*VietTUDAN ---- FINinfo@
*VTD-TUẦN BÁO/ Weekly
LOẠT BÀI QUAN ĐIỂM
Năm 2011-Tháng12-10
Năm 2011-Tháng09-07
Năm 2011-Tháng06-04
Năm 2011-Tháng03-01
Năm 2010-Tháng 12-07
Năm 2010-Tháng 06-01
Năm 2009-Tháng 12-07
Năm 2009-Tháng 06-01
Năm 2008-Tháng 12-01
Năm 2007-Năm 2006
Năm 2005-Năm 2004
Năm 2003-Năm 2001
L.B. NHẬN ĐỊNH THỜI SỰ
Năm 2011-Tháng12-10
Năm 2011-Tháng09-07
Năm 2011-Tháng06-04
Năm 2011-Tháng03-01
Năm 2010-Tháng 12-07
Năm 2010-Tháng 06-01
Năm 2009-Tháng 12-07
Năm 2009-Tháng 06-01
Năm 2008-Tháng 12-01
Năm 2007-Năm 2005
Năm 2004-Năm 2001
L.B.TIN NGẮN BÌNH LUẬN
Năm 2011-Tháng12-10
Năm 2011-Tháng09-07
Năm 2011-Tháng06-04
Năm 2011-Tháng03-01
=>Số/No.485/10.03.11
=>Số/No.484/03.03.11
=>Số/No.483/24.02.11
=>Số/No.482/17.02.11
=>Những Số ĐẶC BIỆT
*VTD-NHÂN & DÂN QUYỀN
*VTD-KINH TẾ/ TÀI CHÁNH
*VTD-CHÍNH TRỊ/ĐẢNG PHÁI
*VTD-XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP
*VTD-TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI
*VTD-TUSACH/LIBRARY/BIBL
=>01:Lịch Sử Kháng Chiến VN
=>02:Dứt Bỏ CS để Phát Triển
=>03:Khủng Hoảng TCKT 07/08
=>04:Việt Nam Hội Nhập WTO
=>05:Dân Chủ Hóa Kinh Tế
=>06:Dân Nổi Dậy Dứt Bỏ CSVN
=>07:Dân Oan Ức Nổi Dậy
=>08:Cách Mạng Hiến Pháp VN
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN-LinhTinh/Varieties
VTD&FIN-ĐỘC GIẢ/Readers
VTD&FIN-GẶP GỠ/Meeting
VTD&FIN-LƯU TRỮ/Archives
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


                 














                       
.


================ Chu De HOANG SA-TRUONG SA ===================
                                           vtdTAP01/27.12.2006 
==============================================================


Lap truong dut khoat ve CSVN va Tau xam lang  
TU TINH THAN DIEN HONG RUT RA LAP TRUONG DUT KHOAT                      02

Cong san ban nuoc va Tau xam lang  
HO CHI MINH & CSVN  PHAN QUOC                                                             08
TAU TU TUYEN BO VE HAI PHAN                                                                  09
CONG HAM DANG NUOC KY BOI PHAM VAN DONG                                      10
NHUNG KHANG DINH DANG NUOC                                                               11
TAU TUYEN BO QUAN LY HOANG SA-TRUONG SA                                        12
BAC KINH BAC BO PHAN DOI CUA HA NOI                                                   13  
   
Nhung cuoc bieu tinh tai Quoc noi  
NGAY 09.12.2007
:
BIEU TINH CUA GIOI TRE TAI HA NOI VA SAI GON           14
BAO NOI LEN ROI                                                                                         15
BAN TIN CUA CHUNG NHAN LICH SU                                                            20
TIN AFP VA BINH LUAN VE BIEU TINH TAI HA NOI                                        21
LOI KE CUA MOT SINH VIEN TAI SAI GON                                                    22
TRUNG CONG RA LENH CHO CSVN DEP BIEU TINH                                     25
NGAY 16.12.2007: BIEU TINH TAI HA NOI VA SAI GON                                  26
TRUNG CONG LUON THUC GIUC CSVN DEP BIEU TINH                                27
THEO LENH CUA TAU, CSVN THUC SU NGAN CHAN BIEU TINH                     28   

Phan ung cua dan Viet noi ngoai  
SAI GON: MOT NGUOI BO UAT UC                                                                 33
TUYEN CAO CUA CONG DONG VN TAI UC CHAU                                          34
90 DOAN THE NGUOI VIET HAI NGOAI DONG KHANG DINH                           36 
   
Nhung bang chung Chu quyen tren Hoang Sa va Truong Sa  
NOI VOI GIOI TRE VE BIEN DONG                                                                 38
HOANG SA VA TRUONG SA CHUA BAO GIO LA LANH THO CUA TAU              51
HOANG SA VA TRUONG SA MAI MAI LA LANH THO CUA VIET NAM                56 
    
Thai do dut khoat cua Dan Toc Viet Nam  
LAP TRUONG CUA NGUOI VIET TAI UC:CSVN PHAN BOI TO QUOC               58
4 TOI PHAN BOI TO QUOC CUA CSVN                                                           59
TRUNG QUOC VA PHAN QUOC                                                                      67
PHAI DIET KE BAN NUOC TRUOC                                                                  72 
    
Nhung bai Nhan dinh  
TAI SAO VIET NAM THICH HAY KHONG THICH TAU ?                                    74
VIET CONG HEN, TUOI TRE VIET NAM KHONG HEN                                      79
DAN CHU LA SUC MANH CHONG NGOAI XAM                                               81
TAM SA CHI DIEN NGHIA                                                                              85

Nhung Mat Tran cu the tan cong CSVN  
DANH CSVN O NHUNG DIEM KHONG THE CHOI CAI DUOC                           89


 

  
                                        TỪ TINH THẦN DIÊN HỒNG 
                                 RÚT RA LẬP TRƯỜNG DỨT KHOÁT
                                             


                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Bài này viết lên Lập trường của chúng tôi VietTUDAN như thế nào trước những vấn đề đang được đặt ra như sau:

* Thái độ nào đối với việc Tầu xâm lăng Trường Sa và Hoàng Sa ?
* Thái độ nào đối với Công Hàm ký bởi Phạm Văn Đồng ?
* Uûng hộ những cuộc Biểu Tình của Sinh viên Học sinh Quốc nội như thế nào ?
* Hành động cụ thể ra sao của người Việt tại Hải ngoại ?

Để trả lời cho những câu hỏi ấy, chúng tôi xin bàn những điểm sau đây:

=> Dịp Hợp nhất Tinh thần Dân tộc
=> Tinh thần Hội nghị Diên Hồng xưa và nay
=> Lấy Lập trường, Thái độ dứt khoát


Dịp Hợp nhất Tinh thần Dân tộc

Chúng tôi rất ít khi viết những bài kêu gọi sự Đoàn Kết và cũng ít khi than phiền về những chia rẽ vì chúng tôi xác tín rằng việc Đoàn Kết thực sự không đến từ những lời kêu gọi, nhất là những lời kêu gọi lại mang tính cách phô trương Luân lý, Dậy đời, nhất là còn được xử dụng như bình phong che đậy những mục đích riêng tư. Cũng vậy, mỗi cá nhân có toàn quyền sống cho mình, miễn là phải tôn trọng cá nhân khác cũng muốn sống trước hết cho cá nhân họ. Khi mỗi người sống cho cá nhân mình, điều đó chưa tất nhiên là chia rẽ. Việc muốn Đoàn Kết, Hợp lại, Tìm đến với nhau chính yếu là ở chỗ những cá nhân có MỤC ĐÍCH giống nhau hay không. Thực vậy, khi cùng có một ĐÍCH, thì lúc ấy tự nhiên tìm tới nhau, nương tựa nhau để cùng làm việc chung mong đạt MỤC ĐÍCH cho hữu hiệu hơn.

Trước cảnh Tầu xâm lăng Hòang Sa và Trường Sa, những người mang dòng máu Việt, cùng được thừa hưởng đất đai và biển cả do cùng một Tổ Tiên để lại, cùng mang truyền thống suy nghĩ và phản ứng thừa hưởng từ Oâng cha, bây giờ thấy mất mát, thì đây là dịp có thể đi đến một sự Hợp nhất, Đoàn kết Dân tộc. Hội nghị DIÊN HỒNG thời Vua TRẦN NHÂN TÔN đã thể hiện một sự Hợp nhất toàn vẹn. Trước cảnh Tầu xâm lăng hiện nay, Dân tộc Việt, nội cũng như ngoại, có cơ hội thể hiện một tinh thần DIÊN HỒNG thứ hai mà Tổ Tiên chúng ta đã nêu gương cách đây gần 800 năm.


Tinh thần Hội nghị Diên Hồng xưa và nay

Hội nghị DIÊN HỒNG xưa đã được thực hiện toàn vẹn. Chúng ta muốn có một tinh thần DIÊN HỒNG ấy, nhưng liệu ngày nay, Dân tộc có thể thực hiện được không ? và trong những điều kiện nào ?

Hội nghị DIÊN HỒNG xưa

Vua TRẦN NHÂN TÔN là một vị vua thông minh, đầy lòng thương Dân, được các tôi trung hết lòng kính phục và hợp tác. Vua hiểu rõ bụng dạ của quân Tầu đảo điên, đã không ưng thuận cho quân Tầu muốn mượn đường đi đánh Chiêm Thành để xâm chiếm nước ta. Kinh nghiệm để trối trăn:

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :
“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: 

"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". 
Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“

(Trần Nhân Tôn)

Sứ của Tầu là Sài Thung sang nước ta hống hách, trịch thượng đối với Vua. Vua TRẦN NHÂN TÔNG vẫn nhũn nhặn xử sự vì biết quân binh của Tầu mạnh, nhưng vẫn giữ tiết thế của Vị Vua của một nước dù là nhỏ. Vua Tầu nằng nặc bắt Vua nước ta phải đích thân sang Trung quốc để chầu. Nhưng Vua TRẦN NHÂN TÔN tìm mọi cách từ chối không đi vì đó là sĩ diện của một Vị Vua và của một Nước phải chứng tỏ Độc lập. Ngài nói với Sài Thung: “Quả nhân xưa nay sinh trưởng ở trong cung không quen phong thổ, không thể nào đi được.“ Vua TRẦN NHÂN TÔN chỉ  sai Chú của mình là Trần Di Aùi sang Tầu đi Sứ, thay cho mình.

Vua Tầu muốn mượn cớ này và mượn Trần Di Aùi để can thiệp vào việc phế bỏ nội bộ của Việt Nam. Từ đó, Vua Tầu sai đại binh sang với chủ đích thôn tính nước ta.

Vua TRẦN NHÂN TÔN phong cho TRẦN QUỐC TUẤN làm HƯNG ĐẠO Đại Vương lo chuyện chống đỡ. Thoát Hoan tiến quân xâm lăng nước ta. Trong tình thế như vậy, Vua TRẦN NHÂN TÔN  đã triệu tập các bô lão dân gian, hội lại tại điện DIÊN HỒNG để hỏi ý Dân là nên chiến hay nên hòa. Các bô lão dân gian đều một lòng hô to: “QUYẾT ĐÁNH, QUYẾT ĐÁNH“.

Mặc dầu vậy, Vua vẫn lo lắng ngày đêm vì thương dân bị giết hại, nhất là khi thấy Hưng Đạo Vương bị lui về Vạn Kiếp trước sức tiến quân của Thoát Hoan lần thứ nhất. Lo lắng cho Dân, nên Vua đã đích thân đi chiếc thuyền nhỏ đến Hải Đông (Hải Dương) để hỏi Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN:  Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là Trẫm chịu hàng đi để cứu muôn dân“. Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN hết lòng cương quyết trả lời: “Bệ hạ nói như vậy thì thật là lời nhân đức, nhưng mà Tôn Miếu, Xã Tắc thì sao ? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau sẽ hàng“.

Lòng vua thương Dân thực tình. Lòng quân sĩ hết mực trung thành gắn bó. Lòng Dân quyết chống ngoại xâm. MỤC ĐÍCH từ Dân đến Quân tướng và Vua là nhất thống, một mực chống xâm lăng. Đó là sự HÒA HỢP nhất thống, sự ĐOÀN KẾT một lòng. Cái sức mạnh thể chất là một phương diện khác. Trong một thân xác yếu đuối, có thể có một ý chí sắt đá, một tinh thần mạnh mẽ bền bỉ. Hội Nghị DIÊN HỒNG là một TINH THẦN, một Ý CHÍ nhất quyết đánh xâm lăng, ngay lúc này, hoặc trong 10 năm, 100 năm, 1000 năm sau.

Mặc dầu nước yếu, nhưng sự HÒA HỢP, sự ĐOÀN KẾT và lòng NHẤT QUYẾT  đã đưa đến kết quả: Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để thoát thân về Tầu !

Một Hội nghị DIÊN HỒNG ngày nay

Trước việc xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa, tất cả người Việt trong cũng như ngoài nước muốn tiến đến với nhau để có một Hội Nghị DIÊN HỒNG như thời Tổ Tiên của chúng ta. Nhưng để có được một tinh thần Diên Hồng thời Vua TRẦN NHÂN TÔN, chúng ta phải xét những hoàn cảnh hiện nay xem có thể hội đủ những điều kiện như hồi ấy không. Nếu vẫn một ý chí quyết tiến đến sự Hòa Hợp, Đoàn Kết, thì chúng ta phải dứt khóat và cương quyết tạo những điều kiện để có thể tiến tới Hội Nghị DIÊN HỒNG . Hoàn cảnh hiện nay như sau:

=> Đối với Trung Cộng, CSVN, bọn nắm quyền hành độc đoán không mang trong lòng cái MỤC ĐÍCH duy nhất là chống xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc như Vua Trần Nhân Tôn. Chúng tính toán Trung Cộng cho cái lợi riêng của băng đảng của chúng, chứ không phải vì quyền lợi tối thượng của Tổ quốc.

=> Không những không mang MỤC ĐÍCH chống xâm lăng, mà chúng, từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và bè lũ cầm quyền còn đi bán nhượng Đất và Biển để mua súng đạn về giết chính dân Việt mình, để cầu vinh cho băng đảng và cho cá nhân mỗi người. Không thể chối cãi được cái tội phản quốc từ Công Hàm do lệnh của Hồ Chính Minh và ký bởi Phạm Văn Đồng. Vua Trần Nhân Tôn cầm quyền cai trị, nhưng không làm như vậy

=> Không những ký Công Hàm phản quốc, mà cả đồng bọn cầm quyền độc tài, khi nghe lệnh Tầu Cộng phán ra, thì chúng sợ run lây bẩy, thưa dạ răm rắp. Hãy nhìn gương Vua Trần Nhân Tôn đối với vua Tầu, đối với Sứ thần Sài Thung của Tầu.

=> Từ những chục năm trường dưới quyền cai trị của băng đảng CSVN độc tài cho đến nay, tinh thần quật khởi của Dân chúng, nhất từ giới Trẻ là sức chính vươn lên của Dân tộc, bị băng đảng CSVN dùng đủ mọi hình thức khủng bố để tiêu diệt bởi vì chúng sợ rằng nếu để tinh thần quật khởi tồn tại trong dân chúng, thì quyền hành độc tài của chúng bị đe dọa.

=> Những cán bộ CSVN, từ các cấp mang nhiệm vụ điều hành công việc Quốc gia và trách nhiệm điều động tinh thần dân chúng, không nhất quyết cùng một Mục Đích chống xâm lăng, mà chúng chỉ nghĩ đến túi tiền riêng của chúng, tìm cách cho thoát tài sản ra nước ngoài. Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN , qua bài Hịch, đã bầy tỏ nỗi băn khoăn duy nhất là chống xâm lăng Tầu để cứu nước khỏi hoạn nạn.

=> Đối với Dân, thì CSVN không những không tôn trọng Dân để Dân thương, mà tìm hết cách để ăn cướp, bóc lột của cải của Dân. Dân có bị oan ức kêu than lên, thì chúng thẳng tay đàn áp. Làm thế nào Dân có thể ủng hộ chúng với những tiếng quyết liệt như Hội Nghị DIÊN HỒNG cách đây gần 800 năm.

=> Tuổi trẻ, Sinh viên Học sinh muốn nhen nhún lên để nói những tiếng của Hội Nghị DIÊN HỒNG thuở xưa, thì chúng ngăn cấm, bắt bớ theo lệnh của chủ Tầu Cộng. Thực vậy, Sinh viên Học sinh vừa đứng lên biểu tình, thì chúng đã cho lực lượng Công an diệt tinh thần vùng dậy này để chết trong trứng nước. Đây là một trọng tội đối với Tổ Tiên và Dân tộc, phạm chính đến Tinh thần DIÊN HỒNG.

Thêm vào đám cầm quyền độc tài (Vua) CSVN khắt máu này, còn có những kẻ nịnh thần vây quanh để mong theo đóm ăn tàn. Đám người theo đóm ăn tàn này gồm từ những Lãnh đạo Tôn giáo (đám ngợm giáo gian quốc doanh) hay những Trí thức Chính trị xôi thịt (đám hô hào Hòa Hợp Hòa Giải giả tạo), đứng chính trong hàng ngũ chúng ta, nhưng len lỏi chui rúc liếm trôn đám CSVN tội phạm bán nước. Đám liếm trôn này một đàng đứng trong hàng ngũ chúng ta để bàn rùn cái ý chí quyết tâm chống xâm lăng, một đàng đi tâng bốc, luồn trôn đám bán nước để đám này tiếp tục tội phản quốc.

Trong khung cảnh xã hội dân sự và tương giao quyền hành như vậy, thì không thể đạt tới Tinh thần DIÊN HỒNG xưa thiết cần cho công cuộc đuổi ngoại xâm bảo toàn lãnh thổ. Vì vậy để có thể đạt được Tinh thần DIÊN HỒNG theo gót Tổ Tiên, chúng ta trước hết phải tạo những điều kiện thực hiện được khung cảnh xã hội dân sự và tương giao quyền hành như thời Vua TRẦN NHÂN TÔN, nghĩa là người có quyền biết thương yêu Dân để Dân một lòng hợp tác với quyền hành, người hành xử việc công phải biết vì Dân, vì Đất Nước mà làm việc cho hữu hiệu ích Quốc, lợi Dân.


Lấy Lập trường, Thái độ dứt khoát

Lập trường của chúng tôi, Tuần báo Điện tử VietTUDAN và của chính cá nhân Nguyễn Phúc Liên, không phải là điều gì mới mẻ từ không trung rơi xuống, mà nó chỉ đơn giản là hệ luận từ những gì vừa mới phân tích trên đây, nghĩa là từ Tinh thần DIÊN HỒNG cách đây gần 800 năm.  Những tiếng “Quyết Đánh ! Quyết Đánh!“ của các bô lão là sự bầy tỏ ra trong lúc hữu sự trước việc Thoát Hoan dàn binh xâm lăng. Nhưng những tiếng hô ấy đã sống tiềm tàng từ lâu đời trong Tinh thần người Việt. Chúng ta gọi đây là TINH THẦN QUẬT KHỞI ĐẤU TRANH ĐỂ SINH TỒN của nòi giống Việt. Không có tinh thần này triền miên, thì Việt Nam lúc này có lẽ chỉ là một Tỉnh như Quảng Đông, Quảng Tây... và người Việt chúng ta ăn nước tương chứ không ăn nước mắm, nói chuyện với nhau bằng tiếng Ngộ, Nị... chứ không bằng tiếng Anh, Tôi... Truyền thống Quật khởi Đấu Tranh để Sinh Tồn đã được un đúc nên từ ý chí của dòng giống Việt Anh dũng triền miên được lúc lúc nổi dậy khi cần như Hai Bà Trung, Bà Triệu, Ngô Quyền...và theo giòng Lịch sử, có thêm Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, rồi Lê Lợi, Quang Trung Nguyễn Huệ và ngay gần đây hơn có trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.

Để có thể thực hiện một TINH THẦN DIÊN HỒNG như thời Vua TRẦN NHÂN  TÔN, một sự HÒA HỢP Dân tộc đích thực, một sự ĐOÀN KẾT chân chính, Lập trường và Thái độ dứt koát của chúng tôi là:

1) Phải loại bỏ hẳn những kẻ đã bán Đất và Biển của Tổ quốc ra khỏi việc lãnh đạo công cuộc chống xâm lăng của Tầu nói riêng và ra khỏi việc lãnh đạo dân chúng nói chung. Những kẻ đã bán Đất và Biển ấy là đảng Cộng sản Việt nam. Việc bán Đất và Biển đã được quyết định bởi chính Hồ Chí Minh và Công Hàm phản quốc công khai được ký bởi Phạm Văn Đồng. Đảng CSVN, trong nhiều chục năm trường, vẫn tục việc phản bội Tổ quốc và bằng chứng cụ thể nhất là hiện nay đảng CSVN theo lệnh của Tầu để dẹp những cuộc biểu tình chống xâm lăng của Tầu. Do đó:

* Việc loại kẻ bán bán Đất và Biển ra khỏi việc lãnh đạo công cuộc chống xâm lăng là lẽ đương nhiên. Không thể giao cho kẻ cướp việc lãnh đạo chống cướp.

* Việc loại kẻ bán Đất và Biển ra khỏi việc lãnh đạo dân chúng cũng là điều hữu lý bởi lẽ công cuộc vận động quần chúng cho Tinh thần Đoàn Kết, Hòa Hợp DIÊN HÒNG cần những người mà dân tin tưởng vào lòng trung thực, biết kính trọng và yêu mến dân, trong khi ấy CSVN, một mặt đã là kẻ phản quốc, một mặt đã luôn luôn dùng sức mạnh khủng bố để đàn áp dân. Dân hết còn tin tưởng vào CSVN và vì vậy không thể để CSVN ở vị trí lãnh đạo quần chúng vậy.

2) Đối với những kẻ đã từng nịnh bợ hay làm tay sai cho CSVN như đám ngợm Giáo gian quốc doanh hoặc những Trí thức Chính trị theo đóm ăn tàn, chúng ta cũng phải loại ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo công cuộc chống xâm lăng bởi vì chúng có thể trá hình đứng cùng chiến tuyến với chúng ta, nhưng chúng lại ngầm đi luồn trôn kẻ bán nước làm hại nỗ lực chống ngoại xâm của toàn dân.

Tuy nhiên đối với những lãnh vực chuyên môn như hành chánh, trật tự công cộng, kỹ thuật, cơ cấu tổ chức vẫn giữ vì như cầu hiện tại miễn là những lãnh vực ấy không bị Chính trị CSVN chỉ đạo.

3) Đặc biệt đối với Quân đội, chúng ta yêu cầu Quân đội làm đúng nhiệm vụ của mình, nghĩa là phi Chính trị, mà chỉ chú tâm lo công việc Quốc phòng. Việc chống xâm lăng hiện nay, theo tinh thần DIÊN HỒNG, đòi chính Quân đội, với sứ mệnh Quốc phòng, phải nhất thiết loại bỏ những kẻ bán nước, nghĩa là những kẻ đã dẩn lối cho ngoại xâm phạm vào việc Quốc phòng. 

4) Trong ý chí phải tiến tới thực hiện Tinh thần DIÊN HÔNG của Tiền nhân để HÒA HỢP, ĐOÀN KẾT Dân tộc thực sự hầu đuổi quân Tầu xâm lăng ra khỏi bờ cõi, Toàn Dân mọi giới, không phân biệt Tôn Giáo, Chính trị hay Sắc Tộc, phải được Tự do triển nở Tinh thần DIÊN HỒNG trong chính con người của mình mà Truyền Thống Dân Tộc Quật khởi Đấu Tranh để Sinh Tồn vẫn triền miên sống trong mỗi người. Mọi người tương kính nhau, nâng đỡ nhau để triển nở Tinh thần DIÊN HỒNG làm sức mạnh đuổi quân xâm lăng như cha ông mình đã làm.  Chúng ta phải hết lòng cổ võ mọi người Việt bầy tỏ lòng yêu Quê Hương, chống lại kẻ xâm lăng. Mọi hành động ngăn cản sự biểu lộ Tinh thần DIÊN HỒNG trong mục đích chống xâm lăng đều được coi là việc làm phản quốc.  

5) Tiến đến thành lập một BAN CHỈ ĐẠO DÂN SỰ TỐI CAO gồm những người được Dân nể trọng, trong cũng như ngoài nước, nhưng không có những kẻ đã phạm tội bán nước trực tiếp hoặc những thành phần nịnh bợ, tiếp tay cho kẻ bán nước. Ban Chỉ Đạo Dân Sự Tối Cao này có nhiệm vụ lãnh đạo việc phát triển Tinh thần DIÊN HỒNG Hòa Hợp, Đoàn Kết Dân tộc thực sự thiết cần cho tổ chức thực hiện việc tôn trọng Nhân phẩm và bảo đảm Nhân quyền. Có như vậy Toàn dân mới đủ sức mạnh đuổi được xâm lăng, dù phải trường kỳ 10 năm, 100 năm hay 1000 năm .


Hội Nghi DIÊN HỒNG mang đến cho chúng ta một Tinh thần HÒA HỢP thực sự, một sự ĐOÀN KẾT chặt chẽ và một ÝCHÍ CHỐNG NGOẠI XÂM sắt đá, nhất là đối với Tầu.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
 




===============TỘI BÁN ĐẤT TỔ TIÊN ĐỂ CẦU VINH, ==================
                            TRỜI KHÔNG THA, ĐẤT KHÔNG DUNG





Trong phần THỜI SỰ/THÔNG TIN này chúng tôi xếp những bài theo nội dung như sau:

• CSVN BÁN NƯỚC VÀ TẦU CÔNG KHAI CHIẾM HÒANG SA-TRƯỜNG SA
• NHỮNG CUỘC BIỂU TÌNH TẠI QUỐC NỘI VÀ THÁI ĐỘ CỦA CSVN
• PHẢN ỨNG TỔNG QUÁT CỦA KHỐI NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI
• NHỮNG BẰNG CHỨNG CỦA CHỦ QUYỀN VIỆT NAM
• LẬP TRƯỜNG DỨT KHOÁT: DIỆT KẺ BÁN NƯỚC, ĐUỔI QUÂN XÂM LĂNG
• NHỮNG BÀI BÌNH LUẬN

 


===CSVN BÁN NƯỚC VÀ TẦU CÔNG KHAI CHIẾM HÒANG SA-TRƯỜNG SA===


CÔNG HÀM BÁN NƯỚC
CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CSVN

 
!!! CS Việt Nam sau khi chiếm Miền Nam vào năm 1975 có trên 102 đảo nhỏ thuộc Trường Sa & Hoàng Sa của VNCH để lại .

!!! Năm 1988 bị Trung Quốc Chiếm hết còn lại 90 đảo

!!! Năm 2007 Việt Nam chỉ còn 21 đảo còn lại thuộc chủ quyền và có khuynh hướng bị Trung Quốc chiếm dần . Đảo Ba Đình vừa bị chiếm năm 2005 là một thí dụ .


Đây Là Công Hàm Bán Nước Của Việt Gian Cộng Sản!

Ngày 14 tháng 09 1958, thủ tướng Việt gian cộng sản Phạm Văn Đồng ký công hàm nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng dựa theo bản tuyên bố ngày 4 tháng 09, 1958 của Trung Cộng.

Xin quý bạn đọc xem kỹ bản tuyên bố ngày 4 tháng 09, 1958 của Trung Quốc trong hình đính kèm. Bản tuyên bố này nói rất rõ là Tây Sa = Hòang Sa, và Nam Sa = Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Cộng!

 
CÔNG HÀM KÝ BỞI PHẠM VĂN ĐỒNG
          
Thủ Tướng Phủ
Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà

Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:
Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.

Kính gửi:                                           Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958.
Đồng chí Chu An Lai                                            (Ấn ký) 
Tổng lý Quốc vụ viện                                      PHẠM VĂN ĐỒNG
Nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa               Thủ tướng Chính Phủ
tại BẮC KINH                                           Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa
  
  




BẢN TỰ TUYÊN BỐ CỦA TRUNG CỘNG
NGÀY 04.09.1958 VỀ HẢI PHẬN
Trang Luật-học http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm

Dịch ra Việt-ngữ

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải
(Được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Đài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc

http://www.trungtamdukien.org/article.php?id_article=1028


Chú thích:
Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands
Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands

 




NHỮNG KHẲNG ĐỊNH BÁN NƯỚC


Khẳng định ngày 15.06.1956

Ngày 15 tháng 6 năm 1956, hai tuần lễ sau khi Việt Nam Cộng Hoà (RVN) tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (DRV) đã nói với Ban Thường Vụ của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (PRC) rằng “theo những dữ kiện của Việt Nam thì quần đảo Hoàng Sa (Xisha) và quần đảo Trường Sa (Nansha) là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc” . Hai năm sau đó, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đã ra bản tuyên bố xác định lãnh hải của họ. Bản tuyên bố này đã vạch ra rõ ràng cái khoảng khu vực của lãnh thổ Trung quốc có bao gồm cả Trường Sa . Để đáp lễ, Thủ tướng Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (DRV), Phạm Văn Đồng đã gởi một bản công hàm đến Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai, nhấn mạnh rằng “Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định này

Tài liệu Bộ Ngoại giao Trung quốc

Theo tài liệu "Chủ quyền tuyệt đối của Trung Quốc trên Quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa "của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (Beijing Review, Feb. 18, 1980), Hà Nội đã "dàn xếp" vấn đề này trong quá khứ. Đại khái họ đã bảo rằng:

- Hồi tháng 6 năm 1956, hai năm sau ngày chính phủ của Hồ Chí Minh đã tái lập tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Bắc Việt Ung Văn Khiêm đã nói với Li Zhimin, Thường vụ viên của Toà Đại Sứ Trung quốc tại Bắc Việt, rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc".

- Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chính phủ Trung quốc đã tuyên bố bề rộng của lãnh hải Trung quốc là mười hai hải lý, được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, "bao gồm ... Quần Đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa ...". Mười ngày sau đó, Phạm Văn Đồng đã ghi rõ trong bản công hàm gởi cho Chu An Lai, rằng "Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về vấn đề lãnh hải.

Tạp chí Kinh tế Viễn Đông

Cũng trong Tạp chí Kinh tế Viễn Đông số tháng 3 năm 1979, trang 11.
Hồi tháng 9 năm 1958, khi Trung Quốc, trong bản tuyên bố của họ về việc gia tăng bề rộng của lãnh hải của họ đến 12 hải lý, đã xác định rằng quyết định đó áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một lần nữa Hà Nội đã lên tiếng nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên 2 quần đảo đó. Ông Phạm Văn Đồng đã ghi nhận trong bản công hàm gởi cho lãnh tụ Trung Quốc Chu An Lai ngày 14/9/1958: "Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc" (xem Beijing Review 19/6/1958, trang 21 -- Beijing Review 25/8/1979, trang 25 -- Sự tồn tại của bản công hàm đó và tất cả nội dung đã được xác nhận tại Việt Nam trong BBC/FE, số 6189, ngày 9/8/1979, trang số 1.)

Việt Nam Cộng Hòa quyết giữ Chủ quyền,
Cộng sản Miền Bắc phản bội

Vào năm 1957 khi Trung quốc phản đối sự chiếm đóng của Việt Nam tại đảo Robert, thì chính quyền Sài Gòn đã hoàn toàn kiểm soát hai đảo khác trong nhóm Crescent: đảo Pattle và đảo Money. Ba (3) đảo mà Nam Việt Nam chiếm giữ nằm bên phía tây của nhóm Crescent. Rồi đến tháng 8 năm 1958, chính quyền Saigon chiếm giữ đảo Duncan nằm bên khu vực phía đông của nhóm đảo Crescent, đối diện với nhóm Amphitrite. Hai tuần sau đó, chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố chủ quyền của họ trên toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa. Họ đã được sự ủng hộ của Bắc Việt
 





TRUNG QUỐC QUẢN LÝ
HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

TQ Nâng Cấp Huyện Quản Lý 2 Đảo Trường Sa, Hoàng Sa
Việt Báo Thứ Ba, 12/4/2007, 12:02:00 AM


HÀ NỘI- Nhà nứơc CSVN có vẻ xem như là các đảo Trường Sa và Hoàng Sa khó có cơ hội đòi lại nổi.

Theo Thông tấn xã nhà nước TTXVN, ngày 3/12/2007, trả lời câu hỏi của phóng viên TTXVN đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam về tin Quốc Vụ Viện Trung Quốc vừa phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý 3 quần đảo trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao CSVN Lê Dũng phát biểu như sau: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Việt Nam phản đối việc Trung Quốc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý 3 quần đảo trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không phù hợp với nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên."






BẮC KINH BÁC BỎ
SỰ PHẢN ĐỐI CỦA HÀ NỘI
 
DCVOnline – Tin ngắn


Trung Quốc gạt qua một bên sự phản đối của Việt Nam và tái xác nhận chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa

Bắc Kinh, Trung Quốc - Bắc Kinh lên tiếng hôm thứ Ba cho rằng Hà Nội phản đối chuyện hải quân Trung Quốc thao diễn quân sự ở quần đảo Hoàng Sa (Paracel) tuần trước là “vô căn cứ”, và Bắc Kinh tái xác nhận chủ quyền của mình trên quần đảo này.

“Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với quần đảo Xisha này… Trung Quốc và Việt Nam không có gì để tranh cãi trong chuyện này,” phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc ông Qin Gang nói như trên.

Cũng cần nhắc là tuy cùng nói về một quần đảo, nhưng Trung Quốc dùng chữ “Xisha” và Việt Nam lại dùng chữ Hoàng Sa hay Paracel khi họ nói đến quần đảo này.

Ông Qin Gang còn nói thêm: “Cuộc thao diễn quân sự thường lệ ở vùng biển chung quanh quần đảo Xisha là những hoạt động bình thường của hải quân Trung Quốc trong vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Sự phản đối của Việt Nam là vô căn cứ và vô lý.”

Cho đến khi bản tin này đến với bạn đọc DCVOnline, các báo chí trong nước vẫn chưa có báo nào đưa tin. Và ngay cả sự phản đối cuộc thao diễn quân sự này của Hà Nội tuần rồi cũng rất yếu ớt, và sự phản đối này được đưa với một bản tin rất ngắn thoạt đầu đi trên Thông Tấn Xã Việt Nam và sau đó được một vài tờ báo mạng khác đăng lại một cách nhạt nhòa như không muốn người dân đọc và biết đến!

Điều này khác hẳn với Nhật Bản chẳng hạn, như cách đây ba tuần, hôm 5 tháng Mười Một, khi phó Thủ tướng Nga Sergei Naryshkin đến Nhật Bản để giải quyết chuyện tranh chấp quần đảo Kuril giữa hai nước ở vùng Hokkaido, chính quyền và báo chí Nhật Bản đã đưa tin hoàn toàn trung thực để dân biết, theo dõi và đóng góp ý kiến với chính phủ qua Quốc Hội.

Tưởng cũng cần nhắc lại, cuộc thao diễn quân sự của hải quân Trung Quốc mà Hà Nội phản đối lần này là thuộc vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa (Paracel).
 
Chiến hạm của hải quân Việt Nam, loại BPS-500 được thiết kế và xây dựng dựa vào kiểu Tarantul III (Molniya) của Nga qua hợp đồng giữa VN và công ty Russia's Vympel Design Bureau (tổng cộng 10 chiếc). Hiện một số tàu này đang được đóng ở Saigon Shipbuilding Company, Sài Gòn theo hợp đồng với RVDB. Nguồn: Jane's Defense

Riêng về đảo Trường Sa (Spratly) thì hôm 9 tháng Bảy năm nay, hải quân Trung Quốc đã bắn vào tàu đánh cá của ngư phủ Việt Nam làm chết một người và bị thương tám người ở vùng biển quanh đảo Trường Sa. Chi tiết sự việc khó kiểm chứng khi tin tức từ hai bên đưa ra khác nhau, nhưng theo AFP và Reuters thì rất có thể những ngư phủ này xuất phát từ tỉnh Quảng Nam, họ bị bắn khi đang đánh cá trong hải phận đảo Trường Sa mà Trung Quốc cho rằng thuộc về họ.

Lúc sự việc bắn ngư phủ Việt Nam này xảy ra, tàu của hải quân Việt Nam có mặt trong vùng và nằm trong cự ly có thể khai hỏa, nhưng họ đã không làm thế vì tự biết hỏa lực họ rất yếu so với chiến hạm và hỏa lực của hải quân Trung Quốc.

Và trước đó, vào hôm tháng Tư, Trung Quốc lên tiếng phản đối Việt Nam vi phạm chủ quyền của Trung Quốc khi ký hiệp đồng khai thác dầu và khí đốt trị gía 2 tỉ Mỹ kim với BP ở vùng biển quanh đảo Trường Sa thuộc biển Nam Hải (South China Sea), họ đã cảnh cáo BP và kết qủa là hãng dầu BP phải rút đi.
© DCVOnline

Nguồn:
(1) China dismisses Vietnam protest over disputed islands. AFP, Inquirer.net, 27 November 2007
(2) China says Vietnam protest on navy exercise "groundless". Xinhua, 27 November 2007.






======NHỮNG CUỘC BIỂU TÌNH TẠI QUỐC NỘI VÀ THÁI ĐỘ CỦA CSVN=======


                                                   NGÀY 16.12.2007



HÀ NỘI-SÀI GÒN: BIỂU TÌNH
 
(Xin đọc Biểu Tình ngày 09.12.07 ở phần dưới)

Đảng cộng sản Việt Nam ra lệnh công an ngăn chặn, cản trở cuộc biểu tình yêu nước phản đối Trung quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của nhân dân.
 
Sáng nay 16/12/2007, tiếp lời kêu gọi biểu tình phản đối TQ chiếm 2 quần đảo TS - HS của Việt Nam, đã có rất đông người, phần lớn là tuổi trẻ tham gia vào đoàn biểu tình và tuần hành trước ĐSQ TQ tại HN và LSQ TQ tại Sài Gòn. Tuy nhiên, vì các lời kêu gọi đã được công khai trước trên rất nhiều trang mạng và cả gửi qua tin nhắn, nên nhà cầm quyền biết và đã ra lệnh cho rất nhiều các lực lượng vũ trang ngăn chặn, cản trở cuộc biểu tình tuần hành yêu nước của nhân d ân VN. Họ không cho đoàn biểu tình có điều kiện tập hợp đối diện với ĐSQ và LSQ để trực tiếp hô vang những khẩu hiệu yêu nước. Họ phong tỏa các ngả đường hướng vào tòa ĐSQ và LSQ, nhằm ngăn chặn dòng người nhập vào đoàn biểu tình. Cuộc biểu tình đã không thể thực hiện được theo kịch bản sắp xếp ban đầu mà phải chuyển sang tuần hành.

Việc cản trở, ngăn chặn hành động biều tình yêu nước của nhân dân VN phản đối TQ chiếm 2 quần đảo TS và HS của công an dưới sự chỉ đạo của ĐCSVN đã bộc lộ rõ bản chất, tâm địa xấu xa của ĐCSVN. Khi đất nước lâm nguy, lãnh thổ bị xâm phạm mà họ lại cố tình làm ngơ và dửng dưng đứng ngoài cuộc. Phải chăng ĐCSVN phải nhún nhường trước đàn anh TQ để hòng giữ riệt cái ngai vàng độc đoán? Phải chăng có những thỏa thuận trước đây giữa VN với TQ như công hàm của cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng, phải chăng những hiệp định dở dang về phân chia lãnh hải, lãnh thổ, v,v.. đã níu chân ĐCSVN?

Chúng tôi kịch liệt lên án ĐCSVN về những hành động ngang trái này. Rất mong các cơ quan ngôn luận trên toàn thế giới ủng hộ chúng tôi.

Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam,

Đả đảo nhà cầm quyền bành trướng Trung Quốc,

Nước Việt Nam là của toàn thể nhân dân Việt Nam,

Yêu cầu chính phủ Việt Nam dừng ngay lập tức các hành động cản trở, ngăn chặn các hoạt động yêu nước của nhân dân Việt Nam.
 
Huỳnh Dũng Thắng
Gửi đi từ Hà Nội.





TIN GIỜ CHÓT VỀ BIỂU TÌNH

Biểu tình phản đối TQ tại Hà Nội:
Khoảng 2000 người mặc áo đỏ và 2500 người mặc áo vàng, áo xanh tham gia tuần hành từ đầu đường Điện Biên Phủ , qua Đài tưởng niệm liệt sĩ Bắc Sơn, các phố Văn Miếu , Quốc Tử Giám, Cát Linh, Giảng Võ và kết thúc tại Khách sạn Hà Nội lúc 11h . Tuy việc biểu tình không được như dự kiến ban đầu nhưng cuộc tuần hành ngay sau đó lại thành công CỰC KỲ MỸ MÃN.

Người Đưa Tin

http://farm3.static.flickr.com/2030/2114428632_d1f49874d3.jpg< /font> 

http://farm3.static.flickr.com/2061/2113652469_7657b41689.jpg 

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/4.jp 

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/2.jpg 

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/3.jpg 

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/4.jpg 

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/5.jpg 

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/6.jpg



TẦU KHÔNG NGƯNG KHUYẾN CÁO CSVN
NGĂN NGỪA BIỂU TÌNH

Chính phủ Trung Quốc hôm qua lập lại khuyến cáo lãnh đạo Việt Nam cần ngăn ngừa những cuộc biểu tình phản đối Bắc Kinh đặt đơn vị hành chính trên các quần đảo Hòang Sa và Trường Sa.

Bộ ngoại giao Trung Quốc cho biết Bắc Kinh rất quan ngại về những cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam.

Người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Quốc cho hay những cuộc biểu tình tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh gần trụ sở ngoại giao của Trung Quốc hôm Chủ nhật vừa rồi, cũng như hôm Chủ nhật 9 tháng 12, có thể làm tổn hại quan hệ hai nước.

Phát ngôn viên Tần Cương của bộ ngoại giao Trung Quốc nói Bắc Kinh hy vọng chính phủ Việt Nam sẽ biểu hiện thái độ có trách nhiệm cùng những biện pháp hữu hiệu để chặn đứng các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc diễn ta tại Việt Nam trong thời gian qua.

Phát ngôn nhân Tần Cương nói rằng Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định chủ quyền trên vùng biển mà Bắc Kinh gọi là Nam Hải. Lãnh đạo hai nước cũng đã nhiều lần đề cập tới vấn đề này và đã đồng ý với nhau là sẽ giải quyết qua đối thoại để giữ gìn ổn định và hòa bình trong khu vực.

Hồi năm 1958, nguyên Thủ tướng Phạm văn Đồng đã gởi công hàm chính thức xác nhận sự ủng hộ bản tuyên bố của Trung Quốc giành chủ quyền trên các quần đảo Hòang Sa, Trường Sa và Trung Sa.

Trong những năm sau đó, các quan chức ngoại giao Hà Nội cũng nhiều lần khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực này.

 





THEO LỆNH TẦU,  CSVN BÁN NƯỚC CHO CÔNG AN
NGĂN CHẶN BIỂU TÌNH

Cảnh sát bao vây ngăn chặn biểu tình chống Trung Quốc
Sunday, December 16, 2007 

 
Cảnh sát được huy động để ngăn chặn đoàn thanh niên biểu tình tại Hà Nội hôm 16 Tháng Mười Hai không được đến gần Tòa Ðại Sứ Trung Quốc.

Cảnh sát cơ động với đầy đủ áo giáp, súng, dùi cui, túa ra theo dõi đoàn biểu tình ở Hà Nội.

SÀI GÒN (NV) - Giới trẻ tại Việt Nam sáng Chủ Nhật 16 Tháng Mười Hai tiếp tục biểu tình thêm lần thứ nhì tại Hà Nội và Sài Gòn để phản đối việc Trung Quốc lập đơn vị hành chánh có quyền quản lý hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng tất cả đã bị công an, an ninh, và cả cảnh sát du lịch ngăn chặn không cho đến gần tòa đại sứ và lãnh sự Trung Quốc.

Nhiều người đã bị đưa về đồn công an thẩm vấn và được thả ra. Tuy nhiên, có ít nhất hai người, một ở Hà Nội và một ở Sài Gòn, đến nay vẫn chưa biết có được thả hay không. Nhiều người từng tham gia cuộc biểu tình lần thứ nhất vào tuần trước cũng như nhiều nhà đấu tranh dân chủ đã bị bắt giữ ngay từ buổi sáng.

Cuộc biểu tình và các biện pháp ngăn chặn đã diễn ra một tuần sau lần biểu tình thứ nhất bên lề đường đối diện tòa đại sứ và lãnh sự trong ngày Chủ Nhật 9 Tháng Mười Hai. Sau lần biểu tình đó, phía Trung Quốc đe dọa rằng cuộc biểu tình gây ảnh hưởng tới quan hệ ngoại giao hai nước, và đòi hỏi Việt Nam phải “có các biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn” những cuộc biểu tình này.

Theo ước tính của thông tấn xã AFP, có 300 người tham gia cuộc biểu tình tuần hành tại Hà Nội và 100 người tại Sài Gòn. Tuy nhiên, con số ở Sài Gòn chưa tính số người muốn tham gia cuộc biểu tình nhưng bị công an và an ninh chặn lại không cho tham dự.
Hà Nội: Đoàn người đi tuần hành

Tại Hà Nội, hàng trăm thanh niên sinh viên, hầu hết mặc cùng một áo thun màu đỏ sao vàng, mang bảng khẩu hiệu, trong đó có cả khẩu hiệu bằng tiếng Anh được AFP thuật lại: “China hegemony jeopardises Asia” (Bá quyền Trung Quốc đe dọa Châu Á), “Beware of the invasion” (Hãy cảnh giác ngoại xâm)... Có cả những biểu ngữ viết: “We are small but not reconciled to China's invasion” (Chúng ta tuy nhỏ nhưng không khuất phục quân xâm lược Trung Quốc).

Tuy nhiên, theo thông tin báo Người Việt nhận được, ngay từ sáng sớm, các lực lượng an ninh đã thiết lập hàng rào và huy động rất nhiều nhân lực bao vây khu vực quanh tòa đại sứ, tọa lạc tại số 46 Hoàng Diệu, đối diện công viên Lê Nin.

Cả đoạn đường Hoàng Diệu, cả khu vực công viên, đều có công an và an ninh, mặc cảnh phục cũng như thường phục, canh gác. Lực lượng an ninh tham gia ngăn chặn đoàn biểu tình có công an, cảnh sát giao thông, cảnh sát phản ứng anh CS113 (tương tự cảnh sát dã chiến), cảnh sát cơ động. Hàng rào được đặt chặn ngang đường và khu tượng đài Lê Nin.

Tại khu vực này, theo tường thuật trên trang blog mang tên “Nhà báo tự do,” có khoảng 100 người biểu tình tụ tập thành nhiều nhóm, trong đó có khoảng vài chục người lớn tuổi và trẻ em. Khoảng 9 giờ 55, người biểu từ hai ngả nhập lại thành một, họ dự định tiến về phía Ðại Sứ Quán Trung Quốc nhưng bị chặn lại. 10 giờ 45, người biểu tình chuẩn bị diễu hành thì cảnh sát cơ động cầm đội mũ sắt, mặc áo giáp, cầm dùi cui, dàn hàng ngang dồn họ ra xa khu vực Ðại Sứ Quán Trung Quốc.

Đoàn biểu tình chuyển hướng diễu hành dọc các con đường quanh đó. Vừa đi, đoàn biểu tình vừa hô khẩu hiệu.

“Hoàng Sa! Trường Sa!”
“Việt Nam! Việt Nam!”

Họ hô to những khẩu hiệu như vậy, và họ hát bài Tiến Quân Ca, Nối Vòng Tay Lớn, Dậy Mà Ði. Theo tin báo Người Việt nhận được nhưng chưa kiểm chứng được với nguồn khác, có một sinh viên bị bắt giữ mất mấy tiếng đồng hồ vì “hát bài Tiến Quân Ca quá to.”

Đoàn biểu tình rất cẩn thận trong việc hô khẩu hiệu. Theo lời một người tham dự, đoàn biểu tình tránh tất cả những khẩu hiệu nào có thể bị cho là chống đối mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Công an Việt Nam phát loa kêu gọi giải tán, sinh viên trả lời: “Không giải tán”. Công an đã tìm cách “cắt” nhỏ đoàn biểu tình để ép các nhóm nhỏ giải tán song vẫn có một số nhóm tiếp tục tuần hành.

Công an Hà Nội trà trộn vào đoàn biểu tình để điều tra. Một người tham gia đi tuần hành kể lại trên blog của mình:

“Đang đi thì có một anh nhanh bước theo cùng, hỏi:
- Em là sinh viên à?
- Em cũng đi biểu tình à
- Em tự đi hay ai tổ chức?
- Trường nào đông sinh viên đi nhất?”

Một người khác cũng đi biểu tình kể lại cảm tưởng khi bị công an bủa vây: “Cảm giác như mình đang là tên phản động, tên tội phạm, tên chống chính quyền.”

Áo thun đỏ sao vàng cũng là nguồn cho sự nghi ngờ. Người nói trên cũng kể khi đi bộ về lấy xe, họ đã “bị cảnh sát cơ động ngăn lại. Khi giải thích là giờ đoàn đã giải tán ra về và chúng tôi chỉ quay lại lấy xe thì cũng bị chỉ đi đường khác vòng xa hơn. Anh em đã phải nhắc nhau cởi áo cờ Tổ Quốc. Còn tôi phải kéo khóa áo khoác để che đi áo cờ Tổ Quốc bên trong.”

Người khác thì kể, “Hai anh nho nhỏ, mặc thường phục tiến lại, đòi thu cái áo của bạn C với vẻ mặt rất nghiệm nghị: 'Anh bạn cho xin cái áo làm kỷ niệm tí!' Tuy có trợn mắt ra nhìn nhưng cuối cùng thì cũng đành nộp áo thôi. Nhìn vào túi áo các anh, thấy cuộn tròn một đống cờ áo.”

Theo tin từ phía biểu tình, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn đã bị công an bắt về đồn công an Thụy Khuê. Một số sinh viên cũng bị bắt, trong đó có người mang biển khẩu hiệu được trích trên bản tin AFP: “Chúng ta tuy nhỏ nhưng không khuất phục quân xâm lược Trung Quốc.”

Hình ảnh và video biểu tình được chuyển đi trên Internet cho thấy một số nhân vật nổi tiếng cũng tham gia biểu tình, như nhà văn Trang Hạ, dịch giả cuốn “Xin Lỗi Em Chỉ Là Con Ðĩ” bán chạy nhất trong năm qua và cũng là chủ nhân một trong những trang blog nhiều độc giả nhất.


Sài Gòn: An ninh nặng tay

Nếu đoàn biểu tình tại Hà Nội đã có cơ hội đi tuần hành trên các phố, thì tại Sài Gòn đoàn biểu tình bị giới hạn rất nhiều. Lực lượng an ninh đã được huy động ngay từ chiều hôm trước để giải tán khu vực quanh Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc ở góc đường Phạm Ngọc Thạch (Duy Tân) và Nguyễn Thị Minh Khai (Hồng Thập Tự).

Các quán cà phê nổi tiếng và ăn khách gần khu này như Sao, Napoli, đều bị bắt buộc đóng cửa. Một chiếc xe đặc dụng, vừa phá sóng điện thoại di động, vừa định vị và nghe lén điện thoại, được mang tới đậu ngay trên đường Phạm Ngọc Thạch.
Nhà Văn Hóa Thanh Niên, ở đối diện tòa tổng lãnh sự, treo bảng đóng cửa “vì lý do sửa chữa sân bãi.” Công an dùng nhà văn hóa thanh niên làm trụ sở chỉ huy; một số xe tải bắt người được mang tới đậu tại đó.

Trang blog “Nhà báo tự do” tường thuật cuộc biểu tình cho biết đoàn người mặc áo thun trắng in bản đồ Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, cùng với hàng chữ “Bọn Trung Quốc xâm lược, hãy cút khỏi Hoàng Sa & Trường Sa.”

Đoàn biểu tình đã không thể đến gần được tòa tổng lãnh sự. Ngoài lực lượng công an và an ninh chìm nổi, nhà chức trách còn huy động hàng mấy trăm cảnh sát du lịch bao vây đoàn biểu tình. Một nhóm bị dồn vào khu công viên sau lưng nhà thờ Ðức Bà, đối diện Sở Ngoại Vụ (Bộ Ngoại Giao cũ). Một nhóm rất đông, hơn 800 người, bị chặn từ xa không được đến gần.

Bị vây lại tại công viên, nhưng đoàn biểu tình vẫn hô vang khẩu hiệu:

“Hoàng Sa! Trường Sa!”
“Hoàng Sa! Của Việt Nam!”
“Trường Sa! Của Việt Nam!”

Và họ hát. Câu hát “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại, xương da thịt này cha ông miệt mài...” trỗi lên và được nhiều người hưởng ứng.

Một nhà báo tại Sài Gòn qua email cho biết “Công an phá sóng điện thoại, không liên lạc với ai được, thêm nữa còn dùng xe nghe trộm đi vòng vòng.”

Nhà báo này cũng tiết lộ là có rất nhiều phóng viên báo chí trong nhóm tham gia biểu tình.

Nhạc sĩ Tô Hải, đã trên 80 tuổi, cũng xuất hiện tại nơi biểu tình và mạnh mẽ bảo vệ người trẻ bị công an chìm chỉ điểm bắt đi. (Xem trích đoạn blog nhạc sĩ Tô Hải trên trang A6.)


Bắt người

Trong số người đi biểu tình tại Sài Gòn có một cựu sĩ quan công an là cô Tạ Phong Tần, và một cựu chiến binh chiến trường Trường Sơn là ông Nguyễn Hoàng Hải, thường được biết đến với tên trên blog là “Ðiếu Cày.”

Theo lời kể trên blog “Nhà báo tự do,” ông Hải tức Điếu Cày bị một số cựu chiến binh vây lấy để khuyên can, đến khi không được thì họ “vận động con trai anh ra thuyết phục bố.”

Đến 3 giờ chiều, trên đường về, cả cô Tần lẫn ông Hải đã bị công an bắt. Theo lời ông Nguyễn Hoàng Hải viết trên blog của mình, “6 tên công an chìm bẻ tay, kẹp cổ, bóp yết hầu Ðiếu Cày ngay giữa đường phố Sài Gòn. Chúng nói với bà con là bắt tên buôn ma túy.”

Cô Tạ Phong Tần viết chi tiết:
“Vừa quẹo qua ngã ba đường Phạm Ngọc Thạch-Võ Thị Sáu thì nghe có vụ đụng xe sau lưng, quay lại nhìn thấy bác Ðiếu Cày bị 3 chiếc xe máy và khoảng 6 thanh niên vây kín. Tôi chưa kịp hiểu mô tê gì thì có 4 thanh niên mặc thường phục đi 2 xe máy kè xe mình, giật phắt chìa khóa xe, ba lô, đồng thời nói: 'Chúng tôi là công an, nghi chị tàng trữ ma túy nên bắt giữ chị', và dùng vũ lực lôi tuột tôi lên xe chở về trụ sở công an phường 6 quận 3 đường Trần Quốc Thảo.”
Tại đây cô bị thẩm vấn và bị quy tội biểu tình không xin phép. Cô đã tranh luận với họ. “Tiếp theo là cuộc tranh cãi tay ba giữa 1 bên là Tạ Phong Tần và bên kia là 2 người mặc thường phục. Chính xác là tranh cãi vì không ai chịu nhường ai lời nào,” cô viết.

Có hai người nữa cũng bị bắt tại Sài Gòn, là dịch giả Hà Vũ Trọng - người Canada gốc Việt với nhiều bài viết quen thuộc trên trang web Talawas, và ông Lê Quốc Quyết, em Luật Sư Lê Quốc Quân.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, từng xuất hiện từ đầu đến cuối cuộc biểu tình lần đầu và từng tranh luận tay đôi với phó chủ tịch thành phố trong buổi họp với thanh niên, sang tuần này đã bị công an tới nhà giam lỏng suốt ngày.

Tới tối, hầu hết mọi người đều được thả về. Tuy nhiên, có hai người mà người tham gia biểu tình lo ngại là đã bị bắt hiện nay chưa có tin tức. Một người là một nữ sinh viên tại Hà Nội, người mang tấm biển kèm khẩu hiệu “Chúng ta tuy nhỏ nhưng không khuất phục quân xâm lược Trung Quốc.” Có tin cho biết cô tên là Hương.

Một người nữa là một thanh niên tên Trần Bá An, cùng tham gia đoàn biểu tình và có máy video quay cảnh, tới nay đã bị công an bắt đi và vẫn chưa có tin tức. Anh Trần Bá An là bạn của Luật Sư Lê Quốc Quân và ông Quân đã lên tiếng báo động về trường hợp này.



                                                  NGÀY 09.12.2007



SINH VIÊN HỌC SINH BIỂU TÌNH
CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LĂNG


HÀ NỘI 09.12.2007

Gần 600 Sinh Viên Học Sinh và Đồng Bào Đã Có Mặt Tại Sứ Quán Trung Quốc Biểu Tình Phản Đối TQ Xâm chiếm Hoàng Sa & Trường Sa

Vào Lúc 8 giờ sáng ngày chủ Nhật 09 tháng 12, sinh viên , học sinh đã kéo về Đại Sứ quán Trung Quốc Tại số 46 Hoàng Diệu , Hà Nội để phản đối Trung Quốc xâm lăng 2 quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa của Việt Nam . Công An CS đã có mặt nhưng làm ngơ cho cuộc biểu tình xảy ra . Nhiều xe công an đang đậu tại đường Điện Biên Phủ ngay sát phía sau vườn hoa Hoàng Diệu đối diện với Đại Sứ Quán Trung Quốc .

Công An mặc thường phục đứng trà trộn vào đoàn biểu tình của sinh viên học sinh . Cho tới lúc 9 giờ sáng , đồng bào đã kéo tới đây ngày càng đông lên gần 500 người để yểm trợ cho sinh viên học sinh đang có mặt nơi đây . Trên vườn hoa các sinh viên đã hô to khẩu hiệu "đả đảo TQ chiếm lĩnh HS & TS" , một số lớn la to khẩu hiệu như "Trường Sa & Hoàng Sa là của ..." "Mọi người khác đồng thanh la lên "Việt Nam ... Việt Nam" . "Nhân Dân VN ... Bảo Vệ Tổ Quốc" và "Việt Nam Muôn Năm ..." ""Đả đảo TQ xâm lược ..." "Dậy mà đi ...Hỡi đồng bào ơi ..." "Thanh niên VN ... Bảo Vệ Tổ Quốc ..." "Chúng tôi sẵn sàng ... Bảo vệ VN"

Vào lúc khoảng 10 giờ Đồng Bào và sinh viên đã tràn ra đường, con số biểu tình lúc nầy lên trên gần 600 người đang bước tới gần sát chân tường của Đại Sứ Quán Trung Quốc. Thấy biểu tình có thể lan rộng lớn hơn nên đại diện Công An đã ra thông báo kêu gọi mọi người hãy giải tán .

 

SÀI GÒN 09.12.2007

Một cuộc biểu tình khác ở Lãnh Sự Quán Trung Quốc tại  Sài Gòn tại địa chỉ 39, đường Nguyễn Thị Minh Khai Sài Gòn cũng đã xảy ra vào lúc 9 giờ 30 phút . Số lượng sinh viên  học sinh đến tham dự chỉ khoảng 400 người đã giăng các biểu ngữ cầm tay " Trường Sa và Hoàng Sa thuộc Chủ Quyền Của Việt Nam" "Hãy Trả Lại Trường Sa & Hoàng Sa cho Việt Nam ... " Một số đông đồng bào đã tập trung lại để xem các em sinh viên biểu tình . Đến 10 giờ thì Công An đã đến giải tán cuộc biểu t ình nhỏ nầy .






BÃO NỔI LÊN RỒI

Bão nổi lên rồi (tường thuật đầy đủ cuộc biểu tình 09/12/2007)
 

Phần 1 : Lòng yêu nước bất diệt khi Tổ Quốc lâm nguy

Có lẽ chưa bao giờ lòng yêu nước của tất cả mọi từng lớp trong xã hội và đặc biệt là giới trí thức trẻ như thanh niên - sinh viên lại dâng trào đến mạnh mẽ và quyết liệt đến vậy. Vì sao ư? Chính vì tất cả mọi người đều phẫn nộ trước sự lộng hành và bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh - vốn từ lâu là một người bạn " môi hở răng lạnh" của Việt Nam ta. Và phẫn uất vì sự im lặng và thái độ phản đối một cách yếu ớt của chính phủ. Nên họ đã xuống đường biểu tình để bày tỏ thái độ phản kháng của mình trước sự việc Trung Quốc đã lấn chiếm Hoàng Sa - Trường Sa

Liên tục mấy ngày trước đó, YIM của tôi và các bạn đều nhận rất nhiều lời kêu gọi, nội dung ấy của những YH ấy là như sau

"Hãy phản đối việc Quốc vụ viện TQ vừa phê chuẩn thành lập TP hành chính Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam, trực tiếp quản lý ba quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa. Đúng 9h, Chủ nhật, ngày 09/12/2007, tổ chức biểu tình hòa bình. Tai TPHCM: Tổng lãnh sự quán CHND Trung Hoa, số 39 Nguyễn Thị Minh Khai, Q1.
Tại Hà nội: Đại sứ quán CHND Trung Hoa, số 46 Hoàng Diệu. Khi đi mang theo biểu ngữ, quốc kỳ".
...
Chúng tôi cũng có mặt để ghi nhận và hưởng ứng lời kêu gọi trên bằng cách cùng có mặt với giới trẻ Sài Gòn xuống đường.

Chúng tôi có mặt trước Nhà Văn Hóa Thanh Niên khá sớm, lúc đó còn rất vắng vẻ ... Đối diện với NVHTN - phía bên kia tòa Lãnh sự Trung Quốc chỉ có 2 anh công an. Mọi việc vẫn bình thường như không có chuyện gì sắp xảy ra.

Cá nhân tôi vẫn tưởng " tin biểu tình" chỉ là tin vịt và định quay xe trở về nhà.. Bổng nhiên tôi nhận được phone của người bạn báo tôi biết phải chạy ra ngay NVHTN. Quay xe trở lại, vội vã đi tìm chổ gởi xe tôi dần dần tiến đến trước cổng NVHTN. Lúc này, tôi đã thấy rất đông người tụ tập trước đó..nhưng hoàn toàn không biết họ là ai cả. Nhưng tôi đã thấy có một số người cầm cờ tổ quốc đứng đó. Linh tính cho tôi biết... sắp sửa xãy ra điều gì đó rồi chăng.

Và sự thật là như vậy, đúng như sự dự đoán của tôi. Bỗng nhiên một thanh niên bình thản trải 1 lá cờ ra ngay trên vỉa hè trước lề đường của NVHTN một là cờ của Trung Quốc, rồi anh ta điềm nhiên ngồi lên. Vài người khác chuyển lá cờ ra gần mé đường và hè nhau đạp lên. Hai thanh niên xung kích quanh quẩn gần đó vội chạy đến ngăn cản thì 1 thanh niên khác giắt một góc lá cờ vào cạp quần rồi băng qua đường, lá cờ TQ bị kéolê giữa lòng đường xen giữa hàng xe cộ. Lại thấy 2 bộ sắc phục nhào đến kè 2 bên và xô đẩy thanh niên này vào cổng NVHTN. Thế là bao nhiêu cặp mặt đều đổ đồn vào đó. Và cũng không biết từ đâu mọi người đã ùa ra đứng trước cổng NHVTH . Mang theo bên mình là nhưng băng-rôn, khẩu hiệu như : Đả đảo Trung Quốc, Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam ... Các hình ảnh về quần đảo Hoàng - Trường Sa .. và trên tay một số người là lá cờ của tổ quốc Việt Nam. Theo tôi nghĩ, có lẽ họ cũng giống như tôi, đã có mặt từ rất sớm nhưng lại " lảng vảng" ở đâu đó " âm thầm quan sát" tòa nhà của Lãnh sự Quán Trung Quốc. Việc trải dài lá cờ và có một số người đứng dẫm chân lên lá cờ cũng như là " phát súng nổ" để mở màn cho cuộc biểu tình tự phát này. Và dù không biết ai là ai , nhưng chúng tôi đã nhận dạng ra nhau trong tình yêu nước nồng nàn.

Nhanh chóng gia nhập vào đoàn người, chúng tôi tiến đến gần các em sinh viên. Song song lúc đó chúng tôi bị lực lượng bảo vệ của NVHTN đuổi không cho phép chúng tôi đứng biểu tình trước cửa. Và đoàn người sau khi đã hội ý .. tất cả mọi người đã kéo về góc bên kia đường nơi đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc.

Và lực lượng tham gia biểu tình .. mỗi ngày một đông thêm.

Đối diện trước lãnh sự quán Trung Quốc, mọi người đã giăng cờ xí, băng rôn các hình ảnh và khẩu hiệu và đồng thanh hô thật to

" Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam "
" Trả lại Hoàng Sa , trả lại Trường Sa
" Đã đảo Trung Quốc "
" Việt Nam muôn năm "

Và sau đó, những bài hát lại vang lên một cách mãnh liệt, như tất cả lòng yêu nước và sự phẩn uất này đều dồn vào trong từng câu , từng lời của bài hát : " Quốc ca" " Dậy mà đi" " Lên Đàng", " Như có bác trong ngày vui đại thắng" " Nối vòng tay lớn"

Cuộc biểu tình diễn ra rất " ôn hòa" nhưng khí thế của mọi người rất sục sôi ... tất cả chỉ vì Hoàng Trường Sa thân yêu của chúng ta. Lòng yêu nước sự tự hào của một dân tộc " quật cường và bất khuất" trước " ngoại bang " này đã được kế thừa của 4000 năm văn hiến. Các em thanh niên - sinh viên và mọi người đã vào cuộc. Mọi người đến đây, " không ai bảo ai" hoặc " bị lôi kéo" bởi ai cả. Sự hiện diện của mọi người có mặt ngày hôm đó chỉ vì LÒNG YÊU NƯỚC thế thôi.

Đáp lại sự phẩn nộ chính đáng này của mọi người thì lực lượng an ninh, dân quân, CSTT và bảo vệ tòa nhà lại kéo đên đông nghẹt. Tôi đếm được chắc khoảng có hơn 200 người. Họ không có dấu hiệu trấn áp hay đàn áp cuộc biểu tình tự phát này.. nhưng mọi góc đường để đi vào Lãnh Sự Quán Trung Quốc đều bị phong tỏa lúc đó. Bốn góc đường đều bị lực lượng an ninh " trấn giữ" . Và mặc dù không cho những ai gia nhập vào đoàn người biểu tình nhưng đoàn người vẫn tìm cách nào đó len lỏi vào đám đông và hòa nhập cùng với mọi người đang đứng sẵn đó với đầy đủ những câu khẩu hiệu, băng rôn và cờ xí rợp 1 góc đường. Và số lượng người tham gia càng ngày đông hơn và nhiều hơn và đồng thanh hơn trong những tiến la to " Hoàng Sa là của Việt Nam, Trường Sa là của Việt Nam" ...

Trước thái độ phản kháng rất mạnh mẽ và quyết liệt của đoàn người biểu tình. Lực lượng an ninh đã cử người sang điều đình với các em thanh niên - sinh viên lúc đó. Họ đề nghị " giải tán". Nhưng các em vẫn "đồng tâm và đồng lòng " đứng tại đó vẫn hô to " đã đảo Trung Quốc". Thấy sự giàn xếp không " êm xuôi " Bên Công An đã cử người mang 1 cái bàn to đặt ngay trong đoàn người và đề nghị mọi người ký tên phản đối và sau đó nên giải tán cuộc biểu tình này. Tuy nhiên, lực lượng trí thức trẻ thanh niên - sinh viên ký tên phản đối thì đồng ý nhưng để giải tán cuộc biểu tình thì KHÔNG.

Điều không ngờ đối với cá nhân tôi là, các em đã lấy " lá cờ của tổ quốc" trải lên mặt bàn và thay nhau kí tên vào đó. Điều này thể hiện sự phẩn uất trong lòng các em thật mãnh liệt hơn bao giờ hết. Lá cờ tổ quốc còn đó, nhưng lá cờ này đã từ lâu rồi không còn bay phất phới trên Hoàng Đảo Trường Sa và Hoàng Sa nữa. Nhưng chỉ được 20 phút, có một công an bắt dẹp cái bàn đi! Hình ảnh xúc động nhất theo tôi là các em còn quấn lá cờ vào người để cho các bạn ký tên của mình vào. Hành động ký tên vào lá cờ lần này khác hẳn với việc ký tên vào lá cờ như những lần " ủng hộ seagames, hoặc ký tên vì công lý cho chất độc màu da cam." Hành động thì như nhau, nhưng ý nghĩa của nó " thật to lớn gấp bao nhiêu triệu lần". Dũng cảm thay những lời hô to đòi Trường Sa và Hoàng Sa đầy" bất khuất và can đảm này". Các em đã không sợ gì cả... ngay những khi đối diện với các em (phía bên kia đường khoảng mười mấy mét thôi) lực lượng an ninh " dày đặc" và đang "chỉa" các máy quay phim, chụp hình về các em. Nhưng lòng yêu nước, sự dũng cảm " vượt qua sợ hãi đã chiến thắng tất cả. Chỉ vì các em và chúng tôi những người có mặt trong ngày hôm đó chỉ thể hiện LÒNG YÊU NƯỚC trong tiềm thức của mỗi con người trước tình trạng tổ quốc " lâm nguy" vì mất " đất và biển" vào tay " ngoại bang".

Cuộc biểu tình ôn hòa này kéo dài và bắt đầu từ lúc 9h sáng và kéo dài đến hơn 12h trưa cùng ngày. Dưới cái ánh nắng gắt gao, mọi người đểu thấm mết. Lúc này, có kẻ ngồi người đứng. (Tôi thì khá thấm mệt) nên ngồi ở 1 góc. Nhưng phía đối diện với Tòa lãnh sự vẫn hô to và vang lên những tiếng hô " bất khuất này". Lúc này, đoàn người lại được tiếp vận 3 thùng nước của một người yêu nước nào đó. Bà con và mọi người chạy đến chỗ nhận nước. Nhưng lực lượng an ninh đã " ngăn cản không cho đem nước vào". Thế là số phận của 3 thùng nước phải " để lại" dưới chân của lực lượng an ninh lúc đó. Và mọi người chạy ra lấy nước đem vào uống để lấy sức hô hào tiếp.

Đỉnh điểm của cuộc biểu tình ngày hôm ấy đã buộc " lãnh đạo của Thành Phố" , " Đoàn Thanh Niên " phải xuất hiện để điều đình. Sau một hồi thương thảo với các em, với sự góp sức của nhạc sị Tuấn Khanh, các em đã đồng ý theo chân ông Nguyễn Thành Tài phó chủ tịch UBND Thành phố vào hội trường nhà văn hóa thanh niên để " chất vấn" về việc " mất lãnh thổ và lãnh hải này"

Phần 2 : Sự truy vấn quyết liệt của thanh niên sinh viên và những câu trả lời chưa thỏa đáng của lãnh đạo Thành Phố.

Bước vào hội trường A4 của Nhà Văn Hóa Thanh Niên. Lúc này khoảng gần 1h chiều. Dù đã rất mệt mỏi trước đó vì phải đứng hơn 3 tiếng đồng hồ đối diện với Lãnh Sự Quán Trung Quốc nhưng hầu như tất cả mọi người có mặt ngày hôm đó đều quên đi tất cả .. sự mệt mỏi và cái đói. Mọi người đã nhanh chóng kiếm một chổ ngồi trong hội trường và hội trường dường như " nóng" lên vì câu nói đầu tiên của ông Nguyễn Thành Tài – Phó chủ tịch UBND Thành Phố. Ông ta cho rằng chúng tôi (tất cả mọi người thật " bạo động" trong ngày hôm đó.

Khi ông Tài vừa nói xong câu này, phía hội trường … hình như lúc này đã đầy nghẹt người với hàng loạt cánh tay giơ lên. Và 1 em là nam sinh viên chạy đến chổ microphone của ông Tài và xin được nói.

Em khẳng định và phản biện như sau " Cuộc biểu tình sáng ngày hôm nay hoàn toàn rất hòa bình và diễn ra trong trật tự .. không một chút manh động hay là có bất kỳ hành động quá khích nào. Và đề nghị bác không được nói đến chữ " bạo động" ở đây."

Em vừa nói xong, cả hội trường như tán đồng bằng cách vỗ tay đồng loạt. Câu khẳng định này của em là đại diện cho câu trả lời của chúng tôi. Vâng, chúng tôi có mặt tại đây chỉ vì muốn thể hiện Lòng Yêu Nước của mình. Chúng tôi rất " ôn hòa" bằng chứng là không có để cho việc gì xấu xảy ra ngày hôm đó. Thậm chí, trứơc khi qua NVHTN các bạn trẻ đã thu gom rác, vỏ chai nước thật gọn ghẽ. Và nếu có " bạo động" chúng tôi không bao giờ đồng ý theo chân ông Tài vào hội trường này chỉ với mong muốn được nghe ý kiến của lãnh đạo thành phố trước sự việc kiện trên mà thôi. Một thanh niên khác phát biểu: "Có thông tin nói, cuộc biểu tình này do kẻ xấu giật dây lợi dụng kích động. Thưa các bác, chúng cháu chỉ vì yêu nước mà bày tỏ. Chúng cháu không phải là con nít". Hội trường vỗ tay rầm rầm.

Sau đó, đại diện cho cơ quan ngoại giao của nhà nước. Một bác nào đó (không rõ tên) đã lên nói với chúng tôi với đại ý như sau. " Vấn đề Hoàng Sa – và Trường Sa không giải quyết bằng vũ khí mà sẽ giải quyết trên phương diện ngoại giao giữa hai nước với nhau. Đồng thời về phía Việt Nam, Phát ngôn viên của bộ ngoại giao ông Lê Dũng cũng đã có họp báo để phản đối rồi. Và chúng ta có đầy đủ bằng chứng để chứng minh chủ quyền của chúng ta trên hai hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa này …."

Hình như " rất không hài lòng" và " đầy bức xúc" trước câu trả lời của vị đại diện cơ quan ngoại giao này. Lại cũng một em sinh viên lên hỏi " Cháu đồng ý với bác là ông Lê Dũng đã họp báo phản đối, nhưng chẳng lẽ chúng ta chỉ nói bằng cái miệng hay sao? Trung Quốc có nói với chúng ta bằng cái miệng không vậy thưa bác" .. một lần nữa lại hàng loạt cái vỗ tay vang lên rầm rộ cả hội trường như tán đồng cho câu hỏi của em.

Một em khác lại hỏi: " Bác là đại diện của bộ ngoại giao, vậy bác có biết Hoàng Sa và Trường Sa chúng ta có bao nhiêu đảo và quần đảo không ? Cháu không biết ( lúc này em quay sang hỏi các bạn và hội trường " các bạn có biết không" ? Và một câu trả lời đồng thanh hô to là KHÔNG để đáp lại câu hỏi của em ấy. Em nói tiếp " Bác không biết, tụi cháu không biết … thế thì tại sao nhà nước không công khai việc này? Tại sao chỉ có báo Tuổi Trẻ duy nhất nêu lên vấn đề Hoàng - Trường Sa mà thôi trong khi các báo chí khác lại im lặng. Không được "bịt" thông tin như thế chứ"

Lại những tiếng vỗ tay ầm ĩ, câu hỏi này của riêng em cũng như câu hỏi của mọi người ở đây. Tại sao lại có sự bưng bít thông tin này mà giới trí thức trẻ thanh niên – sinh viên nói riêng và toàn xã hội Việt Nam nói chung không có quyền được biết đến. Khi đất đai lãnh thổ là của chung của cả một dân tộc. "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Quốc gia có biến loạn, bổn phận là những người công dân trong một nước đều phải được biết và có quyền được biết. Không thể bưng bít mãi một sự thật này.
 
Lúc này, tôi có cảm tưởng như đại diện lãnh đạo của TP " toát mồ hôi hột" trước những câu truy vấn đầy mạnh mẽ và quyết liệt này. Đáp lại câu hỏi của các em đại diện lãnh đạo của TP đã trả lời " rất chung chung" và dường như chẳng ăn nhập vào vấn đề mà các em đã hỏi. Ông Tài nói " Chúng ta có tổ chức đi du lịch ở Hoàng Sa và Trường Sa, và hiện tại chúng ta có khoảng 200 chiến sĩ đang đóng quân tại hòn đảo này với khoảng 50 chiến sĩ là đoàn viên …." Một câu trả lời chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.

Trong lúc biểu tình trước đó, hình như có một bạn nữ nào đó " rất bức xúc " về việc an ninh đã ngăn cản không cho vào tham gia với đoàn biểu tình. Em cũng chạy lên xin được nói " Chúng cháu đến đây, để thể hiện lòng yêu nước của mình… tại sao lực lượng an ninh lại ngăn cản lòng yêu nước của chúng cháu .. khi ngăn chặn chúng cháu lại và không cho cháu vào tham gia cùng mọi người… Tại sao? Tại sao??" Em nói đến đây thì em đã bật khóc nức nở, tiếng khóc như nghẹn ngào cõi lòng của mọi người hiện diện ngày hôm đó. Lãnh đạo vội phân bua: "Không, cảnh sát chỉ gìn giữ trật tự, chứ không ai đuổi các bạn". Phía dưới hội trường hét lớn: "Không đúng, họ ngăn cản, họ đuổi về"... Và hàng loạt các câu hỏi truy vấn thật mạnh mẽ và thẳng thắn đến những người đại diện lãnh đạo ngày hôm ấy. Nhạc sĩ Tuấn Khanh phát biểu là anh cũng không ngờ, giới trẻ rất quan tâm đến tình trạng của đất nước.. thay vì phải đi vào các quán bar, karaoke hay quay quẩn bên gia đình vào một ngày chủ nhật đẹp trời như vậy. Thì các em lại đồng loạt có mặt trong ngày hôm đó để minh chứng cho sự quan tâm của các em về hiện tình đất nước.

Có một thanh niên tha thiết: "Cháu xin các bác, các chú, vì tương lai dân tộc. Hãy để lại cho chúng cháu một giang sơn nguyên vẹn". Vì các em là tương lai của đất nước là thế hệ sẽ kế thừa những gì mà các bậc cha chú đi trước đã để lại. Trước tình trạng Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam chúng ta các em đã mạnh mẽ truy cứu đến trách nhiệm của nhà nước .. và trông chờ những hành động quyết liệt của nhà nước về việc bảo vệ chủ quyền của hai hòn đảo này. Chứ không phải chỉ biết phản đối một cách yếu ớt như vậy. Các em đã thẳng thừng đề nghị tổ
 


BẢN TIN CỦA CHỨNG NHÂN LỊCH SỬ:
BIỂU TÌNH TẠI SÀI GÒN



SÀI GÒN - Theo thông tin từ blog Chứng Nhân Lịch Sử, sáng 9 tháng 12, 2007, trước cửa tòa lãnh sự Trung Quốc tại Sài Gòn, “hơn 500 người đã tập trung biểu tình chống việc Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa.”

Bản tin của Chứng Nhân Lịch Sử nói rằng người biểu tình tập trung từ lúc 8 giờ sáng tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên, đối diện tổng lãnh sự Trung Quốc.

Các quán cà phê khu vực Hồ Con Rùa đầy kín người. Bản tin nói có cả nhân viên công an và mật vụ.

Khoảng hơn 9 giờ sáng, các văn nghệ sĩ bắt đầu xuất hiện. Chứng Nhân Lịch Sử nói rằng nhạc sĩ Tuấn Khanh, thi sĩ Thận Nhiên, họa sĩ Trịnh Cung, Phan Bá Thọ, nhà văn Nguyễn Đình Bổn, nhà báo Thu Hồng và nhiều người nữa, đã có mặt đầu tiên.

Một thanh niên đã trải lá cờ Trung Quốc ra rồi ngồi lên. Một người khác, trên tay cầm ảnh đảo Hoàng Sa, trải cờ Trung Quốc, rồi đạp lên.

Khoảng 9 giờ 30 phút, có người hô “tiến lên.” Ngay sau đó, nhiều tiếng vỗ tay đáp lại và đoàn người băng sang đường, tiến sang trước cổng lãnh sự quán Trung Quốc.

Công an tại đây lập tức dàn hàng chặn và đuổi mọi người sang bên kia đường với lý do: “An ninh.”

Đoàn biểu tình lui về hướng lề đường Nguyễn Thị Minh Khai, đối diện lãnh sự, xếp hàng trong trật tự, giương biểu ngữ, hô lớn: 'Đả đảo Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa', 'Trả Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam', 'Bọn xâm lược phải trở về nước'...

Người tụ tập ngày càng đông hơn. Công an phản ứng nhanh (113) của Việt Nam xuất hiện giải tán tất cả những người đang đứng ở các khu vực lân cận nhưng không tấn công đoàn biểu tình trước lãnh sự quán.

Cuộc biểu tình này, có lẽ thành hình theo lời kêu gọi trên Internet được phát đi nhiều ngày nay, sau khi Quốc Hội Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố cấp huyện có tên là Tam Sa, thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý ba quần đảo trên biển Ðông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.







HÀ NỘI BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG CỘNG

Trần Long

Theo tin AFP , hằng trăm ngườI đã xuống đường biểu tình tạI Hà NộI ngày Chủ Nhật 9.12.07 lúc 10g00 trước sứ quán Trung Cộng , đòi trả lạI các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Việt Nam.

Giương cao cờ dỏ sao vàng, hơn 250 ngườI tung hô các khẩu hiệu “ Bảo vệ Quê Hương “ , "Đả đảo TC “ vang dậy phố phường dướI sự chứng kiến án binh bất động của công an . Sau gần một tiếng đồng hồ, cuộc biểu tình đã giảI tán mõt cách êm thắm.

 Đây là lần đầu tiên, có cuộc biểu tình chống TC mà không bị công an  đàn áp dưới sự chứng  kiến của các thông tấn xã quốc tế như AFP, AP, v.v. Trước đây cũng có cuộc biểu tình chống Mỹ vào năm 2003 khi Mỹ xâm chiếm Irak.

Việc đòi lại các quần đảo HS-TS chỉ là hình thức bên ngoài vì làm sao lấy lại được khi Phạm văn Đồng đã ký công hàm nhìn nhận các quần đảo đó thuộc lãnh thổ TC trong khi Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh nặng nề để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của ông cha để lại.

Trước các sự kiện vừa xảy ra, chúng tôi xin đưa vài giả thuyết để quý đọc giả suy nghiệm và phán xét :

1- Chắc tất cả chúng ta đều đồng ý là cuộc biểu tình vừa qua là do Đảng CSVN yểm trợ, nên công an không có đàn áp và phổ biến rộng rãi cho giới truyền thông quốc tế.

2- Phải chăng là do Toàn Đảng CSVN  hay một phe phái nào trong Đảng tổ chức biểu tình?

2.1. Nếu do Toàn Đảng CSVN dàn dựng , thì dụng ý của chúng để làm gì ?

- Phải chăng để hướng dẫn sự bất mãn của dân chúng trong nước hướng về việc chống ngoại xâm nhằm quên đi những đòi hỏi thực tế hàng ngày như đồng tiền bị phá giá, thất nghiệp, đình công, dân oan, v.v. ?

- Chứng tỏ cho Mỹ, Cộng Đồng Âu Châu, Nga thấy là CSVN cũng muốn thoát khỏi sự kềm  kẹp của TC ( gọi là chiến thuật đu dây )

- Lấy lại “ Uy tín” sau khi bị mang tiếng là “ dâng Đất “ cho TC; như bức công hàm dưới đây  cho thấy  từ lúc Hồ chí Minh còn sống là chúng đã công nhân chủ quyền của TC  trên các quần dảo TS-HS rồi.

 





LỜI KỂ CỦA MỘT SINH VIÊN SÀI GÒN 

Thiên Duy
Sinh viên từ TPHCM 
  

Những thanh niên đi biểu tình hôm 9.12 nói chính phủ phải có trách nhiệm giáo dục lòng yêu nước. Từ vài ngày trước, trên các blog và Yahoo Messenger đã xuất hiện hàng loạt tin nhắn kêu gọi đi biểu tình để phản đối chính phủ Trung Quốc lập thành phố quản lý Trường Sa và Hoàng Sa.

Sáng ngày chủ nhật 9/12, các bạn sinh viên đã tụ tập trước lãnh sự quán Trung Quốc . Đáng kể nhất là sinh viên trường Hồng Bàng, một số bạn đến từ các trường đại học gần đó như trường Kiến Trúc, trường Kinh Tế,… người dân và các văn nghệ sỹ tại tpHCM.

Đầu tiên, mọi người tụ tập bên Nhà văn hóa Thanh niên, sau đó mới bước sang đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc để biểu tình.

Cuộc biểu tình đã diễn ra trong bầu không khí đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, của rạo rực lòng căm phẫn trước việc Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa. Họ thống thiết kêu gọi chính phủ Việt Nam phải có hành động cụ thể trước mưu toan bành trướng của Bắc Kinh.

Ngoại trừ việc công an ngăn cản không cho một số nhóm thanh niên gia nhập đoàn biểu tình, ngăn chặn không cho tiếp tế nước uống, hoàn toàn không hề có hành động đàn áp. Dù vậy, mật vụ, an ninh, công an, dân quân, quản lý đô thị tập trung rất đông.

Rất đông các chiến sĩ công an cũng đã giúp giải tỏa giao thông, tránh ùn tắc đường khi đông đảo người dân dừng xe lại coi và cổ vũ.

Đoàn người biểu tình hô hào khẩu hiệu "Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam". Họ cũng kêu gọi chính phủ không nên nhu nhược, không để đất nước rơi vào tay Trung Quốc.


Tiếng nói thanh niên

Sau nhiều lần các cán bộ bên Thành Đoàn mời gọi mọi người qua Nhà văn hóa Thanh niên để nói chuyện với lãnh đạo – ông Nguyễn Thành Tài, phó Chủ tịch UBND tpHCM, các bạn sinh viên kéo qua hội trường A4 của Nhà văn hóa.

Ngoài ông Nguyễn Thành Tài, còn có đại diện cho Bộ ngoại giao, đại diện của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Thành Tài đã cố gắng tránh né chữ "biểu tình" nhưng điều này bị phản bác bởi những người tham gia. Họ khẳng định, đó chính là biểu tình, và chính phủ phải có trách nhiệm giáo dục thanh niên trong việc gìn giữ, bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải quốc gia.

Có rất nhiều câu hỏi được nêu ra như sự không minh bạch thông tin về tình trạng Trường Sa – Hoàng Sa, cơ quan báo chí bị bịt miệng, cơ quan thành đoàn thiếu trách nhiệm và không thể hiện vai trò là người dẫn dắt thanh niên,… nhưng quan trọng nhất, bức xúc nhất vẫn là trách nhiệm của chính phủ trước nguy cơ xâm lăng của Trung Quốc.

Hầu hết các câu trả lời từ phía ông Nguyễn Thành Tài và các cán bộ thành đoàn đều đổ lỗi cho nước ta nghèo, còn lạc hậu, yếu kém về quân sự,… nhưng đồng loạt bị bác bỏ bởi các bạn thanh niên trong phòng họp.

Các bạn sinh viên cho rằng dù nước ta nghèo, yếu kém, nhưng việc không thông tin cho dân biết chính là trách nhiệm của chính quyền. Các bạn cũng nhắc lại truyền thống 4000 năm dựng nước và giữ nước nhằm nhắc nhở bổn phận của chính quyền.
 
Biểu tình diễn ra ngày 9.12 ở cả Hà Nội và TPHCM

Không khí buổi họp lên đến cao trào khi có một bạn sinh viên nữ lên "Vì sao chúng cháu yêu nước mà bị công an ngăn cản?" Nước mắt bạn đã rơi làm bầu không khí càng thêm nóng bỏng.

Để giảm nhiệt, hai cán bộ Thành Đoàn đã lên phát biểu. Tuy nhiên, đại đa số thanh niên phía dưới phản đối những câu lý thuyết sáo rỗng của hai người này. Họ hét to "Xuống đi, chúng tôi nghe đủ rồi". Có người còn nói lớn: "Chúng tôi vào đây nghe lãnh đạo nói chuyện, không phải nghe quý vị nói chuyện".

Để trả lời cho câu hỏi "trách nhiệm của Thành Đoàn trong việc biểu tình của thanh niên, ông Nguyễn Thành Tài đã ra lệnh cho Thành Đoàn trong tuần sau phải tổ chức ngay một cuộc biểu tình để nói rõ quyết tâm của người Việt Nam bảo vệ đất nước. Ông cũng khẳng định sẽ cho thông tin chính xác, trung thực về sự kiện biểu tình này trên đài truyền hình, đài phát thanh và báo Tuổi Trẻ.

Đáng chú ý là ông Nguyễn Thành Tài đã nói ông ghi nhận hành động thể hiện lòng yêu nước của sinh viên Việt Nam. Điều này chứng tỏ ông công nhận hành động biểu tình của các bạn sinh viên là hành động yêu nước, đáng biểu dương.

Ở đây, ông Nguyễn Thành Tài đã dành được sự ủng hộ của sinh viên khi ông đã phát biểu nhiều câu thẳng thắn, được đông đảo thanh niên ủng hộ. Ông cũng đã nhận trách nhiệm trong việc công an có một số hành động sai trái khi ngăn cản thanh niên tham gia đoàn biểu tình.


Cảm nghĩ

Có lẽ đây là sự kiện biểu tình đầu tiên của sinh viên Việt Nam mà không có sự chỉ đạo của Thành Đoàn. Cuộc biểu tình đã thành công khi nó đã tác động được đến những lãnh đạo cao cấp và buộc họ phải xuống gặp thanh niên để cùng trao đổi.

Việc ông Nguyễn Thành Tài, một lãnh đạo cao cấp của thành phố xuống tận nơi gặp gỡ sinh viên đã chứng tỏ thái độ tôn trọng sinh viên của chính quyền. Đây là cách hành xử rất đáng biểu dương.

Cuộc biểu tình diễn ra trong ôn hòa, trật tự đã thể hiện ý thức chính trị, xã hội, pháp luật tốt của sinh viên Việt Nam. Các bạn đã chứng minh cho cả dân tộc và thế giới thấy bản lĩnh của sinh viên Việt Nam.

Dù vậy, việc Bộ ngoại giao cho rằng cuộc biểu tình yêu nước vừa qua là "chưa được phép" có thể sẽ khiến nhiệt huyết trong lòng các bạn giảm đi đôi chút.

Và có thể một số bạn sẽ nghi ngờ những lời phát biểu của ông phó chủ tịch UBND Nguyễn Thành Tài, làm chính quyền "mất điểm" trong mắt các bạn sinh viên.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Quý vị có ý kiến gì về câu chuyện xin gửi về Diễn đàn BBC ở địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk







TRUNG CỘNG RA LỆNH CHO CSVN
DẸP BIỂU TÌNH

Trung Quốc Ra Lệnh Cho Đảng CSVN Phải Đàn Áp Biểu Tình
Quốc Hương (Hà Nội)


Quan thầy Trung Quốc vừa đưa ra lệnh cho  đảng CSVN phải đàn áp biểu tình của sinh viên bằng một giọng điệu hống hách theo kiểu quan thầy Mã Viện ngày xưa. Người Việt Nam chưa bao giờ bị nhục nhã như vậy khi bọn Tàu Phù vừa chiếm đất vừa ra lệnh cho VN như người là bề trên . Sau khi ông Tần Cương mở lời tuyên bố hống hách thì CSVN và 600 báo đài giữ thái độ im lặng không khác gì là những con bù nhìn mà lâu lâu chỉ ú ớ lên một tiếng như ông Lê Dũng nói cho có lệ rồi sau đó im luôn.

Lịch sử VN đã chứng minh qua 1,000 năm quân Tàu Phù phải nhiều lần hoảng sợ vì những cuộc đối kháng của các anh hùng đất Việt như Lý Thường Kiệt, Quang Trung ….Chính Phủ Trung Quốc có uy thế lắm sao mà ngang nhiên ra lệnh đòi nhà cầm quyền và đảng CSVN phải đàn áp ngay chính những người Dân Việt , và những người dân nầy chỉ dùng hình thức ôn hòa biểu tình phản kháng Trung Quốc chiếm đất của VN ! .

Bọn bành trướng Trung Quốc đã dùng xe tăng và quân đội để bắn giết Dân của họ ở Thiên An Môn quá dễ dàng nên bọn Tàu Phù nầy xem người Dân VN như là cỏ rác . Trung Quốc muốn làm gì thì chỉ cần ra lệnh cho đảng CSVN là họ sẽ phải cuối đầu tuân lệnh . Đảng và nhà nước ta sẽ dùng ngay Công An “Nhân Dân “để đàn áp chính Nhân Dân mình theo lệnh bọn Thái Thú .

Đảng CSVN hay lắm cơ mà , đã từng rêu rao là có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp Mỹ mà bây giờ hèn yếu thế . Hèn và yếu ớt như một cô gái nhỏ bị bọn Tàu Phù hiếp Dâm nhiều lần mà chỉ có biết ngồi khóc than thở , chỉ biết dâng hiến thêm chứ không có tinh thần phản kháng .

Tinh thần “Chống Mỹ Cứu Nước ” Tinh Thần Kháng Pháp ở đâu sao không thấy nữa hả những đảng viên CSVN hèn và nhu nhược kia ơi . Người dân Việt Nam sẵn sàng đổ máu để bảo vệ giang san mà sao những người tự xưng là anh hùng trong 2 cuộc kháng chiến kia hôm ngày nay phải ngồi im lặng nghe lệnh của quan thầy Trung Quốc thế ư . Không lẽ đảng CSVN lại còn hèn hơn cả Lê Chiêu Thống ???
 
Chúng ta hãy đọc những câu hóng hách mà bọn chó má Tàu Phù coi thường dân VN như cỏ rác  : Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nói: “Chúng tôi thực sự quan ngại về những diễn biến mới đây ở Việt Nam. Điều đó sẽ làm tổn hại quan hệ tốt đẹp giữa hai nước”.  “Chúng tôi hy vọng chính phủ Việt Nam sẽ có thái độ trách nhiệm đồng thời có các biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn những sự việc làm tổn hại đến quan hệ song phương như vậy“.

Sau khi ra lệnh xong , bọn Tàu vẫn cứ ngoan cố cho Hoàng Sa & Truo`ng sa là của họ : “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo và vùng biển lân cận ở khu vực biển Nam Trung Hoa“.

Quốc Hương (Hà Nội) 





========PHẢN ỨNG TỔNG QUÁT CỦA KHỐI NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI=========



TỪ QUỐC NỘI
SÀI GÒN: MỘT NGƯỜI BỐ UẤT ỨC

Loi than tho cua mot nguoi Bo gia uat uc .
 

Tôi viết lá thư này mong nhận được sự đồng cảm, sự chia sẻ cho tâm trạng một người dân bình thường như tôi. Cũng xin thể tất cho tôi viết không được mạch lạc cho lắm, vì tâm trí tôi đang bị rối loạn, hoang mang, cay đắng …
 
Vài bữa nay ở Sài Gòn nhiều việc càng nghĩ càng đớn đau.

Tôi có một cậu con trai, năm nay 17 tuổi, cái độ tuổi chuẩn bị cho nghĩa vụ quân sự. Theo suy nghĩ thông thường, đến tuổi thì phải đi bộ đội, đi để giữ gìn đất nước. Thế nhưng, theo những diễn biến những ngày gần đây tại Sài Gòn, tôi bị day dứt : tôi sẽ cho con tôi đi bộ đội, theo luật qui định về nghĩa vụ quân sự, nói là đi để giữ gìn biên cương của tổ quốc Việt Nam. Có thật vậy không ? Hay là đi để bảo vệ Đảng Cộng sản VN ?

Tôi, cũng như bao bậc cha mẹ khác, rứt ruột đẻ con, nuôi con ăn học trưởng thành, để rồi giao con mình đi cầm súng để bảo vệ cho nhóm cầm quyền Đảng Cộng sản VN thì đau quá, nhục quá ! Tôi muốn mọi người ở ngoài biên cương VN biết được sự thật sau : ở các tổ dân phố, các phường vài ngày qua tổ chức họp người dân, yêu cầu các bậc cha mẹ, người lớn kiểm soát không cho con của mình tham gia biểu tình (nghe nói vào ngày chủ nhật 16/12 hoặc trong sắp tới).

Mà biểu tình chống ai ? Chống Trung Quốc ngang nhiên lập thành phố trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Một chính quyền gì mà lại ngăn cản người dân biểu thị lòng yêu nước ? Tôi thật không hiểu nổi. Tôi ngồi dự họp tổ dân phố, nghe người ta phổ biến là trong cuộc biểu tình vừa rồi, có người dẫm lên lá cờ Trung Quốc, và đó là “quá khích”. Trời ơi ! Trong khi bọn Trung Quốc dẫm đạp lên mảnh đất Tổ quốc VN thì không sao, còn người dân VN mình dẫm lên lá cờ vì quá uất ức thì chính quyền VN e ngại “làm tổn hại đến quan hệ hai nước VN – TQ”, chính quyền tổ chức những cuộc họp “khủng bố” tinh thần của chính người dân VN ! Không có văn bản, mà ranh ma tổ chức thông báo miệng đến các tổ dân phố.

Tôi bần thần tự hỏi, chính quyền hiện hành có còn là chính quyền của dân tộc VN hay không ? Tự hỏi để rồi ngầm trả lời : không, không, không , chính quyền này không phải là của dân tộc VN, mà là chính quyền của đảng cộng sản VN ! Tôi và bao bậc cha mẹ khác lẽ nào đưa con mình đi cầm súng để bảo vệ đảng nô lệ như thế này ??? Tôi đã rớt nước mắt. Tệ hại quá, tôi phải “nướng” con tôi cho lũ cầm quyền phản dân tộc này ? Tôi sẽ phải làm thế nào ? Cầm súng bảo vệ đất nước thì tôi không sợ, cầm súng chống bọn xâm lấn Trung Quốc thì tôi sẵn sàng đưa con tôi lên đường ! Còn cầm súng, hi sinh con cái chúng tôi cho quyền lợi riêng của đảng cộng sản VN thì khác nào sự ngu xuẩn, hơn nữa, đó là sự nhục nhã ! Còn nếu không đưa con đi nghĩa vụ, tôi sẽ bảo nó trốn cách nào ? Giá như gia đình tôi có tiền của, như đám cán bộ nắm quyền, tôi sẽ “chạy” được cho con ra nước ngoài du học. Hàng triệu gia đình như gia đình tôi phải chạy ăn từng bữa thì làm gì có khả năng cao sang đó ? Chúng tôi sẽ đưa con cái chúng tôi trốn đi đâu?

Tôi đang phải trốn chạy, ngay trên chính quê hương VN của mình sao ???

Một sự thật nữa : ở các trường đại học, trong vài ngày qua, xuất hiện cái sự “phổ biến” từ phía đoàn thanh niên cộng sản HCM, cũng là phổ biến miệng, không ra văn bản, cho biết là những sinh viên vừa qua tham gia biểu tình sẽ bị đuổi học ! Yêu nước thì bị đuổi học ! Đòn phép khốn nạn này, tôi nghĩ, làm cho nhiều sinh viên nghèo khó rụt rè, sợ hãi. Cả một tương lai tối sầm, thất học thì làm sao thay đổi cuộc đời, giúp đỡ gia đình ? Cứ ngỡ là biểu thị lòng yêu nước, sẽ được chính quyền ủng hộ ! Chính quyền này, đảng cộng sản VN này không dám trấn áp người biểu tình (sẽ ăn nói ra làm sao trước dân, khác nào lộ ra bộ mặt bán nước, nô lệ ngoại bang), thay vì thế đi trấn áp ngầm !

Làm cách nào để giúp người dân VN thoát khỏi nỗi nhục này ?

Thông cảm cho tôi, khi nỗi sợ của tôi vẫn còn : viết lá thư mà không dám ký tên thật (cũng xin quí vị đừng nêu nickname, đừng nêu địa chỉ email của tôi). Tôi cầu khẩn quí vị lên tiếng trước quốc tế, cho biết rõ ràng những thủ đoạn hèn hạ kể trên (họp tổ dân phố, họp trong truờng đại học, để khủng-bố-tinh-thần) của chính quyền VN (nói đúng hơn là chính quyền của đảng cộng sản VN) để đè bẹp lòng yêu nước vừa trồi dậy thì phải chết tiệt hẳn. Xin quí vị lên tiếng thay cho tôi, lên tiếng giùm cho người dân trong nước VN. Được vậy, tôi sẽ nhớ ơn đến tận cuối đời.

Ngày xưa, Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc bán nước, đáng phỉ nhổ ! Lúc Thống, Tắc bán nước thì có bao giờ chúng dại mà nói thẳng ra trước toàn dân, mà chúng cũng phải đưa lý do về xây dựng quan hệ hữu hảo với thiên triều chứ ! Tôi đang nhìn thấy một kịch bản được lặp lại.
                Kính thư,
                Một người bố gia đình vừa sợ vừa uất






CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO
ÚC CHÂU LÊN TIẾNG

TUYÊN CÁO
V/V TRUNG CỘNG CƯỠNG CHIẾM CÁC ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

Đầu tháng 12, 2007, Trung Cộng đã tuyên bố thành lập đơn vị hành chánh Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý ba quần đảo ngoài khơi Thái Bình Dương, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đây là một hành động ngang ngược của Trung Cộng nhằm chính thức hóa việc cưỡng chiếm hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam mà cha ông chúng ta đã trao lại cho con cháu.  Một lần nữa Trung Cộng lại thể hiện thái độ bá quyền trong những liên hệ bang giao xưa nay với chế độ Cộng Sản Việt Nam nhu nhược.

CĐNVTD/Úc Châu:

1. Khẳng định rằng các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ thuộc chủ quyền của nước VN, đã được chứng minh rõ ràng qua nhiều văn kiện lịch sử rằng người Việt đã khai thác và cư ngụ tại đó từ thế kỷ 17.

2. Cực lực lên án thái độ khiếp nhược của chế độ CSVN bất xứng, đã hành xử như một chư hầu của Trung Cộng, thể hiện qua bức Công Hàm ngày 14/9/1958 mà Phạm Văn Đồng ký gửi cho Chu Ân Lai công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên vùng biển Đông, qua hai Hiệp Định Phân Định Vùng Biển và Hiệp Định về Biên Giới Trên Đất Liền năm 2000 cắt đất và biển của tổ quốc cho Trung Cộng, cho đến những sự kiện xẩy ra gần đây như việc im tiếng, bất động trước việc hải quân TC bắn chết và bắt giữ ngư dân VN trái phép ở biển Đông năm 2005 và 2007.

3. Đòi hỏi CSVN, thay vì chỉ lên tiếng qua loa lấy lệ như hiện nay, phải phản kháng mạnh mẽ và quyết liệt đối với Trung Cộng, và có những hành động thực tế về công pháp quốc tế và quân sự nhằm bảo vệ lãnh thổ của đất nước.  Tối thiểu là phải chính thức tuyên bố vô hiệu hóa bức Công Hàm bán nước năm 1958 của Phạm Văn Đồng và hai Hiệp Định năm 2000 cắt đất cắt biển cho Trung Cộng.

4. Ủng hộ những cuộc biểu tình của các sinh viên, thanh niên, nam phụ lão ấu VN trong nước phản đối Trung Cộng xâm phạm lãnh thổ của VN.

5. Kêu gọi nhân dân và quân đội trong nước hãy đứng lên bảo vệ tổ quốc Việt Nam thiêng liêng và đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải làm mọi cách để lấy lại gia tài đất, biển của tổ tiên như Ải Nam Quan, đã mất về tay Trung Cộng.

6. Cực lực lên án hành động cướp đất trắng trợn của Trung Cộng, vi phạm trầm trọng chủ quyền của quốc gia VN.

7. Kêu gọi các quốc gia yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới hãy vận động để ngăn chặn Trung Cộng ngang nhiên cướp đất của nước khác và áp đặt bá quyền trên vùng biển Đông, đi ngược lại tinh thần của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và đe dọa hòa bình tại Đông Nam Á.

Đồng tuyên cáo tại Úc Châu ngày 12 tháng 12 năm 200

CĐNVTD/Liên bang Úc Châu: Nguyễn Mạnh Tiến
CĐNVTD/NSW: Võ Trí Dũng
CĐNVTD/VIC: Nguyễn Thế Phong
CĐNVTD/QLD: Bùi Trọng Cường
CĐNVTD/Nam Úc: Đoàn Công Chánh Phú Lộc
CĐNVTD/ACT: Lê Công
CĐNVTD/Bắc Úc: Lê Tấn Thiện
CĐNVTD/Wollongong: Trần Hương Thủy
CĐNVTD/ Tây Úc: Phạm Lê Hoàng Nam

 




90 ĐOÀN THỂ HẢI NGOẠI ĐỒNG KHẲNG ĐỊNH

90 Đoàn Thể, Tổ Chức Cùng Khẳng Định
Lập Trường về Hoàng Sa - Trường Sa
 

Ngày 10 tháng 12, 2007 -- Trước việc Trung Cộng tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản trị một số quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa, 45 tổ chức, đoàn thể Việt Nam trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam, đã cùng ký tên chung trong bản Khẳng Định Lập Trường để xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này.

Sau khi nêu rõ các hành động của Trung Cộng lấn chiếm lãnh thổ và hải đảo của Việt Nam, bản Khẳng Định Lập Trường đề ngày 7 tháng 12 năm 2007, đã cực lực lên án chủ nghĩa bá quyền của Trung Cộng và kêu gọi "dân chúng Việt Nam tích cực biểu tỏ thái độ phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc, cụ thể nhất là tụ tập biểu tình trước sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc ở khắp nơi, đặc biệt tại Hà Nội và Sài Gòn".

Bản Khẳng Định Lập Trường cũng trình bày một số sự kiện xác định trách nhiệm của đảng CSVN trong việc làm mất đất đai và lãnh hải vào tay bá quyền phương Bắc.

Được biết vì thời gian gấp rút, một số đoàn thể không thông báo kịp thời sự tham gia. Vì vậy danh sách các đoàn thể ký tên sẽ còn tiếp tục gia tăng trong những ngày tới. Dưới đây là nguyên văn bản Khẳng Định Lập Trường và danh sách 45 tổ chức, đoàn thể với danh tánh người đại diện ký tên, tính đến trưa Thứ Hai, 10 tháng 12 năm 2007:

Bản Khẳng Định Lập Trường của Người Việt Trên Toàn Cầu về Hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 2 tháng 12 năm 2007, nhà cầm quyền CS Trung Quốc lại đi một bước nữa trong việc lấn lướt chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa khi tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản trị một số quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Quyết định này là điểm kết của một chuỗi các hành động ngang ngược trong việc chiếm cứ các hải đảo của Việt Nam, gồm:

Ngày 19 tháng Giêng năm 1974, dùng hải quân cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa;
Ngày 14 tháng Ba năm 1988, chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa;
Ngày 14 tháng Tư năm 1988, tuyên bố sát nhập 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam.

Trước các sự kiện trên, chúng tôi, đại diện các đoàn thể Người Việt khắp nơi trên thế giới cùng lên tiếng thay cho những người Việt quan tâm đến đất nước:

Cực lực lên án chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc, thể hiện cụ thể và thô bạo qua việc dùng vũ lực cưỡng chiếm lãnh thổ và lãnh hải các nước lân bang;

Hoàn toàn phủ nhận chủ quyền Trung Hoa trên các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa;

Long trọng kêu gọi các quốc gia yêu chuộng hoà bình và công lý làm mọi cách để Trung Quốc hoàn trả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về cho Việt Nam ;

Khẩn thiết kêu gọi dân chúng Việt Nam tích cực biểu tỏ thái độ phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc, cụ thể nhất là tụ tập biểu tình trước sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc ở khắp nơi, đặc biệt tại Hà Nội và Sài Gòn.

Nhân đây, chúng tôi muốn nêu lên trách nhiệm to lớn của đảng CSVN trong việc làm mất lãnh thổ và lãnh hải vào tay Trung Quốc. Bằng chứng cụ thể là:

Công Hàm ngày 14 tháng Chín năm 1958 do Phạm Văn Đồng ký, nhân danh Thủ Tướng Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã "công nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc".

Nhà cầm quyền CSVN đã hoàn toàn im lặng trước việc Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa sau cuộc hải chiến diễn ra ngày 19 tháng 1 năm 1974 giữa Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng Hoà.

Để có đủ khả năng bảo vệ giang sơn của cha ông để lại, dân chúng Việt Nam phải đoàn kết thành một khối. Sự đoàn kết này chỉ có thể đạt được trong môi trường sinh hoạt dân chủ, nhân quyền được tôn trọng, và nhân phẩm con người được đề cao. Chỉ có thế toàn dân mới ngồi lại được thành một khối trước hiểm hoạ ngoại xâm.

Ngày 7 tháng 12 năm 2007
90 ĐOÀN THỂ ĐỒNG KÝ




============NHỮNG BẰNG CHỨNG CỦA CHỦ QUYỀN VIỆT NAM===========




NÓI VỚI GIỚI TRẺ VỀ BIỂN ĐÔNG

NÓI VỚI CÁC BẠN TRẺ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
VỀ BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG


L.S. NGUYỄN HỮU THỐNG, Dec 13, 2007

 

Cali Today News - Biển Đông với Hoàng Sa, Trường Sa và Vịnh Bắc Việt là một vấn đề rối mù. Rối mù về địa lý, về pháp lý và nhất là do chiến thuật hỏa mù của Trung Quốc. Do đó, chúng ta cần trình bày vấn đề minh bạch và đơn giản.

VỀ ĐỊA LÝ

Hoàng Sa gồm 13 đảo san hô tí hon tại các vĩ tuyến 17-15 Bắc, phía đông Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Trường Sa với 9 đảo nhỏ hơn nữa tại các vĩ tuyến 12-7 Bắc, dọc từ Cam Ranh về Nam Cà Mau. Có khoảng 500 đảo, cồn, đá, bãi nằm rải rác trên biển cả, từ Việt Nam qua Phi Luật Tân, không có thường dân cư ngụ và không tựï túc về kinh tế. Trong số này chỉ có hơn 50 đơn vị có địa danh, gồm 28 cao địa và hơn 20 đơn vị đá chìm và bãi ngầm.

a) Từ 1974 Trung Quốc chiếm toàn thể HOÀNG SA gồm 13 đảo:

7 đảo phía Đông Bắc thuộc Nhóm Tuyên Đức (Amphitrite) trong đó có Đảo Phú Lâm (Woody Island) hình bầu dục, diện tích 1.3km2. Nếu là hình chữ nhật, bề dài có thể là 1300m và bề ngang 1000m (bằng một công viên nhỏ). Phú Lâm là đảo lớn nhất tại Hoàng Sa và Trường Sa.

6 đảo phiá Tây Nam thuộc Nhóm Nguyệt Thiềm (Crescent), trong đó có Đảo Hoàng Sa (Pattel) rộng 0.56km2 bằng 1/2 Phú Lâm và bằng 1/1000 Phú Quốc (568 km2).
b) Vùng biển TRƯỜNG SA bao la (180.000 dậm vuông) rộng gấp 10 lần Hoàng Sa, nhưng chỉ có 9 tiểu đảo.

Việt Nam chiếm 3 đảo: Trường Sa (Spratley), Nam Yết (Namyit) và Sinh Tồn (Sincowe).

Phi Luật Tân chiếm 5 đảo: Bình Nguyên (Flat), Vĩnh Viễn
(Nanshan), Bến Lộc (West York), Loại Tá (Loaita) và Thị Tứ (Thitu).

Đài Loan chiếm Đảo Thái Bình (Itu Aba).

Đảo Trường Sa diện tích 0.13km2, bằng 1/10 Phú Lâm.

Có tin mới đây Đài Loan đã rút quân khỏi Đảo Thái Bình, hòn đảo lớn nhất tại Trường Sa.

Ngoài 3 đảo, Việt Nam còn chiếm 3 cồn (cay) là An Bang (Amboyna), Song Tử Tây (SouthWest) và Sơn Ca (Sand), cùng 7 đá nổi, 9 đá chìm và bãi ngầm, tổng cộng 22 đơn vị.

Ngoài 5 đảo, Phi Luật Tân còn chiếm 3 cồn , 2 đá nổi và 8 đá chìm, tổng cộng 18 đơn vị.

Trung Quốc chiếm 2 đá nổi (reef) là Đá Chữ Thập (Fiery Cross) và Đá Ga Ven (Gaven), cùng 6 đá chìm, tổng cộng 8 đơn vị.

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao từ 1974 khi Trung Quốc chiếm toàn thể Hoàng Sa, và nhất là từ 1988 khi xâm lấn Trường Sa, họ lại không thừa thắng xông lên để chiếm thêm một số hải đảo mà phải lấy một hòn đá (Đá Chữ Thập) làm địa điểm chỉ huy ?

Thực ra Trung Quốc chỉ muốn thương thảo song phương với các quốc gia duyên hải về phương thức khai thác chung dầu khí tại thềm lục địa (không phải của họ).


VỀ PHÁP LÝ

Địa cầu gồm 3 phần đất và 7 phần nước. Nếu có luật quốc tế cho các lãnh thổ thì cũng phải có Luật Biển cho vùng lãnh hải. Năm 1982, 119 quốc gia ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (Law of the Sea Convention hay Los Convention) trong đó có Trung Quốc và Việt Nam.

Sau đây là định nghĩa về biển lịch sử, đường căn bản, biển lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh te,á thềm lục địa, hải đảo và quần đảo.

1. Biển Lịch Sử ( historic waters).

Theo Toà Án Quốc Tế và Điều 8 Luật Biển, biển lịch sử là nội hải nằm về phía đất liền, bên trong đường căn bản của biển lãnh thổ. Như vậy biển lịch sử không thể là Nam Hải cách lục địa Trung Hoa tới 2 000 cây số.

2. Đường căn bản (baselines) là lằn nước thủy triều xuống thấp.

3. Biển lãnh thổ (territorial sea) rộng 12 hải lý tính từ đường căn bản ra khơi.

4. Nối tiếp biển lãnh thổ 12 hải lý là Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý để đánh cá. (Exclusive Economic Zone, 200-mile-fishery zone).

5. Vùng Đặc Quyền Kinh Tế trùng điệp với Thềm Lục Địa (Continental Shelf) 200 hải lý để khai thác dầu khí.

Thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải trong việc khai thác dầu khí. Quyền này không tùy thuộc vào điều kiện chiếm cứ (occupation) hay công bố (declaration) (Điều 77). Do đó việc Trung Cộng chiếm đóng một số đảo, đá, bãi tại Hoàng Sa và Trường Sa không có tác dụng tước đọat chủ quyền của Việt Nam tại thềm lục địa.

6. Hải đảo và quần đảo

Các hải đảo (như Đài Loan hay Tích Lan) được quyền có biển lãnh thổ 12 hải lý, và quy chế vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý. Tuy nhiên, các tiểu đảo không có thường dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế (như Hoàng SaTrường Sa) không được hưởng quy chế này. (Điều 121).

Trong án lệ Lybia/Malta (l985) Tòa án không đồng hóa đảo Malta với lục địa, dầu rằng Malta có 350 ngàn dân cư ngụ trên một diện tích 122 dậm vuông.

Theo định nghĩa, quần đảo bao gồm các hải đảo nằm san sát bên nhau và có diện tích ít nhất bằng 1/9 vùng biển nơi tọa lạc (như các quần đảo Nam Dương hay Phi Luật Tân).

Như vậy:

1) Hoàng Sa Trường Sa không phải là “quần đảo” luật định vì có diện tích quá nhỏ (4 dặm vuông) trong một vùng biển bao la (180 ngàn dặm vuông).

2) Các tiểu đảo (trên 20 hòn) tại Hoàng Sa Trường Sa không phải là “đảo” luật định, và không được hưởng quy chế 200 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí.

ĐẤU LÝ VÀ ĐẤU PHÁP

Năm l982 với tư cách một ngũ cường, Trung Hoa hoan hỉ ký Công Ước về Luật Biển. Ký xong, Bắc Kinh mới thấy lo! Những điều khỏan trong Công Ứóc đã quá rõ rệt. Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa kể từ biển lãnh thổ.

Trong khi đó Trường Sa cách lục địa Trung Hoa khoảng 750 hải lý, nên không nằm trong thềm lục địa của Trung Hoa. Hoàng Sa cũng cách Hoa Lục lối 270 hải lý.

Tại bờ biển Việt Nam, thềm lục địa chạy thoai thoải từ dãy Trường Sơn ra Hoàng Sa.Về địa hình, Hoàng Sa là một hành lang của Trường Sơn từ Cù Lao Ré ra khơi. Đây là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Năm 1925, nhà địa chất học quốc tế Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempf, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc đã lập phúc trình và kết luận: “VỀ MẶT ĐIA CHẤT, NHỮNG ĐẢO HOÀNG SA LÀ THÀNH PHẦN CỦA VIỆT NAM” (Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam).

Tại Trường Sa cũng vậy. Về độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo cồn đá bãi Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của thềm lục địa Việt Nam. Tại bãi Tứ Chính , nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400m, và tại vùng đảo Trường Sa độ sâu chỉ tới 200m. Bãi Tứ Chính cách bờ biển Việt Nam khoảng 190 hải lý và cách lục địa Trung Hoa tới 780 hải lý. Trường Sa cách Việt Nam 220 hải lý và cách Hoa Lục 750 hải lý. Từ Trường Sa về bờ biển Trung Hoa có rãnh biển sâu hơn 4.600m.

Bị ràng buộc bởi Luật Biển với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý, Trung Hoa tung ra CHIẾN DỊCH HỎA MÙ, gây bất ổn, tranh chấp lung tung, thao diễn, phóng hỏa tiễn, lấn chiếm bừa bãi tại miền bờ biển để gây tiếng vang. Mục đích để phá rối an ninh trật tự, làm cản trở giao thông trên mặt biển, tạo áp lực, hù dọa và khuyến dụ các quốc gia Đông Nam Á hãy tạm gác vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo để cùng nhau KHAI THÁC DÂÙ KHÍ CHUNG TẠI THỀM LỤC ĐỊA VÀ ĐÁNH CÁ CHUNG TẠI VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ.

BIỂN LICH SỬ: THỦ ĐẮC CHỦ QUYỀN DO KHÁM PHÁ

Năm 1982, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển Việt Nam, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý, và cách Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lý. Nó chiếm trọn 3 tuí dầu khí: Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna của Nam Dương và Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân

Trung Quốc đưa ra nhiều tài liệu lịch sử để chứng minh rằng từ đời Hán Vũ Đế 100 ngàn hải quân Trung Hoa đi tuần thám đã khám phá các đảo Nam Hải. Sự khám phá này được tiếp tục dưới đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh.

Những tài liệu lịch sử này không đáng tin cậy:

1. Chính sách bế quan tỏa cảng.

Suốt chiều dài lịch sử, Trung Hoa không bao giờ chủ trương chinh phục đại dương. Thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng từ đời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước công nguyên). Vạn Lý Trường Thành không chỉ là một kiến trúc mà còn là một nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu man rợ. Đảo Hải Nam là chốn lưu đày các tù nhân biệt xứ. Cho đến thế kỷ 20, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được thi hành.

Với tâm lý tự cô lập, không thể có 100 ngàn quân Trung Hoa đời Tây Hán đi khám phá các đảo san hô tí hon tại Nam Hải. Rất có thể đó chỉ là 10 vạn quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du đánh tan trong trận Xích Bích.

Các chuyến hải hành đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, và nhà Thanh chỉ là những cuộc nam chinh nhằm thôn tính Việt Nam. Lịch sử đã ghi việc Lê Đại Hành phá tan thủy binh của Lưu Trừng nhà Tống, quân Trần Hưng Đạo bắn chết Toa Đô và bắt sống Ô Mã Nhi nhà Nguyên, Lê Lợi đánh bại hải quân tiếp viện cho Vương Thông nhà Minh, và Quang Trung phá tan hải quân của đề đốc Hứa Thế Hanh nhà Thanh. Việc các thủy binh đời Minh Thành Tổ đi thăm viếng các quốc gia Á Châu nếu có, cũng không có tác dụng thủ đắc chủ quyền tại các hải đảo. Từ thế kỷ l5, các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha như Vasco de Gama và Magellan đã đi xuyên 3 đại dương từ Đại Tây Dương, vượt Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, khám phá hàng ngàn hải đảo kể cả Phi Luật Tân và Guam. Nhưng Bồ Đào Nha cũng không đòi chủ quyền các hải đảo này.

2. Danh xưng Nam Hải.

Theo chính các học giả Trung Hoa, Nam Hải là tên biển của Hoa Nam, cách Quảng Đông 50 dậm về phía Nam. Các nhà hàng hải Tây Phương muốn cho tiện nên gọi đó là Biển Nam Hoa (South China Sea) (ngọai nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).

Theo Tự Điển Tối Tân Thực Dụng Hán Anh xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 thì “Nam Hải là vùng biển kéo dài từ Eo Biển Đài Loan đến Quảng Đông”. (The Southern Sea stretching from the Taiwan Straits to Kwantung.)

Theo Từ Điển Từ Hải xuất bản năm 1948, thì Nam Hải thuộc chủ quyền hải phận chung của 5 nước là Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Đài Loan.

DO ĐÓ NAM HẢI KHÔNG PHẢI LÀ BIỂN CỦA TRUNG HOA VỀ PHÍA NAM. CŨNG NHƯ ẤN ĐỘ DƯƠNG KHÔNG PHẢI LÀ ĐẠI DƯƠNG CỦA ẤN ĐỘ.

Năm 1983, Trung Quốc vẽ lại bản đồ, đòi chủ quyền hải phận toàn thể vùng biển Đông Nam Á. Họ coi Nam Hải là một thứ nội hảiï theo kiểu Đế Quốc La Mã coi Địa Trung Hải là biển của chúng tôi (Mare Nostrum).

3. Luật pháp và án lệ.

Theo Tòa Án Quốc Tế, biển lịch sử chỉ là nội hải. Hơn nữa, Điều 8 Công Ước về Luật Biển (l982) đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định: “Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia nằm về phía đất liền, bên trong đường căn bản của biển lãnh thổ” [The International Court of Justice has defined historic waters as internal waters. “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State” Art.8 Los Convention (1982)].

Như vậy Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa, vì nó là ngoại hải và cách bờ biển Trung Hoa tới hai ngàn cây số.

Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Quốc chỉ là công “dã tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!”

THỦ ĐẮC CHỦ QUYỀN DO CHIẾM CỨ

Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ (terra nullius), sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:

a) Chiếm cứ thực sự

Tại Trường Sa trong số 28 cao địa, Trung Hoa chỉ chiếm 2 đá nổi, trong khi Việt Nam chiếm 13. Và trong hơn 50 đơn vị có địa danh, Trung Hoa chỉ chiếm 8, so với 22 của Việt Nam.

b) Chiếm cứ hòa bình.

Trong những năm 1974 và 1988 Trung Hoa dùng võ trang chiếm Hoàng Sa và một số đá, bãi tại Trường Sa. Tuy nhiên sự chiếm cứ không có tính hòa bình nên không được luật pháp bảo vệ. Cũng như thời Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản chiếm Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có chủ quyền hợp pháp.

c) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ

Không có sự phủ nhận rằng ít nhất từ 1816, dưới đời vua Gia Long, Việt Nam đã chiếm cứ công khai, liên tục, hòa bình các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bia chủ quyền do người Pháp dựng năm 1938 có ghi rõ:

République Francaise (Cộng Hòa Pháp)
Empire d’Annam (Vương Quốc Việt Nam)
Archipel des Paracels (Quần Đảo Hoàng Sa)
1816 -Ile de Pattle 1938 (Đảo Hoàng Sa)

Lịch sử Trung Hoa không mang lại bằng chứng nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ Hoàng Sa, Trường Sa từ đời Hán Vũ Đế hay ít nhất từ đời Mãn Thanh.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, khi quân đội Nhật Bản rút lui, Trung Hoa chiếm một phần Hoàng Sa (Nhóm Tuyên Đức phía Đông Bắc). Năm 1974 họ dùng võ trang chiếm nốt Nhóm Nguyệt Thiềm phía Tây Nam. Tại Trường Sa lần đầu tiên, năm l988, họ chiếm một số đá, bãi bằng võ lực. Sự chiếm cứ này vô hiệu vì không có tính hòa bình. Vả lại tới l974 và l988 các đảo Hoàng Sa-Trường Sa đã do Việt Nam chiếm đóng, nên không thể coi là đất vô chủ (terra nullius).

d) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được thừa nhận bởi các quốc gia liên hệ.

1) Năm 1951 tại Hội Nghị Cựu Kim Sơn, 51 quốc gia đồng minh ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản trong đó Nhật Bản từ bỏ chủ quyền về Hoàng Sa Trường Sa, nhưng không nói để trả cho nước nào. Đại biểu Liên Xô yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trả cho Trung Hoa. Nhưng Hội Nghị đã bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống. Sau đó phái đòan Việt Nam lên diễn đàn minh thị công bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa Trường Sa, và không gặp sự phản kháng nào.
2) Sự thừa nhận chỉ có nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải liên hệ. Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay tất cả các quốc gia Đông Nam Á không nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hoàng Sa Trường Sa.
3) Tuy nhiên Bắc Kinh còn viện dẫn văn thư ngày 14-9-1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi Thủ Tướng Chu Ân Lai để chủ trương rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Về mặt pháp lý sự thừa nhận này vô giá trị. Vì Trường Sa HoàngSa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa. Vấn đề lãnh thổ và lãnh hải thuộc thẩm quyền của quốc dân do quốc hội đại diện, chứ không thuộc hành pháp là cơ quan chấp hành luật pháp của quốc hội. Vả lại Quốc Hội Việt Nam trong những năm 1956 và 1966 đã công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Một văn thư của Chính Phủ Hà Nội năm 1958 không có hiệu lực thừa nhận chủ quyền các hải đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hồi đó.

THỀM LỤC ĐỊA

Vấn đề thực sự tại Trường Sa Hoàng Sa là vấn đề thềm lục địa nơi khai thác dầu khí.

Về Trường Sa.
Tại Trường Sa bãi dầu khí Tứ Chính (Vanguard) cách bờ biển Việt Nam khoảng 190 hải lý và cách bờ biển Trung Hoa lối 780 hải lý, nên thuộc thềm lục địa Việt Nam.

Về Hoàng Sa.
Hoàng Sa cách bờ biển Trung Hoa khoảng 270 hải lý và cách bờ biển Việt Nam lối 155 hải lý nên thuộc thềm lục địaViệt Nam. Khỏang cách từ cù lao Ré (Quảng Ngãi) ra đảo Tri Tôn chỉ có 123 hải lý. Về mặt địa hình đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của dẫy Trường Sơn từ đất liền chạy ra biển. Có thể nói Hoàng Sa là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Chiếu Luật Biển 1982 quyền của các quốc gia duyên hải tại thềm lục địa không tùy thuộc vào sự chiếm cứ (Điều 77). Do đó sự chiếm đóng võ trang của quân đội Trung Hoa không có tác dụng tước đoạt chủ quyền của Việt Nam tại thềm lục địa Hoàng Sa.

CÁC TIÊU CHUẨN:

Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc và Toà Án Quốc Tế đưa ra 10 tiêu chuẩn để phân ranh hải phận hay đồng hóa hải đảo vào lục địa:

1) Vị trí của các đảo đối với bờ biển tiếp cận. Tại vùng Hoàng Sa, đảo Tri Tôn chỉ cách lục địa Việt Nam 135 hải lý, trong khi đảo Hoàng Sa cách lục địa Trung Hoa tới 270 hải lý.
2) Diện tích các hải đảo so sánh với chiều dài bờ biển tiếp cận. Đảo Hoàng Sa quá nhỏ bé (0.56km2) chỉ bằng 1/1000 đảo Phú Quốc (568km2), trong khi bờ biển Việt Nam dài gấp 10 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Hoàng Sa.
3) Về độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo, cồn, đá, bãi Hoàng Sa và Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên từ lục địa Việt Nam ra biển. Độ sâu tại Hoàng Sa là 900m và tại Trường Sa là 200m. Từ Hoàng Sa Trường Sa về Hoa Lục có 2 rãnh biển sâu hơn 2300m và 4600m.
4) Về mặt địa chất, sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc, năm 1925 Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt xác nhận rằng “Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam “.
5) Về dân số, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không có thường dân cư ngụ, và không thể tự túc về kinh tế. Trong khi đó số dân cư ngụ tại miền bờ biển Việt Nam đông gấp mười số dân sinh sống tại đảo Hải Nam.
6) Về sinh thực học và khí hậu tại Hoàng Sa và Trường Sa, các đảo san hô cũng như cây cỏ và sinh vật tiêu biểu cho vùng nhiệt đới (Việt Nam ), chứ không thấy ở vùng ôn đới (Trung Hoa).

7) Về Khu Đặc Quyền Kinh Tế (để đánh cá), Biển Đông (với Hoàng Sa và Trường Sa) là khu vực đánh cá căn bản của Việt Nam. Trong khi đó, ngoài hải phận về phía Tây, Đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý để đánh cá về phía Đông thông qua Thái Bình Dương,.
8) Tại thềm lục địa Việt Nam những vùng có dầu khí nằm giữa Vịnh Bắc Việt và khu bãi Tứ Chính phía Đông Nam Cà Mau. Đây là nơi kết tầng các thủy tra thạch chứa đựng các chất hữu cơ do nước phù sa sông Hồng Hà và sông Cửu Long đổ ra biển từ hàng triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu có là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam chứ không phải từ Hoa Lục. Hơn nữa, ngoài hải phận về phía Tây, Đảo Hải Nam còn được 200 hải lý thềm lục địa để khai thác dầu khí về phía Đông thông qua Thái Bình Dương.
9) Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa có ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng mật thiết với Việt Nam hơn là Trung Hoa. Vì Trung Hoa còn có biển Hoàng Hải và Đông Trung Quốc Hải chạy thông qua Thái Bình Dương.
10) Các tài liệu, sách báo, họa đồ, các chứng tích lịch sử v...v...
phải có tính xác thực. Dầu sao các tài liệu này không có giá trị bằng các yếu tố khách quan khoa học như địa lý, địa hình, địa chất, dân số, sinh thực học, khí hậu cùng những yếu tố về ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng.
VỀ VỊNH BẮC VIỆT

Vấn đề phân ranh thềm lục địa hay hải phận tại Vịnh Bắc Việt cũng phải được giải quyết theo 8 tiêu chuẩn: 1) Vị trí và sự hiện diện của các đảo 2) chiều dài bờ biển 3) mật độ dân số 4) độ sâu và địa hình đáy biển 5) địa chất 6) vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá 7) thềm lục địa để khai thác dầu khí 8) ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng.

Đây là những điểm đặc thù ảnh hưởng đến việc phân định lãnh hải. Nếu đưa nội vụ ra trước Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa, Tòa Án Trọng Tài hay Tòa Án Quốc Tế, Việt Nam sẽ có ưu thế.

KẾ HOẠCH THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG QUỐC

Theo Công Ước về Luật Biển, các quốc gia duyên hải chỉ có 200 hải lý, vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá, vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Trong khi đó Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa khoảng 270 hải lý, và Trường Sa cách Hoa Lục lối 750 hải lý, nên không thuộc hải phận của Trung Quốc.
Đuối lý về pháp luật, Trung Quốc đưa ra thuyết Biển Lịch Sử để đòi chủ quyền toàn vùng Nam Hải.

Tuy nhiên Tòa Án Quốc Tế và Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển đã bác bỏ thuyết này.

Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Quốc đề ra kế hoạch 4 bước để thôn tính Biển Đông về kinh tế:

1) Ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh (theo
đó Việt Nam được 63% hải phận và Trung Hoa được 37%).
Nếu theo đường trung tuyến, Việt Nam sẽ được 53%. Tuy nhiên trên thực tế, phe Cộng Sản không theo đường trung tuyến và đã đưa ra 21 điểm phân định theo đó Việt Nam chỉ còn 45%.

2) Ký Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá để thiết lập Vùng Đánh Cá Chung rộng 61 hải lýù. Và trên thực tế Việt Nam chỉ còn 25% tại vĩ tuyến 17 và 32% tại vĩ tuyến 20. Với các tầu đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, với các lưới cá dài 50 hải lý, và nhất là với sự đồng lõa cấu kết của đội tuần cảnh duyên hải, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến thành khu vực đánh cá tự do cho đội kình ngư Trung Quốc mặc sức tận thu, vét sạch, và cạn tầu ráo máng.

3) Từ đánh cá chung đến hợp tác khai thác dầu khí chỉ còn một bước. Trong Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác dầu khí.

Ngày nay tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đề ra nhiều dự án thăm dò và khai thác dầu khí, như “Dự Án Quỳnh Hải” phía Tây đảo Hải Nam và “Dự Án Vịnh Bắc Bộ” phía Bắc vĩ tuyến 20. (Khi dùng danh xưng “Vịnh Bắc Bộ”, Trung Quốc mặc nhiên nhìn nhận đó là Vịnh của Việt Nam về phía Bắc. Vì nếu là củaTrung Quốc thì phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới đúng địa lý).

4) Với chính sách vết dầu loang, sau khi hoàn thành kế hoạch hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại Vịnh Bắc Việt, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và Nam Việt. Điều đáng lưu ý là vùng lãnh hải này thuộc khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam nên thuộc chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam.

Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể lãnh hải Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến miền duyên hải Trung và Nam Việt tại Hoàng Sa Trường Sa theo lời cam kết của Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng chỉ là kẻ thừa sai, bất lực, không có cả quyền bổ nhiệm một thứ trưởng theo lời tự thú của đương sự).

Như vậy, thuyết Biển Lịch Sử từng bị Tòa Án Quốc Tế và Công Ước về Luật Biển bác bỏ, nay lại có cơ hội trở thành hiện thực do kế hoạch 4 bước của Trung Quốc để thôn tính Biển Đông.

XÂM LẤN VÀ THÔN TÍNH

Sau đây là tiến trình xâm lấn và thôn tính Biển Đông của Trung Quốc trong 60 năm qua.

Năm 1945, sau Thế Chiến II, quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật đã thừa cơ chiếm cứ các đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Tuyên Đức.

Năm 1946 Trung Hoa đổi tên vùng biển Nam Hải thành Đặc Khu Hành Chánh Hải Nam, và đổi tên Hoàng Sa thành Tây Sa và Trường Sa thành Nam Sa.

Năm 1956, để phát động chiến tranh võ trang thôn tính Miền Nam, Hà Nội phải trông cậy vào sự yểm trợ của Bắc Kinh. Vì sau cái chết của Stalin năm 1953, Liên Xô muốn chuyển sang đường lối Chung Sống Hòa Bình. Trong khi đó Mao Trạch Đông vẫn chủ trương “giải phóng 1000 triệu con người Á Châu khỏi ách Đế Quốc Tư Bản”.

Theo luật vay trả, muốn được cưu mang yểm trợ, phải có sự cam kết đền ơn trả nghĩa.

Ngày 15-6-1956, Ngoại Trưởng Ung Văn Khiêm minh thị tuyên bố:

“Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa”.
Ngày 14-9-1958 do văn thư của Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai,
Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, xác nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Để biện minh cho lập trường của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, một tháng sau khi Trung Quốc tiến chiếm Trường Sa, báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng Cộng Sản, trong số ra ngày 26-4-1988 đã viết: “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng hai quần đảo nói trên”.

Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực năm 1974, đã viết: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi !”.

Có 3 lý do được viện dẫn cho lời cam kết của Hồ Chí Minh năm 1958:

a) Vì Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7 (Quảng Trị-
Nam Cà Mâu) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Hòa. Đối với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc trong thời điểm này chỉ là bán da gấu!

b) Sau này, do những tình cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn tính được Miền Nam thì mấy hòn đảo san hô tại Biển Đông đâu có ăn nhằm gì so với toàn thể lãnh thổ Việt Nam?

c) Giả sử cuộc “giải phóng Miền Nam” không thành, thì việc Trung
Quốc chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa cũng có tác dụng làm suy yếu phe quốc gia về kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng.

Năm 1972, sau thất bại Tết Mậu Thân (1968), để phát động chiến dịch Tổng Tấn Công Xuân Hạ hay Mùa Hè Đỏ Lửa, Hà Nội huy động toàn bộ các sư đoàn chính qui vào chiến trường Miền Nam. Để bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (như trong Chiến Tranh Triều Tiên), Hà Nội đã nhờ 300 ngàn quân Trung Quốc mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại 6 tỉnh biên giới Bắc Việt.

Trong thời gian này, với thế thượng phong của người thầy cưu mang (và với sự ưng thuận mặc nhiên của Bắc Việt) Trung Quốc tự tiện ấn định Vùng Biển Cấm (Hands-Off Area) tại Vịnh Bắc Việt, cấm ngư dân Việt Nam không được lai vãng. Đây là vùng biển sâu giữa Vịnh có nhiều cá lớn và nhiều tiềm năng dầu khí.

Vùng Biển Cấm diện tích 7200 hải lý vuông, rộng 60 hải lý (1 kinh độ) từ kinh tuyến 107 Đông (phía Việt Nam) tới kinh tuyến 108 Đông (phía Hải Nam), và dài 120 hải lý (2 vĩ độ), từ vĩ tuyến 20 Bắc (Ninh Bình) đến vĩ tuyến 18 Bắc (Hà Tĩnh).

Theo lời thú nhận của Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng từ đầu thập niên 1970, trong những cuộc thương thảo phân định lãnh hải, Trung Quốc “kiên trì” đề nghị thiết lập vùng đánh cá chung tại Vịnh Bắc Việt.

Với Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá năm 2000, Vùng Biển Cấm 60 hải lý từ Ninh Bình đến Hà Tĩnh chồng lấn hay trùng điệp với Vùng Đánh Cá Chung 61 hải lý từ Ninh Bình đến Quảng Bình.

Năm 1974 sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi chiến trường Việt Nam, Trung Quốc thừa cơ chiếm nốt các đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Nguyệt Thiềm. Nếu hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh chiến đấu thì Bắc Việt chỉ làm thinh. Rồi trơ trẽn ngụy biện: “Chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi !” (Báo Saigon Giải Phóng).

Năm 1979 Chiến Tranh Việt Trung bùng nổ làm đình hoãn cuộc thương nghị về lãnh thổ và lãnh hải.

Tranh chấp Việt Trung kéo dài từ 1979 đến 1988. Trong thời gian này, ngày 12-11-1982 bằng văn thư gởi Liên Hiệp Quốc để công bố Đường Căn Bản của Biển Lãnh Thổ, Hà Nội đã xác định chủ quyền lãnh thổ Vịnh Bắc Việt theo Hiệp Ước Bắc Kinh (1887) theo đó Việt Nam được 63%.

Từ 1988, khi Liên Xô bị sa lầy tại A Phú Hãn và bị bối rối tại Đông Âu do phong trào Giải Thể Cộng Sản, Gorbachev đưa ra chủ trương không can thiệp vào công việc của các quốc gia đồng minh. Lúc này Hà Nội cũng bị sa lầy tại Căm Bốt. Vì Liên Xô không còn là chỗ tựa, Hà Nội phải muối mặt quay lại thần phục Bắc Kinh. Tháng 4, 1988, một tháng sau khi Trung Quốc xâm lấn Trường Sa, Báo Nhân Dân còn ngụy biện rằng Việt Nam đã nhượng Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc để ngăn chận Hoa Kỳ sử dụng hai quần đảo nói trên!

Năm 1991 khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam xin tái lập bang giao với Trung Quốc. Và năm 1992 khi Trung Quốc chiếm bãi dầu khí Vạn An phía Đông Nam Cà Mau, Việt Nam cũng chỉ phản kháng chiếu lệ.

Năm 1999, với Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung, Việt Nam nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 lãnh thổ Bắc Việt.

Năm 2000, với Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt, Hà Nội nhượng cho Bắc Kinh từ 12.000 km2 đến 21.000 km2 hải phận.

Ngày 25-12-2004 các phái bộ Trung-Việt tổ chức liên hoan ngày kỷ niệm 4 năm ký kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp tác Nghề Cá.

Hai ngày sau, ngày 27-12-2004, nhà cầm quyền Bắc Kinh loan báo đã bắt giữ 80 ngư phủ Việt Nam về tội xâm nhập đánh cá bất hợp pháp. Các ngư phủ phản đối, nói họ vẫn truyền nối hành nghề đánh cá tại vùng biển này từ đời ông, đời cha. Nhưng lính tuần duyên Trung Quốc trả lời đã có hiệp định mới, và vùng biển này chính thức thuộc về Trung Quốc. Các ngư phủ không chịu, đòi báo cáo lên đội biên phòng Việt Nam. Lính hải quân Trung Quốc cười ngạo nghễ, ném thuốc nổ gần tàu, rồi lái tầu tuần duyên tông vô các tàu đánh cá khiến 23 ngư dân Việt Nam tại Đà Nẵng và Quảng Ngãi bị chết chìm, 6 người bị thương và 10 tàu đánh cá bị hư hỏng. Một số ngư dân khác tại Bình Định và Khánh Hòa cũng bị xua đuổi không được đến đánh cá tại ngoài khơi vùng biển Hoàng Sa. Những vụ sát hại dã man này không được phổ biến trên báo chí.

Hai tuần sau, ngày 8-01-2005, tại Vịnh Bắc Bộ, các tàu tuần duyên Trung Quốc bao vây và bắn xối xả vào các tàu đánh cá Việt Nam khiến 9 ngư dân Thanh Hóa bị thiệt mạng, 7 người bị thương và 8 người khác bị bắt đem đi.

Khi nội vụ phát giác, nhà cầm quyền Hà Nội còn muốn đổ tội cho “bọn hải tặc”. Trong khi đó, một vài tờ báoViệt Nam lại loan tin các ngư phủ Việt Nam bị “tàu nước ngoài" bao vây và dùng súng bắn xối xả. Và các hãng thông tấn ngoại quốc như AFP, Reuters đã xác định rằng đó chính là những tàu tuần duyên Trung Quốc. Vậy mà nhà cầm quyền Hà Nội chỉ dám phản kháng lấy lệ, chỉ lên án những hành động tự phát của các binh sĩ Trung Quốc và yêu cầu trừng phạt những cá nhân phạm pháp.

Thực ra đây không phải là những hành vi tự phát lẻ loi của một số binh sĩ vô trách nhiệm mà là cả một chính sách khủng bố của Trung Quốc để ngăn cấm ngư dân Việt Nam không được đến đánh cá tại vùng biển sâu, dành cho Trung Quốc độc quyền đánh cá, thăm dò và khai thác dầu khí. Hồi tháng 11, 2004, Trung Cộng còn ngang nhiên đưa một giàn khoan dầu khí từ Thượng Hải vào thềm lục địa Việt Nam chỉ cách bờ biển 63 km.

Ngày nay mọi người mới nhìn thấy ý đồ của Trung Quốc: Vùng Đánh Cá Chung quy định trong Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá chỉ là sự biến hình của Vùng Biển Cấm, cấm địa hay cấm hải do Trung Quốc ấn định từ đầu thập niên 1970. Mãi tới tháng 8, 2002 chính phủ Việt Nam mới lên tiếng phản đối việc Trung Quốc ấn định Vùng Biển Cấm đánh cá tại Vùng Đánh Cá Chung.

Từ sau ngày 30-6-2004 khi Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá có hiệu lực thi hành, Trung Quốc tự ban cho họ độc quyền thao túng tại Vùng Biển Cấm trong Vịnh BắcViệt cũng như tại miền duyên hải Trung Việt. Theo ghi nhận của đội biên phòng Việt Nam, nội trong năm 2004, riêng tại vùng biển Đà Nẵng, các tàu thuyền Trung Quốc đã xâm nhập hải phận Việt Nam 1017 lần. Vậy mà không thấy có phản ứng nào về phía Việt Nam.

Thừa thắng xông lên, từ tháng 10 đến tháng 12/2004, lính hải quân Trung Quốc đã sát hại 23 ngư dân Đà Nẵng và Quảng Ngãi.

Ngày 8-1-2005, các tàu tuần duyên Trung Quốc lại dùng đại liên bắn chết 9 ngư dân Thanh Hóa trong Vùng Biển Cấm tại Vịnh Bắc Việt. Đây là những hành động cố sát có dự mưu trong đó Việt Cộng là kẻ đồng lõa bằng cách giúp phương tiện.

Một tuần sau vụ khủng bố 8-1-2005, Trung Quốc đổi giọng, bịa đặt rằng lực lượng tuần duyên Trung Quốc chỉ bắn chết những kẻ cướp có vũ khí khi những người này định cướp tàu đánh cá của Trung Quốc. Độc đáo hơn nữa, các tàu đánh cá (tí hon) của Việt Nam đã nổ súng trước vào các tàu tuần duyên (có trang bị súng đại liên) của Trung Quốc! Vừa đánh trống vùa ăn cướp, Trung Quốc muốn biến vụ cố sát của họ thành vụ cướp biển của hải tặc để đòi quyền tự vệ chính đáng. Theo qui định của Ủy Ban Liên Hợp, đối với các ngư dân hoạt động bình thường, các tàu biên phòng không được dùng võ khí để hăm dọa, bạo hành, đả thương hay cố sát. Các biện pháp xử lý chỉ có tính cách hành chánh như bắt giữ các ngư thuyền vi phạm qui luật, nhưng phải trả tàu và trả tự do cho ngư dân khi có sự bảo lãnh thích đáng.

Trong vụ khủng bố tại Vịnh Bắc Việt và vùng biển Hoàng Sa, lính tuần duyên Trung Quốc đã giết người vô tội vạ trong chính sách “sát nhất nhân, vạn nhân cụ” (giết một số ngư dân vô tội khiến hàng vạn người khác sợ không dám đi đánh cá tại miền duyên hải xa bờ).

TRƯỚC TÒA ÁN QUỐC DÂN

Tháng 6, 2004 khi các Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có hiệu lực thi hành, thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói, Ủûy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền tại hải ngoại đã kết án Đảng Cộng Sản Việt Nam về 4 tội phản bội tổ quốc, với phần chủ văn như sau:

“Năm 1999 Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Biên Giới Việt Trung để nhượng đất biên giới cho Trung Quốc.

“Năm 2000, Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá để bán nước Biển Đông và dâng cá dâng dầu cho Trung Quốc.

“Năm 1958 bằng văn thư của Phạm Văn Đồng, Đảng Cộng Sản Việt Nam cam kết chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

“Những hành vi này cấu thành 4 tội phản bội Tổ Quốc bằng cách cấu kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, và xâm phạm quyền của Quốc Dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của Đất Nước”.

T.M. ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN QUYỀN

L.S. NGUYỄN HỮU THỐNG

http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=39d424d76267343f3fc449698704d361



HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHƯA BAO GIỜ
LÀ LÃNH THỔ CỦA TRUNG QUỐC

Trương Nhân Tuấn



Lược dịch và bổ-tức thêm từ Les Archipels Hoang-Sa et Truong-Sa Territoire Vietnamien – Ministère Des Affaires Etrangères 1981- CAOM Br 14279.
 
1/ Lý-lẽ của nhà cầm-quyền Trung-Quốc nhằm ngụy-biện các việc « khám-phá », « khai-khẩn » và « thâu huê-lợi » của dân-tộc Trung-Hoa tại Hoàng-Sa và Trường-Sa :

Hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc công-bố ngày 30 tháng 1 năm 1980 viết rằng : “Trung-Hoa là nước đầu tiên đã khám-phá, khai-khẩn, thâu huê-lợi và quản-lý các quần-đảo gọi là Xisha (Tây-Sa) và Nansha (Nam-Sa). Từ ngàn năm nay, những chính-phủ Trung-Hoa liên-tục đã đặt quyền-pháp trên những nơi đây. Dân-tộc Trung-Hoa là người chủ tại hai quần-đảo nầy không thể phản-biện”.
 
Tài liệu chứng-minh là hai tác-phẩm Nan Zhou Yi Wu Zhi (Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn) và Funanzhuan (Phù-Nam Truyện của Khang Thái từ thời Tam-Quốc (220-265) và một danh-sách 6 tác-phẩm từ đời Tống đến đời Thanh (thế-kỷ 11 đến thế-kỷ thứ 19) là: Mong Liang Lu (Mộng Lương Lục), Qao Yi Zhi Luc (Ðảo Di Chí Lược), Dong Xi Yang Kao (Ðông Tây Dương Khảo), Shun Feng Xiang Song (Thuận Phong Tương Tống), Zhi Nan Zheng Fa (Chỉ Nam Chinh Pháp), Hai Guo Wen Jian Lu (Hải Quốc Văn Kiến Lục).

Hồ-sơ này xác-nhận rằng những tác-phẩm trên đây « kể lại những cuộc hành-trình của người Hoa đi đến Tây-Sa và Nam-Sa và những hoạt-động sản-xuất mà họ đã thực-hiện từ hơn ngàn năm » và « đã đặt tên lần-lượt cho hai quần đảo nầy với những tên sau đây : Jiurulozhou (Cửu Nhũ Loa Châu), Shitang (Thạnh-Ðường), Qianlishitang (Thiên-Lý Thạnh Ðường, Wanlishitang (Vạn-Lý Thạnh Ðường), Changsha (Trường-Sa) , Qianlichangsha (Thiên-Lý Trường-Sa), Wanlichangsha (Vạn-Lý Trường-Sa) » v.v...

Nhưng thực-tế thì các bộ sách đã dẫn không phải là « chính sử » của Trung-Quốc và nội-dung trích dẫn không đúng như vậy. Điểm ghi nhận là các bộ « chính sử » của Trung-Quốc thì không bộ nào viết Tây-Sa và Nam-Sa (hay dưới các tên khác) thuộc về Trung-Quốc. Bộ Nhị Thập Tứ Sử (bộ chính sử được tất cả các triều đại Trung Quốc thừa nhận) tức từ Sử ký ghi chép từ Thượng cổ đến Tần, Hán, cho đến Minh sử; và Thanh sử cảo soạn thời Dân Quốc, ở các mục Địa lý chí đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đất Nhai Châu, Quỳnh Châu, tức Hải Nam ngày nay (xem Phạm Hoàng Quân, Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007).

Hai tác-phẩm thời Tam-Quốc thì nội-dung rất mơ-hồ, thiếu chính-xác, không có giá-trị sử-liệu và pháp-lý. Riêng 6 tác-phẩm từ đời Tống đến đời Thanh thì chỉ nhằm việc ghi-chép địa-lý, lịch-sử, tập-quán… của những xứ khác trong vùng Ðông-Nam Châu Á và vùng Nam Châu Á. Có sách viết về hải-trình từ Trung-Quốc đi đến các nước khác. Tuyệt-nhiên không có sách nào ghi lại sự có mặt của người Hoa tại hai quần-đảo nầy cũng như mô-tả về « hoạt-động sản-xuất » tại đó.

Những cái tên ngày xưa, theo Bắc-Kinh, là tên mà các tác-phẩm đó chỉ hai quần-đảo, giả-sử rằng thực-sự đúng là như thế, thì chúng chỉ là những tên mà người Hoa đã sử-dụng trong quá-khứ để mô-tả địa-lý các nước ngoài hay là những hải-trình ở trên Biển-Ðông, những cái tên của các địa-phương nầy không hề có giá-trị pháp-lý để chứng-minh rằng các quần-đảo đó thuộc Trung-Quốc.

Riêng về việc « khám-phá » của Trung-Quốc, giả-sử sự việc nầy đúng như thế, thì nó cũng không có một ý-nghĩa pháp-lý nào để chứng-minh rằng từ thời-kỳ đó, những quần-đảo mà người Trung-Quốc gọi là Tây-Sa và Nam-Sa thuộc lãnh-thổ của Trung-Quốc. Sự việc « khai-khẩn » và sự việc « thâu huê-lợi » của người Hoa tại Tây-Sa và Nam-Sa giả-sử có thật thì cũng chỉ là hành-động của cá-nhân, vì thế quốc-gia Trung-Quốc không có cách nào để nhận chủ-quyền ở hai quần-đảo đó.

2/ Vấn-đề giả-mạo dữ-kiện để minh-chứng thẩm-quyền của các triều-đại Trung-Quốc tại Hoàng-Sa và Trường-Sa qua hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Cộng.

Điểm chính mà công-luận đòi-hỏi chính-quyền Trung-Quốc phải chứng-minh là : từ bao giờ và bằng cách nào quốc-gia Trung-Quốc chiếm-đóng Tây-Sa và Nam-Sa ? Bắc-Kinh đã vô-phương giải-thích một cách đứng-đắn. Vì thế chính-quyền Trung-Quốc chỉ xác-nhận bằng những lời nói chung-chung như « những nhà cầm-quyền Trung-Quốc tiếp-nối đã hành-sử thẩm-quyền » tại hai quần-đảo. Và để chứng-minh họ đưa ra một số bằng-chứng trong thời-kỳ từ thế-kỷ thứ 11 đến thế-kỷ thứ 19, mà 3 bằng-chứng giả-mạo như sau :

2.1. Bằng-chứng 1 : Hồ-sơ đã ghi ở trên của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã trích-dẫn một đọan văn và cho là của Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu), viết dưới triều Renzong (1023-1063) Bắc-Tống : Triều-đình Bắc-Tống « ra lệnh cho quân-đội hoàng-gia tuần-tiễu xây-dựng  ở Guangnan (hiện thời là Quảng-Ðông) một nơi đóng quân nhằm vào việc tuần-tiễu trên biển » và « xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư - navire à quille)»... « Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để từ Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) đến Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu)».

Cho rằng rằng Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu) là « quần-đảo Tây-Sa », hồ-sơ trên kết-luận-rằng « triều-đình Bắc-Tống đã sử-dụng thẩm-quyền của mình ở quần-đảo Tây-Sa », và « hải-quân Trung-Quốc đã tuần-tiễu cho đến Tây-Sa ».

Nhưng sự-thật thì hoàn-toàn không đúng như thế. Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu) đã viết như sau :
« ... ra lệnh cho quân-đội hoàng-gia thực-hiện việc tuần-tiễu, xây-dựng một trại quân cho việc tuần-tiễu trên biển tại hai bến tàu ở phía Ðông và phía Tây khoảng-cách là 280 trượng1, cách Tunmenshan (Đồn Môn Sơn) 200 lí2 và xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư).

Nếu người ta theo gió Đông để cho thuyền đi về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để đi từ Tunmenshan (Đồn Môn Sơn)3 đến Jiuruluoshou (Cửu Nhũ Loa Châu), thêm 3 ngày nữa thì đến Pulaoshan (Bất Lao Sơn thuộc Huanzhou Hoàn-Châu) 4, sau khi đi thêm 300 lí về hướng Nam thì tới Lingshandong (Lăng Sơn Ðông). Ở phía Tây-Nam của nơi này thì có các nước Dashifu, Sizi, Tianzhu (Thiên-Trúc)5 . Không thể ước-lượng được khoảng-cách.6 »

Như thế rõ-ràng trong phần trích-dẫn ghi trên đây của Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu), một đoạn ghi lại việc hoàng-đế của Bắc-Tống ra lệnh « xây-dựng một trại quân dùng vào việc tuần-tiễu trên biển » ở bến Quảng-Châu (Guangzhou), một đoạn khác mô-tả vị-trí địa-lý của trại quân ghi trên, và một đoạn khác mô-tả hải-trình đi từ bến Quảng-Châu cho đến Ấn-Độ Dương. Không thấy chỗ nào ghi rằng hải-quân Trung-Hoa đi tuần-tiễu cho đến quần-đảo « Xisha » (Tây-Sa). Như thế, hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã cắt một đoạn để dán vào một đoạn khác nhằm ngụy-tạo bằng-chứng để dành lấy Hoàng-Sa của Việt-Nam.7

2.2. Bằng-chứng 2 : Hồ-sơ dẫn trên của bộ Ngoại-Giao Quốc đã dựa lên những việc quan-sát thiên-văn xẩy ra ở Nam-Hải và đầu triều Nguyên (Yuan) để khẳng-định rằng « dưới triều Nguyên, quần-đảo Xisha - Tây-Sa - thuộc lãnh-thổ Trung-Hoa ».

Theo Yuanshi (Nguyên Chí), lịch-sử chính-thức của triều Nguyên (Yuan), những quan-sát thiên-văn đã thực-hiện vào đầu triều-đại nầy được kể lại như sau :

« Những đo-lường về bóng của mặt trời tại bốn biển được thực-hiện ở 27 vị-trí, phía Đông cho tới Kaoli - Cao-Ly, phía Tây cho tới Tianchi, phía Nam cho tới Zhuya, phía Bắc cho tới Tiele. »

Dưới tựa-đề « quan-sát bốn biển », Yuanshi (Nguyên Chí) đã ghi lại 27 vị-trí 9 mà nơi đó đã được thực-hiện những quan-sát thiên-văn, trong đó gồm có các nơi Kaoli (Cao-Ly), Tiele (Thiết-Lặc, Sibérie, Nga), Beihai (Bắc-Hải, vùng bờ biển ở Sibérie), Nanhai (tức biển Đông).

Những dữ-kiện đã ghi lại trong Nguyên Chí cho thấy rõ-ràng rằng những quan-sát thiên-văn tại 27 vị-trí không phải là việc « quan-sát khắp đất nước » như hồ-sơ của Bắc-Kinh đã khẳng-định, mà là việc « quan-sát ở bốn biển ».

Đó chính là lý-do mà Nguyên Chí cũng đã ghi-chú những vị-trí ở ngoài lãnh-thổ Trung-Quốc như Đại-Hàn, Thiết-Lặc, Bắc-Hải, Biển-Đông.10

Giả-sử rằng vị-trí quan-sát thiên-văn vùng « Nam Hải, Nanhai » ở tại Xisha (Tây-Sa tức Hoàng-Sa), việc nầy cũng không có nghĩa là Xisha thuộc lãnh-thổ Trung-Hoa từ thời Nguyên. Bộ Nguyên Chí cũng đã xác-nhận rằng lãnh-thổ Trung-Quốc về hướng Nam chỉ đến đảo Hải-Nam và không vượt qua sa-mạc Gobi11 ở phương Bắc.

2.3. Bằng-chứng 3 : Hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã trích-dẫn việc một toán tuần-tiễu trên biển do Phó Đô-Đốc Wu Sheng chỉ-huy, từ 1710 và 1712, dưới đời nhà Thanh : « Khởi-hành từ Qiongya (Quỳnh Nha), đội hải-quân đi đến Tonggu (Ðông-Cô) và đi ngang qua Quizhouyang và Sigengsha, trải qua như vậy 3.000 lí, để tự mình thực-hiện một vòng kiểm-soát », để khẳng-định « Quizhouyang là vùng đảo Xisha – Tây-Sa, tại đó lực-lượng hải-quân của tỉnh Quảng-Đông đảm-trách việc tuần-tiễu ».

Nhưng sự thực thì hoàn-toàn không phải như vậy. Những địa-danh trong đoạn trích-dẫn trên đây thì ở trong vùng chung-quanh đảo Hải-Nam :

Quiongya là « vùng quân-sự Quiongya (đảo Hải-Nam) dưới triều Thanh, bộ chỉ-huy đóng ở Qiongshan gần thành-phố Hải-Khẩu (Haikou), ở phía Bắc đảo Hải-Nam.12

Tonggu thì là điểm Đông-Bắc đảo Hải-Nam.13

Qizhouyang chỉ vùng biển có 7 đảo mang tên Qizhou ở về phía Ðông đảo Hải-Nam.14

Sigengsha là một dãi cát ở phía Tây đảo Hải-Nam.15

Sư thật tìm thấy qua sự nghiên-cứu khách-quan ở những văn-bản gốc. Việc nầy cho thấy rằng bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã có hành-động cố ý giả-mạo để cho Qizhouyang trở thành « vùng đảo Tây-Sa » và việc tuần-tiễu của Wu Sheng chung quanh đảo Hải-Nam trở thành việc tuần-tiễu « vùng đảo Tây-Sa », cuối cùng kết-luận rằng vùng nầy ngày xưa « được lực-lượng hải-quân tỉnh Quảng-Đông phụ-trách việc tuần-tiễu ».

Sự đối-chiếu những đoạn trích-dẫn trên đây do Bắc-Kinh đưa ra với các bản chánh đã cho thấy rõ-rệt rằng ba điểm nầy không hề có một tương-quan nào với quần-đảo « Xisha ».

Bắc-Kinh cũng đã nói sai khi cho rằng một số địa-dư chí của các địa-phương của Trung-Quốc dưới thời Minh và Thanh có viết « Quảng-Châu (Wanzhou) bao gồm Qianlichangsha (Thiên-Lý Trường-Sa) và Wanlishitang (Vạn Lý Thạnh Ðường »16 nhằm mục-đích chứng-minh rằng « quần-đảo Xisha và Nansha vào thời đó thuộc Wanzhou (Quảng-Châu), phủ Qiongzhou (Quỳnh-Châu), tỉnh Quảng-Ðông ». Nhưng trong bộ Da Qing Yi Tongzhi (Ðại Thanh Nhất Thống Chí), bộ địa-dư chính-thức được viết bởi Viện Quốc-Gia Sử-Học dưới triều nhà Thanh với lời dẫn-nhập của hoàng-đế Xuanzong năm 1842, không hề có đoạn nào ghi-nhận rằng « Qianlichangsha Thiên-Lý Trường Sa» và « Wanlishitang Vạn-Lý Thạnh-Đường» thuộc về Wanzhou (Quảng-Châu), phủ Qiongzhou (Quỳnh-Châu), tỉnh Quảng-Ðông. Cũng có thể do lý-do nầy mà nhà cầm-quyền Bắc-Kinh đã không trích-dẫn đoạn nào thuộc bộ sách nầy, mặc dầu đây là một bộ sách chính-thức của Trung-Quốc.

Mặt khác, nhà cầm-quyền Bắc-Kinh cũng tạo dựng lên bằng-chứng đó là ba bản-đồ Trung-Quốc (tất-cả được thực-hiện dưới triều nhà Thanh)17. Người đọc có thể tự hỏi rằng tại sao họ không công-bố những bản-đồ nầy. Hành-động dấu-diếm nầy người ta có thể hiểu dễ-dàng, đó là tất cả những bản-đồ của Trung-Quốc, cho đến những năm đầu của Cộng-Hoà Trung-Hoa, thì không có ghi-nhận về Xisha và Nansha như là nhà cầm-quyền Bắc-Kinh đã tuyên-bố. Hay là họ phải cần thời-gian để vẽ bản-đồ ?
Về việc đổ-bộ chớp-nhoáng quần-đảo Xisha, thừa lệnh của Tổng-Đốc Quảng-Đông Zhang Renjim, Đô-Đốc Hải-Quân Li Zhun cầm đầu 170 quan quân, vào năm 1909, đã đổ bộ lên một số đảo thuộc Xisha, thì đây là một hành-động bất-hợp-lệ, bởi vì ít nhất từ hàng thế-kỷ, Hoàng-Sa mà Trung-Quốc gọi là Xisha, đã là một lãnh-thổ của Việt-Nam. Đây không phải là một vùng hải-đảo vô chủ.
Về việc đổ bộ của Hải-Quân Trung-Hoa Dân-Quốc trên đảo Phú-Lâm (Ile Boisée) thuộc Hoàng-Sa và đảo Itu Aba thuộc Trường-Sa vào tháng 12 năm 1946 là một hành-động xâm-lăng, bởi vì đã từ lâu, hai quần-đảo nầy đã thuộc chủ-quyền Việt-Nam.
Về việc chiếm đóng của Cộng-Hòa Nhân-Dân Trung-Hoa tại nhóm đảo Đông-Bắc từ năm 1950 và từ 1974 nhóm Tây-Nam của quần-đảo Hoàng-Sa lúc đó dưới sự kiểm-soát của Việt-Nam Cộng-Hòa, cũng là một hành-động xâm-lăng bằng vũ-lực.

Việc xâm-lăng, xẩy ra chớp-nhoáng hay sau đó chiếm đóng lâu dài, hoặc bất-kỳ hành-động nào của Trung-Quốc ở Hoàng-Sa và trên đảo Itu Aba (Ba-Bình) thuộc Trường-Sa là một hành-vi xâm-phạm chủ-quyền và toàn-vẹn lãnh-thổ của Việt-Nam. Những hành-động nầy chà đạp luật-pháp quốc-tế và sẽ không đem lại cho kẽ gây-hấn bất-kỳ một quyền-hạn hay có một chủ-quyền nào ở những nơi nầy.








HOÀNG SA MÃI MÃI LÀ LÃNH THỔ
THIÊNG LIÊNG CỦA VIỆT NAM

Dương Trung Quốc 
(Bài này đã bị CSVN coi là “phản động“)



(VietNamNet) – Chủ quyền thiêng liêng đối với Trường Sa và Hoàng Sa đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và Nhà nước VN đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ trên biển Đông này.
 
>> HĐND Đà Nẵng khẳng định Hoàng Sa là huyện trực thuộc TP
>> Cơ sở pháp lý xác lập chủ quyền VN tại Hoàng Sa

Cách đây hơn 3 thập kỷ, giữa lúc nhân dân Việt Nam đang tập trung nỗ lực vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; lại cũng là lúc một số nước lớn đang mặc cả và thoả hiệp với nhau để cản trở sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, thì ngày 19/01/1974, quân đội Trung Quốc đã tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, lúc này đang do chính quyền Sài Gòn quản lý.

Hơn ba thập kỷ qua, trong bối cảnh quan hệ Việt-Trung có những bước thăng trầm, Việt Nam vẫn luôn khẳng định Hoàng Sa cùng với Trường Sa là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của mình. Bởi vì chủ quyền ấy đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và Nhà nước Việt Nam đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ trên biển Đông này.

Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa (cũng như với Trường Sa) được minh chứng không chỉ bằng những tài liệu do người nước ngoài ghi chép như sách Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán viết năm 1696, hay của nhiều tác giả Tây phương như Le Poivre(1749), J,Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833), Gutzlaff (1849)…; cũng như những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể liên quan đến hoạt động của các Đội Hoàng Sa xưa ở cửa biển Sa kỳ và đảo Lý Sơn (Cù lao Ré), mà còn được ghi lại trên nhiều thư tịch, trong đó có những văn bản mang tính chất Nhà nước của Việt Nam.

Cho đến nay chúng ta vẫn có bằng chứng đầy đủ về chủ quyền của nhà nước Đại Việt (gồm cả Đàng Ngoài của các chúa Trịnh và Đàng Trong của các chúa Nguyễn đều tôn phò nhà Lê) qua Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ (của Đỗ Bá Công soạn năm Chính Hoà thứ 7-1686) và sách Phủ Biên Tạp Lục của bác học Lê Quý Đôn (1776)…

Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ được vẽ theo bút pháp đương thời với lời chú rất rõ ràng:

“Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm… Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”

Còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa .

Với sách Phủ Biên Tạp Lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1776), Hoàng Sa còn được mô tả kỹ hơn. Năm 1775, Lê Quý Đôn được Chúa Trịnh cử vào vùng đất Phú Xuân lãnh chức Hiệp trấn để lo việc bình định hai trấn mới thu hồi được từ Chúa Nguyễn là Thuận Hoá và Quảng Nam. Sách dành nhiều trang để mô tả về các “Đội Hoàng Sa” và “Bắc Hải” của chúa Nguyễn tổ chức cho dân vùng Tư Chính, Quảng Ngãi tổ chức thường kỳ việc vượt biển đến Hoàng Sa để thu luợm các sản vật đem về đất liền. Những tư liệu thu thập tại địa phương xã An Vĩnh (Cù lao Ré) còn nói tới “Đội Quế hương ” cũng là một hình thức tổ chức do dân lập xin phép nhà nước được ra khai thác ở Hoàng Sa.

Qua thời Nguyễn, kể từ đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện nước Việt Nam (dưới triều Gia Long) và Đại Nam (kể từ triều Minh Mạng) đã chấm dứt tình trạng cát cứ và phân tranh, thống nhất quốc gia thì việc quản lý lãnh thổ được ghi chép đầy đủ và lưu trữ tốt hơn. Tấm bản đồ được lập thời Minh Mạng Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ vẽ rất rõ cả một dải lãnh thổ gồm những đảo trên biển Đông được ghi chú là “Vạn lý Trường Sa ” (tên gọi chung cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan niệm đương thời).

Hai bộ sách địa lý quan trọng của triều Nguyễn là phần Dư Địa Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) đều đề cập tới Hoàng Sa trong phần viết về phủ Tư Nghĩa và đều chép lại những nội dung của các tài liệu trước, trong đó có hoạt động của các “Đội Hoàng Sa”.

Bộ chính sử Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn liên tục cho đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX đều nhiều lần ghi lại các sự kiện liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa như một bộ phận của lãnh thổ quốc gia. Ngay trong phần Tiền Biên chép về các tiên triều, bộ biên niên sử này cũng nêu lại những sự kiện từ thời các Chúa Nguyễn liên quan đến các quần đảo này.

Một thống kê cho thấy trên bộ sử này, trong phần chính biên ghi chép cho đến thời điểm in khắc đã có 11 đoạn viết về những sự kiện liên quan đến hai quần đảo này. Nội dung cụ thể như là việc nhà nước điều cho thuỷ quân và Đội Hoàng Sa ra đảo để “xem xét và đo đạc thuỷ trình ” (quyển 50,52…đời Gia Long); cử người ra Hoàng Sa “dựng miếu, lập bia, trồng cây”, “vẽ bản đồ về hình thế”, “cắm bài gỗ dựng dấu mốc chủ quyền ” (quyển số 104, 122, 154, 165 đời Minh Mạng).

Ngoài ra còn các bộ sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ(1851) cũng ghi rõ những công việc nhà nước Đại Nam đã thực thi trên lãnh thổ Hoàng Sa. Và đặc biệt quý giá là những châu bản của các vị vua triều Nguyễn (tức là có thủ bút của nhà vua) có liên quan đến Hoàng Sa. Giá trị của những văn bản gốc này là sự thể hiện quyền lực của người đứng đầu quốc gia đối với vùng lãnh thổ này. Ví như, phê vào phúc tấu của bộ Công ngày 12-2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua viết :”Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước (ta), rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ “Năm Bính Thân Minh Mạng thứ 17, họ tên cai đội thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu ”; hay các châu phê về việc thưởng phạt người có công tội khi thực thi trách nhiệm ở Hoàng Sa, đạc vẽ bản đồ v.v…

Mãi đến năm 1909, lần đầu tiên Trung Quốc mới đề cập đến chủ quyền của mình đối với khu vực lãnh thổ này. Điều đó cho thấy, trong suốt 3 thế kỷ trước đó (XVII-XIX), các tài liệu thư tịch của Nhà nước Việt Nam kế thừa nhau đã liên tục thể hiện chủ quyền lịch sử và thực tiễn quản  lý‎ đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa.

Điều đáng nói là, vào thời điểm này, giữa lúc hai nước Việt-Trung đã xác lập được những quan hệ hữu nghị, hợp tác trên những nguyên tắc của "16 chữ vàng ” do chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc đưa ra thì việc Quốc vụ viện Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố cấp huyện Tam Sa” thuộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đáng để chúng ta phải nhắc lại những bằng chứng và bài học lịch sử!

Dương Trung Quốc  




====LẬP TRƯỜNG DỨT KHOÁT: DẸP KẺ BÁN NƯỚC, ĐUỔI QUÂN XÂM LĂNG====



LẬP TRƯỜNG CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI ÚC CHÂU:
CSVN PHẢN BỘI TỔ QUỐC, KẺ BÁN NƯỚC

Người Việt tại Úc phản đối CSVN bán nước
 


Tin Sydney: Trong một cuộc họp khẩn vào tối Thứ Năm 20 tháng 12 năm 2007, quy tụ trên 40 hội đoàn tại Sydney, các Hội Đoàn đã cùng với Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu, tiểu bang NSW và Hội Đồng Tư Vấn Giám Sát, đồng thanh quyết định tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ trước tòa đại sứ CSVN tại Canberra vào ngày Thứ Bẩy 12 tháng Giêng năm 2008.
 
Mục đích của cuộc biểu tình là lên án CSVN bán nước, kẻ đã dâng đất dâng biển cho Trung Quốc bằng nhiều văn bản lén lút mà người dân không được biết. Ngoài việc bầy tỏ lập trường và vạch rõ tội ác của tập đoàn Hà Nội, cuộc biểu tình còn nhắm mục đích vang vọng về Việt Nam để ủng hộ và nung nấu tinh thần yêu nước của người dân Việt Nam, nhận biết chính CSVN mới là kẻ thù của dân tộc Việt Nam.
 
Cộng đồng người Việt tại NSW nhận định rằng một cuộc biểu tình chống Trung Quốc trước Lãnh Sự Quán Trung Quốc tại Sydney sẽ vô nghĩa, bởi vì nơi đó chỉ là một Lãnh Sự Quán nhỏ bé. Hơn nữa, trong việc mất Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc không phải là kẻ xâm lược mà Trung Quốc đã được CSVN dâng tặng phần đất của tổ tiên để củng cố quyền lực cho CSVN. Do đó, kẻ thù gây nên việc mất Hoàng Sa và Trường Sa chính là CSVN bán nước, kẻ có tội với dân tộc và tổ tiên Việt Nam. Cuộc biểu tình phải quy tụ người Việt tại các tiểu bang khác nữa chứ không phải chỉ ở NSW.
 
Sau khi tỏ thái độ trước tòa đại sứ CSVN tại Canberra, đoàn biểu tình sẽ tiếp tục phản đối tại tòa đại sứ Trung Quốc, chống mưu đồ bành trướng của Trung Quốc. Mục đích chính của cuộc biểu tình vẫn là phản đối CSVN và vạch rõ tội bán nước, phản bội của tập đoàn CSVN, kêu gọi người Việt khắp nơi đồng thanh chống kẻ thù chung là CSVN. Một khi CSVN không còn cầm quyền thì người dân Việt Nam trong và ngoài nước sẽ cùng với một chính quyền vì dân và do dân bầu ra giành lại phần đất và biển đã mất do CSVN lén lút dâng tặng Trung Quốc.
 
Ngày nào còn CSVN cầm quyền thì nước Việt nam sẽ còn tiếp tục mất đất mất biển như đã xẩy ra từ nhiều thập niên qua.
 
Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu và tiểu bang NSW kêu gọi đồng bào Việt Nam tại Úc chuẩn bị cho cuộc biểu tình sắp tới.







4 TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC
của Đảng Cộng Sản Việt Nam
 
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống 
 


- Năm 1999 Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Biên Giới Việt Trung để nhượng đất biên giới cho Trung Quốc.

- Năm 2000, Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Phân Định Vịnh BắcBộ để bán nước Biển Đông cho Trung Quốc.

- Cũng trong năm này Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá để dâng cá dâng dầu cho Trung Quốc.

- Và năm 1958, bằng văn thư của Phạm Văn Đồng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng ý chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

Những hành vi này cấu thành 4 tội phản bội tổ quốc bằng cách “cấu kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc và xâm phạm quyền của quốc dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước”.

I. TỘI NHƯỢNG ĐẤT BIÊN GIỚI CHO NƯỚC NGOÀI,

Năm 1949, sau khi thôn tính lục địa Trung Hoa, mục tiêu chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản là nhuộm đỏ hai bán đảo Đông Dương và Triều Tiên.

Qua năm sau, 1950, với sự yểm trợ của các chiến xa Liên Xô và đại pháoTrung Quốc, Bắc Hàn kéo quân xâm lăng Nam Hàn. Mục đích để giành yếu tố bất ngờ. Tuy nhiên âm mưu thôn tính không thành do sự phản kích của quân lực Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc.

Từ 1951 cuộc chiến bất phân thắng bại đưa đến hòa đàm. Hai năm sau Chiến Tranh Triều Tiên kết thúc bởi Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm tháng 7, 1953.
Thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, Trung Cộng tập trung hỏa lực và kéo các đại pháo từ mặt trận Bắc Hàn xuống mặt trận Bắc Việt.

Để tiếp tế võ khí, quân trang, quân dụng, cung cấp cố vấn và cán bộ huấn luyện cho Bắc Việt, các xe vận tải và xe lửa Trung Cộng đã chạy sâu vào nội địa Việt Nam để lập các căn cứ chỉ huy, trung tâm huấn luyện, tiếp viện và chôn giấu võ khí. Thừa dịp này một số dân công và sắc dân thiểu số Trung Quốc kéo sang Việt Nam định cư lập bản bất hợp pháp để lấn chiếm đất đai.

Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai khởi sự từ 1956, với các chiến dịch Tổng Công Kích, Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân (1968) và Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Bắc Việt huy động toàn bộ các sư đoàn chính quy vào chiến trường Miền Nam. Thời gian này để bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (như trong Chiến Tranh Triều Tiên), Bắc Việt nhờ 300 ngàn binh sĩ Trung Quốc mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Trong dịp này các binh sĩ, dân công và sắc dân thiểu số Trung Hoa đã di chuyển những cột ranh mốc về phía nam dọc theo lằn biên giới để lấn chiếm đất đai.

Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Ba khởi sự từ 1979, để giành giật ngôi vị bá quyền, Trung Quốc đem quân tàn phá 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Và khi rút lui đã gài mìn tại nhiều khu vực rộng tới vài chục cây số vuông để lấn chiếm đất đai.

Ngày nay, dưới áp lực của Bắc Kinh, Hà Nội xin hợp thức hóa tình trạng đã rồi, nói là thể theo lời yêu cầu của các sắc dân thiểu số Trung Hoa đã định cư lập bản tại Việt Nam.

Năm 1999 họ đã ký Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung để nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 dọc theo lằn biên giới, trong đó có các quặng mỏ và các địa danh như Ải Nam Quan, Suối Phi Khanh tại Lạng Sơn và Thác Bản Giốc tại Cao Bằng...

II. TỘI BÁN NƯỚC BIỂN ĐÔNG CHO NƯỚC NGOÀI.

Kinh nghiệm cho biết các quốc gia láng giềng chỉ ký hiệp ước phân định lãnh thổ hay lãnh hải sau khi có chiến tranh võ trang, xung đột biên giới hay tranh chấp hải phận.

Trong cuốn “Biên Thùy Việt Nam“(Les Frontières du Vietnam), sử gia Pierre Bernard Lafont có viết bài “Ranh Giới Hải Phận của Việt Nam” (La Frontière Maritime du Vietnam). Theo tác giả, năm 1887, Việt Nam và Trung Hoa đã ký Hiệp Ước Bắc Kinh để phân chia hải phận Vịnh Bắc Việt theo đường kinh tuyến 108 Đông, chạy từ Trà Cổ Móng Cáy xuống vùng Cửa Vịnh (Quảng Bình, Quảng Trị). Đó là đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa tại Vịnh Bắc Việt. Vì đã có sự phân định Vịnh Bắc Việt theo Hiệp Ước Bắc Kinh, nên “từ đó hai bên không cần ký kết một hiệp ước nào khác.” Do những yếu tố địa lý đặc thù về mật độ dân số, số hải đảo, và chiều dài bờ biểnViệt Nam được 63% và Trung Hoa được 37% hải phận.

Năm 2000, mặc dầu không có chiến tranh võ trang, không có xung đột hải phận, bỗng dưng vô cớ, phe Cộng Sản đã ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887.

Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ là một hiệp ước bất công, vi phạm pháp lý và vi phạm đạo lý.
Bất công và vi phạm pháp lý vì nó không tuân theo những tiêu chuẩn của Tòa Án Quốc Tế, theo đó sự phân ranh hải phận phải căn cứ vào các yếu tố địa lý, như số các hải đảo, mật độ dân số và chiều dài bờ biển. Ngày nay dân số Bắc Việt đông gấp 6 lần dân số đảo Hải Nam, và bờ biển Bắc Việt dài gấp 3 lần bờ đảo Hải Nam phía đối diện Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam có hàng ngàn hòn đảo trong khi Hải Nam chỉ có 5 hay 6 hòn. Tại miền bờ biển hễ đã có đất thì phải có nước; có nhiều đất hơn thì được nhiều nước hơn; có nhiều dân hơn thì cần nhiều nước hơn. Vì vậy hải phận Việt Nam phải lớn hơn hải phận Trung Hoa (63% và 37% theo Hiệp Ước Bắc Kinh). Và cũng vì vậy vùng biển này có tên là Vịnh Bắc Việt.

Ngày nay phe Cộng Sản viện dẫn đường trung tuyến để phân ranh hải phận với tỷ lệ lý thuyết 53% cho Việt Nam. Như vậy Việt Nam đã mất ít nhất 10% hải phận, khoảng 12.000 km2. Tuy nhiên trên thực tế phe Cộng Sản đã không áp dụng nghiêm chỉnh đường trung tuyến. Họ đưa ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định Vịnh Bắc Việt theo đó Việt Nam chỉ còn 45% hải phận so với 55% của Trung Quốc. Và Việt Nam đã mất 21.000 km2.

Bất công hơn nữa là vì nó không căn cứ vào những điều kiện đặc thù để phân định Vịnh Bắc Việt. Tại vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa), biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 85 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí (thay vì 200 hải lý theo Công Ước về Luật Biển). Trong khi đó, ngoài 85 hải lý về phía tây, đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý về phía đông thông sang Thái Bình Dương. Theo án lệ của Tòa Án Quốc Tế, hải đảo không thể đồng hóa hay được coi trọng như lục địa. Vậy mà với số dân chừng 7 triệu người, đảo Hải Nam, một tỉnh nhỏ nhất của Trung Quốc, đã được hưởng 285 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí. Trong khi đó 42 triệu dân Bắc Việt chỉ được 85 hải lý. Đây rõ rệt là bất công quá đáng. Bị án ngữ bởi một hải đảo (Hải Nam) người dân Bắc Việt bỗng dưng mất đi 115 hải lý vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá và thềm lục địa để khai thác dầu khí. .

Hơn nữa, Hiệp Ước này còn vi phạm đạo lý vì nó đi trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền như Công Lý, Bình Đẳng, Hữu Nghị, không cưỡng ép, không thôn tính và không lấn chiếm.

III. TỘI DÂNG CÁC TÀI NGUYÊN
VÀ NGUỒN LỢI THIÊN NHIÊN CHO NƯỚC NGOÀI.

Cùng ngày với Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ, Đảng Cộng Sản Việt Nam còn ký Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá.
 
Ngày 15-6-2004, Quốc Hội phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, trái với Điều 84 Hiến Pháp, Hiệp Ước Đánh Cá không được Quồc Hội phê chuẩn, chỉ được Chính Phủ “phê duyệt”.

Theo Hiệp Ước sau này, hai bên sẽ thiết lập một vùng đánh cá chung rộng 60 hải lý, mỗi bên 30 hải lý, từ đường trung tuyến biển sâu nhiều cá, khởi sự từ vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa) đến vùng Cửa Vịnh tại vĩ tuyến 17 (Quảng Bình, Quảng Trị).
Tại Quảng Bình biển rộng chừng 120 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 60 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 30 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 290 hải lý để đánh cá.

Tại Ninh Bình, Thanh Hóa, biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến, Việt Nam được 85 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 55 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 315 hải lý.

Hơn nữa, theo nguyên tắc hùn hiệp, căn cứ vào số vốn, số tầu, số chuyên viên kỹ thuật gia và ngư dân chuyên nghiệp, Trung Quốc sẽ là chủ nhân ông được toàn quyền đánh cá ở cả hai vùng, vùng đánh cá chung và vùng hải phận Trung Hoa.

Ngày nay Trung Quốc là quốc gia ngư nghiệp phát triển nhất thế giới. Trên mặt đại dương, trong số 10 tầu đánh cá xuyên dương trọng tải trên 100 tấn, ít nhất có 4 tầu mang hiệu kỳ Trung Quốc. Như vậy trong cuộc hợp tác đánh cá với Trung Quốc, Việt Nam chỉ là cá rô, cá riếc sánh với cá mập, cá kình:
a) Trong số 17 quốc gia ngư nghiệp phát triển trên thế giới có tầu đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, một mình Trung Quốc chiếm hơn 40 % số tầu, so với 5% của Hoa Kỳ, 3% của Nhật Bản và 2% của Đại Hàn, (Việt Nam không có mặt trong số 17 quốc gia này).

b) Các tầu đánh cá lớn này có trang bị các lưới cá dài với tầm hoạt động 60 dặm hay 50 hải lý. Do đó đoàn ngư thuyền Trung Quốc không cần ra khỏi khu vực đánh cá chung cũng vẫn có thể chăng lưới về phía tây sát bờ biển Việt Nam để đánh bắt hết tôm cá, hải sản, từ Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tới Quảng Bình, Quảng Trị. Chăng lưới đánh cá tại khu vực Việt Nam là vi phạm hiệp ước. Tuy nhiên các đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam sẽ ngoảnh mặt làm ngơ. Là cơ quan kinh tài của Đảng, họ sẽ triệt để thi hành chính sách thực dụng làm giàu với bất cứ giá nào, kể cả bằng sự cấu kết với ngoại bang vi phạm luật pháp và hiệp ước.

Trong cuộc hùn hiệp hợp tác này không có bình đẳng và đồng đẳng. Việt Nam chỉ là kẻ đánh ké, môi giới mại bản, giúp cho Trung Quốc mặc sức vơ vét tôm cá hải sản Biển Đông, để xin hoa hồng (giỏi lắm là 10%, vì Trung Quốc có 100% tầu, 100% lưới và 95% công nhân viên).

c) Rồi đây Trung Quốc sẽ công nhiên vi phạm Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá cũng như họ đã thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển. Chiếu Công Ước này các quốc gia duyên hải có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý để đánh cá. Nhưng cũng có nghĩa vụ phải bảo toàn và dinh dưỡng ngư sinh để dành hải sản cho biển cả và các thế hệ tương lai. Trung Quốc đã trắng trợn và thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển trong chính sách “tận thâu, vét sạch và cạn tầu ráo máng” áp dụng từ thời Đặng Tiểu Bình. Đó là chính sách thực dụng mèo đen mèo trắng, làm giàu là vinh quang, làm giàu với bất cứ giá nào.

Từ hơn 1/4 thế kỷ theo kinh tế thị trường, với sự phát triển công kỹ nghệ, thương mại, đánh cá và khai thác dầu khí, ngày nay tại vùng duyên hải Trung Hoa, các tài nguyên, hải sản và nguồn lợi thiên nhiên như tôm cá, dầu khí đã cạn kiệt. Trong khi đó nhu cầu canh tân kỹ nghệ hóa và nạn nhân mãn (của 1 tỷ 380 triệu người) đòi hỏi Trung Quốc phải mở rộng khu vực đánh cá và khai thác dầu khí xuống Miền Nam.

d) Với hơn 25 năm kinh nghiệm trong nghề cá, Trung Quốc đã huấn luyện được một đội ngũ công nhân viên đông đảo gồm các kỹ thuật gia, chuyên viên điện tử, và ngư dân có tay nghề. Trong khi đó về phía Việt Nam chỉ có một số công nhân không chuyên môn để sai phái trong các công tác tạp dịch hay công tác vệ sinh như rửa cá, rửa tầu v...v... Và rồi đây, bên cạnh các lao động nô lệ xuất khẩu tại Đông Nam Á , chúng ta sẽ có thêm một số lao động nô lệ tại Biển Đông trên các tầu đánh cá xuyên dương Trung Quốc.

IV. TỘI CHUYỂN NHƯỢNG CÁC QUẦN ĐẢO
HOÀNG SA TRƯỜNG SA CHO NƯỚC NGOÀI.

Với đà này Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ nhượng nốt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Họ đã nhiều lần công bố ý định này:

1) Ngày 15-6-1956, ngoại trưởng Ung Văn Khiêm minh thị tuyên bố: “Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa”.

2) Ngày 14-9-1958 qua lời Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, xác nhận chủ quyền hải phận của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3) Để biện minh cho lập trường của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, sau khi Trung Cộng tiến chiếm Trường Sa hồi tháng 3-1988, báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng Cộng Sản trong số ra ngày 26-4-1988 đã viết: “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng 2 quần đảo nói trên”. Đây chỉ là lời ngụy biện. Vì tại Thái Bình Dương, Hoa Kỳ có Đệ Thất Hạm Đội nên không cần đến các hải đảo Trường Sa và Hoàng Sa để làm căn cứ xuất phát hay địa điểm chỉ huy.

4) Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài bình luậân việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực đầu năm 1974, đã viết: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi”.

Từ 1956, mục tiêu chiến lược của Đảng Cộng Sản Việt Nam là “giải phóng Miền Nam” bằng võ lực. Để chống lại Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Đồng Minh, Hà Nội hoàn toàn trông cậy vào sự cưu mang nhiệt tình của người thầy phương Bắc. Vì sau cái chết của Stalin năm 1953, Lien Xô chủ trương chung sống hòa bình với Tây Phương, trong khi Mao Trạch Đông vẫn tuyên bố “sẽ giải phóng một ngàn triệu con người Á Châu khỏi ách Đế Quốc Tư Bản”.

Mà muốn được cưu mang phải cam kết đền ơn trả nghĩa. Ngày 14-9-1958, qua Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước cam kết chuyển nhượng cho Trung Quốc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Qua năm 1959, Đảng Cộng Sản phát động chiến tranh Giải Phóng Miền Nam.

Có 3 lý do được viện dẫn trong cam kết này:

a) Vì Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7 (Quảng Trị- Cà Mâu) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Hòa. Đối với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc trong thời điểm này chỉ là bán da gấu! (không phải tài sản của mình).
b) Sau này do những tình cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn tính được Miền Nam thì mấy hòn đảo san hô tại Biển Đông đâu có ăn nhằm gì so với toàn thể lãnh thổ Việt Nam?
c) Giả sử cuộc “giải phóng Miền Nam” không thành, thì việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa cũng có tác dụng làm suy yếu phe quốc gia về kinh tế, chính trị, chiến lược và an ninh quốc phòng.

KẾ HOẠCH THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG CỘNG.

Năm 1982, với tư cách ngũ cường thuộc Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, Trung Cộng hoan hỷ ký Công Ước về Luật Biển. Ký xong Công Ước, Bắc Kinh mới thấy lo! Theo Công Ước các quốc gia duyên hải chỉ có 200 hải lý, vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá, vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Trong khi đó Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa 270 hải lý, và Trường Sa cách Hoa Lục 750 hải lý, nên không thuộc hải phận (thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế đánh cá) của Trung Quốc.

Vì vậy, cuối năm 1982, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Hoa ngày đêm nghiên cứu thảo luận ròng rã trong suốt 10 năm, để kết luận rằng “Nam Hải là Biển Lịch Sửû của Trung Quốc từ thời Hán Vũ Đế ”.

Đây là thái độ trịch thượng võ đoán của phe đế quốc, cũng như Đế Quốc La Mã thời xưa coi Địa Trung Hải là “biển lịch sử của chúng tôi!”

Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Nam Dương 30 hải lý, cách Mã Lai và Phi Luật Tân 25 hải lý. Nó bao gồm toàn thể vùng biển Hoàng Sa Trường Sa và chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna của Nam Dương và Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân.

Tuy nhiên về mặt pháp lý, nếu Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ, thì Nam Hải cũng không phải là biển của Trung Hoa về phía Nam.

Vả lại theo Tòa Án Quốc Tế La Haye, biển lịch sử chỉ là nội hải. Hơn nữa Thuyết Biển Lịch Sử của Trung Quốc cũng bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8: “Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia tọa lạc trong lục địa hay đất liền, bên trong bờ biển hay đường căn bản” (đường căn bản là lằn mực thủy triều xuống thấp).

Do đó Biển Nam Hoa hay Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc vì nó là ngoại hải và cách lục địa Trung Hoa hơn 2000 cây số.

Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Hoa chỉ là công “dã tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”!

Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Cộng đề ra kế hoạch 4 bước để xâm chiếm Biển Đông về kinh tế:

1) Ký kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ năm 2000 để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887 (theo đó Việt Nam được 63% và Trung Hoa được 37%. Nếu theo đường trung tuyến, hai bên được chia đều 50%. Tuy nhiên trên thực tế, Trung Cộng không theo đường trung tuyến và đã đề ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định theo đó Việt Nam chỉ còn 45% so với 55% của Trung Hoa.

2) Ký kết Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá năm 2000 để thiết lập Vùng Đánh Cá Chung 60 hải lý. Và Việt Nam chỉ còn 25% tại vĩ tuyến 17, và 32% tại vĩ tuyến 20. Với các tầu đánh cá viễn duyên, với các lưới cá dài 50 hải lý, và nhất là với sự cấu kết đồng lõa của đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến thành khu đánh cá tự do cho đội kình ngư Trung Quốc mặc sức tận thu, vét sạch, và cạn tầu ráo máng.

3) Từ đánh cá chung đến hợp tác khai thác dầu khí chỉ còn một bước. Trong Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác dầu khí. Dầu khí là do các chất hữu cơ kết tụ trong các thủy tra thạch kết tầng dưới đáy biển. Các chất hữu cơ này được nước phù sa Sông Hồng Hà từ Vân Nam và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra Biển Đông từ cả triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu có, là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam, chứ không phải từ Hoa Lục. Mặc dầu vậy, tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đã đề ra nhiều dự án thăm dò và khai thác dầu khí, như “Dự Án Quỳnh Hải” bên bờ đảo Hải Nam và “Dự Án Vịnh Bắc Bộ” phía Bắc vĩ tuyến 20. (Khi dùng danh xưng “Vịnh Bắc Bộ”, Trung Quốc mặc nhiên nhìn nhận rằng đó là Vịnh của Việt Nam về phía Bắc. Vì nếu là củaTrung Hoa thì phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới đúng địa lý).

4) Với chính sách vết dầu loang, sau khi thành tựu kế hoạch đánh cá và khai thác dầu khí chung tại Bắc Việt, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và Nam Việt. Điều đáng lưu ý là vùng lãnh hải này thuộc thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế đánh cá 200 hải lý của Việt Nam nên thuộc chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam. Ở đây không có sự trùng điệp hay chồng lấn hải phận như trường hợp Vịnh Bắc Việt.

Không ai ngu dại gì cho người nước ngoài đến đánh cá và khai thác dầu khí chung tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế riêng của nước mình. Chiếu Điều 77 Luật Biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải. Mọi sự chiếm cứ bất cứ từ đâu tới cũng đều vô hiệu, nhất là chiếm cứ võ trang (trường hợp Trung Cộng dùng võ trang chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa từ năm 1988).

Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể hải phận Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa theo lời cam kết của Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng chỉ là kẻ thừa sai, bất lực, vô quyền, không có cả quyền bổ nhiệm một thứ trưởng theo lời tự thú của đương sự).

Như vậy, Thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc từng bị Công Ước về Luật Biển và Tòa Án Quốc Tế bác bỏ, nay sẽ trở thành hiện thực do kế hoạch 4 bước thôn tính Biển Đông của Trung Cộng. Vì quyền lợi riêng tư, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã táng tận lương tâm nhượng đất, bán nước, dâng cá dâng dầu và dâng các hải đảo cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

Hành động như vậy Đảng Cộng Sản Việt Nam đã 4 lần phản bội Tổ Quốc.

Vì những lý do nêu trên:
Thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói.

Trước Tòa Án Quốc Dân và Tòa Án Lịch Sử
ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN QUYỀN
KẾT ÁN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ 4 TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC.


TRUNG QUỐC VÀ PHẢN QUỐC

Trần Gia Phụng
 ( Toronto , 10-12-2007)
http://www.vietname xodus.org/ vne/index. php
 


1.-   CHUYỆN DÀI TRUNG QUỐC
 
Đối với người Việt Nam , Trung Quốc là chuyện dài bất tận, bắt đầu ngay từ thời tổ tiên chúng ta lập quốc, và có lẽ không khi nào chấm dứt, vì không thể nào thay đổi khu vực địa lý chính trị. Các nhà cầm quyền Trung Quốc, dù bất cứ chế độ nào, luôn luôn tìm cách thôn tính Việt Nam , bành trướng xuống Đông Nam Á.  Điều nầy không cần chứng minh, người Việt Nam nào cũng biết.
 
Gần đây, ngày 2-12-2007, Trung Quốc công bố rằng quốc vụ viện (quốc hội) của họ đã phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam, để trực tiếp quản lý ba quần đảo: Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa).  Trong ba quần đảo nầy, tài liệu lịch sử Việt Nam cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam từ lâu đời. (Tài liệu của Lê Quý Đôn, Đại Nam nhất thống chí của nhà Nguyễn, thời Pháp thuộc, thời Trần Văn Hữu trong Hội nghị San Francisco (8-9-1951), thời Việt Nam Cộng Hòa…)
 
Tức thì, tin Tam Sa gây phản ứng từ nhiều phía người Việt.  Trước hết, phải kể đến nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) ở trong nước.  Ngày thứ Hai, 3-12-2007, Thông tấn xã Việt Nam đã thuật lại lời của ông Lê Dũng, phát ngôn viên bộ Ngọai giao Việt Nam, như sau: “Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN, không phù hợp với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên…VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…Trước sau như một, VN chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 và tinh thần tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông năm 2002, nhằm giữ gìn hòa bình, ổn định trên biển Đông và khu vực.” (Tuổi Trẻ, 4-12-2007.)

Phản ứng của dân chúng Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước rất sôi nổi.  Ở ngoài nước, người Việt phản ứng mạnh mẽ đã đành, mà ở trong nước, tại Hà Nội và Sài Gòn, cũng xảy ra những cuộc biểu tình chống Trung Quốc. 
 
Đây là những cuộc biểu tình hết sức đặc biệt dưới chế độ CSVN, mà theo nhà văn Hoàng Hưng: “Trong cuộc đời hơn 50 năm sống dưới chế độ toàn trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, đây là lần đầu tiên tôi được tham dự một cuộc biểu tình tự phát của người dân. Người “tổ chức” cuộc biểu tình là các blogger đã truyền đi trên internet lời kêu gọi từ mấy hôm trước. Và bất chấp những ý kiến cảnh cáo răn đe, rằng kẻ kêu gọi là phần tử phản động, rằng tham gia biểu tình là chống lại đường lối giải quyết mâu thuẫn bằng con đường chính thống của nhà nước, là bị “bọn dân chủ” lợi dụng để chống chính quyền… cuộc biểu tình đã diễn ra suốt ba tiếng đồng hồ ở trung tâm thành phố trước sự chứng kiến của đông đảo lực luợng an ninh mà không có sự cố gì xảy ra… (Hoàng Hưng, “Khi lòng yêu nước không bị áp đ& #7863;t”, Talawas, 11-12-2007).
 
Ở Sài Gòn, “9h sáng đến 12h30 trưa, ngày 9 tháng 12 năm 2007 - Ðây sẽ là một ngày có ba tiếng rưỡi thật đáng nhớ đối với riêng tôi và những người đã có mặt trước Lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn hay tại Ðại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội, đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi. Những người mà tôi không biết tên tuổi, gia cảnh, nhưng chắc chắn họ cũng như tôi, cùng trưởng thành dưới môi trường xã hội chủ nghĩa, dưới sự điều hành duy nhất của Ðảng Cộng sản trong suốt hơn 32 năm. đoàn kết bên nhau trong cùng một tiếng nói chung…  Ðối với những người thuộc thế hệ tôi, thế hệ 8x, thì cuộc biểu tình này là lần biểu tình đầu tiên của cuộc đời, trong suốt hai mươi mấy năm sinh ra trên quê hương Việt Nam. Ðây, cuộc mở miệng đầu tiên của chúng tôi. Ðây, lần đầu tiên chúng tôi thực hiện một trong những quyền cơ bản của con người. Ðây, chúng tôi cảm nhận được nhiệt huyết sôi sục trên gương mặt nhau. Ðây, chúng tôi nhắc nhở cho chính phủ Việt Nam biết nhân dân Việt Nam còn tồn tại và biết họ cần làm những gì cho đất nước. Còn đối với những thế hệ xx khác ở miền Nam, có lẽ từ thời Ngô Ðình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu, thì mãi đến bây giờ họ mới có dịp sống lại cảm giác hãnh diện của tình yêu nước trong một tập thể. Còn đối với những người ngoài Bắc, có lẽ họ cũng đang thử ôn lại xem đã bao nhiêu năm rồi mới sống một ngày trọn vẹn và có ý nghĩa như ngày 9/12 hôm đó.” ( Lynh Bacardi, “Hãy tự cho chúng ta thêm nhiều lần lên tiếng”, Talawas, 12-12-2007.)
 
2.-   TRUNG QUỐC VÀ PHẢN QUỐC
 
Chuyện dài Trung Quốc chia thành hai tập rõ rệt.  Tập thứ nhất, từ thời lập quốc đến thế kỷ 19, là những thiên anh hùng ca giữa nước của dân tộc, với các chương nổi bật như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Quang Trung... Tập thứ hai, từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay, chuyện dài Trung Quốc hoàn toàn đổi chiều, chỉ là những trang thảm sử nhục nhã do đảng CSVN dựng nên.  Tập hai nầy có thể chia làm hai chương chính từ 1924 đến 1954 và từ 1954 đến 1975. 
 
Chương thứ nhất bắt đầu với Nguyễn Ái Quốc.  Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc (người Việt Nam có tên Nga là Lin hay Linov), ủy viên Đông phương bộ, phụ trách cục phương Nam, một cán bộ lãnh lương của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (QTCS), từ Liên Xô qua Trung Hoa để phát triển cộng sản xuống vùng Đông Nam Á.  Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc với đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) và mời Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai đến giảng dạy tại những khóa huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc lập ra để đào tạo cán bộ.  Nguyễn Ái Quốc chính là người đại diện QTCS đứng ra thành lập đảng CSVN tại Hương Cảng ngày 6-1-1930 (Sau vâng lệnh đảng CS Liên Xô, đổi thành ngày 3-2-1930.)
 
Cuộc giao du giữa hai đảng CSVN và CSTH bắt đầu từ đây.  Khi đến Trung Hoa lần thứ ba, Nguyễn Ái Quốc đến căn cứ Diên An, nơi đặt bộ chỉ huy CSTH, trong nhiều tuần lễ vào mùa thu năm 1938, có thể để học tập và huấn luyện.  Trong giai đọan đầu của cuộc chiến chống Pháp, Việt Minh (một mặt trận của CSVN) thất bại, phải co cụm lên rừng núi và về nông thôn. 
 
Vì vậy, vừa được tin Mao Trạch Đông chiến thắng và thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ngày 1-10-1949, Hồ Chí Minh gởi liền hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh vào cuối năm đó để xin viện trợ. ( Qian g Zhai , China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tt. 10-15.)
 
Tiếp theo, đích thân Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh và Moscow vào đầu năm 1950.  Tại Moscow, Hồ Chí Minh lãnh chỉ thị về thực hiện Cải cách ruộng đất sắt máu theo kiểu cộng sản. Trên đường về, trở lại Bắc Kinh, Hồ Chí Minh ký với các nhà lãnh đạo Trung Quốc Hiệp ước Phòng thủ Hỗ tương giữa hai bên.  Từ đó, CSTH cử La Quý Ba sang làm cố vấn cho Hồ Chí Minh, và ào ạt viện trợ cho VM.
 
Từ tháng 4 đến tháng 9-1950, Trung Quốc viện trợ cho VM 14,000 súng, 17,000 súng tự động, 150 trọng pháo đủ lọai, 2,800 tấn lúa, cùng đạn dược, quân phục, máy truyền tin, thuốc men…(Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập B, Houston: Văn Hóa, 1997, tr. 191.)
 
Theo tài liệu của CSVN, từ tháng 12-1950 đến tháng 6-1954, “chính phủ nước Việt nam Dân chủ Cộng Hòa đã nhận được viện trợ của quốc tế là 21,517 tấn vật chất, bao gồm vũ khí, đạn dược, nguyên liệu quân giới, vận tảixăng dầu, gạo, thực phẩm, quân trang, quân y, thông tin, công binh (trong đó vũ khí đạn dược là 4,253 tấn; vận tải xăng dầu là 5,069 tấn; gạo, thực phẩm – 9,590 tấn.)  Tổng số viện trợ trị giá 136 triệu đồng nhân dân tệ (34 triệu rúp) theo thanh tóan giữa Việt Nam và Trung Quốc.  Trong số đó, v&#36 1; khí trang bị kỹ thuật gồm có 24 khẩu sơn pháo 75 ly, 24 khẩu lự pháo 105 ly, 76 khẩu pháo cao xạ 37 ly (của Liên Xô), 12 khẩu pháo hỏa tiễn H6 (của Liên Xô, 715 xe ô tô vận tải (trong đó có 685 xe của Liên Xô).” (Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam , tập III, Hà Nội: Giáo Dục, 2001, tr. 103.)
 
Viện trợ nhiều, thì ân tình nhiều.  Sau năm 1954, Bắc Việt tiến lên xã hội chủ nghĩa, càng ngày càng nghèo đói, lấy gì trả nợ ân tình?  Để đền ơn đáp nghĩa, nhà cầm quyền Hà Nội không có gì ngoài việc lấy của gia bảo là đất đai do cha ông để lại, để hiến dâng cho Bắc Kinh.
 
Theo tài liệu về phía Trung Quốc, "Vào tháng Sáu năm 1956, hai năm sau khi chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã thành lập tại Hà Nội, thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Ung văn Khiêm đã nói với ông Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, r&#7857 ;ng theo dữ liệu của Việt Nam thì đảo Tây Sa (tức Paracels, Hòang Sa) và đảo Nansha (tức Spratleys, Trường Sa) là một phần thuộc Trung Quốc theo lịch sử." (Quan điểm của Bắc Kinh về chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, RFA 12-12-2007

Vì vậy, muốn chống TRUNG QUỐC hữu hiệu, trước tiên phải dẹp bỏ PHẢN QUỐC.  Chỉ khi nào kẻ PHẢN QUỐC không còn, thì mới chấm dứt tình trạng nhượng bộ đất đai, mới có thể nói chuyện tập hợp tổng lực toàn dân, chống TRUNG QUỐC một cách hữu hiệu, như trước kia nhà Lý, nhà Trần đã làm.

3.-   DẸP PHẢN QUỐC ĐỂ CHỐNG TRUNG QUỐC
 
Trung Quốc là một trong những đại n&# 7841;n của lịch sử Việt Nam.  Đại nạn nầy càng gia trọng khi những kẻ phản quốc cầm quyền, luôn luôn manh tâm bán đứng đất nước để mưu đồ quỵền lực và quyền lợi riêng tư.  Hãy trở lui với phản ứng của nhà cầm quyền CSVN đối với vụ Tam Sa.
 
Lê Dũng, phát ngôn viên bộ Ngọai giao Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nói: “Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN, không phù hợp với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên…VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…Trước sau như một, VN chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 và tinh thần tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông năm 2002, nhằm giữ gìn hòa bình, ổn định trên biển Đông và khu vực.”
 
Có ba điều cần nhấn mạnh: 1) Trong sinh họat dân chủ, cấp cao nhất là Quốc hội.  Việc Tam Sa do Quốc hội Trung Quốc quyết định.  Vậy cấp cao hơn là ai?  Phải chăng là Bộ Chính trị đảng CSTH?  Bộ Chính trị đảng CSTH cũng nằm trong Quốc hội và điều khiển Quốc hội, thì còn ai cao hơn?  2) Đúng là lịch sử Việt Nam có đủ bằng chứng rằng các đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.  Tuy nhiên, TRUNG QUỐC nói rằng họ cũng có đủ bằng chứng cho thấy Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, và đảng CSVN đã nhượng các vùng đất và biển nầy cho Trung Quốc.  Đảng CSVN trả lời sao đây?  Đối với người Việt Nam, những bằng chứng nầy là bằng chứng PHẢN QUỐC của đảng CSVN.  3)  Nói đến công ước Liên Hiệp Quốc, thì hiện nay, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vừa mới giữ ghế không thường trực hai năm trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.  Giải quyết những vụ tranh chấp, xâm lăng lãnh thổ giữa các nước trên thế giới, nằm trong chức năng của HĐBALHQ.  Việt Nam đang ngồi trong Hội đồng mà không dám đưa vấn đề ra Hội đồng.  Việt Nam cũng không đưa ra kiện tụng ở Tòa án Quốc tế đặt tại The Hague (Hòa Lan).  Thế thì nói công ước quốc tế làm gì?
 
“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.  Thế mà CSVN quá sợ nhà cầm quyền Bắc Kinh, nên không dám đánh.  Quân đội Nhân dân “anh hùng” của CSVN đứng bất động.  Không lẽ “anh hùng” là nhờ Quân đội nhân dân chỉ là công cụ để CSVN đàn áp dân chúng, giúp CSVN bán dần và bán rẻ đất đai của tổ tiên cho Trung Quốc?
 
Cộng Sản Việt Nam sợ Trung Quốc đến nỗi ở trong nước không cho phép dân chúng biểu tình phản đối Trung Quốc.  Một ví dụ cụ thể là thông báo của Trường Đại Học Công Nghệ thuộc Viện Đại Học Hà Nội được đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế, khuyên sinh viên không nên tổ chức hay tham gia biểu tình mà phải chờ đ&#79 07;i chủ trương của nhà nước theo đường lối ngọai giao.
 
Trong khi đó, mặt khác CSVN vẫn sợ bị lên án là khiếp nhược trước sự xâm lăng từ phương Bắc, nên tuy cấm biểu tình, nhưng nhà cầm quyền CSVN không đàn áp, bắt giam những người phản đối và biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn ngày 9-12-2007, mà chỉ theo dõi, duy trì trật tự, khác với những cuộc tụ họp khiếu kiện gần đây của dân oan.
 
Cũng có thể CSVN cũng cần những cuộc biểu tình nầy vì hai lẽ:  Thứ nhất, dựa trên cơ sở lòng dân, Hà Nội sẽ kiếm cách thương thuyết với Bắc Kinh, xin nhẹ tay để khỏi bị tai tiếng phản quốc.  Thứ hai, việc chống Trung Quốc sẽ giúp đánh lạc hướng dư luận dân chúng trong nước và trên thế giới, hiện đang xôn xao đòi hỏi tự do dân chủ, đòi tự do chính trị, tự do báo chí, đòi thả những người bất đồng chính kiến, thả những tù nhân lương tâm, đòi giải quyết những vụ khiếu kiện của dân oan.  Nghĩa là trong cơn bối rối, Hà Nội muốn chuyển mục tiêu tranh đấu và lòng căm giận của dân chúng về phía Bắc Kinh, nhằm làm giảm nhẹ áp lực của dư luận đối với CSVN.  Do đó, chúng ta cần thận trọng tránh cạm bẫy nầy của CSVN.
< SPAN style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman';">
 
Khi tổ chức và tham gia biểu tình, các anh chị em thanh niên, sinh viên chẳng những dạy cho đảng CSVN một bài học thực hành đích đáng về lòng yêu nước, mà các anh chị em còn nhắc nhở việc thực hành bài học yêu nước nầy cho những nhà khoa bảng, trí thức, giáo sư, giáo viên, không phải chỉ nói chuyện lý thuyết suông, mà cần phải chuyển hóa lòng yêu nước thành hành động cụ thể.  Trong biến cố vừa qua, với những điều kiện của mình, giới khoa bảng trí thức, giáo sư chắc chắn biết rõ tin tức nầy.  Giới trí thức, giáo sư thường đứng trên bục giảng, dạy cho con em lòng yêu nước, nhưng không “thức” mà đã “ngủ” hết, nên không thấy lên tiếng.  Các “Việt kiều yêu nước” ở hải ngoại, được Hà Nội ồn ào khen thưởng, mời về nước phong tặng huy chương mấy năm gần đây, cũng lặn đâu mất rồi?  Chỉ có giới trẻ trong nước can đản đứng lên hành động!
 
Phải nói ngay là hành &#27 3;ộng của thanh niên, sinh viên học sinh trong nước nhanh chóng phản ứng đối với vụ Tam Sa, thật đáng hoan nghênh và cảm phục.  Hành động của anh chị em cho thấy dầu bị CSVN áp bức, kềm kẹp về chính trị, anh chị em luôn luôn nuôi dưỡng tinh thần yêu nước vốn tiềm ẩn luân lưu trong dòng máu Việt.
 
Hy vọng cuộc biểu tình ngày 9-12-2007 sẽ tiếp tục bằng những cuộc phản kháng sắp đến.  Chúng ta cần chú ý r&#7 857;ng nguồn gốc của vụ Tam Sa, hay của những hành động xâm lăng ngang ngược của CSTH, chẳng những do bản chất hiếu chiến và xâm lăng của tập đòan lãnh đạo Bắc Kinh, mà còn bắt nguồn từ kẻ nội thù của người Việt.  Kẻ nội thù đó chính là đảng CSVN, kẻ đã thụ ơn Trung Quốc, làm tay sai cho Trung Quốc, sợ sệt Trung Quốc, từ từ nhượng bộ Trung Quốc hết điểm nầy đến điểm khác.
 
Trong khi nhu nhược với Trung Quốc, CSVN hết sức độc tài ở trong nước.  Cho đến nay, vào đầu thế kỷ 21, Việt Nam vẫn chưa có tự do chính trị, chưa có tự do bầu cử, chưa có tự do báo chí, nghĩa là CSVN vẫn duy trì chế độc độc tài.  Ở trong nước càng độc tài, càng đàn áp, CSVN càng bị phản đối từ nhiều phía, từ dân chúng trong nước, đến dư luận thế giới.  Càng bị phản đối, CSVN lại càng bám gót Trung Quốc để tiếp tục tồn tại.  Càng bám gót Trung Quốc, CSVN càng nhượng bộ, càng PHẢN QUỐC.
 
Hồ Chí Minh đã từng mượn biệt hiệu ÁI QUỐC c& #7911;a các nhà cách mạng yêu nước chân chính để làm tên riêng, nhưng khi qua Liên Xô, lãnh lương của ĐTQT, lãnh sứ mạng phát triển cộng sản xuống Đông Nam Á, đưa chủ nghĩa Mác-xít về làm hại đất nước, ÁI QUỐC trở thành PHẢN QUỐC. 
 
Học trò của Hồ Chí Minh trong đảng CSVN tiếp tuc sách lược của ông ta, làm tay sai cho TRUNG QUỐC, tiếp tục PHẢN QUỐC không khác gì lãnh tụ của họ. Vì vậy, muốn chống TRUNG QUỐC hữu hiệu, trước tiên phải dẹp bỏ PHẢN QUỐC.  Chỉ khi nào kẻ PHẢN QUỐC không còn, thì mới chấm dứt tình trạng nhượng bộ đất đai, mới có thể nói chuyện tập hợp tổng lực toàn dân, chống TRUNG QUỐC một cách hữu hiệu, như trước kia nhà Lý, nhà Trần đã làm.
 
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto< /st1>, 10-12-2007)






PHẢI DIỆT KẺ BÁN NƯỚC,
RỒI MỚI CÓ THỂ ĐUỔI XÂM LĂNG

Sự kiện biểu tình chống Trung Công.
 
Trong cục diện đấu tranh hiện tại, sự kiện giới trẻ trong nước biểu tình phản đối Trung Cộng chính thức thiết lập hệ thống kiểm soát Hoàng Sa, đã tạo ra một làn sóng dư luận rất xôn xao trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại nói riêng và toàn dân tộc nói chung. Theo sát sự kiện một số nhận định cho rằng, đây là một thế trận do CSVN bày ra, lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân, tạo sự "hòa đồng, nối kết" chống ngoại bang, để triệt tiêu ngọn lửa đấu tranh đòi tự do, dân chủ, đang bùng cháy trong lòng dân tộc. Đồng thời biến khối người Việt tỵ nạn trở thành thần dân của chế độ thối nát, phản phúc CSVN. Ngược lại, một số khác lại cho rằng, đây là một sự bộc phát từ những tấm lòng yêu nước, chúng ta phải bắt tay "nối kết", vực dậy sức mạnh dân tộc cùng đánh kẻ thù chung, cho dù có phải chung lưng đấu cật với chế độ phi nhân CSVN, miễn sao có thể  lấy lại được Hoàng Sa, sau đó sẽ tiếp tục đấu tranh đòi dân chủ tự do cho quê hương.
 
Cơn quốc loạn, biết bao điều uất nhục
Bọn Cộng nô, hèn nhược, rước đọa đầy
Tâm còn đây, bầu nhiệt huyết còn đây
Dùng đúng chỗ, tránh bịp lừa, tức tưởi
 
Riêng những cuộc biểu tình trong nước của giới trẻ, đa số nhận định, dưới chế độ khủng bố khát máu CSVN, chắc chắn có rất nhiều khó khăn và tế nhị, bị lệ thuộc vào hoàn cảnh và vị trí, nên ở đây không muốn lạm bàn. Tuy nhiên trong một cuộc phỏng vấn ngắn do AFA thực hiện, một sinh viên trong Ban Tổ Chức cho biết đoàn biểu tình đã có một cuộc gặp gỡ và trao đổi với ông Nguyễn Thành Tài, Phó Chủ Tịch thường trực Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên Sàigòn. Trong lúc trao đổi ông Tài cho biết, thay mặt chính quyền, ông "ghi nhận tấm lòng cũng như tình cảm của các thanh niên yêu nước ngày hôm nay và ông cũng có chỉ đạo bên Thành Đoàn sẽ tổ chức một cuộc mít tinh để đông đảo thanh niên tham gia", và trước khi dứt lời, sinh viên này cũng nhắn nhủ đồng bào hải ngoại hãy yên tâm và "nên đặt thêm lòng tin vào Chính Phủ (CSVN) hiện tại".
 
Trước những hiện tượng nêu trên đa số nhận định, đây là cuộc biểu tình không mang tính cách tự phát mà chắc chắn do sự đạo diễn của tập đoàn CSVN trong mục đích tạo thế trận hoả mù, tập trung tình yêu nước và tiêu diệt tiềm năng đấu tranh của khối người Việt tỵ nạn, giống như bài học lịch sử của một thời 1945-1946.  
 
Do đó, trước sự kiện phức tạp và tế nhị này, cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng ta cũng cần nên sáng suốt nhận định vấn đề. Một khi chúng ta hưởng ứng lời kêu gọi của đám tay sai CS, tập trung vào mục tiêu Trung Cộng mà quên đi kẻ tội đồ cắt đất dâng biển thì vô tình chúng ta đang rơi vào cái bẫy do CSVN bày ra, nó cũng tựa như một "Chính Phủ Liên Hiệp" của Hồ Chí Minh trong thời điểm mới cướp chính quyền năm 1945 khi xưạ
 
Do đó, lập luận "nối kết với chế độ phi nhân CSVN, miễn là lấy lại được Hoàng Sa, sau đó sẽ tiếp tục đấu tranh đòi dân chủ tự do cho quê hương"  là một điều lầm lẫn lớn.
 
Một điều cần ghi nhớ là hiện nay cộng đồng người Việt tỵ nạn không thể có một sức mạnh nào có thể đòi lại Hoàng Sa, mà chỉ có thể ủng hộ tinh thần đấu tranh trong nước bằng cách phơi bày ra ánh sáng tội ác và sựï phản phúc cắt đất, dâng biển của CSVN đến toàn dân. Từ đó, người dân tự đứng lên giành lại quyền tự quyết, triệt tiêu chế độ vong nô CSVN, lúc đó hy vọng mới có thể đòi lại những phần đất biển đã mất.
 
Cũng trong vấn đề này, nếu chiếu theo Công Pháp Quốc Tế, muốn đưa sự tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ hoặc lãnh hải giữa hai quốc giạ Ít nhất phải có nguyên đơn và bị đơn, và phải chứng minh chủ quyền về phương diện lịch sử. Tuy nhiên, ai cũng biết CSVN chỉ là một vong nô hèn nhược, đã từng ký công hàm xác nhận chủ quyền của Trung Cộng trên đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào năm 1958 và hai hiệp định dâng đất biển vào năm 1999 và 2000.... Như vậy, tất cả sự hô hào chống Trung Cộng do CSVN giựt dây chỉ là trò hề lừa bịp không ngoài mục đích khỏa lấp tội trạng phản phúc trong quá khứ cũng như hiện tại, đồng thời nhiễu loạn nhân tâm, tập trung dư luận, hầu triệt tiêu tiềm năng đấu tranh đòi tự do, dân chủ cho quê hương.
 
Người ta thường nói "Đánh rắn phải đánh dập đầu", trong vấn đề này đa số cũng nhận định, cái đầu con rắn đang nằm tại Hànội, còn Bắc Kinh chỉ là cái đuôị Nếu cộng đồng người Việt hải ngoại vì quá nóng lòng, hưởng ứng lời kêu gọi của bè lũ tay sai CSVN, tập trung vào mục tiêu Trung Cộng mà bỏ quên tập đoàn khốn nạn đã ký kết dâng đất biển cho ngoại bang thì vô tình chúng ta chỉ đánh cái đuôi và bị rơi vào cái bẫy Nghị Quyết 36 "Vượt thử thách, xóa ngăn cách quốc cộng, khép lại quá khứ, xóa bỏ hận thù, cùng nối kết canh tân đất nước".
 
Nhìn vào thực tế, dù sao chăng nữa sự kiện giới trẻ biểu tình tại Sàigòn và Hà nội vừa qua cũng là một sự kiện đáng quan tâm và ủng hô.. Đây cũng có thể là một cơ hội có thể tạo thành một tiền lệ cho tương lai, để giới trẻ có thể đánh tan đi cái bóng tối  sợ hãi mà CSVN đã bao trùm trên đầu dân tộc từ hơn cả thế kỷ qua, nếu chúng ta biết khai du.ng. Tuy nhiên,  chúng ta chỉ nên ủng hộ tinh thần và hành động đấu tranh của giới trẻ, giúp giới trẻ hiểu rõ hơn về những tội ác và sự phản phúc của tập đoàn CSVN, nhưng không thể ủng hộ quan điểm, lập trường, để tin tưởng, "nối kết" với đảng và nhà nước CSVN như họ đã và đang kêu gọị
 
Xin sáng suốt trút căm hờn đúng chỗ
Đừng lơ là, mắc hỡm bẫy kẻ gian
Bầy lưu manh, quy phục lũ tham tàn
Cần tận diệt, mới mong đòi đất biển
 
Sau cùng, một điểm cần ghi nhớ là sự lộng hành ngang ngược của Trung Cộng hôm nay, chính là kết quả từ bản chất hèn nhược vong nô của tập đoàn phản phúc CSVN.  Do đó, muốn yểm trợ cho công cuộc đấu tranh của giới trẻ trong nước, không gì bằng hãy bạch hóa tất cả những tội trạng ươn hèn phản phúc của tập đoàn "Mãi quốc cầu vinh" CSVN. Một khi toàn dân ý thức, nhận biết rõ được nguyên nhân và kẻ thù, tất nhiên sức mạnh của dân tộc sẽ được phục hồi và từ đó những vấn nạn của quê hương sẽ được giải quyết. Chỉ có sức mạnh của dân tộc mới có thể mong vô hiệu hóa tất cả những văn bản, hiệp ước dâng đất biển mà lũ phản phúc CSVN trước đây đã ký.
 
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)




======================NHỮNG BÀI BÌNH LUẬN=======================



TẠI SAO VIỆT NAM
THÍCH HAY KHÔNG THÍCH TRUNG QUỐC ?

Linh Vũ
 
- Hơn hai ngàn năm qua, dân tộc Việt Nam đã phát triển thành một Quốc Gia được đánh dấu bằng một nhân tố cố định và không thay đổi. Việt Nam nằm sát Trung Quốc, có nhiều mối quan hệ mật thiết như cách thành lập, tổ chức đời sống gia đình, phong tục tập quán, không gian, thời gian có nhiều sự gần gũi nhau. Bên cạnh những giá trị chia xẻ đó cũng có những đắng cay tủi nhục trong sự cạnh tranh nhau, lấn áp nhau. Không có nước nào ở Đông Nam Á Châu có nền văn hóa gần Trung Quốc bằng Việt Nam và cũng không có nước nào gần Trung Quốc mà vẫn còn tồn tại lâu dài đến ngày hôm nay như Việt Nam.

Chống trả lại sự khống chế của Trung Quốc Việt Nam phải trả một giá khá khủng khiếp về nhân mạng, đời sống, kinh tế và thỏa hiệp chính trị. Trung Quốc đã từng ban nhiều ân huệ cho Việt Nam và cũng từng nguyền rủa Việt Nam đến tận trời xanh. Hiện nay nền văn hóa Việt Nam vẫn còn tồn động nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc chưa hoàn toàn tách rời. Và huyền thoại một Trung Quốc khổng lồ vẫn còn ở phương Bắc. Việt Nam luôn nghĩ họ là một con ác quỷ đầy nanh vuốt với các nước bé nhỏ xung quanh.

Hơn một ngàn năm Trung Quốc chiếm đóng Việt Nam. Với tham vọng lấn xuống miền Nam, đời nhà Hán, lúc đó là (Nam Việt) và sự khẳng định độc lập của Việt Nam (Đại Việt năm 967 sau Công Nguyên) như là một Quốc Gia tiền đồn của các nước Cambodia, Lào, Thai Lan với nền văn minh ảnh hưởng sâu đậm với Trung Quốc trong vùng Đông Nam Á.

Trong khi những Quốc Gia khác ở Đông Dương (Indochina) thì ảnh hưởng Phật Giáo Theravada nối liền với văn hóa Nam Á. Việt Nam được ưu thế hơn, ảnh hưởng sự pha trộn Phật Giáo “ Lão Giáo” và “ Khổng Giáo”. Cho đến thế kỷ thứ 17th chữ Quốc Ngữ ra đời. Trước đó các học giả Việt Nam thường viết theo lối chữ người Trung Hoa, hoặc theo lối “ Chữ Nho” Chữ nho phát sinh từ những đặc thù của chữ Trung Hoa mà ra.

Qua nhiều thế kỷ, Việt Nam được phát triển trong một khuôn khổ chuyển thể từ Vương Quốc Trung Hoa, với một trạng thái tập trung thứ bậc cai trị theo luật lệ quyền lực của nhà vua và được sự chỉ đạo từ Trung Quốc. Những người cai trị ở nước ta là những người có học ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc là những nhà nho được rèn luyện theo chế độ quan liêu.

Cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều biết có những liên kết sâu xa về văn hóa, điều này đã trói buộc họ lại với nhau, nhưng cả hai đều không tin tưởng lẫn nhau. Trong những thế kỷ dài dưới sự chiếm đóng của Trung Quốc, Việt Nam đã thu nhận rất nhiều nền văn hóa Trung Quốc, đồng thời cùng một lúc Việt Nam lại tranh đấu không ngừng để bảo vệ đất nước và sự độc lập của riêng mình.

Trong thời gian của triều đại Tăng ở thế kỷ 6 & 9 , những du kích Việt Nam đã có những bài hát về chiến tranh để nói lên sự riêng biệt và xác minh rõ ràng Việt Nam không lệ thuộc Trung Quốc với những từ ngữ sau:

Fight to keep our hair long
Fight to keep our teeth black
Fight to show that the heroic southern country can never be defeated.

Tạm dịch là:

Đấu tranh cho tóc chúng tôi còn dài
Đấu tranh cho răn chúng tôi mãi còn đen
Đấu tranh để thấy nước Nam Anh Hùng không bao giờ thua trận

Mặc khác, nếu Việt Nam không tuân theo điều kiện của họ đưa ra, thì sau đó là một cuộc trừng phạt ghê gớm sẽ xảy ra. Nếu Việt Nam chống đối những tiêu chuẩn của Trung Hoa đề ra, hoặc phản đối chống lại sự kiểm soát của họ thì hàng ngàn binh hùng tướng dữ sẽ tràn ngập lên xứ sở nhỏ bé Việt Nam. Điều này quá rõ ràng trong lịch sử. Trước đây Vua Đường Thái Tôn đã gởi một thông điệp quan trọng cho Việt Nam dưới thời vua Lê Đại Hành năm 979, sau một năm Việt Nam khẳng định nền độc lập.

Vua Đường Thái Tôn luôn nghĩ rằng họ là người chủ, là quyền uy tối thượng đã kêu gọi Lê Đại Hành (Lê Hoàn) hãy mau giao nạp phần lãnh thổ cho Trung Hoa. Ông đã mạt sát Việt Nam với những lời lẽ vô cùng bỉ ổi và trịch thượng “ Mặc dù biển Việt Nam có nhiều ngọc trai, núi của các bạn có vàng chúng tôi sẽ liệng nó vào đống rát. Chúng tôi không thèm muốn những thứ đó. Các người là những kẻ man rợ. Chúng tôi có ngựa, có xe kéo, có gạo, có rượu. Hãy để chúng tôi thay đổi phong tục tập quán của các anh. Chúng tôi có sách vở để học, có kỳ thi tuyển lựa tài năng. Hãy để chúng tôi dạy các anh những hiểu biết về luật lệ phổ thông. Các anh có muốn thoát khỏi cuộc đời man rợ của một ốc đảo để sống một cuộc sống văn minh. Các người hãy vứt bỏ những áo quần bằng cỏ, bằng lá để mặc những bộ áo dệt bằng vải có thêu dệt bông hoa của núi rừng, rồng, phượng . Các anh có hiểu được điều đó không?”.

Vua Lê Đại Hành hiểu ý nhà vua Đừơng Thái Tôn muốn gì và ý đồ của những người kế vị sau này. Lê Đại Hành mong muốn truy nhập nền văn học và văn minh của Trung Hoa, nhưng không muốn bị điều khiển, áp bức dưới quyền lực chính trị của Trung Hoa có thể làm nguy hại đến nền độc lập của Việt Nam. Thái độ này đã làm phẫn nộ vua Đường Thái Tôn, đó chính là lý do khiến Trung Hoa tiến chiếm để trừng phạt.

Năm 1407 Đế Quốc nhà Minh lên nắm quyền, đã lên tiếng xác nhận lại quyền điều khiển các nước láng giềng cứng đầu đòi độc lập. Điều này không còn nghi ngờ nào khác là Hoàng Đế Minh Thành Tổ(Yongle) đang nhìn ngó và muốn thôn tính đất nước Việt Nam để áp đặc chính sách cai trị của họ. Đương nhiên là Việt Nam không bao giờ bằng lòng thái độ ỷ mạnh hiếp yếu của Trung Quốc. Dĩ nhiên, tiếp theo là cuộc xâm lăng của Trung Hoa và sự chống trả của Việt Nam một lần nữa vào năm 1428.

Hoàng Đế Minh Thái Tổ nỗi giận vì sự chống trả quyết liệt của Việt Nam. Mặc dù Việt Nam chỉ là một nước triều cống của Trung Hoa. Nhưng ông ta muốn nhấn mạnh rằng Việt Nam là một tỉnh của Trung Hoa đã từng hưởng thụ những lợi ích và nền văn minh Trung Hoa mà họ lại cố tình từ chối những đặc ân đó. Việt Nam vẫn cương quyết chống đối, cuối cùng vua Minh Thái Tổ đã dùng sức mạnh quân đội trừng phạt Việt Nam một cách dã man đầy khủng khiếp.

Trung Hoa luôn xem họ như là một con khổng lồ, không có quốc gia nào dám chống đối họ. Nhưng họ là một giống người man rợ, đầy bỉ ổi. Họ đã dùng những hình tượng tình dục mạnh mẽ về tình cảm gia đình trong mối quan hệ thân thiết vợ chồng, họ cố tình xâm phạm, phá vỡ những liên hệ gia đình của người Việt Nam. Cho nên năm 248 có nữ anh hùng Bà Triệu được sự ủng hộ của nhân dân đứng lên đánh đuổi quân Tàu ra khỏi bờ cõi, cởi bỏ xiềng xích nô lệ, không cúi đầu trước kẻ thù, không làm vợ lẽ cho bất cứ ai.

Những lời lẽ oai hùng đầy hào khí của bà Triệu đã trở thành một biểu tượng cho người đàn bà anh hùng Việt Nam. Từ thời Bà Triệu với lối hành sử và ngôn ngữ đầy thô bỉ về bắt ép tình dục của người Trung Hoa với đàn bà Việt Nam.(có nhiều bài thơ đời Đường có nói về sự nô lệ và cưỡng ép tình dục đàn bà Việt Nam của Thi Sĩ (Yuan Chen) Đến ngày hôm nay sự bùng nổ lên tình trạng buôn bán tình dục đàn bà Việt Nam sang Taiwan đã làm phẫn nộ nhục nhã cho những người đàn ông Việt Nam.

Trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp xuất bản năm 1987 “Fíred Gold Vietnamese” đã nói những đặc trưng giá trị lớn nhất của Việt Nam, cũng như sự yếu kém và thua thiệt hiên nay với một quốc gia nhỏ bé, không đủ sức ngang bằng quyền lực. Một người con gái còn trinh tiết bị một người Trung Hoa văn minh hãm hiếp dày vò, họ đã bị khinh miệt, họ xem thường tất cả, họ hưởng thụ trên nỗi nhục nhã với sự cướp hiếp vô nhân tính.

Người Trung Hoa tin rằng, Việt Nam là Quốc Gia rất gần gũi với họ, đã chịu ảnh hưởng nền văn minh và văn hóa Trung Hoa sâu đậm. Nhưng, Việt Nam đã ý thức được điều gì đó, cho nên đã từ chối tiếp nhận nền văn minh Trung Hoa từ thế kỷ này sang thế kỷ khác không chịu trở thành một phần của Trung Hoa như thâm tâm họ mong muốn. Điều này đã tồn tại mãi đến ngày hôm nay.

Trong thời gian chiến tranh Indochina lần thứ hai, Trung Hoa đã phát biểu và nhấn mạnh rằng Việt Nam và Trung Quốc kết tình hữu nghị thấm thiết như môi và răng.

Sau khi người Mỹ bỏ rơi miền Nam Việt Nam, CS miền Bắc thống nhất đất nước, lại một lần nữa Việt Nam tuyên bố độc lập và liên kết với Liên Sô năm 1978 - 79.

Sau đó xăm lăng nước láng giềng Cambodia và lật đổ đồng minh của Trung Quốc ở Đông Nam Á là Khờ Me đỏ (Khmer Rouge) Lúc này Trung Quốc nỗi giận không còn kềm chế được cho nên Bắc Kinh đã nhất quyết dạy cho đàn em vô ơn một bài học. Lãnh tụ Trung Quốc ông Deng Xiao Ping (Đặng Tiểu Bình) đã công khai tố cáo Việt Nam như một “côn đồ”. (Lời lẽ này được nhà ngoai giao Thái Lan viết lại trong một bài bình luận) Ông cũng đón trước rằng sự thay đổi đường hướng của Việt Nam sẽ có những phản ứng to lớn với Đặng Tiểu Bình. Có đoạn ông viết: Trung Quốc thù ghét Việt Nam đến tận xương tủy, Ông ta đã dậm gót giày, nhổ nước bọt và gọi Việt Nam là loài chó ghẻ. Ông đã ra lệnh cho Deng tư lệnh quân đội đem quân trừng phạt. Năm 1979 Trung Quốc đánh chiếm năm tỉnh phía Bắc thủ đô Hà Nội để dạy cho Việt Nam một bài học về hậu quả trong sự phản bội với Trung Quốc, đó mới chỉ là bài học tượng trưng.

Nhưng sau cùng ai là người học bài học của ai? Thứ nhất Bắc Kinh muốn Việt Nam rút hết quân ra khỏi Cambodia, nhưng Việt Nam không nghe lời Trung Quốc cho đến khi Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc lên tiếng can thiệp thì Việt Nam mới rút quân trở về.

Tổn thất đôi bên cân bằng nhau, nhưng Trung Quốc rất mất mặt đối với Quốc Tế, vì đó là hành động xâm lược.

Qua nhiều thiên niên kỷ, hành động dạy đàn em một bài học đến hôm nay lại tiếp diễn, Trường Sa, Hoàng Sa đã bắt đầu nỗi sóng. Liệu lần này có những anh hùng như Bà Trưng đánh đuổi Tô Định, Bà Triệu chống chọi Quân Ngô, Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên, Nguyễn Trãi Bình Ngô Đại Cáo, Lý Thường Kiệt đánh quân nhà Tống, Ngô Quyền đánh Nam Hán, Lê Lợi đánh quân Minh, Trần Quốc Toản phá cường địch Báo Hoàng Ân. Và tuổi trẻ Việt Nam hôm nay thế nào ! tự hào dân tộc chúng ta đâu, chẳng nhẽ đất nước chúng ta không còn hào kiệt chỉ còn bọn CS buôn dân bán nước?.

Lịch sử còn đó, giang sơn còn đó, giống dòng rồng tiên còn đó, chúng ta là một. Hành động và tham vọng Trung Quốc quá rõ ràng không thể xóa bỏ được, chúng ta không còn thời gian để chờ đợi những lời phỉnh dụ của chính quyền CS đi đêm với Trung Quốc cầu vinh. Chúng ta đã từng biết sự nhân nhượng đôi bên có thể mang đến không máu đổ, đầu rơi. Chiến tranh là một điều không ai muốn, nhưng bọn Trung Quốc có để yên cho chúng ta không? Hãy nhìn lại lịch sử, nếu chúng ta không bị bọn Tàu đô hộ hàng ngàn năm thì đất nước chúng ta bây giờ ra sao? Với khoảng thời gian đó chúng ta kiến tạo đất nước thì thử hỏi Việt Nam có thua Quốc Gia nào trên thế giới không!? .

Hôm nay lịch sử lại tái diễn và sẽ còn tái diễn, Trung Quốc sẽ chiếm đoạt lãnh thổ chúng ta vì nguồn tài nguyên dầu hỏa phong phú và vì sự ghen tức phát triển nhanh chóng về kinh tế hiện nay của Việt Nam.

Lãnh đạo Trung Quốc luôn nhìn Việt Nam dưới con mắt là kẻ côn đồ, vô ơn bạc nghĩa, còn Việt Nam cũng nhìn người Trung Quốc là những kẻ hiếu chiến và ngạo mạn. Sức mạnh quân đội và kinh tế là cán cân quân bình cho những Quốc Gia trong mọi đối tác, mọi thời gian. Hành sử trên phương diện ngoại giao, tuy châm nhưng ôn hòa, nhưng dùng sức mạnh và bạo lực chỉ mang đến chiến tranh.

Trở lại năm 1946 tức là 1,700 năm sau thời Bà Triệu tuyên bố người Việt Nam yêu nước chống ngoại bang. Thời Hồ Chí Minh cũng có lần cảnh báo Việt Minh không nên kêu gọi lực lượng Trung Hoa trợ giúp để đánh đuổi người Pháp: Ông nghĩ rằng đó là trò chơi dại, việc làm ngớ ngẩn! Ông đã nhắc lại lịch sử để mọi người hiểu rằng, nếu người Trung Hoa ở đây họ sẽ không bao giờ ra đi. Lịch sử đã chứng minh điều đó qua bao thế kỷ.

Thời gian Trung Quốc đến đây, họ đã ở lại một ngàn năm. Còn Pháp hoặc những chủ nghĩa thực dân khác ho đã ra đi hoặc đã bỏ xác nơi đây. Những người da trắng không còn tồn tại ở Á Châu, nhưng người Trung Hoa vẫn còn và họ không bao giờ ra đi. Nếu anh hỏi tôi anh chọn ai. Tôi không ngần ngại trả lời rằng thà ăn “cứt” thằng Pháp chỉ năm năm thôi còn hơn phải ăn “cứt” thằng Tàu trọn đời trọn kiếp. Hồ Chí Minh đã từng nói những lời như thế nhưng chính ông là người đầu tiên chạy ôm chân Trung Quốc, van lạy để được giúp đỡ. Hồ Chí Minh là người hâm mộ văn minh Trung Quốc, đã nói thông thạo tiếng Phổ Thông, đã viết chữ và làm thơ bằng tiếng Trung hoa. Là người gần gũi với lãnh tụ Mao Zedong (Mao Trạch Đông) và Zhou Enlai (Chu Ân Lai) Hồ Chí Minh chưa bao giờ có tư tưởng chống lại Trung Quốc trong suốt thời kỳ làm cách mạng mà còn ký những văn kiện tương nhượng đất đai và quyền hạng cho người Trung Quốc cùng với Phạm Văn Đồng. HCM luôn kính trọng, tôn thờ người Trung Quốc và thừa nhận sự bảo hộ Trung Quốc một cách rõ ràng và dứt khoát. Ông luôn xem Trung Quốc như một người chủ, là người khổng lồ phương Bắc có thể tạo cho Việt Nam thống nhất và tự do.

Nhưng mỉa mai thay! Những điều mà các nhà lãnh đạo CS đã đi đêm với Trung Quốc từ bao lâu nay bây giờ trong thế cùng đành phải nhờ toàn dân đứng ra gánh chịu. Một trò chơi thật xảo quyệt, giống như những lỗi lầm cha mẹ làm ra bây giờ bắt con cái hãy nhận lấy, hãy lên tiếng giùm tao. Tuổi trẻ Việt Nam ơi, hãy nhìn lại lịch sử, một sự thật không thể chối cãi, các bạn đã nhìn thấy một sự thật có trên giấy tờ, trên văn bản ký kết của chính quyền CS Việt Nam. Hãy nhìn thần tượng của các bạn đã làm gì cho đất nước trước đây và ngay bây giờ. Các bạn đừng chối từ một sự thật, nếu các bạn cố lờ đi hay chối từ những sự thật, thì hóa ra các bạn chối từ quả đất đang quay vậy.

Trung Quốc vẫn là kẻ thù muôn đời của dân tộc Việt, các bạn hãy nhìn những thảm cảnh mà bọn Tàu Cộng đã gây ra hằng ngàn, ngàn năn nay, và mới đây đã giết hại ngư dân Việt Nam trên biển Đông, nhưng sau đó chính quyền CS Việt Nam đã làm gì với Trung Quốc?. Hôm nay họ đã đến nhà, dao đã kề sát cỗ, các bạn không còn con đường chọn lựa. Đảng đã lừa đảo dân tộc Việt Nam quá lâu, hôm nay họ đang lợi dụng xương máu của các bạn để rửa sạch những dơ bẩn của họ đã làm hơn bốn mươi năm qua. Các bạn phải đứng lên làm chủ đất nước, đừng nghe lời phỉnh dụ. Đất nước này là của bạn, là của con cái bạn, đừng để sau này con cháu nguyền rủa chúng ta không phải là một người Việt Nam anh hùng bất khuất.
 

.

VỚI TRUNG CỘNG VIỆT CỘNG HÈN
TUỔI TRẺ VIỆT NAM KHÔNG HÈN

LÝ ĐẠI NGUYÊN



Trước việc Hoakỳ quyết liệt toàn diện nhập nội Việtnam, kéo theo cả hệ thống cấp viện và đầu tư quốc tế ào ạt đổ vốn vào làm ăn tại Việtnam, Trungcộng thấy lạnh cẳng, bất chấp công ước quốc tế về luật biển 1982, bất chấp ký kết giao ước về phương cách Ứng Xử Biển Đông với các nước Đông Nam Á năm 2002, vội vã ngang nhiên thành lập huyện hành chánh Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam, bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn thuộc chủ quyền của Quốc Gia Việt Nam cả về mặt lịch sử lẫn hành chánh, nhằm bao vây Việtnam, kiểm soát mặt biển, chận cửa ra vào của tầu thuyền quốc tế, buộc Việtnam rơi vào tình trạng bất ổn thường trực, vì tranh chấp, xung đột với Trungcộng, để giới đầu tư nản lòng, rồi  bị toàn dân Việtnam oán ghét đối kháng, đưa tới động loạn xã hội.

Trong khi đó thì nhà cầm quyền Việtcộng tỏ ra hèn nhát, chỉ lên tiếng phản đối lấy lệ như nhiều lần Trungcộng xâm phạm chủ quyền Việtnam, vì bọn họ vốn có quán tính sợ quan thầy Trungcộng, và mắc nghẹn bởi bức thư Phạm Văn Đồng thủ tướng nhà cầm quyền Miền Bắc Việtcộng đề ngày 14/09/1958 gửi cho Chu Ân Lai tổng lý Trungcộng, tán thành bản tuyên bố ngày 04/09/1958 về hải phận 12 hải lý của Trungcộng, bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việtnam. Thực ra văn thư này không có căn bản pháp lý, vì nó không được quốc hội Việtcộng thời đó phê chuẩn. Lại nữa 2 quần đảo đó ở thời điểm ấy, vốn không thuộc chủ quyền của Bắc Việt Cộng Sản, mà thuôc chủ quyền của Nam Việt Quốc Gia, do Việt Nam Cộng Hòa tiếp quản. Điều này do Hội Nghị Quốc Tế Genève 1954 chia đôi Việtnam, lấy ranh giới ở vĩ tuyến 20 quy định, có chữ ký của Chu Ân Lai đại diện cho Trungcộng và Phạm Văn Đồng đại diện cho Việtcộng. Nên bức thư của Phạm Văn Đồng hoàn toànvô gía trị về pháp lý và công pháp quốc tế.   Không ai có quyền dùng của cải nhà hàng xóm để dâng cho chủ mình được.

Vậy nếu chỉ về mặt pháp lý thì Việtcộng có thừa lời lẽ để biện minh cho chúng trước sự lấn chiếm của Trungcộng. Nhất là cả thế giới còn chưa thể quên ngày 19/01/1974, tầu chiến Trungcộng đã đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa. Một trận hải chiến ác liệt không cân sức, chứng tỏ người lính hải quân VNCH đã anh dũng quyết tử bảo vệ từng tấc đất của Tổ Quốc. Rồi đến ngày 14/04/1988, Trungcộng lại đánh chiếm Trường Sa từ tay Quân Đội Nhân Dân của chính Việtcộng, cũng có nhiều người lính Việtnam hy sinh. Thế mà lãnh đạo Việtcộng đành quên đi, cứ phải cúi đầu khuất phục chịu nhục với Trungcộng thì rõ ràng là quá hèn, không đủ tư cách là một chính quyền của nước Việtnam ngàn đời đã từng nhiều lần đánh thắng giặc Tầu xâm lăng. Điều đó làm cho toàn dân mang nhục, bởi đã có một giới cầm quyền bất xứng. Khiến cho giới trẻ Việtnam vùng lên chống Trung cộng xâm lược.

Hai chủ nhật 9 và 16/12//07, tại Hànội và Sàigòn sinh viên, học sinh, thanh niên, văn giới, chính giới và nhiều thành phần dân chúng đã xuống đường bày tỏ quyết tâm không để 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa rơi vào tay Trungcộng. Mặc dầu cuộc biểu tình Chủ Nhật lần thứ 2 này, công an đã cô lập những người bị nghi là sách động và ngăn chặn không cho đoàn biểu tình đến gần các trụ sở của Trungcộng ở Hànội, cũng như ở Sàigòn, và bị xé lẻ từng nhóm. Sau đó tại Hànội biến thành cuộc tuần hành. Còn ở Sàigòn, khi những biểu ngữ: "Hoàng Sa và Trường Sa là của Việtnam" trương lên, những bài ca tranh đấu và tiếng hô khẩu hiệu: "Đả đảoTrung quốc," "Việtnam muôn năm" vang lên, thì hàng ngàn đồng bào đứng ủng hộ ở các góc đường quanh công viên 30/4 đồng loạt hưởng ứng. Quy mô đoàn biều tình lập tức mở lớn.  Rất nhiều cuộc tranh cãi thẳng thắn nổ ra giữa nhân viên công lực với người biểu tình, Những người chứng kiến ghi nhận là lực lượng chống biểu tình không đủ lý lẽ biện hộ cho hành động ngăn cấm lòng yêu nước của giới trẻ Việtnam. Họ hẹn tuần tới sẽ tiếp tục cuộc xuống đường tuần hành bất bạo động, dù lần này có nhiều người bị bắt và làm phiền.
 
Phản ứng của phía Trungcộng về các cuộc biểu tỉnh ở Việtnam, thì phát ngôn viên bộ ngoại giao, Tần Cương lên tiếng dậy bảo Hànội như sau: "Trungquốc mong rằng chính phủ Việtnam có thái độ, có trách nhiệm và thực hiện những biện pháp có hiệu quả để ngăn chặn những cuộc biểu tình, và tránh gây phương hại cho mối quan hệ song phương". Nếu bọn Việtcông tuần sau mà thẳng tay đàn áp phong trào Sinh Viện Học Sinh Thanh Niên và Trí Thức xuống đường, chống Trungcông xâm lược Việtnam theo lệnh của quan thầy của chúng, thì Việtnam  sẽ  trở thành một Tây Tạng thứ hai. Lúc đó Trungcộng không phải chỉ có Hoàng Sa, Trường Sa, mà được cả Việtnam, và tương lai sẽ là chủ luôn Đông Nan Á nữa. Chính vì vậy mà Mỹ không thể dương mắt đứng nhìn, nên đã cử Đô đốc Timothy Keating, Tư Lệnh Thái Bình Dương tới Hànội ngày 13/12/07, để ám thị cho lãnh đạo Việtcộng và Trungcông biết rằng, vùng Biển Đông này vẫn còn có Hải Lực vô địch của Mỹ. Liền sau đó, ngày 16/12/07, Bộ trưởng quốc phòng Ấn Độ, A.K.Antony cầm đầu một phái đoàn lục quân, hải quân Ấn đến thăm và làm việc tại Hànội, xiết chặt quan hệ  quân sự giữa 2 nước và giúp Việtnam tu sửa lại các chiến hạm.

Xem vậy thì về mặt chiến lược toàn cầu, Việtnam đã có thế tựa rất vững không còn sợ Trungcộng dùng vũ lực thôn tính nữa. Trách nhiệm bây giờ hoàn toàn đặt trên vai giới lãnh đạo Việtcộng. Từ lâu họ vẫn sợ phải lựa chọn : "Mất Đảng hay Mất Nước". Nếu đi với Tầu đàn áp các cuộc biểu tình của tuổi trẻ Việtnam, nhằm chống Trungcộng xâm lược thì việc Mất Nước đã bày ra trước mắt. Còn đi với Dân, dựa vào Dân, mượn thế Quốc Tế Dân Chủ, tạo cơ hội cho tuổi trẻ Việtnam rầm rộ xuống đường để lên án Trungcộng, nhân đó loại bỏ những tên tay sai trung thành, mù quáng, đắc lực của Trungcộng ra khỏi các cơ quan quyền lực đảng và nhà nước. Tạo khí thế cho tinh thần dân tộc hưng khởi trong lòng toàn dân, nhằm huy động nội lực quốc dân, phát huy văn hóa dân tộc, tự do hóa xã hội,   dân chủ hóa chế độ, phát triển kinh tế thị trường, thì trong tương lai không xa, sẽ có điều kiện lấy lại những gì mà Trungcộng đã cưỡng chiếm của Việtnam. Nhưng cái giá nhất định mà Việtcộng phải trả là cần nhanh chóng thực thi Tự Do Tôn Giáo, Tự Do Ngôn Luận, Tự Do Lập Hội. Lúc đó, Việtcông muốn duy trì Đảng Cộng Sản với tư thế một chính đảng trong xã hội đa chính đảng, thì toàn dân cũng dễ dàng chấp nhận, như ở các nước Dân Chủ Đông Âu hiện nay. Nếu Việtcộng cứ chơi trò bưng bít dư luận, để hèn nhát luồn lách, nhằm giữ quyền hành thối rữa như hiện giờ thì không còn đủ sức nữa, vì "Ông Thần Tuổi Trẻ Việtnam" nay đã ra khỏi cái chai của tên phù thủy Hồ Chí Minh từng dìm trong biển ngu tối rồi. Little Saigon ngày 18-12-2007.



DÂN CHỦ LÀ SỨC MẠNH CHỐNG NGOẠI XÂM

Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế



Ngày 2-11-2007 Quốc Vụ Viện Trung Quốc (TQ) thông qua việc thiết lập đơn vị hành chính huyện Tam Sa thuộc tỉnh đảo Hải Nam, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đầu tháng 12, 2007. TQ tiến hành lập các cơ sở đìều hành trên hai quần đảo này. Giới lãnh đạo VN không ai lên tiếng, toàn thể hệ thống truyền thông quốc doanh làm thinh, ngoài phát ngôn viên bộ Ngoại giao tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VN. Ngay sau đó, phía Trung Quốc bác bỏ, nói những lu&#7853 ;n cứ VN đưa ra là không có cơ sở.

Trước phản ứng yếu ớt của chính quyền Hà nội, sinh viên và giới trẻ quá tức giận đã tổ chức biểu tình phản đối ngày 9-12-2007 trước toà đại sứ và tổng lãnh sự TQ ở Hà nội và Saigon.

Dĩ nhiên có bàn tay lông lá của chính quyền dính vào qua cán bộ đoàn và công an, nhằm xoa dịu sự phẫn nộ của quần chúng nhưng điều tiết cho vừa phải về cường độ và thời gian để cuộc biểu tình không vượt khỏi tầm kiểm soát của đảng. Nhưng một tuần sau, ngày 16-12-2007, trước khi thế sôi sục của giới trẻ, nhà cầm quyền Cộng Sản vừa sợ phương Bắc, vừa sợ nhân dân của mình, đã cứng rắn giải tán hàng ngàn người biểu tình ở Hà Nội, và hàng trăm người ở Sàigòn. Điều này đã tạo nghịch cảnh là người dân bị ngăn cấm ngay cả khi muốn bầy tỏ lòng yêu nước và ý chí bảo vệ Tổ Quốc.

Đồng bào hải ngoại, sống trong khung cảnh tự do thực sự , đã và đang tổ chức nhiều cuộc biểu tình quyết liệt với khí thế yêu nước chưa từng thấy.

Đây là lần đầu tiên, toàn dân trong ngoài nước vượt lên trên mọi bất đồng, có tiếng nói chung trước nạn ngọai xâm.

Tuy nhiên, Bộ chính trị đảng CSVN chỉ muốn mọi người đừng lôi ra những sai lầm của họ trong quá khứ và chấp nhận chuyện “đâm lao phải theo lao” để có phản ứng “vừa phải”; trong khi dân tộc ta muốn hiểu thấu rõ đầu đuôi mọi sự từ trước đến nay, để có phản ứng chính xác và hiệu quả trước sự việc TQ ngang ngược chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.

Lập trường dân tộc:

Theo ý kiến riêng của chúng tôi, lập trường đứng đắn của dân tộc ta là:

Đất nước Việt Nam là của chung mọi người dân Việt Nam. Tất cả mọi công dân, trong cũng như ngoài nước, đều có bổn phận bảo vệ lãnh thổ, tài nguyên của Việt Nam do tiền nhân đã dày công để lại.

Không ai được độc quyền yêu nước và cũng không một ai, một đoàn thể hay đảng phái nào trong bất cứ hoàn cảnh nào có thể nhân danh dân tộc Việt Nam ký kết những văn kiện bán nước cho ngoại bang.

Trên căn bản đó, chúng tôi chủ trương:

Nhân dân ta không bị ràng buộc bởi hiệp định phân định đường biên giới trên bộ ký ngày 30-12-1999 và trên biển ngày 25-12-2000, mà chỉ coi đây như một hành vi sai lầm của Bộ chính trị đảng CSVN, đặt quyền lợi của Đảng trên quyền lợi Tổ Quốc, dâng đất và biển để được Trung Quốc ủng hộ, hy vọng được tiếp tục ngồi lại thống trị nhân dân ta. Nhân dân ta không coi hai hiệp ước trên có giá trị. Toàn bộ vấn đề phải trở lại bản đồ do Pháp vẽ năm 1895 theo các hiệp ước giữa Pháp và nhà Thanh.

Về Hoàng Sa và Trường Sa

Chúng ta muốn giải quyết hòa bình những tranh chấp về các hải đảo dựa trên:

- Luận cứ và bằng chứng lịch sử các bên đưa ra liên hệ đến sự hiện diện từ xưa trên đảo.
- Kết quả nghiên cứu khoa học về thềm lục địa.
- Luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982.
- Bảo đảm quyền lợi và an ninh cho giới khai thác tài nguyên đáy biển.

Ðiều cần nêu lên ở đây là: Hiện các cường quốc muốn quốc tế hóa các hải đảo chưa có chủ hoặc chủ quyền còn đang trong vòng tranh chấp kéo dài mà không thể giải quyết được để khai thác lợi ích kinh tế với quy chế hư chủ (nghĩa là các nước đang tranh chấp là chủ nhưng không được có các hoạt động quân sự và không có quyền quốc hữu hóa); ngược lại họ có quyền tham gia vào các cuộc thương thảo trong việc khai thác vùng biển xung quanh các đảo này và chia lợi nhuận.

Chúng tôi ủng hộ hướng đi này và dân tộc ta cần nắm vững để bảo vệ quyền lợi đất nước trong những cuộc thương thảo tương lai về quy chế của các đảo.

Điều cần thiết là từ nhà cầm quyền tới người dân phải cương quyết khẳng định và bảo vệ chủ quyền bằng mọi cách, mọi giá, mọi thời điểm, liên tục suốt giòng lịch sử, không bao giờ được ngừng nghỉ, thì sau này mới có tiếng nói trong các cuộc thương lượng. Trong chiều hướng ấy, vào đầu năm 2002, với tư cách Chủ Tịch Cao Trào Nhân Bản, chúng tôi đã gửi văn thư đến Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, và Chủ Tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân, phản đối các Hiệp Định Biên Giới Trên Bộ ký ngày 30-12-1999 và Trên Biển ngày 25-12-2000.

Vai trò bán nước của Đảng CSVN

Mù quáng vì Mác - Lê - Mao và tin vào ảo tưởng tinh thần quốc tế vô sản, Hồ Chí Minh và những tập đoàn bộ chính trị đảng CSVN kế tiếp cho đến ngày nay, đã phạm rất nhiều lỗi lầm khủng khiếp khiến dân ta lầm than, máu xương phung phí, hàng triệu người ly hương, mất đất đai và biển cả tiền nhân dầy công gìn giữ để lại..., trong đó không thể bỏ qua công hàm ngày 14-9-1958, Phạm Văn Đồng khi đó là Thủ Tướng gửi Chu Ân Lai công nhận hải phận 12 hải lý của TQ, áp dụng cho tất cả các đảo tại Nam Hải, và cũng thời gian này, Phó Ngoại Trưởng Ung Văn Khiêm đã tuyên bố với Tổng Lãnh Sự Li Zhimin, xử lý Đại sứ quán TQ ở Hà Nội là “Theo tài liệu của Việt Nam, các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo lịch sử, là một phần của Trung Quốc”. Ngoài ra, nhiều thành viên Bộ chính trị còn ru ngủ dư luận bằng cách nói rằng do mối liên hệ đặc biệt giữa TQ và VN, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dù thuộc về TQ hay VN cũng thế thôi.

Theo ý chúng tôi, vì quyền lợi của cả dân tộc, đã đến lúc Bộ chính trị đảng CSVN phải nhìn nhận sai lầm, xin lỗi dân tộc, đi theo con đường dân chủ hoá thực sự, và phải:

1- Nói thật hết và nói rõ toàn bộ những lắt léo trong quan hệ VN - TQ từ trước đến nay. Phải công bố toàn bộ hai hiệp định ký năm 1999 và 2000.

2- Đảng CSVN phải ý thức được rằng trong chiến tranh mình chỉ là công cụ Trung Cộng xử dụng để chống Mỹ. Nay nhu cầu này không còn nữa.

3- Muốn bộc lộ và phát huy hết mọi tiềm năng và khả năng của dân tộc, Bộ chính trị đảng CSVN phải dứt khoát:

- công nhận quyền tư hữu của người dân.

- tách hoạt động đảng ra khỏi bộ máy hành chánh công quyền.

- tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến thực sự tự do công bằng để toàn dân ai cũng có quyền tham gia công việc điều hành đất nước. Từ đó mới có thể chuyển hẳn quốc gia sang hướng phát triển chính trị, kinh tế, xã hội hoàn toàn mới, đoạn tuyệt với những sai lầm trong qúa khứ.

Vai trò lịch sử của Phong trào Dân Chủ Việt Nam

Dân tộc ta đang đứng trước một tình thế quyết định phải có thay đổi. Thật thế:

Về chính trị - Ngoại giao: Quan hệ Bắc Kinh - Hà Nội căng thẳng. Hà nội có muốn lẽo đẽo theo cũng không còn thuận nữa. Muốn quay sang Tây phương thì bắt buộc phải tôn trọng những giá trị phổ quát về nhân quyền và dân chủ.

Về kinh tế - văn hoá: Đầu tư và buôn bán cùng những trao đổi giáo dục - văn hoá với thế giới gần đây tăng rất nhanh và chắc chắn còn đang tiếp tục tăng nhanh nữa nhờ gia nhập WTO. Nhưng phát triển của VN không bền vững vì thiếu đầu tư vào con người và thiếu vắng một nền dân chủ pháp trị.

Về xã hội: hoàn toàn không có triết lý chỉ đạo rõ ràng, giống như con tầu lênh đênh trên biển cả không có địa bàn, với không biết bao tệ nạn và cách biệt giầu - nghèo đang càng ngày càng khoét sâu thêm.

Trong bối cảnh như vậy, Bộ chính trị đảng CSVN không nên trấn áp những tiếng nói yêu nước để tiếp tục độc quyền lãnh đạo, mà phải cởi mở, nương theo sức mạnh của phong trào dân chủ VN để có được hậu thuẫn của các nước dân chủ trên thế giới, và sự tiếp tay của các nước đồng cảnh ngộ trong vùng. Điều quan trọng là những người tha thiết với dân chủ không thể cứ án binh bất động để mặc cho đảng Cộng sản tiếp tục sai lầm được nữa. Người dân phải được thực sự làm chủ đất nứơc mình. Khi đó, chống ngoại xâm là vì mình, không phải vì Đảng, hay theo lệnh Đảng. Và chỉ khi đó, mới có thể chống được ngoại xâm.

Tóm lại

Chúng ta chống ngoại xâm bằng cách đưa ngay tiến trình dân chủ hoá lên cao trào để huy động quần chúng hậu thuẫn mọi động thái bảo vệ chủ quyền đất nước, đồng thời có sức mạnh tổng hợp phát triển bền vững nội lực của cả dân tộc.

Chỉ có con đường DÂN CHỦ HOÁ đất nước mới chiếm được con tim và khối óc của người dân nước Việt mọi nơi mọi lúc, mới đoàn kết được cả dân tộc để phát triển bền vững đất nước và bảo vệ hữu hiệu lãnh thổ khi bị ngoại xâm.
 
Nguyễn Đan Quế
Đại Diện CTNBVN
 
http://tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=5193
    
 





TAM SA CHÍ DIỄN NGHĨA
 
Đinh Tấn Lực


Bản tin ngày chủ nhật 09-12-2007 của hãng thông tấn AP có nhiều điểm cực lạ và rất đáng suy ngẫm: Bá quyền phương Bắc xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa -> Thanh niên sinh viên Việt Nam biểu tình phản đối việc xâm chiếm -> Công an Hà Nội dàn quân ra giải tán sinh viên.

Chuyện Ta, Tây Kể

Bản tin AP cũng nêu một vài nhận xét khá sát thực tế:
Một là, vụ biểu tình kiểu này là cực hiếm. Quả thật vậy. Năm 2003, khi cần phản đối Mỹ tiến đánh hậu cần khủng bố tầm quốc tế ở Iraq, chính quyền Hà Nội đã tổ chức biểu tình chống Mỹ. Còn các cuộc biểu tình của dân oan đòi đất thì thường bị giải tán, gọi là để giữ hình ảnh ổn định. Cuộc biểu tình ngày 09/12 này, tương tự như lần sinh viên biểu tình phản đối hải quân Hoa Lục bắn chết ngư phủ Thanh Hóa, đều chạm phải chính sách ngoại giao khấu tấu của Hà Nội, và cần dẹp ngay, gọi là để giữ nguyên 16 chữ vàng mà Bắc Kinh đã ban cho. "Long Live VietNam" thì được. Chứ còn "Down With China" thì nhất định không! Trăm ngàn lần không! Nói cho rõ ra, khi mà đảng ta tự vỗ ngực đồng hóa với Việt Nam, thì muốn trường tồn, không thể nào mở miệng đả đảo quan thầy như vậy được
Hai là, thanh niên sinh viên đã kêu gọi cùng nhau xuống đường bằng phương tiện hiện đại: sử dụng các trang nhật ký mạng (blogs) và tin nhắn nhanh (SMS – text messages). Đây là điều xưa nay chưa từng xảy ra ở Việt Nam. Chí ít là chưa từng phổ cập đại trà như lần này. Sinh viên xuống đường, tập trung trước đại sứ quán Trung Quốc nằm trên đường Hoàng Diệu ở Hà Nội, và cả trước lãnh sự quán nằm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai ở Sài Gòn. Họ hô vang những khẩu hiệu phản đối TQ, giành chủ quyền về phía Việt Nam.

Ba là, phản ứng của Hà Nội: thay vì lên tiếng và tỏ thái độ chống lại sự kiện xâm chiếm lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam, thì lãnh đạo ta quay ra bịt miệng sinh viên đang chống lại "bọn bá quyền bành trướng phương Bắc", bằng cách chỉ thị cho CA phóng loa hăm dọa tịch thu xe máy của sinh viên để giải tán đoàn người yêu nước tham dự biểu tình. Số lượng công an tương đương với số sinh viên biểu tình. Họ xuất hiện trong 4 màu áo (không kể thường phục), và có cả công an cơ động dàn hàng ngang bảo vệ đại sứ quán Trung Quốc.

Trưởng Thành Hơn Lãnh Đạo

Đã có những bản tin và hình ảnh về hai cuộc biểu tình này lên mạng toàn cầu. Một số hình ảnh do ông Nguyễn Phương Anh ở Hà Nội cung cấp. Một số hình ảnh khác tràn lên các blogs cá nhân và không ghi chữ ký bản quyền của tác giả.

Điều này khiến người ta liên tưởng đến những cuộc biểu tình ở Miến Điện gần đây: hầu hết hình ảnh thời sự là do thanh niên sinh viên chụp bằng máy ảnh bỏ túi hoặc bằng điện thoại di động có camera rồi tải lên mạng, trong lúc phóng viên của các hãng thông tấn quốc tế chịu thua trước hàng rào công an mật vụ sở tại. Các em ở đây mô tả tình trạng phóng viên không chụp được ảnh này là: "Bó Tay chấm com". Điều này cũng thể hiện một sinh khí mới, một vai trò mới của tuổi trẻ Việt Nam:

Khi lãnh đạo bị quan thầy bịt miệng thì nhân dân lên tiếng thay, bất kể là trước đó nhân dân bị chính nhà nước bịt miệng trường kỳ (cả ở nhà lẫn ở tòa và có chụp ảnh để đời).

Khi lãnh đạo chứng tỏ là kẻ hèn nhát nhất vào lúc đất nước đối diện với quân xâm lược, như thể ngọn roi "Giáo Trừng" 1979 còn nguyên đó, thì tuổi trẻ nô nức xuống đường và gióng tiếng bày tỏ thái độ ngay tức khắc.

Khi lãnh đạo nắm trọn 600 tờ báo in, hàng trăm đài truyền thanh truyền hình, hàng trăm trang mạng, nhiều hệ thống điện thoại… nhưng đến cơn quốc biến thì cả lũ câm như hến, trong lúc sinh viên lên blogs và bấm máy gọi nhau xuống đường bày tỏ thái độ bảo vệ nền tự chủ nước nhà.

Khi lãnh đạo cầm trong tay cả bộ quốc phòng thì lại bị Bắc Kinh trói gô chỉ bằng một cú điện. Ngược lại, nhà nước lại dàn trận công an để đối phó với những người in tờ rơi cổ võ ý niệm đấu tranh bất bao động trong nước, và điều động cả bốn loại công an sắc phục để giải tán cuộc biểu tình lên tiếng của sinh viên phản đối TQ chiếm đảo.

Khi lãnh đạo cho lên trang nhất của hàng chục tờ báo về một khẩu súng ngắn do chính công an cài đặt vào hành lý Việt kiều, coi đó như một đe dọa an ninh quốc gia, thì lại tắt tiếng trước quân xân lược bá quyền phương Bắc công khai xâm chiếm lãnh thổ nước nhà, và còn ra lệnh cho các giám hiệu đe dọa sinh viên (công văn của Hà Quang Thụy, Hà Nội), hoặc tìm cách chuyển hướng sinh viên (Phó chủ tịch UBND Sài Gòn Nguyễn Thành Tài).

Nói chung là lãnh đạo cần học hỏi phong cách sống của sinh viên. Phải gắng trưởng thành!

Lại Chuyện Ba Sa

Trong một cuộc phỏng vấn hồi cuối tháng 10, 2007 của tờ báo điện tử VietnamNet, một nữ giáo sư trường Harvard đã nhận định: "Việt Nam có khả năng thuyết phục các quốc gia khác, ngay cả trong tình huống cam go". Bà Regina Abrami, có 3 năm sống tại VN, được mô tả là một giáo sư có nhiều công trình nghiên cứu về Trung Quốc và VN.

Tuy nhiên, vấn đề thời sự mới nhất của VN đối với TQ đã khiến cho nhiều người đọc phải ngờ vực về nhận định vừa kể, nếu người ta chưa kịp quên chuyến công du Trung Quốc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào những ngày cuối tháng 10 vừa qua.

Không ai biết rõ nội dung trao đổi giữa ông Dũng và các quan chức TQ ra sao, chỉ biết rằng vài tuần sau đó thì mọi người đuợc tin Quốc Vụ Viện Bắc Kinh hợp thức hóa cả Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa, gọi chung là Tam Sa.

Có người cột chung một giuộc hai vấn đề của đảng và nhà nước ta: Sau đận ba sa biến vào tay Mỹ, nay đến lượt ba sa mất về tay Tàu.

Nếu đúng thế thì quả thật, Giáo sư Regina Abrami đã nhận định không sai: "Việt Nam có khả năng thuyết phục các nước khác". Từ công hàm của Phạm Văn Đồng năm 1959 tới Nguyẽn Tấn Dũng năm 2007. Cả hai đều là thủ tướng chính phủ. Điều này, theo bản tin AFP, đã được người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng xác nhận: "Việt Nam có một chính sách không thay đổi trong việc giải quyết các bất đồng liên quan đến mặt biển trên cơ sở tôn trọng luật pháp và thực tiễn quốc tế". Mới hay trọng lượng của 16 chữ vàng bằng Hán tự đè bẹp lãnh đạo ta dường nào.

Một trong rất nhiều kỹ thuật để thyết phục nước ngoài là bịt miệng dàn báo đảng trong nước, nhân danh "ổn định", và để bày tỏ lòng tuyệt đối "hữu nghị". Đã có một số bài báo bị lột khỏi mạng trong đêm qua, về tội tường trình các cuộc biểu tình của sinh viên. Nghe đâu vẫn Tuổi Trẻ bị ghè trước tiên.
Hóa ra bà Regina Abrami chưa từng đọc báo chui VN.

Đơn Xin Yêu Nước

Trong khi chờ đợi khai hóa thêm cho bà giáo sư kinh doanh, nhà nước VN phải khẩn cấp đối phó với các sinh viên và đồng bào tham gia biểu tình "làm mất ổn định và làm nhạt tình hữu nghị" trước đại sứ quán TQ ở Hà Nội. Trước hết, người phát ngôn Lê Dũng khẳng định rằng đó là những cuộc biểu tình tự phát và chưa được phép của nhà nước CHXHCNVN. Nói cách khác, đảng và nhà nước ta không chịu trách nhiệm về tinh thần gây bất ổn và làm mất lòng đó.

Diễn giải thêm, đó là do lỗi thiếu sót của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền: Không quy định về quyền yêu nước. Do đó, đảng CSVN tự ý tu chính bằng một luật mới cực kỳ đậm đà bản sắc dân tộc, rằng: Muốn yêu nước phải làm đơn xin phép. Tất cả những hành động bày tỏ lòng yêu nước và đòi hỏi sự toàn vẹn lãnh thổ mà không có giấy phép đều được coi là phạm pháp.

Như vậy, rõ ràng là đảng và nhà nước ta không hề nhu nhược: Quý ông bà Trần Tiến Dũng, Nguyễn Đình Bổn, Thận Nhiên, Lynh Bacardi, Tuấn Khanh, Nguyễn Tiến Trung, Điếu Cày… cùng thành viên CLB Nhà báo Độc lập và các sinh viên tham dự biểu tình ngày 09/12/2007 đều là những can phạm về tội yêu nước không giấy phép. Họ bị câu lưu thẩm vấn để làm rõ động cơ yêu nước.

Những can phạm khác, cả sinh viên lẫn dân oan, không tiện nêu tên vì quá đông, thì bị biện pháp vây hãm tại chỗ là cấm mua nước uống, bị công an ghi tên, hoặc bị cấm tiến vào khu vực có biểu tình.

Những Bàn Thắng Đẹp

Đội tuyển Sinh Viên-Dân Oan đã ghi nhiều bàn thắng đẹp ngay trước ngày kỷ niệm 59 năm ra đời bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, và có vẻ đội tuyển Đảng-Nhà Nước khó có cơ hội gỡ huề:

Một là, sinh viên VN đã hành xử quyền tự do phát biểu một cách chính danh, minh bạch. Ngay trên môi trường mạng, blogs, nhắn nhanh… và cả băng rôn biểu ngữ cùng những lời hô vang dội trên đường phố và trong hội trường: "Thanh Niên Việt Nam độc lập! Thanh niên Việt Nam đoàn kết! Thanh niên Việt Nam tiến lên!" .

Hai là, sinh viên VN đã tự tập họp 600 người trước đại sứ quán TQ ở Hà Nội và 500 người trước tổng lãnh sự quán TQ ở Sài Gòn, tức là 220 lần nhiều hơn con số ấn định của nhà nước về luật tập họp.

Ba là, sinh viên VN đã nêu gương sáng cho hơn mười ngàn ký giả phóng viên chính quy, thông qua những bài tường trình trên mạng và các trang nhật ký mạng đạt mức tối đa góp ý của bè bạn bốn phương, kể cả bằng hữu ở nước ngoài, trong một thời gian kỷ lục. Họ đã cùng nhau ký tên vào một bản tuyên cáo chung. Đây là bước đầu của một nền báo chí quần chúng: mỗi công dân là một phóng viên.

Bốn là, sinh viên VN đã chấm dứt các buổi biểu tình trong ôn hòa, trật tự và giữ vệ sinh trên toàn khu vực, biểu hiện một sự hiểu biết cao độ về các kỹ thuật đấu tranh bất bạo động từng được áp dụng thành công rất nhiều nơi trên thế giới. Đó cũng chính là điều đáng ngẫm của lực lượng công an hiện diện tai khu vực. Họ cũng đã ngầm bày tỏ thiện cảm với những sinh viên nhiệt tình nói lên được lòng yêu nước mà chính họ không có điều kiện phát biểu trong tình huống này.

Năm là, số dân oan tham gia cùng sinh viên biểu tình cũng tỏ rõ được những bức xúc không phải chỉ là vấn đề mất đất của cá nhân hay gia đình mình, mà cao cả hơn, đó là nỗi phẫn hận về tình trạng quốc gia bị mất đất về tay ngoại bang. Đây chính là đầu mối của những chiến dịch tẩy chay hàng hóa và dịch vụ của TQ trong nay mai.

Sáu là, sinh viên cùng dân oan dự trù tổ chức một cuộc biểu tình kế tiếp vào cuối tuần này. Nghe đâu nhà nước cũng đã có một số dự trù "điều hợp ẩn tế" để giữ "quân bình" cho mối giao hảo với Bắc Kinh và không trở thành đích nhắm phẫn nộ của quần chúng nhân dân.

Trường Sa & Hoàng Sa là của VN.
Hoan hô tinh thần Thánh Gióng của lứa tuổi U20.

Đinh Tấn Lực
Chung cư Nguyễn Thiện Thuật – Q3 – TP/HCM 



======================MAT TRAN TOÀN DÂN =======================
                 DIỆT LŨ CSVN BÁN NƯỚC, ĐUỔI QUÂN TAU XÂM LĂNG



Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :

“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác".

                                ==========================


                                                    ĐÁNH CSVN
                             Ở NHỮNG ĐIỂM CỤ THỂ KHÔNG CHỐI CÃI



                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Xin đừng để cuộc đấu tranh của chúng ta tản mạn vào những điểm hoặc ý niệm trừu tượng mà CSVN có thể nhì nhằng ngụy biện để câu giờ cho chế độ, mà Quốc tế có thể lẻo mép nói để thoa dịu chúng ta trong khi ấy họ bắt tay với độc tài để thủ lợi cho nước họ, mà chính CSVN cho người nằm trong những Phong trào đấu tranh của chúng ta để gây phân tán.

Chúng ta dồn tận lực vào việc tấn công những điểm cụ thể mà CSVN phải cúi gầm mặt chịu tội, không thể lẻo mép ngụy biện chống chữa nửa lời. Những điểm đấu tranh cụ thể đó là:

1) Điểm 1:  TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC
 
CSVN đã ký chính thức Công Hàm bán đất và biển mà Tổ Tiên chúng ta đã hy sinh xương máu qua các thế hệ để có và để bảo vệ sự vẹn toàn. Đây là tội mà Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và đồng lũ CSVN phải cúi gầm mặt chịu tội trước Dân tộc. Đây là tội phải quật mồ Hồ Chí Minh lẹn để Dân trị tội. (Xin xem Công Hàm bán nước ký bởi Phạm Văn Đồng, đính kèm)

2) Điểm 2: TỘI CƯỚP DỰT NHÀ ĐẤT CỦA DÂN NGHÈO

Đây là tội phạm vào Công lý chứ không thể đểu cán cắt nghĩa chính trị gì cả. Đây là tội cướp dựt của cải của Dân, nhất là từ những người Dân nghèo khổ nhất và đã từng bị chúng lừa gạt lợi dụng đấu tranh để chiếm lấy quyền lực độc tài hiện nay. Dân Oan đã thẳng thắn đứng lên đòi Công lý. Chúng ta hãy cùng với Dân Oan đánh thẳng vào điểm này.

3) Điểm 3: TỘI THAM NHŨNG LÀM THOÁI HÓA KINH TẾ VÀ XÃ HỘI

Đây là cái tội từ thằng bé đến thằng lớn của đảng CSVN. Chính những Đại Hội của đảng đã thú nhận tội lỗi này. Chúng không thể chối cãi được nửa lời. Chỉ có Dân với Tự do Ngôn luận mới có thể chống và diệt được tội THAM NHŨNG để cứu Kinh tế Quốc gia và phát triển cuộc sống Xã hội trong đều đặn và tương kính. (Xin đọc bài về Tham Nhũng, đính kèm)

Ba điểm đấu tranh trên là cụ thể mà CSVN không thể đểu cán nguỵ biện câu giờ chống đỡ. Xin đừng mất nhiều thời giờ và sức lực vào những ý niệm trừu tượng và lỗi thời mà CSVN đã ngụy biện chống đỡ cho đến nay, mà Quốc tế lẻo mép hứa cuội để thoa dịu bề ngoài trong khi họ đưa tay nối kết với chính kẻ tội đồ của Dân tộc để thủ lợi cho nước họ. (Xin xem bài Dân chủ/ Nhân quyền như đã lỗi thời, đính kèm)

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



CÔNG HÀM BÁN NƯỚC
KÝ BỞI PHẠM VĂN ĐỒNG
      
Thủ Tướng Phủ
Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà

Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.


Kính gửi:                                           Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958.

 

Đồng chí Chu An Lai                                            (Ấn ký) 
Tổng lý Quốc vụ viện                                      PHẠM VĂN ĐỒNG
Nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa               Thủ tướng Chính Phủ
tại BẮC KINH                                           Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa
  
 

 

THAM NHŨNG NUÔI ĐẢNG
VÀ DIỆT KINH TẾ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


CSVN lập hết Phòng này, Uûy Ban kia để chống THAM NHŨNG. Đó chỉ là trò cười, việc diễn tuồng đểu cáng. Thực vậy, nếu không còn tham nhũng, thì cái đảng độc tài CSVN đã tự tan rã rồi. Tôi xin cắt nghĩa rất đơn giản như sau.

Ý thức hệ không còn nữa

Cái Ý thức hệ Mác Lê đã chết mất từ ngày sụp đổ của Thế giới Cộng sản. Ý thức hệ ấy đã làm lụn bại Kinh tế của những nước Cộng sản. Dân nghèo đói đứng lên đạp đổ chế độ tại Nga và các nước Đông Aâu. Dạ Dầy đói, chứ không phải ý niệm Dân chủ/ Nhân quyền, đã đập tan Cộng sản.

Còn Tham nhũng mới có đảng viên

Những người vào đảng hiện nay không phải là vì Lý tưởng, vì Ý thức hệ, nhưng là vì vào đảng thì có khả năng, có quyền độc đoán và được che chở để có thể tham nhũng, có thể cướp ngày của cải của Dân và của Quốc gia, nghĩa là cho cái Dạ Dầy, cho khoái lạc thân xác của chúng. Nói toạc móng heo ra để CSVN, từ thằng lớn, thằng bé và tụi con cháu, gầm mặt mà nhục nhã.

Hết khả năng Tham nhũng thì đảng tan

Những tên đã vào đảng, cố thủ giữ lấy quyền hành độc đoán để làm Tham nhũng. Chúng chịu Dân và Quốc tế xỉ vả, mà vẫn mặt dầy mày dạn ngồi lì đó giữ quyền độc tài khủng bố chỉ vì cái khả năng có thể làm Tham nhũng.

Chỉ có Dân và Tự do Ngôn luận mới diệt được Tham nhũng

Đảng giữ quyền độc tài mà mục đích là ăn cướp, rồi lập Phòng, Uûy Ban chống Tham nhũng, thì chỉ là trò hề của những quân đểu cáng. Thế mà có đám ngợm giáo gian, tụi chính trị xôi thịt còn đi bợ quân đểu cáng để chia chút mẩu bánh rơi rụng thẩy xuống đất cho mà đớp giống đám chó đói. Tôi khinh đám ngợm này và tụi xôi thịt như chó đói bởi vì chúng nịnh bợ, vẫy đuôi mừng quân đểu cáng.

Tham nhũng diệt Kinh tế quần chúng

Tham nhũng làm Dân nghèo khổ. Khối Dân nghèo khổ sẽ đứng lên đập tan quân đểu cáng tham nhũng và đám bầy tôi chó đói. Không phải ý niệm Dân chủ/Nhân quyền trừu tượng là động lực chủ yếu của Cách Mạng Pháp 1789, của Cách Mạng Vô sản 1917, của Sụp đổ Cộng sản 1989 mà chính là cái DẠ DẦY đói của quần chúng bị bóc lột, tước đoạt bởi đám cầm quyền độc tài.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




NHỮNG CHỮ DÂN CHỦ/ NHÂN QUYỀN
DƯỜNG NHƯ ĐÃ NHÀM VÀ LỖI THỜI

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Tôi muốn viết về điều mà một số Chính khách hiện nay đang bấu víu lấy những ý niệm DÂN CHỦ/NHÂN QUYỀN để lấy danh hiệu lẻo mép cho quyền hành cai trị, chứ không đấu tranh thực sự cho cuộc sống đói nghèo của đại đa số quần chúng. Tôi hiểu thế nào là thực tế của quần chúng đói nghèo và thế nào là việc đánh đĩ những ý niệm trừu tượng để cai trị quần chúng, để bóc lột cho túi riêng ô nhục của mình.

DÂN CHỦ thực sự phải đến từ đại đa số quần chúng va,ø hầu hết trong mọi trường hợp, phải trả bằng giá máu của những người dân thấp cổ bé họng nhất. Nếu DÂN CHỦ chỉ là một cái giá dàn xếp giữa những người làm Chính trị, thì cũng hầu hết trong các trường hợp như vậy, chỉ là sự lừa bịp của chính giới để lớp người trí thức chính trị này chia nhau chiếm ghế và trị Dân nữa. Đó không phải là DÂN CHỦ đích thực đến từ Dân mà chỉ là việc thí bỏ cho Dân một vài trò gọi là Dân chủ để tầng lớp chính giới  hổ lốn đủ mọi khuynh hướng lẻo mép và lừa đảo được yên thân chia phần bánh vẽ thống trị Dân. 
   
Vấn đề Nhân Quyền đã được nhấn mạnh từ thời CLINTON như khí giới công kích Trung Cộng. NHÂN QUYỀN THỰC SỰ và CỤ THỂ cho Thế Giới 80% Dân số là nằm ở cái DẠ DẦỴ  Nêu ra vấn đề NHÂN QUYỀN trong  ý niệm trừu tượng đã là hy vọng cho lớp người  bị bóc lột từ Dạ Dầỵ Nhưng ngày nay, lớp người có Dạ Dầy rỗng bắt đầu thấy rằng ý niệm NHÂN QUYỀN được nêu ra chỉ ở trong phạm vi LẺO MÉP để lấy thế chính trị cho những kẻ đấu tranh cho quyền hành cai trị chứ không cho thực tế của quần chúng bị tri.. 

Xin trích ra đây những chứng cớ về việc lỗi thời của ý niệm  và trò chơi DÂN CHỦ/ NHÂN QUYỀN được những tầng lớp trí thức hoạt đầu chính trị  uốn lưỡi lẻo mép hứa hẹn mà chẳng thực hiện được gì cụ thể theo nguyện vọng đích thực cũa dân: 

=> Hoa kỳ chấp nhận chơi với CSVN, một thể chế hoàn toàn ĐỘC TÀI chà đạp NHÂN QUYỀN 

=> Những nước trong vùng Đông Nam Á xử dụng CSVN độc tài để bóc lột nhân lực Việt Nam nhằm phục vụ cho những nước trong vùng. Những nước trong vùng ủng hộ việc duy trì chế độ độc tài CSVN vì quyền lợi của họ, mà không nghĩ đến NHÂN QUYỀN của người lao động. Những nước này chỉ đút tiền bẩn thỉu cho kẻ cầm quyền độc tài là chúng bắt dân Lao động phải nhận lương thấp và làm việc như nô lệ. Nhìn sự bóc lột Nhân lực tại Trung Cộng và Việt Nam. 

=> Tại Miến Điện, cả Thế giới nhìn cảnh Quân đội xả súng bắn vào những Sư bất bạo động, chỉ nói lên xuông việc đòi hỏi DÂN CHŨ/NHÂN QUYỀN. Mọi người, mọi Chính quyền lên tiếng nhưng rồi những tiếng đó trở thành lẻo mép và yên luôn, mặc cho số phận những nhà Sư vẫn còn ngồi trong tù. Liên Hiệp Quốc cử người sang Miến Điện, nhưng nói được ít lời lẻo mép cho có lệ, rồi bây giờ yên luôn.

=> Pháp được coi là nước có tinh thần nhân đạo và chuộng DÂN CHỦ/NHÂN QUYỀN. Nhưng Tổng Thống Pháp đã sang Trung Cộng độc tài để ký những Hợp Đồng hợp tác  tới 20 tỉ Đo-la, bất chấp dân chủ/nhân quyền. 

=> Hôm nay, 10.12.2007, KADHAFI, người chà đạp DÂN CHỦ/NHÂN QUYỀN, thậm chí đã là tên Khủng bố bạo động, nay sang viếng thăm Pháp và được tiếp đón như Quốc khách chỉ vì Pháp muốn ký những Hợp Đồng với KADHAFI trị giá tổng cộng 10 tỉ Đo-la. 

Quốc tế đã đánh đĩ trên ý niệm DÂN CHỦ/NHÂN QUYỀN. Cứ lai nhải lập đi lập lại những ý niệm mà Thế giới lẻo mép nói ra để mà nói cho xong chuyện.
 
Bấu víu lấy ý niệm DÂN CHỦ/ NHÂN QUYỀN là lỗi thời rồi. Phải đấu tranh thực tiễn cho Quần chúng đói khổ. DẠ DẦY QUYỀN (Stomach Right) của Dân đang mang bụng đói mới là thực và không thể lẻo mép. 

Phải đấu tranh chống lại việc xâm lăng của Trung quốc. Đây là vấn đề cụ thể mất Lãnh thổ mà Tiền nhân đã cụ thể nêu gương hy sinh bảo vê.. 

Phải loại trừ CSVN vì tụi này là kẻ bán nước, Trời không tha, Đất không dung. 
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế  


.
 


.


.


.
.


.



.                                 
 



.
    


.


.


.
.


.
 


.


-


 
.
.  
.
.



              


.


.


 .    
     .
                                       




.
 
                                   
.


xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Tro ve/ Back to/ Retour:
==> MUC LUC CHINH CUA DIEN DAN/ MAIN MENU OF WEBSITE
==>
MUC LUC cua Chuong nay/ MENU of this current Chapter.


 
Top