*VietTUDAN == FINinfo @
*VTD--TUAN BAO/ Weekly
LAP TRUONG VietTUDAN
LOAT BAI QUAN DIEM
LOAT BAI CHU DE
HOANG SA/TRUONG SA
=>So/No.438/11.03.10
=>So/No.437/04.03.10
=>So/No.436/25.02.10
=>So/No.435/18.02.10
=>So DAC BIET:APEC&WTO
*VTD--TON GIAO/ Religion
*VTD--KINH TE/ Economy
*VTD--CHINH TRI/ Politics
*VTD--LUU TRU/ Archives
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN--Noi Ket/ Links
FIN&VTD--Varieties/LinhTinh
DOC GIA/ READERS
HOW FOR MEETING ?
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
                                                LOAT BAI CHU DE
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx


--------------------------------------------------------------------------------------
VAO WTO/OMC VA NHUNG VAN DE LIEN HE
--------------------------------------------------------------------------------------



                                          ĐẤU TRANH ĐỂ VIỆC VÀO
                            TỔ CHỨC MẬU DỊCH QUỐC TẾ (WTO/OMC)
                                          PHỤC VỤ DÂN CHÚNG VÀ
                         PHÁT TRIỂN KINH TẾ CHUNG CỦA ĐẤT NƯỚC

Luôn luôn với thái độ tích cực, chúng tôi chủ trương việc vào TỔ CHỨC MẬU DỊCH QUỐC TẾ (WTO/OMC). Nền Kinh tế Tự do và Thị trường phát xuất tự nhiên từ việc cá nhân kiếm sống, và do đó Nhân Phẩm cá nhân phải được tôn trọng cũng như Nhân quyền phải được bảo đảm trong ngành nghiệp kiếm sống của mỗi cá nhân. Nguyên tắc Dân chủ phải có thực sự để giải quyết những vấn đề sống chung của những cá nhân thành phần của Cộng đồng. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đòi buộc phải có một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat). Không có một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp, nhất nữa lại với quyền lực Chính trị độc đảng độc tài, thì nền Kinh tế ấy trở thành Kinh tế mafia gia đình và mafia đảng.
Cũng vậy, việc vào Tổ chức Mậu dịch Quốc tế là chấp nhận một nền Thương mại CẠNH TRANH: (i) Cạnh tranh giữa các Quốc gia thành viên và (ii) Cạnh tranh giữa những cá nhân làm Kinh tế kiếm sống trong nội bộ Quốc gia. Việc vào Tổ chức Mậu dịch Quốc tế (WTO/OMC) như vậy đòi buộc một thể chế Chính trị—Pháp lý tôn trọng triệt để Nguyên tắc Dân chủ trong cạnh tranh.
Chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường và quyết địnbh vào Tổ chức Mậu dịch Quốc tế (WTO/OMC), cả hai đều đòi hỏi phải phế bỏ thể chế Chính trị—Pháp lý độc đảng độc tài. Nếu không, cả hai đều nhằm phục vụ cho quyền lực độc tài độc đảng mà thôi, chứ Dân chúng không được hưởng những thành quả của hai việc này.
Chúng ta đấu tranh để đòi quyền lợi chính đáng Kinh tế cho Dân chúng vậy

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC
Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC, CHƯA MỪNG VỘI
Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
Bài 04/21.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM
Bài 05/23.05.06: VÀO WTO/OMC, CẠNH TRANH BẰNG BÓC LỘT
Bài 06/31.05.06:VÀO WTO/OMC, TRUNG CỘNG DIỆT CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Những Bài sẽ được tiếp tục viết như sau:
- Vào WTO/OMC, độc đảng độc quyền lũng đoạn ngoại thương
- Vào WTO/OMC, vì quyền lợi của dân, của đảng hay của tài phiệt ngoại lai ?
- Vào WTO/OMC, hoàn cảnh thuận tiện đấu tranh cho Tự do, Dân chủ
- Vào WTO/OMC, tóm tắt và kết luận về cái hại, cái lợi

Tôi có ý định viết một loạt bài về VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC.  Ý tưởng tổn quát để lần lượt khai triển như sau: chưa nên mừng vội vì mậu dịch quốc tế có nhiều những phức tạp mà Hợp Đồng Thương Mại chỉ là hình thức dễ bị để ra một bên; vào WTO/OMC với tự do mậu dịch, Việt Nam có thể là nạn nhân của những nước chung quanh cạnh tranh; khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn yếu kém, lại thêm độc đảng tham nhũng khiến khả năng ấy dễ đi vào bệnh hoạn; trong tình trạng như vậy, Trung Cộng sẽ là nước diệt công nghệ Việt Nam với tự do mậu dịch WTO/OMC; việc vào WTO/OMC có lợi cho Phong trào Dân chúng đấu tranh cho Dân chủ bởi vì không có điều kiện này, Kinh tế Việt Nam khó lòng ngóc đầu dậy để có khả năng cạnh tranh.

VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ? 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Đối với Thương mại Quốc tế, có ba Chủ trương: (i) Chế độ Bế quan tỏa cảng tự túc (Autarcie); (ii) Chế độ Che chở mậu dịch (Protectionnisme) và (iii) Chế độ Tự do mậu dịch quốc tế (Libre échange international). Mỗi chế độ có một hệ thống giá cả quan thuế khác nhau.
 
Chế độ Bế quan tỏa cảng tự túc hầu hết là được quyết định vì lý do Chính trị nội bộ. Tỉ dụ những nước Cộng sản thời trước đây. Thâm chí, bế quan tỏa cảng chưa đủ, mà Chính trị nội bộ còn đòi xây những bức màn tre, màn sắt, tường xi-măng dọc biên giới.
 
Hai chế độ mậu dịch sau là tuỳ theo tình trạng Kinh tế của một nước mà quyết định.
 
Tiền thân của OMC/WTO là GATT. Tổ chức Mậu Dịch Quốc tế cổ võ việc giảm thiểu giá cả quan thuế hoặc xóa bỏ biên giới thương mại. Việc cổ võ này là nhằm tình trạng lý tưởng của mọi Quốc gia.
 
Việt Nam tỏ ra vui mừng về việc thảo luận tay đôi giữa Hoa kỳ và mình trong khuôn khổ WTO/OMC, nghĩa là trong khuôn khổ lý tưởng của Tự do Mâu dịch Quốc tế.
 
Việc vào lý tưởng WTO/OMC có điều gì đáng MỪNG hay gặp phải những điều đáng TIẾC ?
 
Muốn nhìn điều đáng MỪNG hay đáng TIẾC, thì phải nhìn khả năng CẠNH TRANH của mỗi quốc gia thành viên. Việc cạnh tranh thương mại rất gay gắt và có thể đưa đến giết nhau để mình giữ phần thắng mà không thương tiếc người bị giết.
MỘT TỈ DỤ ĐẤU VÕ

Tôi thường dùng tỉ dụ này để cắt nghĩa cụ thể về việc lựa chọn chết độ Tự do Mậu dịch (Libre Echange) và chế độ Che chở mậu dịch (Protectionnisme)

Oâng Nông Đức Mạnh có một cô con gái mới lên 10 tuổi. Người mảnh khảnh vì phải ăn bữa ngô, bữa khoai, bữa bo bo. Con gái của Oâng có đi học võ, nhưng mới chỉ được bài học xuống tấn mà vẫn chưa vững vì thiếu ăn, thiếu nội lực.

Oâng Bush có cô con gái đã 21 tuổi. Người mập mạp khỏe mạnh vì mỗi ngày ăn bíp tếc thịt ngựa Texas. Cô còn đi Nhật học Judo tới đai Đen, đồng thời sang Tầu học Confu theo các chiêu Đả cẩu bổng truyền từ đời Hồng Thất Công.

Hai cô quyết định đấu võ với nhau. Oâng Bush thì đòi phải để hai cô đấu tự do (Libre Combat). Theo Oâng, Bà Việt Nam nói thì bài học đầu tiên của võ nghệ là: “Tẩu vi thượng sách“,“...Trồng tre uốn gậy, có ngày gặp nhau !“. Nhưng Oâng Mạnh vì gồng mình và muốn đánh lừa Oâng Bush, nên tuyên bố chấp nhận cho con mình đấu tay đôi và tự do (Libre combat bilatéral). Oâng Bush cũng không vừa vì biết mưu ngầm của Oâng Mạnh là Oâng Mạnh sẽ kiếm một võ sĩ đứng đàng sau con để truyền nội lực và tiếp chiêu cho con mình. Oâng Bush nói trước rằng không ai được tiếp sức cho mỗi phía (Công ty May Dệt quốc doanh được bao cấp).

Có người hiểu ý Oâng Bush nên khuyên Oâng Mạnh rằng thôi đừng cho đấu tự do tay đôi như vậy (Libre combat bilatéral), hãy đợi nuôi con cho béo mập, luyện võ Hỏa công Mao Xếng Xáng và thêm võ bí truyền Xịt tà lìn cho con mình đã trước khi đấu vào dịp khác.

Nhưng Oâng Mạnh vì gồng mình và khoe khoang bè đảng của mình làm được mọi việc đội đá vá trời, điếc không sợ súng , nên để cho con đấu võ lúc này. Kết quả ra sao ?


TỈ DỤ LỊCH SỬ VỀ CHE CHỞ MẬU DỊCH

Vào hậu bán thế kỷ XIX, Anh quốc đã áp dụng chỉnh tề Máy Hơi Nước vào Kỹ nghệ. Cuộc Cách Mạng Kỹ nghệ Anh đã đưa Anh lên hàng đầu sản xuất những hàng hóa chế biến kỹ nghệ. Theo truyền thống chủ trương của Adam Smith, David Ricardo, Stuart Mill, nước Anh yêu cầu áp dụng nguyên tắc Kinh tế Tự do Mậu dịch (Libre Echange International). Những Kinh tế gia cổ điển này đã hết lòng biện minh rằng việc Tự do Mậu dịch Quốc tế mang lợi đến cho mọi phía (Gains pour tout le monde par le Libre Echange International).

Nhưng chủ trương này đã không được chấp nhận bởi Hoa kỳ và Đức. Frederic List chủ trương chế độ che chở mậu dịch (Protectionnisme), nhất là che chở những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Hoa kỳ và Đức biện luận rằng chúng tôi che chở những Kỹ nghệ mới sinh này của chúng tôi cho đến khi chúng trưởng thành ngang sức với Kỹ nghệ Anh quốc, thì lúc ấy chúng tôi mới chấp nhận Tự do Mậu dịch Quốc tế (Libre Echange International).

Như vậy, Hoa kỳ và Đức thời ấy biết nhịn nhục, không gồng mình như Oâng Nông Đức Mạnh. Họ biết nhịn nhục nuôi con họ lớn, với võ nghệ tương đương, thì mới cho đấu võ tự do (Libre combat).

Bài học trên cho thấy rằng Tự do Mậu dịch Quốc tế là một lý tưởng, những nước tham dự phải có trình độ sức mạnh ngang cơ nào đó, thì mới CẠNH TRANH nổi.


TẠI SAO G8/WTO/OMC BỊ BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI

Khi GATT đổi tên là WTO/OMC, thì cũng là lúc Oâng CLINTON hết lòng hô hào TOÀN CẦU HÓA (Globalisation). Toàn cầu hóa được G8 hoàn toàn ủng hộ và tất nhiên nằm trong chủ trương cố hữu của GATT, rồi WTO/OMC.

Biện minh cho việc Toàn cầu hóa này là việc đem lợi nhuận đến cho mọi người. Đó cũng giống như việc biện minh cho Tự do Mậu địch Quốc tế (Libre Echange International) mà nước Anh chủ trương vào hậu bán thế kỷ XIX và đã bị Hoa kỳ và Đức từ chối.

Một số người nhắc đến Toàn cầu hóa như một chủ trương thần thánh. Nhưng tại sao mỗi lần G8 họp ở đâu, mỗi lần có gặp gỡ lớn ở WTO/OMC (Geneva) lại có những đoàn biểu tình phản đối. Phần lớn những người biểu tình đến từ những nước đang mở mang. Phải chăng họ có lý để làm như vậy giống như Hoa kỳ và Đức trước đây phản đối Anh ?

Tôi suy nghĩ về việc Toàn cầu hóa. Nếu Toàn cầu hóa về kỹ thuật truyền thông như Internet chẳng hạn, thì đây là việc có lợi cho mọi người. Nhưng đứng về phương diện lợi nhuận tiền bạc, kinh tế, thương mại, thì tôi nhận thấy như sau:

1) Những nước đã phát triển Kỹ nghệ như G8 chẳng hạn, thì hết lòng hô hào Toàn cầu hóa, kêu gọi G8 hô hào các  nước xóa bỏ biên giới thương mại. Những nước G8 đã mạnh và phát triển sản xuất hàng hóa kỹ nghệ. Xóa bỏ biên giới quan thuế để họ tự do bán hàng hóa, chiếm Thị trường. Toàn cầu hóa hàng hóa có nghĩa là bán hàng hóa của G8 hết mọi nơi:

  Toàn cầu hóa        =        Bán hàng hóa tự do khắp nơi
  Globalisation  = Libre diffusion des marchandises à tous les pays
  Globalization  = Free selling commodities in every country
 
Đó là dòng chảy hàng hóa ra từ G8 đến tận khắp nơi (Flux des marchandises de G8 au monde entier). Nhưng dòng chảy hàng hóa ra này không phải là cho không, mà là thu tiền vào.

2) Việc thu tiền vào này (Reflux financier) được dẫn về và cất kỹ trong các Ngân Hàng lớn của G8. Về tài chánh, G8/WTO/OMC không chủ trường Toàn cầu hóa nữa, mà là thu gọn về những Ngân Hàng lớn của G8, nghĩa là người ta thấy rõ rệt Centralisation Financìere đến từ Globalisation des marchandises. Tài chánh là huyết mạch của hoạt động kinh tế. Khi G8 hô hào Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa và nếu đồng thời họ chủ trương Toàn cầu hóa Tài chánh, thì các nước đang mở mang mừng lắm. Nhưng ngược lại, họ lại thâu hồi tài chánh (Centralisation financìere), nghĩa là rút huyết mạch kinh tế từ những nững nước đang mở mang đem về cất giữ ở G8 để họ đầu tư thêm vào sản xuất hàng hóa cho nước họ.
 
  Thu hồi tài chánh  =  Từ toàn cầu hóa hàng bán ra
  Centralisation financìere = Par Globasiation Marchandises
  Financial Centralization = From Globalization Commodities


VÀO WTO/OMC MỪNG HAY KHÔNG ?

Chúng tôi chưa dám nói ngay được như đinh đóng cột. Nhưng hãy suy nghĩ về tỉ dụ con gái của Oâng Đức Mạnh, hãy nhìn việc Hoa kỳ và Đức phản đối đề nghị của Anh trước đây, và hãy suy nghĩ về cái gì ẩn đàng sau hiện tượng Toàn cầu hóa bán hàng hóa.

Một điều chắc chắn là muốn CẠNH TRANH trên thương mại Quốc tế, thì Việt Nam phải lo liệu nội bộ để có sức mạnh đấu võ gần ngang hàng. Cái chế độ độc tài này đang làm Kinh tế VN tụt hậu và èo ọt. Nếu quá gồng mình khoa chân múa tay lấy tiếng, ý tứ mà chết non vậy.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC
Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC, CHƯA MỪNG VỘI
Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
Bài 04/21.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM
Bài 05/23.05.06: VÀO WTO/OMC, CẠNH TRANH BẰNG BÓC LỘT
Bài 06/31.05.06:VÀO WTO/OMC, TRUNG CỘNG DIỆT CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Những Bài sẽ được tiếp tục viết như sau:
- Vào WTO/OMC, độc đảng độc quyền lũng đoạn ngoại thương
- Vào WTO/OMC, vì quyền lợi của dân, của đảng hay của tài phiệt ngoại lai ?
- Vào WTO/OMC, hoàn cảnh thuận tiện đấu tranh cho Tự do, Dân chủ
- Vào WTO/OMC, tóm tắt và kết luận về cái hại, cái lợi

Tôi có ý định viết một loạt bài về VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC.  Ý tưởng tổn quát để lần lượt khai triển như sau: chưa nên mừng vội vì mậu dịch quốc tế có nhiều những phức tạp mà Hợp Đồng Thương Mại chỉ là hình thức dễ bị để ra một bên; vào WTO/OMC với tự do mậu dịch, Việt Nam có thể là nạn nhân của những nước chung quanh cạnh tranh; khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn yếu kém, lại thêm độc đảng tham nhũng khiến khả năng ấy dễ đi vào bệnh hoạn; trong tình trạng như vậy, Trung Cộng sẽ là nước diệt công nghệ Việt Nam với tự do mậu dịch WTO/OMC; việc vào WTO/OMC có lợi cho Phong trào Dân chúng đấu tranh cho Dân chủ bởi vì không có điều kiện này, Kinh tế Việt Nam khó lòng ngóc đầu dậy để có khả năng cạnh tranh.

VÀO WTO/OMC, CHƯA MỪNG VỘI
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
TÓM TẮT NHỮNG GÌ ĐÃ VIẾT TRƯỚC:
@Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Phía CSVN đã tỏ ra vui mừng về việc đàm phán với Hoa kỳ về việc vào WTO. Tôi viết bài thứ 1 này để trình bầy rằng có 3 thái độ đối với Thương Mại Quốc tế: (i) Bế quan tỏa cảng tự túc (Autarcie); (ii) Che chở thương mại (Protectionnisme); và (iii) Tự do mậu dịch (Libre Echange). Việc Tự do mậu dịch là Lý tưởng. Tuy nhiên để có thể được Lý tưởng cạnh tranh, thì chính mình phải đạt tới một Khả năng Cạnh tranh nào đó. Vì vậy tôi đặt câu hỏi: vào WTO/OMC, mừng hay không ?

Trong bài thứ hai này, dưới đầu đề Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC, CHƯA MỪNG VỘI, tôi xin đề cập những điểm sau đây:

=> Phân biệt những giá cả quan thuế (Tarifs douaniers)

=> Điều khoản được cổ võ của GATT/WTO

=> Những chính sách thương mại không giá cả (Politiques commerciales non-tarifaires)


Phân biệt những
giá cả quan thuế (Tarifs douaniers)

Những đàm phán song phương hay đa phương là về những Giá cả quan thuế (Tarifs douaniers) để hai Quốc gia hay nhiều Quốc gia ký kết với nhau về giao thương hàng hóa. Tại cửa quan, nhân viên quan thuế phải có những cuốn sách dầy cộm ghi rõ chi tiết những Giá cả chính thức về quan thuế được rút ra từ những Hợp đồng Thương mại đã ký kết song phương hay đa phương. Vào WTO/OMC là chấp nhận những Giá cả quan thuế (Tarifs douaniers) đã được các Quốc gia trong Tổ chức này cùng ký.

Về Giá cả quan thuế, người ta phân biệt những loại sau đây:

1) Những Giá cả quan thuế đặc biệt
  (Tarifs douaniers spéciaux)

Mỗi quốc gia, vì những điều kiện riêng của nước mình, có thể quyết định những giá cả quan thuế đặc biết (tarifs spéciaux) cho một số hàng hóa. Các nước khác phải tôn trọng những lý do đặc biệt này. Tỉ dụ, Thụy sĩ lấy lý do rằng họ không muốn ngành Nông nghiệp của họ khuếch trương việc trồng Đậu Xanh (Soja vert). Vì vậy,  khi nhập cảng Đậu Xanh vào Thụy sĩ, quan thuế phân biệt rõ rệt là Đậu Xanh hột hay Đậu Xanh cà. Đậu Xanh hột phải xin Giấy phép nhập cảng tại Thủ đô Berne rất khó khăn, trong khi ấy Đậu Xanh cà qua quan thuế rất dễ dàng. Họ làm khó khăn Đậu Xanh hột vì không muốn mình trồng trong Nông nghiệp của họ.

2) Những giá cả quan thuế theo hợp đồng
          (Tarifs douaniers contractuels)

Đây là những Giá cả quan thuế được rút ra từ những Hợp đồng thương mại ký kết song phương hay đa phương.

a) Những Giá cả quan thuế song phương
  (Tarifs douaniers bilatéraux)

Đó là những Giá cả quan thuế được đàm phán và ký kết song phương giữa hai Quốc gia hay hai Khối Quốc gia. Tỉ dụ song phương giữa hai Quốc gia như giữa Trung quốc và Nga. Tỉ sụ song phương giữa hai Khối quốc gia như Khối Liên Aâu và Khối ASEAN. Có những đàm phán song phương giữa một Quốc gia với một Khối Quốc gia. Nước Thụy sĩ không vào Liên Aâu, mà chỉ đàm phán những thương lượng song phương về từng vấn đề với Liên Aâu. Về những dịch vụ Ngân Hàng, Thụy sĩ đã nêu ra những lý do đặc biệt của nước mình để dành quyền quyết định những Giá cả đặc biệt (Tarifs spéciaux) như đã nói ở phần trên.

b) Những Giá cả quan thuế đa phương
 (Tarifs douaniers multinationaux)

Đa phương ở đây có nghĩa là những Hợp Đồng Thương Mại ký kết giữa nhiều nước trong một Vùng hoặc bởi những nước Hội viên trong Tổ chức Mậu Dịch Hoàn cầu (WTO: World Trade Organization/ OMC: Organisation Mondiale du Commerce). Vì vậy, trong những Giá cả quan thuế đa phương (Tarifs douaniers multinationaux), người ta phân biệt ra hai loại:

b1) Những Giá cả quan thuế của Vùng
 (Tarifs douaniers régionaux)

Đó là những Giá cả quan thuế thuộc mỗi Khối như: Liên Aâu, SEAN, Khối Nam Mỹ Châu, Khối Bắc Mỹ Châu...

b2) Những Giá cả quan thuế Quốc tế
 (Tarifs douaniers internationaux (mondiaux))

Đây là những Giá cả quan thuế được thương nghị trong những Vòng Đàm Phán (Rounds) như Kennedy Round, Tokyo Round, Uruguay Round... ở khuôn khổ GATT trước đây và lúc này là WTO/OMC, Trụ sở ở Route de Lausanne, GENEVA.


Điều khoản được cổ võ của GATT/WTO

Khi hai Quốc gia song phương ký một Hợp Đồng Thương Mại, GATT trước đây và ngày nay WTO/OMC cổ võ việc hai Quốc gia cho vào Hợp Đồng một Điều khoản gọi là “Điều khoản của một Quốc gia tối ưu đãi“ (La Clause de la Nation la plus favorisée). Tại sao GATT/WTO cổ võ việc cho Điều khoản này trong Hợp Đồng song phương ký kết giữa hai Quốc gia về thương mại ?

Đây là một Điều khoản tuyên bố tình yêu giữa hai nước. Tôi thường lấy tỉ dụ một cậu con trai và một cô gái tuyên bố lòng mình cho nhau để giải thích Điều khoản tình yêu này mà GATT/WTO cổ võ cho các Quốc gia, mặc dầu không trong khuôn khổ của WTO/OMC. Cậu Nguyễn Phùng thương cô Trần thị Phương-Anh. Khi cậu tặng cô món quà trị giá 50 Mỹ-kim, cậu còn long trọng tuyên bố rằng cô Phương-Anh là người mà cậu Phùng thương yêu nhất. Một tháng sau khi tuyên bố như vậy, cô Phương-Anh nghe biết rằng cậu Phùng vừa tặng cố Nguyễn thị Thanh-Thùy món quà trị giá 150 Mỹ-kim. Cô Phương-Anh có quyền tự động đòi cậu Phùng phải cho mình món quà tối thiểu là 150 Mỹ-kim bởi vì cậu đã tuyên bố rằng cô Phương-Anh là cô gái được cậu yêu thương nhất. Nếu cậu không tuyên bố câu này, thì cậu có toàn quyền cho bất cứ cô nào khác những món quà lớn hơn mà cô Phương-Anh không có quyền đòi hỏi.

Cũng vậy, trong Hợp Đồng Thương Mại song phương, nếu hai phía ký kết Điều khoản Quốc gia được ưu đãi nhất (La clause de la Nation la plus favorisée), thì sau đó nếu một trong hai ký kết thương mại với nước thứ ba về cùng vấn đề và cho nước này những giá cả thuận lợi hơn, thì Quốc gia đã ký Hợp Đồng Thương Mại song phương trước đây có quyền tự động áp dụng những giá cả thuận lợi mới này mà không cần phải ký thêm Hợp Đồng khác nữa.

GATT hay WTO/OMC cổ võ việc ký Điều khoản Quốc gia được ưu đãi nhất  cốt ý để các Hợp Đồng Thương Mại song phương ràng buộc các nước mỗi ngày mỗi làm giảm những Giá quan thuế đối với nhau.

Điều khoản này không dễ dàng cho nhau trong Hộp Đồng Thương Mại song phương bởi vì thủ tục để chấp nhận một Hợp Đồng có Điều Khoản này khá phức tạp đối với một Quốc gia. Tôi nghĩ rằng cuộc đàm phán thương mại song phương mới đây giữa Việt Nam và Hoa kỳ không động chạm đến Điều khoản này.


Những chính sách thương mại không giá cả
(Politiques commerciales non-tarifaires)

Những Giá cả quan thuế (Tarifs douaniers contractuels) mà chúng tôi trình bầy ở hai đoạn trên là những Giá cả công khai được ký kết trong những Hợp đồng. Nhưng khi đàm phán trước khi đi đến ký kết, thì mỗi bên đều tính toán để chiếm phần lợi nhất cho mình mà mình không nói ra cho đối phương biết. Đồng thời mỗi bên đều nghĩ và dự đoán những vi phạm điều kiện Hợp đồng mà phía kia có thể làm. Chính vì vậy mà phải dự phòng những biện pháp phản ứng để trì hoãn và ngăn chặn việc thi hành những gì đã ký kết.

Một Hợp Đồng Thương Mại được ký kết công khai và các bên ký hoan hỷ mở xâm banh uống chúc mừng, nhưng cả hai bên đều nghĩ phía bên kia không thành thực. Đúng là câu nói:
    Miệng thì thơn thớt nói cười,
   Mà trong nham hiểm giết người không dao
Chính vì vậy mà khi nói đến những Giá cả quan thuế chính thức ký kết, người ta không thể không nói đến những Biện pháp không giá cả (Mesures non-tarifaires). Việc áp dụng những biện pháp này rất uyển chuyển, khó lường, để tránh né những Giá cả quan thuế đã chính thức ký kết. Người ta liệt kê ra những Biện pháp sau đây được gọi là những Chính sách thương mại không giá cả (Politiques commerciales non-tarifaires):

1) Hạn chế số lượng
 (Contingentement hay Quotas)

Đây là việc hạn chế về số lượng mặc dầu đã ký Hợp đồng về Giá cả quan thuế. Tỉ dụ Liên Aâu và Hoa kỳ đã đặt vấn đề quotas này với Trung quốc trước khi Trung quốc vào WTO và ngay cả lấy lại vấn đề quotas lúc này dưới một phương diện khác khi Trung quốc đã vào WTO.

2) Kiểm soát Hối đoái 
 (Controle du Change hay Limitation des devises étrangères)

Biện pháp trên nhằm trực tiếp vào số lượng nhập cẩng. Việc kiểm soát Hối đoái nhằm vào phương tiện trả tiền nhập cảng. Việc kiểm soát Hối đoái cũng đi đến một mục đích là ngăn chặn việc nhập cảng hàng hóa mà Hợp Đồng Thương Mại đã ký kết cho tự do nhập cảng.

3) Đòi hỏi chi tiết Kỹ thuật 
 (Exigences des détails techniques)

Những biện pháp đòi hỏi chi tiết kỹ thuật này nhằm trì hoãn việc nhập cảng những hàng hóa đã ký kết công khai trong Hợp Đồng Thương Mại. Nhiều khi chỉ cần một cái đinh ốc trong một bộ phận máy cũng đủ làm khó dễ việc nhập cảng.

4) Biện pháp Hành chánh
 (Mesures administratives)

Nước nhập cảng cũng có thể dùng sự chậm trễ Hành chánh để làm khó dễ việc nhập cảng đã quy định trong Hợp Đồng thương mại.

5) Điều kiện Vệ sinh và Kho chứa
 (Conditions d’hygiène et de stockage)

Đây cũng là biện pháp làm trì hoãn hoặc từ chối việc nhập cảng, nhất là hàng thực phẩm. Nước nhập cảng có quyền ưu tiên đòi hỏi việc này vì vấn đề sức khoẻ công cộng là ưu tiên hàng đầu (Santé publique en prorité)

6) Vi phạm Nhân quyền
 (Violation des Droits de l’homme)

Nước nhập cảng cũng có thể nêu ra vấn đề này để từ chối nhập cảng những hàng hóa liên hệ. Vấn đề này liên hệ đến việc khai thác nhân công đến độ vi phạm Nhân quyền. Đây là điều có thực nếu xét đến việc quyền lực Chính trị tại Trung quốc và Việt Nam bóc lột dân lao động để hạ giá thành hàng hóa.

Những Biện pháp không giá cả trên đây có thể được nêu ra bất cứ lúc nào nhằm ngăn chặn thi hành Hợp Đồng Thương Mại đã ký kết khi mình nhận thấy không có lợi nữa.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC
Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC, CHƯA MỪNG VỘI
Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
Bài 04/21.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM
Bài 05/23.05.06: VÀO WTO/OMC, CẠNH TRANH BẰNG BÓC LỘT
Bài 06/31.05.06:VÀO WTO/OMC, TRUNG CỘNG DIỆT CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Những Bài sẽ được tiếp tục viết như sau:
- Vào WTO/OMC, độc đảng độc quyền lũng đoạn ngoại thương
- Vào WTO/OMC, vì quyền lợi của dân, của đảng hay của tài phiệt ngoại lai ?
- Vào WTO/OMC, hoàn cảnh thuận tiện đấu tranh cho Tự do, Dân chủ
- Vào WTO/OMC, tóm tắt và kết luận về cái hại, cái lợi

Tôi có ý định viết một loạt bài về VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC.  Ý tưởng tổn quát để lần lượt khai triển như sau: chưa nên mừng vội vì mậu dịch quốc tế có nhiều những phức tạp mà Hợp Đồng Thương Mại chỉ là hình thức dễ bị để ra một bên; vào WTO/OMC với tự do mậu dịch, Việt Nam có thể là nạn nhân của những nước chung quanh cạnh tranh; khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn yếu kém, lại thêm độc đảng tham nhũng khiến khả năng ấy dễ đi vào bệnh hoạn; trong tình trạng như vậy, Trung Cộng sẽ là nước diệt công nghệ Việt Nam với tự do mậu dịch WTO/OMC; việc vào WTO/OMC có lợi cho Phong trào Dân chúng đấu tranh cho Dân chủ bởi vì không có điều kiện này, Kinh tế Việt Nam khó lòng ngóc đầu dậy để có khả năng cạnh tranh.



MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG
VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TÓM TẮT NHỮNG GÌ ĐÃ VIẾT TRƯỚC:
@Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Phía CSVN đã tỏ ra vui mừng về việc đàm phán với Hoa kỳ về việc vào WTO. Tôi viết bài thứ 1 này để trình bầy rằng có 3 thái độ đối với Thương Mại Quốc tế: (i) Bế quan tỏa cảng tự túc (Autarcie); (ii) Che chở thương mại (Protectionnisme); và (iii) Tự do mậu dịch (Libre Echange). Việc Tự do mậu dịch là Lý tưởng. Tuy nhiên để có thể được Lý tưởng cạnh tranh, thì chính mình phải đạt tới một Khả năng Cạnh tranh nào đó. Vì vậy tôi đặt câu hỏi: vào WTO/OMC, mừng hay không ?
@Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC CHƯA MỪNG VỘI
Việc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa-kỳ mới ở phương diện lý thuyết của những Giá cả quan thuế (Tarifs douaniers). Tuy vậy, cũng như bất cứ những cuộc đàm phán nào về Kinh tế, Thương Mại, cả hai bên đều tính toán những thủ đoạn để có thể thu lợi tối đa cho phía mình. Ngay về phương diện lý thuyết, người ta cũng đã sửa soạn những Chính sách thương mại không giá cả (Politiques commerciales non-tarifaires)


Trong bài thứ hai này, dưới đầu đề Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG, tôi xin đề cập đến việc các nước một mặt ký kết Tự do Mậu dịch, nhưng luôn luôn dự phòng những biện pháp phản ứng lại những gì đã ký kết. Việc Hoa ký và Liên Aâu phản ứng lại Tsumani hàng May Dệt Trung Cộng là tỉ dụ gần đây nhất.

Hoa kỳ và Liên Aâu vốn giữ vấn đề Quotas đối với Trung Cộng. Nhưng sau khi Trung Cộng vào WTO/OMC và sau khi vấn đề Quotas được bỏ đi, Trung Cộng đã xuất cảng ào ạt hàng May Dệt sang Hoa kỳ và Liên Aâu. Vì quyền lợi của mình, Hoa kỳ và Liên Aâu đã phản ứng để ngăn chặn Tsumani hàng May Dệt này ngay trong khuôn khổ của Tự do Mậu dịch WTO/OMC. Đây là một trong những tỉ dụ mà người ta sẵn sàng vì quyền lợi Quốc gia mà bỏ những điều đã ký kết.

Tôi đăng lại đây bài mà tôi nói tóm tắt nội dung trên Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) ngày 04.05.2005.

Từ đầu năm 2005, khi những hạn chế số lượng (quotas) nhập cảng về hàng May Dệt được bỏ đi, thì những hàng này của Trung Cộng tràn ngập Thị trường Hoa kỳ và Liên Au. Trong tháng tư vừa rồi Hoa kỳ và Liên Au phải lấy những quyết định phản ứng mạnh để ngăn chặn Tsumani này từ Trung Cộng.
 
Vài nét Lịch sử  
về hai Hiệp Ước Thương Mại Quốc tế
 
Tiền thân của WTO (World Trade Organization) là GATT (General Agreement on Tarif & Trade). Cả hai có Trụ sở tại Geneva. Năm 1974, trong khuôn khổ thương lượng của GATT, một Hiệp Ước Thương Mại có tên là AMF (Accord MultiFibres) được ký kết. Đây là Hiệp Ước tự do thương mại quốc tế về ngành May Dê.t. Tuy vậy các Nước Tây phương thấy những nguy hiểm về Hiệp Ước này đến từ Trung Cộng và An độ, nên họ đã đặt trong Hiệp Ước những hạn định về số lượng nhập khẩu hàng may dệt từ những nước này.
 
Vòng Thương Lượng URUGUAY năm 1994 kết thúc bằng thay thế Tên WHO cho GATT và ký kết Hiệp Ước Thương Mại quốc tế thứ hai về ngành May Dệt lấy tên là Hiệp Ước ATV (Accord sur les Textiles & les Vêtements). Theo Hiệp Ước này, thì bắt đầu từ 01.01.2005, những hạn chế về số lượng (quotas) nhập cảng được bỏ đi.
 
Trung Cộng nhập WHO vào tháng Giêng năm 2002 và tất nhiên được hưởng việc bỏ hạn định số lượng theo Hiệp Ước ATV. Tuy vậy, trong điều kiện nhập WTO, Trung Cộng phải ký những Điều khoản đặc biệt về Bảo vệ (Clauses de Sauvegarde), nghĩa là để tránh việc lan tràn làm hại ngành May Dệt này tại những Nước nhập cảng, Trung Cộng chỉ có quyền tăng xuất cảng 7.5% mỗi năm cho đến năm 2008.

Việc lan tràn quá mức 
của hàng May Dệt “Made in China“ 

Chín món hàng trong ngành này của Trung Cộng đã lan tràn như Tsumani chỉ trong vòng 3 tháng sau khi bỏ việc hạn chế số lượng (quotas). Trung bình việc xuất khẩu được  ước lượng tăng lên gấp 5 lần sánh vơi năm ngoái. Có những hàng chỉ trong 3 tháng qua đã tăng lên khủng khiếp, như áo Pull-Overs tăng 893%, Quần (Pantalons) tăng 201%, Bít tất (Chaussettes) tăng 1500%, Nịt ngực đàn bà (Soutiens-Gorge) tăng 202%...
 
Trung Cộng hiện nay chiếm 28% về Thương Mại Quốc tế về xuất khẩu hàng thuộc ngành này. Ngân Hàng Thế Giới ước lượng rằng vào năm 2010, Trung Cộng sẽ chiếm 50% thương mại thế giới về ngành May Dê.t. 

Khả năng cạnh tranh của Trung Cộng 
 
Những yếu tố sau đây làm cho hàng May Dệt của Trung Cộng có điều kiện cạnh tranh rất mạnh về giá cả: 

==> Trung Cộng còn giữ chế độ độc tài và khai thác nhân công với những điều kiện lương bổng, giờ giấc làm việc, khu vực làm việc mà những nước Tự do không có quyền đặt những điều kiện cho nhân công như vâ.y. Tỉ dụ nhân công làm việc 70 giờ một tuần, ăn ở trong chính hãng xường với đồng lương quá thấp. Ong Jean-Francois MONTEMONT, trong tờ LE COURRIER PICARD ngày 26.04.05, viết : “La Chine utilise l’immense réservoir humain chassé des campagnes vers les colossales usines cotìeres òu l’on travaille, dort et mange.....Veritables troupes de travailleurs dirigées par les commissaires politiques en costumes-cravates...“ (Trung Quốc xử dụng kho dự trữ khổng lồ nhân lực lùa ra từ nhà quê kéo về những nhà máy khổng lồ dọc bờ biển ở đó người ta làm việc, ngủ và ăn...Đó chính là những đàn  thợ thuyền được chỉ huy bởi những cán bộ chính trị mặc áo vét với cà vạt...) 

==> Hối suất tiền tệ của đồng Yuan không theo luật Cung-Cầu, mà là do Nhà Nước ấn đi.nh. Nhà Nước đã ấn định hối xuất hạ xuống sánh với tiền tệ nước ngoài, nhất là Dollar. Đây là điều kiện làm cho giá hàng xuất cảng ra nước ngoài hạ xuống. Như vậy nước ngoài mua hàng của Trung Cộng có lợi hơn về hối suất. 

==> Giá thành trung bình của hàng sản xuất hạ xuống khi số lượng sản xuất tăng lên. Trung quốc sản xuất hàng với số lượng khổng lồ vì nếu không tiêu thụ ra nước ngoài được thì đã có khối người khổng lồ của Trung Cộng tiêu thụ. Chế độ có thể bắt dân tiêu thụ dưới hình thức trả lương bằng hàng hóa. 

Những quốc gia nạn nhân  
của tự do cạnh tranh trong ngành 

Hoa kỳ, trong những năm gần đây, đã sa thải 350'000 nhân công trong ngành này. Với việc tháo khóan hạn chế số lượng (quotas), Hoa kỳ dự trừ những thiệt hại nhanh chóng nữa. 

Tại Liên Au, một số quốc gia sau đây bị ảnh hưởng lớn về ngành May Dệt: Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Ba Lan, Tiệp khắc. Nước Pháp, ngay trong năm 2004, đã phải thải 17?000 nhân công và với việc lan tràn của hàng Trung Cộng, thì cuối năm 2005, việc sa thải được dự trù vào khoảng 20'000 nhân công nữa. 

Thiệt hại này không những cho những quốc gia thuộc Thị trường Hoa kỳ & Liên Au, mà còn ảnh hưởng thiết yếu đến những quốc gia khác mà hoạt động chính là ngành May Dệt, như :

@ Ile Maurice, Madagsacar, Maroc, Tunisie, Algérie  

@ Việt Nam, Nam Dương, Bangladesh, Sri-Lanka. 

Những quốc gia này trước đây được sự nâng đỡ của hai Thị trường Hoa kỳ và Liên Au, mặc dầu trong thời kỳ còn cấm số lượng theo Hiệp Ước AMF (Accord MultiFibres). Đây là sự nâng đỡ nhân đạo vì tỉ số dân sống về ngành May Dệt rất cao. Ngày nay, với việc bỏ hạn định số lượng (quotas), thì hàng Trung Cộng tràn ngập Thị trường Hoa kỳ và Liên Au, nên những quốc gia trên không thể cạnh tranh với hàng Trung Cô.ng. 

Phản ứng của Hoa kỳ và Liên Âu  

Mặc dầu chủ trương Toàn Cầu Hóa Thương mại, nhưng trước những thiệt hại lớn cho mình và cho những quốc gia sản xuất khác, Hoa kỳ và Liên Au buộc lòng phải cấp bách phản ứng lại sự tràn lan của hàng May Dệt Trung Cộng.
 
1)  Phản ứng của Hoa kỳ 
 
Hoa kỳ phản ứng cứng rắn và mau lẹ hơn Liên Au vì những lý do mà chúng tôi sẽ nói sau. Ngày 01.04.2005, trong khuôn khổ WTO, Hoa kỳ đã chính thức yêu cầu thủ tục áp dụng những Điều Khoản về Bảo vệ (Clauses de Sauvegarde) mà Trung Cộng đã ký kết khi nhập WTO tháng Giêng năm 2002. Theo thủ tục này, thì Hoa kỳ đã làm những việc sau đây: 
@ Điều tra (Enquete) việc tăng vọt về mỗi hàng May Dệt đến từ Trung Cộng 
@ Đòi Hỏi Theo Lệnh (Consultation Formelle) với Điều tra gửi tới Trung Cộng qua WTO 
@ Khi nhận được văn thư Đòi Hỏi Theo Lệnh này, thì Trung Cộng buộc phải Hạn Chế việc xuất cảng theo con số tăng 7.5% như đã ký kết khi nhập WTO. 

2) Phản ứng của Liên Âu 
 
Liên Au phản ứng không mau lẹ và mạnh bằng Hoa kỳ vì Liên Au mong thực hiện những giao dịch sau đây với Trung Cộng: 
==> Bán Air Bus 380 cho Trung Cộng 
==> Nhằm bán vật liệu và xây dựng 45 Trung Tâm Nguyên Tử (Centrales Nucléaires) mà Trung Cộng dự định thực hiê.n. 

Tại Bruxelles, Đại Diên Trung Cộng bên cạnh Liên Au đã nói bóng gió rằng để mua một Air Bus của Liên Au, chúng tôi phải bán chừng 20 triệu đối bít tất.

Hoa kỳ không quan tâm cho lắm đến những dịch vụ trên, nên đã phản ứng mạnh bằng những Điều khoản về Bảo vệ mà Trung Cộng đã ký kết. 

Ong Peter Mandelson, Bộ trưởng Thương mại của Liên Au, chưa dám phản ứng theo những Điều khoản về Bảo vệ, mà chỉ đưa ra những Biện Pháp Cấp Thời (Mesures d?Urgence) vừa chậm vừa không có tính cách đòi buộc theo Luật Lệ. Những Biện Pháp Cấp thời như sau: 

@ Điều tra (Enquete) việc tăng vọt về mỗi hàng May Dệt đến từ Trung Cộng 
@ Thảo luận Thông tin (Discussion Informelle) với Trung Cô.ng. Việc này kéo dài chừng 2 tháng. 
@ Nếu việc Thảo Luận Thông tin không mang đến kết quả, Liên Au sẽ tiếp thục Thương thảo những điều kiện thương mại với Trung Cô.ng. 
@ Cuối cùng , nếu những Thương lượng điều kiện không có kết quả, thì Liên Au mới trình nộp Đòi Hỏi Theo Lệnh (Consultation Formelle), trong khuôn khổ WTO để yêu cầu Trung Cộng áp dụng những Điều Khoản về Bảo vệ giống như Hoa kỳ. 

Người ta dự trù rằng những Biện Pháp Cấp Thời này của Oâng Peter Mandelson phải kéo dài cho đến hết tháng 9 năm nay. 

Vì quá thiệt hại, nước Pháp nóng lòngười, đã thôi thúc Ong Peter Mandelson phải làm giống như Hoa kỳ. Được sự hỗ trợ của Oâng Guillaume SARKOZY, Chủ tịch Liên Hiệp Kỹ Nghệ Vải của Pháp UIT (Union des Industries Textiles) và của các Nghiệp Đoàn May Dệt, Bộ trưởng Thương Mại Pháp, nhân danh Quốc gia Thành viên của Liên Au, đã chính thức gửi Văn Thư yêu cầu Liên Aâu phải áp dụng kịp thời những Điều khoản về Bảo vệ, chứ đừng trì hoãn với những Biện Pháp Cấp Thời mà Ong Peter Mandelson dự đi.nh. 

Trả lời của Trung Cộng 

Trước việc Đòi Hỏi áp dụng những Điều khoản về Bảo vệ (Clauses de Sauvegarde) mà Hoa kỳ chính thức yêu cầu trong khuôn khổ WTO, Trung Cộng phải buộc lòng tự động hạn chế con số xuất cảng theo như đã ký kết khi gia nhập WTO. 

Trung Cộng đã trả lời là sẽ giảm số lượng xuất cảng bằng những biện pháp sau đây: 
@ Tăng thuế phụ trội 3% trên những hàng May Dệt xuất cảng. 
@ Tăng hối xuất lên 3% đối với đồng Yuan 

Hai biện pháp này nhằm giảm số lượng xuất khẩu. Dầu sao phản ứng mạnh của Hoa kỳ đã có ảnh hưởng trên chính những nhà nhập cảng Hoa kỳ, nhất là giới Hoa kiều tại Mỹ. Những nhà nhập cảng này sợ Quan thuế Hoa kỳ sẽ giữ lại những hàng May Dệt Trung Cộng tại các Phi trường và các Cảng. 

Việt Nam, 
nạn nhân của Trung Cộng về May Dệt 

Chế độ luôn hô hào Kỹ nghệ hóa Kinh tế Việt Nam. Nhưng chế độ độc tài, với Luật pháp dây thung và đổi như chong chóng, đã không tạo được vốn cho những sinh hoạt Kỹ nghệ có tính cách lâu dài.

Sinh hoạt Kinh tế Việt Nam còn nằm ở mức độ những sản xuất cấp thời ngắn hạn để mau thâu vốn. Ngành May Dệt thuộc loại này. Tỉ số người xử dụng trong ngành này cao nhất sánh với các ngành khác. Những yếu tố sau đây làm Việt Nam là nạn nhân của Trung Cộng khi Hiệp Ước ATV (Accord sur les Textiles & les Vêtements) bãi bỏ hạn chế về số lượng (quotas) xuất cảng:

@ Việt Nam, với số lượng dân ít, không thể tăng lượng sản xuất để giảm giá thành như Trung Cô.ng. Thực vậy, muốn tăng số lượng sản xuất, phải có bảo đảm tiêu thụ nội đi.a. 

@ Hàng May Dệt của Trung Cộng được sản xuất từ A tới Z, nghĩa là từ nguyên liệu đến sản phảm sẵn sàng để tiêu thụ. Trong khi ấy, hàng May Dệt của Việt Nam phải lệ thuộc vào nhập cảng những nguyên liệu từ nước ngoài. 

@ Việt Nam chưa được nhập WTO, nên không có những điều kiện xuất cảng thuận lợi như Trung Cô.ng. 

@ Trước đây, trong thời kỳ hạn chế về lượng (quotas) Việt Nam thuộc những nước mà Hoa kỳ và Liên Aâu nâng đỡ, bỏ qua về hạn chế lượng, nên có một số dễ dàng cạnh tranh. Nhưng ngày nay, từ 01.01.2005, Hiệp Ước ATV (Accord sur les Textiles & les Vêtements) tháo khoán về hạn chế lượng (quotas), thì việc nâng đỡ của Hoa kỳ và Liên Aâu trở thành vô hiê.u. 

@ Với guồng máy hành chánh Việt Nam đầy tham nhũng và với những luật lệ không đáng tin cẩn, những nhà nhập cảng chọn mua hàng của Trung Cộng hơn là mua hàng từ Việt Nam.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC
Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC, CHƯA MỪNG VỘI
Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
Bài 04/21.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM
Bài 05/23.05.06: VÀO WTO/OMC, CẠNH TRANH BẰNG BÓC LỘT
Bài 06/31.05.06:VÀO WTO/OMC, TRUNG CỘNG DIỆT CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Những Bài sẽ được tiếp tục viết như sau:
- Vào WTO/OMC, độc đảng độc quyền lũng đoạn ngoại thương
- Vào WTO/OMC, vì quyền lợi của dân, của đảng hay của tài phiệt ngoại lai ?
- Vào WTO/OMC, hoàn cảnh thuận tiện đấu tranh cho Tự do, Dân chủ
- Vào WTO/OMC, tóm tắt và kết luận về cái hại, cái lợi

Tôi có ý định viết một loạt bài về VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC.  Ý tưởng tổn quát để lần lượt khai triển như sau: chưa nên mừng vội vì mậu dịch quốc tế có nhiều những phức tạp mà Hợp Đồng Thương Mại chỉ là hình thức dễ bị để ra một bên; vào WTO/OMC với tự do mậu dịch, Việt Nam có thể là nạn nhân của những nước chung quanh cạnh tranh; khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn yếu kém, lại thêm độc đảng tham nhũng khiến khả năng ấy dễ đi vào bệnh hoạn; trong tình trạng như vậy, Trung Cộng sẽ là nước diệt công nghệ Việt Nam với tự do mậu dịch WTO/OMC; việc vào WTO/OMC có lợi cho Phong trào Dân chúng đấu tranh cho Dân chủ bởi vì không có điều kiện này, Kinh tế Việt Nam khó lòng ngóc đầu dậy để có khả năng cạnh tranh.



LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA NHẬP CẢNG
TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TÓM TẮT NHỮNG GÌ ĐÃ VIẾT TRƯỚC:
@Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Phía CSVN đã tỏ ra vui mừng về việc đàm phán với Hoa kỳ về việc vào WTO. Tôi viết bài thứ 1 này để trình bầy rằng có 3 thái độ đối với Thương Mại Quốc tế: (i) Bế quan tỏa cảng tự túc (Autarcie); (ii) Che chở thương mại (Protectionnisme); và (iii) Tự do mậu dịch (Libre Echange). Việc Tự do mậu dịch là Lý tưởng. Tuy nhiên để có thể được Lý tưởng cạnh tranh, thì chính mình phải đạt tới một Khả năng Cạnh tranh nào đó. Vì vậy tôi đặt câu hỏi: vào WTO/OMC, mừng hay không ?
@Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC, CHƯA MỪNG VỘI
Việc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa-kỳ mới ở phương diện lý thuyết của những Giá cả quan thuế (Tarifs douaniers). Tuy vậy, cũng như bất cứ những cuộc đàm phán nào về Kinh tế, Thương Mại, cả hai bên đều tính toán những thủ đoạn để có thể thu lợi tối đa cho phía mình. Ngay về phương diện lý thuyết, người ta cũng đã sửa soạn những Chính sách thương mại không giá cả (Politiques commerciales non-tarifaires)
@Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
Hoa kỳ và Liên Aâu vốn giữ vấn đề Quotas đối với Trung Cộng. Nhưng sau khi Trung Cộng vào WTO/OMC và sau khi vấn đề Quotas được bỏ đi, Trung Cộng đã xuất cảng ào ạt hàng May Dệt sang Hoa kỳ và Liên Aâu. Vì quyền lợi của mình, Hoa kỳ và Liên Aâu đã phản ứng để ngăn chặn Tsumani hàng May Dệt này ngay trong khuôn khổ của Tự do Mậu dịch WTO/OMC. Đây là một trong những tỉ dụ mà người ta sẵn sàng vì quyền lợi Quốc gia mà bỏ những điều đã ký kết.


Trong bài thứ tư này, dưới đầu đề Bài 04/20.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA NHẬP CẢNG TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM, tôi xin đề cập đến tỉ dụ thứ hai về phản ứng của Liên Aâu đối với việc tăng cường xuất cảng hàng Da của Trung Cộng mặc dầu Trung Cộng đã nhập WTO/OMC. Liên Aâu lấy lý do là Trung Cộng bán phá giá những hàng Da như Giầy, Dép, Ví, Cặp... vì Trung Cộng bao cấp những Công ty quốc doanh, hoặc ép nhân công để có giá thành hạ. Liên Aâu cũng tăng Giá quan thuế nhập cảng những hàng này đối với Việt Nam.

Trưa hôm thứ Sáu ngày 24.02.2006, Đài BBC phỏng vấn tôi về việc Liên Âu tăng giá nhập cảng tới trên 18% vào Liên Âu cho những hàng Da, Dầy Dép đến từ Trung quốc và Việt Nam. Đài BBC hỏi tôi:

=> Việc tăng thuế như vậy có phải là vì Trung quốc và Việt Nam bán phá giá những hàng ấy hay không hoặc vì những lý do nào khác ?

=> Trung quốc đã nằm trong Tổ chức Mậu dịch Thế giới (OMC/WTO), nghĩa là có Tự do Thương mại (Libre Echange) như mọi nước trong Tổ chức, tại sao lại có tình trạng kỳ thị này (Discrimination) ?

=> Việc tăng thuế như vậy cho Việt Nam, có phải là sự bất công hay không vì tầm ảnh hưởng thiệt thòi nặng trên nền ngoại thương Việt Nam ?

Tôi đã trả lời tổng quát cho những câu hỏi này và Đài BBC đã phát thanh về Việt Nam ngay tối hôm thứ Sáu (giờ Việt Nam) bởi vì gia đình chúng tôi tại Biel/Bienne (Thụy sĩ) có nghe được phát thanh buổi chiều hôm thứ Sáu.

Tôi thấy việc trả lời còn thiếu sót vì hạn địng giờ và vì trả lời cấp thời, nên muốn viết thêm về vấn đề này mà tôi coi là việc quan trọng liên hệ đến phong trào đình công ở Việt Nam và liên hệ có thể đến sự thay đổi tình hình chính trị ở Quê Hương.

Để trả lời cho những câu hỏi trên, tôi đã quy chiếu về hai bài góp ý kiến mà tôi đã viết : (i) ngày 04.05.2005 nhân phỏng vấn của Đài Phát thanh Pháp Radio France Internationale về phản ứng của Hoa kỳ và Liên Âu đối với hàng May Dệt của Trung quốc, (ii) ngày 06.02.2006 nhân phong trào đình công ở Việt Nam chính yếu cho ngành May Dệt.
 
Hàng Da, Dầy Dép mà Liên Âu mới quyết định tăng thuế nhập cảng vào Liên Âu cũng thuộc loại hàng hóa như May Dệt, nghĩa là những hàng hóa để che thân thể con ngườị Phản ứng mới đây của Liên Âu cho riêng những hàng Da Dầy Dép có liên hệ đến việc tăng khổng lồ (Tsumani) của Trung quốc  về hàng May Dệt tràn vào Thị trường Liên Âu và Thị trường Hoa kỳ trong năm vừa rồi khi mà "quotas" nhập cảng được bỏ đi cho Trung quốc vào đầu năm 2005. Liên Âu và Hoa kỳ bắt đầu phản ứng mạnh từ tháng Tư 2005 để bảo vệ ngành nghiệp này bĩ thiệt  hại nặng nề do "Tsumani" May Dệt của Trung quốc. Cũng vì sự tràn lan của hàng May Dệt như sóng thần của Trung quốc mà những nước nhỏ sống về ngành nghiệp này ngoài Liên Âu, ngoài Hoa kỳ cũng bị ảnh hưởng lây thiệt hại: Mexico, Maroc, Tunisie, Bangladesch, Sri Lanka, Vietnam, Philipinnes, Indonesie. Ngày 06.02.2006, nhân tìm hiểu lý do của phong trào đình công ở Việt Nam, nhất là về ngành May Dệt, tôi có nêu ra "Tsumani" May Dệt" của Trung quốc như là lý do quốc tế và dài hạn có thể đưa đến đóng cửa những hãng xưởng May Dệt ở Việt Nam. Việc giải quyết đình công ở Việt Nam không thể là vá víu, mà phải kể đến vấn đề cạnh tranh quốc tế về ngành nghiệp May Dệt nàỵ
  

Liên Âu tăng thuế để chống lại việc phá giá? 

Theo Đài BBC, thì việc tăng thuế này dựa trên lý do là Trung quốc và Việt Nam đã bán phá giá những hàng Da Dầy Dép trong những năm qua, nên việc tăng thuế là để bảo vệ ngành này của Liên Âu, như Pháp, Ý đại lợi...

Tôi đã trả lời BBC rằng thực đây không phải là chủ trương bán phá giá như Liên Âu nêu ra, mà chính là vì giá thành sản xuất tại Trung quốc và Việt Nam rất hạ do  lương "chết đói" trả cho nhân công, nên hai nước này có thể bán giá thấp sang hai Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu. Riêng Trung quốc thì giá thành còn hạ hơn nữa vì họ có thể sản xuất số lượng khổng lồ, sản xuất từ A tới Z và khối nhân công được tả như sau: Ong Jean-Francois MONTEMONT, trong tờ LE COURRIER PICARD ngày 26.04.05, viết :“La Chine utilise l’immense réservoir humain chassé des campagnes vers les colossales usines cotìeres òu l’on travaille, dort et mange.....Veritables troupes de travailleurs dirigées par les commissaires politiques en costumes-cravates...“ (Trung Quốc xử dụng kho dự trữ khổng lồ nhân lực lùa ra từ nhà quê kéo về những nhà máy khổng lồ dọc bờ biển ở đó người ta làm việc, ngủ và ăn...Đó chính là những đàn  thợ thuyền được chỉ huy bởi những cán bộ chính trị mặc áo vét với cà vạt...)   
  
Giá bán trên Thị trường được định trên căn bản giá thành sản xuất. Nếu giá thành sản xuất của Việt Nam và Trung quốc hạ, thì hai nước này có thể bán với gia thấp để cạnh tranh, đó không phải là chủ trương bán phá giá. Thực ra, Liên Âu không dám nêu ra lý do cạnh tranh giá thành vì ngại phản ứng trong Tổ chức Mậu dịch Thế giới mà nguyên tắc là Tự do Thương mại (Libre Echange). Họ cũng không dám nhắc ra nhiều về những điều kiện làm việc vô nhân đạo tại Trung Cộng và Việt Nam khiến giá thành thấp hẳn xuống.

Điều quan trọng đối với Liên Âu là họ phải tăng thuế nhập cảng tổng quát cho những hàng May Dệt và đặc biệt hiện nay cho những hàng Da Dầy Dép đến từ Trung quốc và Việt Nam để có thể nâng đỡ những hàng hóa ấy sản xuất trong những nước thuộc Liên Aâu. Lý do nêu ra là công kích Trung quốc và Việt Nam đã chủ  trương bán phá giá, nhưng thực ra phải kể chính yếu đến lý do cạnh tranh về giá thành sản xuất.
  

Tại sao lại có việc kỳ thị thuế nhập cảng ?  
  
Đài BBC đặt câu hỏi với tôi rằng nếu Tổ chức Mậu dịch Thế giới (OMC/WTO) chủ trương Tự do Thương mại (Libre Echange) và tôn trọng nguyên tắc Kinh tế về cạnh tranh bằng giá thành hàng hóa, thì việc tăng thuế nhập cảng đối với Trung quốc, thành viên của Tổ chức Mậu dịch Thế giới, có trái với chủ trương Tự do Thương mại và nguyên tắc cạnh tranh Kinh tế hay không ?

Tôi trả lời liền bằng câu hỏi rằng:" Ông có hoàn toàn tin tưởng rằng thực sự có Tự do Thương mại quốc tế hay không ?"
  
Thực ra Tự do Thương mại (Libre Echange) là một lý tưởng để Tổ chức Mậu dịch Thế giới tiến tớị Không thể nói là Tổ chức này đã đạt được lý tưởng.  Đối với tất cả những nước thành viên của Tổ chức, nước nào cũng  tính toán để vi phạm Tự do Thương mại (Libre Echange) để bảo vệ quyền lợi của riêng nước mình. Khi quyền lợi của Dân mỗi nước bị thiệt hại nặng, thì nước đó sẵn sàng xử dụng chủ trương Che chở Kinh tế nước mình (Protectionnisme), hoặc tối thiểu bằng  những biện pháp "không giá cả" (Mesures non-tarifaires) để ngầm chống lại những giá cả đã ký kết quốc tế.

Người ta có thể hy sinh những ký kết quốc tế để bảo vệ đời sống dân chúng mỗi nước bị đe dọa trầm tro.ng. Đây là lý chứng bênh đỡ cho chủ trương Che chở Kinh tế (Protectionnisme).

Riêng về Trung quốc, thực sự họ đã vi phạm những điều kiện để được bỏ "quotas" mà chính họ đã ký. Theo một trong những điều kiện, thì Trung quốc chỉ được tăng mỗi năm 7.5% cho các hàng May Dệt vào Liên Âu và Hoa kỳ cho tới năm 2008, trong khi ấy họ đã tung độ tăng những hàng này như sóng thần (Tsumani) tràn vào Liên Âu và Hoa kỳ. Có những hàng, chưa đầy một năm, đã tăng lên 700-800%. Vì vậy mà Hoa kỳ và Liên Âu có lý do để phản ứng từ tháng tư 2005.
  

Tăng thuế có bất công đối với Việt Nam hay không ?
  
BBC đặt vấn đề với tôi: nếu Trung quốc là mối đe dọa trầm trọng trực tiếp cho Liên Âu và Hoa kỳ về những hàng May Dệt và đặc biệt những hàng Da Dầy Dép và nếu Việt Nam, một trong những nước nhỏ ngoài Liên Âu và Hoa kỳ cũng bị ảnh huởng gián tiếp không tốt về những hàng này đối với việc tràn lan của Trung quốc, thì tại sao Liên Âu lại tăng thuế nhập cảng đối với hàng Da Dầy Dép từ Việt Nam (cùng chung với Trung quốc) ? Phải chăng đây là biện pháp bất công đối với Việt Nam ?

Về vấn đề này, vì thời giờ phỏng vấn ít hỏi, nên tôi chỉ mới trả lời rằng tôi thấy biện pháp này của Liên Âu khá tội nghiệp cho Việt Nam, vừa chịu ảnh hưởng cạnh tranh không tốt của Trung quốc, vừa bị Liên Âu vơ đũa cả nắm mà dùng biện pháp chế tài thương mại chung với Trung quốc.

Khi trả lời đến đó, thì vì thời giờ, nên chấm dứt cuộc phỏng vấn.

Khi đi weekend lên Biel/Bienne, gia đình nói là BBC đã phát thanh rồi, tôi suy nghĩ thêm những lý do sau đây để tìm hiểu sự "bất công" này đối với Việt Nam:

=> Việt Nam cùng một thể chế cộng sản toàn trị như Trung quốc. Vì vậy, việc chỉ huy ép buộc lao động của Việt Nam cũng giống như bên Trung quốc. Chính việc chỉ huy ép buộc lao động này làm cho lương nhân công rẻ mạt và là yếu tố cạnh tranh làm thiệt hại trầm trọng cho Liên Âu và Hoa kỳ. Vì lý do này mà Liên Âu xếp Việt Nam vào với Trung quốc để cùng tăng thuế nhập càng. Họ không cần nghĩ và thương hại cho Việt Nam bị ảnh hưởng do Trung quốc, mà họ chỉ nghĩ đến nước họ bị đe doạ trầm trọng về ngành nghiệp này do Trung quốc và Việt Nam mà họ xếp đi chung với Trung quốc.

=> Liên Âu cũng có những kinh nghiệm về việc dấu diếm, gian lận về nguồn gốc sản xuất hàng hóạ Trước đây, có những hàng sản xuất bên Trung quốc, mà dấu diếm gian lận đề là "Made in Hong Kong" để có thể nhập vào Liên Âu hoặc các Thị trường khác bởi vì Hong Kong hồi ấy vẫn còn là thuộc Anh. Nếu chỉ tăng thuế riêng cho Trung quốc, Liên Âu có thể ngại sợ rằng khi Việt Nam nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới rồi, thì những hàng Da Dầy Dép này có thể được sản xuất tại chính Trung quốc, mà lại đề là "Made in Vietnam" để xuất cảng sang Liên Âu mà không bị tăng thuế. Như vậy, họ vơ đũa cả nắm tăng cho cả hai nước cho tiện một thể và tránh những che đậy dấu diếm của hai nước có cùng một chế độ cộng sản.

Khi theo Trung Cộng và chỉ là đàn em nhỏ bé của Trung Cộng, thì nếu có gì được lợi để trả giá, thì LIên Âu và Hoa kỳ cho Trung Cộng ăn trước. Còn nếu bị Liên Âu và Hoa kỳ phạt điều gì, thì họ vơ cả đàn em Việt Nam vào với Trung Cộng để phạt chung. Có miếng ăn ngon, thì đàn anh ăn trước, khi phải chịu đòn, thì đàn em cũng bị đánh chung với đàn anh.

Bất công là ở chỗ đó vậy !    

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 
  

VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC
Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC, CHƯA MỪNG VỘI
Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
Bài 04/21.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM
Bài 05/23.05.06: VÀO WTO/OMC, CẠNH TRANH BẰNG BÓC LỘT
Bài 06/31.05.06:VÀO WTO/OMC, TRUNG CỘNG DIỆT CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Những Bài sẽ được tiếp tục viết như sau:
- Vào WTO/OMC, độc đảng độc quyền lũng đoạn ngoại thương
- Vào WTO/OMC, vì quyền lợi của dân, của đảng hay của tài phiệt ngoại lai ?
- Vào WTO/OMC, hoàn cảnh thuận tiện đấu tranh cho Tự do, Dân chủ
- Vào WTO/OMC, tóm tắt và kết luận về cái hại, cái lợi

Tôi có ý định viết một loạt bài về VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC.  Ý tưởng tổn quát để lần lượt khai triển như sau: chưa nên mừng vội vì mậu dịch quốc tế có nhiều những phức tạp mà Hợp Đồng Thương Mại chỉ là hình thức dễ bị để ra một bên; vào WTO/OMC với tự do mậu dịch, Việt Nam có thể là nạn nhân của những nước chung quanh cạnh tranh; khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn yếu kém, lại thêm độc đảng tham nhũng khiến khả năng ấy dễ đi vào bệnh hoạn; trong tình trạng như vậy, Trung Cộng sẽ là nước diệt công nghệ Việt Nam với tự do mậu dịch WTO/OMC; việc vào WTO/OMC có lợi cho Phong trào Dân chúng đấu tranh cho Dân chủ bởi vì không có điều kiện này, Kinh tế Việt Nam khó lòng ngóc đầu dậy để có khả năng cạnh tranh.

VÀO WTO/OMC,
CẠNH TRANH BẰNG BÓC LỘT 
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

TÓM TẮT NHỮNG GÌ ĐÃ VIẾT TRƯỚC:
@Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Phía CSVN đã tỏ ra vui mừng về việc đàm phán với Hoa kỳ về việc vào WTO. Tôi viết bài thứ 1 này để trình bầy rằng có 3 thái độ đối với Thương Mại Quốc tế: (i) Bế quan tỏa cảng tự túc (Autarcie); (ii) Che chở thương mại (Protectionnisme); và (iii) Tự do mậu dịch (Libre Echange). Việc Tự do mậu dịch là Lý tưởng. Tuy nhiên để có thể được Lý tưởng cạnh tranh, thì chính mình phải đạt tới một Khả năng Cạnh tranh nào đó. Vì vậy tôi đặt câu hỏi: vào WTO/OMC, mừng hay không ?
@Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC CHƯA MỪNG VỘI
Việc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa-kỳ mới ở phương diện lý thuyết của những Giá cả quan thuế (Tarifs douaniers). Tuy vậy, cũng như bất cứ những cuộc đàm phán nào về Kinh tế, Thương Mại, cả hai bên đều tính toán những thủ đoạn để có thể thu lợi tối đa cho phía mình. Ngay về phương diện lý thuyết, người ta cũng đã sửa soạn những Chính sách thương mại không giá cả (Politiques commerciales non-tarifaires)
@Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
Hoa kỳ và Liên Aâu vốn giữ vấn đề Quotas đối với Trung Cộng. Nhưng sau khi Trung Cộng vào WTO/OMC và sau khi vấn đề Quotas được bỏ đi, Trung Cộng đã xuất cảng ào ạt hàng May Dệt sang Hoa kỳ và Liên Aâu. Vì quyền lợi của mình, Hoa kỳ và Liên Aâu đã phản ứng để ngăn chặn Tsumani hàng May Dệt này ngay trong khuôn khổ của Tự do Mậu dịch WTO/OMC. Đây là một trong những tỉ dụ mà người ta sẵn sàng vì quyền lợi Quốc gia mà bỏ những điều đã ký kết
@Bài 04/21.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM.
Cuối tháng 2 .2006, Liên Aâu đã quyết định tăng giá quan thuề cho những hàng bằng Da đến từ Trung Cộng và Việt Nam (Việt Cộng). Liên Aâu tăng lên tới trên 18% mà lý do nại ra là hai nước này đã bán phá giá. Tuy không nói rõ ra, nhưng người ta hiểu rằng hai nước này đã có thể phá giá bằng bóc lột Công nhân và bằng bao cấp cho những Công ty quốc doanh. Liên Aâu tăng chung Việt Nam vào với Trung Cộng bởi vì những nhân viên kiểm tra về gốc sản xuất hàng đề phòng việc có thể gian lận giữa Trung Cộng và Việt Nam. Nếu chỉ tăng thuế nhập cảng cho Trung Cộng, thì Trung Cộng có thể đề “Made in Vietnam“ để tránh thuế. Đây là việc người ta có kinh nghiệm trước đây là “Made in Hong Kong“, nhưng thực sự là sản xuất tại Trung Cộng cạnh Hong Kong.


Trong bài thứ năm này, dưới đầu đề Bài 05/23.05.06: VÀO WTO/OMC, CẠNH TRANH BẰNG BÓC LỘT, tôi xin đề cập đến việc Cạnh Tranh trên Thị trường Quốc tế mà chế độ độc tài Việt Nam dự định là bóc lột chính yếu sức lao động của Công nhân và bóc lột Dân chúng bằng xử dụng công quỹ vào bao cấp những Công ty quốc doanh. Trong cuộc đàm phán tại Washington, Hoa kỳ đã nhấn mạnh rằng: “Hoa Kỳ vẫn giữ lập trường khi thấy cần thiết sẽ tiếp tục áp đặt quota với hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam, viện dẫn lý do các tổng công ty và công ty do nhà nước quản lý đang hoạt động trong ngành này đều thuộc diện được bao cấp.“

Bài này xin đề cập đến những điểm sau đây:
=> Tổng quát về Cạnh tranh Quốc tế 
=> Cạnh tranh bằng Giá thành hàng hóa
=> Cạnh tranh bằng bao cấp Nhà Nước

Tổng quát về Cạnh tranh Quốc tế

Những ông tổ Kinh tế gia Anh quốc của Kinh tế Tự do và Thị trường đều đề nghị rằng việc phát triển Kinh tế phải có Tự do Kinh doanh và Tự do Thị trường trong đó CẠNH TRANH là gốc thúc đẩy cho cố gắng tăng năng xuất tính về phẩm cũng như về giá thành và giá bán. Chủ trương phân công Quốc tế là dựa trên Giá thành tuyệt đối (Couts absolus) sản xuất hàng hóa và Giá thành tương đối (Couts relatifs) sản xuất.

THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH TOÀN HẢO (Concurrence Parfaite) là lý tưởng của Kinh tế. Thế nhưng, những doanh nhân luôn luôn tìm cách có được giá thành sản xuất (giá mua hàng hóa) tối thiểu và tìm cách bán với giá cao tối đa, nghĩa là chủ trương độc quyền mua (Monopsone) để mua hàng với giá hạ bóc lột và độc quyền bán (Monopole) để bán hàng với giá cao cứa cổ. Như vậy gian thương nới rộng được lợi nhuận tối đa:
 Tối đa Lợi nhuận  =  Giá bán cao tối đa – Giá mua thấp tối thiểu
 Maximum Benefice =  Maximum Prix de Vente – Minimum Cout d’Achat

Trong thời kỳ Thuộc địa, những Công ty lợi dụng quyền lực Mẫu quốc để có những quyền Thương mại bóc lột này. Chúng tôi xin lấy tỉ dụ Công ty MICHELIN của Pháp đối với Việt Nam. Mẫu quốc Pháp cho Công ty Michelin độc quyền mua mủ Cao su (Monopsone) tại Đông Dương. Michelin mang mủ cao su về Pháp để sản xuất lốp xe michelin. Mẫu quốc Pháp lại cho luôn Công ty Michelin độc quyền bán (Monopole) lốp xe tại Đông Dương. Công ty Michelin đã mua cao su với giá hạ bóc lột, đồng thời bán lốp xe với giá cao cứa cổ.

Hai độc quyền song hành ấy đã không còn nữa khi những thuộc địa dành lại độc lập.

Nhưng Thương mại Quốc tế vào những thập niên 50 lại trải qua thời kỳ họp lại những Công ty theo hàng dọc hoặc theo hàng ngang (Regroupement vertical des Entreprises ou Regroupement horizontal des Entreprises) để nhằm bán độc quyền (Monopole). Họp những Công ty theo hàng dọc có nghĩa là Họp những Công ty của những Ngành khác nhau từ Nguyên liệu, đến Chế biến và Thương mại hàng tiêu thụ (Secteur Primaire—Secteur Secondaire—Secteur Tertiaire). Họp những Công ty theo hàng ngang có nghĩa là nhóm lại những Công ty cùng Ngành (Même Secteur). Để chống lại việc Họp lại làm độc quyền như vậy (Monopole), Hoa kỳ đã phải ra Luật Anti-Trust.

Những vi phạm trên đây ở hai thời kỳ là những việc cản lại lý tưởng CẠNH TRANH của Thị trường. CẠNH TRANH vốn là động lực để có những cố gắng phát triển Kinh tế, Thương mại đứng đắn và chính đáng cho mọi người làm ăn.

Cái lợi điểm đầu tiên và quan trọng nhất của CẠNH TRANH là làm cho GIÁ BÁN càng ngày càng hạ xuống. Đó là cái lợi cho tất cả quần chúng tiêu thụ. CẠNH TRANH là lý tưởng XÃ HỘI cho đại đa số quần chúng. Đó là “định hướng xã hội chủ nghĩa“ từ CẠNH TRANH Thị trường. 

Cạnh tranh bằng Giá thành hàng hóa

Làm Kinh tế là nhằm chủ đích kiếm được LỢI NHUẬN TỐI ĐA (Mximum du Bénéfice). Theo công thức đã nói trên đây, thì

 Lợi nhuận tối đa  =  Tổng số Thu tối đa do bán – Tổng số Chi tối thiểu cho sản xuất
 Max Bénéfice  = Max CAN – Min COUT TOTAL

Vì CẠNH TRANH của Thị trường mà các Công ty khó lòng tăng được giá bán, nghĩa là khó lòng dành độc quyền bán giá cứa cổ để Tổng số Thu tối đa (Max CAN), nên các Công ty quay về quản trị Giá thành (Cout) thế nào để hạ Giá thành tới mức tối thiểu (Min Cout) mới mong đạt được lởi nhuận tối đa như ý muốn. Điều ấy có nghĩa là việc quản trị Kinh tế, Thương mại đặt trọng điểm vào Chi tiêu.

Câu tục ngữ của Kinh tế nói:“Làm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn“. Trong Kinh tế, tiêu tiền không phải là “vất tiền qua cửa sổ“, lãng phí. Việc chi tiêu của Kinh tế hàm ngụ ý nghĩa phải sinh ra lợi nhuận. Tiêu một đồng, phải tính toán thu vào một đồng hai, một đồng ba... Câu tục ngữ đặt nặng ở việc chi tiêu căn cơ để kiếm lợi nhuận, chứ không phải là tiêu lãng xẹt.

Làm thế nào quản trị Xí nghiệp để có Giá thành sản xuất tối thiểu ?

Chúng tôi dựa trên Công thức sản xuất tổng quát sau đây:

 Q  =  f(K, L, t)

Q: Lượng sản xuất; K: Vốn đầu tư; L: Nhân lực; t: Kỹ thuật hội nhập vào K, L.

Theo Công thức này, thì việc quản trị Chi tiêu là phải tính toán giảm thiểu tối đa về Chi tiêu cho Vốn và cho Nhân lực. Cái Chi tiêu cho Vốn nặng nhất của Công ty là vào cơ sở kỹ thuật cố định sản xuất (Installation des Equipements productifs). Việc Chi tiêu cho Nhân lực tức là lương bổng không mang tính cách cố định.

Trong Công thức: Lợi nhuận = Thu do bán – Tổng số Chi, các nhà quản trị tìm cách hạ Tổng số Chi để có lợi nhuận cao vì họ không thể tăng giá bán do CẠNH TRANH của Thị trường. Tổng số Chi được phân chia ra hai loại:

 Tổng số Chi  =  Chi cố định + Chi thay đổi
 Total des Couts  =  Cout fixe + Cout variable

=> Giảm thiểu Chi tiêu cho Vốn đầu tư vào cơ sở sản xuất cố định

Chi tiêu cố định (Cout fixe) là cho việc trang bị cơ sở sản xuất (Installation des Eqipements productifs). Để có thể giảm thiểu Chi tiêu cố định này, thì phải tăng lượng sản xuất hàng hóa tối đa và thâu hồi Vốn càng nhanh càng hay. Chính về điểm này mà Trung quốc có khả năng giảm thiểu những Chi tiêu cố định mạnh hơn Việt Nam vì có thể tăng lượng sản xuất cho khối người khổng lồ 1 tỉ rưỡi, trong khi Việt Nam chỉ có 85 triệu dân. Các Công ty nước ngoài cũng không dám đầu tư Vốn cho Chi tiêu cố định ở Việt Nam vì tình trạng chính trị không ổn và có thể mất vốn nếu là dài hạn.

=> Giảm thiểu Chi tiêu cho Nhân lực thay đổi

Chi tiêu thay đổi (Cout variable) là chính yếu cho việc trả lương cho Nhân lực. Việc trả lương cho Nhân lực được trích ra liền từ việc Thu vào do bán hàng (Total CAN), nên không cần phải vốn dài hạn, cũng không cần phải xét nhiều đến sự an toàn chính trị. Chính vì vậy mà những Xí nghiệp ngoại quốc săn tìm Nhân lực ở những Quốc gia chịu số lương tối thiểu. Việc Toàn cầu hóa sản xuất mang ý nghĩa là tự do sản xuất ở những nơi có Nhân công chấp nhận lương tối thiểu hạ nhất.

Nếu tùy thuộc hoàn cảnh Thị trường Nhân lực của một nước, mà Công nhân được tự do thỏa thuận với Chủ về Lương tối thiểu theo luật CUNG—CÂU, thì chúng tôi không nói làm gì. Chính về điểm này mà Công nhân đòi hỏi phải có LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP để Công nhân được quyết định tự do về lương bổng. Nhưng nếu có sự can thiệp của quyền lực Chính trị cấu kết với Xí nghiệp nước ngoài để áp đặt số lương tối thiểu, thì đó là sự BÓC LỘT CÔNG NHÂN.

Tại Việt Nam, chúng ta có việc BÓC LỘT CÔNG NHÂN này để hạ giá thành cốt ý tăng khả năng CẠNH TRANH. Việc bóc lột làm cho việc cạnh tranh trở thành bất chính. Quyền lực chính trị độc tài CSVN đã cho cả Công đoàn Công nhân nằm tại các Xí nghiệp để “giữ trật tự“ , nghĩa là ép Công nhân phải chấp nhận đồng lương chết đói mà không được than vãn. Hạ giá thành theo kiểu này tức là BÓC LỘT CÔNG NHÂN. Tiền bóc lột nơi công nhân sẽ làm tăng Lợi nhuận theo Công thức trên đây. Việc tăng lợi nhuận này một phần vào túi riêng của Chủ và một phần cho tham nhũng, tức là thuê tà quyền độc tài CSVN để bắt ép Công nhân phải nhận lương chết đói. Nếu vào WTO mà cạnh tranh theo kiểu lương chết đói này, thì việc bóc lột công nhân càng tăng lên. Nhà Nước độc tài làm thuê cho Chủ để bóc lột, đè nén Dân Việt Nam vậy.

Cạnh tranh bằng bao cấp Nhà Nước
 
Đối với những Công ty quốc doanh, Hoa kỳ đã nói thẳng về việc bao cấp của Nhà Nước để CẠNH TRANH trên Thị trường Quốc tế. Hoa kỳ đòi canh chừng kiểm soát tối thiểu trong 10 năm nữa về phương diện này. Công ty quốc doanh hạ Giá thành bằng bóc lột về hai điểm:

=> Trả lương chết đói

Đó là việc bóc lột công nhân giống như Công ty nước ngoài. Chúng tôi đã cắt nghĩa ở trên

=> Bao cấp Nhà Nước

Để có thể cạnh tranh, Nhà Nước phụ cấp cho những Công ty quốc doanh. Nhưng lấy tiền ở đâu mà phụ cấp ? Chắc chắn các ông Mạnh, Khải, Dũng... không bỏ tiền túi ra để phụ cấp cho những Công ty quốc doanh. Họ lấy công quỹ ra để bao cấp. Mà công quỹ là tài sản của Dân, là tiền đóng thuế của Dân. Công ty quốc doanh do đảng hoặc con ông cháu cha của đảng nắm giữ. Như vậy Nhà Nước lấy công quỹ ra để chuyển vào lợi nhuận thuộc đảng hoặc thuộc con ông cháu cha của đảng. Đây là việc ăn cắp, ăn cướp tiền bạc thuộc về Dân để bỏ vào túi của đảng hoặc của con ông cháu cha của đảng.

Việc CẠNH TRANH bằng bao cấp chính là việc BÓC LỘT NHÂN DÂN. Khi vào WTO và cố thủ giữ CẠNH TRANH bằng: (i) BÓC LỘT CÔNG NHÂN với ép buộc lương chết đói; (ii) BÓC LỘT NHÂN DÂN bằng bao cấp Công ty quốc doanh, đó là những việc làm Kinh tế, Thương mại bất chính của chế độ độc tài hiện hành vậy.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 
  


VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC
Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC, CHƯA MỪNG VỘI
Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
Bài 04/21.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM
Bài 05/23.05.06: VÀO WTO/OMC, CẠNH TRANH BẰNG BÓC LỘT
Bài 06/31.05.06:VÀO WTO/OMC, TRUNG CỘNG DIỆT CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Những Bài sẽ được tiếp tục viết như sau:
- Vào WTO/OMC, độc đảng độc quyền lũng đoạn ngoại thương
- Vào WTO/OMC, vì quyền lợi của dân, của đảng hay của tài phiệt ngoại lai ?
- Vào WTO/OMC, hoàn cảnh thuận tiện đấu tranh cho Tự do, Dân chủ
- Vào WTO/OMC, tóm tắt và kết luận về cái hại, cái lợi

Tôi có ý định viết một loạt bài về VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC.  Ý tưởng tổn quát để lần lượt khai triển như sau: chưa nên mừng vội vì mậu dịch quốc tế có nhiều những phức tạp mà Hợp Đồng Thương Mại chỉ là hình thức dễ bị để ra một bên; vào WTO/OMC với tự do mậu dịch, Việt Nam có thể là nạn nhân của những nước chung quanh cạnh tranh; khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn yếu kém, lại thêm độc đảng tham nhũng khiến khả năng ấy dễ đi vào bệnh hoạn; trong tình trạng như vậy, Trung Cộng sẽ là nước diệt công nghệ Việt Nam với tự do mậu dịch WTO/OMC; việc vào WTO/OMC có lợi cho Phong trào Dân chúng đấu tranh cho Dân chủ bởi vì không có điều kiện này, Kinh tế Việt Nam khó lòng ngóc đầu dậy để có khả năng cạnh tranh.

VÀO WTO/OMC,
TRUNG CỘNG DIỆT CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


TÓM TẮT NHỮNG GÌ ĐÃ VIẾT TRƯỚC:
@Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?
Phía CSVN đã tỏ ra vui mừng về việc đàm phán với Hoa kỳ về việc vào WTO. Tôi viết bài thứ 1 này để trình bầy rằng có 3 thái độ đối với Thương Mại Quốc tế: (i) Bế quan tỏa cảng tự túc (Autarcie); (ii) Che chở thương mại (Protectionnisme); và (iii) Tự do mậu dịch (Libre Echange). Việc Tự do mậu dịch là Lý tưởng. Tuy nhiên để có thể được Lý tưởng cạnh tranh, thì chính mình phải đạt tới một Khả năng Cạnh tranh nào đó. Vì vậy tôi đặt câu hỏi: vào WTO/OMC, mừng hay không ?
@Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC CHƯA MỪNG VỘI
Việc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa-kỳ mới ở phương diện lý thuyết của những Giá cả quan thuế (Tarifs douaniers). Tuy vậy, cũng như bất cứ những cuộc đàm phán nào về Kinh tế, Thương Mại, cả hai bên đều tính toán những thủ đoạn để có thể thu lợi tối đa cho phía mình. Ngay về phương diện lý thuyết, người ta cũng đã sửa soạn những Chính sách thương mại không giá cả (Politiques commerciales non-tarifaires)
@Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG
Hoa kỳ và Liên Aâu vốn giữ vấn đề Quotas đối với Trung Cộng. Nhưng sau khi Trung Cộng vào WTO/OMC và sau khi vấn đề Quotas được bỏ đi, Trung Cộng đã xuất cảng ào ạt hàng May Dệt sang Hoa kỳ và Liên Aâu. Vì quyền lợi của mình, Hoa kỳ và Liên Aâu đã phản ứng để ngăn chặn Tsumani hàng May Dệt này ngay trong khuôn khổ của Tự do Mậu dịch WTO/OMC. Đây là một trong những tỉ dụ mà người ta sẵn sàng vì quyền lợi Quốc gia mà bỏ những điều đã ký kết
@Bài 04/21.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM.
Cuối tháng 2 .2006, Liên Aâu đã quyết định tăng giá quan thuề cho những hàng bằng Da đến từ Trung Cộng và Việt Nam (Việt Cộng). Liên Aâu tăng lên tới trên 18% mà lý do nại ra là hai nước này đã bán phá giá. Tuy không nói rõ ra, nhưng người ta hiểu rằng hai nước này đã có thể phá giá bằng bóc lột Công nhân và bằng bao cấp cho những Công ty quốc doanh. Liên Aâu tăng chung Việt Nam vào với Trung Cộng bởi vì những nhân viên kiểm tra về gốc sản xuất hàng đề phòng việc có thể gian lận giữa Trung Cộng và Việt Nam. Nếu chỉ tăng thuế nhập cảng cho Trung Cộng, thì Trung Cộng có thể đề “Made in Vietnam“ để tránh thuế. Đây là việc người ta có kinh nghiệm trước đây là “Made in Hong Kong“, nhưng thực sự là sản xuất tại Trung Cộng cạnh Hong Kong.
@Bài05/23.05.06: VÀO WTO/OMC, CẠNH TRANH BẰNG BÓC LỘT
Để có khả năng cạnh tranh trên Thị trường Quốc tế, Việt Nam phải hạ Giá thành hàng hóa để có thể hạ Giá bán bằng cách dùng đàn áp để bắt Công nhân chấp nhận đồng lương chết đói. Đồng thời chế độ độc tài có thể tự quyết định trích Ngân quỹ Quốc gia để bao cấp những Công ty quốc doanh để bán hạ giá. Bán hạ giá, thì lợi nhuận kém, nhưng Nhà Nước bù vào do bao cấp. Tiền bù vào này cho lợi nhuận sẽ vào trong túi những Giám đốc, Tổng Giám đốc hoặc chia chác trong đảng. Ai trả tiền bao cấp ? Đó là Dân chúng phải đóng thuế. Dùng độc tài, chế độ bóc lột Côngh nhân và ăn cắp tiền đóng thuế của Dân.  


Trong bài thứ sáu này, dưới đầu đề Bài 06/31.05.06: VÀO WTO/OMC, TRUNG CỘNG DIỆT CÔNG NGHỆ VIỆT NAM, tôi rất đau lòng nghĩ đến việc Tầu (Trung cộng) sẽ diệt công nghệ Việt Nam. Tầu diệt công nghệ Việt Nam chứ không phải Mỹ hay Liên Aâu.

Bài này xin đề cập đến những điểm sau đây:
=> Một vài nguyên tắc viết trong những bài trước 
=> Thái Lan cạnh tranh Nông nghiệp với Việt Nam
=> Trung cộng: so sánh sản xuất Công nghệ với Việt Nam
=> Trung cộng và Việt Nam trong cạnh tranh Quốc tế
=> Trung cộng diệt Công nghệ Việt Nam chính trong nội địa Việt Nam


Một vài nguyên tắc
viết trong những bài trước

Với Bài 01/18.05.06: VÀO WTO/OMC, MỪNG HAY KHÔNG ?  , tôi lấy tỉ dụ con gái ông Nông Đức Mạnh đánh nhau tự do (libre combat) với con ông Bush, nhất là tỉ dụ lịch sử trước đây về việc Hoa kỳ và Đức chủ trương Bao che Kỹ nghệ mới sinh (Protectionnisme des Industries naisantes) chống lại chủ trương Tự do Mậu dịch của Anh quốc. Với bài thứ hai: Bài 02/20.05.06: VÀO WTO/OMC CHƯA MỪNG VỘI, tôi viết về những Chính sách không giá cả (Politiques non-tarifaires) có thể được nêu ra để ngăn chặn những gì đã ký kết trong khuôn khổ WTO/OMC, nhất nữa khi Hoa kỳ ở thế mạnh, mà Viêt Nam ở thế yếu. Với hai Bài tiếp theo: Bài 03/21.05.06: MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ HÀNG MAY DỆT TRUNG CỘNG và Bài 04/21.05.06: LIÊN ÂU TĂNG THUẾ HÀNG DA TỪ TRUNG CỘNG VÀ VIỆT NAM  , tôi đưa bằng chứng cụ thể về việc Hoa kỳ và Liên Aâu đã ngăn chặn những ký kết khi phải bênh vực quyền lợi Kinh tế của họ.

Từ những Bài trên, tôi rút ra những nguyên tắc sau đây:

=> Dù có hồ hởi ký kết Tự do Mậu dịch, nhưng điều ấy đừng làm mình quên rằng phải che chở những Kỹ nghệ mình vừa khai sinh và muốn phát triển (Protectionnisme des Industries naissantes)

=> Trong cuộc đấu võ (cạnh tranh), những người quá mạnh thuờng không tiêu diệt địch thủ còn quá non nớt, mà chính những người sàn sàn với nhau muốn giết nhau.

Thái Lan cạnh tranh
Nông nghiệp với Việt Nam

Vào WTO/OMC, Việt Nam muốn xuất cảng hàng Nông nghiệp và Hải sản. Nhưng hàng Nông nghiệp và Hải sản Việt Nam bị cạnh tranh trầm trọng bởi Thái lan vì những lý do sau đây:

=> Hai nước có những sản phảm Nông nghiệp giống nhau: Gạo, Hoa trái... Đầu tư vào việc phẩm chất hàng Nông nghiệp của Thái lan cao hơn gấp bội Việt Nam.

=> Tín nhiệm giao hàng của Thái lan cao hơn gấp bội Việt Nam. Đây là điều rất quan trọng trong Thương mại. Người mua hàng phải tôn trọng giao hàng cho khách. Vì vậy khi họ mua hàng của Việt Nam, họ đòi Việt Nam phải tôn trọng thời điểm giao hàng (Timing). Vì tham nhũng của Quan thuế hoặc Quotas của Công ty quốc doanh, mà phía Việt Nam không giữ “Timing“ giao hàng như quy định. Không ai có thể kiện Công ty quốc doanh vì đó là kiện đảng CSVN độc tài. Một số những Công ty Việt Nam hải ngoại muốn giúp Việt Nam, nhưng đành bó tay và phải mua hàng Thái lan. Klhối người Việt tỵ nạn đã làm giầu cho hàng Thực phẩm Thái Lan vì lý do này. Nước mắm (Tiếng Tây: Sauce NUOC MAM) là của Việt Nam, thế mà trong mấy chục năm trường, tôi phải ăn nước mắm “CON CÁ MỰC“ Thái lan.

Thái lan đã vào WTO/OMC trước mình lâu. Họ có tín nhiệm Quốc tế rồi, nên còn khá lâu mình mới cạnh tranh nổi họ về Nông nghiệp.

Trung cộng: so sánh sản xuất
Công nghệ với Việt Nam

Tôi xin nhắc lại đoạn đầu về cạnh tranh: “Người cao hẳn thì thường bỏ qua người cạnh tranh quá kém, nhưng người sàn sàn với nhau thì tìm cách giết nhau chí mạng“.  Cụ thể Công nghệ Hoa kỳ và Liên Aâu cao hẳn hơn Việt Nam, nhưng Công nghệ của Tầu và Việt Nam sàn sàn với nhau. Những điểm sau đây cho thấy Công nghệ Tầu và Việt Nam sàn sàn với nhau, mà Tầu cao hơn mình chút xíu, đó mới là cạnh tranh giết nhau nguy hiểm:

=> Sản phẩm Công nghệ (Produits Manufacturés)
Sản phẩm Công nghệ được xếp hạng từ những sản phẩm thô sơ xử dụng ngắn hạn (produits de consommation courante) đến những sản phẩm phức tạp (produits sophistiqués) tiêu thụ trung hạn hay dài hạn. Trung cộng và Việt Nam còn ở trong Công nghệ những sản phẩm xử dụng ngắn hạn như Quạt máy, Xoong chảo, Xe đạp, Phích nước... Về những hàng như vậy, Trung cộng hiện giờ cao hơn Việt Nam và được xuất cảng nhiều hơn đến nước ngoài.
 
=> Cơ sở sản xuất (Structure ou Installation de Production)
Cơ sở sản xuất cho những hàng Công nghệ thô sơ xử dụng ngắn hạn  chỉ ở trong những Đầu tư ngắn hạn hoặc tối đa là trung hạn. Trung cộng có ưu thế Đầu tư hơn Việt Nam vì họ có khối người khổng lồ để việc trả dần Đầu tư mau hơn (Amortissement plus rapide des Investissements).

=> Nhân lực sản xuất giống nhau (Même force humaine de production)
Hai nước cùng có một Nhân lực lao động giống nhau lấy từ Dân quê. Nhân lực này có khả năng làm việc giống nhau: kiên nhẫn, chịu khó, học hỏi mau về việc làm của mình...

=> Chế độ Chính trị—Pháp lý (Régime Politico—Juridique)
Trung Cộng và Việt Nam giống nhau

=> Hệ thống phân phối hàng hóa (Systeme de Distribution des Produits)
Việt Nam có khối người Việt tỵ nạn làm đầu cầu phân phối hàng hóa nếu Nhà Nước VN bỏ độc tài đảng trị. Trung quốc cũng có khối người Tầu ở Hải ngoại thiện nghệ về buôn bán và ít để ý đến khía cạnh Chính trị hơn người Việt Nam. Về thương mại, người Tầu Hải ngoại có phần hơn người Việt Nam.


Trung cộng và Việt Nam
trong cạnh tranh Quốc tế

Nói đến cạnh tranh Quốc tế, thì Trung cộng có những lợi điểm hơn Việt Nam về những khía cạnh sau đây:

=> Lợi điểm Chính trị (Avantage politique)
Khi Việt Nam vẫn còn giữ thể chế Cộng sản độc tài, thì thể chế này vẫn giống như Trung cộng. Trung cộng là đàn anh hay đúng hơn là bậc thầy. Quốc tế chơi vớ Thầy trước khi chơi với Trò. Tôi luôn luôn nói rằng Việt Nam phải thay đổi thể chế Chính trị khác với Trung cộng để tránh việc Quốc tế coi mình là chư hầu. Thực vậy, chơi với Thầy (Chủ), thì Trò (Chư hầu) phải theo.

=> Lợi điểm khả năng tiêu thụ (Avantage de capacité de consommation)
Trung cộng có khối người 1 tỉ rưỡi, trong khi ấy Việt Nam chỉ có khối người 80 triệu. Thương mại hiện hành là thương mại nhằm số đông. Chỉ cần ăn lời 5 cents trên 1 tỉ rưỡi người hơn là ăn 5 cents trên 80 triệu người:
 Trung cộng:  LỜI  =  5 cents   x   1'500'000'000 người   =   7'500'000'000 cents
 Viet Nam:     LỜI  =  5 cents   x       80'000'000 người   =      400'000'000 cents

=>  Lợi điểm giảm Giá thành (Avantage de Reduction du Prix de revient)
Không phải là phách lối, nhưng tôi thú nhận rằng tôi đã dậy học về Phân tích Chi tiêu Xí nghiệp Kỹ nghệ (Analyse  des Couts industriels) và Kế toán Kỹ nghệ (Comptabilité Industrielle) đã 30 năm rồi, nên tôi biết Giá thành hàng hóa là gì. Gía thành gồm:

*  Theo quan điểm Chi tiêu toàn diện (Full Cost):
    Giá thành sản xuất  =  Hàng mua  +  Nhân lực  +  Chi tiêu tổng quát
    Prix de Revient        =  Marìeres Premìeres  +  Main-d’Oeuvre  + Frais Généraux Fabrication

*  Theo quan điểm Giá trực chỉ lợi nhuận ( Direct Costing):
    Giá thành sản xuất  =  Chi tiêu cố định  +  Chi tiêu thay đổi
    Prix de revient         =  Cout Fixe  +  Cout Variable

Theo quan điểm thứ hai này, thì nếu muốn hạ Giá thành, thì phải tăng số lượng hàng sản xuất để giảm thiểu Chi tiêu cố định (Cout Fixe).

Tỉ dụ nếu Đầu tư vào Chi tiêu cố định (Cout Fixe) cho Cơ sở sản xuất (Installation de Production) là 5 triệu, mà Xí nghiệp chỉ sản xuất số lượng hàng hóa là 100 đơn vị, thì Chi tiêu cố định sẽ là:
                                    5'000'000.-
    Chi tiêu cố định  =   --------------   =   5'000 cho mỗi đơn vị sản xuất
                                        100

Nhưng nếu Xí nghiệp sản xuất 100'000 đơn vị, thì Chi tiêu cố định sẽ là:

                                    5'000'000.-
    Chi tiêu cố định  =   --------------   =  50 cho mỗi đơn vị sản xuất
                                     100’000

Với số lượng Dân 1 tỉ rưỡi, Trung cộng có khả năng tăng số lượng sản xuất hàng hóa như ý muốn bởi vì nếu xuất cảng không được thì Nhà Nước bắt Dân phải tiêu thụ dưới hình thức trả lương bằng hàng hóa.

Giá thành của Trung cộng phải giảm hơn Giá thành của Việt Nam để cạnh tranh Quốc tế vậy.

Trung cộng diệt Công nghệ Việt Nam
chính trong nội địa Việt Nam

Không phải chỉ nguyên vấn đề Trung cộng có ưu thế cạnh tranh đối với hàng Việt Nam trên Thị trường Quốc tế, mà Trung cộng sẽ diệt Công nghệ Việt Nam trong chính  nội địa của xứ sở mình.  Những lý do sau đây cho thấy việc Trung công diệt Việt Nam về Công nghệ:

Hiện giờ thì hàng hóa Trung cộng đang diệt hàng hóa Việt Nam trên lãnh thổ mình. Khi vào WTO/OMC với Tự do Mậu dịch rồi, thì hàng Công nghệ Trung cộng càng diệt hàng Công nghệ Việt Nam hơn nữa:

=>  Vào WTO/OMC, tức là chấp nhận Tự do Mậu dịch (Libre Echange), nghĩa là hàng hóa của Trung cộng tự do vào Việt Nam.

=>  Nếu Việt Nam chấp nhận cho Trung cộng Điều khoản Quốc gia có ưu tiên nhất (Clause de la Nation la plus favorisée), thì Điều klhoản này càng làm cho hàng hóa Trung cộng hoành hành với ưu tiên ở Việt Nam. Điều khoản này Việt Nam dễ dàng cho Trung cộng vì Chính trị Việt Nam là lệ thuộc Trung cộng.

=>  Phẩm chất hàng hóa của Trung cộng xấp xỉ cao hơn phẩm chất hàng hóa của Việt Nam, nên Dân chấp nhận lựa chọn.

=> Giá thành, rồi Giá bán thấp hơn Việt Nam. Với phẩm chất hàng hóa cao hơn và nhất là với Giá bán thấp hơn do Giá thành, thì đó đoàn quân Tầu tràn vào để diệt Công nghệ và Kinh tế Việt Nam vậy.


Đây là việc tối quan hệ. Phải có Hội Nghị Diên Hồng, một Trần Hưng Đạo, một Lê Lợi về Kinh tế để làm thế nào chặn đứng cuộc Xâm lăng Kinh tế, Thương mạiu của Bắc phương.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 
   



xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Tro ve/ Back to/ Retour:
==> MUC LUC CHINH CUA DIEN DAN/ MAIN MENU OF WEBSITE
==>
MUC LUC cua Chuong nay/ MENU of this current Chapter.


 
Top