VietTUDAN === FINinfo
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
=>So/No.260/13.07.06
=>So/No.259/06.07.06
=>So/No.258/29.06.06
=>So/No.257/22.06.06
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
 


                               xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx

 
                           Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam                                 Fight for Liberty&Democracy in Vietnam/Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

                       NHUNG BAI Chu de KINH TE/ Subject ECONOMY

                               xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx


-----------------------------------------

THOI SU KINH TE/ TAI CHANH

-----------------------------------------


                                CÁCH MẠNG CÔNG NHÂN VÀ NÔNG DÂN


Thể chế CSVN độc tài toàn trị đầy tham nhũng hiện nay đưa Kinh tế Việt Nam đến thụt lùi. Công nhân và Nông dân ngày càng nghèo. Những cuộc Đình Công báo hiệu cuộc Cách Mạng. Những giải quyết vá víu không thể giải quyết cho việc nổi dậy đã bắt đầu và còn tiếp đến một cuộc Tổng Nổi Dậy làm Cách Mạng để có một giải quyết căn bản.


                                 PHONG TRÀO CÔNG NHÂN ĐẤU TRANH:
                             LÁ THƯ CAN ĐẢM CỦA MỘT SỐ CÔNG NHÂN

                                      Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
                                           Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
                                                             oOo
                                        Nỗi Niềm Khóc Hận Thương Tâm
            của tầng lớp công nhân lao động nhập cư nghèo từ các tỉnh về thành phố

Kính Gửi: 
Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh Đảng CSVN
Bộ Chính Trị Trung Ương (TW) Đảng CSVN
Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội do Đảng CSVN cầm quyền.
 
Chúng tôi có tên dưới đây:
-    Huỳnh Ngọc Cảnh, đại diện một số anh chị em công nhân khu công nghiệp AMATA Đồng Naị
-    Nguyễn Tấn Hoành, đại diện một số anh chị em Khu Công nghiệp Điện Bàn Quảng Nam.
-    Nguyễn Tấn Dung, đại diện một số anh chị em công nhân khu công nghiệp Biên Hoà IỊ
-    Dương Thái Phong, Huỳnh Tiến, Trương Long, Vũ Hà, Trần Tá, Võ Hải, Nguyễn thị Tuyết, thuộc khu   công nghiệp Tân Bình và khu chế xuất Vĩnh Lộc.
-    Hoàng Anh Tuấn, Công Ty Giày da Gia Định, quốc lộ 13 Thủ Đức, Tp. Saigon

Thưa quý Ngài lãnh đạo Bộ Chính Trị TW Đảng CSVN
Ngày trước miền Nam 1975, gia đình chúng tôi chưa được cách mạng giải phóng. Cha mẹ chúng tôi có nhà, có đất làm ăn khấm khá chưa biết làm thuê làm mướn là gì. Trong thời đó những nhà thương gia Ấn Độ, kỹ sư người Nhật, Hàn Quốc vào miền Nam làm thuê và mua bán. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào người dân Việt Nam. Sau năm 1975, miền Nam được cách mạng giải phóng khỏi ách nô lệ, Đảng hô hào nâng đỡ và đấu tranh cho hai giai cấp công nhân và nông dân. Chính lá cờ Đảng CSVN thể hiện biểu tượng búa, liềm.
Sự thật có phải như vậy không?
Thưa, sự thật rất phũ phàng!
Sau khi chiếm được miền Nam là cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản mại bản thì gia đình chúng tôi bị mất nhà, mất đất. Trong khi chúng tôi có tiền dư thóc để, thì chúng tôi bị lấy nhà và bị đuổi đi vùng sâu nước độc để khai phá đất hoang làm ăn. Do những cơn sốt rét vàng da, có những gia đình chết phân nửa, có những gia đình phải chết hết. Khi trở về thành phố thì nhà cao cửa rộng, ruộng vườn của mình thì bị cán bộ đảng viên thu sa.ch. Điều này chúng tôi có nói sai đâụ Những villa nhà lầu hiện nay là nhà của đảng viên, thì thử hỏi cha ông của mấy ông này mua nhà đất từ thời nào để lại cho mấy ông đảng viên này, nếu không phải cướp của chúng tôi thì từ đâu mà có. Cuộc đời chúng tôi còn sống thì vẫn còn bị cướp. Đời Cha tôi bị cướp, đời tôi cũng bị cướp. Những gia đình chúng tôi lên vùng kinh tế mới khai hoang được vài ba mẫu đất làm ăn, cuộc sống chưa ổn định thì trò cướp bóc lại theo đuổi theo người dân nghèo chúng tôi, kế đến là chiêu thức kêu gọi đầu tư rước ngoại bang vào, lại tiếp tục lấy đất của chúng tôị Bằng nhiều chiêu thức gạt gẫm lừa bịp gian manh quỷ quyệt, trù dập vu khống chụp mũ. Mọi thủ đoạn lấy cho bằng được đất của chúng tôị Thế thì chúng tôi người nông dân mà không có ruộng cày, ruộng mình bị lấy trắng tay, lấy giữa ban ngàỵ Ông Bà ta có câu "cướp đêm là giặc, cướp ngày quan tham!". Sự tính toán nham hiểm của Đảng, mà người dân chúng tôi sống không được mà chết cũng không xong. Chúng tôi có đất mất cả hai lần, thế thì muốn được sống phải đi làm thuê cho những ông chủ mà trước năm 1975, đất nước họ kinh tế thấp kém, họ phải tới Việt Nam làm mướn. Đó là sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta đã đưa dân tộc làm nô lệ cho ngoại bang!??
 
Thưa quý vị, 
Đất nước ta là đất nước cộng sản theo chủ thuyết Lênin chuyên chính vô sản, giải phóng cho hai tầng lớp nông dân và công nhân. Nhưng nay ta có đảng lãnh đạo suốt 30 năm mà người dân chúng tôi phải è cổ, cho bọn thương gia bóc lột là saỏ Sự tính toán của đảng ta là đẩy tầng lớp nông dân và sức trẻ thanh niên làm tôi mọị Bản thân chúng tôi bị vắt cạn kiệt sức lao động, mà nhà nước và đảng đã chủ mưu tính toán lấy sạch đất đai của dân, thì buộc chúng tôi phải làm nô lê.. Nhưng chúng tôi không phải làm nô lệ cho một ông chủ, một bản thân, mà phải chia ra làm tôi mọi bị bóc lột từ nhiều phía, nhiều cơ quan.
 
Như tôi, Nguyễn thị Tuy ết, người con gái nhỏ bé 21 tuổi cũng như anh chị em khác, bị những khâu chia chác mồ hôi, sức lao động như sau:

Tôi ở Kiên Giang đi cùng chúng tôi là bốn chị em khác lên tại Saigon xin vào công tỵ Trước khi đi, địa phương đã thu của tôi bốn mươi lăm nghìn đồng (VN$45,000)  tiền lao động công ích, tiền an ninh là hai mươi lăm nghìn (VN$25,000). Mức thuế thân này chúng tôi phải đóng trước khi rời khỏi địa phương, như mỗi năm tôi phải đóng hai lần, cộng cả thảy là một trăm năm mươi nghìn đồng, chưa tính tiền xe đi lại hầu hạ mấy ông cán bộ cấp Xã. Vào xin được việc làm, phải mướn phòng trọ mỗi tháng hai trăm năm mươi ngàn đồng (VN$250,000); tiền điện, tiền nước là sáu mươi nghìn đồng (VN$60,000).Như vậy, tính ra tôi phải bắt buộc chi tiêu tối thiểu là bốn trăm sáu mươi nghìn đồng (150,000+250,000+60,000= VN$460,000). Trong khi lương của tôi chỉ được một triệu, là mức lương đã làm được ba (3) tháng, tay nghề tương đối đã rành. Còn mới vào sáu (6) tháng đầu, chỉ có bảy, tám trăm ngàn, tính ra ăn uống và phương tiện  đi lại thì không mua nỗi áo quần để mặc. Những lúc bệnh nhẹ cũng không có tiền mua vài liều thuốc. Mấy chị em cùng đi với tôi có người thì bỏ về cào tôm, lượm sò. Số còn lại họ không làm nổi vì công việc quá cực. Thức đêm tăng ca không tăng tiền, họ đành vào những quán café ôm, rồi sau đó họ sa vào lưới của xã hội tạo ra, bán rẻ trinh tiết cho những tay có tiền. Ở Việt Nam hiện nay ai là những kẻ có lắm tiền, chỉ có những kẻ quan chức cán bộ mới có nhiều tiền mà thôị Chính họ dồn ép tuổi thanh xuân chúng tôi vào đường cùng để cướp của người này, đem mua những thứ khác, có phải vậy không Ngài Tổng Bí Thử
Chúng tôi phân tích không sai, mong ông hãy nghĩ tới người Việt Nam máu đỏ da vàng, không phân biệt Kinh hay Thươ.ng. Cha ông đã nói nước Việt Nam là Một, dân tộc Việt Nam là Một. Vậy quý vị còn có chút lương tâm con người không?
Hiện nay chúng tôi vẫn bám víu vào công việc tại nhà máy bao bì cho ông chủ Đài Loan. Ở đây thật đau lòng, chúng tôi như người bị tù, vì công đoàn là bộ phận an ninh của Đảng và an ninh nội bộ luôn bám sát chúng tôị Bộ phận công đoàn sẵn sàng lợi dụng những người nhẹ dạ không biết thương nhau trong đám công nhân, để phát triển thành đoàn viên, là cánh tay hậu bị của đảng làm công cụ cho công đoàn, sẵn sàng đàn áp chúng tôi bằng những tờ báo cáo mật hay chỉ trích một khi chúng tôi có sự đòi hỏi chính đáng .
Chúng tôi là những công nhân có tên trên đây đại diện cho một số anh chị em công nhân trong nước có tiếng nói chung, yêu cầu và đề xuất những điều kiện sau đây với Bộ Chính Trị và TW Đảng CSVN như sau:

Trả lương cho chúng tôi theo đúng hợp đồng của nhà nước Việt Nam với các nhà đầu tư, thương gia nước ngoài có công ty xí nghiệp tại Việt Nam theo mức giá đồng USD thị trường.
 
Mức lương phải ngang bằng các công nhân các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia ...
 
Dẹp bỏ Công đoàn do đảng (CS) xây dựng đưa vào các công ty xí nghiệp.
 
Không được phát triển đoàn, đảng trong hệ thống công nhân chúng tôi, để rồi quay lại đàn áp chúng tôị Vì chúng tôi chỉ là những người đi làm mướn làm thuê bình thường, không muốn tham gia chính trị, chúng tôi không muốn hệ thống độc tài độc quyền đeo đẳng chúng tôi, vì chúng tôi đã quá khổ rồị
 
Chúng tôi có quyền tự hợp đồng lao động cá nhân và tập thể khi đã dẹp bỏ hệ thống công đoàn, vì tổ chức công đoàn không đem lại quyền lợi thiết thực cho chính người công nhân chúng tôi, mà chính họ lại ăn theo phần trăm sản xuất của chúng tôi, và mỗi khi chúng tôi muốn đòi hỏi quyền lợi chính đáng phải được sự đồng ý của công đoàn là phi lý.
 
Chúng tôi không phải đóng góp những khoản tiền như xoá đói giảm nghèo và các loại tiền do Công đoàn phát động và trừ thẳng vào lương của chúng tôi như trước đây đã có.
 
Chúng tôi phải được quyền lợi như: bảo hiểm y tế, tiền lương hưu sau khi hết độ tuổi lao động, bảo hiểm tai nạn lao động rủi ro ... 

Chúng tôi có quyền hội họp riêng tư, có quyền lập hội, gây quỹ, có quyền đấu tranh, có quyền đình công đòi hỏi các quyền lợi chính đáng, phù hợp mức lương, tương xứng với công sức lao đô.ng. Những đòi hỏi ước vọng này, chúng tôi được thực hiện cũng không gây ảnh hưởng kinh tế thị trường và nền an ninh, như nhà nước và bộ phận công an thường cho là thế lực thù địch gây ảnh hưởng kinh tế quốc giạ 

Nếu chúng tôi không được thực hiện 8 điểm yêu cầu trên, chúng tôi sẽ chọn một điểm phát động đấu tranh giành quyền làm chủ các nhà máy, xí nghiệp công ty của những tay tư bản ngoại quốc, như trước đây chủ nghĩa CS đã làm. Và chúng tôi làm đúng chính sách chủ trương của đảng cộng sản Việt Nam, là nơi nào có bóc lột, áp bức, nơi đó phải vùng lên đồng loạt giành quyền làm chủ; đánh đổ các tập đoàn tư bản, giành quyền làm chủ cho dân nghèọ
Vậy chúng tôi mong bộ Chính Trị TW Đảng, Bộ Công An xem xét cho người công nhân chúng tôi được những quyền lợi mà đảng đã từng hô hào là chống bóc lột, chống tư bản, chống nghèo đói, mà nay đảng và nhà nước đang làm ngược lạị
Chúng tôi đã có tên và địa chỉ, mong quý Ngài quan tâm.
Yêu cầu các giới truyền thông hải ngoại, các cơ quan quốc tế đấu tranh cho quyền lợi dân nghèo bị đàn áp bóc lột, trong đó có tầng lớp công nhân Việt Nam chúng tôi đang bị bóc lột tận xương tuỷ.
Kính mong CLB Hoa-Mai, Đài Hoa-Mai truyền thanh trực tiếp về Việt Nam. 
Trân trọng kính chàọ


                                      TÍCH CỰC KÝ TÊN  YỂM TRỢ
                            PHONG TRÀO CÔNG NHÂN ĐẤU TRANH
                                
http://www.PetitionOnline.com/LDTD/


                               TÔN GIÁO, PHONG TRÀO, ĐOÀN THỂ
                  KÊU GỌI YỂM TRỢ CÔNG NHÂN & NÔNG DÂN VIỆT NAM

=> PHONG TRÀO DÂN CHỦ VIỆT NAM KÊU GỌI CHO QUYỀN CÔNG NHÂN
=> MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN KÊU GỌI YỂM TRỢ CÔNG NHÂN
=> GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT YỂM TRỢ CÔNG NHÂN & NÔNG DÂN
=> PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY NHIỆT LIỆT YỂM TRỢ CÔNG NHÂN VÀ NÔNG DÂN
=> PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 & DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ CỦA CÁC PHONG TRÀO DÂN CHỦ VN YỂM TRỢ CÔNG NHÂN ĐẤU TRANH


VÌ QUYỀN DẠ DẦY MÀ TỰ ĐỘNG NỔI DẬY:
ĐÌNH CÔNG ĐẤU TRANH
MANG TÍNH CHẤT THUẦN NHẤT KINH TẾ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Từ đầu cho đến giờ, khi nhìn những cuộc Đình Công đấu tranh, chúng tôi thấy rõ rệt cái nguồn gốc là quyền DẠ DẦY và việc TỰ ĐỘNG nổi dậy của giới Lao động nghèo khổ mà còn bị bóc lột dã man. Đây là việc đấu tranh hoàn toàn mang tính chất kinh tế, chứ không phải do sự xúi giục của những tranh chấp Chính trị. Động lực nổi dậy của quần chúng là việc tranh đấu cho sự sống còn của thân xác mình. Đó là vấn đề NHÂN SINH cá nhân ở cấp bậc tối “hạ tầng cơ sở“. Nó không đến từ sự xúi giục nào của các cấp “thượng tầng kiến trúc“ như từ giới Trí thức, Tôn giáo, Chính trị... Chính vì vậy, chúng tôi so sánh việc tự động nổi dậy đấu tranh cho quyền sống thân xác này giống như việc quần chúng đứng lên làm Cách Mạng như Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Nga 1917 hay Cách Mạng Lật Đổ Cộng sản 1989.  
Nhưng khi đọc trên Diễn Đàn, chúng tôi thấy một số tác giả những bài viết có khuynh hướng muốn cắt nghĩa nguồn gốc Đình Công mang mầu sắc tranh chấp Chính trị, hoặc bị ảnh hưởng từ những “chỉ đạo“ nào đó ngoài khối Công nhân.
Từ nhận thức khác nhau về nguồn gốc Đình Công đấu tranh, chúng ta nghĩ đến hai hậu quả sau đây:
1) Nếu nguồn gốc nổi dậy hoàn toàn là do động lực Kinh tế ở cấp thấp nhất là quyền Dạ Dầy, thì giới Công Nhân và Nông Dân hoàn toàn được mọi người ủng hộ, từ Dân tộc Việt Nam đến Thế giới. Không ai có quyền đàn áp, khủng bố một cuộc đấu tranh như vậy. Cụ thể là Cộng sản Việt Nam không có quyền đàn áp việc đấu tranh đòi quyền sống thân xác tối thiểu này. Cũng vậy, khi Phong trào Đình Công đòi hỏi có một CÔNG ĐOÀN LAO ĐỘNG ĐỘC LẬP, thì đó là để bảo vệ cái quyền Kinh tế tối sơ cho Nhân sinh, nên Nhà Nước phải tôn trọng. Công đoàn này đứng hoàn toàn trong phạm vi Kinh tế, chứ không phải là phương tiện đấu tranh Chính trị. Chúng tôi đã nói chuyện với Tổ chức Lao động Quốc tế (Bàn Giấy Lao Động Quốc tế: BIT/ILO, Trụ sở tại Geneva). Họ có thể can thiệp khi Công Đoàn hoàn toàn mang tính cách Kinh tế cho giới nghèo.
2) Nếu hiểu Phong trào Đình Công hiện nay mang mầu sắc tranh chấp Chính trị, thì đảng CSVN có thể viện cớ để đàn áp, khủng bố. Quốc tế cũng không sốt sắng lắm để can thiệp bởi lẽ họ không muốn động chạm nhiều đến chính trị nội bộ của một nước. Cũng vậy, việc đòi hỏi thành lập CÔNG ĐOÀN LAO ĐỘNG ĐỘC LẬP phải hoàn toàn nằm trong phạm vi Kinh tế. Nếu Công Đoàn này được hiểu như một Tập thể mang mầu sắc đấu tranh Chính trị, thì đảng CSVN viện lý do để không bao giờ cho phép thành lập.
Trong Thư mà Đại diện Công nhân đấu tranh cho quyền sống thân xác, các Đại diện này đã khẳng định rõ rệt rằng họ chỉ muốn làm việc kiếm sống cho thân xác, mà không muốn liên hệ đến Chính trị: “Vì chúng tôi chỉ là những người đi làm mướn làm thuê bình thường, không muốn tham gia chính trị“. Chính đảng CSVN muốn chính trị hóa Công nhân cũng như họ chủ trương chính trị hóa ngay Tôn giáo. Nếu có động chạm đến Chính trị, thì đó là việc Công nhân muốn từ khước việc Chính trị hóa Công nhân mà thôi. Việc khẳng định của Công nhân rất rõ rệt. Vì vậy chúng tôi mong mỏi rằng tác giả của những bài viết về Đình Công đừng tìm cách giải thích cái gốc gác xa gần của Đình Công mang mầu sắc hoặc ảnh hưởng tranh chấp Chính trị. Như vậy, chúng ta tránh cho cuộc đấu tranh của Công nhân những hậu quả mà họ đã tuyên bố rõ rệt là họ không muốn.
Đây là bài mở đầu để chúng tôi lần lượt viết một loạt bài về phương diện Kinh tế liên quan đến những cuộc Đình Công đấu tranh ở Việt Nam:
1) Hiện tượng Toàn cầu hóa bóc lột
2) Quản trị Xí nghiệp hệ trọng ở Quản trị Chi tiêu
3) Nhằm Lợi nhuận kinh tế tối đa mà không cần nghĩ đến nhân đạo
4) Cấu kết giữa Quyền lực Đồng tiền và Quyền lực Chính trị độc tài
5) Thế kẹt của Kinh tế Việt Nam
6) Thế cạnh tranh Thương mại Quốc tế ảnh hưởng tới Việt Nam
7) Thử đề nghị những giải quyết tức thời cho cuộc đấu tranh Công nhân Việt Nam
8) Phát động đấu tranh Hải ngoại trước Quyền lực tài phiệt quốc tế
9) Nông nghiệp Việt đủ bảo đảm cho quyền Dạ Dầy
10) Kết luận: Đoàn Kết Dân tộc cho giải quyết lâu dài  
Chúng tôi vui mừng thấy một số các Phong trào, Đoàn thể, Tôn giáo không những không do dự mà còn nhiệt liệt kêu gọi YỂM TRỢ việc đấu tranh thuần nhất Kinh tế này cho quyền Dạ Dầy của Dân nghèo. Tuy vậy, chúng tôi vẫn còn mong đợi việc lên tiếng của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và của Tổng Liên Hội Tin Lành Việt Nam. Đối với cuộc đấu tranh cho quyền Dạ Dầy của Nhân Công thuần túy Kinh tế, hai Giáo Hội này không thể viện cớ là muốn xa lánh Chính trị được bởi vì đây hoàn toàn là vấn đề NHÂN SINH, của người bị đánh trọng thương nằm bên lề đường.
                                                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


ĐẤU TRANH THÀNH LẬP
LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP
                                              
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
     

Những cuộc đình công từ đầu năm 2006 đến nay nhằm đấu tranh cho những điều kiện làm việc của giới thợ thuyền, cho đồng lương tương xứng và phù hợp với mức sống lên cao hiện nay, và cho những bảo đảm sức khoẻ và tuổi già.

Từ những năm trường, đảng cộng sản độc tài toàn trị cấu kết với tài phiệt ngoại lai để khai thác khối nhân công nghèo khổ Việt Nam, nghĩa là khối nhân công ấy phải cúi đầu chấp nhận làm việc như súc vật trước sứ cấu kết của hai quyền lực: quyền lực sức mạnh khủng bố của đảng CSVN và quyền lực của đồng tiền đến từ tài phiệt ngoại lai.

Tay chân mà hai quyền lực ấy xử dụng là Công đoàn Lao động do đảng Cộng sản điều hành nằm chính trong các Xí nghiệp. Họ là tay chân của hai quyền lực để nằm tại chỗ và trực tiếp dùng mọi cách bắt ép Công nhân phải tuân theo những bóc lột mà hai quyền lực kia chủ trương.

Những cuộc đình công đã bột phát và lan rộng. Hai quyền lực đàn áp và đám tay chân chó săn Công đoàn Lao động của đảng CSVN đang sửa soạn những biện pháp đàn áp cuộc đấu tranh chính đáng này của Công nhân VN hầu tiếp tục khai thác lao động Việt Nam nhũ cũ. Họ có thể xử dụng những hứa hẹn lừa bịp để làm giảm cường độ của cao trào đình công lúc này.

Khối Công nhân Việt Nam ý thức những mưu mô của CSVN và tài phiệt nước ngoài trong việc làm giảm cường độ của cao trào đấu tranh hoặc đàn áp thẳng tay khi họ có thể.

Vì vậy cao trào Đình Công hiện nay không phải chỉ nhằm đấu tranh cho tình trạng làm việc và lương bổng hiện tại, mà còn nhằm tới THÀNH LẬP MỘT LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP, một Tổ chức thường xuyên Phối hợp Công nhân và đấu tranh trường kỳ cho quyền lợi của Công nhân. Công đoàn này phải thay thế Công đoàn cũ của đảng làm tay sai chó săn cho đảng CSVN và tài phiệt ngoại lai. Công đoàn này phải ĐỘC LẬP do Công nhân Tự do thành lập để bênh đỡ cho quyền lợi của Công nhân.   

4 TRONG 8 ĐIỀU ĐÒI HỎI CỦA ĐÌNH CÔNG

Trong 8 Điều đòi hỏi của Công Nhân đấu tranh, đã có 4 Điều nói về Công đoàn Công nhân do đảng Cộng sản điều khiển. Công nhân đấu tranh đòi chấm dứt những hành động chó săn, cấu kết với đảng và chủ ngoại lai để không những không bênh đỡ gì công nhân mà còn quay lại phản lại chính quyền lợi của Công nhân.

4 Điều nói về Công đoàn này như sau:

(i)=> "Dẹp bỏ Công đoàn do đảng (CS) xây dựng đưa vào các công ty xí nghiê.p." 
   
(ii)=> "Không được phát triển đoàn, đảng trong hệ thống công nhân chúng tôi, để rồi quay lại đàn áp chúng tôi. Vì chúng tôi chỉ là những người đi làm mướn làm thuê bình thường, không muốn tham gia chính trị, chúng tôi không muốn hệ thống độc tài độc quyền đeo đẳng chúng tôi, vì chúng tôi đã quá khổ rồi."
   
(iii)=> "Chúng tôi có quyền tự hợp đồng lao động cá nhân và tập thể khi đã dẹp bỏ hệ thống công đoàn, vì tổ chức công đoàn không đem lại quyền lợi thiết thực cho chính người công nhân chúng tôi, mà chính họ lại ăn theo phần trăm sản xuất của chúng tôi, và mỗi khi chúng tôi muốn đòi hỏi quyền lợi chính đáng phải được sự đồng ý của công đoàn là phi lý." 
   
(iv)=> "Chúng tôi không phải đóng góp những khoản tiền như xoá đói giảm nghèo và các loại tiền do Công đoàn phát động và trừ thẳng vào lương của chúng tôi như trước đây đã có." 
  
Trong Điều (i), Công nhân đòi hỏi công khai việc phế bỏ những công đoàn do cộng sản thành lập để đưa vào các xí nghiệp.

Trong Điều (ii), Công nhân nói thẳng ra rằng họ chỉ biết đi làm để có đồng lương lo cho cuộc sống hằng ngày và chính thức bầy tỏ rằng họ không muốn đảng thành lập những đoàn thể trong các xí nghiệp để chính trị hóa đời sống họ theo đảng. Chính những đoàn thể này lại quay lại phản bội chính công nhân.

Trong Điều (iii), Công nhân tố cáo công đoàn CS một lần nữa là chính những công đoàn này không những không bênh đỡ quyền lợi của công nhân, mà còn kềm chế những đòi hỏi chính đáng của công nhân và còn ăn hớt phần trăm sản xuất của công nhân. Vì vậy Công nhân thẳng thắn đòi hỏi Cộng sản hãy để cho họ ĐỘC LẬP.

Trong Điều (iv), Công nhân tố cáo những Phong trào phát động của những công đoàn CS trong các xí nghiệp. Những Phong trào này  là rặn ra những quẻ điếm  "nịnh thần", "lấy điểm" trước đảng. Bất chấp sự ưng thuận của Công nhân, những Phong trào kêu gọi "xóa đói giảm nghèo" hoặc những đóng góp khác trừ thẳng vào lương của Công. Công nhân tuyên bố thẳng với đảng CSVN rằng hãy dẹp những trò điếm này đi.   

LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP

Một Liên Đoàn Công Nhân Độc Lập phải được thành lập. Đây là nhu cầu đấu tranh trong tương lai cho quyền lợi của Công nhân. Đảng CSVN tự nhận là họ đại diện cho giới vô sản và đấu tranh chính yếu cho Công nhân. Nhưng với 4 Điều tuyên bố trên đây từ giới vô sản lao động, thì Đảng CSVN đã không những không làm trọn phận sự như đã hứa mà còn cấu kết với tài phiệt ngoại lai và xử dụng những đoàn thể của họ đặt trong các xí nghiệp để chính trị hóa đời sống công nhân và bóc lột, đe dọa, đàn áp chính đời sống Công nhân. Phủ nhận quyền nầy đối với đảng CSVN, Công nhân muốn có một Tổ chức để bênh đỡ thực sự cho QUYỀN SỐNG của họ. Tổ chức này do chính Công nhân quyết định thành lập và không mang mầu sắc chính tri.. Đảng CSVN không thể cấm đoán một Tổ chức như vậy được bởi vì Quyền Lập Hội là quyền mà chính Nhà Nước Việt Nam đã ký trong Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền. Tổ chức này không mang mầu sắc chính trị và Công nhân cũng yêu cầu đảng đừng dùng những thủ đoạn đen tối để nhằm chính trị hóa tổ chức này theo mình như đảng đã làm với đám  ngợm giáo gian  quốc doanh liếm trĩ luồn trôn bệnh hoạn.

LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP thực sự cần thiết cho những chức năng sau đây:

=> Tiếp tục cuộc đấu tranh chính đáng hiện giờ mà giới Công nhân đã phát động từ đầu năm đến nay qua các cuộc Đình Công. Nếu do những thủ đoạn nào đó qua những cấu kết đàn áp của đảng, của tài phiệt ngoại lai và của đám chó săn công đoàn cộng sản tại các xí nghiệp, mà cao trào Đình Công bị đàn áp, thì Tổ chức Công Đoàn Công Nhân Độc Lập vẫn đứng đó mà tiếp tục những đòi hỏi chính đáng cho Công nhân.

=> Nghiên cứu tường tận những điều kiện làm việc, lương bổng và bảo đảm sức khỏe cũng như tuổi già của Công nhân trong các xí nghiệp, không phải chỉ lúc này mà còn thường xuyên trong tương lai;

=> Khi có tranh chấp Chủ--Thợ, Tổ chức chính thức Đại diện cho Công nhân để thảo luận với Chủ, mong tìm những giải quyết thỏa đáng giữa Chủ và Thợ mà không cần sự can thiệp của quyền lực Chính trị vào đời sống Kinh tế tư nhân.

=> Phối hợp Lực lượng Công nhân để đấu tranh cho quyền lợi lao động khi cần, nghĩa là khi tài phiệt nước ngoài cố tình cấu kết với quyền lực chính trị để khai thác hoặc đàn áp tỏ tường đời sống Công nhân.
  
Khi mà còn một số Lãnh đạo Tôn giáo DỬNG DƯNG đối với cuộc đấu tranh cực nhọc của Công nhân hiện nay, mặc dù giới cực nhọc này là tín đồ, đã có lần xả thân đấu tranh cho Lãnh đạo Tôn giáo được phần nào Tự do Tôn giáo (thực là ăn cháo đái bát !, qua sông đấm cò vào sóng !); khi mà còn một số Trí thức DỬNG DƯNG coi đây là cuộc đấu tranh cho miếng ngô khoai hèn hạ của những đứa nghèo, chứ không phải cho những triết lý cao chín tầng trời của những vị đại Trí thức tháo chạy Cộng sản đi tỵ nạn bằng máy bay hoặc vì nghĩ nếu ủng hộ thì sợ bóng sợ gió khi về Việt Nam thăm Quê Hương; khi mà còn một số Đoàn thể, Phong trào Hải ngoại DỬNG DƯNG trước những cuộc Đình Công của giới lao động vì những Đoàn thể, Phong trào Hải ngoại này  muốn nêu những khẩu hiệu đấu tranh thuộc nhân nghĩa cao vời để lấy tiếng cá nhân mà làm ăn ở Hải ngoại, chứ đâu cần gì đời sống mấy nhân công nghèo khổ ở Việt Nam.

Mặc cho những DỬNG DƯNG như vừa nói, Công nhân tự tin ở Lực Lượng của mình, nhất định đứng lên đòi hỏi thành lập một Tổ Chức Dấu Tranh cho riêng Lực Lương của mình: LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP.

Chúng tôi hoàn toàn và sát cánh với Công Nhân để đấu tranh đòi hỏi cho bằng được việc thành lập một LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP.   
                                                                                                                                     Giáo sư Tiến sĩ NGUYUỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 


                               TỪ QUYỀN DẠ DẦY ĐẾN LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ:
                                                      MỞ ĐẦU:
                                ĐÌNH CÔNG BÁO HIỆU KHỦNG HOẢNG


                              Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế


 Đầu năm 2006, những cuộc đình công, nhất là về ngành May Dệt và Dầy Dép, đã trở thành Phong trào bắt đầu từ những Khu Chế Xuất Sài-gòn, Bình Dương, rồi lan ra tòan Quốc.
 Đồng thời trên bình diện quốc tế, từ tháng Tư năm 2005, Hoa kỳ và Liên Aâu đã phản ứng mạnh đối với những hàng May Dệt của Trung cộng và gần đây nhất Liên Aâu đã quyết định tăng thuế nhập cảng những hàng Da Dầy Dép đến từ Trung quốc và Việt Nam. Những cuộc đình công tại Việt Nam có những lý do thuộc nội bộ và có những liên hệ đến cạnh tranh Kinh tế, Thương mại quốc tế. Chính vì vậy, nếu chế độ hiện hành ở Việt Nam chỉ dùng những biện pháp vá víu để giải quyết những lý do nội bộ về đình công, thì Đảng và Nhà Nước CSVN vẫn còn những lý do đến từ cạnh tranh quốc tế không thuộc thẩm quyền giải quyết của họ. Phải có những giải quyết “cách mạng“ căn bản phá bung chế độ chính trị hiện hành để có thể thiết lập một Môi Trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique Démocratique Adéquat) cho một nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự hầu phát triển Kinh tế đất nước. Chỉ có phát triển Kinh tế thực sự mới có thể giải quyết được quyền DẠ DẦY của Dân chúng.
 Những cuộc đình công của giới Lao động Việt Nam hiện nay báo hiệu Khủng hoảng Chính trị. Phải đẩy những cuộc đình công này đi đến chỗ phá tan chế độ hiện hành để thiết lập một thể chế Chính trị-Pháp lý phù hợp với nền Kinh tế Tự do Thị trường đích thực để phát triển Đất Nước. Như vậy mới có thể giải quyết:

=> Quyền DẠ DẦY của Dân chúng trong nội bộ Việt Nam   
=>  Tăng khả năng cạnh tranh Kinh tế, Thương mại quốc tế để những giải quyết nội bộ không hoàn toàn bị lệ thuộc.

 Chúng tôi nhớ câu nói của cựu Thủ tướng LÝ QUANG DIỆU Singapore khuyên Nhà Nước Cộng sản Việt Nam:“Khối đông đảo người Việt Nam ở nước ngoài là yếu tố rất may mắn cho việc phát triển Thương mại của Việt Nam“.
 Khối người này tha thiết đến việc phát triển Quê Hương, nhưng với điều kiện là chế độ độc tài toàn trị phải biến đi để nhường chỗ cho một thể chế Dân chủ đích thực. Việc hợp tác thực sự chỉ có thể có khi mà mọi người có Tự do và quyền Dân chủ để cùng xây dựng.
 Lực lượng đình công ngày nay báo hiệu Khủng hoảng Chính trị và là cái ngòi nổ rất lớn để toàn dân đứng lên quét sạch chế độ rác rưởi hiện hành và dùng quyền Dân chủ để xây dựng một chế độ Chính trị--Pháp lý khả dĩ làm điều kiện cho những phát triển Kinh tế Đất Nước.
 PHONG TRÀO QUỐC DÂN YỂM TRỢ CÔNG NHÂN ĐẤU TRANH phải được đẩy mạnh, trước hết là để bảo vệ những chiến sĩ công nhân can đảm đang lãnh đạo đình công, sau nữa là đẩy cuộc đấu tranh của công nhân đến Tổng Đình Công ép buộc thể chế rác rưởi độc tài phải biến đi để nhường chỗ cho một thể chế khả dĩ mang điều kiện Chính trị—Pháp lý Dân chủ thuận tiện cho việc giải quyết quyền DẠ DẦY cho Dân chúng.

 Chúng tôi sẽ lần lượt viết một loạt bài QUAN ĐIỂM xoay quanh chủ đề này:

1) Quyền DẠ DẦY (Stomach Right) là quyền quan trọng nhất:
“Có thực mới vực được đạo“
2) Quần chúng nổi dậy trong Lịch sử quốc tế
3) Những lý do nổi dậy thuộc Quốc nội
4) Aûnh hưởng Kinh tế Thương mại quốc tế đến lý do đình công
5) Chế độ hiện hành không thể giải quyết đình công với những biện pháp vá víu
6) Những giải quyết tổng thể và căn bản trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực.
7)  Nền Kinh tế Tự do Thị trường đích thực đòi phải lật đổ chế độ CSVN
8) Môi trường Chính trị—Pháp lý Dân chủ cho nền Kinh tế Tự do Thị trường
9) Sự phối hợp những Phong trào đấu tranh: quyền DẠ DẦY, quyền DÂN CHỦ, quyền TỰ DO NGÔN LUẬN
10) Kết luận: phải vứt bỏ ngay chiếc váy đụp để may váy mới với vải đẹp

 Toàn dân có nhiệm vụ phải YỂM TRỢ Phong trào Công nhân đấu tranh này và đẩy Phong trào đến đến một Lực lượng quần chúng nổi dậy chấm dứt chế độ độc tài hiện hành. Đây không phải là vấn đề công nhân làm chính trị mà là việc cứu nước của giới công nhân bởi lẽ chính chế độ độc tài hiện hành là lý do chính yếu làm cho công nhân phải khốn cùng và làm cho cả Dân tộc đau khổ.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


(1) QUYỀN DẠ DẦY
LÀ QUYỀN QUAN TRỌNG NHẤT

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế

 
 Bài này là bài thứ 1 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 1: Quyền DẠ DẦY (Stomach Right) là quyền quan trọng nhất.
 Hãy nhìn tính cách quan trọng bậc nhất của QUYỀN DẠ DẦY qua những khía cạnh sau đây:
=> Bản năng sinh vật tìm đồ ăn cho sống còn thân xác
=> Xếp hạng đơn giản của Dân gian Việt Nam
=> Quan tâm hàng đầu của chính trị đứng đắn
=> Cái nhìn của Tôn giáo: tỉ dụ Thiên Chúa Giáo
=> Chủ lực Cách Mạng: Giới nghèo bị bóc lột tận Quyền DẠ DẦY

Bản năng sinh vật tìm đồ ăn
cho sống còn thân xác

Con người là một sinh vật. Cũng như mọi sinh vật, con người trước tiên từ bản năng sinh tồn thân xác phải tìm đủ mọi cách thế có được đồ ăn để nuôi dưỡng sự sống còn của thân thể mình. Tất cả đồ ăn vào DẠ DẦY, một bộ phận chính yếu biến chế đồ ăn thành chất liệu nuôi sống cơ thể. Khi gọi QUYỀN DẠ DẦY (Stomach Right), tức là cái Quyền Nuôi Sống Thân Xác. Đó là cái Quyền xếp hàng đầu trên các Nhân Quyền khác (Human Rights), bởi vì nếu thân xác chết rồi, thì cũng khỏi cần nói đến các Quyền khác của con người.
Con người được may mắn nhất trong các loài tạo vật là có cái Trí khôn. Từ cái Trí khôn ấy mới có những cấu trúc tinh thần cao hơn loài vật. Nhưng tất cả những cấu trúc tinh thần ấy chính yếu xoay quanh việc đấu tranh để tìm sống thân thể, nghĩa là Quyền Dạ Dầy. Văn minh của con người gồm kiến thức hiểu biết cơ cấu luật thiên nhiên để việc kiếm sống của mình tăng phần hữu hiệu. Loài vật chỉ kiếm ăn theo bản năng không tiến bộ hoặc tiến hóa rất chậm, trong khi ấy con người nhờ Trí khôn mà có tiến bộ  nhanh về cách thế kiếm ăn. Văn hóa của con người gồm những cách thế tương giao giữa mình và người khác cho khéo theo sự tinh tế chấp nhận của một cộng đồng gồm nhiều người. Cái văn hóa cũng xoay quanh chính yếu trong việc tranh đấu kiếm sống để bảo tồn thân xác. Sự tiến triển về Công Bằng và về Phương thức thực thi Công Bằng là điểm hệ trọng nhất của Văn hóa. Cái công bằng quan trọng nhất là về quyền Dạ Dầy của mỗi cá nhân trong cuộc sống chung cùng nhau đấu tranh tìm kiếm phương tiện nuôi sống thân thể. Tôn giáo không đến từ cấu trúc của Trí khôn con người, mà đến từ Mạc khải của Thần Linh. Luân lý của Tôn giáo không đi ngược Văn hóa từ sự cấu trúc của Trí khôn.
Tóm lại, Quyền Dạ Dầy là chính yếu. Văn minh, Văn hóa, Tôn giáo xoay quanh hoặc tôn trọng triệt để cái quyền Dạ Dầy ấy.    

Xếp hạng đơn giản của Dân gian Việt Nam

 Câu nói đơn giản nhất và phổ biến nhất trong Dân gian là :“Có thực mới vực được Đạo“. Chữ Đạo ở đây không có nghĩa hạn hẹp chỉ nguyên về Tôn giáo. Nếu theo cách nói của Marx, thì việc kiếm sống vật chất bảo tồn thể xác là hạ tầng cơ sở “Có Thực“, còn việc cấu trúc Văn minh, Văn hóa là thượng tầng kiến trúc, “Đạo“. Dân gian đơn thuần cũng đã tuyên bố sự phân biệt này và nhấn mạnh đến hạ tầng cơ sở từ lâu rồi, bằng câu “Có thực mới vực được Đạo“.
 Dân quê Việt Nam cũng đã nhấn mạnh sự cần thiết hàng đầu của việc tìm kiếm vật chất nuôi sống thân thể khi phải đối chọi với những ai muốn khinh thường việc tìm kiếm vật chất sinh sống này. Câu nói rất rõ rệt của Dân gian:“Nhất Sĩ, nhì Nông; Hết gạo chạy rông; Nhất Nông, nhì Sĩ“.

Quan tâm hàng đầu của chính trị đứng đắn

 Chính trị hiểu ở đây là cách thế quản trị một cộng đồng, một Nước. Cách thế quản trị đứng đắn là phải đặt trọng tâm vào việc tạo điều kiện, tôn trọng và bảo vệ cái quyền tìm kiếm vật chất để nuôi dưỡng thân xác của những người trong cộng đồng, nghĩa là chính trị xoay quanh chính yếu cái Quyền DẠ DẦY, tức là hạ tầng cơ sở. Khi nghĩ đến chính trị cho thượng tầng kiến thiết, thì điều hệ trọng nhất là điều hành thực thi CÔNG BẰNG liên hệ trực tiếp với việc tranh đua kiếm sống của cá nhân trong một công đồng.
 Tất cả những thể chế chính trị đứng đắn phải nhất thiết quan tâm đến Công Bằng giữa những cá nhân thuộc cộng đồng. Khi phân biệt tầng lớp xã hội, thì chính thể đứng đắn nào cũng phải quan tâm đến cái tầng lớp bao gồm đông đảo dân chúng nhất, đó là giới nghèo khó. Để thực thi sự quan tâm ấy, chế độ chính trị phải tìm đủ mọi cách tái phân phối phương tiện sống bằng cách hạ giá cả cho những nhu yếu phẩm trực tiếp liên hệ đến Quyền Dạ Dầy. 

Cái nhìn của Tôn giáo: tỉ dụ Thiên Chúa Giáo

 Để trình bầy sự quan tâm của Tôn giáo đến Quyền Dạ Dầy, tôi lấy tỉ dụ Thiên Chúa Giáo vì tôi là người Công giáo, có chút hiểu biết về Tôn giáo này. Tôi không dám lấy tỉ dụ Tôn giáo khác vì sợ mình thiếu hiểu biết mà nói sai trật đi.
 Có người quá đặt nặng đến việc cầu nguyện ở Nhà Thờ đến nỗi bỏ quên hoặc vi phạm quyền Dân sinh, nghĩa là Quyền Dạ Dầy.
 Tôi nghĩ đến chính Giáo huấn trực tiếp từ Chúa Giêsu, Thiên Chúa.
 Khi đoàn người tụ họp rất đông đảo để nghe Ngài giảng dậy, Ngài thấy đoàn người đói và Ngài không đang tâm để những người  ấy nghe giảng mà bụng đói. Ngài đã làm phép lạ nhân Bánh và Cá cho đoàn người ăn no thì họ mới yên tâm nghe Ngài giảng được. Ngài thấu hiểu cái câu của Dân gian Việt Nam:“Có thực mới vực được Đạo“.
 Tôi sực nhớ đến KINH LẬY CHA do chính Chúa Giêsu dậy cho Nhân loại phải cầu nguyện như thế nào. Mọi Kinh Nguyện khác là do Nhân loại đặt ra để cầu nguyện. Nhưng KINH LẬY CHA là do chính Chúa Giêsu trực tiếp dậy Nhân loại:
“Lậy Cha chúng tôi ở trên trời; chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng; nước Cha trị đến; ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.“
 “XIN CHA CHO CHÚNG TÔI HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY;“
 “Và tha nợ chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi;“
 “Xin chớ để chúng tôi sa chước cám dỗ; nhưng cứu chúng tôi khỏi sự dữ.“
 Câu đầu là bổn phận của kẻ thụ tạo, tuyên xưng sự tôn sùng của kẻ thụ tạo đối với Tạo Hóa.
 Sau khi ca tụng Danh Thiên Chúa rồi, thì Nhân loại xin Thiên Chúa ban cho mình điều mình mong mỏi. Chúa Giêsu dậy rằng điều mong mỏi để xin đầu tiên là thuộc về Quyền DẠ DẦY, hạ tầng cơ sở vật chất:
 “XIN CHA CHO CHÚNG TÔI HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY;“
 Còn những điều xin tiếp theo là thuộc về Luân lý, Luật lệ Tôn giáo, tức là thượng tần kiến thiết (theo kiểu nói của Marx).
 Chính Chúa Giêsu dậy trực tiếp thì không thể sai được bởi vì Ngài là Thiên Chúa. Thiên Chúa đã đặt quyền DẠ DẦY đứng hàng đầu trong các Quyền khác vậy.

Chủ lực Cách Mạng:
Giới nghèo bị bóc lột tận Quyền DẠ DẦY

 Giới nghèo, nghĩa là giới phải thường xuyên lo lắng đến Quyền DẠ DẦY chiếm đa số. Khi mà cái Quyền Dạ Dầy còn bị bóc lột, thì đó là điều giữa người với người không thể tha thứ được. Tôn giáo càng phải lên tiếng phản đối và yêu cầu phải tôn trọng cái Quyền Dạ Dầy này bởi vì Thiên Chúa đã đặt nó lên hàng đầu trong các Quyền khác.
 Cách Mạng là lật đổ một thể chế cố thủ đàn áp Nhân quyền, nhất là bóc lột cái Quyền Dạ Dầy.
 Với con số đông, trước sự bóc lột tận cái quyền Dạ Dầy cho sự sống thân xác, Giới Nghèo Bị Bóc Lột hoàn toàn có lý do và tự nhiên là Chủ Lực Cách Mạng.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


(2) QUẦN CHÚNG NỔI DẬY
TRONG LỊCH SỬ QUỐC TẾ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế

 Bài này là bài thứ 2 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 2: Quần chúng nổi dậy trong Lịch sử Quốc tế.
 Bài này đề cập những điểm sau đây:
=> Những cuộc Đảo Chính thay đổi quyền hành 
=> Những cuộc Cách Mạng Quần chúng thay đổi thể chế chính trị
=> Mẫu số chung của Cách Mạng Quần chúng và trường hợp Đình Công ở Việt Nam

Những cuộc Đảo Chính
thay đổi quyền hành

 Những Quốc gia, sau khi thâu hồi Độc Lập từ chế độ Thực dân, thường có những cuộc Đảo Chính do Quân đội chủ trương. Không thể gọi đây là những cuộc Cách Mạng bởi vì một cuộc Cách Mạng được hiểu như Quần chúng nổi dậy và đòi hỏi sự thay đổi không những về quyền hành, mà chính yếu là thể chế chính trị.
 Tại những Quốc gia mới thâu hồi Độc Lập, bắt đầu là một Quyền hành Dân sự với những ý niệm Tự do, Dân chủ rất tân tiến nhập cảng từ những nước đã mở mang. Thường nhân sự của Chính quyền Dân sự này là những người đã du học ở Mẫu quốc tại những Đại học lừng danh.
 Một thời gian sau khi thâu hồi Độc Lập, có hai lý do chính khiến Quân đội đứng lên lật đổ Chính quyền Dân sự và chuyển sang Chính quyền Quân sự:
=> Sinh viên Học sinh đấu tranh đòi hỏi những Giá trị lý tưởng
 Những Giáo sư tại các Đại học trong nước thường là những người đã học tại những Đại học mẫu quốc. Họ mang về những Giá trị lý tưởng từ mẫu quốc và đòi hỏi Chính quyền Dân sự vừa được thiết lập phải thi hành những Giá trị lý tưởng ấy. Khi so sánh  những thực hiện của chính quyền Dân sự và những đòi hỏi lý tưởng giảng thuyết từ các Giáo sư, Sinh viên Học sinh bắt đầu có những cuộc biểu tình đòi hỏi Nhà Nước Dân sự. Khi những cuộc biểu tình được đẩy đến cao độ, Quân đội nhẩy vào làm Đảo Chính để thay đổi quyền hành.
 Quân đội nắm lấy quyền, thì Tự do Dân chủ bị thắt chặt lại. Thế là Sinh viên Học sinh tiếp tục đòi hỏi. Vì thế những cuộc Đảo Chính quân sự tiếp nối nhau.
=> Thâm nhập phá hoại của Cộng sản
 Tại những nước kém mở mang và mới thâu hồi Độc Lập, Cộng sản Quốc tế luôn luôn tìm cách thành lập những Mặt Trận Giải Phóng. Nga và Trung quốc hỗ trợ trực tiếp những Mặt Trận này. Họ bắt đầu cho người thâm nhập các Tổ chức xã hội để phá rối trật tự, tạo khó khăn cho những Chính quyền Dân sự. Đồng thời những Mặt Trận này phá hoại đời sống Kinh tế.
 Trước những bất ổn Xã hội và những phá hoại Kinh tế, Quân đội đứng ra làm Đảo Chính, mong thắt chặt trật tự cho Xã hội hơn và hy vọng có tình trạng ổn định để Dân chúng làm ăn.
 Hai lý do chính trên đây cắt nghĩa những cuộc chuyển Chính quyền Dân sự sang Chính quyền quân sự bằng những cuộc Đảo chính quân sự tại Nam Mỹ Châu, Phi Châu và Đông Nam Á Châu.

Những cuộc Cách Mạng Quần chúng
thay đổi thể chế chính trị

 Những cuộc Đảo Chính trên đây đến từ Lực lượng quân sự sẵn có trong nước. Trong đoạn này, chúng tôi nói đặc biệt đến những cuộc Cách Mạng thực sự mà Lực lượng chính đến từ Quần chúng đồng lòng đứng lên đấu tranh để thay đổi ngay thể chế chính trị. Xin kể ra đây những cuộc Cách Mạng mang ảnh hưởng lớn Quốc tế:
=> Cuộc Cách Mạng Pháp 1789
 Đây là cuộc nổi dậy của Dân chúng Pháp nghèo khổ, bị bóc lột về quyền Dạ Dầy. Xin đừng quy cuộc Cách Mạng này cho giới Trí thức Pháp thời ấy. Giới Trí thức chỉ nhẩy vào cuộc để lý thuyết hóa và hệ thống hóa cái Lực lượng cơ bản của cuộc Cách Mạn: Dân nghèo đứng lên đòi quyền sống. Thực vậy, Vua Chúa giữ quyền độc tài tuyệt đối. Hàng quan tước và Tôn giáo chạy theo quyền Tuyệt đối của Vua Chúa thống trị. Nhưng những yếu tố chính làm động lực nổi dậy là hệ thống thuế khóa bóc lột của giới quyền quý khiến đời sống kinh tế của Dân chúng nghèo đến cùng cực. Năm 1791, một nhóm Trí thức muốn một thể chế chính trị Hòa giải Hòa hợp bằng cách thiết lập thể chế Quân chủ Lập hiến, nhưng Quần chúng Cách Mạng đã không chấp nhận, đòi hỏi phải đẩy cuộc Cách Mạng đến lật đổ hoàn toàn chế độ Quân chủ: chém đầu Vua để chấm dứt hẳn chế độ cũ quan quyền.
 Cuộc Cách Mạng Pháp là cuộc Cách Mạng của giới vô sản bị bóc lột đến cùng cực.
=> Cuộc Cách Mạng Nga 1917
 Đây cũng là cuộc Cách Mạng của Dân chúng Nga nghèo cùng cực trước sự thống trị bất công của Nga hoàng. Lực lượng quần chúng nghèo khổ này không phải là do nhóm của Lenine một sớm một chiều tạo ra được. Đó là một tình trạng tích lũy mà Dân nghèo bị bóc lột cùng cực. Lenine là một nhà Trí thức, đã lấy lý thuyết của Marx để cắt nghĩa cho có hệ thống, nắm lấy lực lượng Dân nghèo để chuyển sang đấu tranh giai cấp đẫm máu.
 Cuộc Cách Mạng vô sản Nga cũng cùng một lý do như cuộc Cách Mạng Pháp
 => Cuộc Cách Mạng vô sản lật đổ Cộng sản
 Chính những năm lật đổ các chế độ Cộng sản tại Nga và Đông Aâu, chúng tôi sống tại Aâu Châu này và có dịp chứng kiến hàng ngày những biến chuyển của tình hình. Năm 1789, Cách Mạng của giới nghèo lật đổ quyền tuyệt đối của Vua Chúa Pháp; năm 1989, hai Thế kỷ sau, chính giới nghèo lật đổ quyền tuyệt đối của đảng Cộng sản. Những lý do mà quần chúng làm Cách Mạng cũng không khác gì hai cuộc Cách Mạng trên đây. Đảng Cộng sản thâu tóm quyền hành tuyệt đối về mình. Hê thống Kinh tế Chỉ huy Tập quyền đưa Dân chúng đến nghèo cùng cực mà chế độ không thể giải quyết. Dân chúng nghèo khổ, bị bóc lột, phải đứng lên nắm lấy quyền tự làm ăn sinh sống.
 Nếu Cách Mạng 1917 được Lenine gọi là Cách Mạng vô sản, thì việc lật đổ thể chế Cộng sản cũng gọi là cuộc Cách Mạng vô sản bởi vì giới nghèo khổ là chủ lực đứng lên. Chúng tôi vừa xem lại đoạn phim ghi từ các Đài Truyền Hình Aâu Châu vào ngày 11.11.1989, ghi cảnh Dân Đông Bá Linh nghèo khổ, kéo sang Tây Bá Linh xem hàng quà, đời sống sung túc. Mỗi người sang thăm Tây Bá Linh được Nhà Nước Tây Đức tặng cho số tiền chừng 200 đo-la để mua quà. Chỉ trong một ngày, có tới 500'000 người từ Đông Bá Linh sang thăm Tây Bá Linh. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, năm 1993, chúng tôi đã sang Varsovie và Moscou và chứng kiến cảnh nghèo khổ thực sự của Dân chúng. Một người lính Nga hỏi xin tôi một điếu thuốc lá vì thực sự anh không có tiền mua điếu thuốc lá.

Mẫu số chung của Cách Mạng Quần chúng
và trường hợp Đình Công ở Việt Nam

 Nhìn ba cuộc Cách Mạng trên đây, chúng ta thấy một mẫu số chung:
=> Lực lượng nồng cốt là Dân chúng nghèo khổ mà còn bị bóc lột đến cùng cực do chính những người nắm giữ quyền cai trị. Không những giới cầm quyền không giải quyết được tình trạng nghèo khổ, mà còn bóc lột thêm. Quyền Dạ Dầy là thiết thân nhất cho mọi người. Đụng đến quyền này, là có bùng nổ đòi hỏi và đấu tranh.
=> Lực lượng Cách Mạng quần chúng có sự căm phẫn trước bóc lột và bất công. Sư căm phẫn không phải một sớm một chiều mà có, nhưng đã được tích trữ âm ỉ trong những năm trường. Nó không phải là sự châm ngòi cũa giới Trí thức hoặc từ những cuộc biểu tình của giới Sinh viên Học sinh.
=> Một cuộc Cách Mạng đòi quyền sống như vậy phải đi đến cùng: lật đổ thể chế chính trị đã bóc lột họ, chứ không chấp nhận những giải quyết nửa vời gọi là Hòa giải Hòa hợp.

 Những cuộc Đình Công tại Việt Nam hiện nay là sự nổi dậy của một tình trạng đói nghèo đã kéo dài 30 năm trường dưới quyền độc tài thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Quyền Dạ Dầy đã bị bóc lột 30 năm. Lực lượng quần chúng Việt Nam nổi dậy, mang cùng mẫu số chung với ba cuộc Cách Mạng lớn trên đây.

 Đúng đây là là cuộc Cách Mạng vô sản đòi quyền sống. Nó phải đi đến cùng, nghĩa là phải lật đổ hoàn toàn thể chế chính trị hiện hành. Việc yểm trợ của Tôn giáo, của Trí thức, của các Đoàn thể, Phong trào hải ngoại mang ý nghĩa TOÀN DÂN LÀM CÁCH MẠNG.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


(3) NHỮNG LÝ DO NỔI DẬY
THUỘC QUỐC NỘI

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế

 Bài này là bài thứ 3 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 3: Những lý do nổi dậy thuộc Quốc nội.
 Bài này đề cập những điểm sau đây:
=> Nhận định của Luật sư Đỗ Thái Nhiên 
=> Kinh tế vẫn là trong hệ thống chỉ huy
=> Công nhân bị bóc lột
=> Vật giá lên cao

Nhận định của Luật sư Đỗ Thái Nhiên

 Chúng tôi trích lại đây nhận định của Luật sư ĐỖ THÁI NHIÊN về lý do những cuộc đình công để độc giả rộng đường dư luận:

“Nguyên nhân của phong trào đình công.    
Năm 1989, CSVN quy định lương tốithiểu của công nhân Việt Nam làm việc cho những doanh nghiệp có vốn đầu tư của ngoại quốc (gọi tắt: FDI ) là từ 45 đến 50 Mỹ Kim. Mười năm sau nhằm lấy lòng doanh nhân ngoại quốc, chính phủ CSVN bằng quyết định số 53/1999/QĐTTg ngày 26/3/1999 đã hạ mức lương tối thiểu của công nhân FDI xuống 35 ố 45 Mỹ Kim. Mặt khác, CS Việt Nam bao giờ cũng cưỡng bách công nhân phải nhận tiền lương với hối suất 01 Mỹ Kim đổi lấy 13910 đồng Việt Nam (giá cả thị trường hiện nay là trên dưới 16.000). Như vậy công nhân bị bóc lột hai lần: tiền lương quá thấp và hối xuất bị ép gíạ
    
Từ 1999 đến 2006, thu nhập bình quân theo đầu người gia tăng 50%, giá cả tiêu dùng gia tăng 40% (http://aseansec.org/macroeconomic/aq_ gdp 22.htm). Trong khi đó lương công nhân FDI hoàn tòan bị đông la.nh. Điều này giúp chúng ta hiểu được bằng cách nào CSVN đã đưa mức sống của công nhân xuống đáy xã hộị Đây là lý do giải thích tại sao bà Elin Gauffin (Uy Ban Công Nhân Quốc tế Thụy Điển Committee for workers international CWI  Sweden 02/06/06) đã đưa ra nhận xét: “Công nhân tại Việt Nam thuộc thành phần bị bóc lột nhất thế giớiâ“. Đây cũng là lý do khiến cho Liên Hiệp Châu Au EU đánh thuế 16% trên số lượng giầy do CSVN xuất khẩu vào Au Châu.ï Châu Aïu cho rằng CSVN đã qui định giá giày thấp hơn bình thường, đã phá giá. Sở dĩ CSVN có khả năng phá giá là vì họ đã tận lực bóc lột tiền lương của công nhân.
    
Song song với việc trả lương chết đói như kể trên, giới chủ nhân FDI còn hành hạ công nhân Việt Nam qua nhiều hình thức khác nhau: đánh đập công nhân. Không cho công nhân đi vệ sinh trong giờ làm việc. Làm trái ý chủ, công nhân bị phạt quỳ gốị Phần cơm trưa do FDI cung cấp cho công nhân bị ghi nhận là “không ăn thì đói, ăn thì óiâ“. Chủ nhân tùy tiện tăng giờ làm việc hàng ngày của công nhân, nhưng trả lương cho giờ phụ trội lại thường bị giới chủ lờ đi... (talawas.org, tuoitre.com.vn, đài RFA Online ngày 4 tháng 3/2006, Thanh Niên Online ngày 3/3/2006: bài viết “Liên khúc đình công“...).
    
Hoạt dộng của kinh tế thị trường tự do đòi hỏi: mỗi khi có sự xung khắc quyền lợi giữa chủ và thợ thì nghiệp đoàn liên hệ sẽ đứng ra bảo vệ quyền lợi của công nhân. Dưới chế độ CSViệt Nam, liên đoàn lao động, còn gọi là công đoàn (một tổ chưc ngoại vi của đảng CSViệt Nam) đã làm gì để bảo vệ công nhân? Bản tin sau đây là câu trả lời mạnh mẽ dành cho câu hỏi vừa nêu: “Sáng thứ Năm, ngày 5 tháng 1 năm 2006, tại các khu chế xuất và khu công nghiệp, lực lượng thanh niên xung phong, đoàn viên thanh niên Cộng Sản, công an thành phố HCM, công an huyện Thủ Đức, công an tỉnh Bình Dương, cán bộ công đoàn, cán bộ liên đoàn lao động... đã bủa ra khắp mọi nẻo đường nhằm tìm cách phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời các vụ đình công (lời ông Vũ Huy Cận, Chủ Tịch Liên Đoàn Lao Động Thành Phố HCM  tin RFA ngày 9 tháng 1 năm 2006)“.  Liên đoàn lao động, công đoàn hiển nhiên là các loại “công an lao động“. Công đoàn chỉ biết phục vụ quyền lợi của đảng CSVN và của những chủ doanh nghiệp ngoại quốc (những người đã “trà nước“ rất hậu hỹ cho CSVN). Điều oái oăm là cho tới ngày nay công đoàn vẫn sống nhờ vào đồng tiền thu góp từ tay công nhân Việt Nam.
    
Trong khi công đoàn cộng sản vẫn diễn vở tuồng“ăn cây nọ rào cây kia“ thì tòa án lao động tại Việt Nam đã giải quyết những tranh chấp lao động như thế nàỏ Kính  mời bạn đọc hướng mắt nhìn về tòa án lao động của CSVN: “trong mười năm qua, hệ thống tòa án chưa từng một lần xét xử một vụ tranh chấp lao động tập thể của người lao động“ (talawas.org ngày 19/1/2006: “Tính Chính Đáng Của Những Cuộc Đình Công Bất Hợp Pháp“, tác giả Lâm Yến).
    
Công Đoàn làm công tác “công an lao động“. Tòa án Lao Động thản nhiên “ngủ ngồi“ mười năm. Sống trong guồng máy lao động không có bộ phận thoát hơi an toàn, công nhân không còn giải pháp nào khác hơn là hành động đình công hàng loạt. Ngày 28/12/05 phong trào đình công thực sự làm cho dư luận chú ý. Chưa tới hai tuần sau đó, ngày 06/01/2006 Thủ Tướng CSVN Phan Văn Khải đã vội vàng ký quyết định tăng 40% lương tối thiểu cho công nhân FDI kể từ tháng 2/2006. Thế nhưng chữ ký chưa ráo mực, CSVN lại ra lệnh đình hoãn việc tăng lương này đến tháng 4/2006. Sự kiện vừa kể làm người VN nhớ tới một câu chuyện cũ: tháng 5/1975, CSVN đã thông báo để mọi người hiểu rằng thời hạn “học tập cải tạo“ dành cho quân nhân và viên chức VNCH  chỉ là 10 ngàỵ Trong thực tế, 10 ngày trở thành một, hai thập niên. Mang chuyện “học tập cải tạo 1975“ đem so với lời hứa tăng lương hiện nay của CSVN, chúng ta không thể tìm thấy điều gì khác hơn hai chữ “dối gạt“. Đó là một trong những lý do giải thích tại sao phong trào đình công tại VN vẫn tiếp tục lan tràn từ Nam ra Bắc.

Kinh tế vẫn là trong hệ thống chỉ huy 

 Luật sư Đỗ Thái Nhiện lược kể ra những sự việc. Chúng tôi muốn đi vào nguyên do thất bại của một hệ thống Kinh tế chỉ huy (Systeme Economique dirigiste) từ chủ trương độc đảng và đảng muốn dành toàn quyền quản trị quốc gia cho mình.
 Kinh tế chỉ huy đã là định mệnh (fatalité) của sự sụp đổ của khối Cộng sản Nga và Đông Aâu. Sau sự sụp đổ này, đảng CSVN biết rõ rệt cái lý do là sự nghèo đói của Dân chúng đến từ hậu quả của một hệ thống Kinh tế chỉ huy, nhưng đảng đã cố thủ dùng mọi cách để bấu víu lấy quyền lực độc đảng. Không còn sự trợ cấp Kinh tế nào hết từ khối Cộng sản, đảng CSVN buộc phải mở cửa cho khối Kinh tế tự do và thị trường. Nhưng thời gian đầu, người nước ngoài vào Việt Nam lại gặp phải sức đè nén của cả một hệ thống Công ty quốc doanh. Nhà Nước Cộng sản buộc phải tuyên bố Đổi Mới, nghĩa là chấp nhận nguyên tắc Kinh tế tự do và thị trường, đồng thời nới rộng phạm vị hoạt động cho những Công ty tư nhân. Việc nới rộng này là về những hoạt động Kinh tế, nhưng về phương diện chính trị, thì đảng vẫn cố thủ giữ lấy quyền lực quản trị độc tài độc đảng.
 Buộc phải chấp nhận những nguyên tắc của hệ thống Kinh tế tự do và thị trường, nhưng sự thực hành những nguyên tắc này lại nằm hoàn toàn trong sự kiểm soát của quyền lực chính trị độc tài, nghĩa là một nền Kinh tế vẫn chưa thoát khỏi hệ thống chỉ huy:
=> Con cháu của đảng viên, nhất là cao cấp, có những ưu tiên nắm những hoạt động Kinh tế mà Nhà Nước nói đó là tư doanh. Đảng nắm toàn quyền quyết định, nhưng con cháu, bà con họ hàng của đảng nắm những hoạt động kinh tế hay giữ hệ thống môi giới cho quyền hội nhập kinh tế đến từ nước ngoài. Đó là một hệ thống Mafia chỉ huy Kinh tế.
=> Khi hệ thống chính trị vẫn là độc tài độc đảng, thì không thể nào tránh được nạn tham nhũng từ những người có quyền. Thánh nhân mà có toàn quyền, đứng cạnh đống vàng, dễ nẩy sinh lòng ăn cắp bởi lẽ mình có toàn quyền chặn họng những kẻ than vãn mất vàng.
=> Khi phải bảo vệ độc quyền độc đảng, thì vấn đề chỉ huy Kinh tế trở thành một điều kiện cho sự sống còn của quyền lực độc tài độc đảng. Thực vậy, trong hệ thống Kinh tế tự do tị trường thực sự, quyền lực chính trị chuyển dần sang quyền lực của đồng tiền. Quyền lực của đồng tiền tư bản tư nhân không thể đi đôi với quyền lực chính trị độc tài độc đảng. Vì muốn giữ chính trị độc tài độc đảng, nên buộc phải chỉ huy Kinh tế. Giữ nền Kinh tế chỉ huy như vậy dưới hình thức nguyên thủy hay với dạng thay đổi lừa dối, thì hậu quả vẫn là đưa đến đói nghèo và trở thành một định mệnh làm sụp đổ chế độ như Nga và Đông Aâu.
 Công đoàn Lao động hay “Công an Lao động“ là biện pháp mà đảng phải làm khi mà đảng không muốn bỏ thể chế chính trị độc tài độc đảng.

Công nhân bị bóc lột

 Chúng tôi cũng muốn nói đến việc bóc lột Công nhân như một định mệnh (fatalité) của chế độ chính trị cố thủ giữ lấy độc quyền độc đảng. Ba khía cạnh sau đây buộc chế độ độc tài độc đảng phải làm việc bóc lột trên nhân công: (i) Bất ổn chính trị; (ii) Thiếu đầu tư nước ngoài; (iii) Chỉ huy và bắt chẹt Thị trương Lao động.
 Từ những Oâng tổ của nền Kinh tế Tự do và Thị trường như Adam Smith, David Ricardo, Stuart Mill... đều đòi hỏi nguyên tắc rằng Nhà Nước không được can thiệp trực tiếp vào hoạt động Kinh tế tư nhân tự do và thị trường. Tất cả một can thiệp của Nhà Nước đều gây ra tối thiểu Chi tiêu xã hội (Couts sociaux) tốn kém cho chính nền Kinh tế.
 Khi giữ một thể chế chính trị độc tài độc đảng, thì không thể nào tránh được việc can thiệp của Nhà Nước trực tiếp vào hệ thống Kinh tế.  Thể chế chính trị Việt Nam, với những kềm kẹp Nhân quyền, Tôn giáo... tạo bất ổn chính trị. Tình trạng chính trị bất ổn làm những vốn đầu tư tránh xa, nhất là trong những ngành nghiệp phải cần vốn lâu dài hạn. Nếu có đầu tư, thì đó là vào ngắn hạn và vào sản xuất những hàng hóa mà chu trình khai thác rất ngắn (Cycle d’exploitation très court) để có thể gấp rút kéo lại vốn đầu tư, tránh trường hợp bất ổn chính trị.
 Vì thiếu vốn đầu tư nước ngoài như vậy, nên Nhà Nước phải buộc lòng phải dụ vốn nước ngoài bằng chỉ huy khối nhân lực trong tình trạng lương thấp. Đây là chính sách bán rẻ nhân công để dụ đầu tư nước ngoài. Thị trường nhân lực bị quyền lực chính trị can thiệp trắng trợn trong chiều hướng bóc lột nhân công để bán rẻ cho tài phiệt ngoại quốc.  Lý do căn bản để Nhà Nước phải bóc lột bán rẻ nhân công cho ngoại quốc, đó chỉ là vì thể chế chính trị độc tài độc đảng bất ổn. Cái bất ổn chính trị làm cho vốn tránh xa. Để kéo níu vốn lại, thì phải bắt ép thị trường nhân lực chấp nhận lương rẻ mạt. CSVN đã bóc lột nhân công để phục vụ cho việc cố thủ giữ quyền lực chính trị độc tài độc đảng.
 Thêm vào việc bóc lột này, đó là hệ thống tham nhũng của cả một loạt cán bộ từ trên xuống dưới. Việc tham nhũng này làm cho giá thành tăng. Để có thể bù đắp cho việc tham nhũng này làm giá thành tăng, thì phải giảm lương ngần nào có thể đối với nhân công. Chính nhân công phải chịu trận cho hệ thống tham nhũng của quyền lực chính trị độc tài độc đảng. 

Vật giá lên cao

 Bình thường khi vật giá lên cao, thì đó có nghĩa là trong hệ thống Cung—Cầu tổng quát (Offre—Demande globale) phía Cầu cao hơn phía Cung. Nếu vật giá lên cao vì lý do này, thì tình trạng Kinh tế đang trên đà phát triển. Khi Cầu lớn hơn Cung một cách lành mạnh, thì việc tăng phía Cầu phải được cung cấp từ sự thu nhập của chính sản xuất của nền Kinh tế ấy.
 Tại Việt Nam, vật giá lên cao do tăng phía Cầu không đến từ sự thu nhập của chính sản xuất Kinh tế. Chúng ta nhìn sự tăng vật giá đến từ những lý do khác:
=> Nguồn tài trợ đến từ khối người Việt tỵ nạn nước ngoài. Mỗi năm có từ 4-5 tỉ đo-la đến từ khối người này. Số tiền này không phải là từ sự thu nhập của sản xuất Kinh tế Việt Nam. Thêm vào số tiền hàng năm, người Việt hải ngoại du lịch về Việt Nam, mang đo-la về chi tiêu, sẵn sàng chấp nhận giá cao tương đối với người ở quốc nội. Người từ nước ngoài sẵn sàng chấp nhận giá cao mà người trong nước không theo kịp.
=> Đồng thời một phần những thu nhập từ sản xuất Kinh tế lại rơi vào tay tài phiệt nước ngoài đầu tư và vào tay tham nhũng của cả một hệ thống đông đảo cán bộ đảng giữ quyền lực. Những lớp người này sẵn sàng chi tiêu cho vật giá cao mà giới nhân công bị bóc lột không đủ thu nhập để theo kịp vật giá cao ấy. Tình trạng vật giá lên cao, nhất là nơi thành thị, những khu ăn chơi, sánh với số lương bóc lột, khiến cho đời sống nhân công càng thiếu thốn cùng cực hơn trong cuộc sống.
 Nghèo vì đồng lương bóc lột do quyền lực thống trị của Nhà Nước cấu kết với tài phiệt nước ngoài; càng nghèo hơn nữa khi vật giá lên cao mà lý do là từ phía Cầu tăng lên mà những người Việt hải ngoại cũng như những kẻ nắm quyền chính trị tham nhũng sẵn sàng chấp nhận vật gía cao.

 Tóm lại, Luật sư Đỗ Thái Nhiên tả thực trạng những lý do đình công. Chúng tôi phân tích những lý do trong một hệ thống Kinh tế vẫn bị chỉ huy từ một quyền lực chính trị độc tài độc đảng. Việc Nhà Nước quyết định tăng 40% số lương tối thiểu chỉ là vá víu, làm dịu đôi chút đình công. Phải giải quyết từ cái nguồn, mà theo phân tích ở trên, thì cái nguồn cội rễ của đình công là chính việc đảng CSVN cố thủ nắm cho riêng mình quyền thống trị độc tài. 
                                                                                                                                 Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


(4) ẢNH HƯỞNG KINH TẾ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ ĐẾN LÝ DO ĐÌNH CÔNG

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế

 Bài này là bài thứ 4 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 4: Ảnh hưởng Kinh tế Thương mại quốc tế đến lý do Đình Công .
 Nếu những lý do đến từ Quốc nội, thì những giải pháp từ trong nước có thể giải quyết nhất thời cho vấn đề đình công. Nhưng nếu những lý do đình có thuộc vào phạm vi Quốc tế, thì những giải pháp mà Nhà Nước muốn đưa ra phải nằm trong những thay đổi dài hạn thuộc việc chấp nhận một nền Kinh tế đi đôi với một Môi trường Chính trị—Luật pháp cho phù hợp. 
Bài này đề cập những điểm sau đây:
=> Khuynh hướng những Thị trường Quốc tế cạnh tranh
=> Việc khó khăn vá víu ngắn hạn đối với Thị trường Quốc tế

Khuynh hướng
những Thị trường Quốc tế cạnh tranh

 Chúng tôi đề cấp đến một số Thị trường Quốc tế mà khuynh hướng thay đổi có liên hệ đến vấn để giải quyết đời sống Công nhân Việt Nam.

Thị trường Tài chánh
 Tài chánh là máu chảy làm cho những dự án sản xuất có sức sống. Có dự án đẹp mà thiếu tài chánh, thì cũng không làm gì được. Những nguồn tài chánh chính yếu Quốc tế đến từ Hoa kỳ, Liên Aâu, Khối Ả rập dầu lửa và Khối những nước Á châu đã phát triển. Những quyết định đầu tư tùy thuộc hai yếu tố chính, đó là sự an toàn của vốn bỏ ra và mức độ lợi nhuận thu vào cao từ đầu tư. Hai yếu tố này rất dễ xung khắc nhau. Thực vậy, muốn bắt được cọp con, thì phải chấp nhận rủi ro vào hang cọp.
 Trước đây, trong thời chiến tranh lạnh, các nước chưa mở mang có những bất ổn chính trị làm tăng rủi ro tài chánh. Đó là thời kỳ mà Nam Mỹ, Phi châu, Á châu có nhan nhản những Mặt Trận Giải Phóng nhằm phá sự yên lành phát triển Kinh tế. Nhưng sau sự sụp đổ của Khối Cộng sản và từ đó những Mặt Trận Giải Phóng xẹp xuống, thì khuynh hướng chuyển đầu tư vào những nước thuộc vùng Nam Mỹ, Phi châu, Á châu tăng dần. Hoa kỳ vẫn giữ chặt khu vực đầu tư vào Nam Mỹ châu. Hiện nay, Hoa kỳ tăng đầu tư vào Phi châu đến 15%. Một nhà tài chánh nói với tôi, người Việt Nam, rằng chúng tôi dễ dàng đầu tư vào Phi châu hơn vào Việt Nam bởi lẽ khi có sa xẩy gì, thì chúng tôi có thể kiện Nhà Nước Phi châu, trong khi đó với Việt Nam, dưới chế độ độc tài toàn trị, chúng tôi rất khó lòng đưa ra kiện cáo. Trong một tháng làm việc về tài chánh tại Nassau, Bahamas, chúng tôi được biết rằng một số vốn đầu tư của Khối Ả rập dầu lửa đang tìm cách chuyển xuống phía Nam Mỹ. Khối Liên Aâu, sau khi những nước Đông Aâu gia nhập, vốn đầu tư chuyển về khối Đông Aâu hơn là xuống Phi châu hay sang vùng Á đông. Về phía Á châu, có hai khuynh hướng đầu tư: đối với ngành nghiệp dài hạn và sản phẩm kỹ nghệ cao, việc đầu tư chuyển sang phía Hoa kỳ và Liên Aâu; trong khi ấy một số vốn khác chuyển vào sản xuất những hàng thông dụng ngắn hạn tại chính trong vùng Á châu một là để tiêu thụ chính trong nước, hai là để xuất cảng sang những nước tiền tiến.

Thị trường hàng hóa ngắn hạn và thông dụng  
 Chúng tôi nói đến những đồ dùng hàng ngày, nhiều khi chỉ dùng một vài lần rồi bỏ. Thị trường lớn nhất trong loại hàng hóa này là hàng che thân con người gồm Mũ, Khăn, May Mặc, Dầy Dép. Những nước đã phát triển Kỹ nghệ thì chú trọng vào những hàng cấp cao và dài hạn, đồng thời vì lương nhân công cao, nên việc sản xuất hàng thông dụng và che thân bán với giá rẻ không thể có được lợi nhuận cao, nên họ không làm. Những nước kém mở mang có dư dật nhân công với giá lương thấp, nên nếu sản xuất ở những nước này và xuất cảng sang những nước đã kỹ nghệ hóa với đời sống cao, thì lợi nhuận sẽ lớn hơn gấp bội.
 Đặc biệt là Thị trường May Mặc, Dầy Dép tại những nước đã kỹ nghệ hóa này đã có ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình đình công ở Việt Nam. Khi hạng ngạch “quotas“ về những hàng May Mặc này chưa được tháo khoán cho Trung quốc, thì Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu muốn nâng đỡ những nước kém mở mang như: Maroc, Tunisie, Madagascar, Bangladesh, Vietnam, Philippines...Những nước này có tỉ số nhân công rất lớn sống về ngành sản xuất May Mặc, Dầy Dép .Nhưng từ năm vừa rồi, hạng ngạch được tháo khoán cho Trung quốc, thì Thị trường May Mặc, Dầy Dép tại Mỹ và Liên Aâu bị khủng hoảng trầm trọng. Mỹ và Liên Aâu gọi đây là Tsumani hàng May Mặc, Dầy Dép từ Trung Cộng. Nạn tràn lan này không những gây nguy hại cho những nước nhỏ vừa kể ra trên đây, mà còn làm thiệt hại cho chính Hoa kỳ và một số nước thuộc Liên Aâu như Bồ Đào Nha, Ý đại lợi, Hy Lạp. Hoa kỳ và Liên Aâu đã lấy phản ứng cấp thời chống Tsumani. Liên Aâu cũng đã quyết định tăng thuế nhập cảng hàng Dầy Dép đến từ Trung quốc và Việt Nam tới 18% để bảo vệ quyền lợi cho những nước sản xuất những hàng này thuộc Liên Aâu. Đây là việc cạnh tranh ảnh hưởng tất nhiên đến đình công tại Việt Nam.

Thị trường Nhân lực Lao động
 Thị trường này cũng gặp cạnh tranh trong chiều hướng làm hạ đồng lương Lao động. Tại Liên Aâu này, sau khi những nước Đông Aâu gia nhập, sớ nhân lực cung cấp cho Thị trường tăng lên hẳn và số nhân lực này sẵng sàng nhận đồng lương thấp. Đó là khối nhân lực đến từ những nước nghèo mới thoát khỏi chế độ Cộng sản độc tài toàn trị. Tại Á đông, những quốc gia chưa mở mang cũng cung cấp khối nhân lực sẵn sàng nhận đồng lương hạ. Cạnh tranh nguy hiểm nhất cho Việt Nam đó là khối nhân công nghèo đói khổng lồ của Trung quốc.
 Nếu có sự tự do cạnh tranh tại những quốc gia như Bangladesh, Philippines, Thái lan..., thì tại Việt Nam và Trung Cộng, dưới chế độ Cộng sản độc tài toàn trị, khối nhân công này phải chấp nhận đồng lương quá hạ do tình hình cạnh tranh Kinh tế quốc tế, mà còn do quyền lực độc tài ép buộc cứng nhắc. Chính vì hai sức ép này mà tôi nói đến sự cấu kết giữa quyền lực chính trị độc tài và quyền lực đồng tiền ngoại lai lên khối Lao động Việt Nam và Trung Cộng đến chỗ vô nhân đạo. Thực vậy, Oâng Jean-Francois MONTEMONT, trong tờ LE COURRIER PICARD ngày 26.04.05, viết :"La Chine utilise limmense réservoir humain chassé des campagnes vers les colossales usines cotìeres òu lon travaille, dort et mangẹ....Veritables troupes de travailleurs dirigées par les commissaires politiques en costumes-cravates..." (Trung Quốc xử dụng kho dự trữ khổng lồ nhân lực lùa ra từ nhà quê kéo về những nhà máy khổng lồ dọc bờ biển ở đó người ta làm việc, ngủ và ăn...Đó chính là những đàn bầy thợ thuyền được chỉ huy bởi những cán bộ chính trị mặc áo vét với cà vạt...)
 (Vì việc cạnh tranh của Trung Cộng rất quan trọng, xin độc giả đọc thêm bài NGÀNH MAY DỆT VIỆT NAM:NẠN NHÂN CỦA TRUNG CỘNG, đăng lại trong số này ở Tiết Mục KINH TẾ—TÀI CHÁNH dưới đây)

Việc khó khăn vá víu ngắn hạn
đối với Thị trường Quốc tế
 
 Việc quyết định tăng lương tối thiểu cho Công nhân quyết định bởi Nhà Nước Việt Nam cho dù có được thực hiện đi chăng nữa cũng chỉ là giải quyết nhất thời vá víu thuộc phạm vi những lý do đình công từ Quốc nội. Đó là giải quyết thoa dịu chính trị hơn là giải quyết có cơ bản Kinh tế. Thực vậy, nếu lương nhân công tăng, cộng thêm với tham nhũng, giá thành của hàng Việt Nam càng lên cao hơn. Giá thành lên cao, thì giá bán cũng phải tăng lên, như vậy hàng Việt Nam sẽ yếu về phương diện cạnh tranh trên Thị trường Quốc tế. Còn nếu tài phiệt nước ngoài vẫn giữ giá bán như cũ để cạnh tranh trên Thị trường Quốc tế, thì lợi nhuận của họ thu vào sẽ kém đi. Khi không thu đủ lợi nhuận như ý muốn, tài phiệt nước ngoài có thể đóng cửa Công ty và rút ra khỏi Việt Nam. Đình Công càng tăng thêm. Phải tìm giải quyết cho khía cạnh Kinh tế, Thương mại này mới là căn bản, chứ không phải đưa quyết định vá víu ngắn hạn có tính cách mỵ dân nhất thời để cứu vãn chế độ chính trị.
 Việt Nam đang tìm mọi cách để vào Tổ Chức Thương Mại Quốc tế (WTO/OMC). Những hàng xử dụng thông thường và những hàng che thân thể Mũ, Quần Aùo, Dầy Dép, Màn Mùng mà tài phiệt nước ngoài muốn sản xuất ở Việt Nam là cốt ý xuất cảng bán với giá cao ở Thị trường Quốc tế. Vậy thay vì tăng lương x%, có lẽ tốt hơn là tiêu diệt tham nhũng để làm hạ chi tiêu giữ giá thành cạnh tranh (do đó giá bán) trên Thị trường tế thì mới có cơ bản Kinh tế (Kế toán Kỹ nghệ) thực sự.
 Trước sức cạnh tranh của các Thị trướng Quốc tế về Tài chánh, về hàng hoá thông dụng và may dệt, về lương nhân công, không thể vá víu bằng một giải quyết có tính cách chính trị mỵ dân, mà phải tìm những giải quyết hoàn toàn Kinh tế chuyên môn. Đình công có thể được thoa dịu ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, với cạnh tranh Kinh tế Thương Mại Quốc tế, Đình Công sẽ bùng nổ để làm Cách Mạng lật đổ chế độ.

                                               Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


(5) CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH KHÔNG THỂ
GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG
VỚI NHỮNG BIỆN PHÁP VÁ VÍU

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế

 Bài này là bài thứ 5 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 5: Chế độ hiện hành không thể giải quyết đình công với những biện pháp vá víu.
 Đình công có những lý do thuộc Quốc nội và những lý do thuộc Quốc tế. Giải quyết vấn đề đình công, nếu muốn có những giải quyết căn bản, thì phải nhằm tháo gỡ thỏa đáng những lý do ấy từ Quốc nội đến Quốc tế. Nếu không, đó chỉ là những giải quyết vá víu nhất thời.
Bài này đề cập những điểm sau đây:
=> Tóm tắt những lý do đình công thuộc Quốc nội và Quốc tế
=> Tăng 40% lương tối thiểu chỉ là giải quyết vá víu chính trị
=> Cuộc đấu tranh của Công nhân vẫn tiếp tục
=> Đòi hỏi thương thảo tự do và độc lập giữa Chủ và Thợ

Tóm tắt những lý do đình công
thuộc Quốc nội và Quốc tế

 Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 247/13.04.06, chúng tôi đã phân tích những lý do đình công thuộc Quốc nội. Chúng tôi đã lấy lại việc mô tả của Luật sư ĐỖ THÁI NHIÊN về tình trạng Công nhân Việt Nam bị bóc lột như thế nào. Đứng về mặt phân tích Kinh tế, những lý do đưa đến tình trạng nghèo đói của Dân chúng và Công nhân như sau:
=>  Dù với những khẩu hiệu đổi mới, theo khuôn khổ Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng thực chất nền Kinh tế Việt Nam vẫn là Kinh tế chỉ huy của quyền hành độc đảng. Thế giới Cộng sản đã thất bại về chủ trương Kinh tế chỉ huy này bởi lẽ nó đưa đến nghèo đói và do đó kéo theo sụp đổ chính trị như một định mệnh không thể tránh (une Fatalité inévitable).
=> Cộng sản độc tài dùng toàn quyền điều hành Thị trường Nhân lực (Labour Market), cộng thêm với quyền tham nhũng, để bán rẻ Nhân công Việt Nam cho tài phiệt nước ngoài. Đây là chủ trương chung của đảng CSVN và của tham nhũng: tất cả những gì bán được là họ bán, ngay cả đàn bà, con gái vị thành niên.
=> Công nhân bị bán rẻ, buộc phải chấp nhận lâu năm tình trạng nghèo khổ do kết quả của nền Kinh tế chỉ huy, nay còn bị nghèo khổ hơn về khả năng tiêu thụ (Pouvoir d’Achat) vì vật giá lên cao do du lịch, do phía tham nhũng bất chính và do đồng bào tỵ nạn nước ngoài về chấp nhận giá cao.
 Ba lý do trên ở Quốc nội thuộc về phương diện Kinh tế.
 Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 248/20.04.06, chúng tôi trình bầy những lý do thuộc cạnh tranh Kinh tế, Thương mại Quốc tế. Những lý do được tóm tắt như sau:
=> Thị trường tài chánh: Thị trường Việt Nam không đủ thu hút đầu tư quốc tế sánh với những vùng khác: Đông Aâu, Nam Mỹ, Phi châu và Trung Quốc.
=> Thị trường hàng hóa: Việt Nam sống nhiều về hàng May Dệt, Dầy Dép. Thị trường này bị tràn lan bởi hàng Trung Quốc. Ngoài ra, đối với những hàng hóa thông dụng khác, Trung quốc, Đông Aâu có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn Việt Nam nhiều.
=> Thị trường Nhân lực Lao động: Nước cạnh tranh nguy hiểm nhất là Trung Cộng vì họ có khối người khổng lồ và cũng áp dụng chính sách bán rẻ nhân công như Việt Nam.

Tăng 40% lương tối thiểu
chỉ là giải quyết vá víu chính trị

 Để giải quyết vấn đề đình công, Nhà Nước Việt Nam quyết định tăng lương tối thiểu 40% thêm. Đây chỉ là một giải quyết mang tính cách chính trị nhất thời vá víu để làm giảm cuộc đấu tranh của Công nhân trước tình trạng đảng bị đe dọa vì tham nhũng và trước Đại Hội đảng kỳ X. Nhưng việc tăng 40% có thực hay không bởi lẽ Chủ tìm cách giảm đi những phụ cấp hoặc tăng thêm giờ làm việc. Việc tăng 40% là do Chủ phải trả, chứ không phải là Nhà Nước bỏ tiền ra để cho thêm, nên Chủ phải tính toán thế nào để giá thành của hàng hóa xuất cảng khỏi tăng vọt làm mất Thị trường. Quyết định 40% là quyết định đơn phương của quyền lực chính trị. Đó không phải là giải quyết Kinh tế trong một nền Kinh tế nếu muốn nói đó là Kinh tế Tự do và Thị trường. Lương bổng là cái GIÁ của Thị trường Nhân lực, phải để Thị trường tự do và độc lập giải quyết theo những điều kiện Kinh tế, Thương mại.
 Nói về Thị trường Nhân lực (Labour Market), những nhà Kinh tế thường nói đến mức lương tối thiểu. Nói mức lương tối thiểu (salaire plancher/minimum), khi mà Thị trường này đang trên đà giảm lương (tendance de baisse du salaire). Trên đà giảm lương này, Công nhân dễ buộc lòng phải chấp nhận “Hiệu quả gian tà“(Effet pervers) mà nhà Kinh tế trứ danh SAMUELSON đã mô tả. Chủ xử dụng “Hiệu quả gian tà“ này để bóc lột Công nhân nữa.
 Nhưng chúng tôi muốn nhìn xem Thị trường Nhân lực Việt Nam có thật sự đang ở trên đà giảm lương hay không. Thực ra đồng lương 35 đo-la mỗi tháng mà Nhân công buộc phải chấp nhận trong nhiều năm trường đã là đồng lương quá chết đói rồi. Theo chúng tôi, thì Thị trường Nhân lực Việt Nam không ở trong tình trạng trên đà hạ lương xuống, mà nó chỉ có thể ở trên đà tăng lên. Khi quyền lực chính trị xen lấn vào để đặt một mức lương tối thiểu, đó không phải là lương tối thiểu, mà là mức lương tối đa trần nhà (salaire plafond/maximum) do Nhà Nước chỉ định để ngăn chặn đà tăng lương tự nhiên của Thị trường. Quyền lực chính trị định mức lương trần nhà tối đa như vậy tức là đứng về phe bao che cho Chủ, chứ không phải là cho Thợ nữa. Nó đi ngược lại chính Khuynh hướng Xã hội (Tendance socialiste), nếu muốn động chạm đến chính trị.
 Chúng tôi gọi việc tăng 40% chỉ là giải quyết chính trị vá víu. Tính cách vá víu của nó là ở chỗ giải quyết này không quan tâm đến tất cả những lý do đình công tại Quốc nội và thuộc Quốc tế như chúng tôi vừa tóm tắt ở đoạn trên đây. Chúng tôi sẽ có dịp bàn sâu vào những giải quyết có tính các toàn diện.

Cuộc đấu tranh của Công nhân
vẫn tiếp tục

 Một số người nghĩ rằng cuộc đấu tranh của Cộng nhân, nghĩa là Đình công, lắng dịu xuống. Chúng tôi không những không nghĩ như vậy, mà còn xác tín rằng việc tranh đấu của Công nhân vẫn tiếp tục và sẽ có ngày bùng nổ lớn bởi lẽ những lý do Kinh tế của Đình công thuộc Quốc nội và Quốc tế vẫn nằm đó. Khi giải quyết chỉ là chính trị và vá víu như trên, thì những lý do Kinh tế Quốc nội, Quốc tế chưa được giải quyết sẽ càng lớn lên và do đó cuộc đấu tranh của Nhân công sẽ bùng nổ toàn diện mà quyền lực chính trị không thể cản ngăn dù bằng những biện pháp khủng bố khát máu.
 Khi quyền Dạ Dầy bị đụng chạm, thì việc khủng bố khát máu không làm sợ hãi nữa bởi lẽ người nghèo đói sắp chết thì không biết sợ chết nữa. Lúc ấy, chính quyền lực chính trị khủng bố khát máu sẽ là nguyên cớ cho Dân nghèo tranh đấu bất bạo động trở thành tranh đấu bạo động. Đó là thực trạng bạo động của tất cả các cuộc Cách Mạng quần chúng: Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Nga 1917...

Đòi hỏi thương thảo tự do và độc lập
giữa Chủ và Thợ

 Chúng tôi nhắc lại đây điều kiện chủ chốt mà các nền Kinh tế Tự do và Thị trường là quyền lực Chính trị phải đứng ngoài những thương thảo giữa những Phe Kinh tế. Việc thương thảo này nhằm phân chia quân bình thỏa đáng về quyền lợi của cả những Phe Kinh tế tham dự. Quyền lực chính trị chỉ quan sát và đề phòng sự cấu kết của các Phe Kinh tế phương hại đến trật tự Xã Hội. Nếu Nhà Nước cần phải nhập cuộc thương thảo quyền lợi, thì cũng chỉ nhập cuộc như một Phe Kinh tế đồng đều như những Phe đang thương thảo. Không được xử dụng quyền lực chính trị để áp đặt những gì có lợi cho mình hay nghiêng về Phe Kinh tế này hay Phe kia.
 Chính vì vậy, những giải quyết Đình công cho những lý do thuộc Quốc nội và Quốc tế phải để cho Phe Chủ và Phe Thợ thương thảo tự do và độc lập. Để tôn trọng việc thương thảo này, thì trước hết đảng CSVN không được xử dụng Công đoàn Lao công Nhà Nước để áp đặt phía Thợ và ủng hộ phía Chủ. Phải để cho Nhân Công thành lập Liên đoàn Lao động ĐỘC LẬP để có thể thương thảo TỰ DO và ĐỘC LẬP với phía Chủ. Việc thương thảo tự do và độc lập nhằm giải quyết tòan diện những lý do đình công thuộc Quốc nội và Quốc tế.
                                                                                                                                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


(6) NHỮNG GIẢI QUYẾT TỔNG THỂ VÀ CĂN BẢN                                               TRONG MỘT NỀN KINH TẾ
TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÍCH THỰC

                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế

 Bài này là bài thứ 6 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 6:  Những giải quyết tổng thể và căn bản trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực.
 Những lý do Đình Công thuộc Quốc nội và thuộc phạm vi cạnh tranh Kinh tế, Thương mại Quốc tế gồm nhiều những phức tạp liên hệ với nhau. Trong bài trước, chúng tôi nhận định rằng giải quyết của CSVN tăng lương tối thiểu lên 40% chỉ là giải quyết mang nặng yếu tố chính trị và chỉ là vá víu. Chúng ta phải nghĩ đến những giải quyết tổng thể và căn bản dựa trên những phân tích kỹ lưỡng những lý do đình công thuộc quốc nội và quốc tế. Những giải quyết tổng thể và căn bản như vậy không phải là dễ dàng đưa ra bởi lẽ những lý do kia rất phức tạp. Chúng tôi thành thực thú nhận rằng khả năng đơn độc của chúng tôi không có tham vọng đưa ra những giải quyết tổng thể và căn bản để mọi người công nhận là đúng. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng dù với hiểu biết hữu hạn và nhỏ bé của mình, thì mình cứ viết ra để những bậc đàn anh, những vị hiểu biết sâu rộng hơn sửa chữa và thêm ý kiến cốt ý làm lợi cho Quê Hương mến yêu của mọi người Việt Nam. Nghĩ như vậy, chúng tôi can đảm viết dù biết rằng kiến thức của mình hữu hạn và nhỏ bé.

Bài này đề cập những điểm sau đây:
=> Ưu tiên khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp
=> Công nghệ hoá từng chặng vững chắc theo mức vốn tự tạo và khả năng chuyên nghiệp hấp thụ
=> Vai trò Khối người Việt Hải ngoại tham dự Kinh tế Quốc nội
=> Diệt tham nhũng để khỏi bóc lột quốc nội và tăng giá thành cạnh tranh quốc tế
=> Những điểm khả dĩ thỏa mãn tổng thể và căn bản cho Đình Công


Ưu tiên khuếch trương
Nông nghiệp và Ngư nghiệp

 Sau năm bức tường Bá Linh sụp đổ, tôi sang Varsovie và Moscou. Tôi gặp một Giáo sư Toán học tại Varsovie, Gs. CHỬ VĂN ĐÔNG. Giáo sư cùng đi với tôi sang Moscou thăm Dom 5 Cũ và Dom 5 Mới. Trong khi đàm đạo, Giáo sư nói rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói trước Quốc Hội gật rằng:“Những gì các nước làm không được, thì nước ta làm được. Năm tới, tôi hứa với dân Hà nội rằng mỗi buổi sáng, ai ai cũng được uống một CỐC SỮA TRÂU !“.
 Nhà nước CSVN chỉ huy Kinh tế không phải là vì cơm ăn áo mặc cho dân chúng, mà là cho vẻ vang chính trị của đảng CSVN. Họ muốn đốt mọi giai đoạn nền tảng cho đời sống Kinh tế.
 Tôi dám quả quyết với tất cả mọi ngưởi Việt Nam một chân lý rằng Dân chúng Việt Nam không thể bị chết đói với đồng lúa phì nhiêu của mình, với cá mắm dồi dào từ ngánh rạch đến trên 2000 cây số đi ra Biển Đông bắt cá tôm. Nước ta có GẠO, CÓ CÁ, CÓ MUỐI, thì Dân ta không thể chết đói được.
 Tại Thụy sĩ, tôi vô cùng đau buồn khi nghe tin Mẹ của tôi phải ăn bo-bo trên bờ ruộng lúa của đồng bằng sông Cửu Long. Những năm gần đây, người ta ca ngợi rằng Việt Nam đã có thanh bình, đà phát triển Kinh tế mỗi năm tăng 8%, nhưng đảng CSVN lại hô hào chương trình cứu đói giảm nghèo.  Thật là nghịch lý vậy. Nhưng nghịch lý đã xẩy ra thực sự trên Đất Nước Việt Nam chỉ vì một chế độ chỉ lo chiêu bài công nghệ hoá phục vụ chế độ độc tài toàn trị. Người ta chỉ lo làm vẻ vang chế độ để bịp bợm Dân và Quốc tế cốt giữ lấy quyền hành cai trị.
 Đi vào vấn đề chuyên môn Kinh tế. Sản xuất là việc làm tăng giầu có cho Công ty hay Quốc gia. Việc sản xuất của Công ty hay Quốc gia tùy thuộc ba yếu tố:

Q = f ( K, L, t)

Q : Lượng sản xuất (Quantity); f: tùy thuộc (depends); K: Vốn (Capital); L: Nhân lực (Labour); t: Kỹ thuật (technology), Chính trị, Pháp lý hội nhập vào hai yếu tố chính là Vốn và Nhân lực.

 Cái hướng đi của một nền Kinh tế Quốc gia tùy thuộc vào ba điều kiện vây quanh: (i) Điều kiện Địa lý thiên nhiên; (ii) Điều kiện Nhân lực; và (iii) Điều kiện Chính trị—Pháp lý, Văn hoá, Giáo dục, Tập quán...
 Như trên tôi vừa nói, dân chúng Việt Nam không thể nào chết đói vì (i) Điều kiện Địa lý thiên nhiên cung cấp Lúa Gạo, Hoa Trái với đồng bằng phì nhiêu và cung cấp Cá, Tôm... với sông rạch chằng chịt và Biển Đông chạy dài bao quanh. Về (ii) Điều kiện Nhân lực, Dân Việt Nam đã từ 4000 năm nay có khả năng khai thác hai nguồn lợi thiên nhiên này để sống còn no ấm. Dù bị Bắc phương ức hiếp, Dân Việt Nam đã chạy dài theo những cánh đồng bằng và ven theo bờ biển bởi vì thấy đó là bảo đảm cho Dạ Dầy của mình để sống còn, không bị chết đói.

 Dân tộc Việt Nam, Lãnh thổ Việt Nam đã có hai Yếu tố dồi dào để sản xuất giầu có theo công thức của Kinh tế : Q = f(K,L,t).
 Việc sản xuất mang lại giầu có là tùy thuộc vào K (Vốn) và (L (Nhân lực). Nguồn vốn K của Việt Nam là Đồng Nội phì nhiêu và Sông Ngòi, Biển Cả đầy thủy sản. Hai nguồn vốn này có tính cách tái hồi vô tận không thể cạn được (ressources de Capital renouvelable, non epuisable). Nhân lực Việt Nam đã chuyên môn về Nông nghiệp và Ngư nghiệp từ bao ngàn năm.
 Vì vậy chúng tôi chủ trương rằng phải dành cho Việt Nam ưu tiên về khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Dân chúng Việt Nam không cần phải ăn bo-bo, có cá lóc nướng cuốn bánh tráng để dân thoải mái, không phải nghe tiếng CSVN kêu than chống đói giảm nghèo quá tủi hổ.
 Khi đã no ấm do Nông nghiệp và Ngư nghiệp, Dân mới lạc quan, có sức khỏe nghĩ đến khuếch trương Công nghệ bán kiếm thêm, du lịch đây đó với đời. 
 Về phương diện kiếm tài chánh cho Công nghệ hóa, trước tiên hãy tìm kiếm từ chính mình (ressources financieres internes), rồi tần tiện tích lũy đến tự lập tài chánh (autofinancement). Đó là nguyên tắc tối sơ của tài chánh. Đồng bằng Việt Nam và Sông ngòi Biển Cả Việt Nam là nguồn vốn tái hồi vô tận (ressources des capitaux renouvelables sans fin). Những hạt cây rơi xuống, không cần phải săn sóc, cũng mọc lên xanh um. Mỗi năm hai ba mùa lúa. Cá mang bầu tụ họp vào Vịnh Bắc Việt để đẻ con mỗi năm. Cá con lớn lên trôi xuống Phan Thiết, Cà Mâu để ngư phủ bắt. Tất cả là vốn tái hồi (Capital renouvelable) và là một trong những nguồn quan trọng để công nghệ hóa dần dần Đất Nước vậy (Autofinancement pour le Pays). Nếu biết tạo số vốn này, thì 31 năm rồi, Việt Nam đã có nguồn vốn tự lập khá vững chắc.
 

Công nghệ hoá từng chặng vững chắc
theo mức vốn tự tạo và
khả năng chuyên nghiệp hấp thụ

 Điều kiện để công nghệ hóa vững chắc là phương tiện chuyên chở dễ dãi, có thị trường tiêu thụ, có vốn chủ động và nhân lực.
 Về phương tiện chuyên chở dễ dãi, Việt Nam có rất nhiều ưu điểm hơn biết bao những quốc gia khác. Nếu Trung Cộng hiện nay chỉ có khả năng khuếch trương công nghệ ở những thành phố ven biển (Villes cotieres), thì những thành phố của Việt Nam hầu như được coi là ven biển. Chỉ cần con đường giao thông dọc Bắc—Nam là đủ nối liền giao thông các thành phố nội địa và các thành phố này ra biển giao thông với quốc tế dễ dàng.
 Nói về Thị trường tiêu thụ, thì Việt Nam là nước đã có liên hệ lịch sử với hai cường quốc tư bản tiêu thụ : Pháp (qua đó là Liên Aâu) và Hoa kỳ. Người Việt Nam tỵ nạn trong hai khối tiêu thụ này là đầu cầu vô cùng quý giá cho việc phân phối hàng hóa cho hai khối. Chính là vấn đề Chính trị của chế độ hiện hành làm ngáng trở thị trường tiêu thụ hải ngoại. Việc vào Tổ chức Thương mại Hoàn cầu (WHO/OMC) mà không thay đổi thể chế có thể không có lợi bằng việc thay đổi thể chế mà chưa vào được WHO/OMC.
 Đối với nguồn vốn cho khuếch trương công nghệ, chúng ta phải luôn luôn giữ vững chủ trương nguồn vốn tự tạo (autofinancement) nếu chúng ta không muốn kéo dài kiếp làm thuê tùy thuộc ngoại lai khai thác về công nghệ. Như trên vừa trình bầy, Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam có khả năng của nguồn vốn tái hồi mỗi năm (Capital renouvelable annuel) cho một phần công nghệ khuếch trương từng chặng. Ngay cả đối với nguồn vốn nước ngoài khi cần, thì chúng ta cũng luôn phải ý thức rằng lúc cần như vậy thì đành chịu một tình trạng bị khai thác nào đó. Chúng ta có thể chấp nhận việc bị khai thác để vốn đầu tư nước ngoài có lợi nhuận rộng giữa giá bán ở những nước tiền tiến và giá thành quá hạ nơi chúng ta. Chúng ta phải luôn luôn nhấn mạnh một điều kiện bù trừ (condition compensatoire) cho tình trạng bị khai thác hiện tại bằng đòi hỏi việc tái đầu tư một phần lợi nhuận vào Việt Nam cho tương lai. Đây là sự hy sinh bị khai thác hiện tại cho tương lai khả năng vốn cho thế hệ con cháu. Những điều kiện về phương diện vốn như vừa trình bầy chỉ cho phép chúng ta khuếch trương công nghệ từng chặng. Không thể nhẩy vọt như mơ ước của CSVN để nhằm đánh bóng cho chính trị độc đảng của họ.
 Nói về khả năng Nhân lực, chúng ta cũng không nên quá phiêu lưu vào những công nghệ tân tiến nhất để chịu những rủi ro phá sản vì tài bất cập theo mơ ước. Xin đừng quá hồ hởi nói như Phạm Văn Đồng: “Những gì nước khác không làm được, thì VN làm được“. Hãy chú tâm vào những công nghệ sản xuất linh kiện và ráp nối để có kinh nghiệm học nghề thuần thục (Apprentissage).
 Về hai Yếu tố K và L trong công thức Q = f(K, L, t), thì chúng ta khuếch trương công nghệ từng chặng vững chắc vì điều kiện từ từ tạo Autofinancement mà mình làm chủ và có Apprentissage để mình có khả năng cạnh tranh thuần thục hơn người. Đó là việc khuếch trương công nghệ vững chắc chứ không phải mơ ước  nhẩy vọt như CSVN khoác lác để dễ sa xuống hố mất cả chì lẫn chài và liên mồm than cứu đói giảm nghèo.


Vai trò Khối người Việt Hải ngoại
tham dự Kinh tế Quốc nội

 Không thể phủ nhận rằng người Việt tỵ nạn Hải ngoại không còn nhớ đến Quê Hương, trừ một số đông người Việt gốc Hoa nhiều khi có thái độ đối với Đất Nước đã cưu mang họ và đã cho họ lý do để được quyền tỵ nạn nhân danh Việt Nam, đã phát biểu ở nước ngoài rằng họ không còn nhớ đến Việt Nam.
 Khối người Việt tỵ nạn và con cháu học hành, làm ăn ở trên 70 quốc gia sẵn sàng hợp tác với Quốc nội trong việc phát triển Kinh tế Đất Nước với điều kiện là thể chế chính trị có Dân chủ thực sự, tôn trọng Nhân phẩm, Nhân quyền và Dân quyền. Khối người Việt này có những khả năng đóng góp rất lớn như sau:
=> Khả năng chất sám (Matìere grise), Yếu tố “t“:
 Đó là Yếu tố “t“ trong công thức sản xuất Quốc gia:  Q = f(K, L, t), nghĩa là yếu tố Khoa học, Kỹ thuật (Technologie incorporée) làm tăng hiệu lực cho K (Vốn) và L (Nhân lực).  Anh em trẻ Việt Nam học hành và thu thập rất giỏi Kỹ thuật, Khoa học tại những quốc gia tiền tiến này mà Nước Việt Nam không phải tiêu tốn một đồng nào. Họ là nguồn chất sám rất quan trọng đóng góp cho phát triển Quê Hương Việt Nam.
=> Khả năng Vốn và vận động Vốn nước ngoài, Yếu tố K:
 Vì vấn đề liên hệ gia đình còn ở Việt Nam và vì sự nhớ thương Quê Hương, mà khối người Việt tỵ nạn này đã cung cấp hàng năm cho Quê Hương số lượng ngoại tệ trung bình là 4 tỉ đo-la Mỹ. Tính từ 30 năm nay, thì số ngoại tệ (Vốn) từ khối người Việt tỵ nạn cho Việt Nam là 120 tỉ đo-la Mỹ. Nếu số vốn này không bị thất thoát, và được hướng về sản xuất, thì đó là một nguốn vốn từ nước ngoài quan trọng cho việc công nghệ hoá những hàng thông dụng dùng trong nước, những hàng linh kiện nhằm xuất cảng và những hàng may dệt cho các thị trường lớn Mỹ và Liên Aâu.
 Ngoài khả năng tự mang vốn về Việt Nam, khối người Việt này còn có khả năng kêu gọi vốn nước ngoài vì họ sống liền kề với những Công ty ngoại quốc.  Công việc vận động vốn nước ngoài này của khối người Việt tỵ nạn đã bị làm khó dễ để ăn chận từ những người cầm quyền Việt Nam. Những Công ty Việt Nam ở nước ngoài dễ thảo luận việc liên doanh với những Công ty ngoại quốc hơn là những Công ty này vào Việt Nam để bị bắt buộc liên doanh hoặc qua môi giới của những Công ty quốc doanh tại Việt Nam. Đây là việc ngăn chặn rất quan trọng việc vận động vốn của khối người Việt tỵ nạn tại những Công ty nước ngoài.
=> Khả năng thương mại phân phối (Systeme de Distribution Commerciale):
 Khối người Việt sống tại 70 quốc gia trênThế giới là cái đầu cầu vô cùng quan trọng cho Hệ thống Phân phối Thương mại cho Việt Nam, nếu thể chế chính trị quốc nội có những điều kiện về Luật pháp, về Nhân quyền và Dân quyền mà khối nguời Việt Hải ngoại có thể chấp nhận hợp tác được.
 Khối người Việt tỵ nạn này đã có mọi điều kiện để làm đầu cầu cho Hệ thống Phân phối Thương mại ở nước ngoài. Họ đã có cơ sở, có khả năng ngoại ngữ giao dịch với khách hàng nước ngoài, có những liên hệ gần gũi với khách hàng của từng địa phương, và chính họ mang tinh thần muốn lựa chọn phân phối hàng của Việt Nam để đóng góp vào sự phát triển Quê Hương. Họ đã mang quốc tịch nước ngoài và được hưởng mọi điều kiện Luật pháp thương mại xuất nhập cảng và phân phối hàng hóa như một người bản xứ tại mỗi Quốc gia.
 Về mặt chuyên môn Kinh tế, Thương mại, nghĩa là bỏ ra một bên vấn đề Chính trị, thì nhà cầm quyền độc tài toàn trị Việt Nam đã chủ tâm đặt những trở ngại Kinh tế, Thương mại cho khối thương gia tỵ nạn làm việc đứng đắn. Cái trở ngại này đến từ tham nhũng thủ lợi từ giới cầm quyền.
 Dù Việt Nam, nếu nhập được vào WTO/OMC mà vẫn giữ hệ thống tham nhũng ở các cấp độ điều hành xuất cảng, thì hiệu quả cũng nhỏ nhoi mà thôi.
 Điều quan trọng của Tổ chức Thương mại Thế giới là hàng rào Quan thuế và giá cả Quan thuế. Dù những nước đã nhập WTO/OMC, họ vẫn có những quyền ưu tiên bảo vệ quyền lợi của riêng Quốc gia họ hoặc tìm cách xử dụng những biện pháp “không giá cả“ (Mesures non tarifaires) để tránh né những giá cả quan thuế công khai ký kết trong WTO/OMC (Tarifs douaniers contractuels dans WTO/OMC). Chính khối thương gia tỵ nạn nằm tại những Quốc gia này sẽ tìm cách cho Việt Nam hưởng những giá quan thuế đặc biệt (Tarifs douaniers spéciaux) của từng quốc gia và hưởng những biện pháp “không giá cả“ của mỗi quốc gia (Mesures non tarifaires).
=> Khả năng chống lại tài phiệt nước ngoài bóc lột lao động Việt Nam
 Người làm Kinh tế, Thương mại nhằm mục đích trước hết là tìm đủ mọi cách để gặt hái LỢI NHUẬN TỐI ĐA (Maximum du Bénéfice). Để có thể đạt lợi nhuận tối đa, họ phải tìm cách, một đàng bán hàng được giá cao, và sản xuất hàng với giá hạ ngần nào có thể. Những Công ty Mẹ ở tại những nước đã Kỹ nghệ hóa và đầu tư sản xuất ở Việt Nam hay những nước chưa mở mang. Họ bán hàng tại những nước này như Mỹ và Liên Aâu, Nhật, Nam Hàn... với giá cao vì mức sống cao. Họ tìm cách sản xuất hàng tại những nước chưa mở mang để có giá thành hạ ngần nào có thể.
 Trong việc quản trị Xí nghiệp sản xuất, vấn đề quan trọng là quản trị giá thành của hàng hóa. Nếu là những hàng cao cấp và cần Kỹ thuật cao, Công ty phải lựa chọn bỏ vốn dài hạn vào Kỹ thuật. Nhưng nếu là hàng thông dụng và linh kiện, thì họ chỉ bỏ ít vốn ngắn hạn vào cơ sở sản xuất Kỹ thuật, mà tận dụng Nhân lực hạ giá. Đó là việc lựa chọn quản trị giữa K và L trong công thức sản xuất Q = f(K, L, t).
 Tại Việt Nam, với tình trạng chính trị chưa thể tin cậy, những Công ty đầu tư sản xuất tận dụng Nhân lực hạ giá (L) để sản xuất linh kiện và hàng thông dụng. Họ cấu kết với Nhà Nước độc tài (có thể bằng tham nhũng) để Nhà Nước này bán rẻ Nhân công làm việc trong điều kiện “vô nhân đạo“ cho họ sản xuất hàng xuất khẩu bán tại những nước có giá bán cao.
 Trong Kinh tế, vấn đề điều kiện làm việc vô nhân đạo và lương tối thiểu bóc lột đã được đặt ra khi có sự cấu kết giữa quyền lực chính trị của một nước với những Công ty nước ngoài chỉ nghĩ đến lợi nhuận tối đa.
 Nếu Nhà Nước lại xử dụng Nghiệp đoàn Lao động của Nhà Nước để đứng về phe Chủ, thì việc bóc lột càng vô nhân đạo hơn vì Công nhân không còn tiếng nói. Chính về điểm này mà cần có một Liên đoàn Công nhân Độc lập.
 Những Nghiệp đoàn Công nhân độc lập này có thể có Đại diện làm việc tại nước ngoài tận nơi Công ty Mẹ và tại quốc gia của Công ty Mẹ, thì việc chống bóc lột vô nhân đạo dễ thành công hơn. Khối người Việt tỵ nạn sãn sàng có những Đại diện cho Liên đoàn Công nhân Độc lập của Việt Nam.


Diệt tham nhũng để
khỏi bóc lột quốc nội và
tăng giá thành cạnh tranh quốc tế

 Tham nhũng là kẻ thù của phát triển Kinh tế, Thương mại trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự và biết tôn trọng đứng đắn Luật pháp Kinh tế, Thương mại.
 Tại những nước tiền tiến, mỗi khi một Xí nghiệp Nhà nước mất yếu tố cạnh tranh, thì người ta nghĩ ngay đến giải quyết Tư nhân hóa Xí nghiệp ấy (Privatisation de l’Entreprise). Điều đó có nghĩa là khả năng cạnh tranh của Công ty tư nhân cao hơn khả năng cạnh tranh của Công ty quốc doanh.
 Cái khả năng cạnh tranh của Công ty quốc doanh kém chỉ vì có sự xen lấn của quyền lực Nhà Nước vào Kinh tế, Thương mại.
 Tại Việt Nam, Kinh tế, Thương mại vẫn còn nằm trong hệ thống chỉ huy của quyền lực chính trị độc tài toàn trị, thì cái khả năng cạnh tranh Kinh tế, Thương mại phải ở mức độ thấp. Khả năng cạnh tranh phải dựa trên hai phương diện: Phẩm chất hàng hóa và Giá thành hàng hóa.
 “Cha chung không ai khóc“. Xí nghiệp thuộc Nhà Nước. Nhà Nước là chung, thì khi quản trị, cần gì phải khóc cho phẩm chất hàng hóa của Xí nghiệp, cần gì phải bù đầu nát óc như Tư nhân mà lo chu đáo phẩm chất hàng làm ra.
 Về phương diện Giá thành hàng hóa, yếu đó chính yếu của cạnh tranh, thì Công ty quốc doanh không thể căn cơ chi tiêu như Tư nhân bởi lẽ những người quản trị Công ty Nhà nước tiêu tiền chùa của Nhà Nước, trong khi ấy Tư nhân tiêu tiền của chính họ, nên họ phải chắt bóp căn cơ hơn. Đây là việc LÃNG PHÍ của các Công ty Nhà Nước khiến Giá thành tăng lên, mất một phần tính cách cạnh tranh.
 Đối với Công ty Tư nhân, nếu lãng phí giảm, thì lại bị cái nạn THAM NHŨNG của quyền Chính trị từ mọi cấp. Khi phải cho Tham nhũng, thì Tư nhân không lấy tiền túi riêng của mình ra mà cho. Tư nhân phải tìm mọi cách bù đắp Tham nhũng bằng giảm chi tiêu khác (augmentation de corruption = baisse d’autres dépenses) để giữ Gía thành cạnh tranh hoặc buộc lòng phải cho vào chi tiêu (augmentation de corruption = imputation au prix de revient) làm tăng Giá thành hàng hóa.
 Cái cách thứ nhất, nghĩa là giảm chi tiêu khác vì tham nhũng, được áp dụng ở Việt Nam. Xí nghiệp tư hay Công ty nước ngoài, khi phải cho THAM NHŨNG, đã tìm hết cách bắt Công nhân phải chịu cái chi tiêu tham nhũng này. Việc làm này rất dễ bởi lẽ kẻ nhận tham nhũng lại có toàn quyền lực bắt Công nhân phải chấp nhận lương chết đói, xử dụng chính Công đoàn Lao công Nhà Nước để giữ trật tự trong các Xí nghiệp, xử dụng khủng bố, đe dọa, đàn áp để khóa miệng Công nhân không được than vãn.
 Tóm lại, kẻ có toàn quyền lực mà ngồi cạnh đống tiền, thì dễ LÃNG PHÍ và ĂN CẮP. Kẻ có toàn quyền đòi và nhận THAM NHŨNG khiến hậu quả: (i) một là phải bóc lột Nhân công; đây là lý do chính của Đình Công thuộc Quốc nội; (ii) hai là phải tính vào Giá thành hàng hóa khiến mất tính cách cạnh tranh trong Thị trường thương mại Quốc tế; đây là lý do Đình Công thuộc phạm vi Quốc tế.


Những điểm khả dĩ
thỏa mãn tổng thể và căn bản
cho Đình Công

 Chúng tôi luôn luôn khẳng định rằng giải quyết của Nhà Nước tăng 40% lương tối thiểu chỉ là một giải quyết vá víu mang nặng tính cách chính trị nhất thời. Những điểm trình bầy ở những phần trên đây cho thấy rằng những lý do đình công thuộc Quốc nội và những lý do liên hệ đến việc cạnh tranh Kinh tế, Thương mại Quốc tế vẫn còn tồn tại. Như vậy Đình Công chưa chấm dứt được bằng giải quyết vá víu, rất phiến diện và mang nặng tính chất chính trị.
 Hãy nhìn hiệu quả của việc tăng lương tối thiểu 40% này. Khi Nhà Nước  lo sợ hậu quả chính trị của đình công, đã đơn phương tuyên bố tăng lương tối thiểu 40%. Những Công ty nước ngoài đã phản ứng liền, thậm chí còn đe dọa Nhà Nước Việt Nam là họ có thể rút vốn đầu tư khỏi Việt Nam. Đó chỉ là phản ứng tức thời cho việc tăng 40% đơn phương tuyên bố của Nhà Nước VN trước đe dọa hậu quả chính trị từ đình công.
 Nhưng tất nhiên tài phiệt nước ngoài sẽ tìm cách giải quyết việc tăng 40% này:
=> Họ sẽ giảm những chi tiêu khác mà công nhân phải chịu: tăng giờ làm việc, giảm phụ cấp, giảm phần ăn... Họ làm như vậy để giữ nguyên Giá thành cạnh tranh quốc tế.
=> Nếu thực sự họ cho việc tăng 40% này vào Giá thành hàng hóa, thì khả năng cạnh tranh Quốc tế của họ bị giảm đi. Dầu sao mức rộng của Lợi Nhuận của họ vẫn còn khả năng chịu đựng được việc kém đi một phần khả năng cạnh tranh này.

 Chúng tôi muốn nói đến những giải quyết tổng thể và căn bản cho vấn đề đình công hay đúng hơn cho Thị trường Nhân Công Việt Nam. Những giải quyết tổng thể và căn bản này phải căn cứ trên tất cả những vấn đề mà chúng tôi đã trình bầy ở các đoạn trên đây. Những vấn đề này liên hệ mật thiết với nhau:
@ Ưu tiên phát triển Nông nghiệp và Ngư nghiệp
 Một số đông những Công nhân đến từ giới Nông nghiệp. Họ trở thành Công nhân, nhưng đồng lương của họ phải dành để bảo trợ cuộc sống gia đình còn ở Nông thôn. Khi Nông nghgiệp và Ngư nghiệp phát triển và bảo đảm cho họ và gia đình họ không bị nghèo khổ, chết đói, thì họ có thế mạnh thương thảo trên Thị trường Nhân lực đối với Chủ cấu kết với Quyền lực chính trị bắt ép họ.
@ Khả năng tự tạo vốn độc lập của Việt Nam trong công nghệ hóa
 Chúng tôi đã trình bầy rằng Việt Nam có những nguồn vốn tái lập hàng năm (Ressources des Capitaux renouvelables), đó là Nông nghiệp và Ngư nghiệp: những mùa lúa, hoa trái và nguồn thủy sản sông ngòi và Biển Đông. Nông nghiệp và Ngư nghiệp phát triển sẽ cung cấp cho việc công nghệ hóa từng chặng vững chắc cho những hàng thông dụng trong nước và những linh kiện xuất cảng. Việc công nghệ hóa từng chặng này không cần vốn khổng lồ và dài hạn. Số vốn đầu tư trong những công nghệ này mau mắn thu hồi lại (Investissements récupérables à court terme). Đối với những Công ty nước ngoài đầu tư, Công nhân có thể chấp nhận mức lương tương đối hạ để thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng yêu cầu điều kiện các Công ty ấy tái đầu tư một phần Lợi Nhuận ở Việt Nam. Sở hữu chủ của việc tái đầu tư này vẫn là Công ty nước ngoài, nhưng hiệu quả là cho tương lai dài hạn cho chính Công nhân và con cháu công nhân. Như vậy Công nhân có thể hy sinh tương đối ở đoản hạn để giữ thế cạnh tranh quốc tế cho quyền lợi Kinh tế dài hạn của chính họ và con cháu họ. Đây là việc rất quan trọng. Đừng để những Công ty nước ngoài bóc lột Công nhân để có Lợi nhuận lớn và mang tất cả Lợi nhuận ấy đi đầu tư nước khác.
@ Tạo điều kiện hợp tác của Khối người Việt Hải ngoại
 Chúng tôi đã trình bầy ở trên rằng khối người Việt Hải ngoại là nguồn chất sám, có khả năng cung cấp vốn và kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài, là đầu cầu hữu hiệu cho Hệ thống Phân phối hàng hóa Việt Nam. Nước Do Thái sống giữa thù địch ở Trung Đông, không có những điều kiện địa lý tự nhiên cho phát triển Kinh tế, nhưng đã phát triển được và giữ vững Kinh tế, đó là nhờ khối Dân Do thái sống ở nước ngoài.
 Sau Dân Do Thái, người Việt Nam là Dân tộc cũng đi tỵ nạn trên 70 quốc gia. Xử dụng được khối người Việt Hải ngoại là làm tăng thêm phát triển Kinh tế, Thương mại của Việt Nam.
 Điều kiện để có thể xử dụng được khối người Việt Hải ngoại là vấn đề Chính trị. CSVN cố thủ giữ độc quyền cai trị và do đó loại trừ sự đóng góp hữu hiệu của khối người Việt tỵ nạn vào sự phát triển Kinh tế Đất Nườc. Chỉ cần một điều kiện là đảng CSVN từ bỏ chế độ độc tài toàn trị, khối người Việt Hải ngoại sẵn sàng đem khả năng mình vào việc phục vụ phát triển Kinh tế của Quê Hương.Việc phát triển Kinh tế tất nhiên là giải quyết tổng thể và căn bản nhất cho Đình Công.
@ Diệt Lãng phí và Tham nhũng
 Chúng tôi không cần nói rằng Lãng phí và Tham nhũng là kẻ thù của Luân lý, mà nhất định nói rằng hai thứ đó chính yếu là Kẻ thù của Kinh tế Tự do và Thị trường. Không ai lấy tiền túi riêng của mình ra để Lãng phí và cho Tham nhũng. Những Nhà đầu tư vào Kinh tế đều tìm cách tính Lãng phí và Tham nhũng vào chi tiêu Xí nghiệp, nghĩa là vào Giá thành của hàng hóa (Imputation des gaspillages et des corruptions dans les calculs des Prix de Revient des produits). Đây là việc làm tăng Giá thành hàng hóa và làm mất khả năng cạnh tranh thương mại Quốc tế.
 Nếu các Xi nghiệp muốn giữ khả năng cạnh tranh quốc tế, nghĩa là giữ nguyên Giá thành sản xuất, thì buộc lòng họ phải quay lại đổ Lãng phí và Tham nhũng trên đầu Nhân công.
 Phải diệt Lãng phí và Tham nhũng. Đó là giải quyết quan trọng hàng đầu trong những giải quyết tổng thể và căn bản cho Đình Công. Lãng phí và Tham nhũng là con đẻ của tất cả những chế độ độc tài toàn trị. Không thể lấy lời khuyên tinh thần để kêu gọi bỏ lãng phí và tham nhũng bởi vì Thánh nhân có toàn quyền sinh sát mà ngồi bên đống tiền, thì cũng sinh lòng trắc ẩn dấu diếm tiền bạc, ăn cắp ăn xén. Phải có cơ cấu cho những ai có tiền, được quyền kiểm soát, phanh phui những ai làm lãng phí và đòi tham nhũng, nghĩa là phải có Dân chủ để Dân có quyền kiểm soát và chế tài những kẻ lãng phí và ăn tham nhũng vào tiền bạc của Quốc gia. Tổ chức chính trị phải có tối thiểu lưỡng đảng để kiểm soát tiền bạc lãng phí và tham nhũng. Phải có Tự do Ngôn luận để tư nhân có thể la lớn lên khi kẻ có quyền chính trị ăn cướp tiền của họ.  

 Trong việc đấu tranh hiện nay của Công Nhân qua những cuộc ĐÌNH CÔNG, Công nhân yêu cầu rõ rệt là phải cho họ có LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP  để những người Đại diện của họ có thể đấu tranh chống lại việc tham nhũng của cường quyền cấu kết với thế lực tài phiệt ngoại lai mà bóc lột họ. Việc đòi hỏi này là hoàn toàn chính đáng vì đó là thuộc quyền DẠ DẦY, quyền quan trọng nhất trong danh sách Nhân quyền. Đó là giải quyết cấp bách để hợp tác đề nghị những giải quyết tiếp theo cho ĐÌNH CÔNG vậy.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


 

(7) NỀN KINH TẾ
TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÍCH THỰC
ĐÒI PHẢI LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ CSVN

                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế

 

 Bài này là bài thứ 7 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 7:  Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi phải lật đổ chế độ CSVN.
 Milton Friedman, nhà tư tưởng kinh tế hàng đầu của Hoa Kỳ, Giải Nobel Kinh tế, đã tuyên bố với nữ phóng viên Nathan Gardels trong một cuộc Phỏng vấn mới đây đăng trên báo New Perpectives:“ Không thể nào phát triển kinh tế tư hữu đồng thời với hệ thống chính trị độc đoán“

 Khi viết về đầu đề hôm nay liên quan đến đình công, tôi hoàn toàn đứng ở phương diện Kinh tế mà phân tích. Kết luận của Kinh tế là đòi buộc phải lật đổ chế độ chính trị độc tài toàn trị của đảng CSVN nếu muốn phát triển Kinh tế Đất Nước và tất nhiên muốn giải quyết nạn đói nghèo của Dân chúng và việc Đình Công của Công nhân.

 Chúng tôi nói tới những điểm sau đây:
=> Tư hữu là quyền xử dụng tự do những phương tiện sản xuất
=> Quyền lực chính trị không được can thiệp trực tiếp và Kinh tế tư nhân
=> Quyền lực độc tài là nguồn của lãng phí và tham nhũng
=> Kinh tế Mafia gia đình và Kinh tế Mafia toàn đảng


Tư hữu là quyền xử dụng tự do
những phương tiện sản xuất

 TƯ HỮU là định đề căn bản của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Từ định đề này, người ta đặt những nguyên tắc cho những hoạt động Kinh tế tư nhân. Tư hữu là quyền tự nhiên của mọi sinh vật tìm cách kiếm ăn nuôi sống thân thể mình. Phương tiện sản xuất hay nói nôm na Phương tiện kiếm sống vì thuộc tư hữu, nên cá nhân sở hữu có quyền TỰ DO xử dụng những Phương tiện ấy. Thị trường là nơi trao đổi giữa những Phương tiện sản xuất và những kết quả của sản xuất. Khi mà quyền lực chính trị công cộng tước quyền tư hữu, quyền tự do xử dụng Phương tiện kiếm sống và tước đi quyền tự do trao đổi trên thị trường, thì không còn nền Kinh tế gọi là Tự do và Thị trường nữa. Nền Kinh tế chỉ huy bằng quyền lực chính trị bởi các đảng Cộng sản độc tài trên thế giới đã tước đoạt quyền tư hữu và quyền trao đổi thương mại trên thị trường. Hậu quả là nền Kinh tế chỉ huy bằng độc tài chính trị đã thất bại, nghĩa là Dân chúng đói nghèo.
 Lý do chính yếu thất bại của nền Kinh tế chỉ huy bởi quyền lực chính trị là đã diệt tính tự nhiên kích thích làm việc của những người làm Kinh tế. Tính tự nhiên là ai cũng ham tích lũy tư hữu để bảo đảm cho sự sống còn thân thể của mình. Những con vật cũng biết làm như vậy. Tước đoạt tư hữu là đi ngược với kích thích làm việc. Làm việc để cho vào của chung để người khác hưởng, thì có người chửi tục:“cố gắng làm con mẹ gì để mấy thằng lười hưởng“. Nền Kinh tế chỉ huy do quyền lực chính trị độc đoán bắt ép đã làm giảm hiệu năng Kinh tế cá nhân, do đó đi dần đến nghèo khó.
 Khi tuyên bố cho Kinh tế Tự do và Thị trường mà vẫn giữ quyền lực chính trị độc đoán trên Kinh tế, tức là điều trái ngược. Câu nói của Milton FRIEDMAN là nhắc lại chân lý này, nhắc lại sự trái ngược khi tuyên bố nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà vẫn giữ khư khư lấy quyền lực chính trị độc đoán toàn trị:“ Không thể nào phát triển kinh tế tư hữu đồng thời với hệ thống chính trị độc đoán“

 
Quyền lực chính trị không được
can thiệp trực tiếp và Kinh tế tư nhân

 Từ những Oâng tổ của nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhóm Kinh tế gia cổ điển Anh quốc như Adam Smith, David Ricardo, Stuart Mill..., đã đặt nguyên tắc cho quyền lực chính trị rằng họ chỉ là Cảnh sát và Trung lập đối với những hoạt động Kinh tế giữa các tư nhân (Etat Gendarme et Etat Neutre). Khi ý tưởng Xã hội ở thế kỷ 19 lớn mạnh, những nhà Kinh tế Tự do và Thị trường bị ảnh hưởng, nhưng cũng chỉ cho Nhà Nước “can thiệp“ vào Kinh tế như một thành phần giống các khối tư nhân dưới Luật Cung—Cầu cùng giống các thành phần tư nhân khác.
 Ý tưởng can thiệp bằng Cung—Cầu dần dần cũng đã bị công kích bởi vì quyền lực chính trị dễ lạm dụng để làm áp lực đối với các hoạt động Kinh tế tư nhân.
 Những nhà Kinh tế hiện nay đều công nhận rằng mỗi khi Nhà Nước can thiệp trực tiếp vào Kinh tế, đều gây ra những tốn kém xã hội (couts sociaux) và Chợ Đen, Chợ Đỏ... mà chính giới Kinh tế tư nhân, Dân chúng phải è cổ ra mà chịu.
 Phải để cho những hoạt động Kinh tế được quyền tự điều chỉnh giữa tư nhân, thì sự phát triển mới cân bằng. Một tỉ dụ mà những ai ở Đông Aâu và Nga đều biết. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, Nhà Nước vẫn bị ảnh hưởng bởi những ý tưởng Kinh tế chỉ huy cũ, đã can thiệp vào Thị trường để đặt giá bán “trần nhà“ (prix plafond), viện cớ phải bao vệ đời sống của đại đa số quần chúng. Nhưng chính đại đa số quần chúng này phải xếp hàng dài từng cây số để đợi mua thịt chẳng hạn. Thịt càng khan hiếm bởi vì chủ hàng thịt bán thịt Chợ Đen với giá cao, chứ không muốn bán giá “trần nhà“ (prix plafond) do Nhà Nước can thiệp chỉ định. Tổng thống ELSINE đã lấy một quyết định là để giá cả tự do mà Luật Cung—Cầu quyết định. Giá tăng lên cao vọt. Những thương gia Tây Aâu chuyển thịt sang bán vì ham giá bán caqo. Giá từ từ hạ xuống và quần chúng khỏi phải xếp hàng đợi từng tiếng đồng hồ.

 Tại Việt Nam, mặc dầu Nhà Nước đã tuyên bố Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng quyền lực chính trị vẫn độc đoán và tìm mọi cách trực tiếp can thiệp vào đời sống Kinh tế. Nhà Nước vẫn độc tài toàn trị, chỉ huy Kinh tế. Công đoàn Công nhân do Nhà Nước nắm giữ, đã can thiệp ngay vào Thị trường Nhân lực tận những Xí nghiệp. Đó là một tỉ dụ. Những Công ty quốc doanh vẫn được quyền lực chính trị chủ động điều hành áp lực ưu tiên lên giới tư doanh.

 Phải bỏ cái thể chế can thiệp này, nếu đã chấp nhận một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự.  


Quyền lực độc tài
là nguồn của lãng phí và tham nhũng

 Lãng phí và tham nhũng là kẻ thù của phát triển Kinh tế, dù là Kinh tế chỉ huy hay là Kinh tế Tự do và Thị trường. Chúng tôi đã phân tích nhiều trong bài trước về điểm này, nên chỉ nhắc ở đây ít điều tóm tắt.
 Chúng tôi xin nói rằng một Thánh nhân mà có toàn quyền đàn áp, bịt miệng Dân, thì khi ngồi cạnh đống tiền, cũng sinh lòng trắc ẩn mà ăn cướp ăn cắp, cất dấu của chung cho riêng mình. Tham nhũng đâu đâu cũng có. Cộng sản không thể gợi “tinh thần Cách Mạng“ mà diệt lãng phí, tham nhũng được. Cái lòng ham tư hữu của cải ở chính trong bụng cái người có“tinh thần Cách Mạng“ ấy. Cái lòng ham tư hữu thắng cái tinh thần xa xưa kia và đã sũp đổ rồi.
 Muốn làm giảm lãng phí và tham nhũng, thì phải phân quyền để người khác cũng có quyền tố cáo ngăn chận mới được. Độc tài, độc đảng, toàn quyền là điều kiện làm con vi trùng lãng phí và tham nhũng nẩy sinh và càng ngày càn lớn lên. Muốn làm cho con vi trùng ấy yếu đi, thì phải bỏ độc tài, bỏ độc đảng, bỏ toàn quyền thống trị. Phải có quyền đối lập, quyền tự do ngôn luận mới làm cho con vi trùng lãng phì và tham nhũng rụt vòi đi hoặc nhả mồi như con đỉa phải vôi.
 Tóm lại phải bỏ chế độ độc tài, độc đảng và toàn trị hiện nay.


Kinh tế Mafia gia đình
và Kinh tế Mafia đảng

 Khi Nhà Nước CSVN tuyên bố Kinh tế Tự do và Thị trường, mà họ vẫn giữ độc quyền chính trị, thì nền Kinh tế ấy dần dần chuyển sang nền Kinh tế Mafia gia đình. Những ccon ông cháu cha của quyền độc tài được đặc quyền hưởng nền Kinh tế tuyên bố ấy để chiếm tư hữu cho mình.
 Việc dành miếng ăn lớn cho con cháu của quyền lực này đã tạo những ghen tị, đối kháng giữa những người cao cấp trong đảng. Có những người đã là đảng viên cao cấp, hiện nay đã về hưu, không có thể có quyền cầm ô dù che chở cho con cháu nữa. Trong khi ấy, một số người khác  đang nắm trọn quyền lực, dùng ô dù che chở cho con cháu rút tỉa công hữu cho tư hữu Mafia gia đình. Đây là nguồn chính yếu cho sự đố kỵ, tố cáo nhau giữa những người đã là đảng viên cao cấp. Chưa chắc việc thay đổi Ý thức hệ là nguồn công kích nhau giữa những đảng viên cao cấp. Tôi đã có dịp nói chuyện với một đảng viên cao cấp. Tôi nói rằng CSVN giữ quyền để dễ ăn tham nhũng và những nhóm trong đảng bầu cho nhau để giữ quyền cho nhóm. Người đảng viên này đã phản đối tôi, nói: “Oâng hiểu sai rồi. Phải nói ngược lại mới đúng, nghĩa là ông hiểu phải bầu cho nhau để GIỮ QUYỀN mà ăn THAM NHŨNG, nhưng sự thực vì CÙNG ĂN THAM NHŨNG, nên phải bầu cho nhau để GĨƯ QUYỀN mà bịt miệng kẻ khác. Vậy phải tham nhũng mới được bầu có quyền, chứ không phải có quyền mới ăn tham nhũng“.

 Đại Hội đảng kỳ X mới cho phép mọi đảng viên được làm kinh tế tư nhân. Tại sao bây giờ mới quyết định như vậy ? Lý do chính của việc quyết định này là Ban Điều hành cao cấp của đảng đã ăn tham nhũng kếch xù, còn dùng ô dù che chở cho con cháu của mình ăn cướp của công làm tư hữu Kinh tế Mafia gia đình. Đảng viên cấp dưới thấy đó là bất công trong đảng. Người tham nhũng kếch xù, kẻ được ít. Những người cao cấp sợ sự ghen tị này sẽ sinh ra loạn trong đảng, nên phải quyết định cho mọi đảng viên làm kinh tế, nghĩa là mọi đảng viên có quyền can thiệp vào đời sống kinh tế tư nhân với quyền lực của đảng để mà tham nhũng ở mọi cấp. Aên tham nhũng thì phải ăn chung từ trên xuống dưới, thì mới có thể giữ được đoàn kết của đảng. Có ăn tham nhũng, thì mới hè nhau bầu quyyền cho nhau để bị miệng Dân.
 Với quyết định cho mọi đảng viên làm kinh tế, thì Kinh tế Tự do và Thị trường, từ Kinh tế Mafia gia đình, mới có thể chuyển sang Kinh tế Mafia toàn đảng được.

 Những đoạn trên chỉ bàn về Kinh tế. Nếu muốn có một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đứng đắn, thì phải từ bỏ quyền chính trị độc tài. Kinh tế gia trứ danh Milton FRIEDMAN nói lên chân lý:“ Không thể nào phát triển kinh tế tư hữu đồng thời với hệ thống chính trị độc đoán“

 Plải lật đổ chế độ CSVN độc tài toàn trị vì nhu cầu phát triển Kinh tế Đất Nước.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


(8) MÔI TRƯỜNG
CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ DÂN CHỦ 
CHO NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG
 
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế

 Bài này là bài thứ 8 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 8 :  Môi trường Chính trị—Pháp lý Dân chủ cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Hướng phát triển Kinh tế của một Nước tùy thuộc ba Môi trường: Môi trường Địa lý thiên nhiên, Môi trường Nhân sự và Môi trường Chính trị—Pháp lý. Nếu hai Môi trường đầu cò nhiều khó khăn thay đổi, thì Môi trường thứ ba tùy thuộc ở đường lối Tổ chức, Quản trị của một Quốc gia.
 Khi chấp nhận một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì phải quyết định về Tổ chức và Quản trị Quốc gia cho phù họp, chứ không thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia.
 Chúng tôi bàn về những điểm sau đây:
=> Những điểm căn yếu của nền Kinh tế Tự do và Thị trường
=> Chính trị: Đường lối Tổ chức vá Quản trị Quốc gia
=> Luật pháp: Bảo vệ những hoạt động Kinh tế

Những điểm căn yếu
của nền Kinh tế Tự do và Thị trường

 Hãy nhìn Lịch sử tiến triển của những nền Kinh tế.
 Khi còn sống lẻ loi kiếm ăn bằng hái cây rừng hoặc săn bắn, con người còn tó tự do giữ tư hữu, tự do quyết định hái cây rừng và săn bắn.
 Nhưng khi định cư và sống với nhau thành Cộng đồng, thành Quốc gia, thì có kẻ nắm quyền quản trị Cộng đồng hoặc Quốc gia. Những kẻ có quyền này bắt đầu tước hữu tư nhân. Lịch sử nhân loại dần dần tiến vào một nền Kinh tế mà những kết quả làm việc thuộc về những kẻ có quyền lực. Thậm chí cả con người làm việc cũng thuộc về kẻ nắm quyền. Chúng ta đứng trước một nền Kinh tế nô lệ. Con người làm việc kiếm phương tiện nuôi thân xác bị đồng hóa với gia súc. Người nắm quyền lực có quyền vứt bỏ, bán buôn chính con người lao động chân tay. Thời Kinh tế nô lệ cổ Hy Lạp và thời Kinh tế nô lệ Đế quốc La Mã.
 Văn hóa Ki tô giáo mạnh dần tại Aâu châu làm cho chế độ nô lệ giảm dần đi. Nhưng dân chúng lao động vẫn được coi là thuộc quyền Vua, Chúa.
 Giới làm Kinh tế vẫn bị coi rẻ sánh với giới quyền lực Vua, Chúa.
 Đến thời các Lãnh Chúa chia đất đai, xây lâu đài và đánh nhau, giới làm Kinh tế bắt đầu thu gom của cải riêng. Nhưng để có thể xây lâu đài và đi đánh nhau, các Vua, Chúa cần phải có tiền bạc. Giới tư bản (Classe bourgeoise) bắt đầu được đánh giá cao. Thậm chí Vua, Chúa còn bán tước hiệu Quý tộc cho giới tư bản này.
 Giới làm Kinh tế, từ vị trí nô lệ bị khinh chê, tiến lên vị trí được quý trọng vì họ có tư bản (tư sản).
 Chúng ta bắt đầu bước vào giai đoạn đầu của nền Kinh tế tư doanh và có quyền tích lũy tư sản. Khi những phát minh Khoa học và Kỹ thuật như Máy Hơi Nước chẳng hạn được áp dụng vào sản xuất Kinh tế, chúng ta bước vào cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ Anh quốc. Các nhà Kinh tế bắt đầu đặt ranh giới giữa quyền Chính trị và quyền làm Kinh tế tư nhân gọi là nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Ba ý niệm căn yếu sau đây được ngay cả quyền lực Chính trị chấp nhận cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
=> Tôn trọng triệt để quyền TƯ HỮU (Propríeté privée) những phương tiện sản xuất và những kết quả thu hoạch từ hoạt động Kinh tế.
=> Vì là tư hữu, nên tư nhân có TỰ DO KINH DOANH(Libre entreprise) xử dụng tư hữu ấy cho việc hoạt động Kinh tế.
=> Tư nhân hoạt động trong lãnh vực mà họ có khả năng nhất. Trao đổi những khả năng hạng nhất của tư nhân với nhau, đó là phát triển Kinh tế Cộng đồng ở mức độ tối cao. Để gặt hái mức độ tối cao của Kinh tế Cộng đồng, tư nhân phải có quyền TỰ DO TRAO ĐỔI SẢN PHẨM (Libre Echange) ở Thị trường, nơi gặp gỡ Cung và Cầu.
 
Chính trị:
Tổ chức và Đường lối Quản trị Quốc gia

 Đời sống chung có những va chạm. Vì lòng tham luôn luôn có ở mỗi cá nhân, nên khi tư nhân hoạt động Kinh tế, có những lạm dụng bất công. Cạnh tranh phải có giữa tư nhân làm kinh tế, nhưng kèn cựa bất chính phải được giải quyết công bằng và phải bị chế tài.  Có những lãnh vực thuộc Cộng đồng mà tư nhân khó lòng đảm trách như Quốc phòng, Trật tự Dân sự, Giáo dục công cộng...
 Những việc trên đây đòi hỏi một Tổ chức Quản trị chung gọi là quyền lực Chính trị. Cách thức Tổ chức quyền lực Chính trị ra sao là do những cá nhân của Cộng đồng quyết định. Cũng vậy, quyền lực Chính trị đề nghị đường lối Quản trị cũng phải được Dân thẩm định.
 Tóm lại việc quyết định về Tổ chức và Đường lối Quản trị Quốc gia trong những phạm vi vừa nói ở đoạn đầu của phần này phải do mọi tư nhân thuộc Cộng đồng quyết định theo NGUYÊN TẮC DÂN CHỦ.
 Nhưng đối với những hoạt động thuộc lãnh vực Kinh tế tư nhân, quyền lực Chính trị phải để tư nhân giải quyết với nhau. Cá nhân có quyền TỰ DO KINH DOANH và TỰ DO TRAO ĐỔI ở Thị trường. Nhà Nước không được quyền trực tiếp can thiệp vào khi không có những vi phạm tự do giữa các tư nhân mà không thể giải quyết giữa họ.
 Những nhà Kinh tế Tự do và Thị trường thuần túy đã chủ trương dứt khoát rằng đối với lãnh vực hoạt động Kinh tế, quyền lực Chính trị chỉ là Nhà Nước Trung Lập (Etat neutre) hoặc là Nhà Nước Cảnh sát (Etat Gendarme). Cảnh sát không được tự tiện can thiệp vào đời sống tư nhân khi mà tư nhân giữ đúng luật pháp.
 Cuối thế kỷ XIX, vì trào lưu ý tưởng Xã hội được đẩy lên cao độ, nên một số nhà Kinh tế Tự do và Thị trường đã cho quyền can thiệp của Nhà Nước vào phạm vi Kinh tế, nhưng CHỈ NHƯ MỘT ĐƠN VỊ KINH TẾ QUA NGẢ CUNG VÀ CẦU mà thôi. Dầu sao các nhà Kinh tế đều chú thích rằng mỗi khi có sự can thiệp của Nhà Nước, thì luôn luôn làm tăng chi phí xã hội (couts sociaux) và làm phát sinh Chợ Đen, Chợ Đỏ.

Luật pháp:
Bảo vệ những hoạt động Kinh tế

 Tất nhiên ngay Tổ chức và Đường lối quản trị của quyền lực Chính trị cũng phải được Dân chấp thuận theo nguyên tắc Dân chủ, huống chi là Luật pháp có tính cách lâu dài qua những thay đổi quyền lực Chính trị.
 Luật pháp được Dân quyết định cho nhiều phạm vị của cuộc sống chung Tập thể. Tuy nhiên ở đây, chúng tôi chỉ chú trọng đến Luật pháp liên hệ đến phạm vi hoạt động Kinh tế của tư nhân. Như ở phần trên đề cập, chúng tôi đã trình bầy ba điểm căn yếu của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Luật pháp về ba điểm căn yếu này phải được quy định tĩ mỉ, không phải chỉ nhằm chế tài những vi phạm, mà quan trọng hơn cả là tạo một Môi trường thuận tiện, khuyến khích và nâng đỡ những hoạt động Kinh tế tư nhân:
=> Luật pháp tôn trọng triệt để quyền TƯ HỮU (Propríeté privée)
=> Luật pháp tôn trọng, khuyến khích và nâng đỡ TỰ DO KINH DOANH (Libre entreprise) qua hệ thống sinh hoạt Công ty.
=> Luật pháp về Thị trường để tôn trọng, khuyến khích và nâng đỡ TỰ DO TRAO ĐỔI (Libre Echange) và TỰ DO CẠNH TRANH (Libre Concurrence). Xin lưu ý rằng tất cả những vi phạm vào sự tự điều chế của Thị trường (Entraves à l’autorégularisation du Marché) đều dễ sinh ra những biến chứng nguy hại (Conséquences néfastes).
 Theo chủ trương của những nhà Kinh tế Tự do và Thị trường, không phải chỉ nguyên nghĩ đến Luật pháp tôn trọng, khuyến khích và nâng đỡ ba đều căn bản trên đây cho giới tư doanh, mà Luật pháp phải khai triển những biện pháp bắt buộc quyền lực Chính trị đứng ở phạm vi Nhà Nước Trung lập (Etat neutre) hay Nhà Nước Cảnh sát (Etat gendarme), nghĩa là Nhà Nước không được dùng quyền lực can thiệp trực tiếp vào lãnh vực Kinh tế tư nhân khi giữa tư nhân không có những vi phạm với nhau.

 Ơû đầu bài này, chúng ta thấy Lịch sử những nền Kinh tế chuyển từ Kinh tế nô lệ khi mà quyền lực Chính trị nắm giữ mọi tài sản và coi cá nhân chỉ là một phương tiện (nô lệ) sản xuất cho Nhà Nước. Kinh tế tự do và thị trường đã được thiết lập với quyền TƯ HỮU. Hệ thống Kinh tế chỉ huy mà quyền lực Cộng sản chủ trương đã đi ngược dòng Lịch sử trở lại Kinh tế nô lệ từ thượng cổ Hy Lạp, La Mã vậy. Phải đạp nó đổ xuống.
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


                                      NGÀNH MAY DỆT VIỆT NAM:
                                    NẠN NHÂN CỦA TRUNG CỘNG

                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh te


Từ đầu năm 2005, khi những hạn chế số lượng (quotas) nhập cảng về hàng May Dệt được bỏ đi, thì những hàng này của Trung Cộng tràn ngập Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu. Trong tháng tư vừa rồi Hoa kỳ và Liên Aâu phải lấy những quyết định phản ứng mạnh để ngăn chặn Tsumani này từ Trung Cộng.

Vài nét Lịch sử về hai Hiệp Ước Thương Mại Quốc tế

Tiền thân của WTO (World Trade Organization) là GATT (General Agreement on Tarif & Trade). Cả hai có Trụ sở tại Geneva. Năm 1974, trong khuôn khổ thương lượng của GATT, một Hiệp Ước Thương Mại có tên là AMF (Accord MultiFibres) được ký kết. Đây là Hiệp Ước tự do thương mại quốc tế về ngành May Dệt. Tuy vậy các Nước Tây phương thấy những nguy hiểm về Hiệp Ước này đến từ Trung Cộng và Aán độ, nên họ đã đặt trong Hiệp Ước những hạn định về số lượng nhập khẩu hàng may dệt từ những nước này.

Vòng Thương Lượng URUGUAY năm 1994 kết thúc bằng thay thế Tên WHO cho GATT và ký kết Hiệp Ước Thương Mại quốc tế thứ hai về ngành May Dệt lấy tên là Hiệp Ước ATV (Accord sur les Textiles & les Vêtements). Theo Hiệp Ước này, thì bắt đầu từ 01.01.2005, những hạn chế về số lượng (quotas) nhập cảng được bỏ đi.

Trung Cộng nhập WHO vào tháng Giêng năm 2002 và tất nhiên được hưởng việc bỏ hạn định số lượng theo Hiệp Ước ATV. Tuy vậy, trong điều kiện nhập WTO, Trung Cộng phải ký những Điều khoản đặc biệt về Bảo vệ (Clauses de Sauvegarde), nghĩa là để tránh việc lan tràn làm hại ngành May Dệt này tại những Nước nhập cảng, Trung Cộng chỉ có quyền tăng xuất cảng 7.5% mỗi năm cho đến năm 2008.

Việc lan tràn quá mức của hàng May Dệt “Made in China“

Chín món hàng trong ngành này của Trung Cộng đã lan tràn như Tsumani chỉ trong vòng 3 tháng sau khi bỏ việc hạn chế số lượng (quotas). Trung bình việc xuất khẩu được ước lượng tăng lên gấp 5 lần sánh vơiù năm ngoái. Có những hàng chỉ trong 3 tháng qua đã tăng lên khủng khiếp, như áo Pull-Overs tăng 893%, Quần (Pantalons) tăng 201%, Bít tất (Chaussettes) tăng 1500%, Nịt ngực đàn bà (Soutiens-Gorge) tăng 202%...

Trung Cộng hiện nay chiếm 28% về Thương Mại Quốc tế về xuất khẩu hàng thuộc ngành này. Ngân Hàng Thế Giới ước lượng rằng vào năm 2010, Trung Cộng sẽ chiếm 50% thương mại thế giới về ngành May Dệt.


Khả năng cạnh tranh của Trung Cộng  

Những yếu tố sau đây làm cho hàng May Dệt của Trung Cộng có điều kiện cạnh tranh rất mạnh về giá cả:

=> Trung Cộng còn giữ chế độ độc tài và khai thác nhân công với những điều kiện lương bổng, giờ giấc làm việc, khu vực làm việc mà những nước Tự do không có quyền đặt những điều kiện cho nhân công như vậy. Tỉ dụ nhân công làm việc 70 giờ một tuần, ăn ở trong chính hãng xường với đồng lương quá thấp. Oâng Jean-Francois MONTEMONT, trong tờ LE COURRIER PICARD ngày 26.04.05, viết :“La Chine utilise l’immense réservoir humain chassé des campagnes vers les colossales usines cotìeres òu l’on travaille, dort et mange.....Veritables troupes de travailleurs dirigées par les commissaires politiques en costumes-cravates...“ (Trung Quốc xử dụng kho dự trữ khổng lồ nhân lực lùa ra từ nhà quê kéo về những nhà máy khổng lồ dọc bờ biển ở đó người ta làm việc, ngủ và ăn...Đó chính là những đàn  thợ thuyền được chỉ huy bởi những cán bộ chính trị mặc áo vét với cà vạt...)

=> Hối suất tiền tệ của đồng Yuan không theo luật Cung-Cầu, mà là do Nhà Nước ấn định. Nhà Nước đã ấn định hối xuất hạ xuống sánh với tiền tệ nước ngoài, nhất là Dollar. Đây là điều kiện làm cho giá hàng xuất cảng ra nước ngoài hạ xuống. Như vậy nước ngoài mua hàng của Trung Cộng có lợi hơn về hối suất.

=> Giá thành trung bình của hàng sản xuất hạ xuống khi số lượng sản xuất tăng lên. Trung quốc sản xuất hàng với số lượng khổng lồ vì nếu không tiêu thụ ra nước ngoài được thì đã có khối người khổng lồ của Trung Cộng tiêu thụ. Chế độ có thể bắt dân tiêu thụ dưới hình thức trả lương bằng hàng hóa.



Những quốc gia nạn nhân của tự do cạnh tranh trong ngành

Hoa kỳ, trong những năm gần đây, đã sa thải 350'000 nhân công trong ngành này. Với việc tháo khóan hạn chế số lượng (quotas), Hoa kỳ dự trừ những thiệt hại nhanh chóng nữa.

Tại Liên Aâu, một số quốc gia sau đây bị ảnh hưởng lớn về ngành May Dệt: Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Ba Lan, Tiệp khắc. Nước Pháp, ngay trong năm 2004, đã phải thải 17’000 nhân công và với việc lan tràn của hàng Trung Cộng, thì cuối năm 2005, việc sa thải được dự trù vào khoảng 20'000 nhân công nữa.

Thiệt hại này không những cho những quốc gia thuộc Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu, mà còn ảnh hưởng thiết yếu đến những quốc gia khác mà hoạt động chính là ngành May Dệt, như :
@ Ile Maurice, Madagsacar, Maroc, Tunisie, Algérie
@ Việt Nam, Nam Dương, Bangladesh, Sri-Lanka.

 Những quốc gia này trước đây được sự nâng đỡ của hai Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu, mặc dầu trong thời kỳ còn cấm số lượng theo Hiệp Ước AMF (Accord MultiFibres). Đây là sự nâng đỡ nhân đạo vì tỉ số dân sống về ngành May Dệt rất cao. Ngày nay, với việc bỏ hạn định số lượng (quotas), thì hàng Trung Cộng tràn ngập Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu, nên những quốc gia trên không thể cạnh tranh với hàng Trung Cộng.



Phản ứng của Hoa kỳ và Liên Âu

 Mặc dầu chủ trương Toàn Cầu Hóa Thương mại, nhưng trước những thiệt hại lớn cho mình và cho những quốc gia sản xuất khác, Hoa kỳ và Liên Aâu buộc lòng phải cấp bách phản ứng lại sự tràn lan của hàng May Dệt Trung Cộng.

1)  Phản ứng của Hoa kỳ
 Hoa kỳ phản ứng cứng rắn và mau lẹ hơn Liên Aâu vì những lý do mà chúng tôi sẽ nói sau. Ngày 01.04.2005, trong khuôn khổ WTO, Hoa kỳ đã chính thức yêu cầu thủ tục áp dụng những Điều Khoản về Bảo vệ (Clauses de Sauvegarde) mà Trung Cộng đã ký kết khi nhập WTO tháng Giêng năm 2002. Theo thủ tục này, thì Hoa kỳ đã làm những việc sau đây:

@ Điều tra (Enquete) việc tăng vọt về mỗi hàng May Dệt đến từ Trung Cộng

@ Đòi Hỏi Theo Lệnh (Consultation Formelle) với Điều tra gửi tới Trung Cộng qua WTO

@ Khi nhận được văn thư Đòi Hỏi Theo Lệnh này, thì Trung Cộng buộc phải Hạn Chế việc xuất cảng theo con số tăng 7.5% như đã ký kết khi nhập WTO.

2) Phản ứng của Liên Âu
 Liên Aâu phản ứng không mau lẹ và mạnh bằng Hoa kỳ vì Liên Aâu mong thực hiện những giao dịch sau đây với Trung Cộng:

=> Bán Air Bus 380 cho Trung Cộng

=> Nhằm bán vật liệu và xây dựng 45 Trung Tâm Nguyên Tử (Centrales Nucléaires) mà Trung Cộng dự định thực hiện.

 Tại Bruxelles, Đại Diên Trung Cộng bên cạnh Liên Aâu đã nói bóng gió rằng để mua một Air Bus của Liên Aâu, chúng tôi phải bán chừng 20 triệu đối bít tất.
 Hoa kỳ không quan tâm cho lắm đến những dịch vụ trên, nên đã phản ứng mạnh bằng những Điều khoản về Bảo vệ mà Trung Cộng đã ký kết.
 Oâng Peter Mandelson, Bộ trưởng Thương mại của Liên Aâu, chưa dám phản ứng theo những Điều khoản về Bảo vệ, mà chỉ đưa ra những Biện Pháp Cấp Thời (Mesures d’Urgence) vừa chậm vừa không có tính cách đòi buộc theo Luật Lệ. Những Biện Pháp Cấp thời như sau:

@ Điều tra (Enquete) việc tăng vọt về mỗi hàng May Dệt đến từ Trung Cộng 

@ Thảo luận Thông tin (Discussion Informelle) với Trung Cộng. Việc này kéo dài chừng 2 tháng.

@ Nếu việc Thảo Luận Thông tin không mang đến kết quả. Liên Aâu sẽ tiếp thục Thương thảo những điều kiện thương mại với Trung Cộng.

@ Cuối cùng , nếu những Thương lượng điều kiện không có kết quả, thì Liên Aâu mới trình nộp Đòi Hỏi Theo Lệnh (Consultation Formelle), trong khuôn khổ WTO để yêu cầu Trung Cộng áp dụng những Điều Khoản về Bảo vệ giống như Hoa kỳ.

 Người ta dự trù rằng những Biện Pháp Cấp Thời này của Oâng Peter Mandelson phải kéo dài cho đến hết tháng 9 năm nay.

 Vì quá thiệt hại, nước Pháp nóng lòngười, đã thôi thúc Oâng Peter Mandelson phải làm giống như Hoa kỳ. Được sự hỗ trợ của Oâng Guillaume SARKOZY, Chủ tịch Liên Hiệp Kỹ Nghệ Vải của Pháp UIT (Union des Industries Textiles) và của các Nghiệp Đoàn May Dệt, Bộ trưởng Thương Mại Pháp, nhân danh Quốc gia Thành viên của Liên Aâu, đã chính thức gửi Văn Thư yêu cầu Liên Aâu phải áp dụng kịp thời những Điều khoản về Bảo vệ, chứ đừng trì hoãn với những Biện Pháp Cấp Thời mà Oâng Peter Mandelson dự định.


Trả lời của Trung Cộng

Trước việc Đòi Hỏi áp dụng những Điều khoản về Bảo vệ (Clauses de Sauvegarde) mà Hoa kỳ chính thức yêu cầu trong khuôn khổ WTO, Trung Cộng phải buộc lòng tự động hạn chế con số xuất cảng theo như đã ký kết khi gia nhập WTO.

 Trung Cộng đã trả lời là sẽ giảm số lượng xuất cảng bằng những biện pháp sau đây:

@ Tăng thuế phụ trội 3% trên những hàng May Dệt xuất cảng.

@ Tăng hối xuất lên 3% đối với đồng Yuan

 Hai biện pháp này nhằm giảm số lượng xuất khẩu. Dầu sao phản ứng mạnh của Hoa kỳ đã có ảnh hưởng trên chính những nhà nhập cảng Hoa kỳ, nhất là giới Hoa kiều tại Mỹ. Những nhà nhập cảng này sợ Quan thuế Hoa kỳ sẽ giữ lại những hàng May Dệt Trung Cộng tại các Phi trường và các Cảng.

Việt Nam, nạn nhân của Trung Cộng về May Dệt

 Chế độ luôn hô hào Kỹ nghệ hóa Kinh tế Việt Nam. Nhưng chế độ độc tài, với Luật pháp dây thung và đổi như chong chóng, đã không tạo được vốn cho những sinh hoạt Kỹ nghệ có tính cách lâu dài.
 Sinh hoạt Kinh tế Việt Nam còn nằm ở mức độ những sản xuất cấp thời ngắn hạn để mau thâu vốn. Ngành May Dệt thuộc loại này. Tỉ số người xử dụng trong ngành này cao nhất sánh với các ngành khác. Những yếu tố sau đây làm Việt Nam là nạn nhân của Trung Cộng khi Hiệp Ước ATV (Accord sur les Textiles & les Vêtements) bãi bỏ hạn chế về số lượng (quotas) xuất cảng:

@ Việt Nam, với số lượng dân ít, không thể tăng lượng sản xuất để giảm giá thành như Trung Cộng. Thực vậy, muốn tăng số lượng sản xuất, phải có bảo đảm tiêu thụ nội địa.

@ Hàng May Dệt của Trung Cộng được sản xuất từ A tới Z, nghĩa là từ nguyên liệu đến sản phảm sẵn sàng để tiêu thụ. Trong khi ấy, hàng May Dệt của Việt Nam phải lệ thuộc vào nhập cảng những nguyên liệu từ nước ngoài.

@ Việt Nam chưa được nhập WTO, nên không có những điều kiện xuất cảng thuận lợi như Trung Cộng.

@ Trước đây, trong thời kỳ hạn chế về lượng (quotas) Việt Nam thuộc những nước mà Hoa kỳ và Liên Aâu nâng đỡ, bỏ qua về hạn chế lượng, nên có một số dễ dàng cạnh tranh. Nhưng ngày nay, từ 01.01.2005, Hiệp Ước ATV (Accord sur les Textiles & les Vêtements) tháo khoán về hạn chế lượng (quotas), thì việc nâng đỡ của Hoa kỳ và Liên Aâu trở thành vô hiệu.

@ Với guồng máy hành chánh Việt Nam đầy tham nhũng và với những luật lệ không đáng tin cẩn, những nhà nhập cảng chọn mua hàng của Trung Cộng hơn là mua hàng từ Việt Nam.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế  



VÀO WTO/OMC MỪNG HAY KHÔNG ?

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


 Đối với Thương mại Quốc tế, có ba Chủ trương: (i) Chế độ Bế quan tỏa cảng tự túc (Autarcie); (ii) Chế độ Che chở mậu dịch (Protectionnisme) và (iii) Chế độ Tự do mậu dịch quốc tế (Libre échange international). Mỗi chế độ có một hệ thống giá cả quan thuế khác nhau.
 Chế độ Bế quan tỏa cảng tự túc hầu hết là được quyết định vì lý do Chính trị nội bộ. Tỉ dụ những nước Cộng sản thời trước đây. Thâm chí, bế quan tỏa cảng chưa đủ, mà Chính trị nội bộ còn đòi xây những bức màn tre, màn sắt, tường xi-măng dọc biên giới.
 Hai chế độ mậu dịch sau là tuỳ theo tình trạng Kinh tế của một nước mà quyết định.
 Tiền thân của OMC/WTO là GATT. Tổ chức Mậu Dịch Quốc tế cổ võ việc giảm thiểu giá cả quan thuế hoặc xóa bỏ biên giới thương mại. Việc cổ võ này là nhằm tình trạng lý tưởng của mọi Quốc gia.
 Việt Nam tỏ ra vui mừng về việc thảo luận tay đôi giữa Hoa kỳ và mình trong khuôn khổ WTO/OMC, nghĩa là trong khuôn khổ lý tưởng của Tự do Mâu dịch Quốc tế.
 Việc vào lý tưởng WTO/OMC có điều gì đáng MỪNG hay gặp phải những điều đáng TIẾC ?
 Muốn nhìn điều đáng MỪNG hay đáng TIẾC, thì phải nhìn khả năng CẠNH TRANH của mỗi quốc gia thành viên. Việc cạnh tranh thương mại rất gay gắt và có thể đưa đến giết nhau để mình giữ phần thắng mà không thương tiếc người bị giết.

MỘT TỈ DỤ ĐẤU VÕ

Tôi thường dùng tỉ dụ này để cắt nghĩa cụ thể về việc lựa chọn chết độ Tự do Mậu dịch (Libre Echange) và chế độ Che chở mậu dịch (Protectionnisme)

Oâng Nông Đức Mạnh có một cô con gái mới lên 10 tuổi. Người mảnh khảnh vì phải ăn bữa ngô, bữa khoai, bữa bo bo. Con gái của Oâng có đi học võ, nhưng mới chỉ được bài học xuống tấn mà vẫn chưa vững vì thiếu ăn, thiếu nội lực.

Oâng Bush có cô con gái đã 21 tuổi. Người mập mạp khỏe mạnh vì mỗi ngày ăn bíp tếc thịt ngựa Texas. Cô còn đi Nhật học Judo tới đai Đen, đồng thời sang Tầu học Confu theo các chiêu Đả cẩu bổng truyền từ đời Hồng Thất Công.

Hai cô quyết định đấu võ với nhau. Oâng Bush thì đòi phải để hai cô đấu tự do (Libre Combat). Theo Oâng, Bà Việt Nam nói thì bài học đầu tiên của võ nghệ là: “Tẩu vi thượng sách“,“...Trồng tre uốn gậy, có ngày gặp nhau !“. Nhưng Oâng Mạnh vì gồng mình và muốn đánh lừa Oâng Bush, nên tuyên bố chấp nhận cho con mình đấu tay đôi và tự do (Libre combat bilatéral). Oâng Bush cũng không vừa vì biết mưu ngầm của Oâng Mạnh là Oâng Mạnh sẽ kiếm một võ sĩ đứng đàng sau con để truyền nội lực và tiếp chiêu cho con mình. Oâng Bush nói trước rằng không ai được tiếp sức cho mỗi phía (Công ty May Dệt quốc doanh được bao cấp).

Có người hiểu ý Oâng Bush nên khuyên Oâng Mạnh rằng thôi đừng cho đấu tự do tay đôi như vậy (Libre combat bilatéral), hãy đợi nuôi con cho béo mập, luyện võ Hỏa công Mao Xếng Xáng và thêm võ bí truyền Xịt tà lìn cho con mình đã trước khi đấu vào dịp khác.

Nhưng Oâng Mạnh vì gồng mình và khoe khoang bè đảng của mình làm được mọi việc đội đá vá trời, điếc không sợ súng , nên để cho con đấu võ lúc này. Kết quả ra sao ?

TỈ DỤ LỊCH SỬ VỀ CHE CHỞ MẬU DỊCH

Vào hậu bán thế kỷ XIX, Anh quốc đã áp dụng chỉnh tề Máy Hơi Nước vào Kỹ nghệ. Cuộc Cách Mạng Kỹ nghệ Anh đã đưa Anh lên hàng đầu sản xuất những hàng hóa chế biến kỹ nghệ. Theo truyền thống chủ trương của Adam Smith, David Ricardo, Stuart Mill, nước Anh yêu cầu áp dụng nguyên tắc Kinh tế Tự do Mậu dịch (Libre Echange International). Những Kinh tế gia cổ điển này đã hết lòng biện minh rằng việc Tự do Mậu dịch Quốc tế mang lợi đến cho mọi phía (Gains pour tout le monde par le Libre Echange International).

Nhưng chủ trương này đã không được chấp nhận bởi Hoa kỳ và Đức. Frederic List chủ trương chế độ che chở mậu dịch (Protectionnisme), nhất là che chở những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Hoa kỳ và Đức biện luận rằng chúng tôi che chở những Kỹ nghệ mới sinh này của chúng tôi cho đến khi chúng trưởng thành ngang sức với Kỹ nghệ Anh quốc, thì lúc ấy chúng tôi mới chấp nhận Tự do Mậu dịch Quốc tế (Libre Echange International).

Như vậy, Hoa kỳ và Đức thời ấy biết nhịn nhục, không gồng mình như Oâng Nông Đức Mạnh. Họ biết nhịn nhục nuôi con họ lớn, với võ nghệ tương đương, thì mới cho đấu võ tự do (Libre combat).

Bài học trên cho thấy rằng Tự do Mậu dịch Quốc tế là một lý tưởng, những nước tham dự phải có trình độ sức mạnh ngang cơ nào đó, thì mới CẠNH TRANH nổi.

TẠI SAO G8/WTO/OMC BỊ BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI

Khi GATT đổi tên là WTO/OMC, thì cũng là lúc Oâng CLINTON hết lòng hô hào TOÀN CẦU HÓA (Globalisation). Toàn cầu hóa được G8 hoàn toàn ủng hộ và tất nhiên nằm trong chủ trương cố hữu của GATT, rồi WTO/OMC.

Biện minh cho việc Toàn cầu hóa này là việc đem lợi nhuận đến cho mọi người. Đó cũng giống như việc biện minh cho Tự do Mậu địch Quốc tế (Libre Echange International) mà nước Anh chủ trương vào hậu bán thế kỷ XIX và đã bị Hoa kỳ và Đức từ chối.

Một số người nhắc đến Toàn cầu hóa như một chủ trương thần thánh. Nhưng tại sao mỗi lần G8 họp ở đâu, mỗi lần có gặp gỡ lớn ở WTO/OMC (Geneva) lại có những đoàn biểu tình phản đối. Phần lớn những người biểu tình đến từ những nước đang mở mang. Phải chăng họ có lý để làm như vậy giống như Hoa kỳ và Đức trước đây phản đối Anh ?

Tôi suy nghĩ về việc Toàn cầu hóa. Nếu Toàn cầu hóa về kỹ thuật truyền thông như Internet chẳng hạn, thì đây là việc có lợi cho mọi người. Nhưng đứng về phương diện lợi nhuận tiền bạc, kinh tế, thương mại, thì tôi nhận thấy như sau:

1) Những nước đã phát triển Kỹ nghệ như G8 chẳng hạn, thì hết lòng hô hào Toàn cầu hóa, kêu gọi G8 hô hào các  nước xóa bỏ biên giới thương mại. Những nước G8 đã mạnh và phát triển sản xuất hàng hóa kỹ nghệ. Xóa bỏ biên giới quan thuế để họ tự do bán hàng hóa, chiếm Thị trường. Toàn cầu hóa hàng hóa có nghĩa là bán hàng hóa của G8 hết mọi nơi:
  Toàn cầu hóa        =        Bán hàng hóa tự do khắp nơi
  Globalisation  = Libre diffusion des marchandises à tous les pays
  Globalization  = Free selling commodities in every country
 Đó là dòng chảy hàng hóa ra từ G8 đến tận khắp nơi (Flux des marchandises de G8 au monde entier). Nhưng dòng chảy hàng hóa ra này không phải là cho không, mà là thu tiền vào.

2) Việc thu tiền vào này (Reflux financier) được dẫn về và cất kỹ trong các Ngân Hàng lớn của G8. Về tài chánh, G8/WTO/OMC không chủ trường Toàn cầu hóa nữa, mà là thu gọn về những Ngân Hàng lớn của G8, nghĩa là người ta thấy rõ rệt Centralisation Financìere đến từ Globalisation des marchandises. Tài chánh là huyết mạch của hoạt động kinh tế. Khi G8 hô hào Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa và nếu đồng thời họ chủ trương Toàn cầu hóa Tài chánh, thì các nước đang mở mang mừng lắm. Nhưng ngược lại, họ lại thâu hồi tài chánh (Centralisation financìere), nghĩa là rút huyết mạch kinh tế từ những nững nước đang mở mang đem về cất giữ ở G8 để họ đầu tư thêm vào sản xuất hàng hóa cho nước họ. 
  Thu hồi tài chánh  =  Từ toàn cầu hóa hàng bán ra
  Centralisation financìere = Par Globasiation Marchandises
  Financial Centralization = From Globalization Commodities

VÀO WTO/OMC MỪNG HAY KHÔNG ?

Chúng tôi chưa dám nói ngay được như đinh đóng cột. Nhưng hãy suy nghĩ về tỉ dụ con gái của Oâng Đức Mạnh, hãy nhìn việc Hoa kỳ và Đức phản đối đề nghị của Anh trước đây, và hãy suy nghĩ về cái gì ẩn đàng sau hiện tượng Toàn cầu hóa bán hàng hóa.
Một điều chắc chắn là muốn CẠNH TRANH trên thương mại Quốc tế, thì Việt Nam phải lo liệu nội bộ để có sức mạnh đấu võ gần ngang hàng. Cái chế độ độc tài này đang làm Kinh tế VN tụt hậu và èo ọt. Nếu quá gồng mình khoa chân múa tay lấy tiếng, ý tứ mà chết non vậy.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

  


---------------------------------------------------------------
CHU DE: KINH TE TU DO THI TRUONG DOI HOI
---------------------------------------------------------------

CÔNG HỮU, TƯ HỮU
VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Cái nền Kinh tế Tự do và Thị trường chỉ là một Hệ luận của sự chấp nhận Tiền đề căn bản là TƯ HỮU. Cũng vậy, cái chủ trương Kinh tế Tập quyền Kế ho.ach cũng chỉ là Hệ luận hữu lý của Tiền đề truất hữu cá nhân để Đảng giữ hết, gọi là CÔNG HỮU. Tôi muốn theo dòng lý luận từ hai cái Tiền đề CÔNG HỮU và TƯ HỮU ấy để cho thấy rằng việc giải thể chế độ chuyên chính hiện tại là một kết luận hòan tòan hữu lý của tư duy. Sự cấu trúc lý luận này không phải là chính trị, mà là từ cái đầu của những ai chưa bị điên khùng bệnh ho.an. Sự cấu trúc lý luận này đi từng bước rất đơn giản ở mức độ học trò. Nhưng cái sự đơn giản học trò này cho thấy rằng việc đi tới giải thể chế độ chuyên chính hiện nay là có tính cách hữu lý hiển nhiên của lương tâm, chứ không xiên xẹo lắt léo như Cộng sản và những tay sai cố gán vào vấn đề xung động tình cảm.
 Chúng tôi bắt đầu bằng Tiền đề Công hữu và Hệ luận của nó để thấy việc giải thể đã được bắt đầu và chúng ta chỉ cần kiện toàn nó.
Từ Tiền đề CÔNG HỮU đến Kinh tế Kế hoach Tập quyền
và những bế tắc trong việc giải quyết vấn đề then chốt là đói nghèo

1. Tiền đề CÔNG HỮU 
Thực ra phải nói Đảng Hữu mới đúng bởi vì Đảng nắm trọn quyền quyết định trên tài sản Quốc gia. Đảng Cộng sản phủ nhận Tư hữu và chủ trương Công hữu. Khi chưa nắm được trọn vẹn quyền hành, họ vu khống đủ điều dù tàn nhẫn nhất để gây hận thù giữa giới lao động và giới hữu sản để đấu tranh giai cấp mà mục đích chính yếu ở giai đọan này là chiếm quyền. Họ chưa nói vội việc vô sản hóa, sợ làm thất vọng một số lao công
 Khi giới lao động đã giúp họ nắm trọn quyền rồi, thì họ bắt đầu tiến trình truất hữu, dù bằng phương pháp đẫm máu. Của riêng trở thành của chung, của Nhân dân. Nhưng nhân dân là ai? Tôi là nhân dân, anh là nhân dân, nó là nhân dân...ai cũng là nhân dân để cuối cùng nhân dân chẳng là ai rõ rệt hết. Lúc ấy Đảng mới đứng ra tự nói, hoặc khủng bố để nhân dân buộc phải nói rằng Đảng là Đại diện nhân dân để giữ tài sản của nhân dân truất hữu được từ nhân dân.
 Có lần tôi cười nói với một ông Giám đốc Ngân hàng rằng: Cái gì cũng mang nhân dân ra để chịu đựng: Quân đội nhân dân, Tòa án nhân dân, Hội đồng nhân dân..., nhưng khi tài sản vào Công hữu thì không gọi là nhân dân nữa mà là Ngân Hàng Nhà Nước (chứ không phải là Ngân Hàng Nhân dân).
 CÔNG HỮU hay đúng hơn ĐẢNG HỮU là như vâ.y.


2. Quyền XỬ DỤNG Công hữu
 Trên nguyên tắc nhân dân là Chủ hữu sở của Công hữu, nhưng nhân dân không có quyền xử dụng Công hữu bởi vì nhân dân là mọi người mà nếu mọi người cùng xử dụng thì là lo.an. Vì vậy chỉ có Đảng, đại diện nhân dân, được tòan quyền xử dụng mà thôi. Nhân dân có tiếng mà không có miếng. Một người mang tiếng là Chủ hữu sở mà lại không có quyền xử dụng vật sở hữu của mình, thì việc sở hữu trở thành vô nghĩa. Cá nhân, thành phần của nhân dân, mang tiếng là chủ hữu sở của Công hữu, nhưng không có quyền tự do xử dụng Công hữu.


3. Kinh tế KẾ HOACH TẬP QUYỀN sản xuất
 Tất cả mọi phương tiện làm ăn là Công hữu. Nhân dân, hay cá nhân không có quyền xử dụng công hữu, nên không thể nào có Kế ho.ach làm ăn tư nhân.Vì chỉ có Đảng có quyền xử dụng Công hữu, tất cả những phương tiện sản xuất, nên Kế ho.ach làm ăn chỉ có đảng bầy đặt ra. Đó là ý nghĩa của nền Kinh tế Kế ho.ach. Kinh tế này Tập trung bởi vì chỉ có Đảng được xử dụng những phương tiện sản xuất. Như vậy, nền Kinh tế Kế ho.ach Tập trung là Hệ luận hữu lý của chủ trương Công hữu, cái Tiền đề. Nhân dân chủ hữu sở phải tuân lệnh làm theo Kế ho.ach Nhà Nước. Không cá nhân nào có thể có sáng kiến khác làm ăn bởi vì nếu có sáng kiến đi nữa, thì cá nhân ấy cũng không có phương tiện thực hiê.n. Họ không có quyền tự do xử dụng phương tiện sản xuất. Những Kế ho.ach Tập quyền này không cho phép tự do sáng kiến cá nhân trong nền Kinh tế Cộng sản.
4. Kinh tế HOACH ĐỊNH BAO CẤP tiêu thụ
 Tại điểm này, Đảng mới tuyên truyền ý nghĩa xã hô.i. Cá nhân lao động theo khả năng. Ai mạnh khỏe thì vác đá nặng thay cho người yếu. Ai có tài giỏi, thì làm việc thay cho kẻ ngu dốt. Thật đúng là lý tưởng xã hội, hoặc có thể nói là lý tưởng nên Thánh của nhân dân. Nhưng khi tiêu thụ những kết quả sản xuất, thì phải theo nhu cầu cá nhân do Nhà Nước xét định và cung cấp. Nhân dân chỉ nhận được những phần tiêu thụ hầu như đồng đều theo kế ho.ach của Nhà Nước. Việc ho.ach định tiêu thụ này nhằm tránh người này xài sang hơn người kia, tránh việc cá nhân tiết kiệm để tạo tư hữu và dành phần thặng dư vào Công hữu cho Đảng xử du.ng.
 Nền Kinh tế Kế Ho.ach Tập trung, Hệ luận hữu lý của Tiền đề Công hữu, đã mang lại những thất bại mà chúng tôi đã nhiều lần gọi là Định mệnh nội tại của chủ trương Chính trị Cộng sản (Fatalite Politico-Economique) đã giải thể những chế độ ở Liên Xô và Đông Aâu. Những thất bại của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập quyền này gồm những điểm sau đây:
-> Cái thất bại thứ nhất là ở chính chủ trương Công hữu. Yù thức tư hữu là tự nhiên ở mỗi sinh vâ.t. Tư hữu là bản năng bảo vệ sinh tồn. Con Sóc cũng biết kiếm những hạt tích trữ giấu kín dành dụm cho Mùa Đông. Mỗi người phải tích trữ những phương tiện sống riêng tư, thủ thân. Cái quân bình, hay hòa bình giữa những cá nhân là ở chỗ không xâm phạm tư hữu chính đáng của người khác bởi vì chính mình không muốn người khác xâm phạm đến tư hữu của mình.
-> Cái thất bại thứ hai là người dân ý thức được rằng Đảng Cộng sản đã đánh đĩ hai tiếng nhân dân để nắm chủ quyền xử dụng Công hữu. Nhân dân chỉ là bình phong xảo quyệt để Nhóm Đảng Cộng sản tước đọat sở hữu và nắm trọn quyền định đọat cuộc sống của từng cá nhân, thành phần của hai tiếng nhân dân bù nhìn, rỗng tuếch.
-> Cái thất bại thứ ba của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập quyền là giết chết những sáng kiến sinh động cá nhân tự do. Dù cho cá nhân tự do sáng kiến đi nữa, nhưng không được xử dụng những phương tiện thực hiện sáng kiến, thì sáng kiến cũng chẳng mang lại hiệu quả bởi vì có thực hiện được đâu mà có hiệu quả. Trong một Công ty cũng vậy, nhất là những Công ty thuộc ngành nghiệp cao cấp kỹ thuật, tổ chức tập quyền là bóp chết sáng kiến và trách nhiệm cá nhân, và do đó hiệu năng thấp mà phí tổn tăng.
-> Cái thất bại thứ tư là nền Kinh tế Ho.ach định bao cấp giết chết động lực khuyến khích lao đô.ng. Người khỏe vác dùm đá nặng cho người yếu, đó là lời khuyên xã hội quá lý tưởng. Nhưng nếu người khác cứ gỉa vờ yếu để đùn việc nặng cho người khác, thì đó là nguồn làm cho những người khỏe trở thành ù lì ra. Cái chế tài cũng như cái khuyến khích lao động nằm ở sự được hưởng những kết quả của lao đô.ng. Người làm việc cả ngày theo khả năng mà chỉ được hưởng theo nhu cầu đồng đều như một đảng viên phất phơ chỉ tay một ngón, thì người đó cũng chán nản hết muốn cố gắng làm viê.c. Xin chú thích là chỉ tay năm ngón còn lịch sự, nhưng chỉ tay một ngón là ra lệnh độc đóan.
-> Cái thất bại thứ năm của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập trung dựa trên Công hữu là việc biển thủ và lãng phí Công hữu. Cha chung không ai khóc. Đó là thái độ lãng phí tự nhiên của những kẻ không có quyền. Nhưng về những người có quyền hành nằm trong tay, đồng thời có quyền xử dụng Công hữu và quyền định đọat Kế ho.ach, thì việc cướp của Công làm của riêng là điều hiển nhiên.
-> Cái thất bại thứ sáu là Đảng Cộng sản đã độc đóan lấy tòan diện năng lực Quốc gia để phục vụ chủ trương chính trị bang nhóm của họ. Chúng tôi đã nhiều lần phân biệt rằng Dân tộc Việt Nam như nước dòng sông chảy triền miên bất tận, trong khi ấy những khuynh hướng chính trị chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước sống, khi nhô lên, khi thấp xuống hoặc biến hẳn. Bang nhóm chính trị Cộng sản đã ép buộc dòng nước sông phải phục vụ cho làn sóng lăn tăn. Đó là chủ trương độc đóan, muốn những làn sóng khác biến đi, đó là nguồn gây chia rẽ Dân tô.c. Chủ trương độc đóan ấy không thể tồn tại vì nó đi ngược với sự tự nhiên.
 Cái kết quả của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập quyền, với những thất bại chính yếu vừa kể trên đây, tất nhiên đưa đến thối lui Kinh tế, làm cho Dân chúng đói nghèo mà Đảng Cộng sản bất lực không giải quyết được nếu vẫn khư khư giữ lấy chủ trương chính trị và kinh tế như vâ.y. Cô gái vị thành niên từ Bến Tre lên Sài gòn bán thân kiếm sống, những cô gái quê Hà Đông về Hà Nội ngêu ngao Karaôkê là hậu quả tất nhiên của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập trung mà Đảng Cộng sản Viê.t-Nam cố thủ  áp đặt lên đầu Dân tộc mà họ gọi là nhân dân.



Từ Tiền đề TƯ HỮU đến Kinh tế Tự do Thị trường
và những  giải quyết cho vấn đề then chốt là đói nghèo


 Chúng tôi lấy lại những điểm đã được trình bầy tuần tự trong phần Kinh tế Kế hoạch Tập trung để quý Vị tiện bề so sánh hai nền Kinh tế.


1. Tiền đề TƯ HỮU
 Tư hữu là bản năng tư nhiên của những sinh vật kiếm sống và bảo tồn sự sống của mình từ khi sinh ra cho đến khi chết. Con Sóc biết kiếm hột dấu kỹ cho mình phòng Mùa Đông la.nh. Xem những phim về súc vật, chúng ta thấy những con vật đã đi tiểu tiện vòng vòng ở một khu đất để cho đồng loại khi ngửi mùi nước tiểu ấy thì biết rằng đây là vùng đất đã bị chiếm hữu. Loài vật từ bản năng biết chia ranh giới khu vực tư hữu.
 Cộng sản chủ trương Công hữu, nhưng không thể đi đến chỗ khẳng định dứt khoát rằng thân xác của mỗi người là công hữu. Tôi muốn bắt đầu quyền tư hữu bằng tư hữu chính thân xác của tôi. Cộng sản chưa dám nói rằng thân xác của một nữ cán bộ của Đảng là công hữu, bởi vì nếu thân xác của nữ cán bộ này là công hữu, thì Đảng có quyền quyết định xử dụng thân xác của cô, quyết định dùng thân xác của cô  làm hộ lý tùy theo Kế hoạch của Đảng.
 Khi thân xác của tôi thuộc về tôi, thì tôi phải lo lắng tìm phương tiện bảo tồn nó. Tôi phải có quyền tư hữu tối thiểu một số phương tiện giúp tôi kiếm sống.
 Về phương diện này, một trong những Thông điệp quan trọng của Tòa Thánh Vatican về Học thuyết Xã hội đã lấy tên là Tư hữu, trong đó quyền tư hữu không phải là điều chủ trương mà là quyền tự nhiên.


2. Quyền XỬ DỤNG Tư hữu
 Khi chấp nhận quyền Tư hữu, thì hệ luận trực tiếp là Chủ hữu sở phải có quyền xử dụng tư hữu ấy. Nói cho tư hữu mà không cho quyền xử dụng, thì đó là nghịch lý, không phải là quyền tư hữu nữa. Trong sự tôn trọng tư hữu của người khác, Chủ hữu sở phải có quyền tự do xử dụng những phương tiện tư hữu của mình để làm ăn kiếm sống, bảo tồn thân xác của mình. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, đây là cái quyền tự do kinh doanh (Libre entreprise).


3. Kinh tế TỰ DO KINH DOANH sản xuất
 Như trên vừa nói, nền Kinh tế Tự do kinh doanh chỉ là cái hệ luận tiếp theo của sự chấp nhận quyền Xử dụng Tư hữu gắn liền với bản năng tư hữu tự nhiên. Mỗi cá nhân có quyền xử dụng những phương tiện sản xuất tư hữu của mình đề lo kiếm sống. Nhà Nước không được can thiệp vào công việc mưu sống này của tư nhân bởi vì sự mất còn của kinh doanh là sự mất còn của tư hữu, chứ không phải là công hữu. Những luật lệ của Nhà Nước phải hướng về phía tích cực là tạo những điều kiện cho sự phát triển tự do kinh doanh. Nhà Nước đứng quan sát sự phát triển tự do kinh doanh và là trọng tài để giữ quân bình giữa những đơn vị tư doanh. Quan niệm về vị trí của Nhà Nước như vậy đã được khai triển bởi những Nhà Kinh tế cổ điển Anh (les Classiques Anglais) như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Sau đó dưới sự thúc đẩy của khuynh hướng Xã hội, Nhà Nước được tăng một chút quyền, nhưng chỉ ở phạm vi cho ra những Chỉ đạo chung (Directives générales), chứ không có quyền can thiệp (Intervention) vào nội bộ Kinh tế tư doanh. Nói một cách nôm na rằng tiền vốn là của người ta, để cho người ta làm ăn. Nếu Nhà Nước can thiệp vào để bó buộc cách thế làm ăn, người ta bị thua lỗ, mất vốn, Nhà Nước có thường tiền cho người ta hay không ?


4. Kinh tế TỰ DO tiêu thụ cá nhân
 Việc tự do tiêu thụ cũng đến từ cái quyền tư hữu những sản phẩm. Khi cá nhân xử dụng vốn tư để làm ăn sinh lời, thì tư nhân có quyền thụ hưởng cái kết quả do mình làm ra. Cái quyền được tự do chiếm hữu những kết quả làm ăn là động lực căn bản của nền kinh tế tự do sản xuất. Không có cái quyền tư hữu những kết quả sản xuất này, nền kinh tế sẽ bị tê liê.t. Nếu những kết quả của những cố gắng sản xuất lại bị bó buộc nhường cho người khác, thì chẳng ai muốn cố gắng làm việc nữa. Nếu chịu khó dùng vốn tư của mình để làm ăn, thua lỗ thì tư nhân ráng chịu, còn nếu khi được lời thì lại phải bó buộc nộp cho Nhà Nước tiêu xài, thì chẳng ai muốn làm việc nữa. Việc san sẻ những lợi tức mà cá nhân kiếm được chỉ là những lời khuyên, cổ võ, chứ không phải là việc bó buộc, chế tài.


5. Kinh tế THỊ TRƯỜNG
 Thị trường chỉ là hậu quả của cá nhân tự do kinh danh sản xuất và cá nhân tự do tiêu thụ. Người ta gọi đó là CHỢ (Economie de Marché). Thay vì lấy uy quyền và Kế hoạch của Nhà Nước để điều hợp Kinh tế, thì cái CHỢ làm công việc điều hợp này giữa CUNG từ sản xuất và CẦU từ tiêu thụ. Với bảo đảm của  một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Assurance de l’Environneme Politico-Juridique adéquat) Cái CHỢ là nơi thể hiện thực sự quyền TỰ DO và quyền DÂN CHỦ cụ thể nhất. Nhà Nước chỉ đứng ở thế làm trọng tài nếu có những vi phạm luật chợ giữa những cá nhân, nhưng chính những cá nhân tự do cung, tự do cầu mới là những chủ lực giữ sự quân bình của nền Kinh tế tôn trọng Thị trường. Cái CHỢ thay thế cho Kế hoạch của Nhà Nước trong nền Kinh tế Thị trường. Còn đối với nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Nhà Nước ngồi chình ình ra ở Chợ, bó buộc những cá nhân sản xuất, những cá nhân tiêu thụ mang hàng quà đến để Nhà Nước quyết định chia cho chút ít hay là chiếm trọn gói cho Nhà Nước. Một nền Kinh tế như vậy, thì không ma dại nào làm hùng hục để mang kết quả đến cho Nhà Nước hưởng.
 Nhìn vào hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như vừa trình bầy ở trên, chúng ta nhận thấy những điểm sau đây:
-> Lợi điểm thứ nhất của nền Kinh tế này là một sự khuyến khích cố gắng làm việc bởi vì cá nhân có quyền tư hữu những kết quả của công việc làm của mình. Thực vậy, làm việc mà bỏ chung vào để người khác cùng hưởng, thì đó là sự khuyến khích lười biếng. Nhưng nếu những kết quả làm việc thuộc về mình, thì mình cố gắng làm việc đêm ngày. Anh SAMPRAS chơi Tennis, nếu những giải phải bỏ chung vào để Nhà Nước tùy nghi phân phối cho người khác, thì có lẽ anh hết cố gắng tập luyện đêm ngày nữa. Các cô bán hàng người Nga trong chế độ Liên xô, rất đẹp, trường túc, nhưng rất tiếc là thiếu nụ cười, bởi vì có cố gắng cười với khách hàng thì Nhà Nước cũng chẳng thêm cho đồng lương. Kinh tế Tự do Thị trường tạo điều kiện tự nhiên tăng năng suất rất cao.
-> Lợi điểm thứ hai là việc cổ võ Tiết kiê.m. Tiết kiệm là tiến trình đi đến độc lập của một nền Kinh tế và cũng cho một Quốc gia nữa. Điều kiện của Tiết kiệm là phải tôn trọng Tư hữu, hay nói cách khác quyền Tư hữu khuyến khích Tiết kiê.m. Thực vậy không ai dành dụm để dâng tiền cho Nhà Nước (Công hữu) xài. Tất cả các nước Xã hội Chủ nghĩa  không những thiếu vốn mà còn thiếu nợ, bởi vì không ai tiết kiệm cả. Họ nói là có độc lập, nhưng tôi không tin bởi vì nghèo quá phải đi ăn mày, người giầu sẽ đặt điều kiện cho lời tuyên bố độc lập của họ. Nền kinh tế tôn trọng Tư hữu cổ võ tiết kiê.m. 
-> Lợi điểm thứ bagiảm thiểu Lãng phí. Thực vậy, Lãng phí là tình trạng’’Cha chung không ai khóc’’, ’’Tiêu xài tiền Chùa’’,’’Xài tiền người khác chứ không phải của mình’’. Xin nhớ rằng Đồng tiền liền với khúc ruô.t. Khi đồng tiền là tư hữu, thì Chủ hữu sở biết căn cơ, không lãng phí. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, người ta còn khuyến khích cho những tư nhân tiêu xài lãng phí để tăng tiêu thụ, kích thích sản xuất. Chỉ có trong nền Kinh tế với Công hữu mới có hiện tượng kêu gọi chống lãng phí.
-> Lợi điểm thứ tư là có sự kiểm soát phanh phui Tham nhũng. Thực vậy, Tham nhũng có cả ở trong hai nền Kinh tế. Tham nhũng ở đâu cũng giống nhau, nhưng cái khác nhau là trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường, người ăn tham nhũng dễ bị phanh phui lật tẩy bởi vì có tự do báo chí, có sự đối lập về quyền hành, có sự trừng phạt của Luật pháp đồng đều, có sự phản kháng của chính cá nhân cho tham nhũng; trong khi ấy ở nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, việc tham nhũng có quyền hành bao che và dễ trở thành định chế, không có đối lực phanh phui. 
-> Lợi điểm thứ năm và rất quan trọng là trong hệ thống Tổ chức của nền Kinh tế Tự do Thị trường, chất xám của Nhân lực được nâng đỡ phát triển. Thực vậy, hệ thống tổ chức quyền hành theo kiểu Cấp bậc tập trung Kim tự tháp (Organisation hierarchique pyramidale) chỉ áp dụng cho sản xuất những sản phẩm thô sơ với nhân công rẻ và ở trình độ kiến thức thấp. Chúng ta ở vào thời đại mà những phương tiện truyền thông, giáo dục, thông tin được chuyển đi với tốc độ siêu thanh. Kỹ thuật tiến triển theo cấp số nhân. Kiến thức, chất xám được thu thập mau lẹ. Những sản phẩm trở thành tinh vi và phúc ta.p. Trong một khung cảnh tiến hóa của thời đại như vậy, tổ chức Trung ương Tập quyền theo kiểu Tổ chức Cấp bậc Kim tự tháp cho Nhân lực đầy chất xám và cho sản phẩm tinh vi là một việc làm phản tiến bộ. Nhất là thêm vào đấy, tính cách độc quyền, sự áp đặt của Kế hoạch được trợ lực bởi Công an khủng bố là việc làm tiêu diệt kiến thức và những sinh động sáng tạo của nó. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng sự tiến bộ này của chất xám cá nhân. Những khuôn mẫu Tổ chức phân quyền hoặc theo Nhóm trách nhiệm (Organisation décentralisée modulaire/ Organisation par Groupes Responsables) được áp dụng để nâng đỡ tối đa sự tiến bộ của chất xám.



KẾT LUẬN: Con đường giải thể chế độ Cộng sản

 Trình bầy hai nền Kinh tế như trên, chúng tôi muốn nói rằng cuộc đấu tranh ngày hôm nay, không phải là việc xung động tình cảm nhất thời, mà là một sự cố gắng tìm kiếm một con đường, trong sự phân tích bình thản của lý trí, nhằm tôn trọng những quyền căn bản làm người của Dân Việt và nhằm sự phát triển nền Kinh tế đất nước. Việc phát triển Kinh tế này cốt ý giải quyết cấp bách tình trạng đói nghèo hiện nay, đồng thời nhắm sự phát triển tương lai cho Nước Việt sánh kịp với những nước khác trong vùng.
 Bộ Chính trị Đảng, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải và Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng loạt khẳng định sự chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Dân Việt ghi nhận lời khẳng định này. Chúng tôi cùng Dân đấu tranh để Đảng và Nhà Nước phải tôn trọng lời khẳng đi.nh. Việc đấu tranh của chúng ta là nhất thiết đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải thi hành đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự.
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng đi.nh. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà:

1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
(Chúng tôi sẽ trình bầy trong những số báo tới về sự phù hợp như thế nào của từng điểm  trên đây đối với đòi hỏi của nền Kinh tế Tự do và Thị trường) 

 Dân Việt, trong cũng như ngoài nước đấu tranh đòi hỏi những điều trên đây là việc làm giúp đỡ Đảng và Nhà Nước có can đảm thực hiện điều mong ước của chính Đảng và Nhà Nước. Cộng sản và những người bồi Cộng không có quyền nói rằng cuộc đấu tranh hôm nay là chống lại Nhà Nước hiện hành. Đảng và Nhà Nước đã công khai chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường, thì Dân yêu cầu  Đảng và Nhà Nước thực hiện cho đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Dân xin nhắc cho Đảng và Nhà Nước biết rằng mỗi một nền Kinh tế có một Môi trường Chính tri—Pháp lý phù hợp riêng. Không thể làm tréo cẳng ngỗng, không thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia.
 Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà Đảng và Nhà Nước đã long trọng chấp nhận chỉ có thể có khi mà Đảng và Nhà Nước thực hiện 5 điểm vừa liệt kê trên đây.  
 Làm theo yêu cầu chính đáng của Dân trong việc thực hiện đúng đắn một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp với nền Kinh tế Tự do và Thị trường , tức là Đảng Cộng sản  tự làm công việc giải thể chế độ hiện hành của mình trong êm dịu. 
 Dân cũng yêu cầu Quốc hội giúp đỡ Đảng để làm công việc giải thể chế độ này trong êm dịu.
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI:
XÓA BỎ ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH.
 Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.
Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện:

1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Bài này bàn về đòi hỏi XÓA BỎ ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP với những điểm như sau:
=> Những đặc tính căn bản của một Công ty Tư bản Tư doanh
=> Điều 4 của Hiến Pháp không phù hợp với những đặc tính căn bản của Công ty Tư bản Tư doanh


Những đặc tính căn bản
của một Công ty Tư bản Tư doanh 

Đơn vị tác động trong một nền Kinh tế là Công ty hợp lại do những tư nhân, bằng sự góp vốn tư, với quyền tự tổ chức, gọi là Xí nghiệp tư doanh tư bản, hay Công ty do Nhà Nước đứng ra tổ chức, với vốn do Nhà Nước cung cấp, gọi là Xí nghiệp quốc doanh.
 Chúng tôi chỉ bàn ở đây Công ty tư bản tư doanh.
Trong một số báo trước, chúng tôi đã viết về những Đặc tính căn bản này. Hôm nay chúng tôi nhắc lại đây vì là điều cần thiết để chứng minh rằng việc đòi hỏi xóa Điều 4 của Hiến Pháp là một đòi hỏi Kinh tế chứ không nguyên là một đòi hỏi chính trị. Đê trình bầy những Đặc tính căn bản này, chúng tôi bắt đầu định nghĩa một Công ty Tư bản để từ định nghĩa ấy, rút ra những Đặc tính căn bản.
 Đã từ lâu, chúng tôi chọn câu định nghĩa sau đây:
’’Xí nghiệp tư bản là một TỔ CHỨC, TỰ TRỊ VỀ TÀI CHÁNH, giới thiệu NHỮNG SẢN PHẨM KINH TẾ trên THỊ TRƯỜNG để trao đổi, nhằm mục đích đạt được LỢI NHUẬN tối đa’’
 Từ câu định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra những Đặc đính và Điều kiện sau đây:

1. Xí nghiệp phải có tự trị TỔ CHỨC
 Xí nghiệp là một tổ hợp gồm chính yếu Nhân lực (Labor) và Vốn (Capital). Nhân lực chỉ gồm sức làm việc của người, chứ không được bao gồm vào đó sức làm việc của bất cứ loài vật nào như Trâu, Bò, Ngựa, Voi... vân vân. Sự phân biệt này dựa trên điểm căn bản là Người có trí khôn để có thể có tiến bộ làm tăng hiệu lực lao động của mình, trong khi ấy tất cả sức làm việc của các loài vật khác dù có mạnh hơn người nhiều, nhưng không có trí khôn để sáng tạo những tiến bộätừ kỹ thuật đến phương pháp làm hành động. Việc phân biệt này rất quan trọng ở chỗ nếu một tổ chức mà không nâng đỡ sự tiến bộ tự do của trí óc con người, thì tổ chức ấy làm hại chính hiệu năng sản xuất.
 Vốn (Capital) được định nghĩa bao gồm tất cả những phương tiện sản xuất khác không phải là Nhân lực: máy móc, dụng cụ, các loài vật làm chung với người...
 Để có thể gọi một Xí nghiệp là có TỔ CHỨC, cần phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:
a. Định MỤC ĐÍCH của tổ hợp hoạt động, dù ngắn hạn hay dài hạn.
 Không thể gọi là Xí nghiệp nếu tổ hợp hoạt động gồm người và vốn cùng làm việc mà mỗi đơn vị nhìn một hướng khác nhau. Việc định Mục đích này phải được thực hiện trong nội bộ của Xí nghiệp, nghĩa là không được có một áp lực nào của ngoại tại, với mục đích khác, xen lấn vào để áp đặt.
b. PHÂN CÔNG làm việc
 Việc phân công dựa trên khả năng của mỗi đơn vị làm việc trong tổ chức. Trong khi phân công, Xí nghiệp luôn luôn lấy điểm đối chiếu là cái Mục đích đã đặt ra ở trên. Tỉ dụ nếu một đơn vị trong tổ chức, cùng nhận công tác làm việc, nhưng lại mang mục đích kiểm soát nhằm phục vụ mục đích của Tổ chức khác,  thì không thể chấp nhận được. Cũng vậy, nếu một người thiếu khả năng cần thiết cho Tổ chức, nhưng vì là con ông, cháu cha mà được đặt vào chỗ làm việc của Tổ chức, thì hiệu năng của Tổ chức bị giảm sút.
c. ĐIỀU HỢP công việc của các đơn vị.
 Từ mục đích cùng đặt ra, sự Phân công làm việc được hoặch định. Nhưng công việc được chia ra mà không có sự ĐIỀU HỢP vào một nhịp điệu ăn khớp với nhau, thì cũng không đạt được hiệu năng của Tổ chức. Sự cần thiết điều hợp này đòi hỏi phải có Ban Điều hành.
d. KIỂM ĐIỂM việc thi hành (Feedback)
 Việc kiểm điểm này cũng phải lấy Mục đích làm điểm quy chiếu và lấy hệ thống Điều hợp làm căn cứ sửa chữa. Kiểm điểm đây không có nghĩa là kiểm soát để chế tài, mà là để chỉnh đốn lại (feedback) những hoạt động đơn vị cho phù hợp với hệ thống điều hợp để đạt mục đích đã định.
 Với tất cả những điều kiện của tổ chức như trên, chúng ta thấy rằng cái quyền Tự Trị là một điều kiện bất khả xâm phạm của một Tổ chức nếu Tổ chức muốn đạt được hiệu năng tối đa.

2. Tự trị về TÀI CHÁNH
 Về phương diện kinh tế, cái quyền lực đến từ đồng tiền. Mức độ độc lập của một Tổ chức được đo bằng mức độ tự trị về tiền bạc. Nhân điểm này, chúng ta cũng có thể hiểu rằng, một nước nghèo về kinh tế rất khó giữ được sự độc lập về chính trị.
 Khi khởi đầu một Xí nghiệp, Tổ chức có ít quyền tự trị vì phải lệ thuộc vào những ảnh hưởng của những người nắm Tín dụng. Cố gắng liên tục của một Xí nghiệp tư bản là tần tiện để tạo sự tự trị về tài chánh. Thực vậy, không có tự trị về tài chánh, thì Xí nghiệp không có những mạnh dạn để quyết định Mục đích của mình.
 Chúng tôi nghĩ đến một Công ty quốc doanh với tài chánh lệ thuộc vào quyết định của Nhà Nước, của Đảng, nghĩa là của quyền lực chính trị ngoại tại, thì Công ty ấy khó lòng có khả năng đặt những mục đích sáng tạo của mình.

3. Giới thiệu SẢN PHẨM KINH TẾ trên Thị trường để trao đổi
 Để có thể gọi một sản phẩm là SẢN PHẨM KINH TẾ thuần túy, cần phải có những điều kiện sau đây:
a. Tính cách Hiếm có của sản phẩm
 Chính cái tính hiếm có của sản phẩm tạo cái giá trị nội tại của sản phẩm. Phải để cho Xí nghiệp tự do đặt vào sản phẩm sự cá biệt để tạo tính hiếm có của sản phẩm. Sự hiếm có này làm cho Kinh tế Thị trường có tính cách đa diện của mặt hàng khác nhau theo với óc sáng tạo của mỗi Xí nghiệp.
b. Tính cách có thể Trao đổi của sản phẩm
 Đây là tính chất của mặt hàng phù hợp với nhu cầu của người tiêu thụ. Thị trường là nơi trao đổi sản phẩm, nghĩa là phải có số đông muốn mua hàng của mình. Chính bản chất của sản phẩm tự nó tạo nên Thị trường rồi. Sản phẩm nhằm người mua và người mua có quyền tự do chọn lựa, không bị những ảnh hưởng ngoài ý muốn của mình.
 Xin lưu ý rằng trong câu định nghĩa, chúng tôi dùng chữ  giới thiệu sản phẩm để nêu rõ tính cách tôn trọng tự do, tôn trọng việc tự quyết định tiêu thụ của khách hàng. Kỹ nghệ gia hay Thương gia không có quyền xử dụng quyền lực của mình hay của ai khác để bắt ép khách hàng phải mua. Họ chỉ có quyền giới thiệu sản phẩm của mình lên Thị trường, còn việc mua hay không là do quyền tự do chọn lựa của người tiêu thụ. Về điểm này, trong những chế độ độc tài, có rất nhiều vi phạm.

4. THỊ TRƯỜNG
 Thị trường là nơi gặp gỡ tự do để người bán giới thiệu sản phẩm và người mua tự do quyết định trao đổi. Những quyết định về giá cả phải theo luật tự do cung cầu ở Thị trường. Thị trường là nơi tượng trưng cho việc thể hiện tự do của mỗi cá nhân về mặt làm ăn kinh tế. Khi nói Kinh tế Thị trường là nói đến tự do cá nhân trong việc quyết định quyền làm ăn của mình. Thị trường là động cơ điều hợp cuộc sống Kinh tế . Nó là nơi thể hiện cụ thể cái ý nghĩa Dân chủ trong việc điều hành Kinh tế quốc gia. Để hiểu hơn về ý nghĩa Dân chủ của Thị trường, chúng tôi muốn nói đến nền Kinh tế Tập trung Chỉ huy hoặc Kinh tế Kế hoạch (Economie dirigiste ou Economie des Plans). Trong nền kinh tế này, tất cả quyền quyết định sản xuất hay tiêu thụ phải theo sự chỉ dẫn hoặc kế hoạch của Trung ương Nhà Nước, của Đảng và Bộ Chính trị. Nền kinh tế ấy tất nhiên phản lại tự do cá nhân và dân chủ.

5. LỢI NHUẬN tối đa
 Đây là lợi nhuận kinh tế, tài chánh, nghĩa là ’’tiền bạc’’, chứ không phải là lợi nhuận về xã hội, về luân lý hay đạo đức. Người làm Kinh tế  nhằm mục đích tối hậu của mình là kiếm được càng nhiều càng hay về  ’’tiền bạc’’. Khi còn nghèo, làm kinh tế để cho bụng no. Khi đã có đồng ra đồng vào, thì làm kinh tế để có được nhiều tiện nghi hơn, để cho đời sống của mình và của con cháu mình được bảo đảm trong hiện tại và cho tương lai.
 Ý thức hệ Cộng sản đã bắt người làm kinh tế phải phục vụ cho nhóm đảng Cộng sản, nghĩa là mục đích tối hậu là phục vụ chính trị, mà là chính trị phe đảng chứ không phải của toàn dân. Sự ép đặt này của Cộng sản dẫn đến kiệt quệ về kinh tế, và tình trạng đói bụng này của Dân đã là động cơ chính yếu làm cho chế độ Cộng sản Liên xô và những nước Đông Aâu phải tự giải thể. Suốt 27 năm trường không chiến tranh, Cộng sản Việt-Nam đã làm cho Dân ’’đói nghèo’’ để đến nỗi Nha Nướcø phải đi năn nỉ lòng thương hại của những nước khác để họ cho vay qua World Bank cho việc ’’xóa đói giảm nghèo’’ của nước mình. Họ đã bắt Dân làm ăn, không được nhìn mục đích kinh tế, mà phải nhìn và phục vụ chính trị của Đảng Cộng sản.


 
Điều 4 của Hiến Pháp không phù hợp với
những đặc tính căn bản của Công ty Tư bản Tư doanh

Điều 4 của Hiến Pháp dành quyền quản trị Đất Nước cho một Đảng duy nhất, đó là Đảng Cộng sản Việt-Nam. Cái độc quyền này, dù được trao phó một cách dân chủ, hoặc do sự ’’đánh đĩ’’hình thức dân chủ hay do sự cưỡng chế chiếm quyền bằng khủng bố, thì vẫn là điều không phù hợp với việc thi hành và phát triển những đặc tính căn bản của một Công ty Tư bản Tư doanh như vừa trình bầy trên đây. Xin lưu ý là trong bài này, chúng tôi chỉ nói trong bình diện hòan tòan Kinh tế, chứ không đề cập vấn đề ở phạm vi Chính trị.
 Chúng tôi lần lượt trình bầy những điều không phù hợp đối với những đặc tính.

1. Tự trị về TỔ CHỨC 
 Trong một chế độ dành độc quyền cho Đảng CSVN, Đảng luôn luôn tìm đủ một thủ đọan để củng cố quyền hành của mình. Việc đầu tiên của Đảng là chủ trương gài người vào trong bất cứ một Tổ chức nào, dù đó là những Tổ chức Tôn giáo, Giáo dục, Văn hóa, Xã hội hoặc ngay cả Thể thao. Gài người vẫn chưa đủ, Đảng còn dành quyền phê chuẩn, chế tài những việc chỉ định quyền hành trong nội bộ của những Tổ chức. Việc làm này của Đảng nhằm mục đích làm cho tất cả các Tổ chức phải ủng ho hoặc tối thiểu không phản đối cái quyền độc đóan của mình do Điều 4 của Hiến Pháp cho phép.
 Nhìn vào thực tế hình thành những Công ty tư nhân hiện nay ở Việt-Nam. Trong giai đọan đầu của chính sách Đổi Mới và cởi mở, một số Công ty nước ngòai và một số Tư nhân Việt Nam từ Hải ngọai muốn mở cơ sở làm ăn.
 Những can thiệp độc đóan của Nhà Nước đã làm cho đợt này thất bại. Chúng tôi vẫn nhớ lời nhận xét của Oâng Lãnh sự Thụy sĩ tại Việt-Nam khi Oâng cho ý kiến cho giới Kinh doanh Thụy sĩ tại Zurich:’’L’euphorie des entreprises vietnamiennes tombe’’(Sự hồ hởi trổ bông của những Công ty Việt Nam rụng xuống). Trong thời gian này, chúng tôi cũng đại diện cho một Tập đòan Tài chánh Hoa kỳ để làm việc về tài chánh với một số Công ty, nên đã có dịp nhận xét những thất bại của việc hình thành này do chính tính cách độc đóan của chế độ.
 Chúng tôi chỉ nói đến các Công ty  hòan tòan tư nhân và điều hành bởi người Việt Nam.
 Giới Việt kiều về làm ăn, nhưng tất nhiên không thể mang về trường vốn. Những việc can thiệp sau đây vào Tổ chức tư doanh đã làm cho một số đông những người này mất vốn ra đi. Việc đầu tiên là xin Giấy phép: tòan bộ hành chánh rất phức tạp và chậm chạp. Một Công ty cho tôi xem hồ sơ và nói rằng họ phải xin đến con dấu thứ 24 mà vẫn chưa ổn công việc. Lý do của sự phức tạp là Đảng phải nghĩ ra đủ mọi cơ quan hành chánh để xếp chỗ làm việc cho đảng viên. Sự chậm chạp là mỗi cơ quan giữ quyền tìm cách bới lá tìm sâu trong các hồ sơ để tìm cớ đe dọa đổi lấy tiền hối lộ. Một số người thuộc Chính quyền trước năm 1975 còn bị bới móc luôn về phương diện chính trị. Đây là chính câu chuyện bản thân tôi gặp phải. Khi tôi đại diện Tập đòan Tài chánh về để nói chuyện về Dự án Kho hàng tại Biên giới Tân Thanh (Đồng Đăng). Oâng Tổng Lãnh sự tại Thụy sĩ khuyên tôi lấy Visa Du lịch cho mau hơn. Về ở một Khách sạn tại Hà Nội. Ngày hôm sau, công an điện thọai đến Khách sạn hẹn gặp tôi. Tôi báo tin cho Oâng Nguyễn Ngọc Lương, cựu Tổng Lãnh sự tại Geneve và làm Đại diện cho tôi tại Hà Nội. Vừa báo tin cho Oâng ấy biết, Oâng phải chạy ngay đến Khách sạn để ngồi chờ vì Oâng nói với tôi rằng Oâng không muốn những người công an ấy đưa tôi đi nơi nào khác ngòai Khách sạn. Khỏang 11 giờ sáng, hai công an đến Khách sạn và tuyên bố rằng chính lẽ họ yêu cầu tôi đến sở Công an để làm việc, nhưng vì nể tôi là một Giáo sư ở nước ngòai, nên họ đến tận Khách sạn. Họ nói cho tôi biết là tôi mang Visa Du lịch, không được quyền nói về Tài chánh. Tất cả những bới móc tìm kiếm lý do để can thiệp vào những công chuyện làm ăn khiến những tư nhân nản lòng. Nhiều người mang vốn về làm ăn, mới ngồi chờ đợi, chạy chọt các cơ quan hành chánh phức tạp, xin xong được Giấy phép, thì số vốn mang về đã hết hơn một nửa.
 Một số những tư nhân ở Việt Nam đứng ra làm ăn. Họ có thể lo liệu những Giấy tờ hành chánh mau hơn vì phần lớn hoặc là con ông cháu cha trong Đảng, hoặc là quen thân với Đảng, hoặc chính họ là cựu Đảng viên. Những người này lo liệu Giấy phép mau hơn, nhưng lại không có vốn. Họ xin vay vốn Nhà Nước qua 5 Ngân Hàng Thương Mại thuộc Nhà Nước. Nhà Nước nắm vốn, thì tất nhiên vốn là nguồn để tổ chức Công ty lệ thuộc vào Nhà Nước. Không thể có tự trị khi mà người khác nắm vốn, tức là nắm mạch tim của mình. Chính nơi những Công ty của lớp người này mà đã xẩy ra nhiều những vụ hè nhau ăn cướp tiền của công. Những người làm Ngân hàng bị khiển trách, mất chức, những Công ty tuyên bố sạt nghiệp, nhưng những người này ăn cánh với nhau để cướp của công.
 Khi xin Giấy phép xong rồi, thì việc tổ chức làm ăn còn gặp rất nhiều những can thiệp của quyền hành ngọai tại. Oâng Nguyễn Quang A, một cựu Sinh viên phía Đông Aâu, về mở một Công ty Điện tóan. Trong bữa ăn ’’ốc thuốc bắc’’ bên bờ Hồ Tây, ông nói với sự bực tức rằng:’’Trong cái xã hội làm ăn hiện nay, thằng nào làm ăn mà nhô đầu lên cao hơn những thằng khác, thì có cái máy chém quyền lực quay ngày đêm trên đầu mình và chém đứt cái đầu nhô lên.’’Thực vậy, cái độc đóan về quyền lực lúc nào cũng sẵn sàng xen vào Công ty bằng cách xếp cho con ông cháu cha làm việc, gây khó khăn để kiếm chác, lấy danh nghĩa giúp Mẹ chiến sĩ, Thương phế binh, Trẻ mồ côi...để xin tiền ủng hộ có tính cách bó buộc mà một phần những tiền ủng hộ này lại không đến tay những Mẹ chiến sĩ vân vân.
 Đối với những Tổ chức Tôn giáo, Văn hóa, Xã hội..., Đảng can thiệp vào tính cách tự trị của tổ chức vì Đảng, về mặt tiêu cực, cố ý cầm chân những Tổ chức để không phản đối họ; và, về mặt tích cực, Đảng xử dụng những Tổ chức để ủng hộ Chính trị độc đóan của Đảng như tỉ dụ Phái đòan Tôn giáo mới sang Hoa kỳ trong tháng 5 vừa rồi.
 Đối với những Công ty Tư doanh, sống trong chế độ độc quyền cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp, những Đảng viên với quyền hành, từ lớn đến nhỏ, can thiệp tổ chức của những Công ty Tư doanh, gây khó khăn, với mục đích không tất nhiên là để ủng hộ chế độ, nhưng chính yếu là những người có quyền lực muốn kiếm chác nồi cơm lớn nhỏ cho chính bản thân mình.
 Chúng ta có thể khẳng định rằng tất cả những tư nhân, trong cũng như từ ngòai về, khi tổ chức làm ăn ở Việt-Nam, đều cảm thấy cái sức ép can thiệp của quyền lực chính trị độc đóan vào nội bộ làm ăn của mình. Cái quyền lực độc đóan được Điều 4 của Hiến Pháp cho phép. Hòan tòan đứng ở phương diện Kinh tế mà nói, khi cái Điều 4 này còn nằm chình ình ở trong Hiến Pháp, thì sự vi phạm của quyền lực chính trị vào tính cách TỰ TRỊ của tổ chức một Công ty Tư bản Tư doanh không thể tránh được. Phải xóa bỏ Điều 4 của Hiến Pháp vì nhu cầu thực hiện đích thực nền Kinh tế Tự do và Thị trường, trong đó những Công ty Tư bản là những đơn vị chủ chốt của nền Kinh tế.

2. Tự trị về TÀI CHÁNH  
 Vốn tư là do Tiết kiệm. Tiết kiệm là một phần của thu họach dành dụm ra ngòai việc chi tiêu. Tiền tiết kiệm như vậy cũng là do công sức làm việc kiếm tiền. Người ta thường nói rằng:’’Kiếm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn’’. Thực vậy việc tiêu tiền trong tư doanh là với chủ ý làm tiền được nhiều hơn số mình đã tiết kiệm và dùng để kinh doanh. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng người bỏ vốn ra để kinh doanh muốn làm chủ cái số vốn để tự mình trách nhiệm về sự mất còn, chứ không muốn bỏ mồ hôi nước mắt ra để những người không bỏ vốn có quyền quyết định trên cách thế làm ăn. Người bỏ vốn muốn có sự tự trị.
 Đối với một Công ty, việc độc lập của những quyết định cách thế làm ăn tùy thuộc vào sự độc lập của Tài chánh. Thực vậy, trong một Công ty nặc danh hùn vốn, ai có nhiều tiền hùn vào là người đó có quyền, không cần phải xét người đó khôn ngoan, thông minh hay mát dây điện. Nó khờ khạo, nhưng nó có nhiều tiền đóng góp, thì nó có quyền, không cần phải cãi vã lý thuyết này hay ý thức hệ kia gì cả. Thực vậy, người bỏ tiền nhiều vào Công ty, mà họ không có quyền quyết định quan trọng về Công ty, mà để cho người khác quyết định một cách vô trách nhiệm về sự mất còn của vốn của họ, thì họ rút ra khỏi Công ty. Một Công ty vắn vốn, phải sống bằng tín dụng của một Ngân Hàng, thì Ngân hàng sẽ có quyền duyệt xét kinh doanh, nghĩa là Công ty mất quyền tự trị.
 Đối với việc đóng góp vốn quốc tế đầu tư, những nhà tư bản chú trọng đến khía cạnh an tòan của vốn hơn là vấn đề lợi nhuận cao. Thực vậy có hai thái độ : (i) đầu tư với lợi nhuận thấp nhưng an tòan vốn được bảo đảm tối đa. Đây là thái độ của hầu hết những nhà đại tư bản; (ii) đầu tư với lợi nhuận cao đi song hành với những rủi ro cao. Đây là thái độ của những nhà trung và tiểu tư bản còn ở trong tuổi hăng say làm tài chánh, còn mang máu ’’đánh bài cào’’. Nhưng dầu vậy họ vẫn luôn luôn dành một số vốn phòng thân và vốn bảo đảm cho tuổi già. Khi tôi làm Luận án Tiến sĩ về Thị trường Chứng khóan của Thụy sĩ, thì công việc là nghiên cứu những Nhóm lượng Kỳ phiếu (Portefeuilles) tiến gần đến Rủi ro Zero, nghĩa là rủi ro nhỏ nhất. Thị trường Chứng khóan của Thụy sĩ được coi là Thị trường ít biến động cũng như đồng tiền của họ. Trên con đường phát triển của những Công ty ký danh ở Thị trường, phải dùng những dữ kiện thống kê hàng ngày trong vòng 10 năm để nghiên cứu  cái Ma trận gồm những phương sai và những đồng phương sai của những sai số giữa những Công ty thành phần trong nhóm (Estimation de la Matrice de Variances-Covariances des Erreurs dans la Régression) để tìm ra những Giá trị ký danh tại Thị trường mà những Giá trị này cho những Rủi ro nhỏ nhất. Đây là thái độ căn bản của những nhà Tài chánh quốc tế và những nhà Tư bản. Song hành với việc nghiên cứu những dữ kiện thống kê, chúng tôi cũng phải nghiên cứu những Aån số Kinh tế, Chính trị, Chiến tranh, Thiên tai...ảnh hưởng tới những Giá trị ký danh ở Thị trường Chứng khóan. Nếu Chiến tranh, Thiên tai...được coi là những ẩn số có tính cách giai đọan, thì tình trạng Kinh tế và thể chế Chính trị của một nước được coi như những ẩn số thường xuyên ảnh hưởng trên những Giá trị ký danh chứng khóan.
 Những người bỏ vốn đầu tư thường căn cứ trên những chỉ số tin tưởng về tài chánh cung cấp bởi những Tổ chức quốc tế nghiên cứu những dữ kiện thống kê. Theo cuốn MOODY’S COUNTRY CREDIT STATISTICAL HANDBOOK, phát hành tháng Giêng 2002, thì sự tin tưởng vào vấn đề tài chánh của Việt-Nam ở chỉ số B1 với định nghĩa như sau:’’Assurance of interest and principal payments or of maintenance of other terms of the contract over any long period of time is small’’(Việc bảo đảm trả lời và vốn hoặc việc bảo đảm việc tuân giữ những kỳ hạn của hợp đồng qua bất cứ hạn kỳ dài nào thì rất nhỏ nhoi, lỏng lẻo.’’ Cái chỉ số ấy tất nhiên không cho tin tưởng của những nhà đầu tư vào tính cách an tòan của vốn cho vay đối với Việt-Nam.
 Nhìn vấn đề gọi vốn cho Công ty và nhìn thái độ của những nhà tư bản và những nhà tài chánh quốc tế như trên vừa trình bầy, chúng ta thấy rằng việc kêu vốn và quản trị độc lập Tài chánh của một Công ty tư bản đúng nghĩa ở Việt-Nam gặp những trở ngại quan trọng bởi Điều 4 của Hiến Pháp cho quyền thiết lập một chế độc độc tài chuyên chính ở Việt-Nam. Những năm trường kinh nghiệm của cái chế độ này cho thấy sự suy thóai của nền Kinh tế đến đói nghèo, thêm vào đó việc tham nhũng và lãng phí lan tràn của những người nắm độc quyền quản trị đã được cho phép bằng chính Hiến Pháp.
 Những người bỏ vốn ra cho Công ty tư bản không muốn vốn của mình bị ảnh hưởng quyết định một cách độc đóan bởi quyền lực chính trị ngọai tại. Những nhà tư bản và tài chánh quốc tế không muốn đem vốn vào Việt-Nam ở trong một chế độ độc tài độc đảng, không đối lập, không tự do báo chí, luật pháp bị đặt dưới quyền chính trị, để số vốn khi gặp rủi ro, không có đường khiếu nại để cứu vãn trong một chế độ chuyên chính thiết lập bởi Điều 4 của Hiến Pháp.
 Đặc tính độc lập về Tài chánh, tự trị của Tư bản đòi hỏi phải xóa bỏ Điều 4 của Hiến Pháp, nếu muốn có sự thực hiện đúng đắn của nền Kinh tế Tự do và Thị trường

3. Tự do GIỚI THIỆU SẢN PHẨM trên Thị trường.
 Phương diện này liên hệ chính yếu đến vấn đề tự do đề nghị tiêu thụ và tự do tiêu thụ. Tất nhiên những mặt hàng sản xuất là ở trong khuôn khỏ luật định. Chúng tôi chỉ muốn nói đến phương diện khi những mặt hàng theo qui định được sản xuất rồi, Nhà Nước không được quyền can thiệp vào những phương án giới thiệu sản phẩm cho Thị trường, nơi trao đổi sản phẩm để phục vụ những nhu cầu tiêu thụ của người mua. Phương diện này thuộc về cả một ngành học đang được phát triển sâu rộng: ngành Marketing.
 Thị trường ở đây không phải chỉ hạn hẹp ở trong nội địa Việt-Nam, mà còn bao trùm tất cả những khả thể tiêu thụ Quốc tế, từ những vùng vây quanh Việt-Nam cho đến những Thị trường xa hơn của năm Châu.
 Trong hiện trạng, Đảng và Nhà Nước, với độc quyền quản trị cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp, chủ trương hạn chế những Công ty Thương mại, Dịch vụ tư nhân để  giữ quyền ấy cho những Công ty quốc doanh trực thuộc vào quyền lợi của Đảng. Quyền Tự do GIỚI THIỆU SẢN PHẨM cho Thị trường bị chế độ độc quyền hạn định về nhiều phương diện. Chúng tôi chỉ kể ra những hạn định chính sau đây:
=> Chế độ lấy sản phẩm phải qua tay những Công ty quốc doanh  
=> Chế độ Quota (Hạng ngạch) xuất cảng và nhập cảng dành ưu tiên cho những Công ty quốc doanh
=> Chế độ Kiểm sóat ngọai hối là phương tiện chế tài xuất nhập cảng đối với Công ty tư nhân
=> Dùng những biện pháp Hành chánh hoặc Kỹ thuật  để ngăn chặn việc xuất nhập cảng của tư nhân
 Những biện pháp trên đây nhằm thâu quyền thương mại vào tay Đảng mà Điều 4 của Hiến Pháp đã độc đóan cho phép.

4. THỊ  TRƯỜNG 
 Về phương diện Kinh tế, Thị trường là nơi thể hiện cái quyền lực dân chủ thực sự để điều hành đời sống kinh tế của một Cộng đồng, trong khi ấy chế độ độc tài, cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp, chủ trương dùng quyền lực chính trị và những Kế họach nhà nước để điều hợp đời sống kinh tế.
 Quan niệm về một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đã thiết lập từ những tác giả Cổ điển Anh (Auteurs classiques Anglais) như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Theo những tác giả này, thì Nhà Nước không được can thiệp vào đời sống kinh tế của tư nhân. Nếu có những vi phạm Luật pháp của Thị trường, thì Nhà Nước làm nhiệm vụ của một Cảnh sát để bảo vệ Luật mà thôi. Quan niệm chính thống này về đời sống Kinh tế, với trào lưu ý tưởng xã hội, đã có chút thay đổi bởi những Kinh tế gia Tân-Cổ điển (Néo-Classiques), nghĩa là quyền can thiệp hạn hữu và tùy trường hợp cấp bách của Nhà Nước được cho phép. Nhưng khi Nhà Nước can thiệp, thì không được với tư cách quyền lực chính trị, mà chỉ với tư cách như một Diễn viên (Acteur) cũng như những Diễn viên khác qua lực CUNG—CẦU kinh tế của Thị trường. Tỉ dụ trong trường có biến động của Thị trường Tài chánh hay Thị trường Tiền tệ,  Ngân Hàng Quốc gia có thể can thiệp vào bằng cách điều hợp Khối Tiền lưu hành bằng luật CUNG—CẦU cho những Thị trường ấy. Biện pháp OPEN MARKET mà Mỹ đã xử dụng là một tỉ dụ về việc can thiệp hữu hạn và cấp bách của Quyền lực Tiền tệ (Autorité Monétaire) vào Thị trường tự do tư nhân. Theo quan niệm THỊ TRƯỜNG của nền Kinh tế Tự do, thì tuyệt nhiên Nhà Nước không được xử dụng quyền lực chính trị để can thiệp và áp đảo trực tiếp vào THỊ TRƯỜNG bởi vì sự can thiệp và áp đảo này là sự khống chế TỰ DO và DÂN CHỦ đang được thể hiện thực thụ ở Thị trường.
 Ngược lại, khi Cộng sản thiết lập chế độ của họ, thì quan niệm Thị trường đã hòan tòan bị phế bỏ. Nhà Nước, không phải trong ý niệm can thiệp, mà đã nắm tòan quyền trên đời sống Kinh tế và dùng những Kế họach độc đóan để điều hợp cung cầu theo ý của Nhà Nước. Họ thay thế Thị trường bằng những Điểm Phân Phối, gọi là Hợp Tác Xã Nhà Nước. Cái Điều 4 của Hiến Pháp cho phép Đảng Cộng sản thiết lập hay tái lập hệ thống Kinh tế Kế họach Tập trung và quyền điều hành trực tiếp đời sống Kinh tế của tư nhân.
 Như vậy, nếu Bộ Chính trị Đảng, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đã đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà vẫn còn giữ chình ình cái Điều 4 trong Hiến Pháp, đó là việc tréo cẳng ngỗng hoặc cố tình lừa đảo.

5. LỢI NHUẬN tối đa
 Người làm việc bác ái thì chuyên chú làm công việc giúp đỡ tha nhân; người làm kinh tế thì mục đích của họ là đạt được LỢI NHUẬN tiền bạc tối đa. Không phải mình làm việc bác ái mà lên mặt khinh chê những người làm Kinh tế nhằm lợi nhuận. Nhưng thử hỏi nếu không làm ra tiền bạc thì lấy đâu mà đi giúp đỡ người khác, làm việc bác ái. Còn tệ hơn nữa, nhiều người khóac chiếc áo bác ái, làm việc xã hội, để che đậy cho những việc cướp bóc, lừa đảo tha nhân thủ lợi vật chất cho cá nhân mình, phạm luật công bằng xã hội.
 Mục đích tối hậu của một Công ty tư doanh là kiếm được lợi nhuận tối đa. Khi đòi Tự trị về tổ chức nội bộ, đòi tự trị về tài chánh, đòi tự do giới thiệu sản phẩm trên thị trường, đòi thực hiện quan niệm đích thực THỊ TRƯỜNG, mà Điều 4 của Hiến Pháp đang là cản trở cho những đòi hỏi chính đáng ấy, những người làm Kinh tế nhằm mục đích tối hậu là tăng hiệu năng tối đa đầu tư của vốn bỏ ra. Hiệu năng này được tượng trưng bằng kết quả là LỢI NHUẬN TỐI ĐA thu vào được.
 Về mục đích thu LỢI NHUẬN tối đa này, Cộng sản và một số Nhóm theo Chủ thuyết Xã hội, nêu ra LỢI NHUẬN xã hội, thường công kích tính cách thiếu nhân đạo, hoặc chỉ chuyên chú đến cá nhân. Lời công kích này dễ quyến dũ một số người tôn giáo hoặc một số thanh niên sống với ngưỡng vọng lý tưởng.
 Những người chủ trương Kinh tế tư bản Tự do và Thị trường trả lời lại những công kích ấy và tuyên bố họ thực tiễn và cũng tha thiết đến vấn đề nhân đạo và tinh thần xã hội giúp đỡ tha nhân.
 Chúng tôi xin kể ra đây hai tỉ dụ.
 Tỉ dụ thứ nhất về sự cần thiết của hiệu năng Kinh tế. Một nhân công phục vụ cho một Công ty tư bản trong vòng 20 năm. Trong hệ thống dây chuyền sản xuất với Kỹ thuật mới, người công nhân ấy không theo kịp nữa và do đó hiệu năng sản xuất của dây chuyền bị sút kém, lợi nhuận vì đó mà giảm xuống. Ban Giám đốc quyết định sa thải nhân công này. Khuynh hướng đặt nặng vấn đề nhân đạo và xã hội công kích rằng việc sa thải này không có lòng nhân đạo và tinh thần xã hội đối với một nhân công đã đóng góp vào lợi nhuận của Công ty trong vòng 20 năm. Khuynh hướng làm Kinh tế theo hiệu năng phản ứng lại và tuyên bố rằng việc sa thải nhân công mang tính cách nhân đạo và xã hội đối với mọi người trong Công ty.  Khuynh hướng này nói rằng nếu không sa thải nhân công này, thì lợi nhuận xuống và đi đến thua lỗ, Công ty sẽ bị phá sản và lúc ấy mọi người bị sa thải chứ không phải chỉ nguyên một nhân công kia. Ai nhân đạo và có tinh thần xã hội hơn ai ? Làm kinh tế vì nhằm sự phát triển kinh tế, còn vấn đề xã hội, bác ái được giải quyết bằng nhiều phương cách.
 Tỉ dụ thứ hai về giải quyết vấn đề chênh lệch xã hội. Những nước theo nền Kinh tế Tự do và Thị trường đã tìm giải quyết vấn đề xã hội bằng việc Tái Phân phối những Thu nhập (Redistribution des Revenus) mà không làm tổn hại đến sức kích thích làm việc theo hiệu năng. Hãy để cho người làm Kinh tế làm việc theo lợi nhuận tối đa. Nhưng dùng hệ thống thuế cấp tiến đối với những Thu nhập cao, xử dụng những thuế thâu được này để hạ giá nhu yếu phẩm và thực hiện những công trình xã hội, giáo dục, nhà thương... cho những người có Thu nhập thấp. Chúng ta thấy tại Hoa kỳ, những người có thu nhập cao bị đánh thuế rất nặng. Những nhu yếu phẩm như đồ ăn, quần áo...thì giá thấp cho đại đa số dân chúng.  Đây là chủ trương xã hội mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường giải quyết bằng Tái Phân phối Thu nhập, trong khi ấy tôn trọng Lợi nhuận tối đa như kích thích cơ bản cho những cố gắng của tư nhân sản xuất.   
Việc làm kinh tế để bảo đảm cho Dạ dầy là một cái quyền mà tất cả mọi chính thể phải tôn trọng đối với cá nhân khi mà chính thể ấy không bảo đảm được cho cái bụng đói của cá nhân. Còn việc nghĩ đến giúp đỡ tha nhân chỉ là một lời khuyên luân lý. Điều 4 của Hiến Pháp cho phép một Đảng thực hiện lời khuyên luân lý, cấm đóan cái quyền căn bản cá nhân làm kinh tế để bảo đảm Dạ dầy của mình. Chế độ Cộng sản giống như cái người vừa nói ở trên: độc quyền khóac cái áo bác ái, vênh vang tự xưng mình làm việc xã hội, để che đậy cho những việc cướp bóc, lừa đảo dân chúng, để thủ lợi vật chất cho từng cá nhân của Đảng, vị phạm chính luật công bằng xã hội. HÃY TÔN TRỌNG LUẬT CÔNG BẰNG ĐỐI VỚI THA NHÂN trước khi muốn làm việc xã hội giúp tha nhân. 
Kết luận: CHẤP NHẬN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG, THÌ PHẢI BỎ ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP bởi vì cái Điều 4 này cho phép thiết lập hoặc tái thiết lập một thể chế chuyên chính đi ngược lại quyền làm kinh tế của cá nhân để bảo đảm cho cái Dạ dầy của họ. Những đặc tính căn bản của một Công ty tư bản tư doanh vừa trình bầy ở trên cho thấy rằng cái Điều 4 của Hiến Pháp là căn nguyên của tất cả những cản trở việc thực hiện đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI:
TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH.
 Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.
Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Bài này bàn về Điểm thứ hai: TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ PHẢI ĐƯỢC TÔN TRỌNG. Dàn bài như sau:
 => Tự do Ngôn luận và Báo chí là quyền tự nhiên;
 => Tự do Ngôn luận và Báo chí là khí giới của những người không có quyền lực;
=> Tự do Ngôn luận và Báo chí là một đòi hỏi thiết cần cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường



TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ LÀ QUYỀN TỰ NHIÊN


 Cái tình cảm, suy tư là những gì vô hình, phải nhờ cái thân xác hữu hình mà biểu lộ ra để khi đồng lọai thấy những biểu lộ hữu hình ấy thì biết tình cảm, suy tư nơi người khác như thế nào. Con cá khi mừng vui cũng biết thóat ra mõm những âm thanh ríu rít. Con chim đực khi muốn cua con chim cái, cũng biết hót lên những âm thanh để con chim cái biết. Con người khi bực tức cũng biết nghiến răng hậm hực, nắm tay dậm chân hay la thét lên. Khi nhìn người khác mà lòng tỏ ra khinh thường, thì mắt nhìn người đối diện từ trên xuống dưới. Còn khi mắt nhìn từ dưới lên trên, thì lòng cảm thấy như ngưỡng mộ người đối diện. Ai cũng biết rằng người ta tỏ tình bằng đôi mắt: nhìn qua đôi mắt để biết yêu hay không.
 Cái quyền dùng thân xác để biểu lộ tình cảm hay suy tư là cái quyền tự nhiên của lòai vật cũng như của con người. Cấm đóan những biểu lộ ấy là muốn biến sinh vật trở thành những cái máy vô tri vô giác. Viết đến đây, tôi tự nhiên nhớ lại những màn diễn sân khấu của chế độ độc tài Cộng sản. Để diễn tả ý chí cách mạng, những vũ nữ từ hậu trường xếp hàng một kéo ra sân khấu sau lá cờ máu, nắm tay giơ lên, mắt nhìn cờ máu, chạy từ phía này sang phía kia của sân khấu. Từ Tây sang Đông, các nước Cộng sản làm rập theo một khuôn mẫu ấy.  Tôi có cảm tưởng những nghệ sĩ không được biểu lộ tình cảm mình, mà phải làm theo đúng cách thế biểu lộ mà Đảng muốn. Họ trở thành những con rô-bô được vặn dây cót, múa may theo chương trình mà Đảng đã đặt sẵn trong những con rô-bô này. Người không còn tự do là người nữa.
 Cái quyền biểu lộ (Droit d’expression) là cái quyền tự nhiên gắn liền với mọi sinh vật, trong đó có con người.
 Nơi con người, tình cảm, nhất là lý trí được phát triển không biên giới. Con người lại có khả năng xử dụng phong phú tiếng nói để biểu lộ tình cảm và cái tư duy vô biên giới của mình. Đây là cái quyền NGÔN LUẬN của con người. Không ai có thể cấm đóan những tình cảm, những suy tư vô hình của người khác. Không ai có thể lấy đi khỏi người khác tính cách Tự do của Tình cảm và của Suy tư. Tình cảm và Suy tư phải được bộc lộ ra, phải được NÓI RA. Cái quyền TỰ DO NGÔN LUẬN (Nói Ra) gắn liền với cái quyền TỰ DO RUNG ĐỘNG TÌNH CẢM và TỰ DO SUY TƯ. Không cho quyền Tự do Ngôn luận là đi ngược với bản tính tự nhiên biểu lộ của con người. Những người muốn cấm cái quyền Ngôn luận này  là không những muốn biến đồng lọai thành những con vật, mà muốn biến người ta thành những đồ vật (máy) vô tri vô giác. Yêu nhau cũng chỉ là hai cái máy thủ thỉ theo dây cót mà Đảng vặn lên; suy nghĩ cũng phải theo những người ’’đầu não tư tưởng của Đảng’’. Thực là một chính sách độc tài vô nhân đạo.
 Khi mà cái Tình cảm được tự do, Suy tư cá nhân được tự do, nhưng nếu cấm đóan việc nói ra, con người cảm thấy cực kỳ bực tức và đau đớn. Một đứa trẻ chưa biết nói, khi thấy ai nhìn mình với bộ mặt dữ tợn, nó cũng cảm thấy sự ghét thương, nhưng chưa biết nói, nên nó dùng tiếng khóc để biểu lộ một cách tự nhiên từ bản năng. Người Cộng sản muốn cấm tiếng khóc của đứa trẻ con này hay sao ? Khi người ta thấy kẻ cướp đến nhà, dùng bạo lực khủng bố, đàn áp để lấy của cải, người ta nhìn rõ sự bất công, muốn phát biểu ra, Cộng sản cấm người này không được nói ra hay sao ? Khi người ta có chứng cớ những đảng viên Cộng sản tham nhũng, Đảng Cộng sản không cho phép người ta nói ra việc tham nhũng ấy hay sao ? Tôi đọc bài của Mục sư Kiều Tuấn Nam viết rằng Mục sư Giáo Hội trưởng Phạm Xuân Thiều của Hội Thánh Tin Lành Miền Nam đã uất ức mà chết sau chuyến đi của Phái đòan Tôn giáo sang Hoa kỳ giải’’lao’’ theo kiểu Lê Quang Vịnh. Trong chuyến đi giải lao này, Lê Quang Vịnh đã bắt ép Mục sư Thiều đọc bài diễn văn trái với tình cảm và suy tư của mình, nên Mục sư cảm thấy người uất ức mà không’’Ngôn luận’’ được, và vì vậy đã đứng tim mà chết. Việc cấm đóan tự do ngôn luận không phải là do tôi bịa đặt ra để nói xấu Cộng sản, nhưng là một thực tế mà người Việt Nam nào cũng đã phải sống.
 Tôi không hiểu Cộng sản là một giống gì mà chúng dám cấm TỰ DO BIỂU LỘ, cái quyền tự nhiên gắn liền với mọi sinh vật, và dám cấm TỰ DO NGÔN LUẬN, cái quyền tự nhiên gắn liền với Tự do Tình cảm và Tự do Suy tư của con người.
 Tiến thêm một nấc nữa, con người có khả năng sáng chế ra chữ viết. Con người muốn viết biểu lộ những tình cảm và suy tư của mình để thông đạt đến người khác hoặc để lưu trữ trong thời gian cái nội tâm của mình cho những người đến sau. Báo chí viết xử dụng cái phát minh cao qúy này của con người để truyền thông những tình cảm và tư duy. Tiếng nói (Ngôn luận) hay Chữ viết (Báo chí) đều là quyền tự nhiên gắn liền với quyền tự do Biểu lộ trên căn bản quyền Tự do rung động Tình cảm và quyền Tự do Suy tư vô biên giới.
 Cấm những quyền Tự do Ngôn luận và quyền Tự do Báo chí là phản lại tự nhiên, đi ngược với bản tính Sinh vật, bản tính Con người và phản lại Tiến bộ của Trí tuệ.
 Cộng sản thường viện cớ những kẻ’’lạm dụng’’ Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí để cấm đóan Ngôn luận và Báo chí. Làm như vậy là không thành thực với chính lương tâm của mình. Xin nói cho đúng với sự thực: NGƯỜI CỘNG SẢN CHỈ MUỐN MỌI NGƯỜI CA TỤNG MÌNH hoặc TỐI THIỂU ĐỪNG XỈ VẢ MÌNH VÌ BIẾT MÌNH LÀM BẬY ĐÁNG BỊ XỈ VẢ, nên đã cấm Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí. Nếu thực tình có ai’’lạm dụng’’ những quyền Tự do ấy, thì đem ra Luật pháp mà xử và bắt tội, chứ không vì sự’’lạm dụng’’nếu có này của một ít người, mà cấm đóan luôn cả hai quyền Tự do Ngôn luận và Báo chí là những quyền tự nhiên của con người.


TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ LÀ
KHÍ GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÓ QUYỀN LỰC
 

Dường như một con chó thông minh, khi gặp những người nào ghiền ăn món cầy tơ, thì nó sủa như xỉ vả. Nhiều tác giả những chuyện phim cho thấy rằng có những con chó khi gặp người có bụng bất lương, chúng linh cảm và tỏ ra thái độ gầm gừ hay sủa thành tiếng. Việt-Nam mình thường nói đến chó hùa, đó là hiện tượng dùng số đông để phản ứng.
 Trên kia, chúng tôi đã lấy tỉ dụ một đứa trẻ, dù chưa biết nói, nhưng thấy ai nhìn nó với bộ mặt dữ tợn, nó òa lên khóc. Trẻ con, khi một đứa khóc, rất dễ kéo theo những tiếng khóc của đứa khác.Có thể đây cũng là bản năng của những kẻ yếu, phải hợp sức để phản ứng.
 Một người dân quê bị mất đất đai một cách bất công do những kẻ có quyền hành độc đóan ăn cướp, cũng cố gắng bầy tỏ bằng lá đơn than vãn, rủ những người cùng cảnh ngộ để cùng làm đơn cho có sức mạnh, đến nói với báo chí để may ra họ có tạo thêm được chút dư luận mà đấu tranh. Tỉ dụ cụ thể là Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng với khỏang đất của Nhà Chung, rồi Đan Viện Thiên An với những mẫu đất tư bị lấy, đã lên tiếng phản đối, đã đưa ra công luận ở nước ngòai để tìm một sự trợ lực.
 Những kẻ yếu, từ con vật như con chó, cho đến đứa trẻ con, rồi người nhà quê, đến những vị trong tôn giáo không có quyền điều hành việc Nước, cũng đều có phản ứng trước bất công là phải nói lên, phải kêu những người cùng cảnh ngộ nói lên cho mạnh, phải đưa ra công luận như là một phương tiện, khí giới tranh đấu cho hòan cảnh không có quyền của mình.
 Khi những người điều hành việc Nước, đã dành trọn độc quyền cho mình bởi Điều 4 của Hiến Pháp, làm những điều bất công, khủng bố để tham nhũng vô liêm xỉ đối với Dân chúng là những người không có quyền, thì những người này tất nhiên phải nói lên (Ngôn luận), phải nhờ đến Báo chí để mong tìm được khí giới trợ lực cho việc đấu tranh chống bất công. Người dân không có quân đội, không được tự động tổ chức đòan thể tạo sức mạnh hợp quần. Xin chú thích rằng cái tiếng ’’quân đội nhân dân’’ là cái tiếng nói láo. Đó là quân đội của quyền lực Đảng. Cộng sản đã cướp đất, khủng bố để tham nhũng kẻ không có quyền lực, mà còn cấm luôn cái Ngôn Luận  và Tự do Báo chí, đó là hành động tước đọat hết mọi quyền phản ứng của người yếu trước những bất công do chính mình làm. Chúng tôi không nói điêu ngoa để vu khống cho Cộng sản. Thực vậy, những miếng đất tư đã bị chiếm đọat, không phải vì quyền lợi của Đất Nước, mà là vì quyền lợi đích thực cá nhân của những kẻ có quyền lực trong Đảng Cộng sản. Chúng tước đọat của tư, nói là cho ích lợi công để che đậy trắng trợn, nhưng thực tình là để bán quyền xử dụng cho những Công ty nước ngòai, lấy tiền chia chác giữa những cá nhân có quyền của Đảng. Khi Công ty nước ngòai muốn xây khu ăn chơi, thì họ tước đọat đất tư của Nhà Chung, của Đan Viện Thiên An..., dưới danh hiệu cho quyền lợi chung của Đất Nước, nhưng thực ra là quyền lợi của những cá nhân có quyền của Đảng và cho Công ty nước ngòai muốn tổ chức đĩ điếm, trụy lạc, ăn chơi ở Việt-Nam để thu tiền. Hãy nhìn kỹ Công ty nào, Liên doanh nào là chủ những Dự án ấy thì hiểu liền cái lý do dùng quyền ăn cướp đất đai của tư nhân. Chắc chắc chúng tôi cũng không bịa đặt ra chuyện Tham nhũng để đổ oan cho Cộng sản bởi vì chính Đại Hội Đảng kỳ IX đã đồng thanh nói lên, chính Bí thư Nông Đức Mạnh mới đây cũng đã nói trước Quốc hội về sự lan tràn của tệ đoan này của Đảng.
 Cấm đóan quyền Tự do Ngôn luận của những kẻ yếu nạn nhân của bất công, cấm đóan Tự do Báo chí là khí giới của những nạn nhân này, đó là những cấm đóan vô nhân đạo. Dùng quyền độc đóan cướp đọat tài sản của kẻ yếu, đàn áp người yếu một cách dập dụi, còn cấm đóan nạn nhân không được than vãn gì cả, đó là hành động bất nhân của những kẻ vô lương tâm, không phải là con người nữa.
 Tự do NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ là khí giới tối thiểu của kẻ yếu, khi bị cường quyền bóc lột, đè nén. Cấm Tự do Ngôn luận, Tự do Báo chí cũng như cấm con chó thấy kẻ dữ đến ăn trộm mà không được sủa,  cấm đứa trẻ con thấy bộ mặt ngáo ộp nhìn nó mà không được khóc, cấm bà nhà quê mất mấy sào ruộng để sống trót tuổi già mà không được nói, cấm những kẻ không quyền hành khi bị khủng bố tước đọat mà không được than nhất là còn phải mở miệng ca tụng chế độ tốt đẹp đã làm ơn làm phước. Cấm như vậy là vô nhân đạo lắm, là đe tiện lắm Cộng sản ơi!


   
TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ LÀ MỘT ĐÒI HỎI THIẾT CẦN
CHO NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG


 Trên kia, chúng tôi nói về tính cách tự nhiên của sự biểu lộ tình cảm và tư duy, nói đến Tự do Ngôn luận và Báo chí như một khí giới tối thiểu của những người không có quyền. Đối với hai quyền này, người ta có thể yên lặng và hy sinh được vì nhu cầu sốngcủa thân xác. Tôi muốn nói đến cái quyền quan trọng nhất, tức là cái quyền bảo vệ an tòan cho Dạ dầy. Thực vậy, đồng tiền liền với khúc ruột, người ta có thể hy sinh tinh cảm, có thể cắn răng từ chối quyền bộc lộ những tư duy, nhưng khi động chạm đến nồi cơm, đến sự mất những phương tiện vật chất để sống, đến sự an tòan tương lai của đời sống thân xác, thì việc bảo vệ nồi cơm của mỗi người trở thành một đòi hỏi quan trọng nhất.
 Hãy nhìn tỉ dụ sau đây. Cặp trai tài gái sắc thương yêu nhau. Người con trai dám quả quyết với người yêu rằng nếu không lấy nhau được thì chàng sẵn sàng chết. Nàng cũng thề thốt với chàng rằng nếu bị ép buộc cản trở mà nàng không lấy được chàng, thì nàng sẵn sàng uống thuốc chuột tự tử. Tình cảm đẹp nhưng mộng mơ của hai trái tim vàng đáng qúy thay, cha mẹ đôi bên dù có thù nhau giữa hai gia đình như Romeo—Julietta cũng phải kính trọng tình cảm này để chàng và nàng lấy nhau. Tuy vậy, ngay lúc cưới nhau, chàng và nàng quên sự cao độ của tình cảm, đã cầm bút ký vào bản Hợp đồng sống chung, nhưng tài sản riêng lại tách mỗi người một giỏ. Cái nồi cơm, sự đề phòng sự an tòan cho Dạ dầy của mỗi cá nhân cô cậu thắng cả tình cảm đẹp như mộng.
 Trong cái nền Kinh tế Tự do và Thị trường này, việc kiếm phương tiện bảo đảm cho Dạ dầy của mỗi cá nhân, việc đề phòng an tòan cho những phương tiện đã tư hữu được là điều tối quan trọng. Người ta đánh nhau, chém giết nhau để dành dựt những phương tiện bảo đảm sự sống còn của thể xác.Nhấn mạnh về sự bảo tòan tư hữu, phương tiện bảo đảm cho sự sống còn của thân xác, chúng tôi muốn trình bầy những điểm sau đây để cho thấy rằng Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí là những phương tiện tối quan trọng để đấu tranh nhằm bảo vệ nồi cơm, nhằm thu lại bát cơm đã bị cướp đọat.


1. Luật Pháp rõ rệt và Tôn trọng Luật Pháp  
 Ngày 26.07.2002 vừa qua, trong cuộc Phỏng vấn của Bà Ký giả Kiều Mỹ Duyên, Oâng Trần Thiện đặt một câu hỏi mà tôi không đủ thời giờ để trả lời dài và căn kẽ. Oâng nói rằng ông biết một Tướng Cộng sản tên là Tấn. Tướng này đã tuyên bố rằng tụi tư bản giống như con rắn, lúc này chúng rút đầu vào, chưa bỏ vốn ra làm ăn. Tướng Cộng sản đe dọa rằng chúng tôi đợi tư bản thò cái đầu ra là chúng tôi chém đứt.
 Lời đe dọa hung hăng của Tướng Tấn thật là ngu dốt. Tốt hơn hết là đừng hung hăng tuyên bố chém đầu tư bản, yên lặng để chúng thò đầu ra, rồi chém mà không nói gì. Tụi tư bản cũng đã dư biết là Cộng sản ăn cướp, bây giờ nghe Tướng Tấn tuyên bố hung hăng, chúng không dại gì mà thò đầu ra để Cộng sản chém đâu. Một trăm người bán, một vạn người mua. Tư bản không đầu tư vào Việt-Nam vì không có an tòan cho vốn, thì chúng đi làm ăn ở nước khác như Phi-luật-tân, Thái-lan, Mã-lai...Quả thực đúng như vậy, cái thực trạng hiện nay là Tư bản đang rút vốn ra khỏi Việt-Nam. Không những chúng không thò đầu ra nữa, mà chúng còn co giò chạy đi luôn để bảo đảm an tòan của vốn. Điều thiệt hại là Dân chúng Việt-Nam phải chịu hậu quả của cái độc quyền hung hăng của một người như Tướng Tấn.
 Tôi muốn trả lời thêm rằng Tư bản chúng cũng khôn lắm. Có người nào còn bỏ vốn ra, nghĩa là còn thò đầu ra, thì nó còn ngo ngoe cái lưỡi rắn mà Tướng Tấn không chém nổi. Tôi kể ra đây câu chuyện về Phương án cho vay vốn Hỗ trợ (Sustained Loan) mà chính tôi cùng một Tập đòan Tài chánh Tây phương đề nghị. Với Sustained Loan, Tập đòan Tài chánh đòi Hợp đồng Kiểm sóat chi tiêu cho Dự án và Kiểm sóat việc thực hiện đúng đắn Công trình xây cất của Dự án. Tôi được chỉ định bởi Tập đòan Tài chánh để kiểm sóat chi tiêu. Phía Việt-Nam hí hửng nói với nhau rằng cứ ký đại Hợp đồng Kiểm sóat bởi vì trong đầu óc của họ nghĩ rằng làm thế nào kiểm sóat được. Thực vậy, họ định lừa đảo để ăn qụyt. Trong đầu họ nghĩ rằng khi lấy tiền rồi, thì họ xé bỏ Hợp đồng, nghĩ rằng khi Oâng Liên về kiểm sóat thì họ thủ tiêu thẩy xác trong rừng là yên chuyện. Chẳng nước nào dám mang quân đội vào can thiệp để lấy xác Oâng Liên về chôn làm gì. Người Đại diện Tài chánh của tôi tại Hà Nội nghe được câu chuyện này, đã thương tình tôi, nói rằng tôi phải cẩn thận về hậu quả của Hợp đồng Kiểm sóat Chi tiêu. Tôi hiểu liền và nhờ người Đại diện nóirằng tôi không ngại ngùng gì và tôi đã dự phòng trước để họ chém tôi không nổi. Tôi cắt nghĩa như sau: biện pháp kiểm sóat tài chánh của tôi là không bao giờ tôi giải ngân một trật về một Ngân Hàng Việt-Nam. Nếu tôi giải ngân như vậy, thì chính Ngân Hàng còn về hùa với phía Chủ Dự án Việt-Nam mà ăn cướp. Tôi cho họ biết rằng tôi sẽ mở một Trương mục ở một Ngân Hàng nước ngòai nằm tại Tây phương. Trương mục này mang hai chữ ký (Joint Signatories), một của Chủ Dự án và một là của chính tôi, người kiểm sóat tài chánh. Khi nào tôi kiểm sóat xong và chấp nhận cho những khỏan chi tiêu, phải có chữ ký của tôi cùng với chữ ký của Chủ Dự án, thì Ngân Hàng nước ngòai mới cho tiền ra khỏi Trương mục. Tôi biết trước là họ chẳng thương tiếc gì tôi và sẵn sàng xé Hợp đồng, giết tôi thẩy vào rừng, nhưng tôi tin chắc rằng họ thương tiếc đồng tiền nằm trong Trương mục. Nếu họ đe dọa tôi, thì tôi không ký, tiền không ra nổi và Tập đòan Tài chánh đã thủ thế bắt đền thiệt hại, tịch thu công trình để bán lại cho những Công ty nước ngòai đang muốn vào Việt-Nam làm ăn. Tôi thò đầu ra, còn ngo ngoe cái lưỡi mà Tướng Tấn không dám chém vì khi chém là Oâng ấy chém chính Oâng ta.
 Câu chuyện trên đây muốn nói rằng phía Cộng sản hiện nay chưa có Luật Pháp sáng sủa để bảo đảm an tòan của vốn, của nồi cơm thiết thân của Tư bản, nhất nữa là CỘNG SẢN NẮM TÒAN QUYỀN LÀM LUẬT HAY PHẾ LUẬT VÀ KHÔNG CÓ TINH THẦN TÔN TRỌNG LUẬT PHÁP. Thực vậy, có Luật là một chuyện, nhưng cái Tinh thần Tôn trọng Luật Pháp mới là điều quan trọng hơn, nhất nữa đối với những kẻ nắm trọn mọi quyền trong tay mình. Vì vậy Luật Pháp bảo vệ nồi cơm cá nhân trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường phải rõ rệt và phải có tinh thần tôn trọng Luật pháp.


2. Biện pháp xử dụng Tự do Ngôn Luận và Tự do Báo chí đi trước Luật Pháp.
 Trong trên 10 năm nay, làm thực hành ở trong Thị trường Tài chánh Quốc tế, mặc dầu với Luật Pháp rất chi tiết và rõ rệt, với tinh thần chung áp dụng Luật pháp nghiêm minh của Tây phương, nhưng vẫn có những ’’Financial barbaries’’ (Những man rợ tài chánh) xẩy ra trên Thị trường Tài chánh Quốc tế này. Tôi đã có một lần nói về chính những vụ man rợ ấy trên Đài Truyên Hình Thụy sĩ, một xứ sở nổi tiếng về tôn trọng Luật pháp nghiêm minh, nhất là về Ngân Hàng và Tài chánh. Chuyện man rợ xẩy ra chính tại Zurich, nước Thụy sĩ. Tôi kết luận rằng trước khi đưa những man rợ ra Tòa án cho Luật sư hai bên cãi vã, trích dẫn những chi tiết dài thoòng về Luật pháp mà thân chủ đã mất tiền lại phải tốn kém thêm tiền cho Luật sư, thì những nhà Tài chánh thực tiễn xử dụng đến Ngôn Luận và Báo chí để lấy để tấn công trực tiếp cái quyền lợi tài chánh của chính kẻ gây ra ’’Financial barbaries’’. Giải quyết thực tiễn như vậy đỡ tốn thêm tiền và mau chóng hơn những Phiên tòa mà Luật sư hai bên trích dẫn dài lòng thòng hết Điều khỏan này, Mục 1, 2, 3,..., Tiểu mục a,b, c,...kia kéo dài những tháng hoặc năm trường tốn kém.
 Khi đụng chạm đến tiền bạc, nghĩa là Kinh tế, thì chữ TÍN nhỏ lắm. Làm Kinh tế và đụng chạm tới tiền bạc, thì hãy bắt đầu bằng chữ không tín nhiệm. Nếu muốn tin, thì để kinh nghiệm các thương vụ trước đã. Ngay cả khi đã tin rồi, thì cũng phải lo liệu đề phòng sau 3 lần tin, lần thứ bốn bị lừa và bị lừa lớn để sạt nghiệp ngóc đầu lên không nổi. Thử hỏi đôi bạn trẻ yêu nhau và tin tưởng nhau hết mực để cưới nhau như trên đã nói, nhưng khi đụng đến tiền bạc, thì quên lời hứa tin tưởng mà ký Hợp đồng mỗi bên lo tiền bạc của riêng mình.
 Như trên tôi vừa nói, những nhà Tài chánh thực tiễn muốn giải quyết bằng Tự do Ngôn Luận và Công luận đụng chạm trực tiếp đến quyền lợi vật chất cá nhân để giải quyết những’’Financial barbaries’’ trước khi đưa ra Tòa cho Luật Pháp trích dẫn Luật lòng thòng tốn kém. Tôi có hai kinh nghiệm và áp dụng hai giải pháp.
 Khi người vay vốn cam đoan sự đứng đắn của mình, những Tập đòan Tài chánh không tin vào lời cam đoan bằng Hợp đồng, bởi vì người ta có thể xé Hợp đồng. Nhưng những Tập đòan Tài chánh biết rằng không ai xé đồng tiền, vì vậy họ thường bắt người xin vay vốn đóng Performance Bond (Tiền cọc thi hành đứng đắn). Tôi có hai Khách hàng đóng Tiền cọc cho một Tập đòan Tài chánh. Quá hạn Hợp Đồng mà phía Tài chánh vì lý do nào đó, đã giữ tiền cọc hơn sáu tháng sau. Tôi đề nghị với hai Khách hàng là để tôi viết thông báo việc cố chấp này của Tập đòan Tài chánh cho những đồng nghiệp của chính Tập đòan Tài chánh ngoan cố này và công bố nội vụ lên Báo chí.  Làm như vậy, tôi muốn dùng áp lực của những đồng nghiệp của Tập đòan và Công luận để ép buộc Tập đòan Tài chánh phải hòan lại Performance Bond. Một khách hàng của tôi muốn làm ăn tiêu lòn, đã không muốn tôi xử dụng áp lực bạn hữu và công luận, nên nói rằng để họ tự trách nhiệm và dùng Luật Pháp sau này. Khách hàng thứ hai thì đồng ý cho tôi xử dụng biện pháp thực tiễn mà không đưa ra Luật Pháp. Kết quả là Khách hàng thứ hai này đã nhận lại đủ số tiền đã đóng cọc USD.150'000.-, vì Tập đòan Tài chánh sợ mất danh tiếng và mất liên hệ làm ăn. Họ sợ mất nồi cơm to hơn của chính họ, nên phải hòan tiền lại. Còn Khách hàng thứ nhất, sau 5 tháng nịnh bợ tiêu lòn với Tập đòan Tài chánh, cuối cùng đành phải đưa ra Luật Pháp, nhưng cho đến nay vẫn còn lòng thòng chưa lấy lại được tiền đã đóng USD.100'000.- Thêm vào đó phải trả tốn kém cho Luật sư.
 Những câu chuyện cụ thể, thực tiễn kể ra trên đây cho chúng ta thấy :
=> Trong việc làm ăn Kinh tế cá nhân, người ta  nhìn sự mất còn của nồi cơm lớn hơn những giá trị luân lý như tin tưởng, thành thật, yêu thương, bác ái, tinh thần xã hội vân vân;
=> Trong nền Kinh tế tư bản, người bỏ vốn ra phải nghĩ những biện pháp thực tiễn để bảo đảm sự an tòan của đồng vốn đã bỏ ra;
=> Những biện pháp an tòan này đánh thẳng vào cái quyền lợi của kẻ làm bậy trước khi xử dụng Luật Pháp bởi vì những kẻ làm bậy này nghĩ kế dùng tiền mua Luật sư để hõan binh chi kế, đòi hỏi trừ hết tiền này đến tiền kia;
=> Những biện pháp thực tiện đánh thẳng vào quyền lợi của kẻ làm bậy đó là phải có Tự do Ngôn Luận và Tự do Báo chí. Những phương tiện này phải có trước những điều khỏan tỉ mỉ của Luật Pháp.
 Trong thể chế chuyên chính độc đảng cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp hiện nay ở Việt Nam, cộng thêm Luật Pháp chưa được phân minh rõ rệt bảo đảm nồi cơm, mà Luật Pháp ấy cũng do một người làm ra, một người có quyền phế đi và cũng chính người đó ngồi Tòa xử Luật, thì phương tiện thực tiễn Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí trở thành tối quan hệ để bảo đảm phần nào nồi cơm trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Phải cho QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN và QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ làm phương tiện phanh phui những kẻ làm bậy, đánh trực tiếp vào nồi cơm của những kẻ làm bậy này. Tham nhũng càng tăng, thì quyền Tự do Ngôn Luận và quyền Tự do Báo chí càng cần thiết.

3. Tự do Ngôn Luận và Tự do Báo chí là những cái búa tạ đập Tham nhũng
 Oâng Nông Đức Mạnh kêu gọi tinh thần cán bộ, tinh thần Cách mạng của Đảng để chống lại Tham nhũng, Lãng phí, nghĩa là lấy những giá trị luân lý, xã hội ra để khuyên kẻ cướp nhả nồi cơm đã biển thủ được. Lời kêu gọi của Oâng giống như chuyện tiếu lâm khi lấy những giá trị tinh thần để diệt kẻ cướp quen nghề chà đạp lên tinh thần.
 Tôi nhớ lại thời Oâng Mitterand, Đảng Xã hội Pháp, lên làm Tổng thống Pháp khóa đầu, Dân chúng Pháp lo sợ việc quốc hữu hóa một số ngành nghiệp, nhất là Ngân Hàng, đã mang tiền lẩn qua Thụy sĩ và Luxembourg để gửi. Oâng lên tiếng kêu gọi tinh thần Dân Pháp hãy thắt lưng buộc bụng, hãy nghĩ đến nước Pháp mà du lịch trong quốc nội và khi ra nước ngòai chỉ được mang đi 2'000 quan Pháp chi tiêu. Oâng càng khuyên bao nhiêu, thì tiền vốn của Pháp càng tán lọan chạy ra nước ngòai, nhất nữa người ta thấy chính con ruột của Oâng có những nghi ngờ mở Trương mục ở Geneve để giữ tiền bên Thụy sĩ. Thời ấy, khi nói với bạn hữu Thụy sĩ, tôi thường cười rằng:’’Việt Nam có cảnh ’’boat people’’ phải bỏ hết cơ nghiệp liều thân ra đi vì Cộng sản; ngày nay tại nước Pháp cũng có cảnh ’’boat money’’ liều mình vượt hồ Leman từ Thonon (Pháp) sang Lausanne (Thụy sĩ) vì Xã hội chủ nghĩa’’. Phải có biện pháp thực tiễn, chứ không phải lời khuyên tinh thần và luân lý khi đụng chạm tới nồi cơm cá nhân.
 Tại Việt-Nam cũng vậy, tình trạng Tham nhũng còn bi thảm hơn. Làm sao những lời khuyên tinh thần, luân lý mà diệt trừ được tham nhũng. Cái tiếu lâm là ở chỗ đó.
 Đối với những thành phần tham nhũng của Đảng CSVN, tôi cũng như một số người còn có lương tâm của Đảng thường gọi những tên tham nhũng này là bầy chó đói. Thực vậy, trong những năm trường chủ chó để bụng chúng đói vì chính chủ cũng đói nữa. Khi Đổi Mới, Mở Cửa, cho Tư bản vào làm ăn. Những con chó đói thấy nào cá, nào thịt, nào xương trắng phau bầy ra trước mặt. Đàn chó đói nhào vô ăn, chen lấn nhau mà ăn, còn hầm hè gừ gừ xem con này ăn nhiều, con kia ăn ít. Khi những người tư bản bầy cá bầy thịt ra, muốn mắng chử mấy con chó đói, định xua đuổi chúng đi, thì chính người chủ của đàn chó đói lại cấm đóan người kia không được mắng chửi chó, thậm chí không được xì xào với nhau xem con chó này ăn nhiều, con chó kia ăn ít. Nghĩa là đàn chó đói nhào vô ăn cá thịt của người ta, chủ chó còn bao che cho chó, còn dùng biện pháp đàn áp người có cá và thịt.
 Oâng Nguyễn Khoa Điềm tả cảnh tham nhũng:’’... kể từ khi Việt Nam đi theo kinh tế thị trường nhưng đồng thời cũng đẻ ra tham nhũng, lãng phí phơi bày rõ hơn những thiếu sót, bất cập cũng như khả năng và tư cách lãnh đạo của người CSVN.’’ Chẳng có gì khó hiểu, Kinh tế Tư bản và Thị trường có cá và thịt, đàn chó tham nhũng kia đã đói lại còn được bao che, nên nhào vô ăn hồng hộc, đó là lẽ tự nhiên.
 Xin Oâng Nông Đức Mạnh và Đảng Cộng sản đừng lấy những lời khuyên tinh thần để chống tham nhũng nữa. Những lời ấy tiếu lâm lắm. Tôi khuyên Oâng Nông Đức Mạnh và Đảng Cộng sản, nếu thương Dân thực tình, nếu muốn diệt Tham nhũng thực tâm, hãy dùng những biện pháp thực tiễn mà diệt một cách hữu hiệu. Hãy hủy bỏ Điều 4 của Hiến Pháp cho phép những kẻ tham nhũng có quyền độc đóan. Hãy cho TỰ DO NGÔN LUẬN và TỰ DO BÁO CHÍ để Dân cầm hai cái búa tạ ấy mà đập bể đầu đám chó đói.
 Kinh tế Tự do và Thị trường đòi phải có Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí vậy.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI:
ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ PHẢI HIỆN DIỆN


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH.
 Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.
Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Bài QUAN ĐIỂM này bàn về Điểm thứ ba: ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ PHẢI HIỆN DIỆN. Những số sau sẽ lần lượt bàn tới từng Điểm kế tiếp.
 Những điều sẽ bàn trong bài QUAN ĐIỂM này như sau:
 => Thế nào gọi là đối lập ?
 => Hiểu đối lập chính trị ra sao ?
=> Sự cần thiết của đối lập trong việc quản trị Đất Nước và trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.



THẾ NÀO GỌI LÀ ĐỐI LẬP ?


 Trong phần này, chúng tôi muốn tìm hiểu cái vị trí đích thực của Đối lập, bởi vì có những danh từ dễ gây lầm lẫn như: Phản đối, Chống lại, Phá phách, Chửi bới, Bêu xấu, Công kích vân vân. Chúng tôi muốn kể ra những trường hợp không phải là Đối lập để dễ định phạm vi của Đối lập đứng đắn.


=> Những gì không thể gọi là Đối lập. Xin kể ra những trường hợp cụ thể.
 Tỉ dụ thứ nhất về trường hợp những người chuyên môn nói ngược lại cốt ý nêu cái danh cá nhân của mình. Tôi có một người bạn cùng học tại Đại học bên Thụy sĩ này. Chúng tôi chơi với nhau rất thân vì hai người chế ống điếu cầy (điếu Ba-du-ka) để thỉnh thỏang hút thuốc lào. Chúng tôi đều tham gia đòan thể Sinh viên. Mỗi lần họp Đòan thể mà có anh bạn thuốc lào qúy của tôi, là mỗi lần có những cãi vã, có những ý kiến ngược lại Ban chấp hành. Sau một cuộc họp về tổ chức Tết, tôi hỏi anh bạn rằng tại sao chương trình tổ chức đã nói với anh rồi, mà trong phiên họp anh lại chuyên môn nói ngược lại, rồi phản đối như hận thù khiến cuộc họp kéo dài từng hai tiếng đồng hồ. Anh ta cười vui vẻ và nói:’’Trong cuộc họp, mình phải nói ngược lại để mình nổi tiếng, chứ mình có hằn thù gì đâu!!!’’ Qúy Vị nào đã từng điều hành những Đòan thể ái hữu, thì có khá nhiều kinh nghiệm về những trường hợp này. Việc anh phản đối không có nghĩa là Đối lập gì cả mà chỉ vì anh ta muốn nói để nêu cái tên của anh ta mà thôi.
 Tỉ dụ thứ hai lấy ra từ một số kinh nghiệm thấy được ở  trên Diễn đàn Internet hiện nay. Chúng tôi rất thích thú đọc những bài viết trên Internet của Cộng đồng Việt-Nam Hải ngọai bởi vì đây là dịp để có thể hội nhập với đời sống Cộng đồng Việt-Nam khi mà mỗi người sống ở mỗi nước khác nhau, có dịp nhắc lại những gì của Quê Hương Việt-Nam. Sau một thời gian, tôi thấy có một ít người thích bới lá tìm sâu, chuyên môn tìm cách đả kích, nhất là đối những ai muốn viết đứng đắn để hội nhập với Cộng đồng. Tôi nhận thấy một số Vị có tâm hồn muốn tham dự thực tình với Cộng đồng, sau khi bị bới móc oan uổng, dễ đi đến chỗ rút lui ở ẩn, chứ không muốn đối chọi cho phức tạp nữa. Sau khi đọc một số bài của một số ít người chỉ muốn bới lá tìm sâu này, tôi có cảm tưởng là họ chỉ muốn làm như anh bạn của tôi trên đây. Họ muốn chửi bới, nói ngược lại để nêu cái danh của mình mà thôi, chứ không phải viết xây dựng để rồi ’’hữu xạ tự nhiên hương’’. Đọc kỹ một số bài của số ít người này, thì thấy nội dung viết của họ không chân thực. Một bông Hồng, có mùi hương, được biết đến; nhưng một bãi cứt chó cũng có mùi và người đi đường cũng phải lưu ý tới. Trường hợp chủ ý của một số ít người này khi viết Phản đối, Công kích... không thể gọi là Đối lập được.
 Tỉ dụ thứ ba là sự tranh dành tiếng tăm cho mỗi Đòan thể, mỗi Nhóm...Về điểm này, tôi cũng đã có một số kinh nghiệm. Một số người muốn là Sáng Lập viên của những Phong trào, Đòan thể, Nhóm Đảng...Mà Phong trào càng bao trùm các Phong trào khác càng hay. Từ đó mới xẩy ra việc đấu tranh, thay vì cho mục đích tối hậu là chống Cộng, thì lại đấu tranh hàng ngang để Phong trào của mình thắng Phong trào bạn cùng mục đích chống Cộng. Điều đó có nghĩa rằng trước khi chống Cộng, thì các Phong trào chống nhau chí chóe đã. Phong trào này bắt đầu đối kháng Phong trào kia, thậm chí tìm cách hạ nhục những Phong trào bạn để chỉ còn Phong trào mình làm bá chủ. Hãy nhớ lại tỉ dụ Lịch sử đau lòng mà Nhóm Cộng sản của Oâng Hồ Chí Minh đã độc ác giết các Đảng viên của Việt-Nam Quốc Dân Đảng. Mọi người, mọi Nhóm thời ấy đều có mục đích tối hậu là đánh đuổi thực dân Pháp. Nhưng Oâng Hồ Chí Minh đã đê hèn giết những bạn cùng chống Pháp để làm bá chủ. Hành động này không thể gọi là Đối lập được.


=> Đối lập theo đúng nghĩa
 Tôi thườngnói với bạn hữu rằng nếu bắt đầu bằng bới lá tìm sâu, chỉ trích, thì thế nào cũng đi đến chia rẽ, thanh tóan nhau. Không cần phải lúc nào cũng rêu rao kêu gọi đòan kết, thì đòan kết sẽ tới, mà yên lặng nhìn vào cái tâm của mình và hãy bắt đầu tìm ra một điểm tốt dù nhỏ nhất để cùng thực hiện, thì tự nhiên sẽ quên đi những gì không tốt và sự đòan kết sẽ tới dần dần. Đây là thái độ cần thiết tiên khởi khi nói đến Đối lập.
 Việc Đối lập đích thực giữa hai hay nhiều Nhóm phải giả thiết là các Nhóm ấy cùng nhìn về một đích điểm đi tới. Nếu hai Nhóm, mỗi nhóm đặt mục đích hòan tòan đó6i chọi nhau, thì đó là trường hợp thù địch, chứ không thể nói là Đối lập. Việc Đối lập giữa các Nhóm là ở sự lựa chọn những Phương tiện khác nhau để đi đến Mục đích giống nhau. Chính cái Mục đích phân biệt ra sự Đối lập và sự Thù nghịch. Khi nói đến Lực lượng đối lập, thì điều ấy có nghĩa là hai Lực lượng có thể sống chung, nhưng đấu tranh cho Phương pháp thực hiện riêng của mỗi Nhóm nhằm đi tới Mục đích giống nhau. Sự Đối lập có thể đi đến Đối thọai.
 Khi những Lực lượng đặt Mục đích hòan tòan đối chọi nhau, thì đó là trường hợp Thù địch, chứ không phải Đối lập. Với trường hợp Thù địch, thì các Lực lượng không thể đi đến Đối thọai, mà chỉ đi đến ’’Đối thọi’’ tiêu diệt nhau.
 Trong Biện chứng pháp ’’Đề Phản Đề Hợp Đề’’ (Thèse Anti-ThèseSynthèse), điều ấy có nghĩa là phải đặt ra cùng một Vấn Đề, rồi đưa ra những Phản Đề mà kết luận Hợp Đề phải trong phạm vi cái Vấn Đề đã đặt ra. Phản Đề ở đây là Đối lập. Còn nếu đầu tiên đặt ra hai Vấn Đề hòan tòan khác nhau, thì không thể có Phản Đề, cũng chẳng đi tới Hợp Đề. Đó là trường hợp không thể nói là Đối lập, mà là cảnh Oâng nói gà, Bà nói vịt. Nếu hai cái Đề lại hòan tòan đối chọi sống chết ngay từ lúc đầu, thì không những không có Phản Đề và Hợp Đề, mà Oâng thì tìm cách đánh tiết canh vịt của Bà, còn Bà thì nhè lúc Oâng đi vắng mà bắt con gà của Oâng để làm món cháo gà xé phay. Đó không phải là Đối lập, mà là Thù địch.
 Tóm lại, chúng tôi muốn hiểu Đối lập đích thực ở ý nghĩa rằng những Lực lượng khác nhau có cùng một Mục đích, nhưng Phương pháp đi tới mục đích không giống nhau nhưng có thể Đối thọai. Trong ý nghĩa Đối lập, có ý nghĩa cạnh tranh Đường lối dẫn đến mục đích.



HIỂU ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ RA SAO ?


 Hai tiếng Đối lập đã được cắt nghĩa ở trên. Chính trị ? Hai tiếng ấy gây rất nhiều những ý nghĩ, những phản ứng ? Một số người ghét bỏ hai tiếng ấy đến nỗi nghe ai nói đến Chính trị là tránh xa hoặc khinh chê ra mặt. Một số Lãnh đạo Tôn giáo thì lấy câu ’’Tôn giáo không làm Chính trị’’ để làm bình phong che dấu sự nhát đảm của mình trước vấn đề trách nhiệm Lãnh đạo một Tổ chức khi chính Tổ chức ấy đang bị đàn áp. Người cầm quyền bính Quốc gia cũng dễ nói vỏn vẹn ’’Oâng ấy làm Chính trị’’ để kết án người ta ngồi tù. Riêng tôi, tôi có cảm nghĩ rằng Làm Chính trị là một quyết định cao đẹp, không có gì phải mặc cảm, né tránh. Những suy nghĩ, phản ứng khác nhau ấy là do việc mỗi người hiểu làm Chính trị là gì.
 Theo tôi nghĩ, những phản ứng ngại sợ hai tiếng Chính trị cũng một phần do chính những người Làm Chính Trị đã không làm đúng theo cái ý nghĩa cao đẹp của người làm Chính trị. Thực vậy, một số những người Làm Chính Trị đã chỉ nghĩ đến những mưu mẹo lừa lọc không chính đáng để triệt hạ Đối lập mà dành độc quyền nhằm biển thủ công qũy. Vì vậy mà khi nói đến ai làm chính trị, có người mang ấn tượng xấu vì nghĩ tới số người lừa lọc, mưu mẹo, nắm được quyền, cướp công qũy, rồi cao chạy xa bay hưởng thụ những gì ăn cướp được.
 Cũng như việc minh định ý nghĩa của Đối lập ở phần trên, chúng tôi muốn nói đến cái ý nghĩa đích thực cao đẹp của việc LÀM CHÍNH TRỊ.
 Làm Chính trị là một lựa chọn cũng như những lựa chọn khác trong cuộc đời. Lựa chọn làm Chính trị là lựa chọn một Đường lối Quản trị việc Nước mà mục đích là phục vụ quyền lợi cho Dân và cho Đất Nước. Dân chúng ủy quyền Quản trị Đất Nước cho một người hay một Nhóm là khi Dân xét rằng Đường lối Quản trị của người ấy hay của Nhóm ấy có ưu điểm hơn Đường lối của người khác hay Nhóm khác trong việc làm lợi cho Dân và cho Đất Nước.
 LÀM CHÍNH TRỊ theo đúng ý nghĩa vừa nói trên đây, đó là việc cao đẹp và hãnh diện. Đáng chê trách là những người làm chính trị không để cho Dân có quyền lựa chọn Đường lối Quản trị của mình, mà dùng mưu mẹo lừa đảo, hoặc dùng áp lực khủng bố để tự chiếm lấy quyền Quản trị, rồi lợi dụng quyền hành mà cướp bóc của công. Những người này không những không nhằm mục đích làm chính trị là phục vụ quyền lợi của Dân và của Đất Nước, mà còn khủng bố bắt Dân phục vụ cho tư lợi hay cho quyền lợi phe phái riêng của Nhóm mình. Không thể gọi những người này là những người LÀM CHÍNH TRỊ theo ý nghĩa cao đẹp của sự lựa chọn của chúng ta được. Chúng ta không thể gọi họ là những người làm chính trị ngang hàng với chúng ta. Họ chỉ là những tên cướp trắng trợn, dùng khủng bố để cướp quyền hành, rồi nắm quyền hành mà độc đóan ăn cướp của cải.
 Khi ghép bốn chữ ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ theo như những ý nghĩa vừa minh định ở những đọan trên đây thì việc Đối lập Chính trị phải hiểu rằng những Lực lượng đối lập phải ở trên bình diện những người làm chính trị theo ý nghĩa cao đẹp, phải mang cùng một mục đích phục vụ cho quyền lợi của Dân tộc và của Đất Nước, chỉ có sự khác nhau về Đường lối Quản trị Đất Nước mà thôi. Sự khác biệt này phải trình bầy cho Dân thông suốt để Dân có tòan quyền lựa chọn trao quyền Quản trị cho ai thì trao.



SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỐI LẬP TRONG VIỆC QUẢN TRỊ ĐẤT NƯỚC
VÀ TRONG MỘT NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG


 Viết bài QUAN ĐIỂM trong tuần này cho VietTUDAN số 90/16.08.02, chúng tôi lại gặp đúng cái Tin Lịch sử rằng các bậc Lão thành tại Quê Hương đã công khai viết Thư cho chế độ hiện hành để thành lập ĐỐI LẬP. Đêm hôm kia, tôi điện thọai về Hà Nội và may mắn được thưa chuyện với Cụ TRẦN ĐẠI SƠN, một trong những người đã ký tên.
 Tôi biết rằng những người đang nắm quyền hành độc đóan quản trị Đất Nước hiện nay không phải là những người làm Chính trị tôn trọng ý nghĩa cao đẹp của việc LÀM CHÍNH TRỊ như đã trình bầy ở những phần trên. Họ chỉ là những tên dùng đàn áp khủng bố để cướp quyền, cướp của công, phục vụ cho cá nhân và cho Nhóm Đảng của họ.
 Đối Lập trước những kẻ không tôn trọng đối lập như vậy, đó là một sự can đảm thực sự. Cha NGUYỄN VĂN LÝ đã lên tiếng yêu cầu một ý nghĩa Chính trị thực thụ giữa những tên không tôn trọng Chính trị. Tôi cảm phục cái DŨNG cực độ của Cha Lý mà tái nhập cuộc đấu tranh mới chừng hơn một năm rưỡi nay. Bây giờ, những Cụ Lão thành đã công khai lên tiếng Đối Lập Chính Trị với ý nghĩa cao đẹp của bốn chữ ấy giữa những tên cướp quyền và cướp của. Các Cụ chắc chắn ý thức được sự khủng bố tàn nhẫn của những tên cướp, nhưng các Cụ vẫn làm. Lời đầu tiên mà tôi thưa với Cụ TRẦN ĐẠI SƠN là tôi vô cùng cảm phục cái DŨNG của các Cụ. Tôi mong mỏi rằng Dân Việt không thể để những ngọn đuốc sáng của cái DŨNG này bị dập tắt đi. Tôi nói với Cụ rằng xin cho tôi, một người không có cái DŨNG của các Cụ, được hết lòng ủng hộ sự cương nghị nêu gương Lịch sử nơi các Cụ. Tôi xin được phép, nếu các Cụ cho phép, được lên tiếng hô hào tại nước ngòai để hòan tòan yểm trợ sự cương trực bất khuất của các Cụ. Tôi nghĩ đến những Vị Lãnh đạo Tinh thần Tôn giáo của tôi, đã yên lặng trước những đau khổ của một Cha Lý, của những cô gái quá nghèo đói mà phải bán thân sớm mặc cho tinh thần, cho đạo đức bị dầy đạp,  mà tôi buồn.


=> Đòi hỏi tiến tới Đối Lập Chính trị thực sự
 Trong sự chuyên chính cai trị hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam, tòan Dân và những Vị làm Chính trị chân chánh phải đòi hỏi Đảng Cộng sản tôn trọng cái ý nghĩa đích thực của việc LÀM CHÍNH TRỊ, nghĩa là họ phải xóa bỏ Điều 4 của Hiến Pháp hiện hành. Điều 4 này đểu cán và mất dậy lắm. Đó là sự lừa đảo trắng trợn. Thực vậy:
- Quốc hội do họ đặt đa số tuyệt đối người của Đảng trong đó
- Đảng viết ra Điều 4 và cho vào Hiến Pháp để chính Quốc hội của họ chấp nhận
- Họ tuyên bố là Dân cho họ quyền độc đóan lãnh đạo, quản trị Nước
- Họ coi Nước là Đảng và Đảng là Nước
- Họ bắt Dân phục vụ ’’Nước’’ hay đúng hơn là cho Đảng của họ
- Ai phát biểu khác với ý của Đảng, thì họ đổ tội cho là phản lại Nước để trị tội 
Chúng tôi chưa gọi Phong trào Đối lập hiện nay là việc Đối Lập Chính trị theo đúng nghĩa, mà Phong trào mới còn đang ở giai đọan đòi hỏi Cộng sản phải đi đến Đối Lập Chính Trị thực sự, nếu ho (CS) ï còn liêm xỉ nhận mình là những người Làm Chính Trị đàng hòang.
=> Sự Đối Lập Chính Trị đích thực là cần thiết trong việc Quản trị Đất Nước
 Khi Dân trao quyền Quản trị Đất Nước cho một Nhóm Đảng làm chính trị là Dân muốn Nhóm Đảng ấy phục vụ cho quyền lợi của mình và của Đất Nước. Điều ấy có nghĩa là trong Nước có nhiều Nhóm Đảng cùng thi thố trình bầy Đường lối Quản trị cho Dân để Dân chọn. Chúng ta ở trong một chế độ Dân chủ theo đúng nghĩa, có sự cạnh tranh thi thố về tài năng Quản trị. Đối Lập là ở trong phạm vi thi thố này.
 Có hai góc cạnh để nhìn sự cần thiết của việc Đối lập thi thố này.
 Góc cạnh thứ nhất là đứng trong một chế độ chuyên chính độc tài. Trong chế độ này, việc quản trị Đất Nước là chỉ có mình Đảng Cộng sản quyết định. Những nhân viên quản trị là do Đảng chỉ định theo lựa chọn của riêng Đảng. Họ được bao che hoặc chế tài, nếu có, bởi chính Đảng, chứ không bởi Dân chúng. Thậm chí nếu Dân chúng công kích nhiều quá, những người Dân công kích này có thể bị Đảng vu cáo kết án tù tội. Trong một hệ thống quản trị như vậy, người quản trị yên thân, chỉ cần chiều Đảng, không có kích thích sinh động sáng tạo, không cần phải cố gắng cải thiện cách thế quản trị. Xin lưu ý rằng ’’Nhân chi sơ, tính lười biếng’’. Khi được Đảng cho làm quan rồi và được bao che yên thân, người quan quản trị với tính lười biếng của bản tính con người sẽ trở thành quan liêu, không cần phải cố gắng cải thiện gì hết cái hệ thống quản trị quan liêu của họ. Đó là một hệ thống quản trị cô đọng, hủ lậu trước những tiến bộ so với những nước khác có đối lập và cạnh tranh. Ngày nay, chính Đại hội Đảng kỳ IX đã phải than lên cái tính cách quan liêu trong hệ thống cai trị. Không cần phải có những nhà Đầu não tư tưởng mới khám phá ra cái lý do quan liêu này. Cái lý do rất đơn giản, đó là hậu quả của một thể chế độc quyền, độc đảng, không đối lập, không cạnh tranh, không có sự chế tài của dân. Thực vậy, với tính lười biếng của con người, trong một thể chế được bao che yên thân, những người quản trị không còn kích thích cải thiện nữa. Tôi tưởng tượng đòan người quản trị trong hệ thống thiếu sinh động này giống như đàn gà trống thiến, chỉ ục ịch đi tìm ăn no cho béo, không cần phải quan tâm cố gắng cải thiện gì cả. Đối lập là một liều thuốc kích thích và một biện pháp chế tài cho đàn gà trống thiến này vậy.
 Nhìn ở góc cạnh của một thể chế tôn trọng dân chủ, có sự kích thích cạnh tranh, có sự chế tài thực sự của Dân chúng, chúng ta thấy liền cái tính cách sinh động sáng tạo, có sự cố gắng cải thiện cách thế quản trị việc chung. Cái tiến bộ nằm ở sự cố gắng sáng tạo cạnh tranh. Cái tính lười biếng quan liêu sẽ bị Dân chúng chế tài theo luật đào thải. ’’Nhân chi sơ, tính lười biếng’’, vì vậy cần phải có Tự do Ngôn luận, Tự do Báo chí và Đối lập chính trị làm động lực tẩy rửa cái tính quan liêu, lười biếng, thiếu cải thiện của lũ gà trống thiến ục ịch quan liêu.


=> Đối lập cần thiết cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường
 Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 89/09.08.02, chúng tôi đã trình bầy rằngcá nhân làm kinh tế, kiếm được nồi cơm làm tư hữu, thì điều quan trọng hơn cả là phải bảo vệ sự an tòan của nồi cơm ấy, rồi nếu nồi cơm bị mất mát điều gì thì người chủ phải có phương tiện khiếu nại mong thu hồi những gì mất mát. Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí là Phương tiện bảo vệ nồi cơm và cho hy vọng thâu hồi những mất mát.
 Đối lập Chính trị là sự nối dài của Tự do Ngôn Luận và Tự do Báo chí của những người chuyên nghiệp về đấu tranh.
 Tự do Ngôn luận, Tự do Báo chí để tạo dư luận của quần chúng nhằm bảo vệ những quyền của Dân chúng, trong đó có quyền tư hữu nồi cơm. Nhưng đó mới là xử dụng phương tiện bảo vệ bằng dư luận quần chúng.  Khi dư luận quần chúng đã tạo được rồi, phải có những người chuyên nghiệp nắm lấy vấn đề để đấu tranh đưa những bất công ra trước Pháp Luật để có quyết định tối hậu. Những người chuyên nghiệp này là Lực lượng ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ.
 Tóm tắt tiến trình như sau: Vụ bất công-> Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí để phanh phui bất công cho dư luận quần chúng-> Đối lập Chính trị đấu tranh để đưa nội vụ vào địa hạt chuyên môn của Luật Pháp-> Tòa án, địa hạt chuyên biệt, thẩm định và phán quyết sự bất công. Hãy quan sát cái tiến trình này trong những xã hội có Dân chủ, có Tự do Ngôn Luận, có Tự do Báo chí, có Đối Lập chính trị và có Tổ chức Pháp Lý độc lập và được tôn trọng, chúng ta nhìn thấy sự cần thiết rất quan trọng của Đối Lập. Đối lập gồm những người chuyên môn (Professionals), có lực lượng để đấu tranh, biết Luật pháp để đưa nội vụ ra cho Tòa phán quyết.
 Khi những nhà Tư bản gặp sự bất công do quyền lực cai trị tạo ra, họ nói lên và đưa nội vụ ra công luận. Nhưng để bắt đấu cuộc tự vệ thực sự, họ phải nhờ đến Lực lượng Đối Lập. Đây là Phương tiện chuyên môn và hữu hiệu để những người làm ăn trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường bảo vệ tư hữu của mình chống lại bất công của bạo quyền.
 KẾT LUẬN: Đối lập Chính trị đích thực phải hiện diện cho một xã hội Dân chủ tân tiến, sinh động và là Phương tiện hữu hiệu để cá nhân bảo vệ an tòan của nồi cơm trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI:
QUYỀN TƯ HỮU PHẢI ĐƯỢC PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH.
 Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.
Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Bài QUAN ĐIỂM này bàn về Điểm thứ tư: QUYỀN TƯ HỮU PHẢI ĐƯỢC PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM. Những số sau sẽ lần lượt bàn tới từng Điểm kế tiếp.
 Những điều sẽ bàn trong bài QUAN ĐIỂM này như sau:
=> Tư hữu và Công hữu
=> Vốn tư được Pháp luật bảo đảm trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường
=> Minh định Luật Pháp về quyền Truất hữu


TƯ HỮU VÀ CÔNG HỮU

 Trong một Xã hội tôn trọng nguyên tắc Dân chủ, sự phân biệt giữa Tư hữu và Công hữu rất rõ rệt. Tư hữu là những gì thuộc quyền xử dụng của mỗi cá nhân, trong khi ấy Công hữu là những gì mà cá nhân không thể chiếm hữu riêng cho mình được vì chúng thuộc quyền của mọi người. Đối với Tư hữu, cá nhân có quyền định đọat một mình việc xử dụngxử dụng, trong khi ấy đối với Công hữu, mọi người phải được quyền cùng quyết định, theo đa số, trao quyền xử dụng cho một Tổ chức quản trị việc chung mà chúng ta gọi là Nhà Nước. Một Đảng Chính trị, một Tổ chức gồm Nhóm tư nhân, ứng cử trước Dân chúng, trình bầy một đường lối quản trị việc chung, và nếu Dân thấy đường lối đó tốt, thì Dân trao quyền Quản trị Công hữu cho Nhóm ấy.

 Chúng tôi xin chú thích liền ở đây rằng Đảng Cộng sản Việt-Nam đã lạm quyền Dân chúng một các trắng trợn khi họ dùng Điều 4 của Hiến Pháp để dành tất cả quyền xử dụng Tư hữu hoặc Công hữu cho họ. Thực ra Cộng sản đã dùng bạo động đàn áp để Truất hữu cá nhân, thu mội quyền xử dụng về cho Đảng họ mà họ coi như chính Nhà Nước. Đây là độc tài chuyên chính của Cộng sản.

 Việc nhượng quyền xử dụng có thể được thực hiện bởi chủ hữu sở. Một cá nhân, chủ hữu sở một khu nhà, có thể nhượng quyền xử dụng tư hữu của mình cho Nhà Nước với giá cả xử dụng mà Nhà Nước phải trả cho Tư nhân. Tỉ dụ Khu đất Nhà chung Hà nội, tư hữu, có thể được nhượng quyền xử dụng cho Nhà Nước để họ lại bán quyền khai thác cho một Công ty Mafia nào đó của HongKong để tổ chức mãi dâm, thì phải có sự đồng ý của Đức Hồng Y TỤNG và Tổ chức Quản trị của Tổng giáo phận mà Ngài trao phó. Cũng vậy, Hồ Gươm Hà Nội là Công hữu, Nhà Nước có thể nhượng quyền khai thác du lịch cho một Công ty tư nhân trong những điều kiện mà Dân chúng đã trao quyền cho Nhà Nước.

 Phải có sự phân biệt và Luật pháp phân định như trên, thì Cộng đồng mới có tiêu chuẩn thẩm định và sống trong trật tự. Cá nhân có quyền của cá nhân, Nhà Nước có quyền của Nhà Nước. Không thể nói cá nhân hơn quyền của Nhà Nước, cũng không thể nói Nhà Nước tha hồ đè bẹp cá nhân.

 Tôi thường nói rằng cái đời tốt đẹp không phải là người ta nhao nhao lên làm ơn làm phước, mà trước hết nó tốt đẹp ở chỗ mỗi người biết đâu là quyền của mình và tôn trọng quyền của người khác trong cuộc sống va chạm Cộng đồng. Luật pháp hãy phân định tỉ mỉ những quyền ấy và mọi người hãy tôn trọng cái Luật pháp đã được chấp nhận theo nguyên tắc Dân chủ. Xã hội Pháp trị tốt đẹp là ở chỗ đó.  


VỐN TƯ ĐƯỢC LUẬT PHÁP BẢO ĐẢM
TRONG NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG

 Tư hữu là việc chiếm hữu của Cá nhân về một cái gì, như thân xác mình, quần áo mình mua riêng, cái nhà mình xây lấy vân vân...Cá nhân có quyền ngồi ngắm nhìn tư hữu mà thấy thú vị, sảng khóai, thỏa mãn...Không ai có quyền trách cá nhân về thái độ này. Nhưng cá nhân có thể xử dụng tư hữu mình để làm tăng thêm tư hữu nữa. Đó là việc khai thác Kinh tế. Cái tư hữu xử dụng để làm tăng thêm tư hữu được gọi là VỐN. Chúng tôi gọi là VỐN TƯ khi mà tư hữu được xử dụng trong việc làm phát sinh thêm tư hữu (lợi nhuận). Đó là danh từ được phân biệt bởi Kinh tế gia. Trong phần này, thay vì dùng tiếng TƯ HỮU, chúng tôi dùng tiếng VỐN TƯ.

 Cái quyền TƯ HỮU là cái quyền tự nhiên từ bản năng của những Sinh vật. Quyền bảo vệ tư hữu là quyền tự vệ để sinh tồn từ con rắn, con rết, con cá, con mắm và con người từ thuở còn ăn lông ở lá. Cộng sản muốn tước đọa quyền ấy là phản tự nhiên, là trở về lòai thấp bé hơn sâu bọ.

 Khi con người có tình cảm là lúc nó muốn chiếm tư hữu. Hai người lấy nhau là vì tình cảm dâng cao độ đến chỗ dành trọn thân xác và tâm hồn, trí tuệ làm tư hữu cho người mình yêu thương. Lấy vợ, lấy chồng là chiếm tư hữu. Cộng sản nói rằng cô Mít, Chị Xòai,...anh Cò, thằng Cu,...là công hữu, nghĩa là Cộng sản coi những người ấy không phải là của riêng ai, mà trở thành điếm cái, điếm đực không hơn không kém!

 Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số197/13.01.2005, chúng tôi đã trình bầy rằng hai tiếng TƯ HỮU hay VỐN TƯ là tiền đề để thiết lập cả một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường:

1. Tiền đề TƯ HỮU

 Tư hữu là bản năng tư nhiên của những sinh vật kiếm sống và bảo tồn sự sống của mình từ khi sinh ra cho đến khi chết. Con Sóc biết kiếm hột dấu kỹ cho mình phòng Mùa Đông lạnh. Xem những phim về súc vật, chúng ta thấy những con vật đã đi tiểu tiện vòng vòng ở một khu đất để cho đồng loại khi ngửi mùi nước tiểu ấy thì biết rằng đây là vùng đất đã bị chiếm hữu. Loài vật từ bản năng biết chia ranh giới khu vực tư hữu.
 Cộng sản chủ trương Công hữu, nhưng không thể đi đến chỗ khẳng định dứt khoát rằng thân xác của mỗi người là công hữu. Tôi muốn bắt đầu quyền tư hữu bằng tư hữu chính thân xác của tôi. Cộng sản chưa dám nói rằng thân xác của một nữ cán bộ của Đảng là công hữu, bởi vì nếu thân xác của nữ cán bộ này là công hữu, thì Đảng có quyền quyết định xử dụng thân xác của cô, quyết định dùng thân xác của cô  làm hộ lý tùy theo Kế hoạch của Đảng.
 Khi thân xác của tôi thuộc về tôi, thì tôi phải lo lắng tìm phương tiện bảo tồn nó. Tôi phải có quyền tư hữu tối thiểu một số phương tiện giúp tôi kiếm sống.
 Về phương diện này, một trong những Thông điệp quan trọng của Tòa Thánh Vatican về Học thuyết Xã hội đã lấy tên là Tư hữu, trong đó quyền tư hữu không phải là điều chủ trương mà là quyền tự nhiên.

2. Quyền XỬ DỤNG Tư hữu

 Khi chấp nhận quyền Tư hữu, thì hệ luận trực tiếp là Chủ hữu sở phải có quyền xử dụng tư hữu ấy. Nói cho tư hữu mà không cho quyền xử dụng, thì đó là nghịch lý, không phải là quyền tư hữu nữa. Trong sự tôn trọng tư hữu của người khác, Chủ hữu sở phải có quyền tự do xử dụng những phương tiện tư hữu của mình để làm ăn kiếm sống, bảo tồn thân xác của mình. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, đây là cái quyền tự do kinh doanh (Libre entreprise).

3. Kinh tế TỰ DO KINH DOANH sản xuất

 Như trên vừa nói, nền Kinh tế Tự do kinh doanh chỉ là cái hệ luận tiếp theo của sự chấp nhận quyền Xử dụng Tư hữu gắn liền với bản năng tư hữu tự nhiên. Mỗi cá nhân có quyền xử dụng những phương tiện sản xuất tư hữu của mình đề lo kiếm sống. Nhà Nước không được can thiệp vào công việc mưu sống này của tư nhân bởi vì sự mất còn của kinh doanh là sự mất còn của tư hữu, chứ không phải là công hữu. Những luật lệ của Nhà Nước phải hướng về phía tích cực là tạo những điều kiện cho sự phát triển tự do kinh doanh. Nhà Nước đứng quan sát sự phát triển tự do kinh doanh và là trọng tài để giữ quân bình giữa những đơn vị tư doanh. Quan niệm về vị trí của Nhà Nước như vậy đã được khai triển bởi những Nhà Kinh tế cổ điển Anh (les Classiques Anglais) như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Sau đó dưới sự thúc đẩy của khuynh hướng Xã hội, Nhà Nước được tăng một chút quyền, nhưng chỉ ở phạm vi cho ra những Chỉ đạo chung (Directives générales), chứ không có quyền can thiệp (Intervention) vào nội bộ Kinh tế tư doanh. Nói một cách nôm na rằng tiền vốn là của người ta, để cho người ta làm ăn. Nếu Nhà Nước can thiệp vào để bó buộc cách thế làm ăn, người ta bị thua lỗ, mất vốn, Nhà Nước có thường tiền cho người ta hay không ?

4. Kinh tế TỰ DO tiêu thụ cá nhân

 Việc tự do tiêu thụ cũng đến từ cái quyền tư hữu những sản phẩm. Khi cá nhân xử dụng vốn tư để làm ăn sinh lời, thì tư nhân có quyền thụ hưởng cái kết quả do mình làm ra. Cái quyền được tự do chiếm hữu những kết quả làm ăn là động lực căn bản của nền kinh tế tự do sản xuất. Không có cái quyền tư hữu những kết quả sản xuất này, nền kinh tế sẽ bị tê liệt. Nếu những kết quả của những cố gắng sản xuất lại bị bó buộc nhường cho người khác, thì chẳng ai muốn cố gắng làm việc nữa. Nếu chịu khó dùng vốn tư của mình để làm ăn, thua lỗ thì tư nhân ráng chịu, còn nếu khi được lời thì lại phải bó buộc nộp cho Nhà Nước tiêu xài, thì chẳng ai muốn làm việc nữa. Việc san sẻ những lợi tức mà cá nhân kiếm được chỉ là những lời khuyên, cổ võ, chứ không phải là việc bó buộc, chế tài.

5. Kinh tế THỊ TRƯỜNG

 Thị trường chỉ là hậu quả của cá nhân tự do kinh doanh sản xuất và cá nhân tự do tiêu thụ. Người ta gọi đó là CHỢ (Economie de Marché). Thay vì lấy uy quyền và Kế hoạch của Nhà Nước để điều hợp Kinh tế, thì cái CHỢ làm công việc điều hợp này giữa CUNG từ sản xuất và CẦU từ tiêu thụ. Với bảo đảm của  một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Assurance de l’Environneme Politico-Juridique adéquat) Cái CHỢ là nơi thể hiện thực sự quyền TỰ DO và quyền DÂN CHỦ cụ thể nhất. Nhà Nước chỉ đứng ở thế làm trọng tài nếu có những vi phạm luật chợ giữa những cá nhân, nhưng chính những cá nhân tự do cung, tự do cầu mới là những chủ lực giữ sự quân bình của nền Kinh tế tôn trọng Thị trường. Cái CHỢ thay thế cho Kế hoạch của Nhà Nước trong nền Kinh tế Thị trường. Còn đối với nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Nhà Nước ngồi chình ình ra ở Chợ, bó buộc những cá nhân sản xuất, những cá nhân tiêu thụ mang hàng quà đến để Nhà Nước quyết định chia cho chút ít hay là chiếm trọn gói cho Nhà Nước. Một nền Kinh tế như vậy, thì không ma dại nào làm hùng hục để mang kết quả đến cho Nhà Nước hưởng.
 Nhìn vào hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như vừa trình bầy ở trên, chúng ta nhận thấy những điểm sau đây:

-> Lợi điểm thứ nhất của nền Kinh tế này là một sự khuyến khích cố gắng làm việc bởi vì cá nhân có quyền tư hữu những kết quả của công việc làm của mình. Thực vậy, làm việc mà bỏ chung vào để người khác cùng hưởng, thì đó là sự khuyến khích lười biếng. Nhưng nếu những kết quả làm việc thuộc về mình, thì mình cố gắng làm việc đêm ngày. Anh SAMPRAS chơi Tennis, nếu những giải phải bỏ chung vào để Nhà Nước tùy nghi phân phối cho người khác, thì có lẽ anh hết cố gắng tập luyện đêm ngày nữa. Các cô bán hàng người Nga trong chế độ Liên xô, rất đẹp, trường túc, nhưng rất tiếc là thiếu nụ cười, bởi vì có cố gắng cười với khách hàng thì Nhà Nước cũng chẳng thêm cho đồng lương. Kinh tế Tự do Thị trường tạo điều kiện tự nhiên tăng năng suất rất cao.

-> Lợi điểm thứ hai là việc cổ võ Tiết kiệm. Tiết kiệm là tiến trình đi đến độc lập của một nền Kinh tế và cũng cho một Quốc gia nữa. Điều kiện của Tiết kiệm là phải tôn trọng Tư hữu, hay nói cách khác quyền Tư hữu khuyến khích Tiết kiệm. Thực vậy không ai dành dụm để dâng tiền cho Nhà Nước (Công hữu) xài. Tất cả các nước Xã hội Chủ nghĩa  không những thiếu vốn mà còn thiếu nợ, bởi vì không ai tiết kiệm cả. Họ nói là có độc lập, nhưng tôi không tin bởi vì nghèo quá phải đi ăn mày, người giầu sẽ đặt điều kiện cho lời tuyên bố độc lập của họ. Nền kinh tế tôn trọng Tư hữu cổ võ tiết kiệm. 

-> Lợi điểm thứ ba là giảm thiểu Lãng phí. Thực vậy, Lãng phí là tình trạng’’Cha chung không ai khóc’’, ’’Tiêu xài tiền Chùa’’,’’Xài tiền người khác chứ không phải của mình’’. Xin nhớ rằng Đồng tiền liền với khúc ruột. Khi đồng tiền là tư hữu, thì Chủ hữu sở biết căn cơ, không lãng phí. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, người ta còn khuyến khích cho những tư nhân tiêu xài lãng phí để tăng tiêu thụ, kích thích sản xuất. Chỉ có trong nền Kinh tế với Công hữu mới có hiện tượng kêu gọi chống lãng phí.

-> Lợi điểm thứ tư là có sự kiểm soát phanh phui Tham nhũng. Thực vậy, Tham nhũng có cả ở trong hai nền Kinh tế. Tham nhũng ở đâu cũng giống nhau, nhưng cái khác nhau là trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường, người ăn tham nhũng dễ bị phanh phui lật tẩy bởi vì có tự do báo chí, có sự đối lập về quyền hành, có sự trừng phạt của Luật pháp đồng đều, có sự phản kháng của chính cá nhân cho tham nhũng; trong khi ấy ở nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, việc tham nhũng có quyền hành bao che và dễ trở thành định chế, không có đối lực phanh phui. 

-> Lợi điểm thứ năm và rất quan trọng là trong hệ thống Tổ chức của nền Kinh tế Tự do Thị trường, chất xám của Nhân lực được nâng đỡ phát triển. Thực vậy, hệ thống tổ chức quyền hành theo kiểu Cấp bậc tập trung Kim tự tháp (Organisation hierarchique pyramidale) chỉ áp dụng cho sản xuất những sản phẩm thô sơ với nhân công rẻ và ở trình độ kiến thức thấp. Chúng ta ở vào thời đại mà những phương tiện truyền thông, giáo dục, thông tin được chuyển đi với tốc độ siêu thanh. Kỹ thuật tiến triển theo cấp số nhân. Kiến thức, chất xám được thu thập mau lẹ. Những sản phẩm trở thành tinh vi và phúc tạp. Trong một khung cảnh tiến hóa của thời đại như vậy, tổ chức Trung ương Tập quyền theo kiểu Tổ chức Cấp bậc Kim tự tháp cho Nhân lực đầy chất xám và cho sản phẩm tinh vi là một việc làm phản tiến bộ. Nhất là thêm vào đấy, tính cách độc quyền, sự áp đặt của Kế hoạch được trợ lực bởi Công an khủng bố là việc làm tiêu diệt kiến thức và những sinh động sáng tạo của nó. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng sự tiến bộ này của chất xám cá nhân. Những khuôn mẫu Tổ chức phân quyền hoặc theo Nhóm trách nhiệm (Organisation décentralisée modulaire/ Organisation par Groupes Responsables) được áp dụng để nâng đỡ tối đa sự tiến bộ của chất xám.

 Chúng tôi nhắc lại những điều đã viết trên để khỏi cần lặp lại và để cho thấy rằng khi Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì phải thực hiện đúng đắn cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) để gặt hái những lợi điểm và nhất là để tránh những thất lợi. Không thể làm tréo cẳng ngỗng được mà để những người có quyền lợi dụng cướp bóc lộn xà ngầu.

 LUẬT PHÁP phải được làm ra để bảo đảm VỐN TƯ và hệ thống Kinh tế là Hệ luận của nó, nếu không, những người có TƯ HỮU, có VỐN TƯ không ngu gì mà bị mắc lừa.


MINH ĐỊNH LUẬT PHÁP VỀ QUYỀN TRUẤT HỮU

 Trên đây là viết về Luật Pháp bảo đảm cho VỐN TƯ khai thác trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Khi Luật Pháp bảo đảm cho phương diện đó rồi, những Nhà tư bản còn xét về những bất trắc thuộc vấn đề Truất quyền Tư hữu. Như vậy mới yên trí mà bỏ vốn tư ra.Thực vậy bỏ vốn ra đầu tư là một Quyết định không thể hủy ngang (Décision irrévocable) bởi vì hủy ngang là mất vốn. Lúc bỏ vốn ra, nhà tư bản phải xét kỹ xem quốc gia ấy có Luật Pháp bảo đảm vốn tư như thế nào. Khi vốn đã bỏ ra rồi, thì việc thâu hồi có tính cách bất hồi tố. Nhà đầu tư phải xét kỹ xem những điều kiện Luật Pháp cho thực hiện tư doanh ra sao và nhất là nhìn những Điều khỏan của Luật Pháp về những trường hợp Truất hữu. Một thể chế như ở Việt-Nam hiện hành, với Điều 4 của Hiến Pháp cho phép Đảng Cộng sản có tòan quyền từ Lập Pháp cho đến Hành Pháp, thì cái khả năng Truất hữu rất lớn.
 Trong dịp Phỏng vấn của Ký giả KIỀU MỸ DUYÊN trên Đài Phát Thanh tại Mỹ, Cụ TRẦN VĂN THIỆN đã kể lại rằng Cụ biết một Tướng Cộng sản tên là Tấn và Tướng này đe dọa chặt những đầu con rắn tư bản khi chúng thò đầu ra, nghĩa là Cộng sản lừa cho chúng bỏ vốn ra để dùng quyền Truất hữu mà cướp vốn. Tôi trả lời rằng những người Tư bản cũng tinh khôn lắm. Khi chúng bỏ vốn ra, chúng phải đòi những điều kiện khiến Cộng sản chặt đầu không được. Sư đề phòng đầu tiên của những Nhà tư bản là ’’Tẩu vi thượng sách’’. Họ mang vốn đi đầu tư ở những nước tôn trọng tư hữu hơn như Phi-luật-tân, Thái Lan, Mã Lai...Hậu quả là nước ta thiếu vốn đầu tư vào, dân chúng nghèo khổ, Nhà Nước phải giải quyết vá víu là xuất khẩu lao động sang những nước chung quanh, nghĩa là chạy theo những Nhà tư bản đã dùng chính sách ’’Tẩu vi thượng sách’’ trước những điều kiện Luật Pháp không đủ bảo đảm tư hữu của một chế độ cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp.


KẾT LUẬN

 Để kết luận, chúng tôi xin lấy Thống kê cho biết Nhật bản đã giảm 50% số vốn đầu tư vào Việt Nam. Xin lưu ý rằng số vốn đầu tư của Nhật vào Việt-Nam, nếu giữ 100% cũng chỉ bằng 1/13 số vốn mà Nhật đầu tư vào Mã Lai. Bây giờ họ giảm xuống 50%, nghĩa là số vốn đầu tư của Nhật ở nước ta chỉ bằng 1/26 số vốn họ cho vào Mã Lai. Nhà Nước Việt Nam phải chạy theo mà xuất khẩu lao động sang Mã Lai.

 Theo tin từ HÀ NỘI 19-8-2002, người Đại diện của Qũy Tiền Tệ Quốc tế tại Á-châu đã nhấn mạnh về Môi trường Kinh tế Tự do và Thị trường, nhất là việc bỏ vốn đầu tư khỏi Việt-Nam: ’’Bà Wanda Tseng - đại diện của IMF tại châu Á - nói rằng "để có chiến lược cải thiện môi trường đầu tư thì phải duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế bền vững. Nâng cao hệ thống pháp lý, tạo sân chơi bình đẳng giữa khu vực kinh tế tư nhân và nhà nước. Tính minh bạch nhất quán trong việc áp dụng chính sách được coi là rất quan trọng (Vì hiện nay mỗi nơi làm một kiểu, mỗi địa phương, mỗi ngành áp dụng luật lệ một cách khác nhau)...’’
  
 Thủ phạm của việc giảm vốn đầu tư tại Việt-Nam, làm thối lui Kinh tế để Dân chúng phải đói nghèo, chính là cái Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng một thể chế chuyên chính bằng dùng bạo lực đàn áp của Công an làm phương tiện cai trị độc tài. Phải giải thể chế độ chuyên chính này để cứu nước.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI:
TƯ DOANH CŨNG NHƯ QUỐC DOANH
CÓ ĐỒNG ĐỀU NHỮNG QUYỀN LỢI CẠNH TRANH


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH.
 Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.
Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Bà QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 202/17.02.2005 bàn về Điểm chót của 5 Điểm mà chúng ta yêu cầu nhà cầm quyền phải tôn trọng để có thể tạo một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat) để có thể thực hiện đứng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường như họ đã buộc lòng phải quyết định theo tiến trình Định mệnh Chính trị—Kinh tế (Fatalité Politico-Economique) đang xẩy ra tại Việt-Nam hiện nay. Hai tiếng ’’PHÁP LÝ’’(Juridique) và ’’KINH TẾ’’(Economique) song hành. Tiếng Pháp lý là đặt cái Khung, cái Nguyên tắc làm khuôn khổ đối chiếu để thẩm định đâu là trúng và đâu là trật của những sinh họat Kinh tế. Cái lòng tham kinh tế làm phát sinh những lạm dụng, những lạc lòai, những biến chứng đi xa khỏi những nguyên tắc pháp. Cần phải có Khuôn khổ Pháp lý làm điểm đối chiếu để ngăn chặn, kéo lại những người làm kinh tế theo lòng tham, theo những lạm dụng, những lạc lòai và những biến chứng bẩn thỉu.

 Bốn Điểm đầu của 5 Điểm đòi hỏi cho Môi trường Kinh tế Tự do và Thị trường bàn về những nguyên tắc Chính trị và Pháp lý. Điểm thứ 5 chót này bàn về việc thực hiện phức tạp của đời sống cạnh tranh Kinh tế mà cái động lực của sự cạnh tranh là lòng tham nằm trong mỗi cá nhân. Với 4 Điểm đầu, chúng ta có thể bàn vắn gọn và dứt khóat bởi vì những Điểm này thuộc về những vấn đề Nguyên tắc. Còn về Điểm thứ 5 này, chúng ta không thể bàn vắn gọn và đơn giản được bởi về nó đi vào đời sống phức tạp thực tế của lòng tham đưa tranh kinh tế. Đó là những lắt léo phải tìm ở những phòng kín, những ngõ hẻm, những thủ thỉ, những dàn xếp bằng gật đầu...hay ngay cả những thanh tóan thủ tiêu thân xác.

 Vì những phức tạp như vậy của Điểm thứ 5, nên trong khuôn khổ của bài QUAN ĐIỂM vắn gọn của tờ báo, chúng tôi chỉ cố gắng nêu ra một số những vấn đề chính yếu với tính cách nguyên tắc. Còn về những lắt léo cạnh tranh của đời sống Kinh tế diễn ra hàng ngày, chúng tôi mong mỏi sẽ khai triển tuần tự trong những số báo tới. Nếu Tiểu thuyết về những câu chuyện tình là đầu đề muôn thuở ở bất cứ đâu và bất cứ thời đại nào, thì những lắt léo cạnh tranh Kinh tế thực tiễn cũng là đầu đề muôn thuở của mọi thời đại và của mọi xã hội.

 Chúng tôi hạn hẹp bài QUAN ĐIỂM này ở những khía cạnh sau đây:
=> Một số tỉ dụ cụ thể để dẫn nhập
=> Vấn đề lợi dụng Công quyền trong Sinh họat Kinh tế
=> Tiến tới một sự canh tranh Kinh tế đồng đều
Một số tỉ dụ cụ thể để dẫn nhập

 Những tỉ dụ có thể tìm thấy trong bất cứ một nền Kinh tế nào, trong bất cứ một chế độ Chính trị nào, chứ không phải chỉ nguyên ở nền Kinh tế Kế họach Tập quyền của chế độ Chính trị chuyên chính Cộng sản hay chỉ nguyên ở nền Kinh tế Tự do và Thị trường trong một thể chế Chính trị lấy nguyên tắc Dân chủ làm nền tảng.
 Tỉ dụ thứ nhất: Khi Tổng thống CLINTON sắp chấm dứt nhiệm kỳ II, Oâng đã dùng quyền ân xá để xóa tội cho một nhà Tài chánh Hoa kỳ ẩn tránh tại Thụy sĩ vì bị Luật pháp Mỹ kết tội. Việc ký ân xá này xẩy ra một đêm trước khi Oâng CLINTON giao quyền cho tân Tổng Thống BUSH. Trong nội vụ, phải chăng có sự dàn xếp kinh tế, tài chánh nào đó?

 Tỉ dụ thứ hai: những Man rợ Tài chánh (Financial Barbaries). Tôi học và dậy về Kinh tế và Tài chánh, nhưng những bài học ấy chỉ nêu ra những nguyên tắc tốt đẹp và đầy đủ chi tiết. Trong trên 10 năm nay, tôi làm việc ở thực tế tài chánh và nhận thấy rằng khi nói về những nguyên tắc bảo đảm an tòan tài chánh, thì đồng thời cũng phải nghĩ rằng đối thủ đang nghĩ cách biển thủ tiền bạc một cách đê tiện mà bài học không nghĩ tới. Kinh nghiệm về tình cảm không giống nhau, thì kinh nghiệm về tiền bạc cũng khác nhau. Sự mất tiền bạc là ở những điểm rất nhỏ không ngờ tới và do đó những bài học làm sao viết ra được. Cách đây một số năm, một nhân viên cao cấp của Tổng Công Ty Vật Tư Nông Nghiệp Hà nội đã chửi tôi. Số là Tổng Công ty là một Thư Tín Dụng (Letter of Credit) do Ngân Hàng Vietcombank phát hành. Tôi đòi buộc họ phải làm Khẳng định với Trách nhiệm (Confirmed with Responsibility) bởi một Ngân Hàng lớn Tây Phương. Thế là nhân viên cao cấp kia cho tôi một bài về sự lớn lao của Vietcombank, nói rằng tôi là người Việt-Nam mà vong ngọai, không tin ở Ngân Hàng Việt Nam, mà chỉ tin vào ngoai bang. Cuối cùng Oâng ta đề nghị rằng Bộ Tài chánh sẽ viết thư Khẳng định và Bảo đảm. Tôi đã trả lời Oâng ta rằng:’’Đối với tiền bạc, tôi không tin ai cả. Cho dù Oâng Đỗ Mười điểm chỉ mười đầu ngón tay để bảo đảm, tôi cũng không tin. Tôi chỉ tin Ngân Hàng Thụy sĩ đếm cho tôi từng đồng đo-la !’’

 Tỉ dụ thứ ba: Ngân Hàng Nhà Nước Việt-Nam có thể xập tiệm. Trước đây một số năm, những Oâng Tổng Giám đốc những Công ty quốc doanh ở Việt Nam thường là những người có công đánh nhau khỏe. Đảng đặt các Oâng vào những vị trí ấy như là thưởng công, chứ không phải vì khả năng điều hành Kinh tế. Khi phải Bảo lãnh để có tiền thực hiện một dự án mà những thợ viết dự án cho in ra từng lọat, các Oâng đề nghị những Ngân Hàng thương mại như Ngân Hàng Ngọai thương, Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển, ngay cả Ngân Hàng tư Hàng Hải Việt-Nam...Tất nhiên với những món tiền từ 50 triệu, phải có tối thiểu việc tái Bảo Lãnh của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam. Lúc ấy, tôi quen biết Tiến sĩ Phùng Khắc Kế, Giám đốc Tín dụng của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam. Tiến sĩ than thở với tôi rằng làm thế nào mà tái bảo lãnh được. Nếu không làm tái bảo lãnh, thì những Oâng có công với Cách mạng và Chiến tranh này mắng tôi: ’’Thời ấy trong quân đội, bố của anh còn dưới quyền tôi, sao anh không ký giấy tái bảo lãnh cho tôi!’’. Nhưng nếu ký giấy tái Bảo lãnh rồi, các Oâng ấy được tiền, rồi biển thủ luôn mà không lo làm ăn hoặc không biết làm ăn để trả nợ, thì Ngân Hàng Nhà Nước phải ạch cổ ra mà hòan vốn cho nước ngòai. Lúc ấy Ngân Hàng Nhà Nước phải bị xập tiệm. Xin qúy vị lưu ý rằng những vụ dàn xếp, che đậy, biển thủ, kiện cáo đã xẩy ra thực sự  trong hệ thống Ngân Hàng Việt Nam với những món tiền khổng lồ.
Tôi xin kể một tỉ dụ rất gần đây. Một Công ty Aán độ gửi cho tôi một hồ sơ về dự án xây cất con đường Hòa Lạc. Trong hồ sơ, tôi thấy tờ Bảo Lãnh 100 triệu đo-la, phát hành bởi Ngân Hàng Hàng Hải Việt-Nam mà Trụ sở chính là Hải Phòng. Người ký Bảo Lãnh là Tiến sĩ CHU QUANG THU, Chủ tịch Ngân Hàng Hàng Hải. Người hưởng Bảo Lãnh là một Công ty của một người Mỹ gốc Việt ở Texas. Tờ Bảo Lãnh này được chuyển qua Texas cho Công ty người Mỹ gốc Việt. Công ty này lại chuyển tờ Bảo Lãnh cho một Công ty Mỹ gốc Aán độ ở California. Công ty này giữ tờ Bảo Lãnh với Certificate of Safekeeping. Công ty giữ Bảo Lãnh lại chuyển hồ sơ cho một Công ty Aán độ tại New Dehli. Công ty này gửi hồ sơ cho Công ty Wim-Impact của tôi tại Thụy sĩ để nhờ tôi làm chiết khấu hoặc vào những Chương trình Đầu tư với lợi nhuận cao. Ngân Hàng Hàng Hải là một Ngân Hàng tư và nhỏ, vốn chưa tới 10 triệu đo-la, và tất nhiên không thể bảo đảm cho tờ Bảo Lãnh 100 triệu. Nhưng bên cạnh tờ Bảo Lãnh này, lại có tờ Tái Bảo Lãnh bởi Ngân Hàng Nhà Nước Việt-Nam do Tiến sĩ PHÙNG KHẮC KẾ ký. Tôi biết cả hai vị Tiến sĩ này: Tiến sĩ CHU QUANG THU và Tiến sĩ PHÙNG KHẮC KẾ. Hai người trước đây đã cùng học với nhau. Khi thấy những giấy tờ này, tôi hiểu nội vụ và yêu cầu Công ty Aán độ lấy thêm Giấy tái Khẳng định của Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt-Nam. Khi Công ty Aán độ chuyển lời yêu cầu của tôi về Ngân Hàng Nhà Nước Việt-Nam, thì từ đó Công ty Aán độ và những Công ty bên Mỹ cũng như phía Việt-Nam yên tiếng luôn, không liên lạc với tôi nữa. Oâng Thống độc hiện hành biết tôi và biết quan điểm của tôi về những lắt léo tài chánh này, nhất là việc tài chánh ở Việt-Nam giữa các Ngân Hàng.

Tôi còn nhiều những tỉ dụ cụ thể. Nhưng vì bài viết hạn hẹp, nên xin phép không kể tiếp. Tôi mong sẽ kể ra trong những dịp khác.

Những tỉ dụ trên đây cho tôi rút ra câu kết luận như sau: trong bất cứ nền Kinh tế nào, bất cứ thể chế Công quyền nào, những nguyên tắc Luật pháp có thể được đặt ra cho đời sống Kinh tế. Theo nguyên tắc, những người cầm quyền phải thi hành những Luật pháp này, nhưng khi nắm quyền hành trong tay, có những người nắm quyền này vì lòng tham kinh tế vô đáy, lợi dụng quyền lực mà lươn lẹo, lắt léo để thủ lợi cho cá nhân mình ở dưới gầm tòa nhà Luật pháp.   


Vấn đề lợi dụng Công quyền trong Sinh họat Kinh tế

 Các Kinh tế gia của nền Kinh tế Tự do và Thị trường đã suy nghĩ nhiều về những can thiệp của Công quyền vào đời sống Kinh tế tư doanh. Những tỉ dụ vừa nêu ra ở trên là những tỉ dụ mà các Kinh tế gia này đã thuộc lòng từ lâu. Vì vậy mà những Kinh tế gia tư bản đã dứt khóat tách rời Công quyền ra khỏi đời sống Kinh tế tư nhân và tự do.

 Những Công ty quốc doanh là những Công ty trực tiếp với Công quyền hay nói cách khác quyền lực Đảng và Nhà Nước dùng người của mình để nhập vào đời sống Kinh tế để dành dựt miếng ăn. Đây là phương diện nguy hiểm làm phát sinh tính cách ưu đãi được che chở công khai bằng quyền lực trong cuộc cạnh tranh kinh tế. Chủ trương của những Kinh tế gia tư bản tư doanh nhấn mạnh về những điểm sau đây:

=> Khi không có những lý do chính đáng và cấp thiết vì quyền lợi chung, thì Nhà Nước không được quyền can thiệp vào đời sống Kinh tế tư nhân. Việc can thiệp này có thể đi đến ưu đãi đặc quyền khiến xáo trộn đời sống kinh tế. Thực vậy khi những kẻ có quyền lực cùng dành dựt miếng ăn với những người không có quyền lực, thì những kẻ có quyền dễ có khuynh hướng dành cho mình những đặc ân đặc lợi làm xáo trộn trật tư kinh tế và ngay cả trật tự chính trị. Đây là chủ trương thực tiễn dựa trên bản chất thầm kín của mỗi cá nhân trong cuộc cạnh tranh tìm những phương tiện sống.

=> Trong nền Kinh tế tự do và thị trường, cũng có thể chấp nhận những Công ty quốc doanh, nhưng chỉ ở trong những phạm vị mà cá nhân không thể đảm nhận và về những ngành nghiệp nắm chủ chốt những vấn đề đụng chạm đến an ninh quốc gia hoặc đến quyền lợi thiết cần cho đời sống của đại đa số quần chúng. Trong những nước mà nền Kinh tế tự do và Thị trường chưa tiến đến mức độ cao hẳn, những phạm vi như Điện, Nước, Chuyên chở công cộng, Điện thọai...nên danh cho những Công ty quốc doanh dưới sự trách nhiệm trực tiếp của Nhà Nước. Người ta sợ rằng khi tư nhân nắm ngành Điện, Nước, có thể xẩy ra việc áp lực của những tư nhân tới chính trị Nhà Nước, hoặc tới vấn an ninh công cộng. Tuy vậy, khi mà nền Kinh tế tự do và Thị trường được thiết lập vững chắc ở mức độ cao, Nhà Nước có thể dành ngay một số những ngành nghiệp mà đại chúng tiêu thụ này trong tay những nhóm tư nhân để đạt được những hiệu năng cao hơn và giá tiêu thụ rẻ hơn cho dân chúng. Tỉ dụ cụ thể là ngành Điện thọai tại Hoa kỳ. Tại Mỹ, có những nơi dân có thể tổ chức Cảnh sát tư nhân để có hiệu lực hơn. Một số Nhà Tù tại Mỹ được tư nhân hóa. Chính những tù nhân cảm thấy thỏai mái hơn và ngân khỏan của Liên Bang về Nhà Tù cũng giảm xuống. Tóm lại việc xử dụng Công ty quốc doanh chỉ dành cho những phạm vi tối cần mà cá nhân không thể đảm nhận. Tuy vậy, khi nền Kinh tế đã phát triển đến mức độ cao, thì chính những ngành nghiệp này cũng dần dần được tư nhân hóa để đạ hiệu lực tối đa.

=> Đặc biệt đối với vấn đề Giá cả ở Thị trường, thì những Kinh tế gia tư bản nhấn mạnh rằng Nhà Nước không được can thiệp vào. Thị trường là nơi thực hiện hàng ngày về cái quyền dân chủ kinh tế. Nếu cái quyền Dân chủ chính trị được thể hiện trong mỗi dịp bỏ phiếu, thì cái quyền Dân chủ kinh tế phải được áp dụng và thể hiện mỗi khoẳng khắc mà người mua và người bán gặp nhau tại nơi tụ họp để trao đổi phương tiện sống là cái CHỢ. Vì vậy những Kinh tế gia tư bản yêu cầu Nhà Nước không được dùng quyền lực Chính trị mà áp đảo việc thể hiện Dân chủ Kinh tế. Chính cái CHỢ nắm quyền hành điều hợp sự cân bằng và trật tự Kinh tế. Quyết định tối hậu và tượng trưng cho CHỢ là GIÁ CẢ. Mỗi lần Nhà Nước dùng quyền lực can thiệp vào GIÁ CẢ là mỗi lần có sự mất thăng bằng và trật tự Kinh tế, đồng thời gây ra những Chi tiêu xã hội mà những người dân đóng thuế phải gánh chịu. Tỉ dụ khi thấy giá cả của một số nhu yếu phẩm tăng lên, Nhà Nước’’xã hội’’ có khuynh hướng can thiệp vào để áp đặt một giá cao nhất mà tư nhân không thể vượt qua. Người ta gọi đó là Giá trần nhà (Prix plafond). Nhà Nước’’xã hội’’ cho rằng đây là việc họ phải can thiệp vào để bênh đỡ cho đại đa số quần chúng nghèo. Thực ra, theo những Kinh tế gia tư bản, thì việc can thiệp nhân danh ’’xã hội’’ này có thể xẩy ra những biến chứng đi ngược lại ’’xã hội’’ bởi vì chính đại đa số quần chúng nghèo lại phải tốn kém chịu đựng những biến chứng. Những Kinh tế gia tư bản cắt nghĩa như sau. Khi giá cả có khuynh hướng tăng lên, điều ấy có nghĩa là CẦU lớn hơn CUNG ở CHỢ. Nhà Nước can thiệp bằng cách định một Giá trần nhà. Với giá cả áp đặt đó, thì CẦU vẫn cao hơn CUNG và CUNG lại giảm dần đi vì cái Giá mà Nhà Nước áp đặt hạ. CUNG càng giảm, thì CẦU càng tăng. Người tiêu thụ lại muốn mua với Giá cao hơn nữa đối với Giá trước khi Nhà Nước áp đặt. Một tình trạng CUNG và CẦU như vậy, tất nhiên phát sinh ra nạn CHỢ ĐEN. Chính những người nghèo phải đi mua với giá chợ đen cao hơn giá bình thường. Đây là điểm làm hại giới nghèo. Về mặt Chính quyền, để có thể kiểm sóat được giới Chợ đen, Nhà Nước phải tăng cường cơ quan Cảnh sát, cơ quan Kiểm sóat. Ai phải trả lương cho những cơ quan Cảnh sát, cơ quan Kiểm tra ? Đó cũng chính là những dân nghèo phải đóng thuế thêm mà trả lương. Như vậy Nhà Nước khi can thiệp vào giá cả, tưởng là mình làm việc’’xã hội’’ giúp dân nghèo, nhưng ngược lại đã chất chồng thêm những tốn kém cho dân nghèo. Lấy tỉ dụ cụ thể ở Nga. Khi Nhà Nước giữ giá cố định thấp, dân Nga tại Moscow phải xếp hàng từng cây số mới mua được nửa ký thịt với giá áp đặt chính thức. Thịt bị khan hiếm ở địa điểm tiêu thu. Nhưng những nhóm Mafia bán thị ở hậu trường với giá Chợ đen cứ cổ. Tổng thống ELSIN đã quyết định cho tự do giá cả. Giá tăng cao lên để theo kịp với CẦU. Nhưng vì giá tăng lên, nên CUNG cũng tăng. Người ta thấy việc xếp hàng giảm xuống. Nạn chợ đen cũng đỡ phải kiểm sóat. Khi tháo khóan giá, giá tăng lên, vì vậy mà CUNG tăng. Giá bắt đầu hạ xuống để đi đến chỗ bình thường và cân bằng của Kinh tế.

 Từ những chủ trương căn bản trên đây của những Kinh tế gia tư bản, chúng ta hãy nhìn xem nền Kinh tế Việt-Nam đang ở trong tình trạng nào.

 Với tình trạng hiện nay của nền Kinh tế Việt Nam, chúng ta thấy những điểm sau đây:

 Không những Nhà Nước không hạn hẹp việc can thiệp của mình vào nền Kinh tế, mà Đảng và Nhà Nước còn chủ trương cho những đảng viên đứng ra nắm những chủ chốt sinh họat của nền Kinh tế. Không những Nhà Nước không tìm cách hạn hẹp những Công ty quốc doanh lạm quyền, mà Nhà Nước và Đảng còn che chở cho người của Nhà Nước được những ưu đãi kinh tế, được lạm quyền công khai trong việc cùng tranh dành kiếm cơm với tư nhân. Chúng tôi tưởng tượng đến việc những Công ty tư doanh như những con trừu tìm kiếm ăn, không được nói lên những oan ức khi bị hà hiếp. Trong đồng cỏ mà trừu đang kiếm ăn ấy, Nhà Nước thả vào một bầy chó Sói của Đảng. Những con chó Sói này hung dữ, lại có quyền, được che chở. Đó là những Công ty quốc doanh. Tất nhiên những con chó Sói này, thay vì ăn cỏ, lại xơi tái luôn mấy con Trừu tư doanh. Một nền Kinh tế tự do và Thị trường muốn cho đúng nghĩa, phải rút đàn Sói hung hăng đầy quyền lực kia lại. Phải có sự giám sát nghiệm minh để Sói khỏi ăn thịt Trừu. Trong đời sống cạnh tranh tìm miếng ăn, nếu để con Trừu không có phương tiện tự vệ cạnh con Sói đói được chủ che chở bằng quyền lực, thì Sói sẽ tìm cách ăn thịt Trừu. Nếu chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực, thì đừng Đảng đừng thả lũ chó Sói đói ra và che chở chúng.

 Các Kinh tế gia tư bản chủ trương cho phép Công ty quốc doanh chỉ trong những ngành nghiệp mà tư nhân không thể đảm nhận. Nhưng tại Việt-Nam hiện nay, Đảng và Nhà Nước lại đi dành dựt tất cả những ngành nghiệp ngon bở cho những Công ty quốc doanh, nghĩa là tất cả những việc gì dễ dàng và có lợi nhiều thì Đảng và Nhà Nước cho người của mình vào ăn hớt sinh họat của tư nhân. Đây là Đảng tranh ăn với dân, chứ không phải Đảng giúp dân sinh sống. Trong cuộc tranh sống này, Đảng lại giữ Điều 4 của Hiến Pháp để độc quyền ăn hiếp dân. Để thực hiện đích thực một nền Kinh tế tự do và thị trường, Đảng hãy rút về vị trí của mình.

 Đối với cái CHỢ, nơi thể hiện hàng ngày quyền Dân chủ Kinh tế, Đảng và Nhà Nước cộng sản đã dùng tòan quyền Chính trị để can thiệp vào một cách trực tiếp hay gián tiếp. Trực tiếp là khi Nhà Nước áp đặt những giá cả. Cái biểu tượng của Dân chủ Kinh tế là giá cả tự do đã bị quyền Chính trị chà đạp. Gián tiếp là khi những Công ty quốc doanh, tay chân của Đảng, theo chỉ thị của Đảng, đứng vào cả hai bên CUNG và CẦU của CHỢ để việc định đọat Dân chủ Kinh tế của cá nhân không được thể hiện nữa.

Tiến tới một sự canh tranh Kinh tế đồng đều

 Với những tỉ dụ dẫn nhập mà chúng tôi đã kể ra trên đây, chúng ta chấp nhận rằng trong bất cứ nền Kinh tế nào, cũng có những kẻ lạm quyền, những người tìm đường lắt léo để tránh né Luật pháp làm cái Khuôn khổ cho Sinh họat cạnh tranh Kinh tế. Tuy nhiên, chúng ta nhìn thấy sự khác biệt của những lạm quyền, của những lắt léo trong nền Kinh tế tự do và thị trường đích thực, nghĩa là dưới một thể chế chính trị dân chủ đúng đắn, và trong nền Kinh tế dưới một chế độ độc tài chuyên chính. Trong phần vừa phân tích trên đây, chúng ta nhìn rõ sự khác biệt ấy:

=> Trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực, nghĩa với sự tôn trọng Dân chủ, những kẻ lạm dụng quyền hành để thủ lợi trong Kinh tế bị phanh phui ra và Luật pháp tìm cách nghiệm trị.

=> Nhưng trong đời sống Sinh họat Kinh tế hiện nay ở Việt-Nam, những kẻ lạm quyền, lắt léo lại nắm quyền hành và được ô dù quyền hành che chở.  Khi đàn Trừu và đàn Sói cùng tranh sống, đàn Trừu bị tước đọat những phương tiện tự vệ như kêu lên (quyền tự do ngôn luận) hoặc như đứng chung lại cho có sức mạnh (quyền lập Hội), trong khi ấy đàn Sói có quyền, lại được chủ bao che, thì việc lạm dụng, tung hòanh bất công của đàn Sói không những không cần phải lén lút gì cả, mà còn trở thành công khai.
 Để có thể tiến tới một nền Kinh tế Tự do và Thị trường trong đó mọi tư nhân có quyền họat động Kinh tế đồng đều để kiếm sống, cần phải tìm cách tách rời cái quyền Chính trị ra khỏi cái quyền tranh sống làm ăn. Quan niệm của những Kinh tế gia tư bản đã rất rõ rệt về điểm này. Thực trạng Sinh họat Kinh tế tại Việt Nam, với những lãng phí, tham nhũng, lạm quyền là một chứng minh hùng hồn cho chủ trương tách rời quyền Chính trị ra khỏi quyền Kinh tế, nếu Đảng và Nhà Nước thực tình giải quyết nạn thối lui Kinh tế bằng giải pháp Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Mặc dầu Bộ Chính trị, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm và Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng lọat tuyên bố việc chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng nếu những Vị ấy vẫn chủ trương dùng quyền lực độc đóan Chính trị mà áp đặt lên việc thực hiện Dân chủ Kinh tế như trên vừa tình bầy, thì đó là việc tuyên bố tréo cẳng ngỗng, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia mà thôi.
 Để tháo gỡ việc tréo cẳng ngỗng, nghĩa là để tiến dần đến một nền Kinh tế tự do và thị trường đích thực, phải lần lượt thực hiện những điểm mà chúng tôi đã nêu ra và đòi hỏi:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
Đây là việc tước bỏ việc lạm quyền, việc cho phép những người của Đảng dùng quyền lực Chính trị mà thủ lợi Kinh tế trong cuộc tranh sống với những tư nhân. Không được chủ trương Điều 4 này để dành độc quyền Chính trị để can thiệp và thủ lợi Kinh tế.
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
Đây là việc cho những tư nhân làm kinh tế mà không có quyền lực được phép nói lên để bênh đỡ cho những bất công mà họ phải chịu do những kẻ lạm quyền của Đảng cùng làm Kinh tế. Đây là phương tiện tự vệ của con Trừu trước đàn Sói của Đảng đầy quyền lực do Điều 4 của Hiến Pháp cho phép.
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
Đây vũng là phương tiện tự vệ của đàn Trừu. Phải cho phép những con Trừu đứng chung lại để cùng cất lên một tiếng nói trước đàn Sói của Đảng Cộng sản.
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
Đây là sự kích thích làm ăn. Đồng thời đây cũng là sự an tòan để những người có vốn tin tưởng mà bỏ vốn vào nền Kinh tế
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường. 
Với việc thực hiện đúng đắn những điểm đòi hỏi trên đây, nền Kinh tế mới tiến dần đến việc giảm đi những Công ty quốc doanh, nghĩa là những người có quyền hành rút dần ra ngòai việc cạnh tranh Kinh tế. Khi một người có quyền hành cùng làm Kinh tế, họ dễ dàng lợi dụng bóng gió quyền hành mà thủ lợi, và trong lúc ấy khôngù có sự cạnh tranh đồng đều.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



-----------------------------------------------
TUONG QUAN KINH TE-CHINH TRI
-----------------------------------------------

TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
QUYỀN DẠ DẦY LÀ LÝ DO CĂN BẢN
ĐƯA ĐẾN GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Trong những tháng đầu của năm 2002, Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.


LOẠT BÀI THỨ NHẤT:
MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP

 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:

1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)
 
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.


LOẠT BÀI THỨ HAI:
TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ

Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.

 Bài hôm nay bàn trước hết về những trường hợp tự giải thể của Chế độ Cộng sản và sau đó nói về sự đóng góp của chúng ta trong giai đoạn này dẫn đến việc mau mắn tan rã của chế độ Cộng sản Việt-Nam.

CHỨNG CỚ LỊCH SỬ VỀ VIỆC TỰ GIẢI THỂ CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

 Không phải vì bi quan mà tôi thường khẳng định rằng hầu hết những quyết định về tương quan quốc tế, dù dưới những chiêu bài hào nhoáng luân lý hay tình người, có những động lực chính yếu liên quan đến quyền dạ dầy (stomach right). Dưới danh nghĩa trợ lực tái thiết Aâu-châu sau Thế Chiến thứ II, người Mỹ quyết định Chương Trình Marshall với 173 tỉ Mỹ kim, duới danh hiệu nhân đạo hỗ trợ tái thiết cho đẹp, nhưng thực tế ai cũng biết những động lực hoàn toàn chính đáng và đáng ca ngợi sau đây:

=> Làm cho Aâu-châu trở thành những nước có khả năng mua hàng của Mỹ. Đây là nguyên tắc mà Henry FORD đã nói rằng:’’Tôi trả lương hậu cho công nhân của tôi để họ có tiền mua xe hơi mà tôi sản xuất’’. Đây cũng là nguyên tắc rất đúng với định nghĩa của Marketing. Thực vậy, theo tác giả trứ danh KOTTLER về Marketing, môn học này không phải là đi chinh phục Thị trường để áp đặt người mua, để giết bạn hàng của mình, mà là một môn học nghiên cứu nhằm ’’Phân chia đồng đều lợi tức giữa người bán (người sản xuất) và người mua (người tiêu thụ)’’. Kinh tế Thị trường phải có người bán người mua cùng mạnh thì mới phát triển được.

=> Với Chương trình Marshall, không phải chỉ nguyên động lực Thương mại, mà còn động lực Chính trị nữa. Hoa-kỳ biết rằng, để Aâu-châu  khỏi rơi toàn vẹn  vào tay Cộng sản, thì phải làm cho Aâu-châu giầu lên. Staline cũng biết như vậy, nên Oâng đã cấm các nước chư hầu Đông Aâu nhận tiền bạc của Chương trình Marshall. Thù địch của Cộng sản là phát triển Kinh tế.

 Đưa ra những nhận xét trên đây, chúng ta thấy dễ hiểu nguyên nhân làm giải thể Chế độ Cộng sản mà chúng tôi sẽ kể ra đây.

1) Tỉ dụ của Đảng Cộng sản Pháp

 Về việc Oâng LE PEN được vào Tuyển cử chung kết, chúng tôi không muốn bàn sâu về chủ trương của Oâng và của Đảng Mặt Trận Quốc gia (Front National) của Oâng. Chúng tôi chỉ muốn nói đến việc Đảng Cộng sản Pháp tự động phải khai tử. Thực vậy, chiều tối ngày 28.04.02, khi cho cảm tưởng về việc bầu phiếu Tổng thống đợt đầu (Premier Tour), Oâng Le Pen được vào đợt hai với Oâng CHIRAC (cả hai Oâng thuộc phía hữu), Oâng Le Pen tuyên bố liền rằng Oâng rất vui mừng vì ba điều: điều thứ nhất là Dân không đi bầu nhiều vì chán nản với thể chế lúc này do Đảng Xã hội của JOSPIN cầm đầu; điều thứ hai là ĐẢNG CỘNG SẢN PHÁT TỰ GIẢI THỂ KỂ TỪ LÚC NÀY. Thực vậy, Đảng Cộng sản Pháp chỉ có 3,27% tổng số phiếu, không đủ số phiếu quy định để Nhà Nước trả tiền quảng cáo. Lý do của việc giải thể này chính là những công nhân và nông dân của những vùng Cộng sản đã chiếm trước đây, đã bầu phiếu cho Oâng Le Pen, và vì lý do là tâm trạng của những nông dân và công nhân ấy đã không cảm thấy an toàn về cuộc sống với những lời hứa trường kỳ của Đảng Cộng sản cũng như Đảng Xả hội. Đây là việc tự giải thể của Đảng Cộng sản Pháp do chính những thành phần cốt cán của Đảng quyết định.

2) Tỉ dụ tự giải thể vĩ đại của Cộng sản Liên Xô và Đông Âu

 Lý do chính yếu của việc tự giải thể này là vấn đề quyền dạ dầy (stomach right).
 Trong những số Viet TUDAN cách đây không lâu, tôi đã đề cập đến Định mệnh Chính trị--Kinh tế (Fatalité Politico-Economique) và Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste) tất yếu dẫn đến việc chấm dứt ý thức hệ Cộng sản và việc tự giải thể Chế độ Chính trị Cộng sản.

 Thực vậy, cuộc ’’Cách Mạng vô sản Cộng sản’’ chỉ lả việc dùng một lời hứa’’Thiên đàng Cộng sản’’ để lừa Dân đang lầm than vào cuộc đấu tranh giai cấp giết người tàn bạo mà mục đích là chiếm độc quyền quyền thống trị cho nhóm Hội kín ăn cướp quyền hành cho mình của Lénine. Mục đích của nhóm này là Chính trị.

 Nhưng ngưỡng vọng của Dân chúng lầm than là cái quyền dạ dầy, nghĩa là bụng không đói. Ý thức hệ Cộng sản đưa đến đích điểm là’’Thiên đàng Trần thế’’. Nhưng Dân chúng chờ hoài và cảm thấy rằng Thiên đàng ấy chỉ là lời hứa ảo tưởng (Promesse utopique), trong khi ấy dạ dầy mỗi người Dân cần phải có gì cho vào. Không thực hiện được lời hứa đối với Dân, thì chế độ Cộng sản dùng những chiêu bài tinh thần như ’’Aønh hùng sản xuất! Chiến sĩ lao động! Mẹ Cách Mạng! ...’’. Nhưng khi bụng đói, thì những chiêu bài ấy không đủ sức đẩy Dân tuân theo chỉ thị Chính trị của Đảng Cộng sản. Đảng không dùng chiêu bài cổ võ tinh thần nữa, mà dùng đến sức mạnh để khủng bố bắt ép Dân phải làm theo mình. Hệ thống khủng bố Công an của Cộng sản trở thành phương pháp thống trị.

 Nhưng bụng Dân vẫn đói, đói đến gần chết! Khi đói gần chết, thì Dân hết sợ đám khủng bố Công an. Đàng nào cũng chết, nên Dân nổi dậy. Yù thức hệ Cộng sản chết, những Chế độ Cộng sản Liên xô và Đông Aâu tự giải thế vì lý do bụng đói của Nhân dân.

 Đảng Cộng sản Pháp hoặc Liên xô’’tuyệt đỉnh của trí tuệ loài người’’ không cần phải biện luận cao kỳ kiểu những Triết gia Sorbonne mới hiểu việc tự giải thể này. Cứ lấy cái bụng đói để suy ra cái động lực của việc chấm dứt một ý thức hệ và việc tự giải thể của các chế độ Cộng sản dựa trên lới hứa ảo tưởng. Tôi thích nhìn thực tế theo kiểu nhà quê! Thực vậy, cái dạ dầy của tôi bóp liên hồi. Nó cần mấy hột cơm để bóp, chứ nếu chỉ có lời hứa trong bụng thì nó bóp không được.

KINH THẾ THỊ TRƯỜNG DẪN ĐẾN TỰ GIẢI THỂ CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Cộng sản Trung quốc và Việt Nam cố thủ giữ lấy quyền hành. Đây là thái độ cố chấp tội lỗi. Họ biết rõ rằng ý thức hệ Cộng sản và Chế độ chuyên chế Cộng sản phải cáo chung, nhưng họ lì lợm tìm cách lừa bịp nữa để cố thủ giữ lấy quyền hành. Đây là cái trọng tội đối với dân tộc. Việc mở cửa và đổi mới chỉ là thoa dịu cái Định mệnh Chính trị-Kinh tế (Fatalité Politico-Economique)  mà tôi vừa nêu ra trong những tỉ dụ ở trên. Họ buộc phải theo đường hướng Kinh tế Thị trường nếu không muốn việc tự giải thể như tại Liên xô và các nước Đông Aâu.
 Những tiếng ’’Định hướng Xã hội Chủ nghĩa’’ chỉ là những tiếng vô nghĩa nhằm cứu vãn cái danh dự hão mà họ biết rằng chính cái Thiên đàng Cộng sản cũng không có. Họ vẫn lập đi lập lại những tiếng ấy mong Dân còn mơ mộng hão huyền mà giúp họ cố thủ giữ lấy quyền hành.
 Khi viết đến điều này, nhiều khi tôi mang ý tưởng không được tích cực. Thực vậy, nhiều lúc tôi tự nói rằng:’’Nếu dân chúng Việt-Nam vẫn còn tin vào lời hứa ấy của Cộng sản, thì hãy cứ tiếp tục, tại sao tôi phải mất giờ ra báo, hô hào, đấu tranh làm gì. Cứ để cái bụng đói rũ ra, thì xem còn tin vào lời hứa của Cộng sản hay không’’. Nhưng rồi nghĩ đến đồng bào bị kềm kẹp, đàn áp, không nói lên được sự thật của lòng mình, trong đó có anh em họ hàng của tôi, nên tôi lại tranh đấu, lại viết báo...’’.
 Dù Cộng sản VN dùng lời hứa mới, vẫn kìm kẹp dân Việt Nam, nhưng họ đã phải buộc lòng đi vào Kinh tế Thị trường. Chính việc này sẽ dẫn họ đến cái Định mệnh thứ hai, đó là Định mệnh Tư bản. Chính định mệnh này sẽ dẫn họ đến tự giải thể. Thực vậy, xin nhắc lại Chương trình Marshall của Hoa kỳ cho Aâu-châu. Chính là chương trình tái thiết Kinh tế Tư bản và Thị trường mang một trong hai mục đích chính là ngăn chặn sự bành trướng của Liên xô trên toàn Aâu-châu. Điều ấy có nghĩa là Hoa kỳ  đã quá hiểu rằng Tư bản và Thể chế Kinh tế Thị trường là một Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste) chống lại Cộng sản
 Cộng sản Việt-Nam đi vào Định mệnh này.

ĐÓNG GÓP CỦA CHÚNG TA TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH VIỆC TỰ GIẢI THỂ CSVN

 Tôi luôn luôn chủ trương rằng Lực lượng người Việt hải ngoại chỉ làm công tác ngoại vận cho Lực lượng chính yếu tại quốc nội để chế độ Cộng sản phải tự giải thể. Những tỉ dụ trên đây cho thấy rằng Cộng sản không bị giải thể bằng những Lực lượng đối chọi ngoại tại. Cộng sản tự giải thể bằng chính Lực lượng nội tại qua Định mệnh Chính trị—Kinh tế và Định mệnh Tư bản. Đúng vậy, Tây Đức không tấn công để giải thể chế độ Cộng sản Đông Đức. Chính chế độ này tự giải thể từ nội tại với Định mệnh Chính trị—Kinh tế. Tôi không bao giờ mơ mộng người Việt hải ngoại, từ ngoài, mang Lực lượng về giải phóng Quê hương khỏi ách Cộng sản.
 Nhiệm vụ của chúng ta là làm công việc ngoại vận để trợ lực cho chính Lực lượng quốc nội trong việc loại trừ chế độ Cộng sản chuyên chế.
 Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste) với Kinh tế Thị trường đã bắt đầu và đang được cổ võ tại Việt-Nam. Buộc lòng Cộng sản phải làm như vậy, nếu không họ sẽ phải chịu hậu quả của Định mệnh Chính trị—Kinh tế (Fatalité Politico-Economique) tái diễn như ở Nga và các nước Đông Aâu.
 Trong những bài này, chúng ta cũng thấy rằng việc đi theo thể chế Kinh tế Thị trường là bất hồi tố ở Việt-Nam, nghĩa là Cộng sản buộc phải đi trên con đường dẫn đến việc tự giải thể. Từ nước ngoài, chúng ta góp  sức với Lực lượng quốc nội để đẩy mau việc tự giải thể này.

NHỮNG ĐỀ TÀI ĐỂ KHAI TRIỂN TRONG LOẠT BÀI THỨ HAI

 Trong những số báo tới, chúng tôi xin lần lượt đi vào chi tiết của những biện pháp thực tiễn liên quan đến cái động lực chủ yếu từ quyền dạ dầy (stomach right) đã và sẽ dẫn đến việc tự giải thể của chế độ Cộng sản.

 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

     Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 
 
 

TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
ĐỊNH MỆNH TƯ BẢN
VÀ ĐẨY MẠNH VIỆC TỰ GIẢI THỂ CỦA CSVN
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.

LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 Yù tưởng chính yếu trong bài này là nhìn nhận việc đang đi vào Định mệnh Tư bản của Cộng sản Việt-Nam và tìm những biện pháp đẩy mạnh việc tự giải thể của chế độ độc tài Cộng sản ấy.
   
VIỆC TỰ GIẢI THỂ CỦA CỘNG SẢN
ĐÃ XẨY RA NHƯ ĐỊNH MỆNH

Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số vtdx0078 ngày 02.05.02, chúng tôi lược tóm lý do chính yếu của bviệc tự giải thể của những chế độ Cộng sản Liên xô, các nước Đông Aâu và thử nhìn con đường đang dẫn đến việc tự giải thể của chế độ Cộng sản Việt-Nam.

=> Chúng tôi gọi là tự giải thể có nghĩa rằng từ trong lòng chế độ, gồm Đảng, Nhà Nước và khối Dân đang bị khống chế, phát sinh một động lực nổ bùng ra phá tan chế độ (Implosion). Thực vậy, không có hiện tượng một lực lượng ngoại tại đối diện đánh vào để dẹp chế độ. Chúng ta chỉ ghi nhận hai trường hợp mà lực lượng ngoại tại đập tan Cộng sản khi mà những người này đang ở giai đoạn tiến đến chiếm chính quyền để thiết lập chính thức chế độ chuyên chế của họ, nghĩa là ở lúc mà Cộng sảngchưa chiếm trọn quyền hành. Đó là trường hợp của Nam Dương và của Chí Lợi. Soekarno tại Nam Dương đã thẳng tay trừng trị Cộng sản khi cái đầu của nó mới đập vỡ vỏ trứng và định chui ra hoành hành. Pinochet tại Chí Lợi đã cứng rắn diệt Allende và đồng bọn khi đám này muốn đặt chế độ Cộng sản tại nước này. Ngoài hai trường hợp ấy, các chế độ Cộng sản khi đã được thiết lập, dù coi là  vững chắc,  sau một thời gian đã dần dần đi đến tự giải thể vì cái Định mệnh Chính trị—Kinh tế  (Fatalité Politico-Economique). 

=> Cái động lực cơ bản đưa đến việc tự giải thể, đó là việc không thể giải quyết vấn đề Kinh tế cho Dân. Động lực ấy là cái quyền Dạ dầy (Stomach Right) của Dân. Người ta sống không phải chỉ nguyên vì cơm gạo, nhưng không có cơm gạo, thì người ta chết và hết sống để nghĩ đến những quyền khác. Cộng sản đã dùng Kinh tế để phục vụ Chính trị đảng phái, nên dân đói và chết. Bụng đói và trước khi chết, thì Dân khùng lên, đạp tan những cùm kẹp chính trị của Đảng.  
=> Trung Cộng và Việt Cộng nhìn rõ cái tàn nhẫn của Định mệnh Chính trị—Kinh tế ấy, buộc lòng phải đổi mới, mở cửa, nhưng vẫn muốn giữ chút thể diện cho ý thứ hệ bằng những từ như’’định hướng XHCN’’,’’đang quá độ tiến lên XHCN’’... Đó là những xảo ngữ. Hai nước này phải tìm giải quyết quyền Dạ dầy ở con đường Kinh tế Tự do và Thị trường. Không tìm con đường này, cái Định mệnh Chính trị—Kinh tế cũ sẽ đập tan chế độ của họ tức khắc như ở Nga và Đông Aâu. Nhưng khi buộc lòng phải tìm giải quyết ở Kinh tế Tự do và Thị trường, thì họ phải tiến đến một cái Định mệnh thứ hai, đó là Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste). Trung Cộng và Việt Cộng đang phải chấp nhận Định mệnh này. Đi vào Kinh tế Tự do, Thị trường, tức là đi trên con đường dẫn đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản. Biết như vậy, mà vẫn phải đi, vì vậy chúng tôi gọi là Định mệnh.

 Tóm tắt lại một cách đơn giản: Dân bị cùm kẹp trong chế độ Cộng sản, trước khi chết đói, thì bùng dậy đập tan chế độ. Đó là Định mệnh Chính trị--Kinh tê (Fatalité Politico-Economique). Phải giải quyết bằng Kinh tế Tự do, Thị trường, nếu muốn trì hoãn việc tự giải thể. Nhưng với Kinh tế Tự do, Thị trường, khi no đủ và giầu có rồi, thì Dân phải bảo vệ sự no ấm và sung sướng của mình, không để Cộng sản cướp bóc nồi cơm của mình để phục vụ chính trị độc đoán cũa Đảng. Đó là Định mệnh Tư bản (Fatalité Capitaliste).

NHẬP CUỘC ĐẨY MẠNH
KINH TẾ TỰ DO, THỊ TRƯỜNG

 Tại Trung Cộng, Giang Trạch Dân đã phải tuyên bố cho người tư bản nhập Đảng. Giai cấp trung lưu đang chiếm dần ưu thế. Đài Loan đã dùng số vốn khổng lồ của mình để đấu tranh chính trị đối với Trung Cộng. Người ta không nói nhiều đến việc Trung Cộng đe dọa tấn công Đài Loan nữa. Nắm Tài chánh là nắm mạch tim của Kinh tế. Đài Loan đang nắm mạch tim ấy trong Kinh tế Hoa-Lục, nhất là về tiểu công nghệ, ngành nghiệp chủ chốt của Kinh tế Trung Cộng lúc này. Quả thực, Đài Loan đã nhập cuộc và đấu tranh bằng con đường Kinh tế. Họ đang chiếm ưu thế trong việc đấu tranh  ’’Quốc—Cộng’’ cổ truyền.

 Về mặt trong nước, với những công kích của mọi giới của Đảng đối với các Công ty nhà nước, với Nghị quyết  07- NQ/TW của Bộ Chính trị cùng với những lời khẳng định của Nông Đức Mạnh về việc hội nhập Kinh tế Quốc tế (Tự do, Thị trường), với những lời tuyên bố công khai cổ võ Kinh doanh tư nhân của Phan Văn Khải, với những khích lệ các Công ty tư nhân mới đây của Nguyễn Mạnh Cầm, và với những Dự Luật tư nhân hóa những Công ty quốc doanh; về mặt Quốc tế, với những điều kiện mà Tổ chức Thương Mại Quốc tế (WTO / OMC) buộc Việt Nam phải tuân theo, với đòi hỏi và kiểm soát của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) khi cho Việt-Nam vay 110 triệu Mỹ kim với lãi suất ưu đãi để thực hiện Dự án xóa đói giảm nghèo cho những tỉnh con đẻ của chế độ tại Bắc Việt,  Cộng sản Việt-Nam buộc phải đi vào con đường Kinh tế Tự do, Thị trường.

 Đây là việc công khai chấp nhận đi vào cái Định mệnh Tư bản, nghĩa là Cộng sản chấp nhận đi vào con đường tự xóa bỏ Ý thức hệ của mình và tiến dần đến việc tự giải thể chế độ. Qua những lời tuyên bố trên đây, chúng tôi thấy rằng Cộng sản công nhận sự thất bại của mình và đồng ý (bó buộc) một cuộc tự giải thể, mặc dầu dùng một cách nói cho đẹp để chữa thẹn. Đây là cuộc cách mạng giải thể chế độ Cộng sản, nhưng có lẽ những người chủ trương, hoặc là còn tự thẹn thùng vì đã thuộc về chế độ nên phải chữa thẹn, hoặc là bộ máy Cộng sản cồng kềnh và quá nặng nề nên phải lựa chiều cách mạng cho khéo, đã không làm đột ngột bùng mạnh như ở Liên xô và Đông Aâu. Nhưng việc chấp nhận hay bó buộc giải thể chế độ Cộng sản đã được tuyên bố.

 Nhìn sự chuyển biến như trên, chúng ta, những người và những Phong trào đang đấu tranh cho Nhân quyền và cho Thịnh vượng nơi Quê hương, chọn thái độ nào và phương cách đấu tranh ra sao cho hữu hiệu nhất? Tất nhiên mục đích của chúng ta là đi đến việc giải thể chế độ Cộng sản, một chế độ khủng bố Nhân quyền và cản ngăn sự phát triển Kinh tế tại Việt Nam.

 Như trên đã thấy, chính Đảng (Bộ Chính trị và Tổng Bí Thư) và Nhà Nước (Thủ tướng và Phó Thủ tướng) đã khẳng định việc đi vào Kinh tế Tự do, Thị trường, con đường đi đến Định mệnh Tư bản để chế độ Cộng sản tự giải thể.

 Chúng ta, những lực lượng đấu tranh cho Nhân quyền và Thịnh vượng của Quê Hương cũng cùng nhắm việc giải thể chế độ Cộng sản mà tranh đấu. Do đó thái độ đấu tranh lựa chọn của chúng ta là NHẬP CUỘC cùng với Quốc nội đẩy mạnh cái tiến trình giải thể này. Cái động lực chủ yếu đưa đến giải thể là Kinh tế, quyền Dạ dầy của người Dân. Đánh chính vào cái động lực cơ bản ấy, thì cuộc đấu tranh mới gặt được kết quả hữu hiệu nhất mà chúng ta mong ước. Tỉ dụ khi chúng ta chỉ nêu trống không Nhân quyền, Dân chúng có thể nghe nhiều và đang bận tâm làm ăn, nên không chú tâm cho lắm đến việc ấy; nhưng khi chúng ta nói đến quyền Dạ dầy, Dân chúng thấy bụng đói nên cảm thấy liền và cùng chúng ta đấu tranh; khi chúng ta nói đến việc những Lãnh đạo tham nhũng, cướp tiền của Dân để gửi con cái đi học nước ngoài, sống vương giả, thì những sinh viên học sinh ở nhà, đang đói khổ, sống qua ngày mà vẫn phải ráng học mặc dầu học xong nhìn tương lai thất nghiệp, tất nhiên lãnh hội liền những điều chúng ta nói để cùng đấu tranh. Chúng ta nhìn cái động cơ chính yếu ấy, cái quyền Dạ dầy, mà đấu tranh để đẩy mạnh việc giải thể chế độ.

 Trong việc NHẬP CUỘC đấu tranh này, chúng ta phải giữ vững bản lãnh, phải giữ vững mục đích giải thể chế độ Cộng sản, nghĩa là khi NHẬP CUỘC, mà không nắm vững lập trường và mục đích, chúng ta có thể dễ trở thành công cụ cho đối phương.


BIẾN CHỨNG PHẢI ĐỀ PHÒNG

 Nhiều lần trong những số báo trước đây, chúng tôi luôn luôn nhắc tới những biến chứng có thể xẩy ra trên con đường Kinh tế Tự do, Thị trường để có thể đi đến một nền Kinh tế Tư bản phục vụ cho những nhóm Cộng sản Mafia.

 Có thể trường hợp xẩy ra như sau. Đảng và Nhà Nước Cộng sản tuyên bố con đường Kinh tế Tự do, Thị trường. Nhưng Đảng và Nhà Nước đang nắm độc quyền chính trị, độc quyền khủng bố, độc quyền tham nhũng, độc quyền ăn cướp của công làm của riêng. Giai cấp tư sản lớn lên trong Kinh tế Tự do, Thị trường. Nhưng với những độc quyền vừa kể ra, thì giai cấp tư sản này lại gồm những thành phần con cháu của những Lãnh đạo Cộng sản hiện hành. Lúc ấy, khi cái tên Cộng sản đã bị xóa đi và nền Kinh tế Thị trường mang danh hiệu là của tư nhân, nhưng những tư nhân kia lại từ Đảng, con cháu Lãnh đạo Đảng mà ra. Đó là nền Kinh tế tư bản Mafia thoát thai từ Cộng sản. Trong nền Kinh tế ấy, nhóm ăn cươp ban ngày lộ diện hiện nay  sẽ trở thành nhóm ăn cướp ban đêm khó thấy.

 Chúng tôi sẽ có dịp, trong những số báo tới, bàn về những biện pháp cấp bách để đề phòng biến chứng này và để tiến tới một thể chế Kinh tế Tư bản đích thực trong một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) mà Nhà Nước Cộng sản buộc phải chấp nhận; nếu không có được Môi trường thực hiện ấy, việc khẳng định đi theo Kinh tế Tự do, Thị trường chỉ là việc mị dân và lừa đảo.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
LỰA CHỌN ĐƯỜNG ĐẤU TRANH
THỰC TIỄN VÀ HỮU HIỆU
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 Đấu tranh chống Cộng, nhằm giải thể chế độ độc tài của họ để cho dân được hưởng những quyền căn bản của con người và để kinh tế Việt nam được phát triển, đó là công việc mà chúng ta đã làm từ những chục năm nay. Vấn đề chúng tôi muốn đặt ra ở đây là đâu là con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu nhất hiện nay.
 Trong bài QUAN ĐIỂM của  báo VietTUDAN số 79 trước, chúng tôi đã phân tích cái động lực chính yếu đã đưa đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản ở những nước Nga và Đông Aâu. Cái động lực ấy đi từ quyền Dạ dầy (Stomach right) cụ thể.
 Chính vì đang lo sợ cái động lực ấy lớn mạnh lên nơi dân chúng Việt-Nam, mà Đảng Cộng sản và Nhà Nước Việt-Nam đồng loạt tuyên bố việc chấp nhận nền Kinh tế Tự do, Thị trường như một đường lối cứu vãn chế độ. Nhưng chúng tôi lại nhìn thấy  con đường Kinh tế Tự do, Thị trường cũng chính là con đường dẫn đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản hiện hành tại Việt-Nam. Cộng sản hứa Thiên đàng trần thế cho dân, nhưng họ đã không làm được bởi lẽ họ đã bắt dân làm kinh tế để phục vụ cho ý đồ độcù quyền chính trị của họ, chứ không phải là phục vụ cho cái quyền dạ dầy của dân. Cái quyền dạ dầy là lý do của sự cố gắng làm kinh tế và cũng là mục tiêu gần nhất để phục vụ.
 Cộng sản VN đã khẳng định Kinh tế Tự do, Thị trường. Chúng tôi nhập cuộc và cũng lựa chọn con đường Kinh tế Tự do, Thị trường là con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu để đưa đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản. Thực tiễn và hữu hiệu  bởi vì dân nhìn thấy rõ cái quyền cụ thể  của dạ dầy hơn là lãnh hội cái ý nghĩa của nhân quyền trừu tượng, và nhất là bởi vì khi bụng đói thì phải giải quyết ưu tiên cái bụng đói ấy trước khi cùng chúng ta suy nghĩ về những gì trừu tượng.
 Cộng sản dựng lên bức tường Bá Linh. Khi bức tường này sụp đổ, chúng tôi đã có dịp nói rằng sẽ có bức tường Bá Linh thứ hai dựng lên, nhưng lần này bởi những người theo Kinh tế Tự do, Thị trường cốt ý bảo vệ những gì họ đã chịu khó làm việc tích trữ được để bảo đảm cho sự an toàn của cuộc sống ’’dạ dầy’’ của họ. Trong thập niên mới đây, những Đảng Xả hội các nước Tây Aâu vẫn tiếp tục mơn trớn dân chúng bằng những hình ảnh đẹp đối với tha nhân mà quên điều quan trọng đối với mỗi cá nhân là sự an toàn của của cuộc sống mỗi người, nhất là vật chất, là dạ dầy. Nhưng mới hai năm gần đây, chính những người dân không được an toàn về dạ dầy đã chuyển hướng chính trị Tây Aâu về phía hữu. Hai cuộc bầu phiếu ở Pháp và Hòa Lan cho thấy sự chuyển hướng rõ rệt này.  Aùo, Thụy sĩ, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Ý, Pháp, Hòa Lan không còn tin phía tả nữa, mà xoay chiều về phía hữu để có sự an toàn cần thiết nhất: an toàn của dạ dầy. Dân  không còn mơ Tiên như Cộng sản và Xã hội chủ nghĩa hứa, nhưng họ cần làm cho có tiền để tự mua lấy Tiên. Họ biết rằng hãy lấy Tư bản mà mua Cộng sản.
 Hãy nói đúng cái điều mà dân đang quan tâm thì dân mới nghe; Hãy giúp dân thực hiện điều mà dân đang muốn thì dân mới có cảm tình; Hãy cùng dân đòi hỏi Nhà Nước phải thực hiện nền Kinh tế Tự do, Thị trường đích thực. Đó là sự lựa chọn con đường đấu tranh của báo ViệtTUDAN mà chúng tôi coi là thực tiễn và hữu hiệu nhất để mau đi đến việc tự giải thể chế độ Cộng sản.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CỘNG SẢN:
AI GIẢI THỂ VÀ BẰNG CÁCH NÀO?
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

Đây là mục đích chính yếu của mọi Phong trào đấu tranh cho Dân chủ hiện nay: GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN để Dân được hưởng những quyền Tự do căn bản, để đời sống Kinh tế được phát triển. Hai câu hỏi luôn luôn là mối bận tâm:
* Ai giải thể chế độ Cộng sản hiện hành ? Từ Hải ngoại hay tại Quốc nội ?
* Giải thể bằng cách nào? Bằng võ lực hay bằng tiến trình Dân chủ không bạo động ?

Bài này muốn góp ý kiến về hai câu hỏi căn bản ấy.
                                                                                                                                    AI GIẢI THỂ ?

Có thể có những Phong trào nhìn vấn đề khác với chúng tôi và bất đồng ý kiến về việc phân tích trả lời hai câu hỏi. Nhưng chúng tôi đã chọn lựa thái độ cứ nói lên sự thực để ’’biết mình biết ta’’,  để cuộc đấu tranh đưa về những việc làm thực tiễn, có hiệu lực thực sự.

Người Việt từ Hải ngoại

 Chỉ lấy tiêu chuẩn tuổi tác, chúng ta có những nhận xét sau đây:

1) Lớp Thanh niên trong tuổi từ 20 đến 35: Đây là tuổi nồng cốt trong những cuộc đấu tranh nhân dân. Khởi đầu những Phong trào đấu tranh nhân dân thường bắt nguồn từ tuổi này. Thanh niên cỡ 20 đến 27 tuổi tại Hải ngoại thì sinh ra tại ngoại quốc. Thanh niên ở tuổi 35 thì khi bỏ Việt Nam, mới có 8 tuổi.  Như vậy, lớp tuổi 20-35 hầu như không có những hình ảnh sống của thời chiến tranh Quốc—Cộng trước năm 1975. Lớp thanh niên này lớn lên học hành tại ngoại quốc. Một số lớn có thể quên ăn nước mắm, nhất là mắm tôm...Khi gặp nhau, có lẽ họ thích nói chuyện với nhau bằng tiếng nước ngoài hơn là nói tiếng Việt-Nam. Những người đã ra trường, có công ăn việc làm với đồng lương cao, có cuộc sống tiện nghi ở ngoại quốc. Như vậy, ngay cả nếu chỉ khuyên họ về làm việc tại Việt-Nam với đồng lương thấp, đó là điều khó khăn, mặc dầu chưa nói đến việc yêu cầu họ bỏ công ăn việc làm bên này, để về sống kham khổ tại Việt-Nam, xuống đường đấu tranh hay cầm võ trang giải thể chế độ Cộng sản.

2) Lớp trung niên từ 35 đến 45/50 tuổi: Những người 40 tuổi lúc này, khi bỏ Việt-Nam, mới chỉ 13 tuổi, còn trong tuổi học trò. Những người lớn nhất 45 tuổi của lớp này, lúc bỏ Việt-Nam cũng chỉ có 18 tuổi, còn đang ở tuổi học Trung học tại Việt Nam. Lớp 35 đến 45 tuổi hiện nay, hồi ấy chưa từng phải nhập ngũ, chịu đựng những gay gắt chiến tranh Quốc—Cộng, nên ý thức về Cộng sản chưa có những thấm thía lắm. Vì vậy, nếu lúc này yêu cầu họ vào một cuộc đấu tranh kiên trì, cam go như việc giải thể chế độ Cộng sản, chúng tôi e rằng có những khó khăn để dấy động phong trào. Nhất nữa lớp tuổi này lại có gia đình, con cái đang ở tuổi đi học ở nước ngoài. Họ phải có trách nhiệm làm việc bảo vệ cuộc sống gia đình và tương lai con cái. Việc khuyên họ bỏ hết công việc để trở về Việt-Nam đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản là vấn đề rất khó khăn. Ngay cả việc việc yêu cầu những người có khả năng trong lớp tuổi này về để giữ những chức vụ Nhà Nước, họ cũng phải đắn đo nhiều yếu tố: (i) Phải bỏ quốc tịch nước ngoài để hoàn toàn hồi tịch Việt Nam; thực vậy không thể giữ hai quốc tịch vì dân chúng Việt Nam không chấp nhận người làm việc công quan trọng đứng hai hàng; (ii) Họ cũng phải so sánh đồng lương hiện hành, việc làm chắc chắn tại ngoại quốc, với số lương tại Quê hương mà công việc có những bấp bênh.

3) Lớp tuổi 45/50 đến 65: Lớp tuổi này đã sống những kinh nghiệm bản thân gay gắt đối với chiến tranh Quốc—Cộng. Lúc này 50, khi bỏ Việt-Nam, họ ở tuổi 23. Những vị lúc này 65 tuổi, khi rời Việt-Nam là lúc 38 tuổi, tuổi đã có chức phận trong Quân đội hoặc Hành chánh. Những Vị này có những kinh nghiệm Cộng sản tại Miền Nam, nhưng không có kinh nghiệm về Cộng sản tại Miền Bắc, thời đấu tranh chính trị, thanh trừng đảng phái. Lớp tuổi này đã sống với chiến tranh, tinh thần chống Cộng vững chắc, nhưng thể xác đã bắt đầu cảm thấy uể oải, những khớp xương bắt đầu cảm thấy triệu chứng nhức mỏi. Khyên những Vị trong lớp tuổi này về Việt-Nam xuống đường đấu tranh hay cầm súng lội bùn chiến đấu giải thể Cộng sản, chắc các Vị càng cảm thấy các khớp xương nhức mỏi hơn.

4) Các cụ từ 65 trở lên: Thời chưa rời Việt-Nam năm 75, những Vị ấy nắm cán cân nẩy mực trong Quân đội và Hành chánh. Có những Vị đã sống với Cộng sản ngay từ Miền Bắc. Tinh thần chống Cộng của các Vị tuyệt vời, nhưng thân thể thì không cho phép các cụ xuống đường ở Sài gòn biểu tình nữa. Mỗi năm trôi đi là mỗi năm thân người tăng thêm những trở ngại.

 Nhìn kỹ vào các lớp tuổi như trên, chúng ta thấy rằng đồng bào Việt-Nam tại Hải ngoại không thể là một Lực lượng mang Cách mạng, nhất là vũ trang, trở về Việt Nam giải thể chế độ Cộng sản được nữa. Những Mặt Trận, những Phong trào chủ trương mang lực lượng vũ trang từ Hải ngoại về giải phóng Quê Hương khỏi chế độ Cộng sản dường như đi ngược thời gian, vẫn sống tâm tình tuổi thanh niên còn cường tráng trước năm 1975 tại Việt-Nam.

 Mỗi một thời, mỗi một hoàn cảnh, một nhiệm vụ khác, một vai trò khác. Chúng tôi muốn nói đến công tác ngoại vận tại Hải ngoại. Lực lượng nhân sự Hải ngoại của chúng ta là một Lực lượng tuyệt vời về ngoại vận mà chúng tôi sẽ có dịp đề cập đến tỉ mỉ.

Người Việt tại Quốc nội

 Đây là Lực lượng chính yếu trách nhiệm việc giải thể chế độ Cộng sản. Chúng ta ở Hải ngoại chỉ góp phần và chỉ có khả năng góp phần vào việc giải thể chế độ Cộng sản. Như trên đã phân tích, chúng ta không có khả năng thay thế được Lực lượng tại Quốc nội trong việc đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản. Câu nói ’’Đời cua, cua máy; Đời cáy, cáy đào’’ nhiều khi trở thành rất hữu ích để mỗi người trách nhiệm lấy đời mình đúng với vị trí mà mỗi người đang sống. Mỗi người tự cảm đúng trách nhiệm, thì việc chung mới hữu hiệu. Những ai đã từng giữ trách nhiệm trong các đoàn thể, nhất là các đoàn thể ái hữu, chắc chắn đã có lần cảm thấy rằng việc mình chịu khó cố gắng đội đá vá trời được trả ơn bằng những lời nói xóc họng, vô ơn.

 Tỉ dụ trách nhiệm chính yếu điều hành Tổ chức Giáo Hội Công giáo Việt-Nam là Hàng Giám Mục. Giáo dân Hải ngoại quan tâm đấu tranh chống lại việc đàn áp của Cộng sản, các Giám Mục đã yên tiếng, thậm chí có những Vị còn công kích lòng nhiệt tình của chúng ta. Từ ngày có Vị Giám mục tuyên bố ’’việc Cha Lý là việc nhỏ, ít ai biết tới’’, tôi càng thương Cha Lý hơn và càng hăng say đấu tranh cho cá nhân Cha Lý. Đôi lúc tôi nghĩ ’’nếu lúc này trong Hàng Giám mục đã yên tiếng kia, có Vị nào bị Cộng sản bắt nèn ở trong tù, chưa chắc tôi đã lên tiếng đấu tranh cho Ngài’’. ’’Đời cua, cua máy; Đời cáy, cáy đào’’.Tôi thong thả bình tâm uống bia và lẩm bẩm:’’Đáng đời!’’.

 Trách nhiệm việc giải thể chế độ Cộng sản là của Lực lượng người Việt tại Quốc nội. Người Việt Hải ngoại chỉ có khả năng làm công tác ngoại vận để hỗ trợ cho Lực lượng chính yếu ở nhà. Nhiều khi chúng ta hăng say quá, cứ coi mình như bao thầu tất cả, khiến người khác quên trọng trách của chính họ.


GIẢI THỂ BẰNG CÁCH NÀO ?

 Cộng sản Việt Nam đã trở thành cối chầy, cố đấm ăn xôi, gỉa điếc làm ngơ mà không nghĩ đến liêm xỉ. Vì vậy việc chúng ta từ Hải ngoại viết hoài cho họ, ra tuyên ngôn, đưa kháng thư, kiến nghị, thư ngỏ, dường như chỉ như nước đổ lá môn. Họ đã trở thành những con trâu, phải quất mới đi. Chỉ có Lực lượng Quốc nội mới có khả năng quất họ được và đây cũng là trách nhiệm của người Việt ở nhà.

 Hiện nay thì Lực lượng Quốc nội chưa đứng lên quất mạnh. Đã có triệu chứng của sự đứng lên, nhưng chưa đủ mạnh. Tình trạng chưa đứng lên mạnh là vì những lý do sau đây:

*  Sự đe dọa khủng bố của bạo lực đàn áp công an còn quá mạnh.

* Dân chúng quá cực nhọc, nghèo khổ, ngày đêm lo giải quyếtà làm ăn sinh sống, nghĩa là việc đấu tranh cho quyền dạ dầy còn ưu tiên hơn những quyền khác.

 Chúng tôi đã suy nghĩ rất nhiều, tìm xem những con đường khơi dậy lòng can đảm của đại đa số quần chúng khiến họ không sợ Công an khủng bố. Thực ra tôi ít tin vào lòng can đảm, nhưng tôi tin tưởng một điều rằng khi một người bị đẩy vào chỗ cùng cực không lối thoát thì phải bùng dậy tự phản ứng. Chúng ta có thể ca ngợi đây là lòng cản đảm hoặc nhìn qua đó thấy cái động lực của phản ứng chỉ vì ở tình trạng không thể làm khác hơn.

 Từ những số VietTUDAN trước...đến số này, chúng tôi đã viết tìm hiểu cái động lực chính yếu khiến người dân ở đường cùng tại Nga và Đông Aâu đứng bùng lên quất Cộng sản. Cái động lực ấy là lý do Kinh tế, cái bụng đói cùng cực. Qua sự phân tích, chúng tôi nhìn thấy rằng con đường đấu tranh qua ngả Kinh tế khiến dân lắng nghe hơn là chỉ viết về những ý niệm Tự do, Dân chủ, Nhân quyền như những bài phân tích lý thuyết, ý niệm trừu tượng. Dân thường nói:’’Nói gì thì nói, nhưng đụng đến nồi cơm là có chuyện! ’’, nhất nữa trong lúc bụng dân đang đói.

 Cộng sản biết điều ấy. Vì vậy Đảng và Nhà Nước vừa đồng loạt tuyên bố chấp nhận chủ trương theo nền Kinh tế Tự do, Thị trường.

Chúng tôi cũng nhìn thấy rằng con đường Kinh tế Tự do, Thị trường là một giải pháp dẫn đến việc giải thể chế độ Cộng sản. Nhưng nền Kinh tế Tự do, Thị trường này phải là nền Kinh tế đích thực theo đúng nghĩa của nó và phải hội đủ một môi trường Chính trị—Luật pháp (Environnement Politico-Juridique) chính hiệu, chứ không ngụy trang cho việc chiếm của công làm tư bản do nhưng con ông cháu cha đang nắm độc quyền chính trị.

 Nghĩa là chúng tôi chọn con đường đấu tranh cho một nền Kinh tế Tự do, Thị trường đích thực. Nền Kinh tế này chỉ có thể gọi là đích thực khi nó dựa trên căn bản thực thi Nhân quyền trong một Tổ chức Dân chủ đúng danh.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
 

TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG:
CON ĐƯỜNG GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CS
                                                                                                                                 Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 Trong bài trước, chúng tôi chỉ nói đến hai lực lượng Nhân dân: Lực Lượng Nhân dân Quốc nội là chủ lực giải thể chế độ Cộng sản bằng con đường đòi hỏi thiết thực việc thi hành đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường và Lực Lượng Nhân dân Hải ngoại là trợ lực cho Quốc nội, làm công tác ngoại vận tại những xứ sở mình đang sinh sống.

 Với bài hôm nay, chúng tôi đề cập tới một Phong trào thuộc Lực Lượng ở trong nước, đang dần dần lớn mạnh, phát sinh từ chính nội bộ của Đảng Cộng sản. Phong trào này khá hữu hiệu trong việc giải thể chế độ Cộng sản. Chúng tôi bàn về ba điểm:

- Sự mất tin tưởng dần dần vào chế độ Cộng sản
- Động cơ đối kháng nội bộ hiện hành
- Những Nhóm đối kháng đang phát sinh

SỰ MẤT TIN TƯỞNG DẦN DẦN VÀO CHẾ  ĐỘ CỘNG SẢN

 Ngay sau năm 1975, với tờ báo LIÊN HỘI của Liên Hội Sinh viên Việt-Nam tại Thụy sĩ, cùng với Tổn Hội Sinh viên Paris, chúng tôi đã viết về khả năng hợp tác giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa còn ở lại trong nước. Có những yếu tố để có thể đưa đến sự hợp tác này: (i) Khả năng Kinh tế của Miền Nam; (ii) Liên hệ gia đình của những người tập kết và những người chống Cộng Miền Nam; (iii) Liên hệ gia đình của Lính Bắc Việt với khối người Bắc di cư chống Cộng; (iv) Tâm tình địa phương giữa Miền Nam và Miền Bắc. Nếu để tình trạng chung sống sau 1975 kéo dài, có thể đi tới sự hợp tác chặt chẽ tạo thành Lực lượng Miền Nam trấn át Miền Bắc về chính trị cũng như quân sự. Nên lưu ý rằng lực lượng Quân lực Việt-Nam Cộng hòa được huấn luyện khá vững chắc trước đây có thể nhập với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để đối chọi lại Miền Bắc. Đảng Cộng sản Việt-Nam (Bắc Bộ) nhìn thấy nguy cơ này, nên đã vội thống nhất Đất Nước, truất quyền những Lãnh tụ chủ yếu của Mặt Trận như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình..., đồng thời cho cán bộ người Bắc tràn vào nắm chủ chốt những cơ quan quản trị Miền Nam.

 Sự đụng chạm trực tiếp Nam-Bắc này đã tạo bước đầu tiên của sự hủ hóa của lớp cán bộ Cộng sản Miền Bắc. Họ vào Miền Nam, chứng kiến sự thực khác hẳn với những lời tuyên truyền lừa bịp trước đây của Cộng sản Miền Bắc. Họ cảm thấy và ước ao Miền Bắc được Miền Nam giải phóng chứ không còn mang căm thù do tuyên truyền rằng phải hy sinh vào Giải phóng Miền Nam khỏi sự bóc lột tận xương tủy của Mỹ. Những đồng bào Miền Nam còn ở lại sau 1975 đều thầm cười những câu chuyện như bà con Miền Bắc mang vào Nam ít đấu gạo đỏ để cho bà con di cư năm 1954 ăn cho đỡ đói, mang cả chén bắt vào Miền Nam tặng, sợ bà con trong Miền Nam bị bóc lột phải ăn bốc...Người ta cũng nhớ những câu chuyện cán bộ vào Miền Nam, thấy thang máy, cứ đứng trong đo, đi lên đi xuống thưởng thức, hoặc mua cá lóc bỏ vào cầu tiêu nuôi, rồi nó chui đi mất, thì hô hoán là Mỹ Nguỵ ăn cắp cá của mình...

 Họ vào Miền Nam, chứng kiến thực tế khác hẳn với những tuyên truyền lừa bịp của chế độ. Họ còn vơ vét chở cả những con búp bế vất đi của Miền Nam về Bắc làm quà tặng.

 Thời gian trôi qua, tầng lớp cán bộ vào Miền Nam nay đã chọn Miền Nam làm nơi sinh sống. Một số không theo lệnh để về Miền Bắc nữa. Một số lập gia đình với những bà vợ của những Sĩ quan Cộng hòa đã ra đi hoặc phải đi cải tạo. Lập gia đình, họ chiếm gia sản để làm ăn tại Miền Nam. Chúng tôi đã gặp những Công ty mà chồng là cán bộ Cộng sản Miền Bắc còn trẻ, trong khi ấy vợ là bà Sĩ quan Cộng hòa đã sồn sồn...Một số cán bộ của Đảng Miền Bắc, bị ép buộc phải trở về, đã không ngần ngại bỏ Đảng.

 Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, chúng tôi đã có dịp sang Varsovie, Moscou, thăm những khu làm ăn như Dom Năm cũ và Dom Năm mới tại Moscou mà hai ông Phan Văn Khải và Nông Đức Mạnh đều biết. Tại đây, chúng tôi chuyện vãn và được biết rằng những cựu sinh viên du học tại Nga và Đông Aâu phần lớn không muốn về với chế độ và tìm cách làm ăn tại những nước này bằng mọi phương tiện. Sau khi rời Việt-Nam năm 1965, lần đầu tiên tại Moscou, tôi lại được ăn thịt chó do Cô Sinh Viên tên HƯƠNG bảo vệ Luận án Tiến sĩ tại Moscou mở quán bán thịt chó tại Dom Năm mới. Tôi cũng đã có dịp nói chuyện với ông Đại sứ Cộng sản tại Ba Lan. Oâng đã không về Bắc Việt và quyết định ra Đảng, ở lại Varsovie, mở quầy bán chả giò.

 Oâng Giáo sư Chử Văn Đông, Tiến sĩ Toán học tại Varsovie, đã chửi tục: ’’Địt mẹ, Hồ Chí Minh và Đảng đã lừa tôi. Hồi còn nhỏ học ở Bắc, chúng nói rằng mỗi em mỗi ngày phải bỏ ra một nắm gạo để cứu đoiù Miền Nam. Bây giờ thì mới thấy chúng nó nói phét, lừa bịp’’.

 Đợt hủ hóa đầu tiên này do sự chung đụng Bắc-Nam tạo sự mất tin tưởngvào những bịp bợm, tuyên truyền của Đảng.

 Thời gian trôi. Buộc lòng chế độ phải tuyên bố đổi mới, mở cửa để sống còn.Việc mở cửa là dịp chung đụng thứ hai tạo thêm mất tin tưởng vào chế độ. Thực vậy, đây không phải chỉ nguyên việc chung đụng Bắc-Nam, mà là sự chung đụng giữa Quốc nội và Hải ngoại, chung đụng giữa Cộng sản và Tư bản.

 Sự sụp đổ của Đế quốc Cộng sản, sự chung đụng Tư bản và Cộng sản càng làm tăng thêm sự mất tin tưởng vào chế độ Cộng sản. Xin hỏi thẳng những người Lãnh đạo Cộng sản rằng họ còn tin vào sự cao đẹp của chế độ Cộng sản hay không. Nếu họ còn tin, tại sao không gửi con cái đi Trung Cộng mà học cho đúng lý tưởng, mà ngược lại tìm hết cách gửi con cái đi Mỹ học trong một chế độ bóc lột.

 Cái lý do còn giữ chế độ, không phải vì còn tin tưởng vào sự cao đẹp, nhưng chỉ vì muốn duy trì chế đội, với độc quyền chuyên chính, để cướp đoạt quyền lợi, của cải cho cá nhân mình.

ĐỘNG CƠ ĐỐI KHÁNG HIỆN HÀNH

 Cái lý tưởng Cách Mạng vô sản thời Lénine không còn nữa. Những hứa hẹn quyến rũ đã lộ diện thành ảo tưởng. Những bịp bợm tuyên truyền lừa dối đã bị thực tế lật tẩy. Bụng đói gần chết thì hết hơi hoan hô ủng hộ chế độ.

 Lòng tin tưởng vào chế độ đã xẹp bép xuống tại chính những người trong Đảng, ngay cả nơi những người lãnh đạo. Nhưng chế độ Cộng sản vẫn còn được giữ lại tại Việt Nam. Cái động lực chính yếu cơ bản là bảo vệ quyền hành để tiện bề ăn cướp của chung làm của riêng. Đây không phải là điều tôi nói để vu oan cáo dạ, để chửi bới Cộng sản, mà là một sự thật hiển nhiên. Tôi xin thách đố những ai bênh đỡ Cộng sản, chỉ dậy cho tôi những lý do đẹp đẽ mà Cộng sản Việt-Nam cố lì lợm giữ cái chế độ chuyên chính này đè lên đầu Dân Việt-Nam.

 ’’Cộng sản vô thần đàn áp Tôn giáo’’. Cái câu nói này ngày nay không còn trúng nữa. Thực vậy, có phải Cộng sản ngày nay vẫn say mê chủ thuyết vô thần để mà đàn áp, tiêu diệt Tôn giáo hay không ? Cộng sản lúc này không còn vì sự đối chọi vô thần, hữu thần mà đàn áp Tôn giáo nữa, mà chỉ vì sợ Tôn giáo là một lực lượng có thể đứng lên tố cáo sự cướp dựt của cải bẩn thỉu của họ. Họ sẵn sàng để các tín hữu đi Nhà Thờ, đến Chùa...miễn là đừng động chạm gì tới sự lì lợm giữ chế độ để ăn cướp của Dân. Các Linh mục tha hồ làm Lễ, nói về Chúa, nhưng không được động chạm tới quyền chuyên chính của họ và những cướp bóc mà họ làm. Vì quyền lợi cá nhân, Cộng sản có thể làm tất cả, ngay cả việc cho con cái theo tôn giáo, làm Truyền đạo của Tin Lành, hay đi tu trong các dòng tu Công giáo để có dịp xuất ngoại. Về điểm này, một số những vị lãnh đạo Tôn giáo đang bị Cộng sản lợi dụng đổi chác.

 Đại Hội Đảng kỳ IX công khai chấp nhận việc Tham nhũng và Lãng phí của Đảng. Đây là một cách nói cho nhẹ đi mà thôi. Đích thực đó là việc cố thủ dành độc quyền ăn cướp của chung làm của riêng. Lớn ăn cướp lớn, bé ăn cướp bé, vừa ăn cướp, vừa giả hình, vừa nói láo, khủng bố tinh thần...Ai đụng đến lông chân những tên cướp công khai ấy, thì chúng lại bịa đặt hết chuyện này đến chuyện kia để đàn áp. Đây cũng không phải là điều tôi bịa đặt ra để công kích Cộng sản, mà là một thực tế. Linh mục Nguyễn Văn Lý, Luật sư Lê Chí Quang...là những tỉ dụ còn đang sống.

 Điều mà tôi muốn mạnh ở đây không phải viết về cái động lực chính yếu để cố thủ giữ lại chế độ, nhưng là nhìn qua cái động cơ ấy để thấy sự phát sinh và lớn mạnh của Phong trào đối kháng từ trong Đảng mà ra. Phong trào lớn mạnh để trở thành một lực lượng giải thể chính chế độ.

 Xem một phim cao bồi tổ chức ăn cướp một ngân hàng. Khi chưa ăn cướp được tiền, thì họ đoàn kết thân thiện với nhau. Nhưng khi ngồi trước một đống tiền mới ăn cướp được, thì họ nghĩ đến thanh toán nhau, chiếm phần lớn hơn hoặc độc quyền chiếm trọn đống tiền. Đảng cướp Cộng sản Việt-Nam cũng không ra khỏi cái luật lệ chung ấy bởi vì những thành viên không còn tinh thần nữa mà chỉ nhìn cái của cải cướp dựt.

 Không cướp được nhiều thì đối kháng để hạ kẻ kiếm được nhiều. Nhưng khi cướp được nhiều, thì cũng phải tìm cách loại trừ kẻ kiếm được ít để diệt khẩu. Sự đối kháng trở thành tất yếu trong Đảng Cộng sản ngày nay vì tranh danh quyền lợi. 

NHỮNG NHÓM ĐỐI KHÁNG ĐANG PHÁT SINH

 Với tình trạng hủ hóa, mất dần lòng tin tưởng vào Đảng Cộng sản và Chế độ, cộng thêm việc nhìn vào lòng dạ bán Nước cầu vinh của Lãnh đạo Đảng, những Phong trào Đối kháng sau đây đang được thành hình và lớn lên:

=> Phong trào các Đảng viên Lão thành
 Những Vị lão thành này của Đảng đã phục vụ Đảng và Chế độ trong thời gian chiến tranh, lúc này thấy lý tưởng trước đây hiện ra là những che đậy cho những chuyên chế đê tiện, thấy sự phục vụ của mình bị phản bội, đồng thời chính họ và con cháu họ không được hưởng những quyền lợi vật chất mà Nhóm Lãnh đạo hiện hành đang dành dựt chia phần đe tiện.

=> Phong trào Tranh chấp giữa các Đảng viên Lãnh đạo
 Trong việc chia phần dành dựt dấu diếm, che đậy, tất nhiên có sự nghi kỵ phần lớn nhỏ. Không thể nào có sự nhất trí đòan kết giữa những kẻ cướp. Qua những lời tuyên bố được sơn phết bóng bẩy, người ta nhận thấy sự đối kháng giữa Phe Khải/Dũng và những Lãnh đạo Miền Bắc phục vụ Trung Cộng. Tôi đã có dịp nói chuyện với một cấp Lãnh đạo. Họ cần chúng ta, những người chống Cộng, phanh phui ra những thối nát của chính Cộng sản, để họ có cớ đả kích, thanh trừng lẫn nhau.

=> Phong trào chống đối của Lãnh đạo Địa phương với Trung ương
 Trung ương tham nhũng theo Trung ương, Địa phương tham nhũng cướp dựt theo địa phương. Có những lộng hành của Địa phương được dấu lẹm cho địa phương. Có những tham nhũng bẩn thỉu của Trung ương mà Địa phương không dám đụng chạm. Dân tin rằng Trung ương tập quyền là có thể kêu cầu người trên giải quyết cho việc dưới, mang những oan ức của Địa phương lên Trung ương khiếu nại, nhưng Trung ương lẩn tránh không dám giải quyết theo chủ trương Trung ương tập quyền. Dân không còn biết đâu là Luật pháp và đâu là Quyền hành.

=> Phong trào đối kháng của giới Kinh doanh Việt-Nam với hàng Trung Cộng
 Vì mục đích cố thủ duy trì chế độ Chính trị, mà Đảng và Nhà Nước Cộng sản Việt Nam đã để làn tràn hàng hóa Trung Cộng, nguồn bóp chết Kinh doanh sản xuất tại Việt nam. Hàng Việt-Nam và hàng Trung Cộng tương đối ở một mức độ sản xuất không khác nhau lắm, nhưng về hai phương diện sau đây thì có sự khác biệt rõ rệt thuận lợi cho Trung Cộng: (i) Giá cả chênh lệch: với khối người trên một tỉ 400 triệu, Trung Cộng sản xuất với giá rất rẻ vì số lượng sản xuất lớn; Việt Nam, với khối người chỉ có 75 triệu, không thể nào xử dụng lượng sản xuất làm yếu tố chính yếu để hạ giá thành thấp được (Chi tiêu sản xuất cố định/Lượng sản xuất: Cout fixe de production/ Quantite produite). Để hàng Trung Cộng vào Việt Nam là mua thuốc độc về để tự tử; (ii) Xuất cảng:liên hệ xuất cảng của Trung Cộng  mạnh hơn Việt-Nam, nhất lúc này họ đã vào Tổ Chức Mậu dịch Quốc tế (WTO). Về điểm này, chúng tôi đã có dịp nói rằng Việt-Nam phải thay đổi chế độ để có sự hợp tác của khối người Tị nạn sống trên 70 Quốc gia trên Thế giới. Trong trường hợp này việc xuất cảng của Việt-Nam mới có những đầu cầu thuận lợi. Chính ông Lý Quang Diệu đã khuyên Nhà Nước Cộng sản Việt-Nam về điểm phí phạm này chỉ vì cố thủ giữ lấy một thể chế chính trị đã hòan tòan sai lầm.

=> Phong trào chồng đối quyền lợi giữa các Công ty quốc doanh
 Thực vậy, nguồn chống đối giữa các Công ty quốc doanh gồm việc giữ những quotas xuất cảng, việc ưu tiên lấy hàng hóa, việc dễ dàng lấy giấp phép, việc ưu tiên liên doanh với nước ngòai, việc dành dựt đấu thầu, việc ưu tiên lấy đất đai... Tôi đã có dịp liên hệ về vấn đề Gạo và Tài chánh. Công ty TIGIFOOD của Tiền Giang có gạo, nhưng phải qua quyền bán của Tổng Công ty Miền Bắc, không có gạo. Mỗi nơi giữ thế để chống nhau.

=> Phong trào Tư doanh chống Quốc doanh
 Đây là sự chống đối không thể tránh được. Quốc doanh có quyền, nhưng làm ăn lãng phí. Tư doanh làm ăn thực sự, nhưng không có quyền, bị Quốc doanh cản mũi kỳ đà, bị kéo theo sự thua lỗ. Với sự chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, chúng ta phải cấu kết với giới Tư doanh để làm lớn mạnh lực lượng đối kháng chính đáng này.

=> Phong trào Giới trẻ quốc nội dành quyền sống và quyền quản trị
Nước trong lương lai 
 Chúng tôi chỉ hạn hẹp vào chính giới trẻ thuộc Đảng và chỉ vào vấn đề quyền lợi vật chất. Những con ông cháu cha có dù lớn che chở được hưởng quyền lợi ưu tiên: quyền xuất ngọai du học, có cuộc sống vật chất sung suớng do việc cướp của công của cha mẹ làm lãnh đạo. Những con ông cháu cha có phương tiện và được ưu tiên xuất ngọai này, khi trở về sẽ lại được quyền ưu đãi về quyền hành để thống trị trên giới trẻ hiện đang phải cự nhọc, nghèo khó, đấu tranh cho việc học hành hiện nay tại Việt-Nam. Chúng ta phải hết lòng khai thác việc bất công này để giới trẻ tại Quê hương đấu tranh thực tế chống lại chế độc độc quyền ưu tiên.
 
Để kết luận bài này, tôi xin kể câu chuyện sau đây.
 Khi tôi xuất bản tờ VietTUDAN, đấu tranh chống chế độ Cộng sản Việt-Nam, thì từ trong nước có người viết chưiû tôi là đồ ham đô-là Mỹ, bám đít Mỹ, ra ăn cơm thừa của Mỹ, hồi tưởng lại thời trước 1975 làm Ngụy mà hận thù với Cách Mạng Cộng sản. Tôi đã viết trả lời cho họ rằng họ đã lầm về tôi và cố tình hiểu sai về Hải ngọai, đã hòan tòan theo luận điệu xuyên tạc, cố ý mạ lỵ cuộc đấu tranh cho Tự do, Dân chủ của Đồng bào Việt-Nam Hải ngọai hiện nay. Họ lầm vì tôi ra đi từ 1965; tôi bị chính thời tướng Khánh kết án tôi; chưa bao giờ tham dự vào Chính quyền trước năm 1975; chẳng có dịp nào tham nhũng được gì dù mình có muốn tham nhũng đi nữa; sang đây với hai bàn tay trắng, đâu có phải vì đo-la mà ra đi; phải làm việc như con chó mới kiếm được phương tiện học hành. Tôi đã mắng chửi lại không những chỉ nguyên người này, mà còn lôi cả ông ngọai, bà nội Cộng sản từ hồi Hồ Chí Minh ra mà chửi. Thư chửi của tôi đã được gửi về chính Trung ương Đảng Cộng sản để cha mẹ, ông bà chúng nó nghe, không biết dậy con cái để đi viết bậy bậy vu khống.

 Dân Việt Hải ngọai, có cuộc sống yên thân, có quyền nói với người Quốc nội rằng: ’’Nếu nhát đảm không biết tự đứng lên cứu mình khỏi Cộng sản, thì ráng mà chịu. Đời cua, cua máy, đời cáy, cáy đào!’’.

 Nhưng những người Việt ở Hải ngọai đã đứng lên đấu tranh, vì thấy Cộng sản dùng Công an khủng bố, bịt miệng đồng bào trong nước, dùng bạo lực mà áp đảo chí khí của người dân. Những người Việt Hải ngọai đấu tranh không phải là để trở về làm vương làm tướng, NHƯNG LÀ VÌ TƯƠNG LAI CỦA DÂN TỘC, CỦA SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM CHO SÁNH KỊP VỚI NHỮNG NƯỚC LÁNG GIỀNG.

 Những Phong trào chống đối vừa kể trên đây sẽ cầm lấy vận mạng Đất Nước. Cộng sản chỉ muốn mọi người ngồi yên đễ họ cướp của chung, mặc cho sự thối lui đau đớn của Dân tộc, của Đất Nước.

 Chúng tôi chọn con đường đấu tranh cho một nền Kinh tế Tự do, Thị trường đích thực. Nền Kinh tế này chỉ có thể gọi là đích thực khi nó dựa trên căn bản tôn trọng NHÂN PHẨM, bảo đảm NHÂN QUYỀN và thực thi DÂN CHỦ.  Những điểm căn bản này tạo một MÔI TRƯỚNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adequat) thiết cần cho việc phát triển Kinh tế Tự do Thị trường đích thực.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
TẠI SAO PHẢI GIẢI THỂ
CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH CỘNG SẢN
                                                                                                                                 Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 
 Trong bài lần trước, chúng tôi đã đề cập về việc giải thể chế độ Công sản chuyên chính với ba câu hỏi, kèm những trả lời vắn tắt như sau:
- Giải thể bằng con đường nào ?
- Ai giải thể ?
- Lãnh đạo đất nước hậu giải thể ra sao ? 
Giải thể bằng con đường nào ? Bằng con đường nhân dân đòi quyền dạ dầy (Stomach Right). Thực vậy chế độ CS thất bại về chủ trương Kinh tế Tập quyền Kế hoạch bao cấp, không giải quyết được quyền dạ dầy. Họ phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do Thị trường để giải quyết. Mà nền Kinh tế này đòi phải có một Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adequat) trong ấy những quyền tự do căn bản của con người phải được tôn trọng. Chúng tôi xác tín vào con đường Kinh tế Tự do Thị trường đích thực như con đường tất yếu giải thể chế độ Cộng sản (Xin đọc bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 82)
Ai giải thể ?  Lực lượng Nhân dân quốc nội là chủ lực giải thể. Còn lực lượng Người Việt hải ngoại chỉ là trợ lực, làm công tác ngoại vận. Đây là lực lượng rất quan trọng và vô cùng hữu hiệu làm ngoại vận cho chủ lực Quốc nội. Chúng tôi không tin vào khả năng của Lực lượng hải ngoại mang Cách mạng về giải phóng Quê hương.
Lãnh đạo đất nước hậu giải thể ra sao ?  Có người đặt câu hỏi và lo lắng AI là lãnh đạo quản trị đất nước sau khi chế độ Cộng sản phải giải thể. Đặt câu hỏi như vậy, người đó, một đàng đấu tranh cho Dân chủ, một đàng tinh thần vẫn chưa thoát khỏi quan niệm Quân chủ, Độc tài, lấy cá nhân Lãnh tụ mà trị nước. Hậu Cộng sản, chúng ta xây dựng một nền DÂN CHỦ PHÁP TRỊ, điều ấy có nghĩa là DÂN quản trị đất nước theo đúng PHÁP LUẬT do dân cùng đồng ý thiết lập lên. Vấn đề NGƯỜI (cá nhân) không còn quan trọng nữa. Tuy vậy, nếu kể đến hiệu lực Lãnh đạo, chúng ta nhìn trước hết những người đã lãnh đạo Chủ Lực Nhân dân Quốc nội.

 Khi đặt ba câu hỏi như trên, chúng tôi quan niệm mọi người đều thấy rằng việc cần thiết giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính là điều minh nhiên. Với bài hôm nay, chúng tôi trình bầy chi tiết về cái điều minh nhiên ấy để trả lời cho câu hỏi: ’’TẠI SAO PHẢI GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN CHUYÊN CHÍNH HIỆN HÀNH?’’. Chúng tôi lần lượt đề cập đến những điểm sau đây:
- Tình trạng nghèo đói của Dân chúng và thụt lùi của nền Kinh tế
- Giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính là điều cần thiết và cấp bách
- Đảng Cộng sản cố thủ giữ chế độ là  những kẻ nội thù của Dân tộc
- Những hành động a tòng với kẻ nội thù
- Đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính là bổn phận cứu Nước.
                                                                                                                                 Tình trạng nghèo đói của Dân chúng
và thụt lùi của nền Kinh tế

 Chương trình ’’Chống đói, Giảm nghèo’’ mà Nhà Nước Cộng sản đang chủ trương là bản cáo trạng của chế độ. Trước Tết Nguyên Đán năm nay, Công ty Nhà Nước VUNGTAU INTOURIMEX, đường Hai Bà Trưng, Sài-gòn, do Ong Ngô Thái Kiên làm Giám đốc, đã hỏi ý kiến chúng tôi về vấn đề tài chánh cho chương trình chống đói, giảm nghèo này. Qua tài liệu do Công ty này cung cấp, thì tôi biết rằng Chương trình dành cho 6 Tỉnh Miền Bắc. Đây là những Tỉnh con đẻ của chế độ chuyên chính Cộng sản. Việc đói nghèo của Dân chúng không phải là ở Miền Nam, nơi mà Đảng Cộng sản vẫn tuyên truyền rằng Dân chúng bị Mỹ—Ngụy Việt Nam bóc lột tận xương tủy. Cái đói nghèo của Dân chúng là ở những Tỉnh Miền Bắc, do chế độ chuyên chính Cộng sản cai trị trong những chục năm trường. Đúng là cháy nhà mới ra mặt chuột! Chương trình ’’Chống đói, Giảm nghèo’’cho 6 Tỉnh Miền Bắc là một bản cáo trạng cho chủ trương Kinh tế tập quyền bao cấp của chế độ Cộng sản.
 Hãy nhìn những chỉ số Kinh tế, Tài chánh do Quốc tế cung cấp, thì thấy tình trạng đói nghèo và thụt lùi Kinh tế của Việt-Nam hiện nay sánh với những nước khác. Những chỉ số Kinh tế, Tài chánh này được lấy ra từ cuốn MOODY’S COUNTRY CREDIT STATISTICAL HANDBOOK (pp.18-31), do Moody’s Investors Service xuất bản tháng Giêng năm 2002. Về chỉ số cho Cơ cấu Kinh tế và Thực hiện (Economic Structure and Performance), chúng tôi chỉ cần lấy chỉ số Tổng Sản Lượng (GDP) theo đầu người, thì cũng đủ thấy rằng Việt-Nam đứng hạng chót. Theo MOODY’S, năm 2000, Tổng Sản Lượng (GDP) của Việt-Nam là 29,2 tỉ đo-la, và Dân số là 77,7 triệu. Như vậy Tổng Sản Lượng (GDP) theo đầu người là 376 đo-la một năm. Tổng sản lượng này đứng hạng chót đối với các nước khác trong Danh sách. Hãy so sánh với những nước gần kề trong vùng. Tổng sản lượng theo đầu người của Thái-Lan gấp 5 lần dân mình, của Phi-Luật-Tân gấp 3 lần, của Mã-Lai gấp 10 lần, của Trung quốc gấp hơn 2 lần. Nếu lấy những nước Đông Aâu, đã trải qua một khuôn mẫu chế độ chuyên chế như Việt-Nam, nhưng đã dứt khóat với chế độ Cộng sản sau sự xụp đổ của Bức tường Bá-Linh, chúng ta thấy họ tiến thực sự: Tổng sản lượng theo đầu người của Ba-Lan gấp trên 10 lần Việt-Nam, Tiệp khắc gấp trên 13 lần, Slovakia gấp 10 lần, Hung-Gia-Lợi gấp trên 12 lần, Ru-Ma-Ni gấp 5 lần, Nga gấp 5 lần.  Những Oâng Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải đã học bên này và đã từng biết dân của những nước ấy nghèo đói như thế nào trước khi Bức tường Bá-Linh xụp đổ. Nhưng nay Tổng sản lượng theo đầu người của họ đã tiến gấp bao lần Việt-Nam với Kinh tế Tự do Thị trường. Nếu sánh với những nước đã có truyền thống Kinh tế Tự do, Thị trường: Nhật gấp 100 lần, Đại Hàn gấp 27 lần, Singapore gấp 62 lần, Pháp gấp 67 lần, Thụy sĩ gấp 90 lần và Hoa-kỳ gấp 95 lần Tổng sản lượng theo đầu người của Dân mình. Sau khi Oâng Trần Đức Lương sang thăm Bắc Hàn 4 ngày, thì ngày 25.06 vừa rồi, Việt-Nam quyết định viện trợ cho Bắc Hàn 5'000 tấn gạo để cứu dân chết đói của Bắc Hàn. Oâng Trân Đức Lương hẳn biết rõ rằng cái tình trạng chết đói ấy đến từ thể chế Cộng sản chuyên chính, chứ không phải do sự bóc lột của Mỹ—Ngụy như Bắc Việt tuyên truyền bậy bạ trước đây đối với Miền Nam Việt-Nam. Biết như vậy, nhưng Oâng vẫn chủ trương giữ cái chế độ chuyên chính  đè lên  Dân chúng Việt-Nam.
 Nếu nhìn vào xếp hạng tín dụng về phương diện tài chánh, thì Moody’s đã xếp Việt-Nam vào hạng B1, nghĩa là những người có vốn cho vay biết rằng việc bảo đảm để hòan trả vốn và lời của Việt-Nam rất mong manh: ’’Assurance of interest and principal payments or of maintenance of other terms of the contract over any long period of time may be small.Issuers rated B offer poor financial security. Assurance of payment of obligations over any period of time is small.’’ Với việc xếp lọai này trên thị trường tín dụng Quốc tế, Việt Nam rất khó lòng vay được vốn. Sự mất tin tưởng ấy đến từ cái thể chế Cộng sản chuyên chính.
 Những nước Đông Aâu đã dứt khóat với Cộng sản để theo nền Kinh tế Tự do, Thị trường, họ đã tiến vượt Việt-Nam. Nếu Việt-Nam vẫn giữ chế độ Cộng sản chuyên chế, thì những nước trong vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai... sẽ tiến lên và để chúng ta thụt lùi. Lúc ấy không thể chạy theo để cạnh tranh được nữa. Chúng tôi nghĩ đến tương lai của đời sống Dân chúng Việt-Nam, của sự Phát triển Kinh tế Đất Nước mà đòi hỏi việc giải thể cấp bách chế độ chuyên chính Cộng sản.
                                                                                                                                Đảng Cộng sản cố thủ giữ chế độ
là  những kẻ nội thù của Dân tộc

 Với tình trạng đói nghèo, thụt lùi Kinh tế này do chế độ Cộng sản chuyên chính tạo ra, chúng ta còn phải thêm vào đó một tình trạng bi thảm nữa, đó là Tham nhũng và Lãng phí đang làm bại họai nền Kinh tế đã mục nát do chế độ chuyên chính Cộng sản..

 Bộ Chính trị của Đảng và Nhà Nước đã phải buộc lòng tuyên bố chấp nhận Hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như một cứu vãn cho tình trạng đói nghèo của Dân chúng và việc thụt lùi Kinh tế. Nhưng chỉ tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường mà không cho một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adequat), thì không thể nào thực hiện được Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực. Không thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Muốn có hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như một cứu vãn cho tình trạng đói nghèo của Dân chúng và đẩy mạnh Phát triển việc làm ăn ở Việt-Nam, thì phải giải thể cái chế độ Cộng sản chuyên chính hiện hành. Không thể  giữ Điều 4 của Hiến pháp, không thể giữ Lực lượng Công an khủng bố Dân chúng để phục vụ chính trị độc quyền của Đảng.

 Tuyên bố chống Tham nhũng, Lãng phí, mà không ai được quyền nói đụng đến lông chân của những Lãnh tụ tham nhũng của Đảng, thì làm thế nào Tham nhũng hết được. Những Vị Lão Thành của Đảng vừa tuyên bố lập Hội chống Tham nhũng, thì Công an đã đàn áp, đấu tố. Để có thể làm cho những kẻ Tham nhũng sợ mà giảm việc ăn bẩn thỉu đi, thì phải cho Đối Lập, phải cho Tự do Báo chí, phải cho Dân chúng vạch mặt chỉ tên những kẻ tham nhũng, dù những kẻ ấy làm quan lớn trong Đảng đi nữa.

 Cái chế độ Cộng sản chuyên chính là cản mũi kỳ đà việc thi hành đích thực của một nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Nền Kinh tế này là giải quyết cho tình trạng đói nghèo của Dân chúng và làm đà cho việc Phát triển làm ăn của Việt-Nam. Đây là lý do căn bản của việc đòi hỏi phải giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính. Việc đòi hỏi giải thể này không phải là vấn đề cảm tình, ghen tị tình cảm, thích hay không thích Cộng sản. Đó là việc đòi hỏi cơ bản của lý luận, của thực tế, của sự nghèo đói cùng cực của Dân chúng và của tương lai Đất nước Việt-Nam. Khăng khăng giữ lấy chế độ chuyên chế Cộng sản là phản quốc vậy.

 Oâng Nguyễn Mạnh Cầm tuyên bố rằng phải có thời gian  tiến tới Kinh tế Tự do Thị trường từ từ. Chúng tôi xin hỏi Oâng từ từ là bao nhiêu năm nữa. Và đã bao nhiêu năm rồi Cộng sản đã tuyên bố từ từ và cởi mở mà những điều thắt chặt cớ bản vẫn không hề thay đổi. Đây chỉ là một cách bào chữa để trì hoãn cái chế độ chuyên chính Cộng sản bởi vì một mặt Oâng nói như vậy, một mặt thì Đảng cứ đưa ra những Kế hoạch  rặt mùi Cộng sản chuyên chế bao cấp cho những chục năm về sau. Việt-Nam cứ từ từ, nhưng những nước khác thì sinh động và tiến vọt lên cho đến khi Việt Nam từ từ thấy mình ngồi ở đáy giếng. Phải giải thể cấp bách chế độ Cộng sản chuyên chính để cứu đồng bào nghèo đói, để cho Đất nước theo kịp tương lai phát triển của những nước khác.

Giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính
là điều cần thiết và cấp bách


 Dân chúng Việt-Nam đã nghe nhiều đến Thực dân dầy xéo Đất nước, Bắc phương xâm chiếm Giang sơn...Tòan dân đã nỗ lực hy sinh xương máu để đánh đuổi kẻ thù của Dân tộc: thực dân và giặc Tầu.

 Ngày nay, kẻ thù đang làm cho Dân chúng đói nghèo, đang cản bước phát triển của Đất nước. Giữa người Việt chúng ta, cùng một bọc mà ra, chúng ta thương yêu nhau. Nhưng có một lớp người đã vì một chủ thuyết ngọai lai ảo tưởng, đã thiết lập một thể chế Cộng sản chuyên chính trên Dân tộc. Thể chế ấy đang dầy xéo lên dạ dầy Dân chúng, đang cản sức làm ăn phát triển Kinh tế tương lai của Đất nước. Tòan dân phải đòi buộc họ giải thể cấp bách cái chế độ chuyên chính này.

 Đảng Cộng sản Việt-Nam, những người anh em cùng dòng máu Việt ấy, vẫn cố thủ lì lợm duy trì thể chế chính trị độc tài của mình. Việc cố thủ lì lợm này buộc Dân chúng phải coi họ là những KẺ NỘI THÙ của Dân tộc. Tòan dân chống Cộng, chống nội thù, không phải là chống những người anh em cùng dòng máu với mình, nhưng là chống và tận diệt một CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN CHUYÊN CHÍNH mà những người anh em cùng dòng máu ấy cứ lì lợm duy trì để Dân chúng đói khổ, để tương lai phát triển Kinh tế quốc gia thụt lùi. Tại sao họ cứ lì lợm tự nhận mình làm nội thù của Dân tộc?  Chính vì quyền lợi riêng tư bóc lột của phe nhóm họ mà thôi.

Những hành động a tòng với kẻ nội thù

 Chúng tôi muốn nói đến những lớp người, ngay trong hàng Lãnh đạo các Tôn giáo, ngay trong giới tự nhận là Trí thức, hoặc vì chút quyền lợi cá nhân nhỏ mà Kẻ nội thù nhử trước mặt...đã làm ngơ hoặc hùa theo Kẻ nội thù để làm cho Dân chúng đói khổ, để cản bước phát triển Kinh tế tương lai của Đất nước. Họ là những người a tòng, hợp tác trực tiếp hay gián tiếp với hành động phản quốc của Kẻ nội thù của Dân tộc.
 Chúng tôi xin lần lượt nói đến những lớp người này.
Lớp người trong hàng Lãnh đạo các Tôn giáo
 Trong một bài trước đây, chúng tôi đã nói rằng Việt Cộng ngày nay có lẽ không ’’đàn áp Tôn giáo nhân danh chủ thuyết vô thần’’. Thực vậy, nếu những Giáo dân đi Lễ từ 4 giờ sáng, rồi ngồi trong Nhà Thờ cầu nguyên cho đến chiều, Việt Cộng có thể vẫn để yên, miễn là những Giáo dân này không được mở miệng động chạm tới cái chế độ chuyên chính của họ. Cộng sản không đàn áp Tôn giáo như trước nữa, nhưng họ nắm các Tôn giáo để ủng hộï cái chế độ chuyên chính của họ. Mới đây, một Phái đòan Tôn giáo sang Hoa Kỳ để nói rằng có Tự do Tôn giáo, nói rằng Giáo dân đi Nhà Thờ, đi Chùa, nói rằng Việt Cộng cho mở lại Chủng viện, giúp sửa sang lại Chùa, Nhà Thờ... nhưng đã không nói rằng Việt Cộng đã dùng chính họ, cho những Linh mục, Tu sĩ, Mục sư, Truyền đạo, Thượng tọa quốc doanh len lỏi vào các Tôn giáo để kiểm soát, để làm cho các Tôn giáo không được mở miệng chống lại cái chế độ chuyên chính Cộng sản đang làm cho Dân chết đói, đang đưa Kinh tế Việt Nam thụt lùi. Tôn giáo không tách rời với cuộc sống. Tôn giáo có những chủ trương nhân bản, có nền luân lý  để giới thiệu cho Giáo dân. Nhưng Cộng sản có cho Tự do để giảng dậy nền luân lý, phát biểu những vấn đề nhân bản ấy không. Cộng sản cho phép các Giám Mục nói về Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, Ngôi Nhất là Cha..., nhưng khi Công an lôi Cha Lý ra xử một cách vô Luật lệ, thì nó nói rằng các Giám Mục không được nhận xét về việc đè nén uất ức này vì đây là Chính trị do chế độ độc quyền phán dậy, nghĩa là Tôn giáo không được động chạm đến vấn đề Công lý thuộc phạm vi nhân bản độc quyền của chế độ.  Khi những người quốc doanh này làm tay sai cho một chế độ giết Dân tộc, thì Cộng sản không nói rằng những người này làm Chính trị, nhưng khi có Vị chân chính nào can đảm nói lên sự thật của cái chế độ tội lỗi này, thì Việt Cộng gán cho tội làm Chính trị và thẳng tay đàn áp. Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ là hình ảnh của người mang Lương tâm thẳng thắn để nói rằng kẻ nội thù đang nằm bên cạnh chúng ta và Ngài là nạn nhân của chính sách bịt miệng, khủng bố, đàn áp của cái chế độ Cộng sản phản bội Dân tộc.
 Chúng tôi cũng xin thẳng thắn nói rằng sự yên lặng của Hàng Giám Mục Việt-Nam trước sự tàn nhẫn của chế độ chuyên chế Cộng sản, vô hình chung là a tòng với kẻ nội thù của Dân tộc. Chúng tôi cũng không thể hiểu được có Vị Giám Mục còn dám ca ngợi chế độ và chỉ trích những Phong trào Nhân dân đấu tranh chống lại cái chế độ đang làm cho Dân đói khổ và làm tương lai Kinh tế Việt-Nam thụt lùi. Chúng tôi đã đọc kỹ Thư Chung của Hàng Giám Mục Việt-Nam trong đó các Vị Lãnh đạo đã tả kỹ những tệ đoan, tình trạng đói nghèo của Dân chúng, mà không dám động chạm gì đến cái chế độ chuyên chính Cộng sản là nguyên cớ cho những tệ đoan và tình trạng nghèo đói mà những chỉ số của Moody’s đã cho thấy, hoặc chính kẻ nội thù đã phải thú nhận. Hàng Giám Mục, Lãnh đạo Tôn giáo, giảng dậy nền Luân lý của Giáo Hội, phải làm gương cho sự thẳng thắn của Lương tâm.
 Chúng tôi cũng đã có dịp đưa nhận xét cho một Mục sư Tin Lành. Khi Cộng sản cho phép rầm rộ mở Đại Hội Tin Lành ở Đà Nẵng để tiếp đón Giấy Phép hoạt động của Giáo Hội mà Cộng sản cho phép, tôi hiểu rằng trong Ban Lãnh Đạo Hội Thánh Tin Lành sẽ có đầy những Mục sư, Truyền Đạo làm giáo gian. Thậm chí ngay cả những Lãnh đạo Cộng sản còn cho con làm Truyền đạo Tình nguyện để có dịp các Giáo phái Tin Lành bên Mỹ lo cho sang Mỹ để học. Trong số này, phần lớn là ở Miền Trung. Vùng Cao Nguyên Trung Phần có nửa triệu Tín đồ Tin Lành. Khi Cộng sản đàn áp, tôi hỏi một Mục sư tại bên này xem tại sao Hội Thánh Tin Lành không có một phản ứng nào, bỏ rơi Tín đồ chạy tán loạn. Vị Mục sư ấy nói với tôi rằng Hội Thánh Tin Lành không làm Chính trị. Tôi cảm thấy chua chát cho các Tín đồ Tin Lành vùng Cao Nguyên. Tiếng ’’Chính Trị’’ đã bị đánh đĩ, dùng làm cái lá chắn để che đậy cho sự nhát đảm, cho những quyền lợi riêng tư và gia đình, cho việc a tòng tội lỗi.
 Thấy kẻ cướp hành hung cướp của, mà yên lặng ngỏanh đi để kẻ cướp tha hồ làm ác, đó là thái độ a tòng. Không cấp cứu người hoạn nạn là một tội.

Lớp người tự nhận là Trí thức muốn biện luận để tránh sự thật
                                                                                                                               Ngay từ thời còn ở Việt-Nam trong những năm 1965, tôi đã thấy một số người nói rằng mình là trí thức, tỏ ra khinh chê những người có thái độ đấu tranh dứt khóat đối với chế độ Cộng sản. Họ thường dùng những kiểu nói ’’chống Cộng kiểu Hố nai’’ để tỏ sự chế riễu. Một số khi nói tiếng Việt, còn thêm mấy chữ thực dân Tây vào để tỏ rằng mình từ Paris về và thuộc hạng  Trí thức cao hơn Trí thức nội hóa!. Đây cũng là thái độ muốn dùng những chữ như ’’Đối thọai’’ cho có vẻ ta là người có ăn học ’’Trí thức’’. Thực tình thì tôi đã bắt đầu ghét hai chữ ’’Trí thức’’ ngay từ thời còn ở Sài-gòn. Tôi đã hô hào khi nói tiếng Việt, thì phải nói tiếng Việt ròng,  càng nói tiếng  ’’nhà quê’’, phong dao tục ngữ càng hay.Khi ở bên này, tôi cũng được nghe rằng một số anh em thuộc nhóm Cha NGUYỄN HUY LỊCH có khuynh hướng thảo luận kiểu ’’Trí thức’’ với Cộng sản. Hôm mới đây, đọc bài của Linh mục Chân Tín nói rằng trong Phái đòan Tôn giáo quốc doanh đi Hoa Kỳ có một ’’Trí thức’’ thuộc Nhóm Cha LỊCH cùng đi, tôi hiểu ngay với khuynh hướng nào mà họ tuyên bố bên Mỹ. Cha Lịch thuộc dòng Đa Minh. Chúng tôi cũng liên tưởng đến Cha Nguyễn Thái Hợp, Đa Minh, du học Fribourg trước đây và sau sang Nam Mỹ cho hợp với Xã Hội Chủ Nghĩa, nghĩ đến  Cha Đinh Châu Trần dòng Đa Minh, thuộc Phái đoàn do Cộng sản gửi qua Mỹ.
 Chúng tôi xin lưu ý giới Trí thức ưa biện luận, ’’đối thọai’’ với Cộng sản rằng Cộng sản chủ trương trói người ta bằng ’’Dây thung’’, chứ không phải bằng ’’Dây thép’’. Trói bằng giây thung thì khó có hiện tượng ’’già néo đứt dây’’. Khi thấy phản ứng Dân chúng trước sự xiết cổ tàn nhẫn của chế độ trở thành căng thẳng, thì dây thung giãn ra một chút, nhưng vẫn trói. Nhưng khi trói bằng dây thép, sự căng thẳng dâng lên, thì dây thép có thể bị đứt.
 Người Cộng sản mong giới Trí thức giữ thái độ ’’trí thức’’ để họ nói xiên xẹo co giãn, trong khi ấy họ vẫn một mực lì lợm cối chầy giữ nguyên chế độ độc tài chuyên chính.
 Xin dứt khóat giải thể cái chế độ Cộng sản chuyên chính này bởi vì tòan dân đã thấy tỏ tường cái hậu quả của nó. Giữ thái độ ’’trí thức’’ hay nói cách khác thiếu lòng can đảm dứt khóat  với chế độ chuyên chính này, chúng ta trở thành a tòng trong mưu mô của kẻ nội thù của Dân tộc.

Lớp người vì chút quyền lợi cá nhân nhỏ mà Kẻ nội thù nhử trước mặt
                                                                                                                               Cộng sản dùng cách nhử chút quyền lợi cá nhân nhỏ để làm giảm hoặc làm thối lui thái độ dứt khóat chống lại chế độ chuyên chính của họ. Một số người Việt tị nạn ở Hải ngọai, trước đây đã có thái độ dứt khóat chống lại chế độ chuyên chế Cộng sản. Nhưng sau khi Cộng sản cho chút quyền lợi làm ăn ở Việt-Nam, hoặc cho cái Visa để về Việt-Nam thăm nhà, nay đã trở thành ’’khôn ngoan’’ đắn đo. Thậm chí những người này còn tìm cách xa dần những bạn hữu đã cùng nhau hăng say trước đây dứt khóat với Cộng sản. Một số người lại còn tìm cách chống đỡ cho kẻ nội thù.
 Tôi xin kể ra những tỉ dụ cụ thể.
 Khi tôi chưa ra tờ VietTUDAN, một số bạn hữu đã từng cùng nhau có thái độ dứt khóat còn hơn ’’Hố Nai’’ hay ’’Don Camillo’’, nhưng ngày nay, có người còn gửi điện thư xin tôi bỏ tên họ ra khỏi danh sách gửi báo của tôi. Tôi hiểu người bạn ấy, nhưng tất nhiên không bao giờ tôi bỏ tên họ ra khỏi danh sách, cho dù họ có không chơi với tôi nữa. Có người bạn còn khuyên tôi hãy ’’tìm hiểu’’, ’’đối thọai trí thức’’ với Cộng sản. Tôi hỏi ra thì biết rằng người bạn ấy mới hùn hạp mở Hotel nhỏ ở Việt-Nam. Có người mà tôi quen, đã từng tuyên bố những điều rất ’’Hố Nai’’ như tôi về chống độc tài Cộng sản, nhưng nay lại rở giọng ’’trí thức’’ ra để nói về Cộng sản. Tôi khám phá ra rằng cái Oâng bạn xồn xồn tóc muối tiêu ấy có ’’em’’ bồ nhỏ ở Việt-Nam, cần Visa  để về ’’thăm Quê Hương, tắm ao ta!’’
 Lương tâm những người này biết rằng chế độ chuyên chính Cộng sản đang làm Dân đói khổ, đang cản tương lai phát triển của Đất nước, nhưng vì chút quyền lợi cá nhân mà kẻ thù của Dân tộc nhử trước mặt, họ đã tìm cách lẩn tránh lương tâm. Đối với tôi, thái độ này cũng là a tòng với kẻ nội thù đang làm hại Dân tộc và tương lai phát triển của Đất nước.

Đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản chuyên chính
là bổn phận cứu Nước

 Cộng sản cố tình xuyên tạc cuộc đấu tranh hiện hành cho một thể chế mà Tự do được tôn trọng, nền Dân chủ Pháp trị phải được thiết lập. Họ xuyên tạc bằng cách tuyên truyền rằng những Phong trào Đấu Tranh tại quốc nội cũng như ở hải ngọai chỉ là một sự hiềm thù Quốc—Cộng trong quá khứ, hoặc là sự tranh chấp quyền hành. Thậm chí một số Vị trong Tôn giáo còn cho rằng cuộc Đấu tranh ở Hải ngọai là do những người ’’ăn không ngồi rồi, chỉ tay năm ngón’’. Nói như vậy là cộng tác vào việc làm tội lỗi của kẻ nội thù của Dân tộc.
 Cuộc đấu tranh giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ngày hôm nay không còn mang tính cách Quốc—Cộng trước đây, hay chỉ nằm ở phương diện đấu tranh phe nhóm Chính trị. Những người ở Hải ngọai không đấu tranh để về nhà làm vương tướng. Cuộc sống của họ yên thân nơi Hải ngọai. Nhưng việc đấu tranh để giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ngày nay mang ý nghĩa của việc trừ nội thù và cứu nguy Đất nước. Đó không phải là cuộc đấu tranh theo hứng, thích hay không thích, mà là một BỔN PHẬN CỨU NƯỚC.
 Dân chúng Việt-Nam đói khổ, bị cột trói bằng dây thung. Các Tôn giáo bị ’’quốc doanh hóa’’ bằng những tay sai len lỏi vào lòng các Giáo hội. Nạn tham nhũng, Lãng phí được độc quyền che chở, không có đối lập, không có báo chí nói lên. Một nước Việt-Nam có vựa lúa, có cá biển dọc theo nước biển và sông ngòi, có rau cỏ xanh tươi trên đất màu mỡ. Không ai có thể tưởng tượng Dân mình phải đói. Dân Việt Nam bị đói, đó là cái nhục cho Quốc thể. Tôi không thể tưởng tượng rằng Tổng Sản Lượng theo đầu người của Việt-Nam đứng hạng chót, chỉ có 376 đo-la mỗi năm. Tôi cũng không tưởng tượng được rằng dân Phi-Luật-Tân kiếm mỗi năm gấp 3 lần dân mình. Đầu óc người Việt mình cũng thông minh, tài nguyên mình có, tính tình cần mẫn chịu khó làm ăn. Tại sao dân mình nghèo đứng chót?!
 Rồi tương lai đàn con cháu Việt. Khi các nước khác tiến, thì mình lùi.
 Cái tội lỗi đưa đến tình trạng như vậy là do cái chế độ chuyên chính Cộng sản. Đó là kẻ nội thù đang bóc lột Dân tộc. Những kẻ làm ngơ, yên lặng không nói lên, những kẻ đánh đĩ hai tiếng ’’trí thức’’ để che đậy lòng can đảm, những kẻ vì chút quyền lợi cá nhân nhỏ do Cộng sản nhử trước mặt, mà lẩn tranh cuộc đấu tranh giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản, là một mặt thiếu bổn phận cứu nước, mặt khác a tòng với nội thù để làm Dân đói khổ, làm tương lai phát triển đen tối.
 Những kẻ nội thù ấy, một mặt đè bẹp Dân để cướp của, một mặt nịnh bợ Bắc phương mà mang Đất và Biển của Tổ Tiên đi dâng cúng cho Tầu.
 Phải diệt Kẻ nội thù, Quân bán nước. Đó là BỔN PHẬN CỨU NƯỚC VÀ BẢO VỆ GIANG SƠN CỦA TỔ TIÊN. Chống Cộng, GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH CỘNG SẢN LÀ MỘT BỔN PHẬN CỨU NƯỚC của mọi người Việt vậy.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
CHỐNG CHUYÊN CHÍNH CỘNG SẢN
VÌ TƯƠNG LAI DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC
                                                                                                                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?
                                                                                                                                 Với bài này, chúng tôi muốn đặt vấn đề đấu tranh ở vị trí đúng của thực tế hôm nay tại Việt-Nam. Cái tiếng ’’CỘNG’’ còn nguyên nghĩa hay không đối với những người Việt-Nam theo Cộng cũng như đối với những người Việt-Nam chống Cộng? Quốc tế nhìn mình ra sao khi người Việt dành tòan sức lực xoay quanh cái tiếng ’’Cộng’’ này? Chúng tôi nói đến những điểm sau đây:

- Một vài câu chuyện dẫn nhập
- Giải thể chế độ chuyên chính vì tương lai
- Kết luận: xử dụng danh từ cho đúng thực tế


MỘT VÀI CÂU CHUYỆN DẪN NHẬP

Tôi có dịp nghe những câu chuyện từ phía Cộng sản chính cống cũng như những câu chuyện từ phía Lực lượng chống Cộng. Đây là những câu chuyện được kể ra không có mục đích đấu tranh, mà được nói ra một cách vô tình. Nhưng chính trong cái vô tình này mà chúng ta nhìn thấy hé mở một thực trạng mà cuộc đấu tranh phải lưu ý tới.

Cách đây chừng 9 năm, thời Oâng Tổng Lãnh sự NGUYỄN NGỌC LƯƠNG và thời Oâng Đại sứ NGUYỄN LƯƠNG tại Liên Hiệp Quốc Geneve. Cả hai Oâng cùng có tên là LƯƠNG. Thời ấy, Công ty nặc danh WIM-IMPACT của chúng tôi  có những liên hệ với Đông Aâu về vấn đề tái xuất cảng hàng Điện tử qua bên ấy. Vì sự liên hệ này của tôi đối với Nga và Đông Aâu, nên Oâng Nguyễn Ngọc Lương có ý nhờ tôi xem xét những nguồn cung cấp Phân đạm UREA mà Việt-Nam quen mua từ những nước này. Với sự quen biết ấy, Oâng Nguyễn Ngọc Lương nhờ tôi nộp đơn xin học bổng cho con gái của Oâng. Nhưng không may cho Oâng là trong hồ sơ nộp đơn, phải đề Nghề nghiệp của Cha. Trường hợp của Oâng thì phải đề nghề nghiệp là TỔNG LÃNH SỰ. Với nghề nghiệp cao trọng như vậy, thì không cơ quan Thụy sĩ nào chấp nhận cho Học bổng cho con của Oâng. Oâng Nguyễn Ngọc Lương than thở với tôi: ’’Tổng Lãnh sự của những nước Tự do, thì có tiền lương cao, nhưng Tổng Lãnh sự của nước Cộng sản Việt-Nam, thì lương chết đói!’’. Để chứng minh, Oâng Lương đã mời tôi lên ăn phở tại Tòa Tổng Lãnh sự. Sau khi ăn, Oâng cắt nghĩa cho tôi rằng tôi là khách được Tổng Lãnh sự mời, thì thịt được ăn tự do, còn nếu chỉ nguyên trong nội bộ, thì thịt được chia đều cho mỗi người, chỉ có bánh phở và nước phở được ăn tự do mà thôi. Sau đó, nhân dịp Lễ 3 ngày của Thành phố Geneve, tôi đề nghị nhân viên Tòa Lãnh sự và Toà Đại diện tại Liên Hiệp Quốc thuê một gian hàng để bán Chả giò và Thịt nướng kiếm tiền thêm. Cả Oâng Tổng Lãnh sự Nguyễn Ngọc Lương và Oâng Đại sứ Nguyễn Lương đều vui mừng chấp nhận. Vì biết tôi thường tổ chức trước đây những Lễ Lậy của các đòan thể Quốc gia, có nhiều đồ nghề để trang hòang, nên hai Oâng nhờ tôi cho mượn. Tôi thực tình nghĩ rằng vì đây là gian hàng của Tòa Tổng Lãnh sự và của Sứ quán Cộng sản, nên tôi cho mượn những đồ trang hòang rặt mầu đỏ, mầu của Cộng sản. Nhưng Oâng Tổng Lãnh sự và Oâng Đại sứ từ chối và nói với tôi rằng xin đừng dùng mầu đỏ, mà cho mượn mầu khác tốt hơn. Đây là điều tôi không chủ ý và phản ứng của hai người Cộng sản cao cấp như vô tình, nhưng ai cũng hiểu rằng chính những người Cộng sản không thích mầu đỏ của họ nữa. Đây là một mặc cảm khi phải tự xưng rằng mình là Cộng sản. Dường như trước mặt Quốc tế, họ mặc cảm nếu xưng mình là Cộng sản Việt-Nam. Hãy quan sát thêm những trường hợp khác. Trong hầu hết những Hồ sơ xin Tài chánh mà tôi nhận được, ngay cả những Công ty quốc doanh, khi đề Địa chỉ, họ chỉ đề vỏn vẹn VIỆT-NAM chứ không đề là CỘNG HÒA DÂN CHỦ VIỆT-NAM. Họ cũng mang mặc cảm cho cái danh xưng mà Đảng chủ trương. Những người gọi là đầu não tư tưởng của Đảng cũng bị mặc cảm và muốn đánh lận con đen khi họ dùng những chữ:’’ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA’’. Tại sao họ không dám dùng tọac móng heo rằng:’’ĐỊNH HƯỚNG CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA’’. Họ mặc cảm vì biết rằng Quốc tế sẽ cười họ khi họ dùng hai chữ Cộng sản và họ muốn đánh lận con đen khi dùng những chữ Xã Hội Chủ Nghĩa vì họ muốn xử dụng chữ ’’Socialisme’’ theo kiểu Tây phương. Về điểm này, chúng ta phải nói rằng chính những người Cộng sản đã có mặc cảm, hoặc chống lại chính chủ nghĩa CỘNG SẢN của họ. Chỉ những kẻ theo đóm ăn tàn, bồi Cộng sản, liếm đít thối của Cộng sản, thì lại ưa treo cờ MÁU ĐỎ ở bên Mỹ hay thường tự xưng là CỘNG SẢN. Chúng ta nên hiểu rằng đây chỉ là muốn nịnh bợ mà thôi. Những kẻ bợ đít thì thích tỏ ra rằng mình là Cộng sản và thích treo cờ Máu Đỏ, trong khi ấy Cộng sản chính cống thì lại sợ hai tiếng Cộng sản và sợ chính màu Đỏ.

Câu chuyện dẫn nhập thứ hai là về phía những đồng bào hoặc là nạn nhân Cộng sản trước đây hoặc là đang hăng say chống Cộng. Khi tôi sang California, ghé thăm một người bạn đã từng cùng nhau đấu tranh trong Nhóm TỰ DÂN thời 1965. Tôi thăm gia đình anh năm 1995, nghĩa là sau 30 năm không gặp nhau. Hồi ở Sài-gòn cùng họat động, anh là Sinh viên Quốc gia Hành chánh, chưa lập gia đình. Sau khi tôi đi năm 1965, thì anh học và ra trường, đi làm việc ở quận Càng Long, Vĩnh Bình. Anh gốc Miền Bắc, lấy vợ người Mỹ Tho Miền Nam, con cái lúc này đã lớn học Đại học UCLA. Gặp nhau mừng lắm. Tôi rở tài nấu bếp và nấu phở cho cả gia đình. Nầu phở ở bên Mỹ và nhất là ở vùng Los Angeles thì sướng lắm vì có đủ các lá thơm, khỏi cần phải hầm xương mà hầm chính đùi gà nguyên thịt, bò tái thì vô cùng rẻ khi sánh với Thụy sĩ. Trong lúc ăn phở cả gia đình, anh bạn say sưa kể chuyện về chống Cộng tại Càng Long và Vĩnh Bình, kể mọi chi tiết về Cộng sản nằm vùng bắn sẻ tàn ác...Một trong những đứa con phát biểu:’’Bố nói những chuyện mà con không được sống!’’. Tất nhiên các con của anh không có tâm hồn hăng say như anh khi nói đến việc chống Cộng. Tôi suy nghĩ. Tôi hiểu rằng những người từ 55 tuổi trở lên, khi nói đến chống Cộng, thì những vết hằn quá khứ hiện ra chiếm phần lớn tâm trí và sự xung động. Nhưng những người từ 45 tuổi trở xuống lúc này, khi nói đến chống Cộng, thì quan niệm của họ qua sách vở, báo chí, hoặc do Cha Mẹ kể lại. Tất nhiên họ chưa sống trực tiếp với những tội ác của Cộng sản, nên tâm tình khác với những bậc lớn tuổi đã mang những vết hằn đau thương trên thân xác và tâm hồn. Những vết hận đau thương làm họ vững ỡ tinh thần chống tội ác Cộng sản. Nhưng điều quan trọng ở đây phải nhắc ra là chủ lực nắm vận mệnh thời cuộc lại nằm trong tay lớp trẻ cho đến 45 tuổi.

Câu chuyện dẫn nhập thứ ba là chính tôi phát biểu. Tôi đã nói với Sứ quán Cộng sản tại Thụy sĩ rằng tôi cố thủ giữ lại Quốc tịch Việt Nam để có ngày về Việt-Nam ra ứng cử Quốc Hội. Họ nói với tôi rằng dù tôi lấy Quốc tịch nước ngòai thì họ vẫn coi mọi người tị nạn là người Việt Nam. Tôi phản ứng liền rằng không phải các Oâng coi tôi là người Việt Nam, thì tôi mới là Việt Nam, mà phải chính tôi coi tôi là Việt-Nam hay không. Chế độ của các Oâng không có quyền bảo tôi là Việt-Nam hay không. Tôi còn vui vẻ nói với họ rằng khi tôi về ứng cử Quốc Hội, tôi sẽ chọn đơn vị từ Hố Nai, Gia Kiệm đến Bảo Lộc vì tôi tin chắc là tôi thắng cử nếu để Dân chúng tự do bầu phiếu. Họ hỏi tôi rằng tôi có phá Đảng Cộng sản hay không. Tôi trả lời rằng tôi cương nghị chống phá tất cả những Đảng nào đi ngược lại quyền lợi của Dân và Đất Nước. Việc đối đáp này là giữa Oâng Nguyễn Ngọc Lương và tôi. Cũng có lần tôi viết thành văn bản cho Bộ Nội Vụ Cộng sản rằng tôi ví Mẹ Việt Nam như dòng nước sông chảy triền miên từ đời này sang đời khác, nghĩa là muôn năm, nhưng những chế độ chính trị chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên dòng nước sông, khi ẩn khi hiện, không thể là muôn năm. Tôi làm việc cho dòng nước sông chứ không cho làn sóng lăn tăn.

Những câu chuyện trên đây như tỉ dụ để tôi bàn về một số vấn đề chống Cộng tiếp theo.


GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH VÌ TƯƠNG LAI

 Tương lai ở đây là những quyền căn bản của con người Việt-Nam, là sự phát triển Kinh tế của Đất nước mình. Từ hồi báo của Tổng Hội Sinh viên Paris, chúng tôi đã phân biệt NHÂN BẢN vả NHÂN BẢN DÂN TỘC. Vì vậy ở đây, chúng tôi nói rằng những quyền căn bản của con người Việt Nam cho rõ, nghĩa là quyền sống làm người của con người biết ăn nước mắm, chứ không phải là con người chỉ biết ăn spaghetti, hay hamburger với ketchup...Chúng tôi muốn cái NHÂN BẢN được Dân tộc hóa cá biệt.

 Vì những quyền căn bản của người Việt-Nam và vì sự phát triển Kinh tế để tối thiểu bảo đảm quyền Dạ dầy (Stomach Right) của những con người ấy mà chúng ta kiên trì đấu tranh.

 Cộng sản do Oâng Hồ chí Minh nhập cảng vào Việt-Nam chỉ là gợn sống lăn tăn trên dòng sông triền miên chảy của Dân tộc. Sau chế độ Thực dân, Cộng sản đã áp đặt một cách đẫm máu trên Dân tộc một chế độ chuyên chính. Chế độ này đi ngược với những quyền căn bản của người Việt-Nam và làm thối lui sự phát triển Kinh tế để bảo đảm quyền Dạ dầy của Dân chúng. Cái mà Oâng Hồ Chí Minh nhập cảng vào gọi là Cộng sản. Chúng ta chống Cộng là chống cái chế độ chuyên chính tước đọat những quyền căn bản của con người Việt-Nam và làm thối lui Kinh tế đến chỗ Dạ dầy của Dân chúng phải ăn bo bo ở bờ ruộng Đồng bằng Cửu Long vựa lúa. Cái chế độ chuyên chính này làm tủi nhục công lao của Tổ Tiên đã để lại cho chúng ta những vùng vựa lúa phì nhiêu, những con cá lóc vàng tươi để nấu cháo.

 Việc làm của Oâng Hồ Chí Minh là tội ác. Tôi mới điện thọai về cho Cha Lợi, bạn đấu tranh của Cha Lý và nói rằng chế độ chuyên chính Cộng sản là đại nạn cho Dân tộc và Đất Nước.  Đảng Cộng sản là KẺ NỘI THÙ và việc giải thể chế độ chuyên chính của họ hiện nay là một BỔN PHẬN CỨU QUỐC của mọi ngưởi dân Việt-Nam.
 Chúng tôi cũng nói rằng những người lớn tuổi hiện nay đấu tranh không phải vì để làm vương tướng gì, nhất là khi đang sống cuộc sống yên lành ở nước ngòai với Bảo Hiểm Sức khỏe và Tuổi già. Nhưng họ đấu tranh chỉ vì tương lai của Dân tộc, của Đất nước, của lớp Thanh niên phải sống trong tương lai. Tôi khâm phục những Vị đàn anh, mỗi lần mùa Thu sương mù tới thì thấy đầu gối và mắt cá chân nặng nề đau nhức, nhưng vẫn lấy sức chịu đựng kiên trì đấu tranh giải thể chế độ chuyên chính hiện nay vì nghĩ đến tương lai của con cháu, của Dân tộc và Đất nước. Tôi nói thẳng với Đảng Cộng sản rằng họ đừng tuyên truyền xuyên tạc bậy bạ mà tôi lôi từ Hồ Chí Minh ra mà chửi cả dòng giống Cộng sản của họ.

 Xin Hàng Giám Mục Việt Nam hãy quan niệm cho rõ động cơ đấu tranh hiện nay. Xin đừng vì mấy tên giáo gian quốc doanh mà về hùa. Các Vị đừng vì quan niệm quá khứ mà bị ảnh hưởng trong thái độ, nhưng hãy vì tương lai của Giáo hội mà mà lên tiếng. Lịch sử Dân tộc và Giáo Hội sẽ ghi lại cho hậu thế. Khi mình có thể làm được gì tốt, mà mình yên lặng để cho kẻ ác tiếp diễn, thì đó là tội lỗi.


 KẾT LUẬN: XỬ DỤNG DANH TỪ CHO ĐÚNG

 Câu chuyện sau đây liên hệ đến việc Cộng sản khoe khoang rằng họ dùng chữ ’’chuẩn’’ hơn phía Quốc gia. Một lần tôi được xem tấm hình Phà Mỹ Thuận.  Tôi thấy trên tấm hình đề là ’’CỤM Phà Mỹ Thuận’’. Tôi hỏi lại tại sao là CỤM mà không phải là NHÓM. Tôi nhớ  đến những kiểu nói Cụm Từ. Tôi vặn hỏi một ’’đồng chí’’ tại sao cái gì cũng là CỤM. Oâng ấy cắt nghĩa CỤM là nhóm họp lại. Tôi trả lời rằng người Quốc gia chúng tôi dùng nhiều chữ để phân biệt cho tế nhị của việc nhóm lại: BỜ TRE, CỤM TRE, NHÓM CHỮ, NHÓM CÔNG NHÂN. Bờ Tre khác với Cụm tre. Dùng chữ Nhóm cho Động vật, nhất là người, còn chữ Cụm cho Thực vật, cây cỏ. Người ta nói là Nhóm Văn sĩ, chứ nói là Cụm Văn sĩ thì khó nghe quá. Tôi bắt đầu cắt nghĩa cho họ rằng các ’’đồng chí’’ tối ngày ở trong rừng, núp ở những cụm cây, nên quen dùng chữ cụm. Khi ra đến thành phố, thấy chỗ nào xúm lại đông, thì cũng dùng tiếng CỤM như trong bưng biền cây cỏ vậy. Nếu thấy nhiều người cùng đứng chung, thì đừng gọi là cụm người, mà là Nhóm người; thấy nhiều con chó sủa, thì đừng gọi là cụm chó, mà phải gọi là Đàn chó; thấy nhiều rác rưởi chồng chất lên, thì đừng gọi là cụm rác, mà phải nói là Đống rác...Như vậy mới ’’chuẩn’’ vì tiếng Việt phong phú và nhiều khía cạnh lắm.

 Theo những gì trình bầy ở những phần trên đây, tôi xin đề nghị dùng những tiếng cho ’’chuẩn’’ đối với công cuộc đấu tranh hiện nay:
- Mình nên dần dần thay thế danh xưng Phong trào chống Cộng bằng danh xưng Phong trào chống độc tài và đòi việc tôn trọng Nhân Phẩm, bảo vệ Nhân quyền và áp dụng nguyên tắc Dân chủ. Thực sự thì Cộng sản còn đâu mà chống;
- Gặp những tên Cộng sản chính cống, thì mình cứ nói hai tiếng Cộng sản bởi chúng đang bị mặc cảm bởi hai tiếng ấy;
- Gặp những tên theo đóm ăn tàn, bợ đít Cộng sản, mình đừng nên gọi chúng là Cộng sản vì gọi như vậy làm chúng khóai lắm. Chúng chỉ là những tên bồi, liếm đít Cộng sản, chứ chưa phải là Cộng sản. Tỉ dụ như Lm Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ..., tôi không gọi là cán bộ Cộng sản, mà chỉ gọi là những tên ngợm ’’nâng cần’’ Cộng sản để kềm chế anh em trong Giáo hội.
- Đối với chế độ hiện hành ở Việt Nam, tôi không muốn gọi họ là chế độ Cộng sản nữa, mà gọi đó là chế độ độc tài, chuyên chính bóc lột.
- Tôi muốn dùng những chữ Kẻ Nội thù thay cho hai chữ Cộng sản.

Cuộc đấu tranh của chúng ta hiện nay là vì xây dựng  tương lai của Dân tộc và phát triển Đất nước. Trên con đường tòan dân xây dựng tương lai ấy, chúng ta gặp Kẻ nội thù, nên chúng ta dẹp họ. Chúng ta không chống Cộng, mà là dẹp Kẻ nội thù đang áp đặt một chế độ chuyên chính lên Dân chúng Việt-Nam. Cuộc đấu tranh dẹp Kẻ nội thù hiện nay là bổn phận cứu nước vì tương lai chứ không phải là việc tranh chấp chính trị vì quá khứ Quốc--Cộng.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
TỪ LÃNG PHÍ VỐN
ĐẾN LÃNG PHÍ NHÂN LỰC
                                                                                                                                 Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?
                                                                                                                                 Chủ đề khai triển của VietTUDAN từ nhiều số trước cho đến nay và sẽ phát hành sau này là đời sống thiếu những quyền căn bản của người Dân và nhất là tương lai đen tối về phát triển Kinh tế của Đất nước nếu Việt Nam vẫn phải tiếp tục chịu cái ách độc tài của chế độ chuyên chính hiện nay.

 Chúng tôi hòan tòan hướng về tương lai của Dân tộc và Đất nước mà phân tích, chứ không phải vì những câu nệ tranh chấp chính trị Quốc—Cộng trong quá khư mà nói.

 Cái chế độ chuyên chính Cộng sản trong quá khứ đã ngăn cản việc giải quyết quyền Dạ dầy của người Dân và đó là động cơ chính yếu để đưa đến xụp đổ của Đế quốc Cộng sản. Đảng và Nhà Nước Việt-Nam vừa mới tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường như giải quyết duy nhất cho tình trạng đói nghèo của Dân chúng lúc này. Nhưng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường đòi hỏi một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adequat), thì mới mong đạt những hiệu quả mong muốn. Nếu không, nền Kinh tế Tự do và Thị trường có thể biến dạng sang Kinh tế Mafia tự do và độc quyền Thị trường bang đảng.

 Chúng tôi nói trước với chế độ hiện hành rằng việc đấu tranh cho một nền Kinh tế Tự do và Thị trường ĐÍCH THỰC, nghĩa là với đúng một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp sẽ là con đường tất yếu đưa đến giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản. Nếu Đảng Cộng sản Việt-Nam vẫn lì lợm khư khư giữ lấy chế độ chuyên chính hiện hành, nghĩa là cố thủ không cho một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì họ chính là Kẻ nội thù của Dân tộc. Tất nhiên, vì cái quyền Dạ dầy, cái bụng đói rỗng, Dân không chịu nổi nữa, sẽ đứng lến quét sạch Kẻ nội thù.

 Tiếp theo những triển khai ý tưởng trên đây và với thái độ phân tích Kinh tế, chúng tôi trình bầy khía cạnh LÃNG PHÍ.

 Trong Đại Hội Đảng kỳ IX, các đảng viên đã đồng thanh kết án THAM NHŨNG và LÃNG PHÍ. Kết án như vậy trên giấy tờ, nhưng tham nhũng và lãng phí vẫn hòanh hành, từ trên xuống dưới chưa ai đưa ra được những biện pháp cụ thể ngăn chặn.

 Hôm nay, chúng tôi chỉ nói đến LÃNG PHÍ. Khía cạnh này liên hệ đến việc Quản trị một Tổ chức, một Xí nghiệp Kinh tế. Chúng sẽ viết về những điểm sau đây:

- Xử dụng những Yếu tố sản xuất
- Việc Lãng phí Vốn
- Việc Lãng phí Nhân lực
- Kết luận: Chế độ chuyên chính không tận dụng được Vốn và Nhân lực

XỬ DỤNG NHỮNG YẾU TỐ SẢN XUẤT

 Sản lượng của Quốc gia hay của một Công ty tùy thuộc vào việc xử dụng những yếu tố sau đây:
Q = f (K, L, t)

Q: Sản lượng; K: Vốn xử dụng; L: Nhân lực; Kỹ thuật hội nhập vào hai Yếu tố chính K, L.

 Vốn xử dụng (K) ở đây không phải chỉ nguyên có tiền trong Ngân Hàng..., mà bao gồm tất cả những phương tiện sản xuất không phải là sức làm việc của con người. Tỉ dụ cái ghế để ngồi làm việc cũng gọi là Vốn; con trâu kéo cầy cũng gọi là Vốn; con ngựa kéo xe cũng gọi là Vốn...Trong khi ấy người cấy lúa gọi là Nhân lực (L); cô thơ ký làm văn phòng gọi là Nhân lực; ông Thủ tướng điều hành việc Nước gọi là Nhân lực...
 Cái lý do để phân biệt Nhân lực ra khác với Vốn là vì Nhân lực có óc thông minh, phát minh được những Kỹ thuật giúp cho Nhân lực có hiệu năng hơn. Con trâu kéo cầy, thì đời nào nó cũng kéo như vậy; nó không tự phát minh những kỹ thuật kéo cho hữu hiệu hơn. Còn ông Thủ tướng quản trị việc Nước, có óc thông minh điều hành an dân hơn, chứ không phải đời này qua đời kia cứ dùng Công an khủng bố mà bắt dân phải làm trâu ngựa. Cũng vậy, cô thơ ký thời nay, nhờ phát minh máy Điện tử, đánh lá thư nhanh hơn, để có giờ sửa sọan móng tay móng chân cho đẹp lòng Chủ.
 Về phương diện tiến triển Kỹ thuật giúp Nhân lực có hiệu năng cao, tôi nhớ lại khúc Phim tuyên truyền của Hà nội thời trước 1975 được chiếu trên Truyền Hình Pháp. Họ chiếu cảnh các Phụ nữ Miền Bắc xắn váy quai cồng lên, xuống rãnh, dùng hai bàn tay móc bùn, cảnh Oâng Hồ Chí Minh đứng tắt nước Gầu Dây...Khúc phim tuyên truyền này muốn tỏ ra sự vẻ vang của lao động nhân lực. Một bạn Sinh viên Thụy sĩ ngồi bên cạnh cùng xem Truyền hình, phê bình rằng sao mà ngu thế, sao không nghĩ ra những phương tiện Kỹ thuật mà hốt bùn, mà bơm nước. Thực vậy cái hãnh diện của Nhân lực sản xuất là phải dùng óc thông minh mà tạo ra những Kỹ thuật mới để làm nhẹ bớt gánh nặng của mình, để sản xuất có hiệu năng hơn người khác. Những hình ảnh tuyên truyền trên kia chỉ chứng tỏ sự thối lui của Nhân lực.
 Cái Yếu tố thứ ba mà Sản lượng (Q) tùy thuộc, đó là Kỹ thuật hội nhập (t).  Thực vậy, cùng một số Vốn USD.3'000.- chẳng hạn, cách đây 10 năm, chúng ta chỉ mua được cái máy Điện tử chạy như rùa bò, với khả năng Trí nhớ rất hạn hẹp; nhưng ngày nay cùng số Vốn ấy, chúng ta có được cái máy Điện tử chạy phóng như thần mã, thêm Trí nhớ lớn gấp bội. Đây là do cái tiến triển của Kỹ thuật hội nhập vào số Vốn USD.3'000.- Đối với Nhân lực cũng vậy. Một Phóng viên trước đây khi đánh máy Bản tin, chỉ cần hai ngón tay gõ trên bàn đánh máy, bỏ vào phong thơ, le lưỡi dán tem, gửi thơ về Tòa sọan. Anh không cần phải được huấn luyện nhiều về kỹ thuật đánh máy, gửi thơ. Nhưng ngày nay anh Phóng viên viết Bản tin với máy Điện tử, khỏi cần le lưỡi dán tem gửi thơ, mà anh chỉ cần click một cái là Bản tin chạy về Tòa sọan. Để có thể làm được như vậy, anh phải dành thời gian để học hỏi về Kỹ thuật mới. Với việc học hỏi, anh đã có trong người một vốn kiến thức mới mà người ta gọi là chất xám.
 Người quản trị sản xuất giỏi là người biết xử dụng tối thiểu số Vốn (K), tối thiểu Nhân lực, với những Kỹ thuật tiến bộ hội nhập kịp thời, để cho một Sản lượng tối đa.
 Câu tục ngữ của Việt-Nam cho thấy ai là người quản trị sản xuất tuyệt hảo:’’Nước lã mà vã lên hồ, Tay không làm nổi cơ đồ mới ngoan’’. Nhìn vào tục ngữ, tác giả trứ danh về Marketing như KOTLER cũng phải tán thưởng bà Mẹ Việt-Nam buôn bán ở chợ:’’Buôn thúng, Bán mẹt’’. Khi mua hàng, bà dùng cái thúng cho sâu để người ta thấy ít hàng mà hạ giá cho. Nhưng khi bán, bà bầy ra cái mẹt để trông cho nhiều mà tăng giá bán. Đó là bà xử dựng kỹ thuật Design, đánh lầm nhãn quan (Tromperie visuelle).
 Dựa vào những điều vừa trình bầy ở trên, chúng tôi xét xem chế độ Cộng sản hiện nay Lãng phí Vốn như thế nào và Lãng phí Nhân lực cùng Kỹ thuật hội nhập ra sao.

VIỆC LÃNG PHÍ VỐN

 Xin kể lại một vài tỉ dụ cụ thể trước khi chúng tôi rút ra những nhận xét về Lãng phí vốn của cả Tổ chức Nhà Nước và của những Công ty quốc doanh hiện nay ở Việt Nam dưới chế độ chuyên chính Cộng sản.
 Năm 1997, khi chúng tôi Đại diện cho một Công ty tài chánh Hoa kỳ để gặp thảo luận với một Công ty lớn quốc doanh ráp nối Xe hơi tại Hà nội, Oâng Tổng Giám đốc của Công ty mời tôi đi ăn cơm chiều tại một Nhà hàng Ăn Uống cao cấp phía đường Giảng Võ, gần Queen Bar. Hình như lúc này Sứ quán Hoa kỳ cũng xây trên đường này. Khi vào Phòng ăn, tôi thấy chừng 15 người cùng đến ăn: từ Tổng Giám đốc, đến Phó Tổng Giám đốc, rồi nhiều Thơ ký. Aên thì gọi đủ thứ, uống thì tất nhiên Cognac từ đầu đến cuối giống như người Hoa ăn tiệc. Sau khi ăn, thơ ký về, còn qúy Oâng thì được mời sang Queen Bar uống tiếp, chiếm một Phòng và chỉ vỗ tay một cái là ba bốn cô ra chiêu đãi. Cuối cùng Oâng Tổng giám đốc còn mời tôi đi hát Karaôkê. Tôi trả lời Oâng rằng nếu hát Quan họ Bắc Ninh, thì tôi đi, còn hát kiểu New Ways như Cali, thì xin cho tôi về Hotel. Tất nhiên là tôi được chở về Hotel vì lúc ấy chưa có ra đĩa Quan họ Bắc Ninh ở Karaôkê mà nhái theo.
 Ngày hôm sau, tôi gặp Oâng Lê Ngọc Quang, người Đại diện của tôi tại Hà Nội, và tỏ sự ngạc nhiên của tôi về việc ăn uống, đi chơi đông người như vậy. Oâng ấy trả lời rằng những người này ít có dịp vào Nhà hàng cao cấp, vào Queen Bar vì họ không có tiền riêng để trả, nhất là Thơ ký với đồng lương không đủ nuôi con. Nhưng khi gặp Oâng, mời Oâng, thì họ có dịp đi, nhất là Thơ ký, vì trong Sổ Kế tóan, họ tính tiền chiêu đãi khách như Ông để Nhà Nước trả.
 Đây là lãng phí Vốn chùa của Nhà Nước.
 Nếu tôi muốn xử điệu, áp dụng câu ’’Có đi có lại mới tọai lòng nhau’’, thì tôi cũng phải lãng phí luôn, nghĩa là tôi phải mời đủ mặt những người của họ đi ăn uống. Có nhiều người môi giới từ nước ngòai về, in Danh thiếp mầu mè, chữ nổi cho đẹp, xưng danh hiệu cho sang, thế rồi muốn tỏ mặt anh hùng, mời mọc cho xộp, cuối cùng thấy đo-la mang về xuống mau quá. Thực vậy, đã mời Nhóm này, thì phải mời Nhóm kia, rồi các Nhóm, mà cuối cùng sạch túi, công việc vẫn chưa xong.
 Câu chuyện thứ hai đây không phải là lãng phí lặt vặt, nhưng lãng phí lớn, cộng thêm mưu mô biển thủ của công. Đây là câu chuyện Khu Chế suất Dung Quất với Nhà máy Lọc dầu ’’Second hand’’. Nhà Nước còn thiếu Vốn, nên muốn mua Nhà máy Lọc dầu Second hand. Tôi giới thiệu với Công ty lớn của Oâng JIM PRICE tại New York. Tôi tin rằng Công ty này không bán đồ rởm với giá cứa cổ lừa đảo. Oâng này giới thiệu một Nhà Máy từ Texas, còn khá tốt. Nhưng cuối cùng Ban Giám đốc muốn mua Nhà Máy Second hand của Nga. Chúng tôi khám phá ra rằng những người bên Nga cũng cùng học với một số Vị trong Ban Giám đốc này. Họ muốn mua Nhà Máy của Nga với giá Kế tóan, còn giá thực thì họ biết với nhau. Nhà Nước cứ ạch cổ ra mà trả cái nợ mua Nhà Máy. Còn việc Nhà Máy Second hand chạy được bao lâu, thì mặc Nhà Nước lo sau này, lo luôn cả những dụng cụ mà những bạn Nga sẽ cùng họ cung cấp sau này. Nhưng tiền trả nợ từ Nhà Nước, thì đến từ việc bán thóc gạo của Dân. Đây là việc vừa lãng phí, vừa ăn cắp Vốn của Dân. Có những người môi giới từ nước ngòai về, làm liên hệ bán đủ các lọai Nhà máy mà phía nước ngòai đã coi là những Nhà máy hết còn cạnh tranh nổi: Nhà Máy Thuốc Lá, Nhà Máy Dệt, ngay cả Đầu Tầu Xe Lửa từ Tiệp..
 Câu ’’Cha chung không ai khóc’’ đúng vô cùng cho cái chế độ chuyên chính này, với độc đảng, với dù lớn che chở dù trung bình, rồi dù trung bình che cho dù nhỏ, thì việc lãng phí vốn với chủ trương biển thủ không thể tránh được.
 Để có thể chống những lãng phí kiều này, phải bỏ Điều 4 dành độc quyền, phải cho Đối lập, phải cho tự do báo chí, phải phế bỏ hệ thống đảng viên nắm những Công ty quốc doanh và phải tôn trọng những quyền của giới tư doanh. Trong hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, những tư nhân lo bảo vệ Vốn riêng của mình, thì mới tránh lãng phí được. ’’Đồng tiền liền với khúc ruột’’, thì lúc ấy người ta mới tha thiết tiết kiệm, tránh những lãng phí vốn vô ích.

VIỆC LÃNG PHÍ NHÂN LỰC

 Tôi cũng xin kể một vài tỉ dụ cụ thể để dễ trình bầy về việc lãng phí Nhân lực. Đây là việc lãng phí còn trầm trọng cho Đất nước hơn là việc lãng phí Vốn. Việc lãng phí này động chạm đến chất xám của người Việt-Nam trong cũng như ngòai nước. Cái lãng phí này khó có thể chữa được khi mà chế độ chuyên chính Cộng sản còn nằm chình ình ra đó.
 Cộng sản mở Mặt Trận Đòan Kết Dân tộc. Bất cứ một Tổ chức nào, một Đòan thể nào, nếu muốn có Đòan kết, thì những đòan viên phải ưng ý cùng một mục đích của Tổ chức, của Đòan thể. Cái tiếng Đòan Kết Dân tộc, thì rất đẹp và ai cũng muốn đòan kết. Nhưng sự chia rẽ bắt đầu khi mà cái mục đích, dù không nói ra, khác nhau. Cái mục đích của Tổ chức Mặt Trận Đòan kết Dân tộc của Cộng sản là kêu góm người vào để ỦNG HỘ CÁI QUYỀN HÀNH ĐỘC ĐÓAN CỦA ĐẢNG MÌNH. Cộng sản kêu gọi đòan kết dân tộc, nhưng chính họ là nguồn chia rẽ Dân tộc. Họ dùng cái kiểu kêu gọi, đánh lừa ở cái thời ấu trĩ kiểu’’I tờ, tờ i ti’’mà ai cũng thấy thâm ý của họ. Thế rồi họ công kích những người khác là không đòan kết. Thậm chí còn dùng lý do ấy để kết tội những người khác. Cha NGUYỄN VĂN LÝ bị kết án vì tội gây chia rẽ Dân tộc. Cha Lý muốn đòan kết Dân tộc, nhưng là để phục vụ cho quyền làm người của Dân Việt Nam, chứ không phải đòan kết để ủng hộ, củng cố quyền đàn áp độc đóan của Đảng Cộng sản. Nếu lúc này, chúng tôi cũng hô hào đòan kết mà ngầm ý là để ủng hộ VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG, thì Cộng sản có nhân danh đòan kết mà nhập vào hay không
 Tỉ dụ thứ hai, thì chính tôi đã nói với họ một cách tế nhị. Cũng hồi khỏang 1996-1997, Oâng Lê-Văn-Châu làm Phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt-Nam. Tôi đã nhiều lần liên hệ với Oâng do Tiến sĩ Cao Văn Sơn và Oâng Lý Kiến Nam ở Hà nội giới thiệu. Oâng Lê Văn Châu muốn thành lập Uûy Ban Thị Trường Chứng Khóan và biết tôi làm Luận án về Thị trường Chứng khóan của Thụy sĩ. Qua Tiến sĩ Cao Văn Sơn, ông có ý định mời tôi tham dự Uûy Ban. Tôi trả lời như sau:’’Trong Uûy Ban Thị trường Chứng khóan sẽ có tối thiểu 95% là người của Đảng. Những người này sẽ quyết định về tài chánh theo chỉ thị của Đảng, nghĩa là quyết định về Tiền bạc theo Chính trị. Còn tôi, tôi không thuộc Đảng, chỉ là chuyên viên, sẽ nhận định những vấn đề Tài chánh theo nguyên tắc tài chánh thuần túy, chứ không theo chỉ thị Chính trị. Khi tôi vào Uûy Ban, Hội viên 95% của Đảng, tôi phải theo đa số quyết định. Chắc chắn lúc ấy, tôi sẽ bực mình và xin từ chức. Vì vậy, thay vì đồng ý nhập vào với Uûy Ban theo lời mời, thì TÔI XIN LÀM ĐƠN TỪ CHỨC ngay từ đầu thì tốt hơn’’.
 Đúng vậy, đa số những người Việt-Nam ở Hải ngọai, càng với cuộc sống lưu vong bên này, càng cảm thấy lòng tha thiết muốn đòan kết, muốn đóng góp những hiểu biết của mình trong việc chung lưng xây dựng Quê Hương Việt-Nam. Họ có thể quên đi những hận thù cũ để chỉ nhìn Tổ quốc thân yêu làm mục đích đóng góp xây dựng. Nhưng đóng góp là đóng góp cho Quê Hương của tòan Dân Việt, chứ không phải đóng góp củng cố cho cái chế độ chuyên chính Cộng sản.
 Hãy nhìn lớp Nhân sự chủ lực của Đất nước hiện nay, cả trong cũng như ngòai nước. Chúng tôi biết rằng lớp chủ lực này tại Quê Hương chăm chỉ học học hành, học cào cấu lấy chất xám để tranh đấu kiếm việc sinh nhai. Khi có được chất xám trong đầu, thì phải có một môi trường nâng đỡ sự phát triển những chất xám cá nhân ấy, đời họat động mới có những sáng tạo, khuếch trương. Trong một thể chế chuyên chính tập quyền, trong một hệ thống tổ chức xí nghiệp theo chỉ thị Chính trị, bên cạnh lực lượng khủng bố đe dọa, cá nhân có chất xám tốt thì sợ sệt không dám khai triển. Chỉ cần làm theo chỉ thị cho yên thân. Chế độ chuyên chính độc tài và tập quyền chính nó là lãng phí sinh động, sáng tạo của Nhân lực, của chất xám.
 Ngày nay, chưa một Dân tộc nào có lớp chủ lực xã hội và kinh tế mạnh như Việt-Nam nằm ở nước ngòai. Sau năm 1975, lớp trẻ tị nạn ra nước ngòai, đã học hành rất giỏi. Hãy nhìn những lớp trẻ xuất thân từ những Đại học Hoa kỳ hay Aâu-châu. Đây là kho tàng chất xám Nhân lực mà nước Việt-Nam không phải chi tiêu tốn kém để đào tạo. Đó là nguồn Nhân lực sản xuất vô cùng qúy báu cho tuơng lai Quê Hương Việt-Nam. Hãy nhìn xem nước Mỹ, họ mua những chất xám bằng cách trả lương cao cho những người học giỏi xuất thân từ Aâu-châu, ngay từ Nga và Đông Aâu.
 Lớp chủ lực Việt Nam này sẵn sàng đóng góp vào việc xây dựng Quê Hương Việt-Nam. Nhưng chính cái ngu xuẩn lì lợm của Đảng Cộng sản muốn cố thủ giữ lấy độc quyền quản trị cho mình mà đã làm lãng phí đau đớn khối Nhân lực đầy chất xám này. Họ muốn đóng góp xây dựng Tổ quốc Việt-Nam, chứ không muốn trở thành những con khỉ uốn mình phục vụ cho Đảng Cộng sản.

KẾT LUẬN:
CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH KHÔNG TẬN DỤNG ĐƯỢC VỐN VÀ NHÂN LỰC

 Chế độ chuyên chính hiện hành của Cộng sản, như trên đã thấy, không những không tận dụng được Vốn và Nhân lực, mà còn là nguyên cớ chính để làm lãng phí trầm trọng hai yếu tố sản xuất ấy. Phải giải thể chế độ này vì tương lai tiến bộ của xã hội và phát triển kinh tế của Việt-Nam. Cố thủ giữ lấy chế độ ấy để bóp chẹt Dân Việt, cản mũi kỳ đà sự phát triển, họ là những Kẻ nội thù của Dân tộc, phải trừ khử họ.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ:
GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHÍNH CỘNG SẢN:
TÌNH CẢM XUNG ĐỘNG HAY QUYẾT ĐỊNH HỮU LÝ


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

LOẠT BÀI THỨ NHẤT: MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực phải được thực hiện trong một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique Adéquat). Môi trường này đòi hỏi tối thiểu phải tôn trọng 5 điểm sau đây để có tính cách phù hợp cho sự thực hiện đích thực của nền Kinh tế Tự do và Thị trường:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Từ VietTUDAN số 198/20.01.05 đến VietTUDAN số 202/17.02.05, chúng tôi đã khai triển 5 đề tài này về Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique Adéquat)  
Về mặt Kinh tế, cuộc đấu tranh của chúng ta lúc này là rõ rệt: Phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước Cộng sản tôn trọng 5 điểm trên đây để thực hiện đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà chính Đảng và Nhà Nước đã long trọng khẳng định chấp nhận.
LOẠT BÀI THỨ HAI: TƯƠNG QUAN KINH TẾ—CHÍNH TRỊ
Chúng tôi đã khai triển chủ đề này cho đến nay và cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể của chế độ chuyên chính hiện giờ.
 Những đề tài sau đây sẽ được lần lượt khai triển:
1) Kinh tế Thị trường là con đường tất yếu đưa đến tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
2) Định mệnh Tư bản và việc đẩy mạnh tiến trình tự giải thể chế độ độc tài Cộng sản
3) Lựa chọn con đường đấu tranh thực tiễn và hữu hiệu
4) Giải thể chế độ độc tài Cộng sản: ai giải thể và bằng cách nào ? 
5) Kinh tế Tự do và Thị trường: con đường giải thể chế độ độc tài Cộng sản
6) Tại sao phải giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản ?
7) Chống chuyên chính Cộng sản vì tương lai Dân tộc và Đất Nước.
8) Từ lãng phí Vốn đến lãng phí Nhân lực
9) Giải thể chế độ chuyên chính Cộng sản: tình cảm xung động hay quyết định hữu lý?

 Chủ đề khai triển của VietTUDAN từ nhiều số trước cho đến nay và sẽ phát hành sau này là đời sống thiếu những quyền căn bản của người Dân và nhất là tương lai đen tối về phát triển Kinh tế của Đất nước nếu Việt Nam vẫn phải tiếp tục chịu cái ách độc tài của chế độ chuyên chính hiện nay.

 Trong những bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN đến nay, chúng tôi đã bàn về việc giải thể chế độ chuyên chính hiện hành tại Việt-Nam dưới những khía cạnh sau đây:

-> Việc giải thể được phân tích như một Định mệnh (Fatalité) nội tại không thể tránh được của chính chế độ;

-> Việc giải thể là điều Cần thiết (Nécessité) phải thực hiện vì những Quyền sống căn bản của Dân và vì sự phát triển tương lai của nền Kinh tế Việt-Nam;

 Hôm nay, chúng tôi muốn nói tới Tính cách Hữu lý (Rationalité)  của việc giải thể chế độ chuyên chính ấy. Vì nói đến tính cách hữu lý của việc giải thể, nên chúng tôi cũng tiện dịp bàn luôn rằng việc đấu tranh hiện nay không mang tính cách Tình cảm xung động nhất thời như Cộng sản và những kẻ bợ đỡ đang cố tình tuyên truyền xuyên tạc.
ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ TÌNH CẢM XUNG ĐỘNG

 Chúng tôi đã sống qua hai giai đọan ’’xa Quê’’ với những tình cảm xung động nhớ về chốn cũ.
 
 Năm 1954, trên một triệu người Bắc Vĩ tuyến 17 vào Miền Nam Vĩ tuyến. Những người Bắc di cư này mang nhiệt huyết của một cuộc đấu tranh bắc tiến. Họ tổ chức lại những trường ốc cũ ở Miền Bắc: Chu Văn An, Trưng Vương, Dũng Lạc...Sinh viên và trí thức di cư ở câu lạc bộ Minh Mạng họat động văn hóa hướng về Miền Bắc. Tờ báo Sáng Tạo với những bài thơ, những chuyện ngắn...hướng về xứ Bắc. Những bài hát như ’’Hà nội ơi !’’ được ca lên cảm động. Ngay trong Tôn giáo, những Chủng viện, Trụ sở gốc Miền Bắc được thành lập.

 Thế rồi thời gian trôi đi, những tình cảm xung động ấy lắng dịu.

 Năm 1975, đợt sóng tìm Tự do, bất chấp những gian nan cực kỳ hiểm nguy, bắt đầu. Những người đi tìm Tự do này, gần 4 triệu hiện nay và rải rác trên 70 Quốc gia, mang nặng niềm nhớ Quê hương, đồng thời trên thân mình hồi ấy còn những vết thương vẫn chưa lành của chiến tranh do Cộng sản gây nên, hô hào thành lập những phong trào, ngay cả võ trang, quyết tâm về giải phóng Quê hương.Những Văn nghệ sĩ sáng tác, từ Chuyện, Kịch, Nhạc, Cải Lương...nói lên sự hận thù Cộng sản, nói lên quyết tâm trở về dành lại Quê Hương.

 Nhưng rồi thời gian trôi qua, những xung động tình cảm lắng dịu. Thêm vào đó, lớp Tuổi trẻ sinh ra tại nước ngòai, chưa từng sống với những tàn nhẫn của Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam, nên không có những xung động tình cảm.

 Sau 30 năm, những phong trào đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, quyết tâm giải thể chế độ chuyên chính hiện hành, phát động từ trong nước cũng như đứng lên tại hải ngọai, không do nguyên cớ từ những xung động tình cảm như Cộng sản và các tên bồi Cộng cố tình tuyên truyền xuyên tạc để bôi nhọ cuộc đấu tranh cho Tự do, Dân chủ của người Việt hiện nay.
 
 Điều mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây không phải là cho Cộng sản hay cho những tên bồi cố theo liếm đít Cộng sản, bởi vì Cộng sản và những tên bồi chủ trương xuyên tạc như vậy vì quyền lợi vật chất bẩn thỉu của từng cá nhân họ; nhưng tôi muốn nhắn gửi đến những Vị trọng vọng, nhất là những Vị Lãnh đạo Tôn giáo, bị ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng sản và bọn Giáo gian bồi Cộng sản, mà yên tiếng dửng dưng đối với tính cách hữu lý của sự đòi buộc giải thể chế độ chuyên chính mà các Phong trào người Việt đang đấu tranh.

 Liền sau hai cuộc di cư xa Quê, những Phong trào có bị ảnh hưởng bởi quá khứ.

 Nhưng ngày nay, cuộc đấu tranh nhìn về tương lai. Tính cách hữu lý đòi buộc giải thể chế độ hiện tại lấy căn bản ở việc phân tích tương lai của đời sống Dân Việt và sự phát triển Kinh tế của Đất Nước. Trước những xung động tình cảm nhất thời, mình có thể yên lặng để cơn nóng nguôi xuống, điều ấy có thể hiểu được. Nhưng trước việc nhìn thấy tính cách hữu lý của sự việc mà lương tâm biết rõ, mà những Vị Lãnh đạo yên lặng dửng dưng đối với tương lai đang đi xuống dốc, thì thái độ ấy trở thành vô trách nhiệm và tội lỗi. Tương lai sẽ xẩy ra và Lịch sử sẽ phán đóan thái độ của các Vị.


TÍNH CÁCH HỮU LÝ CỦA VIỆC GIẢI THỂ
CHẾ ĐỘ HIỆN TẠI ĐỂ CỨU NƯỚC

 Tại trong nước, những bậc lão thành đã đứng lên phản đối. Những bậc lão thành này không phải vì tình cảm xung động mà lên tiếng. Tại hải ngọai, những Vị lớn tuổi, khi rời Việt Nam năm 75 với tuổi 35-40 chủ lực xã hội, nay đã 62- 67 tuổi. Nhưng các Vị ấy lúc này lại giữ phần hăng say cốt cán trong các Phong trào. Các Vị dấn thân mặc dầu với hai đầu gối dễ bị phong thấp hòanh hành. Tôi vui mừng thấy các Vị đàn anh trong cũng như ngòai nước nhìn thấy sự cần thiết phải giải thể chế độ hiện hành vì tương lai con cháu. Lớp Thanh niên, không mang những vết hằn của thời Quốc—Cộng, tham dự đấu tranh, vì nhìn tương lai đen tối, chứ không phải vì những xung động tình cảm quá khứ.

 Trên đây là khẳng định về việc quan sát các Phong trào đấu tranh hiện nay. Nhưng tôi muốn đưa ra vấn đề then chốt và cụ thể  lúc này là vấn đề giải quyết cái bụng đói của Dân chúng Việt-Nam để từ đó làm đà phát triển một cuộc sống vật chất đủ ăn, rồi dễ thở hơn và sáng sủa như các nước khác. Hãy nhìn một cô gái Bến Tre xứ dừa, vì nghèo quá, phải lên Sài gòn bán thân từ 15 tuổi để có miếng cơm cho vào bụng. Cô không thích như vậy, nhưng vì bụng đói mà cô phải chấp nhận một sự chà đạp tâm lý và luân lý. Đây không phải là điều tôi viết theo tưởng tượng để gợi lòng xúc động. Nhưng tôi chỉ lấy lại cái tỉ dụ mà trong Thư Chung của Hàng Giám Mục Việt Nam đã long trọng thuật lại. Tôi cũng lấy tỉ dụ cảnh mấy cô gái vùng quê của Hà Đông về Hà Nội hát mấy câu Karaôkê để kiếm cơm. Đây cũng là sự xác nhận của chương trình cứu đói giảm nghèo do chính Nhà Nước quyết định.

 Để giải quyết vấn đề then chốt này, Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Cái nền Kinh tế Tự do và Thị trường chỉ là một Hệ luận của sự chấp nhận Tiền đề căn bản là TƯ HỮU. Cũng vậy, cái chủ trương Kinh tế Tập quyền Kế họach cũng chỉ là Hệ luận hữu lý của Tiền đề truất hữu cá nhân để Đảng giữ hết, gọi là CÔNG HỮU. Tôi muốn theo dòng lý luận từ hai cái Tiền đề CÔNG HỮU và TƯ HỮU ấy để cho thấy rằng việc giải thể chế độ chuyên chính hiện tại là một kết luận hòan tòan hữu lý của tư duy. Sự cấu trúc lý luận này không phải là chính trị, mà là từ cái đầu của những ai chưa bị điên khùng bệnh họan. Sự cấu trúc lý luận này đi từng bước rất đơn giản ở mức độ học trò. Nhưng cái sự đơn giản học trò này cho thấy rằng việc đi tới giải thể chế độ chuyên chính hiện nay là có tính cách hữu lý hiển nhiên của lương tâm, chứ không xiên xẹo lắt léo như Cộng sản và những tay sai cố gán vào vấn đề xung động tình cảm.

 Chúng tôi bắt đầu bằng Tiền đề Công hữu và Hệ luận của nó để thấy việc giải thể đã được bắt đầu và chúng ta chỉ cần kiện toàn nó.

Từ Tiền đề CÔNG HỮU đến Kinh tế Kế họach Tập quyền
và những bế tắc trong việc giải quyết vấn đề then chốt là đói nghèo

1. Tiền đề CÔNG HỮU 

Thực ra phải nói Đảng Hữu mới đúng bởi vì Đảng nắm trọn quyền quyết định trên tài sản Quốc gia. Đảng Cộng sản phủ nhận Tư hữu và chủ trương Công hữu. Khi chưa nắm được trọn vẹn quyền hành, họ vu khống đủ điều dù tàn nhẫn nhất để gây hận thù giữa giới lao động và giới hữu sản để đấu tranh giai cấp mà mục đích chính yếu ở giai đọan này là chiếm quyền. Họ chưa nói vội việc vô sản hóa, sợ làm thất vọng một số lao công.

 Khi giới lao động đã giúp họ nắm trọn quyền rồi, thì họ bắt đầu tiến trình truất hữu, dù bằng phương pháp đẫm máu. Của riêng trở thành của chung, của Nhân dân. Nhưng nhân dân là ai? Tôi là nhân dân, anh là nhân dân, nó là nhân dân...ai cũng là nhân dân để cuối cùng nhân dân chẳng là ai rõ rệt hết. Lúc ấy Đảng mới đứng ra tự nói, hoặc khủng bố để nhân dân buộc phải nói rằng Đảng là Đại diện nhân dân để giữ tài sản của nhân dân truất hữu được từ nhân dân.

 Có lần tôi cười nói với một ông Giám đốc Ngân hàng rằng: Cái gì cũng mang nhân dân ra để chịu đựng: Quân đội nhân dân, Tòa án nhân dân, Hội đồng nhân dân..., nhưng khi tài sản vào Công hữu thì không gọi là nhân dân nữa mà là Ngân Hàng Nhà Nước (chứ không phải là Ngân Hàng Nhân dân).

 CÔNG HỮU hay đúng hơn ĐẢNG HỮU là như vậy.

2. Quyền XỬ DỤNG Công hữu

 Trên nguyên tắc nhân dân là Chủ hữu sở của Công hữu, nhưng nhân dân không có quyền xử dụng Công hữu bởi vì nhân dân là mọi người mà nếu mọi người cùng xử dụng thì là lọan. Vì vậy chỉ có Đảng, đại diện nhân dân, được tòan quyền xử dụng mà thôi. Nhân dân có tiếng mà không có miếng. Một người mang tiếng là Chủ hữu sở mà lại không có quyền xử dụng vật sở hữu của mình, thì việc sở hữu trở thành vô nghĩa. Cá nhân, thành phần của nhân dân, mang tiếng là chủ hữu sở của Công hữu, nhưng không có quyền tự do xử dụng Công hữu.

3. Kinh tế KẾ HỌACH TẬP QUYỀN sản xuất

 Tất cả mọi phương tiện làm ăn là Công hữu. Nhân dân, hay cá nhân không có quyền xử dụng công hữu, nên không thể nào có Kế họach làm ăn tư nhân.Vì chỉ có Đảng có quyền xử dụng Công hữu, tất cả những phương tiện sản xuất, nên Kế họach làm ăn chỉ có đảng bầy đặt ra. Đó là ý nghĩa của nền Kinh tế Kế họach. Kinh tế này Tập trung bởi vì chỉ có Đảng được xử dụng những phương tiện sản xuất. Như vậy, nền Kinh tế Kế họach Tập trung là Hệ luận hữu lý của chủ trương Công hữu, cái Tiền đề. Nhân dân chủ hữu sở phải tuân lệnh làm theo Kế họach Nhà Nước. Không cá nhân nào có thể có sáng kiến khác làm ăn bởi vì nếu có sáng kiến đi nữa, thì cá nhân ấy cũng không có phương tiện thực hiện. Họ không có quyền tự do xử dụng phương tiện sản xuất. Những Kế họach Tập quyền này không cho phép tự do sáng kiến cá nhân trong nền Kinh tế Cộng sản.

4. Kinh tế HỌACH ĐỊNH BAO CẤP tiêu thụ

 Tại điểm này, Đảng mới tuyên truyền ý nghĩa xã hội. Cá nhân lao động theo khả năng. Ai mạnh khỏe thì vác đá nặng thay cho người yếu. Ai có tài giỏi, thì làm việc thay cho kẻ ngu dốt. Thật đúng là lý tưởng xã hội, hoặc có thể nói là lý tưởng nên Thánh của nhân dân. Nhưng khi tiêu thụ những kết quả sản xuất, thì phải theo nhu cầu cá nhân do Nhà Nước xét định và cung cấp. Nhân dân chỉ nhận được những phần tiêu thụ hầu như đồng đều theo kế họach của Nhà Nước. Việc họach định tiêu thụ này nhằm tránh người này xài sang hơn người kia, tránh việc cá nhân tiết kiệm để tạo tư hữu và dành phần thặng dư vào Công hữu cho Đảng xử dụng.
 Nền Kinh tế Kế Họach Tập trung, Hệ luận hữu lý của Tiền đề Công hữu, đã mang lại những thất bại mà chúng tôi đã nhiều lần gọi là Định mệnh nội tại của chủ trương Chính trị Cộng sản (Fatalite Politico-Economique) đã giải thể những chế độ ở Liên Xô và Đông Aâu. Những thất bại của nền Kinh tế Kế họach Tập quyền này gồm những điểm sau đây:

-> Cái thất bại thứ nhất là ở chính chủ trương Công hữu. Yù thức tư hữu là tự nhiên ở mỗi sinh vật. Tư hữu là bản năng bảo vệ sinh tồn. Con Sóc cũng biết kiếm những hạt tích trữ giấu kín dành dụm cho Mùa Đông. Mỗi người phải tích trữ những phương tiện sống riêng tư, thủ thân. Cái quân bình, hay hòa bình giữa những cá nhân là ở chỗ không xâm phạm tư hữu chính đáng của người khác bởi vì chính mình không muốn người khác xâm phạm đến tư hữu của mình.

-> Cái thất bại thứ hai là người dân ý thức được rằng Đảng Cộng sản đã đánh đĩ hai tiếng nhân dân để nắm chủ quyền xử dụng Công hữu. Nhân dân chỉ là bình phong xảo quyệt để Nhóm Đảng Cộng sản tước đọat sở hữu và nắm trọn quyền định đọat cuộc sống của từng cá nhân, thành phần của hai tiếng nhân dân bù nhìn, rỗng tuếch.

-> Cái thất bại thứ ba của nền Kinh tế Kế họach Tập quyền là giết chết những sáng kiến sinh động cá nhân tự do. Dù cho cá nhân tự do sáng kiến đi nữa, nhưng không được xử dụng những phương tiện thực hiện sáng kiến, thì sáng kiến cũng chẳng mang lại hiệu quả bởi vì có thực hiện được đâu mà có hiệu quả. Trong một Công ty cũng vậy, nhất là những Công ty thuộc ngành nghiệp cao cấp kỹ thuật, tổ chức tập quyền là bóp chết sáng kiến và trách nhiệm cá nhân, và do đó hiệu năng thấp mà phí tổn tăng.

-> Cái thất bại thứ tư là nền Kinh tế Họach định bao cấp giết chết động lực khuyến khích lao động. Người khỏe vác dùm đá nặng cho người yếu, đó là lời khuyên xã hội quá lý tưởng. Nhưng nếu người khác cứ gỉa vờ yếu để đùn việc nặng cho người khác, thì đó là nguồn làm cho những người khỏe trở thành ù lì ra. Cái chế tài cũng như cái khuyến khích lao động nằm ở sự được hưởng những kết quả của lao động. Người làm việc cả ngày theo khả năng mà chỉ được hưởng theo nhu cầu đồng đều như một đảng viên phất phơ chỉ tay một ngón, thì người đó cũng chán nản hết muốn cố gắng làm việc. Xin chú thích là chỉ tay năm ngón còn lịch sự, nhưng chỉ tay một ngón là ra lệnh độc đóan.

-> Cái thất bại thứ năm của nền Kinh tế Kế họach Tập trung dựa trên Công hữu là việc biển thủ và lãng phí Công hữu. Cha chung không ai khóc. Đó là thái độ lãng phí tự nhiên của những kẻ không có quyền. Nhưng về những người có quyền hành nằm trong tay, đồng thời có quyền xử dụng Công hữu và quyền định đọat Kế họach, thì việc cướp của Công làm của riêng là điều hiển nhiên.

-> Cái thất bại thứ sáu là Đảng Cộng sản đã độc đóan lấy tòan diện năng lực Quốc gia để phục vụ chủ trương chính trị bang nhóm của họ. Chúng tôi đã nhiều lần phân biệt rằng Dân tộc Việt Nam như nước dòng sông chảy triền miên bất tận, trong khi ấy những khuynh hướng chính trị chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước sống, khi nhô lên, khi thấp xuống hoặc biến hẳn. Bang nhóm chính trị Cộng sản đã ép buộc dòng nước sông phải phục vụ cho làn sóng lăn tăn. Đó là chủ trương độc đóan, muốn những làn sóng khác biến đi, đó là nguồn gây chia rẽ Dân tộc. Chủ trương độc đóan ấy không thể tồn tại vì nó đi ngược với sự tự nhiên.

 Cái kết quả của nền Kinh tế Kế họach Tập quyền, với những thất bại chính yếu vừa kể trên đây, tất nhiên đưa đến thối lui Kinh tế, làm cho Dân chúng đói nghèo mà Đảng Cộng sản bất lực không giải quyết được nếu vẫn khư khư giữ lấy chủ trương chính trị và kinh tế như vậy. Cô gái vị thành niên từ Bến Tre lên Sài gòn bán thân kiếm sống, những cô gái quê Hà Đông về Hà Nội ngêu ngao Karaôkê là hậu quả tất nhiên của nền Kinh tế Kế họach Tập trung mà Đảng Cộng sản Việt-Nam cố thủ  áp đặt lên đầu Dân tộc mà họ gọi là nhân dân.
 
Từ Tiền đề TƯ HỮU đến Kinh tế Tự do Thị trường
và những  giải quyết cho vấn đề then chốt là đói nghèo

 Chúng tôi lấy lại những điểm đã được trình bầy tuần tự trong phần Kinh tế Kế hoạch Tập trung để quý Vị tiện bề so sánh hai nền Kinh tế.

1. Tiền đề TƯ HỮU

 Tư hữu là bản năng tư nhiên của những sinh vật kiếm sống và bảo tồn sự sống của mình từ khi sinh ra cho đến khi chết. Con Sóc biết kiếm hột dấu kỹ cho mình phòng Mùa Đông lạnh. Xem những phim về súc vật, chúng ta thấy những con vật đã đi tiểu tiện vòng vòng ở một khu đất để cho đồng loại khi ngửi mùi nước tiểu ấy thì biết rằng đây là vùng đất đã bị chiếm hữu. Loài vật từ bản năng biết chia ranh giới khu vực tư hữu.

 Cộng sản chủ trương Công hữu, nhưng không thể đi đến chỗ khẳng định dứt khoát rằng thân xác của mỗi người là công hữu. Tôi muốn bắt đầu quyền tư hữu bằng tư hữu chính thân xác của tôi. Cộng sản chưa dám nói rằng thân xác của một nữ cán bộ của Đảng là công hữu, bởi vì nếu thân xác của nữ cán bộ này là công hữu, thì Đảng có quyền quyết định xử dụng thân xác của cô, quyết định dùng thân xác của cô  làm hộ lý tùy theo Kế hoạch của Đảng.

 Khi thân xác của tôi thuộc về tôi, thì tôi phải lo lắng tìm phương tiện bảo tồn nó. Tôi phải có quyền tư hữu tối thiểu một số phương tiện giúp tôi kiếm sống.

 Về phương diện này, một trong những Thông điệp quan trọng của Tòa Thánh Vatican về Học thuyết Xã hội đã lấy tên là Tư hữu, trong đó quyền tư hữu không phải là điều chủ trương mà là quyền tự nhiên.

2. Quyền XỬ DỤNG Tư hữu

 Khi chấp nhận quyền Tư hữu, thì hệ luận trực tiếp là Chủ hữu sở phải có quyền xử dụng tư hữu ấy. Nói cho tư hữu mà không cho quyền xử dụng, thì đó là nghịch lý, không phải là quyền tư hữu nữa. Trong sự tôn trọng tư hữu của người khác, Chủ hữu sở phải có quyền tự do xử dụng những phương tiện tư hữu của mình để làm ăn kiếm sống, bảo tồn thân xác của mình. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, đây là cái quyền tự do kinh doanh (Libre entreprise).

3. Kinh tế TỰ DO KINH DOANH sản xuất

 Như trên vừa nói, nền Kinh tế Tự do kinh doanh chỉ là cái hệ luận tiếp theo của sự chấp nhận quyền Xử dụng Tư hữu gắn liền với bản năng tư hữu tự nhiên. Mỗi cá nhân có quyền xử dụng những phương tiện sản xuất tư hữu của mình đề lo kiếm sống. Nhà Nước không được can thiệp vào công việc mưu sống này của tư nhân bởi vì sự mất còn của kinh doanh là sự mất còn của tư hữu, chứ không phải là công hữu. Những luật lệ của Nhà Nước phải hướng về phía tích cực là tạo những điều kiện cho sự phát triển tự do kinh doanh. Nhà Nước đứng quan sát sự phát triển tự do kinh doanh và là trọng tài để giữ quân bình giữa những đơn vị tư doanh. Quan niệm về vị trí của Nhà Nước như vậy đã được khai triển bởi những Nhà Kinh tế cổ điển Anh (les Classiques Anglais) như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Sau đó dưới sự thúc đẩy của khuynh hướng Xã hội, Nhà Nước được tăng một chút quyền, nhưng chỉ ở phạm vi cho ra những Chỉ đạo chung (Directives générales), chứ không có quyền can thiệp (Intervention) vào nội bộ Kinh tế tư doanh. Nói một cách nôm na rằng tiền vốn là của người ta, để cho người ta làm ăn. Nếu Nhà Nước can thiệp vào để bó buộc cách thế làm ăn, người ta bị thua lỗ, mất vốn, Nhà Nước có thường tiền cho người ta hay không ?

4. Kinh tế TỰ DO tiêu thụ cá nhân

 Việc tự do tiêu thụ cũng đến từ cái quyền tư hữu những sản phẩm. Khi cá nhân xử dụng vốn tư để làm ăn sinh lời, thì tư nhân có quyền thụ hưởng cái kết quả do mình làm ra. Cái quyền được tự do chiếm hữu những kết quả làm ăn là động lực căn bản của nền kinh tế tự do sản xuất. Không có cái quyền tư hữu những kết quả sản xuất này, nền kinh tế sẽ bị tê liệt. Nếu những kết quả của những cố gắng sản xuất lại bị bó buộc nhường cho người khác, thì chẳng ai muốn cố gắng làm việc nữa. Nếu chịu khó dùng vốn tư của mình để làm ăn, thua lỗ thì tư nhân ráng chịu, còn nếu khi được lời thì lại phải bó buộc nộp cho Nhà Nước tiêu xài, thì chẳng ai muốn làm việc nữa. Việc san sẻ những lợi tức mà cá nhân kiếm được chỉ là những lời khuyên, cổ võ, chứ không phải là việc bó buộc, chế tài.

5. Kinh tế THỊ TRƯỜNG

 Thị trường chỉ là hậu quả của cá nhân tự do kinh danh sản xuất và cá nhân tự do tiêu thụ. Người ta gọi đó là CHỢ (Economie de Marché). Thay vì lấy uy quyền và Kế hoạch của Nhà Nước để điều hợp Kinh tế, thì cái CHỢ làm công việc điều hợp này giữa CUNG từ sản xuất và CẦU từ tiêu thụ. Với bảo đảm của  một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Assurance de l’Environneme Politico-Juridique adéquat) Cái CHỢ là nơi thể hiện thực sự quyền TỰ DO và quyền DÂN CHỦ cụ thể nhất. Nhà Nước chỉ đứng ở thế làm trọng tài nếu có những vi phạm luật chợ giữa những cá nhân, nhưng chính những cá nhân tự do cung, tự do cầu mới là những chủ lực giữ sự quân bình của nền Kinh tế tôn trọng Thị trường. Cái CHỢ thay thế cho Kế hoạch của Nhà Nước trong nền Kinh tế Thị trường. Còn đối với nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Nhà Nước ngồi chình ình ra ở Chợ, bó buộc những cá nhân sản xuất, những cá nhân tiêu thụ mang hàng quà đến để Nhà Nước quyết định chia cho chút ít hay là chiếm trọn gói cho Nhà Nước. Một nền Kinh tế như vậy, thì không ma dại nào làm hùng hục để mang kết quả đến cho Nhà Nước hưởng.

 Nhìn vào hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như vừa trình bầy ở trên, chúng ta nhận thấy những điểm sau đây:

-> Lợi điểm thứ nhất của nền Kinh tế này là một sự khuyến khích cố gắng làm việc bởi vì cá nhân có quyền tư hữu những kết quả của công việc làm của mình. Thực vậy, làm việc mà bỏ chung vào để người khác cùng hưởng, thì đó là sự khuyến khích lười biếng. Nhưng nếu những kết quả làm việc thuộc về mình, thì mình cố gắng làm việc đêm ngày. Anh SAMPRAS chơi Tennis, nếu những giải phải bỏ chung vào để Nhà Nước tùy nghi phân phối cho người khác, thì có lẽ anh hết cố gắng tập luyện đêm ngày nữa. Các cô bán hàng người Nga trong chế độ Liên xô, rất đẹp, trường túc, nhưng rất tiếc là thiếu nụ cười, bởi vì có cố gắng cười với khách hàng thì Nhà Nước cũng chẳng thêm cho đồng lương. Kinh tế Tự do Thị trường tạo điều kiện tự nhiên tăng năng suất rất cao.

-> Lợi điểm thứ hai là việc cổ võ Tiết kiệm. Tiết kiệm là tiến trình đi đến độc lập của một nền Kinh tế và cũng cho một Quốc gia nữa. Điều kiện của Tiết kiệm là phải tôn trọng Tư hữu, hay nói cách khác quyền Tư hữu khuyến khích Tiết kiệm. Thực vậy không ai dành dụm để dâng tiền cho Nhà Nước (Công hữu) xài. Tất cả các nước Xã hội Chủ nghĩa  không những thiếu vốn mà còn thiếu nợ, bởi vì không ai tiết kiệm cả. Họ nói là có độc lập, nhưng tôi không tin bởi vì nghèo quá phải đi ăn mày, người giầu sẽ đặt điều kiện cho lời tuyên bố độc lập của họ. Nền kinh tế tôn trọng Tư hữu cổ võ tiết kiệm. 

-> Lợi điểm thứ ba là giảm thiểu Lãng phí. Thực vậy, Lãng phí là tình trạng’’Cha chung không ai khóc’’, ’’Tiêu xài tiền Chùa’’,’’Xài tiền người khác chứ không phải của mình’’. Xin nhớ rằng Đồng tiền liền với khúc ruột. Khi đồng tiền là tư hữu, thì Chủ hữu sở biết căn cơ, không lãng phí. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, người ta còn khuyến khích cho những tư nhân tiêu xài lãng phí để tăng tiêu thụ, kích thích sản xuất. Chỉ có trong nền Kinh tế với Công hữu mới có hiện tượng kêu gọi chống lãng phí.

-> Lợi điểm thứ tư là có sự kiểm soát phanh phui Tham nhũng. Thực vậy, Tham nhũng có cả ở trong hai nền Kinh tế. Tham nhũng ở đâu cũng giống nhau, nhưng cái khác nhau là trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường, người ăn tham nhũng dễ bị phanh phui lật tẩy bởi vì có tự do báo chí, có sự đối lập về quyền hành, có sự trừng phạt của Luật pháp đồng đều, có sự phản kháng của chính cá nhân cho tham nhũng; trong khi ấy ở nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, việc tham nhũng có quyền hành bao che và dễ trở thành định chế, không có đối lực phanh phui. 

-> Lợi điểm thứ năm và rất quan trọng là trong hệ thống Tổ chức của nền Kinh tế Tự do Thị trường, chất xám của Nhân lực được nâng đỡ phát triển. Thực vậy, hệ thống tổ chức quyền hành theo kiểu Cấp bậc tập trung Kim tự tháp (Organisation hierarchique pyramidale) chỉ áp dụng cho sản xuất những sản phẩm thô sơ với nhân công rẻ và ở trình độ kiến thức thấp. Chúng ta ở vào thời đại mà những phương tiện truyền thông, giáo dục, thông tin được chuyển đi với tốc độ siêu thanh. Kỹ thuật tiến triển theo cấp số nhân. Kiến thức, chất xám được thu thập mau lẹ. Những sản phẩm trở thành tinh vi và phúc tạp. Trong một khung cảnh tiến hóa của thời đại như vậy, tổ chức Trung ương Tập quyền theo kiểu Tổ chức Cấp bậc Kim tự tháp cho Nhân lực đầy chất xám và cho sản phẩm tinh vi là một việc làm phản tiến bộ. Nhất là thêm vào đấy, tính cách độc quyền, sự áp đặt của Kế hoạch được trợ lực bởi Công an khủng bố là việc làm tiêu diệt kiến thức và những sinh động sáng tạo của nó. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng sự tiến bộ này của chất xám cá nhân. Những khuôn mẫu Tổ chức phân quyền hoặc theo Nhóm trách nhiệm (Organisation décentralisée modulaire/ Organisation par Groupes Responsables) được áp dụng để nâng đỡ tối đa sự tiến bộ của chất xám.


KẾT LUẬN:
KINH TẾ TỰ DO THỊ TRƯỜNG LÀ CON DƯỜNG GIẢI THỂ CỘNG SẢN

 Trình bầy hai nền Kinh tế như trên, chúng tôi muốn nói rằng cuộc đấu tranh ngày hôm nay, không phải là việc xung động tình cảm nhất thời, mà là một sự cố gắng tìm kiếm một con đường, trong sự phân tích bình thản của lý trí, nhằm tôn trọng những quyền căn bản làm người của Dân Việt và nhằm sự phát triển nền Kinh tế đất nước. Việc phát triển Kinh tế này cốt ý giải quyết cấp bách tình trạng đói nghèo hiện nay, đồng thời nhắm sự phát triển tương lai cho Nước Việt sánh kịp với những nước khác trong vùng.

 Bộ Chính trị Đảng, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải và Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng loạt khẳng định sự chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Dân Việt ghi nhận lời khẳng định này. Chúng tôi cùng Dân đấu tranh để Đảng và Nhà Nước phải tôn trọng lời khẳng định. Việc đấu tranh của chúng ta là nhất thiết đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải thi hành đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự.

 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Dân Việt, trong cũng như ngoài nước đấu tranh đòi hỏi những điều trên đây là việc làm giúp đỡ Đảng và Nhà Nước có can đảm thực hiện điều mong ước của chính Đảng và Nhà Nước. Cộng sản và những người bồi Cộng không có quyền nói rằng cuộc đấu tranh hôm nay là chống lại Nhà Nước hiện hành. Đảng và Nhà Nước đã công khai chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường, thì Dân yêu cầu  Đảng và Nhà Nước thực hiện cho đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Dân xin nhắc cho Đảng và Nhà Nước biết rằng mỗi một nền Kinh tế có một Môi trường Chính tri—Pháp lý phù hợp riêng. Không thể làm tréo cẳng ngỗng, không thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia.

 Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà Đảng và Nhà Nước đã long trọng chấp nhận chỉ có thể có khi mà Đảng và Nhà Nước thực hiện 5 điểm vừa liệt kê trên đây.  

 Làm theo yêu cầu chính đáng của Dân trong việc thực hiện đúng đắn một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp với nền Kinh tế Tự do và Thị trường , tức là Đảng Cộng sản  tự làm công việc giải thể chế độ hiện hành của mình trong êm dịu. 
 Dân cũng yêu cầu Quốc hội giúp đỡ Đảng để làm công việc giải thể chế độ này trong êm dịu.
                                                                                                                                 Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



 
       XIN DOC THEM CHUONG LUU TRU: http://www.viettudan.net/25492.html


                                  xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx

                          Chu Nhiem/ Editor in Chief/ Redacteur en Chef:

                              Prof.Dr.NGUYEN PHUC LIEN, Economist

                                                    Weekdays:
                        22, Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland
        Tel.:0041 22 731 82 66. Fax:0041 22 738 28 08. Mobile:0041 79 766 65 83
                                E-Mail: wim-impact.drlien@bluewin.ch

                                                    Weekends:
                        43, Heideweg, CH-2503 BIEL/BIENNE, Switzerland
        Tel.:0041 32 365 24 49. Fax:0041 32 365 24 49. Mobile:0041 79 766 65 72
                                E-Mail: drlien.wim-impact@bluewin.ch

                                                      Website:
                                       
http://www.VietTUDAN.net

                                xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx

 
Top