DIEN DAN CHINH TRI VIET NAMDau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
=============================================================== THAT BAI KINH TE CHI HUY ===============================================================
******************************** DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ********************************** ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Font UNICODE: http://viettudan.net/11658/42806.html
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế GENEVA, 24.07.2008-22.01.2009
ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI VỀ KINH TẾ
Trên căn bản Tập TÀI LIỆU này, chúng tôi, NGUYỄN PHÚC LIÊN, thành thực muốn ĐỐI THOẠI về tình trạng hiện nay và tương lai phát triển của KINH TẾ Việt Nam. Đây là vấn đề thiết yếu liên hệ đến đại đa số dân nghèo chiếm tối thiểu 75% dân số. Việc ĐỐI THOẠI này hoàn toàn đứng trong cương vị KINH TẾ.
Chúng tôi không muốn nói chuyện với những người trách nhiệm về Chính trị của đảng CSVN vì thái độ của họ cối chấy, đã chỉ giữ mặt dầy mày dầy mày dạn bao nhiêu chục năm trường để cố thủ giữ lấy quyền hành. Nhưng chúng tôi mong ĐỐI THOẠI với những người trách nhiệm trực tiếp với KINH TẾ vì chúng tôi nghĩ rằng họ còn biết những nguyên tắc Kinh tế khách quan để thấy những sai lầm của CƠ CHẾ CSVN hiện hành.
Chúng tôi đặc biệt muốn ĐỐI THOẠI với những Cố vấn Kinh tế cho chế độ, những Giáo sư Kinh tế tại Việt Nam. Họ phải biết những nguyên tắc khách quan Kinh tế. Nếu họ muốn tránh né ĐỐI THOẠI, thì chúng tôi nghĩ rằng họ thay vì là Cô vấn mà chỉ trở thành Nịnh thần, thay vì là Giáo sư theo đúng nghĩa dậy cho tuổi trẻ những nguyên tắc Kinh tế khách quan mà chỉ là những kẻ đi tuyên tuyền nhồi sọ những sai trái Kinh tế của chế độ cho tuổi trẻ Việt Nam.
Trọng Kính, Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
NỘI DUNG TẬP TÀI LIỆU:
Bài MỞ ĐẦU: CHO THUỐC CHỮA TRỊ ĐÚNG CĂN BỆNH
Bài 01: NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ
Bài 02: THẤT BẠI CỦA HỆ THỐNG KINH TẾ TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN VÀ CHỈ HUY
Bài 03: KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN CHỈ LÀ BỊP BỢM VÔ LƯƠNG
Bài 04: THAM NHŨNG LÃNG PHÍ LÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC ĐÁNH ĐĨ GIỮA ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ & ĐỘC QUYỀN KINH TẾ
Phụ bản 1: BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH HOA KỲ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC MỸ
Phụ bản 2: US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH
Bài 05: LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE) CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI
Phụ Bản 03: CẢNH CÁO TỘI HÌNH CSVN: ĐỪNG LÀM LẠM PHÁT TIỀN TỆ ĂN CƯỚP NỮA
Bài 06: SỰ YẾU KÉM NĂNG SUẤT (FAIBLE PRODUCTIVITE) CỦA NHỮNG CÔNG TY QUỐC DOANH
Bài 07: TẤT CẢ MỌI CAN THIỆP NHÀ NƯỚC LÀM PHÁT SINH ĐẦU CƠ, CHỢ ĐEN VÀ CHI PHÍ TỐN KÉM
Phụ Bản 04: KHỦNG HOẢNG KINH TẾ KHẨN TRƯƠNG TẠI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM (Phần I)
Phụ Bản 05: KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRUNG QUỐC: TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM (Phần II)
Bài 08: NĂNG SUẤT CAO (PRODUCTIVITE ELEVEE) CỦA NỀN KINH TẾ TƯ DOANH
Phụ Bản 06: NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Phụ Bản 07: TỪ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ LAN SANG KHỦNG HOẢNG XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ
Phụ Bản 08: CẤU KẾT GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ ĐẺ RA QUÁI THAI THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ
Bài 09: THỊ TRƯỜNG LÀ YẾU TỐ ĐIỀU HỢP CỦA NỀN KINH TẾ
Bài 10: CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT PHÁP CHỈ LÀ MÔI TRƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Phụ Bản 9: ĂN CƯỚP TRẮNG TRỢN CỦA CƠ CHẾ ĐỘC TÀI: KÍCH CẦU BẰNG LẠM PHÁT TIỀN TỆ?
Bài 11: YÊU CẦU NHỮNG BIỆN PHÁP CỤ THỂ TIẾN ĐẾN DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH
Phụ Bản 10: CHỐNG THAM NHŨNG CHỨ KHÔNG CHỐNG KINH TẾ VIỆT NAM
Bài 12: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ DẪN ĐẾN DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ DÉMOCRATISATION ECONOMIQUE DEMOCRATISATION POLITIQUE
Geneva, 24.07.2008-22.01.2009
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài MỞ ĐẦU:
CHO THUỐC CHỮA TRỊ ĐÚNG CĂN BỆNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 24.07.2008
Liên quan đến Khủng Hoảng Kinh tế/Tài chánh, chúng tôi đã viết hai loạt bài Chủ đề sau đây: => Chủ đề: Sụp đổ Chế độ từ Khủng Hoảng Tài chánh Viết từ 01.11.2007 gồm 12 Bài liên tiếp dựa vào những dữ kiện của cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu 1997 và vào những triệu chứng bấp bênh của phát triển Kinh tế tại những nước bắt đầu phát triển trong đó có Việt Nam. => Chủ đề: Dân diệt trừ căn bệnh Khủng Hoảng KT/TC Viết từ 10.04.2008 gồm 10 Bài liên tiếp nhằm mục đích tìm căn nguyên của bệnh Khủng Hoảng KT/TC đã được công khai tuyên bố vào cuối tháng Hai, đầu tháng Ba năm 2008
Đây là loạt Bài Chủ đề thứ ba: => Chủ đề: Phải Dứt bỏ chứ không chỉ Cải cách CƠ CHẾ hiện hành Viết từ ngày hôm nay, 24.07.2008. Căn bệnh chính yếu cho tình trạng Lạm phát, Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế hiện nay là CƠ CHẾ cho phép gắn liền Độc tài Chính trị với Độc quyền Kinh tế. Tìm ra căn bệnh chính yếu như vậy, chúng tôi chủ trương DỨT BỎ cái CƠ CHẾ ấy, chứ không thể chỉ CẢI CÁCH. Nếu chỉ cải cách, có nghĩa là vẫn giữ những điểm chính của CƠ CHẾ, thì con vi trùng tạo ra Khủng hoảng vẫn nằm đó và trong tương lai, bệnh Khủng hoảng lại tái diễn cũng như trong từng chục năm nay, con vi trùng đã làm bùng nổ Khủng Hoảng ngày nay.
PHÍA NHÀ NƯỚC CSVN TUYÊN TRUYỀN ĐỂ AN DÂN HAY CHỈ TÌM THUỐC THOA BÓP NGOÀI DA.
Nguyễn Tấn Dũng đã hốt hoảng trước những xuất hiện Khủng hoảng: Lạm phát vượt mức, Ngân Hàng nguy cơ phá sản, Nhập siêu làm thiếu hụt cán cân Thương Mại, Thị trường Chứng Khoán tụt dốc không phanh, Các Công ty Quốc doanh thua lỗ nặng mà Nhà Nước phải gồng mình bỏ công quỹ ra để cứu vớt.
Nguyễn Tấn Dũng, các trách nhiệm Bộ Sở, một số những chuyên viên Kinh tế của chế độ đã cố tình đổ lỗi cuộc Khủng Hoảng cho tình trạng chung của Thế Giới, nhất là của Hoa kỳ. Nhưng những chuyên viên Kinh tế/ Tài chánh Quốc tế thuộc World Bank, IMF, Ngân Hàng Phát Triển Á châu, Poor’s & Mood... đã cảnh báo Việt Nam rằng có những lý do chính thuộc riêng của Việt Nam.
Những biện pháp chữa chạy đã được nêu ra. Thậm chí Nguyễn Tấn Dũng còn đi hỏi chính Oâng Allen GREENPAN.
Việc đi tìm thuốc chữa này mang yếu tố tuyên truyền để an Dân hoặc chỉ là thoa bóp ngoài da mong cho êm phần nào con bệnh. Họ không thực tình chữa trị cái căn nguyên đích thực của bệnh bởi vì CSVN vẫn muốn duy trì cái CƠ CHẾ Độc tài Chính trị nắm lấy Độc quyền Kinh tế. Một số những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế cố vấn cho Nhà Nước, cũng vì địa vị và nồi cơm, đã trở thành nịnh thần, chứ không có can đảm nói lên sự thực của căn bệnh, mặc dầu họ biết rõ. Họ chỉ nằm ở phạm vi Cải Cách CƠ CHẾ mà thôi, nếu ai can đảm đề nghị.
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VN: PHẢI CHỮA ĐÚNG CĂN BỆNH
Ký giả ĐỖ HIẾU của Đài Á châu Tự do đã hai lần đặt câu hỏi cho chúng tôi về phương diện này. Lần đầu tiên Ký giả hỏi xem những biện pháp hiện nay của Nhà Nước có thể chữa trị được Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh hay không. Tôi đã trả lời rằng không thể chữa được nếu vẫn giữ CƠ CHẾ hiện nay.
Lần thứ hai, Thứ Tư 16.07.2008, Ký giả ĐỖ HIẾU gọi qua Điện thoại Di động, phỏng vấn chúng tôi với một câu hỏi duy nhất: "KINH TẾ VIỆT NAM BỊ BỆNH, PHẢI CHỮA TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?" Chúng tôi trả lời không cần phải suy nghĩ nhiều vì đây là sự xác tín của chúng tôi rồi.
Khi qua Hoa kỳ, Nguyễn Tấn Dũng đã xin gặp Ông Allen GREENSPAN, cựu Thống Đốc Ngân Hàng Trung ương Mỹ, về những biện pháp chữa trị lạm phát. Thực ra việc gặp hỏi này chỉ là tuyên truyền. Nguyễn Tấn Dũng cũng như mọi người đều biết căn nguyên của Bệnh và biết phải chữa trị như thế nào, nhưng lẩn tránh không nói ra sự thực mà thôi. Nguyễn Tấn Dũng cũng vừa tuyên bố quyết định mời gọi những chuyên gia Kinh tế/Tài chánh nước ngoài cố vấn cho những vấn đề Kinh tế/Tài chánh VN, ngay cả cho các Công ty quốc doanh. Diễn Đàn VnEXPRESS tuần này viết lên đầu đề lớn: "Kinh tế VN như người ốm cần kê đúng đơn thuốc".
Trong khung cảnh nhà cầm quyền Việt Nam đi tìm danh y chữa bệnh như tuyên truyền, chúng tôi đã trả lời câu hỏi của Ký giả ĐỖ HIẾU một cách vắn gọn với hình ảnh bình dân cho dễ hiểu như sau:
Muốn chữa bệnh, phải nói đúng căn bệnh là gì. Nếu không thì cho toa thuốc trật lấc. Ai cũng biết cái căn bệnh đích thực, nhưng ngại nói toạc móng heo ra cái căn bệnh ấy vì ngại sợ con bệnh (CSVN) mắc cỡ cho bệnh. Riêng tôi, tôi xin nói toặc móng heo ra rằng đó là bệnh TIÊM LA CÙ ĐINH do việc đánh đĩ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Hai thứ đó cộng chung, đánh đĩ với nhau "thiếu vệ sinh" mà nảy sinh ra trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, bệnh Tiêm La Cù Đinh. Đây không phải là ngứa ngáy ngoài da, chỉ cần thoa dầu cù là. Cái bệnh Tiêm La Cù Đinh này đã ăn ngầm từ hàng chục năm nay, bây giờ chịu không nổi, nên phát hiện. Nếu chỉ thoa dầu cù là như để dịu ngứa ngáy mà không dứt điểm chữa trị, thì bệnh Tiêm La Cù Đinh vẫn tiếp tục ăn ruỗng thân xác Kinh tế/Tài chánh Việt Nam trong tương lai nữa.
Căn bệnh này thuộc CƠ CHẾ, đó là cho phép ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ đánh đĩ "thiếu vệ sinh" với ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Tham nhũng, Lãng phí ở đây không phải là từ luân lý cá nhân, nhưng thuộc vào CƠ CHẾ cho phép đánh đĩ giữa hai quyền lực.
Ông Allen GREENSPAN biết cái căn bệnh CƠ CHẾ đánh đĩ này, nhưng tế nhị không nói huỵch toẹt ra vì sợ CSVN xấu hổ. Những cố vấn Kinh tế/Tài chánh ở Việt Nam cũng biết rõ rệt cái căn bệnh CƠ CHẾ này, nhưng trước cường quyền và nghĩ đến nồi cơm, nên tránh né không nói huỵch toẹt ra, dễ trở nịnh thần thay vì là cố vấn.
Biết đích thực căn bệnh Tiêm La Cù Đinh như vậy, thì Toa Thuốc đầu tiên để chữa trị là phải TÁCH RỜI hai lãnh vực ra, đừng để chúng ăn nằm đánh đĩ "thiếu vệ sinh" với nhau. Dứt điểm không thể để ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ ngủ chung với ĐỘC QUYỀN KINH TẾ.
Việc tách rời này là Toa Thuốc cơ bản tiên khởi. Sau khi tách rời rồi, chúng ta mới thêm những thứ thuốc phục sức cho Kinh tế lành mạnh và Chính trị lành mạnh.
Tôi đã đưa ra hai tỉ dụ:
1) Một Thánh nhân từ trời xuống, nếu nhốt chung phòng tối tăm với mỹ nhân, thì Thánh nhân và Mỹ nhân trước sau cũng tò tò sán lại thiếu vệ sinh, thiếu ngay thẳng.
2) Chính tôi, Nguyễn Phúc Liên, nếu ngồi bên cạnh đống vàng, cũng dễ tìm cách lượm ít thỏi vàng bỏ túi riêng mình, nhất nữa khi ngồi bên đống vàng mà tôi lại có toàn quyền chính tri. Tôi biển thủ vàng bỏ vào túi riêng. Nếu ai mở miệng phản đối, thì tôi dùng toàn quyền chính trị để khoá miệng hoặc bỏ tù người đó. Việc biển thủ này không phải là vấn đề luân lý của Nguyễn Phúc Liên, mà là cái CƠ CHẾ cho Nguyễn Phúc Liên có hai quyền lực cùng một lúc.
Sự xác tín về căn nguyên chính yếu cho căn bệnh không phải là xác tín có tính cách cá nhân. Đây là sự xác tín đi từ một NGUYÊN TẮC của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường đã được luôn luôn đòi hỏi bởi những Thế hệ Kinh tế gia lừng danh:
1) Thế hệ những Nhà Kinh tế Cổ điển Anh (les Classiques Anglais). Đây cũng là những Ông Tổ sáng lập nền Kinh tế Tự do và Thị trường: Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL (Thế kỷ 17)
2) Thế hệ những Nhà Kinh tế Tân Cổ điển (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20):Alfred MARSHALL, PARETTO, WALRAS
3) Nhà Toán học và Kinh tế gia lừng danh KEYNES sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-1930. Ông tổ của Economie du Marche lấy phía Cầu (Demande) hướng dẫn phía Cung (Offre).
4) Thế hệ học trò của KEYNES, hậu Keynes (Post-keynesiens): Paul SAMUELSON (Giải Nobel Kinh tế 1970), FRIEDMANN. Đây là nhưng Giáo sư Kinh tế và Cố vấn cho Hoa kỳ. Họ dậy tại Trường Kinh tế Harvard.
Thế mà những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế Cố vấn cho Việt Nam không nhắc gì đến căn bệnh ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm lấy ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Họ có phải là Cố vấn để nói lên sự thật hay không, hay chỉ là những Nịnh thần. Việc nịnh thần này mang hậu quả đến 75% dân số Việt Nam phải đau khổ vì Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh.
Nếu những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế này không biết đến nguyên tắc mà các Thế hệ Kinh tế gia lừng danh luôn luôn chủ trương, thì những những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế Cố vấn này bị rớt Đại học Kinh tế ngay từ năm Thứ Nhất của của Phân khoa Kinh tế.
KHAI TRIỂN CHỦ ĐỀ
Chúng tôi lần lượt khai triển Chủ đề với những Bài sau đây:
Bài 01: Nguyên tắc không can thiệp trực tiếp Chính trị vào Kinh tế Bài 02: Sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy và Bao cấp Bài 03: Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCN chỉ là bịp bợm vô lương Bài 04: Tham nhũng Lãng phí là hậu quả của việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế. Bài 05: Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) của một Nhà Nước độc tài Bài 06: Sự yếu kém Năng suất (Faible Productivité) của những Công ty Quốc doanh Bài 07: Tất cả mọi can thiệp Nhà Nước (interventions Etatiques) làm phát sinh Đầu cơ, Chợ đen và Chi phí tốn kém Xã hội Bài 08: Năng suất cao (Productivité élevée) của nền Kinh tế Tư doanh Bài 09: Thị trường là Yếu tố Điều Hợp của nền Kinh tế (Marché, Facteur régularisateur de l’Economie) Bài 10: Chính trị và Luật pháp chỉ là Môi trường cho Phát triển Kinh tế (Environnement Politico-Juridique adéquat) Bài 11: Yêu cầu những Biện pháp cụ thể tiến đến Dứt bỏ CƠ CHẾ hiện hành Bài 12: Dân chủ hóa Kinh tế dẫn đến Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Economique Démocratisation Politique)
Cái căn bản lý luận liên tục của 12 bài này là như sau:
1) Chúng tôi trình bầy đầu tiên cái NGUYÊN TẮC tách rời quyền lực Chính trị ra khỏi lãnh vực hoạt động Kinh tế trong một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Nguyên tắc này đã được đặt ra bởi những Nhà Kinh tế quốc tế thuộc nhiều thế hệ trước đây. Những lý do đòi hỏi việc tách rời này là: một đàng tránh cho quyền lực Chính trị (nhất là độc tài) lạm dụng Kinh tế để thủ lợi; một đàng tư doanh mới thiết thân đến tiền bạc của mình (không phải tiền chùa) để căn cơ chi tiêu, đồng thời đêm ngày cố gắng đạt được lợi nhuận tối đa.
2) Tiếp đến, chúng tôi lấy tỉ dụ sự thất bại toàn diện của hệ thống Kinh tế Tập quyền Chỉ huy của Khối Cộng sản. Sự thất bại này đã đưa đến sụp đổ Khối Cộng sản Nga và Đông Aâu. Một số nước, vì tình trạng đói nghèo của Dân chúng, buộc phải hội nhập hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, tuy nhiên vẫn còn bấu víu lấy Chính trị độc tài Cộng sản, nên phải thêm cái đuôi tuyên truyền định hướng XHCN để làm cuộc đánh đĩ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Cuộc Khủng Hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là hậu quả của việc đánh đĩ này, nghĩa là họ không tôn trọng NGUYÊN TẮC tách rời hai lạnh vực mà các Kinh tế gia quốc tế đã đòi hỏi.
3) Từ NGUYÊN TẮC tách rời hai lãnh vực và từ nhưng tỉ dụ việc vi phạm nguyên tắc với hậu quả tàn phá Kinh tế, chúng tôi đi vào cắt nghĩa những chi tiết về năng suất sản suất, về quản trị tài chánh, tiền tệ dẫn đến Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh mà cụ thể là Kinh tế VN hiện nay.
4) Từ những căn bản lý luận và nhận định thực tế trên đây, cái hệ luận trực tiếp rút ra là PHẢI DỨT KHOÁT TÁCH RỜI ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ RA KHỎI ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Khủng hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là do việc gắn liền hai quyền lực này tích lũy đã nhiều chục năm. Nếu không dứt khoát tách rời hai lãnh vực, mà chỉ đưa ra những biện pháp tuyên truyền mỵ dân, thì nền Kinh tế vẫn bệnh hoạn trong tương lai.
5) Chúng tôi thêm bài cuối cùng về tương quan giữa nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự với nguyên tắc DÂN CHỦ cho Chính trị. Nhìn tỉ dụ Hoa kỳ và Thụy sĩ, hai quốc gia có nền Chính trị Dân chủ cao. Dân chúng hai quốc gia này khởi đầu bằng việc tìm tòi kiếm sống cho cá nhân. Ý thức Kinh tế cá nhân phát triển trước ý thức Chính trị tập thể. Tổ chức Chính trị và Luật pháp (Environnement Politico-Juridique adequat) chỉ là bảo đảm cho sự phát triển Kinh tế cá nhân. Dân chủ Kinh tế đưa đến Dân chủ Chính trị.
ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI KINH TẾ VỚI NHỮNG CHUYÊN GIA KINH TẾ NHÀ NƯỚC CSVN
Theo rõi những phát biểu nhận định của những Chuyên viên Kinh tế về cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay tại Việt Nam, chúng tôi có những cái nhìn như sau:
1) Những Chuyên gia Kinh tế hiện nay, cả trong nước lẫn ngoài nước, đều được học hỏi trong hệ thống của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Những Chuyên gia ấy không thể không biết những NGUYÊN TẮC căn bản nền tảng cho nền Kinh tế. Đây là cái mẫu số chung để việc đối thoại đi đến chấp nhận những gì phải thực hiện hữu ích cho việc Phát triển Kinh tế Việt Nam. Sự khác biệt trong khi phát biểu chỉ là do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của Chính trị mà thôi. Chúng ta không đối thoại Chính trị với CSVN vì họ nhất thiết chủ trương độc tài, nhưng chúng ta đối thoại Kinh tế với những Chuyên gia Kinh tế dựa trên những NGUYÊN TẮC Kinh tế có tính cách Khoa học.
2) Một số những Chuyên gia Kinh tế hiện góp ý cho Nhà Nước CSVN như Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A, Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH... chắc chắn biết sự thật của căn bệnh Khủng Hoảng hiện nay, nhưng vì hoàn cảnh ở Việt Nam, nên chưa nói hết sự thực.
3) Những Chuyên gia hoặc Bình luận gia viết về cuộc Khủng Hoảng như Oâng NGÔ NHÂN DỤNG, Oâng LÝ ĐẠI NGUYÊN, Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, Kinh tế gia NGUYỄN XUÂN NGHĨA... không ngần ngại đi thẳng vào căn nguyên thực của bệnh Khủng Hoảng.
Chúng tôi xin mạo muội liên lạc với những Chuyên gia hoặc Bình luận gia đã thẳng thắn nói sự thật thuộc CƠ CHẾ hiện hành với chủ trương phải hủy bỏ CƠ CHẾ để chữa trị dứt điểm và lâu dài cho bệnh Khủng hoảng của Kinh tế Việt Nam. Việc liên lạc này nhằm hai mục đích:
=> Tiến tới một ỦY BAN TƯ VẤN KINH TẾ ĐỘC LẬP không bị ảnh hưởng Chính trị, mà chỉ vì những những nguyên tắc thuần túy Kinh để yêu cầu những biện pháp thi hành.
=> Sẵn sàng ĐỐI THOẠI với những Chuyên gia Kinh tế Cố vấn cho Nhà Nước CSVN. Mẫu số chung đã có. Cuộc đối thoại nhằm cổ võ những Chuyên gia thoát ra tầm ảnh hưởng của Chính trị để nói lên sự thật nhân danh sự Phát triển Kinh tế bền vững cho Quê Hương Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 01:
NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 21.08.2008
Đây là bài QUAN ĐIỂM thứ nhất trong loạt bài Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH chủ trương việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế. Hiện nay, đảng CSVN, trước những Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh do việc đánh đĩ ấy tích luỹ đã hàng chục năm mà sinh ra, chỉ sơn phết qua loa hòng mỵ dân nhưng thực chất vẫn ngoan cố duy trì CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ xưa. Một số nhà Kinh tế cố vấn cho CSVN thừa biết những hậu quả của việc đánh đĩ này, nhưng vì quyền lợi riêng tư hoặc sợ sệt, đã tránh né không dám nói ra sự thật, thậm chí còn trở thành nịnh thần thay vì làm cố vấn.
Trước sự ngoan cố của CSVN và trước việc nịnh thần của một số những Kinh tế gia được gọi là cố vấn, chúng tôi muốn viết loạt bài này về Kinh tế gửi đến cho Dân nghèo, những người phải chịu hậu quả trực tiếp của việc đánh đĩ bất chính. Vì viết nhằm gửi đến Dân nghèo, Nông dân và Công nhân, nên chúng tôi xử dụng cách diễn tả bình dân, lấy những tỉ dụ cụ thể để Dân nghèo hiểu về Kinh tế. Chúng tôi cần Dân nghèo hiểu rõ về những hậu quả Kinh tế mà họ đang gánh chịu do việc đánh đĩ này bởi vì trước sự ngoan cố của CSVN và trước sự nịnh thần của những Trí thức cố vấn Kinh tế cho chế độ, chỉ có LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO mới có thể làm đột biến vứt bỏ hẳn CƠ CHẾ chứ không trì hoãn lẻo mép cải cách, thoa bóp cơ chế mà tiếp tục đánh lừa nữa.
Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất này mang đầu đề NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ được trình bầy qua những điểm sau đây:
=> Can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính trị
=> Tìm cách nuôi sống thân xác cá nhân: nền tảng xây dựng Kinh tế tự do
=> Nguyên tắc đòi hỏi bởi những ông tổ xây dựng nền Kinh tế Tự do và Thị trường
=> Không thể làm tréo cẳng ngỗng
Can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính trị
Với nền Kinh tế Tự do và Thị trường, Chính trị chỉ được coi là một Môi trường cho sự phát triển Kinh tế. Người làm Kinh tế nhìn thấy Môi trường thuận lợi mà quyết định cho sự làm ăn. Cái Môi trường Chính trị cũng giống những môi trường khác như Thiên nhiên, Khí hậu, Tập quán, Phong tục... Tỉ dụ: cách đây trên 10 năm, Tập đoàn CIBA-GEIZY của Thụy sĩ muốn trồng cây sản xuất thuốc tại Việt Nam. Loại cây đó có nguồn từ Ba-Tây và hợp với đất của những đồn điền cao xu ở vùng đất đỏ Miền Nam. Khi tôi đề nghị với Việt Nam, thì nhà nước CSVN nhất định yêu cầu phải trồng cây đó tại Miền Bắc vì muốn tập trung Kinh tế về Miền Bắc. CIBA-GEIZY đã bỏ cuộc. Khí hậu, đất đai là một môi trường thiên nhiên để người làm Kinh tế quyết định làm ăn.
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường coi Chính trị-Luật pháp chỉ là Môi trường (Environnement Politico-Juridique). Vì vậy, không thể lấy Chính trị để quyết định cho những sinh hoạt Kinh tế. Yếu tố quyết định cho Kinh tế là Lợi nhuận tối đa, trong khi đó Chính trị nhằm chiếm đoạt và bảo vệ Quyền lực Cai trị.
Việc can thiệp của Quyền lực Chính trị vào quyết định đời sống Kinh tế của Tư nhân là điều phải tránh. Quyền lực Chính trị hãy giữ đúng chức năng của mình là tạo một Môi trường Chính tri-Luật pháp cho PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique ADEQUAT) với một hệ thống Kinh tế mà Dân lựa chọn, nhằm nâng đỡ sự phát triển Kinh tế Tự do và Độc lập, chứ không nhằm bắt Kinh tế phải phục vụ cho Chính trị, nhất là Chính trị độc tài. Một số nhà Kinh tế phân biệt việc can thiệp TRỰC TIẾP và việc can thiệp GIÁN TIẾP. Sự phân biệt này được đặt ra vì trào lưu lớn mạnh trước đây của ý tưởng Xã hội tại những nước Tây phương. Đối với những nhà Kinh tế Tự do và Thị trường chính thống thì bất cứ sự can thiệp nào của Chính trị cũng đều mang đến những tốn kém xã hội. Nhưng trước trào lưu lớn lên của ý tưởng Xã hội, những nhà Kinh tế ấy có thể chấp nhận cho Nhà Nước đưa ra những Chỉ đạo Kinh tế tổng quát (Directives économiques générales). Đứng về mặt Kinh tế tổng thể (Macroéconomie), thì những nhà Kinh tế chính thống coi Nhà Nước cũng giống như những tác nhân Kinh tế khác (Un des Agents (Acteurs) économiques), nghĩa là có những ảnh hưởng trên Cung và Cầu ở Thị trường. Nhà Nước có những Thu nhập và có những Chi tiêu như mọi tác nhân Kinh tế khác. Việc ảnh hưởng lên Kinh tế qua Cung và Cầu của Thị trường được coi như là việc can thiệp GIÁN TIẾP. Nhà Nước có thể ảnh hưởng vào Kinh tế qua những biện pháp thuế khóa hoặc qua những chi tiêu xây dựng.
Tóm lại, việc can thiệp TRỰC TIẾP của Chính trị vào Kinh tế là tối kỵ trong hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Tuy nhiên nền Kinh tế cũng cho phép Chính trị đưa ra những Chỉ đạo Kinh tế tổng quát (Directives économiques générales) và cho phép việc can thiệp GIÁN TIẾP như vừa trình bầy trên đây.
Tìm cách nuôi sống thân xác cá nhân: nền tảng xây dựng Kinh tế tự do
Tại sao những sinh hoạt Kinh tế thuộc hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường lại chủ trương cấm cản việc can thiệp TRỰC TIẾP của Chính trị vào Kinh tế như trên đã trình bầy ? Phần này và phần tiếp nối sau đây trả lời cho câu hỏi vừa nêu ra.
Mọi sinh vật, thú vật, con người, khi chào đời, thì việc trước tiên là phải ăn uống để bảo tồn thân xác mình và lớn lên. Không có ăn uống thì thân xác đó chết. Thú vật cũng như con người phải tự kiếm ăn cho chính mình. Đây là bắt đầu của nguyên tắc kiếm sống tự do và cá nhân. Cá nhân mang thân xác riêng và có trách nhiệm với thân xác ấy nếu muốn sống. Khi mới sinh ra, chưa có khả năng tự kiếm sống, thì có cha mẹ bao cấp. Con vật mới sinh ra chưa mở mắt, trẻ con mới chào đời đã phải mang bản năng tìm ra cái vú của mẹ để bú mà sống. Nhưng cha mẹ không thể bao cấp cho cuộc sống như vậy suốt đời của mình vì chính cha mẹ cũng già yếu đi không còn đủ khả năng làm việc để bao cấp. Ngoài cha mẹ ra, nói rằng Xã hội (người khác) có thể bao cấp nuôi sống thân xác mình suốt đời, đó là điều không tưởng. Mỗi con vật, mỗi người phải lo tự làm ăn kiếm sống với mồ hôi nhễ nhãi cá nhân mới mong nuôi sống thân xác mình, nhất là khi về già, bệnh tật.
Việc mỗi cá nhân tìm cách nuôi sống thân xác riêng của mình là nền tảng cho hệ thống sinh hoạt Kinh tế TỰ DO. Việc kiếm sống cá nhân đòi hỏi phải có PHƯƠNG TIỆN làm ăn. Ở đây, chúng ta đặt ra vấn đề TƯ HỮU những phương tiện kiếm sống. Mỗi con vật, tùy thức ăn phù hợp cho thân xác, mà biến hóa, tạo ra những phương tiện kiếm ăn riêng của mình. Đây là tư hữu tự nhiên. Con chim hút nhụy hoa, cần có mỏ dài. Con sư tử dạng chân ra đái để báo hiệu vùng đất săn thuộc tư hữu của mình. Người nông dân có tư hữu cái liềm để cắt cỏ; anh ngư phủ có tư hữu tấm lưới để bắt cá. Không thể tước đoạt những tư hữu PHƯƠNG TIỆN kiếm sống cá nhân.
TƯ HỮU là nền tảng phát sinh hệ thống Kinh tế Tự do. Thực vậy, TƯ HỮU là điều tự nhiên. Mà khi những phương tiện kiếm sống thuộc TƯ HỮU, thì hệ luận trực tiếp là phải có TỰ DO xử dụng phương tiện, nếu không tư hữu không còn ý nghĩa.
Mỗi cá nhân tự kiếm sống nuôi thân xác mình là điều tự nhiên và bó buộc. Phương tiện kiếm sống là tư hữu, cách thế kiếm sống là do cá nhân quyết định trong một Môi trường sống chung (Environnement Politico-Juridique) đòi hỏi phải có TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ cho mỗi cá nhân. Nguyên tắc TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ là một điều tự nhiên, chứ không đến từ một cấu trúc lý thuyết, từ một ý thức hệ nào. Một ý thức hệ, cấu trúc từ suy tư của đầu óc, để bó buộc sự tự nhiên từ bản năng thân xác, đó là một điều không thể chấp nhận.
Khi Quyền lực Chính trị, nhất là quyền độc tài của một nhóm người, nhân danh một ý thức hệ, can thiệp TRỰC TIẾP vào tư hữu và vào quyết định kiếm sống cá nhân, đó là điều không thể chấp nhận. Dùng quyền lực Chính trị độc tài, dành độc quyền quản trị Kinh kế dù trực tiếp hay gián tiếp qua những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước, mà không bao cấp cho cuộc sống thân xác cá nhân, đó là việc vi phạm vào bản năng tự nhiên kiếm sống của từng người. Một CƠ CHẾ như vậy đối với Kinh tế là một CƠ CHẾ VÔ LƯƠNG. Chúng tôi nói VÔ LƯƠNG bởi vì nếu cơ chế còn bao cấp, thì còn có lương tâm.
Nguyên tắc đòi hỏi bởi những ông tổ xây dựng nền Kinh tế Tự do và Thị trường
Từ nền tảng cá nhân buộc phải kiếm sống cho thân xác mình, từ bản năng tự nhiên TƯ HỮU phương tiện kiếm sống, từ hệ luận trực tiếp là TỰ DO xử sụng phương tiện và từ tính cách ĐỘC LẬP quyết định sinh hoạt Kinh tế của mỗi cá nhân, những ông tổ Lý thuyết gia đã xây dựng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Nguyên tắc được các ông Tổ đó nhấn mạnh thiết yếu là KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ. Cái nguyên tắc thiết yếu này nhằm:
=> Bảo vệ sự TỰ DO và tính cách ĐỘC LẬP của cá nhân trong sinh hoạt Kinh tế kiếm sống cho chính thân xác của từng người (chứ không phải của ý niệm xã hội)
=> Phát huy sáng kiến kiếm sống cá nhân và đẩy mạnh hiệu năng sinh hoạt kinh tế
=> Tạo sự phát triển Kinh tế chung qua Thị trường Tự do trao đổi với sự cạnh tranh hiệu năng của những cá nhân tham dự Thị trường.
Từ nguyên tắc này, những Lý thuyết gia xây dựng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường đã đồng nhất về vị trí của Nhà Nước chỉ là Trung Lập hay Cảnh Sát (Etat Neutre ou Etat Gendarme).
Qua những Thế hệ, những Lý thuyết gia sau đây giữ vững Nguyên tắc không cho Chính trị can thiệp TRỰC TIẾP vào Kinh tế:
1) Thế hệ những Nhà Kinh tế Cổ điển Anh (les Classiques Anglais). Đây cũng là những Ông Tổ sáng lập nền Kinh tế Tự do và Thị trường: Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL (Thế kỷ 17)
2) Thế hệ những Nhà Kinh tế Tân Cổ điển (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20):Alfred MARSHALL, PARETTO, WALRAS
3) Nhà Toán học và Kinh tế gia lừng danh KEYNES sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-1930. Ông tổ của Economie du Marche lấy phía Cầu (Demande) hướng dẫn phía Cung (Offre).
4) Thế hệ học trò của KEYNES, hậu Keynes (Post-keynesiens): Paul SAMUELSON (Giải Nobel Kinh tế 1970), FRIEDMANN. Đây là nhưng Giáo sư Kinh tế và Cố vấn cho Hoa kỳ. Họ dậy tại Trường Kinh tế Harvard.
Không thể làm tréo cẳng ngỗng
Cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh hiện nay tại Việt Nam chỉ là hậu quả của việc làm tréo cẳng ngỗng của đảng CSVN: (i) một đàng vì hậu quả Chính trị, Kinh tế Việt Nam trở thành quá đói nghèo, nên CSVN buộc lòng phải đổi mới, mở cửa, chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường; (ii) mặt khác CSVN vì cố thủ giữ quyền hành độc đoán và độc đảng, nên không dám để cho dân chúng tự do làm kinh tế, nghĩa là chủ trương đem Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế. Cái tréo cẳng ngỗng là ở chỗ đó: chấp nhận một hệ thống Kinh tế mà lại vi phạm cái nguyên tắc nền tảng của chính hệ thống Kinh tế mà mình chấp nhận.
Nếu đám Lãnh đạo Chính trị đảng CSVN có ngu muội mà làm tréo cẳng ngỗng như vậy, thì tối thiểu những Tiến sĩ, Thạc sĩ được mời làm Cố vấn Kinh tế cho chế độ cũng phải biết rõ tính cách tréo cẳng ngỗng này. Chúng tôi không tin những Tiến sĩ, Thạc sĩ này không biết NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ bởi lẽ nếu họ không biết thì ngay từ năm thứ nhất của Phân khoa Kinh tế, họ đã bị trượt rồi. Chúng tôi rất buồn để nói ra việc biết mà tránh né để trở thành nịnh thần cho chế độ vì quyền lợi cá nhân. Nhưng chúng tôi còn buồn hơn nhiều khi nhìn 75% dân chúng Việt Nam nghèo khổ đang phải chịu hoạn nạn vì việc tréo cẳng ngỗng này.
Nhưng đã có những vị can đảm nói lên việc tréo cẳng ngỗng cách đây một thập niên, tỉ dụ nhà Toán học PHAN ĐÌNH DIỆU. Oâng đã thẳng thắn lý luận rằng “nếu không mở rộng thêm tự do chính trị và tư hữu hoá, thì những cuộc biểu tình của nông dân và các khó khăn kinh tế khác có thể sẽ gia tăng gấp bội“. Lý luận vào thời điểm 1997 mang tính cách tiên tri cho ngày nay đã khiến Oâng bị khai trừ khỏi đảng CSVN.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 02:
THẤT BẠI CỦA HỆ THỐNG KINH TẾ TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN VÀ CHỈ HUY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 28.08.2008
Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất trong loạt bài Chủ đề này trình bầy hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mà TƯ HỮU được tôn trọng cho mỗi cá nhân và nguyên tắc KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP Chính trị vào Kinh tế được triệt để đòi hỏi. Bài QUAN ĐIỂM thứ hai này trình bầy hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy mà những người chủ trương phế bỏ TƯ HỮU cá nhân và cho phép Chính trị (thậm chí độc tài) nắm trọn mọi sinh hoạt Kinh tế.
Hai chủ trương của hai hệt thống Kinh tế đối chọi hẳn nhau. Kiểm nhận hậu quả của hai hệ thống, người ta xác nhận sự phát triển của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường và sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy.
Bài QUAN ĐIỂM thứ hai này được trình bầy qua những khía cạnh sau đây:
=> Vài nét lịch sử của chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. => Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy => Những lý do thất bại của Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy => Trở lại chủ trương hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường
Vài nét lịch sử của chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
TƯ HỮU trong hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường được coi là một sự tự nhiên dựa trên quyền tìm sống tối sơ của từng cá nhân và nguyên tắc Không Can Thiệp Chính trị, được các Lý thuyết gia đòi hỏi như điều kiện phát triển TỰ DO xử dụng TƯ HỮU làm phương tiện kiếm sống. Nếu việc xây dựng lý thuyết cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mang tính cách khai triển tự nhiên, thì việc cấu trúc chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã được thuyết lý dựa trên những quan niệm mang tính cách triết học.
Các lý thuyết gia của chủ trương này đã chạy ngược lên mãi thời Triết gia PLATON. Thực vậy, trong những cuốn “La République“, “Les Lois“, Platon đã nói đến “La Cité Communiste“ trong đó những người trách nhiệm làm Luật không được có gia đình và do đó không cần tư hữu cho con cháu.
Thời Trung Cổ Aâu châu, phía Thiên Chúa Giáo đã khai triển những Dòng Tu được coi là những Cộng đồng Cộng sản về Kinh tế.
Nhưng phải đợi đến đầu Thế kỷ thứ XVI, với Thomas MOORE (1477-1553), thì lý thuyết về một Chủ thuyết Xã Hội Kinh tế mới được phát triển có hệ thống. Thomas MOORE là người tôn sùng đạo Thiên Chúa. Được Vua HENRI VIII Anh quốc trọng dụng, nhưng vì cương trực phản đối lại Vua về vấn đề rắc rối vợ con, nên Oâng đã bị hành quyết. Năm 1516, cuốn sách Utopie ra đời và ông chủ trương Nhà Nước Utopie (Etat d’Utopie). Bắt đầu từ Thế kỷ XVI, Xã hội Tây phương có những xáo trộn về mọi phương diện: Tôn giáo, Tư duy, Nghệ thuật, Kinh tế, Xã hội... Oâng tìm kiếm một Thể chế có trật tự mà mẫu Cộng đồng trật tự nhất là các Dòng Tu. Giáo sư Sử học Kinh tế Jean-Marie VALARCHE đã viết: “Il (Thomas MOORE) prévoit un dirigisme absolu de l’Etat“ (Oâng (Thomas MOORE) dự trù một chủ thuyết Chỉ huy tuyệt đối của Nhà Nước).
Chúng tôi nhắc đến tác giả này vì muốn lấy ra những điểm mà Karl MARX đã chịu ảnh hưởng: ảnh hưởng của một Dòng Tu làm việc theo chỉ thị của người đứng đầu, cộng chung những sản phẩm, tiêu thụ theo nhu cầu từng người, chỉ có hệ thống phân phối giữa cung và cầu mà không có thương mại.
Từ đây, bắt đầu những cấu trúc Xã Hội Chủ Nghĩa qua những tác giả khác cho đến thời Karl MARX.
Karl Heinrich MARX sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 vùng Rhénanie, Đức, trong một gia đình gốc Do thái. Cha là Luật sư, nên Marx học Luật, sau chuyển sang Triết học theo HEGEL. Oâng chỉ làm quen và suy tư về những vấn đề Xã Hội, Kinh tế, Đấu tranh khi phải di chuyển sống ở nhiều nơi và viết báo. Sống ở một thời đại hậu bán Thế kỷ XIX có nhiều những cực đoan: Kỹ nghệ hóa vượt mức, Giới Tư sản nắm quyền hành, Cách xa Giới Chủ và Giới Thợ, Tình trạng thất nghiệp và đói nghèo, Cách Mạng 1848, những Ý tưởng Quốc gia cực đoan phát sinh. Trong sự hỗn loạn của những cực đoan ấy, Oâng lưu ý khai triển những vấn đề sau đây:
=> Chủ thuyết Duy vật Lịch sử. Với Chủ thuyết này, Oâng nhấn mạnh đến sự vong thân tôn giáo để kết luận rằng:“Tôn giáo là cái bông ghê tởm mọc trên đống phân tư bản. Bởi vậy nếu hốt đống phân đi, thì hoa cũng tàn...“ Cũng trong Chủ thuyết này, tương quan Xã hội được chính yếu nhấn mạnh vào hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến thiết. Hạ tầng cơ sở gồm những tương quan sản xuất vật chất, thượng tầng kiến thiết gồm những phương diện Luật pháp, Chính trị quy định Xã hội.
=> Giai cấp Xã hội và Đấu tranh Giai cấp. Cái nguyên nhân tạo ra những Giai cấp Xã hội là sự đấu tranh chiếm hữu. Oâng nhìn thấy hiện tượng vô sản hóa Giai cấp Thợ thuyền. Xã hội phân chia ra hai Giai cấp chính: Giai cấp chiếm hữu và nắm quyền, Gai cấp Thợ thuyền bị khai thác và bị bóc lột. Oâng thuyết giải về tính cách Vong thân Lao động, nghĩa là một mặt đối với chính mình, người Lao động sản xuất, nhưng bị tước đoạt sản phẩm; mặt khác đối với tương giao xã hội trước người khác, người lao động biến thành cái máy làm theo quyết định của chủ bóc lột chứ không có sáng kiến tự mình.
=> Ảnh hưởng bởi Lý thuyết của David RICARDO về Giá trị sản phẩm được đo lường bằng chính Giá trị Lao động hàm ngụ trong sản phẩm. Tư sản cũng chỉ là sự tích lũy Giá trị sản phẩm từ Giá trị Lao động. Oâng chủ trương Đấu tranh Giai cấp và hệ luận là Giai cấp Lao động phải dành lấy quyền làm chủ sản phẩm của mình. Cần một cuộc nổi dậy Cách Mạng dù bằng bạo động và Giai cấp Vô sản phải nắm trọn quyền hành độc tài tổ chức Xã hội.
Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
Nếu Karl MARX cấu trúc hệ thống mang đậm tính cách lý luận do ảnh hưởng Triết học và Lý tưởng xã hội đậm hình thức tổ chức Cộng đồng Dòng Tu theo kiểu Thomas MOORE, thì LENINE, một người Chính trị, đã lấy những ý tưởng của MARX để đấu tranh chiếm quyền hành và tổ chức cai trị xã hội.
LENINE sinh năm 1870 vùng Simbirsk, giữa Oural và Moscou. Người anh cả của Oâng thuộc một tổ chức Khủng bố, đã muốn ám sát Nga Hoàng, nhưng bị bại lộ và người anh này đã bị treo cổ. Lúc ấy Lénine mới có 17 tuổi và đã bị đi lưu đầy và sống lần lượt tại Anh, Thụy sĩ và Pháp. Năm 1905, sau khi Nga bại trận đối với Nhật, nhóm của Lénine đã phát động nổi dậy, nhưng thất bại.
Năm 1917, Nga lại thất trận đối với Đức. Nhờ tài hùng biện của Lénine và tài chiến thuật của TROTSKY, cuộc CÁCH MẠNG VÔ SẢN tháng 10 đã thành công. LENINE trở thành Nguyên Thủ Quốc gia cho đến năm 1924, năm Oâng chết.
Tổ chức cai trị Xã hội được tiếp tục và trở thành khuôn khổ độc đoán dưới thời STALINE.
Xã hội Cộng sản được tổ chức thực hiện những chủ trương của MARX:
=> Cuộc đấu tranh đẫm máu thanh trừng Giai cấp tiếp tục khắt khe và vô nhân đạo dưới thời Staline. Giai cấp Tôn giáo, Trí thức và Tư bản bị tiêu diệt.
=> Truất hữu toàn vẹn những tư hữu. Tất cả trở thành CÔNG HỮU;
=> Giai cấp VÔ SẢN nắm quyền độc tài, mà đại diện Giai cấp này là Đảng Cộng sản duy nhất, nghĩa là quyền hành cai trị Xã hội và quản trị CÔNG HỮU thuộc về Đảng Cộng sản lãnh đạo Giai cấp vô sản.
=> Vì những phương tiện sản xuất là CÔNG HỮU, nên chỉ có Nhà Nước (Đảng Cộng sản) có quyền điều hành để sản xuất Kinh tế. Không còn Kinh tế tư nhân nữa mà chỉ còn Kinh tế do Nhà Nước hoạch định qua những Kế Hoạch (Ngũ niên);
=> Thực hiện một Xã hội bình đảng, không giai cấp, nên cá nhân được bao cấp tiêu thụ theo nhu cầu;
=> Một cuộc Cải Cách Ruộng Đất được thực hiện. Không còn tư hữu đất đai. Những đất nông nghiệp được chia ra làm hai loại canh tác: Kolkhoz và Soukhoz. Dù canh tác thuộc loại nào chăng nữa, nông dân trở thành những Công nhân (Ouvriers agricoles)
=> Thương mại không những không được coi là sản xuất giá trị, mà còn bị coi là ăn bám sản xuất, nên bị bỏ đi. Thay vào đó, Nhà Nước tổ chức những Hợp tác xã để phân phối hàng hóa giữa sản xuất và tiêu thụ.
=> Dưới thời Staline, Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản được phát động để mang Cách Mạng Vô sản đến những nước khác. Theo đúng chủ trương đấu tranh giai cấp bằng bạo động của Karl Marx, Nga cung cấp vũ khí để làm bất ổn tại những Quốc gia khác để tạo cơ hội chiếm quyền hành.
Những lý do thất bại của Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
Năm 1989, Liên Xô và những nước chư hầu Cộng sản Đông Aâu lần lượt sụp đổ mà lý do chính yếu là đời sống Dân chúng quá đói nghèo, nghĩa là sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Thực vậy, sau khi bức tượng Bá Linh, tượng trưng phân cách giữa hai hệ thống Kinh tế, bị hạ xuống, chúng tôi đã có dịp sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến thực sự cảnh nghèo khổ của chính dân Thủ đô của Khối Cộng sản. Nga phải mua những hộp đồ ăn đã hết hạn của những nước Tây phương. Ngôi Nhà Hàn Lâm Viện cho những Sinh viên ưu tú trống rỗng. Những Sinh viên Việt Nam sang du học đã phá tường của những phòng của Hàn Lâm Viện để mở quán chạp phô, mở quán phở, thậm chí mở quán bán thị chó. Tôi còn giữ những hình ảnh chụp cảnh làm ăn nghèo khổ này.
Hãy thử tìm hiểu những lý do thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy này.
=> Nỗ lực sản xuất Kinh tế không nhằm về phát triển Kinh tế, mà nhằm củng cố cho Đảng Cộng sản và Chính trị của Đảng. Khả năng phát triển Kinh tế Quốc gia đã bị tiêu dùng cho mục đích Chính trị. Trong suốt những năm sản xuất, Liên xô sản xuất vũ khí nhiều hơn việc sản xuất những hàng thường dùng của người lao động. Lấy một vài tỉ dụ hiện giờ : Trung Cộng tiêu tốn gần 50 tỉ Mỹ Kim cho sự vẻ vang Chế độ Chính trị của mình, hơn là phục vụ đời sống thực của Dân chúng; một số những xây cất ở Việt Nam cũng nhằm phục vụ cho Đảng và thể chế Chính trị, chứ không nhằm mục đích Kinh tế cho người Dân nghèo.
=> Khi Nhà Nước nắm giữ những chi tiêu và điều hành những Tập đoàn sản xuất công, thì việc chi tiêu chắc chắn không được căn cơ cho có hiệu lực. Câu nói “Chi tiêu tiền chùa“ hay “Cha chung không ai khóc“ cho thấy thực trạng lãng phí ắt phải xẩy ra, đó là chưa kể đến chủ tâm cắt xén của chung làm của riêng. Đây là một điều tự nhiên. Câu ngạn ngữ Kinh tế tư bản:“Làm ra tiền đã khó, nhưng chi tiêu tiền bạc còn khó hơn“. Đối với Kinh tế tư bản, khi chi tiêu, đã phải tính mình thu vào bao nhiêu lợi nhuận, nghĩa là tính cuyện làm sinh lời Kinh tế thực sự trước khi bỏ một đồng ra tiêu. Chỉ có tiền tư hữu riêng của mỗi người, thì người đó mới căn cớ tính toán để chi tiêu cho đúng.
=> Nói về việc tiêu thụ, người lao động cũng dễ lười biếng khi thấy rằng mình cố gắng làm việc mà chỉ được hưởng đồng đều như người không chịu khó làm việc. Chính việc tư hữu những sản phẩm làm ra và được tiêu thụ là động lực kích thích sự chịu khó làm việc. Người ta nói rằng con gái Nga đẹp, nhưng thiếu nụ cười, bởi vì nụ cười của người con gái trong Kinh tế tự do có tư hữu được thưởng công, trong khi đó người con gái của Kinh tế chỉ huy có cười cả ngày cũng chỉ lĩnh được phần tiêu thụ đồng đều như người không cười. Vậy thì cười làm gì để trại quai hàm.
=> Về sản xuất tại những Soukhoz, Kolkhoz, chính hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy cũng đã phải sửa sai. Hiệu năng nông nghiệp của Soukhoz và Kolkhoz thấp xuống, Nhà Nước đã phải cấp cho mỗi Gia đình một khoảng đất tư để trồng trọt riêng cho Gia đình. Thửa đất tư có rau cỏ mọc tươi tốt, nhưng thửa ruộng công thì cây cỏ dễ khô héo. Cũng vậy con bò tư thì to béo và nhiều sữa, nhưng con bò nhà nước thì gầy còm, chỉ nhỏ giọt sữa.
=> Một tình trạng làm nản cố gắng sản xuất nữa, đó là những người cố gắng sản xuất, sản phẩm không những chỉ được bao cấp đồng đều mà còn bị chính cán bộ đảng không chân lấm tay bùn, có quyền chia cho mình phần lớn hơn để tiêu xài phung phí. Giảm cố gắng vì thấy người ngồi mát ăn bát vàng tham nhũng, hối lộ.
=> Những sinh hoạt Kinh tế quốc gia Cung, Cầu được hoạch định bằng những Kế Hoạch Ngũ Niên không được chính xác vì những người làm Kế hoạch thiên về Chính trị hơn là chuyên môn Kinh tế và vì sự phù hợp giữa Cung và Cầu có tính cách sinh động cập nhật ngắn hạn chứ không cứng nhắc dài hạn.
Trở lại chủ trương hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường
Sự sụp đổ của Liên xô va các nước Cộng sản Đông Aâu vì lý do Dân chúng quá nghèo khổ là chứng minh hùng hồn cho sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Sụp đổ rồi, những nước này chọn hệ thống Kinh tế nào ?
Việc họ quay về hệ thống Kinh tế tự do và thị trường chứng thực một lần nữa cái uy thế phát triển Kinh tế của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường trong việc giải quyết đời sống dân chúng. Hai điều quan trọng làm nền tảng cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường là quyền TƯ HỮU và CHÍNH TRỊ KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP vào sinh hoạt Kinh tế. Đó là nền tảng phát triển Kinh tế thực sự và lâu bền.
Chúng tôi xin trích lại chính quan điểm của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).
Câu nói của Marx phù hợp với hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường quan niệm rằng Chính trị chỉ được coi như Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) với sinh hoạt Kinh tế. Như vậy, khi chọn hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì không thể lấy độc đoán Chính trị để trấn át, bó buộc Hạ Tầng cơ sở Kinh tế phải tuân theo được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 03:
KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN CHỈ LÀ BỊP BỢM VÔ LƯƠNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 04.09.2008
Bài QUAN ĐIỂM thứ 3 này trong loạt 12 Bài dưới Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH viết về đời sống Kinh tế mà CSVN gọi là Kinh tế Vĩ Mô dưới danh xưng KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCH. Chúng tôi đã lục soát xem trong Lịch sử Kinh tế có những mẫu nào giống như ở Việt Nam hay không, nhưng đã không kiếm được.
Hai hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường và Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy có sự cấu trúc Lý luận riêng, nhưng Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCH của Việt Nam không thể gọi là hệ thống với nền tảng Lý luận, mà chỉ là một sự vá víu loang lổ để CSVN thủ lợi riêng.
Chúng tôi thường ví việc vá víu này như việc CSVN đi vá VÁY ĐỤP của những bà nhà quê Miền Bắc thời nghèo khó Pháp thuộc. Marx-Lénine vẽ mẫu và may cho XHCH một chiếc VÁY lý tưởng bắt Dân mặc. Dân mặc không được vì chiếc váy không hợp, còn dầy vò thắt bụng dân đến đau đớn. Váy đã cũ kỹ không mặc được nữa. Dân Nga và Đông Aâu cởi phăng nó ra vất đi để tự mình đi kiếm may váy mới.
Tại Việt Nam, Cộng sản vẫn bắt Dân mặc chiếc váy cũ kỹ và rách ấy. Dân buộc phải mặc mà không được la lên. Nếu la lên than vãn thì Công an đế phang cho mấy dùi cui điện. Nhưng chính CSVN thấy đến chỗ cùng rồi bởi vì thấy dân mặc váy cũ rách nát để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài, nên đảng phải Mở Cửa để mong kiếm đo-la của Đế quốc Tư bản Mỹ, kẻ thù của Marx-Lénine-Staline. Cách đây 4 năm, từ Phan Văn Khải đến Nông Đức Mạnh đồng loạt tuyên bố chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường cốt kiếm những miếng vải GIN mới toanh của Mỹ hoặc những nước Tự do khác để về vá chiếc váy nâu sồng bị rách để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài. Nhưng vì chiếc váy được vẽ mẫu bởi Marx-Lénine và còn đeo tòng teng nhãn hiệu Xã Hội Chủ Nghĩa, nên CSVN đã gọi chiếc VÁY ĐỤP ấy là Kinh tế Tự do Thị trường Định hướng XHCN.
Chúng tôi phân tích bài này dưới hình ảnh chiếc VÁY ĐỤP nâu sồng rách nát được vá bằng những miếng vải Tự do lòe loẹt còn mang nhãn hiệu XHCN.
Bài được trình bầy dưới những khía cạnh sau đây: => Nhắc lại Lý Luận nền tảng của hai hệ thống Kinh tế Tự do và Kinh tế Chỉ huy => Kinh tế Việt Nam: lấy vải Mỹ để gian lận vá Váy đụp XHCH => Dân phải can đảm xe bỏ chiếc váy đụp chứ đừng vá thêm nữa
Nhắc lại Lý Luận nền tảng của hai hệ thống Kinh tế Tự do và Kinh tế Chỉ huy
Chúng tôi nhắc lại vắn tắt những Lý Luận nền tảng của hai hệ thống Kinh tế Tự do và Kinh tế Chĩ huy để độc giả dễ hiểu nơi chiếc VÁY ĐỤP đâu là miếng vải đã mục nát và đâu là miếng vải vá loang lổ còn mới toanh.
Hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường lập luận dựa trên việc kiếm sống tự nhiên nuôi thân xác của tất cả mọi loài vật. Con người chỉ là một loài vật có thêm bộ óc thông minh để biến báo những phương thức kiếm sống cho hữu hiệu. Thân xác của loài vật hay của con người là TƯ HỮU đầu tiên và tự nhiên. Thân xác của tôi là của tôi, xin đừng động đến mà tôi đập cho bỏ mẹ bây giờ. Không có Tòa án nào xử người tự tử, nghĩa là người có quyền hủy hoại TƯ HỮU là thân xác của họ. Để kiếm sống—làm kinh tế—mỡi người có quyền TƯ HỮU những phương tiện làm ăn kiếm sống. Người nông dân có cái cuốc, ngư phủ có cái lưới. Cuốc và lưới là TƯ HỮU của họ và họ có quyền TỰ DO xử dụng trong việc kiếm sống. Chiếm TƯ HỮU nghĩa là cấm TỰ DO làm ăn. Tôn trọng TƯ HỮU, thì phải tôn trọng TỰ DO làm kinh tế kiếm sống, nếu không TƯ HỮU trở thành vô nghĩa. Đó là nền tảng xây dựng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường.
Lý luận của hệ thống Kinh tế Chỉ huy là phế bỏ TƯ HỮU. Tất cả là của chung, nghĩa là CÔNG HỮU. Mà nếu là CÔNG HỮU, thì cá nhân không được TỰ DO xử dụng CÔNG HỮU nữa. Từ những phương tiện sản xuất đến những sản phẩm để tiêu thụ đều là CÔNG HỬU. Theo nguyên tắc CÔNG HỬU thuộc mọi người, thuộc toàn dân. Nhưng mọi người và toàn dân đông quá, nên phải có một nhóm người hạn hẹp để giữ và điều hành CÔNG HỮU. Đảng Cộng sản tự nhận là nhóm người đứng ra điều hành CÔNG HỮU ấy. Vì vậy trong hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy, không có quyền TỰ DO cá nhân quyết định làm ăn và tiêu thụ, mà phải theo những Kế hoạch (Plans) làm ăn và phân phối tiêu thụ của một nhóm người (Đảng Cộng sản). Việc BAO CẤP tiêu thụ chỉ là hệ luận tự nhiên của CÔNG HỮU, của việc mất quyền TỰ DO cá nhân kiếm sống. Xin chú thích ở đây rằng nếu hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyề và Chỉ huy mà không có BAO CẤP, thì đó là việc vô lương tâm vậy.
Hai hệ thống Kinh tế có những Lý luận của mình. Vậy việc vá VÁY ĐỤP KINH TẾ của Việt Nam nhặt nhạnh những gì từ hai hệ thống, nhất nữa không còn BAO CẤP ?
Kinh tế Việt Nam: lấy vải Mỹ để gian lận vá Váy đụp XHCH
Hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã thất bại mà chúng tôi đã trình bầy những lý do trong Bài thứ 2 của loạt bài Chủ đề này. Cũng trong Bài thứ 2, chúng tôi trình bầy những nét Lịch sử về việc hình thành lý luận của Marx. Phải trở lại đầu Thế kỷ XVI, với Thomas MOORE (1477-1553), chủ trương Cité d’Utopie. Thomas MOORE là người rất sùng Đạo Thiên Chúa và bị ảnh hưởng rất nhiều về Tổ chức Kinh tế của các Dòng Tu Công Giáo của thời Trung Cổ Aâu-châu: Phương tiện sản xuất là của chung, Tiêu thụ tùy theo nhu cầu của mỗi Thầy tu, Làm việc theo hoạch định (Plans) của Thầy Quản Lý, Đời sống có trật tự và có sự đồng đều giữa các Thầy dòng. Marx bị ảnh hưởng Tổ chức Kinh tế của Dòng Tu Trung Cổ qua việc trình bầy có hệ thống lý luận của Thomas MOORE.
Người ta nói rằng hệ thống Kinh tế mà Marx chủ trướng quá lý tưởng mà Lénine đã không thực hiện được. Thực vậy, mẫu Tổ chức Kinh tế của Dòng Tu thời Trung cổ Aâu châu phải đặt trên lòng TIN TÔN GIÁO: mỗi Thầy tu phải khấn hứa sự khó nghèo, phải độc thân, phải vâng lời bề trên, Phải cố gắng làm việc vì Thiên Chúa vô hình nhìn rõ sự lười biếng và nếu vi phạm những gì đã khấn hứa thì Thiên Chúa sẽ có hình phạt đời sau. Mẫu mực Tổ chức Kinh tế như vậy áp dụng cho Cộng Đồng Dòng Tu, nhưng trong Xã Hội ở Thế kỷ XX này, những đảng viên Công sản và những Công dân lại ham Tiền bạc, sống có gia đình hoặc ham sắc dục, muốn ngồi mát ăn bát vàng, rồi trở thành vô thần do chính Marx-Lénine chủ trương, không có đời sau để thưởng phạt..., vì vậy mà Tổ chức Kinh tế theo Dòng Tu Trung Cổ trở thành quá lý tưởng không thực hiện nổi. Chú thích ngay rằng nếu các đảng viên Cộng sản giữ đúng cuộc sống của các Thầy tu thời Trung cổ, thì tôi có thể chấp nhận hệ thống Kinh tế Trung ường Tập quyền và Chỉ huy để tha hồ lười biếng, nằm phơi rốn mà vẫn có BAO CẤP để sống. Tôi sẵn sàng nằm lười chảy chì mà ngày hai bữa vỗ bụng rau bình bịch cũng được. Hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã thất bại vì Marx-Lénine đã không thể nào có Dân chúng và các đảng viên Thế kỷ XX giống các Thầy tu thời Trung cổ. Hệ thống trở thành quá lý tưởng đến nỡi không thể nào thực hiện được, đã trở thành không tưởng (Utopique).
Hệ thống Kinh tế không tưởng đã thất bại và đã làm cho Thế giới Cộng sản Nga và Đông âu sụp đổ. Nga và Đông Aâu đã can đảm vứt bỏ cái VÁY hư hỏng theo mẩu của Marx-Lénine để nhất quyết chọn lựa hệ thống tự nhiên của Kinh tế Tự do và Thị trường. Nhưng Việt Nam vẫn bấu víu lấy cái VÁY kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa mục nát ấy, mà chỉ đi tìm những miếng vải của Kinh tế Tự do và Thị trường để gian lận vá víu loang lổ.
Chúng tôi đi tìm lý do của việc vá váy đụp như thế nào:
=> Lý do thứ nhất: Không giữ nổi Bao Cấp cho dân, nên đành Mở Cửa và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Thất bại của Kinh tế Chỉ huy không thể nào cho phép Nhà Nước giữ được việc Bao Cấp cho dân. CSVN đành phải Mở Cửa để cứu đói và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường để mỗi người đi kiếm sống cho mình. Nhưng nếu hoàn toàn tuân theo nền tảng của hệ thống Kinh tế này, thì dân phải có TƯ HỮU và có TỰ DO cá nhân làm ăn. Nhưng nếu có TƯ HỮU và có TỰ DO, thì chính cái CÁ NHÂN TƯ HỮU và TỰ DO này phải đi đến nguyên tắc DÂN CHỦ để giải quyết những tranh chấp những quyền lợi cá nhân khi làm ăn chung đụng.
=> Lý do thứ hai: Lo sợ sự lớn mạnh của Kinh tế tư nhân dẫn đến thể chế phù hợp với nguyên tắc Dân chủ.
Theo học thuyết Marx-Lénine, CSVN không thể không biết quan điểm lý luận của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).
Với quan điểm này, thì khi Tư doanh giữ vững những quan hệ làm ăn theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì buộc lòng họ phải đòi hỏi thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp cho phù hợp, nghĩa là không được độc tài mà phải tôn trọng nguyên tắc Dân chủ mới giải quyết được quyền lợi Kinh tế cá nhân tự do.
Quan điểm của Marx phù hợp với Biện chứng cuộc sống của dân quê Việt Nam thường nói:“Nhất sĩ (Chính trị) nhì nông (Kinh tế), hết gạo chạy rông, thì nhất nông (Kinh tế) nhì sĩ (Chính trị)“. Có lần tôi đã nói với một đảng viên cao cấp CSVN rằng Hà Nội cứ việc cố thủ lấy độc quyền Chính trị (Thủ đô Chính trị), nhưng hãy để cho Sài gòn tự do làm Kinh tế (Thủ đô Kinh tế), thì có ngày Thủ đô Chính trị Hà Nội phải xách bị vào quỳ gối ăn xin và lệ thuộc vào Thủ đô Kinh tế Sài gòn bởi vì lúc ấy là nhất nông nhì sĩ rồi. Hãy nhớ tại Aâu châu hàng Quý tộc đả phải bán tước hiệu quý tộc cho những người làm ăn (bourgeois) để có gì đỡ đói.
=> Lý do thứ ba: Giữ lấy nhãn hiệu XHCN (Xã Hội Chủ Nghĩa)
Đói quá, phải Mở Cửa và phải đắng cay tuyên bố theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mà CSVN đã chửi bới thậm tệ bao thế hệ là bóc lột, khai thác và còn đấu tố giết hại bao nhiêu người. Mà nếu cho TƯ HỮU, nghĩa là không còn CÔNG HỮU, thì làm thế nào đảng CSVN còn có lý do giữ lại Điều 4 Hiến Pháp. Chính vì vậy mà cần phải tìm cách giữ lại những tiếng Xã Hội Chủ Nghĩa để có cớ giữ Điều 4. Nhưng chẳng lẽ gọi nền Kinh tế là KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, thì thối tha ngược ngạo chịu không nổi bởi vì nền tảng lý luận của hai nền Kinh tế trái ngược nhau. Vì vậy mà Bộ Chính Trị mới thêm hai chữ ĐỊNH HƯỚNG như trò hề.
ĐỊNH HƯỚNG có nghĩa là sau này lại trở về với Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho cá nhân bỏ TƯ HỮU ra làm Kinh tế theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Sau khi tư nhân làm ăn thịnh vượng, có nhiều TƯ HỮU rồi, thì Nhà Nước lại truất hữu, biến TƯ HỮU làm CÔNG HỮU theo Xã Hội Chủ Nghĩa. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG XHCN có nghĩa như vậy. Sao mà ngu thế: bảo tư nhân làm ăn rồi sau đó tước đoạt tư hữu, thì bố đứa nào dám cố gắng bỏ tài sản ra làm ăn cho CSVN ăn cướp sau này theo ĐỊNH HƯỚNG XHCN.
=> Lý do thứ tư: Phải nhập nhoèn gian lận ngược ngạo
CSVN cố thủ giữ lấy độc tài Chính trị, nhưng lại sợ chính quan điểm của Marx về Infrastructure économique (Hạ tầng cơ sở kinh tế) sẽ quyết định Superstructure Politique et Juridique (Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp), nghĩa là CSVN sẽ mất quyền độc tài. Nhưng vì đói ăn do hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy, nên đành phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nguồn đưa đến lật đổ độc tài của Superstructure Politique et Juridique.
CSVN sống trong lo lắng, nên đành phải nhập nhoèn gian lận vá víu (vá VÁY ĐỤP) để biện minh cối chầy về lý thuyết. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG và chắp nối che đậy việc nhập nhoèn gian lận trái ngược về Chính trị và Kinh tế. Tiếng Tây gọi là Les Magouilles politiques et économiques contradictoires : * Nhà Nước kêu gọi Tư nhân bỏ vốn làm ăn theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng lại dành những ưu tiên làm ăn miếng ngon cho con cháu đảng hoặc những ai đút lót tiền tham nhũng. Đây là việc vi phạm tự do của Thị trường. * Nhà Nước dùng Tiền bạc của chung để lập hệ thống Tổng Công ty, Công ty quốc doanh với những đặc quyền Kinh tế, Thương mại mà những Tư doanh phải chịu lụy những đặc quyền quốc doanh này mới có thể làm ăn. Hệ thống đặc quyền này buộc phải có bởi lẽ những lãnh đạo Chính trị, ngoài liên hệ gia đình, còn phải lệ thuộc giới làm ăn của đảng vì giới này lại có quyền chế tài về chính trị theo hệ thống đảng. * Tư nhân kinh doanh phải chịu hệ thống hành chánh rất nặng nề và chậm chạp. Đây là tệ nạn mà CSVN không thể nào cải thiện. Đảng CSVN thu nhiều đảng viên. Đảng phải bầy vẽ ra hệ thống hành chánh phức tạp để có chỗ làm việc cho đảng viên, nếu không thì họ bỏ đảng. Hệ thống hành chánh là nguồn của chậm trễ kinh tế và nguồn của ăn bẩn, đút lót tiền bạc * Tài nguyên quốc gia bị khai thác, bán tháo trong đặc quyền của những người liên hệ của đảng: con cháu đảng viên cao cấp, trung ương và địa phương... * Nhân lực Việt Nam, Lao động do Nhà Nước quyết định để bán cho tư bản ngoại lai làm ăn tại chỗ hoặc xuất cảng. Một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường phải có những Nghiệp đoàn Lao động hay những Nghiệp đoàn chuyên nghiệp độc lập để bảo vệ tư hữu hiển nhiên nhất là nhân lực và chất xám. * Nguồn vốn đầu tư nước ngoài được hướng dẫn cho hệ thống liên doanh với những Công ty quốc doanh liên hệ với đảng. * Những dự án xây dựng hạ tầng cơ sở được quyết định bừa bãi theo tiêu chuẩn liên hệ Chính trị, thậm chí được coi như việc thưởng công cho những đảng viên đã có công với đảng. * Nhà Nước, từ Trung ương đến Địa phương nắm giữ quyền trưng dụng và cấp phát Đất đai dưới những chiêu bài như Khu chế xuất, Công nghệ hóa... * Tài chánh, Tiền tệ, Ngân Hàng nằm trong tay đảng. Những lạm phát tiền tệ là do sự quyết định độc đoán của Chính trị đảng. Người dân không thấy, nhưng chịu hậu quả về lạm phát tiền tệ này.
Dầu tuyên bố long trọng là theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng Chính trị độc tài đã can thiệp trực tiếp vào sinh hoạt Kinh tế.
Dân phải can đảm xé bỏ chiếc váy đụp chứ đừng vá thêm nữa
CSVN cố thủ giữ lấy chiếc váy đụp và tìm cách gian lận vá víu chiếc váy ấy để bắt dân mặc với hai chủ đích: => Giữ lại quyền Chính trị độc tài độc đảng theo Điều 4 của Hiến Pháp => Gian lận nắm lấy Kinh tế cho đảng và cho con cháu của đảng.
Nhà Nước luôn luôn kêu gọi TRẬT TỰ dưới chiêu bài Phát triển Kinh tế bền vững và vĩ mô. Nhân danh hai chữ TRẬT TỰ, Nhà Nước cho quyền mình được đàn áp tất cả những ai lên tiếng than vãn những nhập nhoèn gian lận vá víu để đảng duy trì hai chủ đích nêu trên đây. Theo quan điểm của Marx, một Hạ tầng cơ sở Kinh tế gồm những nhập nhoèn gian lận như vậy không thể nào cho phát sinh một Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp sáng sủa công minh được.
Dân phải dứt khoát vứt bỏ chiếc váy đụp ấy để từ đó mới có thể phát triển bền vững được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 04:
THAM NHŨNG LÃNG PHÍ LÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC ĐÁNH ĐĨ GIỮA ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ & ĐỘC QUYỀN KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 11.09.2008
Trong loạt 12 Bài Chủ để : PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH, chúng tôi đã viết và phổ biến 3 Bài: Bài thứ nhất về hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường với việc tôn trọng TƯ HỮU và nguyên tắc không can thiệp trực tiếp Chính trị vào Kinh tế; Bài thứ hai về hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền/Chỉ huy với chủ trương CÔNG HỮU và lấy Chính trị khống chế toàn diện Kinh tế; Bài thứ ba về việc tréo cẳng ngỗng của Kinh tế Việt Nam hiện hành ĐỊNH HƯỚNG XHCN.
Bắt đầu từ Bài thứ tư này, chúng tôi đi vào những chi tiết của Kinh tế vá váy đụp định hướng XHCN mang đến Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh. Chúng tôi bắt đầu bằng con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.
Bài được trình bầy dưới những khía cạnh sau đây: => Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội => CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế => Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.
Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’
Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ bản 1:
BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH HOA KỲ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC MỸ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 18.09.2008
Chính lẽ chúng tôi tuần tự viết bài QUAN ĐIỂM số 5 trong VietTUDAN số 369 cho có sự liên tục với đầu đề LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE) CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI. Tiền tệ và hệ thống Ngân Hàng, Tài chánh gắn liên với nhau. Nhưng, vì biến cố Khủng hoảng Tài chánh đang xẩy ra tại Hoa kỳ với tầm ảnh hưởng Thế giới đang diễn ra trầm trọng từ THỨ HAI ĐEN 15.09.2008. Cuộc Khủng hoảng liên hệ đến Tiền tệ và Tài chánh thuộc lãnh vực các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh đầu tư, nên chúng tôi viết Phụ bản 1 này vừa có tính cách thời sự, vừa liên hệ đến đầu đề của bài QUAN ĐIỂM số 5 mà chúng tôi sẽ viết tiếp cho VietTUDAN số tuần thới.
Chúng tôi quan tâm theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ và tầm ảnh hưởng của nó qua Aâu châu và Á đông. Khi mà Thị trường Tài chánh Thế giới giao động như vậy, thì ảnh hưởng của nó tất nhiên không thể tránh được ở Việt Nam, nơi mà hệ thống Ngân Hàng và việc phát triển Kinh tế đang bị vi trùng Tham nhũng Lãng phí hoành hành do sự cấu kết giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế trong tay một nhóm người. Việt Nam thiếu vốn nội địa, nghĩa là lệ thuộc vào vốn nước ngoài. Phát triển Kinh tế Việt Nam cũng lệ thuộc Thị trường ngoại quốc. Khi mà có khủng hoảng Tài chánh Thế giới, thì tầm ảnh hưởng chắc chắn sẽ phải xẩy ra ở Việt Nam. Tầm ảnh hưởng ấy trở thành tai hại hơn nữa khi chính vấn đề vốn và kinh tế của mình đang trong cơn bệnh hoạn như ngày nay. Đó là mục đích tìm hiểu quan trọng khi chúng tôi theo rõi những biến chuyển Khủng hoảng của Thị trường Tài chánh hoàn cầu.
Bài này ghi lại những biến động chung quanh Wall Street từ THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho đến hết ngày THỨ TƯ 17.09.2008 hôm qua. Tất nhiên tại New York, trong những tuần trước và liền sát với THỨ HAI ĐEN, những cuộc Hội Họp liên tục giữa các Thủ lãnh Ngân Hàng và Tài chánh, rồi với Đại diện Ngân khố Nhà nước diễn ra. Xin độc giả đọc thêm những bài về Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credit) mà chúng tôi đã viết từ năm ngoái và đầu năm nay đăng lại trong số báo này. Chính Tín dụng Subprime (Toxic) Địa ốc này là nguyên nhân gây mất mát của những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh, rồi tạo biến động tất nhiên ở Wall Street và các Thị trường chứng khoán trên khắp Thế giới.
THỨ TƯ 17.09.2008: ĐỂ LEHMAN BROTHERS CHẾT NHƯNG CỨU AIG (AMERICAN INTERNATIONAL GROUP)
Trước quan điểm được tuyên bố bởi Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, trong những ngày trước về quan điểm cứng rắn của Nhà Nước Liên Bang Mỹ đối với số phận những Ngân Hàng, và việc nhất định từ chối hỗ trợ FED để BARCLAYS có thể mua LEHMAN BROTHERS, khắp Thế giới chờ mong tin về số phận của Tập đoàn Bảo Hiểm khổng lồ AIG (American International Group). Cả Thế giới trông tin vì lãnh vực hoạt động của AIG bao trùm rộng lớn mọi nơi trên Thế giới.
Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỹ về các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh
Từ năm ngoái đến giờ, những thua lỗ và những biến động xẩy ra ở nơi những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh và tại những Thị trường Chứng khoán. Người ta cũng quan sát thấy rằng những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh thua lỗ nhiều và có thể đi đến phá sản là vì họ đã nhúng tay vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc với tất cả những rủi ro (Risks) của Business. Trong những năm trường, những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh này đã thu vào những lợi nhuận rất cao. Thực vậy, muốn ăn lớn thì phải có rủi ro. Họ đã vào hang cọp để bắt cọp con.
Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, đã từng điều hành Ngân Hàng GOLMAN SACHS, nên hiểu rõ những cái nguy hiểm (risks) thuộc lãnh vực này. Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỷ, qua lời khẳng định của Henry PAULSON Jr. là đã quyết định chơi với nguy hiểm để có lợi nhuận cao, thì phải chịu cái hậu quả của nguy hiểm, dù đó là phá sản. Nói đơn giản: được ăn thua chịu.
Về phương diện phát triển Kinh tế quốc gia, trong lãnh vực Sản xuất, Thương Mại, Việc làm cho Nhân lực, người ta ít thấy những xáo trộn xong hành với lãnh vực Tài chánh. Nền Kinh tế có chút đình trệ, nhưng không có những biến động lớn đưa đến Khủng hoảng như những năm 1929-30.
Có thể nói rằng thái độ của Nhà Nước Liên Bang là:
=> Nhà Nước để cho phía các Tổ chức Ngân Hàng, Tài chánh chơi với nguy hiểm tự đào thải => Nhà Nước canh chừng và bảo vệ nền Kinh tế phát triển đều đặn, tránh những biến động mạnh. => Không thể lấy tiền của Dân đóng thuế để cứu những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh tư nhân chơi với rủi ro để kiếm lợi nhuận cao bỏ túi riêng. Khi họ có lợi nhuận cao, họ có chia cho Dân đâu. Vậy khi họ gặp phá sản, tại sao lấy tiền của Dân ra cứu họ.
Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS với 158 tuổi đã bị để cho chết trong quan điểm trên của Nhà Nước.
Nhà Nước Liên Bang vào phút chót cứu AIG (American International Group) với 85 tỉ
AIG là một Tổ chức Bảo Hiểm có tầm hoạt động rộng lớn khắp Thế giới. AIG xử dụng 116'000 nhân viên và có 74 triệu khách hàng bảo hiểm ở trên 130 quốc gia. Nhửng khách hàng ấy không hẳn chỉ là những cá nhân, nhưng gồm những Tập thể, những Ngân Hàng hay những Quốc gia. Với trị giá tài sản 180 tỉ đo-la, AIG là một trong 5 Tập đoàn Kinh tế tư nhân lớn nhất của Hoa kỳ. Lãnh vực hoạt động của AIG liên hệ đến hệ thống Tài chánh Thế giới và nhất là về những bảo hiểm nhân mạng, cuộc sống và tuổi về hưu của nhiều triệu dân chúng. AIG còn bào hiểm rộng lớn cho những Quốc gia về những Obligations. Tuy nhiên lãnh vực rủi ro của AIG là đã đụng chạm đến Tín dụng Subprime địa ốc. Một lảnh vực nữa mang rủi ro lớn là AIG đã đưa ra sản phẩm CDS-CREDIT DEFAULT SWAP, một Hợp đồng Bảo Đảm Rủi ro cho những món nợ. Số lượng Bảo Đảm này năm 2004 là 6’396 tỉ đo-la và cuối năm 2007 lên vọt tới số lượng 57'894 tỉ đo-la.
Trong suốt những ngày vừa rồi, chính Oâng Henry PAULSON Jr. đã hết lòng dàn xếp với giới Ngân Hàng tư nhân, ngay cả thúc đẩy những Ngân Hàng Trung ương Aâu châu trợ lực để cứu AIG.
Cuới cùng Tổng thống Bush, Chủ tịch Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ (FED) và Bộ trưởng Ngân khố Mỹ phải quyết định bỏ ra 85 tỉ đo la để cứu AIG vì nếu AIG phá sản thì hậu quả bao trùm Thế giới.
Nhà Nước Liên Bang Mỹ, sau khi cứu AIG, còn phải cứu ai nữa không khi mà quan điểm của Nhà Nước quyết theo như chủ trương vừa trình bầy ở đoạn trên ? Oâng Marco ANNUNZIATA, Trưởng Bộ phận Phân tích Tài chánh của UNICREDT đã cho ý kiến: ’L’accélération de la consolidation du secteur financier américain prend des allures certes dramatiques, mais nous arrivons au stade final de la crise’ (Journal LE TEMPS, Suisse, 18.09.2008, p.2) (Việc tiến hành nhập lại của lãnh vực tài chánh Mỹ thực mang những bước đi bi thảm, nhưng chúng ta đi tới chặng cuối cùng).
Một số người có khuynh hướng Xã Hội Chủ Nghỉa, qua việc Nhà Nước Liên Bang cứu FANNIE MAE, FREDDIE MAC, BEAR STEARNS và AIG, đã vội miệng công kích rằng đó là một việc can thiệp của Chính trị Nhà Nước vào lãnh vực Kinh tế tư nhân trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Xin nhớ rằng đây là việc tư nhân yêu cầu Nhà Nước cứu giúp mình khi hoạn nạn, chứ không phải Nhà Nước tìm đến để can thiệp xen lấn. Cũng nói ngay rằng Nhà Nước Liên Bang Mỹ là một Nhà Nước Dân chủ chứ không phải là Nhà Nước độc tài.
Một Bình luận gia trên Đài Truyền hình TR1, ngày 14.09.2008 đã nói một câu có ý khen ngợi tính cách rộng lượng của Nhà Nước Mỹ trong việc trợ lực này: “Quand il y a des Profits, on désire de les privatiser; mais quand il y a des Pertes, on demande de les nationaliser“. (Khi có nhiều Lợi nhuận, thì người ta muốn tư nhân hóa; những khi có những Mất mát, thì người ta yêu cầu quốc hữu hóa).
Tình trạng mất mát của các Ngân Hàng vì vào lãnh vực rủi ro Tín dụng Subprime Địa ốc
Có những Ngân Hàng, Tập đoàn Tài chánh không muốn công bố vì muốn giữ thế giá hoặc chỉ mất chừng mấy trăm triệu hay bên dưới 4 hay 5 tỉ đo la. Tính cho đến hôm nay, việc mất mát vì Mortgage Subprime (Toxic) Credit được một số Ngân Hàng tuyên bố như sau: * CITIGROUP (Mỹ) : mất 55.1 tỉ đo la * MERRILL LYNCH (Mỹ) : mất 52.2 tỉ đo la * UBS (Thụy sĩ) : mất 44.2 tỉ đo la * HSBC (Anh) : mất 27.4 tỉ đo la * WACHOVIA (Mỹ) : mất 22.7 tỉ đo la * BANK OF AMERICA (Mỹ) : mất 21.2 tỉ đo la * WASHINGTON MUTUAL (Mỹ) : mất 14.8 tỉ đo la * MORGAN STANLEY (Mỹ) : mất 14.4 tỉ đo la * IKB (Đức) : mất 14.4 tỉ đo la * JP MORGAN CHASE (Mỹ) : mất 14.3 tỉ đo la
(Theo nguồn của BLOOMBERG)
THỨ BA 16.09.2008 KHỦNG HOẢNG CREDIT CARDS ? (CREDIT CARDS CRISIS?)
Thiết lập Quỹ Chống Phá Sản (Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite)
Đây là một ý tưởng theo mẫu của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF/ FMI) được thiết lập năm 1944. Thời kỳ này, Tiền tệ của các nước còn trong hệ thống bảo chứng bằng Vàng (Regime Etalon-Or). Nhưng Thế Chiến Thứ Hai đã làm cho các nước Aâu châu mất hết Vàng, vì thế Tiền Aâu châu đã mất hết giá vì không còn bảo chứng. Hoa kỳ đã triệu tập Hội Nghị Thế Giới về Tiền tệ tại Bretton-Woods năm 1944 để quyết định việc bảo chứng bằng đồng Dollar vì chỉ có Hoa kỳ mới còn Vàng. Tiền tệ chuyển sang hệ thống bảo chứng bằng đồng tiền mạnh Dollar (Regime Etalon-Devise-Or/ Regime Etalon-Dollar-Or).
Hội Nghị cũng quyết định thành lập Quỹ Tiền Tệ Quốc tế với mục đích hỗ trợ những nước thành viên có biến động yếu kém đi về Tiền tệ.
Cũng theo mẫu và mục đích tiên khời của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, ngày Chúa Nhật 14.09.2009, mười Ngân Hàng lớn Hoa kỳ và ngoại quốc đã quyết định thành lập QUỸ CHỐNG PHÁ SẢN (Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite) mà mục đích là để hỗ trợ giữa các Ngân Hàng thành viên khi đứng bên bờ phá sản. 10 Ngân Hàng lớn đó là: BANK OF AMERICA (Mỹ), BARCLAYS (Anh), CITIGROUP (Mỹ), CREDIT SUISSE (Thụy sĩ), DEUTSCHE BANK (Đức), GOLDMAN SACHS (Mỹ), JP MORGAN CHASE (Mỹ), MERRYLL LYNCH (Mỹ), MORGAN STANLEY (Mỹ) và UBS (Thụy sĩ). Mỗi Ngân Hàng đóng vào Quỹ đó 7 tỉ đo-la.
Có lẽ cũng nhờ Quỹ này mà Bank Of America mua lại Merrill Lynch vì cùng là thành viên.
Vấn đề AIG (American International Group) Vẫn còn sôi bỏng
AIG là Tập đoàn Bảo Hiểm lớn nhất của Mỹ. Những mất mát lớn mới đây của Tam cá nguyệt 2 của Tập đoàn được ghi nhận như sau:
* Bảo Hiểm Sinh mạng và Dịch vụ Hưu trí (Life Insurance & Retirement Services): mất 2.4 tỉ đo-la.
* Quản trị Tài sản (Asset Management): mất 314 triệu đo-la
* Những Dịch vụ Tài chánh (Financial Services): mất 5.9 tỉ đo-la
Với những mất mát mới đây, AIG ở trong tình trạng giao động gay gắt. Trị giá của AIG tại Thị trường Chứng khoán Wall Street tụt dốc: 60% mất giá trong ngày thứ HAI và 19% thêm nữa trong ngày thứ BA. Việc phá sản của AIG không những làm giao động mạnh hệ thống Tài chánh của Hoa kỳ, mà còn cả cho Aâu châu và Á châu nữa. Phải cứu AIG bằng mọi giá.
Mạc dầu đã được hứa 50 tỉ đo-la hỗ trợ từ FED, nhưng AIG cần tới con số tối thiểu 70 tỉ đo-la. FED đã kêu gọi những Ngân Hàng còn mạnh như Goldman Sachs, JP Morgan Chase hỗ trợ. Đồng thời FED cũng kêu gọi sự tiếp sức từ những Ngân Hàng Trung ương của Aâu châu. Thống đốc Tiểu bang New York cũng cho biết có thể hỗ trợ 20 tỉ đo-la. Oâng Hank GREENBERG, cựu Chủ tịch AIG, trong một Thư đăng trong Financial Times, cũng nhấn mạnh rằng nếu hệ thống Ngân Hàng tư nhân không đủ cứu AIG, thì nhất thiết FED phải tăng cường thêm.
Quan điểm của FED trong cơn Khủng hoảng Tài chánh
Quan điểm của FED, qua những tuyên bố của Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và của Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, trong những cuộc Hội họp cứu nguy các Tập đoàn Tài chánh, gồm những điểm sau đây:
=> Đây là việc Khủng hoảng về Tài chánh liên hệ thiết yếu đến những Tập đoàn quá đi sâu vào những Nghiệp vụ Thương mại, nhất là vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc. Vì vậy, nếu có một số Tập đoàn phải chết đi, thì đó cũng là việc họ đã chấp nhận trước đây những rủi ro (Risks). Do đó không thể bắt quỹ đóng góp của những người trả thuế đến cứu vớt những rùi ro nghề nghiệp của tư nhân.
=> Việc khủng hoảng Tài chánh này chưa mang đến hậu quả là Khủng hoảng Kinh tế Hoa kỳ. Cái lỡi phá sản là hoạt động thương mại của các Ngân Hàng ở Thị trường Tài chánh. Việc chết đi của một số Ngân Hàng có thể làm sạch sẽ hơn Thị trường Tài chánh.
=> Chính vì vậy mà FED nhất định giữ Lãi suất 2%. Việc thay đổi Lãi suất có thể gây thiệt hại cho những Tập đoàn sản xuất Kinh tế.
Từ Khủng hoảng Tín dụng Subprime Địa ốc Đến Khủng hoảng Tín dụng Tiêu dùng (Credit Cards Crisis)
Giới Tài chánh không muốn dùng chữ Subprime Credit nữa mà gọi thẳng là Toxic Credit (Tín dụng nhiễm độc). Người ta đang lo ngại từ Khủng hoảng Tín dụng Toxic Địa ốc, có thể các Ngân Hàng sẽ phải chịu một cơn lốc thứ hai là Thẻ Tín dụng Tiêu dùng (Credit Cards Crisis).
Thục vậy, người ta dễ lạm dụng Thẻ Credit để Tiêu dùng trở thành một món nợ không thể hoàn lại. Tại Hoa kỳ, chỉ cần mang theo người Credit Card và Drive License là đủ mua bán mọi nơi. Việc mua bán qua Internet cũng xử dụng Credit Cards và lan rộng ngoài phạm vi Hoa kỳ.
Giới quan tâm đến cuộc Khủng hoảng Credit Cards đã ước tính Toxic Credit cho Thẻ Tiêu dùng có thể lên tới con số rất lớn. Mỗi Gia đình tại Mỹ trung bình xử dụng tới 6 Credit Cards. Mỗi Credit Card mang nợ trung bình là 10'000 đo-la. Giới Ngân Hàng tính tổng cộng tại Hoa kỳ số tiền Toxic Credits cho những Cards này lên tới 1'000 tỉ đo-la.
Ý kiến riêng: Tốt hơn hết là khi mấy Oâng ra ngoài buổi tối, nên để Credit Cards ở nhà cho các bà xã giữ. Chỉ lên bỏ vào túi tiền mặt chừng 20 đo-la. Uống bia hết tiền mặt thì về nhà. Còn nếu có sẵn Credit Cards trong túi, thì khi hơi men bốc lên rồi, mà ngồi cạnh nữ giới với ánh đèn mầu, thì dễ dàng mang Credit Cards ra trả cho lên mặt anh hùng !.
THỨ HAI ĐEN 15.09.2008: BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH TẠI WALL STREET
THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho Wall Street. Mà Wall Street giao động, thì tầm ảnh hưởng lan rộng ra Thế Giới. Hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh Thế giới bị bệnh. Những Ngân Hàng mất tiền, thậm chí phá sản. Cái nguyên do của tình trạng bệnh tật này là Khủng hoảng Tín dụng Địa ốc của Hoa kỳ (Mortgage Subprime Credit Crisis)
Ngày 13.12.2007, chúng tôi đã viết về Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân việc Ngân Hàng UBS của Thụy sĩ tuyên bố mất 11 tỉ đo la. Ngày 24.01.2008, chúng tôi đã viết về Khủng hoảng Thị trường Chứng khoán từ Mỹ, Aâu, Á cũng do nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc.
Chúng tôi đăng lại hai bài này để hiểu cái nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 hôm qua.
Từ tuần trước, Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ FED đã đứng ra trách nhiệm cứu và kiểm soát hai Đại Tập đoàn Tài chánh Địa ốc của Mỹ FANNIE MAE và FREDDIE MAC với 200 tỉ đo la. FED cũng cứu AIG, American International Group, một Tập đoàn Bào Hiểm lớn nhất của Mỹ, với 50 tỉ đo-la. FED cũng trợ lực 30 tỉ đo la để JP MORGAN CHASE mua BEAR STEARNS vào tháng 3 vừa rồi. Nhắc lại rằng JP MORGAN CHASE là sự nhập lại của JP MORGAN và CHASE MANHATTAN vào cuối năm 2000.
Lần này đến lượt MERRILL LYNCH và LEHMAN BROTHERS. Suốt cuối tuần vừa rồi, Những Đại diện Ngân Hàng lớn họp liên hồi để cứu hai Tập đoàn này. Đây là hai Tập đoàn đầu tư nhiều trong lãnh vực Subprime Địa ốc Hoa kỳ. Đối với hai Tập đoàn này, FED không muốn cứu nữa. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, cũng đến họp về trường hợp của Merrill Lynch và Lehman Brothers. Nhưng hai Oâng yêu cầu phải tìm giải pháp Kỹ nghệ chứ FED không thể xử dụng tiền Dân đóng thuế để cứu hai Tập đoàn tư nhân này.
BANK OF AMERICA quyết định mua MERRILL LYNCH. Nhưng còn LEHMAN BROTHERS ? Một số Ngân Hàng như BARCLAY’S, BANK OF AMERICA cũng có ý định xét mua LEHMAN BROTHERS, nhưng muốn FED trợ lực chịu những nguy hiểm. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, nhất quyết từ chối.
Thứ Hai 15.09.2008, LEHMAN BROTHERS tuyên bố phá sản. Wall Street giao động, nhất là giá các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh. Tập đoàn LEHMAN BROTHERS được thành lập từ năm 1850 và được 158 tuổi. Số nhân viên làm việc lên tới 15'000 người.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ bản 2:
US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 25.09.2008
Chính lẽ chúng tôi tuần tự viết bài QUAN ĐIỂM số 5 trong VietTUDAN số 369 cho có sự liên tục với đầu đề LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE) CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI. Tiền tệ và hệ thống Ngân Hàng, Tài chánh gắn liên với nhau. Nhưng, vì biến cố Khủng hoảng Tài chánh đang xẩy ra tại Hoa kỳ với tầm ảnh hưởng Thế giới đang diễn ra trầm trọng từ THỨ HAI ĐEN 15.09.2008. Cuộc Khủng hoảng liên hệ đến Tiền tệ và Tài chánh thuộc lãnh vực các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh đầu tư, nên chúng tôi viết Phụ bản 1 này vừa có tính cách thời sự, vừa liên hệ đến đầu đề của bài QUAN ĐIỂM số 5 mà chúng tôi sẽ viết tiếp cho VietTUDAN số tuần 25.09.2008.
Vì tầm quan trọng của PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ mang tầm quan trọng đặc biệt, nên tuần này chúng tôi phải viết Phụ bản 2 cho vấn đề này.
Ngày 18.09.2008, chúng tôi đã viết về BA NGÀY PHÁ SẢN Ở WALL STREET. Ngày cuối, Thứ TƯ 17.09.2008, chúng tôi viết với lạc quan sau khi Chính quyền Mỹ bỏ thêm ra 85 tỉ đo la để cứu AIG (American International Group). Oâng Marco ANNUNZIATA, Trưởng Bộ phận Phân tích Tài chánh của UNICREDIT đã cho ý kiến: ’L’accélération de la consolidation du secteur financier américain prend des allures certes dramatiques, mais nous arrivons au stade final de la crise’ (Journal LE TEMPS, Suisse, 18.09.2008, p.2) (Việc tiến hành nhập lại của lãnh vực tài chánh Mỹ thực mang những bước đi bi thảm, nhưng chúng ta đi tới chặng cuối cùng của khủng hoảng).
Nhưng nguy hiểm Khủng hoảng Tài chánh vẩn tiếp tục và người ta thấy triệu chứng lan sang Lãnh vực Phát triển Kinh tế quốc gia, tạo ra Khủng hoảng Kinh tế kiểu 1929-30, thất nghiệp...
Chính quyền BUSH, trước viễn tượng Khủng hoảng Ngân Hàng, Tài chánh lan sang Kinh tế, tạo thất nghiệp, đã tuyên bố ngày Thứ NĂM 18.09.2008 một Chương trình Cứu vớt với US$ 700 tỉ. Trước đó, Chính quyền Mỹ đã bỏ ra tổng cộng là 600 tỉ rồi, bây giờ PLAN BAILOUT thêm 700 tỉ nữa.
Con số 700 tỉ phải quyết định mau chóng vì tình hình Khủng hoảng cấp bách. Để có thể quyết định một món tiền lớn như vậy, Quốc Hội Mỹ và Chính quyền phải làm việc đêm ngày trong những lo lắng đợi kết quả của toàn Thế giới.
Cái lỗi của các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh
Các nhà Kinh tế phân biệt hai lãnh vực: (i) Lãnh vực Ngân Hàng và Tài chánh liên hệ trực tiếp với quản trị Tiền bạc, vốn; (ii) Lãnh vực Kinh tế điều hành sản xuất và Thương mại. Cuộc Khủng hoảng 1929-30 bắt đầu từ Lãnh vực Kinh tế với việc sản xuất quá nhiều do xử dụng những khám phá Khoa học và hệ thống sản xuất dây chuyền lan tràn.
Người ta gọi rằng Lãnh vực Kinh tế cho ra những sản phẩm thực để tiêu thụ thỏa mãn những nhu cầu thực, trong khi đó Lãnh vực Ngân Hàng và Tài chánh cho ra những sản phẩm riêng của mình liên hệ đến Tín dụng Tiền bạc. Câu nói: người ta không nhai đồng 100 đo la để dạ dầy no, mà phải ăn bánh thịt mới no được. Những sản phẩm Kinh tế là đời sống thực.
Nhưng phía Ngân Hàng và Tài chánh đưa ra những sản phẩm tài chánh (Produits financiers) xa với đời sống thực và trao đổi buôn bán trong Lãnh vực riêng của họ để làm giầu. Việc làm giầu trong lãnh vực Tài chánh, Ngân Hàng rất nhanh chóng với lợi nhuận khổng lồ. Lợi nhuận thu vào cao và mau chóng là do tốc độ vận hành mau chóng một chu kỳ thương vụ (Vitesse accélérée de Rotation d’un Cycle d’exploitation).
Trong những năm gần đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh đã thu vào những Lợi nhuận khổng lồ qua việc đầu cơ những sản phẩm Tài chánh. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh lần này là do Kỹ nghệ những sản phẩm Tài chánh được thực hiện qua những tốc độ vận hành điện tử. Đồng thời Toàn cầu hóa Sản phẩm Kinh tế ra cùng Thế giới, tận những nước nghèo cũng là việc Tập trung Tiền bạc, Tài chánh vào những nước lớn. Chính Oâng GREENSPAN đã phải than lên rằng việc Tòan cầu hóa sản phẩm Kinh tế và việc Tập trung Tài chánh về những Ngân Hàng lớn đã tạo cảnh đói nghèo cho bao nhiêu triệu người tại những nước kém mở mang.
Đối với cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng và Tài chánh này một khuynh hướng rộng lớn là công kích phía Ngân Hàng, Tài chánh với những sản phẩm riêng của họ được trao đổi để kiếm lợi nhuận cao chính trong Lãnh vực của họ. Trong cuộc Hop Khoáng Đại của Liên Hiệp Quốc vửa qua, những bài công kích phía Tài chánh đến từ phía Nam Mỹ, Phi châu và ngay cả từ Pháp (Tổng Thống Nicocals SARKOZY)
Quan sát thái độ của Chính quyền Mỹ, người ta cũng thấy quan điểm rất cứng rắn của Tổng Thống BUSH. Trong bài viết về ngày Thứ TƯ 17.09.2008, chúng tôi đã cắt nghĩa tại sao Chính quyền Mỹ để cho Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS đã 158 tuổi mà phải phá sản. Tổng Thống BUSH ngay trong bài nói đêm 24.09.2008 hôm qua cũng vẫn nhắc lại rằng Oâng chũ trương nền Kinh tế Tự do, nên nếu Khủng hoảng Tài chánh là do cái lỗi của Ngân Hàng, thì cứ để họ chết theo luật đào thải. Không thể lấy tiền cuả dân đóng thuế để cứu vớt những Ngân Hàng đã thu nhiều lợi nhuận giầu có trong những năm trường.
Tuy vậy PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ được đưa ra chỉ vì sợ rằng cuộc Khủng hoảng Tài chánh này đang có triệu chứng lan sang Lãnh vực Kinh tế, tạo những thất nghiệp, thiệt hại cho những quỹ bảo đảm tuổi già.
Phản ứng Chứng khoán đối với PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ
Sau khi tuyên bố ngày Thứ NĂM 18.09.2008, các giá chứng khoán ngày thứ SÁU 19.09.2008 khắp nơi tăng lên. Tuy nhiên việc tăng này chỉ cầm chừng vì những công kích từ Hội Nghị Khóang Đại của Liên Hiệp Quốc.
Giới đầu tư còn có sự sợ hãi không hiểu Chương trình 700 tỉ đo la có được Quốc Hội Mỹ chấp nhận hay không. Đồng thời vì Chương trình được đề nghị cấp bách, nên Chính quyền BUSH cũng chưa kịp đưa ra những chi tiết, đồng những nhà đầu tư cũng phải có thời gian tìm hiểu hướng Cứu Vớt như thế nào.
Cuối tuần qua đi, Thứ HAI 22.09.2008, các giá chứng khoán lại thụt xuống và những nhà đầu tư chờ đợi phản ứng của phía Nghị sĩ Quốc Hội.
Phản ứng của Nghị sĩ đối với PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ
Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch FED, và Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, phải điều trần trước đại điện các Khối trong Quốc Hội. Oâng Ben BERNANKE nhấn mạnh đến vấn đề thiếu vốn của Thị trường có thể đưa đến đình trệ Kinh tế. Oâng trình bầy đây không phải là việc cho vay để cứu các Ngân Hàng, mà là việc mua những sản phẩm yếu kém của phía Tài chánh.
Các Nghị sĩ, cả phía Dân chủ và Cộng hòa đưa ra những chất vấn sau đây:
=> Không thể để một Chi phiếu trắng (Cheque blanc) trong tay một Ngân Hàng gia chuyên nghiệp như Oâng Henry PAULSON Jr. mà chưa biết những chương trình cụ thể; => Các Nghị sĩ nhất thiết yêu cầu rằng Plan Bailout US$ 700 không thể để những mất mát mà dân chúng đóng thuế phải chịu đựng. => Cần phải có những Luật vững chắc bảo đảm cho việc xử dụng US$ 700 tỉ và phải có những điều kiện kiểm soát những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh.
Việc trao đổi làm việc giữa Chính quyền BUSH và các Nghị sĩ tiếp tục. Với việc trao đổi nghi ngại hai bên như vậy, giới đầu tư chưa thể quyết định, nên giá chứng khoán cầm chừng.
Ngày Thứ BA 23.09.2008, người ta vẫn chưa biết PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ có được chấp thuận hay không.
Ngày Thứ TƯ 24.09.2008, người ta ghi nhận một số triệu chứng có tính cách tích cực theo hướng cổ võ cho Chương trình Cứu Vớt 700 tỉ:
=> Nhà Tỉ phú BUFFETT bỏ ra đầu tư cho GOLDMAN SACHS một lượng vốn lớn 5 tỉ đo la. Đây là điểm lạc quan cho Thị trường
=> Vốn của một số Ngân Hàng lớn của Nhật nhằm đầu tư vào các Ngân Hàng Mỹ
=> Khối vốn A-Rập từ Dubai không trực tiếp vào thẳng Mỹ, nhưng qua ngả Anh (BARCLAYS) nhằm mua những Ngân Hàng Mỹ.
Đây là khía cạnh tích cực cho Thị trường Wall Street. Đứng về phương diện này, các Nghị sĩ có thể nghĩ rằng phải tìm các ngăn chặn việc xâm chiếm những Ngân Hàng Mỹ bằng vốn nước ngoài, nhất là vốn từ Trung đông.
Thượng Nghị sĩ McCAIN cắt ngang cuộc Tranh cử Tổng thống để trờ về Washington vì Plan Bailout US$ 700 Ti. Chính Tổng thống BUSH cũng mời Oâng OBAMA cùng về Washington để thảo luận về Chương trình 700 tỉ. Từ London, Thủ tướng Anh cũng sang Washington vì Plan Bailout 700 tỉ đo la này.
Đêm Thứ TƯ 24.09.2008, Tổng thống BUSH ngỏ lời với Quốc Dân Hoa kỳ về tầm quan trọng của PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ. Tổng thống nhấn mạnh đến những điểm sau đây:
=> Oâng khẳng định lại rằng chính Oâng luôn luôn chủ trương nền Kinh tế Tự do. Các Ngân Hàng sống chết theo luật đào thải.
=> Tuy nhiên Oâng bầy tỏ sự lo lắng cuộc Khủng hoảng này lan sang Khung hoảng Kinh tế với những nguy hiểm, tình trạng thất nghiệp xẩy ra. Đó là lý do chính để phải đưa ra Chương trình Cứu Vớt 700 tỉ do-la.
Cũng trong ngày hôm nay, Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố cũng cắt nghĩa thêm cho sáng tỏ về tính cách Thương mại của 700 tỉ đo-la:
=> Mua lại những sản phẩm tài chánh xấu đang ở giá thấp hiện hành
=> Mua với giá cao hơn gia hiện hành một chút. Như vậy làm cho giá thị trường theo chiều hướng tăng lên
=> Khi tăng lên rồi, có thể bán, như vây thu lại tiền mà không thiệt hại gì cho dân chúng đóng thuế.
Tình hình chiều nay hồi 18H00 (Giờ Thụy sĩ) Thứ NĂM 25.09.2008
Khi viết đến đây, tôi thấy trên Đài CNN thông tin với hình của một số Nghị sĩ:
=> Nghị sĩ Chris DODD, Dân chủ: ủng hộ Chương trình
=> Nghị sĩ Robert BENNET, Cộng Hòa: ủng hộ Chương trình
=> Dân Biểu Barney FRANK, Dân chủ: ủng hộ Chương trình
Tin của Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 loan như sau:
06:16 25.09.2008: Plan Paulson: démocrates et républicains se sont mis d'accord
Les démocrates et les républicains du Congrès américain sont d'accord sur les bases du plan de sauvetage financier présenté par l'administration Bush, a déclaré l'un des responsables démocrates. Ce dossier porte sur 700 milliards de dollars.
06:16 giờ/ 25.09.2008 (Chương trình Paulson: dân chủ và cộng hòa cùng nhau đồng ý
Một trong những người Trách nhiệm của phía Dân chủ tuyên bố rằng phía Dân chủ và phía Cộng hòa của Quốc Hội Mỹ đồng ý trên những căn bản của Chương trình cứu vớt tài chánh đề nghị bởi Chính quyền Bush. Hồ sơ này gồm 700 tỉ đo la.)
Chúng tôi vừa vào Đài Truyền Hình CNBC và nhận thấy những Chĩ sớ quan trong của Wall Street mang màu xanh mũi tên đang lên.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 05:
LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE) CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 02.10.2008
Vào tháng 10 năm ngoái 2007, khi viết về những triệu chứng Lạm phát trong những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi đã dựa trên những bài viết của những Nhà Kinh tế chuyên nghiệp, những Giáo sư Kinh tế như Alain FAUJAS, Florin AFTALION đăng trong nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với những đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm Phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển); (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER (Lạm Phát phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả khi Chính trị có thể chuộng nó); (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh hoạn vì vật giá tăng).
Kinh tế gia Alain FAUJAS đã khẳng định như sau:”Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois ou vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit de plein fouet des prix arbitraires” (LE MONDE, Mercredi 31.10.2007, page 13) (Khi có xâm lấn chính trị (các đảng Cộng sản Trung quốc hay Việt Nam) vào thương mại, tài chánh và kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng tay những giá cả độc đoán).
Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài: ”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, p. 2) (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Sau khi viết xong loạt bài này, thì đầu năm 2008, tình hình Lạm phát bùng nổ ở Việt Nam với mức cao đặc biệt. Vật giá tăng vọt và Dân nghèo khổ cực. Nhà nước ồn ào đưa ra những biện pháp chống Lạm phát. Thế rồi sau hồi ồn ào với những biện pháp để mỵ dân, Dân nghèo vẫn tiếp tục sống trong khổ cực vì vật giá, nhưng Nhà nước yên tiếng không và người ta không biết kết quả của những biện pháp chống Lạm phát ra sao.
Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế tại Việt Nam bùng nổ từ đầu năm 2008. Rồi ngày nay, cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế đang diễn ra trầm trọng từ Hoa kỳ, Liên Aâu và toàn Thế giới, chắc chắn mang ảnh hưởng tàn phá thêm đến Tài chánh/Kinh tế Việt Nam.
Bài QUAN ĐIỂM thứ 5 trong loạt bài Chủ đề này chỉ hạn hẹp vào Lạm phát ở phương diện Tiền tệ. Chúng tôi bàn tới những khía cạnh sau đây:
=> Tình trạng Lạm phát là như thế nào
=> Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ và Đời sống Kinh tế thực
=> Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) ở Việt Nam
=> Lạm phát Tiền tệ được che chở ở một Nhà Nước dộc tài nắm Độc quyền Kinh tế Tình trạng Lạm phát là như thế nào
Tình trạng Lạm phát có thể được định nghĩa theo những góc nhìn khác nhau. Giáo sư Joseph DEISS là cựu Bộ trưởng Kinh tế và cựu Tổng Thống Thụy sĩ. Chúng tôi đưa ra những định nghĩa của Gs Joseph DEISS vì cũng là đồng nghiệp của chúng tôi (Trích trong cuốn ANALYSE ECONOMIQUE DE LA SUISSE, Collection Vie et Economie, Edition Fragnìeres Suisse 1982).
Đứng về Thị trường tiêu thụ thực của Sản phẩm, thì “L’inflation est une situation de déséquilibre: il y a inadaptation entre l’offre et la demande de biens et de services“ (Lạm phát là tình trạng mất thăng bằng: một việc không cân xứng giữa cung và cầu cũa hàng hóa và dịch vụ).
Đứng về liên quan đến Tiền tệ, thì “L’inflation est un processus de hausse des prix. La monnaie se déprécie par rapport aux marchandises et elle perd une partie de son pouvoir d’achat. (Lạm phát là một tiến trình tăng giá cả. Tiền tự mất giá so với hàng hóa et đồng tiền mất một phần khả năng mua bán hàng của nó.)
Như đầu đề của Bài đã hạn định, chúng tôi chỉ quan tâm đến câu định nghĩa thứ hai về Lạm phát trong tương quan giữa Tiền tệ và Hàng hóa Kinh tế thực. Chính mối tương quan này mà chúng ta phải tìm hiểu Lạm phát Tiền tệ đã dự phần vào Lạm phát tổng quát ở Việt Nam như thế nào.
Chúng tôi muốn lấy một tỉ dụ nôm na cho dễ hiểu tình trạng Lạm phát liên quan đến Tiền tệ. Người Công nhân lĩnh lương được 150'000 đồng. Anh dành ra 40'000 đồng để mỗi sáng đi ăn phở. Đầu năm, giá tô phở là 2'000 đồng. Như vậy là anh có thể ăn được 20 tô phở. Phở là hàng hóa thực của Kinh tế. Đến giữa năm, giá mỗi tô phở là 4'000 đồng. Lương của anh vẫn giữ nguyên 150'000 đồng/ tháng và anh vẫn chỉ có thể dành ra 40'000 đồng để ăn phở Như vậy lúc này, anh chỉ có thể mua được có 10 tô phở. Nếu việc sản xuất phở giảm lượng đi, thì đó là Lạm phát của đời sống Kinh tế thực. Nhưng nếu việc sản xuất lượng phở vẫn như cũ, thì việc Lạm phát này có hai lý do: một là người bán phở tăng giá vì tình trạng Kinh tế chung hoặc là do đầu cơ; hai là số Tiền 40'000 đồng anh đang cầm đã mất giá, nghĩa là không còn khả năng mua phở như đầu năm.
Chính ở khía cạnh mất giá đồng tiền này mà chúng tôi đi tìm những lý do cho Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire). Cái việc mất giá đồng tiền này không phải là do anh làm. Vậy thì do ai ?
Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ và Đời sống Kinh tế thực
Có hai giai đoạn đưa ra những Lý thuyết cắt nhgĩa tương quan giữa đồng Tiền (tờ giấy 1'000 đồng chẳng hạn) và Đời sống Kinh tế với hàng hóa thực (tô phở chẳng hạn). Không ai nhai tờ giấy 1'000 đồng để bụng khỏi đói. Nhưng ăn tô phở thì bụng hết đói. Việc hết đói là đời sống kinh tế thực, trong khi ấy tờ giấy 1'000 đồng chỉ là phương tiện mua tô phở. Vì vậy, người ta phân biệt ra hai Lãnh vực: Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực và Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh. Hai Lãnh vực có những liên hệ như thế nào ?
=> Lý thuyết Định Lượng Tiền bạc (Théorie Quantitative de la Monnaie)
Đây là Lý thuyết đơn giản và tiên khởi cắt nghĩa tương quan giữa Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh và Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực. Lý thuyết được đưa ra đầu tiên ở Thế kỷ XVIII bởi David HUME và Richard CANTILLON. Theo hai tác giả này, thì nếu tăng gấp đôi lượng tiền cho một cộng đồng Kinh tế, thì tức khắc vật giá sẽ tăng lên gấp đôi. Nhưng phải đợi đến cuối Thế kỷ XIX và đầu Thế kỷ XX, thì Irving FISHER mới đưa ra Công thức sau đây:
M.V -------- = P T
M : Lượng Tiền thả ra cho cộng đồng Kinh tế; V : Tốc độ lựong Tiền lưu hành; T: Những sản phẩm thực Kinh tế lưu hành trong Cộng đồng; P: Mức tổng quát giá cả.
Cứ theo Công thức của FISHER, thì nếu lượng tiền lưu hành (M.V) không thay đổi, mà Lượng hàng hóa lưu hành (T) sút kém, thì Vật giá tổng quát (P) tăng lên. Đây là Lạm phát thực. Nhưng nếu mức sản xuất và lưu hành hàng hóa giữ nguyên, mà vì lý do nào đó Lượng Tiền lưu hành tăng lên, thì Vật giá tổng quát (P) cũng tăng lên. Đây là Lạm phát về phía Tiền tệ. Việc tăng Lượng Tiền có thể do việc tung ra cộng đồng một số Tiền mới in, hoặc do việc tăng tốc độ lưu hành Tiền tệ (V). Tỉ dụ bình thường Công nhân lĩnh lương tháng. Nhưng nếu áp dụng việc trả Lương tuần (như bên Mỹ), thì tốc độ lưu hành Tiền sẽ được nhân tăng lên.
=> Lý thuyết Hội nhập Tiền tệ (Théorie de l’Intégration Monétaire)
Từ J.M.KEYNES, nhất là Milton FRIEDMAN, trường phái Chicago, thì Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh không đứng ngoài Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực như khách bàng quan. Phải có một sự Hội nhập Tiền tế, Tài chánhä vào Lãnh vực Đời sống Kinh tế để lượng tiền mới mang một giá trị mua bán. Chu trình Hội nhập như sau:
Đồng Tiền mới in ra từ Ngân Hàng Phát Hành (Trung ương) chưa mang giá trị mua bán. Đó chỉ là một mảnh giấy không hơn không kém. Đồng Tiền ấy phải qua hệ thống sản xuất dưới dạng trả lương cho Công nhân chẳng hạn. Công nhân nhận được đồng Tiền. Đây là đồng Tiền bắt đầu có giá trị mua bán. Khi hàng hóa sản xuất thực được đưa ra Chợ, Công nhân mang đồng Tiền đến mua hàng hóa, thì có sự tương đương của đồng Tiền với Hàng hóa. Khi có sự tương đương như vậy, thì đây là đồng Tiền thực, có giá trị mua bán.
Chính đời sờng sản xuất Kinh tế thực đã mang lại cho tờ giấy Tiền lúc ban đầu có một giá trị (Pouvoir d’Achat).
Bây giờ nếu vì một lý do nào đó, Ngân Hàng Phát Hành in ra một lượng Tiền mới tinh mà không cho lượng tiền mới ấy vào Chu trình Hội nhập, thì lượng Tiền mới này củng chỉ là mớ giấy chưa có giá trị mua bán (Pouvoir d’Achat). Nếu Nhà Nước đem số Tiền mới in này thả đại vào Lượng Tiền đang lưu hành, thì đó là hành động lưu manh đánh lận con đen pha lộn Tiền thực (đã Hội nhập) và Tiền chưa có khà năng Kinh tế (chưa Hội nhập). Đây là hành động ăn ướp giá trị Tiền thực của Công nhân... Khối Tiền đã Hội nhập cộng chung với Khối Tiền chưa Hội nhập làm cho Vật giá tăng lên, nghĩa là Tiền mất giá. Đây là hành động ăn cướp Tiền tệ phải xử tử hình theo Luật Tiền tệ.
Một Nhà Nước tự động tăng lượng Tiền mới chưa Hội nhập Kinh tế là Nhà Nước đáng phải chịu tội tử hình này.
Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) ở Việt Nam
Theo những lý luận trên đây, nhất là việc Hội nhập Tiền tệ, chúng ta xem đâu là cái phần Lạm phát Tiền tệ làm cho tình trạng Lạm phát ở Việt Nam trở thành trầm trọng. Cái phần này làm cho đồng Tiền Việt Nam mất giá. Trước khi nói đến tình trạng Lạm phát Tiền tệ ở Việt Nam, chúng tôi đưa ra những tỉ dụ lạm phát có tính cách Lịch sử.
Xin nhắc lại lời khẳng định của Giáo sư Florin AFTALION về những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:
”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Vào những thập niên 1980, tình trạng Lạm phát Tiền tệ lan tràn tại Phi Châu và Nam Mỹ. Lạm phát Tiền tệ ở Ba Tây lên tới mức 1000% vào thập niên 1980.
Tỉ dụ một Sĩ quan cấp Tá từ trong rừng tại Phi châu, dẫn quân về Thủ đô làm Đảo chánh (Cách Mạng). Trong tình trạng chiến tranh dành quyền hành, nền Kinh tế thực không tăng mà còn tụt dốc, nghĩa là số lượng hàng hóa(T) giảm hẳn. Nhưng Oâng Tá ấy lên làm Nguyên Thủ Quốc gia, bây giờ phải nuôi quân sĩ và nuôi công chức. Làm thế nào để trả lương hàng tháng. Oâng đến Ngân Hàng Phát Hành và yêu cầu Thống Đốc in cho 10 tỉ đơn vị tiền hiện hành. Oâng Thống Đốc thấy đây là trái nguyên tắc phát hành Tiền tệ. Nhưng Oâng Tá Nguyên Thủ Quốc kề súng lục vào màng tai Thống Đốc. Thế là 10 tỉ tiền mới được in ra để Oâng Tá trả ương lính và công chức. Tỉ dụ khối Tiền đã hội nhập (M.V) và có giá trị mua bán hiện giờ là 5 tỉ và lượng hàng hóa sản xuất và lưu hành (T) là 20'000'000 đơn vị. Vật giá tổng quát (P) được tính hiện hành với khối tiền đã hội nhập kinh tế như sau:
M.V 5'000'000'000 đơn vị tiền --------- = P = ---------------------------------- = Giá = 250 đơn vị tiền cho 1 đơn vị hàng T 20'000'000 đơn vi hàng
Nhưng vì tình trạng chiến tranh, Đảo Chánh, Cách Mạng, nên số lượng hàng sản xuất và lưu hành giảm xuống chỉ còn 10'000'000 đơn vị. Đồng thời Oâng Tá thả trực tiếp (không Hội nhập Kinh tế) số tiền mới in 10 tỉ vào cộng đồng Kinh tế qua ngả trả lương trực tiếp cho lính và công chức. Giá tổng quát của Thị trường sẽ lạm phát như sau:
M.V 15'000'000'000 đơn vị tiền --------- = P = ---------------------------------- = Giá = 1’500 đơn vị tiền cho 1 đơn vị hàng T 10'000'000 đơn vi hàng
Lạm phát tổng quát tăng 500%. Nếu không tăng lượng tiền mới in ra và nếu chỉ có giảm lượng hàng, thì lạm phát chỉ tăng 200%. Như vậy trong 500% Lạm phát tổng quát, Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) là 300%. Cái Lạm phát 200% là do yếm kém Kinh tế.
Qua tỉ dụ tính toán trên đây, chúng ta có thể nói rằng tình trạng Lạm phát ở Việt Nam đặc biệt cao hơn các Quốc gia trong vùng mặc dầu cùng ở trong hoàn cảnh Kinh tế chung như nhau. Việc lạm phát cao trội đặc biệt này ở Việt Nam đến từ hai phía:
* Về sản xuất Kinh tế thực sự: yếu kém từ những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ lo tham nhũng, lãng phí mà không lo tăng năng suất hoạt động trong ngành nghiệp. Các Tập đoàn này làm những việc bên lề như dùng vốn chơi chứng khoán chẳng hạn.
* Về phía Tiền tệ: đó là sự phát hành không Hội nhập Kinh tế những phương tiện Tiền tệ:
=> Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam theo lệnh của quyền lực Chính trị độc tài, cho in Tiền mới ra (chưa Hội nhập Kinh tế) để thả vào Lượng Tiền thực đã Hội nhập. Đây là việc làm cướp bóc Tiền thực của người dân đã kiếm được qua Hội nhập Kinh tế (Tiền lương). Hành động này là hành động ăn cướp đáng tội tử hình. Nếu chúng ta lưu ý đến những vụ đổi Tiền ở Việt Nam, thì đây cũng là dịp để ăn cướp Tiền thực có giá trị mua bán hàng hóa.
=> Hệ thống Ngân Hàng Thương mại không phát hành Tiền công khai (Billets de Banque) như Ngân Hàng Nhà Nước, nhưng lại phát hành Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) như Credit Cards, Cheques, Letter of Credit, Promissory Notes, Bank Guarantees, Standby Letter of Credit. Đây là những phương tiện mua bán giống như Tiền tệ. Khi các Ngân Hàng Thương Mại phát hành bừa bãi Tiền tệ tương lai (Virtual Money) chưa có hiện thực để tiêu dùng cho hàng hóa hiện tại như vậy, thì đó là nguồn làm tăng Khối Tiền đang lưu hành và do đó làm Lạm phát Tiền tệ. Việc phát hành này còn tệ hơn nữa khi mà những Ngân Hàng Thương mại lại thiếu phần tiền cọc tối thiểu bảo chứng. Tôi xin kể ra tỉ dụ cụ thể: cách đây 5 năm, tôi nhận được một tờ Bảo Lãnh Ngân Hàng (Bank Guarantee) phát hành bởi Ngân Hàng Hàng Hải Việt Nam. Tờ Bảo Lãnh trị giá tiền mặt (Face Value) là USD.300'000'000.-, trong khi đó tôi biết vốn của Ngân Hàng này chưa tới USD.10'000'000.- Tờ Bảo Lãnh được chuyển qua Texas cho một Công ty Mỹ gốc Việt, rồi chuyển qua California. Từ California, tờ Bảo Lãnh được chuyển về Tân Đề Li cho một Công ty Tài chánh Aán độ. Công ty này chuyển sang Geneva cho tôi để nhờ tôi lo liệu đầu tư vào Chương Trình Lợi Nhuận Cao. Việc phát hành này làm tăng Khối Tiền và tất nhiên đưa đến Lạm phát Tiền tệ, nếu chúng ta xử dụng mua bán trong Lãnh vực Kinh tế thực sự.
Lạm phát Tiền tệ được toàn quyền áp dụng trong CƠ CHẾ Chính trị độc tài nắm Độc quyền Kinh tế
Như trong phần trên, chúng ta đã thấy việc Lạm phát Tiền tệ do quyết định dộc đoán của một Oâng Tá nắm quyền là hành động ăn cướp Tiền bạc của giới làm Kinh tế lương thiện, nhất của giới lao động bán sức lực mình đổi lấy đồng Tiền thực.
Việc cướp bóc qua Lạm phát Tiền tệ như vậy rất khó thấy cho Dân chúng. Làm thế nào Dân cầm Tiền đã Hội nhập Kinh tế phân biệt được với đồng Tiền mới in ra trái phép do Nhà Nước tung ra. Việc này khó thấy ngay trong một Thề chế có Dân chủ, cho Tự do Báo chí.
Nếu trong một CƠ CHẾ do Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế, lại không cho Tự do Báo Chí, thì làm thế nào mà Dân chúng nhìn thấy những cuộc ăn cướp khổng lồ qua Lạm phát Tiền tệ. Không thể tin lời hứa CSVN không làm Lạm phát Tiền tệ.
Lãnh vực Tiền tệ là Lãnh vực không thể làm việc với lòng tin tưởng. Trai gái yêu nhau, thề nguyền chung sống như hình với bóng, thậm chí thề hứa chết cho nhau. Nhưng khi cưới nhau, thì phải ký giấy Tiền anh, anh tiêu và Tiền em, em tiêu (Séparation des biens) không còn tin nhau nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 03:
CẢNH CÁO TỘI HÌNH CSVN: ĐỪNG LÀM LẠM PHÁT TIỀN TỆ ĂN CƯỚP NỮA
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 09.10.2008
Trên bất cứ tờ giấy bạc nào của Thụy sĩ, đều đề rõ rệt câu sau đây:”Les Billets de Banque sont protégés par le Droit Pénal” (Những giấy bạc Ngân Hàng được che chở bởi Hình Luật). Nếu Nhà Nước bắt được ai in bạc giả, người đó bị xử theo Hình Luật tới án tử hình.
Chính theo tinh thần này mà chúng tôi viết lời Cảnh Cáo Nhà nước CSVN. Dân có quyền đòi hỏi xử án Nhà Nước nếu Nhà Nước tự động in giấy bạc mới không có bảo chứng Kinh tế để pha trộn với giấy bạc đã được bảo chứng bằng sức làm việc của người Dân.
Chúng tôi đã viết bài về Lạm phát Tiền tệ in kèm dưới đây. Trong tình hình Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện giờ và trong tình trạng thiếu vốn của Kinh tế Việt Nam lúc này, Nhà Nước có thể tự động quyết định in thêm giấy bạc chưa được bảo chứng để xử dụng, pha trộn với giấy bạc đã mang giá trị tiêu dùng (Billets portant du Pouvoir d’Achat). Giấy bạc mới in ra, chưa qua hệ thống bảo đảm Kinh tế, chỉ là mảnh giấy không có giá trị mua bán (Sans Pouvoir d’Achat). Việc tung những giấy bạc này vào khối tiền đang lưu hành là hành động ăn cướp mồ hôi nước mắt Dân.
Chúng tôi viết lời Cảnh Cáo vì thấy rằng hoàn cảnh đang đẩy Nhà Nước Việt Nam độc tài vào con đường ăn cướp, bất công này với phương tiện phát hành Tiền tệ từ quyết định Chính trị độc đoán nằm trong tay mình. Những ý do như sau:
1) Trong tình trạng Lạm phát, Nhà Nước coi như khối Tiền lưu hành quá nhiều, nên muốn thâu và thắt chặt khối tiền về. Khối tiền lưu hành trước đây quá lớn theo nhận định của Nhà Nước, nhưng sự tăng phồng đó, một phần là do số ngoại tệ, nhưng một phần cũng là do Nhà Nước đã làm Lạm phát Tiền tệ do việc in giấy bạc chưa bảo chứng tung ra.
2) Nhà Nước quyết định tăng Lãi suất lên cao quá độ. Việc đánh lên Lãi suất như vậy có hai hậu quả: (i) Nhà Nước muốn dụ Dân tăng Tiết kiệm để gửi Tiền vào Ngân Hàng; (ii) Nhưng việc tăng Lãi suất cao như vậy lại làm cho Thị trường thiếu vốn vì giá thuê vốn lên quá cao. Phương diện thứ hai này đang tàn phá các Doanh Nghiệp (trừ doanh nghiệp Nhà Nước lấy vốn chùa do Nhà Nước cung cấp). Các doanh nghiệp thiếu vốn và đang đi đến phá sản. Đây là tình trạng mà chính Nhà Nước công nhận.
3) Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay mang đến cho Việt Nam hai hậu quả:
a) Vì Khủng hoảng, Hoa kỳ và Liên Aâu cũng như những nước Á châu sẽ giảm tiêu thụ, giảm mua hàng từ Việt Nam. Xin lưu ý rằng hoạt động Kinh tế của Việt Nam là nhằm xuất cảng (70%) ra nước ngoài, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Vì vậy hoạt động của những Xí nghiệp sản xuất sẽ giàm hẳn xuống.
b) Việc phát triển Kinh tế Việt Nam dựa chính yếu trên vốn đầu tư nước ngoài. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đang làm khan hiếm vốn tại chính nước ngoài: Hoa kỳ, Liên Aâu hay những nước trong vùng. Như vậy việc khan hiếm vốn nội địa do quá tăng Lãi suất cộng thêm với việc khan hiếm vốn nước ngoài do Khủng hoảng Tài chánh sẽ làm cho Kinh tế Việt Nam hoàn toàn thiếu vốn.
Chúng tôi trích ra đây lời nhận xét của Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc:
“Les investissements étrangers qui se sont déversés sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15).
(Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)
Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng.
Nhận xét này rất giống cho tình trạng ở Việt Nam. Vốn nước ngoài đã đổ vào Việt Nam làm việc. Kinh tế Việt Nam làm việc 70% cho xuất cảng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng Tài chánh hiện nay làm cho Việt Nam thiếu vốn và làm giảm xuất cảng hàng ra nước ngoài. Các Xí nghiệp phá sản vì thiếu vốn và thiếu khách đặt mua hàng. Nhân công từ các vùng quê kéo về thành thị để làm việc trong các xí nghiệp. Bây giờ sa thải họ và phải đẩy họ trở lại những vùng quê nghèo nàn. Việc xáo trộn xã hội không thể tránh được.
Tình trạng thiếu vốn nước ngoài, khan hiếm (mắc mỏ) vốn nội địa và giảm sút đặt mua hàng của nước ngoài sẽ đưa đến phá sản những xí nghiệp. Kinh tế suy thoái sẽ đưa đến tình trạng thiếu hụt số thu cho Nhà Nước. Cộng thêm vào đó, lại có tình trạng mất cân bằng cán cân thương mại do nhập siêu quá nhiều. Đồng thời Nhà Nước đang phải gánh vác số chi khổng lồ cho những lãng phí từ các Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ đợi sự cung cấp vốn từ Nhà Nước.
Ngân sách của Nhà Nước tất nhiên thiếu hụt. Nhà Nước bị đẩy đến tình trạng phải tìm đủ mọi cách để có đủ Ngân sách chi tiêu. Nhà Nước trong những năm trường đã mang những món nợ lớn đối với nước ngoài, nên việc vay mượn thêm không phải là dễ dàng.
Với tình trạng như vậy, Nhà Nước độc tài nghĩ đến việc phát hành Tiền tệ mới để tiêu dùng. Đây là việc Lạm phát Tiền tệ mà chúng tôi đã viết dài đính kèm dưới đây.
Chúng tôi xin nhắc lại đây lời của Giáo sư Florin AFTALION, người đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài: ”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, p.2). (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Chúng tôi viết bài Cảnh Cáo Nhà Nước CSVN vì thấy tình trạng chung Kinh tế và Tài chánh đang đẩy CSVN độc tài đến việc phạm cái TỘI LỖI Lạm phát Tiền tệ này. Tội này phải được xử theo Hình Luật.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 06:
SỰ YẾU KÉM NĂNG SUẤT (FAIBLE PRODUCTIVITE) CỦA NHỮNG CÔNG TY QUỐC DOANH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 16.10.2008
Đơn vị tạo phát triển Kinh tế Quốc gia đồng thời tạo công ăn việc làm cho nhân lực là những Công ty, nhỏ hay lớn. Tại Việt Nam, những Tập đoàn Kinh tế lớn nằm trong tay Nhà Nước. Một số những Công ty nhỏ hay trung bình có nằm trong tay tư doanh đi nữa, thì cũng bị ràng buộc rất nhiều vào những Tập đoàn Kinh tế Nhà nước nắm những đặc quyền khai thác hay xuất nhập cảng.
Bài QUAN ĐIỂM này muốn cho thấy sự yếu kém Năng suất (Faible Productivité) của những Công ty quốc doanh, nhất là lại ở dưới quyền lực độc tài của Nhà Nước. Khi mà 80% hoạt động Kinh tế nằm trong hệ thống quốc doanh dưới quyền quyết định độc tài của Chính trị, thì sự yếu kém Năng suất còn trở thành trầm trọng hơn nữa. Hội nhập vào Thế giới Kinh tế cạnh tranh với Năng suất yếu kém, Việt Nam khó lòng theo kịp đà phát triển Kinh tế chung.
Bài được trình bầy với những điểm sau đây: => Công ty tư bản và Năng suất => Năng suất theo phương tiện sản xuất => Năng suất theo lợi nhuận kinh tế
Công ty tư bản và Năng suất
Một Công ty tư bản được định nghĩa như sau: “Công ty là một tổ chức, tự lập về tài chánh, giới thiệu những sản phẩm kinh tế ở thị trường cạnh tranh tiêu thụ để bán, nhằm thu vào lợi nhuận tối đa“ (L’entreprise est une organisation, financìerement autonome, qui présente au marché concurrentiel de consommation des biens économiques en vue d’obtenir du bénéfice maximal).
Từ định nghĩa này, chúng ta rút ra những đặc tính căn bản sau đây của một Công ty tư bản:
=> Một TỔ CHỨC (Organisation)
Một tập hợp nhiều người chưa hẳn đã được gọi là có tổ chức. Thực vậy để có thể gọi là một tổ chức, phải tuần tự hội đủ những việc làm: * Xác định rõ Mục đích dài hạn và ngắn hạn để đạt tới (Fixer Objectifs a atteindre) * Phân công làm việc (Diviser des travaux) * Điều hợp những công tác (Coordonner des travaux). * Kiểm soát những thực hiện qui chiếu với mục đích (Controler des exécutions par rapport aux objectifs)
Chính những mục đích Kinh tế độc lập của Công ty hướng dẫn những quyết định về tổ chức chứ không phải những mệnh lệnh ngoại tại, nhất là từ chính trị.
=> Tự lập về Tài chánh ( Autonomie financìere)
Muốn có độc lập thì phải có tự lập về tài chánh. Nếu Công ty phải hoàn toàn lệ thuộc vào tài chánh ngân hàng, thì không thể có độc lập để quyết định về những mục đích và ngay cả trong việc tổ chức nhân sự trong Công ty. Nếu tài chánh là do Nhà Nước cung cấp, thì Công ty phải theo quyết định của Chính trị Nhà Nước. Một Công ty tư bản luôn luôn dành ra mỗi năm một số vốn trích từ tiền lời để tạo cho mình sự tự lập về Tài chánh.
=> Làm việc cho Thị trường Cạnh tranh Tiêu thụ (Marché concurrentiel de consommation)
Công ty sản xuất hàng hóa không phải là để cất kỹ hàng trong kho, mà là mang ra Thị trường để bán. Đây là một Thị trường cạnh tranh, nghĩa là có nhiều những Công ty khác cũng mang hàng tới và khách hàng tiêu thụ có toàn quyền lựa chọn hàng hóa.
=> Những Sản phẩm kinh tế (Biens économiques)
Công ty không thể sản xuất bất cứ cái gì, mà là sản xuất những hàng kinh tế. Gọi là một sản phẩm kinh tế, phải có những điều kiện sau đây:
* Tính cách hữu dụng (Utilité): Món hàng nhằm một sự hữu dụng nào trong việc thỏa mạn những nhu cầu của con người (Besoins humains)
* Tính cách hiếm hoi (Rareté): Làm thế nào hàng của mình khác với hàng của các Công ty khác. Tính cách hiếm hoi này làm cho món hàng có giá trị nội tại (Valeur en soi)
* Tính cách trao đổi (Echangeabilité): Món hàng nhằm thị hiếu để có người muốn mua. Đây là giá trị trao đổi (Valeur d’échange)
=> Lợi nhuận tối đa (Bénéfice maximal)
Tất cả những đặc tính trên đây mà Công ty phải tổ chức sản xuất cho hữu hiệu, phải có tự lập về tài chánh để phát triển mọi khả năng kinh tế, phải học hỏi về Thị trường để có thể cạnh tranh, phải chi tiêu căn cơ, đều nhằm vào mục đích tối hậu là thu vào được LỢI NHUẬN TỐI ĐA.
Một số nhà đạo đức, luân lý, tôn giáo hay xã hội chủ nghĩa công kích khía cạnh này của Công ty tư bản. Nhưng những nhà Kinh tế tư bản nói rằng họ phải kiếm Lợi nhuận tối đa trước đã, rồi sau đó mới có tiền, có phương tiện vật chất để thực hiện mục đích đạo đức, luân lý, tôn giáo hay giúp xã hội. Phải thu vào Lợi nhuận tối đa để cho Công ty sống, để bào đảm công ăn việc làm cho nhân lực tham dự vào tổ chức.
Chúng tôi trình bầy những đặc tính trên đây của một Công ty tư bản tư doanh để xét xem Công ty quốc doanh có thể thực hiện được những điều kiện đặt ra cho một Công ty tư bản tư doanh hay không.
Năng suất (Productivité) là chỉ số đo lường tính cách Hữu Hiệu (Efficacité) của việc xử dụng một phương tiện sản xuất trong một đơn vị thời gian nhất định hay đo lường về hiệu quả tổng quát của Chi tiêu cũng trong một thời gian nhất định. Yếu tố thời gian rất quan trọng trong việc tính Năng suất. Tỉ dụ công nhân A sản xuất được 5 đơn vị hàng; nhân công B cũng sản xuất được 5 đơn vị hàng. Người ta không thể nói được nhân công A hữu hiệu hơn nhân công B. Nhưng nếu biết thời gian sản xuất của mỗi nhân công, tỉ dụ nhân công A chỉ cần một ngày còn nhân công B phải mất 3 ngày, thì lúc đó chúng ta mới có thể nói rằng Năng suất của nhân công A lớn hơn năng suất của nhân công B.
Cũng vậy nếu cùng một số vốn xử dụng là 1'000 đồng, ông A và ông B cùng mang lại lợi nhuận là 100 đồng, người ta không biết ông A hữu hiệu hơn ông B hay không. Nhưng nếu biết rằng ông A kiếm lợi nhuận 100 đồng trong 1 tuần, còn ông B phải mất một tháng, thì lúc ấy người ta mới nói rằng Năng xuất xử dụng vốn của ông A lớn hơn Năng suất xử dụng vốn của ông B.
Chúng tôi sẽ xét về Năng suất của Công ty quốc doanh dưới hai lãnh vực: (i) Lãnh vục sản xuất từ những phương tiện làm việc mà Công ty xử dụng ; (ii) Lãnh vực thu Lợi nhuận từ những hoạt động của Công ty.
Năng suất theo phương tiện sản xuất
Các nhà Kinh tế thường tóm tắt những phương tiện sản xuất qua công thức dưới đây:
Q = f ( K, L, t)
Q: Lượng sản phẩm làm ra tùy thuộc vào việc xử dụng hai phương tiện K và L
K: Số vốn xử dụng (Capital). Số vốn này không được hiểu chỉ là tiền mặt, nhưng là tất cả những phương tiện xử dụng ngoài nhân lực, như máy móc, đồ dùng...
L: Nhân lực xử dụng (Force de travail/ Labour). Nhân lực này có thể là bắp thịt, có thể là đầu óc.
t: Kỹ thuật hội nhập vào phương tiện máy móc, đồ dùng hay vào nhân lực bằng kinh nghiệm, huấn luyện...
Một số người muốn thêm phương tiện đất đai (T), nhưng ngày nay phương tiện này coi như thứ yếu.
Như chúng tôi đã cắt nghĩa ở phần trên, khi tính Năng suất, phải có yếu tố thời gian cho việc xử dụng mỗi phương tiện sản xuất.
Nếu lấy tổng lượng hàng sản xuất chia cho mỗi phương tiện, chúng ta chỉ được sản lượng trung bình cho mỗi đầu người hay mỗi đơn vị vốn xử dụng, nhưng đó chưa phải là Năng suất. Năng suất được tính theo:
Q ------------------ = Năng suất xử dụng vốn K x thời gian
Q ------------------- = Năng suất nhân lực L x thời gian
Các nhà Kinh tế đã so sánh Năng suất xử dụng nhân lực và Năng suất xử dụng vốn giữa hai hệ thống Kinh tế: Kinh tế Trung ương Tập quyền/Chỉ huy và Kinh tế Tự do/Thị trường. Ơû hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền/Chỉ huy, Năng suất của mọi phương tiện xử dụng sản xuất đều thấp kém đối hệ thống Kinh tế tư doanh Tự do/Thị trường bởi những lý do chính yếu như sau:
=> Đối với nhân lực: * Thiếu yếu tố kích thích làm việc. Trong những Công ty Nhà Nước, nhân lực làm việc không có sự tự động cố gắng, mà làm theo lệnh, theo kiểm soát. Từ đó nhân lực dễ đi đến tình trạng lẻn lút hối lộ để tránh né công việc. Trong những chế độ độc tài chỉ huy Kinh tế, thay vì lợi nhuận là yếu tố kích thích, Nhà Nước thường áp dụng những bằng Khen Thưởng. Nhưng đây không phải là yếu tố kích thích thực tiễn cho những nhân công cần tiền bạc để sống. Hệ thống Kinh tế tư nhân Tự do/Thị trường lấy tiền bạc để kích thích thì thực tế hơn. Một người chơi Thể thao như Tennis chẳng hạn. Khi họ thắng thì muốn lãnh bao nhiêu tiền cho riêng họ, chứ không cần chỉ với tấm bằng Khen Thưởng suông. * Trong trường hợp thiếu trách nhiện thi hành công việc, chế độ Công ty quốc doanh xử dụng khiển trách, phạt kỷ luật, nhưng chế độ tư doanh xử dụng đơn giản là đuổi việc để chế tài. Đuổi việc cũng là xử dụng trừng phạt bằng đồng tiền mà nhân công đang muốn có. * Ở những Công ty Nhà Nước, nhất là trong chế độ độc tài, nhân lực làm việc theo chỉ thị vì ngại sợ kỷ luật trừng phạt nếu sáng kiến cá nhân có những va chạm với cấp trên trong tổ chức. Trong hệ thống Kinh tế tư nhân Tự do/Thị trường, nhân lực được khuyến khích có những sáng kiến cá nhân để kiện toàn công việc cho mau chóng. Đây là phương diện làm cho Năng suất nhân lực mỗi ngày mỗi tăng.
=> Đối với Vốn xử dựng: Chúng tôi xin nhắc lại câu nói trong Kinh tế tư nhân Tự do/Thị trường:“Kiếm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn“ (Gagner de l’argent est difficile, mais le Dépenser est encore plus difficile). Việc chi tiêu tiền khó hơn vì trong việc chi tiêu đã phải tính toán căn cơ để một đồng tiền tiêu ra, phải kiếm vào lợi nhuận cao hơn., nghĩa là việc tiêu tiền đã hàm ngụ việc kiếm tiền rồi theo tinh thần Kinh tế Tự do/Thị trường. Tiêu tiền theo Kinh tế không phải là quảng tiền qua cửa sổ. Mọi người đều thích tiêu tiền của người khác. Đối với một Công ty tư doanh, Vốn là tư hữu của Công ty, vì vậy mà việc xử dụng phải chắt bóp căn cơ, nhất là phải ước tính lợi nhuận thu vào, trong khi ấy, đối với một Công ty Nhà Nước, Vốn là do Nhà Nước cung cấp, nên dễ chi tiêu như tiền chùa. Nhiều trường hợp, các người trách nhiệm Công ty quốc doanh còn tìm đủ mọi lý do không thuộc lãnh vực làm ăn kinh tế để tiêu tiền chùa từ Nhà Nước. Đây là tình trạng Lãng phí mà mọi người đều công nhận tại những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước Việt Nam.
Chi tiêu không căn cơ, hoang phí làm cho Năng suất xử dụng vốn thấp kém.
Năng suất theo lợi nhuận kinh tế
Ở phần trên, chúng tôi phân tích Năng suất tách rời ra từng phương tiện sản xuất được xử dụng trong chính nội bộ của Công ty. Trong phần này, chúng tôi phân tích Năng suất theo Lợi nhuận, nghĩa là tổng số Chi cho mọi phương tiện sản xuất phải được so sánh với tổng số Thu tại Thị trường trao đổi hàng hóa với bên ngoài để từ đó dành ra phần Lợi nhuận hay thua Lỗ.
Mức Lợi nhuận (hay thua Lỗ ) được tóm trong công thức định nghĩa Kế toán như sau:
MB = CAN - CT
MB : Mức độ Lợi nhuận thô CAN = Q x Pv : Tổng số Thu thô từ lượng hàng bán nhân với giá bán ở Thị trường CT = Q x Cm : Tổng số Chi nhân với lượng hàng sản xuất và bán được.
Mục đích tối hâu của Công ty là tối đa hóa Mức độ Lợi nhuận (Maximiser la Marge Bénéficiaire MB). Muốn cho MB càng rộng, thì phải quản trị hai phía cùng một lúc: (i) một mặt tìm Thị trường có giá bán cao để bán hàng hóa; (ii) mặt khác phải giảm thiểu tối đa Chi tiêu (Minimiser le Cout total CT). Ở một Thị trường tự do cạnh tranh, giá bán thường cố định do sự cạnh tranh, rất khó quản trị dù bằng những chiến thuật Marketing tinh xảo. Chính vì vậy mà việc quản trị Chi tiêu (Gestion des Charges) trở thành quan trọng cho các Công ty. Ơû cùng một Thị trường Tiêu thụ, nhưng Mức độ Lợi nhuận của các Công ty khác nhau là do sự quản trị Chi tiêu khác nhau của từng Công ty. Chú thích liền ở đây rằng những Tập đoàn Kinh tế liên quốc (Multinationales) đến làm việc ở Việt Nam hay Trung quốc là áp dụng việc quản trị Chi tiêu, lợi dụng nhân công rẻ mạt ở những nước này với sự độc đoán bắt ép nhân công từ Chính quyền độc tài để có hàng hóa rẻ đem bán ở những Thị trường với giá bán cao như Hoa kỳ và Liên Aâu.
MB -------------------- : Năng suất xử dụng vốn Chi cho cả nhân lực và những phương tiện khác CT x thời gian
Như phần trên, chúng tôi đã trình bầy rằng Năng suất xử dụng nhân lực và Năng suất xử dụng Vốn cho những phương tiện khác tại những Công ty Nhà Nước đều yếu kém, thì câu kết luận rất rõ rệt là Năng suất Lợi nhuận đối với Chi tiêu tổng quát tất nhiên yếu kém tại những Công ty Nhà Nước sánh với những Công ty tư doanh Tự do/Thị trường.
Để kết luận tổng quát theo Chủ đề, PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH. Cơ chế hiện hành là việc chủ trương độc tài Chính trị nắm chặt ấy độc quyền Kinh tế cho đảng CSVN thông qua những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước. Đòi hỏi dứt bỏ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH là một đòi hỏi thuần túy Kinh tế nhằm tăng mọi Năng suất trong việc phát triển Kinh tế Quốc gia vững chắc và lâu dài vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 07:
TẤT CẢ MỌI CAN THIỆP NHÀ NƯỚC LÀM PHÁT SINH ĐẦU CƠ, CHỢ ĐEN VÀ CHI PHÍ TỐN KÉM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 23.10.2008
Trong ít tuần nay, nhân cuộc khủng hoảng Tài chánh, các Chính quyền bỏ vốn ra để cứu vớt Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh. Có hai khuynh hướng thuộc giới Chính trị khi Nhà Nước bỏ ra những số tiền khổng lồ:
1) Chính trị khuynh hướng xã hội thì muốn sự can thiệp trực tiếp và lâu dài của Nhà Nước vào Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. 2) Chính trị khuynh hướng tự do thì muốn những Chương trình cứu vớt chỉ là trợ lực giai đoạn cho Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh trong lúc ốm bệnh, rồi sau đó Nhà Nước rút về vị trí của mình.
Dù là với khuynh hướng xã hội đi nữa, thì quyền lực của Nhà Nước cũng chỉ hạn định ở món tiền của mình bỏ vào, nghĩa là những quyền quyết định Tài chánh/ Kinh tế vẫn được đo lường bằng sức mạnh đồng vốn bỏ vào. Điều này khác với những quyết định hoàn toàn có tính cách Chính trị ở Việt Nam với thể chế độc tài độc đảng.
Can thiệp nắm mạch máu Kinh tế sản xuất tại Việt Nam
Trong hai ngày 17-18.10.2008, tại cuộc Hội thảo được tổ chức tại Đại học PRINCETON Hoa kỳ, vấn đề Tài chánh và Ngân Hàng tại Việt Nam trở thành đề tài chính. Diễn giả chính của buổi hội thảo, tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Kinh Tế, thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội, nhận định, rằng “thị trường tài chánh Việt Nam đặt nền tảng trên hệ thống ngân hàng,” phát triển nhanh, nhưng phần vốn Nhà Nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn.
Ông nói: “Hệ thống ngân hàng Việt Nam cung cấp hơn 20% vốn cho toàn bộ lượng đầu tư xã hội trong nền kinh tế Việt Nam. Số lượng ngân hàng hoạt động tăng rất nhanh, từ 9 đơn vị trong năm 1991, tăng lên đến con số 80 trong năm 2008.”
Mặc dầu phát triển nhanh, tính chất của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn mang tính quốc doanh, vì tỷ lệ ngân hàng có vốn nhà nước hoặc do nhà nước làm chủ, vẫn chiếm đa số.
Cho đến nay, mặc dầu Nhà Nước Việt Nam chỉ làm chủ 6 ngân hàng, nhưng số vốn thuộc Nhà Nước trong toàn bộ hệ thống lại chiếm đến hơn 67%.
Nếu tính trong khu vực ngân hàng cổ phần, thì phần lớn trong số 34 ngân hàng loại này đều do Nhà Nước thành lập hoặc cung cấp vốn.
Tham gia đóng góp ý kiến tại buổi hội thảo, tiến sĩ Regina M. Abrami, giáo sư môn Khoa Học Chính Trị, Khoa Quản Trị Kinh Doanh thuộc đại học Harvard, nói rằng vai trò của Nhà Nước trong thị trường VN không được phân định rõ ràng.
Câu hỏi đặt ra, là Nhà Nước đóng vai trò giám sát hay vai trò cổ đông góp vốn? Từ câu hỏi này, người ta đặt lại vấn đề của tính minh bạch. Ví dụ cụ thể là Tổng Công Ty Đầu Tư Vốn Nhà Nước, SCIC. Trong khi SCIC có nhiệm vụ mua lại càng nhiều càng tốt các công ty quốc doanh, thì trong một nghĩa nào đó, Tổng Công Ty này đóng cả hai vai trò, vừa là người giám sát, vừa là người góp vốn.
Hiện nay, SCIC có trong danh mục của mình hơn 900 công ty con, thuộc Nhà Nước, và khoảng 200 tỷ đồng tài sản.
Giáo sư Abrami, một chuyên gia về Việt Nam và Trung Quốc, nhận xét, rằng: “Trong khi Việt Nam thúc đẩy tính minh bạch cùng quá trình giám sát các cơ chế tài chánh, thì Nhà Nước đã thực hiện nhiều cách thức làm phát sinh sự phức tạp.”
Theo thông tin mà tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn cho biết, thì hệ thống ngân hàng, vai trò “cột sống” của thị trường tài chánh Việt Nam, “phát triển nhanh” trong “môi trường thiếu tính cạnh tranh.”
Tổng quát những nhận định này cho thấy rằng Kinh tế VN định hướng XHCN có thể nói là nằm trong tay Nhà Nước. Mà Nhà Nước ở đây là đảng CSVN độc tài. Hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh, mạch máu của Kinh tế có thể gọi là hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh Mafia nhóm đảng, liên hệ gia đình của những người nắm quyền đảng. Tỉ dụ con gái của Nguyễn Tấn Dũng nắm một số vốn đầu tư khá lớn do Nhà Nước cung cấp.
Theo phân tích của Bà Frnacoise NICOLAS về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997, thì một hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh như vậy là nguồn của Khủng hoảng.
Can thiệp trực tiếp Nhà Nước Vào Xuất Nhập cảng
Những Tổng Công ty Nhà Nước giữ những độc quyền Xuất Nhập cảng hoặc giữ những Quotas ưu đãi về những hàng hóa tiêu thụ lớn. Tình trạng này phát sinh ra việc nhường bán Quotas từ những Tổng Công ty Nhà Nước có đặc quyền. Đây là lý do làm mất sự sinh động và hiệu lực thương mại của Thị trường. Hã lấy hai tỉ dụ: Xuất cảng Gạo và Nhập cảng Dầu Lửa mà Dân chúng Việt Nam đang bị thiệt thòi hiện nay.
Những Tổng Công ty Nhà Nước có những đặc quyền lấy Gạo xuất cảng. Chúng tôi đã có dịp nói chuyện với Tổng Công ty TIGIFOOD Tiền Giang và được biết rằng Nhà Nước không có những Quỹ điều hợp Lúa Gạo tương xứng cho Nông dân, thiếu điều kiện Silo dự trữ khiến cho Thị trường dễ bị ếm giá cho đầu cơ. Hiện nay, nông dân được mùa, nhưng vấn đề là không bán được.
Ngày 19.10.2008, TS LÊ VĂN BẢNH - viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL tóm tắt tình hình ứ đọng lúa gạo như sau: “Lúa gạo đang tồn đọng trong thời gian dài và chưa biết khi nào giải phóng hết đang làm hàng triệu nông dân ĐBSCL điêu đứng. Trong chuyện này ngoài "lỗi" của giống lúa IR 50404 còn có trách nhiệm của DN xuất khẩu lúa gạo, của Nhà nước và cả người nông dân trồng lúa.“
Chúng tôi đã có dịp quan sát Thị trường tiêu thụ gạo ở Phi châu như Brazaville, Bénin, Lagos và thấy vắng bóng Gạo của Việt Nam, mặc dầu những xứ này chuộng ăn gạo của Việt Nam với 25% broken vì giá hạ thuộc tầm mua của họ.
Việc Nhập Cảng Dầu Lửa cũng nằm trong tay Nhà Nước. Hiện nay Giá Dầu Thế giới xuống mạnh, nhưng Nhà Nước độc quyền cũng không điều chỉnh giá xuống cho Dân.
Tóm lại khi Nhà Nước nắm độc quyền hay giữ Quotas, thì vấn đề Xuất Nhập cảng không có cạnh tranh và lưu hành sinh động.
Can thiệp trực tiếp Nhà Nước Về Giá cả Thị trường tiêu thụ hàng ngàyï
Khuynh hướng của một Nhà Nước Xã hội dễ can thiệp trực tiếp vào giá cả tiêu thụ hàng ngay của Thị trường nhân danh bào vệ người nghèo. Nhà Nước dễ ấn định Giá trần và Giá sàn cho hàng hóa, nhất là những hàng hóa tiêu thụ đại chúng.
=> Đinh Giá trần (Prix plafond)
Khi giá một nhu yếu phẩm có đà tăng lên, nghĩa là phía Cầu tăng lên hơn phía Cung, Nhà Nước can thiệp trực tiếp vào Thị trường bằng cách định một Giá trần, nghĩa là giá bán không được tăng lên trên Giá trần đã do Nhà Nước ấn định. Nhà Nước lấy lý do là mình phải bênh đỡ cho người nghèo. Hâu quả của việc can thiệp này ra sao ? * Chính Nhà Nước đã tạo ra một tình trạng Cầu luôn luôn lớn hơn Cung và nhữ vậy trên Thị trường tiêu thụ, giá cả luôn luôn ở trong tình trạng phải cao hơn Giá trần. * Tình trạng này khiến cho con buôn tìm cách đầu cơ làm cho Cung càng khan hiếm hơn để họ bán chợ đen với giá cao hơn nữa. * Để có thể kiểm soát được đầu cơ và bán chợ đen của con buôn, Nhà Nước buộc lòng phải chi tiêu tốn kém cho hệ thống kiểm soát. Việc chi tiêu tốn kém xã hội này lại lấy từ tiền thuế của Dân. Nếu con cháu đảng làm đầu cơ, thì ai dám kiểm soát.
Như vậy vấn đề đặt ra là việc Nhà Nước định Giá trần có ích lợi cho Dân không hay lại làm cho Dân vẩn sống trong tình trạng tăng giá do đầu cơ và chợ đen, rồi phải đóng thuế chi tiêu xã hội cho hệ thống kiểm soát.
Trong thời YELSIN tại Nga, vì giữ Giá trần mà Moscou khan hiếm thịt, dân chúng nối đuôi đợi hàng dài trước cửa tiệm. YELSIN đã quyết định thả lòng giá. Giá thịt lên vọt, nhưng dần dần lại xuống và còn xuống thấp hơn Giá trần (Prix plafond) mà Nhà Nước đã định trước đây vì lượng Cung tràn vào Thị trường.
=> Giá sàn (Prix plancher)
Đây là trường hợp giá cả của mặt hàng tụt xuống vì lý do ếm giá của phía mua chẳng hạn. Nhà Nước can thiệp vào để định giá sàn, nghĩa là không cho giá xuống thấp hơn với mục đích trợ lực cho phía Cung, nghĩa là cho phía sản xuất tiếp tục hoạt động. Nếu giá tiếp tục mang khuynh hướng xuống và để bảo vệ phía sản xuất Cung, Nhà Nước lại cũng phải lấy tiền thuế của Dân để bù trừ cho những thua lỗ của những Công ty sản xuất. Nếu đây là những Công ty quốc doanh, thì Nhà Nước phải trường kỳ hỗ trợ (Subventions) để những Công ty này khỏi chết.
Trong cả hai trường hợp Giá trần và Giá sàn, chính người Dân đóng thuế phải chịu cho những Chi tiêu xã hội. Vì vậy, không thể nói được rằng việc can thiệp trực tiếp của Nhà Nước là để bênh đỡ cho người nghèo.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 04:
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ KHẨN TRƯƠNG TẠI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM (Phần I)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 30.10.2008
Vì tính cách khẩn trương của Khủng hoảng Kinh tế tại Trung quốc và Việt Nam, hậu quả của Khủng hoảng Tài chánh Thế giới, nên chúng tôi viết Phụ Bản này cho hợp thời. Nội dung của Phụ Bản này đã được tóm tắt phát thanh về Việt Nam qua RFI (Radio France Internationale) cuối tuần vừa rồi.
Mục đích của chúng tôi khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 của Á châu và nhất là theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh hiện nay của Thế giới là để: (i) phân tích tình trạng bấp bênh phát triển Kinh tế tại Việt Nam theo mẫu Trung quốc; (ii) xem hậu quả của của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay 2007/08 lên hai nước Cộng sản này như thế nào.
Bối cảnh hệ thống Ngân Hàng Tại Trung quốc và Việt Nam
Vào những năm 1997, những nước bắt đầu phát triển tại Á châu có một hệ thống Ngân Hàng luộm thuộm, quyết định tài chánh mang tính gia đình hay quyền lực Chính trị. Khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF/FMI) lập Plan Bailout cho những nước bị Khung hoảng 1997, IMF đòi buộc những nước này trước tiên là phải chỉnh đốn lại hệ thống Ngân Hàng, đặt Cơ quan kiểm soát độc lập đối với các Ngân Hàng.
Đối với Trung quốc và Việt Nam ngày nay, trong lúc hai nước này ca ngợi độ phát triển Kinh tế cao của họ, thì người ta cũng quan sát thấy tính cách luộm thuộm của hệ thống Ngân Hàng hai nước và những quyết định Tín dụng Ngân Hàng bị ảnh hưởng trầm trọng bởi liên hệ gia đình, phe nhóm băng đảng chính trị.
Tại Trung quốc, Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “... un système bancaire national perchus de mauvais crédits... “(LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (... một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15).
Tại Việt Nam, chính Nguyễn Tấn Dũng đã phải than lên rằng có những Ngân Hàng đã lấy vốn ngắn hạn để đầu tư cho những dụ án dài hạn.
Ký giả Gia Huy đã viết đãng trong VietNamNet ngày 09.10.2008 như sau:”Bức tranh kinh tế xã hội 2008 có nhiều biến động đã bộc lộ thực tại đời sống ngân hàng từ quản lý vĩ mô đến việc quản trị điều hành, việc thực thi chiến lược quản lý tiền tệ cũng như các kế hoạch kinh doanh và hàng loạt các vấn đề liên quan khác. Chính sách tiền tệ quốc gia và kinh doanh tài chính ngân hàng còn nhiều bất cập. Khi có biến cố thị trường tất cả đều bị động chạy theo. Công cụ và kiểm soát quản trị rủi ro có không ít vấn đề.”
Cái bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng tại Việt Nam và Trung quốc cũng có những điểm giống năm 1997 tại những quốc gia bị Khủng hoảng Tài chánh trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn mà chính IMF/FMI đòi đỏi phãi cải tổ như một điều kiện được hưởng Plan Bailout của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.
Một bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh như vậy tự nó là nguồn Khủng hoảng cho Tài chánh/ Kinh tế cho một nước theo như phân tích của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng hoảng Á châu năm 1997.
Và trước cuộc Khủng hoảng Thế giới hiện nay về Ngân Hàng/Tái chánh, hai nước Trung quốc, Việt Nam, với bối cảnh Ngân Hàng/Tài chánh luộm thuộm lúc này, không thể chống đỡ lại tầm ảnh hưởng Tài chánh đang diễn ra trên Thế giới.
Chúng tôi nhìn tầm ảnh hưởng Tài chánh Thế giới dưới ba góc cạnh: (i) về Vốn nước ngoài; (ii) về Giảm sút độ tăng trưởng Kinh tế; (iii) về Xáo trộn xã hội ảnh hưởng lên Chính trị.
Với hạn hẹp của bài viết và với những dữ kiện chưa dồi dào ở bước đầu của tầm ảnh hưởng, chúng tôi chỉ phác họa tổng quát hướng đi của tầm ảnh hưởng. Chúng tôi sẽ viết tiếp tục để khai triển thêm theo với thời gian và theo những dữ kiện từ từ thu lượm.
Aûnh hưởng trực tiếp Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08 Lên Trung Cộng và Việt Nam về Vốn nước ngoài
Trung Cộng và Việt Nam chủ trương Chính trị độc tài độc đảng và chế độ Chính trị ấy nắm độc quyền Kinh tế. Ở hai nước, Lao động bị kềm chế ở mức lương thấp. Nhiều những bài báo cáo Quốc tế đã viết về Lao động tại hai nước như một sự khai thác Nhân lực bất chấp Nhân quyền. Tại Trung quốc, nhân công từ những vùng nghèo khổ nội địa kéo về các tỉnh công nghệ ven biển và làm việc cực nhọc như những đàn súc vật. Tại Việt Nam, đồng quê bị bỏ rơi, nông dân về những khu chế xuất công nghệ làm việc trong những điều kiện tồi tệ.
Các Công ty Liên quốc nước ngoài (Le Multinationales Etrangeres), trong chủ trương quản trị Chi tiêu cho xí nghiệp (Gestion des Charges de l’Entreprise) đã tìm đến hai nước này để khai thác nhân công rẻ với sự đồng ý và phụ lực khai thác của một chính thể độc tài độc đảng khóa miệng nhân công.
Vốn nước ngoài đổ vào hai nước này để mở xưởng chế xuất hàng hóa không phải là Vốn Đầu tư lâu dài cho hai nước, mà là Vốn ngắn hạn khai thác nhân lực nhằm sản xuất hàng hóa rẻ mạt xuất khẩu sang những nước đã Kỹ nghệ hóa để bán với giá cao.
Với cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay, hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh tại những nước đã Kỷ nghệ hóa như Mỹ và Liên Aâu rơi vào tình trạng thiếu Vốn. Trong tình trạng này, họ có thể cắt xuống hoạc rút Vốn ra từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam. Có những Dự án đã ký kết, nhưng có thể không được giải ngân vì tình trạng thiếu Vốn.
Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho vấn đề Vốn ở Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence...”. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)
Oâng Jonathan MANTHORPE, Vancouver Sun 13/10/08, đã nhận xét: “Nhưng các vấn đề của các quốc gia đang phát triển còn tuỳ thuộc vào sự phát triển đầu tư và các thị trường trong quỹ đạo kinh tế toàn cầu chuyển động chung quanh Hoa Ky.“ø
Trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, ngày 15.10.2008, dưới đầu đề CHINA DRAWS LESS CAPITAL, Ký giả Andrew BATSON đã viết: ”Capital flows into China have slowed sharply and even reversed in recent months, according to official data that show how the financial crisis has disheartened investors and disrupted banks in this fast-growing nation” (page 4) (“Trào lưu Vốn chảy vào Trung quốc đã chậm lại mạnh and ngay cả chảy ngược lại trong những tháng gần đây, theo những dữ kiện cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chánh đã làm mất can đảm những nhà đầu tư và đã làm ngưng trệ các ngân hàng trong cái nước đang phát triển mau lẹ này.” (trang 4)
Đối với Trung quốc, tình trạng Vốn nước ngoài đã như vậy, huống chi đối với Việt Nam. Việt Nam còn bị thiếu vốn trầm trọng hơn Trung quốc vì nguồn Vốn nọi địa yếu kém hơn Trung quốc.
Aûnh hưởng trực tiếp Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08 Lên Trung Cộng và Việt Nam về Độ Tăng trưởng Kinh tế.
Tại những nước đã Kỹ nghệ hóa, các Chính phủ đang lo ngại tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực làm cho đà Tăng trưởng giảm xuống trong những năm tới.
Ba lý do chính cát nghĩa tầm ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đối với Lãnh vực Kinh tế thực tại Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm Độ tăng trưởng Kinh tế tại hai nước này:
=> Lý do thứ nhất: Khi nguồn Vốn nước ngoài giảm thiểu và nguồn Vốn nội địa không đủ, thì tất nhiên một số Công ty không trường vốn sẽ bị phá sản. Tại Liên Aâu và Hoa kỳ, những Công ty có nguồn vốn nội địa và những Công ty này đã tạo trong nhiều năm rồi số vốn riêng của họ tích lũy (Cumulation des Fonds propres) để có độc lập về Tài chánh (Autonomie Financìere), nhưng tại những nước mới bắt đầu phát triển, những Công ty lệ thuộc vào Thị trường Tài chánh mang tính cách bấp bênh.
=> Lý do thứ hai: Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới làm cho các nước Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước trong vùng Á châu giảm thiểu việc mua hàng mà trước đây Trung quốc và Việt Nam vẫn cung cấp cho họ: những linh kiện cho Kỹ nghệ hay những hàng thường dùng cho dân chúng. Nên lưu ý rằng việc chế xuất hàng hóa từ Trung quốc hay Việt Nam là để cung cấp cho nước ngoài tới 70%. Việc giảm thiểu mua hàng này từ những nước đã Kỹ nghệ hóa tất nhiên làm ngưng trệ Kinh tế Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm độ Tăng trưởng Kinh tế.
=> Lý do thứ ba: Sau những cuộc Khủng hoảng, những Quốc gia dù có chủ trương Tự do Mậu dịch mấy đi nữa, cũng dễ có khuynh hướng Che chở (Protectionnisme) cho những Công ty quốc gia mình tại nội địa. Tại cuộc họp thượng đỉnh giữa Liên Aâu và Canada, dưới đầu đề A QUEBEC, MR.SARKOZY MET EN GARDE CONTRE LE PROTECTONNISME, Báo LE MONDE ngày Thứ Hai 20.10.2008 đã viết như sau: “Derrìere la crise bancaire, le spectre du protectionnisme qui hanta les années 1930. Avant de rencontrer, Samedi 18 Octobre, le président américain George BUSH dans sa résidence de Camp David, Nicolas SARKOZY, président en exercice de l’Union Européenne (UE), et le président de la Commission, José Manuel BARROSO, ont lancé vendredi, depuis Québec, un appel contre la fermeture des frontìeres.” (Đàng sau cuộc khủng hoảng tài chánh, con quỉ Che Chở (Protectionnisme) đã hiện về trong những năm 1930. Trước khi gặp, Thứ Bảy 18.10, Tổng thống Mỹ George BUSH ở Camp David, Nicolas SARKOZY, Chủ tịch đương nhiệm của Liên Aâu, và Oâng Chủ tịch Uûy Ban Liên Aâu, đồng kêu gọi hôm Thứ Sáu, từ Québec, chống lại việc đóng các biên giới.).
Dù không công khai tuyên bố Che Chở, nhưng các nước áp dụng những Biện Pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để hạn chế nhập khẩu. Trong trường hợp Che Chở, hay những Biện pháp không giá biểu, thì Trung quốc và Việt Nam điều bị thiệt hại vì hai nước này làm việc cho xuất cảng.
Thứ Hai 20.10.2008, Trung quốc công khai cho biết rằng độ tăng trưởng Kinh tế của họ từ 11% xuống tới 9% trong Tam Cá Nguyệt thứ ba của năm nay.
Trong Tờ FINANCIAL TIMES, thứ Hai 20.10.2008, Ký giả Geoff DYER tại Bắc Kinh còn trích lời Oâng HA Jiming, Kinh tế trưởng của China International Capital Corporation ỡ Bắc Kinh, tiên đoán rằng độ tăng trưởng Kinh tế Trung công có thể thụt xuống 7.3% (Ha Jiming, Chief Economist at China International Capital Corporation in Beijing, predicts that growth will fall to 7.3 per cent.)
Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe Thứ Hai 20.10.2008 loan tin về tình trạng một số khá nhiều Công ty tại Trung quốc sẽ phá sản. Đặc biệt tờ báo còn loan tin sự phá sản của Công ty sản xuất đồ chơi với 6’500 nhân công làm việc.
Tờ FINANCIAL TIMES hôm nay Thứ Ba 21.10.2008 cho chạy tít lớn ở trang nhất: CHINA GROWTH SLOWS SHARPLY. Cũng vậy, Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm nay thứ Ba cũng đăng bài dài về sự xuống dốc của Kinh tế Trung Cộng với đầu đề THE WORLD FEELS CHINA’S DECLINING GROWTH.
Việt Nam, cùng một thể chế Chính trị với Trung Cộng, cùng một hệ thống Kinh tế làm việc cho xuất cảng, tất nhiên chịu cùng những hậu quả của cuộc Khủng hoảng Tài chánh như tại Trung quốc. Chính Báo Việt Nam đã loan tin tình trạng phá sản tới 20% các Công ty.
Jonathan Manthorpe, Vancouver Sun 13/10/08, đã viết: “Ông Dũng đã giảm bớt sự ước lượng mức tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa trong năm nay xuống còn 7% từ mục tiêu ban đầu là 9%. Nhưng ít nhà kinh tế tin rằng mục tiêu đó thực tế vì mức tăng trưởng chỉ có 6.5% trong 9 tháng đầu năm và triển vọng cho những tháng còn lại thì thậm chí còn tối tăm ảm đạm hơn“.
Aûnh hưởng gián tiếp Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08 Lên Trung Cộng và Việt Nam về Xã Hội và Chính trị.
Tình trạng Kinh tế xuống dốc tất nhiên ảnh hưởng tới những vấn đề Xã hội và Chính trị mà hai đảng Cộng sản Trung quốc và Việt Nam phải lo lắng.
Giáo sư TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)
Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng. Tại Việt Nam, nhân công cũng từ thôn quê miền Nam, từ những tỉnh miền Trung nghèo khổ và từ những tỉnh miền Bắc kéo về Thủ đô. Khi họ bị sa thải, làm thế nào đẩy họ tở về nguyên quán.
Để giải quyết vấn đề này, Trung ương đảng CS Trung quốc đã họp kín 4 ngày trong tuần vừa rồi. Ký giả GILLIAN WONG, Associated Press Writer Gillian Wong, Associated Press Writer – Sun Oct 12, 11:20 am ET AP, đã viết:
BEIJING – China's ruling Communist Party on Sunday said it would seek to expand its massive internal market to counter the global economic slowdown that has reduced international demand for Chinese goods. The party, led by President Hu Jintao, released a statement at the end of a four-day meeting of its Central Committee where it also approved a plan aimed at doubling rural incomes by 2020.”(Bắc Kinh—Ban Điều hành đảng Cộng sản Trung quốc nói là Trung quốc tìm cách khai triển thị trường nội địa kếch xù của họ để bù trừ vào việc đình trệ của kinh tế tổng quát đã giảm thiểu việc đặt mua hàng của quốc tế đối với hàng hóa Trung quốc. Đảng, lãnh đạo bởi Chủ tịch HU JINTAO, tuyên bố sau 4 ngày họp của Trung ương đảng rằng đảng đã chấp nhận một chương trình nhằm tăng gấp đôi thu hoạch nông thôn vào khoảng năm 2020.”
Đây là chương trình không dễ thực hiện và rất tốn kém bởi vì trong nội địa Trung quốc, phải mất tối thiểu 20 năm nữa mới có thể có một hệ thống đường sá khả dĩ hỗ trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.
Tại Việt Nam, vì quá hồ hởi với việc công nghệ hóa, nên đảng CSVN đã hầu như bỏ quên nông thôn. Đây là điều vô cùng đáng tiếc bởi vì Việt Nam có căn bản địa lý đồng bằng để phát triển mau chóng nông nghiệp.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 05:
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRUNG QUỐC: TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM (Phần II)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 13.11.2008
Vì tính cách khẩn trương của Khủng hoảng Kinh tế tại Trung quốc và Việt Nam, hậu quả của Khủng hoảng Tài chánh Thế giới, nên chúng tôi viết Phụ Bản này cho hợp thời. Nội dung của Phụ Bản này đã được tóm tắt phát thanh về Việt Nam qua RFI (Radio France Internationale).
Phụ Bản 05 (Phần I) lần trước nói tổ quát về những ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới lên Kinh tế Trung quốc và Việt Nam. Phụ Bản 06 này (Phần II) đi vào những Lãnh vực Kinh tế rõ rệt của Trung quốc đang bị thụt lùi trầm trọng.
Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe, hôm qua Thư Tư 12.11.2008, dưới đầu đề SIGNS OF AN ECONOMIC SLOWDOWN ARE ALSO SPREADING IN CHINA, viết như sau: “Signs of a slowdown in China are spreading, with weak economic data for October illustrating why the government hurried to announce its massive stimulus plan. New data announced Tuesday shows slowing imports, weakening home prices and a drop in export orders, all pointing to a sharp decline in activity that will take time to reverse” (By Andrew BATSON in Beijing and Norihiko SHIROUZU in Guangzhou, China, page 16) (Những dấu chỉ của một cuộc xuống dốc tại Trung quốc đang lan tràn, với những dữ kiện của kinh tế yếu kém cho tháng 10 chứng tỏ lý do tại sao Nhà Nước đã phải vội vã tuyên bố một chương trình kích thích khổng lồ. Những dữ kiện mới được tuyên bố hôm Thứ Ba chứng tỏ những nhập cảng đang tuột dốc, những giá cả tiêu thụ nội địa đang yếu nhược đi và một sự rơi giảm hẳn những đặt mua hàng cho xuất cảng, tất cả đang chứng tỏ rõ rệt một sự giảm sút sâu đậm trong hoạt động mà phải có thời gian mới có thể lấy lại.)
Câu nhận định trên đây của hai Tác giả sống tại Trung quốc tóm tắt tổng quát tình trạng tụt dốc Kinh tế của Trung quốc.
Chúng tôi muốn đi vào chi tiết của những Lãnh vực hoạt động rõ rệt sau đây:
=> Thương hiệu “Made in China” mất hẳn giá trị
=> Tụt hẳn giá Địa ốc
=> Đóng cửa các Xí nghiệp
=> Chương trình kích thích nội địa
=> Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội
Thương hiệu “Made in China” mất hẳn giá trị
Thương hiệu của một Quốc gia là sự thẩm định đầu tiên và TỔNG QUÁT của người tiêu thụ về phương diện giá cả và về phẩm chất của hàng hóa. Từ đó, người tiêu thụ mới đi thẩm định từng món hàng trước khi quyết định số lượng mua. Khi nhìn Thương hiệu: Made in USA, Made in France, Made in Germany, Made in Switzerland, Made in Japan, Made in Singapore, Made in China..., mỗi người tiêu thụ nghĩ về giá cả và phẩm chất của hàng hóa do tên một nước tạo ra trong đầu óc của khách hàng.
Khi hàng Trung quốc bắt đầu tràn lan trên Thế giới, nhất là sau khi nhập WTO, Thương hiệu Made in China làm cho người tiêu thụ nghĩ liền đến giá cả hạ. Trong thời gian đầu cách đây chừng 50 năm, Thương hiệu Made in Japan cũng cho khách hàng nghĩ ngay đến giá hạ. Nhưng ngày nay, Thương hiệu Made in Japan tạo trước tiên cho khách hàng không phải là giá hạ nữa mà là có kỹ thuật cao, đáng được tin tưởng.
Từ Thương hiệu Made in China cho ý tưởng đầu tiên là giá thấp, Trung quốc phải tiến dần đến kiện toàn kỹ thuật để khách hàng tin tưởng và phẩm chất như Nhật đã đạt được. Nhưng ngược lại, Thương hiệu Made in China hiện nay đã mất hẳn giá trị vì những việc làm sau đây của chính Trung quốc:
=> Đồ ăn cho súc vật: chó ăn té đùng ra chết tại Hoa kỳ
=> Đồ chơi cho trẻ con có những chất sơn mang chất độc tạo bệnh tật
=> Chất Mélanine trong sữa bột tạo bệnh thận cho chính trẻ em tại Trung quốc
=> Những kẹo bánh cũng có pha quá mức của chất Mélanine
=> Chất Mélanine này cũng được xử dụng trong việc chế những đồ dùng bằng nhựa như chén bát, đũa nhựa, đồ dùng nhà bếp
=> Một số những quần áo, chăn mền từ Trung quốc cũng bị khám phá ra là có chất làm hại da của người xử dụng
=> Siêu thị CARREFOUR của Pháp đã phải thường tiền chữa bệnh cho những khách hàng mua ghế xa-long từ Trung quốc. Ngồi, nằm nhiều trên những xa-long ấy, sẽ bị bệnh ngứa, nổi sần lằn da.
=> Ý quốc mới tịch thu một số lượng lớn dầy dép bằng da được sản xuất từ Trung quốc. Da có chất nhuộm làm ung thư chân.
=> Một điều rất quan trọng là Trung quốc giữ quán quân về việc làm đồ giả mà vẫn đề là sản xuất tại những nước nguồn gốc của hàng hóa đó: tỉ dụ Đồng hồ giả sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Made in Switzerland; những ví da của phụ nữ sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Mande in Italy... Thuốc men chữa bệnh sản xuất từ Trung quốc, đã lan tràn sang các nước nghèo, nhất là Phi châu. Điểm này đã tạo cho khách hàng hiểu những đồ Trung quốc là giả mạo và không thể tin tưởng.
Thương hiệu Made in China đã tuột dốc đến nỗi có nhiều những tiệm phân phối phải dấu cất hàng hóa hay tìm cách đề trại đi. Thương hiệu Made in China đã trở thành một sự xấu hổ vậy. Một số Công ty Đức, trước đây sản xuất tại Trung quốc, nay đưa việc sản xuất về Đức để nhờ Thương hiệu Made in Germany. Họ xử dụng nhân công từ những nước Đông Aâu để có giá rẻ. Như vậy một đàng lợi dụng được Thương hiệu Made in Germany, một đàng tránh hẳn Thương hiệu Made in China đã mất hẳn giá trị.
Tụt hẳn giá Địa ốc
Trong suốt 8 năm vừa rồi, người ta ca ngợi “boom housing construction” tại Trung quốc. Những cao ốc được mọc lên như nấm tại các thành phố ven biển, nhất là tại Thượng Hải. Thời gian này cũng trùng với thời gian xây cất các cơ sở, khách sạn cho Thế Vận Hội Bắc Kinh. Tất cả những xây cất nhà cửa này mang khía cạnh phô trương sự thành công của đảng Cộng sản Trung quốc.
Dân chúng từ các vùng quê trong nội địa kéo về các thành phố ven biển. “Anywhere from 15 million to 20 million people move to Chinese cities each year” (Từ mọi nơi, từ 15 tới 20 triệu người kéo về các thành thị Trung quốc mỗi năm) (Andrew BATSON, Beijing, THE WALL STREET JOURNAL, 24.10.2008, page 9). Nhưng theo Andrew BATSON, thì việc xây cao ốc không phải là cho dân chúng từ các vùng quê kéo về vì những người này chưa đủ khả năng mua nhà.
Nếu cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ bắt đầu bằng vỡ lở Tín dụng (Mortgage Subprime Credits), thì cuộc Khủng hoảng địa ốc hiện nay tại Trung quốc đến từ sự chi tiêu quá đáng để phục vụ cho Chính trị. Việc chi tiêu quá đáng này, sau những xây cất cơ sở Thế Vận Hội, gặp đúng lúc bùng nổ Khủng hoảng Tài chánh Thế giới, khiến tình trạng ứ đọng Địa ốc trở thành trầm trọng.
Dưới đầu đề BEIJING MOVES TO STIMULATE HOME-BUYING đăng trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, 24.10.2008, Andreww WATSON đã viết:
“Sales of new housing in China have plummeted in recent months as buyers get spooked by deteriorating economy and weakening prices. With economic growth also slowing more than expected, officials have moved from truying to rein in prices to encouraging buyers. This week, they announced tax breaks, smaller down-payment requirements and lower loan rates for first time home buyers.”
“More than 80 million people are employed directly in the construction industry, so a prolonged downturn also threatens to lead to more unemployment and social unrest.”
(Việc bán những nhà mới tại Trung quốc đã tụt xuống trong những tháng gần đây khi những người mua hoảng sợ vì kinh tế giảm hẳn xuống và giá cả yếu hẳn đi. Với độ tăng trưởng kinh tế yếu kém hơn như mong đợi, phía nhà nước can thiệu vào bằng cách giữ giá cả để cổ võ những người mua. Tuần này, phía nhà nước đã tuyên bố những việc giảm thuế, đòi tiền cọc nhỏ hơn và cho tín dụng với lãi suất hạ cho những người mua nhà đầu tiên.
(Hơn 80 triệu người được xử dụng trực tiếp trong kỹ nghệ xây cất, vì vậy một sự yếu kém kinh tế kéo dài đe dọa dẫn đến thất nghiệp nhiều hơn và xáo động xã hội.”
Oâng William XIN, Tài chánh trưởng của China Housing & Land Development Inc., đã tuyên bố:”Now everybody believes the price will go down. And the developpers don’t want to sell at a lower price. Nobody wants to sell, and nobody wants to buy” (The Wall Steet Journal, 24.10.2008, page 9) (Bây giờ mọi người tin là giá sẽ xuống. Va những người xây cất không muốn bán với giá hạ. Không ai muốn bán, và không ai muốn mua.”
Cũng theo Andrew BATSON, kỹ nghệ xây cất liên hệ đến những sản xuất khác: “Housing sales have plummeted. That, in turn, is affecting imports of pivotal raw materials like iron ore, used to make steel.” (Norihiko SHIROUZOU, The Wall Street Journal, 12.11.2008, page 16) (Việc bán nhà cửa chìm sâu xuống. Điều này đang ảnh hưởng tới việc nhập cảng những vật dụng thô như quạng sắt để chế thép). Những tỉ dụ đình trệ về những sản xuất liên hệ đến Địa ốc: giá xi măng, giá sắt thép hạ tới gần 50%; những đồ trang bị nhà cửa cũng đình trệ như máy lạnh giảm mua tới 21%.
Đóng cửa các Xí nghiệp
Trong đoạn đầu chúng tôi đã viết về Thương hiệu Made in China và những lý do đang tàn phá những hàng Trung quốc, nhất là về vải vóc, chăn màn, đồ chơi trẻ con, giầy dép... nghĩa là những hàng nhẹ nhằm xuất cảng. Gặp thời Khủng hoảng Tài chánh, Kinh tế tại những Quốc gia tiêu thụ lớn như Hoa kỳ và Liên Aâu, những đặt hàng từ những Quốc gia này giảm hẳn xuống, tất nhiên những Công ty nhỏ và trung bình của Trung quốc quy tụ chung quanh vùng Quảng Đông làm việc cho Lãnh vực này đang đi đến phá sản.
Nhật báo LE MONDE số 19844 ngày Thứ Năm hôm nay 13.11.2008, dưới đầu đề EN CHINE, DES MILLIERS D’ENTREPRISES FERMENT DANS LA REGION DE CANTON (Tại Trung quốc, hàng ngàn xí nghiệp đóng cửa trong vùng Quảng Đông), đã viết như sau:
“Le vaisseau amiral de l’économie chinoise navigue par gros temps, secoue par la tempete de la crise financiere: la province de Guangdong qui, voici trente ans, fut la figure de proue de l’extraordinaire décollage de la Chine et y symbolisa plus tard la réussite, est aujourd’hui l’une des régions les plus touchées de la République populaire. “On pourrait dire que c’est ici que tout a commencé et que c’est ici que tout pourrait finir”” (page 15) (Đô đốc kỳ hạm đang thảnh thơi lướt sóng, bị chao động bời cơn bão khủng hoảng tài chánh: tỉnh Quảng Đông, ba mươi năm trước đây, đã là bộ mặt dẫn đầu của cuộc cất cánh lạ lùng của Trung quốc và đã là biểu tương của sự thành công sau đó, ngày nay trở thành một trong những vùng bị thiệt hại nhất của nước Cộng hòa Nhân dân. “Người ta có thể nói rằng chính từ nơi này mà mọi sự đã bắt đầu và rằng cũng chính từ nơi này mà mọi sự sẽ chấm dứt.””).
Vùng Quảng Đông chiếm 1/3 những xuất cảng của Trung quốc, đứng hàng thứ 8 cho thu nhập thuế và chiếm 25% những đầu tư nước ngoài. Sự sụp đổ Kinh tế của Quảng Đông trở thành trầm trọng cho Kinh tế Trung quốc.
Bruno PHILIP, tác giả bài báo trên đây, viết tiếp:
“Depuis fin 2007, la machine à produire du miracle s’est grippée et le krach de septembre a amplifíe la tendance. Entre Janvier et Juillet, plus de 3’000 PME de l’industrie de jouet, la plupart des sous-traitants, ont fermé boutique... Les experts remarquent que 95% d’entre elles ne reviendront pas en Chine continentale.” (Từ cuối năm 2007, bộ máy sản xuất phép lạ kinh tế bị bệnh rút co lại và cuộc khủng hoảng tháng Chín đã làm tăng thêm hướng xuống ấy. Trong giữa tháng Giêng và tháng Bẩy, hơn 3’000 Xí nghiệp nhỏ và trung bình về kỹ nghệ đồ chơi, phần lớn làm cho những Công ty khác, đã dẹp tiệm... “Những chuyên viên cho biết rắng 95% trong số những Xí nghiệp này sẽ không trở lại Trung quốc lục địa nữa”.)
Chính việc đóng cửa nhiều ngàn Xí nghiệp như vậy mà Chính phủ Trung quốc mới họp tuần này để tìm giải pháp nâng đỡ các Xí nghiệp khác đang hấp hối.
Tờ FINANCIAL TIMES Thứ Năm 13.11.2008 viết :”China, worried by slowing growth and widespread reports of FACTORY CLOSURES, is to step up support for manufacturers”. Chính phủ không thể không có biện pháp năng đỡ xuất cảng nhằm cứu những xí nghiệp còn đang bị đe dọa đóng cử này.
Chương trình kích thích nội địa
Nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, nghĩa là lệ thuộc vào mức tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ, Liên Aâu... Cuộc khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế làm giảm khả năng tiêu thụ của những Quốc gia này, nghĩa những nước này giảm mua hàng Trung quốc.
Trung quốc buộc lòng phải kích thích tiêu thụ nội địa nếu muốn đà phá triển sản xuất giữ được mức độ cân bằng bù trừ nào đó. Hai tác giả Aaron BACK và J.R.WU, trong The Wall Street Journal, ngày 13.11.2008, trang 24, còn nhận xét một điều đáng lo ngại cho Trung quốc là chính việc tiêu thụ nội địa đang giảm xuống:”China’s retail sales growth SLOWED in October.” (Độ tăng bán lẻ của Trung quốc đã hạ xuống trong tháng 10). Cùng nhận xét như vậy, Tác giả Andrew BATSON, trong The Wall Street Journal ngày 12.11.2008, trang 17, đã trích dẫn Thống kê của Nhà Nước: “The consumer index rose 4% in October from a year earlier, compared with 4.6% in September and well down from February’s peak of 8.7%” (Chỉ số tiêu dùng đã tăng 4% trong tháng 10 tính từ đầu năm trước, sánh với 4.6% trong tháng 9 và giảm xuống nhiều sánh với độ cao nhất của tháng 2.). Như vậy việc nâng đỡ tiêu thụ nội địa không phải chỉ là bù trừ việc giàm mua hàng từ nước ngoài, mà còn chống lại chính việc đang giảm việc tiêu thụ từ chính trong nội địa Trung quốc.
Đảng và Nhà Nước Trung quốc vừa quyết định dành ra USD.586 tỉ. Đây là Chương trình mang tính cách dài hạn, trong khi ấy vấn đề xuống dốc Kinh tế nằm trong cấp thời và ngắn hạn phải giải quyết. Thực vậy, chương trình USD 586 tỉ đặt trọng tâm vào xây dựng hạ tầng cơ sở Kinh tế như đường sá, cầu cống, ống dẫn dầu...
Nhận định về hiệu lực của Chương trình này, dưới hàng chữ lớn CRITICS OF GOVERNMENT’S INFRASTRUCTURE SPREE WORRY EFFORT WILL END UP BEING WASTE OF MONEY, Oâng Andrew BATSON viết ngày hôm qua 12.11.2008 trong THE WALL STREET JOURNAL như sau:
“This road boom is taking place in a poor, largely rural country where only about 10% of the population have their driver’s licenses... New roads and buildings are going unused and will end up being waste of money. In the poorest areas, some highways are often empty but for crops farmers spread out on them to dry in the sun.” ( Cuộc bùng dậy xây đường sá này xẩy ra ở một xứ nghèo nàn, chính yếu là dồng quê nơi mà chỉ vào khoảng 10% dân số có bằng lái xe... Những con đường mới và cao ốc sẽ không được xử dụng và sẽ kết thúc bằng tiêu phí tiền bạc. Ở những vùng nghèo khổ nhất, nhiều xa lộ thường vắng xe trống rỗng trừ trường hợp những người dân quê xử dụng để phơi nắng cho khô sản phẩm nông nghiệp dưới ánh mặt trời.)
Thực sự thì việc xây dựng hệ thống đường sá đã được hoạch định từ những chục năm trước và chương trình muốn chấm dứt mãi tới năm 2020. Đây là việc chi tiêu mang tính dài hạn, trong khi ấy Trung quốc cần phải có biện pháp cấp thời để khả năng tiêu thụ nội địa bù trừ cho việc cắt giảm đặt mua hàng hiện nay từ nước ngoài. Số tiền USD.586 tỉ là dự chi cho toàn Chương trình bao trùm một thời gian dài. Người ta dự đoán rằng nếu chương trình được khởi công lại, thì Trung quốc cũng chỉ tiêu cho hạ tầng cơ sở khoảng 1/5 tổng số tiền đã tuyên bố.
Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội
Chỉ tính cụ thể 80 triệu người được xử dụng trong ngành Xây cất Nhà cửa đang trong tình trạng bị đe dọa sa thải, cộng với số nhân công dùng trong 3’000 xí nghiệp đã bị đóng cửa tại vùng Quảng Đông, Nhà nước Trung quốc phải đứng trước nạn thất nghiệp mới nhất lên tới con số chứng 100 triêu người. Những người này phần lớn đến từ những vùng quê thuộc nội địa. Việc đẩy họ về nguyên quán có thể gây những xáo trộn xã hội.
Trong LE MONDE số ra ngày 13.11.2008, trang 15, Ký giả Bruno PHILIP đã viết như sau: “Les conséquences de la crise se font déjà sentir sur l’emploi. Selon le site www.Sina.com, des miliers d’ouvriers migrants sont en train de quitter le delta de la rivìere des Perles et rentrent dans leurs campagnes, faute de travail. Des responsables de la gare de Canton ont indiqué que 130’000 voyageurs quittent chaque jour la métropole en train.” (Những hậu quả của khủng hoảng đã cảm thấy đối với việc làm. Theo diễn đàn www.Sina.com , từng ngàn thợ di dân đang bỏ châu thổ của con sông Ngọc và trở về thôn quê của họ vì thiếu việc làm. Những người trách nhiệm của nhà ga xe lửa Quảng Đông cho biết rằng mỗi ngày có 130’000 người bỏ nơi thành thị này bằng xe lửa.)
Tác giả Alain FAUJAS, trong LE MONDE ngày 11.11.2008, trang 13, đã nhận định về tình trạng xáo động xã hội liên quan đến Chính trị như sau: “MANIFESTATIONS POPULAIRES—Le taux de croissance inquìete Pékin qui voit se multiplier les manifestations populaires contre l’inflation et les fermetures d’entreprises dans le sud de la Chine. On prête au gouvernement l’intention de maintenir coute que coute la croissance au-dessus de 7%, niveau jugé indispensable pour la stabilité politique du pays. (NHỮNG BIỂU TÌNH DÂN CHÚNG—Độ tăng trưởng kinh tế làm cho Bắc Kinh lo lắng vì nhìn thấy những cuộc biểu tình dân chúng đang được nhân lên chống lại lạm phát và việc đóng cửa những xí nghiệp thuộc miền Nam Trung quốc. Người ta nói rằng Nhà nước phải cố thủ giữ bằng bất cứ giá nào độ tăng trưởng bên trên 7%, mức độ được coi là cần thiết để giữ yên ổn Chính trị cho đất nước.)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 08:
NĂNG SUẤT CAO (PRODUCTIVITE ELEVEE) CỦA NỀN KINH TẾ TƯ DOANH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 20.11.2008
Chúng tôi viết bài này đúng trong lúc các nước họp bàn nhiều về những biện pháp mà Nhà Nước có thể can thiệp vào nền Kinh tế Tư bản Tư doanh đang gặp cơn Khủng hoảng Tài chánh và có những triệu chứng lan sang Lãnh vực Kinh tế thực.
Trước cuộc Họp Thượng đỉnh G20 tại Hoa Thịnh Đốn ngày 15.11.2008, TT.Pháp SARKOZY hô hào vận động theo khuynh hướng Xã hội cho một sự can thiệp mạnh của một Tổ chức Hoàn cầu nhằm Kiểm soát và Điều hợp hê thống Ngân Hàng/ Tài chánh Thế giới. Tham vọng này đã bị phản đối mạnh bởi Hoa kỳ và Gia Nã Đại.
Bản Thông Cáo chung của cuộc Họp G20 kết luận: “Nous devons poser les fondations d’une réforme qui nous aidera à garantir qu’une crise mondiale comme celle-ci ne se reproduira pas” (Chúng ta phải đặt những nền tảng của một cuộc cải cách để giúp chúng ta bảo đảm rằng một cuộc khủng hoảng như cuộc khủng hoảng này sẽ không xẩy ra nữa) (Journal LE TEMPS Suisse Lundi 17.11.2008, p. 3). Nhưng cũng trong số Báo này, ý kiến của TT.BUSH khẳng định như sau: “Cette crise n’est pas l’échec de l’économie de marché, et la réponse n’est pas de réinventer le système” (Cuộc khủng hoảng này không phải là sự thất bại của Kinh tế Thị trường, và câu trả lời không phải là đi phát minh một hệ thống mới).
Tờ báo còn tường thuật rằng: “La semaine dernìere, en prévision de la rencontre, George BUSH avait ardemment défendu les vertus du capitalisme et du libre marché” (Tuần vừa rồi, như để sửa soạn cho cuộc Họp, George BUSH đã chống đỡ mạnh mẽ cho những lợi điểm của nền Kinh tế Tư bản và cho Thị trường tự do) (Journal LE TEMPS Suisse Lundi 17.11.2008, p. 3).
Ngay cả Trung quốc, một nước chủ trương Chỉ huy Tập quyền Kinh tế, cũng không biết một sự kiểm soát và điều hành Kinh tế hoàn cầu theo kiểu nào. Oâng Jin LIQUN, Chủ tịch Tập đoàn China Investment Corp.’s, đã tuyên bố: “China doesn’t have the answers on how to create a proper global regulatory regime” (Trung quốc không có những câu trả lời về việc làm thế nào để sáng tạo ra một chế độ điều hành tổng quát đúng đắn) (THE WALL STREET JOURNAL, Tuesday November 18, 2008, p.22)
Trong hai bài 06 và 07 liền trước đây, chúng tôi đã phân tích về sự yếu kém năng suất của những Công ty quốc doanh và về những biến chứng thua thiệt khi có sự nhúng tay của quyền lực chính trị vào Kinh tế. Bài số 08 này nói về NĂNG SUẤT CAO (PRODUCTIVITE ELEVEE) CỦA NỀN KINH TẾ TƯ DOANH trong tinh thần mà Hoa kỳ và Gia Nã Đại bảo vệ trong cuộc họp G20 tại Hoa Thịnh Đốn ngày 15.11.2008.
Những khía cạnh sau đây được đề cập:
=> Mấy tỉ dụ dẫn nhập
=> Thưởng công và Chế tài Nhân lực
=> Cập nhật hóa những phát minh
=> Quản trị Chi tiêu theo chiều hạ giá thành
Mấy tỉ dụ dẫn nhập
Ở cái thời Kinh tế Chỉ huy toàn diện tại Liên xô, người ta thấy nông dân làm việc trong các Kolkhoz và Soukhoz không gạt hái được nhựng hiệu năng như các Chương trình Ngũ niên hoạch định. Nhà nước Công sản tìm đủ mọi cách để có thể làm tăng năng suất của nông dân. Nhà nước nêu những khẩu hiệu như “Anh hùng lao động”, tặng huy chương để kích thích nông dân làm việc. Nhưng năng suất vẫn kém bởi vì huy chương không đủ sức kích thích để nông dân làm việc ngày đêm. Nhà nước lại dùng biện pháp kiểm soát do những cán bộ nông nghiệp, nhưng nông dân vẫn tìm được cách để trốn việc. Cuối cùng, Nhà nước cấp cho nông dân mấy sào ruộng riêng và con bò cái. Tự nhiên ruộng riêng có rau cỏ mọc tươi tốt trong khi ấy ruộng nhà nước thì cây cối khô cằn. Con bò riêng thì béo tốt, mang bọng sữa lớn. Nông dân làm việc đêm ngày cho ruộng riêng, chăm nuôi kỹ càng con bò cái của riêng mình.
Người ta thường kể rằng con gái Nga có thân người rất đẹp, nhưng thiếu nụ cười, mặt chằm dằm vô duyên. Họ làm việc trong các Hợp Tác Xã của Nhà nước, thì cần gì phải cười để dụ khách hàng đến mua. Con gái làm việc trong các Tiệm của Kinh tế tự do và tư nhân, thì phải luôn luôn cười duyên để chiều khách hàng và được thưởng công.
Thưởng công và Chế tài Nhân lực
Hai tỉ dụ cho thấy rằng khi làm việc cho mình và kết quả của những cố gắng thì mình được hưởng, lúc đó mới có sự cố gắng tăng năng suất.
Trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường, điều căn bàn là Tư hữu. Khi làm việc, ai cũng mong chiếm tư hữu cho mình. Tư hữu để bảo đảm cuộc sống cho chính mình khi còn sức làm việc hay khi về già; tư hữu để bảo đảm cho con cháu. Đó là động lực chính yếu để tăng năng suất.
Khi một công nhân làm việc, tăng năng suất tốt, thì tăng lương, đó là sự thưởng công, khuyến khích tăng thêm năng suất. Cái huy chương “Anh hùng lao động” không đủ sức hấp dẫn để làm tăng năng suất. Điều làm cho một người chơi tennis cố gắng tập luyện, không phải là cái cúp, mà nhìn qua cái cúp ấy, anh ta lãnh được bao nhiêu tiền làm tư sản.
Cũng vậy, đứng về mặt tiêu cực, thì cũng chính cái tư hữu chế tài những ai kém năng suất làm việc. Ai làm việc kém năng suất, thì giảm lương hoạc sa thải, nghĩa là mất lương.
Đến đây, tôi nhớ đến một tỉ dụ bản thân. Khi là sinh viên, tôi thường đi làm việc trong các Tiệm ăn để kiếm tiền. Một buổi đêm, tôi phải lau chùi bếp đến một giờ sáng. Oâng chủ đến ôm lấy tôi và nói rằng ông thương tôi lắm. Làm việc thêm giờ và đang mệt, tôi bực mình nói với Oâng rằng tôi đến đây làm việc không phải vì ông thương tôi hay không mà chỉ vì đồng lương không hơn không kém. Oâng trả thêm lương, thì tôi làm việc đến 2, 3 giờ sáng cũng được mà không biết mệt, không cằn nhằn gì cả.
Cập nhật hóa những phát minh
Lịch sử phát triển Kinh tế là Lịch sử áp dụng những khám phá khoa học vào Lãnh vực sản xuất Kinh tế. Đây là vấn đề xử dụng Chất Xám làm tăng hiệu năng của bắp thịt nhân lực. Kỹ nghệ hóa sản xuất có nghĩa là xử dụng những máy móc vào tiến trình sản xuất để làm tăng hẳn lượng sản xuất.
Cuộc Cách Mạng Kinh tế của Anh quốc là do áp dụng khám phá khoa học về Máy Hơi nước vào tiến trình sản xuất, vào phương tiện phân phối hàng hóa. Kinh tế Anh quốc đứng hàng đầu Thế giới hồi ấy là do sự áp dụng này.
Ngày nay tốc độ chu kỳ dịch vụ tăng thần tốc là do việc áp dụng khám phá về điện tử vào các xí nghiệp. Hãy so sánh thời xử dụng Telex, Fax và E-Mail hiện nay.
Trong mọi lãnh vực hoạt động Kinh tế, tỉ dụ ngay nông nghiệp chẳng hạn, người ta tìm đủ mọi cách để cơ giới hóa.
Những Công ty lớn trên Thế giới sống còn là do sự mau chóng áp dụng những khám phá Khoa học vào Tiến trình sản xuất của mình. Chỉ cần chậm áp dụng những khám phá khoa học, thì đã bị những Công ty khác lấn át trong cạnh tranh để mình có thể đi đến phá sản.
Quan sát những nước trên Thế giới, người ta thấy rõ rệt rằng những Quốc gia chủ trương nền Kinh tế tư bản và thị trường tự do là những nước có đà áp dụng những khám phá khoa học vào Tiến trình sản xuất Kinh tế mau mắn nhất: Hoa kỳ, Nhật, Nam Hàn, Đức, Pháp...
Quản trị Chi tiêu theo chiều hạ giá thành
Paul SAMUELSON khi nói về lợi nhuận trong nền Kinh tế cạnh tranh thị trường đã đưa ra như một Định lý:”Trong dài hạn, Lợi nhuận tiến đến chiều hướng triệt tiêu”, nghĩa là: Lợi Nhuận = Giá Bán - Giá Thành = 0
Thực vậy, ở Thị trường cạnh tranh, rất khó lòng tăng giá bán để có Lợi nhuận cao. Vì vậy việc quan trọng là phải quản trị Giá Thành, phải căn cơ Chi Tiêu để hạ Giá Thành xuống thấp để làm tăng Lợi nhuận.
Những Công ty quốc doanh không có sự cố gắng căn cơ quản trị này bởi vì họ chi tiêu tiền của Nhà Nước, “tiền chùa”, nên không những không có sự thương xót mà còn tiêu xài lãng phí hoặc cát xén bỏ vào túi riêng mình nữa. Trong nền Kinh tế tư doanh, chi tiêu là chi tiêu tư hữu của mình, nên tất nhiên không thể không căn cơ.
Nếu nói Lợi nhuận là mức đo tổng quát hiệu năng Kinh tế của một Công ty, thì chính những Công ty tư doanh mới có hiệu năng cao được.
Đứng về mặt lợi ích xã hội cho quần chúng tiêu thụ, thì việc quản trị giá thành theo chiều hướng giảm xuống là một hiệu năng quan trọng cho một nền Kinh tế. Sự thua kém năng suất, hiệu năng của nền Kinh tế tập quyền chỉ huy đối với nền Kinh tế tư bản thị trường tự do là ở phương diện này.
Nói rằng nền Kinh tế Tập quyền Chỉ huy không có Khủng hoảng bởi vì họ có phát triển đâu mà có khủng hoảng. Còn nói rằng Kinh tế Tự do Thị trường có khủng hoảng bởi vì họ đã tiến triển lên mức độ cao, nên khi giảm sút xuống một chút, thì gọi đó là khủng hoảng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 06:
NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 27.11.2008
Từ khi OBAMA được bầu làm Tổng Thống Hoa Kỳ 04.11.2008 cho đến cuối tuần vừa rồi 21.11.2008, tình trạng các Thị trường Chứng khoán tụt dốc mạnh. Nhưng điều lo ngại hơn cả là từ Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh, cuộc khủng hoảng lan sang Lãnh vực Kinh tế, nhất là các ngành sản xuất Xe hơi, Máy móc Điện tử và Truyền thông, từ Nhật qua Liên Aâu và Hoa kỳ. Số thất nghiệp trong Lãnh vực này tăng lên mau chóng. Người ta cũng quan sát thấy hiện tượng tụt giá (Déflation) đe dọa.
Trước viễn tượng cấp bách ấy, Thứ Hai 24.11.2008, OBAMA họp báo tại Chicago tuyên bố Chương trình Phát dộng Kinh tế (Plan de RELANCE ECONOMIQUE) lên tới USD.800 tỉ và Thứ Tư 26.11.2008, tại Bruxelles, José Manuel BORROSO, Uûy Ban Liên Aâu, cũng tuyên bố Chương trình Phát động Kinh tế (Plan de RELANCE ECONOMIQUE) tổng cộng là Euro.200 tỉ.
Căn bản cho những Chương trình Phát động Kinh tế này dựa trên Lý thuyết của John Maynard KEYNES, Nhà Toán học và Kinh tế gia Anh, nghiên cứu những biện pháp khôi phục Kinh tế sau cuộc Đại khủng hoảng 1929-30.
Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây:
=> Những đặc tính của Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế 2007/08 => Căn bản Lý thuyết của John Maynard KEYNES => Nhận định về những Chương trình Phát động Kinh tế => Mấy quan sát về Kinh tế Việt Nam
Những ý tưởng của Bài Phụ Bản 07 này đã được tóm tắt nói qua Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) truyền thanh về Việt Nam.
Những đặc tính của Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế 2007/08
Những Ngân Hàng gia, Kinh tế gia và các Nhà Nước dường như chỉ chú trọng đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh khởi nguồn từ Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credits). Nhưng nếu xét những phát triển Kinh tế nhiều năm trước, người ta phải lưu ý đến những lý do ngoài vấn đề Tín dụng Subprime Địa ốc.
Một số những tác nhân Kinh tế và Nhà Nước thường ca tụng chủ trương Toàn Cầu hóa Tài chánh/Kinh tế (Mondialisation Financìere et Economique). Riêng chúng tôi, chủ trương Toàn Cầu hóa Tài chánh/ Kinh tế không phải là hoàn toàn được ca tụng bởi vì có những khía cạnh nguy hiểm của nó. Thực vậy, nhìn thấy McDONALD’s lan tràn, chúng tôi đã có lần nói rằng tôi thích ngồi lề đường ăn đĩa xôi nấu bắp, chứ không phải lúc nào cũng Big Mac, Hamburger King, Hamburger Queen...
Không phải Tự do Mậu dịch (Libre Echange) giữa các Nước luôn luôn là tốt. Có những Nước, cần phải có sự Che chở cho Kỹ nghệ đang phát triển (Protectionnisme des Industries naissantes). Những nước đã mạnh về Kinh tế như G8 chẳng hạn, thì họ chủ trương Tự do Mậu dịch, Toàn Cầu hóa vì họ có sức mạnh thắng trong mậu dịch.
Tổng thể, chúng ta thấy chủ trương Tòa Cầu Hóa mang đến hai hậu quả sau đây:
* Về Hàng hóa của Lãnh vực Kinh tế thực: Toàn Cầu hóa có nghĩa là mở toang biên giới để những nước mạnh Kinh tế tha hồ chiếm Thị trường mới để phân phối tự do Hàng hóa của họ đến mọi nơi, tận những nước nghèo khổ.
* Về Tiền bạc của Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh: Toàn Cầu Hóa có nghĩa là Tập Trung Tiền bạc về những nước giầu từ những nước nghèo mua Hàng hóa do chủ trương Tòa Cầu hóa Hàng hóa đến tận nông thôn mỗi nước nghèo.
Tóm lại Toàn Cầu hóa Mậu dịch có nghĩa là phát tán Hàng hóa từ những nước giầu đến mọi nơi để bán và Tập trung Tiền bạc về những Ngân Hàng của những nước giầu. Tôi thường viết công thức sau đây:
TOÀN CẦU HOÁ HÀNG HÓA = TẬP TRUNG HÓA TIỀN BẠC (Mondialisation des marchandises = Centralisation Monétaire)
Khi Tiền bạc của Thế giới tập trung về những Ngân Hàng của những nước giầu rồi, thì những Ngân Hàng này lại dùng Tiền thu được để cho những Công ty tại những nước giầu vay để sản xuất thêm Hàng hóa phát tán ra những nước nghèo theo chủ trương Toàn Cầu Hóa. Những Ngân Hàng lớn rất khó cho những nước nghèo vay mặc dầu số tiền tập trung về Ngân Hàng lại đến từ việc bán Hàng hóa tại những nước nghèo.
Phát triển Kinh tế Thế giới trong nhiều năm trước cuộc Khủng hoảng hiện nay được ghi nhận với những đặc tính sau đây: * Giảm sút việc sản xuất những Nhu Yếu Phẩm cho 80% nhân số nghèo Thế giới. 80% nhân số Thế giới cần Thực phẩm để nuối thân xác. Việc sản xuất Thực phẩm (Produits alimentaires) giảm sút hẳn. * Những nước giầu và đã kỹ nghệ hóa lại tăng gấp bội việc sản xuất những Hàng hóa cho việc ăn chơi thỏa thích, xa xỉ phẩm (Produits de plaisir, de luxe). Tỉ dụ Xe hơi sang trọng, Máy móc về nhạc, Truyền hình, Điện thoại lưu động... Những người tiêu thụ thuộc vào thiểu số 20% nhân số Thế giới cho những hàng hóa này. * Những nước nghèo, chính lẽ phải chú trọng vào việc phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp để sản xuất Thực phẩm cho 90% dân số, thì lại chú trọng vào việc sản xuất những Hàng hóa ăn chơi, xa xỉ phẩm nhằm phục vụ cho dân tiêu thụ tại những nước giầu.
Chính vì vậy mà cuộc Khủng hỏang hiện nay 2007/08 phải kể đến 3 giai đoạn đã diễn ra như sau:
1) Khủng hoảng Thực phẩm Trước khi Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credits) tạo nguồn cho xuất hiện Khủng hoảng Tài chánh, thì xẩy ra cuộc Khủng hoảng Thực phẩm Thế giới. Vất giá Thực phẩm tăng vọt. 90% dân nghèo Thế giới không đủ khả năng mua thực phẩm mà sống qua ngày. Đây là hậu quả của một nền Kinh tế Thế giới giảm sản xuất Thực phẩm, trong khi đó nhân số dân nghèo tăng lên . Phía CẦU của Thực phẩm tăng lên, trong khi đó phía CUNG của Thực phẩm giảm xuống. Giá cả thực phẩm của Thị trường tăng vọt. Đó là luật CUNG, CẦU của Kinh tế.
Để đối phó với cuộc Khủng hoảng Thực phẩm này, 163 nước đã họp lại tại Roma để tìm cách giải quyết hay cứu vớt. Nhưng Thế giới, nhất là những nước giầu có khả năng, không có một Chương trình Bailout nào hay một Chương trình Phát động Kinh tế Thực phẩm nào. Đa số 80% dân nghèo Thế giới khổ sở vì vật giá tăng vọt đến nỗi không đủ đồ ăn. Họ khổ sở hơn nhiều sánh với những người thất nghiệp từ Ngân Hàng hay từ những hãng sản xuất Xe hơi tại những nước giầu. Hàng trăm, hàng ngàn tỉ Đo-la, Euro đang được các Nhà Nước, các Quốc Hội quyết định bỏ ra để cứu vớt ngân hàng, phát động sản xuất những hàng hóa xa xỉ phẩm, giúp đỡ những ngưới thất nghiệp từ Lãnh vực xa xỉ phẩm này.
2) Khủng hoảng Tài chánh Chủ trương Toàn Cầu Hóa = Tập Trung Hóa Tiền bạc/Tài chánh vào những Ngân Hàng lớn Thế giới. Những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh xử dụng Khối tiền tập trung để làm một Kỹ nghệ biến chế ra những Sản phẩm Tài chánh (Produits financiers) để buôn bán kiếm Lợi nhuận khổng lồ với nhau ở những Thị trường Chứng khóan. Một trong những sản phẩm này mang chất độc (Mortgage SUBPRIME Credit = Mortgage TOXIC Credit) bắt đầu làm hại Lãnh vực Tài chánh từ tháng 7/2007 và bùng nổ ngày 15.09.2008 tàn phá Wall Street. Từ Wall Street, Tsumani Tài chánh lan ra khắp Thế giới. Tất cả mọi nước đều phải bỏ ra những tiền tỉ để cứu mạng các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh. Hoa kỳ ngoài việc cứu vớt FANNIE MAE, FREDDIE MAC và AIG với USD.300 tỉ, còn phải dành ra Plan Bailout Paulson USD.700 tỉ để mua những sản phẩm Tài chánh ung thối của Lãnh vực Ngân Hàng.
3) Khủng hoảng Kinh tế Nếu Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh có phần ổn định, thì Lãnh vực Kinh tế thực lại bắt đầu mắc bệnh. Người ta nhận thấy rằng cơn bệnh khủng hoảng tập trung vào những Hàng xa xỉ phẩm, ăn chơi. Lãnh vực này đã tăng Hàng hóa xa xỉ phẩm theo cấp số nhân. Việc sản xuất đủ loại Xe hơi, đủ loại Máy móc âm thanh và hình ảnh, đủ loại điện thoại di động... để thúc đẩy dân chúng xử dụng như phong trào, đôi lúc cuồng loạn.
Vì việc sản xuất trong Lãnh vực xa xỉ phầm tăng lên theo cấp số nhân, nên hậu quả sẽ là: CUNG nhiều hơn CẦU. Đây là tình trạng đang làm khởi đầu hiện tượng tụt giá những hàng xa xỉ phẩm (Déflation). Sản xuất quá nhiều, bán không hết, hàng ứ đọng, thì giá phải xuống, xí nghiệp bị đe dọa.
Tình trạng đang đưa đến việc Nhà Nước phải bỏ ra từng trăm, ngàn tỉ Đo-la, Euro nữa để làm những Chương trình Phát động Kinh tế (Plan de Relance Economique). Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) hỏi tôi xem có lạc quan trước tình trạng Khủng hoảng Kinh tế này hay không. Tôi trả lời là tôi lạc quan vì coi đây là một cuộc làm xẹp bớt cái bong bóng mà Lãnh vực hàng xa xỉ phẩm đã cố tình thổi phồng lên quá lớn. Phải cho xẹp xuống cho đúng mức.
Căn bản Lý thuyết của John Maynard KEYNES
Những Chương trình Phát động Kinh tế, từ Chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU LỬA của McCAIN, đến Chương trình TẠO KHẢ NĂNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA USD.586 tỉ của Trung quốc, Chương trình USD.800 tỉ của Hoa kỳ (OBAMA), Chương trình EURO.200 tỉ của Liên Aâu (MORROSO) có nền tảng Lý thuyết của John Maynard KEYNES.
Tác giả Claire GUELAUD, dưới đầu đề UNE POLITIQUE ECONOMIQUE KEYNESIENNE đã nói về Chương trình mang tính cách dài hạn và tổng quát:”...Aller au-delà ou s’orienter vers une intervention plus globale et une relance budgétaire de type keynésien ? (... Vượt quá mức (hiện hành) hay hướng về một sự can thiệp tổng quát hơn và một sự phát động ngân sách theo kiểu Keynes hay không ?) (LE MONDE, Mercredi 26.11.2008, page 2).
John Maynard KEYNES, Nhà Toán học và Kinh tế Anh, đã nghiên cứu Cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 và những biện pháp khôi phục.
Cũng bắt đầu từ Lãnh vực Tài chánh, cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh tế 1929-30 xẩy ra mau chóng và toàn diện mà lý do chính là tình trạng Sản xuất quá mức Hàng hóa (Surproduction) thời ấy khi mà Khả năng Tiêu thụ/ Khả năng Thu nhập của quần chúng giảm xuống.
Các nhà Kinh tế đã chứng nhận hiện tượng Tụt dốc Giá cả (Spirale déflationiste) mà không biết đâu là mức cuối cùng. Cái chu trình tụt giá như sau:
Thu nhập quần chúng yếu đi (Revenu diminue) trong khi ấy Sản xuất Hàng hóa quá nhiều (Surproduction des Produits). Như vậy CUNG lớn hơn CẦU mà hậu quả trực tiếp là Giá cả Hàng hóa giảm xuống (Prix de vente diminue). Bán Hàng hóa với giá hạ, Lợi nhuận yếu hoặc thua lỗ, nên các Công ty sản xuất buộc phải thải Thợ ( Chomage augmente). Thất nghiệp tăng có nghĩa là Thu nhập quần chúng càng yếu đi. Chu trình quay lại từ đầu làm cho việc tụt dốc giá cả càng tụt dốc thêm (Spirale déflationiste).
Các biện pháp khôi phục Kinh tế là phải làm thế nào để tăng Khả năng tiêu thụ/Khả năng thu nhập của quần chúng để phía CẦU tăng lên. Như vậy mới có thể làm ngưng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste).
Biện pháp thứ nhất là giúp đỡ trực tiếp cho dân chúng dưới hình thức Trợ Lực Xã Hội (Aide Sociale), kiểu Welfare còn tồn đọng đến ngày nay.
Cũng lưu ý tìm kiếm những biện pháp, nhà Toán học/Kinh tế gia KEYNES không chủ trương việc Giúp đỡ Xã Hội trực tiếp, mà phải kiếm việc cho quần chúng làm và trả lương, như vậy làm giảm thất nghiệp và làm tăng khả năng thu nhập tiêu thụ.
KEYNES chủ trương những Chương trình xây dựng Hạ tầng cơ sở lớn mà Nhà Nước bỏ vốn đầu tư vào (Grands Travaux Publics). Hoa kỳ đã áp dụng biện pháp của KEYNES bằng những Chương trình xây cất hệ thống Đường Sá, xây cất những Tòa nhà Hành chánh lớn, xây dựng những Đập Nước... Những người thất nghiệp được xử dụng trong những chương trình này và họ có lương, tăng khả năng tiêu thụ. Phía CẦU tăng và chận đứng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste). Giá cả bắt đầu xoay chiều lên, các Công ty có lợi nhuận và lại thuê Thợ làm việc. Kinh tế phục hồi.
Vì là nhà Toán học, nên KEYNES đã nhìn ảnh hưởng của việc đầu tư vào những Chương trình Xây dựng lớn (Grands Travaux) có tầm ảnh hưởng theo cấp số nhân, nghĩa là đầu tư một đồng, thì có thể tạo việc tăng thu nhập của quần chúng đến 4, 5 lần hơn theo công thức:
0 1 2 3 4 n 1 K = c + c + c + c + c + ....... + c = ---------- 1 - c
c : phần dành ra từ thu nhập của dân chúng dùng vào việc tiêu thụ hàng hóa. Tỉ dụ khi thu vào 1 đồng, dân chúng dành ra 0,75 xu để mua hàng hóa (c = 0.75).
K : được gọi là Số Nhân Đầu Tư của KEYNES (Multiplicateur keynésien).
Vậy, nếu Nhà Nước bỏ ra 2'000 đồng để đầu tư, thì việc tăng thu nhập cho Kinh tế sẽ là:
1 1 2'000 x K = 2’000 x ---------- = 2'000 x ------------- = 2'000 x 4 = 8'000.- 1 - c 1 – 0.75
Ba điểm của biện pháp áp dụng Số Nhân Đầu Tư của KEYNES dược nhấn mạnh như sau:
=> Mức độ (c) mà nhân công xử dụng đồng lương thu được vào việc tiêu thụ là yếu tố tạo những ảnh hưởng nội tại của nền Kinh tế (Effets endogènes) từng đợt để có thể đạt hiệu quả cuối cùng nhân lên. => Việc tiêu thụ phải được thực hiện trong lòng của nền Kinh tế, chứ không được thất thoát ra ngoài. Tỉ dụ tại nước Đức, nếu nhân công được xử dụng lại là những người từ Đông Aâu, những người này mang lương về nước họ để chi tiêu, thì sẽ giảm hẳng hiệu quả Kinh tế cho nước Đức. => Tài trợ cho những Chương trình đầu tư là xử dụng Vay nợ của Nhà nước theo Chính sách Tài chánh Déficit Budgétaire. Chính sách này là việc chuyển nợ từ đời Cha sang đời Con bởi vì chính đời Con được hưởng những hiệu quả của việc đầu tư vào Hạ tầng Cơ sở Kinh tế.
Nhận định về những Chương trình Phát động Kinh tế
Chương trình Bailout Paulson USD.700 tỉ nhằm cứu Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh chứ không nhằm trực tiếp vào việc phát động Lãnh vực Kinh tế. Chính sách giảm Lãi suất Chỉ đạo của FED, CEB và các Ngân Hàng Trung ương từng Quốc gia nhằm gián tiếp hỗ trợ các Công ty về giá vay vốn.
Chúng tôi chỉ muốn nhắc ra đây những CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG KINH TẾ có ảnh hưởng trực tiếp đến Lãnh vực Kinh tế thực.
1) Chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LƯỢNG DẦU LỬA của McCAIN. Chương trình này mang tầm ảnh hưởng tổng quát và dài hạn cho nền Kinh tế Hoa kỳ dựa trên Lý thuyết của J.M.KEYNES và trên những kinh nghiệm đã được áp dụng có hiệu quả tại Hoa kỳ sau cuộc Đại Khủng hoảng 1929-30.
Cuộc Khủng hoảng hiện nay, bắt đầu tư Ngân Hàng/Tài chánh. Lãnh vực Kinh tế thực cũng bắt đầu thải Thợ. Một số Hàng hóa ứ đọng, nhất là Lãnh vực Xe Hơi, Máy Móc Điện tử, Truyền Thông (Mobile Phones chẳng hạn). Người ta có thể nói là những Hàng hóa của Lãnh vực này nhiều quá (Surproduction) mà quần chúng thiếu hụt Khả năng tiêu thụ/ Giảm thu nhập. Phía CẦU thấp hơn phía CUNG, nên Hàng hóa ứ đọng và phải xuống giá.
Chương trình Kinh tế của McCAIN là đầu tư vào việc tạo ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU HỎA gồm việc đầu tư vào Khai thác Dầu từ Alaska, đặt ống dẫn dầu (Oleoduc/Pipe Line), đóng những Tankers chuyên chở Dầu... Tất cả những Công trình Xây dựng lớn này (Grands Travaux) là biện pháp để chống Khủng hoảng, xử dụng khối thất nghiệp, làm tăng Khả năng tiêu thụ của quần chúng và khôi phục Kinh tế.
Nếu Lãnh vực Xe Hơi, ngành Điện tử, Truyền Thông... vì ứ đọng hàng hóa mà phải thải Thợ, thì những người thất nghiệp này được xử dụng ngay vào Chương trình Kinh tế của McCAIN. Chương trình làm tăng Khả năng tiêu thụ của quần chúng và sẽ mua những Hàng hóa bị ứ đọng để khôi phục những Xí nghiệp liên hệ.
Hoa kỳ có khả năng Bailout giới Ngân Hàng/Tài chánh đến USD.700 tỉ. Tại sao, trước tình trạng Khủng hoảng lan sang Lãnh vực Kinh tế, Hoa kỳ không bỏ ra USD.200 tỉ để đầu tư vào những công trình xây dựng lớn, tỉ dụ như chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU HỎA của McCAIN.
Nếu đầu tư vào chương trình USD.200 tỉ, thì số tăng thu nhập/khả năng tiêu thụ của quần chúng được tính theo KEYNES như sau:
USD.200 tỉ x K = USD.200 tỉ x 4 = USD.800 tỉ.
2) Chương trình TẠO KHẢ NĂNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA của Trung quốc Nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, nghĩa là lệ thuộc vào mức tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ, Liên Aâu... Cuộc khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế làm giảm khả năng tiêu thụ của những Quốc gia này, nghĩa những nước này giảm mua hàng Trung quốc.
Trung quốc buộc lòng phải kích thích tiêu thụ nội địa nếu muốn đà phá triển sản xuất giữ được mức độ cân bằng bù trừ nào đó. Hai tác giả Aaron BACK và J.R.WU, trong The Wall Street Journal, ngày 13.11.2008, trang 24, còn nhận xét một điều đáng lo ngại cho Trung quốc là chính việc tiêu thụ nội địa đang giảm xuống:”China’s retail sales growth SLOWED in October.” (Độ tăng bán lẻ của Trung quốc đã hạ xuống trong tháng 10). Cùng nhận xét như vậy, Tác giả Andrew BATSON, trong The Wall Street Journal ngày 12.11.2008, trang 17, đã trích dẫn Thống kê của Nhà Nước: “The consumer index rose 4% in October from a year earlier, compared with 4.6% in September and well down from February’s peak of 8.7%” (Chỉ số tiêu dùng đã tăng 4% trong tháng 10 tính từ đầu năm trước, sánh với 4.6% trong tháng 9 và giảm xuống nhiều sánh với độ cao nhất của tháng 2.). Như vậy việc nâng đỡ tiêu thụ nội địa không phải chỉ là bù trừ việc giàm mua hàng từ nước ngoài, mà còn chống lại chính việc đang giảm việc tiêu thụ từ chính trong nội địa Trung quốc.
Đảng và Nhà Nước Trung quốc vừa quyết định dành ra USD.586 tỉ. Đây là Chương trình mang tính cách dài hạn, trong khi ấy vấn đề xuống dốc Kinh tế nằm trong cấp thời và ngắn hạn phải giải quyết. Thực vậy, chương trình USD 586 tỉ đặt trọng tâm vào xây dựng hạ tầng cơ sở Kinh tế như đường sá, cầu cống, ống dẫn dầu...
Nhận định về hiệu lực của Chương trình này, dưới hàng chữ lớn CRITICS OF GOVERNMENT’S INFRASTRUCTURE SPREE WORRY EFFORT WILL END UP BEING WASTE OF MONEY, Oâng Andrew BATSON viết ngày hôm qua 12.11.2008 trong THE WALL STREET JOURNAL như sau:
“This road boom is taking place in a poor, largely rural country where only about 10% of the population have their driver’s licenses... New roads and buildings are going unused and will end up being waste of money. In the poorest areas, some highways are often empty but for crops farmers spread out on them to dry in the sun.” (Cuộc bùng dậy xây đường sá này xẩy ra ở một xứ nghèo nàn, chính yếu là dồng quê nơi mà chỉ vào khoảng 10% dân số có bằng lái xe... Những con đường mới và cao ốc sẽ không được xử dụng và sẽ kết thúc bằng tiêu phí tiền bạc. Ở những vùng nghèo khổ nhất, nhiều xa lộ thường vắng xe trống rỗng trừ trường hợp những người dân quê xử dụng để phơi nắng cho khô sản phẩm nông nghiệp dưới ánh mặt trời.)
Thực sự thì việc xây dựng hệ thống đường sá đã được hoạch định từ những chục năm trước và chương trình muốn chấm dứt mãi tới năm 2020. Đây là việc chi tiêu mang tính dài hạn, trong khi ấy Trung quốc cần phải có biện pháp cấp thời để khả năng tiêu thụ nội địa bù trừ cho việc cắt giảm đặt mua hàng hiện nay từ nước ngoài. Số tiền USD.586 tỉ là dự chi cho toàn Chương trình bao trùm một thời gian dài. Người ta dự đoán rằng nếu chương trình được khởi công lại, thì Trung quốc cũng chỉ tiêu cho hạ tầng cơ sở khoảng 1/5 tổng số tiền đã tuyên bố.
3) Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ HOA KỲ USD.800 tỉ (OBAMA) Thứ Hai 24.11.2008, trong cuộc Họp Báo tại Chicago, OBAMA tuyên bố Chương trình Phát động Kinh tế USD.800 tỉ. Chương trình nhằm tạo 2.5 triêu công ăn việc làm. Chương trình được tuyên bố, nhưng OBAM từ chối không đi vào chi tiết ở giai đoạn này.
Báo LE MONDE Mercredi 26.11.2008, trang 12, viết: “Il était attendu sur son “plan de relance”, mais refusé d’en préciser les détails à ce stade” (Người ta đợi Oâng nói về “chương trình phát động”, nhưng Oâng đã từ chối không nói rõ về những chi tiết ở giai đoạn này.”
Chúng ta phải đợi tới ngày Oâng nhận chức 20.01.2009. Tuy nhiên, dự định thực hiện tổng quát đã được tiết lộ:
”L’idée est d’investir dans les grands chantiers d’infrastructures: écoles et hopitaux publics, routes, ponts et surtout développement d’énergies alternatives.” ( Ý tưởng là đầu tư vào những công trình xây cất lớn Hạ tầng cơ sở: trường học và những bệnh viện công, đường sá, cầu cống và nhất là việc khai triển những khả năng năng lực thay thế.” (LE MONDE Mercredi 26.11.2008, page 12)
Nếu so sánh hai Chương trình McCAIN và OBAMA, chúng ta thấy Chương trình của McCAIN quy tụ vào một công trình rõ rệt hơn, nhất là hướng công trình toàn diện vào những hậu quả Kinh tế. Năng lượng là yếu tố cốt lõi động cơ của nền Kinh tế. Tong khi đó, Chương trình của OBAMA thiên về lãnh vực Xã hội, nghĩa là không quy tụ mũi dùi chính yếu về lãnh vực kinh tế. Những lãnh vực như đường sá và cầu cống, thì Hoa kỳ đã được mở mang, nên việc tiêu dùng vốn không mấy cần thiết.
4) Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ LIÊN ÂU Euro.200 tỉ Gọi là Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ LIÊN ÂU thì không đúng, mà phải gọi là Phong trào Phát Động Kinh tế các Nước trong Liên Au mới đúng bởi vì các Nước trong Liên Aâu mang những nhược điểm sau đây để không thể có một Chương trình duy nhất:
* Liên Aâu chưa phải là một Liên Bang * Các nước trong khối Liên Aâu nghĩ về mình trước tiên, nhất là về vấn đề tiền bạc. * Các nước trong khối Liên Aâu chưa có sự đồng nhất * Tình hình phát triển Kinh tế của mỗi nước cũng khác nhau * Khả năng tài chánh của mỗi nước cũng khác nhau.
Trong con số Euro.200 tỉ nêu ra, chỉ có Euro.30 tỉ là từ quỹ chung của Liên Aâu. Chương trình thực hiện Phát động Kinh tế của mỗi nước cũng không đồng nhất. Tỉ dụ nước Anh xử dụng phương pháp giảm Thuế TVA 17% để kích thích các Công ty có vốn đầu tư. Nước Đức có khả năng bỏ vốn ra hơn, nhưng khi bỏ vốn ra, họ muốn cứu Kỹ nghệ xe hơi của họ, chứ không cứu hãng Renault... Cũng vậy, nước Ý cứu Fiat của họ chứ không muốn cứu hãng VW của Đức. Ngoài ra, trong số 27 nước trong khối Liên Aâu, thì phần lớn đang nghèo, mới thoát ra khỏi chế độ Cộng sản.
Một điểm quan trọng nữa mà ngay mỗi nước như Pháp, Đức... cũng khó thực hiện những công trình xây dựng hạ tầng cơ sở theo Lý thuyết của KEYNES vì nhân công làm việc trong các công trình lại đến từ những nước khác, nhất là từ Đông Aâu. Họ lãnh lương và đưa về nước họ, nên hiệu quả đầu tư không đạt được theo Số Nhân Cấp Số của KEYNES.
Mấy quan sát về Kinh tế Việt Nam
Đây là khía cạnh phụ thêm mà Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) yêu cầu chúng tôi phát biểu để phát thanh về Việt Nam. Chúng tôi xin tóm tắt trả lời vắn gọn như sau: => CSVN thường rêu ra những chương trình công nghệ hóa. Nhưng thực ra 2/3 những Công ty Việt Nam làm việc thuê cho những Công ty nước ngoài về ngành may mặc, đồ chơi, những linh kiện thô sơ để những công ty nước ngoài mang về xứ họ hoặc bán cho Thị trường Hoa kỳ hay Liên Aâu. Một số những công ty nhỏ từ Đài Loan, Hong Kong... mở xưởng sản xuất những hàng loại thông thường để cung cấp cho Thị trường các nước khác, nhất là Tây phương. Tình trạng sản xuất ở Việt Nam sẽ dẹp tiệm như vùng Quảng Đông hiện nay. => Vì ăn xổi ở thì theo chương trình gọi là công nghệ hóa, Việt Nam đã thiếu hẳn đầu tư trong lãnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, nền tảng của Kinh tế bền vững của Việt Nam.
Kết quả: Hoa kỳ, Liên Aâu giảm tiêu thụ, thì người ta giảm mua hàng, các công ty làm thuê cho nước ngoài sẽ đóng của, trong khi ây việc phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp Việt Nam đã bị quá chậm đối với Thái Lan.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 07:
TỪ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ LAN SANG KHỦNG HOẢNG XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 04.12.2008
Từ trên 2 năm nay, chúng tôi đã viết nhiều và đi theo con đường lật đổ chế độ bóc lột của đảng CSVN qua ngả DẠ DẦY.
Khi Tiền Giang dậy sóng với Phong trào DÂN OAN công khai tụ họp đòi quyền sống, chúng tôi nhìn qua đó mầm mống tiến đến lật đổ chế độ độc tài hiện hành. Những cuộc Cách Mạng lớn trong Lịch sử cũng phải có lực lượng dân nghèo, đói ăn nổi dậy, để đánh tan cường quyền bóc lột.
Việt Nam và Trung quốc được xếp vào những nước bắt đầu phát triển về Kinh tế. Bà Francoise NICOLAS nghiên cứu về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997 mà những nước bị ảnh hưởng nhất thời ấy cũng được coi là những nước đang trên đà phát triển. Cuộc Khủng Hoảng 1997 dẫn đến suy thoái mạnh Kinh tế như tại Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương. Nước bị suy thoái nặng hơn cả là Nam Dương. Việc suy thoái Kinh tế dẫn đến Căng thảng Xã Hội, Xáo trộn Xã Hội và tạo bếp bênh Chính trị. Bà đã phân tích cụ thể việc ra đi của chế độ dộc tài SUHARTO tại Nam Dương trong suốt 32 năm.
Theo dõi việc phân tích cuộc Khủng Hoảng Tài chánh 1997, tôi muốn nhìn xem tình trạng phát triển bấp bênh Kinh tế tại Việt Nam có những triệu chứng dẫn đến một cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế hay không.
Đầu năm 2007, tình trạng vật giá tại Việt Nam, nhất là những hàng nhu yếu phẩm, tăng vọt bất thường khiến Dân nghèo không đủ khả năng tiêu thụ những nhu yếu phẩm cho cuộc sống thân xác mình. Dân nghèo càng nhìn thấy rõ hố sâu cách biệt giầu nghèo. Chúng tôi luôn luôn nhớ lời tuyên bố của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố với báo Financial Times:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói).
Cuộc Khủng Hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới 2007-08 diễn tiến theo ba giai đoạn:
=> Khủng hoảng vật giá tăng vọt cho nhu yếu phẩm. Tôi gọi đây là cuộc Khủng hoảng khả năng tiêu thụ của giới nghèo.
=> Khủng Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credit) bắt nguồn cho Khủng hoảng Ngân Hàng của giới Tài chánh. Tôi gọi đây là Khủng hoảng của giới giầu.
=> Khủng hoảng Ngân Hàng/Tài chánh lan sang Khủng hoảng Kinh tế hạn định vào Kỹ nghệ sản xuất những hàng dành cho tiêu thụ ăn chơi (Produits de luxe et de plaisir). Đây là việc sản xuất quá nhiều (Surproduction).
Đối với tôi, điều quan tâm hơn cả trong việc theo rõi cuộc Khủng Hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới hiện nay là ở chỗ xem hậu quả của nó như thế nào cho Kinh tế Việt Nam và cho Trung quốc mà chế độ hiện hành VN coi như gương mẫu. Ngay khi quan sát những hậu quả này, tôi đặc biệt lưu ý xem việc Khủng hoảng Kinh tế của hai nước lan sang Khủng hoảng đời sống Xã hội ra sao để từ đó Dân nghèo buộc lòng đứng lên lật đổ chế độ đã bóc lột đến tận DẠ DẦY của đại đa số dân chúng.
Giới Lãnh đạo của hai đảng Cộng sản Trung quốc và Việt Nam không quan tâm nhiều cho lắm về sự tụt giốc Kinh tế của hai nước bởi lẽ họ đã thâu góp dư tiền bạc để vẫn sống sung sướng mặc cho dân nghèo đau khổ. Điều mà họ sợ sệt nhất đó là cuộc Khủng hoảng mang đến xáo trộn Xã hội đến mức Dân nghèo chịu không được phải đứng lên hạ bệ họ khỏi quyền hành.
Điều mà họ sợ đã bắt đầu diễn ra tại hai nước, nghĩa là Khủng hoảng Kinh tế đang lan sang Khủng hoảng Xã hội và rồi Chính trị.
Khủng hoảng Xã hội bắt đầu tại Việt Nam
Xí nghiệp Việt Nam làm việc cho xuất cảng ở những hàng nhẹ và linh kiện. Khủng hoảng Tài chánh làm cho Việt Nam thiếu vốn nước ngoài trong khi ấy vốn trong nước hầu như không có. Khủng hoảng Kinh tế Thế giới làm giảm hẳn việc đặt mua hàng Việt Nam từ nước ngoài. Các Xí nghiệp đóng cửa. Nhân công từ thôn quê lên tỉnh làm việc bị thất nghiệp, phải trở về nông thôn trong tình trạng thiếu đầu tư, mở mang.
Chúng tôi trích bản tin sau đây làm tỉ dụ:
“Công nhân thất nghiệp trở về nông thôn. RFA-12-01-2008
Tình trạng khủng hoảng kinh tế ở VN đang làm cho giới lao động ngoại tỉnh trở về nông thôn.
Bà Nguyễn Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa Học Lao Động, được Vietnam Net trích thuật, tiên đóan rằng bước sang năm 2009 số nhân công bị mất việc làm ở thành phố rất lớn, nhất là những lao động tự do.
Vẫn theo tin này, TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, nhận định rằng nông dân VN đuối sức sau một năm đầy biến động, làm ăn thua lỗ, chi phí đầu vào cao, nhưng đầu ra của nông sản hết sức bấp bênh. TS Đặng Kim Sơn cho rằng số người nghèo ở VN đang gia tăng.”
Kinh tế càng tụt dốc, tì tình trạng xáo trộn Xã hội càng tăng thêm.
Khủng hoảng Xã hội đang diễn ra tại Trung quốc
Ngày 29.11.2008, Chủ tịch nước Trung quốc HU JINTAO đã phải công nhận hậu quả Khủng hoảng Kinh tế Thế giới hiện nay đang gây thiệt hại nặng cho Trung quốc. Oâng nói:”Certains indicateurs economiques montrent un déclin accéléré” (Những dấu chỉ kinh tế cho thấy một cuợc suy thoái tăng tốc độ.” (LE MONDE, Thư Năm 04.12.2008, trang 14).
Dưới tựa đề CHINA FEARS ITS RESTIVE MIGRANT POPULATION AS JOBS VANISH IN THE CITIES, Tác giả Shai OSTER (in China) đã viết một bài dài hai trang về tình trạng thất nhgiệp và trở về nông thôn của giới công nhân lang thang, đăng trên THE WALL STREET JOURNAL Europe, Thư Tư 03.12.2008, pp.16-17. Số Restive Migrant Population (Dân lang thang bị giao động) lên tới con số 130 triêu): “Mr.FAN is among hundreds of thousands of China’s 130 million migrant workers—known as the “floating population”—being cast out of urban jobs in factories and at construction sites” (Oâng FAN là trong số hàng trăm ngàn của khối 130 triệu nhân công lang thang của Trung quốc—được gọi là “dân chúng nổi trôi”—mất việc tại các xưởng và các vùng xây cất). Tác giả Shai OSTER tiếp:”Fast-rising unemployment has led to an unusual series of strikes and protests” (Việc tăng thất nghiệp nhanh chóng này dẫn đến những loạt đình công và phản đối bất thường).
(Trong phạm vi bài này, chúng tôi không đi vào những chi tiết về số lượng đình công, phản đối tại từng vùng. Chúng tôi sẽ viết một bài riêng về tình trạng xáo trộn xã hội và những phản đối đang diễn ra tại Trung quốc).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 08:
CẤU KẾT GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ ĐẺ RA QUÁI THAI THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 11.12.2008
Chúng tôi muốn tiếp tục viết Bài thứ 9 thuộc Chủ đề: DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH. Nhưng vì những sự việc xẩy ra trong tuần này mà chúng tôi phải viết về THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, quái thai do việc đánh đĩ giữa độc tài Chính trị và dộc quyền Kinh tế cho phép bởi Điều 4 Hiến Pháp:
=> Nhật Bản nói vỗ vào mặt Nhà Nước Việt Nam rằng họ ngưng viện trợ ODA vì THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
=> Người ta viện trợ theo dạng ODA là cho Dân Việt Nam để phát triển Đất Nước. Nhưng đảng CSVN đã cắt xén cho vào túi riêng từng đứa. Đây là hành động phá hoại Tài sản chung.
=> Trong khi ấy ngày 08.12.2008, CSVN đã tiêu tốn tiền bạc chung để tổ chức Phiên Tòa kết án 8 Giáo dân đã phá bức tường trị giá có 3’500’000 Đồng VN do chính CSVN cho dựng lên trên miếng đất có chủ cũng chỉ vì tụi CSVN muốn chiếm miếng đất để chia lô bán bỏ vào túi riêng. Đây cũng là nguyên do của quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ của đảng côn đồ CSVN.
=> Thông tin Kinh tế từ Việt Nam cho thấy rằng hàng hoá Trung quốc, nhất là những hàng nhiễm độc không bán được với Thương hiệu Made in China sẽ tràn vào Việt Nam để giết chết Kinh tế Việt Nam và giết luôn Thương hiệu Made in Viet Nam. Việc lan tràn này cũng lại là do THAM NHŨNG cho phép.
Chính vì những việc gần nhất như trên mà chúng tôi muốn viết Phụ Bản 9 này về THAM NHŨNG.
Tham nhũng không phải là cá nhân
Ở đâu cũng có tham nhũng bởi vì trong lòng mỗi người khi có dịp ngồi bên đống vàng thì cũng muốn biển thủ một thỏi bỏ vào túi riêng mình. Vì mầm tham nhũng nằm ở trong lòng mỗi người, nên tôi ít tin ai nói rằng mình hoàn toàn trong sạch từ trong tư tưởng đối với vấn đề của chung. Trước vấn đề tiền bạc, tôi ít tin tưởng vào sự trong sạch cá nhân. Tôi xin kể ít tỉ dụ sau đây. Có một Mục sư tại Thụy sĩ than vãn thiếu thốn, phải giúp đỡ gia đình ở Việt Nam. Oâng than nghèo và lậy van xin hộc bổng cho con cái học Đại học tại Thụy sĩ. Trong khi đó, Oâng chuyển tiền về Việt Nam để mua đất và xây nhà rất đẹp để về hưu dưỡng. Đối với Tổng Liên Hội Tin Lành Miền Nam, tôi hiểu tại sao họ phải cúi đầu vâng nghe CSVN. Một số Mục sự tìm cách gả con cái ra nước ngoài, nhất là Hoa kỳ. Thâm chí có Mục sư còn nói với tôi: “Hoa kỳ và Tây phương thiếu lòng đạo đức, nên có lẽ đây là việc Chúa gửi Mục sư Việt Nam ra nước ngoài để truyền giảng”. Tôi chỉ mỉm cười và biết kiểu chữa lỗi bẩn thỉu này.
Tóm lại mầm tham nhũng nằm trong mỗi cá nhân. Tôi cũng có mầm tham nhũng ấy. Vấn đề diệt tham nhũng không phải là diệt cái mầm nằm trong mỗi người, nhưng là phải có một CƠ CHẾ khả dĩ không tạo dịp cho cái mầm THUNG NHŨNG lộ diện hoành hành và khi đã hoành hành thì CƠ CHẾ ấy có thể chế tài được.
CƠ CHẾ cấu kết giữa Độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế
Chúng tôi đã viết về Chủ đề này với nhiều bài, nên chỉ muốn tóm tắt trực tiếp vào vấn đề. Cái CƠ CHẾ hiện hành tại Việt Nam cho phép hay chủ trương quyền lực độc tài Chính trị của đảng CSVN nắm trọn độc quyền Kinh tế đất nước qua hệ thống các Tập đoàn Kinh tế do đảng nắm giữ với vốn là tài nguyên Quốc gia hay viện trợ từ nước ngoài. Khi người nắm quyền Chính trị quyết định, xử dụng bạo lực Công an đàn áp, ngồi bên cạnh đống vàng chung là Kinh tế, thì cái mầm THAM NHŨNG trong cá nhân nổi dậy hoành hành mà không có lực lượng nào làm cho cái mầm ấy thụt vòi được. Nếu có ai đụng tới, thì nhà tù sẵn đó để bắt tù tội. Trường hợp PMU là điển hình khi hai Nhà Báo dám đụng tới.
Việc cấu kết giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế là một CƠ CHẾ bao che bởi Điều 4 Hiến Pháp làm cái mầm THAM NHŨNG cá nhân trong mỗi đảng viên trổi dậy và được che chở giữa những người đồng đảng.
Vấn đề là phải DIỆT cái CƠ CHẾ đó như chúng tôi đặt làm Chủ đề cho loạt bài này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bải 09:
THỊ TRƯỜNG LÀ YẾU TỐ ĐIỀU HỢP CỦA NỀN KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 18.12.2008
Thời gian này là lúc hữu ích nhất để viết về vấn đề này. Những người chủ trương một nền Kinh tế tự do và tư nhân lấy Thị trường làm yếu tố điều hợp. Nhưng nhân việc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế hiện giờ, một số những người theo Xã hội Chủ nghĩa lại lên giọng đòi sự can thiệp trực tiếp của quyền lực Chính trị vào Kinh tế. Nhân việc Nhà Nước Liên Bang Thụy sĩ quyết định Chương trình Cứu giúp hai Ngân Hàng UBS và CREDIT SUISSE, Đài Truyền Hình TRS1 đưa ra hai hình ảnh: ông Chủ tịch đảng Xả Hội đòi sự can thiệp gắt gao của Nhà Nước vào hai Ngân Hàng, nhưng Oâng Tổng Thống COUCHEPIN ngồi đối diện đã trả lời rằng Nhà Nước không thể ra lệnh cho Ngân Hàng UBS hay CREDIT SUISSE phải cho Công ty này hay Công ty kia vay vốn hoặc ra lệnh cho hai Ngân Hàng phải đầu tư vào Trung quốc. Đây là việc quyết định của Ngân Hàng trong ngành nghiệp chuyên môn của họ.
Không phải trong dịp Khủng hoảng này, giữa sự va chạm những khuynh hướng Chính trị mà vấn đề Thị trường Cạnh tranh Tư nhân và Tự do mới được thường xuyên đề cập tới, mà chính trong thời gian Khủng hoảng, phía Tiêu thụ và phía Sản xuất, cả hai mới thấy cái giá trị của việc Điều Hợp Kinh tế của Thị trường Cạnh tranh. Thực vậy, trong hoàn cảnh khan hiếm tiền bạc, thì người tiêu thụ cũng như sản xuất mới căn cơ tính toán từng đồng bỏ ra theo chỉ tiêu giá cả hàng hóa quyết định ở Thị trường cạnh tranh.
Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây:
=> Thị trường Cạnh tranh tự do là gì => Quyết định dân chủ và tự do của Thị trường => Những can thiệp che chở giai đoạn của Nhà Nước => Giá cạnh tranh của Thị trường là Chỉ tiêu điều hợp
Thị trường Cạnh tranh là gì
Mỗi người sống có những Nhu Cầu cần được thỏa mản, từ nhu cầu nuối sống thân xác, đến những nhu cầu thỏa mãn tình cảm, phát triển trí tuệ, bảo vệ sức khỏe, dự phòng tương lai hoạc cho những tham vọng không hữu lý... Để có thể thỏa mãn những như cầu, cần phải có những sản phẩm hoặc tự mình làm ra hoặc từ những người khác. Nhu cầu càng đa dạng bao nhiêu, thì số lượng những sản phẩm càng được nhân lên bấy nhiêu. Chúng ta đương nhiên sống ở trong một nền Kinh tế với trao đổi sản phẩm nhằm thoả mãn mọi nhu cầu đa dạng.
Phía có những Nhu cầu cần được thỏa mãn, gọi là phía CẦU (Côté de Demande). Phía sản xuất những sản phẩm nhằm thỏa mãn những Nhu cầu, gọi là phía CUNG (Côté d’Offre).
THỊ TRƯỜNG (Marché) được định nghĩa như là một NƠI, hữu hình hay vô hình, gặp gỡ giữa phía CẦU và phía CUNG để hai bên quyết định một cái GIÁ thỏa thuận trao đổi hàng hóa giữa hai phía. Hữu hình như CHỢ ở đầu làng. Vô hình như Thị trường Chứng khoán.
Trong nội bộ của mỗi phía, phải có sự Cạnh tranh để có thể đạt được những ưu thế cho mình, đồng thời mang đến cái lợi chung cho nền Kinh tế bao trùm cả hai phía. Việc cạnh tranh là điều tối quan hệ cho tất cả mọi sinh hoạt nếu muốn hiệu quả riêng hay chung mỗi ngày mỗi gặt hái được cao hơn. Điều kiện để có Cạnh tranh là mỗi tác nhân Kinh tế phải có quyền Tự do quyết định làm việc. Xin lấy một vài tỉ dụ để giải thích ttính cách tự do cạnh tranh của Thị trường.
Trong thời Pháp đô hộ ở Đông Dương, Thị trường Cao su và Lốp xe không có cạnh tranh tự do. Nước Pháp dành độc quyền cho Hãng MICHELIN mua mủ Cao su tại Đông Dương. MICHELIN sản xuất Lớp xe tại Pháp, rồi lại độc quyền bán Lốp xe hiệu Michelin ở Đông Dương. Vì việc thiếu cạnh tranh này, mà giá mua mủ Cao su rất hạ, đồng thời giá bán lốp xe lại cao. Đây là sự can thiệp của quyền lực Chính trị vào để dành cho MICHELIN độc quyền ở Thị trường Cao su và Thị trường Lốp xe. Giá mua mủ Cao su và Giá bán Lốp là những giá độc quyền chứ không phải những giá có cạnh tranh khả dĩ làm yếu tố điều hợp cho Kinh tế.
Cũng vậy, nếu sản phẩm Điện thoại Lưu động không có sự cạnh tranh của nhiều hãng sản xuất, thì khó lòng có giá cả mỗi ngày mỗi hạ xuống và phẩm chất Điện thoại mỗi ngày mỗi tăng.
Quyết định dân chủ và tự do của Thị trường
Theo định nghĩa như trên, Thị trường là nơi thể hiện tính cách Dân chủ và Tự do của những tác nhân Kinh tế. Mỗi cá nhân, mỗi Tập thể, mỗi Xí nghiệp tham dự Thị trường đều có quyền tự quyết định về Tiêu thụ hoặc sản xuất của mình và nhất là tự do mặc cả về GIÁ trao đổi trên Thị trường. Trong chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường, Nhà Nước cũng chỉ được coi như một tác nhân Kinh tế như mọi cá nhân, mọi Tập thể, mọi Xí nghiệp. Nhà Nước có những nhu cầu tiêu thụ hoặc có những sản phẩm của mình. Khi tới Thị trường để trao đổi, thì Nhà Nước cũng phải theo tính cách cạnh tranh tự do thuộc lãnh vực Kinh tế. Theo tinh thần ấy, thì Nhà Nước mới có những căn cơ chi tiêu và những dịch vụ của Nhà nước mới mỗi ngày kiện toàn theo cạnh tranh. Lấy một vài tỉ dụ. Tại Hoa kỳ, ở một số Khu xóm, nếu nhân viên an ninh của Nhà Nước không giữ được trật tự tương xứng với tiền thuế mà dân đóng cho việc an ninh, thì Khu xóm có thể thuê riêng nhân viên an ninh tư nhân và xin giảm tiền thuế đóng cho việc này. Cũng vậy, tại Thụy sĩ, về dịch vụ chứng thực giấy tờ, nếu cơ quan công quyền làm việc chậm trễ và lấy giá cao, có thể có dịch vụ tư nhân chứng thực giấy tờ mang cùng hiệu lực mà giá cả lại thấp hơn và mau chóng hơn.
Khi nói đến Dân Chủ và Tự Do, người ta có khuynh hướng hiểu rằng đây là những vấn đề Chính trị, về những tranh chấp giữa người cai trị và dân chúng. Phải hiểu Dân chủ và Tự do thuộc lãnh vực Kinh tế. Gọi là Thị trường cạnh tranh, thì điều kiện quyết định tự do và dân chủ không thề nào không có được. Chúng tôi sẽ có dịp bàn riêng về điểm này trong bài thứ 12 với đầu đề “Dân chủ hóa Kinh tế dẫn đến Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Economique Démocratisation Politique)“. Khi cchấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà không cho dân chủ và tự do ở Thị trường cạnh tranh, đó là tréo cẳng ngỗng vậy.
Những can thiệp che chở giai đoạn của Nhà Nước
Trong bài thứ 07 thuộc loạt bài Chủ đề này, chúng tôi đã viết về những hậu quả của việc Can thiệp trực tiếp của Nhà Nước đối với giá cả tại Thị trường cạnh tranh. Chúng tôi xin nhắc lại rằng Chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường coi quyền lực Chính trị là trung lập, là cảnh sát giữ trật tự (Etat gendarme et neutre). Thực vậy khi mà Môi trường Chính trị—Luật pháp (Environnement Politico-Juridique) được thiết lập cho nền Kinh tế, thí quyền lực Chính trị phải đứng trung lập giữa các Tập đoàn Kinh tế cạnh tranh và canh chừng trật tự cho việc tự do cạnh tranh không vi phạm Luật pháp Kinh tế đã được thiết lập.
Trong trạng thái bình thường của đời sống Kinh tế, Nhà Nước có thể tham dự, nhưng như một tác nhân Kinh tế mà chúng tôi đã giải thích trong đoạn trên đây. Tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt như có biến động Kinh tế như Khủng hoảng hiện nay, thì Nhà Nước có thể can thiệp nhưng trong phạm vi che chở, trợ lực những tác nhân Kinh tế tư nhân, chứ không làm Kinh tế cạnh tranh kiếm lợi nhuận cho Nhà Nước. Có sự khác biệt quan trọng giữa hai ý nghĩa can thiệp này. Thực vậy, khi Nhà Nước can thiệp LÀM KINH TẾ, thì Nhà Nước dễ lợi dụng quyền lực để lấn át các tác nhân Kinh tế tư nhân, làm mất tính cách cạnh tranh dân chủ và tự do của Thị trường. Việc can thiệp của Nhà Nước trong những trường hợp bất thường như Khủng hoảng Kinh tế, phải được hạn hẹp ở phạm vi che chở cho các tác nhân kinh tế tư nhân khỏi bị vỡ nợ hoặc nâng đỡ những tác nhân này có đủ sức cạnh tranh. Nhà Nước không thay thế tư nhân để làm Kinh tế kiếm lợi nhuận riêng cho Nhà Nước. Về phương diện này, CƠ CHẾ hiện hành ở Việt Nam không những vi phạm chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn hoàn toàn cho phép Độc tài Chính trị cấu kết với Độc quyền Kinh tế. Một CƠ CHẾ như vậy, tất nhiên phá bỏ trọn vẹn tính cách cạnh tranh dân chủ và tự do của Thị trường vậy.
Giá cạnh tranh của Thị trường là Chỉ tiêu điều hợp
Trên các Thị trường trao đổi sản phẩm Kinh tế, thì chỉ có chừng 10% thuộc lảnh vực nhu yếu phẩm gọi là tối thiểu cuộc sống (Minimum vital), còn 90% thuộc những sản phẩm có cũng được, mà không có cũng không sao. Trong số 10% tối thiểu cuộc sống, thì 5% cũng có thể thay đổi, tỉ dụ nếu không có gạo trắng thơm, thì ăn gạo đỏ (ré hoa) cũng sống mà còn chữa bệnh phong thấp. Trong số 90% hàng hóa, thì 50% thuộc xa xỉ phẩm hoặc để thỏa mãn nhu cầu snobisme. Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến 90% trao đổi Kinh tế: thỏa mãn tiêu thụ và sản xuất hàng hóa.
Giá cả trên các Thị trường thuộc 90% trao đổi tượng trưng cho những điểm sau đây: => Quyết định đi từ từng cá nhân (tự do) và đúc kết thành nhóm, phong trào (dân chủ). Tì dụ về phía CẦU, giới trè muốn thay đổi Điện thoại sang Iphone; về phía CUNG, các hãng sản xuất tràn lan Iphone. => Hai phía CẦU và CUNG thỏa thuận một cái GIÁ để trao đổi. Việc quyết định giá trao đổi này củng là tự do và dân chủ.
Chính cái giá của Thị trường làm CHỈ TIÊU quyết định mua hay bán. Nếu với cái giá Thị trường như vậy, người tiêu thụ còn có quyền tự do quyết định mua hay không tùy theo túi tiền mà họ có. Cũng vậy, với cái giá cái giá thỏa thuận ở Thị trường, một Xí nghiệp sản xuất phải tính xem có thể xuất với giá thành dưới giá Thị trường hay không để kiếm lời. Họ có toàn quyền ngưng sản xuất nếu không đủ khả năng.
Cái GIÁ của THỊ TRƯỜNG cạnh tranh mang giá trị của một CHỈ TIÊU đề người tiêu thụ và Xí nghiệp sản xuất quyết định trong TỰ DO ngưng hay tiếp tục hành động Kinh tế của mình. Cái giá của Thị trường có quyền lực hướng dẫn hơn là quyền lực Chính trị hay Luân lý, Tôn giáo... Hãy để cho cái Giá của Thị trường cạnh tranh điều hợp Kinh tế.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 10:
CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT PHÁP CHỈ LÀ MÔI TRƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 01.01.2009
Chính trị, Luật pháp tự nó không phải là hoạt động Kinh tế, nghĩa là làm ra tiền, tạo ra sự giầu có. Nó chỉ là điều kiện để những hoạt động Kinh tế thực hiện. Chúng tôi đề cập đề tài này dưới những khía cạnh sau đây:
=> Ba môi trường phát triển Kinh tế (Trois environnements économiques)
=> Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquats)
=> Môi trường Chính trị_Luật pháp Việt Nam tréo cẳng ngỗng
Ba môi trường phát triển Kinh tế (Trois environnements économiques)
Sự phát triển Kinh tế quốc gia chịu ảnh hưởng từ ba điều kiện (conditions), hay nói nhẹ nhàng hơn nằm trong ba môi trường (environnements): (i) Môi trường Địa lý tự nhiện (Environnement géographique naturel); (ii) Môi trường Nhân số (Environnement démographique); (iii) Môi trường Chính trị-Luật pháp (Environnement Politico-Juridique). Ba Môi trường này tạo bước khởi đầu của nền Kinh tế và định hướng phát triển của nền Kinh tế ấy.
=> Môi trường Địa lý tự nhiện (Environnement géographique naturel)
Môi trường Địa lý tự nhiên cung cấp cho nền Kinh tế những tài nguyên để khai thác. Những đồng bằng hướng Kinh tế về Nông nghiệp. Không ai khuếch trương Ngư nghiệp tại những nước gồm sa mạc, cát nóng, nhưng những nước này khai thác Dầu lửa và phát triển những Kỹ nghệ liên quan đến dầu lửa.
=> Môi trường Nhân số (Environnement démographique)
Nhân số là yếu tố tiêu thụ cũng như sản xuất. Nguồn nhân lực sản xuất đến từ nhân số: tuồi tác hoạt động, tính tình làm việc, giáo dục căn bản, huấn luyện nghề nghiệp... Có những dân tộc mang nhiều tinh thần kỷ luật, khéo léo về tay chân, hấp thụ mau chóng nghề nghiệp. Nhân lực có khả năng tự nhiên bẩm sinh ( capacité innée), nhưng cũng có khả năng hấp thụ từ huấn luyện (capacité acquise par formation). Tất cả cung cấp cho nền Kinh tế điều kiện để khởi công và phát triển.
=> Môi trường Chính trị-Luật pháp (Environnement Politico-Juridique)
Xin độc giả đừng hiểu đây là Chính trị Kinh tế, Chính trị Thương mại (Politiques Economique, Commerciale), nghĩa là những biện pháp làm kinh tế hay thương mại. Chính trị ở đây được hiểu theo nguyên nghĩa Chính trị của nó, nghĩa là lựa chọn một ý thức hệ, một đường lối quản trị quốc gia theo ý thức hệ lựa chọn. Luật pháp ghép liền với Chính trị được hiều như những Luật lệ quy định hoạt động Kinh tế theo Chính trị đã được lựa chọn cho quốc gia. Môi trường Chính trị-Luật pháp (Environnement Politico-Juridique) được hiểu theo ý nghĩa này làm điều kiện ảnh hưởng đến những hoạt động Kinh tế.
Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat)
Trong phần này, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến tính cách phù hợp về Luật pháp giữa một Ý thức hệ Chính trị lựa chọn và một hệ thống Kinh tế chấp nhận. Chúng tôi đưa ra đây hai tỉ dụ về tính cách phù hợp ấy:
1) Tỉ dụ thứ nhất: Ý thứ hệ Cộng sản và Hệ thống Kinh tế Tập quyền Chỉ huy
Ý thức hệ Chính trị Cộng sản là quyền lực tập trung vào một đảng duy nhất quản trị quốc gia. Ý thức hệ ấy chủ trương Công hữu, nghĩa là phủ nhận quyền Tư hữu Kinh tế về cả Tiêu thụ lẫn những phương tiện Sản xuất. Có sự phù hợp nhất quán giữa chế độ qủan trị Chính trị độc tài và hệ thống Kinh tế Chỉ huy tập quyền, nghĩa là Luật pháp đươc đưa ra cho phù hợp giữa Chính trị độc tài và việc Chỉ huy Kinh tế độc quyền của Nhà Nước. Thực vậy, hai tiếng CÔNG HỮU có nghĩa là tất cả những phương tiện sản xuất đều thuộc quyền quản lý của Nhà Nước. Tư nhân không có Tự do cá nhân để xử dụng những phương tiện sản xuất. Tổ chức sản xuất Kinh tế phải do Nhà Nước chỉ huy hoạch định. Kết quả của việc sản xuất cũng thuộc về Công hữu, nghĩa là cá nhân không có quyền tự do tiêu thụ. Nhà Nước hoạch định và chỉ huy luôn cả việc tiêu thụ của cá nhân. Một hệ thống tập trung chỉ huy sản xuất và tiêu thụ như vậy hoàn toàn phù hợp với Ý thức hệ Chính trị Cộng sản thâu tóm tất cả tư hữu vào CÔNG HỮU. Cá nhân chỉ còn là công cụ sản xuất của Nhà Nước. Nhà Nước phải BAO CẤP cho tiêu thụ cá nhân là hệ luận tất yếu. Tính cách phù hợp của Mội trường Chính trị-Luật pháp là hoàn toàn (Environnement Politico-Juridique est parfaitement adéquat).
2) Tỉ dụ thứ hai: Ý thứ hệ Dân chủ và Hệ thống Kinh tế Tự do do và Thị trường
Ý thức hệ Dân chủ có nghĩa là quyền quản trị quốc gia đến từ người dân trong đó những quyết định cá nhân được tôn trọng. Khi tôn trọng cá nhân thì phải chấp nhận Chính trị đa đảng. Về mặt Kinh tế, quyền TƯ HỮU phải được tôn trọng. Khi tôn trọng quyền tư hữu, thì chính cá nhân có quyền tự do xử dụng những phương tiện sản xuất Kinh tế và chính cá nhân tư hữu những sản phẩm làm ra. Điều này có nghĩa là cá nhân có quyền tự do tiêu thụ sản phẩm của mình theo ý mình. Chấp nhận đa đảng là việc phải có từ việc lựa chọn Ý thức hệ Chính trị Dân chủ. Luật pháp bảo đảm cho tự do cá nhân Kinh doanh đến từ việc tôn trọng quyền TƯ HỮU những phương tiện sản xuất và những sản phẩm từ sản xuất dùng cho tiêu thụ cá nhân. Những Luật pháp Kinh tế làm ra mang tính cách phù hợp hoàn toàn giữa Ý thức hệ Chính trị Dân chủ và quyền Tư hữu Kinh tế (Environnement Politico-Juridique est parfaitement adéquat)
Ở đây, chúng tôi không đưa ra những phán đoán về giá trị của từng Ý thức hệ Chính trị và hệ thống Kinh tế được khai triển trong từng Ý thức hệ Chính trị. Chúng tôi chỉ nêu ra tính cách nhất quán phù hợp giữa Kinh tế và Chính trị trong việc lựa chọn Ý thức hệ và hệ thống Kinh tế.
Chúng ta gọi là CƠ CHẾ một hệ thống Luật pháp toàn bộ điều hành phù hợp từ Ý thức hệ lựa chọn cho đến quyền sinh hoạt Kinh tế. Hai tỉ dụ trên đây cho thấy tính cách phù hợp toàn diện của hai lãnh vực Kinh tế và Chính trị trong một CƠ CHẾ gồm Luật pháp điều hành.
Việc thẩm định giá trị một CƠ CHẾ không nằm ở tính cách phù hợp, mà nằm ở cái kết quả của hệ thống Kinh tế. Thực vậy, dù có sự phù hợp hoàn toàn giữa hệ thống tập trung chỉ huy Kinh tế và lựa chọn Ý thức hệ Chính trị Cộng sản trong một CƠ CHẾ điều hành chung, nhưng kết quả của sinh hoạt Kinh tế tại Nga và các nước Đông Aâu đã khiến những nước này phải từ bỏ CƠ CHẾ mang đến hậu quả đói nghèo cho dân chúng. Việc bao cấp là hệ luận trực tiếp của CƠ CHẾ Nhà Nước nắm toàn quyền về Chính trị và Kinh tế. Nhưng kết quả là Nhà Nước thất bại không thể bao cấp cho dân chúng trong việc tiêu thụ để thỏa mãn những nhu cầu thiết cần bảo đảm cho việc nuôi sống thân xác, thì cái CƠ CHẾ quản trị ấy, dù có nhất quán đến đâu, cũng phải vứt bỏ đi. Nó nhất quán trong Lý luận, nhưng mang đến hậu quả thực tế xấu cho dân chúng.
Môi trường Chính trị_Luật pháp Việt Nam tréo cẳng ngỗng
Chúng tôi vừa giải thích ở phần trên rằng cái CƠ CHẾ bao gồm Luật pháp quản trị Chính trị và Kinh tế tại Nga và các nước Đông Aâu hoàn toàn mang tính cách phù hợp giữa Ý thức hệ Chính trị và hệ thống Kinh tế tập trung Chỉ huy, nhưng những nước này đã phải vứt bỏ cái CƠ CHẾ đó đi vì hậu quả kinh tế của CƠ CHẾ là đói nghèo.
Việt Nam cũng chịu cùng hậu quả kinh tế của CƠ CHẾ như vậy, nhưng đã không can đảm vứt bỏ CƠ CHẾ. Nói cụ thể hơn, đảng CSVN đã cố thủ nắm lấy cho đảng quyền cai trị độc đoán cho đảng mình và tìm cách vá víu hệ thống Kinh tế mà chính họ đã chứng kiến hậu quả tồi tàn cho dân chúng. Chúng ta thấy những việc vá víu như sau về mặt Kinh tế: => Vào những năm 1995, dưới chiêu bài ĐỔI MỚI, MỞ CỬA, đảng CSVN nới rộng cho sinh hoạt Kinh tế tư doanh và đón nhận phía Kinh tế tư bản Tây phương. => Vào những năm 2004, tình trạng đói nghèo của dân chúng vẫn tiếp tục, đảng và Nhà nước đồng tuyên bố chấp nhận hệ thống Kinh tế tự do và thị trường. => Hai năm sau, đảng và Nhà nước tăng cường hoạt động nhằm HỘI NHẬP với nền Kinh tế bên ngoài: tổ chức APEC, vào WTO.
ĐỔI MỚI, MỞ CỬA, CHẤP NHẬN HỆ THỐNG KINH TẾ TỰ DO THỊ TRƯỜNG, HỘI NHẬP APEC VÀ WTO, nhưng đảng CSVN vẫn khư khư giữ lấy Ý thức hệ Cộng sản được trá hình nhẹ đi là Định Hướng XHCN, với quyền lực Chính trị độc đảng và độc tài. Hội nhập APEC, WTO và tuyên bố chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì phải thay đổi Ý thức hệ Chính trị cho có tính cách phù hợp để có một CƠ CHẾ quản trị nhất quán. Đây là việc tréo cẳng ngỗng của CƠ CHẾ điều hành cho phù hợp. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường cạnh tranh đòi buộc phải tôn trọng TƯ HỮU, phải có TỰ DO cá nhân trong việc làm ăn. Điều này trái ngược với chủ trương cai trị Chính trị độc đảng và độc tài. Thực tế Việt Nam vẫn nằm trong độc quyền Kinh tế của đảng Cộng sản độc tài, qua hệ thống những Tập đoàn Kinh tế do đảng và Nhà Nước nắm giữ.
Tuyên bố là theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng CƠ CHẾ quản trị chủ trương độc tài Chính trị nắm trọn lấy độc quyền Kinh tế. Các Tổ chức quốc tế làm việc ở Việt Nam đều than rằng Việt Nam chậm trễ trong việc thiết lập Luật pháp cho rõ ràng từ lãnh vực Hành chánh tới phạm vi sinh hoạt Kinh tế. Đây không phải là việc chậm trễ, mà chính là tình trạng tréo cẳng ngỗng giữa chủ trương nắm lấy Ý thức hệ Cộng sản với quyền lực Chính trị độc tài độc đảng trong việc bắt buộc phải chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trườg để mong tránh hậu quả tàn tệ đói nghèo mà Nga và Đông Aâu đã gặp.
Giáo sư Tiến sĩ GUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 9:
ĂN CƯỚP TRẮNG TRỢN CỦA CƠ CHẾ ĐỘC TÀI: KÍCH CẦU BẰNG LẠM PHÁT TIỀN TỆ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 18.12.2008
Đầu tháng 12 này, nhà nước Việt Nam tuyên bố KHÍCH CẦU 1 tỉ Mỹ Kim. Và 10 ngày sau, nhà nước tuyên bố con số KHÍCH CẦU tăng lên 6 tỉ Mỹ Kim. KHÍCH CẦU (không phải là KÍCH CẦU) có nghĩa là kích thích phía tiêu thụ.
Việc tăng từ 1 tỉ lên 6 tỉ chỉ trong vòng 10 ngày chứng tỏ rằng chương trình Khích Cầu không được hoạch định Vỉ Mô. Quyết định tăng lên 6 tỉ một cách mau chóng như vậy mang tính cách trò đùa hay mỵ dân hơn là vĩ mô.
Chúng tôi chỉ muốn đặt hai câu hỏi:
(i) số tiền 6 tỉ đo-la tiêu dùng vào những chương trình như thế nào;
(ii) số tiền này moi từ đâu ra mà có.
Số tiền 6 tỉ đo-la tiêu dùng vào những chương trình như thế nào
Phải có chương trình tiêu dùng rõ rệt, mới có thể thiết lập được ngân sách. Tính toán số tiền này dựa trên thực hiện nào cụ thể. Một ngân sách không có chương trình hoạch định cụ thể, nếu không nó sẽ đi lang thang, trôi dạt lông bông bông, không biết đâu là bến bờ để đâu. Bông lông như vậy, nó dễ trôi dạt vào túi riêng tham nhũng, lãng phí. Trong một CƠ CHẾ mà độc tài Chính trị ôm chặt lấy độc quyền Kinh tế của đảng CSVN, thì số tiền của Quốc gia sẽ chạy lòng vòng trong đảng CSVN.
Số tiền này moi từ đâu ra mà có.
Cán cân mậu dịch thiếu hụ. Quyết định mỵ dân giảm thuế. Xuất khẩu thiếu 40% số đặt mua hàng. Việt Nam thu lợi bằng bán dầu thô, trong khi ấy dầu thô xuống giá còn có 37 đo-la/Baril. Mùa gạo cũa dân bị dèm giá. Thị trường Chứng khoán thiếu người đầu tư. Xí nghiệp đóng cửa. Dân thất nghiệp tăng lên mau chóng. Vốn đầu tư nước ngoài ngưng giải ngân. Nhật ngưng chương trình ODA và các nước khác nhìn gương đó.
Vậy Nhà Nước moi tiền đâu mà ra được 6 tỉ Mỹ kim? Chẳng lẽ những Lãnh đạo đảng tham nhũng kéo tiền gửi nước ngoài về để cho vào ngân quỹ chung. Một số đầu đảng tham nhũng gửi tiền ra nước ngoài đang phải lo lắng mất tiền vì cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng/ Tài chánh.
Nghĩ đến điều này, tôi tin rằng Nhà Nước Việt Nam đang dự định làm một cuộc LẠM PHÁT TIỀN TỆ, nghĩa là in tiền mới ra mà không có giá trị Kinh tế bảo chứng. Tung khối tiền đó vào dân chúng để tráo trở ăn cướp giá trị tiền thực mà dân chúng đã đổ mồ hơi sức lực ra để kiếm được. Đây là việc ăn cướp trắng trợn. Lạm phát tiền tệ sẽ làm mất giá đồng tiền Việt Nam.
Việc lạm phát tiền tệ này đã xẩy ra tại Phi châu, nhất là Nam Mỹ trong những thập niên 1980. Đây là mội tội đáng phải tử hình.
Xin quý độc giả đọc thêm hai bài (đăng trong phần KINH TẾ/TÀI CHÁNH về việc Lạm Phát Tiền Tệ của một Nhà Nước độc tài.
Chúng tôi xin nhắc lại đây lời của Giáo sư Florin AFTALION, người đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:
”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Giáo sư Tiến sĩ GUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 11:
YÊU CẦU NHỮNG BIỆN PHÁP CỤ THỂ TIẾN ĐẾN DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 08.01.2009
Trườc tiên xin mọi người, nhất là CSVN nói trắng làm đen, đừng hiểu rằng loạt bài Chủ đề này là loạt bài chống Cộng. Chúng tôi không thèm viết để chống Cộng nữa bởi vì Ý thức hệ Cộng sản còn đâu mà chống. Xin cũng đừng hiểu rằng đây là những bài viết về Chính trị. Chúng tôi viết hoàn toàn trong phạm vi Kinh tế. Những điều kiện khách quan cho phát triển Kinh tế Đất Nước Việt Nam đòi buộc phải DỨT BỎ cái CƠ CHẾ hiện hành mà CSVN đang chủ trương. Chúng tôi nhấn mạnh đến việc DỨT BỎ chứ không phải là CẢI CÁCH như kiểu vá váy đụp. Cải cách chỉ là vá víu sơn phết bên ngoài mang tính mỵ dân mà nồng cố bên trong là một cái CƠ CHẾ không những không làm cho Kinh tế phát triển mà còn làm cho Kinh tế thất thoát, tụt lùi do THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ phát sinh và lan tràn từ CƠ CHẾ ấy.
Bài QUAN ĐIỂM của Tuần báo VietTUDAN hôm nay 08.01.2009, bài thứ 11 của Chủ đề, được coi là hệ luận của những bài phân tích hoàn toàn trong lãnh vực Kinh tế trước đây. Bài viết mong đưa ra biện pháp cụ thể như bước khởi đầu nhằm TIẾN TỚI dứt bỏ CƠ CHẾ hiện hành.
Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây: => Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ đang là quốc nạn => Một Cơ chế phát sinh và bành trướng quốc nạn => Đề nghị biện pháp cụ thể khởi đầu đi đến chấm dứt Cơ chế
Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ đang là quốc nạn
Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ xoay quanh đồng tiền nhận hay cho một cách lén lút không chính đáng. Chúng tôi theo Tự Điển của LÊ VĂN ĐỨC và LÊ NGỌC TRỤ (ấn bản Nhà sách KHAI TRÍ, Sài Gòn 1970) để đưa ra định nghĩa cho ba chữ này. THAM NHŨNG hay Tham ô là tham lam dơ dáy, tham quá không còn biết xấu hổ phải quấy chi cả. LÃNG PHÍ là tiêu xài lãng, hoang phí, vung phí, xài tiền không đúng chỗ mà không biết tiếc. HỐI LỘ là lo lót, đút nhét, dâng của cải cách kín đáo cho kẻ có quyền để nhờ cậy che chở hay ban ân huệ. Những chữ này liên hệ trực tiếp đến tiền bạc và quyền hành, điều mà chúng tôi sẽ phân tích về cái CƠ CHẾ hiện hành về quyền lực Chính trị và Kinh tế trong đoạn sau.
Những tệ nạn Kinh tế, Xã hội hiện nay ở Việt Nam đều co THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ làm động lực bên trong. Hãy lấy một số sự việc làm tỉ dụ:
=> Mặc dầu ý thức hệ Cộng sản đã lu mờ, nhưng có những người gia nhập đảng CSVN. Những người gia nhập này không phải vì Ý thức hệ hay tinh thần Cách Mạng vô sản nữa, mà chính vì muốn có quyền hành để dễ bề vơ vét tham nhũng, lãng phí và ăn hối lộ.
=> Những chống đối, thậm chí hạ bệ nhau trong đảng CSVN ở cấp Lãnh đạo cao, cũng là vì kéo bè cánh chia phần tham nhũng, làm lãng phí và nuốt hối lộ.
=> Phong trào Dân Oan nổi dậy khiếu kiện tận đến Trung ương mà Trung ương cứ lần tránh vòng vo không giải quyết, cũng là vì tham nhũng, lãng phí, ăn hối lộ một lũ từ Trung ương đảng đến địa phương.
=> Vụ việc Tòa Khâm sứ và Thái Hà khiến Nhà Nước xử dụng những biện pháp giải quyết không xứng đáng, xử dụng báo đài để mạ lỵ hoặc bóp méo luật pháp cũng có nguyên nhân là tham nhũng, nhận hối lộ mà không lãnh đạo cao cấp nào dám nói ra cho rõ ràng.
=> Tình trạng sinh hoạt Kinh tế tụt dốc của những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước cũng là do tham nhũng, lãng phí, hối lộ trong sinh hoạt Kinh tế.
=> Một số nước, trong chương trình ODA, ngưng cấp vốn, cũng là tại lý do tham nhũng, lãng phí, ăn hối lộ của phía hữu quyền Việt Nam. Đây là việc làm thiệt hại cho phát triển Kinh tế đất nước.
=> Thể diện Quốc gia bị mất cũng là tại những vụ hối lộ, tham nhũng, ăn cắp, lãng phí... của những nhân viên nhà nước. Vụ tổ chức ăn cắp bị bắt tại Nhật, vụ sừng tê giác tại Nam phi, vụ chuyển tiền lậu tại Uùc, tại Bá Linh chẳng hạn.
THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ lan tràn trong giới cầm quyền và đang là QUỐC NẠN cho tụt dốc Kinh tế, tạo hố sâu giầu nghèo giữa giữa một thiểu số cầm quyền và đại đa số dân chúng. Những kẻ cầm quyền thuộc đảng CSVN. Mỗi khi đảng này ca tụng số đảng viên đông, là đại đa số dân chúng càng cay đắng vì những đảng viên này mang quốc nạn đến cho mọi người.
Một Cơ chế phát sinh và bành trướng quốc nạn
Cái mầm THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ nằm sẵn ở trong mỗi cá nhân dù cá nhân ấy thuộc chủng tộc nào. Thay vì nói Nhân Chi Sơ Tính Bản Thiện, có thể nói rằng Nhân Chi Sơ Tính THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ khi biết đến Đồng Tiền hai chữ son khuyên ngược. Vì cái mầm nằm sẵn từ bẩm sinh trong mỗi cá nhân, nên chúng ta không nói được diệt cái mầm Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ một cách đơn giản bằng kêu gọi tinh thần của mỗi cá nhân được. Thực vậy, Diệt tham nhũng không phài là việc kêu gọi tinh thần Cách Mạng, hay nêu cao Đạo Đức mà diệt được.
Cái mầm Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ nằm trong mỗi cá nhân, không phân biệt chủng tộc. Nhưng tại mỗi nước, cái mầm ấy nảy chồi, lớn lên và lan tràn tùy theo cái mầm gặp được đất tốt, có được hoàn cảnh thuận tiện hay không. Tại Việt Nam, cái mầm ấy đã nẩy chồi, thành cây và sinh thêm con cái để trở thành QUỐC NẠN Tham nhũng, Lãng phí và Hối lộ, bời lẽ cái CƠ CHẾ hiện hành mà đảng CSVN chủ trương tạo ra một vùng đất tốt, một hoàn cảnh, một sự che chở để cái mầm ấy tha hồ nầy sinh và bành trướng.
Vậy việc diệt trừ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ kông phải là diệt cá nhân bẩm sinh mang cái mầm, nhưng là diệt cái CƠ CHẾ đã làm hoàn cảnh, điều kiện tốt cho cái mầm ấy nẩy chồi và bành trướng thành quốc nạn.
Cái CƠ CHẾ hiện nay là ĐỘC TÀI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ nắm trọn ĐỘC QUYỀN KINH TẾ vào trong một người, một đảng. Phải diệt cái CƠ CHẾ cho phép hai cái độc quyền này cấu kết với nhau. Chúng tôi thường đưa ra hình ảnh về việc ĐÁNH ĐĨ giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế để cái trứng của quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ sinh ra và được che chở nuôi dưỡng lớn lên.
Thực tế mà nói, việc diệt Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ hay làm cho cá nhân ngại sợ trong việc ăn hối lộ, tham nhũng và lãng phí tùy thuộc hai điều kiện sau đây:
=> Loại bỏ cái CƠ CHẾ làm dịp phát sinh tham nhũng, lãng phí, hối lộ. Chúng tôi đã viết rằng một Thánh nhân nhốt chung phòng với cô gái đẹp nơi âm u kín đáo, dễ sinh lòng dục. Đừng thuyết lý đạo đức cho Thánh nhân, mà hãy đừng cho Thánh nhân ở chung phòng âm u với cô gái để có dịp sinh lòng dục. Chính bản thân tôi, nếu tôi có toàn quyền sinh sát và ngồi bên cạnh đống vàng, thì tôi dễ dàng muốn biển thủ mấy thòi vàng nhét vào túi riêng. Phải bỏ hẳn cái CƠ CHẾ cho phép người có quyền lực sinh sát nắm thêm độc quyền cho tham nhũng lan tràn. Phải dứt bỏ nó đi.
=> Những kẻ làm tham nhũng, lãng phí, hối lộ thường ngó trước nhìn sau, xem có ai biết đến việc tồi tàn của mình hay không. Họ không sợ lương tâm của họ, nhưng sợ sự nhòm ngó của người khác khiến họ mất vị trí quyền lực để làm việc tồi tàn. Phải để tự do báo chí phanh phui ra tham nhũng, lãng phí và hối lộ. Ở trên, chúng tôi nói rằng cho Thánh nhân ở chung với cô gái đẹp trong PHÒNG KÍN ĐÁO ÂM U, nghĩa là ở nơi mà người ngoài kông trông thấy được. Thực vậy, nếu Thánh nhân ở chung với cô gái tại nơi thoáng đạt mà người khác có thể trông thấy, thì cái mầm dục của Thánh nhân cũng phải co vòi vì sợ người khác biết tới. Báo chí được tự do phanh phui, thì việc tham nhũng, lãng phí và hối lộ cũng giảm hẳn xuống vì sợ người khác, mặc dù không sợ đén lương tâm.
Tóm lại, Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ lan tràn ở Việt Nam và trở thành quốc nạn. Diệt trừ quốc nạn này không phải là diệt cá nhân bởi lẽ cái mầm tham nhũng, lãng phí, hối lộ nằm tại mỗi người. Diệt trừ quốc nạn này là phải phế bỏ CƠ CHẾ hiện hành cho phép quyền lực Chính trị nắm lấy độc quyền Kinh tế và để Báo Chí tự do phanh phui tham nhũng, lãng phí, hối lộ làm cho những tham quan lớn bé phải lo sợ cho dù chính họ kông biết sợ lương tâm mình.
Đề nghị biện pháp cụ thể khởi đầu đi đến chấm dứt Cơ chế
Đích điểm chủa chúng ta là đi tới DỨT BỎ cái CƠ CHẾ hiện hành làm cho Đất Nước không phát triển Kinh tế dù Nhà Nước có tuyên bố huênh hoang là Vĩ mô hay Vỗ mu đến đâu đi nữa. Đây là khẳng định khách quan, không mang mầu sắc Chính trị, chống Cộng hay chống Kẹo gì cả. Đây chỉ là vì tương lai phát triển Kinh tế của đất nước để đa số dân chúng thoát cảnh nghèo khổ.
Chúng tôi không có tham vọng đưa ra một Tiến trình gồm tuần tự những điểm đi đến đích điểm như vừa nói trên. Chúng tôi chỉ muốn thực tiễn và cụ thể đề nghị điểm khởi đầu. Chúng tôi rất thích câu tục ngữ đầy kinh nghiệm của dân chúng: Đầu Xuôi Đuôi Lọt. Chúng tôi cũng ý thức rằng cái đảng CSVN này cối chấy, mặt dầy mày dạn, muối mặt xử dụng bạo lực tàn ác để cố thủ giữ lấy CƠ CHẾ hiện hành đã nuôi dưỡng lớn lên và tràn lan cái quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ. Chúng lại đã tổ chức được một số người từ Tôn giáo luồn trôn, một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc như chó đói, để ủng hộ chúng. Thậm chí có những Kinh tế gia làm Cố vấn mà trở thành nịnh thần vì tư lợi, dấu lẹm đi những nguyên tắc Kinh tế khách quan mà họ đã học được. Những Cố vấn nịnh thần Kinh tế này chỉ nói đến CẢI CÁCH mà không nói đến DỨT BỎ CƠ CHẾ.
Nhưng chúng tôi vẫn đưa ra biện pháp cụ thể khởi đầu vì nhìn thấy cái hy vọng thực hiện để rồi đầu xuôi đuôi lọt. Chúng tôi hy vọng thực hiện cái Khởi Điểm này vì những lý do sau đây:
=> Từ ngày Tiền Giang Nổi Sóng với Dân Oan kéo về Trụ sở Quốc Hội 2 Sài Gòn, chúng tôi thấy niềm hy vọng một cuộc ĐỘT BIẾN của dân nghèo. Chúng tôi ít tin vào Trí thức làm đột biến. ĐỘT BIẾN phải từ dân nghèo cùng cực đi từ quyền DẠ DẦY. Khi mà đói ăn, thay vì chết đói, thì phải đứng lên trước khi chết vì dạ dầy đói veo. Kinh nghiệm Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Vô sản 1917 và Cách Mạng dứt bỏ Cộng sản Nga và Đông Aâu 1989 đều cho thấy quyền lực độc tài nào đi chăng nữa cũng không thể chống lại người đói sắp chết. Từ ngày đó đến giờ, chúng tôi chỉ khai triển đề tài quyền DẠ DẦY này (Stomach Right) của Dân nghèo thay vì Nhân quyền (Human Rights) của những nhà Trí thức Chính trị cuội.
=> Phong trào Dân Oan đòi Nhà Đất mỗi ngày mỗi lan rộng và quyết liệt mặc dầu CSVN đã tàn nhẫn dùng bạo lực Công an đàn áp. Phong trào này đang lớn mạnh tại những địa phương, nhất là tại Miền Bắc. Xin độc giả đọc thông thin đăng tải nhiều trong số báo này như tại Hải Dương, Hưng Yên, Kiên Giang...
=> Một điều làm chúng tôi vui mừng là dân chúng không còn sợ sệt trước bạo lực Công an, Cảnh sát nữa. Họ sẵn sàng dùng sức mạnh để tự vệ, nghĩa là tấn công lại Công an để tự vệ. Đây là quyền chính đáng. Hãy đọc tin dân chúng Kiến giang dùng lửa xăng tấn công lại Công an đàn áp, bắt luôn cả chó của Công an. Rất tiếc dân chúng đã khoan hồng cho con chó mà không làm giồi chó, nấu nồi rựa mận với củ chuối để cho CSVN biết tay.
=> Tinh thần đấu tranh chống lại Bất Công, đòi Công Lý của Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, của Giáo dân Hà Nội, của Xứ Thái Hà vẫn kiên trì đi lên. Giáo dân Thái Hà đã cương quyết đưa CSVN ra trước Pháp Luật.
=> Dân chúng các Giáo xứ từ Miền Trung vào Miền Nam cùng Hiệp thông đòi Công Lý, chống lại Bất Công, nghĩa là những hành động Tham nhũng của quyền lực.
Chúng tôi đề nghị bước đầu cụ thể trong hy vọng đà tiến của Phong trào Dân Oan, Giáo Oan bắt buộc CSVN phải chấp nhận.
Đề nghị bước đầu cụ thể này cũng không có gì mới lạ vì:
* Trước đây, nhóm nghiên cứu về Kinh tế thuộc Đại học Haward cho Việt Nam cũng đã đề nghị tương tự: phải có Ban Cố vấn độc lập cho Kinh tế / Tài chánh bên cạnh Nhà Nước Việt Nam.
* Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) cũng mới cảnh cáo rằng Việt Nam phải thay đổi CƠ CHẾ. Nếu không sẽï bị tụt lùi Kinh tế
* Một số những Kinh tế gia quốc tế cũng đòi điều kiện thay đổi CƠ CHẾ tại Việt Nam vì nhu cầu phát triển Kinh tế.
Theo tinh thần của những ý kiến trên đây và với cao trào đấu tranh của đại đa số dân chúng trong nước cho quyền DẠ DẦY, cho CÔNG LÝ, chúng tôi đề nghị bước đầu cho tiến trình đi đến dứt bỏ CƠ CHẾ hiện hành như sau:
1) Thiết lập HỘI ĐỒNG QUỐC GIA THANH TRA KINH TẾ
Hội đồng này mang tính cách độc lập không do Nhà Nước CSVN chỉ định. Hội Đồng gồm có những Đại diện Dân Oan mỗi Tỉnh, Đại diện Tôn Giáo, Đại diện một số Đảng phái. Hội Đồng có Trụ sở làm việc tại Việt Nam về những vấn đề Kinh tế.
2) Thành lập NHỮNG ỦY BAN CHUYÊN MÔN THANH TRA
Những Uûy Ban chuyên môn này do Hội Đồng Quốc Gia Thanh Tra mời gọi những Chuyên viên trong nước cũng như ngoài nước. Những Uûy Ban Chuyên môn sau đây là cần thiết: a. Uûy Ban Liên hệ Đầu Tư Quốc tế b. Uûy Ban Thẩm Định Đầu Tư Nhà Nước c. Uûy Ban Kiểm toán những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước d. Uûy Ban Thanh tra Xuất-Nhập cảng e. Uûy Ban Hỗ trợ Tư Doanh e. Uûy Ban Cố vấn Nông thôn
3) Thành lập tờ THÔNG TIN KINH TẾ
Tờ THÔNG TIN KINH TẾ này do HỘI ĐỒNG QUỐC GIA THANH TRA KINH TẾ chịu trách nhiệm. Tờ THÔNG TIN độc lập với Nhà Nước và chỉ nói về Kinh tế, Tài chánh.
4) Thành lập NGÂN QUỸ ĐỘC LẬP cho Hội Đồng Quốc Gia Thanh Tra Kinh tế.
Để bảo đảm tính cách độc lập của Hội Đồng Quốc Gia Thanh Tra Kinh tế, Hội Đồng có quyền kêu gọi Ngân Quỹ từ những nhà hảo tâm trong nước cũng như ngoài nước. Việc này có thề làm được vì một số Tư doanh quốc nội ủng hộ, người Việt tại Hải ngoại sẵn sàng đóng góp và một số Chính phủ nước ngoài trợ lực cho cải thiện Kinh tế Việt Nam.
Chúng tôi chờ đón những đóng góp ý kiến từ độc giả cho đề nghị thô thiển trên đây.
Giáo sư Tiến sĩ GUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 10:
CHỐNG THAM NHŨNG CHỨ KHÔNG CHỐNG KINH TẾ VIỆT NAM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 15.01.2009
Đã nhiều năm nay, chúng tôi viết nhiều về xác tín rằng cái tử huyệt của chế độ CSVN là qua ngả Kinh tế.
Từ những ngày lạm phát tăng vọt bất thường tại Việt Nam, rồi ảnh hưởng của Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới, nền Kinh tế Việt Nam tụt dốc mau chóng: xí nghiệp đóng cửa, thất nghiệp tăng vọt, nông dân càng nghèo khổ, độ tăng trường Kinh tế chỉ còn 5% mà Nhà Nước bất lực, chúng tôi đã viết rất nhiều cho thấy tình trạng thê thảm của nền Kinh tế Việt Nam.
Viết về Kinh tế Việt Nam như vậy, có một số người có thể nghĩ rằng chúng tôi tuyên truyền trong mục đích làm hại nền Kinh tế Việt Nam. Trên Diễn Đàn có một số người kêu gọi người Việt hải ngọai tìm cách “đánh sụp” Kinh tế Việt Nam bằng cách tẩy chay hàng hóa, không du lịch về Việt Nam.
Những kêu gọi này không phải là Lập trường của chúng tôi. Thực vậy, chúng tôi luôn luôn ủng hộ sự phát triển của nền Kinh tế Việt Nam. Chúng tôi tin tưởng ở sự cố gắng và khả năng của dân chúng quốc nội trong sinh họat phát triển Kinh tế đất nước. Khi chúng tôi viết về tình trạng tụt dốc Kinh tế VN hiện nay, là chúng tôi muốn người dân quốc nội vạch mặt chỉ tên thủ phạm đã, đang và còn làm cho Kinh tế Việt Nam tụt dốc nữa. Thủ phạm ấy chính là cái CƠ CHẾ làm phát sinh, nuôi dưỡng và bành trướng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ và HỐI LỘ.
Dứt bỏ cái CƠ CHẾ hiện hành để Kinh tế Việt Nam được phát triển.
Giáo sư Tiến sĩ GUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 12:
DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ DẪN ĐẾN DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ
DÉMOCRATISATION ECONOMIQUE => DEMOCRATISATION POLITIQUE
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 22.01.2009
Đây là bài QUAN ĐIỂN chót cho Chủ đề: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH. Cơ chế hiện hành là độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế. Cơ chế như vậy là đất tốt làm phát sinh và tràn lan quốc nạn THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ. Quốc nạn này đang làm thụt lùi Kinh tế và sẽ còn là ngăn cản cho mọi cố gắng của Dân tộc, dù chịu khó làm ăn đến đâu, cũng không thể phát triển được Kinh tế Đất Nước. Điều quan trọng không phải là đi tìm diệt những Cá nhân Tham nhũng, Lãng phí, ăn Hối lộ, nhưng là phải DỨT BỎ CÁI CƠ CHẾ làm đất tốt cho quốc nạn ấy phát sinh và tràn lan. Cải cách CƠ CHẾ chỉ là tìm cách giữ lại quyền hành mà căn bản tội ác vẫn được duy trì. Đó chỉ là vá chiếc VÁY ĐỤP bằng những mảnh vải mầu mè lừa đảo.
Việc DỨT BỎ CƠ CHẾ hiện hành có nghĩa là: * Không còn ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ, nghĩa là phải có DÂN CHỦ từ đa số * Không cho ĐỘC QUYỀN KINH TẾ, nghĩa là phải tôn trọng tư hữu và tư doanh * Không cho quyền ĐÁNH ĐĨ TRỰC TIẾP giữa hai quyền lực trên
Chúng tôi hiểu rằng CƠ CHẾ hiện hành đang được đảng CSVN mặt dầy mày dạn, cố thủ giữ lấy quyền hành, xử dụng bạo lực đẩ đàn áp nguyện vọng chính đáng của tòan Dân. Tôi hiểu hòan cảnh ấy, nhưng tôi tin tưởng với kinh nghiệm Lịch sữ rằng khi Dân chúng, giữ Nguyên tắc DÂN CHỦ, trước khi DẠ DẦY của mình rống tuếch chờ chết, thì họ sẽ không còn sợ bạo lực đàn áp nữa và sẽ trở thành hòan tòan BẠO ĐỘNG đập tan quyền lực đã làm cho họ đang ngoi ngóp chết vì đói.
Cái tiến trình này đang đi tới như một ĐỊNH MỆNH CỦA QUYỀN DẠ DẦY ( La Destinée du Droit de l’Estomac/ The Destiny of Stomach Right). Khi ĐỊNH MỆNH đi tới, thì nó cứ lù lù đi tới mà không biết có bạo lực nào bên cạnh. Nó đang đi tới và càng tiến mau với những Khủng Hỏang Kinh tế/ Tài chánh hiện nay.
ĐỊNH MỆNH ấy đang tiến tới DÂN CHỦ HÓA. Nhưng Tiến Trình Dân Chủ Hóa trong Xã hội đang bị đàn áp bởi CƠ CHẾ CSVN hiện nay và có những khó khăn từng chặng, nên chúng tôi muốn giới hạn những gì thực tiễn dễ đi để mau chóng làm Dân tộc Việt Nam phục hồi và phát triển Kinh tế để tối thiểu DẠ DẦY của lớp Dân chúng cùng cực có miếng ngô khoai thực sự sống chứ không phải chỉ có Ý thức hệ Mác-Lê định hướng XHCN làm đau dạ dầy.
Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây: => Thế nào là DÂN CHỦ => Tỉ dụ thiết lập DÂN CHỦ tại một số Quốc gia => Từ Dân chủ hóa Kinh tế đến Dân chủ hóa Chính trị
Thế nào là DÂN CHỦ
Trong mấy ngày nay, để viết thế nào là DÂN CHỦ, chúng tôi định làm theo một số những bài học lý thuyết là trước hết đi tìm xem những Triết gia như Platon, Aristote định nghĩa về Dân chủ như thế nào.
Trong lúc viết bài này, tôi đang mở nhạc Việt Nam để nghe. Tư nhiên tôi thấy rằng tại sao phải đi tìm nơi những quốc gia khác như Hy Lạp, mà khôg tìm trực tiếp Dân tộc mình từ trước đến giờ đã hiểu về DÂN CHỦ như thế nào. Như vậy cũng đủ cho CSVN hiểu thế nào là Dân chủ, nhất nữa đó là từ chính Dân tộc mình. Chúng tôi đưa ra những tỉ dụ sau đây từ chính Dân tộc về Dân chủ:
1) Mã Viện dựng Cột Đồng Trụ và thề tận diệt Dân tộc Việt ít người, nếu Cây Cột ấy bị đổ. Vua Việt Nam tất nhiên biết rằng nếu ra lệnh kêu Dân kéo cây cột ấy xuống, thì Mã Viện biết và sẽ đem quân tàn sát Dân Việt. Nhà Vua thông minh và đã dành cho Dân chúng quyền quyết định hạ Cột Đồng Trụ ấy. Mỗi người dân đi qua, chỉ cần ném vào đó một viên sỏi. Đó là việc tòan Dân tham dự vào việc diệt Cột Đồng Trụ. Sức mạnh của Cá nhân chủ và Dân chủ đã đóng góp triệt hạ Cột Đồng Trụ mà Mã Viện không làm gì được. Tại sao ngày nay, đảng CSVN đã đàn áp sức mạnh Cá nhân chủ và Dân chủ của tòan Dân muốn lên tiếng nói về Hòang Sa và Trường Sa? Tại sao diệt sức mạnh quần chúng ?
2) Dân quê Việt Nam mộc mạc, trong một chế độ Quân chủ Vua Chúa, đã vẫn công khai tuyên bố: “LUẬT VUA THUA LỆ LÀNG”. Vua Chúa đâu dám nói như vậy là phản đối Quyền Lực Cai Trị, gây rối trật tự công cộng đối với Chính quyền. Ngay người Dân quê Việt Nam đã biết rằng họ có một cái quyền mà chính quyền độc tài Quân chủ Vua Chúa cũng phải tôn trọng. Đó là quyền DÂN CHỦ của Dân quê đó.
3) Không người Việt Nam nào không học bài học ngàn đời: Nhà Vua triệu tập HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG để lấy quyết định tối cao của tòan Dân trong việc chiến đấu sống chết đối với Tầu xâm lăng. Không ai có thể nói rằng đây không phải là tinh thần DÂN CHỦ mà quyền lực Vua Chúa Cai Trị và tòan thể Dân chúng đều biết rõ mà không cần phải Platon, Aristote đời xưa hay Mác-Lênin của Cộng sản định nghĩa. Cả Vua và Dân Việt Nam đã từ lâu hiểu thế nào là DÂN CHỦ và hiểu phải có sức mạnh của DÂN CHỦ thì mới quy tụ được mọi người trong những hòan cảnh sống chết quan trọng.
Ba tỉ dụ trên đây cũng đủ cho thấy rằng người Dân Việt Nam đã từ lâu biết thế nào là DÂN CHỦ. Những ai nói rằng Dân Việt Nam chưa ý thức được Dân chủ là gì, thì đó là điều ngụy biện để không cho Dân chúng quyền DÂN CHỦ mà thôi.
Thế nào là DÂN CHỦ ? Chúng tôi phân biệt tóm tắt như sau:
=> Quyền CÁ NHÂN CHỦ
Đây là cái quyền trước tiên và căn bản để có thể nói đến Nguyên tắc DÂN CHỦ. Khi đến tuổi trưởng thành, mỗi cá nhân có tòan quyền sống cuộc đời của mình, ngay cả quyền quyết định chấm dứt cuộc sống. Không Tòa án nào kết án trách nhiệm cho một người tự tử. Mỗi người có suy tư và họ trách nhiệm những suy tư của mình. Mỗi người phải nuôi sống thân xác và họ có quyền tư hữu những phương tiện riêng kiếm sống mà người khác phải tôn trọng. Họ làm chủ (CÁ NHÂN CHỦ) những suy tư và những phương tiện kiếm sống nuôi thân xác.
=> Nguyên tắc DÂN CHỦ
Nếu CÁ NHÂN CHỦ là một cái Quyền tự nhiên gắn liền với con người sống đối với những suy tư và những phương tiện làm ăn nuôi sống thân xác mình, thì DÂN CHỦ chỉ là một Nguyên tắc để giải quyết những va chạm giữa các quyền CÁ NHÂN CHỦ khi những Cá nhân quyết định chung sống trong một Tổ chức Xã hội. Khi nói DÂN CHỦ, thì điều đó có nghĩa là một tập đòan cá nhân quyết định sống chung và có một Tổ chức điều hành mà Nguyên tắc giải quyết trong điều hành là DÂN CHỦ, tôn trọng đa số những quyết định của CÁ NHÂN CHỦ.
Tỉ dụ thiết lập DÂN CHỦ tại một số Quốc gia
Với sự phân biệt như trên, chúng ta thấy cái hướng đi, cái tiến trình đi đến một Nguyên tắc DÂN CHỦ mà một Tập thể, cả cá nhân thành phần và cơ quan điều hành phải tôn trọng, cần đi từ nguồn CÁ NHÂN CHỦ để tiến tới Nguyên tắc DÂN CHỦ. Nói như vậy, chúng ta thấy rõ rằng Nguyên tắc DÂN CHỦ không phải là sự ban phát từ Tổ chức điều hành ban phát xuống cho Cá nhân thành phần của Tập thể. Tỉ dụ, đảng CSVN hiện nay đang áp dụng Nguyên tắc sống chung xã hội bằng quyết định độc đóan của đảng lên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ không phải là sự nới rộng, ban phát từ đảng CSVN xuống cho Dân, mà chính là Nguyên tắc giải quyết Xã hội mà những CÁ NHÂN CHỦ đòi hỏi đảng CSVN cai trị phải tôn trọng để điều hành công việc của Tập thể.
Những đảng phái, những Chính trị gia dễ có khuynh hướng nói rằng họ mang đến cho Dân chúng những phạm trù DÂN CHỦ như một ân huệ. Đây là mặc cảm từ thời kỳ Quân chủ độc tài mà những người làm Chính trị hiện nay coi như họ mang DÂN CHỦ đến cho dân như một cuộc giải phóng. Chính vì thế mà họ dễ dàng cấu trúc trong ý tưởng thiệt đẹp những phạm trù DÂN CHỦ xa thực tế để rồi họ phê phán rằng dân chúng chưa có ý thức hoặc họ xử dụng những phạm trù trừu tượng xa thực tế để nắm quyền lợi dụng dân chúng.
Tiến trình cụ thể đi tới DÂN CHỦ phải bắt ngườn từ CÁ NHÂN CHỦ để rút ra những Nguyên tắc giải quyết thực tiễn cuộc sống chung nhất là về quyền làm ăn sinh sống cho thân xác. Nói như vậy, chúng tôi muốn đưa đến một tiến trình đi từ những tư hữu phương tiện làm ăn và những nguyên tắc giải quyết va chạm kinh tế dựa trên quyền lợi cá nhân.
Chúng tôi muốn lấy tỉ dụ của hai Quốc gia có nền DÂN CHỦ cao vào bậc nhất trên Thế giới, đó là Hoa kỳ và Thụy sĩ. Cả hai Quốc gia này có một tiến trình xây dựng nền DÂN CHỦ khá giống nhau và mang những đặc tính sau đây:
=> Tổ chức điều hành của hai Quốc gia đặt nặng trên Phân quyền: quyền của Bang và quyền của Liên Bang. Cả hai nước theo hệ thống Liên Bang, nghĩa là quyền điều hành trực tiếp đời sống dân chúng được dào về phía các Bang. Phía Cá Nhân Chủ được các Bang chia nhau săn sóc cho dân chúng.
=> Lịch sử Nền DÂN CHỦ của hai nước được khởi công xây dựng dựa trên thực tế của cuộc sống kiếm ăn mỗi ngày của dân chúng, nghĩa là từ lãnh vực Kinh tế chứ không từ những phạm trù Dân chủ trừu tượng áp đặt lên cuộc sống cụ thể làm ăn của dân chúng. Thực vậy, Hoa kỳ được gọi là hiệp chủng quốc, nghĩa là gồm đủ mọi thứ dân tụ họp lại trên một mảnh đất mà ưu tư chính yếu là tìm sống về Kinh tế; nước Thụy sĩ từ nguyên thủy cũng có thể gọi là hiệp chủng quốc gồm những người từ mọi nơi lên vùng đồi núi tìm sống. Só dân lúc này của Thụy sĩ là 7 triệu, được phân chia ra 24 Bang để chính mỗi Bang điều hành trực tiếp Cá nhân chủ.
=> Kiến tạo nền DÂN CHỦ từ cuộc sống Kinh tế thực tiễn, chứ không từ những phạm trù Ý thức hệ trừu tượng, hai quốc gia Hoa kỳ và Thụy sĩ đạt được một nền DÂN CHỦ có thể nói là cao và vững chắc nhất Thế giới hiện nay.
Tóm lại việc xây dựng nền DÂN CHỦ tại hai nước cho chúng ta bài học: (i) khởi công xây dựng từ cuộc sống làm ăn cụ thể của Dân chúng, nghĩa là giải quyết chính yếu những vấn đề Kinh tế chung đụng; (ii) phân quyền điều hành Cá nhân chủ trực tiếp với Dân chúng.
Từ Dân chủ hóa Kinh tế đến Dân chủ hóa Chính trị
Tại Việt Nam, một số Tiến trình Dân Chủ Hóa đã được đặt ra, nhưng dường như từ phía những người làm Chính trị dựa trên những phạm trù Ý thức hệ về Dân chủ xa với đời sống cụ thể tìm sóng của Dân chúng. Người ta nhìn thấy một cuộc đấu tranh về những xung khắc quan niệm Ý thức hệ về Dân chủ hơn là việc thực hiện cụ thể những nguyên tắc dân chủ giải quyết cuộc sống làm ăn mỗi ngày của Dân chúng. Chính vì vậy, những Tiến trình Dân chủ hóa không được đại đa số quần chúng nghèo khổ quan tâm cho lắm. Có thể nói rằng khối dân nghèo khổ 75% dân chúng đang quan tâm giải quyết vấn đề đất đai, vấn đề công bằng lao động... hơn là vấn đề Quốc Hội tượng trưng cho Dân chủ như thế nào.
Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị hãy bắt đầu bằng những bước cụ thể Dân chủ hóa Kinh tế, điều mà đại đa số quần chúng quan tâm, thiết thân. Dân chủ có nghĩa là Dân làm chủ, nhưng Dân chúng tha thiết đén câu hỏi: làm Chủ, nhưng làm chủ cái gì. Cái gì đó chính là miếng đất nhỏ bé mà họ phải cong lưng cầy cấy ngô khoai kiếm sống. Nếu những nhà Dân chủ trí thức mải mê thuyết trình về quan niệm Dân chủ của Thế giới Tự do như thế nào và Ý thức hệ Dân chủ của Cộng sản ra sao, thì người nông dân nhìn cụ thể dân chủ ở việc họ có được làm chủ chính miếng đất thừa kế từ chính ông cha họ để lại hay không. Hãy giải quyết cụ thể cho họ và sau đó mới thuyết giải những quan niệm trừu tượng.
Gương xây dựng nền DÂN CHỦ tại Hoa kỳ và Thụy sĩ bắt đầu bằng giải quyết CÁ NHÂN CHỦ những phương tiện kiếm sống cụ thể mỗi ngày cho chúng ta thấy rằng phải bắt đầu việc Dân chủ hóa Kinh tế thực sự (Démocratisation Economique). Từ đó Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Politique) đến như một Hệ luận. Hiện nay, Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế bắt đầu bằng giải quyết những vấn đề cụ thể sau đây:
=> Tôn trọng quyền TƯ HỮU các phương tiện làm ăn, mà cụ thể là quyền Tư hữu Đất đai. Nhà Nước không được quyền dưới danh nghĩa quản lý để tước đọat đất đai, nhà cửa của dân chúng.
=> Tôn trọng quyền TỰ DO làm ăn của Dân chúng. Việc tôn trọng này không cho phép Nhà Nước dùng độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế
Nếu giải quyết xong những vấn đề trên đây, chúng ta đã làm công việc Dân chủ hóa Kinh tế (Démocratisation Economique) làm nền tảng tiến đến Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisatin Politique) vậy.