tòan bộ hành chánh rất phức tạp và chậm chạp. Một Công ty cho tôi xem hồ sơ và nói rằng họ phải xin đến con dấu thứ 24 mà vẫn chưa ổn công việc. Lý do của sự phức tạp là Đảng phải nghĩ ra đủ mọi cơ quan hành chánh để xếp chỗ làm việc cho đảng viên. Sự chậm chạp là mỗi cơ quan giữ quyền tìm cách bới lá tìm sâu trong các hồ sơ để tìm cớ đe dọa đổi lấy tiền hối lộ. Một số người thuộc Chính quyền trước năm 1975 còn bị bới móc luôn về phương diện chính trị. Đây là chính câu chuyện bản thân tôi gặp phải. Khi tôi đại diện Tập đòan Tài chánh về để nói chuyện về Dự án Kho hàng tại Biên giới Tân Thanh (Đồng Đăng). Oâng Tổng Lãnh sự tại Thụy sĩ khuyên tôi lấy Visa Du lịch cho mau hơn. Về ở một Khách sạn tại Hà Nội. Ngày hôm sau, công an điện thọai đến Khách sạn hẹn gặp tôi. Tôi báo tin cho Oâng Nguyễn Ngọc Lương, cựu Tổng Lãnh sự tại Geneve và làm Đại diện cho tôi tại Hà Nội. Vừa báo tin cho Oâng ấy biết, Oâng phải chạy ngay đến Khách sạn để ngồi chờ vì Oâng nói với tôi rằng Oâng không muốn những người công an ấy đưa tôi đi nơi nào khác ngòai Khách sạn. Khỏang 11 giờ sáng, hai công an đến Khách sạn và tuyên bố rằng chính lẽ họ yêu cầu tôi đến sở Công an để làm việc, nhưng vì nể tôi là một Giáo sư ở nước ngòai, nên họ đến tận Khách sạn. Họ nói cho tôi biết là tôi mang Visa Du lịch, không được quyền nói về Tài chánh. Tất cả những bới móc tìm kiếm lý do để can thiệp vào những công chuyện làm ăn khiến những tư nhân nản lòng. Nhiều người mang vốn về làm ăn, mới ngồi chờ đợi, chạy chọt các cơ quan hành chánh phức tạp, xin xong được Giấy phép, thì số vốn mang về đã hết hơn một nửa. Một số những tư nhân ở Việt Nam đứng ra làm ăn. Họ có thể lo liệu những Giấy tờ hành chánh mau hơn vì phần lớn hoặc là con ông cháu cha trong Đảng, hoặc là quen thân với Đảng, hoặc chính họ là cựu Đảng viên. Những người này lo liệu Giấy phép mau hơn, nhưng lại không có vốn. Họ xin vay vốn Nhà Nước qua 5 Ngân Hàng Thương Mại thuộc Nhà Nước. Nhà Nước nắm vốn, thì tất nhiên vốn là nguồn để tổ chức Công ty lệ thuộc vào Nhà Nước. Không thể có tự trị khi mà người khác nắm vốn, tức là nắm mạch tim của mình. Chính nơi những Công ty của lớp người này mà đã xẩy ra nhiều những vụ hè nhau ăn cướp tiền của công. Những người làm Ngân hàng bị khiển trách, mất chức, những Công ty tuyên bố sạt nghiệp, nhưng những người này ăn cánh với nhau để cướp của công. Khi xin Giấy phép xong rồi, thì việc tổ chức làm ăn còn gặp rất nhiều những can thiệp của quyền hành ngọai tại. Oâng Nguyễn Quang A, một cựu Sinh viên phía Đông Aâu, về mở một Công ty Điện tóan. Trong bữa ăn ’’ốc thuốc bắc’’ bên bờ Hồ Tây, ông nói với sự bực tức rằng:’’Trong cái xã hội làm ăn hiện nay, thằng nào làm ăn mà nhô đầu lên cao hơn những thằng khác, thì có cái máy chém quyền lực quay ngày đêm trên đầu mình và chém đứt cái đầu nhô lên.’’Thực vậy, cái độc đóan về quyền lực lúc nào cũng sẵn sàng xen vào Công ty bằng cách xếp cho con ông cháu cha làm việc, gây khó khăn để kiếm chác, lấy danh nghĩa giúp Mẹ chiến sĩ, Thương phế binh, Trẻ mồ côi...để xin tiền ủng hộ có tính cách bó buộc mà một phần những tiền ủng hộ này lại không đến tay những Mẹ chiến sĩ vân vân. Đối với những Tổ chức Tôn giáo, Văn hóa, Xã hội..., Đảng can thiệp vào tính cách tự trị của tổ chức vì Đảng, về mặt tiêu cực, cố ý cầm chân những Tổ chức để không phản đối họ; và, về mặt tích cực, Đảng xử dụng những Tổ chức để ủng hộ Chính trị độc đóan của Đảng như tỉ dụ Phái đòan Tôn giáo mới sang Hoa kỳ trong tháng 5 vừa rồi. Đối với những Công ty Tư doanh, sống trong chế độ độc quyền cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp, những Đảng viên với quyền hành, từ lớn đến nhỏ, can thiệp tổ chức của những Công ty Tư doanh, gây khó khăn, với mục đích không tất nhiên là để ủng hộ chế độ, nhưng chính yếu là những người có quyền lực muốn kiếm chác nồi cơm lớn nhỏ cho chính bản thân mình. Chúng ta có thể khẳng định rằng tất cả những tư nhân, trong cũng như từ ngòai về, khi tổ chức làm ăn ở Việt-Nam, đều cảm thấy cái sức ép can thiệp của quyền lực chính trị độc đóan vào nội bộ làm ăn của mình. Cái quyền lực độc đóan được Điều 4 của Hiến Pháp cho phép. Hòan tòan đứng ở phương diện Kinh tế mà nói, khi cái Điều 4 này còn nằm chình ình ở trong Hiến Pháp, thì sự vi phạm của quyền lực chính trị vào tính cách TỰ TRỊ của tổ chức một Công ty Tư bản Tư doanh không thể tránh được. Phải xóa bỏ Điều 4 của Hiến Pháp vì nhu cầu thực hiện đích thực nền Kinh tế Tự do và Thị trường, trong đó những Công ty Tư bản là những đơn vị chủ chốt của nền Kinh tế.
2. Tự trị về TÀI CHÁNH Vốn tư là do Tiết kiệm. Tiết kiệm là một phần của thu họach dành dụm ra ngòai việc chi tiêu. Tiền tiết kiệm như vậy cũng là do công sức làm việc kiếm tiền. Người ta thường nói rằng:’’Kiếm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn’’. Thực vậy việc tiêu tiền trong tư doanh là với chủ ý làm tiền được nhiều hơn số mình đã tiết kiệm và dùng để kinh doanh. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng người bỏ vốn ra để kinh doanh muốn làm chủ cái số vốn để tự mình trách nhiệm về sự mất còn, chứ không muốn bỏ mồ hôi nước mắt ra để những người không bỏ vốn có quyền quyết định trên cách thế làm ăn. Người bỏ vốn muốn có sự tự trị. Đối với một Công ty, việc độc lập của những quyết định cách thế làm ăn tùy thuộc vào sự độc lập của Tài chánh. Thực vậy, trong một Công ty nặc danh hùn vốn, ai có nhiều tiền hùn vào là người đó có quyền, không cần phải xét người đó khôn ngoan, thông minh hay mát dây điện. Nó khờ khạo, nhưng nó có nhiều tiền đóng góp, thì nó có quyền, không cần phải cãi vã lý thuyết này hay ý thức hệ kia gì cả. Thực vậy, người bỏ tiền nhiều vào Công ty, mà họ không có quyền quyết định quan trọng về Công ty, mà để cho người khác quyết định một cách vô trách nhiệm về sự mất còn của vốn của họ, thì họ rút ra khỏi Công ty. Một Công ty vắn vốn, phải sống bằng tín dụng của một Ngân Hàng, thì Ngân hàng sẽ có quyền duyệt xét kinh doanh, nghĩa là Công ty mất quyền tự trị. Đối với việc đóng góp vốn quốc tế đầu tư, những nhà tư bản chú trọng đến khía cạnh an tòan của vốn hơn là vấn đề lợi nhuận cao. Thực vậy có hai thái độ : (i) đầu tư với lợi nhuận thấp nhưng an tòan vốn được bảo đảm tối đa. Đây là thái độ của hầu hết những nhà đại tư bản; (ii) đầu tư với lợi nhuận cao đi song hành với những rủi ro cao. Đây là thái độ của những nhà trung và tiểu tư bản còn ở trong tuổi hăng say làm tài chánh, còn mang máu ’’đánh bài cào’’. Nhưng dầu vậy họ vẫn luôn luôn dành một số vốn phòng thân và vốn bảo đảm cho tuổi già. Khi tôi làm Luận án Tiến sĩ về Thị trường Chứng khóan của Thụy sĩ, thì công việc là nghiên cứu những Nhóm lượng Kỳ phiếu (Portefeuilles) tiến gần đến Rủi ro Zero, nghĩa là rủi ro nhỏ nhất. Thị trường Chứng khóan của Thụy sĩ được coi là Thị trường ít biến động cũng như đồng tiền của họ. Trên con đường phát triển của những Công ty ký danh ở Thị trường, phải dùng những dữ kiện thống kê hàng ngày trong vòng 10 năm để nghiên cứu cái Ma trận gồm những phương sai và những đồng phương sai của những sai số giữa những Công ty thành phần trong nhóm (Estimation de la Matrice de Variances-Covariances des Erreurs dans la Régression) để tìm ra những Giá trị ký danh tại Thị trường mà những Giá trị này cho những Rủi ro nhỏ nhất. Đây là thái độ căn bản của những nhà Tài chánh quốc tế và những nhà Tư bản. Song hành với việc nghiên cứu những dữ kiện thống kê, chúng tôi cũng phải nghiên cứu những Aån số Kinh tế, Chính trị, Chiến tranh, Thiên tai...ảnh hưởng tới những Giá trị ký danh ở Thị trường Chứng khóan. Nếu Chiến tranh, Thiên tai...được coi là những ẩn số có tính cách giai đọan, thì tình trạng Kinh tế và thể chế Chính trị của một nước được coi như những ẩn số thường xuyên ảnh hưởng trên những Giá trị ký danh chứng khóan. Những người bỏ vốn đầu tư thường căn cứ trên những chỉ số tin tưởng về tài chánh cung cấp bởi những Tổ chức quốc tế nghiên cứu những dữ kiện thống kê. Theo cuốn MOODY’S COUNTRY CREDIT STATISTICAL HANDBOOK, phát hành tháng Giêng 2002, thì sự tin tưởng vào vấn đề tài chánh của Việt-Nam ở chỉ số B1 với định nghĩa như sau:’’Assurance of interest and principal payments or of maintenance of other terms of the contract over any long period of time is small’’(Việc bảo đảm trả lời và vốn hoặc việc bảo đảm việc tuân giữ những kỳ hạn của hợp đồng qua bất cứ hạn kỳ dài nào thì rất nhỏ nhoi, lỏng lẻo.’’ Cái chỉ số ấy tất nhiên không cho tin tưởng của những nhà đầu tư vào tính cách an tòan của vốn cho vay đối với Việt-Nam. Nhìn vấn đề gọi vốn cho Công ty và nhìn thái độ của những nhà tư bản và những nhà tài chánh quốc tế như trên vừa trình bầy, chúng ta thấy rằng việc kêu vốn và quản trị độc lập Tài chánh của một Công ty tư bản đúng nghĩa ở Việt-Nam gặp những trở ngại quan trọng bởi Điều 4 của Hiến Pháp cho quyền thiết lập một chế độc độc tài chuyên chính ở Việt-Nam. Những năm trường kinh nghiệm của cái chế độ này cho thấy sự suy thóai của nền Kinh tế đến đói nghèo, thêm vào đó việc tham nhũng và lãng phí lan tràn của những người nắm độc quyền quản trị đã được cho phép bằng chính Hiến Pháp. Những người bỏ vốn ra cho Công ty tư bản không muốn vốn của mình bị ảnh hưởng quyết định một cách độc đóan bởi quyền lực chính trị ngọai tại. Những nhà tư bản và tài chánh quốc tế không muốn đem vốn vào Việt-Nam ở trong một chế độ độc tài độc đảng, không đối lập, không tự do báo chí, luật pháp bị đặt dưới quyền chính trị, để số vốn khi gặp rủi ro, không có đường khiếu nại để cứu vãn trong một chế độ chuyên chính thiết lập bởi Điều 4 của Hiến Pháp. Đặc tính độc lập về Tài chánh, tự trị của Tư bản đòi hỏi phải xóa bỏ Điều 4 của Hiến Pháp, nếu muốn có sự thực hiện đúng đắn của nền Kinh tế Tự do và Thị trường
3. Tự do GIỚI THIỆU SẢN PHẨM trên Thị trường. Phương diện này liên hệ chính yếu đến vấn đề tự do đề nghị tiêu thụ và tự do tiêu thụ. Tất nhiên những mặt hàng sản xuất là ở trong khuôn khỏ luật định. Chúng tôi chỉ muốn nói đến phương diện khi những mặt hàng theo qui định được sản xuất rồi, Nhà Nước không được quyền can thiệp vào những phương án giới thiệu sản phẩm cho Thị trường, nơi trao đổi sản phẩm để phục vụ những nhu cầu tiêu thụ của người mua. Phương diện này thuộc về cả một ngành học đang được phát triển sâu rộng: ngành Marketing. Thị trường ở đây không phải chỉ hạn hẹp ở trong nội địa Việt-Nam, mà còn bao trùm tất cả những khả thể tiêu thụ Quốc tế, từ những vùng vây quanh Việt-Nam cho đến những Thị trường xa hơn của năm Châu. Trong hiện trạng, Đảng và Nhà Nước, với độc quyền quản trị cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp, chủ trương hạn chế những Công ty Thương mại, Dịch vụ tư nhân để giữ quyền ấy cho những Công ty quốc doanh trực thuộc vào quyền lợi của Đảng. Quyền Tự do GIỚI THIỆU SẢN PHẨM cho Thị trường bị chế độ độc quyền hạn định về nhiều phương diện. Chúng tôi chỉ kể ra những hạn định chính sau đây: => Chế độ lấy sản phẩm phải qua tay những Công ty quốc doanh => Chế độ Quota (Hạng ngạch) xuất cảng và nhập cảng dành ưu tiên cho những Công ty quốc doanh => Chế độ Kiểm sóat ngọai hối là phương tiện chế tài xuất nhập cảng đối với Công ty tư nhân => Dùng những biện pháp Hành chánh hoặc Kỹ thuật để ngăn chặn việc xuất nhập cảng của tư nhân Những biện pháp trên đây nhằm thâu quyền thương mại vào tay Đảng mà Điều 4 của Hiến Pháp đã độc đóan cho phép.
4. THỊ TRƯỜNG Về phương diện Kinh tế, Thị trường là nơi thể hiện cái quyền lực dân chủ thực sự để điều hành đời sống kinh tế của một Cộng đồng, trong khi ấy chế độ độc tài, cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp, chủ trương dùng quyền lực chính trị và những Kế họach nhà nước để điều hợp đời sống kinh tế. Quan niệm về một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đã thiết lập từ những tác giả Cổ điển Anh (Auteurs classiques Anglais) như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Theo những tác giả này, thì Nhà Nước không được can thiệp vào đời sống kinh tế của tư nhân. Nếu có những vi phạm Luật pháp của Thị trường, thì Nhà Nước làm nhiệm vụ của một Cảnh sát để bảo vệ Luật mà thôi. Quan niệm chính thống này về đời sống Kinh tế, với trào lưu ý tưởng xã hội, đã có chút thay đổi bởi những Kinh tế gia Tân-Cổ điển (Néo-Classiques), nghĩa là quyền can thiệp hạn hữu và tùy trường hợp cấp bách của Nhà Nước được cho phép. Nhưng khi Nhà Nước can thiệp, thì không được với tư cách quyền lực chính trị, mà chỉ với tư cách như một Diễn viên (Acteur) cũng như những Diễn viên khác qua lực CUNG—CẦU kinh tế của Thị trường. Tỉ dụ trong trường có biến động của Thị trường Tài chánh hay Thị trường Tiền tệ, Ngân Hàng Quốc gia có thể can thiệp vào bằng cách điều hợp Khối Tiền lưu hành bằng luật CUNG—CẦU cho những Thị trường ấy. Biện pháp OPEN MARKET mà Mỹ đã xử dụng là một tỉ dụ về việc can thiệp hữu hạn và cấp bách của Quyền lực Tiền tệ (Autorité Monétaire) vào Thị trường tự do tư nhân. Theo quan niệm THỊ TRƯỜNG của nền Kinh tế Tự do, thì tuyệt nhiên Nhà Nước không được xử dụng quyền lực chính trị để can thiệp và áp đảo trực tiếp vào THỊ TRƯỜNG bởi vì sự can thiệp và áp đảo này là sự khống chế TỰ DO và DÂN CHỦ đang được thể hiện thực thụ ở Thị trường. Ngược lại, khi Cộng sản thiết lập chế độ của họ, thì quan niệm Thị trường đã hòan tòan bị phế bỏ. Nhà Nước, không phải trong ý niệm can thiệp, mà đã nắm tòan quyền trên đời sống Kinh tế và dùng những Kế họach độc đóan để điều hợp cung cầu theo ý của Nhà Nước. Họ thay thế Thị trường bằng những Điểm Phân Phối, gọi là Hợp Tác Xã Nhà Nước. Cái Điều 4 của Hiến Pháp cho phép Đảng Cộng sản thiết lập hay tái lập hệ thống Kinh tế Kế họach Tập trung và quyền điều hành trực tiếp đời sống Kinh tế của tư nhân. Như vậy, nếu Bộ Chính trị Đảng, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đã đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà vẫn còn giữ chình ình cái Điều 4 trong Hiến Pháp, đó là việc tréo cẳng ngỗng hoặc cố tình lừa đảo.
5. LỢI NHUẬN tối đa Người làm việc bác ái thì chuyên chú làm công việc giúp đỡ tha nhân; người làm kinh tế thì mục đích của họ là đạt được LỢI NHUẬN tiền bạc tối đa. Không phải mình làm việc bác ái mà lên mặt khinh chê những người làm Kinh tế nhằm lợi nhuận. Nhưng thử hỏi nếu không làm ra tiền bạc thì lấy đâu mà đi giúp đỡ người khác, làm việc bác ái. Còn tệ hơn nữa, nhiều người khóac chiếc áo bác ái, làm việc xã hội, để che đậy cho những việc cướp bóc, lừa đảo tha nhân thủ lợi vật chất cho cá nhân mình, phạm luật công bằng xã hội. Mục đích tối hậu của một Công ty tư doanh là kiếm được lợi nhuận tối đa. Khi đòi Tự trị về tổ chức nội bộ, đòi tự trị về tài chánh, đòi tự do giới thiệu sản phẩm trên thị trường, đòi thực hiện quan niệm đích thực THỊ TRƯỜNG, mà Điều 4 của Hiến Pháp đang là cản trở cho những đòi hỏi chính đáng ấy, những người làm Kinh tế nhằm mục đích tối hậu là tăng hiệu năng tối đa đầu tư của vốn bỏ ra. Hiệu năng này được tượng trưng bằng kết quả là LỢI NHUẬN TỐI ĐA thu vào được. Về mục đích thu LỢI NHUẬN tối đa này, Cộng sản và một số Nhóm theo Chủ thuyết Xã hội, nêu ra LỢI NHUẬN xã hội, thường công kích tính cách thiếu nhân đạo, hoặc chỉ chuyên chú đến cá nhân. Lời công kích này dễ quyến dũ một số người tôn giáo hoặc một số thanh niên sống với ngưỡng vọng lý tưởng. Những người chủ trương Kinh tế tư bản Tự do và Thị trường trả lời lại những công kích ấy và tuyên bố họ thực tiễn và cũng tha thiết đến vấn đề nhân đạo và tinh thần xã hội giúp đỡ tha nhân. Chúng tôi xin kể ra đây hai tỉ dụ. Tỉ dụ thứ nhất về sự cần thiết của hiệu năng Kinh tế. Một nhân công phục vụ cho một Công ty tư bản trong vòng 20 năm. Trong hệ thống dây chuyền sản xuất với Kỹ thuật mới, người công nhân ấy không theo kịp nữa và do đó hiệu năng sản xuất của dây chuyền bị sút kém, lợi nhuận vì đó mà giảm xuống. Ban Giám đốc quyết định sa thải nhân công này. Khuynh hướng đặt nặng vấn đề nhân đạo và xã hội công kích rằng việc sa thải này không có lòng nhân đạo và tinh thần xã hội đối với một nhân công đã đóng góp vào lợi nhuận của Công ty trong vòng 20 năm. Khuynh hướng làm Kinh tế theo hiệu năng phản ứng lại và tuyên bố rằng việc sa thải nhân công mang tính cách nhân đạo và xã hội đối với mọi người trong Công ty. Khuynh hướng này nói rằng nếu không sa thải nhân công này, thì lợi nhuận xuống và đi đến thua lỗ, Công ty sẽ bị phá sản và lúc ấy mọi người bị sa thải chứ không phải chỉ nguyên một nhân công kia. Ai nhân đạo và có tinh thần xã hội hơn ai ? Làm kinh tế vì nhằm sự phát triển kinh tế, còn vấn đề xã hội, bác ái được giải quyết bằng nhiều phương cách. Tỉ dụ thứ hai về giải quyết vấn đề chênh lệch xã hội. Những nước theo nền Kinh tế Tự do và Thị trường đã tìm giải quyết vấn đề xã hội bằng việc Tái Phân phối những Thu nhập (Redistribution des Revenus) mà không làm tổn hại đến sức kích thích làm việc theo hiệu năng. Hãy để cho người làm Kinh tế làm việc theo lợi nhuận tối đa. Nhưng dùng hệ thống thuế cấp tiến đối với những Thu nhập cao, xử dụng những thuế thâu được này để hạ giá nhu yếu phẩm và thực hiện những công trình xã hội, giáo dục, nhà thương... cho những người có Thu nhập thấp. Chúng ta thấy tại Hoa kỳ, những người có thu nhập cao bị đánh thuế rất nặng. Những nhu yếu phẩm như đồ ăn, quần áo...thì giá thấp cho đại đa số dân chúng. Đây là chủ trương xã hội mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường giải quyết bằng Tái Phân phối Thu nhập, trong khi ấy tôn trọng Lợi nhuận tối đa như kích thích cơ bản cho những cố gắng của tư nhân sản xuất. Việc làm kinh tế để bảo đảm cho Dạ dầy là một cái quyền mà tất cả mọi chính thể phải tôn trọng đối với cá nhân khi mà chính thể ấy không bảo đảm được cho cái bụng đói của cá nhân. Còn việc nghĩ đến giúp đỡ tha nhân chỉ là một lời khuyên luân lý. Điều 4 của Hiến Pháp cho phép một Đảng thực hiện lời khuyên luân lý, cấm đóan cái quyền căn bản cá nhân làm kinh tế để bảo đảm Dạ dầy của mình. Chế độ Cộng sản giống như cái người vừa nói ở trên: độc quyền khóac cái áo bác ái, vênh vang tự xưng mình làm việc xã hội, để che đậy cho những việc cướp bóc, lừa đảo dân chúng, để thủ lợi vật chất cho từng cá nhân của Đảng, vị phạm chính luật công bằng xã hội. HÃY TÔN TRỌNG LUẬT CÔNG BẰNG ĐỐI VỚI THA NHÂN trước khi muốn làm việc xã hội giúp tha nhân. Kết luận: CHẤP NHẬN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG, THÌ PHẢI BỎ ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP bởi vì cái Điều 4 này cho phép thiết lập hoặc tái thiết lập một thể chế chuyên chính đi ngược lại quyền làm kinh tế của cá nhân để bảo đảm cho cái Dạ dầy của họ. Những đặc tính căn bản của một Công ty tư bản tư doanh vừa trình bầy ở trên cho thấy rằng cái Điều 4 của Hiến Pháp là căn nguyên của tất cả những cản trở việc thực hiện đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI: TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH. Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng. Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào? Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà. Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện: 1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi; 2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng; 3) Đối lập chính trị phải hiện diện; 4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm; 5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Bài này bàn về Điểm thứ hai: TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ PHẢI ĐƯỢC TÔN TRỌNG. Dàn bài như sau: => Tự do Ngôn luận và Báo chí là quyền tự nhiên; => Tự do Ngôn luận và Báo chí là khí giới của những người không có quyền lực; => Tự do Ngôn luận và Báo chí là một đòi hỏi thiết cần cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường
TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ LÀ QUYỀN TỰ NHIÊN
Cái tình cảm, suy tư là những gì vô hình, phải nhờ cái thân xác hữu hình mà biểu lộ ra để khi đồng lọai thấy những biểu lộ hữu hình ấy thì biết tình cảm, suy tư nơi người khác như thế nào. Con cá khi mừng vui cũng biết thóat ra mõm những âm thanh ríu rít. Con chim đực khi muốn cua con chim cái, cũng biết hót lên những âm thanh để con chim cái biết. Con người khi bực tức cũng biết nghiến răng hậm hực, nắm tay dậm chân hay la thét lên. Khi nhìn người khác mà lòng tỏ ra khinh thường, thì mắt nhìn người đối diện từ trên xuống dưới. Còn khi mắt nhìn từ dưới lên trên, thì lòng cảm thấy như ngưỡng mộ người đối diện. Ai cũng biết rằng người ta tỏ tình bằng đôi mắt: nhìn qua đôi mắt để biết yêu hay không. Cái quyền dùng thân xác để biểu lộ tình cảm hay suy tư là cái quyền tự nhiên của lòai vật cũng như của con người. Cấm đóan những biểu lộ ấy là muốn biến sinh vật trở thành những cái máy vô tri vô giác. Viết đến đây, tôi tự nhiên nhớ lại những màn diễn sân khấu của chế độ độc tài Cộng sản. Để diễn tả ý chí cách mạng, những vũ nữ từ hậu trường xếp hàng một kéo ra sân khấu sau lá cờ máu, nắm tay giơ lên, mắt nhìn cờ máu, chạy từ phía này sang phía kia của sân khấu. Từ Tây sang Đông, các nước Cộng sản làm rập theo một khuôn mẫu ấy. Tôi có cảm tưởng những nghệ sĩ không được biểu lộ tình cảm mình, mà phải làm theo đúng cách thế biểu lộ mà Đảng muốn. Họ trở thành những con rô-bô được vặn dây cót, múa may theo chương trình mà Đảng đã đặt sẵn trong những con rô-bô này. Người không còn tự do là người nữa. Cái quyền biểu lộ (Droit d’expression) là cái quyền tự nhiên gắn liền với mọi sinh vật, trong đó có con người. Nơi con người, tình cảm, nhất là lý trí được phát triển không biên giới. Con người lại có khả năng xử dụng phong phú tiếng nói để biểu lộ tình cảm và cái tư duy vô biên giới của mình. Đây là cái quyền NGÔN LUẬN của con người. Không ai có thể cấm đóan những tình cảm, những suy tư vô hình của người khác. Không ai có thể lấy đi khỏi người khác tính cách Tự do của Tình cảm và của Suy tư. Tình cảm và Suy tư phải được bộc lộ ra, phải được NÓI RA. Cái quyền TỰ DO NGÔN LUẬN (Nói Ra) gắn liền với cái quyền TỰ DO RUNG ĐỘNG TÌNH CẢM và TỰ DO SUY TƯ. Không cho quyền Tự do Ngôn luận là đi ngược với bản tính tự nhiên biểu lộ của con người. Những người muốn cấm cái quyền Ngôn luận này là không những muốn biến đồng lọai thành những con vật, mà muốn biến người ta thành những đồ vật (máy) vô tri vô giác. Yêu nhau cũng chỉ là hai cái máy thủ thỉ theo dây cót mà Đảng vặn lên; suy nghĩ cũng phải theo những người ’’đầu não tư tưởng của Đảng’’. Thực là một chính sách độc tài vô nhân đạo. Khi mà cái Tình cảm được tự do, Suy tư cá nhân được tự do, nhưng nếu cấm đóan việc nói ra, con người cảm thấy cực kỳ bực tức và đau đớn. Một đứa trẻ chưa biết nói, khi thấy ai nhìn mình với bộ mặt dữ tợn, nó cũng cảm thấy sự ghét thương, nhưng chưa biết nói, nên nó dùng tiếng khóc để biểu lộ một cách tự nhiên từ bản năng. Người Cộng sản muốn cấm tiếng khóc của đứa trẻ con này hay sao ? Khi người ta thấy kẻ cướp đến nhà, dùng bạo lực khủng bố, đàn áp để lấy của cải, người ta nhìn rõ sự bất công, muốn phát biểu ra, Cộng sản cấm người này không được nói ra hay sao ? Khi người ta có chứng cớ những đảng viên Cộng sản tham nhũng, Đảng Cộng sản không cho phép người ta nói ra việc tham nhũng ấy hay sao ? Tôi đọc bài của Mục sư Kiều Tuấn Nam viết rằng Mục sư Giáo Hội trưởng Phạm Xuân Thiều của Hội Thánh Tin Lành Miền Nam đã uất ức mà chết sau chuyến đi của Phái đòan Tôn giáo sang Hoa kỳ giải’’lao’’ theo kiểu Lê Quang Vịnh. Trong chuyến đi giải lao này, Lê Quang Vịnh đã bắt ép Mục sư Thiều đọc bài diễn văn trái với tình cảm và suy tư của mình, nên Mục sư cảm thấy người uất ức mà không’’Ngôn luận’’ được, và vì vậy đã đứng tim mà chết. Việc cấm đóan tự do ngôn luận không phải là do tôi bịa đặt ra để nói xấu Cộng sản, nhưng là một thực tế mà người Việt Nam nào cũng đã phải sống. Tôi không hiểu Cộng sản là một giống gì mà chúng dám cấm TỰ DO BIỂU LỘ, cái quyền tự nhiên gắn liền với mọi sinh vật, và dám cấm TỰ DO NGÔN LUẬN, cái quyền tự nhiên gắn liền với Tự do Tình cảm và Tự do Suy tư của con người. Tiến thêm một nấc nữa, con người có khả năng sáng chế ra chữ viết. Con người muốn viết biểu lộ những tình cảm và suy tư của mình để thông đạt đến người khác hoặc để lưu trữ trong thời gian cái nội tâm của mình cho những người đến sau. Báo chí viết xử dụng cái phát minh cao qúy này của con người để truyền thông những tình cảm và tư duy. Tiếng nói (Ngôn luận) hay Chữ viết (Báo chí) đều là quyền tự nhiên gắn liền với quyền tự do Biểu lộ trên căn bản quyền Tự do rung động Tình cảm và quyền Tự do Suy tư vô biên giới. Cấm những quyền Tự do Ngôn luận và quyền Tự do Báo chí là phản lại tự nhiên, đi ngược với bản tính Sinh vật, bản tính Con người và phản lại Tiến bộ của Trí tuệ. Cộng sản thường viện cớ những kẻ’’lạm dụng’’ Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí để cấm đóan Ngôn luận và Báo chí. Làm như vậy là không thành thực với chính lương tâm của mình. Xin nói cho đúng với sự thực: NGƯỜI CỘNG SẢN CHỈ MUỐN MỌI NGƯỜI CA TỤNG MÌNH hoặc TỐI THIỂU ĐỪNG XỈ VẢ MÌNH VÌ BIẾT MÌNH LÀM BẬY ĐÁNG BỊ XỈ VẢ, nên đã cấm Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí. Nếu thực tình có ai’’lạm dụng’’ những quyền Tự do ấy, thì đem ra Luật pháp mà xử và bắt tội, chứ không vì sự’’lạm dụng’’nếu có này của một ít người, mà cấm đóan luôn cả hai quyền Tự do Ngôn luận và Báo chí là những quyền tự nhiên của con người.
TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ LÀ KHÍ GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÓ QUYỀN LỰC
Dường như một con chó thông minh, khi gặp những người nào ghiền ăn món cầy tơ, thì nó sủa như xỉ vả. Nhiều tác giả những chuyện phim cho thấy rằng có những con chó khi gặp người có bụng bất lương, chúng linh cảm và tỏ ra thái độ gầm gừ hay sủa thành tiếng. Việt-Nam mình thường nói đến chó hùa, đó là hiện tượng dùng số đông để phản ứng. Trên kia, chúng tôi đã lấy tỉ dụ một đứa trẻ, dù chưa biết nói, nhưng thấy ai nhìn nó với bộ mặt dữ tợn, nó òa lên khóc. Trẻ con, khi một đứa khóc, rất dễ kéo theo những tiếng khóc của đứa khác.Có thể đây cũng là bản năng của những kẻ yếu, phải hợp sức để phản ứng. Một người dân quê bị mất đất đai một cách bất công do những kẻ có quyền hành độc đóan ăn cướp, cũng cố gắng bầy tỏ bằng lá đơn than vãn, rủ những người cùng cảnh ngộ để cùng làm đơn cho có sức mạnh, đến nói với báo chí để may ra họ có tạo thêm được chút dư luận mà đấu tranh. Tỉ dụ cụ thể là Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng với khỏang đất của Nhà Chung, rồi Đan Viện Thiên An với những mẫu đất tư bị lấy, đã lên tiếng phản đối, đã đưa ra công luận ở nước ngòai để tìm một sự trợ lực. Những kẻ yếu, từ con vật như con chó, cho đến đứa trẻ con, rồi người nhà quê, đến những vị trong tôn giáo không có quyền điều hành việc Nước, cũng đều có phản ứng trước bất công là phải nói lên, phải kêu những người cùng cảnh ngộ nói lên cho mạnh, phải đưa ra công luận như là một phương tiện, khí giới tranh đấu cho hòan cảnh không có quyền của mình. Khi những người điều hành việc Nước, đã dành trọn độc quyền cho mình bởi Điều 4 của Hiến Pháp, làm những điều bất công, khủng bố để tham nhũng vô liêm xỉ đối với Dân chúng là những người không có quyền, thì những người này tất nhiên phải nói lên (Ngôn luận), phải nhờ đến Báo chí để mong tìm được khí giới trợ lực cho việc đấu tranh chống bất công. Người dân không có quân đội, không được tự động tổ chức đòan thể tạo sức mạnh hợp quần. Xin chú thích rằng cái tiếng ’’quân đội nhân dân’’ là cái tiếng nói láo. Đó là quân đội của quyền lực Đảng. Cộng sản đã cướp đất, khủng bố để tham nhũng kẻ không có quyền lực, mà còn cấm luôn cái Ngôn Luận và Tự do Báo chí, đó là hành động tước đọat hết mọi quyền phản ứng của người yếu trước những bất công do chính mình làm. Chúng tôi không nói điêu ngoa để vu khống cho Cộng sản. Thực vậy, những miếng đất tư đã bị chiếm đọat, không phải vì quyền lợi của Đất Nước, mà là vì quyền lợi đích thực cá nhân của những kẻ có quyền lực trong Đảng Cộng sản. Chúng tước đọat của tư, nói là cho ích lợi công để che đậy trắng trợn, nhưng thực tình là để bán quyền xử dụng cho những Công ty nước ngòai, lấy tiền chia chác giữa những cá nhân có quyền của Đảng. Khi Công ty nước ngòai muốn xây khu ăn chơi, thì họ tước đọat đất tư của Nhà Chung, của Đan Viện Thiên An..., dưới danh hiệu cho quyền lợi chung của Đất Nước, nhưng thực ra là quyền lợi của những cá nhân có quyền của Đảng và cho Công ty nước ngòai muốn tổ chức đĩ điếm, trụy lạc, ăn chơi ở Việt-Nam để thu tiền. Hãy nhìn kỹ Công ty nào, Liên doanh nào là chủ những Dự án ấy thì hiểu liền cái lý do dùng quyền ăn cướp đất đai của tư nhân. Chắc chắc chúng tôi cũng không bịa đặt ra chuyện Tham nhũng để đổ oan cho Cộng sản bởi vì chính Đại Hội Đảng kỳ IX đã đồng thanh nói lên, chính Bí thư Nông Đức Mạnh mới đây cũng đã nói trước Quốc hội về sự lan tràn của tệ đoan này của Đảng. Cấm đóan quyền Tự do Ngôn luận của những kẻ yếu nạn nhân của bất công, cấm đóan Tự do Báo chí là khí giới của những nạn nhân này, đó là những cấm đóan vô nhân đạo. Dùng quyền độc đóan cướp đọat tài sản của kẻ yếu, đàn áp người yếu một cách dập dụi, còn cấm đóan nạn nhân không được than vãn gì cả, đó là hành động bất nhân của những kẻ vô lương tâm, không phải là con người nữa. Tự do NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ là khí giới tối thiểu của kẻ yếu, khi bị cường quyền bóc lột, đè nén. Cấm Tự do Ngôn luận, Tự do Báo chí cũng như cấm con chó thấy kẻ dữ đến ăn trộm mà không được sủa, cấm đứa trẻ con thấy bộ mặt ngáo ộp nhìn nó mà không được khóc, cấm bà nhà quê mất mấy sào ruộng để sống trót tuổi già mà không được nói, cấm những kẻ không quyền hành khi bị khủng bố tước đọat mà không được than nhất là còn phải mở miệng ca tụng chế độ tốt đẹp đã làm ơn làm phước. Cấm như vậy là vô nhân đạo lắm, là đe tiện lắm Cộng sản ơi!
TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ LÀ MỘT ĐÒI HỎI THIẾT CẦN CHO NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG
Trên kia, chúng tôi nói về tính cách tự nhiên của sự biểu lộ tình cảm và tư duy, nói đến Tự do Ngôn luận và Báo chí như một khí giới tối thiểu của những người không có quyền. Đối với hai quyền này, người ta có thể yên lặng và hy sinh được vì nhu cầu sốngcủa thân xác. Tôi muốn nói |
|
|
|