*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.438/11.03.10
=>So/No.437/04.03.10
=>So/No.436/25.02.10
=>So/No.435/18.02.10
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
THAT BAI KINH TE CHI HUY
TUONG QUAN KT/CHINH TRI
DOC TAI & THAM NHUNG
KT TU DO THI TRUONG
WTO & NGOAI THUONG
TU HUU & DAN CHU
CACH MANG VO SAN MOI
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================



===============================================================
                                  TUONG QUAN KINH TE/CHINH TRI
===============================================================



TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
QUYỀN DẠ DẦY LÀ LÝ DO CĂN BẢN
ĐƯA ĐẾN GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Trong những tháng đầu của năm 2002, Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.


LOẠT BÀI THỨ NHẤT:
MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP

 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:

1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)
 
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.


LOẠT BÀI THỨ HAI:
TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ

Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.

 Bài hôm nay bàn trước hết về những trường hợp tự giải thể của Chế độ Cộng sản và sau đó nói về sự đóng góp của chúng ta trong giai đoạn này dẫn đến việc mau mắn tan rã của chế độ Cộng sản Việt-Nam.

CHỨNG CỚ LỊCH SỬ VỀ VIỆC TỰ GIẢI THỂ CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

 Không phải vì bi quan mà tôi thường khẳng định rằng hầu hết những quyết định về tương quan quốc tế, dù dưới những chiêu bài hào nhoáng luân lý hay tình người, có những động lực chính yếu liên quan đến quyền dạ dầy (stomach right). Dưới danh nghĩa trợ lực tái thiết Aâu-châu sau Thế Chiến thứ II, người Mỹ quyết định Chương Trình Marshall với 173 tỉ Mỹ kim, duới danh hiệu nhân đạo hỗ trợ tái thiết cho đẹp, nhưng thực tế ai cũng biết những động lực hoàn toàn chính đáng và đáng ca ngợi sau đây:

=> Làm cho Aâu-châu trở thành những nước có khả năng mua hàng của Mỹ. Đây là nguyên tắc mà Henry FORD đã nói rằng:’’Tôi trả lương hậu cho công nhân của tôi để họ có tiền mua xe hơi mà tôi sản xuất’’. Đây cũng là nguyên tắc rất đúng với định nghĩa của Marketing. Thực vậy, theo tác giả trứ danh KOTTLER về Marketing, môn học này không phải là đi chinh phục Thị trường để áp đặt người mua, để giết bạn hàng của mình, mà là một môn học nghiên cứu nhằm ’’Phân chia đồng đều lợi tức giữa người bán (người sản xuất) và người mua (người tiêu thụ)’’. Kinh tế Thị trường phải có người bán người mua cùng mạnh thì mới phát triển được.

=> Với Chương trình Marshall, không phải chỉ nguyên động lực Thương mại, mà còn động lực Chính trị nữa. Hoa-kỳ biết rằng, để Aâu-châu  khỏi rơi toàn vẹn  vào tay Cộng sản, thì phải làm cho Aâu-châu giầu lên. Staline cũng biết như vậy, nên Oâng đã cấm các nước chư hầu Đông Aâu nhận tiền bạc của Chương trình Marshall. Thù địch của Cộng sản là phát triển Kinh tế.

 Đưa ra những nhận xét trên đây, chúng ta thấy dễ hiểu nguyên nhân làm giải thể Chế độ Cộng sản mà chúng tôi sẽ kể ra đây.

1) Tỉ dụ của Đảng Cộng sản Pháp

 Về việc Oâng LE PEN được vào Tuyển cử chung kết, chúng tôi không muốn bàn sâu về chủ trương của Oâng và của Đảng Mặt Trận Quốc gia (Front National) của Oâng. Chúng tôi chỉ muốn nói đến việc Đảng Cộng sản Pháp tự động phải khai tử. Thực vậy, chiều tối ngày 28.04.02, khi cho cảm tưởng về việc bầu phiếu Tổng thống đợt đầu (Premier Tour), Oâng Le Pen được vào đợt hai với Oâng CHIRAC (cả hai Oâng thuộc phía hữu), Oâng Le Pen tuyên bố liền rằng Oâng rất vui mừng vì ba điều: điều thứ nhất là Dân không đi bầu nhiều vì chán nản với thể chế lúc này do Đảng Xã hội của JOSPIN cầm đầu; điều thứ hai là ĐẢNG CỘNG SẢN PHÁT TỰ GIẢI THỂ KỂ TỪ LÚC NÀY. Thực vậy, Đảng Cộng sản Pháp chỉ có 3,27% tổng số phiếu, không đủ số phiếu quy định để Nhà Nước trả tiền quảng cáo. Lý do của việc giải thể này chính là những công nhân và nông dân của những vùng Cộng sản đã chiếm trước đây, đã bầu phiếu cho Oâng Le Pen, và vì lý do là tâm trạng của những nông dân và công nhân ấy đã không cảm thấy an toàn về cuộc sống với những lời hứa trường kỳ của Đảng Cộng sản cũng như Đảng Xả hội. Đây là việc tự giải thể của Đảng Cộng sản Pháp do chính những thành phần cốt cán của Đảng quyết định.

2) Tỉ dụ tự giải thể vĩ đại của Cộng sản Liên Xô và Đông Âu

 Lý do chính yếu của việc tự giải thể này là vấn đề quyền dạ dầy (stomach right).
 Trong những số Viet TUDAN cách đây không lâu, tôi đã đề cập đến Định mệnh Chính trị--Kinh tế (Fatalité Politico-Economique) và Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste) tất yếu dẫn đến việc chấm dứt ý thức hệ Cộng sản và việc tự giải thể Chế độ Chính trị Cộng sản.

 Thực vậy, cuộc ’’Cách Mạng vô sản Cộng sản’’ chỉ lả việc dùng một lời hứa’’Thiên đàng Cộng sản’’ để lừa Dân đang lầm than vào cuộc đấu tranh giai cấp giết người tàn bạo mà mục đích là chiếm độc quyền quyền thống trị cho nhóm Hội kín ăn cướp quyền hành cho mình của Lénine. Mục đích của nhóm này là Chính trị.

 Nhưng ngưỡng vọng của Dân chúng lầm than là cái quyền dạ dầy, nghĩa là bụng không đói. Ý thức hệ Cộng sản đưa đến đích điểm là’’Thiên đàng Trần thế’’. Nhưng Dân chúng chờ hoài và cảm thấy rằng Thiên đàng ấy chỉ là lời hứa ảo tưởng (Promesse utopique), trong khi ấy dạ dầy mỗi người Dân cần phải có gì cho vào. Không thực hiện được lời hứa đối với Dân, thì chế độ Cộng sản dùng những chiêu bài tinh thần như ’’Aønh hùng sản xuất! Chiến sĩ lao động! Mẹ Cách Mạng! ...’’. Nhưng khi bụng đói, thì những chiêu bài ấy không đủ sức đẩy Dân tuân theo chỉ thị Chính trị của Đảng Cộng sản. Đảng không dùng chiêu bài cổ võ tinh thần nữa, mà dùng đến sức mạnh để khủng bố bắt ép Dân phải làm theo mình. Hệ thống khủng bố Công an của Cộng sản trở thành phương pháp thống trị.

 Nhưng bụng Dân vẫn đói, đói đến gần chết! Khi đói gần chết, thì Dân hết sợ đám khủng bố Công an. Đàng nào cũng chết, nên Dân nổi dậy. Yù thức hệ Cộng sản chết, những Chế độ Cộng sản Liên xô và Đông Aâu tự giải thế vì lý do bụng đói của Nhân dân.

 Đảng Cộng sản Pháp hoặc Liên xô’’tuyệt đỉnh của trí tuệ loài người’’ không cần phải biện luận cao kỳ kiểu những Triết gia Sorbonne mới hiểu việc tự giải thể này. Cứ lấy cái bụng đói để suy ra cái động lực của việc chấm dứt một ý thức hệ và việc tự giải thể của các chế độ Cộng sản dựa trên lới hứa ảo tưởng. Tôi thích nhìn thực tế theo kiểu nhà quê! Thực vậy, cái dạ dầy của tôi bóp liên hồi. Nó cần mấy hột cơm để bóp, chứ nếu chỉ có lời hứa trong bụng thì nó bóp không được.

KINH THẾ THỊ TRƯỜNG DẪN ĐẾN TỰ GIẢI THỂ CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Cộng sản Trung quốc và Việt Nam cố thủ giữ lấy quyền hành. Đây là thái độ cố chấp tội lỗi. Họ biết rõ rằng ý thức hệ Cộng sản và Chế độ chuyên chế Cộng sản phải cáo chung, nhưng họ lì lợm tìm cách lừa bịp nữa để cố thủ giữ lấy quyền hành. Đây là cái trọng tội đối với dân tộc. Việc mở cửa và đổi mới chỉ là thoa dịu cái Định mệnh Chính trị-Kinh tế (Fatalité Politico-Economique)  mà tôi vừa nêu ra trong những tỉ dụ ở trên. Họ buộc phải theo đường hướng Kinh tế Thị trường nếu không muốn việc tự giải thể như tại Liên xô và các nước Đông Aâu.
 Những tiếng ’’Định hướng Xã hội Chủ nghĩa’’ chỉ là những tiếng vô nghĩa nhằm cứu vãn cái danh dự hão mà họ biết rằng chính cái Thiên đàng Cộng sản cũng không có. Họ vẫn lập đi lập lại những tiếng ấy mong Dân còn mơ mộng hão huyền mà giúp họ cố thủ giữ lấy quyền hành.
 Khi viết đến điều này, nhiều khi tôi mang ý tưởng không được tích cực. Thực vậy, nhiều lúc tôi tự nói rằng:’’Nếu dân chúng Việt-Nam vẫn còn tin vào lời hứa ấy của Cộng sản, thì hãy cứ tiếp tục, tại sao tôi phải mất giờ ra báo, hô hào, đấu tranh làm gì. Cứ để cái bụng đói rũ ra, thì xem còn tin vào lời hứa của Cộng sản hay không’’. Nhưng rồi nghĩ đến đồng bào bị kềm kẹp, đàn áp, không nói lên được sự thật của lòng mình, trong đó có anh em họ hàng của tôi, nên tôi lại tranh đấu, lại viết báo...’’.
 Dù Cộng sản VN dùng lời hứa mới, vẫn kìm kẹp dân Việt Nam, nhưng họ đã phải buộc lòng đi vào Kinh tế Thị trường. Chính việc này sẽ dẫn họ đến cái Định mệnh thứ hai, đó là Định mệnh Tư bản. Chính định mệnh này sẽ dẫn họ đến tự giải thể. Thực vậy, xin nhắc lại Chương trình Marshall của Hoa kỳ cho Aâu-châu. Chính là chương trình tái thiết Kinh tế Tư bản và Thị trường mang một trong hai mục đích chính là ngăn chặn sự bành trướng của Liên xô trên toàn Aâu-châu. Điều ấy có nghĩa là Hoa kỳ  đã quá hiểu rằng Tư bản và Thể chế Kinh tế Thị trường là một Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste) chống lại Cộng sản
 Cộng sản Việt-Nam đi vào Định mệnh này.

ĐÓNG GÓP CỦA CHÚNG TA TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH VIỆC TỰ GIẢI THỂ CSVN

 Tôi luôn luôn chủ trương rằng Lực lượng người Việt hải ngoại chỉ làm công tác ngoại vận cho Lực lượng chính yếu tại quốc nội để chế độ Cộng sản phải tự giải thể. Những tỉ dụ trên đây cho thấy rằng Cộng sản không bị giải thể bằng những Lực lượng đối chọi ngoại tại. Cộng sản tự giải thể bằng chính Lực lượng nội tại qua Định mệnh Chính trị—Kinh tế và Định mệnh Tư bản. Đúng vậy, Tây Đức không tấn công để giải thể chế độ Cộng sản Đông Đức. Chính chế độ này tự giải thể từ nội tại với Định mệnh Chính trị—Kinh tế. Tôi không bao giờ mơ mộng người Việt hải ngoại, từ ngoài, mang Lực lượng về giải phóng Quê hương khỏi ách Cộng sản.
 Nhiệm vụ của chúng ta là làm công việc ngoại vận để trợ lực cho chính Lực lượng quốc nội trong việc loại trừ chế độ Cộng sản chuyên chế.
 Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste) với Kinh tế Thị trường đã bắt đầu và đang được cổ võ tại Việt-Nam. Buộc lòng Cộng sản phải làm như vậy, nếu không họ sẽ phải chịu hậu quả của Định mệnh Chính trị—Kinh tế (Fatalité Politico-Economique) tái diễn như ở Nga và các nước Đông Aâu.
 Trong những bài này, chúng ta cũng thấy rằng việc đi theo thể chế Kinh tế Thị trường là bất hồi tố ở Việt-Nam, nghĩa là Cộng sản buộc phải đi trên con đường dẫn đến việc tự giải thể. Từ nước ngoài, chúng ta góp  sức với Lực lượng quốc nội để đẩy mau việc tự giải thể này.

NHỮNG ĐỀ TÀI ĐỂ KHAI TRIỂN TRONG LOẠT BÀI THỨ HAI

 Trong những số báo tới, chúng tôi xin lần lượt đi vào chi tiết của những biện pháp thực tiễn liên quan đến cái động lực chủ yếu từ quyền dạ dầy (stomach right) đã và sẽ dẫn đến việc tự giải thể của chế độ Cộng sản.

 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

     Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
ĐỊNH MỆNH TƯ BẢN
VÀ ĐẨY MẠNH VIỆC TỰ GIẢI THỂ CỦA CSVN
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.

LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 Yù tưởng chính yếu trong bài này là nhìn nhận việc đang đi vào Định mệnh Tư bản của Cộng sản Việt-Nam và tìm những biện pháp đẩy mạnh việc tự giải thể của chế độ độc tài Cộng sản ấy.
   
VIỆC TỰ GIẢI THỂ CỦA CỘNG SẢN
ĐÃ XẨY RA NHƯ ĐỊNH MỆNH

Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số vtdx0078 ngày 02.05.02, chúng tôi lược tóm lý do chính yếu của bviệc tự giải thể của những chế độ Cộng sản Liên xô, các nước Đông Aâu và thử nhìn con đường đang dẫn đến việc tự giải thể của chế độ Cộng sản Việt-Nam.

=> Chúng tôi gọi là tự giải thể có nghĩa rằng từ trong lòng chế độ, gồm Đảng, Nhà Nước và khối Dân đang bị khống chế, phát sinh một động lực nổ bùng ra phá tan chế độ (Implosion). Thực vậy, không có hiện tượng một lực lượng ngoại tại đối diện đánh vào để dẹp chế độ. Chúng ta chỉ ghi nhận hai trường hợp mà lực lượng ngoại tại đập tan Cộng sản khi mà những người này đang ở giai đoạn tiến đến chiếm chính quyền để thiết lập chính thức chế độ chuyên chế của họ, nghĩa là ở lúc mà Cộng sảngchưa chiếm trọn quyền hành. Đó là trường hợp của Nam Dương và của Chí Lợi. Soekarno tại Nam Dương đã thẳng tay trừng trị Cộng sản khi cái đầu của nó mới đập vỡ vỏ trứng và định chui ra hoành hành. Pinochet tại Chí Lợi đã cứng rắn diệt Allende và đồng bọn khi đám này muốn đặt chế độ Cộng sản tại nước này. Ngoài hai trường hợp ấy, các chế độ Cộng sản khi đã được thiết lập, dù coi là  vững chắc,  sau một thời gian đã dần dần đi đến tự giải thể vì cái Định mệnh Chính trị—Kinh tế  (Fatalité Politico-Economique). 

=> Cái động lực cơ bản đưa đến việc tự giải thể, đó là việc không thể giải quyết vấn đề Kinh tế cho Dân. Động lực ấy là cái quyền Dạ dầy (Stomach Right) của Dân. Người ta sống không phải chỉ nguyên vì cơm gạo, nhưng không có cơm gạo, thì người ta chết và hết sống để nghĩ đến những quyền khác. Cộng sản đã dùng Kinh tế để phục vụ Chính trị đảng phái, nên dân đói và chết. Bụng đói và trước khi chết, thì Dân khùng lên, đạp tan những cùm kẹp chính trị của Đảng.  
=> Trung Cộng và Việt Cộng nhìn rõ cái tàn nhẫn của Định mệnh Chính trị—Kinh tế ấy, buộc lòng phải đổi mới, mở cửa, nhưng vẫn muốn giữ chút thể diện cho ý thứ hệ bằng những từ như’’định hướng XHCN’’,’’đang quá độ tiến lên XHCN’’... Đó là những xảo ngữ. Hai nước này phải tìm giải quyết quyền Dạ dầy ở con đường Kinh tế Tự do và Thị trường. Không tìm con đường này, cái Định mệnh Chính trị—Kinh tế cũ sẽ đập tan chế độ của họ tức khắc như ở Nga và Đông Aâu. Nhưng khi buộc lòng phải tìm giải quyết ở Kinh tế Tự do và Thị trường, thì họ phải tiến đến một cái Định mệnh thứ hai, đó là Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste). Trung Cộng và Việt Cộng đang phải chấp nhận Định mệnh này. Đi vào Kinh tế Tự do, Thị trường, tức là đi trên con đường dẫn đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản. Biết như vậy, mà vẫn phải đi, vì vậy chúng tôi gọi là Định mệnh.

 Tóm tắt lại một cách đơn giản: Dân bị cùm kẹp trong chế độ Cộng sản, trước khi chết đói, thì bùng dậy đập tan chế độ. Đó là Định mệnh Chính trị--Kinh tê (Fatalité Politico-Economique). Phải giải quyết bằng Kinh tế Tự do, Thị trường, nếu muốn trì hoãn việc tự giải thể. Nhưng với Kinh tế Tự do, Thị trường, khi no đủ và giầu có rồi, thì Dân phải bảo vệ sự no ấm và sung sướng của mình, không để Cộng sản cướp bóc nồi cơm của mình để phục vụ chính trị độc đoán cũa Đảng. Đó là Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste).

NHẬP CUỘC ĐẨY MẠNH
KINH TẾ TỰ DO, THỊ TRƯỜNG

 Tại Trung Cộng, Giang Trạch Dân đã phải tuyên bố cho người tư bản nhập Đảng. Giai cấp trung lưu đang chiếm dần ưu thế. Đài Loan đã dùng số vốn khổng lồ của mình để đấu tranh chính trị đối với Trung Cộng. Người ta không nói nhiều đến việc Trung Cộng đe dọa tấn công Đài Loan nữa. Nắm Tài chánh là nắm mạch tim của Kinh tế. Đài Loan đang nắm mạch tim ấy trong Kinh tế Hoa-Lục, nhất là về tiểu công nghệ, ngành nghiệp chủ chốt của Kinh tế Trung Cộng lúc này. Quả thực, Đài Loan đã nhập cuộc và đấu tranh bằng con đường Kinh tế. Họ đang chiếm ưu thế trong việc đấu tranh  ’’Quốc—Cộng’’ cổ truyền.

 Về mặt trong nước, với những công kích của mọi giới của Đảng đối với các Công ty nhà nước, với Nghị quyết  07- NQ/TW của Bộ Chính trị cùng với những lời khẳng định của Nông Đức Mạnh về việc hội nhập Kinh tế Quốc tế (Tự do, Thị trường), với những lời tuyên bố công khai cổ võ Kinh doanh tư nhân của Phan Văn Khải, với những khích lệ các Công ty tư nhân mới đây của Nguyễn Mạnh Cầm, và với những Dự Luật tư nhân hóa những Công ty quốc doanh; về mặt Quốc tế, với những điều kiện mà Tổ chức Thương Mại Quốc tế (WTO / OMC) buộc Việt Nam phải tuân theo, với đòi hỏi và kiểm soát của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) khi cho Việt-Nam vay 110 triệu Mỹ kim với lãi suất ưu đãi để thực hiện Dự án xóa đói giảm nghèo cho những tỉnh con đẻ của chế độ tại Bắc Việt,  Cộng sản Việt-Nam buộc phải đi vào con đường Kinh tế Tự do, Thị trường.

 Đây là việc công khai chấp nhận đi vào cái Định mệnh Tư bản, nghĩa là Cộng sản chấp nhận đi vào con đường tự xóa bỏ Ý thức hệ của mình và tiến dần đến việc tự giải thể chế độ. Qua những lời tuyên bố trên đây, chúng tôi thấy rằng Cộng sản công nhận sự thất bại của mình và đồng ý (bó buộc) một cuộc tự giải thể, mặc dầu dùng một cách nói cho đẹp để chữa thẹn. Đây là cuộc cách mạng giải thể chế độ Cộng sản, nhưng có lẽ những người chủ trương, hoặc là còn tự thẹn thùng vì đã thuộc về chế độ nên phải chữa thẹn, hoặc là bộ máy Cộng sản cồng kềnh và quá nặng nề nên phải lựa chiều cách mạng cho khéo, đã không làm đột ngột bùng mạnh như ở Liên xô và Đông Aâu. Nhưng việc chấp nhận hay bó buộc giải thể chế độ Cộng sản đã được tuyên bố.

 Nhìn sự chuyển biến như trên, chúng ta, những người và những Phong trào đang đấu tranh cho Nhân quyền và cho Thịnh vượng nơi Quê hương, chọn thái độ nào và phương cách đấu tranh ra sao cho hữu hiệu nhất? Tất nhiên mục đích của chúng ta là đi đến việc giải thể chế độ Cộng sản, một chế độ khủng bố Nhân quyền và cản ngăn sự phát triển Kinh tế tại Việt Nam.

 Như trên đã thấy, chính Đảng (Bộ Chính trị và Tổng Bí Thư) và Nhà Nước (Thủ tướng và Phó Thủ tướng) đã khẳng định việc đi vào Kinh tế Tự do, Thị trường, con đường đi đến Định mệnh Tư bản để chế độ Cộng sản tự giải thể.

 Chúng ta, những lực lượng đấu tranh cho Nhân quyền và Thịnh vượng của Quê Hương cũng cùng nhắm việc giải thể chế độ Cộng sản mà tranh đấu. Do đó thái độ đấu tranh lựa chọn của chúng ta là NHẬP CUỘC cùng với Quốc nội đẩy mạnh cái tiến trình giải thể này. Cái động lực chủ yếu đưa đến giải thể là Kinh tế, quyền Dạ dầy của người Dân. Đánh chính vào cái động lực cơ bản ấy, thì cuộc đấu tranh mới gặt được kết quả hữu hiệu nhất mà chúng ta mong ước. Tỉ dụ khi chúng ta chỉ nêu trống không Nhân quyền, Dân chúng có thể nghe nhiều và đang bận tâm làm ăn, nên không chú tâm cho lắm đến việc ấy; nhưng khi chúng ta nói đến quyền Dạ dầy, Dân chúng thấy bụng đói nên cảm thấy liền và cùng chúng ta đấu tranh; khi chúng ta nói đến việc những Lãnh đạo tham nhũng, cướp tiền của Dân để gửi con cái đi học nước ngoài, sống vương giả, thì những sinh viên học sinh ở nhà, đang đói khổ, sống qua ngày mà vẫn phải ráng học mặc dầu học xong nhìn tương lai thất nghiệp, tất nhiên lãnh hội liền những điều chúng ta nói để cùng đấu tranh. Chúng ta nhìn cái động cơ chính yếu ấy, cái quyền Dạ dầy, mà đấu tranh để đẩy mạnh việc giải thể chế độ.

 Trong việc NHẬP CUỘC đấu tranh này, chúng ta phải giữ vững bản lãnh, phải giữ vững mục đích giải thể chế độ Cộng sản, nghĩa là khi NHẬP CUỘC, mà không nắm vững lập trường và mục đích, chúng ta có thể dễ trở thành công cụ cho đối phương.


BIẾN CHỨNG PHẢI ĐỀ PHÒNG

 Nhiều lần trong những số báo trước đây, chúng tôi luôn luôn nhắc tới những biến chứng có thể xẩy ra trên con đường Kinh tế Tự do, Thị trường để có thể đi đến một nền Kinh tế Tư bản phục vụ cho những nhóm Cộng sản Mafia.

 Có thể trường hợp xẩy ra như sau. Đảng và Nhà Nước Cộng sản tuyên bố con đường Kinh tế Tự do, Thị trường. Nhưng Đảng và Nhà Nước đang nắm độc quyền chính trị, độc quyền khủng bố, độc quyền tham nhũng, độc quyền ăn cướp của công làm của riêng. Giai cấp tư sản lớn lên trong Kinh tế Tự do, Thị trường. Nhưng với những độc quyền vừa kể ra, thì giai cấp tư sản này lại gồm những thành phần con cháu của những Lãnh đạo Cộng sản hiện hành. Lúc ấy, khi cái tên Cộng sản đã bị xóa đi và nền Kinh tế Thị trường mang danh hiệu là của tư nhân, nhưng những tư nhân kia lại từ Đảng, con cháu Lãnh đạo Đảng mà ra. Đó là nền Kinh tế tư bản Mafia thoát thai từ Cộng sản. Trong nền Kinh tế ấy, nhóm ăn cươp ban ngày lộ diện hiện nay  sẽ trở thành nhóm ăn cướp ban đêm khó thấy.

 Chúng tôi sẽ có dịp, trong những số báo tới, bàn về những biện pháp cấp bách để đề phòng biến chứng này và để tiến tới một thể chế Kinh tế Tư bản đích thực trong một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) mà Nhà Nước Cộng sản buộc phải chấp nhận; nếu không có được Môi trường thực hiện ấy, việc khẳng định đi theo Kinh tế Tự do, Thị trường chỉ là việc mị dân và lừa đảo.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
LỰA CHỌN ĐƯỜNG ĐẤU TRANH
THỰC TIỄN VÀ HỮU HIỆU
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 Đấu tranh chống Cộng, nhằm giải thể chế độ độc tài của họ để cho dân được hưởng những quyền căn bản của con người và để kinh tế Việt nam được phát triển, đó là công việc mà chúng ta đã làm từ những chục năm nay. Vấn đề chúng tôi muốn đặt ra ở đây là đâu là con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu nhất hiện nay.
 Trong bài QUAN ĐIỂM của  báo VietTUDAN số 79 trước, chúng tôi đã phân tích cái động lực chính yếu đã đưa đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản ở những nước Nga và Đông Aâu. Cái động lực ấy đi từ quyền Dạ dầy (Stomach right) cụ thể.
 Chính vì đang lo sợ cái động lực ấy lớn mạnh lên nơi dân chúng Việt-Nam, mà Đảng Cộng sản và Nhà Nước Việt-Nam đồng loạt tuyên bố việc chấp nhận nền Kinh tế Tự do, Thị trường như một đường lối cứu vãn chế độ. Nhưng chúng tôi lại nhìn thấy  con đường Kinh tế Tự do, Thị trường cũng chính là con đường dẫn đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản hiện hành tại Việt-Nam. Cộng sản hứa Thiên đàng trần thế cho dân, nhưng họ đã không làm được bởi lẽ họ đã bắt dân làm kinh tế để phục vụ cho ý đồ độcù quyền chính trị của họ, chứ không phải là phục vụ cho cái quyền dạ dầy của dân. Cái quyền dạ dầy là lý do của sự cố gắng làm kinh tế và cũng là mục tiêu gần nhất để phục vụ.
 Cộng sản VN đã khẳng định Kinh tế Tự do, Thị trường. Chúng tôi nhập cuộc và cũng lựa chọn con đường Kinh tế Tự do, Thị trường là con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu để đưa đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản. Thực tiễn và hữu hiệu  bởi vì dân nhìn thấy rõ cái quyền cụ thể  của dạ dầy hơn là lãnh hội cái ý nghĩa của nhân quyền trừu tượng, và nhất là bởi vì khi bụng đói thì phải giải quyết ưu tiên cái bụng đói ấy trước khi cùng chúng ta suy nghĩ về những gì trừu tượng.
 Cộng sản dựng lên bức tường Bá Linh. Khi bức tường này sụp đổ, chúng tôi đã có dịp nói rằng sẽ có bức tường Bá Linh thứ hai dựng lên, nhưng lần này bởi những người theo Kinh tế Tự do, Thị trường cốt ý bảo vệ những gì họ đã chịu khó làm việc tích trữ được để bảo đảm cho sự an toàn của cuộc sống ’’dạ dầy’’ của họ. Trong thập niên mới đây, những Đảng Xả hội các nước Tây Aâu vẫn tiếp tục mơn trớn dân chúng bằng những hình ảnh đẹp đối với tha nhân mà quên điều quan trọng đối với mỗi cá nhân là sự an toàn của của cuộc sống mỗi người, nhất là vật chất, là dạ dầy. Nhưng mới hai năm gần đây, chính những người dân không được an toàn về dạ dầy đã chuyển hướng chính trị Tây Aâu về phía hữu. Hai cuộc bầu phiếu ở Pháp và Hòa Lan cho thấy sự chuyển hướng rõ rệt này.  Aùo, Thụy sĩ, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Ý, Pháp, Hòa Lan không còn tin phía tả nữa, mà xoay chiều về phía hữu để có sự an toàn cần thiết nhất: an toàn của dạ dầy. Dân  không còn mơ Tiên như Cộng sản và Xã hội chủ nghĩa hứa, nhưng họ cần làm cho có tiền để tự mua lấy Tiên. Họ biết rằng hãy lấy Tư bản mà mua Cộng sản.
 Hãy nói đúng cái điều mà dân đang quan tâm thì dân mới nghe; Hãy giúp dân thực hiện điều mà dân đang muốn thì dân mới có cảm tình; Hãy cùng dân đòi hỏi Nhà Nước phải thực hiện nền Kinh tế Tự do, Thị trường đích thực. Đó là sự lựa chọn con đường đấu tranh của báo ViệtTUDAN mà chúng tôi coi là thực tiễn và hữu hiệu nhất để mau đi đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CỘNG SẢN:
AI GIẢI THỂ VÀ BẰNG CÁCH NÀO?
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

Đây là mục đích chính yếu của mọi Phong trào đấu tranh cho Dân chủ hiện nay: GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN để Dân được hưởng những quyền Tự do căn bản, để đời sống Kinh tế được phát triển. Hai câu hỏi luôn luôn là mối bận tâm:
* Ai giải thể chế độ Cộng sản hiện hành ? Từ Hải ngoại hay tại Quốc nội ?
* Giải thể bằng cách nào? Bằng võ lực hay bằng tiến trình Dân chủ không bạo động ?

Bài này muốn góp ý kiến về hai câu hỏi căn bản ấy.
                                                                                                                                    AI GIẢI THỂ ?

Có thể có những Phong trào nhìn vấn đề khác với chúng tôi và bất đồng ý kiến về việc phân tích trả lời hai câu hỏi. Nhưng chúng tôi đã chọn lựa thái độ cứ nói lên sự thực để ’’biết mình biết ta’’,  để cuộc đấu tranh đưa về những việc làm thực tiễn, có hiệu lực thực sự.

Người Việt từ Hải ngoại

 Chỉ lấy tiêu chuẩn tuổi tác, chúng ta có những nhận xét sau đây:

1) Lớp Thanh niên trong tuổi từ 20 đến 35: Đây là tuổi nồng cốt trong những cuộc đấu tranh nhân dân. Khởi đầu những Phong trào đấu tranh nhân dân thường bắt nguồn từ tuổi này. Thanh niên cỡ 20 đến 27 tuổi tại Hải ngoại thì sinh ra tại ngoại quốc. Thanh niên ở tuổi 35 thì khi bỏ Việt Nam, mới có 8 tuổi.  Như vậy, lớp tuổi 20-35 hầu như không có những hình ảnh sống của thời chiến tranh Quốc—Cộng trước năm 1975. Lớp thanh niên này lớn lên học hành tại ngoại quốc. Một số lớn có thể quên ăn nước mắm, nhất là mắm tôm...Khi gặp nhau, có lẽ họ thích nói chuyện với nhau bằng tiếng nước ngoài hơn là nói tiếng Việt-Nam. Những người đã ra trường, có công ăn việc làm với đồng lương cao, có cuộc sống tiện nghi ở ngoại quốc. Như vậy, ngay cả nếu chỉ khuyên họ về làm việc tại Việt-Nam với đồng lương thấp, đó là điều khó khăn, mặc dầu chưa nói đến việc yêu cầu họ bỏ công ăn việc làm bên này, để về sống kham khổ tại Việt-Nam, xuống đường đấu tranh hay cầm võ trang giải thể chế độ Cộng sản.

2) Lớp trung niên từ 35 đến 45/50 tuổi: Những người 40 tuổi lúc này, khi bỏ Việt-Nam, mới chỉ 13 tuổi, còn trong tuổi học trò. Những người lớn nhất 45 tuổi của lớp này, lúc bỏ Việt-Nam cũng chỉ có 18 tuổi, còn đang ở tuổi học Trung học tại Việt Nam. Lớp 35 đến 45 tuổi hiện nay, hồi ấy chưa từng phải nhập ngũ, chịu đựng những gay gắt chiến tranh Quốc—Cộng, nên ý thức về Cộng sản chưa có những thấm thía lắm. Vì vậy, nếu lúc này yêu cầu họ vào một cuộc đấu tranh kiên trì, cam go như việc giải thể chế độ Cộng sản, chúng tôi e rằng có những khó khăn để dấy động phong trào. Nhất nữa lớp tuổi này lại có gia đình, con cái đang ở tuổi đi học ở nước ngoài. Họ phải có trách nhiệm làm việc bảo vệ cuộc sống gia đình và tương lai con cái. Việc khuyên họ bỏ hết công việc để trở về Việt-Nam đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản là vấn đề rất khó khăn. Ngay cả việc việc yêu cầu những người có khả năng trong lớp tuổi này về để giữ những chức vụ Nhà Nước, họ cũng phải đắn đo nhiều yếu tố: (i) Phải bỏ quốc tịch nước ngoài để hoàn toàn hồi tịch Việt Nam; thực vậy không thể giữ hai quốc tịch vì dân chúng Việt Nam không chấp nhận người làm việc công quan trọng đứng hai hàng; (ii) Họ cũng phải so sánh đồng lương hiện hành, việc làm chắc chắn tại ngoại quốc, với số lương tại Quê hương mà công việc có những bấp bênh.

3) Lớp tuổi 45/50 đến 65: Lớp tuổi này đã sống những kinh nghiệm bản thân gay gắt đối với chiến tranh Quốc—Cộng. Lúc này 50, khi bỏ Việt-Nam, họ ở tuổi 23. Những vị lúc này 65 tuổi, khi rời Việt-Nam là lúc 38 tuổi, tuổi đã có chức phận trong Quân đội hoặc Hành chánh. Những Vị này có những kinh nghiệm Cộng sản tại Miền Nam, nhưng không có kinh nghiệm về Cộng sản tại Miền Bắc, thời đấu tranh chính trị, thanh trừng đảng phái. Lớp tuổi này đã sống với chiến tranh, tinh thần chống Cộng vững chắc, nhưng thể xác đã bắt đầu cảm thấy uể oải, những khớp xương bắt đầu cảm thấy triệu chứng nhức mỏi. Khyên những Vị trong lớp tuổi này về Việt-Nam xuống đường đấu tranh hay cầm súng lội bùn chiến đấu giải thể Cộng sản, chắc các Vị càng cảm thấy các khớp xương nhức mỏi hơn.

4) Các cụ từ 65 trở lên: Thời chưa rời Việt-Nam năm 75, những Vị ấy nắm cán cân nẩy mực trong Quân đội và Hành chánh. Có những Vị đã sống với Cộng sản ngay từ Miền Bắc. Tinh thần chống Cộng của các Vị tuyệt vời, nhưng thân thể thì không cho phép các cụ xuống đường ở Sài gòn biểu tình nữa. Mỗi năm trôi đi là mỗi năm thân người tăng thêm những trở ngại.

 Nhìn kỹ vào các lớp tuổi như trên, chúng ta thấy rằng đồng bào Việt-Nam tại Hải ngoại không thể là một Lực lượng mang Cách mạng, nhất là vũ trang, trở về Việt Nam giải thể chế độ Cộng sản được nữa. Những Mặt Trận, những Phong trào chủ trương mang lực lượng vũ trang từ Hải ngoại về giải phóng Quê Hương khỏi chế độ Cộng sản dường như đi ngược thời gian, vẫn sống tâm tình tuổi thanh niên còn cường tráng trước năm 1975 tại Việt-Nam.

 Mỗi một thời, mỗi một hoàn cảnh, một nhiệm vụ khác, một vai trò khác. Chúng tôi muốn nói đến công tác ngoại vận tại Hải ngoại. Lực lượng nhân sự Hải ngoại của chúng ta là một Lực lượng tuyệt vời về ngoại vận mà chúng tôi sẽ có dịp đề cập đến tỉ mỉ.

Người Việt tại Quốc nội

 Đây là Lực lượng chính yếu trách nhiệm việc giải thể chế độ Cộng sản. Chúng ta ở Hải ngoại chỉ góp phần và chỉ có khả năng góp phần vào việc giải thể chế độ Cộng sản. Như trên đã phân tích, chúng ta không có khả năng thay thế được Lực lượng tại Quốc nội trong việc đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản. Câu nói ’’Đời cua, cua máy; Đời cáy, cáy đào’’ nhiều khi trở thành rất hữu ích để mỗi người trách nhiệm lấy đời mình đúng với vị trí mà mỗi người đang sống. Mỗi người tự cảm đúng trách nhiệm, thì việc chung mới hữu hiệu. Những ai đã từng giữ trách nhiệm trong các đoàn thể, nhất là các đoàn thể ái hữu, chắc chắn đã có lần cảm thấy rằng việc mình chịu khó cố gắng đội đá vá trời được trả ơn bằng những lời nói xóc họng, vô ơn.

 Tỉ dụ trách nhiệm chính yếu điều hành Tổ chức Giáo Hội Công giáo Việt-Nam là Hàng Giám Mục. Giáo dân Hải ngoại quan tâm đấu tranh chống lại việc đàn áp của Cộng sản, các Giám Mục đã yên tiếng, thậm chí có những Vị còn công kích lòng nhiệt tình của chúng ta. Từ ngày có Vị Giám mục tuyên bố ’’việc Cha Lý là việc nhỏ, ít ai biết tới’’, tôi càng thương Cha Lý hơn và càng hăng say đấu tranh cho cá nhân Cha Lý. Đôi lúc tôi nghĩ ’’nếu lúc này trong Hàng Giám mục đã yên tiếng kia, có Vị nào bị Cộng sản bắt nèn ở trong tù, chưa chắc tôi đã lên tiếng đấu tranh cho Ngài’’. ’’Đời cua, cua máy; Đời cáy, cáy đào’’.Tôi thong thả bình tâm uống bia và lẩm bẩm:’’Đáng đời!’’.

 Trách nhiệm việc giải thể chế độ Cộng sản là của Lực lượng người Việt tại Quốc nội. Người Việt Hải ngoại chỉ có khả năng làm công tác ngoại vận để hỗ trợ cho Lực lượng chính yếu ở nhà. Nhiều khi chúng ta hăng say quá, cứ coi mình như bao thầu tất cả, khiến người khác quên trọng trách của chính họ.


GIẢI THỂ BẰNG CÁCH NÀO ?

 Cộng sản Việt Nam đã trở thành cối chầy, cố đấm ăn xôi, gỉa điếc làm ngơ mà không nghĩ đến liêm xỉ. Vì vậy việc chúng ta từ Hải ngoại viết hoài cho họ, ra tuyên ngôn, đưa kháng thư, kiến nghị, thư ngỏ, dường như chỉ như nước đổ lá môn. Họ đã trở thành những con trâu, phải quất mới đi. Chỉ có Lực lượng Quốc nội mới có khả năng quất họ được và đây cũng là trách nhiệm của người Việt ở nhà.

 Hiện nay thì Lực lượng Quốc nội chưa đứng lên quất mạnh. Đã có triệu chứng của sự đứng lên, nhưng chưa đủ mạnh. Tình trạng chưa đứng lên mạnh là vì những lý do sau đây:

*  Sự đe dọa khủng bố của bạo lực đàn áp công an còn quá mạnh.

* Dân chúng quá cực nhọc, nghèo khổ, ngày đêm lo giải quyếtà làm ăn sinh sống, nghĩa là việc đấu tranh cho quyền dạ dầy còn ưu tiên hơn những quyền khác.

 Chúng tôi đã suy nghĩ rất nhiều, tìm xem những con đường khơi dậy lòng can đảm của đại đa số quần chúng khiến họ không sợ Công an khủng bố. Thực ra tôi ít tin vào lòng can đảm, nhưng tôi tin tưởng một điều rằng khi một người bị đẩy vào chỗ cùng cực không lối thoát thì phải bùng dậy tự phản ứng. Chúng ta có thể ca ngợi đây là lòng cản đảm hoặc nhìn qua đó thấy cái động lực của phản ứng chỉ vì ở tình trạng không thể làm khác hơn.

 Từ những số VietTUDAN trước...đến số này, chúng tôi đã viết tìm hiểu cái động lực chính yếu khiến người dân ở đường cùng tại Nga và Đông Aâu đứng bùng lên quất Cộng sản. Cái động lực ấy là lý do Kinh tế, cái bụng đói cùng cực. Qua sự phân tích, chúng tôi nhìn thấy rằng con đường đấu tranh qua ngả Kinh tế khiến dân lắng nghe hơn là chỉ viết về những ý niệm Tự do, Dân chủ, Nhân quyền như những bài phân tích lý thuyết, ý niệm trừu tượng. Dân thường nói:’’Nói gì thì nói, nhưng đụng đến nồi cơm là có chuyện! ’’, nhất nữa trong lúc bụng dân đang đói.

 Cộng sản biết điều ấy. Vì vậy Đảng và Nhà Nước vừa đồng loạt tuyên bố chấp nhận chủ trương theo nền Kinh tế Tự do, Thị trường.

Chúng tôi cũng nhìn thấy rằng con đường Kinh tế Tự do, Thị trường là một giải pháp dẫn đến việc giải thể chế độ Cộng sản. Nhưng nền Kinh tế Tự do, Thị trường này phải là nền Kinh tế đích thực theo đúng nghĩa của nó và phải hội đủ một môi trường Chính trị—Luật pháp (Environnement Politico-Juridique) chính hiệu, chứ không ngụy trang cho việc chiếm của công làm tư bản do nhưng con ông cháu cha đang nắm độc quyền chính trị.

 Nghĩa là chúng tôi chọn con đường đấu tranh cho một nền Kinh tế Tự do, Thị trường đích thực. Nền Kinh tế này chỉ có thể gọi là đích thực khi nó dựa trên căn bản thực thi Nhân quyền trong một Tổ chức Dân chủ đúng danh.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
 


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG:
CON ĐƯỜNG GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CS
                                                                                                                                 Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 Trong bài trước, chúng tôi chỉ nói đến hai lực lượng Nhân dân: Lực Lượng Nhân dân Quốc nội là chủ lực giải thể chế độ Cộng sản bằng con đường đòi hỏi thiết thực việc thi hành đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường và Lực Lượng Nhân dân Hải ngoại là trợ lực cho Quốc nội, làm công tác ngoại vận tại những xứ sở mình đang sinh sống.

 Với bài hôm nay, chúng tôi đề cập tới một Phong trào thuộc Lực Lượng ở trong nước, đang dần dần lớn mạnh, phát sinh từ chính nội bộ của Đảng Cộng sản. Phong trào này khá hữu hiệu trong việc giải thể chế độ Cộng sản. Chúng tôi bàn về ba điểm:

- Sự mất tin tưởng dần dần vào chế độ Cộng sản
- Động cơ đối kháng nội bộ hiện hành
- Những Nhóm đối kháng đang phát sinh



SỰ MẤT TIN TƯỞNG DẦN DẦN VÀO CHẾ  ĐỘ CỘNG SẢN

 Ngay sau năm 1975, với tờ báo LIÊN HỘI của Liên Hội Sinh viên Việt-Nam tại Thụy sĩ, cùng với Tổn Hội Sinh viên Paris, chúng tôi đã viết về khả năng hợp tác giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa còn ở lại trong nước. Có những yếu tố để có thể đưa đến sự hợp tác này: (i) Khả năng Kinh tế của Miền Nam; (ii) Liên hệ gia đình của những người tập kết và những người chống Cộng Miền Nam; (iii) Liên hệ gia đình của Lính Bắc Việt với khối người Bắc di cư chống Cộng; (iv) Tâm tình địa phương giữa Miền Nam và Miền Bắc. Nếu để tình trạng chung sống sau 1975 kéo dài, có thể đi tới sự hợp tác chặt chẽ tạo thành Lực lượng Miền Nam trấn át Miền Bắc về chính trị cũng như quân sự. Nên lưu ý rằng lực lượng Quân lực Việt-Nam Cộng hòa được huấn luyện khá vững chắc trước đây có thể nhập với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để đối chọi lại Miền Bắc. Đảng Cộng sản Việt-Nam (Bắc Bộ) nhìn thấy nguy cơ này, nên đã vội thống nhất Đất Nước, truất quyền những Lãnh tụ chủ yếu của Mặt Trận như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình..., đồng thời cho cán bộ người Bắc tràn vào nắm chủ chốt những cơ quan quản trị Miền Nam.

 Sự đụng chạm trực tiếp Nam-Bắc này đã tạo bước đầu tiên của sự hủ hóa của lớp cán bộ Cộng sản Miền Bắc. Họ vào Miền Nam, chứng kiến sự thực khác hẳn với những lời tuyên truyền lừa bịp trước đây của Cộng sản Miền Bắc. Họ cảm thấy và ước ao Miền Bắc được Miền Nam giải phóng chứ không còn mang căm thù do tuyên truyền rằng phải hy sinh vào Giải phóng Miền Nam khỏi sự bóc lột tận xương tủy của Mỹ. Những đồng bào Miền Nam còn ở lại sau 1975 đều thầm cười những câu chuyện như bà con Miền Bắc mang vào Nam ít đấu gạo đỏ để cho bà con di cư năm 1954 ăn cho đỡ đói, mang cả chén bắt vào Miền Nam tặng, sợ bà con trong Miền Nam bị bóc lột phải ăn bốc...Người ta cũng nhớ những câu chuyện cán bộ vào Miền Nam, thấy thang máy, cứ đứng trong đo, đi lên đi xuống thưởng thức, hoặc mua cá lóc bỏ vào cầu tiêu nuôi, rồi nó chui đi mất, thì hô hoán là Mỹ Nguỵ ăn cắp cá của mình...

 Họ vào Miền Nam, chứng kiến thực tế khác hẳn với những tuyên truyền lừa bịp của chế độ. Họ còn vơ vét chở cả những con búp bế vất đi của Miền Nam về Bắc làm quà tặng.

 Thời gian trôi qua, tầng lớp cán bộ vào Miền Nam nay đã chọn Miền Nam làm nơi sinh sống. Một số không theo lệnh để về Miền Bắc nữa. Một số lập gia đình với những bà vợ của những Sĩ quan Cộng hòa đã ra đi hoặc phải đi cải tạo. Lập gia đình, họ chiếm gia sản để làm ăn tại Miền Nam. Chúng tôi đã gặp những Công ty mà chồng là cán bộ Cộng sản Miền Bắc còn trẻ, trong khi ấy vợ là bà Sĩ quan Cộng hòa đã sồn sồn...Một số cán bộ của Đảng Miền Bắc, bị ép buộc phải trở về, đã không ngần ngại bỏ Đảng.

 Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, chúng tôi đã có dịp sang Varsovie, Moscou, thăm những khu làm ăn như Dom Năm cũ và Dom Năm mới tại Moscou mà hai ông Phan Văn Khải và Nông Đức Mạnh đều biết. Tại đây, chúng tôi chuyện vãn và được biết rằng những cựu sinh viên du học tại Nga và Đông Aâu phần lớn không muốn về với chế độ và tìm cách làm ăn tại những nước này bằng mọi phương tiện. Sau khi rời Việt-Nam năm 1965, lần đầu tiên tại Moscou, tôi lại được ăn thịt chó do Cô Sinh Viên tên HƯƠNG bảo vệ Luận án Tiến sĩ tại Moscou mở quán bán thịt chó tại Dom Năm mới. Tôi cũng đã có dịp nói chuyện với ông Đại sứ Cộng sản tại Ba Lan. Oâng đã không về Bắc Việt và quyết định ra Đảng, ở lại Varsovie, mở quầy bán chả giò.

 Oâng Giáo sư Chử Văn Đông, Tiến sĩ Toán học tại Varsovie, đã chửi tục: ’’Địt mẹ, Hồ Chí Minh và Đảng đã lừa tôi. Hồi còn nhỏ học ở Bắc, chúng nói rằng mỗi em mỗi ngày phải bỏ ra một nắm gạo để cứu đoiù Miền Nam. Bây giờ thì mới thấy chúng nó nói phét, lừa bịp’’.

 Đợt hủ hóa đầu tiên này do sự chung đụng Bắc-Nam tạo sự mất tin tưởngvào những bịp bợm, tuyên truyền của Đảng.

 Thời gian trôi. Buộc lòng chế độ phải tuyên bố đổi mới, mở cửa để sống còn.Việc mở cửa là dịp chung đụng thứ hai tạo thêm mất tin tưởng vào chế độ. Thực vậy, đây không phải chỉ nguyên việc chung đụng Bắc-Nam, mà là sự chung đụng giữa Quốc nội và Hải ngoại, chung đụng giữa Cộng sản và Tư bản.

 Sự sụp đổ của Đế quốc Cộng sản, sự chung đụng Tư bản và Cộng sản càng làm tăng thêm sự mất tin tưởng vào chế độ Cộng sản. Xin hỏi thẳng những người Lãnh đạo Cộng sản rằng họ còn tin vào sự cao đẹp của chế độ Cộng sản hay không. Nếu họ còn tin, tại sao không gửi con cái đi Trung Cộng mà học cho đúng lý tưởng, mà ngược lại tìm hết cách gửi con cái đi Mỹ học trong một chế độ bóc lột.

 Cái lý do còn giữ chế độ, không phải vì còn tin tưởng vào sự cao đẹp, nhưng chỉ vì muốn duy trì chế đội, với độc quyền chuyên chính, để cướp đoạt quyền lợi, của cải cho cá nhân mình.

ĐỘNG CƠ ĐỐI KHÁNG HIỆN HÀNH

 Cái lý tưởng Cách Mạng vô sản thời Lénine không còn nữa. Những hứa hẹn quyến rũ đã lộ diện thành ảo tưởng. Những bịp bợm tuyên truyền lừa dối đã bị thực tế lật tẩy. Bụng đói gần chết thì hết hơi hoan hô ủng hộ chế độ.

 Lòng tin tưởng vào chế độ đã xẹp bép xuống tại chính những người trong Đảng, ngay cả nơi những người lãnh đạo. Nhưng chế độ Cộng sản vẫn còn được giữ lại tại Việt Nam. Cái động lực chính yếu cơ bản là bảo vệ quyền hành để tiện bề ăn cướp của chung làm của riêng. Đây không phải là điều tôi nói để vu oan cáo dạ, để chửi bới Cộng sản, mà là một sự thật hiển nhiên. Tôi xin thách đố những ai bênh đỡ Cộng sản, chỉ dậy cho tôi những lý do đẹp đẽ mà Cộng sản Việt-Nam cố lì lợm giữ cái chế độ chuyên chính này đè lên đầu Dân Việt-Nam.

 ’’Cộng sản vô thần đàn áp Tôn giáo’’. Cái câu nói này ngày nay không còn trúng nữa. Thực vậy, có phải Cộng sản ngày nay vẫn say mê chủ thuyết vô thần để mà đàn áp, tiêu diệt Tôn giáo hay không ? Cộng sản lúc này không còn vì sự đối chọi vô thần, hữu thần mà đàn áp Tôn giáo nữa, mà chỉ vì sợ Tôn giáo là một lực lượng có thể đứng lên tố cáo sự cướp dựt của cải bẩn thỉu của họ. Họ sẵn sàng để các tín hữu đi Nhà Thờ, đến Chùa...miễn là đừng động chạm gì tới sự lì lợm giữ chế độ để ăn cướp của Dân. Các Linh mục tha hồ làm Lễ, nói về Chúa, nhưng không được động chạm tới quyền chuyên chính của họ và những cướp bóc mà họ làm. Vì quyền lợi cá nhân, Cộng sản có thể làm tất cả, ngay cả việc cho con cái theo tôn giáo, làm Truyền đạo của Tin Lành, hay đi tu trong các dòng tu Công giáo để có dịp xuất ngoại. Về điểm này, một số những vị lãnh đạo Tôn giáo đang bị Cộng sản lợi dụng đổi chác.

 Đại Hội Đảng kỳ IX công khai chấp nhận việc Tham nhũng và Lãng phí của Đảng. Đây là một cách nói cho nhẹ đi mà thôi. Đích thực đó là việc cố thủ dành độc quyền ăn cướp của chung làm của riêng. Lớn ăn cướp lớn, bé ăn cướp bé, vừa ăn cướp, vừa giả hình, vừa nói láo, khủng bố tinh thần...Ai đụng đến lông chân những tên cướp công khai ấy, thì chúng lại bịa đặt hết chuyện này đến chuyện kia để đàn áp. Đây cũng không phải là điều tôi bịa đặt ra để công kích Cộng sản, mà là một thực tế. Linh mục Nguyễn Văn Lý, Luật sư Lê Chí Quang...là những tỉ dụ còn đang sống.

 Điều mà tôi muốn mạnh ở đây không phải viết về cái động lực chính yếu để cố thủ giữ lại chế độ, nhưng là nhìn qua cái động cơ ấy để thấy sự phát sinh và lớn mạnh của Phong trào đối kháng từ trong Đảng mà ra. Phong trào lớn mạnh để trở thành một lực lượng giải thể chính chế độ.

 Xem một phim cao bồi tổ chức ăn cướp một ngân hàng. Khi chưa ăn cướp được tiền, thì họ đoàn kết thân thiện với nhau. Nhưng khi ngồi trước một đống tiền mới ăn cướp được, thì họ nghĩ đến thanh toán nhau, chiếm phần lớn hơn hoặc độc quyền chiếm trọn đống tiền. Đảng cướp Cộng sản Việt-Nam cũng không ra khỏi cái luật lệ chung ấy bởi vì những thành viên không còn tinh thần nữa mà chỉ nhìn cái của cải cướp dựt.

 Không cướp được nhiều thì đối kháng để hạ kẻ kiếm được nhiều. Nhưng khi cướp được nhiều, thì cũng phải tìm cách loại trừ kẻ kiếm được ít để diệt khẩu. Sự đối kháng trở thành tất yếu trong Đảng Cộng sản ngày nay vì tranh danh quyền lợi. 

NHỮNG NHÓM ĐỐI KHÁNG ĐANG PHÁT SINH

 Với tình trạng hủ hóa, mất dần lòng tin tưởng vào Đảng Cộng sản và Chế độ, cộng thêm việc nhìn vào lòng dạ bán Nước cầu vinh của Lãnh đạo Đảng, những Phong trào Đối kháng sau đây đang được thành hình và lớn lên:

=> Phong trào các Đảng viên Lão thành
 Những Vị lão thành này của Đảng đã phục vụ Đảng và Chế độ trong thời gian chiến tranh, lúc này thấy lý tưởng trước đây hiện ra là những che đậy cho những chuyên chế đê tiện, thấy sự phục vụ của mình bị phản bội, đồng thời chính họ và con cháu họ không được hưởng những quyền lợi vật chất mà Nhóm Lãnh đạo hiện hành đang dành dựt chia phần đe tiện.

=> Phong trào Tranh chấp giữa các Đảng viên Lãnh đạo
 Trong việc chia phần dành dựt dấu diếm, che đậy, tất nhiên có sự nghi kỵ phần lớn nhỏ. Không thể nào có sự nhất trí đòan kết giữa những kẻ cướp. Qua những lời tuyên bố được sơn phết bóng bẩy, người ta nhận thấy sự đối kháng giữa Phe Khải/Dũng và những Lãnh đạo Miền Bắc phục vụ Trung Cộng. Tôi đã có dịp nói chuyện với một cấp Lãnh đạo. Họ cần chúng ta, những người chống Cộng, phanh phui ra những thối nát của chính Cộng sản, để họ có cớ đả kích, thanh trừng lẫn nhau.

=> Phong trào chống đối của Lãnh đạo Địa phương với Trung ương
 Trung ương tham nhũng theo Trung ương, Địa phương tham nhũng cướp dựt theo địa phương. Có những lộng hành của Địa phương được dấu lẹm cho địa phương. Có những tham nhũng bẩn thỉu của Trung ương mà Địa phương không dám đụng chạm. Dân tin rằng Trung ương tập quyền là có thể kêu cầu người trên giải quyết cho việc dưới, mang những oan ức của Địa phương lên Trung ương khiếu nại, nhưng Trung ương lẩn tránh không dám giải quyết theo chủ trương Trung ương tập quyền. Dân không còn biết đâu là Luật pháp và đâu là Quyền hành.

=> Phong trào đối kháng của giới Kinh doanh Việt-Nam với hàng Trung Cộng
 Vì mục đích cố thủ duy trì chế độ Chính trị, mà Đảng và Nhà Nước Cộng sản Việt Nam đã để làn tràn hàng hóa Trung Cộng, nguồn bóp chết Kinh doanh sản xuất tại Việt nam. Hàng Việt-Nam và hàng Trung Cộng tương đối ở một mức độ sản xuất không khác nhau lắm, nhưng về hai phương diện sau đây thì có sự khác biệt rõ rệt thuận lợi cho Trung Cộng: (i) Giá cả chênh lệch: với khối người trên một tỉ 400 triệu, Trung Cộng sản xuất với giá rất rẻ vì số lượng sản xuất lớn; Việt Nam, với khối người chỉ có 75 triệu, không thể nào xử dụng lượng sản xuất làm yếu tố chính yếu để hạ giá thành thấp được (Chi tiêu sản xuất cố định/Lượng sản xuất: Cout fixe de production/ Quantite produite). Để hàng Trung Cộng vào Việt Nam là mua thuốc độc về để tự tử; (ii) Xuất cảng:liên hệ xuất cảng của Trung Cộng  mạnh hơn Việt-Nam, nhất lúc này họ đã vào Tổ Chức Mậu dịch Quốc tế (WTO). Về điểm này, chúng tôi đã có dịp nói rằng Việt-Nam phải thay đổi chế độ để có sự hợp tác của khối người Tị nạn sống trên 70 Quốc gia trên Thế giới. Trong trường hợp này việc xuất cảng của Việt-Nam mới có những đầu cầu thuận lợi. Chính ông Lý Quang Diệu đã khuyên Nhà Nước Cộng sản Việt-Nam về điểm phí phạm này chỉ vì cố thủ giữ lấy một thể chế chính trị đã hòan tòan sai lầm.

=> Phong trào chồng đối quyền lợi giữa các Công ty quốc doanh
 Thực vậy, nguồn chống đối giữa các Công ty quốc doanh gồm việc giữ những quotas xuất cảng, việc ưu tiên lấy hàng hóa, việc dễ dàng lấy giấp phép, việc ưu tiên liên doanh với nước ngòai, việc dành dựt đấu thầu, việc ưu tiên lấy đất đai... Tôi đã có dịp liên hệ về vấn đề Gạo và Tài chánh. Công ty TIGIFOOD của Tiền Giang có gạo, nhưng phải qua quyền bán của Tổng Công ty Miền Bắc, không có gạo. Mỗi nơi giữ thế để chống nhau.

=> Phong trào Tư doanh chống Quốc doanh
 Đây là sự chống đối không thể tránh được. Quốc doanh có quyền, nhưng làm ăn lãng phí. Tư doanh làm ăn thực sự, nhưng không có quyền, bị Quốc doanh cản mũi kỳ đà, bị kéo theo sự thua lỗ. Với sự chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, chúng ta phải cấu kết với giới Tư doanh để làm lớn mạnh lực lượng đối kháng chính đáng này.

=> Phong trào Giới trẻ quốc nội dành quyền sống và quyền quản trị
Nước trong lương lai 
 Chúng tôi chỉ hạn hẹp vào chính giới trẻ thuộc Đảng và chỉ vào vấn đề quyền lợi vật chất. Những con ông cháu cha có dù lớn che chở được hưởng quyền lợi ưu tiên: quyền xuất ngọai du học, có cuộc sống vật chất sung suớng do việc cướp của công của cha mẹ làm lãnh đạo. Những con ông cháu cha có phương tiện và được ưu tiên xuất ngọai này, khi trở về sẽ lại được quyền ưu đãi về quyền hành để thống trị trên giới trẻ hiện đang phải cự nhọc, nghèo khó, đấu tranh cho việc học hành hiện nay tại Việt-Nam. Chúng ta phải hết lòng khai thác việc bất công này để giới trẻ tại Quê hương đấu tranh thực tế chống lại chế độc độc quyền ưu tiên.
 
Để kết luận bài này, tôi xin kể câu chuyện sau đây.
 Khi tôi xuất bản tờ VietTUDAN, đấu tranh chống chế độ Cộng sản Việt-Nam, thì từ trong nước có người viết chưiû tôi là đồ ham đô-là Mỹ, bám đít Mỹ, ra ăn cơm thừa của Mỹ, hồi tưởng lại thời trước 1975 làm Ngụy mà hận thù với Cách Mạng Cộng sản. Tôi đã viết trả lời cho họ rằng họ đã lầm về tôi và cố tình hiểu sai về Hải ngọai, đã hòan tòan theo luận điệu xuyên tạc, cố ý mạ lỵ cuộc đấu tranh cho Tự do, Dân chủ của Đồng bào Việt-Nam Hải ngọai hiện nay. Họ lầm vì tôi ra đi từ 1965; tôi bị chính thời tướng Khánh kết án tôi; chưa bao giờ tham dự vào Chính quyền trước năm 1975; chẳng có dịp nào tham nhũng được gì dù mình có muốn tham nhũng đi nữa; sang đây với hai bàn tay trắng, đâu có phải vì đo-la mà ra đi; phải làm việc như con chó mới kiếm được phương tiện học hành. Tôi đã mắng chửi lại không những chỉ nguyên người này, mà còn lôi cả ông ngọai, bà nội Cộng sản từ hồi Hồ Chí Minh ra mà chửi. Thư chửi của tôi đã được gửi về chính Trung ương Đảng Cộng sản để cha mẹ, ông bà chúng nó nghe, không biết dậy con cái để đi viết bậy bậy vu khống.

 Dân Việt Hải ngọai, có cuộc sống yên thân, có quyền nói với người Quốc nội rằng: ’’Nếu nhát đảm không biết tự đứng lên cứu mình khỏi Cộng sản, thì ráng mà chịu. Đời cua, cua máy, đời cáy, cáy đào!’’.

 Nhưng những người Việt ở Hải ngọai đã đứng lên đấu tranh, vì thấy Cộng sản dùng Công an khủng bố, bịt miệng đồng bào trong nước, dùng bạo lực mà áp đảo chí khí của người dân. Những người Việt Hải ngọai đấu tranh không phải là để trở về làm vương làm tướng, NHƯNG LÀ VÌ TƯƠNG LAI CỦA DÂN TỘC, CỦA SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM CHO SÁNH KỊP VỚI NHỮNG NƯỚC LÁNG GIỀNG.

 Những Phong trào chống đối vừa kể trên đây sẽ cầm lấy vận mạng Đất Nước. Cộng sản chỉ muốn mọi người ngồi yên đễ họ cướp của chung, mặc cho sự thối lui đau đớn của Dân tộc, của Đất Nước.

 Chúng tôi chọn con đường đấu tranh cho một nền Kinh tế Tự do, Thị trường đích thực. Nền Kinh tế này chỉ có thể gọi là đích thực khi nó dựa trên căn bản tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo đảm NHÂN QUYỀN và thực thi DÂN CHỦ.  Những điểm căn bản này tạo một MÔI TRƯỚNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adequat) thiết cần cho việc phát triển Kinh tế Tự do Thị trường đích thực.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
TẠI SAO PHẢI GIẢI THỂ
CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH CỘNG SẢN
                                                                                                                                 Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 
 Trong bài lần trước, chúng tôi đã đề cập về việc giải thể chế độ Công sản chuyên chính với ba câu hỏi, kèm những trả lời vắn tắt như sau:
- Giải thể bằng con đường nào ?
- Ai giải thể ?
- Lãnh đạo đất nước hậu giải thể ra sao ? 
Giải thể bằng con đường nào ? Bằng con đường nhân dân đòi quyền dạ dầy (Stomach Right). Thực vậy chế độ CS thất bại về chủ trương Kinh tế Tập quyền Kế hoạch bao cấp, không giải quyết được quyền dạ dầy. Họ phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do Thị trường để giải quyết. Mà nền Kinh tế này đòi phải có một Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adequat) trong ấy những quyền tự do căn bản của con người phải được tôn trọng. Chúng tôi xác tín vào con đường Kinh tế Tự do Thị trường đích thực như con đường tất yếu giải thể chế độ Cộng sản (Xin đọc bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 82)
Ai giải thể ?  Lực lượng Nhân dân quốc nội là chủ lực giải thể. Còn lực lượng Người Việt hải ngoại chỉ là trợ lực, làm công tác ngoại vận. Đây là lực lượng rất quan trọng và vô cùng hữu hiệu làm ngoại vận cho chủ lực Quốc nội. Chúng tôi không tin vào khả năng của Lực lượng hải ngoại mang Cách mạng về giải phóng Quê hương.
Lãnh đạo đất nước hậu giải thể ra sao ?  Có người đặt câu hỏi và lo lắng AI là lãnh đạo quản trị đất nước sau khi chế độ Cộng sản phải giải thể. Đặt câu hỏi như vậy, người đó, một đàng đấu tranh cho Dân chủ, một đàng tinh thần vẫn chưa thoát khỏi quan niệm Quân chủ, Độc tài, lấy cá nhân Lãnh tụ mà trị nước. Hậu Cộng sản, chúng ta xây dựng một nền DÂN CHỦ PHÁP TRỊ, điều ấy có nghĩa là DÂN quản trị đất nước theo đúng PHÁP LUẬT do dân cùng đồng ý thiết lập lên. Vấn đề NGƯỜI (cá nhân) không còn quan trọng nữa. Tuy vậy, nếu kể đến hiệu lực Lãnh đạo, chúng ta nhìn trước hết những người đã lãnh đạo Chủ Lực Nhân dân Quốc nội.

 Khi đặt ba câu hỏi như trên, chúng tôi quan niệm mọi người đều thấy rằng việc cần thiết giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính là điều minh nhiên. Với bài hôm nay, chúng tôi trình bầy chi tiết về cái điều minh nhiên ấy để trả lời cho câu hỏi: ’’TẠI SAO PHẢI GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN CHUYÊN CHÍNH HIỆN HÀNH?’’. Chúng tôi lần lượt đề cập đến những điểm sau đây:
- Tình trạng nghèo đói của Dân chúng và thụt lùi của nền Kinh tế
- Giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính là điều cần thiết và cấp bách
- Đảng Cộng sản cố thủ giữ chế độ là  những kẻ nội thù của Dân tộc
- Những hành động a tòng với kẻ nội thù
- Đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính là bổn phận cứu Nước.
                                                                                                                                 Tình trạng nghèo đói của Dân chúng
và thụt lùi của nền Kinh tế

 Chương trình ’’Chống đói, Giảm nghèo’’ mà Nhà Nước Cộng sản đang chủ trương là bản cáo trạng của chế độ. Trước Tết Nguyên Đán năm nay, Công ty Nhà Nước VUNGTAU INTOURIMEX, đường Hai Bà Trưng, Sài-gòn, do Ong Ngô Thái Kiên làm Giám đốc, đã hỏi ý kiến chúng tôi về vấn đề tài chánh cho chương trình chống đói, giảm nghèo này. Qua tài liệu do Công ty này cung cấp, thì tôi biết rằng Chương trình dành cho 6 Tỉnh Miền Bắc. Đây là những Tỉnh con đẻ của chế độ chuyên chính Cộng sản. Việc đói nghèo của Dân chúng không phải là ở Miền Nam, nơi mà Đảng Cộng sản vẫn tuyên truyền rằng Dân chúng bị Mỹ—Ngụy Việt Nam bóc lột tận xương tủy. Cái đói nghèo của Dân chúng là ở những Tỉnh Miền Bắc, do chế độ chuyên chính Cộng sản cai trị trong những chục năm trường. Đúng là cháy nhà mới ra mặt chuột! Chương trình ’’Chống đói, Giảm nghèo’’cho 6 Tỉnh Miền Bắc là một bản cáo trạng cho chủ trương Kinh tế tập quyền bao cấp của chế độ Cộng sản.
 Hãy nhìn những chỉ số Kinh tế, Tài chánh do Quốc tế cung cấp, thì thấy tình trạng đói nghèo và thụt lùi Kinh tế của Việt-Nam hiện nay sánh với những nước khác. Những chỉ số Kinh tế, Tài chánh này được lấy ra từ cuốn MOODY’S COUNTRY CREDIT STATISTICAL HANDBOOK (pp.18-31), do Moody’s Investors Service xuất bản tháng Giêng năm 2002. Về chỉ số cho Cơ cấu Kinh tế và Thực hiện (Economic Structure and Performance), chúng tôi chỉ cần lấy chỉ số Tổng Sản Lượng (GDP) theo đầu người, thì cũng đủ thấy rằng Việt-Nam đứng hạng chót. Theo MOODY’S, năm 2000, Tổng Sản Lượng (GDP) của Việt-Nam là 29,2 tỉ đo-la, và Dân số là 77,7 triệu. Như vậy Tổng Sản Lượng (GDP) theo đầu người là 376 đo-la một năm. Tổng sản lượng này đứng hạng chót đối với các nước khác trong Danh sách. Hãy so sánh với những nước gần kề trong vùng. Tổng sản lượng theo đầu người của Thái-Lan gấp 5 lần dân mình, của Phi-Luật-Tân gấp 3 lần, của Mã-Lai gấp 10 lần, của Trung quốc gấp hơn 2 lần. Nếu lấy những nước Đông Aâu, đã trải qua một khuôn mẫu chế độ chuyên chế như Việt-Nam, nhưng đã dứt khóat với chế độ Cộng sản sau sự xụp đổ của Bức tường Bá-Linh, chúng ta thấy họ tiến thực sự: Tổng sản lượng theo đầu người của Ba-Lan gấp trên 10 lần Việt-Nam, Tiệp khắc gấp trên 13 lần, Slovakia gấp 10 lần, Hung-Gia-Lợi gấp trên 12 lần, Ru-Ma-Ni gấp 5 lần, Nga gấp 5 lần.  Những Oâng Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải đã học bên này và đã từng biết dân của những nước ấy nghèo đói như thế nào trước khi Bức tường Bá-Linh xụp đổ. Nhưng nay Tổng sản lượng theo đầu người của họ đã tiến gấp bao lần Việt-Nam với Kinh tế Tự do Thị trường. Nếu sánh với những nước đã có truyền thống Kinh tế Tự do, Thị trường: Nhật gấp 100 lần, Đại Hàn gấp 27 lần, Singapore gấp 62 lần, Pháp gấp 67 lần, Thụy sĩ gấp 90 lần và Hoa-kỳ gấp 95 lần Tổng sản lượng theo đầu người của Dân mình. Sau khi Oâng Trần Đức Lương sang thăm Bắc Hàn 4 ngày, thì ngày 25.06 vừa rồi, Việt-Nam quyết định viện trợ cho Bắc Hàn 5'000 tấn gạo để cứu dân chết đói của Bắc Hàn. Oâng Trân Đức Lương hẳn biết rõ rằng cái tình trạng chết đói ấy đến từ thể chế Cộng sản chuyên chính, chứ không phải do sự bóc lột của Mỹ—Ngụy như Bắc Việt tuyên truyền bậy bạ trước đây đối với Miền Nam Việt-Nam. Biết như vậy, nhưng Oâng vẫn chủ trương giữ cái chế độ chuyên chính  đè lên  Dân chúng Việt-Nam.
 Nếu nhìn vào xếp hạng tín dụng về phương diện tài chánh, thì Moody’s đã xếp Việt-Nam vào hạng B1, nghĩa là những người có vốn cho vay biết rằng việc bảo đảm để hòan trả vốn và lời của Việt-Nam rất mong manh: ’’Assurance of interest and principal payments or of maintenance of other terms of the contract over any long period of time may be small.Issuers rated B offer poor financial security. Assurance of payment of obligations over any period of time is small.’’ Với việc xếp lọai này trên thị trường tín dụng Quốc tế, Việt Nam rất khó lòng vay được vốn. Sự mất tin tưởng ấy đến từ cái thể chế Cộng sản chuyên chính.
 Những nước Đông Aâu đã dứt khóat với Cộng sản để theo nền Kinh tế Tự do, Thị trường, họ đã tiến vượt Việt-Nam. Nếu Việt-Nam vẫn giữ chế độ Cộng sản chuyên chế, thì những nước trong vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai... sẽ tiến lên và để chúng ta thụt lùi. Lúc ấy không thể chạy theo để cạnh tranh được nữa. Chúng tôi nghĩ đến tương lai của đời sống Dân chúng Việt-Nam, của sự Phát triển Kinh tế Đất Nước mà đòi hỏi việc giải thể cấp bách chế độ chuyên chính Cộng sản.
                                                                                                                                Đảng Cộng sản cố thủ giữ chế độ
là  những kẻ nội thù của Dân tộc

 Với tình trạng đói nghèo, thụt lùi Kinh tế này do chế độ Cộng sản chuyên chính tạo ra, chúng ta còn phải thêm vào đó một tình trạng bi thảm nữa, đó là Tham nhũng và Lãng phí đang làm bại họai nền Kinh tế đã mục nát do chế độ chuyên chính Cộng sản..

 Bộ Chính trị của Đảng và Nhà Nước đã phải buộc lòng tuyên bố chấp nhận Hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như một cứu vãn cho tình trạng đói nghèo của Dân chúng và việc thụt lùi Kinh tế. Nhưng chỉ tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường mà không cho một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adequat), thì không thể nào thực hiện được Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực. Không thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Muốn có hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như một cứu vãn cho tình trạng đói nghèo của Dân chúng và đẩy mạnh Phát triển việc làm ăn ở Việt-Nam, thì phải giải thể cái chế độ Cộng sản chuyên chính hiện hành. Không thể  giữ Điều 4 của Hiến pháp, không thể giữ Lực lượng Công an khủng bố Dân chúng để phục vụ chính trị độc quyền của Đảng.

 Tuyên bố chống Tham nhũng, Lãng phí, mà không ai được quyền nói đụng đến lông chân của những Lãnh tụ tham nhũng của Đảng, thì làm thế nào Tham nhũng hết được. Những Vị Lão Thành của Đảng vừa tuyên bố lập Hội chống Tham nhũng, thì Công an đã đàn áp, đấu tố. Để có thể làm cho những kẻ Tham nhũng sợ mà giảm việc ăn bẩn thỉu đi, thì phải cho Đối Lập, phải cho Tự do Báo chí, phải cho Dân chúng vạch mặt chỉ tên những kẻ tham nhũng, dù những kẻ ấy làm quan lớn trong Đảng đi nữa.

 Cái chế độ Cộng sản chuyên chính là cản mũi kỳ đà việc thi hành đích thực của một nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Nền Kinh tế này là giải quyết cho tình trạng đói nghèo của Dân chúng và làm đà cho việc Phát triển làm ăn của Việt-Nam. Đây là lý do căn bản của việc đòi hỏi phải giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính. Việc đòi hỏi giải thể này không phải là vấn đề cảm tình, ghen tị tình cảm, thích hay không thích Cộng sản. Đó là việc đòi hỏi cơ bản của lý luận, của thực tế, của sự nghèo đói cùng cực của Dân chúng và của tương lai Đất nước Việt-Nam. Khăng khăng giữ lấy chế độ chuyên chế Cộng sản là phản quốc vậy.

 Oâng Nguyễn Mạnh Cầm tuyên bố rằng phải có thời gian  tiến tới Kinh tế Tự do Thị trường từ từ. Chúng tôi xin hỏi Oâng từ từ là bao nhiêu năm nữa. Và đã bao nhiêu năm rồi Cộng sản đã tuyên bố từ từ và cởi mở mà những điều thắt chặt cớ bản vẫn không hề thay đổi. Đây chỉ là một cách bào chữa để trì hoãn cái chế độ chuyên chính Cộng sản bởi vì một mặt Oâng nói như vậy, một mặt thì Đảng cứ đưa ra những Kế hoạch  rặt mùi Cộng sản chuyên chế bao cấp cho những chục năm về sau. Việt-Nam cứ từ từ, nhưng những nước khác thì sinh động và tiến vọt lên cho đến khi Việt Nam từ từ thấy mình ngồi ở đáy giếng. Phải giải thể cấp bách chế độ Cộng sản chuyên chính để cứu đồng bào nghèo đói, để cho Đất nước theo kịp tương lai phát triển của những nước khác.

Giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính
là điều cần thiết và cấp bách


 Dân chúng Việt-Nam đã nghe nhiều đến Thực dân dầy xéo Đất nước, Bắc phương xâm chiếm Giang sơn...Tòan dân đã nỗ lực hy sinh xương máu để đánh đuổi kẻ thù của Dân tộc: thực dân và giặc Tầu.

 Ngày nay, kẻ thù đang làm cho Dân chúng đói nghèo, đang cản bước phát triển của Đất nước. Giữa người Việt chúng ta, cùng một bọc mà ra, chúng ta thương yêu nhau. Nhưng có một lớp người đã vì một chủ thuyết ngọai lai ảo tưởng, đã thiết lập một thể chế Cộng sản chuyên chính trên Dân tộc. Thể chế ấy đang dầy xéo lên dạ dầy Dân chúng, đang cản sức làm ăn phát triển Kinh tế tương lai của Đất nước. Tòan dân phải đòi buộc họ giải thể cấp bách cái chế độ chuyên chính này.

 Đảng Cộng sản Việt-Nam, những người anh em cùng dòng máu Việt ấy, vẫn cố thủ lì lợm duy trì thể chế chính trị độc tài của mình. Việc cố thủ lì lợm này buộc Dân chúng phải coi họ là những KẺ NỘI THÙ của Dân tộc. Tòan dân chống Cộng, chống nội thù, không phải là chống những người anh em cùng dòng máu với mình, nhưng là chống và tận diệt một CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN CHUYÊN CHÍNH mà những người anh em cùng dòng máu ấy cứ lì lợm duy trì để Dân chúng đói khổ, để tương lai phát triển Kinh tế quốc gia thụt lùi. Tại sao họ cứ lì lợm tự nhận mình làm nội thù của Dân tộc?  Chính vì quyền lợi riêng tư bóc lột của phe nhóm họ mà thôi.

Những hành động a tòng với kẻ nội thù

 Chúng tôi muốn nói đến những lớp người, ngay trong hàng Lãnh đạo các Tôn giáo, ngay trong giới tự nhận là Trí thức, hoặc vì chút quyền lợi cá nhân nhỏ mà Kẻ nội thù nhử trước mặt...đã làm ngơ hoặc hùa theo Kẻ nội thù để làm cho Dân chúng đói khổ, để cản bước phát triển Kinh tế tương lai của Đất nước. Họ là những người a tòng, hợp tác trực tiếp hay gián tiếp với hành động phản quốc của Kẻ nội thù của Dân tộc.
 Chúng tôi xin lần lượt nói đến những lớp người này.
Lớp người trong hàng Lãnh đạo các Tôn giáo
 Trong một bài trước đây, chúng tôi đã nói rằng Việt Cộng ngày nay có lẽ không ’’đàn áp Tôn giáo nhân danh chủ thuyết vô thần’’. Thực vậy, nếu những Giáo dân đi Lễ từ 4 giờ sáng, rồi ngồi trong Nhà Thờ cầu nguyên cho đến chiều, Việt Cộng có thể vẫn để yên, miễn là những Giáo dân này không được mở miệng động chạm tới cái chế độ chuyên chính của họ. Cộng sản không đàn áp Tôn giáo như trước nữa, nhưng họ nắm các Tôn giáo để ủng hộï cái chế độ chuyên chính của họ. Mới đây, một Phái đòan Tôn giáo sang Hoa Kỳ để nói rằng có Tự do Tôn giáo, nói rằng Giáo dân đi Nhà Thờ, đi Chùa, nói rằng Việt Cộng cho mở lại Chủng viện, giúp sửa sang lại Chùa, Nhà Thờ... nhưng đã không nói rằng Việt Cộng đã dùng chính họ, cho những Linh mục, Tu sĩ, Mục sư, Truyền đạo, Thượng tọa quốc doanh len lỏi vào các Tôn giáo để kiểm soát, để làm cho các Tôn giáo không được mở miệng chống lại cái chế độ chuyên chính Cộng sản đang làm cho Dân chết đói, đang đưa Kinh tế Việt Nam thụt lùi. Tôn giáo không tách rời với cuộc sống. Tôn giáo có những chủ trương nhân bản, có nền luân lý  để giới thiệu cho Giáo dân. Nhưng Cộng sản có cho Tự do để giảng dậy nền luân lý, phát biểu những vấn đề nhân bản ấy không. Cộng sản cho phép các Giám Mục nói về Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, Ngôi Nhất là Cha..., nhưng khi Công an lôi Cha Lý ra xử một cách vô Luật lệ, thì nó nói rằng các Giám Mục không được nhận xét về việc đè nén uất ức này vì đây là Chính trị do chế độ độc quyền phán dậy, nghĩa là Tôn giáo không được động chạm đến vấn đề Công lý thuộc phạm vi nhân bản độc quyền của chế độ.  Khi những người quốc doanh này làm tay sai cho một chế độ giết Dân tộc, thì Cộng sản không nói rằng những người này làm Chính trị, nhưng khi có Vị chân chính nào can đảm nói lên sự thật của cái chế độ tội lỗi này, thì Việt Cộng gán cho tội làm Chính trị và thẳng tay đàn áp. Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ là hình ảnh của người mang Lương tâm thẳng thắn để nói rằng kẻ nội thù đang nằm bên cạnh chúng ta và Ngài là nạn nhân của chính sách bịt miệng, khủng bố, đàn áp của cái chế độ Cộng sản phản bội Dân tộc.
 Chúng tôi cũng xin thẳng thắn nói rằng sự yên lặng của Hàng Giám Mục Việt-Nam trước sự tàn nhẫn của chế độ chuyên chế Cộng sản, vô hình chung là a tòng với kẻ nội thù của Dân tộc. Chúng tôi cũng không thể hiểu được có Vị Giám Mục còn dám ca ngợi chế độ và chỉ trích những Phong trào Nhân dân đấu tranh chống lại cái chế độ đang làm cho Dân đói khổ và làm tương lai Kinh tế Việt-Nam thụt lùi. Chúng tôi đã đọc kỹ Thư Chung của Hàng Giám Mục Việt-Nam trong đó các Vị Lãnh đạo đã tả kỹ những tệ đoan, tình trạng đói nghèo của Dân chúng, mà không dám động chạm gì đến cái chế độ chuyên chính Cộng sản là nguyên cớ cho những tệ đoan và tình trạng nghèo đói mà những chỉ số của Moody’s đã cho thấy, hoặc chính kẻ nội thù đã phải thú nhận. Hàng Giám Mục, Lãnh đạo Tôn giáo, giảng dậy nền Luân lý của Giáo Hội, phải làm gương cho sự thẳng thắn của Lương tâm.
 Chúng tôi cũng đã có dịp đưa nhận xét cho một Mục sư Tin Lành. Khi Cộng sản cho phép rầm rộ mở Đại Hội Tin Lành ở Đà Nẵng để tiếp đón Giấy Phép hoạt động của Giáo Hội mà Cộng sản cho phép, tôi hiểu rằng trong Ban Lãnh Đạo Hội Thánh Tin Lành sẽ có đầy những Mục sư, Truyền Đạo làm giáo gian. Thậm chí ngay cả những Lãnh đạo Cộng sản còn cho con làm Truyền đạo Tình nguyện để có dịp các Giáo phái Tin Lành bên Mỹ lo cho sang Mỹ để học. Trong số này, phần lớn là ở Miền Trung. Vùng Cao Nguyên Trung Phần có nửa triệu Tín đồ Tin Lành. Khi Cộng sản đàn áp, tôi hỏi một Mục sư tại bên này xem tại sao Hội Thánh Tin Lành không có một phản ứng nào, bỏ rơi Tín đồ chạy tán loạn. Vị Mục sư ấy nói với tôi rằng Hội Thánh Tin Lành không làm Chính trị. Tôi cảm thấy chua chát cho các Tín đồ Tin Lành vùng Cao Nguyên. Tiếng ’’Chính Trị’’ đã bị đánh đĩ, dùng làm cái lá chắn để che đậy cho sự nhát đảm, cho những quyền lợi riêng tư và gia đình, cho việc a tòng tội lỗi.
 Thấy kẻ cướp hành hung cướp của, mà yên lặng ngỏanh đi để kẻ cướp tha hồ làm ác, đó là thái độ a tòng. Không cấp cứu người hoạn nạn là một tội.

Lớp người tự nhận là Trí thức muốn biện luận để tránh sự thật
                                                                                                                               Ngay từ thời còn ở Việt-Nam trong những năm 1965, tôi đã thấy một số người nói rằng mình là trí thức, tỏ ra khinh chê những người có thái độ đấu tranh dứt khóat đối với chế độ Cộng sản. Họ thường dùng những kiểu nói ’’chống Cộng kiểu Hố nai’’ để tỏ sự chế riễu. Một số khi nói tiếng Việt, còn thêm mấy chữ thực dân Tây vào để tỏ rằng mình từ Paris về và thuộc hạng  Trí thức cao hơn Trí thức nội hóa!. Đây cũng là thái độ muốn dùng những chữ như ’’Đối thọai’’ cho có vẻ ta là người có ăn học ’’Trí thức’’. Thực tình thì tôi đã bắt đầu ghét hai chữ ’’Trí thức’’ ngay từ thời còn ở Sài-gòn. Tôi đã hô hào khi nói tiếng Việt, thì phải nói tiếng Việt ròng,  càng nói tiếng  ’’nhà quê’’, phong dao tục ngữ càng hay.Khi ở bên này, tôi cũng được nghe rằng một số anh em thuộc nhóm Cha NGUYỄN HUY LỊCH có khuynh hướng thảo luận kiểu ’’Trí thức’’ với Cộng sản. Hôm mới đây, đọc bài của Linh mục Chân Tín nói rằng trong Phái đòan Tôn giáo quốc doanh đi Hoa Kỳ có một ’’Trí thức’’ thuộc Nhóm Cha LỊCH cùng đi, tôi hiểu ngay với khuynh hướng nào mà họ tuyên bố bên Mỹ. Cha Lịch thuộc dòng Đa Minh. Chúng tôi cũng liên tưởng đến Cha Nguyễn Thái Hợp, Đa Minh, du học Fribourg trước đây và sau sang Nam Mỹ cho hợp với Xã Hội Chủ Nghĩa, nghĩ đến  Cha Đinh Châu Trần dòng Đa Minh, thuộc Phái đoàn do Cộng sản gửi qua Mỹ.
 Chúng tôi xin lưu ý giới Trí thức ưa biện luận, ’’đối thọai’’ với Cộng sản rằng Cộng sản chủ trương trói người ta bằng ’’Dây thung’’, chứ không phải bằng ’’Dây thép’’. Trói bằng giây thung thì khó có hiện tượng ’’già néo đứt dây’’. Khi thấy phản ứng Dân chúng trước sự xiết cổ tàn nhẫn của chế độ trở thành căng thẳng, thì dây thung giãn ra một chút, nhưng vẫn trói. Nhưng khi trói bằng dây thép, sự căng thẳng dâng lên, thì dây thép có thể bị đứt.
 Người Cộng sản mong giới Trí thức giữ thái độ ’’trí thức’’ để họ nói xiên xẹo co giãn, trong khi ấy họ vẫn một mực lì lợm cối chầy giữ nguyên chế độ độc tài chuyên chính.
 Xin dứt khóat giải thể cái chế độ Cộng sản chuyên chính này bởi vì tòan dân đã thấy tỏ tường cái hậu quả của nó. Giữ thái độ ’’trí thức’’ hay nói cách khác thiếu lòng can đảm dứt khóat  với chế độ chuyên chính này, chúng ta trở thành a tòng trong mưu mô của kẻ nội thù của Dân tộc.

Lớp người vì chút quyền lợi cá nhân nhỏ mà Kẻ nội thù nhử trước mặt
                                                                                                                               Cộng sản dùng cách nhử chút quyền lợi cá nhân nhỏ để làm giảm hoặc làm thối lui thái độ dứt khóat chống lại chế độ chuyên chính của họ. Một số người Việt tị nạn ở Hải ngọai, trước đây đã có thái độ dứt khóat chống lại chế độ chuyên chế Cộng sản. Nhưng sau khi Cộng sản cho chút quyền lợi làm ăn ở Việt-Nam, hoặc cho cái Visa để về Việt-Nam thăm nhà, nay đã trở thành ’’khôn ngoan’’ đắn đo. Thậm chí những người này còn tìm cách xa dần những bạn hữu đã cùng nhau hăng say trước đây dứt khóat với Cộng sản. Một số người lại còn tìm cách chống đỡ cho kẻ nội thù.
 Tôi xin kể ra những tỉ dụ cụ thể.
 Khi tôi chưa ra tờ VietTUDAN, một số bạn hữu đã từng cùng nhau có thái độ dứt khóat còn hơn ’’Hố Nai’’ hay ’’Don Camillo’’, nhưng ngày nay, có người còn gửi điện thư xin tôi bỏ tên họ ra khỏi danh sách gửi báo của tôi. Tôi hiểu người bạn ấy, nhưng tất nhiên không bao giờ tôi bỏ tên họ ra khỏi danh sách, cho dù họ có không chơi với tôi nữa. Có người bạn còn khuyên tôi hãy ’’tìm hiểu’’, ’’đối thọai trí thức’’ với Cộng sản. Tôi hỏi ra thì biết rằng người bạn ấy mới hùn hạp mở Hotel nhỏ ở Việt-Nam. Có người mà tôi quen, đã từng tuyên bố những điều rất ’’Hố Nai’’ như tôi về chống độc tài Cộng sản, nhưng nay lại rở giọng ’’trí thức’’ ra để nói về Cộng sản. Tôi khám phá ra rằng cái Oâng bạn xồn xồn tóc muối tiêu ấy có ’’em’’ bồ nhỏ ở Việt-Nam, cần Visa  để về ’’thăm Quê Hương, tắm ao ta!’’
 Lương tâm những người này biết rằng chế độ chuyên chính Cộng sản đang làm Dân đói khổ, đang cản tương lai phát triển của Đất nước, nhưng vì chút quyền lợi cá nhân mà kẻ thù của Dân tộc nhử trước mặt, họ đã tìm cách lẩn tránh lương tâm. Đối với tôi, thái độ này cũng là a tòng với kẻ nội thù đang làm hại Dân tộc và tương lai phát triển của Đất nước.

Đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính
là bổn phận cứu Nước

 Cộng sản cố tình xuyên tạc cuộc đấu tranh hiện hành cho một thể chế mà Tự do được tôn trọng, nền Dân chủ Pháp trị phải được thiết lập. Họ xuyên tạc bằng cách tuyên truyền rằng những Phong trào Đấu Tranh tại quốc nội cũng như ở hải ngọai chỉ là một sự hiềm thù Quốc—Cộng trong quá khứ, hoặc là sự tranh chấp quyền hành. Thậm chí một số Vị trong Tôn giáo còn cho rằng cuộc Đấu tranh ở Hải ngọai là do những người ’’ăn không ngồi rồi, chỉ tay năm ngón’’. Nói như vậy là cộng tác vào việc làm tội lỗi của kẻ nội thù của Dân tộc.
 Cuộc đấu tranh giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ngày hôm nay không còn mang tính cách Quốc—Cộng trước đây, hay chỉ nằm ở phương diện đấu tranh phe nhóm Chính trị. Những người ở Hải ngọai không đấu tranh để về nhà làm vương tướng. Cuộc sống của họ yên thân nơi Hải ngọai. Nhưng việc đấu tranh để giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ngày nay mang ý nghĩa của việc trừ nội thù và cứu nguy Đất nước. Đó không phải là cuộc đấu tranh theo hứng, thích hay không thích, mà là một BỔN PHẬN CỨU NƯỚC.
 Dân chúng Việt-Nam đói khổ, bị cột trói bằng dây thung. Các Tôn giáo bị ’’quốc doanh hóa’’ bằng những tay sai len lỏi vào lòng các Giáo hội. Nạn tham nhũng, Lãng phí được độc quyền che chở, không có đối lập, không có báo chí nói lên. Một nước Việt-Nam có vựa lúa, có cá biển dọc theo nước biển và sông ngòi, có rau cỏ xanh tươi trên đất màu mỡ. Không ai có thể tưởng tượng Dân mình phải đói. Dân Việt Nam bị đói, đó là cái nhục cho Quốc thể. Tôi không thể tưởng tượng rằng Tổng Sản Lượng theo đầu người của Việt-Nam đứng hạng chót, chỉ có 376 đo-la mỗi năm. Tôi cũng không tưởng tượng được rằng dân Phi-Luật-Tân kiếm mỗi năm gấp 3 lần dân mình. Đầu óc người Việt mình cũng thông minh, tài nguyên mình có, tính tình cần mẫn chịu khó làm ăn. Tại sao dân mình nghèo đứng chót?!
 Rồi tương lai đàn con cháu Việt. Khi các nước khác tiến, thì mình lùi.
 Cái tội lỗi đưa đến tình trạng như vậy là do cái chế độ chuyên chính Cộng sản. Đó là kẻ nội thù đang bóc lột Dân tộc. Những kẻ làm ngơ, yên lặng không nói lên, những kẻ đánh đĩ hai tiếng ’’trí thức’’ để che đậy lòng can đảm, những kẻ vì chút quyền lợi cá nhân nhỏ do Cộng sản nhử trước mặt, mà lẩn tranh cuộc đấu tranh giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản, là một mặt thiếu bổn phận cứu nước, mặt khác a tòng với nội thù để làm Dân đói khổ, làm tương lai phát triển đen tối.
 Những kẻ nội thù ấy, một mặt đè bẹp Dân để cướp của, một mặt nịnh bợ Bắc phương mà mang Đất và Biển của Tổ Tiên đi dâng cúng cho Tầu.
 Phải diệt Kẻ nội thù, Quân bán nước. Đó là BỔN PHẬN CỨU NƯỚC VÀ BẢO VỆ GIANG SƠN CỦA TỔ TIÊN. Chống Cộng, GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH CỘNG SẢN LÀ MỘT BỔN PHẬN CỨU NƯỚC của mọi người Việt vậy.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
CHỐNG CHUYÊN CHÍNH CỘNG SẢN
VÌ TƯƠNG LAI DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?
                                                                                                                                 Với bài này, chúng tôi muốn đặt vấn đề đấu tranh ở vị trí đúng của thực tế hôm nay tại Việt-Nam. Cái tiếng ’’CỘNG’’ còn nguyên nghĩa hay không đối với những người Việt-Nam theo Cộng cũng như đối với những người Việt-Nam chống Cộng? Quốc tế nhìn mình ra sao khi người Việt dành tòan sức lực xoay quanh cái tiếng ’’Cộng’’ này? Chúng tôi nói đến những điểm sau đây:

- Một vài câu chuyện dẫn nhập
- Giải thể chế độ chuyên chính vì tương lai
- Kết luận: xử dụng danh từ cho đúng thực tế


MỘT VÀI CÂU CHUYỆN DẪN NHẬP

Tôi có dịp nghe những câu chuyện từ phía Cộng sản chính cống cũng như những câu chuyện từ phía Lực lượng chống Cộng. Đây là những câu chuyện được kể ra không có mục đích đấu tranh, mà được nói ra một cách vô tình. Nhưng chính trong cái vô tình này mà chúng ta nhìn thấy hé mở một thực trạng mà cuộc đấu tranh phải lưu ý tới.

Cách đây chừng 9 năm, thời Oâng Tổng Lãnh sự NGUYỄN NGỌC LƯƠNG và thời Oâng Đại sứ NGUYỄN LƯƠNG tại Liên Hiệp Quốc Geneve. Cả hai Oâng cùng có tên là LƯƠNG. Thời ấy, Công ty nặc danh WIM-IMPACT của chúng tôi  có những liên hệ với Đông Aâu về vấn đề tái xuất cảng hàng Điện tử qua bên ấy. Vì sự liên hệ này của tôi đối với Nga và Đông Aâu, nên Oâng Nguyễn Ngọc Lương có ý nhờ tôi xem xét những nguồn cung cấp Phân đạm UREA mà Việt-Nam quen mua từ những nước này. Với sự quen biết ấy, Oâng Nguyễn Ngọc Lương nhờ tôi nộp đơn xin học bổng cho con gái của Oâng. Nhưng không may cho Oâng là trong hồ sơ nộp đơn, phải đề Nghề nghiệp của Cha. Trường hợp của Oâng thì phải đề nghề nghiệp là TỔNG LÃNH SỰ. Với nghề nghiệp cao trọng như vậy, thì không cơ quan Thụy sĩ nào chấp nhận cho Học bổng cho con của Oâng. Oâng Nguyễn Ngọc Lương than thở với tôi: ’’Tổng Lãnh sự của những nước Tự do, thì có tiền lương cao, nhưng Tổng Lãnh sự của nước Cộng sản Việt-Nam, thì lương chết đói!’’. Để chứng minh, Oâng Lương đã mời tôi lên ăn phở tại Tòa Tổng Lãnh sự. Sau khi ăn, Oâng cắt nghĩa cho tôi rằng tôi là khách được Tổng Lãnh sự mời, thì thịt được ăn tự do, còn nếu chỉ nguyên trong nội bộ, thì thịt được chia đều cho mỗi người, chỉ có bánh phở và nước phở được ăn tự do mà thôi. Sau đó, nhân dịp Lễ 3 ngày của Thành phố Geneve, tôi đề nghị nhân viên Tòa Lãnh sự và Toà Đại diện tại Liên Hiệp Quốc thuê một gian hàng để bán Chả giò và Thịt nướng kiếm tiền thêm. Cả Oâng Tổng Lãnh sự Nguyễn Ngọc Lương và Oâng Đại sứ Nguyễn Lương đều vui mừng chấp nhận. Vì biết tôi thường tổ chức trước đây những Lễ Lậy của các đòan thể Quốc gia, có nhiều đồ nghề để trang hòang, nên hai Oâng nhờ tôi cho mượn. Tôi thực tình nghĩ rằng vì đây là gian hàng của Tòa Tổng Lãnh sự và của Sứ quán Cộng sản, nên tôi cho mượn những đồ trang hòang rặt mầu đỏ, mầu của Cộng sản. Nhưng Oâng Tổng Lãnh sự và Oâng Đại sứ từ chối và nói với tôi rằng xin đừng dùng mầu đỏ, mà cho mượn mầu khác tốt hơn. Đây là điều tôi không chủ ý và phản ứng của hai người Cộng sản cao cấp như vô tình, nhưng ai cũng hiểu rằng chính những người Cộng sản không thích mầu đỏ của họ nữa. Đây là một mặc cảm khi phải tự xưng rằng mình là Cộng sản. Dường như trước mặt Quốc tế, họ mặc cảm nếu xưng mình là Cộng sản Việt-Nam. Hãy quan sát thêm những trường hợp khác. Trong hầu hết những Hồ sơ xin Tài chánh mà tôi nhận được, ngay cả những Công ty quốc doanh, khi đề Địa chỉ, họ chỉ đề vỏn vẹn VIỆT-NAM chứ không đề là CỘNG HÒA DÂN CHỦ VIỆT-NAM. Họ cũng mang mặc cảm cho cái danh xưng mà Đảng chủ trương. Những người gọi là đầu não tư tưởng của Đảng cũng bị mặc cảm và muốn đánh lận con đen khi họ dùng những chữ:’’ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA’’. Tại sao họ không dám dùng tọac móng heo rằng:’’ĐỊNH HƯỚNG CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA’’. Họ mặc cảm vì biết rằng Quốc tế sẽ cười họ khi họ dùng hai chữ Cộng sản và họ muốn đánh lận con đen khi dùng những chữ Xã Hội Chủ Nghĩa vì họ muốn xử dụng chữ ’’Socialisme’’ theo kiểu Tây phương. Về điểm này, chúng ta phải nói rằng chính những người Cộng sản đã có mặc cảm, hoặc chống lại chính chủ nghĩa CỘNG SẢN của họ. Chỉ những kẻ theo đóm ăn tàn, bồi Cộng sản, liếm đít thối của Cộng sản, thì lại ưa treo cờ MÁU ĐỎ ở bên Mỹ hay thường tự xưng là CỘNG SẢN. Chúng ta nên hiểu rằng đây chỉ là muốn nịnh bợ mà thôi. Những kẻ bợ đít thì thích tỏ ra rằng mình là Cộng sản và thích treo cờ Máu Đỏ, trong khi ấy Cộng sản chính cống thì lại sợ hai tiếng Cộng sản và sợ chính màu Đỏ.

Câu chuyện dẫn nhập thứ hai là về phía những đồng bào hoặc là nạn nhân Cộng sản trước đây hoặc là đang hăng say chống Cộng. Khi tôi sang California, ghé thăm một người bạn đã từng cùng nhau đấu tranh trong Nhóm TỰ DÂN thời 1965. Tôi thăm gia đình anh năm 1995, nghĩa là sau 30 năm không gặp nhau. Hồi ở Sài-gòn cùng họat động, anh là Sinh viên Quốc gia Hành chánh, chưa lập gia đình. Sau khi tôi đi năm 1965, thì anh học và ra trường, đi làm việc ở quận Càng Long, Vĩnh Bình. Anh gốc Miền Bắc, lấy vợ người Mỹ Tho Miền Nam, con cái lúc này đã lớn học Đại học UCLA. Gặp nhau mừng lắm. Tôi rở tài nấu bếp và nấu phở cho cả gia đình. Nầu phở ở bên Mỹ và nhất là ở vùng Los Angeles thì sướng lắm vì có đủ các lá thơm, khỏi cần phải hầm xương mà hầm chính đùi gà nguyên thịt, bò tái thì vô cùng rẻ khi sánh với Thụy sĩ. Trong lúc ăn phở cả gia đình, anh bạn say sưa kể chuyện về chống Cộng tại Càng Long và Vĩnh Bình, kể mọi chi tiết về Cộng sản nằm vùng bắn sẻ tàn ác...Một trong những đứa con phát biểu:’’Bố nói những chuyện mà con không được sống!’’. Tất nhiên các con của anh không có tâm hồn hăng say như anh khi nói đến việc chống Cộng. Tôi suy nghĩ. Tôi hiểu rằng những người từ 55 tuổi trở lên, khi nói đến chống Cộng, thì những vết hằn quá khứ hiện ra chiếm phần lớn tâm trí và sự xung động. Nhưng những người từ 45 tuổi trở xuống lúc này, khi nói đến chống Cộng, thì quan niệm của họ qua sách vở, báo chí, hoặc do Cha Mẹ kể lại. Tất nhiên họ chưa sống trực tiếp với những tội ác của Cộng sản, nên tâm tình khác với những bậc lớn tuổi đã mang những vết hằn đau thương trên thân xác và tâm hồn. Những vết hận đau thương làm họ vững ỡ tinh thần chống tội ác Cộng sản. Nhưng điều quan trọng ở đây phải nhắc ra là chủ lực nắm vận mệnh thời cuộc lại nằm trong tay lớp trẻ cho đến 45 tuổi.

Câu chuyện dẫn nhập thứ ba là chính tôi phát biểu. Tôi đã nói với Sứ quán Cộng sản tại Thụy sĩ rằng tôi cố thủ giữ lại Quốc tịch Việt Nam để có ngày về Việt-Nam ra ứng cử Quốc Hội. Họ nói với tôi rằng dù tôi lấy Quốc tịch nước ngòai thì họ vẫn coi mọi người tị nạn là người Việt Nam. Tôi phản ứng liền rằng không phải các Oâng coi tôi là người Việt Nam, thì tôi mới là Việt Nam, mà phải chính tôi coi tôi là Việt-Nam hay không. Chế độ của các Oâng không có quyền bảo tôi là Việt-Nam hay không. Tôi còn vui vẻ nói với họ rằng khi tôi về ứng cử Quốc Hội, tôi sẽ chọn đơn vị từ Hố Nai, Gia Kiệm đến Bảo Lộc vì tôi tin chắc là tôi thắng cử nếu để Dân chúng tự do bầu phiếu. Họ hỏi tôi rằng tôi có phá Đảng Cộng sản hay không. Tôi trả lời rằng tôi cương nghị chống phá tất cả những Đảng nào đi ngược lại quyền lợi của Dân và Đất Nước. Việc đối đáp này là giữa Oâng Nguyễn Ngọc Lương và tôi. Cũng có lần tôi viết thành văn bản cho Bộ Nội Vụ Cộng sản rằng tôi ví Mẹ Việt Nam như dòng nước sông chảy triền miên từ đời này sang đời khác, nghĩa là muôn năm, nhưng những chế độ chính trị chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên dòng nước sông, khi ẩn khi hiện, không thể là muôn năm. Tôi làm việc cho dòng nước sông chứ không cho làn sóng lăn tăn.

Những câu chuyện trên đây như tỉ dụ để tôi bàn về một số vấn đề chống Cộng tiếp theo.


GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH VÌ TƯƠNG LAI

 Tương lai ở đây là những quyền căn bản của con người Việt-Nam, là sự phát triển Kinh tế của Đất nước mình. Từ hồi báo của Tổng Hội Sinh viên Paris, chúng tôi đã phân biệt NHÂN BẢN vả NHÂN BẢN DÂN TỘC. Vì vậy ở đây, chúng tôi nói rằng những quyền căn bản của con người Việt Nam cho rõ, nghĩa là quyền sống làm người của con người biết ăn nước mắm, chứ không phải là con người chỉ biết ăn spaghetti, hay hamburger với ketchup...Chúng tôi muốn cái NHÂN BẢN được Dân tộc hóa cá biệt.

 Vì những quyền căn bản của người Việt-Nam và vì sự phát triển Kinh tế để tối thiểu bảo đảm quyền Dạ dầy (Stomach Right) của những con người ấy mà chúng ta kiên trì đấu tranh.

 Cộng sản do Oâng Hồ chí Minh nhập cảng vào Việt-Nam chỉ là gợn sống lăn tăn trên dòng sông triền miên chảy của Dân tộc. Sau chế độ Thực dân, Cộng sản đã áp đặt một cách đẫm máu trên Dân tộc một chế độ chuyên chính. Chế độ này đi ngược với những quyền căn bản của người Việt-Nam và làm thối lui sự phát triển Kinh tế để bảo đảm quyền Dạ dầy của Dân chúng. Cái mà Oâng Hồ Chí Minh nhập cảng vào gọi là Cộng sản. Chúng ta chống Cộng là chống cái chế độ chuyên chính tước đọat những quyền căn bản của con người Việt-Nam và làm thối lui Kinh tế đến chỗ Dạ dầy của Dân chúng phải ăn bo bo ở bờ ruộng Đồng bằng Cửu Long vựa lúa. Cái chế độ chuyên chính này làm tủi nhục công lao của Tổ Tiên đã để lại cho chúng ta những vùng vựa lúa phì nhiêu, những con cá lóc vàng tươi để nấu cháo.

 Việc làm của Oâng Hồ Chí Minh là tội ác. Tôi mới điện thọai về cho Cha Lợi, bạn đấu tranh của Cha Lý và nói rằng chế độ chuyên chính Cộng sản là đại nạn cho Dân tộc và Đất Nước.  Đảng Cộng sản là KẺ NỘI THÙ và việc giải thể chế độ chuyên chính của họ hiện nay là một BỔN PHẬN CỨU QUỐC của mọi ngưởi dân Việt-Nam.
 Chúng tôi cũng nói rằng những người lớn tuổi hiện nay đấu tranh không phải vì để làm vương tướng gì, nhất là khi đang sống cuộc sống yên lành ở nước ngòai với Bảo Hiểm Sức khỏe và Tuổi già. Nhưng họ đấu tranh chỉ vì tương lai của Dân tộc, của Đất nước, của lớp Thanh niên phải sống trong tương lai. Tôi khâm phục những Vị đàn anh, mỗi lần mùa Thu sương mù tới thì thấy đầu gối và mắt cá chân nặng nề đau nhức, nhưng vẫn lấy sức chịu đựng kiên trì đấu tranh giải thể chế độ chuyên chính hiện nay vì nghĩ đến tương lai của con cháu, của Dân tộc và Đất nước. Tôi nói thẳng với Đảng Cộng sản rằng họ đừng tuyên truyền xuyên tạc bậy bạ mà tôi lôi từ Hồ Chí Minh ra mà chửi cả dòng giống Cộng sản của họ.

 Xin Hàng Giám Mục Việt Nam hãy quan niệm cho rõ động cơ đấu tranh hiện nay. Xin đừng vì mấy tên giáo gian quốc doanh mà về hùa. Các Vị đừng vì quan niệm quá khứ mà bị ảnh hưởng trong thái độ, nhưng hãy vì tương lai của Giáo hội mà mà lên tiếng. Lịch sử Dân tộc và Giáo Hội sẽ ghi lại cho hậu thế. Khi mình có thể làm được gì tốt, mà mình yên lặng để cho kẻ ác tiếp diễn, thì đó là tội lỗi.


 KẾT LUẬN: XỬ DỤNG DANH TỪ CHO ĐÚNG

 Câu chuyện sau đây liên hệ đến việc Cộng sản khoe khoang rằng họ dùng chữ ’’chuẩn’’ hơn phía Quốc gia. Một lần tôi được xem tấm hình Phà Mỹ Thuận.  Tôi thấy trên tấm hình đề là ’’CỤM Phà Mỹ Thuận’’. Tôi hỏi lại tại sao là CỤM mà không phải là NHÓM. Tôi nhớ  đến những kiểu nói Cụm Từ. Tôi vặn hỏi một ’’đồng chí’’ tại sao cái gì cũng là CỤM. Oâng ấy cắt nghĩa CỤM là nhóm họp lại. Tôi trả lời rằng người Quốc gia chúng tôi dùng nhiều chữ để phân biệt cho tế nhị của việc nhóm lại: BỜ TRE, CỤM TRE, NHÓM CHỮ, NHÓM CÔNG NHÂN. Bờ Tre khác với Cụm tre. Dùng chữ Nhóm cho Động vật, nhất là người, còn chữ Cụm cho Thực vật, cây cỏ. Người ta nói là Nhóm Văn sĩ, chứ nói là Cụm Văn sĩ thì khó nghe quá. Tôi bắt đầu cắt nghĩa cho họ rằng các ’’đồng chí’’ tối ngày ở trong rừng, núp ở những cụm cây, nên quen dùng chữ cụm. Khi ra đến thành phố, thấy chỗ nào xúm lại đông, thì cũng dùng tiếng CỤM như trong bưng biền cây cỏ vậy. Nếu thấy nhiều người cùng đứng chung, thì đừng gọi là cụm người, mà là Nhóm người; thấy nhiều con chó sủa, thì đừng gọi là cụm chó, mà phải gọi là Đàn chó; thấy nhiều rác rưởi chồng chất lên, thì đừng gọi là cụm rác, mà phải nói là Đống rác...Như vậy mới ’’chuẩn’’ vì tiếng Việt phong phú và nhiều khía cạnh lắm.

 Theo những gì trình bầy ở những phần trên đây, tôi xin đề nghị dùng những tiếng cho ’’chuẩn’’ đối với công cuộc đấu tranh hiện nay:
- Mình nên dần dần thay thế danh xưng Phong trào chống Cộng bằng danh xưng Phong trào chống độc tài và đòi việc tôn trọng Nhân Phẩm, bảo vệ Nhân quyền và áp dụng nguyên tắc Dân chủ. Thực sự thì Cộng sản còn đâu mà chống;
- Gặp những tên Cộng sản chính cống, thì mình cứ nói hai tiếng Cộng sản bởi chúng đang bị mặc cảm bởi hai tiếng ấy;
- Gặp những tên theo đóm ăn tàn, bợ đít Cộng sản, mình đừng nên gọi chúng là Cộng sản vì gọi như vậy làm chúng khóai lắm. Chúng chỉ là những tên bồi, liếm đít Cộng sản, chứ chưa phải là Cộng sản. Tỉ dụ như Lm Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ..., tôi không gọi là cán bộ Cộng sản, mà chỉ gọi là những tên ngợm ’’nâng cần’’ Cộng sản để kềm chế anh em trong Giáo hội.
- Đối với chế độ hiện hành ở Việt Nam, tôi không muốn gọi họ là chế độ Cộng sản nữa, mà gọi đó là chế độ độc tài, chuyên chính bóc lột.
- Tôi muốn dùng những chữ Kẻ Nội thù thay cho hai chữ Cộng sản.

Cuộc đấu tranh của chúng ta hiện nay là vì xây dựng  tương lai của Dân tộc và phát triển Đất nước. Trên con đường tòan dân xây dựng tương lai ấy, chúng ta gặp Kẻ nội thù, nên chúng ta dẹp họ. Chúng ta không chống Cộng, mà là dẹp Kẻ nội thù đang áp đặt một chế độ chuyên chính lên Dân chúng Việt-Nam. Cuộc đấu tranh dẹp Kẻ nội thù hiện nay là bổn phận cứu nước vì tương lai chứ không phải là việc tranh chấp chính trị vì quá khứ Quốc--Cộng.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
TỪ LÃNG PHÍ VỐN
ĐẾN LÃNG PHÍ NHÂN LỰC
                                                                                                                                 Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?
                                                                                                                                 Chủ đề khai triển của VietTUDAN từ nhiều số trước cho đến nay và sẽ phát hành sau này là đời sống thiếu những quyền căn bản của người Dân và nhất là tương lai đen tối về phát triển Kinh tế của Đất nước nếu Việt Nam vẫn phải tiếp tục chịu cái ách độc tài của chế độ chuyên chính hiện nay.

 Chúng tôi hòan tòan hướng về tương lai của Dân tộc và Đất nước mà phân tích, chứ không phải vì những câu nệ tranh chấp chính trị Quốc—Cộng trong quá khư mà nói.

 Cái chế độ chuyên chính Cộng sản trong quá khứ đã ngăn cản việc giải quyết quyền Dạ dầy của người Dân và đó là động cơ chính yếu để đưa đến xụp đổ của Đế quốc Cộng sản. Đảng và Nhà Nước Việt-Nam vừa mới tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường như giải quyết duy nhất cho tình trạng đói nghèo của Dân chúng lúc này. Nhưng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường đòi hỏi một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adequat), thì mới mong đạt những hiệu quả mong muốn. Nếu không, nền Kinh tế Tự do và Thị trường có thể biến dạng sang Kinh tế Mafia tự do và độc quyền Thị trường bang đảng.

 Chúng tôi nói trước với chế độ hiện hành rằng việc đấu tranh cho một nền Kinh tế Tự do và Thị trường ĐÍCH THỰC, nghĩa là với đúng một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp sẽ là con đường tất yếu đưa đến giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản. Nếu Đảng Cộng sản Việt-Nam vẫn lì lợm khư khư giữ lấy chế độ chuyên chính hiện hành, nghĩa là cố thủ không cho một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì họ chính là Kẻ nội thù của Dân tộc. Tất nhiên, vì cái quyền Dạ dầy, cái bụng đói rỗng, Dân không chịu nổi nữa, sẽ đứng lến quét sạch Kẻ nội thù.

 Tiếp theo những triển khai ý tưởng trên đây và với thái độ phân tích Kinh tế, chúng tôi trình bầy khía cạnh LÃNG PHÍ.

 Trong Đại Hội Đảng kỳ IX, các đảng viên đã đồng thanh kết án THAM NHŨNG và LÃNG PHÍ. Kết án như vậy trên giấy tờ, nhưng tham nhũng và lãng phí vẫn hòanh hành, từ trên xuống dưới chưa ai đưa ra được những biện pháp cụ thể ngăn chặn.

 Hôm nay, chúng tôi chỉ nói đến LÃNG PHÍ. Khía cạnh này liên hệ đến việc Quản trị một Tổ chức, một Xí nghiệp Kinh tế. Chúng sẽ viết về những điểm sau đây:

- Xử dụng những Yếu tố sản xuất
- Việc Lãng phí Vốn
- Việc Lãng phí Nhân lực
- Kết luận: Chế độ chuyên chính không tận dụng được Vốn và Nhân lực

XỬ DỤNG NHỮNG YẾU TỐ SẢN XUẤT

 Sản lượng của Quốc gia hay của một Công ty tùy thuộc vào việc xử dụng những yếu tố sau đây:
Q = f (K, L, t)

Q: Sản lượng; K: Vốn xử dụng; L: Nhân lực; Kỹ thuật hội nhập vào hai Yếu tố chính K, L.

 Vốn xử dụng (K) ở đây không phải chỉ nguyên có tiền trong Ngân Hàng..., mà bao gồm tất cả những phương tiện sản xuất không phải là sức làm việc của con người. Tỉ dụ cái ghế để ngồi làm việc cũng gọi là Vốn; con trâu kéo cầy cũng gọi là Vốn; con ngựa kéo xe cũng gọi là Vốn...Trong khi ấy người cấy lúa gọi là Nhân lực (L); cô thơ ký làm văn phòng gọi là Nhân lực; ông Thủ tướng điều hành việc Nước gọi là Nhân lực...
 Cái lý do để phân biệt Nhân lực ra khác với Vốn là vì Nhân lực có óc thông minh, phát minh được những Kỹ thuật giúp cho Nhân lực có hiệu năng hơn. Con trâu kéo cầy, thì đời nào nó cũng kéo như vậy; nó không tự phát minh những kỹ thuật kéo cho hữu hiệu hơn. Còn ông Thủ tướng quản trị việc Nước, có óc thông minh điều hành an dân hơn, chứ không phải đời này qua đời kia cứ dùng Công an khủng bố mà bắt dân phải làm trâu ngựa. Cũng vậy, cô thơ ký thời nay, nhờ phát minh máy Điện tử, đánh lá thư nhanh hơn, để có giờ sửa sọan móng tay móng chân cho đẹp lòng Chủ.
 Về phương diện tiến triển Kỹ thuật giúp Nhân lực có hiệu năng cao, tôi nhớ lại khúc Phim tuyên truyền của Hà nội thời trước 1975 được chiếu trên Truyền Hình Pháp. Họ chiếu cảnh các Phụ nữ Miền Bắc xắn váy quai cồng lên, xuống rãnh, dùng hai bàn tay móc bùn, cảnh Oâng Hồ Chí Minh đứng tắt nước Gầu Dây...Khúc phim tuyên truyền này muốn tỏ ra sự vẻ vang của lao động nhân lực. Một bạn Sinh viên Thụy sĩ ngồi bên cạnh cùng xem Truyền hình, phê bình rằng sao mà ngu thế, sao không nghĩ ra những phương tiện Kỹ thuật mà hốt bùn, mà bơm nước. Thực vậy cái hãnh diện của Nhân lực sản xuất là phải dùng óc thông minh mà tạo ra những Kỹ thuật mới để làm nhẹ bớt gánh nặng của mình, để sản xuất có hiệu năng hơn người khác. Những hình ảnh tuyên truyền trên kia chỉ chứng tỏ sự thối lui của Nhân lực.
 Cái Yếu tố thứ ba mà Sản lượng (Q) tùy thuộc, đó là Kỹ thuật hội nhập (t).  Thực vậy, cùng một số Vốn USD.3'000.- chẳng hạn, cách đây 10 năm, chúng ta chỉ mua được cái máy Điện tử chạy như rùa bò, với khả năng Trí nhớ rất hạn hẹp; nhưng ngày nay cùng số Vốn ấy, chúng ta có được cái máy Điện tử chạy phóng như thần mã, thêm Trí nhớ lớn gấp bội. Đây là do cái tiến triển của Kỹ thuật hội nhập vào số Vốn USD.3'000.- Đối với Nhân lực cũng vậy. Một Phóng viên trước đây khi đánh máy Bản tin, chỉ cần hai ngón tay gõ trên bàn đánh máy, bỏ vào phong thơ, le lưỡi dán tem, gửi thơ về Tòa sọan. Anh không cần phải được huấn luyện nhiều về kỹ thuật đánh máy, gửi thơ. Nhưng ngày nay anh Phóng viên viết Bản tin với máy Điện tử, khỏi cần le lưỡi dán tem gửi thơ, mà anh chỉ cần click một cái là Bản tin chạy về Tòa sọan. Để có thể làm được như vậy, anh phải dành thời gian để học hỏi về Kỹ thuật mới. Với việc học hỏi, anh đã có trong người một vốn kiến thức mới mà người ta gọi là chất xám.
 Người quản trị sản xuất giỏi là người biết xử dụng tối thiểu số Vốn (K), tối thiểu Nhân lực, với những Kỹ thuật tiến bộ hội nhập kịp thời, để cho một Sản lượng tối đa.
 Câu tục ngữ của Việt-Nam cho thấy ai là người quản trị sản xuất tuyệt hảo:’’Nước lã mà vã lên hồ, Tay không làm nổi cơ đồ mới ngoan’’. Nhìn vào tục ngữ, tác giả trứ danh về Marketing như KOTLER cũng phải tán thưởng bà Mẹ Việt-Nam buôn bán ở chợ:’’Buôn thúng, Bán mẹt’’. Khi mua hàng, bà dùng cái thúng cho sâu để người ta thấy ít hàng mà hạ giá cho. Nhưng khi bán, bà bầy ra cái mẹt để trông cho nhiều mà tăng giá bán. Đó là bà xử dựng kỹ thuật Design, đánh lầm nhãn quan (Tromperie visuelle).
 Dựa vào những điều vừa trình bầy ở trên, chúng tôi xét xem chế độ Cộng sản hiện nay Lãng phí Vốn như thế nào và Lãng phí Nhân lực cùng Kỹ thuật hội nhập ra sao.

VIỆC LÃNG PHÍ VỐN

 Xin kể lại một vài tỉ dụ cụ thể trước khi chúng tôi rút ra những nhận xét về Lãng phí vốn của cả Tổ chức Nhà Nước và của những Công ty quốc doanh hiện nay ở Việt Nam dưới chế độ chuyên chính Cộng sản.
 Năm 1997, khi chúng tôi Đại diện cho một Công ty tài chánh Hoa kỳ để gặp thảo luận với một Công ty lớn quốc doanh ráp nối Xe hơi tại Hà nội, Oâng Tổng Giám đốc của Công ty mời tôi đi ăn cơm chiều tại một Nhà hàng Ăn Uống cao cấp phía đường Giảng Võ, gần Queen Bar. Hình như lúc này Sứ quán Hoa kỳ cũng xây trên đường này. Khi vào Phòng ăn, tôi thấy chừng 15 người cùng đến ăn: từ Tổng Giám đốc, đến Phó Tổng Giám đốc, rồi nhiều Thơ ký. Aên thì gọi đủ thứ, uống thì tất nhiên Cognac từ đầu đến cuối giống như người Hoa ăn tiệc. Sau khi ăn, thơ ký về, còn qúy Oâng thì được mời sang Queen Bar uống tiếp, chiếm một Phòng và chỉ vỗ tay một cái là ba bốn cô ra chiêu đãi. Cuối cùng Oâng Tổng giám đốc còn mời tôi đi hát Karaôkê. Tôi trả lời Oâng rằng nếu hát Quan họ Bắc Ninh, thì tôi đi, còn hát kiểu New Ways như Cali, thì xin cho tôi về Hotel. Tất nhiên là tôi được chở về Hotel vì lúc ấy chưa có ra đĩa Quan họ Bắc Ninh ở Karaôkê mà nhái theo.
 Ngày hôm sau, tôi gặp Oâng Lê Ngọc Quang, người Đại diện của tôi tại Hà Nội, và tỏ sự ngạc nhiên của tôi về việc ăn uống, đi chơi đông người như vậy. Oâng ấy trả lời rằng những người này ít có dịp vào Nhà hàng cao cấp, vào Queen Bar vì họ không có tiền riêng để trả, nhất là Thơ ký với đồng lương không đủ nuôi con. Nhưng khi gặp Oâng, mời Oâng, thì họ có dịp đi, nhất là Thơ ký, vì trong Sổ Kế tóan, họ tính tiền chiêu đãi khách như Ông để Nhà Nước trả.
 Đây là lãng phí Vốn chùa của Nhà Nước.
 Nếu tôi muốn xử điệu, áp dụng câu ’’Có đi có lại mới tọai lòng nhau’’, thì tôi cũng phải lãng phí luôn, nghĩa là tôi phải mời đủ mặt những người của họ đi ăn uống. Có nhiều người môi giới từ nước ngòai về, in Danh thiếp mầu mè, chữ nổi cho đẹp, xưng danh hiệu cho sang, thế rồi muốn tỏ mặt anh hùng, mời mọc cho xộp, cuối cùng thấy đo-la mang về xuống mau quá. Thực vậy, đã mời Nhóm này, thì phải mời Nhóm kia, rồi các Nhóm, mà cuối cùng sạch túi, công việc vẫn chưa xong.
 Câu chuyện thứ hai đây không phải là lãng phí lặt vặt, nhưng lãng phí lớn, cộng thêm mưu mô biển thủ của công. Đây là câu chuyện Khu Chế suất Dung Quất với Nhà máy Lọc dầu ’’Second hand’’. Nhà Nước còn thiếu Vốn, nên muốn mua Nhà máy Lọc dầu Second hand. Tôi giới thiệu với Công ty lớn của Oâng JIM PRICE tại New York. Tôi tin rằng Công ty này không bán đồ rởm với giá cứa cổ lừa đảo. Oâng này giới thiệu một Nhà Máy từ Texas, còn khá tốt. Nhưng cuối cùng Ban Giám đốc muốn mua Nhà Máy Second hand của Nga. Chúng tôi khám phá ra rằng những người bên Nga cũng cùng học với một số Vị trong Ban Giám đốc này. Họ muốn mua Nhà Máy của Nga với giá Kế tóan, còn giá thực thì họ biết với nhau. Nhà Nước cứ ạch cổ ra mà trả cái nợ mua Nhà Máy. Còn việc Nhà Máy Second hand chạy được bao lâu, thì mặc Nhà Nước lo sau này, lo luôn cả những dụng cụ mà những bạn Nga sẽ cùng họ cung cấp sau này. Nhưng tiền trả nợ từ Nhà Nước, thì đến từ việc bán thóc gạo của Dân. Đây là việc vừa lãng phí, vừa ăn cắp Vốn của Dân. Có những người môi giới từ nước ngòai về, làm liên hệ bán đủ các lọai Nhà máy mà phía nước ngòai đã coi là những Nhà máy hết còn cạnh tranh nổi: Nhà Máy Thuốc Lá, Nhà Máy Dệt, ngay cả Đầu Tầu Xe Lửa từ Tiệp..
 Câu ’’Cha chung không ai khóc’’ đúng vô cùng cho cái chế độ chuyên chính này, với độc đảng, với dù lớn che chở dù trung bình, rồi dù trung bình che cho dù nhỏ, thì việc lãng phí vốn với chủ trương biển thủ không thể tránh được.
 Để có thể chống những lãng phí kiều này, phải bỏ Điều 4 dành độc quyền, phải cho Đối lập, phải cho tự do báo chí, phải phế bỏ hệ thống đảng viên nắm những Công ty quốc doanh và phải tôn trọng những quyền của giới tư doanh. Trong hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, những tư nhân lo bảo vệ Vốn riêng của mình, thì mới tránh lãng phí được. ’’Đồng tiền liền với khúc ruột’’, thì lúc ấy người ta mới tha thiết tiết kiệm, tránh những lãng phí vốn vô ích.

VIỆC LÃNG PHÍ NHÂN LỰC

 Tôi cũng xin kể một vài tỉ dụ cụ thể để dễ trình bầy về việc lãng phí Nhân lực. Đây là việc lãng phí còn trầm trọng cho Đất nước hơn là việc lãng phí Vốn. Việc lãng phí này động chạm đến chất xám của người Việt-Nam trong cũng như ngòai nước. Cái lãng phí này khó có thể chữa được khi mà chế độ chuyên chính Cộng sản còn nằm chình ình ra đó.
 Cộng sản mở Mặt Trận Đòan Kết Dân tộc. Bất cứ một Tổ chức nào, một Đòan thể nào, nếu muốn có Đòan kết, thì những đòan viên phải ưng ý cùng một mục đích của Tổ chức, của Đòan thể. Cái tiếng Đòan Kết Dân tộc, thì rất đẹp và ai cũng muốn đòan kết. Nhưng sự chia rẽ bắt đầu khi mà cái mục đích, dù không nói ra, khác nhau. Cái mục đích của Tổ chức Mặt Trận Đòan kết Dân tộc của Cộng sản là kêu góm người vào để ỦNG HỘ CÁI QUYỀN HÀNH ĐỘC ĐÓAN CỦA ĐẢNG MÌNH. Cộng sản kêu gọi đòan kết dân tộc, nhưng chính họ là nguồn chia rẽ Dân tộc. Họ dùng cái kiểu kêu gọi, đánh lừa ở cái thời ấu trĩ kiểu’’I tờ, tờ i ti’’mà ai cũng thấy thâm ý của họ. Thế rồi họ công kích những người khác là không đòan kết. Thậm chí còn dùng lý do ấy để kết tội những người khác. Cha NGUYỄN VĂN LÝ bị kết án vì tội gây chia rẽ Dân tộc. Cha Lý muốn đòan kết Dân tộc, nhưng là để phục vụ cho quyền làm người của Dân Việt Nam, chứ không phải đòan kết để ủng hộ, củng cố quyền đàn áp độc đóan của Đảng Cộng sản. Nếu lúc này, chúng tôi cũng hô hào đòan kết mà ngầm ý là để ủng hộ VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG, thì Cộng sản có nhân danh đòan kết mà nhập vào hay không
 Tỉ dụ thứ hai, thì chính tôi đã nói với họ một cách tế nhị. Cũng hồi khỏang 1996-1997, Oâng Lê-Văn-Châu làm Phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt-Nam. Tôi đã nhiều lần liên hệ với Oâng do Tiến sĩ Cao Văn Sơn và Oâng Lý Kiến Nam ở Hà nội giới thiệu. Oâng Lê Văn Châu muốn thành lập Uûy Ban Thị Trường Chứng Khóan và biết tôi làm Luận án về Thị trường Chứng khóan của Thụy sĩ. Qua Tiến sĩ Cao Văn Sơn, ông có ý định mời tôi tham dự Uûy Ban. Tôi trả lời như sau:’’Trong Uûy Ban Thị trường Chứng khóan sẽ có tối thiểu 95% là người của Đảng. Những người này sẽ quyết định về tài chánh theo chỉ thị của Đảng, nghĩa là quyết định về Tiền bạc theo Chính trị. Còn tôi, tôi không thuộc Đảng, chỉ là chuyên viên, sẽ nhận định những vấn đề Tài chánh theo nguyên tắc tài chánh thuần túy, chứ không theo chỉ thị Chính trị. Khi tôi vào Uûy Ban, Hội viên 95% của Đảng, tôi phải theo đa số quyết định. Chắc chắn lúc ấy, tôi sẽ bực mình và xin từ chức. Vì vậy, thay vì đồng ý nhập vào với Uûy Ban theo lời mời, thì TÔI XIN LÀM ĐƠN TỪ CHỨC ngay từ đầu thì tốt hơn’’.
 Đúng vậy, đa số những người Việt-Nam ở Hải ngọai, càng với cuộc sống lưu vong bên này, càng cảm thấy lòng tha thiết muốn đòan kết, muốn đóng góp những hiểu biết của mình trong việc chung lưng xây dựng Quê Hương Việt-Nam. Họ có thể quên đi những hận thù cũ để chỉ nhìn Tổ quốc thân yêu làm mục đích đóng góp xây dựng. Nhưng đóng góp là đóng góp cho Quê Hương của tòan Dân Việt, chứ không phải đóng góp củng cố cho cái chế độ chuyên chính Cộng sản.
 Hãy nhìn lớp Nhân sự chủ lực của Đất nước hiện nay, cả trong cũng như ngòai nước. Chúng tôi biết rằng lớp chủ lực này tại Quê Hương chăm chỉ học học hành, học cào cấu lấy chất xám để tranh đấu kiếm việc sinh nhai. Khi có được chất xám trong đầu, thì phải có một môi trường nâng đỡ sự phát triển những chất xám cá nhân ấy, đời họat động mới có những sáng tạo, khuếch trương. Trong một thể chế chuyên chính tập quyền, trong một hệ thống tổ chức xí nghiệp theo chỉ thị Chính trị, bên cạnh lực lượng khủng bố đe dọa, cá nhân có chất xám tốt thì sợ sệt không dám khai triển. Chỉ cần làm theo chỉ thị cho yên thân. Chế độ chuyên chính độc tài và tập quyền chính nó là lãng phí sinh động, sáng tạo của Nhân lực, của chất xám.
 Ngày nay, chưa một Dân tộc nào có lớp chủ lực xã hội và kinh tế mạnh như Việt-Nam nằm ở nước ngòai. Sau năm 1975, lớp trẻ tị nạn ra nước ngòai, đã học hành rất giỏi. Hãy nhìn những lớp trẻ xuất thân từ những Đại học Hoa kỳ hay Aâu-châu. Đây là kho tàng chất xám Nhân lực mà nước Việt-Nam không phải chi tiêu tốn kém để đào tạo. Đó là nguồn Nhân lực sản xuất vô cùng qúy báu cho tuơng lai Quê Hương Việt-Nam. Hãy nhìn xem nước Mỹ, họ mua những chất xám bằng cách trả lương cao cho những người học giỏi xuất thân từ Aâu-châu, ngay từ Nga và Đông Aâu.
 Lớp chủ lực Việt Nam này sẵn sàng đóng góp vào việc xây dựng Quê Hương Việt-Nam. Nhưng chính cái ngu xuẩn lì lợm của Đảng Cộng sản muốn cố thủ giữ lấy độc quyền quản trị cho mình mà đã làm lãng phí đau đớn khối Nhân lực đầy chất xám này. Họ muốn đóng góp xây dựng Tổ quốc Việt-Nam, chứ không muốn trở thành những con khỉ uốn mình phục vụ cho Đảng Cộng sản.

KẾT LUẬN:
CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH KHÔNG TẬN DỤNG ĐƯỢC VỐN VÀ NHÂN LỰC

 Chế độ chuyên chính hiện hành của Cộng sản, như trên đã thấy, không những không tận dụng được Vốn và Nhân lực, mà còn là nguyên cớ chính để làm lãng phí trầm trọng hai yếu tố sản xuất ấy. Phải giải thể chế độ này vì tương lai tiến bộ của xã hội và phát triển kinh tế của Việt-Nam. Cố thủ giữ lấy chế độ ấy để bóp chẹt Dân Việt, cản mũi kỳ đà sự phát triển, họ là những Kẻ nội thù của Dân tộc, phải trừ khử họ.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH CỘNG SẢN:
TÌNH CẢM XUNG ĐỘNG HAY QUYẾT ĐỊNH HỮU LÝ



Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 Chủ đề khai triển của VietTUDAN từ nhiều số trước cho đến nay và sẽ phát hành sau này là đời sống thiếu những quyền căn bản của người Dân và nhất là tương lai đen tối về phát triển Kinh tế của Đất nước nếu Việt Nam vẫn phải tiếp tục chịu cái ách độc tài của chế độ chuyên chính hiện nay.

 Trong những bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN đến nay, chúng tôi đã bàn về việc giải thể chế độ chuyên chính hiện hành tại Việt-Nam dưới những khía cạnh sau đây:

-> Việc giải thể được phân tích như một Định mệnh (Fatalité) nội tại không thể tránh được của chính chế độ;

-> Việc giải thể là điều Cần thiết (Nécessité) phải thực hiện vì những Quyền sống căn bản của Dân và vì sự phát triển tương lai của nền Kinh tế Việt-Nam;

 Hôm nay, chúng tôi muốn nói tới Tính cách Hữu lý (Rationalité)  của việc giải thể chế độ chuyên chính ấy. Vì nói đến tính cách hữu lý của việc giải thể, nên chúng tôi cũng tiện dịp bàn luôn rằng việc đấu tranh hiện nay không mang tính cách Tình cảm xung động nhất thời như Cộng sản và những kẻ bợ đỡ đang cố tình tuyên truyền xuyên tạc.
ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ TÌNH CẢM XUNG ĐỘNG

 Chúng tôi đã sống qua hai giai đọan ’’xa Quê’’ với những tình cảm xung động nhớ về chốn cũ.
 
 Năm 1954, trên một triệu người Bắc Vĩ tuyến 17 vào Miền Nam Vĩ tuyến. Những người Bắc di cư này mang nhiệt huyết của một cuộc đấu tranh bắc tiến. Họ tổ chức lại những trường ốc cũ ở Miền Bắc: Chu Văn An, Trưng Vương, Dũng Lạc...Sinh viên và trí thức di cư ở câu lạc bộ Minh Mạng họat động văn hóa hướng về Miền Bắc. Tờ báo Sáng Tạo với những bài thơ, những chuyện ngắn...hướng về xứ Bắc. Những bài hát như ’’Hà nội ơi !’’ được ca lên cảm động. Ngay trong Tôn giáo, những Chủng viện, Trụ sở gốc Miền Bắc được thành lập.

 Thế rồi thời gian trôi đi, những tình cảm xung động ấy lắng dịu.

 Năm 1975, đợt sóng tìm Tự do, bất chấp những gian nan cực kỳ hiểm nguy, bắt đầu. Những người đi tìm Tự do này, gần 4 triệu hiện nay và rải rác trên 70 Quốc gia, mang nặng niềm nhớ Quê hương, đồng thời trên thân mình hồi ấy còn những vết thương vẫn chưa lành của chiến tranh do Cộng sản gây nên, hô hào thành lập những phong trào, ngay cả võ trang, quyết tâm về giải phóng Quê hương.Những Văn nghệ sĩ sáng tác, từ Chuyện, Kịch, Nhạc, Cải Lương...nói lên sự hận thù Cộng sản, nói lên quyết tâm trở về dành lại Quê Hương.

 Nhưng rồi thời gian trôi qua, những xung động tình cảm lắng dịu. Thêm vào đó, lớp Tuổi trẻ sinh ra tại nước ngòai, chưa từng sống với những tàn nhẫn của Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam, nên không có những xung động tình cảm.

 Sau 30 năm, những phong trào đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, quyết tâm giải thể chế độ chuyên chính hiện hành, phát động từ trong nước cũng như đứng lên tại hải ngọai, không do nguyên cớ từ những xung động tình cảm như Cộng sản và các tên bồi Cộng cố tình tuyên truyền xuyên tạc để bôi nhọ cuộc đấu tranh cho Tự do, Dân chủ của người Việt hiện nay.
 
 Điều mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây không phải là cho Cộng sản hay cho những tên bồi cố theo liếm đít Cộng sản, bởi vì Cộng sản và những tên bồi chủ trương xuyên tạc như vậy vì quyền lợi vật chất bẩn thỉu của từng cá nhân họ; nhưng tôi muốn nhắn gửi đến những Vị trọng vọng, nhất là những Vị Lãnh đạo Tôn giáo, bị ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng sản và bọn Giáo gian bồi Cộng sản, mà yên tiếng dửng dưng đối với tính cách hữu lý của sự đòi buộc giải thể chế độ chuyên chính mà các Phong trào người Việt đang đấu tranh.

 Liền sau hai cuộc di cư xa Quê, những Phong trào có bị ảnh hưởng bởi quá khứ.

 Nhưng ngày nay, cuộc đấu tranh nhìn về tương lai. Tính cách hữu lý đòi buộc giải thể chế độ hiện tại lấy căn bản ở việc phân tích tương lai của đời sống Dân Việt và sự phát triển Kinh tế của Đất Nước. Trước những xung động tình cảm nhất thời, mình có thể yên lặng để cơn nóng nguôi xuống, điều ấy có thể hiểu được. Nhưng trước việc nhìn thấy tính cách hữu lý của sự việc mà lương tâm biết rõ, mà những Vị Lãnh đạo yên lặng dửng dưng đối với tương lai đang đi xuống dốc, thì thái độ ấy trở thành vô trách nhiệm và tội lỗi. Tương lai sẽ xẩy ra và Lịch sử sẽ phán đóan thái độ của các Vị.


TÍNH CÁCH HỮU LÝ CỦA VIỆC GIẢI THỂ
CHẾ ĐỘ HIỆN TẠI ĐỂ CỨU NƯỚC

 Tại trong nước, những bậc lão thành đã đứng lên phản đối. Những bậc lão thành này không phải vì tình cảm xung động mà lên tiếng. Tại hải ngọai, những Vị lớn tuổi, khi rời Việt Nam năm 75 với tuổi 35-40 chủ lực xã hội, nay đã 62- 67 tuổi. Nhưng các Vị ấy lúc này lại giữ phần hăng say cốt cán trong các Phong trào. Các Vị dấn thân mặc dầu với hai đầu gối dễ bị phong thấp hòanh hành. Tôi vui mừng thấy các Vị đàn anh trong cũng như ngòai nước nhìn thấy sự cần thiết phải giải thể chế độ hiện hành vì tương lai con cháu. Lớp Thanh niên, không mang những vết hằn của thời Quốc—Cộng, tham dự đấu tranh, vì nhìn tương lai đen tối, chứ không phải vì những xung động tình cảm quá khứ.

 Trên đây là khẳng định về việc quan sát các Phong trào đấu tranh hiện nay. Nhưng tôi muốn đưa ra vấn đề then chốt và cụ thể  lúc này là vấn đề giải quyết cái bụng đói của Dân chúng Việt-Nam để từ đó làm đà phát triển một cuộc sống vật chất đủ ăn, rồi dễ thở hơn và sáng sủa như các nước khác. Hãy nhìn một cô gái Bến Tre xứ dừa, vì nghèo quá, phải lên Sài gòn bán thân từ 15 tuổi để có miếng cơm cho vào bụng. Cô không thích như vậy, nhưng vì bụng đói mà cô phải chấp nhận một sự chà đạp tâm lý và luân lý. Đây không phải là điều tôi viết theo tưởng tượng để gợi lòng xúc động. Nhưng tôi chỉ lấy lại cái tỉ dụ mà trong Thư Chung của Hàng Giám Mục Việt Nam đã long trọng thuật lại. Tôi cũng lấy tỉ dụ cảnh mấy cô gái vùng quê của Hà Đông về Hà Nội hát mấy câu Karaôkê để kiếm cơm. Đây cũng là sự xác nhận của chương trình cứu đói giảm nghèo do chính Nhà Nước quyết định.

 Để giải quyết vấn đề then chốt này, Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Cái nền Kinh tế Tự do và Thị trường chỉ là một Hệ luận của sự chấp nhận Tiền đề căn bản là TƯ HỮU. Cũng vậy, cái chủ trương Kinh tế Tập quyền Kế họach cũng chỉ là Hệ luận hữu lý của Tiền đề truất hữu cá nhân để Đảng giữ hết, gọi là CÔNG HỮU. Tôi muốn theo dòng lý luận từ hai cái Tiền đề CÔNG HỮU và TƯ HỮU ấy để cho thấy rằng việc giải thể chế độ chuyên chính hiện tại là một kết luận hòan tòan hữu lý của tư duy. Sự cấu trúc lý luận này không phải là chính trị, mà là từ cái đầu của những ai chưa bị điên khùng bệnh họan. Sự cấu trúc lý luận này đi từng bước rất đơn giản ở mức độ học trò. Nhưng cái sự đơn giản học trò này cho thấy rằng việc đi tới giải thể chế độ chuyên chính hiện nay là có tính cách hữu lý hiển nhiên của lương tâm, chứ không xiên xẹo lắt léo như Cộng sản và những tay sai cố gán vào vấn đề xung động tình cảm.

 Chúng tôi bắt đầu bằng Tiền đề Công hữu và Hệ luận của nó để thấy việc giải thể đã được bắt đầu và chúng ta chỉ cần kiện toàn nó.

Từ Tiền đề CÔNG HỮU đến Kinh tế Kế họach Tập quyền
và những bế tắc trong việc giải quyết vấn đề then chốt là đói nghèo

1. Tiền đề CÔNG HỮU 

Thực ra phải nói Đảng Hữu mới đúng bởi vì Đảng nắm trọn quyền quyết định trên tài sản Quốc gia. Đảng Cộng sản phủ nhận Tư hữu và chủ trương Công hữu. Khi chưa nắm được trọn vẹn quyền hành, họ vu khống đủ điều dù tàn nhẫn nhất để gây hận thù giữa giới lao động và giới hữu sản để đấu tranh giai cấp mà mục đích chính yếu ở giai đọan này là chiếm quyền. Họ chưa nói vội việc vô sản hóa, sợ làm thất vọng một số lao công.

 Khi giới lao động đã giúp họ nắm trọn quyền rồi, thì họ bắt đầu tiến trình truất hữu, dù bằng phương pháp đẫm máu. Của riêng trở thành của chung, của Nhân dân. Nhưng nhân dân là ai? Tôi là nhân dân, anh là nhân dân, nó là nhân dân...ai cũng là nhân dân để cuối cùng nhân dân chẳng là ai rõ rệt hết. Lúc ấy Đảng mới đứng ra tự nói, hoặc khủng bố để nhân dân buộc phải nói rằng Đảng là Đại diện nhân dân để giữ tài sản của nhân dân truất hữu được từ nhân dân.

 Có lần tôi cười nói với một ông Giám đốc Ngân hàng rằng: Cái gì cũng mang nhân dân ra để chịu đựng: Quân đội nhân dân, Tòa án nhân dân, Hội đồng nhân dân..., nhưng khi tài sản vào Công hữu thì không gọi là nhân dân nữa mà là Ngân Hàng Nhà Nước (chứ không phải là Ngân Hàng Nhân dân).

 CÔNG HỮU hay đúng hơn ĐẢNG HỮU là như vậy.

2. Quyền XỬ DỤNG Công hữu

 Trên nguyên tắc nhân dân là Chủ hữu sở của Công hữu, nhưng nhân dân không có quyền xử dụng Công hữu bởi vì nhân dân là mọi người mà nếu mọi người cùng xử dụng thì là lọan. Vì vậy chỉ có Đảng, đại diện nhân dân, được tòan quyền xử dụng mà thôi. Nhân dân có tiếng mà không có miếng. Một người mang tiếng là Chủ hữu sở mà lại không có quyền xử dụng vật sở hữu của mình, thì việc sở hữu trở thành vô nghĩa. Cá nhân, thành phần của nhân dân, mang tiếng là chủ hữu sở của Công hữu, nhưng không có quyền tự do xử dụng Công hữu.

3. Kinh tế KẾ HỌACH TẬP QUYỀN sản xuất

 Tất cả mọi phương tiện làm ăn là Công hữu. Nhân dân, hay cá nhân không có quyền xử dụng công hữu, nên không thể nào có Kế họach làm ăn tư nhân.Vì chỉ có Đảng có quyền xử dụng Công hữu, tất cả những phương tiện sản xuất, nên Kế họach làm ăn chỉ có đảng bầy đặt ra. Đó là ý nghĩa của nền Kinh tế Kế họach. Kinh tế này Tập trung bởi vì chỉ có Đảng được xử dụng những phương tiện sản xuất. Như vậy, nền Kinh tế Kế họach Tập trung là Hệ luận hữu lý của chủ trương Công hữu, cái Tiền đề. Nhân dân chủ hữu sở phải tuân lệnh làm theo Kế họach Nhà Nước. Không cá nhân nào có thể có sáng kiến khác làm ăn bởi vì nếu có sáng kiến đi nữa, thì cá nhân ấy cũng không có phương tiện thực hiện. Họ không có quyền tự do xử dụng phương tiện sản xuất. Những Kế họach Tập quyền này không cho phép tự do sáng kiến cá nhân trong nền Kinh tế Cộng sản.

4. Kinh tế HỌACH ĐỊNH BAO CẤP tiêu thụ

 Tại điểm này, Đảng mới tuyên truyền ý nghĩa xã hội. Cá nhân lao động theo khả năng. Ai mạnh khỏe thì vác đá nặng thay cho người yếu. Ai có tài giỏi, thì làm việc thay cho kẻ ngu dốt. Thật đúng là lý tưởng xã hội, hoặc có thể nói là lý tưởng nên Thánh của nhân dân. Nhưng khi tiêu thụ những kết quả sản xuất, thì phải theo nhu cầu cá nhân do Nhà Nước xét định và cung cấp. Nhân dân chỉ nhận được những phần tiêu thụ hầu như đồng đều theo kế họach của Nhà Nước. Việc họach định tiêu thụ này nhằm tránh người này xài sang hơn người kia, tránh việc cá nhân tiết kiệm để tạo tư hữu và dành phần thặng dư vào Công hữu cho Đảng xử dụng.
 Nền Kinh tế Kế Họach Tập trung, Hệ luận hữu lý của Tiền đề Công hữu, đã mang lại những thất bại mà chúng tôi đã nhiều lần gọi là Định mệnh nội tại của chủ trương Chính trị Cộng sản (Fatalite Politico-Economique) đã giải thể những chế độ ở Liên Xô và Đông Aâu. Những thất bại của nền Kinh tế Kế họach Tập quyền này gồm những điểm sau đây:

-> Cái thất bại thứ nhất là ở chính chủ trương Công hữu. Yù thức tư hữu là tự nhiên ở mỗi sinh vật. Tư hữu là bản năng bảo vệ sinh tồn. Con Sóc cũng biết kiếm những hạt tích trữ giấu kín dành dụm cho Mùa Đông. Mỗi người phải tích trữ những phương tiện sống riêng tư, thủ thân. Cái quân bình, hay hòa bình giữa những cá nhân là ở chỗ không xâm phạm tư hữu chính đáng của người khác bởi vì chính mình không muốn người khác xâm phạm đến tư hữu của mình.

-> Cái thất bại thứ hai là người dân ý thức được rằng Đảng Cộng sản đã đánh đĩ hai tiếng nhân dân để nắm chủ quyền xử dụng Công hữu. Nhân dân chỉ là bình phong xảo quyệt để Nhóm Đảng Cộng sản tước đọat sở hữu và nắm trọn quyền định đọat cuộc sống của từng cá nhân, thành phần của hai tiếng nhân dân bù nhìn, rỗng tuếch.

-> Cái thất bại thứ ba của nền Kinh tế Kế họach Tập quyền là giết chết những sáng kiến sinh động cá nhân tự do. Dù cho cá nhân tự do sáng kiến đi nữa, nhưng không được xử dụng những phương tiện thực hiện sáng kiến, thì sáng kiến cũng chẳng mang lại hiệu quả bởi vì có thực hiện được đâu mà có hiệu quả. Trong một Công ty cũng vậy, nhất là những Công ty thuộc ngành nghiệp cao cấp kỹ thuật, tổ chức tập quyền là bóp chết sáng kiến và trách nhiệm cá nhân, và do đó hiệu năng thấp mà phí tổn tăng.

-> Cái thất bại thứ tư là nền Kinh tế Họach định bao cấp giết chết động lực khuyến khích lao động. Người khỏe vác dùm đá nặng cho người yếu, đó là lời khuyên xã hội quá lý tưởng. Nhưng nếu người khác cứ gỉa vờ yếu để đùn việc nặng cho người khác, thì đó là nguồn làm cho những người khỏe trở thành ù lì ra. Cái chế tài cũng như cái khuyến khích lao động nằm ở sự được hưởng những kết quả của lao động. Người làm việc cả ngày theo khả năng mà chỉ được hưởng theo nhu cầu đồng đều như một đảng viên phất phơ chỉ tay một ngón, thì người đó cũng chán nản hết muốn cố gắng làm việc. Xin chú thích là chỉ tay năm ngón còn lịch sự, nhưng chỉ tay một ngón là ra lệnh độc đóan.

-> Cái thất bại thứ năm của nền Kinh tế Kế họach Tập trung dựa trên Công hữu là việc biển thủ và lãng phí Công hữu. Cha chung không ai khóc. Đó là thái độ lãng phí tự nhiên của những kẻ không có quyền. Nhưng về những người có quyền hành nằm trong tay, đồng thời có quyền xử dụng Công hữu và quyền định đọat Kế họach, thì việc cướp của Công làm của riêng là điều hiển nhiên.

-> Cái thất bại thứ sáu là Đảng Cộng sản đã độc đóan lấy tòan diện năng lực Quốc gia để phục vụ chủ trương chính trị bang nhóm của họ. Chúng tôi đã nhiều lần phân biệt rằng Dân tộc Việt Nam như nước dòng sông chảy triền miên bất tận, trong khi ấy những khuynh hướng chính trị chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước sống, khi nhô lên, khi thấp xuống hoặc biến hẳn. Bang nhóm chính trị Cộng sản đã ép buộc dòng nước sông phải phục vụ cho làn sóng lăn tăn. Đó là chủ trương độc đóan, muốn những làn sóng khác biến đi, đó là nguồn gây chia rẽ Dân tộc. Chủ trương độc đóan ấy không thể tồn tại vì nó đi ngược với sự tự nhiên.

 Cái kết quả của nền Kinh tế Kế họach Tập quyền, với những thất bại chính yếu vừa kể trên đây, tất nhiên đưa đến thối lui Kinh tế, làm cho Dân chúng đói nghèo mà Đảng Cộng sản bất lực không giải quyết được nếu vẫn khư khư giữ lấy chủ trương chính trị và kinh tế như vậy. Cô gái vị thành niên từ Bến Tre lên Sài gòn bán thân kiếm sống, những cô gái quê Hà Đông về Hà Nội ngêu ngao Karaôkê là hậu quả tất nhiên của nền Kinh tế Kế họach Tập trung mà Đảng Cộng sản Việt-Nam cố thủ  áp đặt lên đầu Dân tộc mà họ gọi là nhân dân.
 
Từ Tiền đề TƯ HỮU đến Kinh tế Tự do Thị trường
và những  giải quyết cho vấn đề then chốt là đói nghèo

 Chúng tôi lấy lại những điểm đã được trình bầy tuần tự trong phần Kinh tế Kế hoạch Tập trung để quý Vị tiện bề so sánh hai nền Kinh tế.

1. Tiền đề TƯ HỮU

 Tư hữu là bản năng tư nhiên của những sinh vật kiếm sống và bảo tồn sự sống của mình từ khi sinh ra cho đến khi chết. Con Sóc biết kiếm hột dấu kỹ cho mình phòng Mùa Đông lạnh. Xem những phim về súc vật, chúng ta thấy những con vật đã đi tiểu tiện vòng vòng ở một khu đất để cho đồng loại khi ngửi mùi nước tiểu ấy thì biết rằng đây là vùng đất đã bị chiếm hữu. Loài vật từ bản năng biết chia ranh giới khu vực tư hữu.

 Cộng sản chủ trương Công hữu, nhưng không thể đi đến chỗ khẳng định dứt khoát rằng thân xác của mỗi người là công hữu. Tôi muốn bắt đầu quyền tư hữu bằng tư hữu chính thân xác của tôi. Cộng sản chưa dám nói rằng thân xác của một nữ cán bộ của Đảng là công hữu, bởi vì nếu thân xác của nữ cán bộ này là công hữu, thì Đảng có quyền quyết định xử dụng thân xác của cô, quyết định dùng thân xác của cô  làm hộ lý tùy theo Kế hoạch của Đảng.

 Khi thân xác của tôi thuộc về tôi, thì tôi phải lo lắng tìm phương tiện bảo tồn nó. Tôi phải có quyền tư hữu tối thiểu một số phương tiện giúp tôi kiếm sống.

 Về phương diện này, một trong những Thông điệp quan trọng của Tòa Thánh Vatican về Học thuyết Xã hội đã lấy tên là Tư hữu, trong đó quyền tư hữu không phải là điều chủ trương mà là quyền tự nhiên.

2. Quyền XỬ DỤNG Tư hữu

 Khi chấp nhận quyền Tư hữu, thì hệ luận trực tiếp là Chủ hữu sở phải có quyền xử dụng tư hữu ấy. Nói cho tư hữu mà không cho quyền xử dụng, thì đó là nghịch lý, không phải là quyền tư hữu nữa. Trong sự tôn trọng tư hữu của người khác, Chủ hữu sở phải có quyền tự do xử dụng những phương tiện tư hữu của mình để làm ăn kiếm sống, bảo tồn thân xác của mình. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, đây là cái quyền tự do kinh doanh (Libre entreprise).

3. Kinh tế TỰ DO KINH DOANH sản xuất

 Như trên vừa nói, nền Kinh tế Tự do kinh doanh chỉ là cái hệ luận tiếp theo của sự chấp nhận quyền Xử dụng Tư hữu gắn liền với bản năng tư hữu tự nhiên. Mỗi cá nhân có quyền xử dụng những phương tiện sản xuất tư hữu của mình đề lo kiếm sống. Nhà Nước không được can thiệp vào công việc mưu sống này của tư nhân bởi vì sự mất còn của kinh doanh là sự mất còn của tư hữu, chứ không phải là công hữu. Những luật lệ của Nhà Nước phải hướng về phía tích cực là tạo những điều kiện cho sự phát triển tự do kinh doanh. Nhà Nước đứng quan sát sự phát triển tự do kinh doanh và là trọng tài để giữ quân bình giữa những đơn vị tư doanh. Quan niệm về vị trí của Nhà Nước như vậy đã được khai triển bởi những Nhà Kinh tế cổ điển Anh (les Classiques Anglais) như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Sau đó dưới sự thúc đẩy của khuynh hướng Xã hội, Nhà Nước được tăng một chút quyền, nhưng chỉ ở phạm vi cho ra những Chỉ đạo chung (Directives générales), chứ không có quyền can thiệp (Intervention) vào nội bộ Kinh tế tư doanh. Nói một cách nôm na rằng tiền vốn là của người ta, để cho người ta làm ăn. Nếu Nhà Nước can thiệp vào để bó buộc cách thế làm ăn, người ta bị thua lỗ, mất vốn, Nhà Nước có thường tiền cho người ta hay không ?

4. Kinh tế TỰ DO tiêu thụ cá nhân

 Việc tự do tiêu thụ cũng đến từ cái quyền tư hữu những sản phẩm. Khi cá nhân xử dụng vốn tư để làm ăn sinh lời, thì tư nhân có quyền thụ hưởng cái kết quả do mình làm ra. Cái quyền được tự do chiếm hữu những kết quả làm ăn là động lực căn bản của nền kinh tế tự do sản xuất. Không có cái quyền tư hữu những kết quả sản xuất này, nền kinh tế sẽ bị tê liệt. Nếu những kết quả của những cố gắng sản xuất lại bị bó buộc nhường cho người khác, thì chẳng ai muốn cố gắng làm việc nữa. Nếu chịu khó dùng vốn tư của mình để làm ăn, thua lỗ thì tư nhân ráng chịu, còn nếu khi được lời thì lại phải bó buộc nộp cho Nhà Nước tiêu xài, thì chẳng ai muốn làm việc nữa. Việc san sẻ những lợi tức mà cá nhân kiếm được chỉ là những lời khuyên, cổ võ, chứ không phải là việc bó buộc, chế tài.

5. Kinh tế THỊ TRƯỜNG

 Thị trường chỉ là hậu quả của cá nhân tự do kinh danh sản xuất và cá nhân tự do tiêu thụ. Người ta gọi đó là CHỢ (Economie de Marché). Thay vì lấy uy quyền và Kế hoạch của Nhà Nước để điều hợp Kinh tế, thì cái CHỢ làm công việc điều hợp này giữa CUNG từ sản xuất và CẦU từ tiêu thụ. Với bảo đảm của  một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Assurance de l’Environneme Politico-Juridique adéquat) Cái CHỢ là nơi thể hiện thực sự quyền TỰ DO và quyền DÂN CHỦ cụ thể nhất. Nhà Nước chỉ đứng ở thế làm trọng tài nếu có những vi phạm luật chợ giữa những cá nhân, nhưng chính những cá nhân tự do cung, tự do cầu mới là những chủ lực giữ sự quân bình của nền Kinh tế tôn trọng Thị trường. Cái CHỢ thay thế cho Kế hoạch của Nhà Nước trong nền Kinh tế Thị trường. Còn đối với nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Nhà Nước ngồi chình ình ra ở Chợ, bó buộc những cá nhân sản xuất, những cá nhân tiêu thụ mang hàng quà đến để Nhà Nước quyết định chia cho chút ít hay là chiếm trọn gói cho Nhà Nước. Một nền Kinh tế như vậy, thì không ma dại nào làm hùng hục để mang kết quả đến cho Nhà Nước hưởng.

 Nhìn vào hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như vừa trình bầy ở trên, chúng ta nhận thấy những điểm sau đây:

-> Lợi điểm thứ nhất của nền Kinh tế này là một sự khuyến khích cố gắng làm việc bởi vì cá nhân có quyền tư hữu những kết quả của công việc làm của mình. Thực vậy, làm việc mà bỏ chung vào để người khác cùng hưởng, thì đó là sự khuyến khích lười biếng. Nhưng nếu những kết quả làm việc thuộc về mình, thì mình cố gắng làm việc đêm ngày. Anh SAMPRAS chơi Tennis, nếu những giải phải bỏ chung vào để Nhà Nước tùy nghi phân phối cho người khác, thì có lẽ anh hết cố gắng tập luyện đêm ngày nữa. Các cô bán hàng người Nga trong chế độ Liên xô, rất đẹp, trường túc, nhưng rất tiếc là thiếu nụ cười, bởi vì có cố gắng cười với khách hàng thì Nhà Nước cũng chẳng thêm cho đồng lương. Kinh tế Tự do Thị trường tạo điều kiện tự nhiên tăng năng suất rất cao.

-> Lợi điểm thứ hai là việc cổ võ Tiết kiệm. Tiết kiệm là tiến trình đi đến độc lập của một nền Kinh tế và cũng cho một Quốc gia nữa. Điều kiện của Tiết kiệm là phải tôn trọng Tư hữu, hay nói cách khác quyền Tư hữu khuyến khích Tiết kiệm. Thực vậy không ai dành dụm để dâng tiền cho Nhà Nước (Công hữu) xài. Tất cả các nước Xã hội Chủ nghĩa  không những thiếu vốn mà còn thiếu nợ, bởi vì không ai tiết kiệm cả. Họ nói là có độc lập, nhưng tôi không tin bởi vì nghèo quá phải đi ăn mày, người giầu sẽ đặt điều kiện cho lời tuyên bố độc lập của họ. Nền kinh tế tôn trọng Tư hữu cổ võ tiết kiệm. 

-> Lợi điểm thứ ba là giảm thiểu Lãng phí. Thực vậy, Lãng phí là tình trạng’’Cha chung không ai khóc’’, ’’Tiêu xài tiền Chùa’’,’’Xài tiền người khác chứ không phải của mình’’. Xin nhớ rằng Đồng tiền liền với khúc ruột. Khi đồng tiền là tư hữu, thì Chủ hữu sở biết căn cơ, không lãng phí. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, người ta còn khuyến khích cho những tư nhân tiêu xài lãng phí để tăng tiêu thụ, kích thích sản xuất. Chỉ có trong nền Kinh tế với Công hữu mới có hiện tượng kêu gọi chống lãng phí.

-> Lợi điểm thứ tư là có sự kiểm soát phanh phui Tham nhũng. Thực vậy, Tham nhũng có cả ở trong hai nền Kinh tế. Tham nhũng ở đâu cũng giống nhau, nhưng cái khác nhau là trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường, người ăn tham nhũng dễ bị phanh phui lật tẩy bởi vì có tự do báo chí, có sự đối lập về quyền hành, có sự trừng phạt của Luật pháp đồng đều, có sự phản kháng của chính cá nhân cho tham nhũng; trong khi ấy ở nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, việc tham nhũng có quyền hành bao che và dễ trở thành định chế, không có đối lực phanh phui. 

-> Lợi điểm thứ năm và rất quan trọng là trong hệ thống Tổ chức của nền Kinh tế Tự do Thị trường, chất xám của Nhân lực được nâng đỡ phát triển. Thực vậy, hệ thống tổ chức quyền hành theo kiểu Cấp bậc tập trung Kim tự tháp (Organisation hierarchique pyramidale) chỉ áp dụng cho sản xuất những sản phẩm thô sơ với nhân công rẻ và ở trình độ kiến thức thấp. Chúng ta ở vào thời đại mà những phương tiện truyền thông, giáo dục, thông tin được chuyển đi với tốc độ siêu thanh. Kỹ thuật tiến triển theo cấp số nhân. Kiến thức, chất xám được thu thập mau lẹ. Những sản phẩm trở thành tinh vi và phúc tạp. Trong một khung cảnh tiến hóa của thời đại như vậy, tổ chức Trung ương Tập quyền theo kiểu Tổ chức Cấp bậc Kim tự tháp cho Nhân lực đầy chất xám và cho sản phẩm tinh vi là một việc làm phản tiến bộ. Nhất là thêm vào đấy, tính cách độc quyền, sự áp đặt của Kế hoạch được trợ lực bởi Công an khủng bố là việc làm tiêu diệt kiến thức và những sinh động sáng tạo của nó. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng sự tiến bộ này của chất xám cá nhân. Những khuôn mẫu Tổ chức phân quyền hoặc theo Nhóm trách nhiệm (Organisation décentralisée modulaire/ Organisation par Groupes Responsables) được áp dụng để nâng đỡ tối đa sự tiến bộ của chất xám.


KẾT LUẬN:
KINH TẾ TỰ DO THỊ TRƯỜNG LÀ CON DƯỜNG GIẢI THỂ CỘNG SẢN

 Trình bầy hai nền Kinh tế như trên, chúng tôi muốn nói rằng cuộc đấu tranh ngày hôm nay, không phải là việc xung động tình cảm nhất thời, mà là một sự cố gắng tìm kiếm một con đường, trong sự phân tích bình thản của lý trí, nhằm tôn trọng những quyền căn bản làm người của Dân Việt và nhằm sự phát triển nền Kinh tế đất nước. Việc phát triển Kinh tế này cốt ý giải quyết cấp bách tình trạng đói nghèo hiện nay, đồng thời nhắm sự phát triển tương lai cho Nước Việt sánh kịp với những nước khác trong vùng.

 Bộ Chính trị Đảng, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải và Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng loạt khẳng định sự chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Dân Việt ghi nhận lời khẳng định này. Chúng tôi cùng Dân đấu tranh để Đảng và Nhà Nước phải tôn trọng lời khẳng định. Việc đấu tranh của chúng ta là nhất thiết đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải thi hành đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự.

 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Dân Việt, trong cũng như ngoài nước đấu tranh đòi hỏi những điều trên đây là việc làm giúp đỡ Đảng và Nhà Nước có can đảm thực hiện điều mong ước của chính Đảng và Nhà Nước. Cộng sản và những người bồi Cộng không có quyền nói rằng cuộc đấu tranh hôm nay là chống lại Nhà Nước hiện hành. Đảng và Nhà Nước đã công khai chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường, thì Dân yêu cầu  Đảng và Nhà Nước thực hiện cho đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Dân xin nhắc cho Đảng và Nhà Nước biết rằng mỗi một nền Kinh tế có một Môi trường Chính tri—Pháp lý phù hợp riêng. Không thể làm tréo cẳng ngỗng, không thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia.

 Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà Đảng và Nhà Nước đã long trọng chấp nhận chỉ có thể có khi mà Đảng và Nhà Nước thực hiện 5 điểm vừa liệt kê trên đây.  

 Làm theo yêu cầu chính đáng của Dân trong việc thực hiện đúng đắn một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp với nền Kinh tế Tự do và Thị trường , tức là Đảng Cộng sản  tự làm công việc giải thể chế độ hiện hành của mình trong êm dịu. 
 Dân cũng yêu cầu Quốc hội giúp đỡ Đảng để làm công việc giải thể chế độ này trong êm dịu.
                                                                                                                                 Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




===============================================================
Tro ve/ Back to/ Retour:
==> MUC LUC CHINH CUA DIEN DAN/ MAIN MENU OF WEBSITE
==> MUC LUC cua Chuong nay/ MENU of this current Chapter




 
Top